Showing posts with label Philato. Show all posts
Showing posts with label Philato. Show all posts

Wednesday, February 19, 2020

CÂU CHUYỆN VỀ MỘT NGƯỜI CHÔN PHÍCH TRUNG QUỐC

Nguyễn Quang Thiều

Bây giờ nói đến phích con công Trung Quốc có lẽ chỉ những người ở thế hệ 60 tuổi như tôi trở lên mới biết rõ. Đó là những năm của thập nien 50, 60 và 70 của thế kỷ trước, miền bắc Việt Nam ngập tràn những sản phẩm của Trung Quốc như phích, đài, quạt, xe đạp, chăn, họa báo, tranh dán tường và trước tác của mao Trạch Đông. Hồi đó, nhà nào có được cái phích, chiếc đài, cái xe Trung Quốc thì cũng thuộc diện gia đình đặc biệt. Nhưng có một người nông dân làng tôi, ông C, có được một cái phích con công Trung Quốc. Vì sao ông C lại có ? Vì ông có người em làm ở Bộ Ngoại giao. Ông cán bộ Bộ Ngoại giao có đi sứ ở Trung Quốc. Khi hết nhiệm kỳ trở về, ông tặng cho anh mình một cái phích Trung Quốc.

Cái phích là một tài sản lớn của ông C và cũng là niềm tự hào của ông vì có đứa em là một nhà ngoại giao. Phích là để dùng hàng ngày, nhưng ông lại ít khi dùng trừ những dịp đặc biệt trong năm. Khi không dùng đựng nước nóng, ông cho chiếc phích vào tủ kính và khóa chặt lại nhưng cứ đôi ngày lại mang ra lau chùi cẩn thận. Hễ có ai đến chơi, ông lại nói về chiếc phích và câu cuối cùng là : “ Phích Trung Quốc là nhất thế giới’’.

Nhưng vào ngày 17 tháng 02 năm 1979, ông đã mất đứa con trai yêu quí của mình tại Lạng Sơn trong cuộc chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Ngày đó, làng Chùa của tôi có 5 chàng trai đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Trung Quốc. Khi nghe đài thông báo Trung Quốc đã tấn công toàn biên giới phía bắc, ông đã không tin vào tai mình. Ông chạy khắp làng hỏi mọi người có đúng việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam đốt phá nhà cửa và tàn sát dân thường không. Khi biết đó là sự thật, ông đã ngã quỵ xuống sân và khóc rống lên. Và đau đớn hơn là khi ông nghe tin con trai ông đã hy sinh trong ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Trung Quốc. Ông như người tâm thần không ăn, không uống và lang thang trong làng, ngoài cánh đồng và không nói một câu gì.

Rồi đến buổi chiều hơn một tháng sau , người ta thấy ông vác một chiếc mai và tay xách chiếc phích con công Trung Quốc mà ông coi đó như một báu vật lặng lẽ ra cánh đồng. Mọi người nhìn theo ông không biết chuyện gì đang xẩy ra với ông. Đến cuối cánh đồng, ông đào một cái hố rồi ném chiếc phích Trung Quốc xuống. Lấp đất đầy chiếc hố chôn chiếc phích rồi cứ thế dậm chân lên như nèn cho thật chặt để không bao giờ phải nhìn thấy chiếc phích nữa. Vừa dậm chân, ông vừa gào to :’’ Tao chôn chúng mày xuống đất. Tao đời đời kiếp kiếp nguyền rủa chúng mày’’.

Mấy ngày sau người em làm cán bộ ngoại giao về thăm ông, ông nói với người em nếu không chôn hết những gì của Trung Quốc có trong nhà thì ông sẽ từ mặt người em và không bao giờ cho người em được đặt chân vào ngôi nhà của tổ tiên, ông bà họ mà ông đang trông giữ. Tôi không biết người em ông có đủ can đảm chôn hay vứt bỏ hết những hàng hóa mà ông mang từ Trung Quốc về trong thời gian làm việc ở sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc không. Nhưng người làng tôi nói, từ sau những ngày ấy, họ rất ít thấy người em ông C về thăm ông.

Có lần, ngồi uống trà với ông C, tôi hỏi ông: gia đình ông cũng có những người thân hy sinh trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ mà sao ông không mang nỗi hận thù đau đớn như đối với xâm lược Trung Quốc? Ông trợn mắt, nói như quát : ‘’ Chú cũng học hành mà ngu. Vì sao à ? Vì thằng Trung Quốc là đồ phản bội. Miệng nó nói hảo hảo nhưng mưu mô của nó với người Việt Nam độc ác hơn quỉ dữ. Hàng ngàn năm nay nó chưa bao giờ thực lòng với người Việt Nam thế mà tôi cũng ngu vì tin nó. Thà nó cứ rõ ràng như thằng Pháp, thằng Mỹ lại là chuyện khác’’.

Rồi tôi đi làm xa ít có dịp về làng. Chỉ nghe người làng kể lại rằng, thi thoảng ông vẫn ra cuối cánh đồng, nơi chôn phích Trung Quốc rồi cứ dậm chân nèn chặt đất như sợ cái phích trồi lên. Và cho đến khi chết, cứ lúc nào nhìn thấy thứ gì của Trung Quốc là ông lại gầm lên.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đã đi qua 40 năm. Nhưng tất cả những gì xẩy ra mới như ngày hôm qua. Không có gì và không có kẻ nào che được lịch sử. Người làng tôi thời đó hầu như đều biết câu chuyện chôn phích Trung Quốc của một người nông dân có tên là C. Tôi nhận thấy rằng: khi ông chôn chiếc phích Trung Quốc xuống đất lại là lúc ông mở ra một sự thật. Và tôi chỉ là người chép lại một trong hàng triệu triệu câu chuyện về thái độ của người dân Việt Nam đối với nhà cầm quyền Trung Quốc mà thôi.

Friday, April 19, 2019

Cột Cờ Đầu Tiên Trên Đất Mỹ

Tác giả: Philato

Sau 30/4/75, Quốc Kỳ VNCH tại tòa lãnh sự ở San Francisco là lá cờ sau cùng bị kéo xuống. Mười năm sau, một ngày tháng Ba 1985, cũng chính lá cờ ấy được kéo lên tại cột cờ đầu tiên của người Việt tại Little Saigon. Từ đây, quốc kỳ chính thức tung bay trên đất Mỹ suốt 30 năm qua. 

Thêm một tháng Tư đang trở lại, mời cùng đọc câu chuyện về Lá Cờ Cuối Cùng và Đầu Tiên... Tác giả Philato, giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014, tên thật Tô Văn Cấp, sinh năm 1941, từng là một đại đội trưởng thuộc TĐ2/TQLC, đơn vị có biệt danh Trâu Điên.

* * *

Cột cờ đầu tiên tại Little Saigon.

Sau khi tham dự lễ chào Quốc Kỳ VNCH tại tượng đài Việt-Mỹ, Westminster CA, chúng tôi đến thăm Mũ Xanh Lý Khải Bình, con chim đầu đàn đã thành lập và hướng dẫn các cháu thế hệ thứ hai TQLCVN với cái tên Young Marines (YM).

Khải Bình mới giải phẫu nên trông rất mệt mỏi. Chàng nằm dài trên salon, hai tay ôm chặt cái gối hình trái tim màu vàng có 3 sọc đỏ, đè lên ngực để giảm cơn đau xuống. Khách và chủ chỉ xiết tay nhau, truyền hơi ấm mà không nói lên lời, hồi lâu mới nghe khách hỏi:

- Khá không, ăn được chưa?

- Còn đau lắm, uống tí sữa “en-sua” mà nó muốn dội ra, anh đi..., anh đi...

- Anh đi chào cờ đầu tháng ở tượng đài rồi đến thăm chú, thấy chú đau mà còn ôm “quốc kỳ” thì thế nào cũng chiến thắng bệnh tật. Ai tặng chú cái gối nhung đẹp thế?

- Người tình của em đó.

- Thông thường vào ngày cưới, cô dâu chú rể được tặng cho cặp gối thêu hình đôi chim bồ câu mớm mồi với ý nghĩa yêu thương và hòa bình, còn cái gối nhung hình trái tim mang biểu tượng cờ vàng 3 sọc đỏ do người tình tặng chắc có ý nghĩa đặc biệt?

Nghe nhắc tới cờ vàng và người tình, mắt Bình sáng lên như thêm sức sống, chàng chống tay xuống nệm, nhúc nhích cái mông lui về phía sau cho lưng dựa vào thành salon, nửa ngồi nửa nằm cho dễ nói chuyện, như quên cái đau, Bình mỉm cười:

- Tuổi thọ cái gối này đã hơn 30 năm rồi đó, ngày đầu tiên thượng kỳ VNCH trên phố Bolsa, người tình tặng em, em giữ kỹ để làm kỷ niệm nên gối như còn mới, và người tình xưa, nay là mẹ của con gái em, cháu YM Minh Thư, vẫn trẻ đẹp như ngày nào.

Cùng cười nhưng người mới giải phẫu phải nghỉ để lấy hơi. Sau giây lát tần ngần, Khải Bình hỏi:

- Anh có biết lá Quốc Kỳ VNCH sau cùng bị hạ xuống và lần đầu tiên được kéo lên trên đất Mỹ sau 30/4/1975 là ở đâu và vào thời gian nào không?

- Anh có nghe sau 30/4/75, Quốc Kỳ VNCH tại tòa lãnh sự ở San Francisco là lá cờ sau cùng bị kéo xuống, còn lá cờ đầu tiên được kéo lên khi nào và ở đâu thì chịu.

- Cờ sau cùng cũng chính là cờ đầu tiên đó, để em kể đầu đuôi cho anh nghe...

Bình chưa nói hết câu thì lấy tay chặn ngực, không hiểu do xúc động hay tại nói nhiều làm Bình đau, có thể cả hai. Mặc dầu chuyện Bình sắp kể khá hấp dẫn nhưng để tránh “quá khứ làm đau hiện tại” nên tôi kiếm cớ “bận”, phải đi, sẽ trở lại sau. Bình bảo:

- Em muốn ôm cái gối này mãi (Quốc Kỳ) chứ chưa muốn “phủ cờ”, chuyện thượng kỳ đầu tiên trên phố Bolsa, Little Saigòn, thủ đô tỵ nạn CS, em chưa kể ai nghe, nếu anh không thích nghe thì em... “mang theo”.

Là đồng đội, đã từng dựa lưng vào mà nhau chống tử thần để bảo vệ lá cờ, nay thấy chú em ôm lá cờ, giọng tha thiết muốn kể lại câu chuyện lá cờ đầu tiên được kéo lên trên đất Mỹ thay cho lá cờ bị kéo xuống trong ngày Quốc Nạn 30/4 thì dẫu trái tim có bằng đá cũng phải chẩy nước.

Cũng có thể được kể lại kỷ niệm oai hùng sống động của tuổi trẻ, kỷ niệm đơn vị cũ chiến trường xưa cho người khác nghe là một liều thuốc tiên khiến trăm bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ nên tôi hẹn với Lý Khải Bình:

- Mai anh trở lại, ăn được “phở” không, phở có bánh, có thịt, có nước lèo?

- Yes Sir, “mai ăn phở khỏi trả tiền”, vừa ăn vừa kể chuyện thượng kỳ VNCH.

*

Vào khoảng năm 1983-85, Việt Cộng và tay sai cấu kết với băng đảng tội phạm trà trộn hoạt động ngầm phá hoại Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam tại Bolsa, California, chuyện nổ súng, thanh toán nhau trong các nhà hàng, vũ trường rất thường xẩy ra.

Theo điều tra của chính quyền địa phương thì mức độ tội phạm ngày càng gia tăng khiến người dân lo sợ, người Mỹ thuộc “dòng chính”, coi thường nếu không muốn nói là kỳ thị dân tỵ nạn, càng ngày họ càng muốn xa lánh Bolsa!

Nhận thấy đây là một âm mưu thâm độc, bọn tay sai VC muốn biến cộng đồng tỵ nạn CS thành một nhóm tha phương cầu thực, mất hết ý nghĩa của hai chữ “tỵ nạn” nên phong trào chống Cộng bùng lên, sinh hoạt chính trị được phát động mạnh mẽ khắp nơi, trong đó việc quan trọng nhất là xác định:

- Không vượt biển, vượt biên nữa, đây là đất của ta, Bolsa là nhà của ta, Quốc Kỳ VNCH phải được tung bay trên bầu trời này, “tụi bay” đi chỗ khác.

Do đó Ủy Ban Xây Dựng Kỳ Đài (UBXDKĐ) cùng Ban Cố Vấn đã hình thành để vận động với chính quyền địa phương về mặt pháp lý, cũng như địa điểm và tài chính để xây dựng Kỳ Đài VNCH đầu tiên sau 10 năm bị bức tử.

Địa điểm thì UBXDKĐ thấy lý tưởng và ưu tiên một là trên trục chính đường Bolsa, thành phố Westminster, vì đây là khu trung tâm của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản.

UBXDKĐ gồm có năm cựu quân nhân QLVNCH và một sinh viên là:

1/ Nghi Thụy (đài Truyền Hình Việt Nam).

2/ Lữ Mộc Sinh (cựu Lực Lượng Đặc Biệt).

3/ Việt Trí Cường, tự Cường Cụt (cựu Lôi Hổ, cụt hai chân).

4/ Cao Xuân Huy (cựu Thủy Quân Lục Chiến).

5/ Lý Khải Bình (cựu Thủy Quân Lục Chiến).

6/ Nguyễn Hùng (sinh viên thuộc Hội Hồng Thập Tự VNCH).


Ban cố vấn gồm có ba người là:

1/ Ông Trần Duy Hòe (cựu Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt).

2/ Ông Tony Lâm Quang (Văn phòng Dịch Vụ Pháp Luật).

3/ Ông Tony Diamond (Cựu Trung Tá-Hội Brotherhood of Veterans).

Địa điểm dựng cột cờ là vấn đề quan trọng, phải ở trung tâm, trên con đường chính Bolsa, nơi ai đến “thủ đô” tỵ nạn đều trông thấy, đều phải đi dưới Quốc Kỳ VNCH, nhưng vào thời điểm 1984-85 dân ty nạn chân ướt chân ráo thì làm sao có đất, nhất là đất vàng vùng Little Saigòn. Đất vùng này đa số là của công ty Bridgecreek Development Group Inc. do ông Triệu Phát là giám đốc và Dược Sĩ Quách Nhứt Danh là cổ đông viên, cả hai đều là những nhà kinh doanh. Ông Triệu Phát dĩ nhiên là triệu phú rồi, không gốc “lính” nên hơi khó vận động... Nhưng là chỗ quen biết với ông Tony Lâm Quang và Thị Trưởng Thành Phố Westminster là bà Cathy Buchoz, và may mắn hơn nữa là Dược Sĩ Quách Nhứt Danh là “Hội Viên Danh Dự” của Hội TQLC Nam Cali, cũng là bạn của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế cựu Y Sĩ trưởng TQLC và có họ hàng và ân tình với MX/Lý Khải Bình.

Vậy là mọi người nhảy vào vận động và cuối cùng thì công ty Bridgecreek Development Group đã tặng cho UBXDKĐ một vị trí “đắc địa”, ngay trên đường Bolsa, khu vực phở Nguyễn Huệ và nhà hàng Đồng Khánh* ( tên cũ, nay là Hương Đồng Cỏ Nội).

Có đất là có tất cả nên mọi hoạt động được tiến hành mau chóng để được phất cao ngọn cờ chính nghĩa với tinh thần quân dân cùng làm, quả quyết, tự tin. Nhưng cũng chẳng dễ dàng gì mà đôi khi phải đối phó với hiện tượng mới: “chống đối”.

Khi tin tức dựng cột cờ được công khai phổ biến thì có truyền đơn rơi, thư hăm dọa nhắm vào nhóm anh em quân nhân khởi xướng tức UBXDKĐ khiến anh em phải lưu tâm đề phòng, nhưng vẫn tiến hành công việc sao cho nhanh.

Sau một thời gian ngắn vận động, quyên góp tài chành được gần $40,000, một Kỳ Đài cao 40 bộ do một công ty Hoa Kỳ địa phương xây dựng theo đúng luật lệ hiện hành và đã sẵn sàng cho ngày thượng kỳ Việt Mỹ.

Lẽ ra là phải có hai cột, nhưng vì địa thế hạn chế nên chỉ dựng được một cột mà thôi. Những ngày đầu, Quốc Kỳ Hoa Kỳ và VNCH được thượng lên bằng hai dây nhưng cùng một trụ, nhưng hai lá cờ luôn bị quấn lấy nhau, không bay được nên UBXDKĐ đã phải gắn thêm một thanh ngang (giống như Kỳ Đài của BTL/Hải Quân ở Bến Bạch Đằng trước 1975), mang hai ròng-rọc ở hai đầu để có thể kéo được hai lá cờ trên cùng một trụ. (Hiện nay Kỳ Đài có hai trụ là do một số anh em khác thay thế sau năm 2010).

Trước ngày thượng kỳ, để bảo đảm an ninh cho cột cờ không bị phá hoại như tin tụi “Cộng kiều” hăm dọa là sẽ ủi sập nên ba chàng “Ngự Lâm” Cao Xuân Huy, Lý Khải Bình và Lữ Mộc Sinh mang túi ngủ ra nằm ôm chân cột cờ. Bình bảo:

- Nằm đây, nó ủi cột cờ thì cho nó ủi luôn, chết theo cờ.

Cao Xuân Huy sẵn bầu máu nóng của “Tháng Ba Gẫy Súng” nên nổi cáu:

- Bộ dễ vậy sao? Theo lệnh Tổng Thống Thiệu, nó dùng AK thì ta dùng đại liên.

Lữ Mộc Sinh cương quyết thề là:

- Tôi mà không kéo được Quốc Kỳ lên thì tôi chặt bàn tay tôi để kéo lên.

Ngoài “Ba Chàng Ngự Lâm” Huy, Bình, Sinh ôm chân cột cờ thì vòng đai ngoài, nhiều anh em cựu quân nhân khác ngồi im lặng canh chừng xem có bóng dáng những bóng ma quấy rối.

Ngày thượng kỳ đầu tiên trên đất Mỹ rất quan trọng, chứng tỏ “chúng ta hãy còn đây” sau 10 năm bị bức tử, nên ban tổ chức mời Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và các vị dân cử Westminster City. Về phía VN thì có các hội đoàn, các tổ chức chính trị cùng toàn thể đồng hương thuộc Cộng Đồng Tỵ Nạn CS từ Orange County, Los Angeles, San Jose, San Diego cùng đến tham dự. Đáng chú ý và đông nhất vẫn là các anh em cựu quân nhân, trong số này có hai niên trưởng là Tướng Nguyễn Ngọc Oánh và Tướng Nguyễn Bảo Trị.

Sáng ngày thượng kỳ đầu tiên, đồng bào đến tham dự khá đông nên một số người đã phải đứng ở lan can các văn phòng trên lầu để nhìn xuống. Nếu ai tinh ý thì thấy trong đám đông ấy có một nhân vật liên quan tới vận mệnh VNCH mà không thể không nhắc đến tên ông, đó là Phó TT Nguyễn Cao Kỳ.

Khi được báo có cựu PTT Nguyễn Cao Kỳ đang ở trên lầu khu văn phòng cựu Luật Sư Trần Sơn Hà, dù ông PTT vô tình hay cố ý đến thì TQLC Lý Khải Bình, là người trong ban tổ chức đến chào PTT và thông báo cho ông biết chương trình và giờ khai mạc.

Một điều đáng chú ý nữa là Thị Trưởng Westminster, Bà Cathy Buchoz, đã đến tham dự ngày khai mạc này trước khi cấp giấy phép chinh thức. Một nghị quyết của chính quyền thành phố Westminster được ban hành, chấp nhận trên pháp lý về sự hiện hữu hợp lý của cây cột cờ. Đó là công lao của cựu Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt Trần Duy Hòe, Tony Lâm Quang và một số chiến hữu khác từng sát cánh với ông.

Lễ Thượng Kỳ Bắt Đầu.

TQLC Nguyễn Hồ, cụt một chân, đẩy xe lăn cho Lôi Hổ Việt Trí Cường, tự Cường Cụt, hai tay Lôi Hổ Trí Cường nghiêm trang nâng hai lá Quốc Kỳ VNCH và Hoa Kỳ tiến ra kỳ đài, theo sau Hồ và Cường là hai quân nhân người Mỹ.

Một hình ảnh đặc biệt in đậm vào lòng người tham dự là hai anh Cường và Hổ kéo Quốc Kỳ Hoa Kỳ và hai quân nhân Mỹ kéo Quốc Kỳ VNCH lên theo tiếng nhạc do ban Quân Nhạc trổi lên xen lẫn tiếng Quốc Ca của tất cả mọi người.

Theo quy định thì Quốc Kỳ Mỹ, nước chủ nhà phải treo cao hơn Quốc Kỳ Việt Nam, nhưng sau khi hai lá cờ đã được kéo lên theo đúng quy định thì Trung Tá Tony Diamond trong phái đoàn Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ đã tiến đến cột cờ và kéo cờ Việt Nam lên ngang hàng với cờ Mỹ. Hành động hiếu khách của một sĩ quan cao cấp HK đã khiến một số người Mỹ phản chiến phản đối, nhưng ông Tony Diamond đã giải thích:

- “Hôm nay là ngày có ý nghĩa...”.

Đối với người viết thì cái ý nghĩa nhất trong ngày thượng kỳ này là lá Quốc Kỳ VNCH được kéo lên tung bay trên nền trời Thủ Đô của người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản lại chính là lá Quốc Kỳ VNCH sau cùng bị hạ xuống trên Đất Mỹ.

Lá cờ này của Tòa Lãnh Sự VNCH ở San Francisco, do anh Hà Học Lễ, nhân viên toà lãnh sự VNCH kéo xuống trong ngày 30/4/1975 và anh đã cất giữ trong 10 năm trời.

Anh Hà Học Lễ đã liên lạc với UBXDKĐ và trong một buổi lễ đơn giản và cảm động, anh đã trao tặng Lá Cờ Thiêng lại cho UBXDKĐ. Lá cờ của Hồn Thiêng Sông Núi Việt Nam đã bị hạ xuống, nay được vươn lên, sống lại, tung bay trên bầu trời của dân tỵ nạn CS thật là có ý nghĩa. Sau ba ngày, Cờ Thiêng đã được hạ xuống và trao lại cho ông cố vấn Trần Duy Hòe cất giữ.

Một cụ già được con đưa đến dự lễ, khi thấy cờ bay trong gió cùng tiếng ca: “Này công dân ơi...”, khiến cụ già bật khóc nức nở, người con trai cũng rưng rưng nước mắt theo nỗi niềm của người cha. Cao Xuân Huy trông thấy cũng lấy tay lau nước mắt, người ngừơi đứng dứơi chân kỳ đài cũng cùng ngước mặt lên trời, mắt ngắm Cờ Thiêng tung bay mà cũng là ngửa mặt để ngăn những dòng nước mắt tuôn rơi.

Trong bầu không khí trang nghiêm long trọng ấy, khi lá Quốc Kỳ VNCH tung bay trên nền trời Little Saigon, những ai là người chứng kiến phút giây lịch sử lần đầu tiên ấy thì không thể không rơi nước mắt, nhớ lại những ngày chào cờ dưới sân trường, trong đơn vị mà xót sa cho thân phận tỵ nạn, xót sa thấy Quốc Kỳ linh thiêng từng được giữ gìn bảo vệ bằng biết bao xương máu của những vị anh hùng vị quốc vong thân mà nay cũng phải đi tỵ nạn!

Vài hôm sau ngày thượng kỳ, dây cột cờ bằng nylon bị bọn tay sai, bọn Cộng kiều lợi dụng đêm tối đến cắt đứt! Cờ được thay dây mới, lại bị cắt đứt lần thứ hai chứng tỏ sự phá hoại hèn nhát của đám chuột ban đêm đi lục thùng rác nên anh em trong ban tổ chức thay bằng dây thép, xiết bù lon lại đồng thời giao cho những anh em trẻ gọi là “nhóm Bolsa” canh giữ.

Lữ Mộc Sinh giao phó:

- “Tụi anh đã dựng cột và treo cờ, nay trao cho các em bảo vệ cờ”.

Nhờ vậy mà Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tung bay cho đến ngày nay cũng do “anh em Bolsa” ngày ấy canh giữ. Chúng ta không biết các anh em là ai, từ đâu đến và nay thì cờ vẫn tung bay còn các anh em thì ở đâu? Các anh em là những chiến sĩ vô danh, chúng tôi nhớ ơn các anh.

Cũng cần phải nhớ đến một TQLC khác là Huỳnh Minh Châu, người tình nguyện giữ gìn lá cờ, thay cờ sao cho luôn luôn được như mới, không để cờ bị bạc màu sờn góc, sau anh Châu là những anh em thuộc Hội Quân Cảnh Nam Cali và những người khác âm thầm hy sinh nối tiếp cho đến nay hai lá Quốc Kỳ vẫn tung bay ngạo nghễ nhưng những người bảo vệ cờ vẫn không muốn lộ diện, đó là những chiến sĩ vô danh, đồng hương biết ơn các anh.

Ngày 30/4/1985, sau hơn một tháng thượng kỳ, “Đêm Không Ngủ” được tổ chức dưới chân cột cờ thật cảm động, rồi tiếp theo những năm sau đó, cứ đến ngày 30/4, đồng hương lại quây quần bên nhau tổ chức đêm không ngủ quanh cột cờ. Người người cùng xiết tay nhau, cùng hát vang những bài ca đấu tranh rồi nhớ đến những người thân đang quằn quại dưới là cờ đỏ sao vàng và hàng ngàn hàng vạn người đang tìm đường vượt biển vượt biên, chết không mồ, sống vô tổ quốc trong các trại ty nạn.

Ngày nay, sau những năm tháng đấu tranh và chờ đợi thì Quốc Kỳ VNCH đã và đang tung bay khắp bầu trời Little Saigon, thủ đô ngừơi Việt tỵ nạn CS. Vào những ngày Quốc Hận 30/4, ngày Quân Lực 19/6, Tết Nguyên Đán, Quốc Kỳ Việt Mỹ lại được treo lên trên các cột điện dọc các đường phố chính trong vùng Little Saigon như Bolsa, Westmister, Magnolia, Brookhurst.

Xa hơn nữa, khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, nơi nào có người Việt tỵ nạn CS thì có tượng đài, có Quốc Kỳ tung bay, được chính quyền địa phương ban hành nghị quyết chính thức công nhận Quốc Kỳ VN là của người Việt tỵ nạn. Nơi nào có Quốc Kỳ VN tung bay bên cạnh là Quốc kỳ Hoa Kỳ là nơi đó có người Việt Tự Do, có người Mỹ gốc Việt không chấp nhận chế độ CS, những miếng vải đỏ có sao vàng không bao giờ có thể bén mảng đến những nơi đây, kể cả người CS.

Những người CS, nếu họ có đến nơi này thì chỉ là âm thầm cúi xuống đi dưới lá Quốc Kỳ VNCH, bất cứ một manh nha nào, dù ở một nơi kín... đáo cũng bị triệt hạ ngay. Cái gương hằng chục ngàn đồng bào liên tục 40 ngày đêm chống đối hình Hồ cờ đỏ trong một cửa tiệm trên phố Bolsa (vụ trần truồng) là một thí dụ điển hình.

Cột cờ đầu tiên, lá cờ đầu tiên kéo lên trên đường Bolsa, trong khu Nguyễn Huệ, ngày nay đã được thay bằng hai cột cờ, nhưng vết tích cũ, gốc cột cờ cũ vẫn là vị trí lịch sử, là di tích khởi đầu cho những là cờ VNCH sau này tung bay khắp nơi. Hai cột cờ mới cao hơn, to hơn đẹp hơn, nhưng di tích lịch sử nếu được duy trì vẫn quý hơn.

Đồng hương Little Saigon (17/6/1988 Westminster City công nhận), đồng hương các nơi về thăm Thủ Đô tỵ nạn, mỗi khi đi trên đường Bolsa, ngang qua khu Nguyễn Huệ, thấy Quốc Kỳ Việt Mỹ tung bay thì xin nhớ đến nơi đây chính là nơi đầu tiên Quốc Kỳ VNCH đã sống lại, xin chiêm ngưỡng Quốc Kỳ và nhớ đến những Chiến Sĩ Vô Danh.

Philato

Saturday, September 23, 2017

Tiểu Đoàn Trâu Điên và người phóng viên chiến trường

Philato



 
Bức ảnh cuối cùng của người phóng viên chụp con cháu trên nóc nhà ở Phú Lâm xem Trâu Điên đánh trận Mậu Thân. Đố các anh Trâu Điên: Ai là tác giả trong “ngũ long công chúa” trong hình?

Hiện nay cộng đồng người Việt tỵ nạn CS sống trên đất Mỹ thường có một sinh hoạt rất ý nghĩa và đượm tình đồng hương, đó là những buổi họp mặt (đại hội) hằng năm của những người cùng địa phương, cùng học đường, cùng quân trường và nhất là của các cựu quân nhân cùng đơn vị. Thông thường thì đại hội được tổ chức vào những dịp có nhiều ngày nghỉ lễ, tùy theo khả năng và nhu cầu mà tổ chức mỗi năm hoặc hai năm một lần. Binh chủng TQLCVN chúng tôi thì tổ chức mỗi năm một lần, luân phiên ở các tiểu bang khác nhau. Năm 2008 chúng tôi tổ chức tại Little Saigon vào dịp July 4,, anh em Mũ Xanh các nơi về tham dự đến gần 400 người, trong đó có khá đông anh em thuộc Tiểu Đoàn 2/TQLC mang danh hiệu Trâu Điên.

Trong khi các cựu Trâu Điên đang vui vẻ ôn lại chuyện đồng đội cũ chiến trường xưa thì vị cựu tiểu đoàn trưởng ra hiệu yên lặng rồi ông mở tờ báo KBC/HN ra cho mọi người xem bài viết của tác giả Ngọc Anh với tựa đề “Người Yêu Trâu Điên.” Bên lề bài viết là tấm hình của một phụ nữ rất duyên dáng với áo dài trắng, tóc xõa bờ vai nhưng đôi mắt thì quá buồn. Bầu không khí buổi họp mặt bỗng sôi động hẳn lên, có nhiều tiếng huýt sáo y như ngày nào năm xưa khi em “gái” hậu phương đến thăm anh “trai” ngoài tiền đồn biên giới.

Ngọc Anh với “Người Yêu Trâu Điên”


Tác giả “Người yêu Trâu Điên.”

Chưa biết nội dung nói gì nhưng ai cũng đòi người anh cả đơn vị cho cầm tờ báo để ngắm người đẹp, người đẹp giữa chốn ba quân, khiến nét mặt anh cả tươi vui với giọng nói trẻ trung như ngày xưa ra lệnh trước hàng quân:
– “Ai là thủ phạm, ai là ‘Người Yêu Trâu Điên’ thì bước ra khỏi hàng.”

Thật bất ngờ, mấy chục “ông già” trong quân phục rằn ri sóng biển cùng nhất loạt đứng lên đưa cao tay, miệng hô lớn:
– “Em, chính em, chính là em.”
– “Thưa đại bàng, không phải thằng đó, em mới chính là thủ phạm.”

Nếu tác giả Ngọc Anh, dù là nam hay nữ, mà nhìn thấy cảnh này chắc chắn sẽ cảm động lắm, chỉ với cái tựa bài viết thôi mà đã khiến những cựu quân nhân già cỗi nơi hải ngoại bỗng trở lại thành những người lính trẻ trung oai hùng năm xưa, vui thật là vui.

Trước tình thế khó xử, biết trao “người đẹp” cho ai bây giờ nên anh cả liền bắt bí:
– “Trâu Điên nào đã tham dự trận đánh vùng Phú Lâm hồi Tết Mậu Thân đưa tay lên.”

Tất cả các cánh tay lại đồng loạt đưa thẳng lên như năm xưa tuyên thệ ngày mãn khóa tại vũ đình trường, trong đó có nhiều anh khi trận Mậu Thân xẩy ra thì còn là học sinh. Anh cả mỉm cười vì ai cũng muốn “tự giác”… nên ông đành trao tờ KBC/HN cho một người rồi ra lệnh:
– “Trận Mậu Thân. cậu là một trong hai đại đội trưởng chịu trách nhiệm giải tỏa khu vực mũi tàu Phú Lâm, hãy cầm tài liệu này về điều tra xem ai là người bị tác giả N.A khiếu nại.”

Mọi người cùng cười, chỉ một tựa bài viết mà làm không khí sinh động hẳn lên, mọi Trâu Điên cùng nâng ly chúc mừng sức khỏe giống như nâng ly mừng chiến thắng Phụng Dư, Đầm Giơi, Cổ Thành, v.v… Tôi đưa tay nhận tờ KBC/HN như nhận tấm bằng tưởng lục.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết “Người Yêu Trâu Điên,” tất cả những gì tác giả N.A. ghi lại đều có liên quan đến cuộc hành quân  hon 40 năm về trước của đơn vị tôi. Tôi tự hỏi không lẽ lại có sự trùng hợp lạ lùng đến thế sao? Đây phải là một câu chuyện có thực.

Nội dung câu chuyện nói về thân phụ của tác giả là một phóng viên chiến trường, ông đi theo Tiểu Đoàn Trâu Điên đề chụp hình quay phim những trận đánh trong thành phố Saigon Tết Mậu Thân. Trong những hình ông chụp có một tấm hình đẹp của người lính Trâu Điên và ông đã tặng tấm hình đó cho con gái khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Đệ Lục trường Gia Long…

Thân phụ N.A. đã kết thân với người lính ấy và mỗi khi họ trò chuyện bên nhau thì cô bé chăm chú nhìn hình con trâu trên vai áo trận rằn ri. Rồi người lính ấy di chuyển đi nơi khác khiến cô bé bâng khuâng và khi VC tấn công đợt 2 thì thêm một đại họa bất ngờ ập đến với tuổi thơ, thân phụ tác giả đã bị VC hạ sát trong lúc đang thi hành công vụ!

Xin phép tác giả cho tôi trích một vài đoạn trong bài viết “Người Yêu Trâu Điên” để đem so sánh với những gì đã xẩy ra 40 năm về trước ở đơn vị tôi khi tham dự trận Mậu Thân:

(trích)
– Anh Trâu Điên yêu dấu.

Khi viết năm chữ này, trái tim em đập những nhịp bất thường, ngón tay cầm viết cũng run rẩy. Trước mặt em là tấm hình đen trắng…

Anh Trâu Điên biết mà, tấm hình này chính Ba em chụp cho anh… Tự nhiên Ba cầm tấm hình ngắm nghía rồi đưa cho em, nói:
– “Tấm hình này đẹp quá, muốn giữ không con?”
Tấm hình Ba khen đẹp quá, em đã ép trong cuốn nhật ký nhỏ, giấu kín giữ cho riêng em mà thôi…

Tháng Năm năm Mậu Thân, VC lại tấn công thủ đô lần thứ 2.

Buổi sáng hãi hùng đó, không có anh Trâu Điên, Ba em đã đi luôn…

Không, Ba có trở về bằng thân xác còn nóng hổi, máu còn chảy ra linh láng, ướt hết quần áo em! Hai chị em yếu đuối đã vác xác Ba về…

Lá thư này em viết nhưng không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Điên ở nơi nào trên mảnh đất đầy thống khổ…. Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, ngươi bạn trẻ của Ba, hình ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Em giữ mãi lá thư không gửi trong cuốn nhật ký…”

Với lòng mong mỏi anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa… (quý vị nào muốn đọc tòan bài viết xin tìm trên Việt Báo online hay email cho:

Thực sự tôi chưa biết rõ tác giả Ngọc Anh là nam hay nữ, nhưng tấm hình kèm theo bài viết thì là hình của “cô” Phượng Tím, người cùng với “anh” Dương Thượng Trúc phụ trách mục “Thư Hậu Phương, Thư Tiền Tuyến” trên báo KBC/HN. Tiết mục này tương tự như hộp thư “Dạ Lan” của đơn vị tôi ngày xưa, chuyên gửi những lá thư tình của em gái hậu phương cho anh lính tiền tuyến khiến nhiều anh tưởng thật, mơ một ngày về phép đến rủ em Dạ Lan dạo phố. Nhưng thực sự thì cô “Dạ Lan” cũng chỉ là người lính chiến có súng, cầm súng như các anh mà thôi.

Nhân dịp đọc bài viết “Người Yêu Trâu Điên,” tôi xin thuật lại một vài chi tiết 40 năm về trước để giúp tác giả biêt thêm về lòng yêu nghề mà không ngại gian lao nguy hiểm của người phóng viên chiến trường. Nếu đích thực ông là thân phụ của tác giả thì xin cho tôi gửi lời chia buồn đến gia đình người quá cố, một phóng viên mà tôi quý mến..

* * *

Tết Mậu Thân 1968, TĐ.2/ TQLC đang hành quân vùng Cai Lậy, Giáo Đức, Định Tường thì được trực thăng bốc về Saigon và đổ quân xuống ngay trong sân bộ Tổng Tham Mưu, sau khi thánh toán xong tụi VC ở trường Sinh Ngữ, trung tâm Ấn Loát, cổng xe lửa số 6 thì Tiểu Đoàn Trâu Điên chia ra từng Đại Đội đi đánh các nơi khác, sau đó thì Đại Đội 1 của tôi và Đại Đội 4 của Đại Úy Vũ Dzoan được lệnh giải tỏa lực lượng địch đang chiếm khu cư xá Phú Lâm.

Chúng tôi lục soát và chiếm những mục tiêu đang có VC cố thủ trên những nhà lầu dọc theo hai con đường Hậu Giang và Lục Tỉnh để tiến về mũi tàu Phú Lâm và đài phát tuyến. Vì chiến đấu trong thành phố nên chúng tôi không được phép sử dụng pháo binh và máy bay, do đó  chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn bởi vì địch đã nằm sẵn trên các cao ốc, nhìn rõ mục tiêu, nhắm súng vào chúng tôi. Nhưng đã là lính thì phải chấp nhận hy sinh để giảm thiểu thiệt hại sinh mạng và tài sản của đồng bào.

Khi đại đội tôi tiến đến ngã tư đường Hậu Giang và Phú Định thì đụng nặng, địch khá đông đang cố thủ trong hãng pin Con Ó, cách chúng tôi một bãi đất trống và hỏa lực rất mạnh. Đã mấy tiếng đồng hồ rồi mà quân ta chưa tiến thêm được bước nào mà bị thương và tử trận ngày càng tăng cao trong khi thượng cấp thì ra lệnh phải tiến “bằng mọi giá”!

Chúng tôi phải xin tăng cường xe thiết giáp để TQLC tùng thiết* (*có nghĩa là bộ binh và thiết giáp che chở yểm trợ cho nhau cùng tiến), cấp trên đã biệt phái xuống cho tôi một thiết giáp M41. Chỉ một chiếc thôi thì chưa đủ, nhưng có còn hơn không nên tôi cho lệnh Trung Đội đi đầu của Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang chuẩn bị “tùng thiết” để vượt qua khoảng trống, chiếm mấy cao ốc trước mặt, thiết lập đầu cầu. Tiến như thế rất nguy hiểm nhưng phải theo lệnh cấp trên.

Khi xe và quân tùng thiết tiến lên thì tôi bất ngờ trông thấy anh phóng viên chiến trường núp sau pháo tháp và đang đưa máy hình lên chụp. Anh ta đã đi theo đơn vị tôi lao vào lửa đạn cả ngày rồi nhưng ngồi trên pháo tháp như thế thì thật liều mạng, giận quá tôi quát:
– “Này anh phóng viên, yêu cầu anh xuống xe ngay.”

Tôi hét lớn với người phóng viên đang bám theo xe trong tình trạng hết sức nguy hiểm, nhưng có lẽ vì tiếng máy nổ của M41 lớn quá khiến nggười phóng viên không nghe được, hoặc cũng có thể anh ta “giả điếc” để cố bám theo toán quân xung phong đầu tiên. Một tay anh  bám vào thành xe, một tay bấm máy hình liên tục. Mỗi khi xe lắc lư như muốn hất tung mọi người xuống đất thì anh phóng viên vội buông máy hình treo tòng teng vào cổ còn 2 tay thì bám chặt vào xe. Nguy hiểm quá, nếu không bị bắn thì anh ta cũng bị rớt xuống, sẽ bị xích xe cuốn theo ngay! Không chần chừ đươc nữa, tôi ra lệnh cho Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Đường:
– “Đường, lôi ngay ông phóng viên xuống đất cho tao.”

Không chậm trễ một giây, người lính cận vệ của tôi nhẩy lên xe ôm ngang lưng người phóng viên rồi nhẩy khỏi xe thiết giáp, cả hai cùng té lộn nhào xuống đất, trong lúc hai người còn đang nhăn nhó chưa kịp đứng dậy thì xe thiết giáp rú ga, gầm lên ủi sập bức tường phía trước mặt, lập tức địch bắn đủ mọi loại vũ khi về phía chúng tôi, xe bị trúng đạn B40, tiếng nổ chát chúa hất tung những người ngồi trên xe xuống đất, thiết giáp chồm lên đống gạch rồi khựng lại phun khói, cả khói xe lẫn khói đạn B40 mịt mù khiến tôi không nhìn thấy gì cả.

Sau vài động tác xoa mặt dụi mắt, tôi mới nhận ra được một cảnh tượng hết sức đau lòng, xe bị đứt xích, người trưởng xa M41 ngồi trong pháo tháp thò đầu ra ngoài thì đã biến đâu mất rồi! Cái nón sắt của anh văng ra xa, móp méo và bê bết máu! Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang*, đi sau xe thiết giáp thì đang gượng đứng dậy, 2 tay xoa khắp người xem có bị thương chỗ nào không, Hạ Sĩ Danh Thon, hiệu thính viên của Th/Úy Quang nằm sấp bất động, ngực đè lên máy truyền tin PRC25, tôi lật người Thon lại, một viên đạn xuyên qua máy truyền tin anh đeo trước ngực, xuyên qua áo giáp, trổ ra sau lưng một lỗ nhỏ, máu chưa kịp thấm ra ngoài. (*Thiếu Úy Quang khóa 18 Võ Khoa đã tử trận một năm sau đó)

Đảo mắt quan sát một vòng, tôi thấy xung quanh xe thiết giáp vài quân nhân bị thương, chưa biết nặng nhẹ ra sao, cách đó vài mét, người phóng viên ngồi dựa lưng vào tường, mặt nhăn nhó, chắc là lúc bị Đường kéo té xuống đất đau lắm, nhưng anh ta vẫn còn đủ sức đưa máy lên bấm liên tục. Khi máy nhắm về phía tôi, anh trông thấy người vừa ra lệnh “lôi” anh ấy xuống đất nên anh ta lắc lắc cái đầu tỏ ý “ghê quá” và đưa nắm tay với ngón cái hướng lên trời, không biết ý anh muốn nói là may mắn vừa thoát chết hay là muốn nói cám ơn tôi đã đuổi anh ấy xuống, có thể là cả hai. Tôi tiến lại bắt tay anh và nói đùa:
– “Về nhà nhớ mua heo cúng nghe ông, lần sau ráng giữ lấy cái ‘gáo dừa.’”

Anh nắm chặt tay tôi như muốn nói thêm điều gì nhưng rồi lại vội vàng tiếp tục đưa máy chụp nhiều tấm hình. Đến lúc này tôi mới biết là xe thiết giáp đã bị 2 trái B40 bắn vào xích và pháo tháp. Pháo tháp là một khối sắt dầy, đạn B40 không phá được nhưng sức nổ đã làm bay những gì xung quanh, sức nổ đã làm bay phần thân trên của anh thiết giáp, còn phần thân dưới có lẽ đã bị đứt ra và lọt vào trong lòng xe rồi! Nếu anh phóng viên còn bám theo pháo tháp để chụp hình thì không biết sẽ ra sao? Tôi không hối hận khi cương quyết đuổi anh ta xuống xe.

Thấy xe bằng sắt mà còn bị đứt huống chi người, thượng cấp không hối thúc tiến nữa mà cho dừng quân để trực thăng (gunship) đến bắn rockets thẳng vào mục tiêu, nhờ vậy chúng tôi mới vượt qua được khoảng trống và tiến nhanh đến giải tỏa địch khu cư xá Phú Lâm.

Bài viết này chúng tôi không chủ tâm viết về trận Mậu Thân mà chỉ muốn nói về chuyện người phóng viên chiến trường nên chúng tôi không đi vào chi tiết việc binh đao mà xin quay về với người “lính” mang ống kính, máy chụp hình.

Rất hiếm khi có được phóng viên chiến trường ở ngay tuyến đầu tại mặt trận, có chăng là sau khi mọi chuyện đã xong xuôi, báo chí mới tháp tùng theo phái đoàn trung ương đến quan sát trận địa để chụp hình quay phim đưa hình phái đoàn hoặc hình những xác VC, những cây súng gẫy lên báo chí còn những hình người lính chiến thì mờ-mờ ảo-ảo làm nền trang trí.

Nhưng lần này về đánh giặc ngay trong lòng thủ đô nên có dịp nằm cùng phóng viên ngay tuyến đầu, những hình ảnh người lính TQLC xung phong vào lửa đạn đều được các anh chụp và đưa lên các trang nhật báo ngay ngày hôm sau kèm theo tên tuổi đơn vị v.v… như trường hợp phóng viên Nguyễn Tú của nhật báo Chính Luận, những hình ảnh và bản tin của anh viết về Trâu Điên trên báo đã được thân nhân gửi ra chiến trường khiến chúng tôi rất hãnh diện. Dù không biết ông Nguyễn Tú nay ở nơi đâu nhưng cũng xin thay mặt anh em để cám ơn ông Tú.

Có những người lính thấy hình mình được đăng trên báo, dù không rõ lắm nhưng cũng thấy thích thú, cắt xén thật cẩn thận để giữ làm kỷ niệm hoặc làm quà tặng cho người yêu. Các cấp chỉ huy thì cất kỹ những trang báo nói về trận đánh của đơn vị mình rồi đóng khung lồng kính treo lên chỗ trang trọng nhất của đơn vị.

Đối với người lính tác chiến thì những hình ảnh và bài viết của các phóng viên chiến trường về đơn vị họ, nhất là các đơn vị cấp nhỏ như trung đội hay đại đội, là một niềm an ủi lớn lao, một điều khích lệ vô cùng quan trọng cho tinh thần chiến đấu của họ, nhưng tiếc thay, trong quá khứ, người có trách nhiệm đã không để ý đến “binh sĩ vận” mà chỉ lo “thượng cấp vận.”

Có được người phóng viên đi theo khiến anh em lính chúng tôi lên tinh thần, hơn nữa chuyện anh thoát lưỡi hái của tử thần vừa qua càng làm chúng tôi quý mến nhau hơn nhất là tình cảm giữa anh và Bùi Ngọc Đường, họ thân nhau như anh em, dù tuổi tác có chênh lệch.

Trong lúc đơn vị tôi tạm đóng quân trong cư xá để chờ nhiệm vụ mới thì anh phóng viên dẫn chúng tôi về nhà, cũng ở trong cư xá Phú Lâm, anh có ý muốn giới thiệu chúng tôi với chị ấy và các cháu, trước khi bước vào nhà anh nói nhỏ với tôi và Đường:
– “Các anh đừng nói gì về chuyện vừa xảy ra nhá, sợ bà xã tôi và sấp nhỏ lo lắng.”

Một người vừa yêu nghề lại vừa yêu vợ con nên đôi khi cũng không dám nói sự thật, tôi thông cảm với anh vì tôi vẫn thường nói dối như thế. Mỗi lần về phép, mẹ tôi hỏi đi lính có vất vả không thì tôi không ngần ngừ mà trả lời mẹ ngay:
– “Như đi làm thư ký văn phòng ấy mà.”

Anh giới thiệu chị và các con với chúng tôi, có lẽ cũng đến “ngũ long công chúa,” cháu lớn chỉ độ “trăng tròn” là cùng. Thấy lính tráng súng ống vào nhà nhưng lại ngồi uống café hút thuốc nói chuyện vui vẻ với bố nên các cháu an tâm, bạo dạn hơn, thập thò sau màn che, cười khúc khích, ký đầu hoặc vỗ vào lưng nhau “thùm-thụp.”

Một gia đình thật hạnh phúc, tôi ước mong một ngày nào trong tương lai có được mái ấm gia đình như anh, nhưng có lẽ còn lâu lắm, vì anh hơn tôi gần một “con giáp,” hoặc không bao giờ có được hạnh phúc ấy một khi còn “vui đùa” với súng đạn, nghĩ vậy nên tôi tâm sự với anh:
– “Này anh, nếu hôm qua Đường không ôm anh nhảy xuống đất thì hôm nay đâu còn chầu café này, anh đâu còn nghe tiếng cười khúc khích dễ thương của các cháu, anh phải hết sức cẩn thận khi đi làm phóng sự ngoài chiến trường, hoặc nên đổi nghề, lương không được bao nhiêu mà có quá nhiều nguy hiểm, anh đã có gia đình, các cháu đang nhìn anh kia kìa.”

Tôi chỉ tay vào phía trong nhà, sau bức màn che, thấp thoáng một hai cô bé tóc đuôi gà đang nhìn bố tiếp khách, anh nhìn theo hướng tay tôi chỉ, anh gật gật đầu ra chiều suy nghĩ. Chúng tôi bắt tay từ giã, anh xiết chặt tay tôi và nói nhỏ:
– “Anh sẽ để ý và nghiên cứu lại lời khuyên của chú.”

Tôi thật cảm động khi nghe anh xưng “anh” và gọi tôi bằng “chú” (em) mang đậm nét tình nghĩa gia đình. Từ hai người xa lạ, chỉ qua một lần cùng chung nguy hiểm mà chúng tôi trở thành anh em thân thiết hồi nào không hay.

Anh tiễn chúng tôi ra cửa nhưng có tiếng chị dặn với theo:
– “Tối các em nhớ lại ăn cơm canh chua cá kho tộ với các cháu cho vui.”

Vui quá đi chứ, hổm rầy sống giữa thành phố mà cứ phải “nhá” C ration*, thịt hộp 3-lát ngán quá (*thức ăn đóng hộp cho lính hành quân). Nhưng ngay tối đó đại đội tôi phải di chuyển gấp đến mặt trận Bình Hòa nên không kịp báo tin cho anh chị hay.

Ngày qua ngày TĐ.2 di chuyển khắp nơi, từ nội thành ra tới ngoại ô, từ Nhà Bè sang bến đò Long Kiển, lên Nhị Bình (Lái Thiêu), chỗ nào có bong dáng VC là chúng tôi phải đến. Đã có lần đơn vị chúng tôi trở lại lục soát khu vực rừng khóm (dứa) (thuộc mật khu Lý Văn Mạnh), rất gần với cư xá Phú Lâm nhưng không có thì giờ ghé thăm anh chị.

Rồi VC tấn công đợt 2, bận túi bụi với những người “anh em” từ bưng về thành, nào là ngã ba Cây Thị, xóm Cao Đồng Hưng, khu Đồng Ông Cộ, cầu Bình Lợi, ngã ba Cát Lái v.v.., người tử trận kẻ bị thương, chúng tôi không còn thì giờ nhớ đến gia đình, nhớ đến người yêu nên hình dáng người phóng viên cũng mờ dần.

Vào khoảng Tháng Mười 1968, tình hình Saigon hoàn toàn yên tĩnh trở lại, TĐ.2 được biệt phái cho Quân Đoàn III để hành quân vào mật khu Hố Bò, Bời Lời. Trước khi đi xa Saigon, Bùi Ngọc Đường trốn đi chơi nguyên ngày, khi trở lại đơn vị thì vừa kịp nhảy lên xe GMC cùng Đại Đội di chuyển đến quận Hiếu Thiện (Tây Ninh) và từ đây được trực thăng vận vào mật khu Bời Lời ngay nên tôi chưa có dịp “thưởng” cho Đường 5 roi. Cũng may là ngay trong trận này, Bùi Ngọc Đường cùng với Nguyễn Văn Hợi đã liều mình cứu sống được viên Trung Úy cố vấn Mỹ bị thương và đã bị VC bắt. Nhờ thành tích này mà Đường được Sư Đoàn TQLC tưởng thưởng cho một xe Honda và dĩ nhiên tôi cũng tha cho hắn tội trốn đi phố.

Bùi Ngọc Đường và tôi là hai “thầy trò” nên khi đi hành quân thì như hình với bóng, Đường luôn ở bên cạnh để giúp tôi khi cần thiết, đi đâu là phải hỏi, vậy mà lần này dám đi cả ngày, đã vậy khi trở về lại có vẻ buồn. Tuy được phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn thưởng cho chiếc Honda mà sao Đường không vui! Và rồi, xe Honda còn trùm mền chờ ngày Đường về phép để chở người yêu dạo phố thì Đường lại hy sinh trong một cuộc hành quân sau đó!

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 19 tháng 9 năm 2017

Khi Đường tử trận rồi, Nguyễn Văn Hợi, người cùng với Đường cứu sống cố vấn Mỹ, mới nói thật với tôi là Đường trốn đi phố là để vể thăm anh phóng viên ở cư xá Phú Lâm, và người anh kết nghĩa này của Đường đã bị VC hạ sát trong đợt 2 trận Mậu Thân!

Nghe Hợi nói mà tôi bỗng rùng mình, nhớ lại lúc Đường ôm người phóng viên nhẩy khỏi xe thiết giáp và họ đã thoát không bị nát thây trong gang tấc và rồi họ kết nghĩa anh em, tình huynh đệ chưa được bao lâu thì anh hy sinh mà em không biết! Khi trở lại thăm anh thì…, chưa tàn bó nhang thắp cho anh thì em lại tử trận!

Cả hai đều những người tôi thương mến, hình ảnh của họ đã nằm sâu trong ký ức, nào ngờ, 40 năm sau, một sự tình cờ mà hai hình ảnh này sống lại thật rõ ràng trong trí nhớ của những người hay quên hiện tại mà nhớ dai chuyện quá khứ. Đọc từng dòng từng chữ câu chuyện của N.A, tôi tin chắc người bạn phóng viên chiến trường, người anh kết nghĩa của Trâu Điên Bùi Ngọc Đường chính là thân phụ của tác giả bài viết “Người Yêu Trâu Điên” và người lính trong tấm hình mà N.A giấu kín trong tập nhật ký nhỏ có phần chắc là Bùi Ngọc Đường!!!

Tác giả N.A. kết thúc lá thư không gửi vì không biết anh Trâu Điên ở đâu bằng lời chúc:
– “Với lòng mong mỏi anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ đến anh Trâu Điên ngày xưa.”

Phần tôi xin kết thúc bài viết “Trâu Điên và Người Phóng Viên” bằng lời nhắn:
Cô Ngọc Anh ơi, Trâu Điên Bùi Ngọc Đường, người trong tấm hình mà cô giữ kín trong cuốn nhật ký, đã không thể về dự đại hội TQLC năm 2008 được, Đường không chết nhưng đã nằm lại đâu đó trên chiến trường miền Nam VN, cũng như thân phụ của cô, ông không chết nhưng về với các con bằng thân xác còn nóng hổi, máu chảy ra linh láng!

Tôi tin rằng Bùi Ngọc Đường, người lính trong tấm hình mà cô “nhốt” trong cuốn hồi ký, hay cô nhốt hắn trong tim thì chỉ có hắn biết, hắn sẽ phù hộ cho gia đình cô.


Saturday, August 20, 2016

Hình Ảnh Đẹp Và Chuyện Chưa Kể

Captovan

Hình ảnh đẹp nhất trong những ngày Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh là nhiều ngàn khán giả tay phất cao Quốc Kỳ Việt Mỹ. Nhưng riêng Đại Nhạc Hội kỳ 10, còn có thêm một hình ảnh đẹp, đầy tình thương yêu mà anh chị em trong ban tổ chức đã bất ngờ dành cho bà chị cả Hạnh Nhơn -chủ tịch Hội-, đó là bó hoa: “Happy 90th Birthday”.

Trong hình chúc mừng sinh nhật thứ 90 của Lão Bà, ngoài các anh chị em trong Hội HO còn có các vị trong Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam CA đứng bên cạnh Lão Bà. Nỗi băn khoăn lo lắng của tất cả thành viên trong ban tổ chức ĐNH là chuẩn bị làm sao tìm được một vị đủ uy tín để trong tương lai nhận nhiệm vụ Hội Trưởng Hội HO một khi sức khỏe của Lão Bà không cho phép hy sinh thêm nữa: “Chí tuy còn mong tiếp tục, nhưng sức không kham nổi...”.

Một cụ bà đã bước qua tuổi 90 mà vẫn miệt mài lo cho anh em thương phế binh, những ai chưa một lần tiếp xúc với bà thì khó tin đó là sự thật.

Sau đây là vài nét sơ lược về bà chị cả, trích theo bản tin của Linh Nguyễn trên báo Người Việt từ năm 2011:

Bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn là cựu nữ quân nhân Quân Lực VNCH và hiện là giám đốc hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Cô Nhi Quả Phụ.

Nhập ngũ năm 1950 ngành hành chánh tài chánh, công việc bà đảm nhiệm là phát lương cho “đệ nhị quân khu” sau gọi là Quân Đoàn I. Kế đến, bà là thiếu úy rồi trung úy sĩ quan tiếp liệu tại quân y viện Nguyễn Tri Phương. Sau đó bà được thuyên chuyển về Trung tâm Huấn luyện và Trường Nữ Quân Nhân và rồi lên lon đại úy làm việc tại văn phòng đoàn nữ quân nhân của Bộ Tổng Tham Mưu. Năm 1969, bà là thiếu tá trưởng phòng nghiên cứu. Bà sau được chuyển qua Không Quân và lên trung tá năm 1972.

Sau tháng 4, 1975, bà bị cộng sản bắt đi tù sáu bảy nơi khác nhau. Bà kể: “Tôi ở tù tại Long Giao, Quang Trung, Hóc Môn, Z30D, Hàm Tân, Long Thành. Tôi nhớ những ngày cực khổ này, phải nuôi heo, cuốc đất trồng khoai nên sau này thương các anh em thương phế binh lắm.” Bà tâm sự: “Mình có nuôi heo, tắm cho heo bao giờ đâu. Lúc đầu sợ gần chết!” Tại trại tù Z30D, mỗi ngày bà chỉ được đem về trại một ít nước lạnh để dùng trong ngày, nhưng cũng chưa khổ bằng những ngày ở Long Thành. Bà kể: “Sau một ngày bón phân cho các cây táo, người hôi hám và dính phân heo, chỉ được đem về một ít nước để làm vệ sinh. Đã thế, chúng còn cấm không cho bịt mũi trong khi làm việc!”

Năm 1990 bà định cư theo diện HO2, được con bảo lãnh nên qua Mỹ không được hưởng trợ cấp. Bà là phó chủ tịch Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị, phụ tá cho ông Nguyễn Hậu là chủ tịch thời bấy giờ. Công việc của bà là làm giấy tờ bảo lãnh cho các cựu quân nhân QLVNCH không có thân nhân bảo lãnh.

(Ngưng trích)

Hội HO, được thành lập từ năm 1992, nhiều sáng lập viên đã ra đi. Đại nhạc hội Cám Ơn Anh đã qua 10 lần tổ chức đại nhạc hội từ Nam lên Bắc Ca Li, được sự cộng tác vô vị lợi của mọi thành phần, từ truyền thông đến văn nghệ sĩ, các hội đoàn quân đội, sinh viên học sinh, hướng đạo sinh và nhất là sự nhiệt tình yểm trợ công sức và tiền bạc của đồng hương hải ngoại thì đủ biết uy tín của vị hội trưởng đã đem đến sự thành công cho Hội.

Tôi tin tưởng không chỉ những người từng được trực tiếp gặp gỡ hay làm việc bên chị, mà còn không biết bao người ở quê hương và nhiều nơi xa xôi, khi biết Mừng Sinh Nhật 90 Bà Chị Cả Hạnh Nhơn, kính chúc chị

*
Một hình ảnh đẹp khác là phái đoàn Houston TX với tấm chi phiếu “pay to”: ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 10 là: $248,266.57.

Trước ngày diễn ra ĐNH/CƠA kỳ 10 tại Little Saigon thì đồng hương Houston TX đã tổ chức gây quỹ yểm trợ TPB và đã thu được kết quả đáng ngạc nhiên.

Đây là lần đầu tiên một hội địa phương tổ chức gây quỹ giúp TPB đã đạt được con số quá đẹp. Điều đẹp hơn nữa là địa phương đã không trực tiếp điều hành ngân khoản này mà phái đoàn Houston đã về tham dự và trao cho Hội HO tấm chi phiếu trên trong ngày đại hội. Một nghĩa cử, một tình đoàn kết, một tấm lòng tin tưởng của Cộng Đồng (CĐ) Houston vào Hội HO.

Không chỉ CĐ Houston mà còn CĐ New England cũng mang về một chi phiếu $39,145. Một khán giả là luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, cựu Chủ Tịch CĐ Nam CA đã lên sân khấu xin phép CĐ New England được đóng góp thêm “một chút” cho tròn con số $40,000.

Hai hình ảnh đẹp về tình đoàn kết của CĐ Houston TX, CĐ New England với Hội HO để cùng nhau nhớ ơn TPB, hy vọng các CĐ khác cũng sẽ tiếp tay với Hội HO như Houston và New England, nhiều cộng đồng chụm lại cho anh em TPB được chút an ủi.

Thực ra đồng hương ở khắp các tiểu bang khi theo dõi trực tiếp truyền hình ngày đại hội đã gọi đến đóng góp rất nhiều đã thu được con số hàng triệu, nhưng rất tiếc vì hệ thống liên lạc bị trục trặc kỹ thuật trong mấy giờ đầu nên các thiện nguyên viên trực điện thoại đã không trả lời được các ân nhân từ xa gọi đến, đó là lý do kỳ 10 mới chỉ nhận được 6 trăm ngàn trong ngày đại hội. Nhưng không sao, các ân nhân đã có tấm lòng thì sẽ tiếp tục gửi về sau, đã thương TPB thì thương cho trọn, vì chẳng còn bao lâu nữa...!

Ngay tại nơi diễn ra ĐNH, có những lều để khán giả đến đóng góp tại chỗ, tôi thấy hai cựu SVSQ Võ Bị mang một phong bì lớn màu vàng đựng các chi phiếu yểm trợ với con số tổng cộng là $32 ngàn, tôi nhớ trong kỳ 9, Tổng Hội VB cũng đã đóng góp được $35 ngàn. Tôi thoáng nghe anh thủ quỹ phân trần:

- Một hội quân trường, một hội quân đội mà chỉ yểm trợ được có bi nhiêu cho đồng đội bị thương tật đang sống vật vờ ở “chiến trường xưa” kể ra cũng... mới chỉ là “của ít lòng nhiều”.

Thấy anh bạn cựu SVSQ trẻ tuổi đẹp trai, mà lại có tấm lòng và lời lẽ khiêm nhường, tôi chợt nghĩ đến các hội đoàn quân trường, quân binh chủng khác nếu cũng cứ “của ít lòng nhiểu” như vậy thì lòng, dạ (dày) đồng đội cũ, thuộc cấp xưa, nay đang vật vờ ở “thiên đường XHCN” cũng không đến nỗi “ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”.

Tôi hỏi anh SVSQ:

- Xin anh cho biết anh đã kêu gọi như thế nào để có con số “khiêm nhường” này?

- Truyền thông là quan trọng, Tổng Hội chúng tôi kêu gọi đồng môn yểm trợ liên tục, lập danh sách và thông báo thường xuyên lên diễn đàn cho các cựu SVSQ theo dõi và nhắc nhau. Tổng Hội kêu gọi chưa đủ, để hữu hiệu hơn, thà “kêu lầm còn hơn bỏ sót” nên khóa kêu gọi các bạn đồng khóa, khóa kêu gọi thêm con cháu. Chúng ta già rồi sức yểm trợ có hạn nên cần con cháu triếp sức, đây là thế hệ thành công về tài chánh, kêu gọi các cháu yểm trợ cho Thương Phế Binh, “nhất cử lưỡng tiện”, cho các cháu biết TPB là ai, cho các cháu biết câu châm ngôn tiếng Việt hay nhất: “ăn quả nhớ người trồng cây”.

*
Mỗi lần tổ chức Đại Nhạc Hội như vậy thì phải cần đến khoảng 300 thiện nguyện viên (TNV), họ làm việc liên tục trước, trong, sau ngày ĐNH nên cần có ly cafe, cái bánh bao, tô bún v.v.. để lấy sức làm tiếp. Nếu o-đơ thực phẩm ở các nhà hàng thì đắt, sẽ ảnh hưởng đến “gói quà cho Anh” nên một thành phần thiện nguyện khác, đa số là các chị, đứng ra gánh, vác, kéo, cõng, đội nhiệm vụ cung cấp thực phẩm free cho các thiện nguyện viên.

Chỉ khoảng 10 người thôi, tính toán chi tiêu cả tháng, cả tuần trước, họ chính là các bà nội... trợ tuyệt vời, trung bình một người lo cho 30 người, mệt bở hơi tai nhưng các chị vẫn cười khi “thực khách” xin thêm tí nữa vì đồ ăn ngon quá.

Trong số các thực khách xin thêm tí nữa ấy có 7 chàng, tạm gọi là “thất hiền” nhưng ăn thì... “dữ” nên khen các chị là đúng rồi:

-Dù cho thực phẩm không ngon nhưng thấy các chị cười là ngon rồi.

- Có đúng thế không cặp HQ Long-Lee và quý chị tình nguyện nuôi Thiện nguyện viên?

Ngoài gian hàng thực phẩm do cặp Long-Lee chịu trách nhiệm với TNV thì còn một gian hàng nữa do bà “Thiên Nga” và các chị trong gia đình nhà Cọp Biển phụ trách để tiếp nước cho anh chị em văn nghệ sĩ.

Mỗi lần tổ chức Đại Nhạc Hội là có quá nhiều công tác cần sự hợp tác của các hội đoàn và cá nhân, có những việc nổi trình chiếu trên TV thì ai cũng thấy cũng biết, còn những việc rất quan trọng thì chìm trong im lặng nhưng thiếu thành phần này là không có ĐNH.

Thấy một chàng “người Mỹ gốc Việt” KQ NP Tiến mang kính đen đang điều khiển mấy chàng gốc Mỹ làm những công việc chuyên môn nặng nhọc nhất mà kỳ ĐNH nào tôi cũng thấy họ làm, tôi nghĩ là do ban tổ chức thuê mướn nên tôi đến hỏi thăm:

- Những người Mỹ đang dựng lều kia do các anh thuê phải không?

- Không, ĐNH nào cũng vậy, chúng ta chỉ thuê mướn sân khấu, âm thanh, lều, hàng rào, phòng vệ sinh v.v... công việc thuê mướn này rất khó khăn và vất vả, phải thông thạo đường đi nứoc bước mới lo được, anh QC Cang chịu trách nhiệm và anh Cang lo phần kỹ thuật, trách nhiệm mọi việc cần thiết từ nhỏ đến lớn để hoàn thành buổi ĐNH.

Còn mấy người bạn Mỹ này không phải do ban tổ chức thuê, mà là 4 người bạn “đặc biệt” của tôi, họ cũng là các thiện nguyện viên cả đấy. Quá khứ của họ là “tung hoành ngang dọc” khắp nơi, có người đã từng tham chiến ở VN, nay họ là tín đồ của một giáo hội Tin Lành... ở Pomona. Tôi không được phép nói nhiều về quá khứ của họ và tên giáo hội, vì chủ trương của giáo hội là truyền bá Phúc Âm bằng cách làm việc thiện nguyện thầm lặng.... (suy nghĩ một lúc anh Tiến nói tiếp):

- Tôi và anh Cang có may mắn được quen biết... và từ đó mỗi khi tổ chức Đại Nhạc Hội, chúng tôi được giáo hội... giúp cho từ 5 đến 15 người, tùy theo nhu cầu. Các anh em này giup chúng tôi làm tất cả các công việc nặng nhọc và chuyên môn từ ngày đầu, thường là Thứ Sáu, Thứ Bẩy như đóng cọc hàng rào quanh các bãi cỏ, dựng các lều lớn nhỏ, phụ dựng sân khấu và khi Đại Nhạc Hội kết thức tối Chúa Nhật thì Thứ Hai thu hồi tất cả vật dụng lều chõng hoàn trả... nhưng Chủ Nhật, ngày diễn ra ĐNH thì họ không có mặt, vì họ dành giờ cầu nguyện Chúa ở nhà thờ...

- Suốt 3 ngày từ 6:00am cho đến 8:00 pm, họ vui vẻ làm việc hăng say không một than phiền vì trong thâm tâm của họ là được may mắn phục vụ như lời Chúa dạy dù họ không biết ai là người tổ chức và ai sẽ hưởng những kết quả thu được trong việc làm của ĐNH Cám Ơn Anh...

- Trước đây họ “chọc trời khuấy nước”, nay thì hiền lành lễ phép và sẽ không nhận bất cứ một thù lao nào ngọai trừ ly cafe hay khúc bánh mì trong lúc nghỉ giải lao. Để chứng minh tôi sẽ gọi họ đến để anh tiếp xúc xem sao nhá.

KQ PN Tiến đưa tay ngoắc: “Hey my friends, break time”.

Họ lừng lững như những “king-kong” đi đến bên anh Tiến, anh Tiến giới thiệu tôi là một cựu sĩ TQLC/VN, thật bất ngờ, một trong 4 anh đứng nghiêm chào tôi theo lối nhà binh và cho biết anh đã từng chiến đấu ở Bồng Sơn, Tam Quan VN năm 1967. Năm 1967, TĐ2/TQLC đã từng phối hợp hành quân với quân đội Đồng Minh Mỹ ở vùng Bồng Sơn, Tam Quan, thung lũng An Lão, nay chúng tôi bắt tay nhau như đồng đội sau gần 50 năm gặp lại. Tôi mời các anh điếu thuốc, họ nhất loạt:

- “No, Thank”.

Tôi nói nhỏ với người “đồng đội xưa” là có người muốn tặng các anh chút “cash” để uống cafe, anh ta vội lắc đầu:

- “No, Thank”.

Nhìn cánh tay anh to như bắp vế của tôi với hình xâm chi chít, tôi co cánh tay và gồng con chuột nhắt lên rồi thách anh ta kéo tay:

- “Do you want armwestling with me”?

- “No, thank”.

Nói xong anh ta cười một cách thoải mái, nụ cười của những võ sĩ bị trẻ chăn trâu thách đấu. Tôi ngỏ ý muốn chụp với các anh một tấm hình làm kỷ niệm thì các anh cười, tôi mời mấy chị Thiện nguyên viên đến chụp với họ cho Mỹ-Việt đề huề, vì cùng là thiện nguyện viên, có khác chăng là chúng ta, những người Mỹ gốc Việt góp một bàn tay để cám ơn các anh Thương Phế Binh, còn họ, người Mỹ-Mễ gốc Mỹ chỉ làm thiện nguyện mà không cần biết ai là người tổ chức, không cần biết ai là những người được hưởng kết quả của ĐNH, họ làm thiện nguyện theo lời giáo hội dạy, làm thiện nguyện vì tình người mà không phân biệt chủng tộc, màu da.

Tấm hình dưới đây không có trên TV trong ngày Đại Nhạc Hội, không có trên youtube, không có trong bất cứ web site nào nhưng đây là một tấm hình đẹp, đẹp người và đẹp nết: “Người Việt trên đất Mỹ” và người Mỹ trong cộng đồng Việt.

Khi quý vị đọc bài viết này thì Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 10 đã xong, những ân nhân nào gọi đến yểm trợ trong ngày ĐNH mà không được thì xin tiếp tục gửi về.. Quý ân nhân nào còn nghĩ đến thân phận những người anh em chúng ta đã vì dân mà chiến đấu, vì đồng bào mà hy sinh thì xin mở rộng tấm lòng...

Tất cả chi phiếu xin ghi:
ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 10
Gửi về: Hội HO Cứu Trợ TPB.
PO.BOX 25554 Santa Ana CA 92799

Captovan

Monday, May 2, 2016

HỒNG ĐÀ LẠT ..Có Gai!


 Philato

Trước khi vào Võ Bị, tôi đã nhiều lần đến thăm Đà Lạt, rồi sau khi tốt nghiệp, ra trường, đi đánh giặc khắp mọi miền đất nước, từ cao nguyên xuống đồng bằng, từ Bến Hải đến Cà Mau, nhưng chưa nơi nào tôi thấy dễ chịu dễ thương như Đà Lạt, vì thế nếu được chọn một nơi nào đó trên quê hương để làm việc và dưỡng già thì tôi không cần suy nghĩ, trả lời ngay: Đà Lạt.

Đà Lạt thời tiết dịu mát quanh năm, có thác Cam Ly, thác Prenn, có hồ Xuân Hương, hồ Than Thở và nhất là có “Suối Vàng” nữa, nơi mà ai cũng mong đến thăm sau khi.. Người Đà Lạt thì lịch sự hiền hòa vì là nơi quy tụ các quân trường hiện dịch, những chàng SVSQ làm thành phố thêm đẹp, khiến má các em thêm hồng. Đà Lạt có trường nữ trung học Bùi Thị Xuân nổi tiếng với Hoa đẹp. Hoa Đà Lạt muôn màu muôn sắc nhưng tôi yêu nhất là Hồng. Hồng là lý do khiến tôi muốn chọn Đà Lạt làm nơi dừng chân, tìm tổ ấm sau khi “trở về trên đôi nạng gỗ”.

Nhưng đó là Đà Lạt trước 30/4/1975, sau ngày mất nước thì thác Cam Ly cũng cạn khô, nhô lên những tảng đá đen sần sùi nằm chung cùng chất phế thải! Hoa hồng cũng bị nhuộm đỏ và nhất là sân Cù thì .. không còn nữa, buồn như cù. Sân Cù là một ngọn đồi cỏ mịn xanh mướt, dốc thoai thoải, nằm sát bờ hồ Xuân Hương, nơi hò hẹn lý tưởng của những đôi trẻ yêu nhau, dìu nhau leo dốc, ngồi dựa vai dưới gốc thông già, nhìn xuống mặt nước hồ trong xanh soi bóng, soi hình mình trong mắt em thì thầm tính chuyện tương lai. Vậy mà nay chúng bao vây, che kín sân Cù, cấm người dân lai vãng đến gần, vì đó là sân “gâu gâu” (golf).

Chúng che kín sân Cù để cán bộ “cấp cao” trung ương cùng tư bản đỏ tới giải trí chơi trò ..banh lỗ. Người dân Việt hỏi nhau banh lỗ là gì thì không ai biết, chỉ những chuyên viên kinh tế  xuất cảng “cô dâu” sang xứ Đoài, xứ Hàn thì tủm tỉm cười: “banh lỗ, hẩu lớ, hẩu sực lớ”!

Đà Lạt của tôi đã chết rồi, mộng ước bình thường tìm một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi cũng không được! Thôi đành tìm về dĩ vãng, sống với kỷ niệm thời trai trẻ, sống với Đà Lạt thập niên 1960-1970 đầy thơ mộng và yêu thương.

Hè 1957, ông già tôi cho tôi đi “nghỉ mát” Đà Lạt. Gia đình tôi chẳng khá giả gì mà phung phí tiền bạc, nhưng tôi bị đi nghỉ mát chỉ vì có chị ruột trên đó và lý do chính vẫn là bố tôi muốn tách tôi ra khỏi đám bạn yêu .. quái, cái đám bạn tối ngày lặn lội bờ sông Khánh Hội, leo lên tàu, bờ-lông-nhông xuống sông, tuột cái quần nylon, chẳng chóng thì chày thế nào cũng có ngày chết vì nước.  

Những ngày đầu tiên ở Đà Lạt sao mà buồn thế! Do chỉ thị của ông già, bà chị tôi kỷ luật thằng em hơi kỹ, không được xuống phố một mình, bà ấy bảo cao-bồi Đà Lạt dữ lắm, (?). Ngày ngày tôi phải nằm nhà học bài cho niên khóa tới! Ôi mớ sách ông già bắt mang theo nào có ích gì cho buổi ấy! Nhớ đám bạn ở bến Sáu Kho Khánh Hội quận Tư, thèm nghịch ngợm, cái tuổi chưa biết yêu nhưng thích chọc gái, tuy lên Đà Lạt nghỉ hè nhưng chứng nào vẫn tật nấy, vì thế mà tôi đã làm buồn lòng cô hàng xóm.

Nhà anh chị tôi ở thuộc khu công chức nghèo, có khoảng chục căn, nằm trên đường Phạm Ngũ Lão, sau lưng là đồi cao có nhà thờ Con Gà, phía trước mặt, xuyên qua khuc vực trồng rau là đến ấp Ánh Sáng rồi tới rạp hát Ngọc Lan, từ rạp Ngọc Lan xuống vài bậc dốc là bến xe đò con-con Minh Trung Saigòn-ĐàLat. Những chi tiết này về sau tôi mới  biết, còn những ngày đầu chỉ quẩn quanh trong vườn, bực dọc với những bụi hồng gai góc. Ghét hoa này lây sang hoa khác, khi trông thấy một “bông hoa” đi ngang qua trước cửa, quen miệng tôi chúm môi huýt sáo khiến cô bé giật mình quay lại lườm tôi, bỉu môi một cái thật dài.

Ngày qua ngày tôi bị bà chị “cấm trại” trong góc vườn với hoa, “gươm lạc giữa rừng hoa”, còn cô hàng xóm nữ sinh trường Bùi Thị Xuân kia thì vẫn đồng phục trắng, áo len xanh nước biển khoác ngoài, cạc-táp che ngực tới trường. Vì không còn con đường nào khác để thoát thân nên ngày ngày vẫn phải đi qua trước cửa nhà chị tôi và tôi thì vẫn huýt sáo ghẹo chơi.

Chiều cuối tuần, bố cô gái sang thăm anh chị tôi, khi ông về, tôi bị bà chị mắng ra điều dạy dỗ:

“Cậu quá lắm nghe không, bố cô Hồng mới sang mắng vốn tôi đó, cậu liệu hồn không tôi mách thầy cho đấy”. (thầy-bu là tiếng gọi bố-mẹ ở quê tôi)

À thì ra tên cô ta là Hồng, một bông hồng nhung đẹp nhưng có gai. Bị mắng không oan, tôi chạm tự ái bèn xuống phố một mình. Từ hướng nhà thờ Con Gà, men theo đường Phạm Ngũ Lão tới ngã ba cầu Ông Đạo, chỉ việc qua cầu là lên phố, khu chợ Hòa Bình. Nhưng lên phố làm gì? Tôi đi thẳng, ngang qua nhà Thủy Tạ, muốn vào ngồi ăn ly kem hay uống ly café nhưng lại thấy mấy ông SVSQ/VB cùng các bông hồng dập dìu vào ra khiến tôi phát rét bèn cúi đầu đi thẳng.

 “Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu”? 

Tôi đã có dịp quan sát hồ Xuân Hương trên bản đồ thành phố Đà Lạt, hồ nhỏ chút xíu, cứ đi một vòng bờ hồ dăm ba phút thì thế nào rồi cũng về chốn cũ, về tới cầu Ông Đạo. Nghĩ thế, tưởng thế, thế là hai tay đút túi quần, tôi cúi đầu đếm bước.

Giật mình vì tiếng thét còi tầu, ngước mặt lên, trời xâm xẩm tối, không một bóng người, không ai đồng hành, tôi cảm thấy lành-lạnh. Khi ra khỏi nhà, vì giận chị tôi mà phát nóng nên không mặc áo len. Còi tàu lại thét lên từng hồi kèm theo tiếng nổ xình-xịch, chắc là có nhà ga xe lửa đâu đây. Nhìn xa-xa phía trước, những bóng đèn đường vàng úa nối tiếp thành một vòng cung theo ven bờ hồ, tôi nương theo đèn đường mà tiến, quyết không lui, hù ông anh bà chị một phen cho bõ ghét.

Ngang qua công viên thấy chữ đề “Vườn Bích Câu”, thằng con trai lần đầu đến Đà Lạt giận hờn đi lang thang, bụng đói cật rét, mỏi mệt bèn dừng chân bó gối trên ghế đá. Hai tay vòng hai đầu gối ôm sát vào ngực, gục mặt xuống mà vẫn không giảm được tần số rung, tới khi cái đói bên trong rung cộng hưởng cùng cái lạnh bên ngoài thì “thằng nhỏ” lăn đùng xuống bãi cỏ!

Ánh đèn pin làm tôi chói mắt và giật mình, hai ông bú-lít đi tuần nghi tôi không là dân ăn cắp thì cũng xì-ke nên đòi xem “cạc-đăng-ti-tê” rồi dẫn tôi về bót. Ông anh rể đến lãnh tôi về và sáng hôm sau tôi quyết giã từ Đà Lạt. Trước khi lên xe, tôi mong gặp mặt “nhỏ Hồng” hàng xóm để mắng cho cô ta vài mắng vì cái tội “mét-bu”. Tôi có làm gì đâu, chỉ huýt sáo chơi thôi mà cô cũng đi mách bố! Con gái đẹp mà lắm chuyện! Lần đầu lên Đà Lạt đã đụng Hồng gai!

Giận thì giận, thương thì không thương nhưng mà sao trong lúc ngồi xe Minh Trung trên đường trở lại Saigòn, hình bóng nhỏ Hồng cứ luẩn quẩn trong đầu tôi mãi? Cô ta có cái gì hay hay và kín đáo khó nói, không như những đứa bạn gái của tôi ở đường Đỗ Thành Nhân Q.4, Khánh Hội, chúng mặc xà-lỏn tắm sông, đánh lộn và chửi thề như giặc. Hè năm sau tôi tự động xin ông già cho đi Đà Lạt để học thi.(?) Hồng vẫn còn đó, trong xóm cũ, nhưng tôi chỉ dám núp sau cánh rèm, nhìn theo bóng em mỗi khi cô ôm cặp trước ngực đi ngang qua cửa.

 “Máu giang hồ của mày đâu rồi? Sao nhát thế?”

Tôi tự hỏi, rồi một buổi sáng tôi dậy sớm đi xuống đường giả đò chạy bộ, chờ đúng giờ Hồng đi học, tôi đi ngược trở lên như vô tình đụng mặt, con hẻm chật hẹp làm sao em tránh, tôi dự định nói nhiều nhưng miệng chỉ còn lắp bắp:

“Xin lỗi cô Hồng về việc tôi huýt ..”.

Hồng không nói gì mà né sang một bên rồi tiếp tục đi, em đi đường em, tôi đi đường tôi. Bực bội, mắc cở tôi quay lại chưa kịp rủa thầm thì đúng lúc tôi bắt gặp Hồng cũng quay ngược lại nhìn trộm rồi mỉm cười. Nụ cười khinh bỉ? Nụ cười ngạo mạn hay thương hại cho thằng nhỏ còn nhớ cái lỗi chọc gái hè năm ngoái? Kệ, bất cứ lý do gì đi nữa thì nụ cười của cô Hồng hàng xóm cũng đã làm tim tôi đập loạn nhịp.

Thế mới biết nụ cười của giai nhân là nguy hiểm, làm “đổ nước nghiêng thành”, nụ cười giai nhân đốt cháy bao “tướng công”. Hồng Đà Lạt đã đẹp lại thêm nụ cười chúm chím buổi sáng, hơi thở mờ mờ hơi sương thì dẫu sắt cũng phải mềm. Nụ cười của Hồng vào những mùa Hè kế tiếp sau đó và thư đi tin lại làm tôi đầu quân vào Võ Bị.

Nói ra có vẻ nhụt chí làm trai, nứt mắt đã lụy vì gái mà thiếu lý tưởng phục vụ Tổ Quốc, nhưng thú thật Hồng gai Đà Lạt và những bộ Jaspe’ dạo phố mùa Đông của mấy ông Võ Bị đã làm tôi bỏ quyết định vào một quân trường khác mà chọn lò luyện thép đồi 1515 để tu thân.

Hồng hàng xóm không biết tôi vào Võ Bị, ngày đi phố đầu tiên, sau 8 tuần Tân Khóa Sinh, tôi súng sính trong bộ đại lễ màu trắng với cầu vai alfa đỏ có tua. Xe GMC nhà trường thả tân sinh viên sĩ quan xuống khu chợ Hòa Bình, tôi thong thả xuôi dốc, qua cầu Ông Đạo, theo đường Phạm Ngũ Lão, miệng thổi sáo, mang tâm trạng “áo gấm về nhà” với những lo âu cùng hồi hộp. Lo âu vì vô phúc mà đụng mặt ông niên trưởng trên đường thì chỉ có thác! Hồi hộp vì nghĩ tới lúc gặp Hồng, chắc cô hàng xóm sẽ ngạc nhiên khi thấy tôi bất ngờ là SVSQ/VB.

Khi đi ngang qua nhà Hồng, tôi không thấy bóng Hồng đâu nhưng lại thấy bố Hồng đang trà đàm, café’ đạo cùng mấy ông SVSQ đàn anh ngoài sân! Liếc nhìn những bộ Jaspee’ là tôi biết họ là đàn anh, nhưng không dám nhìn cặp alfa để biết họ là khóa mấy? Khoá 18, khóa 17 hay khóa 16 đây? Theo quyền sinh sát trong gia đình họ “Cùi” thì K18 là cha, K17 là ông nội, K16 là ông cố nội của K19 chúng tôi, tôi chỉ kịp than thầm: “Chết rồi!” Rồi lủi thẳng vào nhà mà quên đi một động tác bắt buộc, tối cần thiết là đưa tay lên chào các niên trưởng dù họ có nhìn thấy mình hay không.

“Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”!

Đang hí hửng toan khoe người đẹp cặp alfa thì đã bị “ông cha, ông cố” chắn lối! Tôi lo lắng hồi hộp, quên hẳn bóng Hồng ngay bên cạnh mà nghĩ đến chuyện tương lai, tai ương sẽ không bao giờ thoát. Miệng đắng ngắt bữa cơm chiều, tôi vội vàng thuê tac-xi trở về trường gấp đề chuẩn bị “tương lai”. Vừa về đến trường là tới giờ xuống phạm điếm (nhà ăn), không ăn cũng phải đi tập họp để sinh viên cán bộ điểm danh.

Sau vài động tác sơ khởi bốn món ăn chơi nhẩy xồm, hít đất, tôi nghe tiếng thét của hung thần Khóa 17 từ trên bục gỗ:

“SVSQ khóa 19 nào sáng nay ra phố gặp các niên trưởng đã không chào mà còn nghinh, hãy tự giác bước ra khỏi hàng”!

Hai tiếng “tự giác” thật nhẹ nhàng nhưng là tôn chỉ của người SVSQ, thiếu tự giác thì chỉ còn con đường “thịt nát xương tan”! Tôi tự giác bước ra khỏi hàng. Tối mùa Đông Đà Lạt lạnh cóng mà sao trán tôi vã mồ hôi, hai đầu gối chúng không nghe lời mà cứ run lên bần bật.

Màn dạy dỗ của mấy “ông nội 17” kéo dài cho đến khi kèn báo giờ đi ngủ tôi mới được tha về phòng! Người tôi tã ra như cái mền rách nhúng nước, nằm vật xuống nền nhà, mặc cho 2 thằng bạn cùng phòng là Nguyễn Xuân Huy và Nguyễn Trọng Hiếu thay quần áo dùm, còn tôi chỉ biết thở dài than thầm:

“Nào ai dám nghinh! Vừa trông thấy các ông là tôi đã sợ té đ.. nên mới quên chào! Nào ai dám liếc các ông, tôi chỉ liếc xem cô hàng xóm có nhà hay không mà thôi! Nhưng than ôi! Hồng kia đã có chủ rồi! Thôi từ nay em xin chừa không dám liếc nữa”.

Những Chủ Nhật sau đó, mỗi khi bất ngờ gặp Hồng ngoài sân, ngoài ngõ, tôi chỉ biết yên lặng gật đầu chào như chào một người chị và Hồng thì khẽ cười mím chi. Bà chị tôi biết ý hỏi:

“Cậu giận cô Hồng à? Cô ấy hỏi thăm cậu đấy."

Tự ái được vuốt, tôi lại thấy Hồng đẹp, Hồng hiền dễ thương hơn, nhưng tôi sợ, tôi sợ cái buổi tối sau cái hôm đi phố đầu tiên ấy. Hồng đã có gai nay lại còn thêm hai ba vòng kẽm gai “concertina” của mấy ông niên trưởng khóa đàn anh rào quanh nữa thì đàn em chỉ còn thở than, than thở:

“Chí tuy còn mong tiến bước nhưng sức không kham nổi đoạn trường”.

Hai năm quân trường với bao cay đắng khổ cực nhưng giúp tôi trưởng thành, hãnh diện và mãi mãi nhớ những kỷ niệm quân trường, bị hành xác và hành xác lại khóa sau như vũ điệu liên hoàn “nàng dâu mẹ chồng”. Nhớ ơn các niên trưởng, không mẹ chồng đố “mày” thành sinh viên sĩ quan trường Võ Bị

Hình ảnh bộ kaki với cặp alfa làm việc trên cầu vai, đôi găng tay và thắt lưng cổ truyền trắng muốt, cái mũ nhựa, đôi giày sô bóng loáng là nỗi kinh hoàng đối với bất cứ anh chàng dân chính nào vừa bước qua cổng Nam Quan. Không cần biết tính nết như thế nào, nhưng hễ ai mặc những thứ đó vào là cặp mắt tự dưng có lửa, long lên sòng-sọc, nụ cười tự dưng biến mất mà chỉ còn những la cùng hét. Nhưng cũng thật đẹp và oai, hạnh phúc cho những ai được mặc bộ kaki ấy, đó là biểu tượng của trường Võ Bị. Nếu một mai, có cựu sinh viên nào trở về làm chỉ huy trưởng trường VBQGVN thì tôi xin để nghị CHT cho đúc một bức tượng SVSQ Cán Bộ đặt ngay trước cổng trường như bức tượng đồng đen ở trước Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ/RNSL ở Dục Mỹ.

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, trường đại học CTCT, các chàng sinh viên SQ là một thành phần tạo nên nét đẹp Đà Lạt, câu chuyện anh em nhà Võ họ hành hạ nhau ra sao thì trăm họ đều biết, chuyện quân trường để lần sau, đề tài này tôi xin kể tiếp những bông Hồng gai.

Những ngày Chủ Nhật được đi phép, thay vì ra phố, nhưng lại thấy thằng em cứ nằm nhà, bà chị tưởng tôi thất tình cô hàng xóm bèn rủ em đi chợ Hòa Bình.

Đi với chị, chị cho cậu coi cái này hay lắm”.

Tôi theo chị vào chợ, thấy chị nói chuyện với bà chủ sạp vải, tôi trông dáng bà quen quen, phụ với mẹ tiếp khách là một cô tuyệt đẹp, tôi cũng thấy như quen quen. Tôi mỉm cười một mình, chàng thanh niên nào thoạt trông thấy người đẹp đều có cảm tưởng là mình đã quen, “quen quen”. Nhưng quen riết rồi thì làm bộ mặt xa lạ, quên cả đường đi lối về nhà em!

Ra khỏi chợ, bà chị hỏi tôi:

“Cậu có nhớ bà chủ sạp vải vừa rồi là ai không?”

 Không nghe tiếng tôi đáp lại, chị tôi có vẻ sốt ruột nên tự trả lời ngay:

“Bà Xuân đấy, hàng xóm của nhà mình ở phố Dinh, Hải Phòng đấy”.

Tôi giật mình vội hỏi liền:

“Thế cái cô đèm-đẹp ngồi cạnh bà Xuân là cô Hồng hay cô Phụng”.

 “Cô Hồng, cậu thấy sao? Hay lắm đấy”.

Lại một bông Hồng nữa xuất hiện, Hồng này có cô em gái tên Phụng nên tạm xin gọi là Hồng-P. Hồng-P, Phụng và em trai tên Thiệp là những người bạn trong khu phố Dinh Hải Phòng của tôi thời 1954-55. Chúng tôi chơi thân với nhau, thường đánh bi đánh đáo, búng dây thung, chơi trò bịt mắt bắt dê, tối tối rủ nhau đi ăn “chí mà phù”, “lạc phá xang” ngoài bờ sông Cấm. Trong đám bạn ấy, Hồng-P đẹp nhất và dễ thương, tôi thường về phe Hồng-P, bênh vực Hồng-P mỗi khi có tên nào chọc ghẹo, Hồng cũng thường cho tôi kẹo cam thảo. Nhớ lần tôi bị bịt mắt đi bắt dê, lạng quạng làm sao tôi chụp được Hồng-P rồi nghe Hồng-P kêu ré lên, tôi hoảng hồn vội kéo miếng vải bịt mắt xuống thì mới hiều lý do tại sao Hồng la, thay vì chụp sau lưng thì tôi lại chụp nhầm chỗ, chụp phía trước...!

Hồng đỏ mặt lườm tôi, tôi bối rối không biết nói gì nhưng không giận nhau. Thời gian ngắn sau, cả khu phố chúng tôi xuống tàu Marine Serpent di cư vào Nam, mỗi người một nơi, gần 10 năm sau, nay bất ngờ gặp nhau đây mà không nhận ra bạn cũ.!

Nhớ kỷ niệm xưa, nay thấy em đẹp quá, tôi sinh ngẩn ngơ, dò tin tức biết gia đình Hồng-P ở khu dốc Nhà Bò, như vậy Hồng-P sẽ đi lễ nhà thờ Con Gà. Kể từ đó tôi siêng đi lễ ngày Chúa Nhật hơn và Chúa đã thương con chiên không ngoan đạo, tôi đã trông thấy Hồng-P “trong giáo đường đêm Noel ấy”.

Vẫn suối tóc dài chấm eo thon, nhưng Hồng-P không còn là một cô bé 12 nữa mà là một thiếu nữ tuyệt đẹp, đẹp hơn ngày xưa nhiều lắm. Dần dần mỗi Chủ Nhật tôi tìm cách ngồi xích lại gần từ phía sau thêm một chút cho tới khi Hồng-P ngồi hàng ghế trước, tôi quỳ ngay phía sau, những lần như thế thì .. “mùi tóc em thơm làm ngây ngất hồn anh”! Chúa ở trên cao còn người tôi yêu thì ngay trước mặt, tôi không nghe được lời giảng của linh mục mà chỉ nghe nhịp đập loạn xạ của con tim. Ước chi thưở đó cũng có nghi thức bắt tay những người xung quanh như ngày nay ở hải ngoại. Khi linh mục chủ tế nói: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau” thì con chiên quay xung quanh cầm tay nhau nói: “chúc bình an”

Hồng-P đẹp như một pho tượng khiến tôi không dám lại gần hoặc vì “nhát gái” nên tôi cứ lẽo đẽo theo sau mỗi sáng Chúa Nhật để rồi khi vào trường là nhớ nhung mộng mơ cả tuần! Tới gần ngày mãn khóa thì tôi uống thuốc liều, sau thánh lễ tôi chận Hồng ngay cuối nhà thờ và thật khó mở đầu, tôi chỉ gọi được một câu:

“Hồng”.

Có lẽ Hồng cũng đã nhiều lần từng bị các chàng SVSQ chận đường như vậy nên nàng hơi khựng lại, nghiêng đầu hất mái tóc qua một bên, nhìn xem người gọi tên mình là ai. Tuy thật bối rối nhưng không còn đường lui, rất nhanh, tôi nhắc chuyện ngày xưa. Khi nhận ra tôi, Hồng cười thật tươi và .. bạn cũ không rủ cũng tới, thật tự nhiên Hồng đưa tay ra cho tôi bắt và nói:
 _
“Mấy tháng nay Hồng biết có người theo dõi, nhưng không ngờ đó lại là VanTo”.

Hồng-P mời tôi về nhà, cũng gần đó thôi, ngay cuối dốc nhà Bò. Tôi nói với Hồng là tôi biết nhà từ lâu rồi, để tôi dẫn đường cho thì Hồng nháy mắt.

“Vẫn cái tật nghịch ngợm như ngày xưa ở Hải Phòng”.

Tôi không biết Hồng còn nhớ cái vụ tôi chụp nhầm chỗ trên người Hồng khi chơi trò “bịt mắt bắt dê” hay không, nhưng nghe Hồng nhắc kỷ niệm cũ tôi thấy cái bàn tay ngày ấy tê-tê, thấy ấm lòng và hồi hộp khi Hồng mời về nhà. Bước vào nhà chưa kịp hỏi thăm ông bà cụ và các em thì Hồng đã nói:

Mẹ bán vải ngoài chợ Hòa Bình, bố đi chơi xa, em Phụng đã có gia đình và ở riêng, còn em Thiệp thì đi Không Quân, hiện đang học ở Nha Trang”

Bạn bè gần 10 năm mới gặp lại nhau làm sao kể cho hết kỷ niệm, Hồng-P giữ tôi ở lại ăn cơm với đọt su-su xào tỏi. Mộng ước theo đuôi bấy lâu chỉ mong có thế thôi, nay đang trong tầm tay, trời gầm cũng không nhả. Tôi giúp Hồng tước vỏ đọt su-su, ôn chuyện cũ, đôi khi như vô tình, hai tay chạm vào nhau khi cùng một lượt lấy đọt rau đựng trong rổ và rồi cứ để yên. Hồng đột ngột hỏi tôi:
 _
“ Tháng sau Anh mãn khóa rồi phải không?”

 Hồng-P bất chợt gọi tôi là anh thay vì Vanto khiến tôi muốn ngộp thở, không trả lời câu nàng hỏi mà nhìn thẳng vào mắt nàng, không cần phải giả đò ứa lệ mà tôi cảm động thật sự, làm liều bóp chặt tay em, tôi nói:
 _
“Em vào dự lễ mãn khóa của anh nhá”.

Có lẽ bàn tay tôi chai đá vì hít đất nhẩy xổm  mà xiết “búp măng” hơi chặt, tay Hồng-P hơi nhúc nhích như muốn gỡ ra nhưng lại vẫn để nguyên chỗ cũ rồi em mỉm cười khẽ nói:
_
“Đây là lần đầu tiên em sẽ được dự lễ mãn khóa của một SVSQ Võ Bị”.

“Lần đầu tiên” ư? Đúng hay sai chưa biết, nhưng rõ ràng Hồng-P muốn nói một điều gì đó mà chỉ những người để ý đến nhau mới hiểu: “em chưa có ai”. Chúng tôi xưng hô “anh em” từ lúc nào không hay, nói đủ chuyện trên trời dưới đất, trừ chuyện tình yêu. Khi bắt tay nhau để tôi về trường thì trời đã tối, đành gọi taxi, dùng dằng tay lại cầm tay, nghe như có tiếng ai nghẹn ngào:
 _
“ Mình vừa gặp lại nhau thì đã! Có thể lại xa nhau 10 năm như lần trước”!

Hồng-P đến tham dự ngày mãn khóa và chúng tôi vui bên nhau như chưa bao giờ có, thân thiết nhau như “ngày xưa thân ái”. Rồi chúng tôi chia tay nhau trong tình bạn, tình yêu hoàn toàn trong sáng, tôi nói với Hồng-P ước mong sẽ quay lại chọn .. Đà Lạt làm nơi dừng chân. Lệ tràn khóe mắt, tay nắm tay, Hồng-P chúc tôi lên đường bình an và sớm gặp lại.

Hôm đó là sáng ngày 30 tháng 11 năm 1964.

Sau 15 ngày phép mãn khóa, vừa khoác áo trận TQLC ra chiến trường thì ngày 31/12/1964, thủ khoa Võ Thành Kháng cùng Nguyễn Văn Hùng TĐ.4/TQLC, Nguyễn Thái Quan BĐQ hy sinh tại mặt trận Bình Giả Phước Tuy, chưa kể một số bị trọng thương! Chiến tranh khốc liệt bắt đầu, những chàng trai Võ Bị lăn vào lửa đạn, thằng mất thằng đu mình trên đôi nạng gỗ, không còn thời gian nào đề nghĩ đến bố mẹ, gia đình và cả người yêu, trước mắt chì còn đồng đội, đôi khi vừa gặp nhau chưa tàn điếu thuốc thì vuốt mắt cho nhau!

Những bông Hồng Đà Lạt thường trách các anh mau quên lời hứa! Không phải thế đâu, nhớ lắm chứ, nhớ mà chưa có seo-phôn gọi về khiến càng nhớ thêm. Nằm võng viết thư cho người yêu bằng ánh sáng đèn pin, vừa nắn nót được câu: “Em yêu” thì nghe địch pháo kích, “ầm”! Buông “em yêu” để nhẩy ào xuống hố. Thôi hẹn em thơ sau để anh đi kiểm soát xem có ai bị thương không ..và đã có người vừa vĩnh viễn ra đi sau tiếng nổ! Nhớ lắm chứ nhưng sao đành để em phải đội khăn tang, thôi đừng trách các anh nữa những bông Hồng gai Đà Lạt ơi.

Hồng-P và tôi tiếp tục thư từ qua lại và mí-mí chuyện tương lai, nhiều khi nhận được thư nhưng chưa kịp đọc vì đang lội sình, thư trên túi áo cũng bị ướt nhòe, mắt anh mờ không đọc được thư em. Thú thật nhiều lúc mong bị thương, bị nhẹ thôi, để có dăm ba ngày dưỡng thương về phép thăm người mình thương

Cầu được ước thấy, nhưng khốn nỗi, không nhẹ tí nào mà nặng ngàn cân, tôi bị loại khỏi vòng chiến ngày 19/6/1969, gẫy chân tay, đạn chui qua lưỡi trào máu họng! Sau hơn một năm nằm nhà thương, rồi xuất viện chờ tái khám, tôi chân thấp chân cao, tay bó bột tay chống nạng, trở về thăm trường cũ và người xưa. Năm 1970, trường Võ Bị vẫn như ngày nào, tôi gặp lại niên trưởng K17 cùng người bạn đồng khóa Nguyễn Xuân Huy và vài bạn khác nữa đang là cán bộ và huấn luyện viên của trường.

Huy dẫn tôi đi thăm một vòng doanh trại, đâu đâu cũng gặp những hình ảnh quen thuộc và nhớ thương. Nhìn căn phòng ngày xưa Huy và tôi ở là tôi nhớ ngay mỗi trưa thứ Bẩy chúng tôi không dám ngả lưng trên giường mà nằm dưới sàn để chờ “hung thần” khám xét. Bước vô phạn điếm là nhớ cảnh TKS/k19 ngồi thẳng lưng miệng nhai cơm với ớt, mắt trợn trừng vì cay, tai nghe bản nhạc “Biệt Kinh Kỳ” mà mấy ông NT/K17 cố tình hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần đàn em!

Hình ảnh đẹp là các SVSQ trong quân phục tác chiến di chuyển nhanh nhẹn đầy sức sống, mặt lúc nào cũng ngước lên, hướng về tương lai cao hơn thay vì cúi xuống “lượm bạc cắc” như lời mấy ông cán bộ vu oan giáo họa. Nhưng hình ảnh đẹp nhất vẫn là các chàng SVSQ trong quân phục dạo phố, những cặp alfa đỏ với hai hoặc ba vạch vàng, “tay trong tay với những bông hồng” trông nó oai, nó đẹp làm sao! Tôi đã từng được giống như họ, tuy chỉ với “con cá một đuôi” mà còn thấy thấy mê huống chi những người khác .. phái. Nếu như bây giờ trường VBQGVN lại tuyển mộ sinh viên thì tôi sẽ lại nạp đơn ngay, nạp thật sớm để làm sinh viên đàn anh đón tiếp TKS khóa 17.

Tôi gặp lại Hồng-P khi còn là SVSQ và lời hứa năm xưa với Hồng-P là sẽ quay về chọn Đà Lạt làm nơi dừng chân, và tôi tin rằng trong tim Hồng-P vẫn là hình ảnh một SVSQ trong quân phục dạo phố mùa Đông. Nhưng buồn thay, ngày nay quay trở về, sau 6 năm xa cách với một thân xác “bệnh hoạn”, chân thấp chân cao thì làm sao dừng chân với em đây!

Gió lạnh trên đồi thông trước cổng câu lạc bộ Nhữ Văn Hải thổi mạnh làm một ống quần tôi lay động, bất giác tôi rùng mình và quyết định không trở lại quân trường nữa, thất hứa với Hồng-P, tôi không chọn Đà Lạt làm nơi dừng chân, không đủ can đảm gặp lại Hồng-P trong hoàn cảnh trớ trêu! Hãy giữ mãi cho nhau hình ảnh đẹp hơn là “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về làm dang dở đời em”.

Tôi không giải ngũ như hội đồng y khoa phân loại, mà xin quay về với anh em đồng đội TQLC, ở đó anh em chúng tôi cần nhau và tôi cũng tự an ủi rằng mình còn may mắn hơn những đồng đội khác khi họ đã phải trở về trên chiếc xe lăn và hằng ngày, mỗi tuần, hằng trăm anh em trở về với hòm gỗ không có hoa cài, không có hai hàng nến trắng mà chỉ có những vành khăn tang.

Chúc Hồng hàng xóm, Hồng-P, cả hai Hồng và những bông hồng gai Đà Lạt không phải nhìn thấy khăn tang và đừng trách các anh VB là những người không biết giữ lời hứa./.  

Blog Archive