Showing posts with label Dien Anh. Show all posts
Showing posts with label Dien Anh. Show all posts

Sunday, August 2, 2026

Diện ảnh Việt Nam

Thú thật là tôi rất ít khi ngồi viết tâm sự, nhưng có một điều làm tôi trăn trở khá lâu kể từ ngày phim Việt được xuất khẩu ra nước ngoài và trình chiếu ở vài rạp chọn lọc nơi có đông người Việt. Đó là tại sao điện ảnh Việt Nam vẫn chưa thể quảng bá được chính văn hóa của mình?

Những bộ phim Việt tôi có dịp xem ở Mỹ hầu như chưa từng có nổi một cảnh nhân vật ngồi ăn tô phở hay cầm ổ bánh mì gặm dở. Trong khi đó, đấy lại chính là hơi thở, là nét văn hóa ẩm thực cốt lõi của người Việt. Nhìn sang Hàn Quốc mà xem, họ thành công rực rỡ khi đưa kim chi, tteokbokki phủ sóng khắp thế giới. Còn điện ảnh Việt thì sao? Quá yếu kém trong khoản này.
\
Hôm nay đi xem bộ phim Spider-Man mới ra rạp, phải nói tôi thật sự bất ngờ với một phân cảnh: Bạn của Spider-Man nói rằng cậu ta vừa đặt bánh mì, mà đặt hẳn 5 ổ liền vì biết Nhện đang ở đây và cần ăn cho thật no.

Vừa vui mà cũng vừa buồn. Vui vì Hollywood đang vô tình quảng bá món ăn Việt cho cả thế giới biết đến. Nhưng buồn và chạnh lòng ở chỗ: Tại sao người Việt lại không thể tự quảng bá cho chính mình mà cứ phải chờ đến tay người ngoại quốc? Thiết nghĩ, điện ảnh Việt nên và phải là bên đầu tiên làm được điều này mới đúng.

Nhưng suy cho cùng, chuyện này lại một lần nữa phơi bày cái tính thói: Biết thừa mình yếu, nhưng ai lỡ lời chê một câu là nhảy dựng lên như nước đổ dầu sôi, vỗ ngực tự xưng mình là số một. Cái lạ đời của người Việt là thế đấy, chẳng bao giờ chịu nhận mình sai hay kém cỏi, lúc nào cũng phải là vô địch cơ, mới chịu!

ChanNhu

Monday, July 20, 2026

Tại sao phim đề tài Miền Nam nhưng tâm lý và văn hóa không phải kiểu Nam Kỳ?

Tui đọc được bài "Cậu 3 Nam Kỳ lộn xào" lên tiếng vụ bộ phim truyền hình "T-iếng s-ét trong m-ưa" có nhân vật Cậu Ba do Cao Minh Đ-ạt thủ diễn thô lỗ, đánh hầu gái tàn tệ, cục súc vô giáo dục, bất nhơn thất đức.

Cậu Ba do Cao Minh Đ-ạt là con nhà điền chủ Miền Nam đang ăn, không vừa lòng một món nào đó lập tức cầm dĩa đồ ăn đ-ập thẳng vô đầu hầu gái trước mặt cha mẹ.

Dân nhà giàu Miền Nam đâu có mất dạy như vậy.

"T-iếng s-ét trong m-ưa" còn có cảnh trong nhà điền chủ Miền Nam thời Pháp của ông bà Hội Đồng mà có chuyện qu-ăng người xuống giếng rất thô thiển. Bà Hội Đồng chống nạnh chỉ đạo quăng người xuống giếng, bà la lên "Vất nó xuống giếng cho bà!"

Qu-ăng người xuống giếng là chôm của phim Tàu, còn "vất nó" là từ ngữ của Miền Bắc.

Miền Nam hịch hạp hào sảng nên muốn nhét gì vô cũng được hen?

"T-iếng sét trong m-ưa" là phim mình Ngô Đầu Sở, kịch bản của Tàu và bên kịch cùng đạo diễn ráng đem nhét nó vô bối cảnh Nam Kỳ thời Pháp, vậy là thành đâm bang xuồng bể, thành sọc dưa, coi phim cứ ôm bụng cười, trình độ văn hoá tệ hại đến thế là cùng.

Có một dòng phim "cung đấu" của đài Vĩnh Long ráng nói về xã hội Nam Kỳ thời Pháp nhưng cho ông điền chủ hay ông Hội Đồng có nhiều vợ bé vợ nhỏ ở chung nhà kiểu "Lồng đèn đỏ cao cao" của Tàu, rồi bà lớn nhỏ đấu đá nhau hàng ngày, ăn cơm cũng nguýt hái cũng đá xéo nhau, đi qua đi lại cũng hạ bệ nhau tàn bạo, thuốc độc hạ thủ thuốc nhau như giỡn chơi.

Ăn mặc thì áo quần xanh đỏ tím vàng, đàn ông đàn ang cứ ẹo qua ẹo lại áo quần như xiếc khỉ. Nhà cửa thì màu sắc đậm lét, thất nhơn hơn là Miền Nam có "bà cả" và "cậu cả" kiểu Bắc Kỳ!

Người ta coi thường văn hoá Miền Nam, coi thường người Miền Nam đến tận cùng, ham mê tố cáo xã hội và điền chủ Miền Nam theo xu hướng sau 1975 là phải "ác tận cùng" nhưng quên rằng lớp nhà giàu Tây học hồi đó học cái tánh ga lăng với đàn bà nên tôn trọng phụ nữ.

Thói quen quăng người xuống giếng không có trong xã hội Miền Nam, cũng không có cạo đầu bôi vôi, không thả rọ heo, không thả bè chuối trôi sông.

Miền Nam chỉ có bà hai và cậu hai và ông Hội Đồng thì không bao giờ có vợ bé ở trong nhà công khai vì luật pháp bấy giờ cấm.

Người đàn ông Miền Nam xuất thân điền chủ xưa không tàn ác và không đánh phụ nữ tàn tệ như trong phim mô tả cậu Ba. Lịch sự Âu Tây không lục bóp đàn bà, lịch sự Âu Tây không thô bạo với phụ nữ.

Người Miền Nam chúng ta vẫn được giáo dục về tánh ga lăng đàn bà, đi đâu đàn ông Nam Kỳ cũng lịch sự chủ động mở cửa, kéo ghế cho phụ nữ khi đi ăn, nhường ghế ngồi, hoặc che chắn khi đi đường đông.

Chẳng phải có giai thoại công tử Mỹ Tho dùng tiền đốt sáng cho người đẹp kiếm cây son đó sao?

Ga lăng là từ tiếng Pháp galant, dùng để chỉ người đàn ông phóng khoáng, lịch lãm, biết quan tâm và chiều chuộng phụ nữ khéo léo từ những hành động nhỏ nhặt nhứt.

Nam Kỳ có chữ nịnh đầm. Nịnh đầm là ga lăng phụ nữ đó!

Đàn ông Miền Nam Việt Nam nổi tiếng với tính cách này nhờ sự ảnh hưởng của lối sống phóng khoáng, trọng tình nghĩa, tôn trọng nhơn quyền, quyền tự do ngôn luận và coi trọng giao kết tình thâm trong giao tiếp của người Nam Kỳ.

Phim "Người đẹp Tây Đô" tả cảnh ông chồng con điền chủ cưới hoa khôi Tây Đô là cô nữ sinh Bạch Cúc con một ông đốc học về nhà và hành hạ đánh đập chửi rủa kinh khủng, cả gia đình từ cha mẹ ông bà tới chồng thô bạo với con dâu.

Đôi lúc người coi phim sẽ tự thắc mắc và đặt câu hỏi, mắc cái giống gì mà giàu có bỏ tiền cưới vợ đẹp về để đánh đá và hành hạ nó chi vậy? Ông chồng không có tâm thần để hành động kiểu đó.

Có nguyên nhân đó!
Phim "cách mạng" sẽ có mô típ, vì bên chồng giàu mà ác quá nên con dâu mới có động lực đi làm cách mạng, vô rừng vô bưng theo "các chú các anh" để học lý luận, để kết nạp, để giải phóng.

Quả thiệt, trong "Người đẹp Tây Đô" có thông điệp nặc mùi vô sản lý luận, Bạch Cúc tuyên bố xanh dờn trước mặt chồng "Đã đến lúc tôi giải phóng thân phận của tôi!"

"Người đẹp Tây Đô" là một truyện dài và lên một bộ phim, nhưng tất cả thể hiện sự bất ổn tâm lý, trái khuất logic của người viết ra nó.

Phim Đất Phương Nam dù có nhà văn Sơn Nam cố vấn nhưng vẫn không thoát khỏi định hướng tuyện truyền về giới điền chủ Miền Nam, bà hội đồng dẫn người đi giũ nồi vét ống th-ắt cổ m-ổ họng tá điền từng hột lúa, thì ông hội đồng mang súng xông vô nhà tá điền giữa ban ngày h-ãm hiếp gái mới lớn, dẫn người bức tử tá điền tr-eo c-ổ chết.

Không ai dám nói điền chủ Miền Nam ác như quỷ, kiểu Tiếng Hò Sông Hậu tố cáo để tạo tiền đề cho "CM" phải nổi lên. Nhưng điền chủ Miền Nam cũng làm nhiều việc có ích cho đời mà địa danh Nam Kỳ còn ghi.

Gò Công xưa có ao Hộ Mưu, đường Hộ Mưu do ông Bá Hộ Trương Văn Mưu làm cho dân đi cho dân gánh nước uống.

Mang Thít Vĩnh Long có con kinh đào mang tên Thầy Cai dài 2 km giữa những lò gạch đỏ.

Thầy Cai có công đài kinh, bỏ tiền và công sức ra vận động đào kinh là ông Cai tổng Huỳnh Đình Ngộ (1876-1946). Ông Ngộ là cai tổng dưới thời Pháp thuộc nhưng lại có tấm lòng, hay bỏ tiền ra bốc thuốc chữa bịnh cho dân chúng trong làng.

Tân An còn cầu Tổng Huẩn, đó là cây cầu ngày xưa do cai tổng Huẩn bắt qua con kinh cũng mang tên ông, con đường cũng do cai tổng Huẩn vận động đắp để nối Tân Trụ và Tân An.

Vẫn còn đó cầu Bà Phủ, cầu Ông Huyện. Còn vô số Kinh Hội Đồng ở khắp Miền Nam, tại Đồng Tháp còn đó Kinh Hội Đồng Tường và Cầu Kinh Hội Đồng Tường.

Cái định hướng tuyên truyền sau 1975 như dây trói định kiến, hễ điền chủ Nam Kỳ là phải ác, phải là thứ bốc lột và tàn bạo, vì ác quá nên dân mới nổi lên, mới có "cách anh các chú" bà ba đen khoát khăn rằn xuất hiện như thánh thần cứu tinh, như đại ân nhân làm chuyện "giải phóng" con người.

Căn bịnh trầm kha của những cái đầu luôn tự ti về xuất thân thấp kém của họ.

Nhà chép sử Tạ Chí Đại Trường gọi những thứ sau 1975 trong văn hóa là thói tự ti của người xuất thân h-èn mọn.

Đời Cô Lựu là một tuồng cải lương giải trí vô thưởng vô phạt trước 1975 cho người bình dân coi cho vui, ai ngờ sau 1975 nó gánh nhiệm vụ "kết án" giới nhà giàu điền chủ Nam Kỳ.

Truy tìm lịch sử Miền Nam sẽ không bao giờ có trường hợp nào điền chủ lấy vợ tá điền, không có bà hội đồng nào gốc tá điền như cô Lựu.

Cũng không có trường hợp nào hội đồng lấy vợ tá điền với cách thức cải lương của ông Trần Hữu Trang viết ra.

Vợ tá điền đẹp cỡ nào mà hội đồng Thăng phải thủ đoạn như vậy? Nó chỉ là một tuồng cải lương tự suy diễn, tự nghĩ ra, coi cho vui.

Nhưng chúng ta vẫn ghi nhận vài câu thoại rất Nam Kỳ trong Đời Cô Lựu, thí dụ "Lịch sự Âu Tây không lục bóp đàn bà!", "Con tao có giấy khai sanh, vợ tao có hôn thú".

Điều này chứng tỏ cái gì? là xã hội thời Pháp vẫn có luật pháp.

Xã hội không phải kiểu luật rừng như người cộng sản mô tả trong những tuồng những phim tuyên truyền của họ.

Trong Vụ Án Đồng Nọc Nạn trạng sư tranh cãi giữa toà án mà anh em Mười Chức trắng án và được trả tự do mà!

Vào thời điểm đó, báo La Tribune Indochinoise, báo Đông Pháp thời báo đã vào cuộc mạnh mẽ, điều tra và phanh phui sự bất công này. Sự lên tiếng của dư luận và báo giới đã tạo ra làn sóng ủng hộ mạnh mẽ cho những người nông dân.

Báo chí nhựt trình thời Pháp cũng khá nhiều, ông hội đồng nào giữa ban ngày đi dí gái, bức tử người tá điền như trong Đất Phương Nam mà nhựt trình ky' giả biết là ông khỏi còn đường sống.

Hỏi, sau 1975 có vụ án nào luật sư tranh cãi thẳng mà tòa trả tự do giữa phiên tòa chưa?

Hơn ai hết giới điền chủ, hội đồng Nam Kỳ xưa phải tuân theo pháp luật trước tiên, họ không dám làm những thứ bại hoại đạo lý như phim ảnh đã tả.
Hội đồng quản hạt Nam Kỳ hay Hội đồng nghị viện Bắc Kỳ phải tuân thủ luật pháp.

Chúng ta coi truyện và phim Chị Dậu có thắc mắc không?
Chị Dậu bị bần cùng vì sưu thuế phải đem đứa con gái đầu lòng và cả ổ chó bán cho Nghị Quế chỉ được trả với giá rẻ mạt là hai đồng bạc.

Nghị Quế là chức gì? Ông Quế từ lý trưởng lên ghế nghị viên hội đồng Bắc Kỳ, dạng như ông Hội Đồng trong Nam Kỳ.

Thực tế, Nghị Quế sẽ không dám mua con gái chị Dậu.
Vì sao? Hình luật canh cải Bắc Kỳ cấm mua bán con người. Con người có tư cách pháp lý độc lập. Mọi hợp đồng, văn tự có nội dung mua bán, cầm cố, hoặc hoán đổi trẻ em (dù dưới danh nghĩa làm con nuôi, người hầu) đều bị coi là bất hợp pháp và vô hiệu ngay từ thời điểm lập ra.

Bộ dân luật Bắc Kỳ cũng cấm mua bán người. Điều thứ 9:
"Người và của là không xâm phạm được và thuộc quyền pháp luật bảo hộ. Tục nô lệ là nghiêm cấm. Không ai có quyền được dịch sử nhân thân kẻ khác trái với luật pháp."

Người Pháp xóa bỏ các tập tục mua bán nô tì. Thậm chí người Pháp còn cấm tiệt cái thói quen xá lạy người còn sống của dân Việt thời đó.

Thiệt rầu khi truyện, phim là tác phẩm văn học sau thời "cách mạng vô sản" làm ngược mọi thứ xã hội chỉ để phục vụ mưu đồ chánh trị.

Thành ra những "Chị Dậu" hay "Câu 3 Nam Kỳ lộn xào", "Bà Hội Đồng Nam Kỳ" quăng người xuống giếng" như phim Tàu cùng người đẹp Tây Đô sanh ra để chồng...đánh vẫn cứ xà quần nhỡn nhơ giữa xã hội này làm người ta thắc mắc cho vui.

"T-iếng s-ét trong mưa" là bộ phim cải biên phóng tác từ văn hoá Tàu, nhưng biên kịch và đạo diễn non tay, thành ra áp vô Nam Kỳ bị chênh bị niễng.

Nhớ nhà văn Phan Khôi từng viết rằng: “Ta mà còn đê hèn vậy, mong gì ai trọng ta!”

Truong Nhan Viet

CHUYỆN TÌNH CỦA “NGÔI SAO TỬ TẾ NHẤT THẾ GIỚI” - KEANU REEVES

Keanu Reeves (1964), 61 tuổi, là diễn viên nổi tiếng ở Hollywood được khán giả biết đến qua các tác phẩm hành động. Nổi bật là vai sát thủ John Wick ở loạt phim cùng tên và vai diễn Neo trong series phim Ma trận (The Matrix).

Đằng sau những tác phẩm điện ảnh đỉnh cao, công chúng và truyền thông vẫn nhắc đến Keanu Reeves là một ngôi sao tử tế bậc nhất Hollywood. Song cuộc đời anh lại chịu nhiều bất hạnh, trải qua đau thương mất mát tận cùng mới tìm đến được bến bờ của hạnh phúc.

Sau gần bốn thập nien tỏa sáng trên màn ảnh, tổng số tiền ngôi sao của loạt phim John Wick tích góp được đã vào khoảng 380 triệu USD. Tuy nhiên, Reeves không coi đây là thành tựu hay thước đo đẳng cấp.

Năm 2006, Keanu Reeves từng chia sẻ: "Tiền bạc chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Tôi kiếm được rất nhiều tiền, nhưng tôi đã cho đi không ít tiền bạc và sống đơn giản, chủ yếu là nay đây mai đó tại các khách sạn. Chúng ta đều biết sức khỏe tốt mới là điều quan trọng hơn cả".

Ở Hollywood, nơi hào quang thường đi cùng những bữa tiệc xa hoa, những chiếc siêu xe và các cuộc tình chớp nhoáng, Keanu luôn là một ngoại lệ. Anh không thích khoe khoang. Không thích nói về bản thân. Cũng chưa bao giờ cố chứng minh mình là ngôi sao.

Fan đã từng bắt gặp Keanu Reeves nhường ghế trên tàu điện cho phụ nữ hay thấy anh chạy lại giúp đỡ những người gặp tai nan trên đường.

Thậm chí có những ngày, người ta bắt gặp Keanu ngồi một mình trên băng ghế công viên, ăn chiếc bánh sandwich mua ở cửa hàng gần đó, không một chút dáng vẻ của người sở hữu khối tài sản hàng trăm triệu đô la.

Keanu Reeves cho biết khi ấy, anh chỉ đang vừa ngồi ăn vừa nghĩ ngợi một vài điều, nên hơi có vẻ trầm ngâm chủ yếu vì... đang đói.

Nhưng người ta đã gọi đó là bức hình "Sad Keanu" - Keanu buồn bã. Bởi đằng sau bức ảnh đó là một cuộc đời đã trải qua quá nhiều đau thương và mất mát.

Keanu Charles Reeves sinh năm 1964 tại Beirut, Liban. Cha anh mang trong mình nhiều dòng máu khác nhau. Mẹ là một nhà thiết kế trang phục người Anh.

Tuổi thơ của Keanu không hề giống những câu chuyện cổ tích. Cha mẹ ly hôn khi anh mới ba tuổi. Cha nghiện ma túy. Rồi rời bỏ vợ con từ khi Reeves mới 3 tuổi. Lần cuối cùng Reeves được gặp cha ruột là khi anh 13 tuổi.

Nhiều năm sau, Keanu gần như không còn liên lạc với cha. Anh lớn lên cùng mẹ và liên tục chuyển nhà giữa Liban, Australia, Mỹ rồi Canada. Có lẽ vì thế, Keanu chưa bao giờ cảm thấy mình thực sự thuộc về một nơi nào.

Anh từng nói: "Nhà... là nơi có những người mình yêu." Một câu nói rất ngắn. Nhưng sau này nhìn lại cuộc đời anh, người ta mới hiểu hết ý nghĩa của nó.

Keanu có một tuổi thơ khó khăn. Anh mắc chứng khó đọc. Việc đọc sách khó khăn hơn bạn bè rất nhiều. Anh thay đổi trường học liên tục. Có thời điểm, giáo viên từng nghĩ cậu bé ấy sẽ chẳng làm nên điều gì.

Nhưng Keanu lại tìm thấy niềm vui trên sân băng. Anh đam mê khúc côn cầu. Ước mơ thuở nhỏ không phải trở thành diễn viên mà là thủ môn chuyên nghiệp. Thế rồi một chấn thương khiến giấc mơ ấy khép lại.

Rồi cuộc đời anh rẽ hướng sang điện ảnh với những vai diễn để đời như Neo của The Matrix hay John Wick.

Những năm đầu ở Hollywood không dễ dàng. Keanu thường được giao các vai phụ. Anh không sở hữu vẻ đẹp kiểu cổ điển như các tài tử lúc bấy giờ. Cũng không phải người giỏi quảng bá bản thân.

Thế nhưng, càng đóng phim, người ta càng nhận ra ở Keanu có một sức hút rất lạ. Anh diễn bằng đôi mắt, bằng sự chân thành và cảm xúc rất thật.

Sau tác phẩm điện ảnh Speed và đặc biệt là The Matrix (Ma trận). Tên tuổi Keanu Reeves vụt sáng. Anh trở thành một trong những diễn viên nổi tiếng nhất thế giới.

Nhưng điều kỳ lạ là cuộc sống của anh gần như không thay đổi. Keanu vẫn đi tàu điện ngầm. Vẫn nhường ghế cho người già. Vẫn âm thầm quyên góp hàng chục triệu đô la cho các bệnh viện trẻ em mà không muốn công khai.

Nhiều đồng nghiệp kể rằng trong quá trình quay The Matrix, Keanu đã chia phần lớn tiền thưởng của mình cho đội ngũ kỹ xảo và hóa trang, vì anh tin chính họ mới là những người góp phần tạo nên thành công của bộ phim.

Ở Hollywood, nơi người ta thường tranh nhau ánh hào quang, Keanu lại chọn lùi về phía sau. Bởi với anh, danh tiếng chưa bao giờ là điều quan trọng nhất.

Năm 1998, Keanu Reeves gặp một cô gái trẻ tên là Jennifer Syme tại một bữa tiệc của ban nhạc Dogstar. Cô không tìm kiếm ánh đèn danh vọng - làm trợ lý cho đạo diễn David Lynch, Jennifer lặng lẽ sống giữa ranh giới của Hollywood với một vẻ dịu dàng, điềm đạm.

Keanu đã yêu Jennifer gần như ngay từ lần đầu gặp. Ở bên cô, anh bắt đầu nghĩ đến một điều mà trước đó anh chưa từng vội vàng. Đó là một gia đình.

Năm 1999, Jennifer mang thai. Hai người háo hức chuẩn bị đón con gái đầu lòng. Họ đã đặt tên cho em bé. Trang trí phòng trẻ. Mua những bộ quần áo bé xíu.

Keanu khi ấy gần như đếm từng ngày để được làm cha. Anh nói với bạn bè rằng mình chưa bao giờ hạnh phúc đến thế.

Cuối năm 1999, Keanu Reeves tưởng rằng mình đang đứng trước chương đẹp nhất của cuộc đời. Sau nhiều năm bận rộn với phim trường, ông sắp được trở thành cha. Jennifer cũng ngập tràn hạnh phúc.

Nhưng số phận đôi khi lại lạnh lùng đến khó tin. Chỉ khoảng một tháng trước ngày dự sinh, Jennifer nhận ra em bé không còn cử động.

Các bác sĩ sau đó xác nhận một điều khiến cả hai gần như sụp đổ. Bé Ava đã qua đời trong bụng mẹ.

Không ai biết Keanu đã vượt qua những ngày ấy như thế nào. Anh gần như không nhắc về chuyện này. Anh chỉ cố gắng trở thành chỗ dựa cho người phụ nữ mình yêu.

Nhưng có những mất mát quá lớn. Jennifer chìm trong đau buồn. Keanu cũng vậy. Hai người vẫn yêu nhau. Nhưng mỗi lần nhìn thấy căn phòng của con, ký ức lại ùa về.

Cuối cùng, cả hai quyết định chia tay. Không phải vì hết yêu. Mà vì họ đều hiểu rằng, đôi khi tình yêu cũng không đủ sức chữa lành những vết thương quá sâu.

Keanu từng nghĩ, có lẽ cuộc đời đã lấy đi của mình điều quý giá nhất. Nhưng không ngờ, đó mới chỉ là khởi đầu của chuỗi những nỗi đau kéo dài.

Tháng 4/2001, Jennifer lái xe về nhà sau một buổi tiệc. Trên đường đi, chiếc xe gặp tai nạn. Jennifer qua đời khi mới 28 tuổi. Tin dữ đến với Keanu như một nhát cắt nữa vào trái tim vốn chưa kịp lành.

Trong một khoảng thời gian rất dài sau đó, Keanu gần như khép kín. Anh vẫn đóng phim. Vẫn làm việc. Nhưng không còn nói nhiều về cuộc sống riêng.

Số phận luôn luôn thử thách anh tho cách đau thương nhất.
Trước đó, năm 1993, người bạn thân nhất của Keanu, River Phoenix, người mà ông từng xem như anh em, đã qua đời vì sốc thuốc.

Năm 1991, em gái Keanu, Kim Reeves, được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu. Keanu gần như gác lại nhiều kế hoạch để ở bên em. Anh đưa Kim đi điều trị, chăm sóc cô, động viên cô từng ngày.

Nhiều năm sau, khi sức khỏe của Kim dần ổn định, Keanu đã âm thầm quyên góp hàng triệu đô la cho các quỹ nghiên cứu bệnh bạch cầu và các bệnh viện dành cho trẻ em.

Anh không muốn gắn tên mình lên những khoản quyên góp ấy. Anh chỉ nói rằng, nếu có thể giúp một gia đình khác không phải trải qua những gì mình từng chứng kiến, thì đó đã là điều đáng làm.

Có một lần, trong một cuộc phỏng vấn, Keanu được hỏi: "Nỗi đau có bao giờ biến mất không?"

Anh im lặng vài giây rồi trả lời rất nhẹ: "Đau buồn sẽ thay đổi hình dạng, nhưng nó không bao giờ kết thúc."

Suốt gần hai mươi năm sau đó, Keanu không còn công khai bất kỳ mối quan hệ tình cảm nào.

Báo chí nhiều lần đồn đoán. Người hâm mộ cũng hy vọng. Nhưng anh luôn giữ cuộc sống riêng tư cho riêng mình.

Cho đến năm 2009, giữa một triển lãm nghệ thuật yên tĩnh ở Los Angeles, Keanu Reeves gặp một người phụ nữ với mái tóc bạc, nụ cười điềm tĩnh và ánh mắt đầy bao dung.

Tên cô là Alexandra Grant - một nữ họa sĩ, nghệ sĩ thành đạt, kém Keanu Reeves 9 tuổi. Cô được giới mộ điệu nể trọng, nổi tiếng ở phạm vi quốc tế và thường có tên trong danh sách khách VIP tại các sự kiện nghệ thuật. Những tác phẩm theo trường phái ấn tượng/siêu thực của cô được trưng bày tại nhiều phòng tranh. Nữ nghệ sĩ gây ấn tượng với vóc dáng mảnh mai, chiều cao vượt trội - 1,84m cùng gương mặt mang nét dịu dàng nổi bật với mái tóc màu bạc.

Cả hai đã có cơ hội trò chuyện một cách vui vẻ, thoải mái. Việc cùng thích một vài nghệ sĩ, tác phẩm văn học và phim ảnh đã đưa hai tâm hồn xa lạ trở nên gần gũi hơn.

Điều đầu tiên khiến Keanu chú ý không phải vẻ ngoài của Alexandra. Mà là cách cô lắng nghe. Trong một thế giới mà ai cũng muốn nói về mình, Alexandra lại thích lắng nghe người khác. Cô không cắt ngang câu chuyện. Không cố gây ấn tượng. Ánh mắt cô luôn chăm chú, như thể điều người đối diện nói là điều quan trọng nhất vào lúc ấy.

Keanu cảm thấy rất dễ chịu. Sau nhiều năm sống giữa ánh đèn sân khấu và những cuộc phỏng vấn lặp đi lặp lại, anh hiếm khi gặp một người khiến mình có thể nói chuyện hàng giờ mà không thấy mệt.

Ở bên Alexandra, Keanu không cần trở thành ngôi sao điện ảnh. Anh chỉ là một người đàn ông thích đọc sách, thích đi dạo, thích ngồi uống cà phê và trò chuyện.

Sau một thập niên, mối quan hệ của họ dần tiến triển từ cộng sự, bạn bè thân thiết thành người yêu. Truyền thông Hollywood tiết lộ quá trình này diễn ra một cách âm thầm và kín đáo đến nỗi khiến cả những cây bút nhạy bén nhất về đời tư nghệ sĩ hay tay săn ảnh kỳ cựu cảm thấy bối rối. Hai ngui nhiều lần xuất hiện cùng nhau tại các sự kiện nghệ thuật, dùng bữa thân mật song khó mà phân định được đó là buổi hẹn hò lãng mạn hay chỉ là cuộc gặp gỡ với tư cách bạn bè.

Alexandra Grant được nhắc đến như là người phụ nữ "cứu vớt" cuộc đời nhiều bi kịch của Keanu Reeves.

Có lần, khi được hỏi điều gì hấp dẫn nhất ở Keanu, Alexandra chỉ mỉm cười: "Anh ấy là một trong những người tử tế nhất mà tôi từng gặp."

Còn Keanu thì nói về Alexandra bằng một sự ngưỡng mộ rất chân thành. Anh yêu trí tuệ của cô. Yêu cách cô nhìn cuộc sống. Yêu sự bình yên mà cô mang lại. Càng ở gần cô, anh lại càng thấy dễ chịu.

Bạn bè thân thiết tiết lộ Keanu Reeves và Alexandra Grant duy trì mối quan hệ bền chặt nhờ tình yêu với nghệ thuật, văn hóa.

"Alexandra thích nấu những bữa ăn cho Keanu ở nhà và cả hai đều thích phim và sách. Họ có một câu lạc bộ đọc sách chỉ hai thành viên, nơi cặp đôi cùng 'gặm nhấm' những cuốn sách yêu thích của nhau",

Năm 2019, sau gần một thập nien đồng hành, công khai chuyện tình cảm. Keanu và Alexandra cùng xuất hiện trên thảm đỏ tại một sự kiện ở Los Angeles.

Đó là lần đầu tiên Keanu công khai nắm tay một người phụ nữ kể từ sau bi kịch với Jennifer. Chỉ một bức ảnh. Nhưng cả thế giới xôn xao.

Không phải vì Alexandra là minh tinh. Cũng không phải vì cô trẻ đẹp theo chuẩn Hollywood. Thậm chí, nhiều tờ báo lúc ấy còn bàn tán về mái tóc bạc tự nhiên của cô. Alexandra không nhuộm tóc. Không cố níu kéo tuổi trẻ. Cô bình thản bước đi với vẻ đẹp tự nhiên của chính mình.

Điều khiến công chúng xúc động lại chính là ánh mắt Keanu nhìn cô. Anh nắm tay Alexandra rất nhẹ. Sau gần hai mươi năm, người ta lại thấy Keanu mỉm cười một cách bình yên như thế. Không gượng gạo. Không giấu nỗi buồn. Mà là nụ cười của người cuối cùng cũng cho phép trái tim mình mở cửa một lần nữa.

Người ta nói: "Con người sẽ trở thành những gì cuộc đời đối xử với họ." Nếu điều ấy đúng, có lẽ Keanu Reeves đã có đủ lý do để trở nên lạnh lùng.

Nhưng điều kỳ lạ là. Keanu không để những mất mát ấy biến mình thành một người cay đắng. Anh vẫn chọn sống tử tế giữa cuộc đời đầy những vết xước.

Anh cảm ơn nhân viên phục vụ. Trò chuyện với người hâm mộ như những người bạn. Âm thầm giúp đỡ đồng nghiệp phía sau hậu trường. Không phải vì muốn được ca ngợi.

Có một lần, khi đang ngồi trên tàu điện ngầm ở New York, Keanu chủ động đứng dậy nhường chỗ cho một phụ nữ đang mang theo túi lớn. Một hành khách nhận ra ông, lặng lẽ quay lại khoảnh khắc ấy. Đoạn video nhanh chóng lan truyền khắp thế giới.

Người ta gọi đó là hành động đẹp của một ngôi sao. Có lẽ với Keanu, đó chỉ là điều nên làm.

Trong một cuộc phỏng vấn, Keanu được hỏi: "Khoảnh khắc hạnh phúc nhất của anh là gì?"

Anh suy nghĩ một lúc rồi trả lời bằng một câu rất ngắn: "Đó là một vài ngày trước khi tôi ở cùng tình yêu của mình. Chúng tôi ở trên giường, được kết nối với nhau, hết cười phá lên rồi lại khúc khích. Cảm giác thật tuyệt. Thật tuyệt khi được ở bên nhau"

Không có biệt thự. Không có siêu xe. Không có tượng vàng Oscar. Không có doanh thu hàng tỷ đô la. Chỉ có hai người nằm cạnh nhau. Và cảm thấy hạnh phúc. Có lẽ, sau tất cả những gì đã mất, Keanu hiểu rằng hạnh phúc thật ra chưa bao giờ quá phức tạp.

Câu nói của Keanu vẫn đúng: "Nỗi đau sẽ thay đổi hình dạng, nhưng nó không bao giờ kết thúc." Nhưng nỗi đau có thể ở lại. Và hạnh phúc cũng có thể đến.

Không phải để xóa đi những mất mát. Mà để nhắc chúng ta rằng, sau tất cả, cuộc đời vẫn luôn dành cho mỗi người một cơ hội để mỉm cười thêm một lần nữa.

Rồi sẽ có ngày, có người đến bên bạn, nắm lấy tay bạn và nhẹ nhàng nói: "Em không đến để thay thế quá khứ của anh. Em chỉ đến để cùng anh viết tiếp những trang còn lại."

Giữa một thế giới đầy hào nhoáng và số mệnh nhiều đau thương, Keanu Reeves vẫn giữ được sự tử tế rất hiếm gặp. Cuộc đời anh đã để lại một thông điệp sâu sắc cho rất nhiều người trên thế giới. Rằng sau những mất mát lớn nhất, con người vẫn có thể chọn yêu, chọn sống tử tế và chọn hy vọng.

Trang Nguyen



Friday, July 17, 2026

“Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt”

Đạo diễn Trần Văn Thủy đã được nhiều người mến mộ qua những bộ phim như “Hà Nội Trong Mắt Ai và “Chuyện Tử Tế”. Ông vừa làm cuộc hành trình khắp Tây Âu và hoàn thành bộ phim mới mang tên “Thầy bói xem voi” gồm hai tập: “Chuyện đồng bào” và “chuyện vặt xứ người”. Đây là bộ phim tài liệu video về tình cảnh người Việt Nam ở nước ngoài. Bộ phim không có hy vọng được chiếu ở Việt Nam, như đạo diễn cho biết. (Tạp chí Đoàn Kết}.

Sau đây là một đoạn trích cuộc phỏng vấn giữa tạp chí Đức Việt và đạo diễn. Bài đăng trên tạp chí Đoàn Kết (của Việt kiều tại Pháp) số 10-90.

PV: Anh đi khắp nơi như vậy, chứng kiến cuộc sống của người Đức, Pháp, Bỉ hoặc Anh, Ý…, điều gì làm anh xao động nhất?

TVT: Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về dân tộc Việt. Tôi nói điều này thì cũng không đúng lắm, có thể là thất lễ và mất lòng nhiều người, nhưng nó là sự thật.

Tôi xin nói, thật lòng như thế này: Khi còn ở trong nước, tôi cứ nghĩ các khuyết tật mà xã hội Việt Nam có, thí dụ quan liêu, cửa quyền, bắt người khác giống mình, áp đặt ý kiến, là do cơ chế của một thứ “chủ nghĩa Xã Hội”.

Sau này ra ngoài, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, nhất là những báo chí của phe chống cộng đủ thứ, tôi thấy không ít chuyện kinh hoàng. Ai mà không giống mình thì dằn mặt, đòi đánh hoặc bắn.

Thế tôi mới ngỡ rằng cái bệnh hiếp đáp nhau, dẫm đạp lên nhau, bắt người khác phải phục tùng mình, phải chăng là chứng bệnh của dân tộc Việt Nam.

Nếu như đó là bệnh của một chế độ chính trị thì có thể sửa được. Khi nó không còn hiện diện hoặc thay đổi thì những điều xấu ấy mất đi. Nhưng nếu đó là những khuyết tật của dân tộc thì thật là điều đau đớn vô cùng.

Nếu chỉ tính từ thế kỷ XV với sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Trãi, đến nay có thể nói qua gần năm thế kỷ, có nhiều chuyện gần như ta phải làm lại từ đầu.

Đè nặng lên tôi nhất vẫn là cái cảm giác dân tộc mình khó mà khá lên được, khó lòng đuổi kịp các nước, dù là những nước trung bình trên thế giới. Đó là sự thật, ai càng yêu nước càng buồn nhiều.

PV: Chúng ta có thể đi xa hơn một chút được không? Hiện tình là vậy thì lỗi lầm bắt đầu từ đâu?

TVT: Câu hỏi của anh làm tôi nhớ lại một lần đối thoại ngắn ngủi với một nhà báo cộng sản Pháp. Trong một buổi chiêu đãi báo chí tại Hà Nội cuối năm 1987, nhà báo nọ nâng ly chúc mừng hai bộ phim của tôi (“Hà Nội Trong Mắt Ai” và “Chuyện Tử Tế”) được công chiếu.

Rồi ông nhún vai bảo rằng: “Nhưng công bằng mà nói, các ông đổ lỗi cho chính phủ, cho nhà nước của các ông nhiều quá”.

Tôi hỏi: “Ông là người ngoại quốc, có thể ông có cái nhìn tinh tế hơn”?

Ông ta lại nhún vai: “Cũng chẳng có gì đáng gọi là tinh tế cả. Phương ngôn Pháp của chúng tôi có câu: “Nhân dân nào, chính phủ nấy”. Các ông rất xứng đáng với chính phủ của các ông!”

PV: Thế nhưng tại sao anh lại nhắc đến Nguyễn Trường Tộ trong hai tập phim? Anh chờ đợi gì ở hình ảnh đó?

TVT: Như mọi người đều biết, dưới triều Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã điều trần như thế nào mà cuối cùng cũng bị bỏ qua. Đừng quên rằng lúc ấy sự chênh lệch giữa hai nước Việt Nam và Pháp về nhiều phương diện không lớn như bây giờ.

Khoảng cách giữa văn minh và lạc hậu cũng không quá xa như bây giờ. Lúc ấy chúng ta không bị tụt lùi lại như hiện nay đang đứng hàng cuối cùng trong tính số của Liên Hợp Quốc.

Tôi lấy “sự kiện Nguyễn Trường Tộ” làm mốc thời gian vì tôi muốn so sánh thật sự trình độ của Việt nam, tương quan của Việt Nam với thế giới lúc Nguyễn Trường Tộ làm điều trần với hôm nay, nếu quan niệm rằng một công trình khoa học, một bài báo, một vở kịch, một cuốn phim,… đều là những bản điều trần kiểu mới. Qua đó mới thấy mình tụt quá xa!

Vừa rồi đi dạo ngang qua nhà thờ chính ở Frankfurt này, nghe nói nó đã được xây từ 500 năm rồi. Ở xứ mình chẳng có gì anh ạ. Cứ triều đại này lên thì đạp nát hết cái cũ, cuối cùng đất nước bị tàn phá tan tành hết, không còn gì.

PV: Lúc thực hiện phim, anh đã gặp bao nhân tài Việt Nam. Giả sử nhân tài Việt Nam được trọng dụng, đất nước sẽ khá lên chứ?

TVT: Tất nhiên là khá chứ! Tuy nhiên từng người Việt Nam một thì rất khá không kém ai, nhưng nếu người Việt gộp lại thì có khi chẳng làm được gì cả.

Còn làm sao để đất nước khá lên, phải có một thể chế xã hội, kinh tế, chính trị hỗ trợ cho việc phát huy tài trí.

Nếu bây giờ chúng ta có một chính phủ tiến bộ thật sự, tôi nghĩ rằng điều đầu tiên cần làm ngay là phải gấp rút xây dựng một bộ luật, đưa vào luật của những nước tiến bộ, dựa trên nghiên cứu truyền thống, phong tục đạo đức của dân tộc.

Tập trung mọi sức lực làm chuyện đó xong rồi tập trung ngay vào việc giáo dục luật pháp cho dân chúng, từ già đến trẻ nhỏ. Làm cật lực trong 5 năm, y như việc xóa nạn mù chữ trong thời kháng chiến chống Pháp.

Tôi nghĩ đó là còn đường ngắn nhất để xã hội Việt Nam trở thành một xã hội tiến bộ, tích cực, phát huy được mọi tài năng.

Nếu làm được điều ấy thì hóa chăng sau này không còn phe phái nào, lực lượng nào có thể dắt mũi dân tộc này đi vào con đường sai lầm.

Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là ảo tưởng, một điều ước xa vời. Những người có quyền, chuyện đầu tiên họ nghĩ là củng cố quyền lực của họ, quy luật của trò chơi mà anh.

Nếu một bộ máy nhà nước chỉ nghĩ đến mục đích duy nhất là làm sao cho người dân sống sướng, sống khá lên, con người thương yêu nhau hơn, hiền hòa, hướng (thiện hay thương?) thì chắc tình hình bây giờ đã khác.

Tôi nói điều này với nỗi đau của riêng tôi. Trong những năm chiến tranh 66-67-68, trên đường vào chiến trường miền Nam, đi qua vùng tuyến lửa Vĩnh Linh, tôi thấy sự hy sinh to lớn khủng khiếp của con người.

Anh biết không, ban đêm bất chấp mưa bom, pháo sáng sáng rực, xe bị lầy, dân ở đây đã gỡ cửa nhà, bàn ghế đem ra lót cho xe vượt lầy. Ngồi trên xe mà thấy nhói trong tim.

Lẽ ra sau khi chiến tranh kết thúc, dân vùng này chắc chắn phải được miễn thuế trong nhiều năm hoặc một chính sách đãi ngộ hợp ly' nào đó, hay là một sự chia sẽ tối thiểu.

Thế nhưng tôi vô cùng thất vọng khi những năm sau trở lại vùng này, dân ở đây lại sống lầm than hơn xưa và vẫn tiếp tục là nạn nhân của chế độ quan liêu cửa quyền, vẫn nghèo xác xơ.

PV: Trong tất cả những khái niệm, từ ngữ thường được dùng đến bây giờ, như “tự do”, “độc lập”, “hạnh phuc”, “dân chủ”, “tình thương”, “cách mạng”, “vĩ đại”, “vinh quang”, “nỗi đau”, “căm thù”, “hòa giải”, “đoàn kết”…, từ ngữ nào đối với anh có ý nghĩa nhất?

TVT: Tôi có thể nói ngay với anh rằng một cái từ mà chúng ta phải phụng sự – mà đó là một từ cũ rích – từ “con người”.

Chúng ta hãy trở về với những từ thật đơn giản, nguyên thủy hơn, như từ “con người”. Trong muôn loài thì có loài người. Trong rất nhiều loại con thì có “con người”. Trong vũ trụ thì con người chỉ là một thực thể nào đó.

Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc anh còn viết được nhiều hơn về những điều này. Từ những tác phẩm cách đây 10-15 năm, Vũ đã từng viết: “Đừng có đánh mất mình tức là đừng có đánh mất con người”.

Nhìn kỹ lại cách mạng của Pháp 1789, đến nay đã 200 năm, lịch sử cũng không làm điều gì khác hơn là vật lộn với con người. Hãy tránh dùng mỹ từ anh ạ.

PV: Thế còn anh nghĩ gì về 'đổi mới'?

TVT: Câu hỏi này làm tôi nhớ lại câu hỏi của nhà báo Úc đã hỏi tôi cách đây hơn 2 năm sau liên hoan phim ở Đã Nẵng.

Anh biết không, lúc đó tôi trả lời là không riêng gì tôi mà phần lớn bạn bè của tôi đều nghĩ rằng: “Đổi mới tức là trở lại một số những cái cũ đã bị vùi dập hoặc bỏ quên”.

Đơn giản thôi, ông thấy cái gì đổi mới tại Việt Nam?

Tư nhân thì được kinh doanh, bác si thì được mở phòng mạch, thầy giáo đôi nơi thì được mở trường tư, in lại sách cũ, trình bày lại một số nhạc phẩm thời xưa, mở rộng một số chính sách về đối ngoại, cho một số được đi du học hoặc du lịch tự túc… thì tôi thưa với ông rằng trước 75 tại miền Nam hay ở Hà Nội trước 54, tất cả những cái đó đều không phải là chuyện gì cả!

Như thế thì rõ ràng, đổi mới là trở lại những cái cũ đã bị bỏ quên chứ còn gì nữa. Nghe xong câu trả lời cà chớn đó của tôi, ông ta mỉm cười.

PV: Tôi nhận thấy trong tất cả những phim của anh mà tôi được xem từ trước đến giờ, anh rất thích dùng một chữ mà bản thân tôi cũng rất thích, đó là chữ “Tâm”. Trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, thì có ngòi bút tả Thiên Thanh, viết lên trời xanh một chữ Tâm, trong “Thầy Bói Xem Voi” thì có “nếu tâm còn sáng”… Anh có thể khai triển thêm được không?

TVT: Chuyện này coi vậy mà nó lai rai lắm anh ạ! Sau nhiều năm chiến tranh, xã hội Việt Nam chúng ta có nhiều đổ vỡ về vật chất lẫn tinh thần.

Đổ vỡ vật chất – nói cho cùng – nếu chúng ta có chính sách đúng đắn tận dụng nhân tài, tranh thủ được đầu tư của trong nước lẫn ngoài nước thì cũng có thể dần dần khôi phục được.

Nói đến chữ “Tâm” tức là nói đến đạo đức xã hội, nói đến lòng người. Nhưng sụp đổ tinh thần sau bao năm chiến tranh, sau bao nhiêu sai lầm, tôi e rằng không bao giờ có thể xây dựng lại được.

Đối với người Việt Nam, cái mất mát lớn nhất bây giờ là lòng tin. Giả sử bây giờ nếu có ngoại xâm lần nữa, tôi ngờ ít mấy ai sẵn sàng hy sinh tất cả, sẵn sàng đem hết tất cả những gì mình có ra làm chướng ngại vật chống chiến xa như hồi kháng chiến chống Pháp năm 1946.

Người ta đã qua nhiều lần hy vọng rồi lại thất vọng, nên nếu ngay như bây giờ có một minh quân xuất hiện thì cũng chả có mấy ai tin.

Cái khó nhất hiện nay trong xã hội Việt Nam là làm sao khắc phục được lòng người. Đó là chữ “Tâm”.

PV: Có một ý nữa chung quanh chữ “Tâm”, anh còn nhớ người nhạc sĩ mù trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”? Mắt có thể mù nhưng lòng còn trong sạch, tức là tâm còn sáng, thì vẫn còn có thể thấy được những điều mà người khác chưa chắc đã thấy.

TVT: Kỳ rồi, trong một cuộc phỏng vấn ở Anh, người ta đã hỏi tôi “điều gì làm tình hình Việt Nam khó đến như vậy”?!

Vì tôi không phải là người nghiên cứu kinh tế, chính trị, nên tôi chỉ có thể trả lời họ bằng những cảm nhận của một người làm điện ảnh có cơ hội cọ xát với nhiều giới.

Thật ra mình có thể kể cho họ về đủ thứ nguyên nhân – kinh tế, chính trị, lịch sử, dân trị… – nhưng với tôi, nguyên nhân lớn nhất hiện nay làm cho xã hội Việt Nam trì trệ là bệnh “SỢ” vẫn đang bao trùm.

Người ta đánh mất chính mình, người ta sống không thật. Nếu những người lãnh đạo mà có những cố vấn trung thực thì đất nước mới khá lên được.

Anh còn nhớ trong “Hà Nội Trong Mắt Ai”, trong đoạn về Quang Trung, tôi có nói rằng: “Quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái.”

Thật ra tôi chưa dám bàn tới chữ “Tâm” vì chữ “Tâm” còn cao hơn thế! Một đạo đức trung bình của xã hội như lòng trung thực mà còn chưa có thì miễn bàn về chữ Tâm”.




Blog Archive