Showing posts with label Trang Y Hạ. Show all posts
Showing posts with label Trang Y Hạ. Show all posts

Thursday, November 3, 2022

HỒI ỨC VỀ TỔNG THỐNG DIỆM

Cha tôi sinh năm một nghìn chín trăm không bảy [1907]. Nghĩa là cha tôi chỉ sinh sau ông Diệm có sáu năm. Cha tôi lớn lên trong thời kỳ đất nước Việt Nam bị đế quốc Pháp đô hộ gần một trăm năm. Cha tôi không ảnh hưởng văn hóa của nước Pháp, ông am hiểu chữ Pháp, chữ Nho từ cha của ông [tức ông nội của tôi]. Cho nên cách sống, cách suy nghĩ và xử thế có phần nguyên tắc theo kiểu trung thần “quân xử thần tử…” của một nhà Nho. Cha tôi cũng có học chữ Việt, nhưng chỉ đủ để đọc sách chứ không đi thi lấy bằng. Tôi chịu ảnh hưởng nhiều ở cha tôi.

Cha tôi nói rằng: Ông Diệm là người công chính, là người ái quốc. Ông lo cho dân cũng như tiền đồ tổ quốc. Ông chấp chính với hai bàn tay trắng. Hiệp Định Genever 1954 chia đôi đất nước Việt Nam. Miền Bắc thuộc phe Cộng Sản. Miền Nam thuộc phe tự do Quốc Gia. Miền Nam - lúc bấy giờ quá hỗn loạn không khác gì loạn “Mười hai sứ quân”, mỗi phe phái cát cứ mỗi lãnh địa riêng… Bằng tài năng hiếm có, ông Diệm đã bình phục và thâu phục các: Giáo phái, đảng phái chính trị, các thân hào địa chủ… đứng về phía Chính Phủ. Hoa kỳ đồng ý viện trợ để giúp ổn định tình trạng xã hội… Công lao của ông Diệm quả là to lớn. 

Tuy nhiên, những thành quả mà chính quyền của ông Diệm đạt được cũng đã gây ra sự va chạm – trước tiên là các chủ đồn điền cao su của người Pháp, thương gia người Hoa và của một số người Việt đã một thời theo Pháp mà được giàu sang, có học vị cao, hoặc các đảng phái tuy quy thuận chính phủ nhưng chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng. Ngoài ra, một số (một số) tướng tá xuất thân từ lính “Khố xanh, Khố đỏ” của Pháp. Tuy được chuyển qua quân đội Quốc Gia miền Nam và được giữ nguyên cấp bậc, chức vụ - nhưng do trình độ văn hóa, chính trị yếu kém lại ham quyền lực mà bị mua chuộc rồi đâm ra phản bội - quay súng lại giết ông Diệm và cả dòng họ của ông”.

Tôi còn nhỏ, mỗi khi nghe cha tôi nói về ông Diệm thì nghe vậy chứ chưa có một dấu ấn gì trong lòng mỗi khi nhìn thấy ảnh của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Cuối năm lớp nhất, tôi được vinh dự đứng trong hàng ngũ học sinh đi đón Tổng thống Diệm - khi ông về thăm xã chúng tôi - một xã Dinh Điền - nằm trong chương trình di dân lập ấp. Bữa đó ông tổng thống mặc bộ Veston màu trắng, đầu đội mũ phớt, tay cầm cây gậy. Ông nói chuyện gì với dân chúng thì tôi không còn nhớ vì còn nhỏ. Tôi chỉ nhớ người dân vỗ tay rất nhiệt thành.

Cha tôi nói với tôi rằng: Ông Diệm không đàn áp Phật Giáo như những gì phe quân đội đảo chánh nói cũng như các bên chống đối khác... Bởi trong nội các chính phủ gồm: Quân đội - tướng tá và viên chức hành chánh trong chính phủ đa phần là người của Phật giáo.

Chính phủ ông Diệm cũng không “tham nhũng”. Vì nếu tham nhũng thì còn tiền đâu mà thực hiện các chương trình cải tổ canh tân - lo cho dân cho nước… Việc mở rộng Phi Trường Tân Sơn Nhứt năm 1960 là bằng chứng tiết kiệm ngân sách của tổng thống Diệm:

Phi trường Tân Sơn Nhứt được nối dài phi đạo 3.000 mét – đó là vào năm 1960. Hoa Kỳ đồng ý tài trợ 4,5 triệu USD. Ngân khố VNCH bỏ ra 70.000 đồng. Việc bỏ thầu tại Washington. Hoa Kỳ đề nghị phía VNCH cử đoàn giám sát. Bộ Công chánh - Giao thông - Nha Hàng không dân sự cử kỹ sư Tạ Huyến, kỹ sư Nguyễn Xuân Hiếu. Cả hai đều học Pháp về, trực tiếp tham gia nghiên cứu tiền dự án. Thời gian đi 3 tuần, phụ cấp 20 USD mỗi ngày và 3.000 USD giao tế phí. Danh sách hai kỹ sư cử đi được Tổng trưởng Công chánh - Giao thông và Tổng trưởng Ngoại giao đồng ý và chuyển trình Phủ Tổng thống xem xét. Đích thân ông Ngô Đình Diệm đọc công thư và bút phê như sau:

“Chỉ đồng ý cữ đi một kỹ sư. Chỉ cho đi 2 tuần. Cắt bỏ hết 3.000 USD giao tế phí, vì kỹ sư giám sát không cần giao tế gì lớn.

Cuối cùng, Tổng thống Ngô Đình Diệm yêu cầu các thiểm bộ liên quan: Công chánh, Ngoại giao và Nha Hàng phải tiết kiệm. Bởi tình hình tài chánh quốc gia đang khó khăn, không được lãng phí tiền đóng thuế của Quốc dân Đồng bào!”

TT Ngô Đình Diệm cho biết: Hoa Kỳ họ viện trợ nhưng đa phần họ quy ra vật phẩm có sự kiểm soát trực tiếp của các cơ quan của họ.

Ông Diệm cũng không là tay sai cho Mỹ. Bởi ông kiên quyết không để cho Mỹ đưa quân đội Hoa Kỳ vào miền Nam hoặc can thiệp quá sâu vào nội tình đất nước cũng như chính phủ. Đưa quân và can thiệp quá sâu sẽ mất đi chính nghĩa của người quốc gia. Ngay sau khi chấp chánh tổng thống Diệm đã hô hào toàn dân hãy “Tự Túc, Tự Cường - Tự Lực Cánh Sinh”, quyết không dựa vào sự viện trợ của nước ngoài. 

Chính sự “Phản Kháng” nầy mà ông Diệm bị Hoa Kỳ [đảng Dân Chủ] giết một cách tàn nhẫn vào năm 1963 để rồi tới năm 1965 ồ ạt đổ nửa triệu quân vào Miền Nam và vội vàng rút ra bỏ mặc cho Miền Nam tự lo liệu! Ông Diệm không những bị khối CS đánh, ông còn bị khối tự do kể cả Phật giáo, Tòa thánh Vatican và nhóm linh mục, giáo dân công giáo cuồng tín không thích..!. Chính phủ của ông chỉ tồn tại có chín năm - nhưng trong chín năm đó là chín năm gặt hái được rất nhiều thành công trên mọi lãnh vực, như: Ổn định về chính trị - Ổn định về ngoại giáo - Ổn định về quốc phòng - Ổn định về trật tự xã hội - Ổn định về kinh tế thương mại, kỹ nghệ - Ổn định và phát triển về văn hóa giáo dục và Y tế …”.

Cha tôi còn nói: Hoa Kỳ và phe quốc gia không ký tên vào Hiệp Định Geneve chia đôi Việt Nam năm 1954. Trong Hiệp định đó chỉ có: Bắc Việt, Trung Cộng, Liên Xô và Pháp đặt bút ký. Do đó Hoa Kỳ và phe Quốc Gia không bị ràng buộc cũng như không chịu trách nhiệm trước lịch sử. Ông Diệm và gia đình của ông bị chết thảm. Nguyên nhân chính là do người quốc gia và Hoa Kỳ chủ mưu…! Mất miền Nam kể từ khi ông Diệm chết…!

Cha tôi nói: Tổng thống Ngô Đình Diệm là người Việt Nam đầu tiên được đọc diễn văn bằng tiếng Anh trước Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 9.5. 1957. Đồng thời Tổng thống Diệm luôn tôn trong quốc phục Việt Nam (áo dài khăn đóng) để đi kinh lý nước ngoài và tiếp khách tới viếng thăm.

Lớn lên tôi tìm hiểu, đồng thời tôi đọc rất nhiều tài liệu lịch sử của nhiều sử gia, cũng như hồi ký của những người lật đổ và giết ông Ngô Đình Diệm cả người Việt, người Mỹ, người Phương Tây, người CS (nhất là sau khi khối CS Liên xô và Đông Âu sụp đổ). Tôi mới hiểu ra rằng: những gì cha tôi kể cho tôi nghe về ông Diệm hoàn toàn đúng. Trong cuốn hồi ký của Tổng thống Hoa Kỳ có đoạn như sau:

“Chúng ta đã dính tay vào vụ giết ông Diệm. Và giờ đây bàn tay ấy đang hiện lên trước mắt chúng ta”. Trang 30 (Lyndon Johnson)

"Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nói:

“Thus, as the nine-year rule of Diem came to a bloody end, our complicity in his overthrow heightened our responsibilities and our commitment in an essentially leaderless Vietnam” . (Pentagon Papers viii)...

(Chín năm cầm quyền của TT. Diệm, chấm dứt trong máu, sự đồng lõa của chúng ta trong việc lật đổ ông ta đã làm tăng thêm trách nhiệm cũng như sự trói buộc của chúng ta vào trong một đất nước Việt Nam hoàn toàn không có lãnh đạo).

Thơ: Tồng thống Ngô Đình Diệm:

NỖI LÒNG
Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!
Xe muối nặng nề thẩm vó ký
Đường mây rộng rãi tiếc chim hồng
Vá trời lấp biển người đâu tá ?
Bán lợi mua danh chợ vẫn đông !
Lần nữa nắng mưa theo cuộc thế
Cắm sào đợi khách thuở nào trong ?
NGÔ ĐÌNH DIỆM 1953

CHƯƠNG TRÌNH TÁI THIẾT MIỀN NAM TIÊU BIỂU:

- Ngày 26/10/1955. Trưng cầu dân ý.

- Ngày 26/10/1956. Công bố bản Hiến pháp và đổi tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa, Quốc trưởng đổi thành Tổng thống.

- Hiệp định phân chia hai miềm Nam – Bắc. Tổng thống Ngô Đình Diệm đón nhận một triệu người di cư vào Nam. Lo an cư lạc nghiệp và phát triển về mọi mặt đời sống.

- Thực hiện Cải Cách Điền Địa. Chính phủ mua ruộng của các điền chủ để phân phối miễn phí cho nông dân.

- Đối với người Thượng trên Cao Nguyên. Chính phủ không lấy đất của họ, nơi nào cần thì thương lượng, bồi thường xứng đáng và giúp đỡ trên mọi vấn đề… Chính phủ để cho họ tự quyết mọi sinh hoạt trong buôn làng cũng như học hành chữ viết tập tục của họ. Họ được học tiếng người Kinh. Người Thượng được ưu tiên có bằng Trung học là thuộc tài nguyên sĩ quan thay vì tú tài như người Kinh. Người Chàm khỏi phải nhập ngũ.

- Chính Tổng thống Diệm đặt tên cho các sắc dân [sắc tộc]trên Cao Nguyên là Thượng (Người Thượng ở trên vùng cao) thay vì kêu họ bằng "Mọi" một cách miệt thị.

- Giáo Dục: Miễn phí. Tuy nhiên có trường Tư Thục và trường Hàm Thụ. Giáo dục dạy theo đường lối “Khai Phóng – Nhân bản và Dân Tộc”. Giá trị văn bằng được Bộ Giáo Dục công nhận ngang nhau nhằm khuyến khích con em đi học.

- Y Tế miễn phí cho toàn dân. Ngoài ra còn có Bệnh Viện Tư Nhân.

- Tổng thống Ngô Đình Diệm cho mở chương trình xổ số để lấy tiền lời kiến thiết quốc gia.

- Tái thiết đường sắt xe lửa từ Đông Hà vào Sài Gòn năm 1959.

- Mở rộng xa lộ Biên Hòa.

-Tái thiết Quốc lộ 19 nối liền duyên hải Miền Trung và Cao nguyên Trung phần (Pleiku và KonTum).

-Tái thiết quốc lộ 14 từ Buôn Mê Thuột tới KonTum và Hiệp Đức Quảng Nam.

- Xây Dựng Viện Đại Học Huế. Ngoài ra Tổng Thống Ngô Đình Diệm dùng khoảng 6 triệu đồng tiền lời của 8 lần “Xổ số Kiến Thiết Quốc Gia” liên tiếp để thành lập Đại Học Y Khoa Huế. Và thành lập các viện đại học khác trong cả nước.

- Học Viện Quốc Gia Hành Chánh:

Tổng Thống Ngô Đình Diệm chấp chánh, ông đã hết sức coi trọng công việc nội chính quốc gia. Ông bắt tay cải tổ trường Quốc Gia Hành Chánh. Trước đây, trường nầy đặt ở Đà Lạt và trực thuộc bộ Giáo Dục. Năm 1954, ông cho dời trường về Sài Gòn và đặt Học Viện Quốc Gia Hành Chánh dưới sự đào tạo và giám sát của Phủ Thủ Tướng, sau đó thuộc phủ Tổng Thống (tức trực thuộc sư chăm sóc của ông).

Chương trình học của học viện này do Michigan State University (MSU) trợ giúp trong việc soạn giáo trình. Kho sách của trường được coi là một trong những thư viện lớn nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Sinh Viên cũng được huấn luyện quân sự ở các trường quân sự chuyên nghiệp như trung tâm huấn luyện Quang Trung, học chiến thuật ở rừng cao su Phú Thọ hay trung tâm Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám v.v

Môn học chính của Quốc Gia Hành Chánh gồm những kiến thức như: soạn thảo công văn, kế toán thương mại, định chế chính trị, luật hành chánh và cả luật quân sự. Tùy theo bằng cấp khi tốt nghiệp như: Tham sư, Đốc sự, Giám sự. Các chuyên viên hành chánh cao cấp này sẽ về làm việc tại các bộ như:

Giám sự được bổ nhiệm ở các Phủ, Bộ chuyên môn khác như Bộ Tài chánh, Tổng Nha Kế Hoạch. Sau khi ra trường thì chuyên viên được bổ dụng từ Phủ Thủ tướng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo hay Tổng Nha Ngân Sách và các Bộ cấp quốc gia cho đến các Ty, các Sở địa phương như: Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng. Trưởng ty…!

- Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt được thành lập năm 1950 nhưng đến năm 1959 dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới thực sự có những cải tổ sâu rộng và huấn luyện theo tiêu chuẩn quốc tế. Năm 1961, TT Ngô Đình Diệm cho xây dựng lại mới tại đồi 1515, ông đưa ra chương trình đào tạo 4 năm thay vì 3 năm như trước đây, nhưng vì những rối ren chính trị và ông bị thảm sát, mãi đến năm 1966 chính phủ tiếp theo mới thực hiện được chương trình này. Trường VBQGVN đào tạo sĩ quan chuyên nghiệp cho Không Quân, Hải Quân và Lục Quân.

- Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức:
Năm 1955 đến 1961 đã cung cấp 2/3 số sĩ quan cho QLVNCH và khoảng trên 90% các binh chủng như Thiết Giáp, Công Binh Pháo Binh Quân Nhu Quân Cụ, Truyền tin. Giữa tháng 10 năm 1961 ông lại tiếp tục cải tổ tách các trường đào tạo chuyên môn thành các trường riêng chỉ còn giữ lại Bộ Binh và Thiết Giáp là chính”.

- Năm 1958 và 1962 Tổng thống Ngô Đình Diệm phân chia lại một số các địa hạt hành chánh tỉnh và phân chia thành 4 vùng chiến thuật. Trách nhiệm bảo vệ các vùng chiến thuật này là Quân Đoàn: Quân Đoàn I bản doanh tại Đà Nẵng, Quân Đoàn II tại Pleiku Quân Đoàn III tại Biên Hòa, Quân Đoàn IV tại Cẩn Thơ.

- Tổng thống Ngô Đình Diệm được giải thưởng Magsaysay 10.000 Mỹ Kim. Ông đã tặng số tiền này cho Đức Đạt Lai Lạt Ma đang sống lưu vong ở Ấn Độ. Đồng thờ cũng viện trợ 1,5 tấn gạo.

- Giảm quyền lợi và ảnh hưởng của người Hoa, giúp người Việt có vai trò kinh doanh buôn bán được cân đối.

- Chính thức phát hành tiền tệ riêng. Một biểu tượng của quốc gia độc lập. Giá trị đồng tiền Việt Nam Cộng hòa sau đó gắn liền với đồng Mỹ kim với tỷ giá chính thức 35 $ = 1 Mỹ Kim

- Thành lập khu kỹ nghệ: Biên Hòa, Thủ Đức, An Hòa, Nông Sơn, nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thủy điện Đa Nhim, đập Đồng Cam [Phú Yên], nhà máy sản xuất vải sợi Vinatexco Đà Nẵng, Sài Gòn, Vimytex Sài Gòn, Nhà máy thủy tinh, mỏ than Nông Sơn.v . v… Đồng thời lập trường đào tạo kỹ sư.

- Thành lập Viện Hạt Nhân Đà lạt

- Lập nhiều Cô Nhi Viện, yểm trợ các Trại Cùi, các Trung Tâm Y Tế Công Cộng, các Trung Tâm Sinh Hoạt và giáo dục các người tật nguyền.

- Lập các quán cơm xã hội giúp cho người lao động và học sinh có chỗ ăn uống vừa túi tiền.

- Đưa Việt Nam tiến lên tầm cao mới (Việt Nam được 80 Quốc gia trên Thế giới công nhận , Việt Nam là Hội viên Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, .... )

- Đề ra một số đạo luật khá đặc biệt, trong đó đáng ghi nhận nhất là Luật Bảo vệ Gia đình và Luật Bảo vệ Luân lý.

- Thiết lập mã vùng điện thoại viễn liên quốc tế [84] cho quốc gia và mã không lưu cho phi trường Tân Sơn Nhứt tới nay vẫn còn đang xử dụng.

- Thiết kế đường xe lửa trên không cho Sài Gòn

- Lập đồ án xây dựng vùng đất Thủ Thiêm

- Tổng thống Ngô Đình Diệm với chương trình du học "Colombo". Gửi sinh viên du học sang Hoa Kỳ, Anh quốc, để giảm áp lực ảnh hưởng Pháp.

- Chương trình di dân lập ấp "Dinh Điền" cho hàng triệu người không đất đai ruộng vườn, được an cư lập nghiệp nơi vùng đất mới và cho tới nay vẫn còn tồn tại và phồn thịnh.

- Ngày 17.4. 1961 Tổng thống Ngô Đình Diệm cho ra đời Chính Sách Chiêu Hồi. Chính sách Chiêu Hồi nhằm kêu gọi những thanh niên theo Việt cộng trở về nhà và được trọng dụng tùy theo khả năng. Đây là chính sách mang tính nhân đạo.

- Tổng thống Ngô Đình Diệm, cúng 500.000 nghìn đồng và ra lệnh xuất 2 triệu đồng để xây Chùa Xá Lợi rộng 2.000 mét vuông. Chùa xây hoàn thành năm 1956.

- Cấp đất xây chùa Chùa Vĩnh Nghiêm. Chùa Nam Thiên Trụ, Chùa Phổ Quang. Khu đất rộng xây chùa Vĩnh Nghiêm được ông Diệm ký bán với giá tượng trưng một đồng. Ngoài ra ông còn giúp trùng tu: Chùa Từ Đàm, Chùa Diệu Đế và một số chùa ở các tỉnh.

- Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho xây dựng 5 tượng đài để tôn vinh Đức Mẹ tại 5 thành phố:

1. Đức Mẹ Giang Sơn (Ban Mê Thuột),
2. Đức Mẹ Thác Mơ (Bình Phước),
3. Đức Mẹ Phượng Hoàng (Gia Lai),
4. Đức Mẹ Trinh Phong (giữa ranh giới Ninh Thuận & Lâm Đồng)
5. Đức Mẹ Tà Pao (Bình Thuận).

- Năm 1960, Bangladesh bị nạn đói hành hành, thậm chí xảy ra cả việc ăn thịt người lẫn nhau. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã viện trợ cho nhân dân Bangladesh 200.000 tấn gạo, 5 triệu Mỹ kim cứu trợ. Ba năm sau, khi NGÔ TỔNG THỐNG bị thảm sát, chính phủ và nhân dân Bangladesh đã để quốc tang 7 ngày và khóc không ngừng nghỉ. Quốc gia Bangladesh cho xây: Một con đường đặt tên Tổng thống Ngô Đình Diệm; một bức tượng Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫy tay chào người dân Bangladesh, hai bên là hoa sen, Quốc hoa của Việt Nam Cộng Hòa, để tưởng nhớ Tổng thống Ngô Đình Diệm ./-

NGÔ ĐÌNH DIỆM
Tôi không phải thần thánh,
Mà là người bình thường.
Tôi thức khuya, dậy sớm,
Vì đất nước, quê hương.

Tôi tiến, mong các bạn
Hãy cùng tiến theo tôi.
Tôi lùi, hãy bắn bỏ.
Tôi chết, nối chí tôi”.

Các chính khách và nguyên thủ quốc gia trên thế giới nhận xét về TT Ngô Đình Diệm:

1. Cựu Hoàng Bảo Đại đã khẳng định: “Ngô Đình Diệm nổi tiếng là thông minh liêm khiết";

2. Tổng Thống Dwight D. Eisenhower ca tụng Tổng Thống Ngô Đình Diệm là "Con người thần kỳ của Á Châu" được sử gia John M. Newman nhắc lại trong tác phẩm “JFK and Vietnam”

3. Tổng Thống Lyndon B. Johnson nhận định: “Tổng Thống Diệm là Churchill của thập kỷ mới trong hàng tiền đạo của các nhà lãnh đạo bảo vệ tự do";

4. Ký giả Bernard Fall, Giáo sư Tiến sĩ Đại Học, nhận định về tinh thần đạo đức của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong cuốn sách “The Two Vietnams” như sau: “Đúng là con người nổi tiếng thanh liêm và trung thành với nguyên tắc".

5. Nữ ký giả Marguerite Higgins, phóng viên của trên 60 tờ báo lớn thế giới, đã viết về Tổng Thống Ngô Đình Diệm như sau: “Ông là một lãnh tụ tốt, trung thực, quả cảm và đáng kính.”

6. Sử gia Arthur M. Schlesinger, Giáo sư Đại học Harvard, người thiên về phe chống lại Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng trong tác phẩm “A thousand Days”, ông đã xác nhận: “Và chính Ông Diệm là người ngay thẳng và cương quyết, tận tâm và liêm khiết";

7. Ký giả Stanley Karnow xác định: “Ông Diệm ngay thẳng, can đảm và hăng say trung thành với chính nghĩa quốc gia";

8. Giáo sư Phạm Kim Vinh trong tác phẩm “The Politics of selfishness: Vietnam. The Past as Prologue” nhận định: “Nhưng lợi điểm lớn nhất của miền nam Việt Nam năm 1954 là có được một lãnh tụ có khả năng và đạo đức tương đương để chọi lại huyền thoại Hồ Chí Minh”

9. Khi hay tin tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Mao Trạch Đông thốt lên "Chánh quyền Kennedy hạ ông Ngô Đình Diệm là một thất sách, một sai lầm rõ rệt".

10. Học giả người Úc Denis Warner đã tặng cho ông Ngô Đình Diệm biệt danh “The Last Confucian - Người hiền triết Khổng giáo cuối cùng”.

Tổng Thống Tưởng Giới Thạch nói rằng 100 năm nữa Việt Nam cũng chưa tìm được người tài đức như TT Ngô Đình Diệm.

Công trạng về Tổng thống Ngô Đình Diệm sẽ được lịch sử và người đời sau ghi nhận. Nhưng tiếc thay, hiện nay mộ phần của ông và người thân của ông từ ngày ông bị thảm sát không được phép đề tên của ông, thậm chí người dân thương nhớ ông cũng không dám công khai tới thắp nhang để bày tỏ lòng biết ơn. Người ở Hải Ngoại cũng lãng quên! Các đảng phái, các giáo phái, các cá nhân còn nuôi trong lòng hận thù. Từ lòng hận thù đó mà họ viết sách, viết hồi ký, viết báo… vạch lá tìm sâu để phê phán, chỉ trích thậm tệ nền Đệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Chính họ trước đó đã được chính phủ Ngô Đình Diệm “gắn lon, phong chức”, gia đình no ấm… Họ nguyền rủa không những cá nhân tổng thống Ngô Đình Diệm mà còn cả giòng họ của ông. Người Việt tỵ nạn khắp năm châu kể từ sau ngày 30.4.1975 tới nay chưa một ai dựng tượng để nhớ ơn một vị tổng thống khai sinh ra nước Việt Nam Cộng Hòa. Nghe đâu ở bên Thụy Sỹ có một người đứng ra dựng tượng tổng thống Ngô Đình Diệm – dựng ở sau vườn nhà chứ không dám công khai!

Người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ gần hai triệu người gồm đủ cả các phe phái, đảng phái và quân cán chính. Tuy đông như vậy, nhưng không một ai đứng ra vận động để xây dựng một tượng đài ghi ơn ông tổng thống Diệm. Họ sợ chính quyền Hoa Kỳ, bởi chính quyền Hoa Kỳ đã giết ông Diệm. Lịch sử đã chứng minh sai lầm về việc giết ông Diệm. Chính quyền Hoa Kỳ, người dân Hoa Kỳ và các nhà chính khách Hoa Kỳ và trên thế giới đã thú nhận việc giết ông tổng thống Ngô Đình Diệm là sai lầm, là tội ác.

“Chúng ta đã dính tay vào vụ giết ông Diệm. Và giờ đây bàn tay ấy đang hiện lên trước mắt chúng ta”. Trang 30 (Lyndon Johnson).

Nghĩa tử là nghĩa tận. Ông bà ngày xưa đã nói. Vậy, mong rằng những người quốc gia tỵ nạn tại Hoa Kỳ và những người quốc gia tỵ nạn trên khắp thế giới hãy dẹp bỏ hận thù cá nhân, đảng phái, phe phái đối với tổng thống Diệm - xúm nhau gom góp tài chánh xây một tượng đài để cho các thế hệ con cháu mai sau còn nhớ tới một quốc gia Miền Nam Việt Nam, mà trong quốc gia đó có đủ các quyền làm người đã ghi trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, như: Quyền tư hữu, quyền tự do, quyền đa đảng, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí (tư nhân), quyền tự do lập hội, quyền tự do đi lại, quyền tự do kinh doanh buôn bán… để mưu cầu hạnh phúc cho gia đình và xã hội.

Chúng ta đã từng biết tổng thống Nam Triều Tiên Park Chung Hee cùng thời với tổng thống Diệm. Sự cải cách cứng rắn của ông Park Chung Hee đã bị người Nam Triều Tiên cho rằng: độc tài và họ ám sát tổng thống của họ. Thế nhưng, sau nầy chính người dân nam Triều Tiên đã nhìn ra công ơn to lớn trong công cuộc cải cách đất nước... Người dân nam Triều Tiên đã hối hận và họ đã phục hồi danh dự cũng như ghi công ơn tổng thống của họ vào sử, vào sách giáo khoa để dạy dỗ cho học sinh. Xét cho cùng, thì công lao của tổng thống Ngô Dình Diệm còn to tác hơn cả ông tổng thống Park Chung Hee. Bởi tổng thống Diệm là người khai sinh ra nền Đệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam bằng lá phiếu phổ thông của toàn dân.

Tôi cảm ơn cha tôi đã cho tôi biết khá nhiều về một vị tổng thống Ngô Đình Diệm - tài giỏi, đạo đức, yêu đồng bào, yêu quê hương đất nước. Đồng thời có tầm nhìn về lịch sử, chính trị và cải cách đất nước sâu rộng mà không mất đi tính chính danh của một quốc gia.

Trang Y Hạ
Viết tại San Francisco

Wednesday, November 8, 2017

Ngày cuối cùng ở Dakto - 27/4/1972
 
Trang Y Hạ


Xã Tri Đạo những ngày không yên tĩnh.

Đoàn công tác Tâm-Lý-Chiến chúng tôi đang công tác tại xã Tri lễ trên Tỉnh lộ 512 cách phi trường Phụng hoàng - Dakto 2, chừng 3 cây số thì được lệnh rút về xã Tri đạo (Gần Võ định) trước Tết Âm lịch 1972, 10 ngày. Xin nói rõ là: Từ Kontum theo QL 14 lên Võ định - Tri đạo - Kontranglangloi - Konhnong - Konhring - Diên bình - Tân Cảnh. Đoạn đường dài khoảng 46 cây số. Từ Tân cảnh đi tiếp cũng theo QL 14 lên quận Dakto 12 cây số. Từ Tân cảnh quẹo trái vào Tỉnh lộ 512 lên dốc cao ngang qua Trung đoàn 42 - Phi trường Phụng hoàng hay còn goi là Dakto 2. Đi tiếp đến xã Tri lễ, cầu Dakmót vào tiền đồn Ben hét hay còn gọi là đồn Bạch hổ 20 cây số. Nơi đây là ngã ba biên giới, gần đường mòn Hồ chí Minh. Con đường huyết mạch của Cộng quân.

Khi đoàn chúng tôi về xã Tri đạo thì đã có lực lượng Pháo binh và Bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 Dù, lập công sự phòng thủ tại cầu Tri đạo rất kiên cố. Tri đạo là một xã Dinh điền thành lập năm 1957, dân số khoảng 3000 người đa phần ở Quảng tín, Quảng nam và Bình định gồm 3 thôn, nhưng thôn 3 Bình định bỏ đi nơi khác từ năm 1965 do Cộng quân tấn công Dakto, chiếm Tri đạo cắt đứt QL 14 trong thời gian gần 2 tháng. Chúng tôi cùng với ông Xã trưởng. Đơn vị Nghĩa quân, Nhân dân Tự vệ cùng người dân trong xã canh giữ, đề phòng Cộng quân ban đêm xâm nhập vào xã quấy phá... Hơn hết là dựa vào sự yểm trợ của đơn vị lính Dù. Không khí chiến tranh bao trùm rừng núi, tiếng gầm thét của pháo binh, của máy bay suốt ngày đêm, Tri đạo không bao giờ yên tĩnh!

Tết Âm lịch cổ truyền đến! Người dân trong xã vẫn đón Tết trong không khí tưng bừng! Bánh, trái, vui chơi như: Múa lân, bài chòi, văn nghệ cây nhà lá vườn trong ba ngày Xuân. Tổ chức "Cây mùa Xuân chiến sĩ " Xã mua một con bò, còn người dân ai có gì góp nấy: Bánh tét, bánh ú, mứt, trà, thuốc, rượu...Gồm hai bao tạ vắt hai bên hông con bò! Ông Xã trưởng và các vị thân hào, chức sắc mặc áo dài khăn đóng cùng chúng tôi, dẫn con bò chở hai bao quà bánh ra Bộ chỉ huy Lữ đoàn dù " Mừng xuân chúc Tết "! Thể hiện tình Quân - Dân...Tội nghiệp các anh, đời lính xa nhà. Nhìn món quà Xuân... ngồ ngộ! Sau những cái bắt tay, đôi mắt các anh người nào cũng đỏ hoe!

Tình hình chiến sự ngày càng xấu đi, khi căn cứ Charlie sau một thời gian cầm cự... Ngày 14.4.1972 đã thất thủ! Tin anh Nguyễn Văn Đương và Nguyễn Đình Bảo cùng những người lính Dù tử trận! Mọi người ai cũng buồn, lo lắng và có ý định di chuyển về Kontum. Rồi tin từ Dakto và Tân cảnh bị Cộng quân pháo kích, nỗi sợ càng tăng thêm vì người ta quá biết - chỉ có một con đường QL 14 độc đạo nếu bị chặn là chịu chết!

Lần về thăm nhà định mệnh.

Chiều ngaỳ 24.4.1972. Lúc 4 giờ chiều, tôi có mặt tại nhà Cha mẹ tôi ở Diên bình. Cha tôi nói: "Tụi nó pháo kích vào Trung đoàn 42 mấy ngày nay, còn sáng nay cha ra sau vườn thấy một toán lính nó bảo; "Cụ vào nhà đi, đêm nay và ngày mai đừng ra ngoài"! Cha không biết lính của ai? Hay mấy chú Nghĩa quân đi gài mìn cũng không biết nữa! Cha tôi đem ra hai xị rượu thuốc bày ra trên nền sân tráng Ciment. Cha tôi nói: Uống chút với cha, ba bốn tháng nay con với về. Nhớ đêm nay xuống đồn mà ngủ, đừng ở lại nhà, cha linh cảm có chuyện chẳng lành... Khi uống xong ly rượu cuối cùng, tôi và cha tôi đếm đi đếm lại cây bông hồng trước sân - cây bông nở vừa đúng 24 cái!

7 giờ tối, tôi có mặt tại đồn Nghĩa quân Diên bình bên dòng sông hiền hòa vì mùa khô cạn nước. Tôi gặp lại những bạn bè đi phép về thăm gia đình, tối đến thường ra đồn ngủ cho an toàn, nếu có chiến sự thì chiến đấu luôn. Diên bình đến Tân cảnh 6 cây số. Nên tiếng đạn pháo từ Tân cảnh dội về nghe rất rõ. Trung đoàn 42 - Tân Cảnh bị Cộng quân tấn công! Ánh lửa sáng rực một góc trời... Tất cả mọi người đều yên lặng để theo dõi tin tức qua máy truyền tin PRC 25. Người âm thoại viên nói: "Em không liên lạc được với Chi khu Dakto" Trung tá Lò Văn Bảo, Quận trưởng quận Dakto.

Người hùng của Chi khu tiền đồn heo hút giờ nầy ra sao? Cũng không biết, tôi thật sự lo lắng! Với tôi Trung tá Bảo -ngoài một số công tác, còn có một chút kỷ niệm. Đó là, một lần trong quán ăn tại Tân cảnh, các anh BĐQ tại Ben hét tưởng lầm tôi giống ai đấy... nên đến " Mượn" súng của tôi đem về đồn. Tôi trình bày sự việc với Trung tá Bảo. Ông cười chẳng nói gì. Vậy mà hai ngày sau ông gọi tôi lên. Ông nói: "Súng chú em ở trong hộc bàn"! Sau này tôi làm Tổ trưởng phòng phiếu đơn vị Ben hét 2 lần các anh nhận ra và bắt tay xin lỗi - cười xòa! Đêm nay, trong cái đồn Nghĩa quân nhỏ bé bên dòng sông, hầu như không một ai nói đến chuyện đi ngủ.

Càng về sáng tiếng nổ càng ít dần và các đám cháy vẫn còn nghi ngút khói... Nhưng có một điều chúng tôi không hiểu là tại sao không có chiếc máy bay B52 nào đến bỏ bom? Cũng không có máy bay phản lực nào bay đến oanh kích...? Chín giờ sáng anh em chúng tôi vẫn còn ở trong đồn, chưa dám về nhà, bởi không thấy ai từ Tân cảnh chạy về báo tin sống chết như thế nào. Thì có một bà mẹ gìa đến báo: Cộng quân chặn đường ngay đầu thôn 1 - không thể đi xuống làng Konhring được nữa!

Dồn lực mở đường.

Lực lượng gồm có: 1 Trung đội Nghĩa quân; 10 CB/XDNT; 20 Nhân dân Tự vệ Ấp; lính về phép 10 người. Vũ khí gồm có: Súng cá nhân M 16, Carbine, 2 Trung liên, 2 súng phóng lựu M79 và lựu đạn. Là dân địa phương nên rành địa hình, chúng tôi cho người mò về thám thính và được biết phía sau những vườn chuối gần xóm nhà cha tôi chạy dài ra sông Dakpsi, Cộng quân bố trí nhiều ụ súng phòng không và những cột truyền tin, đào hầm hố có vẻ bám giữ lâu dài. Về quân số có thể là cấp Tiểu đoàn hoặc Trung đoàn. Chúng giữ dân trong nhà bắt xuống hầm trú ẩn nên chúng tôi đành chịu...Tuy nhiên chúng tôi cũng tổ chức tấn công áp sát và khiêu chiến đến 2 giờ chiều nhưng không hiệu quả. Cộng quân vẫn án binh, thỉnh thoảng mới bắn ra nếu chúng tôi đến gần. Đành rút về sân vận động giữa thôn nghỉ ngơi - chúng tôi có ba người bị thương nhẹ.

Di tản bằng đường vòng...

3 giờ chiều ngày 25.4.1972. Anh em chúng tôi thấy lính Trung đoàn 42 đi xuống, đến sân vận động gặp chúng tôi. Người Thiếu tá đi đầu nói: "Trung đoàn thất thủ trong đêm hôm qua, anh em còn lại phải về Kontum gấp, các anh có đi theo không?" Tôi nói: "Cộng quân chặn đường, chúng tôi cố mở từ sáng đến giờ nhưng không được..." Người Thiếu tá nói: Chúng ta đi bọc. Địa hình thôn 1- lưng dựa dòng sông Dakpsi, trước mặt là đồng ruộng mênh mông chen lẫn những gò mối và đồi cỏ thấp. Do đó chúng tôi băng ruộng đi bọc xuống Konhring. Tôi ước tính lính Trung đoàn còn lại chừng 200 người. Súng cá nhân còn đủ, 3 xe M 113 chở người bị thương và vũ khí đạn. Trên nét mặt mọi người không hốt hoảng, nhưng đăm chiêu mệt mỏi, không ai nói với ai lời nào, cứ âm thầm mà đi. Từ Diên bình xuống Làng Konhring khoảng 3 cây số.( Sau nầy nghe nói toán quân về được Kontum) Tôi đi vào Làng Konhring lúc này đã hơn 4 giờ chiều nhưng bầu trời còn sáng tỏ. Sở dĩ tôi không theo đoàn quân vì tôi nán lại chờ tin tức cha mẹ và các em tôi.

Đêm Konhring - Thức trắng!

5 giờ chiều. Tôi vẫn đứng như trời trồng tại ngã ba Konhring, trong lòng ngỗn ngang trăm mối... nếu đêm nay trở lại tìm người thân chắc chắn sẽ bị bắt, còn không thì sáng mai buộc phải về Kontum mà nghe trong lòng tan nát! Bỗng dưng như một phép lạ! Đoàn người dân từ Tân cảnh, Diên bình, Dakrao...ào ào kéo xuống... Người khỏe cõng người bị thương; phụ nữ bồng bế con thơ mặt mày thất sắc; người già tựa vào người trẻ lê thê, lết thết đi trong bóng chiều như những hồn ma...! (Tôi nhìn thấy có Cha Carat Linh mục thừa sai Paris, Chánh xứ họ đạo Diên bình và một ít lính Trung đoàn 42) Tôi gặp đứa em gái thứ 6 của tôi trong đoàn người. Nó còn quá nhỏ nên tôi chẳng biết gì hơn ngoài những giọt nước mắt tuôn rơi!

Làng Konhring nhỏ xíu, số người di tản quá đông,người ta nằm la liệt trong nhà thờ, trong Bệnh viện do các nữ tu quản lý. Họ cứu chữa những người bị thương, lo ăn uống. Tiếng kêu khóc! Cha mẹ, vợ chồng, anh em, con nít lạc nhau trong lúc chạy hoặc còn kẹt lại ở nhà. Nỗi lo lắng là đêm nay cộng quân pháo kích hoặc đến bắt đi vào rừng. Bởi bây giờ lính Trung đoàn 42 tan rã, không còn ai nữa bảo vệ dân...!!

11 giờ đêm. Hàng loạt tiếng nổ long trời từ hướng Diên bình và sông Dakpsi, có những tiếng nổ sát làng Konhring đinh tai điếc óc... tiếng dội của bom chấn động dữ dội mọi người bụm hai tai, điếng hồn. Tiếng kêu khóc hoảng loạn chạy ra khỏi nhà thờ, Bệnh viện bởi tiếng rung chuyển từ mặt đất. Sau 10 phút trôi qua mọi người ngơ ngẩn sờ nhau như những hồn ma tìm về dương thế...! Tôi và những người lính thì không lạ gì tiếng bom của máy bay B 52. Nhưng ngạc nhiên là tại sao đêm hôm trước không thấy B52 thả bom cứu Trung đoàn 42. Sau đó B52 còn bỏ thêm đợt nữa nhưng xa hơn.( Sau 1975 VC tuyên truyền rằng: Mỹ bỏ bom giết dân tại làng Konhring...) Thật là hồ đồ hết biết! Không có người dân nào chết, chỉ sợ và hoảng loạn thôi. Chính Trung đoàn Cộng quân chốt chặn tại Diên bình có thể bị tổn thất do trận dội bom B52 đó. Bằng chứng là sáng ngày hôm sau 26.4, những người dân do chúng giữ đều chạy xuống Konhring được hết, không thấy ai ngăn cản.

Đêm nay ở Konhring mọi người đều thức trắng!

Đi vào rừng tìm Tự do.

Konhring - 5 giờ sáng ngày 26.4.1972. dân chúng vội vã chuẩn bị lên đường về Thị xã Kontum. Cha xứ Carat người Pháp - chánh xứ Diên bình dẫn đầu đoàn con chiên ngang nhiên đi trên QL 14, khi vừa đến khúc quanh làng Konhnong. Thì gặp Cộng quân chốt chặng ở đó đón lỏng ( Làng konhring cách làng Komhnong 3 cây số) Cha cố Carat bị bắt! Dân chúng nhất là các chị, các bà xúm nhau khóc lóc, quỳ lạy, năn nỉ... xin đừng có bắt ông Cha - nhưng Cộng quân không chịu và còn giữ luôn họ vì tội chạy theo "Mỹ - Ngụy" Tốp phía sau nghe tin dữ vội vã tháo chạy ngược về lại Konhring thông báo: Cộng quân chặn đường ở làng Konhnong! Như vậy là trước sau đều thọ địch. Không oan gia mà lại gặp ngõ hẹp...! Nghe tin như sét đánh ngang tai tôi bàng hoàng... như vậy chỉ còn một cách là băng rừng.

8 giờ sáng đoàn người kéo nhau vào rừng. Tôi nấn ná ở lại chờ xem trên Diên bình có còn ai xuống để hỏi thăm tin tức gia đình. Thấy không còn hy vọng, tôi dắt đứa em quay đi, thì tôi nghe một người đi ngang qua và nói: "Hình như tôi có thấy người nhà của anh đang đi xuống" Gặp lại Mẹ các em gái và đứa cháu 4 tháng tuổi. Cha tôi bị Cộng quân bắt vào rừng (Sau này có người cho biết ông nhớ vợ con nên trốn về nhà tìm và bị bắn chết trên đám đất của ông. Người con đỡ đầu nhận ra Cha tôi và đã chôn ông. Anh cũng bị bắt làm tù binh, sau năm 1975 đi Cải tạo 6 năm. Hiện định cư tại Hoa Kỳ) Từ làng Konhring xuống Tri đạo khoảng 20 cây số. Nhưng đi đường rừng thì vô cùng nguy hiểm.

Tôi đi sau nên không biết những người đi trước đi theo ngã nào. Nhóm còn lại sau cùng theo tôi có 2 Sĩ quan Trung đoàn 42, 15 thành viên gia đình người Thượng, một số người kinh và gia đình tôi tổng cộng 31 người. Không có bản đồ và địa bàn, cũng may là tôi sống ở vùng này nhiều năm và am hiểu địa hình. Tôi không dám đi theo đường mòn - đường mòn dễ bị Cộng quân chặn bắt. Tôi nhắm hướng đồi Charlie đi vào nhằm tránh chốt chặn tại làng Konhnong, dặn mọi người im lặng và không cho con nít khóc. Trên đường đi chúng tôi thấy rất nhiều dây điện thoại của Cộng quân giăng ngang và những dấu chỉ dẫn đường khắc trên những thân cây. Sáu giờ chiều chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi trong cánh rừng rậm. Khoảng 12 giờ đêm chúng tôi nghe rất nhiều tiếng nói vọng lại - toàn giọng Bắc. Tôi thì thầm với mọi người bình tĩnh và tuyệt đối im lặng, lấy tay để hờ trên miệng mấy đứa nhỏ, nếu nó khóc thì bụm miệng nó lại. Chừng 1 giờ sáng máy bay B52 đến bỏ bom từng đợt... từng đợt... gần một giờ. Chúng tôi ngồi dựa vào những gốc cây chờ sáng...

Hôm nay là ngày 27.4.1972. Trời vừa hừng sáng, chúng tôi không còn nghe những giọng Bắc vọng lại như hồi khuya, chỉ nghe tiếng chim kêu rời tổ. Tôi đoán trận bỏ bom hôm qua họ chuyển đi chỗ khác chăng? Thôi, mặc kệ họ! Nhiệm vụ của tôi bây giờ là tìm đường ra xã Tri đạo. Tôi nói với hai người Sĩ quan là chúng ta đi về hướng tay trái - cũng mở đường mà đi. Chúng tôi thay phiên nhau vén cành cây, không gây tiếng động, đạp cỏ - loài cỏ ba khía bén ngọt, nhùng nhằn cắt nát chân tay mặt mày chúng tôi, cộng với mồ hôi túa ra xót ngứa đau đớn vô cùng! Tội nghiệp hai người Sĩ quan ở miền xuôi đổi lên Cao nguyên tăng cường chiến đấu chưa được bao lâu. Nay gặp hoàn cảnh nấy, bản thân đói khác nhưng còn phải giúp đỡ phụ nữ và trẻ thơ qua đèo vượt suối...

Đến khoảng 11 giờ trưa, tôi leo lên cây cao và nhìn thấy QL 14 gần cầu Tri đạo. Không nghỉ ngơi gì cả chúng tôi bồng bế nhau chạy qua cầu! Trời mùa Hạ buổi trưa nắng nung mặt đường nhựa bốc khói... Vậy mà chúng tôi: Chân không giày dép; Đầu không nón; áo quần tã tơi, đói khác ba bốn ngày qua vượt rừng băng suối... cứ cắm đầu, cắm cổ chạy như ma đuổi. Đến xã Tri đạo chúng tôi hoàn toàn kiệt sức. Dân ở đây di tản hết mấy ngày trước. Chỉ còn Ban tiếp nhận những người từ Dakto chạy xuống. Chúng tôi được đưa lên xe về Thị xã Kontum!

Bỏ Quận Dakto.

Sau đoàn người chúng tôi, không còn một ai chạy thoát được,tất cả đều bị bắt vô rừng. Âm mưu của Công quân là giữ dân để tuyên truyền với thế giới là dân chúng bỏ vùng Quốc gia về với Quân giải phóng. Quận Dakto coi như bỏ ngõ để cho Cộng quân Miền bắc kiểm soát... Tôi thương nhớ Dakto - thương nhớ Tân cảnh - thương nhớ Diên bình - nơi một phần tuổi thơ của tôi ở đó! Em gái tôi chết lúc ba tuổi cũng ở đó! Cha tôi chết cũng ở đó! Những người bạn chiến đấu của tôi cũng ở đó! Tôi có khóc đâu... mà sao nước mắt... cứ rơi!
 

Trang Y Hạ

- Những ngày cuối cùng ở Dakto. Tôi viết bằng sự thật không một chút hư cấu. Để tưởng nhớ Cha tôi và những người Chiến sĩ VNCH vì bảo vệ Miền nam Tự do cùng với người dân vô tội nằm xuống vĩnh viễn nơi núi rừng đèo heo hút gió!

Blog Archive