Showing posts with label ĐIỆP MỸ LINH. Show all posts
Showing posts with label ĐIỆP MỸ LINH. Show all posts

Thursday, February 8, 2024

Bà Điên Tìm Chồng

Nhạc “Ngụy” bị cấm, nhạc “cách mạng” thì cứ bao nhiêu bài đó, đàn hát hoài đến nhàm! Nhưng điều khó xử là Trực nhất quyết không đàn hoặc hát nhạc “cách mạng”! 

Kỳ này, nhân có phái đoàn cao cấp đến “tham quan”, cần có vài tiết mục khác lạ để buổi văn nghệ thêm khởi sắc, ông Chánh – Bố của Trực, ở tù cùng trại cải tạo với Trực – xin ban quản giáo cho phép hát nhạc ngoại quốc. Cán bộ hỏi “nhạc ngoại quốc” là nhạc gì? Ông Chánh đáp nhạc của Pháp, Anh, Mỹ. Cán bộ bảo đó là “nhạc nước ngoài”. Ông Chánh không dám cười, chỉ “dạ”. Cán bộ bảo nếu muốn như thế thì bảo ai hát bài gì, người đó phải viết lời ca ra làm ba bản để ban quản giáo bảo ba người khác nhau dịch sang tiếng Việt. Nếu cả ba lời dịch đều giống nhau, nghĩa là không có ý đồ chống phá “cách mạng” thì cán bộ sẽ chấp thuận.

Sau khi Trực viết lời ca lên ba tờ giấy khác nhau, thấy tựa đề, ông Chánh thở dài, vì hiểu Summer là mùa Hè, có nơi gọi là Hạ. Vợ của Trực tên Ngọc Hạ! Trao ba tờ giấy cho cán bộ, ông Chánh và Trực đều nghĩ rằng ban quản giáo sẽ bảo “người của cách mạng” dịch; không ngờ, ba sĩ quan “Ngụy” được gọi lên, ngồi ba nơi riêng rẽ để dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt tình khúc Summer's gone của Paul Anka.

Đêm trình diễn, trong hội trường được lợp bằng tranh, vách bằng cây tre, tiếng hát nồng nàn của Trực vang lên:

Summer's gone and no songbirds are singing.
Because you're gone, gone from my arms,
gone from my lips but you're still in my heart …”

Mọi người bị tiếng ca nức nở của Trực thu hút hoàn toàn. Trong khi những sĩ quan “Ngụy” cao cấp lặng người, tưởng như được sống lại thời gian cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, khi nhạc Mỹ và nhạc Pháp được phổ biến tràn ngập cả miền Nam thì những sĩ quan “Ngụy” trẻ lại cảm thấy não lòng; vì nhiều vị đã thầm thì “ngân nga” những lời ca ướt lệ này khi hay tin vợ tử nạn trên đường thăm nuôi hay vợ vượt biển hoặc vợ lấy cán bộ!

Riêng Trực, theo tiếng guitar trầm trầm, đều đều trong giai điệu slow và giọng ca nghẹn ngào của chính chàng:

“... What to do?
Oh, I'm left here just crying over you.
Oh, I'm so blue!
What can I do, now that you’re gone?...”

Trực tưởng như chàng có thể thấy lại được dòng người tuôn về Bộ Chỉ Huy Hải Quân Vùng I Duyên Hải để tìm phương tiện di tản! Tiếng gào khóc của đoàn người khổ nạn không thể nào át được tiếng hỏa tiễn 122 ly của cộng sản Việt Nam (csVN) bắn liên tục, bắn dai dẳng, bắn điên cuồng vào đoàn người đang tìm đường lánh nạn! Trực “loay hoay” tìm Ngọc Hạ; nhưng tìm không ra và chàng cứ bị sức đẩy của dòng người dồn về phía trước. Mỗi khi hỏa tiễn của csVN rơi vào khoảng nào của dòng người thì nhóm người nơi vùng đó gục xuống, tạo thành một khoảng trống với xác người bầy nhầy và máu! Nhưng chỉ vài giây sau, đoàn người lại dẫm cả lên xác người thân để chạy, hy vọng sẽ thoát được “lò sát sinh” do csVN tạo nên! Là một sĩ quan chỉ phục vụ các đơn vị tác chiến Hải Quân, Trực không còn lạ gì với máu và xác người. Nhưng khi máu và xác người đó là của người dân không khí giới để tự vệ thì sự phẫn uất ngập cả hồn chàng! Nhưng, Trực đành bất lực, để dòng người xô đẩy…

Nghĩ đến đây, bao nhiêu thương nhớ trào dâng ngập lòng, giọng Trực nghẹn ngào:

“…The days, they prolong now that you're gone.
My nights, they leave me blue (you're so blue).
I don't know why there are tears in my eyes.
Can it be that I'm still in love with you?...”

Khi Trực cúi chào, cả hội trường vẫn im lặng; phải vài tích tắc sau tiếng vỗ tay mới vang lên giòn giã và kéo dài cùng với nhiều tiếng “bis… bis…” từ tù nhân.

Nơi hàng ghế đầu tiên, nhiều nhân vật quan trọng của “bên thắng cuộc” chợt xôn xao:

- Chúng nó “hô” cái gì thế?

Đại Tá Bùi cười, vẻ mặt rất tự hào:
- Chúng nó yêu cầu hát lại hoặc hát thêm đấy.

- Ui giời! Sao đồng chí biết?

Ông Bùi chưa kịp trả lời thì Trực nói vào micro:
- Xin cảm ơn quý vị và các bạn. Tiếp theo đây, tôi xin trình bày ca khúc Diana cũng của Paul Anka.

Trong tiếng vỗ tay vang dội, tiếng guitar của Trực dạo Cha Cha Cha rộn rã. Nhìn Trực gật gật đầu, hai vai lắc lắc và đôi chân nhún nhảy liên hồi, tất cả cán bộ và vệ binh hiện diện đều tự thẹn về những lúc nắm tay nhau nhảy “xôn đố mì” chân đưa qua đưa lại như trẻ con nhảy “lò cò”. Cả hội “trường tre” dường như sôi động hẳn lên. Những người tù dường như quên những tháng ngày nhục nhằn, đói khổ để nhớ về khoảng thời gian tươi trẻ trong một xã hội với nền giáo dục cao và đầy nhân bản. Phải đến phân đoạn thứ hai tiếng vỗ tay mới lắng xuống và mọi người mới nghe:

“…’Cause forever I will pray
You and I will be as free as the birds up in the trees.
Oh, please stay by me, Diana…”

Sáng sớm hôm sau, Trực bị mời lên “làm việc” với ban quản giáo. Trực thầm nghĩ, có lẽ vì bài Diana chưa được dịch sang tiếng Việt để trình ban quản giáo và mấy chữ “You and I will be as free as the birds up in the trees” làm cho ban quản giáo nghĩ rằng Trực có ý tưởng phản động, muốn trốn trại. Nhưng nghĩ lại, nếu ban quản giáo hiểu tiếng Anh thì họ đã không gọi ba sĩ quan “Ngụy” dịch bài Summer’s gone! Ý nghĩ này giúp Trực yên tâm.

Bước vào phòng, Trực nhận ra ngay người ngồi sau chiếc bàn gỗ là Đại Tá Bùi – người Trực đã gặp tại nhà ông bà Chánh, sau khi Trực từ Đà Nẵng trở về bằng đường bộ. Trực gật đầu chào. Ông Bùi chào lại, chỉ chiếc ghế:

- Anh ngồi đi, chúng ta nói chuyện.

Trực bình thản ngồi vào ghế, nhìn ông Bùi, như sẵn sàng cho những hình phạt hoặc những lời lẽ nặng nề. Ông Bùi thong thả:

- Anh nhận ra tôi chứ?

Làm sao Trực có thể quên được buổi chiều, sau nhiều ngày theo đoàn người di tản bằng đường bộ, trên lưng cõng vu Bê – đứa con đầu lòng – Trực về đến nhà, thấy một Đại Tá csVN đang ngồi “thù lù” cạnh ông Chánh nơi mái hiên trước ngôi biệt thự của gia đình! Trong khi ông Chánh vui mừng, rối rít gọi bà Chánh thì Trực “lừ lừ” bước lên mấy bậc cấp, nhìn ông Bùi bằng ánh mắt đầy phẫn hận! Vờ như không thấy ánh nhìn của Trực, ông Chánh giới thiệu Trực với Đại Tá Bùi. Ông Bùi và Trực chỉ gật đầu chào chứ không bắt tay. Ông Chánh cố ý vừa đẩy nhẹ Trực vào nhà vừa nháy mắt với bà Chánh.

Bà Chánh theo Trực về phòng của bốn anh em trai của Trực. Bà vội gỡ tấm khăn trải giường dùng để quấn ngang lưng của Trực cho cu Bê khỏi tuột, rồi đóng cửa phòng, bế cu Bê về phòng của ông bà, dỗ cho cu Bê ngủ tiếp.

Còn lại một mình, Trực cố nhớ lại những lần ông Chánh kể chuyện với bạn hữu về thời gian Ông theo kháng chiến chống Tây, vợ con đói khổ vì Việt Minh áp dụng chính sách “bần cùng hóa nhân dân”, “tiêu thổ kháng chiến” và Việt Minh cũng quyết tâm cho những thành phần trí thức “ra rìa”.

Trong khi ông Chánh bị cấm dạy Pháp văn cho học sinh thì, mỗi tối, nhiều cán bộ vẫn kín đáo đến nhà ông Chánh học văn hóa, Pháp văn và nhạc; trong số cán bộ này có một người trẻ rất ham học, tên Bùi. Bùi rất quý ông Chánh và Bùi cũng thầm mê bà Chánh; vì, vào thời điểm đó, những thiếu phụ có văn hóa và xuất thân từ tỉnh thành – như bà Chánh – rất khó tìm tại Liên Khu V.

Bất ngờ Bùi hay tin ông Chánh trốn khỏi “vùng kháng chiến”, đưa gia đình về lại “vùng bị chiếm”. Bùi không ngạc nhiên, vì sau khi nhận rõ bản chất bóc lột, tàn ác, dối trá và dã man của Việt Minh, nhiều cán bộ – trong đó có Bùi – đã đổi danh từ “kháng chiến” thành “khiến chán” và tìm cách trốn về Thành. Bùi nghĩ, những người như ông Chánh, khi về Thành họ dễ hội nhập vào xã hội văn minh; còn Bùi, lớn lên từ nơi “cày lên sỏi đá” và chỉ với số vốn văn hóa và Pháp văn khiêm nhường nhờ ông Chánh dạy thì Bùi chỉ có thể làm “cu ly”! Thôi, chi bằng Bùi cứ theo Việt Minh, biết đâu “sống lâu lên lão làng”.

Năm 1954, Bùi tập kết ra Bắc. Thỉnh thoảng nghe Bùi “xi lô xi la” vài câu tiếng Pháp, nhiều cán bộ cao cấp nghĩ rằng Bùi thật sự có trình độ và họ đề nghị cấp Trên cho Bùi sang Nga du học. Từ đó, con đường công danh của Bùi thênh thang.

Sau 30/04/1975, nhân chuyến ghé thăm Bách – con của Đại Tá Bùi – làm trưởng Ty Công An, ông Bùi mới tìm ra ông Chánh. Bằng vào những trải nghiệm đau lòng của chính mình suốt thời gian theo cộng Sản, ông Bùi đang trách ông Chánh tại sao không tìm cách đưa gia đình di tản, thì Trực thất thểu bước vào nhà…

Bây giờ, bất ngờ gặp lại tên caVN đã ngồi “chần dần” ngang hàng với Bố mình cách nay không lâu, Trực hờ hững đáp:

- Vâng.

- Anh có tài, giống ông Cụ anh. Tôi không muốn tài nghệ của anh bị mai một nơi xó núi này. Tôi đã đọc hồ sơ “ný nịch” của anh và biết anh dạy Anh ngữ rồi bị động viên, đúng không?

- Vâng.

- Tôi muốn tạo điều kiện để anh có cơ hội phát triển tài năng.

- Ba tôi, anh tôi, bạn tôi và tôi bị kêu gọi đi học tập cải tạo, bảo đem theo tiền ăn cho 10 ngày; nhưng đến bây giờ là bao nhiêu lần 10 ngày rồi, chúng tôi vẫn còn trong tù? Vì vậy, tiếng Việt của “cách mạng” chúng tôi không hiểu. Đại Tá vui lòng nói rõ hơn.

- Tôi muốn đề nghị cấp trên cho anh về thành phố – dưới sự giám sát chặt chẽ của công an khu vực – để anh dạy tiếng Anh và dạy nhạc cho người của chúng tôi. Tôi cũng muốn sẽ đề nghị cấp trên xét lại để hủy bỏ vấn đề cấm đoán nhạc miền Nam và nhạc nước ngoài.

Im lặng! Ông Bùi tiếp:

- Anh nghĩ như thế nào?

- Nếu đó là lệnh, tôi phải vâng lời; nếu không thì…

Trực mím môi, bỏ lửng câu nói. Tâm trạng của Trực bây giờ cũng tương tự như tâm trạng của chàng vào hôm chàng gặp Đại Tá Bùi lần đầu tại nhà ông Chánh. Hôm đó, sau khi bị ông Chánh đẩy xa ông Bùi, Trực ném về phía ông Bùi ánh mắt đầy phẫn hận rồi đi thẳng vào phòng của mấy anh trai, gục đầu vào lòng bàn tay trong niềm thống khổ và phẫn uất tột cùng! Một lúc lâu vẫn không tự chế được, Trực đứng lên, vung tay đấm mạnh vào mặt kính của tủ đựng quần áo! Tiếng động lớn, tiếp theo là tiếng mảnh kính rơi khiến ông bà Chánh hốt hoảng chạy vào, thấy tay của Trực rướm máu vì vết xước của kính. Tiếng động lớn rồi nhiều tiếng “loảng xoảng” cùng thái độ của ông bà Chánh khiến ông Bùi nghĩ đến ánh nhìn “tóe lửa” của Trực lúc nãy, ông Bùi cảm biết có điều bất ổn, vội âm thầm rời nhà ông Chánh.

Nhớ ánh mắt đầy thống hận của Trực và tiếng động tại nhà ông Chánh và bây giờ nghe câu trả lời miễn cưỡng của Trực, ông Bùi có vẻ hơi “bức xúc”

- Thì sao? Anh từ chối à?

- Vâng! Nếu có sự lựa chọn, tôi xin được ở lại trại tù này!

- Tại sao anh lại hành động như thế?

Trực nhớ – sau khi ông Bùi rời nhà ông bà Chánh – ông Chánh đã giải thích với Trực rằng ông Bùi rất thất vọng khi biết đại gia đình ông bà Chánh không di tản! Ông Bùi khuyên ông Chánh nên tìm mọi cách đưa gia đình “đi đi”; ở lại, những thành phần như ông Chánh và bốn người con trai của Ông Bà sẽ bị trả thù, khốn khổ đến ba đời, sống không nổi đâu!

Lý do ông Chánh không đưa gia đình di tản vì bốn người con trai của Ông Bà bị kẹt ngoài Trung, ông Chánh không nở ra đi; nhưng ông Chánh không dám nói thật với ông Bùi mà ông Chánh lại bảo Ông không muốn di tản vì Ông còn tin tưởng và chờ đợi những người bạn thời kháng chiến – như ông Bùi – trở về! Ông Bùi cười khẩy, lắc đầu, bảo ông Chánh gặp khó khăn gì thì “niên hệ” với Bách. Ông Bùi đã có những lời nhân nghĩa như vậy; nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Trực đáp:

- Tôi đã mất tất cả. Vợ tôi thất lạc khi quân của “cách mạng” nã hỏa tiễn 122 ly vào đoàn người di tản, không vũ khí tự vệ! “Cách mạng” đã tịch thu tất cả tài sản của Cha Mẹ tôi, của các anh tôi, bắt Cha, các anh tôi và tôi đi tù rồi đuổi Mẹ và các em gái của tôi đi kinh tế mới…

Ông Bùi cố giữ bình tĩnh, chận ngang:
- Những chuyện đó đã qua rồi. Hãy nhìn vào thực tế và bản thân anh xem anh cần gì?

- Tôi chỉ còn Cha và ba người anh đang ở tù. Tôi muốn ở lại đây để cùng chia sẻ những đắng cay, cơ cực và nhục nhằn với Cha và các anh tôi.

Ông Bùi ngạc nhiên:
- Thế ông Chánh cũng cải tạo ở đây à?

- Ba tôi là Trưởng Ty Công Chánh, là một công chức. Ba tôi không đích thân cầm súng bắn các ông thì Ba tôi có tội gì mà phải cải tạo? Nếu Ba tôi có cầm súng – như chúng tôi – để bắn các ông thì cũng vì các ông khởi đầu và cứ tiếp tục cuộc chiến xâm lăng miền đất mà chính phe các ông đã ký vào Hiệp Định Genève, đồng ý chia hai; rồi năm 1973, phe các ông lại ký hiệp định ngưng bắn, rồi cũng chính phe các ông vi phạm nặng nề. Thế thì tại sao gọi chúng tôi là kẻ có tội?

- Anh giữ mồm!

- Tôi là lính. Tôi không biết sợ. Người lính miền Nam chỉ chiến đấu cho Tổ Quốc, cho Quê Hương chứ người lính chúng tôi không bị nung náu căm hờn để “thề phanh thây uống máu quân thù”(1) chỉ với mục đích tôn vinh cá nhân ông Hồ hay đảng cộng sản!

Biết Trực nói đúng, nhưng bản chất cộng sản bừng lên, ông Bùi đập bàn, quát:
- Anh dám xúc phạm đến Bác và Đảng! Quỳ xuống, nhìn ảnh Bác mà xin lỗi!

Trực nhìn ông Bùi cũng với ánh nhìn “tóe lửa” như khi chàng thấy ông Bùi lần đầu tại nhà ông Chánh:
- Tôi chỉ quỳ một lần – trong lễ mãn khóa Sĩ Quan Hải Quân – để thề trung thành với Tổ Quốc thôi!

- Mày có quỳ hay không thì bảo?

- Tôi không quỳ!

Ông Bùi đập bàn, quát:
- Vệ binh!

Vệ binh bước vào. Ông Bùi vừa đứng lên vừa bảo:
- “Xử ný” nó!

******
Sau khi trôi giạt từ Đà Nẵng vào Phú Quốc, rồi từ Phú Quốc đến Guam, trở về bằng thương thuyền Việt Nam Thương Tín, vào tù – ngắn hạn – và mãn tù, Ngọc Hạ tần ngần, đứng trước ngôi nhà mà đám cưới của nàng và Trực được tổ chức rất trang trọng sau khi nàng tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm. Nghĩ rằng có thể Trực và cu Bê đã trở về đây, nhưng sao Ngọc Hạ lại cảm thấy xa lạ quá! Nhìn quanh hàng xóm, nàng không thấy một người quen! Giữa khi Ngọc Hạ bơ vơ, chưa biết phải làm gì thì một người đàn ông trẻ, từ trong nhà bước ra, hỏi:

- Chị cần gì?

- Ông làm ơn cho biết ông bà Chánh còn ở đây không?

- Chị “nà” gì của cụ Chánh?

- Dạ, là dâu ạ!

- Thế thì mời chị vào. Cụ Chánh và Bố tôi là bạn xưa đấy. Tôi tên Bách.

Câu nói của Bách làm Ngọc Hạ yên lòng. Bách mở cổng, Ngọc Hạ vừa theo vào vừa đáp:
- Tôi tên Ngọc Hạ ạ!

Vẫn màu sơn ấy, vẫn bộ xa lông ấy, vẫn bộ bàn ăn bằng gỗ lim ấy, vẫn chiếc TV nơi góc phòng và máy nghe nhạc hiệu Sony nơi góc đối diện, nhưng gia đình Trực và cu Bê ở đâu? Bách cho biết, mọi người đi đâu Bách không biết. Bách chỉ biết Bách được “nhà nước” cấp cho ngôi nhà này!

Nhìn ra cửa, thấy màn đêm đang kéo về, Ngọc Hạ khóc; vì nàng không biết sẽ làm gì và tá túc nơi đâu! Bách nhỏ nhẹ an ủi:
- Chị bình tĩnh. Mọi việc sẽ “ổn” thôi, vì có “cách mạng” “no”!

Ngọc Hạ vẫn im lặng, quẹt nước mắt!

Từ ngày vào Nam, thấy đa số phụ nữ miền Nam xinh đẹp, tươi thắm, có học vấn và nhất là trông hiền lành, đạo đức chứ không chua ngoa, đanh đá như những “cán bộ gái” mà Đảng đã kết hợp để đảng viên hoặc cán bộ “quản lý”, Bách cứ dùng dằng, chưa muốn đem vợ con vào. Bây giờ, bất ngờ thấy một thiếu phụ trẻ, đẹp, trong tình cảnh khốn cùng, lòng Bách nảy sinh ý tưởng…

Trong khi Ngọc Hạ thút thít khóc, Bách ngõ lời an ủi:
- Chuyện đâu còn có đó, không nên quá buồn phiền.

Thái độ từ tốn, tử tế của Bách làm Ngọc Hạ hơi yên lòng, hỏi về bốn người con trai của ông bà Chánh. Bách bảo bây giờ đất nước “giải phóng” rồi, “cách mạng” kêu gọi quân đội Saigon tụ họp lại để “cách mạng” truyền đạt “ý tưởng cách mạng và tư tưởng bác Hồ”, trong thời gian ngắn thôi, không có gì phải lo lắng; ngoài ra, “cách mạng” cũng đã ân cần chăm sóc thân nhân của quân đội Saigon bằng cách chuyển họ về sống gần với thiên nhiên, có cuộc sống tự túc, tốt đẹp. Ngọc Hạ lại hỏi làm thế nào để tìm ra ông Chánh và các con của ông bà Chánh? Bách đem ông Bùi ra khoe rồi hứa sẽ nhờ ông Bùi tìm giùm. Ngọc Hạ muốn tìm con, vội hỏi làm thế nào để biết vùng nào mà gia đình bà Chánh dời đến? Bách bảo Bách không biết nhưng sẽ cố giúp. Nhận thấy Ngọc Hạ có vẻ tin tưởng, Bách mời nàng dùng cơm tối. Thấy Bách không sàm sỡ gì, lại nghe Bố của Bách là bạn của ông Chánh, Ngọc Hạ cảm ơn và theo Bách qua bàn ăn.

Nhìn Ngọc Hạ ăn uống và nói chuyện rất từ tốn, lễ độ, Bách thầm nhủ: Thảo nào những thằng cán bộ vào Nam đều cố chinh phục vợ của sĩ quan “Ngụy”!

Vừa và được vài miếng cơm, Ngọc Hạ thấy một người đàn ông cao tuổi bước vào. Bách vui mừng, đứng lên:
- Ơ kìa, Bố! Bố đi đâu…

Bách chưa dứt câu, chợt nhận ra ánh mắt tò mò của ông Bùi liếc nhanh về phía Ngọc Hạ. Bách cười, nháy mắt:

- Bố dùng cơm chưa? Con vừa mới ngồi vào thôi. Mời Bố cùng ăn với chúng con cho vui. Đây “nà” Ngọc Hạ, con mới quen.

Trong khi Bách quay ra sau, bảo osin lấy thêm chén đũa, ông Bùi ngồi vào ghế, gật đầu chào Ngọc Hạ. Ngọc Hạ hơi nhổm người lên, chào lại. Ông Bùi thầm nghĩ, thằng này “gớm” thật, mới đó mà hắn tìm đâu ra “con bé” xinh gái mà lại trông lành thế này!

Trong bữa ăn, vì những điều xảy ra tại trại cải tạo Nghĩa Phú làm ông bị “bức xúc” từ hôm qua đến nay, lòng cảm thấy bất nhẫn, ông Bùi cứ lầm lỳ ăn, nét mặt đăm chiêu. Nhận ra thái độ của ông Bùi và cũng vì cố tình không muốn ông Bùi biết Ngọc Hạ là dâu của ông bà Chánh – vì ngại ông Bùi sẽ ngăn cản ý đồ riêng của bách – Bách hỏi:

- Bố có gì khó nghĩ, phải không?

- Cũng chả có gì! Một thằng thì quá bướng… Ừ, mà tại sao đa số bọn sĩ quan của “Ngụy” đều bướng và chả biết sợ, nhẩy!

Bách nhìn ông Bùi, chẳng hiểu gì cả. Ông Bùi tiếp:
- Mấy thằng vệ binh của mình cũng dã man thật, hễ được dịp “nà” bọn vệ binh trả thù! Bảo chúng nó “xử ný” thôi, thế mà chúng nó đánh chết con người ta!

- Con ai thế, Bố?

- Con của người bạn thời kháng chiến với Bố, thế mới tội!

- Con của cụ Chánh à, Bố?

Ngọc Hạ giật mình, ngưng nhai, trố mắt nhìn ông Bùi. Ông Bùi khẽ gật đầu. Bách xúc động về tình cảnh gia đình của chủ ngôi biệt thự mà chàng đang chiếm ngụ, tò mò hỏi tiếp:

- Thế bốn thằng con của cụ Chánh thì thằng nào bị vệ binh đánh chết, Bố?

- Thằng Trực Hải Quân đấy!

Ngọc Hạ hét lên, vất chén đũa, tung ghế chạy ra đường. Bách chạy theo trước ánh mắt ngỡ ngàng của ông Bùi.

******
Nhiều người lên Tháp Bà xin xăm cho những chuyến vượt biên đều thấy một thiếu phụ trẻ, gầy gò, áo quần rách rưới, thường ngồi trên tảng đá hát nghêu ngao, không đầu không đuôi, từ bài này bắt sang bài khác:

Giặc từ miền Bắc vô đây,
bàn tay dính máu đồng bào.
Giặc từ miền Bắc vô đây,
bàn tay vấy máu anh em…
Hận thù đó chất cao trong lòng người!…”(2)

Trẻ em gọi thiếu phụ này là bà Điên. Khi người nào đến gần, cử chỉ thân thiện hay cho tiền hoặc bánh trái, bà Điên đều hỏi:

- Biết anh Trực chôn ở đâu không?

Ban ngày bà Điên chỉ hỏi câu đó. Nhưng khi đêm về, nhìn dòng sông Cái xuôi ra biển, bà Điên chợt nhớ khoảng không gian bao la của biển khơi vào những đêm dài trên thương thuyền Việt Nam Thương Tín từ Guam trở về. Những đêm đó, thương con, nhớ chồng, Bà Điên vừa quẹt nước mắt vừa “ngân nga” những lời tình tự:

“…Lonely rivers flow to the sea, to the sea, …
Lonely rivers sigh ‘Wait for me, wait for me’.
I'll be coming home, wait for me…” (3).

Nghe báo cáo, nhóm công an lên bắt bà Điên, còng tay. Bà Điên vẫn cười, hỏi:

- Biết anh Trực chôn ở đâu không?

Đám công an nạt:
- Địt mẹ, câm mồm!

Khi bị dẫn ngang nhiều người lớn và trẻ em tò mò đứng dọc theo bậc cấp dẫn xuống đường, bà Điên vẫn cười và hát.

“…Người Việt Nam quên nòi giống.
Một ngục tù nuôi da vàng.
Người Việt nằm nhớ nước non…” (4).

Vì bà Điên thường hát tới hát lui bài này, đám trẻ con thuộc. Thấy bà Điên bị tống vào xe, người lớn thở dài xót thương trong khi đám trẻ con hát vang:

Một người già trong công viên.
Một người điên trong thành phố.
Một người nằm không hơi thở…” (5).

Chiếc xe vừa nổ máy, những người tò mò thấy bà Điên cố nhoài người ra, vừa cười vừa hát:

“…Một ngục tù trên quê hương.
Người Việt Nam quên nòi giống.
Người từng ngày xây uất hận.
Rồi hình hài khuất núi non!...”(6).

Bà Điên vừa hát đến đây, mọi người thấy một bàn tay bụm miệng Bà và một bàn tay khác nắm tóc Bà, ghì xuống!...

Điệp Mỹ Linh

Monday, September 25, 2023

Giấc Mơ Tuyệt Vời Về Cha

Thành kính tưởng niệm Ba tôi – Cụ Điệp Linh Nguyễn Văn Ngữ - nhân Father’s Day 2021
Như mọi buổi chiều, tôi âm thầm quan sát những sinh hoạt quen thuộc, vui mắt bên kia khung cửa sổ trên lầu, nơi hai góc đường của một khu vực rất yên tĩnh. Bất chợt, tôi thấy hình ảnh là lạ của một người đàn ông, một tay nắm tay đứa bé gái tóc vàng; một tay đẩy chiếc xe có em bé nằm bên trong.

Không hiểu tại sao tôi lại có thiện cảm ngay với hình ảnh người đàn ông và hai đứa bé. Tôi cứ nhìn theo ba Bố con – tôi đoán như thế, không biết đúng hay sai – và tôi “ngân nga” nho nhỏ vài câu của một ca khúc chợt đến trong hồn tôi:

“…Used to wrap my hands around his little finger
Turns out he was wrapped around mine
He said: ‘You can be anything you want to in this great big world
But I'm always gonna be daddy's little girl, daddy's little girl’…” (1)

Tôi “ngân nga” đến đây cũng là lúc ba Bố con đi ngang nhà tôi. Tôi mỉm cười khi thấy đôi chân của bé gái tung tăn, tay chỉ chỏ vào sân nhà tôi. Người Bố xoa đầu đứa bé. Đứa bé ngước nhìn Bố rồi níu tay Bố, nghiêng đầu vào tay Bố.

Hình ảnh dễ thương của ba Bố con làm sống lại trong hồn tôi hình ảnh ngày xưa chị em tôi quấn quít bên Ba tôi mỗi khi Ba tôi trở về nhà, sau vài ngày đưa đoàn văn nghệ trình diễn, ủy lạo các đơn vị thuộc liên khu V, do Việt Minh – tiền thân của cộng sản Việt Nam (csVN) – kiểm soát.

Lần nào cũng vậy, trước khi cởi đôi “dép râu”, Ba tôi cũng lấy từ ba-lô một tán đường đen nhỏ xíu – do đơn vị cấp cho Ông để Ông “bồi dưỡng” – cho tôi, bảo:

-Ăn đi, con! Ăn cho mau lớn!

Hôm nào không đi công tác, sau giờ tập kịch và tập ca cho đoàn văn nghệ, chiều chiều Ba tôi thường “đeo” bé Ngọc – em tôi – phía trước, bằng miếng vải dài, choàng xéo vai và lưng rồi dẫn tôi đi chầm chậm dọc con đường cái quang loan lổ, do Việt Minh đào xới để thực hiện chính sánh “tiêu thổ kháng chiến” và “bần cùng hóa nhân dân”.

Khi nào mỏi chân, ba Bố con tôi ngồi trên mấy tản đá ven đường, nghỉ chân. Những lúc đó, Ba tôi kể về cảnh trí, nếp sống, văn hóa và tình người trong thành phố Nha Trang, Dalat và trường Pellerin ở Huế mà Ba tôi đã phải rời xa để dấn thân theo lý tưởng cao cả của một thanh niên.

Theo giọng kể bùi ngùi của Ba tôi, tôi cảm thấy niềm thương yêu tha thiết dành cho Nha Trang, Dalat và Huế mỗi ngày một đậm đà hơn. Khi nào nghe tôi hỏi những câu thể hiện được tất cả sự thơ dại của tôi, Ba tôi cũng cười, xoa đầu tôi và mắng yêu: “Cha mày!”

Niềm khắn khít giữa ba Bố con tôi tưởng sẽ bền lâu, không ngờ, Ba tôi bị thuyên chuyển đi Hà Bằng. Ba tôi phải đi Hà Bằng trước để thuê nhà sẵn, khi gia đình dời đến, sẽ có nơi cư ngụ.

Trong mấy ngày Ba tôi vắng nhà, bé Ngọc bị bệnh. Sau khi được Má tôi dùng dầu Nhị Thiên Đường “cao gió” mà bệnh của bé Ngọc cũng không thuyên giảm, Má tôi hỏi thăm và nhờ người hàng xóm mời ông y tá.

Ông y tá đến khi Má tôi đang cho bé Ngọc bú. Má tôi cười, chào. Ông y tá im lặng, chăm chăm nhìn cặp vú no tròn của Má tôi. Má tôi vội để bé Ngọc lên chiếc giường duy nhất của gia đình rồi kéo áo của Má tôi xuống.

Bị cắt sữa bất ngờ, bé Ngọc khóc ré lên. Má tôi không thể che giấu được sự lúng túng. Thời điểm đó – trong “vùng giải phóng”, do Việt Minh kiểm soát – không có sữa hộp; mọi đứa bé đều được nuôi bằng sữa Mẹ. Thấy Má tôi không giấu được sự “lấn cấn”, ông y tá cứ nhìn vùng ngực căn sữa của Má tôi trong khi tiếng khóc của bé Ngọc nghe đã khàn. Má tôi thúc:

-Anh khám giùm cho cháu đi!

Ông y tá rờ trán bé Ngọc, bảo:
-Con nhỏ này bị bệnh thương hàn, nặng lắm! Phải chữa trị gấp!

-Anh chữa trị cho cháu bằng cách chi?

-Ở đây chỉ có thuốc ký ninh vàng; trị bá bịnh.

-Anh biết bác sĩ ở đâu, làm ơn chỉ giùm?

-Đi hết cái tỉnh Quảng Ngãi còn chưa biết tìm được một bác sĩ hay không; nói chi cái làng Sơn Tịnh này!

-Rứa thì anh làm ơn cứu con tôi. Tôi sẽ bán tất cả những gì tôi còn để đền ơn anh.

Ông y tá nhìn quanh nhà rồi hỏi:
-Chị còn cái gì mà đòi bán để đền ơn tôi?

-Tôi còn vài cái áo dài, chắc vợ của anh sẽ thích; mấy bộ đồ tây của chồng tôi, có lẽ anh mặc vừa.

-Đồ tây là đồ gì?

-Dạ, đồ tây gồm cái quần có giây nịt và cái áo “chemise”.

-Áo “sơ mi” là áo gì?

Má tôi chỉ cười, bước vào sau tấm màn, đem ra chiếc quần màu cà-phê sữa và áo sơ-mi trắng, tay dài. Ông y tá sáng mắt lên:

-Một viên ký ninh vàng đổi một áo sơ-mi hoặc một cái quần. Chịu không?

-Răng mắc dữ rứa?

-Bộ đồ tây và sinh mạnh của con chị, cái nào đáng giá hơn?

-Bệnh của cháu cần bao nhiêu viên ký ninh vàng?

-Chưa biết. Chịu hay không, nói đi!

-Dạ, chịu.

-Chịu thì theo tôi đi lấy thuốc.

Má tôi vừa bế bé Ngọc vừa quay sang tôi:
-Con mang dép vô, đi với Má!

Ông y tá ngăn lại:
-Chị đi một mình chị thôi, đem tụi nó theo làm gì?

-Tôi không thể để con tôi ở nhà mà không có tôi.

-Ở đây, đàn bà ai cũng đi làm rẫy, làm ruộng, mót lúa, mót khoai; con cái ở nhà, đứa lớn coi đứa nhỏ chứ có ai như chị, ở nhà cho “trắng da dài tóc”.

-Tôi đâu nói chi mất lòng anh, răng anh nặng lời với tôi?

Vừa cầm bộ đồ của Ba tôi, ông y tá vừa đáp:
-Không nặng nhẹ gì hết! Có đi với tôi hay không? Không đi thì tôi đi về.

-Anh chưa chữa bệnh cho con tôi mà về răng được?

-Ai cấm được tôi? Chị đồng ý bộ đồ này đổi hai viên ký ninh vàng hay không?

-Dạ, đồng ý.

Ông y tá lấy từ túi áo bà ba một gói giấy, mở ra, lấy hai viên thuốc, trao cho Má tôi. 

Má tôi ngạc nhiên:
-Ủa, thuốc đây mà tại răng khi nãy anh buộc tôi phải đi theo anh lấy thuốc?

Ông y tá “ậm ừ” một thoáng mới đáp:
-Quê… quên, được không? Đàn bà mà cái gì cũng hỏi.

Má tôi nghẹn ngào như sắp khóc. Ông y tá tiếp:

-Cho nó uống mỗi lần một phần tư viên; sáng một lần, tối một lần. Nhớ phải ngâm thuốc trong nước cho tan ra, nếu không, nó “mắc cổ”!

Ông y tá cầm bộ đồ của Ba tôi, quay ra cửa. Má tôi bế bé Ngọc, vén áo lên, chưa kịp cho bé Ngọc bú thì ông y tá quay nhanh vào trước sự ngơ ngác của Má tôi:

-Anh trở lại chi rứa?

-Quên gói thuốc ký ninh.

Má tôi và tôi đều ngơ ngác nhìn quanh, không thấy gói thuốc đâu cả. Trong lúc ngơ ngác, Má tôi quên kéo vạt áo bà ba xuống để che vùng ngực trắng ngần. Ông y tá lao nhanh về phía Má tôi. Má tôi vừa thụp người xuống, cố bảo vệ bé Ngọc, vừa hét lớn:

-Bớ người ta! Bớ làng xóm...cứu Mẹ con tôi!

Tôi cũng dậm chân, khóc, “la làng”! Bất ngờ, tôi nghe tiếng Ba tôi từ cửa trước:
-Ê! Mày làm cái gì vậy, hả, thằng khốn nạn?

Quay ra cửa, thấy Ba tôi, ông y tá chạy thoát bằng cửa sau, bỏ quên bộ đồ tây của Ba tôi.

Dòng kỷ niệm buồn của tôi vừa đến đây, tôi chợt nghe tiếng Ba tôi gọi: “Con!” Quay lại, tôi thấy Ba tôi ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi, vừa chỉ theo ba Bố con đang đi trên đường trước nhà tôi vừa nói:

-Cậu đó với hai đứa nhỏ làm Ba nhớ thời gian gia đình mình sống ở Sơn Tịnh và Hà Bằng.

-Hà Bằng ở đâu, Ba?

-Hà Bằng thuộc Phú Yên, phía bắc đèo Quán Cau, dọc theo Quốc lộ I. Hà Bằng có đầm Ô Loan, đẹp lắm, con!

-Để con vào Google tìm xem.

Sau một lúc tìm kiếm, tôi nói:
-Ba à! Con thấy đầm Ô Loan chứ con tìm không ra Hà Bằng.

-Chắc “tụi nó” – csVN – đổi tên rồi.

-Tên Hà Bằng đẹp chứ có gì mà họ phải đổi?

-“Tụi nó” mà! Cái gì có tàn tích bất lợi cho “tụi nó” – như đấu tố, cải cách ruộng đất, khởi nghĩa Quỳnh Lưu – hoặc có biểu tượng tốt đẹp của Việt Nam Cộng Hòa thì “tụi nó” đổi, xóa. Ngay như lịch sử Việt Nam cận đại và Wikipedia mà “tụi nó” cũng sửa, con biết không?

-Sao csVN hèn quá vậy, Ba?

-Thôi, tìm hiểu về “tui nó” làm chi cho mất thì giờ; để Ba nói về Hà Bằng cho con nghe.

-Dạ. Khi dời về Hà Bằng, gia đình mình sống ở đâu, Ba?

-Ba mướn được cái chái bằng tranh nơi ngôi nhà gạch, trước chợ Hà Bằng, ngay ngã ba đường cái quang và đường mòn dẫn lên Chùa Lầu. Ngôi đình làng cạnh chợ Hà Bằng là nơi Ba mở lớp dạy học; vì “tụi nó” chỉ phát cho Ba mỗi tháng 08 ký gạo, gia đình mình không thể sống được. Từ “nhà” mình đi về hướng Bắc một đoạn ngắn, sẽ hặp ngã ba, bên phải. Quẹo theo ngã ba đó một đoạn ngắn là đến đầm Ô Loan.

-Sao Ba nhớ kỷ vậy?

-Cái gì vui, mình nhớ hoài; cái gì buồn quá, mình không thể quên!

-Điều gì trong thời kháng chiến mà Ba không thể quên?

-Có hai điều, đến chết Ba cũng vẫn không quên!

-Hai điều gì mà… kinh khủng vậy, Ba?

-Cái chết của bé Ngọc và sự ra đời của thằng Linh!

-Con không nhớ nguyên nhân cái chết của bé Ngọc!

-Lúc đó con còn nhỏ quá, chưa biết gì, làm sao nhớ được!

Ba tôi thở dài, nhìn ra xa, như cố nén nỗi đau thương vào lòng, rồi tiếp:
-Hôm đó, may mà Ba về kịp, cứu được Má khỏi bị ô uế vì thằng y tá khốn nạn. Nhưng, sau đó, thằng y tá trốn mất, bé Ngọc không có thuốc, phải chết!

-Trời!

-Sự ra đời của Linh cũng là một nỗi đau sâu kín trong lòng Ba.

Im lặng một chốc, Ba tôi tiếp:
-Buổi chiều, lúc Má chuyển dạ, bà chủ nhà đuổi Má ra khỏi cái chái mà gia đình mình thuê; vì bà ấy bảo Má sinh đẻ trong đất của bả thì bả bị xui xẻo. Ba đưa Má ra chợ, ông gác chợ đuổi đi. Ba đưa Má đến cái đình – nơi Ba dạy học mỗi ngày – ông giữ đình cũng đuổi đi. Ba phải đưa Má xuống gần đầm Ô Loan, trải chiếc chiếu dưới bụi duối, để Má và con ngồi nghỉ, Ba đi rước bà mụ – Mẹ của hai thằng học trò của Ba.

Lúc Ba và bà mụ tới, thấy tình cảnh của Má và con, bà mụ khóc, bảo gia đình mình nghèo quá, thôi, bà mụ không lấy tiền công. Ba bảo, nếu bà mụ không lấy tiền công “đở đẻ” cho Má thì Ba cũng sẽ không lấy tiền học của hai thằng con của bà ấy.

Hôm đó đầm Ô Loan lấp lánh ánh trăng, trông đẹp và huyền diệu vô cùng. Ba và con ngồi trên đường cái quan loan lở. Xa xa, thấp thoáng bóng dáng bà mụ và tiếng rên nho nhỏ nhưng đầy đau đớn của Má. Câu chuyện thật nhưng có vẻ như tiểu thuyết và đầy kịch tính đó làm nảy sinh cái tên của thằng Linh: Nguyễn Phiêu Linh và bài Bến Thu. Con nhớ, trong bài Bến Thu có câu: “Sống không một tình thương, không gia đình, không quê quán” hay không?

-Dạ, con nhớ. Nhưng, tại sao suốt mấy mươi năm qua Ba Má không cho tụi con biết hai câu chuyện đau lòng này?

-Các con biết để làm gì? Ba Má đã bàn tính về hai chuyện này và quyết định không cho các con biết; vì ngại thằng Linh bị mặc cảm. Chuyện bé Ngọc đã là một thảm cảnh; nếu thêm thằng Linh bị mặc cảm nữa thì niềm ân hận trong lòng Ba sẽ to lớn vô cùng, không thể nào Ba có thể vượt qua! Nếu Ba không vượt qua được thì ai giúp Má nuôi các con?

-Hoàn cảnh đưa đẩy chứ Ba đâu cố tình tạo nên mà Ba ân hận?

-Đành rằng hoàn cảnh đưa đẩy; nhưng, nếu Ba sáng suốt một tý để không bị “tụi” csVN lừa bịp thì gia đình mình đâu đến nỗi!

Im lặng. Một chốc sau, Ba tôi tiếp:
-Cũng may, sau thời gian dài nhận thức được bề trái của “tụi” csVN và thấy tận mắt sự tàn ác của “tụi nó” dành cho dân tộc mình cùng với sự tàn phá thảm khốc do “tụi nó” gây ra trên Quê Hương mình, Ba kinh tỡm “tụi nó” và Ba đã đưa gia đình trở về miền Nam kịp thời để con đi học.

-Nếu Ba không thức tỉnh sớm, có lẽ con đã là “cán bộ gái”; con của con là “cán bộ nhí anh hùng”; cháu của con phải xuất cảnh lao động hoặc làm điếm trá hình cho Tàu và Đại hàn, rồi trở thành kẻ ăn cắp “chuyên nghiệp”!

-Đời nào Ba để những chuyện như vậy có thể xảy ra cho con của Ba. Khi con lớn, con đàn Accordéon và hát trong ban ca nhạc Bình Minh, đài phát thanh Nha Trang, ước vọng của con là được trở thành ca sĩ nhà nghề. Nhạc sĩ Minh Kỳ và nhạc sĩ Canh Thân cũng khuyến khích Ba nên cho con trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp, nhưng Ba cũng vẫn không cho. Con nhớ không?

-Như vậy có nghĩa là gì, con không hiểu.

-Nghĩa là, bất cứ điều gì Ba thấy trước sẽ ảnh hưởng không tốt đến cuộc đời của chị em con thì, bằng mọi cách, Ba cố tránh, không để những điều đó xảy ra. Thế thì làm gì có chuyện Ba để con trở thành “cán bộ gái” trong guồng máy đầy ác tính của csVN được.

-Nghĩa là không trước thì sau, Ba cũng ly khai Việt Minh, phải không, Ba?

-Ai có chút lương tri và học vấn thì người đó sẽ không thể nào chấp nhận để một nhóm người dốt nát cổ xúy cho sự tôn sùng một lãnh tụ không ra gì như ông Hồ Chí Minh. Ba đi kháng chiến là vì lòng yêu nước chứ không phải vì bất cứ cá nhân nào cả.

Tôi chưa kịp tỏ ý kiến, Ba tôi tiếp:
-Thôi, chuyện thời chiến và sau cuộc chiến, “dẹp” đi, con! Cả một dân tộc bị lừa!

Thấy tôi “ngớ” ra, Ba tôi tiếp:
-Con nhớ cách nay không lâu, báo bên Việt Nam đăng tin: “Tụi” csVN phá rừng, lấy gỗ bán cho Tàu; “tụi” Tàu đào núi, khai thác “Bauxite” trên Cao Nguyên; sau đó, “tụi” csVN “cạo trọc” lầu Bảo Đại, tại Cầu Đá Nha Trang hay không?

-Dạ, tiếng Việt trong nước con không hiểu nhiều cho nên con không đọc!

Ba tôi lại cười, xoa đầu tôi:
-“Cha mày”! Ba sống với “tụi nó” mấy năm mà Ba còn hiểu không nổi “tiếng của tụi nó” thì làm sao con hiểu được! Kệ, hiểu tới đâu hay tới đó. Tìm báo Tuổi Trẻ Online, ngày 09-06-2021 @15:15GMT+7, con sẽ biết thêm một tin rất đau lòng về quê Nội của con!

Vào Google, tìm Tuổi Trẻ Online, thấy ảnh và tựa đề: “Cận cảnh núi Chín Khúc ở Nha Trang bị băm đứt từng khúc để làm đô thị, biệt thự”, tôi ngồi lặng câm, lòng đầy phẫn uất! Giữa lúc tôi đang đau xót cho Quê Nội thân yêu, Ba tôi nói tiếp:

-Đất nước của Tiền Nhân để lại, “tụi” csVN cày xới tan hoang để xây dinh thự bán cho Tàu cộng, lấy tiền bỏ túi, gửi vào ngân hàng thế giới, cho con sang nước “tư bản dảy chết” du học, đem tiền theo. Khi bệnh Tàu dịch Covid-19 bùng phát trở lại, “tụi” csVN kêu gọi người dân và Việt kiều đóng góp để mua “Vaccine” chống dịch. Đúng là một lũ côn đồ!

Tưởng mình nghe nhầm, tôi hỏi:
-Ai? Ai kêu gọi người dân và Việt kiều đóng góp mua “Vaccine”, Ba?

-“Tụi” csVN chứ ai! Vì con không thích đọc tiếng Việt của “tụi nó” cho nên con không biết chứ con vô BBC xem, biết liền.

Trong khi dò, tìm, vô tình tôi lạc vào Báo Điện Tử đảng csVN. Đọc qua câu trong bài trên web đảng csVN tôi nổi giận, “lầm bầm”:

-Thứ vô liêm sĩ! Khi thì miệt thị người ta, gán cho người ta là “‘Niếm’ gót giày của bọn sen đầm quốc tế”; lúc cần tiền thì “khúc ruột ngàn dăm”, “bà con kiều bào”! Ai bà con với thứ “giết người không gớm tay” rồi sợ quả báo, cho xây nhiều chùa, đúc nhiều tượng Phật bằng vàng?...

Ba tôi cắt lời tôi:
-Con nói cái gì vậy?

-Dạ, con tức quá! Để con đọc cho Ba nghe câu này: “…Ngày 28/5, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn phát biểu đề nghị, với tinh thần trách nhiệm, cùng quyết tâm đẩy lùi và chiến thắng dịch COVID-19, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài kêu gọi bà con kiều bào tiếp tục chung tay cùng cả nước chống dịch COVID-19.”

-Cũng…tại mình, con à!

Tôi quay nhìn Ba tôi, tỏ vẻ không hiểu. Ba tôi tiếp:
-Thời “bao cấp”, nếu người Việt ở hải ngoại đừng quá nặng lòng với người ruột thịt bên quê nhà thì “tụi” csVN đã bị toàn dân – vì quá đói khổ – vùng lên, tiêu diệt rồi!

-Con cũng nghĩ như vậy. Nhưng ruột thịt mà, Ba, dứt sao đành!

-Thôi, quên chuyện cũ đi! Con tìm ra bản tin Ba nói chưa?

Im lặng. Tôi vào BBC tiếng Việt, thấy bài của Nguyễn Lại, ngày 17-06-2021. Link:

Đọc thoáng bài của Nguyễn Lại, tôi nói:
-Ba à! Ít ra cũng có vài người dám tỏ ra sự bất bình của họ về việc csVN kêu gọi người dân và Việt kiều đóng góp để mua Vaccine.

Ba tôi cười “nửa miệng”:
-Cả một dân tộc bị lừa mà dân tộc đó vẫn cúi đầu! Bao thế hệ người Việt miền Bắc bị csVN đầu độc để vào Nam giết người đồng chủng mà người Bắc cũng cúi đầu thi hành. Từ sau khi csVN chiếm miền Nam rồi xâm lăng Cao Miên cho đến nay, người trẻ Việt Nam chỉ biết ăn mặc diêm dúa, ngồi nơi hàng quán, chờ khi đội tuyển Việt Nam thắng được giải bóng tròn thì nhảy “cà tưng”, hô vang “Tự hào quá, Việt Nam”. Còn “tụi” csVN thì cứ chờ Tết hoặc 30 tháng Tư để tổ chức tưng bừng, “ăn mừng” chiến thắng – “nhờ” đã đưa dân tộc vào hai cuộc chiến khốc liệt và tàn ác nhất lịch sử!

Câu nói của Ba tôi làm tôi muốn khóc mà khóc không được! Một lúc lâu lắm, Ba tôi bảo:

-Thôi, tối rồi, Ba đi. Rất tiếc, Ba đã làm mất phần nào tuổi thơ của con!

Vội quay về phía Ba tôi, tôi không thấy Ba tôi đâu nữa.

Tôi hoang mang, nhìn qua cửa sổ. Chính lúc đó tôi tưởng như tôi thấy lại được hình ảnh ba Bố con tôi đang tíu tít bên nhau dọc đường cái quang loan lỡ trong thời kỳ Ba tôi theo kháng chiến chống Tây.

Trong giây phút luyến tiếc giấc mơ tuyệt vời về Ba tôi, tôi chợt nhớ một câu rất chính xác và thâm thúy mà tôi đã đọc đâu đó: “A father holds his daughter’s hand for a short while, but he holds her heart forever.” (2)

ĐIỆP MỸ LINH


Wednesday, August 19, 2020

Người Về

ĐIỆP MỸ LINH

Không thể nào Đoàn hiểu được tai sao Ba Mẹ lại bịn rịn/nghẹn ngào khi chia tay tại chân đèo Cả, trên khoảng đường nhựa đã bị Việt Minh đặt mìn phá hoại từ lâu! Chung quanh Đoàn cũng có nhiều người đàn ông dặn dò vợ/vuốt tóc con và những người đàn bà khóc sụt sùi. Ba ôm Đoàn, giọng rất buồn:

-Vào Nam con cố học hành cho nên người, giúp đỡ Mẹ và hai em, nghe, con!

Đoàn không biết gì để nói. Ba quay sang Mẹ, tiếp:

-Vào đến nơi, em nhờ người đưa thư của anh về cho Mẹ anh. Gia đình anh sẽ lo lắng cho Mẹ con em. Anh đi.

Vừa nghe hai tiếng “anh đi”, Đoàn lờ mờ hiểu rằng Đoàn sẽ xa Ba từ nay. Đoàn vội nắm tay Ba, gọi “Ba!” Ngẫng mặt nhìn lên, thấy mắt Ba chớp nhanh, Đoàn tựa vào người Ba, khóc! Nhỏ Lao và cu Động thấy Đoàn khóc, cũng khóc theo. Ba ôm ba đứa con vào vòng tay gầy guộc, giọng bùi ngùi nói với Mẹ:

-Em gắng lo cho các con. Anh sẽ gặp lại em và các con…

Nói chưa dứt câu, Ba vội vàng quay đi, theo toán đàn ông trẻ quay trở lại Tuy Hòa. Đoàn thấy nón cối của nhóm đàn ông trẻ cứ nhấp nhô trong nắng. Quân phục kaki vàng chỉ nhạt hơn màu lúa chín một tý thôi.

Đoàn người còn lại – gồm đàn bà, người già và trẻ con – bồng bế nhau, đi ngược chiều với toán đàn ông trẻ, hướng về Nam.

Chiều xuống, đoàn người chỉ mới tới giữa đèo Cả. Tất cả dừng chân nghỉ qua đêm. Mẹ và ba đứa con trợn mắt nuốt từng nắm cơm khô trong ruột tượng, do Đoàn mang theo.

Ăn xong, bốn Mẹ con theo mọi người xuống suối lấy nước uống. Nơi dòng suối, Đoàn thấy dấu vết của những người đã trốn vào Nam: Những đôi dép Bình Trị Thiên và nhiều bao tiền tín phiếu còn vất bừa bên dòng suối.

Nhìn mấy bao tiền, Đoàn chợt nhớ Ngoại. Ngoại có một “hầm bí mật” dưới chân cầu Ông Chừ để giấu tiền. Mỗi khi Ngoại bán được vật gì, cả nhà phải xuống “hầm bí mật” để đếm tiền. Trong khi đếm tiền, Ba thường cười “nửa miệng”, bảo:

-Đồ xỏ lá! Chính phủ mà cái gì cũng “chú phỉnh”! Dân ăn cơm độn khoai mì năm này qua năm khác mà thằng dân nào cũng cầm trong tay cả bạc triệu, để tưởng mình là triệu phú!

Không thể nào Đoàn hiểu được Ba nói gì và Đoàn cũng không biết triệu phú là gì; nhưng Đoàn lại nhớ những lần Tây đổ bộ, tiếng kẻng trên Tháp Chàm dóng lên rộn rã, bà Ngoại phải gánh theo hai bao bố tiền và cả gia đình “chạy giặc” lên Phú Nhiêu.

Khi Ba được thuyên chuyển lên Phú Nhiêu, Mẹ sinh nhỏ Lao và cu Động “cùng một lần”. Lúc đó Đoàn không biết hai tiếng “sinh đôi”. Ba bảo Ba dự tính sẽ đặt tên đứa em của Đoàn là Trần Lao Động, vì tên của Đoàn là Trần Liên Đoàn! Không ngờ đứa em này lại “đem theo” đứa em gái cho nên Ba phải đặt là Trần Thị Quỳnh Lao và Trần Hữu Động. Mỗi tối, sau khi dạy Đoàn học, Ba thường ôm Mandolin, đàn những tình khúc lạ, Đoàn thích nhưng không thể hiểu.

Nhớ tiếng đàn Mandolin của Ba thì không thể nào Đoàn quên được tiếng hát buồn buồn của Mẹ mỗi khi Mẹ hát ru bé Lao hoặc cu Động ngủ: “…Mais la nuit, dans tes bras Je m'endors dans tes bras et la tendresse et toi, ne font plus qu'un pour moi…” (1) Tiếng hát của Mẹ chơi vơi, lạc lỏng như số vốn Pháp văn Ba Mẹ dạy cho Đoàn!

Kỷ niệm về Ba theo Đoàn vào giấc ngủ, trên lưng đèo Cả, trong chuyến hồi cư về Thành. Những khi chợt thức giấc vì lạnh, nghe gió thì thầm bên rừng thông và tiếng sóng vỗ rì rào, đều đặn bên ghềnh đá chơ vơ, Đoàn chợt cảm thấy nhớ Ngoại. Những lần từ Phú Nhiêu về Tuy Hòa thăm Ngoại, Đoàn thấy Ba thường đứng lặng bên cầu Ông Chừ, nhìn về phương Nam với ánh mắt ngút ngàn nhớ thương!

Ba thương nhớ Bà Nội đến như vậy, tại sao sáng nay Ba không cùng gia đình về với Bà Nội? Đoàn thắc mắc, nằm co cạnh Mẹ, nhưng không dám hỏi và cũng không thể nào tự giải thích được. Vì Ba ít khi về nhà cho nên Đoàn không có nhiều kỷ niệm với Ba; do đó, những gì Ba làm khi Ba ghé nhà Đoàn đều nhớ rõ từng chi tiết. Như sáng hôm qua, ở nhà Ngoại, Ba trao Mẹ một vòng đeo tay bằng “inox”. Mẹ khóc. Giọng Ba bùi ngùi:

-Em cất để kỷ niệm. Anh làm bằng tay đó, khắc tên anh và em.

-Em có các con, đủ an ủi rồi. Còn vòng đeo tay có tên “hai đứa mình”, anh cất đi; sau này mình gặp lại nhau, nếu già, nhìn nhau không ra thì còn vòng đeo tay!

-Vậy cũng được; em đeo vào tay trái cho anh.

Sau đó, Ba Mẹ/Đoàn và hai em quay quần bên nhau suốt buổi.

Đêm nay, theo tiếng sóng rì rào xa xa, Đoàn nghe tiếng Mẹ thở dài, có lẽ Mẹ cũng thương nhớ Ba! Nhớ đến Ba là nhớ những ngày ăn cháo mướp, cháo bí trừ cơm; vì nhà hết gạo, Mẹ không có tiền mua! Những lần đơn vị làm heo/bò “bồi dưỡng”, Ba đem phần thịt đơn vị cấp cho Ba kho khô hoặc rim mặn, đem về cho các con. Nghĩ ngợi miên man một lúc, Đoàn chìm vào giấc ngủ trẻ thơ.

Sáng hôm sau đoàn người tiếp tục hướng về Nam. Vừa qua khỏi đỉnh đèo Cả, Đoàn thấy bãi biển tuyệt đẹp và một chiếc tàu thủy thật to, đang hải hành ngoài khơi.

Qua khỏi bãi biển Đại Lãnh, đoàn người lên một con dốc rồi dừng lại trước đồn có ông Tây cầm súng gác. Một ông Tây khác đứng trên “lô cốt”, “trâm” một tràng tiếng Tây. Không ai hiểu gì cả! Mẹ nói trổng:

-Nó bảo đàn ông ngồi riêng, đàn bà và con nít ngồi riêng.

Mọi người làm theo lời Mẹ. Chỉ một chốc sau, một chiếc GMC chạy đến, dừng cạnh đoàn người rồi một ông Việt Nam nhảy xuống. Ông Tây và ông Việt Nam “bi bô” một chốc, ông Việt Nam bảo đàn bà, con nít lên xe trước. Ông Việt Nam soát mấy người đàn ông thật kỹ rồi cũng cho họ lên xe luôn.

Lần đầu tiên trong đời được đi xe hơi, Đoàn cảm thấy thích quá! Xe chạy thật lâu rồi dừng trước đồn Vạn Giả. Trong lúc sắp hàng, Đoàn nghe hai ông cãi nhau:

-Thì ông thông ngôn giùm đi. Bà ấy là đàn bà, lại “đèo” ba đứa con, khó khăn lắm!

-Mình không nên để tụi nó biết mình biết tiếng Tây, không tiện. “Elle” có vẻ hiểu biết lắm.

Người kia “hừ” lên một tiếng, có vẻ như nghi ngờ, vừa khi một ông Tây đi ngang, chìa bao thuốc, mời. Thấy bao thuốc màu ngà, có chữ Mic màu đỏ, Đoàn chợt nhớ Ba. Sao ở đây họ sang quá, hút thuốc Mic của Tây; còn Ba phải hút thuốc rê vấn với lá chuối non phơi hơi heo héo một tý!

Tối đến, đoàn người phải ngủ lại Vạn Giả. Sáng hôm sau xe GMC đưa tất cả vào Ninh Hòa. Tại Ninh Hòa, đàn ông bị giam lại để thanh lọc, điều tra. Đàn bà, con nít được đưa thẳng vào Nha Trang. Khi xe qua khỏi cầu Hà Ra, Mẹ bảo:

-Đoàn! Nha Trang đây, con!

Không hiểu có phải vì hình ảnh dễ thương Ba Mẹ thường “vẽ” vào tâm trí của Đoàn từ thời ấu thơ hay không mà khi Mẹ vừa dứt lời, Đoàn hít một hơi dài luồn không khí mát rượi và cảm thấy thương ngay vùng đất lạ, nơi bà Nội vẫn ngóng chờ người con thân yêu của Bà!

Vòng tay già nua của bà Nội giúp Mẹ nuôi Đoàn và các em; nhưng tình thương của bà Nội không thể xóa mờ nỗi buồn khổ thầm lặng của Đoàn và hai em; vì cả ba người cháu của bà Nội ba mang cái tên rất “nặng mùi Đảng” – Liên Đoàn Lao Động! Khi đi học, bị bạn hữu chế nhạo hoài, Quỳnh Lao đổi tên là Quỳnh Giao.

*********

Khi đơn vị của Đoàn tham dự cuộc hành quân hỗn hợp tại Vũng Rô. Trong tiếng đại pháo rền trời từ các chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.) và tiếng súng xối xả của Việt cộng từ các mõm núi bắn ra, Đoàn quên mất dòng suối với những bó tiền tín phiếu mà bé Đoàn đã thấy năm xưa. Đoàn cẩn thận kiểm soát “con cái” của chàng. Tiếng súng phản công của Việt cộng vừa dịu xuống, Đoàn phất tay ra hiệu. Cửa đổ bộ của chiếc hải vận hạm hạ xuống. Đoàn nhảy xuống trước rồi phất tay cho cả đơn vị cùng ùa ra, tiến nhanh vào bờ.

Vì cuộc đổ bộ được thực hiện một cách bất ngờ và chớp nhoáng, Việt cộng bị rơi vào thế bất lợi! Các đơn vị V.N.C.H. phá hủy hoàn toàn mật khu của Việt cộng và tịch thu rất nhiều vũ khí hạng nặng.

Trưa hôm đó, từ chiếc trực thăng tải thương, Đoàn vừa vịn vào vết thương nơi vai vừa nhìn về bên kia đèo Cả, lòng bùi ngùi khi thấy lại chân đèo, nơi năm xưa Ba Mẹ đã bịn rịn chia xa!

Không bao giờ Đoàn có thể tưởng tượng được rằng, sẽ có một ngày – qua chỗ Ba Mẹ chia xa năm xưa – Đoàn bị Việt cộng trói tay/chở trên một chiếc Molotova cùng với những sĩ quan trang lứa với chàng! Tất cả đến với Đoàn quá đột ngột/quá bạo tàn!

Trong trại tù A30, mỗi ngày sắp hàng để đi lao động, Đoàn thấy quân phục của cán bộ, của quản giáo hoặc của vệ binh không có màu vàng dễ thương như màu lúa chín nữa mà Đoàn chỉ thấy màu quân phục xanh vàng giống màu cứt ngựa.

Khi bất ngờ được tha, trở về chốn cũ, Đoàn thấy ngôi nhà của Mẹ được dùng làm trụ sở xã! Bước vào hỏi thăm, cán bộ cho biết Mẹ và Quỳnh Giao ở trong cái chòi cuối vườn cam. Trước khi Đoàn trình diện và đem theo tiền ăn cho mười ngày – đúng như lời “cách mạng” kêu gọi “Ngụy” quân “Ngụy” quyền – cái chòi đó là nơi Mẹ chứa than, củi và những vật dụng ít dùng.

*******

Chiếc xe Lam vừa trờ tới, Đoàn đưa tay trái đón, tay phải vẫn vịn nửa tấm ván ép. Xe dừng. Tài xế nhìn Đoàn rồi ngạc nhiên reo lên:

-Trời, Thiếu tá! Để tôi phụ với. Thiếu tá mua ván ép chi vậy? Để tấm ván ép lên sàn xe, Thiếu Tá ngồi phía trước với tôi, nhen!

Mấy người trên xe lam vừa co chân lên, có ý nhường chỗ cho tấm ván ép vừa nhìn Đoàn với ánh nhìn đầy thiện cảm. Đoàn đáp:

-Không được, chú Tư à! Để tấm ván lên mui xe đi, chú Tư.

Nghe giọng nghiêm nghị và thấy gương mặt đau buồn của Đoàn, chú Tư bảo người lơ xe phụ với chú để tấm ván lên mui xe, cột lại. Xe chạy được một đoạn ngắn, liết ngang, thấy nét mặt của Đoàn bớt đăm chiêu, chú Tư gợi chuyện:

-Thiếu Tá về hồi nào, Thiếu Tá?

-Gọi tên tôi thôi, tá tướng gì nữa mà tá!

-Dạ, bị quen miệng rồi. Thiếu Tá về luôn hay là…

Chú Tư mới nói ngang đó, Đoàn đáp ngay:

-Về luôn.

-Chà, Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến mà đi tù chưa tới năm năm là hên đó. Tôi thấy nhiều sĩ quan cấp úy, chỉ làm ở Quân Cụ hoặc Trợ Y thôi mà tới giờ chưa được về đó, Thiếu Tá.

-Mẹ tôi ủng hộ “nhà nước” ngôi nhà và vườn cam cho nên tụi nó cho tôi về; thằng Động, em tôi, vẫn còn trong tù!

-Hèn gì nghe lối xóm nói bà Cụ đã dọn ra nhà kho mà tôi chưa rảnh để ghé thăm. Ủa, bà Cụ ủng hộ nhiều vậy mà sao Đại Úy Động chưa được về?

-Ai biết được!

Ngày trước chú Tư là Nghĩa Quân, bị thương trong lần Việt cộng tấn công đồn. Sau khi được giải ngủ, chú Tư chăm sóc vườn cam cho Mẹ. Thấy Đoàn im lặng hơi lâu, chú Tư lại gợi chuyện:

-Thiếu Tá mua ván ép tính sửa nhà kho cho bà Cụ ở, phải không?

-Không, để đóng quan tài cho Quỳnh Giao – em tôi!

-Hả? Trời! Thiệt không, Thiếu Tá?

-Thằng chồng của Quỳnh Giao bị thương nặng trong trận Khánh Dương, được đưa về quân y viện Nguyễn Huệ chữa trị. Khi Việt cộng vô, Việt cộng đuổi tất cả thương binh ra khỏi nhà thương. Nghe tin, Quỳnh Giao vội đến nhà thương Nguyễn Huệ thì thấy, chồng nó – cũng như tất cả thương bệnh binh – kẻ bò, người lết dọc theo hai bên đường! Quỳnh Giao đem chồng nó về. Chỉ vài ngày sau, vì không có thuốc chữa trị, chồng nó bị nhiễm độc, chết! Chưa mãn tang chồng, Quỳnh Giao bị một thằng công an Việt cộng theo đuổi, dụ ngon dụ ngọt là nếu Quỳnh Giao lấy nó thì nó sẽ làm mọi cách để bảo bọc Quỳnh Giao và Mẹ tôi khỏi đi kinh tế mới; ngược lại, nếu Quỳnh Giao không lấy nó thì nó sẽ đề nghị Trên bắt Quỳnh Giao và Mẹ tôi phải đi kinh tế mới ngay. Quỳnh Giao quẩn trí, mua thuốc giết chuột, uống!

Chú Tư thở dài, im lặng. Đến nơi chú Tư dừng xe ngay đường mòn dẫn vào nhà kho của Mẹ rồi chíp miệng:

-Tội nghiệp cho gia đình của Thiếu Tá quá! Tôi đem xe về trả rồi tôi qua ngay, phụ với Thiếu Tá. À, Thiếu Tá có cưa, đinh, kềm, búa gì không?

-Không. Chú có gì đem cho tôi mượn.

Chú Tư “dạ” rồi rồ xe, chạy. Đoàn ì ạch vác nửa tấm ván ép đi theo đường mòn bên hè nhà cũ của Mẹ, vào sâu trong vườn cam. Những trái cam vàng hườm, bóng lưởng, lủng lẳng trên cành thật tương phản với bao tử lép xẹp và tâm hồn héo khô của Đoàn.

Mẹ bơ phờ ngồi ngang ngạch cửa. Gió lùa từng khóm tóc bạc lòa xòa trên gò má nhăn nheo. Đoàn nhìn Mẹ, thấy nước mắt vẫn còn đọng nơi khóe mắt của Mẹ. Mẹ hỏi:

-Con có mua vàng bạc, đèn cầy cho em không, con?

-Dạ, tiền không đủ mua tấm ván ép, con phải mua nửa tấm. Con chỉ trả trước được một ít, còn lại, dì Bảy cho thiếu chịu, khi nào mình đi kinh tế mới, Dì sẽ gỡ vài tấm “tôn” trừ nợ.

Mẹ thở dài, quẹt nước mắt, trở vào ngồi bên xác Quỳnh Giao. Đoàn dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái “đo” xác của Quỳnh Giao, xong, Đoàn bước ra gốc cam vừa khi chú Tư trở lại với những dụng cụ cần thiết. Thấy Đoàn có vẻ đắn đo, suy nghĩ, chú Tư hỏi:

-Sao? Thiếu Tá tính gì đó?

-Chắc hụt, chú Tư à!

-Chà, hụt nhiều không, Thiếu Tá?

-Thiếu một tấm dọc.

-Cha! Quan tài mà hụt, khổ quá! Hay là Thiếu Tá ra mua nửa tấm nữa.

-Mua nửa tấm này mà còn thiếu chịu; ai bán thêm nữa mà mua!

Chú Tư thở ra, chưa biết cách nào giúp Đoàn thì Đoàn nhìn quanh, vẻ chán nản. Bất ngờ Đoàn chỉ lên vách, tiếp:

-A, cạy tấm ván chỗ đó, cưa ra, chắp lại, chắc đủ đó, chú Tư.

-Ai lại làm vậy! “Nghĩa tử nghĩa tận”, phải có miếng ván đàng hoàn chớ ai lại lấy ván mục. Hơn nữa, lấy miếng ván đó thì chỗ đâu cho bà Cụ và Thiếu Tá che nắng, đụt mưa?

-Chúng tôi không có nguồn lợi tức, được lệnh đi kinh tế mới rồi, sá gì cái chòi này nữa, chú!

Cả hai hì hục đo/cưa xong tấm ván ép, chú Tư hỏi:

-Khăn, áo liệm, Thiếu Tá lo hết rồi, phải không?

-Lấy gì mua vải xé khăn cho nó? Mẹ tôi bảo mua đèn cầy và vàng bạc mà tôi còn không mua nổi! Lúc nãy may mà chú không lấy tiền xe lam, nếu chú lấy tiền có lẽ tôi phải khất, chờ lo đám tang cho em tôi xong, tôi làm lơ xe cho chú, trừ nợ!

Vừa lấy tiền từ túi quần, chú Tư vừa chíp miệng:

-Thiệt, thời bao cấp này còn tệ hơn chính sách “bần cùng hóa nhân dân” thời Việt Minh nữa!

-Chú còn trẻ, làm sao biết chính sách “bần cùng hóa nhân dân” của tụi nó được?

-Ông Già của tôi kể lại.

Đoàn cười buồn. Chú Tư đưa tiền cho Đoàn, thúc:

-Thiếu tá cầm số tiền này để lo hậu sự cho cô Quỳnh Giao. Để tôi đóng quan tài. Thiếu Tá chạy đi mua vải đi. Kệ, mình nghèo thì nghèo từ ngày tụi nó vô đây chứ mới nghèo đây sao mà sợ!

-Cảm ơn chú Tư. Dù trôi dạt chân trời/góc biển nào, tôi cũng nguyện sẽ trả lại chú số tiền này.

Khi trở về, Đoàn bảo:

-Chú Tư! Tôi ghé trụ sở xã, gặp Trung Úy Trụi, xin giấy phép chôn cất. Tên Trụi bắt tôi phải đóng tiền phạt về cái chết của em tôi!

-Trời đất quỹ thần! Từ đâu mà tụi nó bày ra tiền phạt người chết vậy?

-Tên Trụi bảo rằng nước nhà thống nhất, miền Nam được “giải phóng”, mọi điều đều có đảng và nhà nước “no”, tại sao phải tự tử? Sau khi tôi đóng tiền phạt, tên Trụ lại bảo hôm nay có phái đoàn từ Hà Nội vào tham quan, mai mới cấp giấy phép được.

-Cha, sao vậy cà? Hồi xưa giờ mình coi ngày giờ tốt để hạ huyệt; bây giờ phải chờ giấy phép rủi gặp ngày giờ xấu thì sao?

-Tụi vô thần mà, ai biết được!

Đoàn đem vàng bạc/nhan/đèn và miếng vải trắng vào để Mẹ làm khăn tang cho Quỳnh Giao; vì Quỳnh Giao chết trước, chưa kịp để tang cho Mẹ! Lúc trở ra, Đoàn nghe chú Tư than:

-Tội nghiệp, bà Cụ già cả, hiền lành, sao gặp chuyện buồn không hà!

-Trong trái tim của Mẹ tôi có hình bóng ba người đàn ông thân yêu nhất trong đời. Hai người như dòng động mạch, mang dòng máu trong lành đi khắp châu thân của Mẹ; một người như dòng tĩnh mạch, mang lượng máu đen về, làm rã rời tim Mẹ!

Không thể nào chú Tư hiểu được câu nói đầy ý nghĩa của Đoàn. Chú Tư sắp mấy tấm ván ngay ngắn rồi trao Đoàn cái búa:

-Để tôi ráp. Thiếu Tá ra bếp gỡ tấm ván đi; gỡ xong, mình cưa, ráp luôn một thể.

Đoàn lẳng lặng cầm búa bước đi. Nghe tiếng Mẹ khóc tức tưởi bên kia vách, Đoàn chợt nhớ và không hiểu tại sao mấy hôm nay chưa một lần chàng khóc em! Đoàn cố nhẹ tay và lựa thế để tấm ván cũ không bị bể. Vừa nạy xong tấm ván, Đoàn nghe tiếng chân người chạy rồi tiếng hét:

-Phá hoại tài sản nhân dân! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!

Đoàn ngơ ngác nhìn quanh, thấy hai tên công an chạy tới, theo sau là đám trẻ con. Đoàn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì một tên công an chỉ vào mặt Đoàn:

-Anh kia! Ai cho anh phá hoại tài sản của nhân dân, hả?

-Vườn cam Mẹ tôi ủng hộ nhà nước; ngôi nhà lớn Mẹ tôi ủng hộ “cách mạng” làm trụ sở xã, còn cái chòi này…

Tên công an cướp lời Đoàn:

-Anh thật chả hiểu biết gì cả mà còn “ný nuận”! Đã cải tạo mấy năm mà vẫn chưa thấm nhuần tinh thần “cách mạng”! Mai mốt cụ Bà đi kinh tế mới, nhà này không thuộc về nhân dân thì thuộc về ai, hả?

-Nhưng bây giờ tôi cần một tấm ván để ghép quan tài cho em tôi!

Tên công an khác “xía” vô, luận điệu “tam vô”:

-Ôi, chết “nà” hết, chôn bằng gì chả được! Ở trại cải tạo anh thấy có ai chết được chôn bằng chiếu hay không chứ đừng nói đến quan tài!

Đoàn nghiến răng, nhìn hai tên công an rồi bất chợt Đoàn cất tiếng hát – như một người điên – ca khúc mà ngày xưa ở liên khu V chính trị viên thường tập cho trẻ em hát để nuôi căm thù: “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn!... Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành ... bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình…”(2) Nhận ra bài ca này là của “bên thắng cuộc”, hai tên công an hơi nhạc nhiên, chưa phản ứng kịp thì chú Tư run quá; vì chú Tư tưởng rằng Đoàn bị điên thật! Đoàn từ từ gục xuống, bậm tay đấm vào thân cây cam, gào lên:

-Anh em tao bị tù đày. Em gái tao, em rể tao chết. Mẹ tao phải ở nơi nhà kho này, đủ cực khổ bần hàn chưa? Bao nhiêu lợi quyền đã qua tay chúng bay rồi, chưa đủ hả?

Lúc này mọi người mới hiểu thâm ý mỉa mai sâu sắc của Đoàn khi chàng hát một phần của bài “cách mạng” để lên án “cách mạng”. Một tên quát:

-Địt mẹ! Câm mồm ngay! Muốn đi cải tạo “nại” hả?

Nghe ai ca mấy câu trong bài hát của Việt Minh rồi lại nghe tiếng cãi nhau, Mẹ che cặp mắt sung vù, bước ra. Thấy dáng Đoàn rũ rượi và đôi mắt đầy thống hận, Mẹ can ngăn:

-Đoàn ơi! Thôi đi, con!

Không để ý đến lời của Mẹ, Đoàn bậm môi, nhìn hai tên công an với thái độ khinh khỉnh, chưa kịp nói gì thì trung úy Trụi cùng toán công an chạy đến, khoát tay cho đám trẻ con và mọi người:

-Im! Phái đoàn của Thượng Tá đang tham quan, sắp đến rồi. Im hết!

Một toán công an và bộ đội ôm súng, đi chầm chậm hai bên xe. Trên xe, cạnh tài xế là một Thượng Tá cao niên, vóc dáng gầy gò, gương mặt khắc khổ, cằn cỗi như lòng mương dẫn thủy ở Phú Nhiêu vào mùa Hạ!

Xe từ từ chạy đến. Trung Úy Trụi và nhóm công an đưa tay chào. Chiếc xe bỗng dừng lại. Thượng Tá bước xuống, đến trước mặt trung úy Trụi khiến chàng ta mất bình tĩnh, mặt xanh mét. Với giọng Trung nhẹ nhàng, Thượng Tá chỉ vườn cam chi chít trái:

-Vườn cam của ai mà sai trái quá! Trung úy về viết giấy khen gửi cho người “sở hữu” vườn cam này. Phải chính trị như vậy nhân dân mới “hồ hởi”, phấn khởi tăng gia sản xuất.

Vừa nói Thượng Tá vừa mỉm cười vừa gật gù ra vẻ rất hài lòng về chuyến tham quan này.

Dù gương mặt của Thượng Tá đã nhuốm phong trần, nhưng giọng nói đó, sóng mũi đó và vừng trán đó khiến Mẹ cảm thấy run tay, mất bình tĩnh! Mẹ chưa biết phản ứng như thế nào thì trung úy Trụi chỉ vào Mẹ:

-Thưa Thượng Tá, vườn cam của cụ Bà đây. Cụ Bà đã “tình nguyện!” ủng hộ “cách mạng” vườn cam và ngôi nhà. Cụ Bà rất xứng đáng được nhận giấy khen của ủy ban nhân dân cách mạng xã.

Thượng Tá nhìn Mẹ. Bốn mắt giao nhau. Mẹ run rẩy cầm tay Đoàn, gọi khẽ “Đoàn ơi!” Đoàn cũng vừa nhận ra nhân dáng và giọng nói của người Cha sau mấy mươi năm xa cách. Vội nhìn vào tay trái của Thượng Tá để xác định, Đoàn thấy chiếc vòng bằng “inox” ngày xưa Mẹ đeo vào tay Ba vẫn còn đó. Thượng Tá, Mẹ và Đoàn đều ngỡ ngàng, bàng hoàng và lúng túng nhìn nhau. Bất ngờ Mẹ kéo tay Đoàn, giọng đanh lại, hét lớn như muốn trút tất cả uất hận/oán hờn:

-Thứ “cõng rắn cắn gà nhà”! Quân cướp nước chứ giải phóng cái gì! Đi, Đoàn! Đem tấm ván tới đóng quan tài cho em!

Đoàn bước theo Mẹ, nhưng quay lui nhìn Ba. Những nhánh cam gai gốc che khuất khuôn măt sững sờ của Thượng Tá!...

ĐIỆP MỸ LINH

Blog Archive