Showing posts with label Mậu Thân 68. Show all posts
Showing posts with label Mậu Thân 68. Show all posts

Monday, November 22, 2021

Chiếc trực thăng cuối năm

Hà Kỳ Lam

Tôi có mặt ở Huế vào những ngày cuối của một năm âm lịch, những ngày thiên hạ đang chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968. Từ tiền đồn Plei Me tôi bay ra đất Thần Kinh vì một công việc riêng trong hai ngày. Xong việc vào ngày hai mươi bảy tháng chạp, tôi vội vã tìm phương tiện vận chuyển để về lại đơn vị.

Trong hai ngày ở Huế tôi tá túc tại nhà một người bà con ngay trong khuôn viên trường nữ trung học Đồng Khánh. Thấy tôi nôn nóng, cô em họ của tôi đã phải lên tiếng, “người ta mong có dịp được ăn tết ở thành phố, còn anh thì nôn nóng về rừng!”

Quả đúng như vậy. Khối thằng lính, khối các quan lớn nhỏ mỗi năm vẫn than thở cái điệp khúc tết xa nhà; khối bạn bè của tôi vẫn tìm mọi cơ hội để có mặt ở thành phố trong ba ngày tết. Và tôi cũng thấy cái vô lý của mình. Nhưng tôi muốn rời Huế, tôi muốn rời thành phố.

Thật khó nói, khó giải thích cái muốn của tôi, nhưng đó là điều có thực trong lòng, chẳng phải đỏm lược, chẳng phải dáng vẻ. Một thân một mình, tôi đến, tôi đi, tôi ở lại, vân vân, chẳng bận lòng ai; và rủi tôi có nằm xuống ở một chiến trường xa xôi nào đó, thì cũng chẳng để lại phiền hà cho ai, và chính tôi cũng chẳng thấy vấn vương ra đi! Với cảnh ngộ côi cút của tôi, tết ở thành phố còn “hoang vắng” hơn giữa rừng già với lính tráng.

Bỗng dưng nếp sống quân ngũ – tôi muốn nói đơn vị tác chiến – thích hợp với mình. Tôi bù đắp sự cô độc của mình bằng một tập thể cùng chung một số phận. Lạ thật, có những tập thể cùng chung thân phận thì phải loại trừ lẫn nhau để sống còn. Những con người trận mạc không theo luật đó của đời sống!

Và tôi nhất quyết “ra đi”. Tôi nhờ người bà con chở tôi vào sân bay Thành Nội tìm một chỗ trên một chuyến bay quân sự vào Đà Nẵng để từ đó tôi tìm phương tiện chuyển vận cho đoạn đường còn lại. Tôi chọn sân bay nầy thay vì phi trường Phú Bài vì hy vọng sẽ gặp một trong hai thằng bạn lúc bấy giờ thuộc phi đoàn quan sát 110 vẫn thường xuyên đáp xuống đây trong các phi vụ công tác.

Có lẽ tôi phải dài dòng một tí về tình trạng giao thông giữa Huế và Đà Nẵng trong giai đoạn nầy của cuộc chiến. Đường bộ giữa hai thành phố đó đã bị cắt đứt hoàn toàn – không có xe lửa, không có xe đò, không có một đoàn xe quân sự nào trên đoạn đường dài một trăm mười cây số xuyên qua đèo Hải Vân. Phương tiện vận chuyển chỉ còn đường hàng không và đường biển, nhưng thông dụng vẫn là đường hàng không.

Nói đúng ra chỉ còn đường bay quân sự là phương tiện tôi có thể nhờ vã, còn hàng không dân sự thì trong trường hợp tôi – không muốn ăn tết ở Huế – coi như không có, vì vé máy bay rời Huế trước tết nguyên đán đã bán hết rồi!

Phi trường Thành Nội – gọi phi trường nghe cho oai – là một đường bay nhỏ, chiều dài khoảng ba trăm thước, nằm ngay bên ngoài hoàng thành Huế, dùng cho phi cơ nhỏ cỡ sáu chỗ ngồi trở xuống, và cho trực thăng. Tôi vẫn thường chế giễu cái sân bay tí hon nầy: nằm sát chân thành vua, hai đầu phi đạo bị chắn bởi hai đoạn hồ sen vốn là hào làm chướng ngại vật vây quanh thành, chẳng đúng một tiêu chuẩn nào của một sân bay!

Nghe đâu sân bay nầy do vua Bảo Đại lập ra để tập lái máy baỵ. Hành khách đặt hy vọng vào những chiếc trực thăng hơn vì số lượng máy bay nầy nhiều hơn các phi cơ cánh quạt khác. Nhưng so với khối lượng người đang chờ đợi kia thì mỗi người đều thấy mình ít có hy vọng được bước lên phi cơ.

Trong những ngày tháng tận năm cùng như hôm đó, quân nhân đi công tác về, đi phép đặc biệt vân vân, tất cả đều nôn nóng mong có phương tiện để về nhà kịp dịp tết, nên hành khách đông hẳn lên, gấp bội ngày thường. Tôi chẳng thấy bóng dáng thằng bạn phi công nào của mình. Nhìn cái tập thể trong quân phục lố nhố chờ máy bay đến, nhìn những chiếc máy bay cất cánh mang theo vài người hoặc từ chối không “lấy” một ai, tôi bỗng thấy thất vọng: phen nầy đành ăn tết ở Huế vậy!

Rồi tôi nghĩ đến phi trường Phú Bài với những chiếc vận tãi cơ C47, C123, v.v. có khả năng tiếp nhận hành khách hàng loạt; tôi hy vọng có nhiều cơ may ở đó hơn. Nhưng tôi lưỡng lự. Chẳng phải vì phi trường cách xa thành phố Huế cả mười lăm cây số. Chẳng qua vì tôi lại mâu thuẫn với chính mình! Tội gì lại phải lặn lội đi tìm phương tiện về rừng. Tôi tuyên bố bỏ ý định rời Huế trước tết trong vẻ hân hoan của người bà con tôi. -- 

o0o

Chúng tôi quay lưng để tiến về nơi đậu xe của mình. Cùng lúc đó tiếng động cơ của một chiếc trực thăng sắp đáp xoáy vào tai tôi. Cái ý muốn rời Huế từ vô thức làm tôi khựng lại. Tôi khẽ bảo “bác tài” của tôi “chờ xem thử ra sao”. Chúng tôi xoay người lại, đứng nhìn một chiếc trực thăng võ trang – một chiếc gunship, như tên cúng cơm của nó – từ từ đáp thẳng đứng xuống một điểm cách chỗ chúng tôi đứng khoảng năm mươi thước. Phi hành đoàn là người Mỹ. Một làn sóng người ùa đến, trong khi hai xạ thủ viên từ hai bên hông máy bay nhảy xuống cản lại và lúc lắc đầu, một ký hiệu từ chối nhận hành khách.

Chúng tôi đứng xa cách với đám đông đang “bon chen” chung quanh chiếc trực thăng. Chúng tôi đứng chơ vơ, không bị “đồng hóa” với mọi người. Giữa khoảng trống chỉ có hai người đàn ông, một người vận thường phục và một người khoác quân phục Lực Lượng Đặc Biệt – đồ rằn ri, mũ bê rê xanh. Không biết có phải vì cái vẻ “đặc biệt” đó mà một trong hai xạ thủ viên kia, một anh chàng Mỹ có bộ ria mếp vàng như râu bắp, bỗng giơ cao cánh tay mặt lên vẫy hối hả về phía chúng tôi. Thật khó biết anh ta vẫy ai, vì chung quanh chúng tôi lúc bấy giờ còn bao nhiêu quân nhân khác đứng rải rác.

Tôi nhìn quanh mình một lượt, rồi lấy tay chỉ vào ngực mình, một tín hiệu hỏi “có phải tôi không?”. Anh chàng Mỹ râu bắp vừa gật đầu, vừa dùng ngón tay cái chỉ thẳng lên. Tôi cơ hồ nghe bên tai một âm vang tưởng tượng, “chính anh đấy!”. Mừng quá, tôi chỉ kịp chìa tay nắm bàn tay của người bà con và nói, “thôi tôi đi nghe bạn”. Khó nhọc lắm tôi mới chen lấn đến gần chiếc trực thăng. Anh chàng râu bắp phải nhảy xuống, “dọn đường” hộ và nắm tay tôi kéo lên máy bay.

Chiếc trực thăng nhấc bổng lên cao dần, rồi quay đầu, phi thân qua giòng sông Hương đang lũng lờ bên dưới. Tôi thấy lòng phơi phới, nhẩm tính chương trình cho những ngày sắp tới. Phi cơ bay dọc theo bờ biển. Lần đầu tiên tôi có được một cái nhìn bao quát từ trên cao hình thù đèo Hải Vân, một đường đèo lượn khúc theo biển xanh.

Anh chàng Mỹ râu bắp nhìn tôi và đưa ngón tay cái chỉ thiên, một thủ hiệu ngầm nói “number one”. Tôi hiểu anh khen đất nước tôi đẹp. Nếu có ai nói cho anh ta biết rằng chiều dài rặng núi cũng là khoảng cách giữa hai giọng nói – giọng Thừa Thiên dừng lại ở chân đèo phía bắc, và giọng Quảng Nam dừng lại ở chân đèo phía nam – thì chắc anh chàng còn thấy đèo Hải Vân tuyệt vời hơn nữa.

Đến không phận Đà Nẵng tôi ngạc nhiên khi anh ta hỏi tôi muốn về đâu. Tôi đáp rằng cứ thả tôi xuống phi trường là được rồi. Nhưng chiếc máy bay cứ tiếp tục bay về hướng cầu Trịnh Minh Thế, rồi từ từ hạ cao độ, đáp ngay bên đầu cầu, tức một khoảng lề đường, rất gần giòng xe cộ đang lưu thông. “OK?”, tôi đáp “thank you” rồi nhảy xuống. Và chiếc máy bay lại nhấc bổng lên, và từ từ mất hút vào khoảng không gian xa, về phía Sơn Trà.

Độc giả ở Đà Nẵng hẳn biết từ điểm nầy tôi chỉ cuốc bộ một đoạn ngắn là đến đường Trưng Nữ Vương. Tôi đi dọc theo con phố một quãng không xa để đến nhà một người bà con ở khu Chợ Mới nơi tôi sẽ ngủ qua đêm. Quái, sao mọi sự dường như được sắp xếp cho tôi được thuận lơi.

Tôi về lại căn cứ Plei Me đúng ngày cuối năm, ba mươi tháng chạp, kịp đón giao thừa giữa những người lính xa nhà hay không nhà như tôi…

Sau một đêm thức khuya, hôm sau, Mồng Một Tết Mậu Thân năm 1968, tại Plei Me tôi thức dậy muộn. Còn nằm trên giường tôi với tay mở chiếc máy thu thanh nhỏ chạy bằng pin để ở đầu giường. Giọng quen thuộc của một phóng viên chiến trường đang oang oang tường trình về chiến sự trong mấy tiếng đồng hồ qua.

Tôi bỗng cảm thấy như bị điện giật khi nghe đến tên “thành phố Huế” bị tấn công. Rồi nhiều thành phố, thị trấn nữa. Chiến sự sôi động trên toàn thành thị miền Nam. Ở Plei Me, chúng tôi đón xuân âm thầm, nhưng yên ổn đón xuân sang, trong khi người dân thị thành đang hứng chịu bom đạn, đổ nát, tang tóc!

Tôi chờ nghe bản tin chiến sự nhiều lần nữa trong ngày, đặc biệt chú ý đến những gì liên quan đến Huế của tôi. Tôi bàng hoàng nghe tin trường Đồng Khánh nằm trong danh sách những nơi bị địch chiếm. Tôi mơ hồ thấy mình may mắn. Tôi mơ hồ thấy mình thương Huế.

Phải mất một thời gian nữa, sau khi chiến trường ngã ngũ, khi tin tức và hình ảnh về cuộc thảm sát trên bốn nghìn người do phía bên kia thi hành trong thời gian chiếm đóng Huế, tôi mới ý thức rõ ràng nhất cái may mắn của mình. Tôi thấy thương Huế hơn bao giờ hết.

Nếu không có chiếc trực thăng kia, tôi đã ở lại trong trường Đồng Khánh, để đón xuân cùng gia đình người bà con của tôi – hay để đón nhận thảm họa? Những người anh em phía bên kia chắc chắn đã không để tôi yên thân. Tôi có cùng chung số phận của mấy nghìn người khác không? Tôi không hiểu nguyên do gì đã khiến phi hành đoàn của chiếc trực thăng kia “cứu” tôi. Có lẽ do bộ quân phục rằn ri của Lực Lượng Đặc Biệt.

Có thể viên phi công đã từng chở các toán thám sát chúng tôi, nên một chút cảm tình cá nhân do màu áo gợi lên khiến anh ta hành động. Cũng có thể vì tôi đứng xa quá, bơ vơ quá, không bon chen, mà phi hành đoàn đã thương hại tôi. Tôi thật không hiểu nỗi. Nhưng dù với bất cứ nguyên nhân gì, chiếc trực thăng cuối năm kia đối với tôi mãi mãi là một định mệnh, một sắp đặt huyền bí, một an bài kỳ lạ.

Monday, February 22, 2021

Ma Mậu Thân Tại Huế

Những ai sống tại Huế mà không biết chuyện Ma tại trường Trung-Học Gia- Hội thì không phải là dân Huế.

Trong cuốn Luyện Văn (trang 99), ông Nguyễn Hiến Lê đã nói: “Tôi chưa gặp ma lần nào (mong lắm mà không được) ...”

Có lẽ ông ta muốn thấy ma là để xem cách tả ma của vài tác-giả có đúng hay không. Tôi nghĩ là tôi may-mắn hơn ông ta vì tôi không những đã thấy ma một lần, mà thấy nhiều lần. Sau đây tôi chỉ xin tường-trình lại đúng 100% những hiện-tượng, những điều tai nghe mắt thấy để tùy qúy vị thẩm-định.

Ma Tại Trường Trung-Học Gia-Hội Huế. Trước khi nói đến ma Mậu-Thân, tức ma tại trường Gia-Hội, tôi xin sơ lược vài nét về biến-cố Tết Mậu-Thân, vì tôi nghĩ rằng những hồn ma tại trường Gia-Hội là do biến-cố đó mà ra.

Khi Việt Cộng tấn công vào thành phố Huế thì tôi đang ở tại Gia-Hội, cạnh xóm nhà vài người bà con ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi xin về phép để chung vui Tết với gia-đình; nhưng trước khi lên làng để thăm thầy mẹ, tôi ghé lại nhà người anh thì bị kẹt tại đây. Tôi phải cải trang và trốn chui trốn nhủi từ nhà nọ sang nhà kia. Nghe những người hàng xóm kể lại thì từng nhóm VC nhiều lần vào nhà tôi lục-soát, nhưng may là tôi không có trong nhà.

Sau một thời-gian chừng bảy hay tám ngày, khi được tin đồn Mang Cá đang còn được quân-đội VNCH bảo vệ thì tôi cùng gia-đình người bạn và một nhóm người khác tìm cách trốn về Bãi Dâu rồi vượt sông sang Bao Vinh. Tôi mặc áo quần rách-rưới, đội cái nón rách gãy vành và ôm một cháu bé của một gia-đình trong đoàn vừa run vừa đi. Khi gần đến Bãi Dâu, rất may là chúng tôi gặp những tên VC địa-phương chừng 13, 14 tuổi. Chúng rất dễ-dãi nên chúng tôi đi lọt và đến Bao Vinh an-toàn.

Chừng 1 giờ trưa hôm ấy, hướng về Gia-Hội, chúng tôi nghe rất nhiều tiếng súng nổ của VC xử tử nhân-dân. Thật là hú vía! Nếu chậm một vài giây thì chúng tôi cũng tiêu-tùng rồi!

Chúng tôi ở đây chừng một tuần hay 10 ngày, luôn ngóng về Gia-Hội. Trong thời-gian này, một anh bạn thân của tôi là viên Đại-Úy làm ở đại-đội Quân-Nhu thường xuyên thăm-viếng và giúp đỡ chúng tôi về tinh-thần cũng như vật-chất, và nhất là cho biết những tin sốt dẻo về cuộc chiến.

Khi nghe tin Gia-Hội đã được giải-phóng, gia đình bạn tôi và tôi bèn trở về ngay. Anh ta nôn nóng muốn biết ngôi nhà mới xây của anh có bị bom đạn gì không. Còn tôi thì muốn biết chiếc xe Vespa Sprint của tôi mới mua vứt sau hè nhà của người bà con còn hay mất. Tôi nghĩ xe có mất cũng chả sao, chỉ tiếc những thứ quan-trọng cất trong xe. Nhưng rất may, nhà cũng như xe còn nguyên-vẹn.

Khi chúng tôi chưa tới trường trung-học Gia-Hội, cách chừng 1 km, thì đã ngửi thấy mùi hôi thối nồng-nặc. Đến nơi thì một cảnh rất thương-tâm bày ra trước mắt. Hơn 400 tử thi ửng hồng hay đỏ được sắp sít nhau từ cổng trường vào tận sau hàng tre. Theo lời mấy người đi giúp đào xác kể lại thì một, hai ngày trước đó, thân-nhân đã đến nhận chừng 150 xác đem về mai-táng rồi.

Tôi không hiểu chỗ ở đâu mà chôn nhiều như vậy? Tại Gia-Hội, ngoài trường Gia Hội còn có những mồ chôn tập thể khác: Ba Viên gần chùa Diệu Đế, bãi đất sau chùa áo vàng Tăng-Quang-Tự, Bãi Dâu, nhưng tôi không rõ số lượng tử-thi là bao nhiêu. Mấy đứa em và bà con của tôi thì tôi biết chắc là bị chôn sống ở Kim-Long nhưng tôi cũng cố gắng đi quanh một vòng để họa may nhận ra xác người quen nhưng thối quá nên phải dội lui!
Những ai đến nhận ra xác thân-nhân thì kỉnh cho các cụ đã đào xác một ít tiền để uống rượu mà thôi. Đêm đến, những xác chưa có người nhận thì bị heo hay chó ăn bớt tay chân! Trong cuốn hồi-ký, tướng Westmoreland nói số người bị giết trong vụ Mậu-Thân tại Huế là 2800 người. Thật ra, cả Huế và các vùng phụ-cận, tổng số người chết là gần 8000 người. Tôi muốn viết thư phân-bua với ông ta nhưng chưa có dịp.

Tám, chín tháng sau ngày Tết, hay gần suốt cả năm Mậu Thân, Huế là một thành phố chết… Hầu như mỗi ngày hay mỗi tuần, ở một góc phố, trên một con đường, trên một cánh đồng, trong sân đình, chùa, hay trong sân của trụ sở xã, người ta thấy một nhóm 5, 6 người mặc đồ tang ngồi quanh 1, 2 cái tiểu (hòm nhỏ) bọc giấy điều khóc lóc một cách rất ai oán; tiếng khóc vọng ra cả một vùng! Họ là những người vừa tìm ra xác thân nhân ở một nơi nào đó. Những người qua đường thường là đồng cảnh ngộ nên dừng lại thăm hỏi.

Mỗi khi thấy những cái quan tài màu đỏ là tôi rùng mình! Màu đỏ thường tượng trưng cho sự tươi vui, hạnh phúc như màu đỏ của hoa hồng, của thiệp cưới, của bao lì-xi… nhưng màu đỏ của quan tài trông rất là dễ sợ!

Không riêng gì thành phố Huế, tại các quận trong tỉnh Thừa Thiên như Phú Thứ, Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền,v.v… cảnh những đoàn người đi tìm xác thân nhân xôn xao diễn ra hàng ngày.

Những tiếng khóc ai-oán, những quan tài đỏ rùng-rợn… cảnh sắc tang-tóc đó không bao giờ phai mờ trong óc tôi được! Còn nóng hổi như mới xảy ra ngày hôm qua!

Không hiểu vì sao mà VC thù ghét dân Huế đến như vậy?

Vài năm sau, khi nhắc đến biến cố Mậu Thân, vài sĩ quan Mỹ đã nói với tôi rằng: “Số người bị chết oan ở Mỹ Lai đâu có nhiều mà VC thổi phồng lên thành 150, xây lăng dựng bia làm rùm beng lên với cộng-đồng quốc-tế; còn tụi nó giết 8,000 người ở Huế thì sao lại im re? Hay là tên người chết quá nhiều nên không thể làm bia đá lớn để mà khắc lên được?

Sau khi VC chiếm miền Nam, tôi còn được tiếp-tục đi dạy một vài năm tại trường trung học Gia-Hội. Và tôi thấy dư âm của Mậu-Thân vẫn còn lẫn-quất đâu đây. Đôi khi làm bồn hoa, trồng cây hay cuốc cỏ, học sinh tìm thấy một vài ống xương, một mái tóc, hay một đầu lâu trong bụi tre là chuyện bình-thường.

Hồi đó, đêm đêm các giáo sư được phân công trực. Một bữa nọ, tôi được phân công trực cùng với anh bạn. Đến 1 giờ sáng, anh ta bảo tôi:

“Tôi cần về nhà để rửa mấy cuốn phim, anh trực một mình có sợ không?”

Tôi bèn đáp: “Không sao, anh có việc cần thì cứ về đi.”

Anh ta đi rồi tôi mới thấy lạnh người! Tôi vừa nằm xuống được vài phút thì nghe tiếng guốc lóc-cóc và tiếng cười trên lầu, ngay trên phòng giáo-sư. Chừng năm phút sau tôi nghe tiếng guốc đi dọc theo hành lang, tôi liền chạy vụt ra sân ngước nhìn lên thì thấy một vệt trắng, tựa như một cái khăn, loáng lên nơi cửa sổ hai, ba lần rồi biến mất. Tôi nằm xuống lại và cố ngủ nhưng lại nghe tiếng cười nổi lên, lần nầy rất là ghê-rợn! Tôi chạy ra sân và nói vọng lên lầu:

“Cô nương nào đó, có buồn thì xuống đây nói chuyện cho vui!”

Không nghe trả lời, tôi vội bước vào. Tôi lại nghe tiếng cười rùng-rợn và tiếng rầm-rầm của bàn ghế bị xô đẩy. Tôi bèn ngồi dậy, chắp tay nói: “Tôi biết các Bạn bị giết một cách oan-uổng! Nhưng các Bạn chưa chết! Các Bạn còn sống trong khuôn viên nầy! Tôi cầu mong vong linh các Bạn sớm tiêu diêu nơi Miền Cực Lạc!” Sau đó tôi đọc mấy câu chú thì tiếng cười im bặt, và tôi ngủ đi khi nào không biết.

Sáng hôm sau, đến trường tôi kể chuyện bị ma khuấy phá cho mọi người nghe thì mọi người đều bảo: “Có lạ gì đâu! Ai trực đêm cũng gặp hoàn-cảnh như vậy!”

Hai hôm sau, độ lúc 10 giờ sáng, trong khi tôi đang ngồi trong phòng giáo-sư thì nghe những tiếng thét rùng-rợn của các nữ-sinh từ dãy lầu phía tây. Tiếng thét khủng- khiếp, tựa như tiếng thét của người khi bị lưỡi lê đâm vào cạnh sườn. Những tiếng thét đó, tựa như một luồng điện, lan từ phòng nọ sang phòng kia, rồi sang dảy lầu phía đông, kéo dài từ 30 đến 40 phút, có khi lâu hơn, mới chấm dứt.

Chuyện học sinh la hét như vậy mỗi tuần xảy ra vài lần và kéo dài trong ba năm liền; và mỗi lần học-sinh la hét như vậy thì vang động cả thành phố. Các nam-sinh thì không la hét, nhưng chúng bảo “trong khi la hét, mặt mày các nữ-sinh ngồi bên cạnh trông rất dễ sợ.” Mỗi khi nghe học-sinh la hét vang dội thì những người đang đi trên đường Võ Tánh trước mặt trường đều dừng lại xem. Những ai sống tại Huế trong thời-gian từ 1976 về sau mà không biết chuyện ma tại trường Gia Hội là điều đáng ngạc-nhiên.

Một nữ-giáo-sư, dạy Vật-Lý, đã nói với tôi: “Tôi cố gắng trấn tĩnh hết sức, không thì đã ném viên phấn và cùng hét với tụi học trò rồi!” Có lẽ ma chỉ trêu các nữ sinh chứ không chọc cô giáo? Tôi thì không bao giờ được chứng-kiến các nữ-sinh trong lớp tôi đang dạy la hét cả, mặc dù nữ-sinh các lớp bên cạnh đang la hét rất dữ-dội. Các học-sinh của tôi nói rằng: “Có lẽ vì thấy thầy đang dạy các em nên ma không dám vào trêu chọc tụi em!”
Những cảnh như vậy diễn ra hầu như mỗi tuần vài lần và kéo dài trong ba năm liền nên hầu như mọi người đang sống tại Huế không thể nói là không biết?

Đến năm thứ ba, vì chuyện kéo dài quá lâu nên một lần nọ, ông hiệu-trưởng mời một chuyên-viên y-tế từ trạm xá Gia-Hội đến để thẩm-định tình hình. Anh ta bảo đó là do sự động kinh nhất thời mà thôi, không do ma quái gì cả. Một vài nữ-giáo-sư chi viện từ miền Bắc vào thì không đồng ý; họ quả-quyết đó là do bị ma trêu, vì họ biết một vài trường-hợp tương-tự như vậy đã xảy ra ở Hà Nội. Tôi hỏi một vài nữ-sinh vì sao mà la hét như vậy, thì các em đó luân-phiên cho biết rằng:

- “Em cảm thấy một bàn tay lạnh ngắt đang bóp cổ em.”

“Em thấy ai đang rị tóc em xuống và không thể ngẩng đầu lên được.”

- “Em cảm thấy một bàn tay chụp vào sau ót em và một bàn tay bịt mũi và miệng em lại.”

- “Em thấy hai bàn tay lạnh ngắt đang bóp vào hông em.”

- “Em cảm thấy hai bàn tay lạnh ngắt đang kéo chân em.”

- “Em cảm thấy những móng tay sắc đang bấm vào hông em.”

- “Em cảm thấy một bàn tay lạnh sờ vào má em và nghe như ai hỏi bên tai “Em có yêu anh không? Có đi chơi với anh không?” ... v.v...

Khoảng năm 1980 hay 1981, tôi gặp lại vài phụ-huynh ở quanh trường và hỏi họ về chuyện la hét của học trò thì họ cho biết như sau:

“Thầy không biết à? Sau góc trường có một cái giếng sâu, bọn VC đã ném 17 hay 18 thanh niên xuống đó và lấp đất lại. Oan hồn các thanh-niên đó đã trêu chọc các nữ-sinh mà thôi. Chúng tôi và một nhóm phụ-huynh đã luân phiên nhau đến cái giếng cầu đảo bốn, năm đêm liền nên các cậu mới thôi trêu chọc con cái chúng tôi. Hơn cả tháng nay, đêm nào cũng có phụ-huynh đến đó cầu-nguyện.”

Khi viết đến đây tôi sực nghĩ rằng: Tại sao trong những năm từ sau 1968 cho đến 1975, các hồn ma vẫn “ở quanh quẩn” trong khuôn viên trường Gia Hội nhưng không khuấy phá học sinh mà mãi đến 1976 trở đi mới bắt đầu sách động? Hay là ma thương học sinh Cộng Hòa hơn học sinh XHCN chăng?

Những cựu học sinh trường Gia-Hội, hiện sống tại San José và ở Nam Cali, mỗi khi nghe lại chuyện Ma Mậu Thân tại trường thì đều rùng mình.

Chuyện ma tại trường trung-học Gia-Hội hiện nay vẫn còn ăn sâu trong óc tôi, không bao giờ quên được. Tôi tin rằng vong-linh các oan-hồn tại trường Gia-Hội vẫn còn “sống” tại đó. Chết đâu phải là hết?

Minh Trí

Wednesday, February 10, 2021

Mùa Xuân Xa Vắng 

Hàn Thiên Lương
Quê của Tùng ở một làng xa trên sông Vàm Cỏ Đông, mất an ninh từ lâu, Tùng phải xuống Saigon học, ở trọ nhà cậu mợ khu Gia định. Ngày ngày lo đi học, ăn cơm tại nhà, nhưng gần một năm nay cậu đổi ra Vũng Tàu, mợ cùng hai con đi theo, cả gia đình an trú với nhà cửa khang trang gần đài viba. Một căn phố nhỏ khu Ngã Ba Cây Thị chỉ còn một mình Tùng ở. Tùng lâm cảnh cơm hàng cháo chợ, đi học về chàng phải ra tận chợ Bà Chiểu ăn cơm. 

May quá hơn tháng nay Tùng tìm được một quán cơm bình dân cuối xóm, rất khang trang sạch sẽ, nằm trong sân một ngôi nhà xưa, có trồng nhiều cây mát mẻ, thêm một hòn non bộ, thu nhỏ núi đồi thơ mộng! Quán có một bà ngoài bốn mươi trông rất phúc hậu lúc nào cũng nói năng nhỏ nhẹ, đó là bà chủ quán, một chị trông hiền lành, nhanh lẹ, một cô gái chừng hai mươi tuổi, có đôi mắt rất đẹp, mái tóc đen đậm, miệng lúc nào như mĩm cười, ngay ngày đầu mới thấy nàng đã thu hút nhãn quan của Tùng.

Sau bữa ăn đầu tiên, bước vào trong trả tiền, Tùng hỏi bà chủ quán:-Bác ơi quán chỉ bán buổi trưa, nhưng buổi chiều con cần, có bán không?

Bà chủ trả lời :- à buổi chiều có 2 người cũng đặt cơm, thì tôi để dành chiều hai chú đó đến ăn, có lò sẵn lúc nào tôi cũng hâm giúp. Vậy chú đặt cơm buổi chiều nha?

Tùng đáp : -dạ thật may cho con quá!

Cô gái nhìn Tùng thốt lời thân thiện:- vậy cở mấy giờ anh đến?

- Chừng 6 giờ

- Được anh đến trễ hơn cũng được, nếu má hay chị bận thì em lo cho.

Tùng nghe nàng nói như rót mật vào lòng, Tùng nhìn nàng cười và nhỏ nhẹ:

-Rất cám ơn cô

Từ đó Tùng rất yên lòng về vụ cơm nước, mỗi ngày tan trường đến quán cơm chàng như có niềm vui nhỏ trong lòng, cô gái tỏ vẻ thân thiên, cô thường ngày bưng mâm cơm đến cho chàng chứ không để chị giúp việc lo.

Nhiều hôm muốn hỏi chuyện làm quen với cô, nhưng Tùng bản tính nhút nhát chỉ nhìn nàng rồi im lặng. Thời gian trôi qua mấy tháng, một hôm, sau khi ăn buổi cơm trưa, buổi chiếu chàng đến thật trễ, cô gái cứ ngó ra ngoài ngõ trông chờ. Đến 7 giờ trời tối rồi, chị Tư đã đóng cái cửa ngõ lại, Tùng đến loay hoay mở cổng, nhưng không được, cô gái vội chạy ra, cười mừng nói trong hơi thở:-Anh! sao về trễ vậy, có chuyện gì không anh?

Tùng trả lời:- hôm nay chờ kết qủa thi, họ niêm yết trễ quá nên tôi phải đợi, định ăn hủ tíu bên ngoài rồi về nhà, nhưng sợ cô, bác và chị Tư đợi!

- Dạ em cũng trông lắm, thôi để hâm cơm nha, má có để sẵn cho anh và dặn anh đến thì dọn ra cho anh.

- Tùng nhìn cô gái mĩm cười hỏi:- ủa bác gái đi đâu rồi?

- Má và chị Tư hôm nay thứ bảy đi coi cải lương ở rạp Cao Đồng Hưng, chắc về trễ lắm.

Tùng nghe như vậy như mở tấm lòng. Chàng ăn cơm có vẻ mau hơn thường lệ, cố ý dành nhiều thời gian để tâm sự cùng nàng.

Nàng bưng đến cho Tùng môt ly trà đá và nói nhẹ: -nè anh, em tên là Vân, nhớ đừng gọi em là cô nha. Tùng nhìn nàng cười và nói tiếp:

- Còn tôi là Tùng

Nàng dọn đĩa chén ra nhà sau, trở lên đứng sát Tùng nói:- anh ơi mình lên nhà trên nói chuyện, nếu anh còn rảnh rang.

Tùng bước theo nàng qua khung cửa gỗ vào gian nhà chính, thật khang trang, đầu tiên thấy ngay một tủ thờ cao có khung ảnh một quân nhân Việt nam Công Hoà.

Vân nói :- Ba em đó, ba mất tích trong trận ở ngoài Trung.

Tùng nhanh miệng:-Trước tiên cho anh thắp hương cho Bác nha.

-Được cám ơn anh nhiều! Thờ ba như vậy nhưng má và em hi vọng ba sẽ trở về!

Tùng thắp nhang nghiêm chỉnh lâm râm cầu nguyên, Vân nhìn Tùng thầm nghĩ : ít ra là phải như vây, biết trọng lễ, tục ông bà từ xưa để lại. Tùng cắm nhang trên lư hương, xoay lại thấy Vân nhìn thẳng mình với đôi mắt xúc động, nàng nói:-anh ơi ngồi vào ghế đi anh.

Tùng mở lời:-Bác trai thuộc binh chủng nào vậy cô?

-Thực sự ba em đi lính lâu lắm ông là thượng sĩ, sau học ở Đồng Đế lên chuẩn úy , rồi thiếu úy thì lâm nạn. Còn anh bây giờ cho em hỏi nha:- hồi nãy anh nói chờ kết quả thi, vậy anh học ngành gì vậy?

- Thi ra trường vẽ

- À trường Cao Đẳng Mỹ Thuật, trời ơi sát bên trường em dạy đó, em chỉ dạy lớp một.

- Tôi học ở đó ba năm chẳng bao giờ gặp cô, duyên trời gặp cô tại quán cơm.

- Em mới dạy có một năm sau khi ra trường. Em thi tú tài 1 rớt rồi thi vào sư phạm lớp cấp tốc, học có một năm thôi; may quá được dạy gần nhà có thì giờ phụ bán cơm với má và duyên số gặp anh!

- Gặp mà … có tới đâu không?

- Để thời gian thôi… thì họa sĩ biết?

-Trời ơi đừng gọi là họa sĩ người ta cười tui chết!

- Xuất thân từ trường mỹ thuật nỗi tiếng sao không thành hoạ sĩ anh nhỉ, à mà quê anh ở đâu?

- Quê tôi ở Đức Huệ bên kia sông Vàm Cỏ đông, gần biên giới Việt Miên, chiến tranh dữ lắm, ba má tôi tử nạn lúc tôi mới lên mười, cậu mợ tôi đem lên Gia định nuôi, may thi đậu tú tài tôi vào học trường vẽ!

- Trời ơi Anh còn khổ hơn em, mồ côi cả cha mẹ, Má em mà biết chắc thương anh lắm, mồ côi cha mẹ mà học giỏi như vậy! À chắc lớn rồi cậu đâu có giúp nhiều thì anh làm sao xoay sở nhỉ?

-À lúc học ban tú tài tôi đi kèm trẻ hoặc tôi chạy bàn cho nhà hàng trong Chợlớn. Lúc học trường vẽ, may quá tôi được công ty vẽ quảng cáo cho làm bán thời gian cũng có chút ít giúp tiền chợ cho mợ. Cậu tôi là sĩ quan truyền tin cũng nghèo. Gần năm nay cậu mợ ra ở ngoài Vũng Tàu nên sinh hoạt của tôi có vất vả hơn, nhưng đó là cơ may mà gặp Vân; mong được cùng nhau đi mãi trên đường đời!

-Trời ơi đó là thật phải không anh? Em mong được vậy. Anh ơi sao anh không xưng anh với em mà cứ tôi… tôi, em nghe sao xa lạ không thân ái chúc nào!

- Rồi rồi từ bây giờ gọi nhau anh em nha,- cho nó ro-man-tic, Tùng cười lên tiếng.và tiếp lời:- đi day học trưa về bán cơm, tối chấm bài, soạn bài chà bận lắm phải không em?

- Nhưng bây giờ đỡ hơn lúc học Sư phạm, đạp xe từ Bà Chiểu vào Chợ Lớn, trưa 12giờ đạp xe trở về phải phụ má bán cơm, giờ đó khách đông lắm nên thật mệt.

Tùng nhìn gương mặt Vân toát lên nỗi niềm chịu đựng cố hữu của người phụ nữ Việt Nam, nên niềm tin yêu đầy ắp trong lòng chàng. Hai tay Vân để hẳn trên bàn, Tùng với tay nắm chặt lấy bàn tay trái của Vân, trong giây phút thật im lặng xúc cảm đầu đời len vào tim, bốn mắt như dính vào nhau… bất chợt Vân ngó xuống, dòng xúc cảm của hai người như tắt mạch. Tùng lên tiếng:- Hè nầy anh có đi vẽ cảnh ngoài trời, nếu rảnh em đi với anh nha.

- Dạ , nhưng nhớ sắp xếp mình đi vào chủ nhật, vì ngày đó quán ít khách, mình có đi chơi mẹ cũng đỡ nhọc.

Đồng hồ đổ mười tiếng, Tùng thốt lời: -thời gian qua mau quá em nhỉ, Tùng đứng dậy nói:- thôi anh về.

Vân cũng đứng lên sát bên Tùng, chàng ôm vai và hôn nàng, hai người bước xuống thềm, Vân mở cổng Tùng lách mình ra và nói;- thôi em vào, cho anh gửi lời thăm bác và dì Tư.

Vân đáp :-Dạ, Anh đi cẩn thận, mai gặp nha anh.

Đêm đó nàng trằn thọc khó ngủ! Hình ảnh Tùng, lời nói của chàng đã đậm tình yêu trong tim nàng.

Những ngày sau đó, qua lời Vân, má và dì Tư rất mến Tùng, Tùng không còn là khách mà là thành viên của quán. Chàng rất nhanh nhẹn tháo vát đỡ đần nhiều việc cho quán…

Rồi mùa hè đến, cậu mợ về Gia Định, Tùng khéo léo nhờ cậu mợ đến thăm nhà Vân nói lời phải quấy theo phong tục. Cậu mợ sẵn lòng. Nhờ vậy mà tình yêu của hai tâm hồn trẻ như chấp cánh.

Thật là một mùa hạ tuyệt vời, Vân theo Tùng vẽ nhưng phong cảnh trong thành phố: cảnh Lăng Ông, cảnh Viện Bảo Tàng trong vườn Bách Thảo, Vương Cung Thánh Đường…Vân rất lý thú nhìn những cánh phượng trên cành cao đựơc Tùng đưa vào khung vải với sắc màu tươi thắm; với nét cọ Tùng thu nhỏ nhiều cảnh đẹp vùng Saigon Gia định thành những bức tranh lưu luyến lòng người và làm Vân say mê.

Hai người đi xa khỏi thành phố, những đồng lúa mênh mông, lững lờ cánh cò trắng là đề tài thơ mộng cho Tùng. Vân trải hồn lên sóng lúa, nàng tức cảnh sinh tình, bất chợt đọc mấy câu thơ:

“Ôi đẹp lắm cảnh đồng quê bát ngát
Cò trắng bay sóng lúa dập dềnh
Chiều xuống mơ hồ nghe ai hát
Bản tình ca tha thiết mông mênh!

khiến Tùng thich thú hết lời khen ngợi:- hay quá tranh anh mà có thơ em dẫn giải thật tuyệt vời!

Trên chiếc honda cũ của cậu, Tùng và Vân đến Châu Thới, Bữu Long, dòng Đồng Nai xanh như vải lụa, những đồi màu đất hồng tình tứ, tất cả được Tùng thu nhỏ lại thành tranh.

Qua những con đường quạnh khúc gồ ghề, Tùng hay quay lại và nói:-vịn chặt nha, ôm anh đi kẻo té!

Nàng ôm trọn vòng thân Tùng đầu nghiêng sát vào lưng chàng, mơ màng, cảm giác lâng lâng…

Rồi mùa hè cũng qua mau, Vân trở lại trường với những học trò thơ ngây dễ thương, Tùng ngày ngày trong xưỡng vẽ…Thỉnh thoảng Tùng vẽ cho nàng những bức tranh nho nhỏ để trang trí trong lớp học, chủ đề là học trò để chởm chơi trên sân trường…; các cô giáo bạn trầm trồ khen ngợi, bà hiệu trưởng thật tán thưởng, Vân hãnh diện, gặp Tùng cười khoe với chàng và nói trêu:-hạnh phúc thay em được người chồng tài hoa! Tùng với tay bẹo má Vân, ôm siết nàng vào lòng và hôn nhẹ lên tóc!

Mùa thu đến, không có lá vàng rơi, chỉ có những cơn mưa chợt đến rồi chợt tạnh, hai người lo phụ má công việc trong quán cơm, ít đi ra ngoài nhưng tận hưởng cảnh ấm áp của mái gia đình.

Những ngày tháng chạp trời hanh nắng, Tùng thích ra vườn sau nhà chăm sóc từng cây nhản, gốc mai, Tùng thường nói với Vân vườn nhà nếu chăm sóc kỹ, sẽ đẹp bắt cọ họa sĩ lắm ! Từ đó hai người liên tục chỉnh trang lại khu vươn, bà Bảy, má của Vân rất vui, thường nói: khu vườn đó ba con bỏ biết bao nhiêu là công sức, ông cũng là thi nhân nên ông rất thích đẹp và yên tỉnh…Mấy đêm trăng sáng hai người thường ngồi trong vườn nghe nhạc dế tỉ tê, ngắm ánh trăng vàng lung linh trên trên cành lá; kể cho nhau nhiều câu chuyện thời tuổi dại, những đau buồn cảnh mồ côi tang chế. Vân cũng thốt lên sự lo sợ thời chinh chiến phải xa nhau. Nàng đã lâu rồi không gặp cha, đối với nàng đó là tì vết chiến chinh không phai mờ trong tim nàng! Tùng cũng nhắc lại cảnh mồ côi của chàng, cha mẹ tử nạn khi chiếc xe đò trúng mìn Việt Cộng, nhưng luôn luôn an ủi nàng.

Rồi mùa Xuân đến thành phố vui đón Tết như thuở thanh bình,

Đến hai mươi bảy Tết, quán cơm nghỉ sớm, gia đình chuẩn bị Tết, bốn cây mai sau vườn rợp nụ xanh phong nhụy, ai cũng thích thú, Vân luôn miệng khen nhờ Tùng làm đúng kỹ thuật: nhặt lá đúng ngày, tuới nước đúng lượng.

Tùng đề nghị:- nếu ngay hai mươi chín Tết ta xem hoa sung mãn thì cắt từng nháng khoẻ đem ra chợ hoa ngồi bán chơi.

Vân nói:- Anh dám ra bán không?

- Đâu mình có ra chợ Nguyễn Huệ, chỉ ra Bà Chiểu trước Trường Vẽ là người ta mua. Quê anh vùng đất gò có những rừng mai, năm nào anh và em anh cũng o bế từ hôm rằm, đến hai mươi tám cắt thui gốc, cột chặt với lá dừa nước, đem lên xe đò đến Phú Lâm các đầu mối họ giành mua.

-Vậy hai anh em mình làm thử nha.

-Được anh đem vài bức tranh ra bán thử thời vận luôn!

Thế là chiều hai mươi chín Tết trước trường vẽ có cô giáo đẹp hiền trong chiếc áo màu lam, cầm những cành hoa mai mời khách đi chợ Tết, có mấy bức tranh của một môn sinh trường vẽ được bày bán. Chẳng mấy chốc học trò trường nữ Gia định nhìn ra cô giáo, gọi cô ơi ới, nên phụ huynh của các em cũng sẵn lòng ủng hộ cô giao. Chỉ đến 9 giờ hoa mai đã bán hết còn bán thêm hai bức tranh của Tùng.

Hai người đi bộ về nhà, đường cũng xa, nhưng niềm vui mùa xuân yêu thương, dù đường có bao xa chẳng có mấy dặm dài. Vân vịn vào vai Tùng khe khẻ nói:-lâu lắm em mới có một mùa Tết, từ ngày ba mất tích.

-Anh cũng như em, chung hoàn cảnh côi cút thôi, nên đây là mùa Xuân vui đầu tiên của anh.

-À anh số tiền mình bán hoa mai và tranh theo ý em mình nên gửi tặng cô nhi viện Gò Vấp nha.

- Được, vậy mai mình đi sớm. Tùng đáp.

Ý kiến phước thiện của Vân, làm Tùng cảm kích vô cùng, chàng kéo sát Vân vào và hôn nàng. Nàng đẩy nhẹ Tùng ra nói:- Ôi sao mà anh bốc vậy, người ta nhìn em sợ lắm!

-Không! không có bốc đâu, mà anh xúc động và tán thưởng lòng nhân ái của em!

Hai người tay trong tay lòng tràn ngập niềm vui cùng đồng bào đón mùa xuân Đinh Mùi(1967), ngày mai mới giao thừa, dòng người xuôi về chợ Bà Chiểu như trảy hội. Chiến tranh ở khu vực ven biên cũng tàn khốc lắm mà ở nội thành trông vô tư bình yên, tiếng pháo lưa thưa đì đùng nổ!

Trong mấy ngày Tết hai người luôn bên nhau, nhập vào những lễ hội mùa xuân, viếng thăm Lăng Ông, các Chùa, qua Bình Triệu viếng thăm linh địa Fatima, nơi nào hai người cũng vào cầu nguyện…thỉnh thoảng nghé vào quán nhỏ bên đường ngồi uống nước, nắng vàng đổ ngập lối đi, từng cơn gió xuân thỏang nhẹ khiến con người tươi tỉnh hơn. Mắt Vân hướng xa ngoài những cánh đồng, nàng sát vào vào Tùng nói nho nhỏ:-quê mình cũng đẹp anh nhỉ, phải đừng có giặc thì sướng lắm!

-Ừ đúng vậy, năm 1955-1958 thật bình yên Tết như vầy trên làng anh vui lắm, nhưng sau đó mấy tên Việt Cộng về nó phá hoại, giật mìn xe đò khiến cha mẹ anh chết, anh phải bỏ làng bỏ xứ ra đi.

Những ngày vui qua thật mau, hoa cũng tàn, pháo hết nổ mọi người trở lại việc làm, người lính vững tay súng ngoài chiến địa, nụ cười của cô giáo Vân cũng héo vì Tùng nhận được lệnh nhập ngũ.

Tuy lòng thì buồn, nhưng nàng chuẩn bị cho chàng đủ mọi vật dụng từ quần áo lót, khăn cá nhân, bàn chải đánh răng, lược chải tóc…nàng biết chàng là người thanh niên tội nghiệp không còn cha mẹ, nàng muốn tận lòng bù đắp cho chàng, vả lại Bà Bảy mẹ nàng, luôn nhắc nhở nàng sống trọn lòng với chồng, vì người đàn ông hời hợt, họ không chu đáo với những điều nhỏ nhặt…Chính nàng đưa Tùng đến Trung tâm nhập ngũ, lúc trở về nữa hồn như đã mất, ngẩn ngơ đến lộn ngõ đi vào nhà!

Mấy tháng quân trường Thủ Đức cũng qua mau, Tùng chọn về tiểu khu Hậu Nghĩa, dù biết vùng nầy nhiều du kích Việt Cộng, nhưng gần Saigon, vả lại có gia đình dì Út của Tùng ở tại Tỉnh lỵ.

Về đây Tùng thật vất vả, trong tiểu đoàn tác chiến, nên đi hành quân liên miên. Vân thì vò võ trĩu nặng lòng người chinh phụ, buổi trưa tan trường nàng thẩn thờ trở về nhà, qua những con đường hai người cùng sánh bước, xe cộ nhộn nhịp nhưng tâm hồn nàng vắng lặng thấm đau niềm chinh chiến điêu linh!

Rồi mùa Tết lại đến, không khi nhộn nhịp, người người tươi vui đón mùa xuân mới, riêng lòng Vân trĩu năng đợi chờ, nàng buồn buồn lẩm nhẩm vần thơ :” Vui xuân vui cả một trời. Buồn xuân buồn chỉ một người buồn thôi!

Từ ngày ra đơn vị, đã ba tháng Vân chưa hề gặp Tùng, thỉnh thoảng có thơ về với lời thương nhớ của chàng, đó là niềm vui mừng của Vân vì biết được người đi còn bình yên!

Những ngày giáp Tết, sau khi trường nghĩ học, lòng nàng rất bồn chồn, đêm đêm nghe tiếng súng vọng về nàng lo lắng cho Tùng biết mấy! Nàng quyết định đi thăm Tùng một lần. Bà Bảy má nàng biết được ý định của Vân thì lo lắng lắm, đường lên Hậu Nghĩa không xa nhưng nhiều bất trắc vì sự phá hoại thương xuyên của du kích Việt Cộng!; rốt cuộc Bà cũng đồng ý để nàng đi, vì bà thấu rõ nỗi tình của hai con.

Nàng chuẩn bị nhiều món ăn ngày Tết, sáng sớm 29 Vân đã tới nhà dì Út, tại thị xã Hậu Nghĩa, được bà dì góp ý và thúc giục, nàng đến trại binh xin gặp chuẩn úy Tùng, may qúa ngay lúc đó Vân gặp được trung úy Đại Đội Trưởng, biết nàng từ xa đến xin thăm chồng, ông thông cảm cho Tùng xuất trại từ 9giờ đến 11giờ trưa. Thời gian rất ngắn ngủi nhưng thật qúy báu, đặc biệt dì Út nói:- có việc cần phải lên xóm, hai cháu tự nhiên ở nhà, Vân mở thức ăn cho Tùng nha con.

- Dạ , Vân đáp.

Dì Út bước vội xuống thềm và đi khuất. Tùng nhìn Vân nói:- Em thấy dì Út khéo không, dì cố vắng mặt để tụi mình vui trọn vẹn, đoạn chàng xoay ra khép cánh cửa lại, ôm chặt Vân. Cả gian nhà thật im lặng…chỉ còn nghe tiếng thở đứt khoảng của hai người…

Thời gian vàng ngọc qua thật mau, chỉ còn nửa giờ là Tùng hết phép, Vân mở vội mấy túi đệm lấy thức ăn cho Tùng nhưng chàng chỉ bóc một chiếc nem chậm rải nhai và nói:-Trời em đem nhiều quá vậy: hai ba chục nem, ba cây chả lua, lại có cả nước mắm, kiệu chua, dưa giá…em cực khổ quá nhỉ, thôi để anh đem vào trại cho bạn ăn với.

-Vâng, vậy cũng tiện. Lát em đưa anh vào trại nha, rồi em về, má ở nhà trông tin anh lắm đó!

- Má và chị Tư cũng khỏe phải không em?

-Vâng, hai người nhắc anh luôn. Nhớ năm rồi còn anh ở nhà, mùa Tết thật vui. Tết năm nay ai cũng ngậm ngùi!

Tùng xách hai giỏ đệm nặng trĩu lửng thửng đi cạnh Vân, lòng hai người thật buồn, càng đến gần doanh trại càng thêm niềm xa cách. Đến cổng trại Tùng bước nhanh vào trong, khuất mau sau gian nhà gỗ, không dám ngoảnh lại sợ nhìn thấy dòng nước mắt của Vân. Vân đứng sát vào gốc cây bã đậu, nàng khóc!

Ngay lúc đó di Út đi tới, hết lời an ủi và đưa nàng ra bến xe về Gia định. Xe qua ngõ Đồng Lớn để ra Củ Chi chừng hai cây số, nhiều xe kẹt lại và súng nổ vang. Hai tiếng đồng hồ sau xe mới thông, trên cánh đồng không xa đường lộ có nhiều xác Việt Cộng, xa hơn nữa thấp thoáng nhiều lính Cộng Hòa, nắng nhạt mùa Xuân thật héo úa, gió chiều Xuân lành lạnh, nàng chợt rùng mình và nghĩ: sao không xa thủ đô, nắng gióTết không đẹp ấm mà lạnh buồn như nắng gió biên thùy!

Nàng về đến nhà tối mịt, má nàng rất mừng vì gặp được con và biết tin Tùng bình an! Rồi mùa Tết Mậu thân đến, phải nói những ngày giáp Tết thật tưng bừng, vì có lệnh ngưng bắn rõ ràng của cả hai bên, vả lại Việt Nam Cộng Hoà qua một cuộc bầu cử rất thành công. Đêm ba mươi Tết pháo nổ tưng bừng nhưng trong nhà không vui vì thiếu vắng Tùng, đối với Vân mùa Xuân đã xa vắng; việc cúng giao thừa cũng đơn giản, sáng sớm mồng một bà Bảy má của Vân như thường năm, đến chùa Kim Sơn, do dì cả của Vân là Ni sư trưởng trụ trì, ở trọn ngày đêm mồng một Tết, để cầu nguyện và công quả.

Suốt ngày mồng một Vân ở nhà với chị Tư, hai người ít nói chuyện nhau. Chị Tư lục đục dọn dẹp bếp núc dưới quán cơm. Vân lật những tạp bút phóng họa của Tùng. Nàng rất say mê từng nét bút của chàng, nhứt là những bức họa nhỏ có thiếu nữ mang dáng vóc của Vân…Bổng nàng nghe từ TV bài hát có mấy câu: 

“Xuân trước chàng đi chẳng trở về/ Nghe theo tiếng gọi của hồn quê/ Mõi mòn trông ngóng tin hồng nhạn/Tan nát lòng son trót não nề/”.

Nàng buông tập sách xuống bàn, tay chống lên trán hồn thả đến chốn xa xăm, vừa thương nhớ vừa xót xa cõi lòng!

Vân ngỏ lời rủ chị Tư sáng mai, mồng hai Tết đi Hậu Nghĩa, chị Tư bằng lòng nên hai người đi ngủ để mai dậy sớm…nhưng chỉ gần ba giờ sáng có nhiều tiếng súng lác đác nổ, chị Tư thức dậy nhìn qua khe cửa sổ thấy nhiều người ngồi ở vườn nhà sau. Chị vào trong đánh thức Vân dậy nói nhỏ:- nè Vân chắc Việt Công nó ở sau vườn đó. Vân đáp nhỏ:-Việt Cộng sao vào tới đây được chị?

-Tôi thấy không phải lính mình đâu, tụi nó mặc đủ thứ áo, có đứa đi chân không.

Vân rón rén tới sát cửa sổ nhìn qua khe , chạy vội lại kéo chị Tư ngồi xuống nói như nghẹt thở:- đúng Việt Công rồi, thằng nào cũng mang súng. Làm sao bây giờ Chị?

Chị Tư bình tỉnh hơn chị nói:-bây giờ lấy cái giõ đệm bỏ hai bộ quần áo, hai khăn tắm, mấy cái bánh tét, một chai nước, đem theo it tiền, nhưng cởi vàng cất giấu kỹ tại nhà, mang theo sợ cướp.

Vân vội vàng cùng chị Tư làm đúng như vậy, xong chị Tư nói thật nhỏ:-Bây giờ mình ngồi sát bên cửa trước, thế nào dân xóm trong họ cũng chạy theo con lộ lớn ra phiá Bà Chiểu có lính Quốc Gia. Chừng đó mình chạy lẫn theo họ. Ở đây thế nào lính Quốc gia cũng vào đánh Việt Cộng nguy lắm!

Quả như lời chị Tư nói, trời vừa rựng sáng, dân ở xóm trong bồng bế chạy ra, chị Tư giục :-mau mình ra em, tay chị kéo Vân tay chị kéo chốt cửa.Tiếng súng từ phía xóm sau nhà lác đác nổ nhưng rất gần, chú Năm và thiêm Năm người láng giềng cũng mở cửa chạy vụt ra nhập bọn, chú Năm nói với giọng rung:-mình chạy ra hướng chợ Bà Chiểu có lính mình, ở sau nhà tui Việt Cộng nhiều lắm! Tất cả chạy nép theo hiên phố…Súng bắt đầu nổ dồn dập, nhiều người từ trong hẽm băng qua lộ trúng đạn khóc la inh ỏi…ngay lúc đó, Vân ngã khụyu vào người chị Tư và nói: -Chị ơi em mệt quá. Chị Tư ôm Vân thấy máu thấm đỏ sau lưng. Chú Tư xoay qua nói lớn :- Á cô Vân bị thương rồi, ông xóc bồng Vân chạy mau về hương bệnh viện Gia định.

Trong phòng cứu cấp nhiều nạn nhân cũng đã được mang đến đây, Vân trầm trọng nhất được đưa vào phòng giải phẩu. Chị Tư chỉ tạt qua bệnh viện rồi chạy đến chùa Kim Sơn gần đó báo tin cho má Vân. Đến chiều 5 giờ bà được người y tá trực cho vào phòng hồi sức nhìn Vân, lúc đó nàng đang mê man, mặt tái xanh, bà nhìn con lòng quặn thắt, nước mắt tuôn tràn. Chỉ trong giây phút bà và chị Tư ra ngoài hành lang ngồi đợi.Trời rựng sáng ngày mồng ba Tết, người y tá ra báo Vân đã chết…

Đám tang của nàng thật hiu quạnh, vì chiến trận ngay trong nội thành còn nóng lắm! Xe quan tài đi qua phố vắng, mùa Tết như chạy trốn, nghe tiếng khóc não lòng của người mẹ già, vài đứa học trò nhỏ thương cô giáo lặng lẻ theo sau! Người yêu dấu của cô Giáo còn xông pha ngoài chiến điạ, chưa hay mùa Xuân của chàng đà xa vắng !

Hàn Thiên Lương

Friday, February 5, 2021

Tết Năm Xưa và Người Anh Họ

Nguyễn Đặng Bắc Ninh
Hoa đào ngày Tết. (hình minh họa của VB)

****
Thực ra Hà không mấy thích người anh ấy.

Cô gọi anh là anh Long. Anh là chồng của chị Chinh, người chị họ của Thanh, chồng cô. Hai bà mẹ là hai chị em ruột. Hà đã không thích anh, lại hơi ngán ngán vì anh cũng lớn tuổi hơn cô nhiều. Hồi đó anh ấy còn là đại tá trong một binh chủng có tiếng là hào hoa bay bướm. Hơn nữa, từ khi về làm dâu cho một họ đông đúc, cô thấy ai cũng có vẻ quí nể anh mà anh thì cứ coi cô như con nít nên nhiều khi hậm hực trong lòng mà cô không dám nói gì.

Dù ngày đó Hà còn ít tuổi nhưng cô đã tự cho mình là người lớn lắm rồi. Này nhé, cô là chị dâu trưởng trong gia đình nhà Thanh, đã là cô giáo của mấy trường trung học tư thục. Dù là dạy giờ nhưng cũng được gọi là “giáo sư”. Em chồng cô, chú Quyền thời đó cũng là một sinh viên của trường Chính Trị Kinh Doanh. Cô cảm thấy mình đã là một người đã trưởng thành, có nhiều trách nhiệm. Ấy thế mà mỗi lần họp đại gia đình, rất thường xuyên, là anh Long lại trêu chọc cô, coi cô như trẻ con.

Anh ít khi truyện trò trực tiếp với cô, chắc anh nghĩ cô không có ý kiến gì đáng kể, nhưng đôi lúc trước mặt mọi người, kể cả những khách văn võ thân quen, anh chợt kêu lên: “Kìa, nhìn con nhỏ nó cười, con nhỏ nó cười..”. Thế là ai nấy đều quay sang nhìn làm cô mắc cở chín người. Thật là bực bội. Chả là vì ngày đó cô có hàm răng trắng bóng như anh Bảy Chà Và quảng cáo kem chà răng Hynos. Những lần như vậy Hà càng ấm ức trong lòng, và cố tránh không lại gần anh, để khỏi bị làm trò cười cho mọi người.

Không thích anh Long, nhưng Hà lại rất mến chị Chinh, vợ của anh. Chị Chinh đẹp hiền dịu, phúc hậu, ăn nói ôn nhu từ tốn. Hà còn thích thêm ở chị một điều nữa là hình như anh chị không bao giờ cãi nhau. Có lẽ những lời nói âu yếm dịu dàng của chị có một uy lực mạnh mẽ với chồng. Các “quan” nhà binh thời đó thường coi lính như em, như con cháu. Mỗi khi thấy anh Long nổi giận rầy la lính, Hà lại thấy chị Chinh kêu nho nhỏ “anh Long..” Chỉ thế thôi, mà thấy anh dịu ngay. Hà phục lăn, không hiểu do tình yêu hay uy quyền gì mà chị “oai’ quá.

*
Có một chuyện mà nay đã nhiều năm qua Hà vẫn chưa quên. Hồi đó vừa sau đám cưới được mấy tháng thì Thanh chồng cô cùng những bạn cùng xuất thân từ trường Quốc Gia Hành Chánh hầu hết đều bị gọi tái ngũ vì từ hồi mới tốt nghiệp anh và các bạn đồng học đã được gửi đi huấn luyện trong quân trường Đồng Đế để thích ứng với tình hình chiến sự ở các tỉnh quận xa xôi. Với Hà, cô vừa buồn vừa lo, vừa thất vọng vì cô đã có hai người anh trong quân đội, nay hành quân nơi này, mai lại chuyển đi nơi khác. Cô vẫn tưởng rồi đây Thanh sẽ tiếp tục được phục vụ trong những cơ quan hành chánh trong tỉnh, nào ngờ... Thanh cũng buồn vì phải rời xa vợ mới và đang được ở một chức vụ mà anh rất thích. Nhưng đã qua nhiều năm “lênh đênh rừng cùng sông” ở các hải đảo phía Nam, anh cũng không ngại trở lại đời sống phiêu lưu nhiều thử thách.

Tuy nhiên, không rõ sao chị Chinh và em kế chị là chị Ngân biết được. Các chị nghĩ Thanh đã vừa phục vụ ở một quân lỵ hẻo lánh hơn ba năm trời, nay mới được về Saigon ít lâu thì lại sắp phải đi xa, dữ nhiều lành ít. Chị mời hai vợ chồng Hà Thanh đến ăn cơm cuối tuần “để chị liệu lời nhờ anh Long xem có được không...” .

Hôm đó sau bữa cơm chiều trong một căn nhà ấm cúng của anh chị Chấn Ngân ở Tân Định, Hà nghe thấy tiếng chị Ngân:

- Anh Long, Thanh lại bị gọi tái ngũ, anh xem có chỗ nào đỡ nguy hiểm ...

Anh Long quắc mắt, mặt đã hơi đỏ vì men bia:

- Đời lính thì đi đâu chẳng được. Chưa đi đã sợ. Đàn ông gì hèn vậy?

Chị Chinh nhẹ nhàng:

-… Thì cậu ấy vừa mới cưới vợ...

Anh Long cắt ngang:

- Vì vợ mà hèn thế thì bỏ đi!

Thanh không nói gì, anh chỉ cười gượng. Nhưng đối với Hà dù cho là lời nói của người say, lại là một người trên, nhưng trong lòng cô sự tổn thương thật lớn lao khi “mối tình lớn” của cô vừa thành tựu, duyên hương lửa chưa bao lâu đã bị ông anh phán một câu thật là thô bạo“..thì bỏ đi”!

Nhớ lại trong mấy ngày đám cưới của Hà và Thanh, vì bố chồng cô đã chuyển vào làm việc ở miền Trung từ khi di cư khỏi Hà Nội từ năm1954 nên ông bà chỉ vào Saigon trước ngày đám cưới mấy tuần lễ. Mọi việc đều do các bác và các anh chị, kể cả anh chị Long Chinh lo liệu hết.Vậy mà bây giờ anh nỡ nào nói vậy! Từ đó cô lại càng cố tránh anh thêm.

Sau này cô còn biết thêm anh Long tính rất ngang, các em ruột của anh, anh cũng chẳng bao giờ nâng đỡ gì. May mà họ đều có danh phận, tốt nghiệp trong những ngành chuyên môn như Y hay Dược nên có lẽ không cần nhờ cậy ông anh ngông nghênh này.

Ông anh này cũng lạ. Hình như anh làm việc cả ngày mà không ăn ra bữa, chỉ uống bia hay ít rượu pha với nước đá. Mãi tới tối, người nhà mới xới ra một bát cơm nóng hổi, đập 2 quả trứng gà tươi vào, trộn đều lên. Bữa cơm chiều của anh thế là xong. Hèn chi cả đời không lúc nào thấy anh mập ra được.

Sắp tới Tết Mậu Thân. Chiến sự ngày càng lan rộng nhưng Hà vẫn nghe như chiến tranh còn ở mãi đâu. Ngày ngày cô đưa con đi học mẫu giáo. Cha mẹ Thanh và các em đang ở trên một tầng lầu trên đường Gia Long. Tầng trên là hai bác Cả, bố mẹ chị Chinh chiếm ngụ. Họ vẫn thân nhau như thế từ mấy chục năm may, từ hồi chiến tranh Việt Pháp, khi bà ngoại còn sống.

*
Ngày Mồng Một Tết, vợ chồng Hà đưa con lên ăn Tết với cha mẹ chồng và các em. Đến đó là sẽ được gặp nhiều người thân trong ngày đầu năm, chúc Tết một thể.

Những dịp họp mặt như vậy thật vui. Họ hàng con cháu gia nhân tấp nập chạy lên chạy xuống. Người lớn thì họp chắn hay bài cào, lũ trẻ con xúng xính quần áo mới, tay lo le tiền mừng tuổi cũng có trò chơi riêng như cá ngựa, domino… Hà chẳng biết đánh bài, không lẽ lại ngồi chơi cá ngựa với trẻ con; cô ngồi bồng bé Mi ăn mứt cắn hạt dưa xem mọi người cũng thấy vui lây.

Hình không có mặt anh Long hôm nay, nhưng cô không bận tâm vì hai anh ruột cô cũng trong nhà binh nên cô cũng quen với sự vắng mặt của các người đàn ông thời chiến.

Về tới nhà, bé Mi đã buồn ngủ, mắt nhíu lại. Cô đặt con lên chiếc giường nhỏ của nó ở phòng bên có cửa thông với phòng hai vợ chồng. Ngả lưng xuống giường cô thấy mình mẩy mỏi nhừ vì những ngày sửa soạn Tết vừa qua: Quà cáp biếu xén hai bên cha mẹ, họ hàng. Nhà cửa, như thông lệ hàng năm, cũng phải cho người quét vôi lại. Chính phủ cũng khuyến cáo mọi nhà trang hoàng , treo cờ trước ngõ..

Nhà cô là một ngôi nhà do chính phủ cấp theo chức vụ của Thanh, ở gần nhà thương Chợ Rẫy. Nhà hai tầng, xây kiên cố từ thời Pháp thuộc, mái ngói, tường dầy nên trong nhà lúc nào cũng mát lạnh.

Ngày mới dọn về, mẹ chồng cô đến thăm, cụ phán:

- Nhà mát lạnh thế này cứ như vào đình hay chùa.

Cụ ra ý bảo nhà không tốt. Nhưng vợ chồng cô ngày ấy còn trẻ, làm gì có tiền mua nhà, bỗng dưng được ở một căn nhà rộng rãi, cũng không phải trả tiền thuê nhà, là may mắn quá rồi. Từ phòng khách tầng dưới bước xuống mấy bậc thềm là mảnh sân nhỏ cửa mở ra mặt tiền đường. Sân sau chạy dài mấy chục thước, cuối sân là hai cánh cổng bằng sắt cho xe ra vào. Dọc sân sau là nhà bếp liền mấy phòng nhỏ, chắc xưa họ dùng cho gia nhân trú ngụ. Cuối sân là một nhà vệ sinh và vòi nước riêng để người nhà giặt rũ.

Đặt con vào giường, chặn gối cẩn thận, cô về phòng đặt mình xuống gường, cựa mình cho dãn gân cốt, tự nhủ “Ăn Tết mà..” và chìm vào một giấc ngủ ngon lành lúc nào không biết.

*
Sáng mồng hai Tết, cô chợt tỉnh dậy. Có lẽ hãy còn sớm vì trời mới hơi hưng hửng sáng, nhưng loáng thoáng dân trong phố đã đốt pháo lẹt đẹt đó đây. Cô ngồi dậy bảo chồng:

- Để em sang xem con, anh cứ ngủ đi. Mà sao họ đốt pháo gì sớm thế!

Nhưng Thanh cũng đã trở dậy, theo vợ sang phòng con. Theo thói quen, anh tới cửa sổ cúi nhìn xuống đường. Tự nhiên, Hà thấy chồng mặt tái hẳn đi: “Em ơi, không phải pháo đâu, Việt Cộng đấy, họ mang súng AK kìa”. Cô bủn rủn cả người, không tin ở tai mình. Cả đời cô biết súng ống đạn dược ra sao đâu. Nhưng anh thì anh phải biết.

Như bản năng xui khiến, Hà đẩy chồng vào phía trong, xa cửa sổ. Dòm xuống đường, cô thấy lác đác mấy người đàn ông mặc quần áo màu xám, đội một kiểu mũ xem rất lạ mắt với cô, họ lom khom đi dọc hai bên hè phố như trong những cảnh tác chiến cô thấy trong phim ảnh.

Chợt một người ngước mắt lên, nhìn thấy cô đứng trong cửa sổ, hắn quát lên:
- Còn dám treo cờ ngụy nữa hả?

Cô hoảng hốt, chợt nhớ là chị Ba người giúp việc đã treo lá cờ Quốc Gia từ cửa sổ tầng trên từ hôm sửa soạn Tết. Chắc cái mặt cô lấp ló bên lá cờ vàng rực rỡ phấp phới từ trên cao làm hắn điên tiết. Cô sợ hãi luống cuống mãi mới tháo lỏng được sợi dây cột cán cờ. Cô lúng túng cố kéo lá cờ vào trong phòng thì hắn lại quát:
- Còn muốn giữ nó hả ?

Cô cuống cuồng lao cả cờ lẫn cán xuống sân phía dưới. Như hài lòng, hắn bỏ đi. Chắc hắn và các đồng ngũ còn có những việc gay go hơn là đến xét nhà cô hay những nhà khác trong xóm.

Lúc này chị Ba cũng đã thức dậy. Cô sẽ suỵt bảo chị đưa bé Mi xuống nhà và cố giữ im lặng. Chị Ba làm cho vợ chồng cô đã lâu. Chị hiền lành và chịu khó nên sau này cô cho cả bé Ngọc con chị đến ở chung cho chị khỏi nhớ con và cho căn nhà rộng cũng thêm ấm hơi người.

*
Thanh vẫy tay gọi vợ đứng nép vào tường, cùng ghé mắt nhìn qua khe cửa chớp nhìn xuống đường. Từ đây cô có thể nhìn sang tới phía bên kia của con lộ nhỏ mà không sợ người dưới đường nhìn thấy. Nếu rủi họ có xét nhà, Thanh sẽ trèo lên trần nhà trốn cùng hàng trăm con dơi vẫn trú ngụ trên đó. Thực ra nếu có chuyện, Thanh mà trèo lên, cả đàn dơi tung ra thì trốn thế nào được? Nhưng không còn cách nào hơn.

Cô chợt thấy nhiều người lố nhố bên kia đường. Dù không nhìn thấy mặt họ, nhưng qua cách ăn mặc, cô cũng biết họ là những người của phía “bên kia” đang nhóm họp ở đó.

Thì ra nhờ khu chung cư khá khang trang của những Hoa kiều bên kia đường với những bậc cầu thang gạch sạch sẽ, nhóm đặc công Việt Cộng đã lập một “tổng hành dinh” tạm thời ở đó. Cô thấy ngoài những cán binh VC, còn có một số cư dân trong phố, từ đâu ra không biết, người nào cũng đeo băng đỏ ở cánh tay. Họ đang chỉ điểm để tìm bắt những thành phần “phản động” trong khu phố. Từ chỗ đứng cô chỉ nhìn thấy một phần người của đám người đứng ngồi lố nhố bên kia, khoảng cách cũng không cho cô nghe được những gì họ nói.

*
Cô chợt nín thở, bám chặt tay chồng: Bên kia đường, họ lại dẫn ra một người đàn ông, hai cánh tay bị trói thúc ké ra sau. Xem ra mấy tay cán bộ vừa lột quần áo ngoài của ông, nên ông ta chỉ còn có áo may-ô và quần cụt trên người, chắc bộ quân-phục đã làm ngứa mắt các người bên kia. Tuy vậy từ phía trên này đường, vợ chồng cô vẫn thấy lấp lánh một vài hoa mai kim loại ẩn hiện trên bộ quân phục một anh cán bộ đang cầm trên tay, không rõ hoa mai vàng hay bạc, nhưng trông ông sĩ quan VNCH kia vẫn có vẻ tươm tất chỉnh tề, cặp kính cận vẫn còn trên mắt. Nhờ lúc mới tới, họ dẫn ông gần ra tới lề đường nên Hà thoáng nhìn được vẻ mặt ông ta, một vẻ mặt nhẫn nhịn, chịu đựng nhưng không có vẻ sợ hãi. Trong lòng cô chợt nảy sinh một cảm tình như là xót xa lẫn cảm phục với người đàn ông không quen biết kia.

Người sĩ quan VNCH vẫn đứng thẳng. Cách đó mấy bước, một chị cán bộ Việt Công, trông còn trẻ, nhìn xa chắc chỉ trên dưới 30 tuổi, quần chẽn, áo ngắn với hai bím tóc thả hai bên, một kiểu tóc ít khi thấy ở Saigon, ngọai trừ mấy em gái nhỏ. Chị cán bộ đứng dang hai chân, tay phải cầm khẩu súng, đưa thẳng trước mặt. Chị ta nói những gì từ xa không nghe rõ, nhưng một tiếng nổ “bụp”, người sĩ quan ngã xuống, nằm vật xuống vỉa hè. Thanh nắm chặt tay vợ. Hà hụt thở, tưởng như muốn ngất xỉu.

Run rẩy, cô lùi vào phòng trong, kéo anh vào theo. May là căn nhà kiên cố, cách mặt đường một mảnh vườn nhỏ. Sân sau ngoài cửa garage, cũng là một bãi cỏ trống không dễ gọi cửa hay đột nhập vào. Vùng này lại nhiều cư dân gốc Hoa; bên này là nhà dành cho các nhân viên y tế nên đám Việt Cộng chưa cần để ý đến.

Cũng qua khe cửa chớp, nhìn xuống xuống đường, thi thể người quân nhân nằm sát lề đường, máu đỏ thẫm chảy từ cổ ông ta chảy thành dòng xuống rãnh.

Hà rùng mình, nhắm mắt, chạy vội vào phòng trong, vơ vội mấy cái quần áo của bé Mi bỏ vào túi xách, xuống nhà, bảo chị Ba mang theo tã lót bình sữa “mình lên nhà bác Giáo”.

*
Sợ quá, ở nhà thì không xong rồi, nhưng đi đâu. Vùng Chợ Lớn cùng với miệt phía Nam này họ đã chiếm rồi. Nhưng đi đâu cho an toàn? Vậy thì theo thói quen, chỉ có đến nhà bà chị Cả là chắc. Chị vốn làm nghề gõ đầu trẻ suốt từ hồi còn ở Hà Nội cho tới nhiều năm sau ở trong Nam, nên mọi người cứ gọi là bà Giáo cho tiện. Nhà anh chị ở trung tâm thành phố, rộng lớn, cao năm tầng lầu. Hai tầng trên thì cho thuê; mấy tầng còn lại còn rất nhiều chỗ cho anh chị và 3 đứa con (hai người con lớn đang du học bên Pháp), nay có thêm gia đình nhỏ bé của cô không ăn nhằm gì. Thêm nữa, mấy đứa cháu của cô rất thân với dì Út và cũng rất thích chơi và trêu chọc bé Mi.

Ra khỏi nhà, đường phố vắng tanh. Thành phố đang ra lệnh thiết quân luật mà. May mà xe anh đang lái mang số ẩn tế của chính phủ nên không bị bắt trở về.

Lên tới nhà bà chị chưa ấm chỗ thì nghe thấy mấy người đang theo dõi tin tức TV, thì ra nhóm đặc công Việt Cộng đã bị đẩy lui ra khỏi thành phố.

Chiến tranh vẫn sôi nổi. Không lâu sau đó, anh bị trúng thương khá nặng ở vùng Chợ Lớn, do trực thăng bắn lầm; anh bị nát đầu gối bên phải, không chết nhưng từ đó phải đi khập khiễng, chớ không bị cưa chân như tin tức trên báo Mỹ.

Rồi ngày đại họa 30 tháng Tư 1975 xập đến. Việt Cộng đang chiếm cả miền Nam, nhưng thoát ra bằng cách nào? Thanh, chồng cô, làm việc bên hành chánh, hai người anh của cô thuộc ngành bộ binh. Nhiều người nói, nửa đùa nửa thật: “Trong họ có ông tướng Không Quân, ổng thiếu gì máy bay, chỉ vù một cái là cả họ ra đi an toàn...”.

Trong lúc lo âu, tuyệt vọng, Hà cũng mong vậy. Nhưng từ hồi chiến sự sôi động, mấy gia đình anh chị em ít gặp nhau, và cũng không nghe gì từ anh chị Long-Chinh.

Quả nhiên, vào giờ phút chót, gia đình Hà-Thanh với 5 đứa con lại khăn gói “lên nhà bác Giáo”, len lén bỏ những đồ vật giá trị, hay cần thiết vào mấy cái valises, sợ chị Ba, người giúp việc biết được, thì nếu lỡ không chạy được, mới làm sao? Ngay cả bức hình của Hà do Nguyễn Kỳ chụp, Hà rất thích, vẫn treo trong phòng khách mà không dám đem theo. Cũng như đồ vật gì cũng để yên chỗ. Cho tới nay, đã mấy chục năm qua, vợ chồng Hà vẫn không biết chị Ba đã làm sao với tất cả những gì mà gia đình Hà để lại trong căn nhà hai tầng với sân trước vườn sau đó?

Rồi trưa ngày 29 tháng Tư, từ nhà bác Giáo, vợ chồng con cái Hà theo xe ông anh cả, chạy loạn ra bến Bạch Đằng, leo lên được một chiến hạm khặc khừ ... mà không biết đi đâu...

Lên tàu, Hà thấy ai?... Vợ chồng cô đến chào bác Cả, mẹ thân sinh của chị Chinh, tức là ... mẹ vợ ông Tướng!Té ra cụ đã đi cùng với gia đình chị Ngân, không dính dáng gì đến máy bay Không Quân; nói gì đến anh Long!

*
Sau nhiều năm xa cách, dù cùng định cư ở đất Mỹ, họ hàng cũng không mấy khi gặp nhau, chỉ thăm hỏi bằng điện thoại hoặc thư từ. Vợ chồng Hà-Thanh thì tất bật đi học, đi làm 2, 3 jobs để nuôi mấy đứa con.

Thanh lại thích 4 mùa mưa nắng, tuyết và cả ... mưa đá của miền Đông Bắc nên cứ cầm chân tại chỗ, mặc cho đàn con lớn dần, ra trường, tản mạn khắp các tiểu bang, kể cả ngoại quốc. Anh chị Long thì nghe nói đã mở một tiệm pizza bên Wa. DC.

Nhưng trước đó anh Long cũng phải qua một giai đoạn gay go, chỉ vì bức hình oan nghiệt “bắn VC” đó.

Người Mỹ hồi đó rất bất mãn, ngay cả sở Di Trú và Nhập Tịch Mỹ (US Immigration and National Services) cũng quyết định là tướng Long đã sai phạm luật chiến tranh (War crime), rất nặng, nhất định phải trục xuất.

Để có chứng cớ mạnh, họ mời nhiếp ảnh gia Eddie Adams, tác giả tấm ảnh ra điều trần. Nhưng chính Adams lại lên tiếng bênh vực anh Long. Sau đó Adams lại lên đài truyền hình giải thích về trường hợp xảy ra ngày 1 tháng 2 năm 1968(mồng2 Tết Mậu Thân): Ông tướng Cảnh Sát nóng máu vì tay VC Nguyễn Văn Lém này vừa ra tay hạ sát quá nhiều người.Trong chiến tranh, nhiều điều ta không thể lấy tâm cảm bình thường để giám định.

Hạ viện Mỹ cuối cùng đã bỏ lệnh trục xuất; và gia đình anh Long ở lại Mỹ.

Mãi đến khoảng năm 1989 vợ chồng Hà mới bay ngang nước Mỹ, sang Burke, Virginia thăm anh chị Long, và tiệm ăn Les Trois Continents của anh chị.

Chị vẫn dung dị vui tươi, nhẹ nhàng. Tiệm nhỏ, ở giữa một shopping mall, có một người phụ việc. Anh thì ăn mặc giản dị, không già đi mấy. Trông anh vẫn tếu tếu như xưa. Đang nói chuyện thì có ông khách Mỹ gọi thêm gì đó. Anh Long đứng dậy, rót ly rượu vang, đem đến cho ông khách.

Ông này tươi cười, líu tíu:“Thank you, thank you, General...”

Hà để ý, nhiều khách hàng vẫn gọi anh Long là General một cách thích thú. Họ ái mộ về quá khứ của anh, hay họ tự hào là chẳng mấy khi được một ông tướng tiếp đãi mình?

*
Anh Long đã mất vào một ngày mùa hè năm 1998. Chính nhà nhiếp ảnh Eddie Adams đã viết lời ai điếu trên báo Time:

Ông ta là một vị anh hùng. Nước Mỹ đáng lẽ cũng phải khóc thương. Tôi muốn mọi người biết về ông ta trước khi ông ta ra đi mãi mãi... Nhiếp ảnh là một võ khí lợi hại. Nhưng gì thì chúng cũng chỉ đưa ra một nửa sự thật. Tấm hình đó có thể đặt cho người xem câu hỏi: “Giả thử bạn là một ông tướng trong hoàn cảnh xáo trộn, trong một ngày nóng bức, mà bạn lại vừa tóm cổ được một tên khốn kiếp vừa ra tay hạ sát 1, 2 hay 3 người lính Mỹ? Trong tấm hình đó thực ra có tới hai người chết. Ông tướng Long giết anh Việt Cộng. Tôi thì giết ông tướng với chiếc máy ảnh của tôi”.

*
Câu nói của Eddie Adams luôn luôn ám ảnh Hà. Chiếc máy hình của Adams đã “thâu”được cảnh anh Long bắn chết tên đặc công VC. Còn Hà, với đôi mắt của một thiếu phụ nhỏ bé đã “không thâu” được hình ảnh VC bắn chết người sĩ quan VNCH.

Nên với cô, chỉ có niềm ân hận trong lòng suốt mấy chục năm qua.

N-Đ Bắc Ninh

Blog Archive