Showing posts with label Phiem. Show all posts
Showing posts with label Phiem. Show all posts

Sunday, August 16, 2026

NGƯỜI DƯNG NGOÀI PHỐ

"Mỗi nhân duyên gặp gỡ ai đó đều chứa những bài học mà con người cần phải học"- Nguyên Phong (Muôn kiếp nhân sinh)

Ông Tư năm nay đã gần 60, quê tận Rạch Giá, Kiên Giang. Hồi tháng ba, đất ruộng nhà ông bán cho người ta làm khu dân cư, ông theo thằng cháu lên Sài Gòn, lấy chiếc Wave cũ đăng ký chạy xe ôm công nghệ.

Nhà trọ của hai vợ chồng ông ở tuốt trong con hẻm đường Đỗ Xuân Hợp, quận 9 cũ. Một phòng trọ mười sáu mét vuông, kê vừa cái giường, cái bếp ga đơn và cái bàn nhựa thấp làm bàn ăn. Bà Tư cũng lên theo ông, ban ngày đi phụ quán cơm chay.

Tối nào cũng vậy, chừng tám giờ rưỡi, ông Tư chạy về, dựng xe, cởi cái áo khoác nắng đã bạc màu. Bà Tư đã dọn sẵn mâm cơm: đĩa cá sặc chiên, tô canh chua me, chén nước mắm dầm ớt. Mâm cơm tối là lúc ông Tư trút hết những tâm sự ông đã chở theo cả ngày, không phải là cuốc xe, mà là những người lên xe ông, những người qua đường ông gặp.

Hôm nay, bà Tư xới cơm, hỏi:
- Nay sao về trễ vậy ông?

Ông Tư lùa miếng cơm, thở ra một hơi dài.
- Nay gặp nhiều chuyện quá bà ơi.

Rồi ông kể bà nghe, giọng chậm rề rề của dân miền Tây.
- Sáng sớm, tui chở một con bé chừng hai mấy tuổi ở quận 1. Nó đứng ngay dưới cây cột đèn đường Lê Lợi, mưa mới tạnh, nó đang khóc. Khóc mà không ra tiếng. Tui hỏi “con đi xe ha?”, nó giật mình, leo lên xe. Đi một đoạn tới công viên, nó nói “chú cho con xuống đây được rồi”. Tui thấy nó ôm cái ba lô, chắc mới cãi nhau với bồ, hay mới mất cái gì lớn lắm. Tui không dám hỏi. Chỉ nói “khóc cho đã đi con, rồi về nhà nghen”. Nó gật đầu. Tui chạy xe đi, nhìn kiếng chiếu hậu thấy nó vẫn đứng đó, nhỏ xíu ...

Bà Tư im lặng, gắp cho ông miếng cá.
• Tội nghiệp con nhỏ. Ở cái xứ này, người ta khóc cũng phải tìm chỗ khuất chớ...

- Rồi trưa nay, ngay ngã tư Thủ Đức, đèn đỏ. Thằng nhỏ chừng năm tuổi à, đội cái nón lá rách bươm chạy tới chạy lui chìa vô từng cửa kính ô tô. Xe tui dừng, nó cũng chìa nón vô tui. Tui biểu “hết tiền lẻ rồi con”. Nó cười, nhe hai cái răng sún. Đèn xanh, nó chạy vô lề không kịp, vấp té ngay giữa đường. Tui hết hồn, thắng gấp đỡ nó dậy. Nó sợ quá, ôm khư khư cái nón không dám khóc. Tui móc cho nó chục ngàn. Nó líu ríu “con cảm ơn.”. Bà biết không, tay nó gầy tong, đen thui mà nóng hổi.

Bà Tư thở dài:
- Bằng tuổi thằng Tí nhà mình hồi đó. Chắc má nó đau, hay ba nó bỏ nó, mới đẩy nó ra đường như vậy. Ông cho vậy là phải. Cũng giúp nó được bữa cơm. Chỉ sợ có ai đó bắt ép nó đi xin thì ác quá...

Ông Tư gật đầu, uống hớp trà đá, ăn thêm miếng nữa rồi kể tiếp.
- Chiều, tui đón thằng nhỏ ở bến xe Miền Tây. Nó đen nhẻm, vai mang cái ba lô bạc màu, tay cầm tờ giấy gì ép plastic cẩn thận. Nó leo lên xe khoe liền: “Chú ơi, con đậu đại học rồi! Đại học Sư Phạm!”. Tui chúc mừng nó. Nó nói nó bắt xe đò lên xin tiền mẹ đang giúp việc nhà ở Bình Tân để đóng tiền nhập học. Nó vui lắm. Nó nói suốt dọc đường. Tui chở nó mà cũng vui lây, y như thằng Tí nhà mình thi đậu hồi đó vậy bà...

Bà Tư cười, mắt rưng rưng:
- Vậy là nhà nó có phước rồi ông. Ông có biểu nó ráng học không?

- Có chớ. Tui nói “ráng học nghen con, mai mốt làm thầy giáo ngon lắm đó”. Nó dạ lia.

Rồi ông Tư trầm giọng lại.
- Tui chở một bà, chắc cũng lớn tuổi hơn bà, cỡ sáu mấy... Bả ôm khư khư cái túi xách với cái bô nhựa màu đỏ. Bả nói bả phải vô bệnh viện Chợ Rẫy nuôi thằng con bị tai nạn giao thông hồi sáng. Xe tải quẹt, nghe đâu nứt sọ. Bả run lắm. Bà hỏi tui “chú ơi, vô trỏng người ta có cho mượn chiếu nằm không?”. Tui nói chắc có. Bà cứ ôm cái bô, chắc sợ vô không có. Tui chạy mà cứ sợ bả té, tui chạy thiệt chậm. Tới cổng bệnh viện, bả móc tiền trả. Tui không lấy. Tui nói “tui biếu bà tiền xe, bà vô lo cho cháu nó đi”. Bả nắm tay tui lắc lắc cảm ơn, tay lạnh ngắt, rồi bả khóc. Thấy sao nhiều người khổ thiệt hen bà.

Bà Tư đặt chén cơm xuống. Bà cũng đưa tay quệt mắt.
- Ông làm vậy đúng rồi. Mai mốt lỡ nhà mình có chuyện gì ngoài đường, cũng mong có người ta thương lại như vậy. Nhơn quả hén ông.

Mâm cơm nguội đi một chút.
Ông Tư ngập ngừng, rồi kể nốt mẩu chuyện cuối cùng.
- Cuốc cuối cùng mới hồi nãy, chở con bé kia nó xức dầu thơm nức mũi, mặc váy ngắn cũn cỡn. Nó đứng trước đường Bùi Viện, kêu tui đưa tới nhà nghỉ bên quận 3. Nó đi vội lắm. Tui chở nó đi mà tui xót. Tui nhìn kiếng chiếu hậu thấy mặt nó non choẹt, chắc cỡ con út bà Sáu dưới quê mình. Mà mắt nó tô đậm đen nhưng buồn hiu. Tới nơi, nó trả tiền rồi chạy ào vô. Tui đứng lại một chút mới đi.

Bà Tư im bặt một lúc. Rồi bà chậm rãi nói, giọng bà hiền khô:
- Ông à, mỗi người một cái khổ hén ông. Mình đừng có nhìn người ta bằng nửa con mắt là được rồi. Con nhỏ hồi sáng khóc ngoài cột đèn, nó khổ trong lòng. Thằng nhỏ xin ăn ngã tư, nó khổ cái thân. Thằng nhỏ đậu đại học, nó cũng khổ mà kết cục nó vui vì nó thấy được đường ra. Bà già ôm cái bô vô Chợ Rẫy, bả khổ vì lo lắng cho con, biết có di chứng gì hông? Còn con nhỏ váy ngắn đó... chắc nó cũng tới đường cùng mới phải bán thân như vậy... Cầu cho nó bình an thôi. Biết sao giờ ha ông?

Ông Tư gật gù. Ông thấy lòng mình nhẹ tênh. Cả ngày chạy ngoài đường, khói bụi, kẹt xe, có khi kèm lời mắng chửi, nhưng về tới cái bàn nhựa thấp này, nghe vợ nói nhẹ nhàng mấy câu, tự nhiên ông thấy Sài Gòn không còn hung dữ nữa.

Ông và bà, hai người già quê mùa, không có nhiều tiền để cho ai, cũng không có quyền thế để giúp ai. Cái họ có chỉ là một chút thương người còn sót lại sau một ngày dài mệt nhoài, đem về bỏ vào mâm cơm nóng, để cùng nhau nghĩ tới những người chưa hề quen biết .

Bà Tư đứng dậy, bới thêm cho ông chén cơm đầy.
- Ăn nữa đi ông. Mai ông chạy, gặp đứa nào tội thì cứ cho tụi nó năm mười ngàn, cũng được chén cơm. Mình ăn ít lại một chút cũng không sao. Ở hiền đi rồi trời thương. Ông Tư và miếng cơm, thấy ngọt gì đâu.

Ngoài hẻm, tiếng xe cộ vẫn ầm ầm. Trong căn phòng trọ nhỏ, bóng hai cái lưng còng in lên tường, ngồi sát bên nhau, vừa ăn vừa lo lắng cho những người dưng mà họ chỉ gặp một lần ngoài phố.

Thi Anh




Vài năm trở về trước, Trung Quốc từng xảy ra một vụ việc mà cho tới ngày nay vẫn được lấy ra làm ví dụ kinh điển của ngành giáo dục. Vụ việc ấy được biết tới với một cái tên: "Bố tao là Lý Cương".

Tối 16 tháng 10 năm 2010, Lý Khải Minh lái xe tông phải hai nữ sinh trong khuôn viên trường Đại học Hà Bắc, thành phố Bảo Định. Trần Hiểu Phụng, hai mươi tuổi, chết tại bệnh viện. Trương Kinh Kinh, mười chín tuổi, gãy chân trái.

Hắn không dừng lại. Hắn lái tiếp, chở bạn gái về ký túc xá. Bảo vệ nhà trường giữ hắn lại. Và hắn nói ra cái câu mà cả Trung Quốc sẽ nhớ suốt mười sáu năm sau:

"Có bản lĩnh thì cứ đi mà kiện. Bố tao là Lý Cương."

Lý Cương khi ấy là Giám đốc Công an thành phố Bảo Định.
Rồi chuyện gì xảy ra?
Người ta làm thơ.
Bốn ngày sau vụ tai nạn, một blogger mở cuộc thi thơ trên mạng.
Đề bài chỉ có một câu: "Bố tao là Lý Cương". Hơn sáu nghìn bài gửi về. Người ta ghép câu ấy vào thơ Đường. Người ta đưa nó vào bài hát. Nó thành câu cửa miệng của cả một đất nước một tỉ ba trăm triệu dân.
Không ai đập phá gì. Không ai xuống đường. Không một viên đạn nào.
Người ta chỉ làm thơ.
Và các bạn có biết chuyện gì đến sau đó không?

Ngày 22 tháng 10, hai cha con họ Lý phải lên đài truyền hình trung ương xin lỗi. Ông bố cam kết không bao che cho con. Dân không tin, bảo hai cha con đóng kịch. Nhưng ít nhất đã có người phải đứng ra nói.
Rồi vẫn có chỉ thị tuyên truyền yêu cầu đừng làm nghiêm trọng vụ việc. Vẫn có luật sư của gia đình nạn nhân bị ép rút. Vẫn có lệnh dừng thảo luận trên internet.

Vậy mà tháng 1 năm 2011, toà vẫn tuyên Lý Khải Minh sáu năm tù.
Ba tháng. Từ tai nạn đến bản án.
Còn cái kết mà tôi thích nhất thì không nằm trong bản án. Mười sáu năm sau, báo chí Việt Nam đưa tin: Lý Khải Minh không xin được việc ở đâu, vì không công ty nào muốn chuốc rắc rối. Nghe nói hắn đang kiếm sống bằng nghề sơn tường.
Sáu nghìn bài thơ. Cái bản án của dân nặng hơn cái bản án của toà, và nó dài hơn sáu năm.

Bây giờ thì tôi xin nói chuyện của chúng ta.
Ở Hà Nội, chiều 30 tháng 5 năm 2025, một chiếc xe lao sang làn ngược chiều, đâm vào một chiếc xe máy chở hai bố con. Cháu gái đứt lìa chân phải, nằm khóc trên đường. Hơn một tuần sau thì cháu mất. Cháu tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà người ta gọi cháu là Mina. Cháu mười tám tuổi, mất trước kỳ thi tốt nghiệp mấy ngày.

Mười bốn tháng rồi. Không một quyết định. Không một văn bản. Không một chữ. Không ai nói câu nào cả. Không ai cần nói.
Đấy mới là chỗ khác nhau giữa hai câu chuyện. Bên kia còn có một câu để mà làm thơ. Bên này chỉ có sự im lặng.
Nhưng im lặng cũng làm thơ được. Thậm chí còn dễ hơn.
Vậy nên tôi xin mở một cuộc thi.
Không giải thưởng. Không ban giám khảo. Không thể lệ. Ai muốn viết thì viết, viết xong thì đăng, đăng xong thì để đấy.
Tôi đề nghị mấy cái tên, các bạn chọn cái nào cũng được, hoặc tự nghĩ ra cái hay hơn:
"Mười bốn tháng"
"Gốc cây số 55"
"Vụ án không có ai"
"Thưa quý toà, cháu tên là Mina"
"Bó hoa trong thùng rác"
Các bạn thích thể loại gì cũng được. Lục bát. Đường luật. Thơ tự do. Rap cũng được — mà nói đến rap thì tôi nhớ ra, chính một album rap bị gỡ mới là thứ châm ngòi cho tất cả chuyện này.
Chỉ xin một điều thôi.
Đừng bịa. Một chữ cũng đừng bịa.
Các bạn không cần bịa. Sự thật ở đây đã quá đủ rồi. Một đứa trẻ mười tám tuổi. Mười bốn tháng. Không một văn bản nào.
Ba câu ấy đã là bài thơ nặng nhất rồi. Thêm vào là làm nó nhẹ đi.
Người ta gọi các bạn là tiếng ồn. Người ta gọi các bạn là ong ve.
Được thôi. Thơ cũng là một thứ tiếng ồn.
Nhưng nó là thứ tiếng ồn mà mười sáu năm sau người ta vẫn còn nhớ, trong khi cái tên của người ra lệnh chặn bài thì chẳng ai nhớ nổi.

( Chau Doan -ĐBC)

Saturday, August 15, 2026

VÌ CHỈ “MƯỢN” ĐỠ …

… cái poncho lính của anh hai trong tủ thờ nên mẹ tôi vừa giận vừa khóc. Trong buổi ăn tối anh năm nghe được và la tôi. Tôi thật là “tủi thân” vì không ai hiểu là tôi chỉ “mượn” rồi mai mốt sẽ trả. Ngoài ra anh hai trên bàn thờ có “đồng ý” sau khi tôi khấn. May cho tôi là anh ba hôm đó về phép từ căn cứ hải quân và chỉ cười và nói với anh năm “Thôi la hắn chi, hắn còn nhỏ có biết chi mô! Để tau tính hắn”. Bình thường ba tôi thường binh tôi, nhưng kỳ này đụng đến đồ của anh hai, coi như đụng đến mẹ, nên ba tôi không dám binh.

Anh ba tôi là người không bao giờ la hay phạt tôi, mà ngược lại “hậu đãi” tôi với đủ thứ, đi chơi ở Crystal Palace, mua đồ chơi, truyện hình, … mà bây giờ đòi “tính sổ” với tôi! Tôi lúc đó cảm thấy “bất an”, không biết anh ba sẽ làm gì vì mẹ tôi thường than anh ba ngang tàng, không biết sợ nên … chẳng bao giờ lên lon. Ngày hôm sau tôi như trút được gánh nặng khi anh ba đi đâu về, nhìn tôi cười, nheo mắt đưa tôi một cái gói… có cái poncho trong đó, mà lại “to đùng”, to hơn cái của anh hai nhiều. Vừa mừng “hết lớn” vừa mở cái poncho ra tôi nghe anh ba hỏi có muốn đi hướng đạo không. Không chờ tôi trả lời anh cắt nghĩa cho tôi nghe và không cần chờ anh hết lời tôi gật đầu “lia lịa”.

Ngày hôm sau anh dẫn tôi lên vườn Tao Đàn, đến một nơi toàn những đứa nhỏ như tôi, khoảng 6, 7 tuổi, nhưng đều mặc đồng phục thật hay, đứng chung quanh một anh lớn, nhưng mặc đồng phục khác hơn và đội cái nón vành và hai chị lớn như chị sáu cũng mặc đồng phục. Sau khi nói chuyện với anh lớn, anh ba gọi tôi lại giới thiệu với anh lớn với cái tên lạ đời: Akela! Tôi không còn nhớ Akela nói và hỏi tôi những gì nhưng tôi thấy anh rất dễ thương và “kết” Akela liền.

Anh ba vì phải trở về căn cứ nên giao chị sáu lo bộ đồng phục cho tôi. Ngày chị sáu mang về tôi đứng lặn người khi chị mở ra cho tôi thử vì nó quá đẹp và “goai” (oai) nữa, đẹp hơn bộ đồng phục trường La San Hiền Vương của tôi và “goai” gần như bộ quân phục hải quân của anh ba vì … cái khăn choàng màu vàng với hình đầu con sói màu đỏ phía sau. Sau khi mẹ tôi giặt và ủi, tôi khư khư ôm bộ đồng phục lên giường chờ đến thứ bảy, ngày đầu tiên tôi đi hướng đạo.

Và cái ngày “trọng đại” sau bao nhiêu đêm “ngắc ngoải” mong chờ cũng đến, ngày họp hướng đạo đầu tiên của tôi ở vườn Tao Đàn. Vì anh ba phải vào bộ tư lệnh hải quân làm gì đó nên anh không dẫn tôi đi được mà chị sáu. Nhưng trước khi đi anh sửa lại cái khăn cho tôi vì chị sáu thắt “sai bét”, lúc đó tôi cảm thấy anh và tôi, hai người “xêm xêm”, đều có bộ đồng phục đẹp và “goai”. Ngày đó tôi không bao giờ quên được vì nó như một cánh cửa mở ra một nơi thật mới, với nhiều người, nhiều bạn thân thiện, nơi với những người anh, chị thật dễ thương với những tên ngộ nghĩnh như Hathi, Balu, Baghira,.. và tôi học được rất nhiều thứ. Vì còn nhỏ nên tất cả ở “đàn” tôi được gọi là “sói con”. Từ khi có cuốn “Chuyện Rừng Xanh” anh ba mua cho tôi hiểu nhiều hơn về những tên gọi, những vai trò trong đàn, nhưng tôi vẫn thích nhất chị Hathi của đàn tôi vì chị hiền “khô” và lúc nào cũng cười và kể chuyện hay. Mỗi lần hát chung bài tạm biệt, tôi lúc nào cũng gào lên thật to đoạn “Mào Li giết hùm, Mào Li giết hùm, diệt Sơ Khan” vì tôi mơ ngày nào đó tôi sẽ như “Mào Li”. Thỉnh thoảng đàn của được sinh hoạt chung với “tụi” “Chim Non”, nhưng tụi tôi không ưa lắm vì “tụi nó ỏng ẹo cà chớn”!

Ngày “trọng đại” khác của tôi là ngày cắm trại của tất cả đàn ở Sài Gòn tại Đại Học Vạn Hạnh, được ngủ trong lều thiệt, và quan trọng nhất với tôi lần đầu tiên trong đời là ngủ xa nhà! Cho đến bây giờ, sau hơn 50 năm, tôi vẫn còn những hình ảnh của thời gian đó trong đầu, sân Đại Học Vạn Hạnh với những ánh đèn pin, đèn dầu, những nhóm bạn tụ tập, bầu trời đầy sao, tiếng hát khe khẻ của chị Hathi, một trong những ngày hạnh phúc nhất thời thơ ấu. Không lâu sau đó là ngày bể dâu năm 1975, cánh cửa một nơi thật đẹp, thật an lành của tôi khép lại vĩnh viễn.

Louis Mishima



Có thể phú quý sinh lễ nghĩa; rách quá, đôi khi cũng khó mà thơm, thế nhưng văn minh là chuyện khác. Không phải cứ giàu là văn minh, và ngược lại (tui, và chắc các bạn cũng vậy, đã nhiều lần chứng kiến lắm kẻ giàu nứt đố nhưng văn minh vẫn là zero đó thôi).

Không nói đâu xa xôi, sát bên nách mình thôi, nước Lào nè. Trời ơi, họ văn minh khủng khiếp. Chân đã đi nát mặt địa cầu nhưng nếu hỏi tui yêu quý dân tộc nào nhất, câu trả lời sẽ là Lào.

Người Nhật văn minh vì đôi khi họ buộc phải gồng lên làm điều đó để thỏa mãn những chuẩn mực tối thiểu của một nền văn hóa khắt khe, dần dà thành bản tính đặc hữu giống nòi.

Người Lào thì khác, họ văn minh một cách rất hồn nhiên, như máu họ sẵn có, như ngàn đời nay vẫn vậy, chẳng cần cố gắng gì.

Nước Lào tươi đẹp, tươi đẹp vì xanh mát, trong lành và bình yên. Người Lào hồn nhiên, hiền hậu, chân thật, lịch sự và điềm đạm. Từ lao động chân tay đến trí thức, cảnh sát hay doanh nhân, ai ai cũng toát lên một thần thái an lạc.

Nước Lào ít có người giàu, phần lớn những người giàu nhất là doanh nhân Hoa kiều và Việt kiều. Vì người Lào ít kinh doanh. Nếu có, họ cũng đóng cửa sớm lắm. Khi thấy mới 5 giờ chiều họ đã đóng cửa hàng, tui hỏi sao sớm quá, không bán thêm vài tiếng nữa, anh chị cười cười “Thôi, nhiêu đó đủ rồi, về ăn cơm rồi xem ti vi”. Là không phải họ lười biếng là không phải họ hổng biết kinh doanh, là không phải họ chê tiền, chỉ là họ biết đủ. Làm được điều này như họ khó, khó lắm.

Ở Lào rất rất hiếm có chuyện cướp giật hay mất trộm ngoài đường. Chiếc xe máy dựng trước thềm nhà không khóa, sáng ra vẫn y nguyên. Nửa khuya, giữa ngã tư thênh thang vắng, người ta vẫn dừng đúng vạch đèn đỏ. Giao thông bên ấy rất tuyệt vời, thinh thoảng giữa thủ đô cũng có kẹt xe giờ tan tầm nhưng tuyệt nhiên không có chen lấn hay bóp còi, không có cáu gắt hay bực dọc. Khi bạn băng qua đường, dù không trên vạch trắng, xe cộ thấy bạn từ xa, họ đã hãm tốc. Thành phố lúc nào cũng lằng lặng, ngày cũng như đêm. Đi mua sắm, lựa chọn đã đời, xách đít không đi ra, họ vẫn vui vẻ chắp tay chào. Và còn nhiều nữa...

Vũ trường ở Lào, nói thiệt, như cái quán hủ tíu bên mình vậy, sơ sài, nghèo nàn và vắng vẻ. Nhưng bảo tàng và thư viện rất to, nhà hát rất đẹp, lúc nào cũng đông.

Tự suy ra nhé.

Để tui kể chuyện này cho nghe, hồi SEA Games 25, lúc biết bóng đá Việt Nam vào được chung kết và cơ hội thắng Malaysia để vô địch là rất cao, tui rủ thằng bạn bay qua Viêng Chăn để ủng hộ đội nhà, để sướng với cảm giác vô địch. Trần ai kiếm được vé máy bay, qua tới nơi, khách sạn sang hèn, nhà trọ lớn nhỏ không còn một chỗ trống. Dân Việt Nam ngập tràn bên đó, phần lớn đi đường bộ qua cửa khẩu Lao Bảo.

Anh taxi cũng khốn đốn tới khuya để chở tụi tui đi tìm nơi ở, rồi anh xin lỗi vì không giúp được. Thì thôi, kiếm chỗ nào có mái che, lăn ra ngủ vậy, cổ động viên bóng đá chứ có phải doanh nhân đi nghỉ dưỡng đâu. Nghe vậy, anh taxi hổng chịu. Anh nói ở đây an toàn, không sợ gì con người nhưng anh sợ nửa đêm gió sương... Rồi anh mời tụi tui về nhà, gọi vợ mình dậy nấu mì cho ăn. Khách tắm rửa xong, vợ chồng anh nhường cho họ phòng ngủ của mình. Sáng ra, anh chở đi tìm vé vào sân vận động (ui trời, dân bán vé chợ đen toàn Việt Nam tràn qua). Gửi biếu anh chị tiền, họ nhất mực không nhận, chỉ lấy tiền taxi. Vậy đó.

Ai mơ ước người Việt được như người Nhật thì cứ việc. Tui, thằng đã mòn đít ở Nhật, chai chân ở Việt Nam, bạc đầu ở Đức,... lại mơ ước dân mình được như... dân Lào.

(HỒNG HẢI)
"Sự Nổi Giận" hèn hạ của những kẻ thất bại.

Lắm lúc, người ta tự đặt ra những câu hỏi đến đau lòng cho chính mình rằng: "Tại sao lại như vậy...?". Tại sao những kẻ, từng đánh đổi bằng mạng sống, để chạy trốn CNCS, CNXH nay lại nhìn nó bằng sự triều mến và nâng niu như những chú búp bê đáng yêu? Những kẻ đã từng sỉ nhục ông HCM đến cạn tàu ráo máng, nhưng nay lại thờ ông này trên đầu? Những kẻ đã từng hô hào chống Cộng và bảo vệ Cờ Vàng thì nay lại giẫm đạp lên Cờ Vàng một cách không thương tiếc, lá cờ mà sự tồn tại của nó không chỉ là một phần của lịch sử mà còn bao gồm cả một phần của cuộc đời và cả xương máu của chính họ? ...

Bạn gọi họ là gì? Tôi gọi họ là "Cộng Đồng Cờ Vàng Lật Lọng".

Tôi luôn nghi ngờ vào lòng bác ái của nhân vật "Bác Hồ" nhưng tôi tin ông ta phải là một lãnh tụ mưu lược. Tôi chưa từng nghĩ ông Hồ là một vị "Cha Già Dân Tộc" nhưng với tôi, ông ta chính là "Cụ Tổ" của chế độ đó. Tôi từng phản biện về trách nhiệm lịch sử của nhân vật "Bác Hồ" nhưng cũng chưa từng chửi rủa ông ta như đám "Cờ Vàng Lật Lọng" này đã từng. Tôi không tin CNCS, CNXH có đủ sự thông thái, có đủ trí tuệ để có thể kinh ban tế thế, có thể, tạo ra sự thịnh vượng cho đất nước, nhưng tôi tin họ không ngu đến mức nghe lời khuyên hoặc sử dụng những kẻ "Cờ Vàng Lật Lọng" như là những "Tác Nhân Đột Phá" .

Những kẻ "Cờ Vàng Lật Lọng" như: Hoàng Duy Hèn, Ngô Củi, báo Người Vẹt Cali, Asia Freedom for Việt Nam ..., những kẻ ranh ma đến mức "bốc mùi" này lại ngây thơ tin rằng họ, những kẻ từng chửi rủa cs như đập búa vào mặt, nay lại có thể tranh thủ được sự tin tưởng của cs? Chơi trò "lật lọng" với cs khác nào chơi đúng trò chơi với "cha đẻ" ra nó? ...

Không, đám "Cờ Vàng Lật Lọng", họ đủ khôn để không tin mình có thể tranh thủ được lòng tin của cs. Họ không bán linh hồn vì niềm tin. "Lòng thương hại" là thứ duy nhất đám người này tin là có thể gặt hái từ cs mà họ vẫn nổ lực làm chỉ bởi ...?
Đám người này là những kẻ thất bại!

Luồn cuối và giận dữ là hai trạng thái tâm lý dễ hiểu của những kẻ ranh ma khi sa vào cơ nhở.

"Con Quỉ Dữ CS", trước đây trong ngôn ngữ của họ bổng chốc trở nên đáng yêu, cho dù bọn họ hiểu rằng "chú búp bê" đó chỉ là một thứ Kumathon, búp bê đã được yểm bùa, và sự đáng yêu tìm ẩn đầy rủi ro luôn tồn tại như một cơn ác mộng kinh hoàng. Họ đã chọn bước vào ác mộng chỉ để lúc bừng tỉnh, trong hơi thở dồn dập của cơn hoảng loạn, họ vẫn còn nhận ra nó vẫn còn có thể chỉ là ác mộng mà chưa trở thành thực tế tuyệt vọng cho họ.

Hoảng loạn trong ác mộng, tìm con đường sống bằng cách phủ định chính bản thân mình, bọn họ phải tìm cách trút giận vào thực tế để tìm kiếm sự cân bằng tâm lý.

Không còn ai tin họ, không còn ai nghe họ, không còn ai cảm thấy sẵn lòng cho sự bám víu như "đĩa đói" của họ..., sự lạnh nhạt đến gần như vô vọng dành cho cơ chế sống bám khiến cho bọn họ phải cư xử một cách vô nhân đạo với chính mình. Điều này buột họ phải tìm cách mất nhân tính với một ai đó.

Donald Trump, đúng rồi, chính ông ta! Bọn họ lao vào tấn công Trump như một con mãnh thú tìm cách sinh tồn khi sa cơ thất thế. Họ đặt điều, bịa chuyện để hạ nhục Trump theo cách mà dân hàng tôm cá cũng phải gọi bằng cụ. Họ thành khẩn ao ước một cái chết cho Trump còn hơn cả sự thành kính khi hồi hướng công đức cho các bậc sinh thành ra họ.

Sự giận dữ dành cho Trump tiến gần đến bản năng sống còn. Họ xem cái tên Donald Trump và âm thanh của nó như là tiếng gọi hồn ai oán cho môt thời hoàng kim của cú lừa đảo dân chủ "vĩ đại". Họ xem Trump và những thứ thuộc về ông ấy như là những tội ác, thứ đã gieo rắc sự chết chóc cho những âm mưu bỉ ổi nhất của họ, thứ như là luồng ánh sáng chói lòa soi rọi từng góc khuất đen tối của tham nhũng, của bạo lực, của gian lận, của lừa gạt ..., vốn là những lằn ranh đỏ không thể chạm tới đối với những thường dân.

Khi sự bỉ ổi được nâng cấp thành kỹ năng sống còn thì chúng ta phải khẳng định đã và đang có một cộng đồng thất bại như vậy, cộng đồng "Cờ Vàng Lật Lọng", cho dù điều đó có thể làm cho bạn và cả tôi đôi lúc cảm thấy chạnh lòng.

(Lưu ý: "Cờ Vàng Lật Lọng" chỉ là phần ung nhọt nhỏ, ít ỏi nhưng ồn ào, trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt tỵ nạn cs, những người vẫn luôn xem Cờ Vàng là đại diện cho một phần lịch sử đầy hãnh diện của người dân MNVN)

Bao Nguyen

Chiếc Thánh Giá Rơi Từ Trời”

[Một lời hứa giữa chiến tranh, được trả lại sau sáu thập nien]

Leon Dubois, chàng trai 23 tuổi ở Normandy, vốn chỉ là một nông dân chưa từng thấy dù một lần trong đời cho đến rạng sáng ngày 6 tháng 6 năm 1944, khi bầu trời trên trang trại của anh bỗng đầy những bóng người Mỹ đang đáp xuống.

Một lính dù, James Kelly, 24 tuổi đến từ Ohio, rơi thẳng vào cây táo của Leon, mắc kẹt, bị thương và chảy máu. Leon trông trẻ hơn tuổi thật, nhưng anh vẫn nhanh chóng cắt dây dù, kéo James xuống và giấu anh trong chuồng bò, phủ rơm lên người anh mặc cho lính Đức đang lục soát từng nhà và mẹ Leon van xin anh đừng liều mạng.

James không biết tiếng Pháp. Leon không biết tiếng Anh.
Nhưng James đã tháo chiếc thánh giá bạc trên cổ mình và đặt vào tay Leon như một lời cảm ơn.

Trong ba ngày, Leon lén cho James uống sữa, ăn bánh mì. Đến đêm thứ ba, James buộc phải rời đi để tìm đơn vị. Anh ôm Leon thật chặt và nói một từ duy nhất mà anh biết:
“Merci.”

Leon giữ chiếc thánh giá ấy suốt 60 năm.
Năm 2004, khi đã 83 tuổi, Leon đến nghĩa trang Normandy và đặt chính chiếc thánh giá đó lên mộ của James Kelly người đã hy sinh chỉ hai ngày sau khi rời khỏi chuồng bò, bị bắn gần Sainte-Mère-Église.

Leon khẽ thì thầm trước bia mộ:
“Anh đã rơi từ trời xuống cây táo của tôi… và vào cuộc đời tôi.”

Nguồn: Benigno Vargas



Gà trống nuôi con

Để tui kể sơ về cái nghề nghiệp của tui. Nghề thợ hồ đó mà. Tính ra thò tay làm đến lúc nghỉ hưu là 20 năm, nên khách hàng khá đông và công việc thì đủ thứ trên đời. Điện nước, lắp ráp, tháo bỏ…. Cái gì cũng biết hết. Giờ nghỉ hưu rồi nhưng một số công trình mình đã làm, đôi khi có hư hỏng nhỏ, khi khách kêu, mình vẫn đến giúp. Lấy rẻ, đưa nhiêu thì đưa.

Dịch vụ massage của mấy cô chủ người Tầu, Hàn Quốc…, và bây giờ người Việt cũng làm nhiều, hay thuê tui làm phòng. Họ thuê căn shop, mình ngăn các phòng nhỏ vừa một cái giường. Một shop thường ngăn được năm sáu phòng. Làm sao rẻ nhất là được vì họ luôn đổi địa điểm. Hoặc sang nhượng cho người khác. Nghề này, cái gì cũng có vẻ “mới mẻ” thì khách mới vô. Khách mau chán. Vì sao? Cứ hỏi mấy ông là biết.

Shop đôi khi cũng hư hỏng vặt, toàn mấy bà mấy cô thì biết làm sao, lúc này “chú Jimmy” được gọi tới. Ngoáy chút là xong. Trả bằng … massage cũng được vì dạo này xương cốt tui cũng hay đau nhức. Ai cũng vui vẻ.

Dĩ nhiên mình phải hiểu massage không chỉ có đấm bóp mà còn phải giúp khách hàng xả stress. Gọi là từ A đến… Y. Khi set up shop nào mà họ cần thêm phòng tắm thì có thể tới …Z, nhưng đây là làm lậu, “ủ tờ” như chơi. Nói chung, mấy ông không có vợ, nhờ giúp tới Y cũng được rồi, khỏi phiền phức mà mức độ “hạnh phúc” đều giống nhau.

Chủ shop cũng phải biết kinh doanh, nghĩa là không bao giờ cho khách hàng đụng mặt nhau. (Kỳ lắm). Nếu chỉ một cửa ra vào thì khi có khách mới là lùa vô phòng trống liền rồi nói chuyện sau. Khách đã xong dịch vụ thì phải nhìn trước nhìn sau các phòng đều đóng cửa thì mới cho khách đi ra.

Ấy vậy mà cũng bị “chạm trán”.

Hôm đó tui lúi húi sửa ổ khoá cửa một shop massage khá nổi tiếng (luôn có nhân viên mới). Ngẩng đầu lên thì gặp anh A Hoà. Tui với ảnh gặp nhau hoài trong hồ bơi, tâm sự nhiều nên hiểu nhau. Hôm nay “đụng độ” ở đây nữa thì còn hiểu hơn hí hí…

Đời một người đàn ông không vợ sẽ như thế nào ở xứ Úc này. Để kể.
A Hoà là người Việt gốc Hoa. Năm nay cũng sáu bảy bó giống tui rồi. Ảnh có ăn học hồi trẻ, nghe nói học ở trường Bác Ái ở Saigon. Nên nói tiếng Việt rõ ràng. Lâu lâu đi nhảy đầm, lên hát kiểu “ca lẻ”, ảnh hát toàn nhạc Pháp. Nghe không biết là… “Tầu lai” vì rất đúng giọng Tây. Ảnh đi chơi một mình, không có vợ. Bàn ngồi của ảnh luôn đầy ắp tiếng cười vì ảnh khá duyên. Ảnh kể chuyện thì thôi, nghe không dứt vì biết nhái giọng đủ kiểu.

Đôi lúc đi chơi ở club như vậy, ảnh còn mang theo bầu bí rau cỏ hỏi ai cần thì lấy. Ảnh nói rảnh rỗi trồng đủ thứ. Bón phân, tưới nước. Thu hoạch xong còn phải đem cho vì nhà có “mình ên”, ăn không xuể.

Một lần, trong một chuyến đi chơi nguyên đoàn của hội…”bô lão”. Đi mấy ngày trời. Tui có tham gia và vô tình ngồi kế bên ảnh. Gần đó là con gái ảnh và chàng rể. Họ nói chuyện với nhau thì bằng tiếng Tầu. Xe đến Sydney, sau khi vô khách sạn nghỉ ngơi rồi mạnh ai nấy đi chơi. Tui lững thững đi cùng ảnh và một số bạn già khác ở một khu chợ người Việt, kiếm đồ ăn. Đi ngang một cái shop. Ảnh đứng tần ngần. Ảnh nói ngày xưa lúc mới đến Úc, anh làm người bán hàng (tạp hoá) ở đây. Được chủ giao trọn cửa hàng. Nhờ duyên ăn nói, nói tiếng Việt, tiếng Tầu … nên đông khách. Tui hỏi vì sao không ở đây làm ăn mà về Melbourne vậy?. Cái tật của tui “buôn chuyện”, thích nghe chuyện đời của người ta.

Ảnh kể rằng hồi buôn bán ở đây, có gặp một chị. Người xứ Cần Thơ. Chị này nấu chè, nấu xôi. Đem bỏ mối ở các tiệm như của ảnh. Sáng sớm bỏ hàng vô, chiều tối đến kiểm, hàng bán được thì lấy tiền. Hàng… ế, đem về hoặc … mời “A Hoà” ăn giùm. Ăn riết ngán luôn.

Nhưng nhìn cô “Cần Thơ” thì không ngán. Ảnh lúc đó chưa vợ, mà tánh thích con gái Việt cơ. Tui hỏi “gái Tầu” khó kiếm lắm hả? Ảnh nói hoàn cảnh của ảnh đặc biệt. Tui lại hỏi tới…

Ảnh vượt biên qua Úc từ những năm tám mấy. Mang theo một cháu gái nhỏ mới hai tuổi.

“Nhỏ mà anh Jimmy thấy trên xe, là cháu chớ không phải con ruột.”
Cha cháu là anh ruột của ảnh. Trên đường vượt biên lộn xộn. Ảnh bế cháu lên thuyền trước, anh chị kia bị lọt lại và tai nạn khiến mất tích. Kể như đã chết. Đem cháu ruột qua Úc, làm giấy tờ là con ảnh, nên xem như ảnh có con mà không có vợ.

Gà trống nuôi con. Ảnh bùi ngùi kể cảnh khổ. Một thân một mình đi làm, gởi cháu. Đón về lo ăn uống tắm rửa. Rồi cháu đến trường. Cháu lớn. Ảnh nói tuổi trẻ của ảnh gắn với cháu. Không dám lấy vợ mà cũng không ai chịu lấy. Thời đó phụ nữ hiếm lắm. Không ai chịu lấy một ông có… con nhỏ. Mà ảnh cũng sợ cảnh mẹ ghẻ “cháu” chồng. Nên ở vậy luôn.

“Tình đầu” của ảnh là cái cô “Cần Thơ” đó. Đẹp gái, giỏi giang. Cũng lỡ một đời chồng và chưa có con. Hai người lâu lâu có hẹn hò. Tuy vậy ảnh biết cổ không thương ảnh. Chỉ muốn… tiền thôi. Lúc nào gặp ảnh cũng hỏi mượn tiền. Nói làm ăn cũng bị thiếu chịu gì đó. Mà ảnh thương cổ nên không ngại. Có dư chút đỉnh cũng “góp vốn” cho nàng.

Sau này mới biết nàng mê “bấm máy”. Làm được bao nhiêu tiền cúng vào mấy cái máy hết. Nên ông trước bỏ. Nàng gặp ảnh thì tiến tới. Cũng vì cần tiền bỏ vô máy thôi. Chớ nấu ăn giỏi như chị ấy, không cờ bạc thì giàu mấy hồi.

Chị ấy nợ nần rồi không đóng hụi chết gì đó. Người ta cứ tìm ảnh hỏi han vì chị đã trốn đi nơi khác. Ảnh quê quá. Cũng bỏ đi tiểu bang khác. Nên về Melbourne là vậy.

Xứ này cứ đi làm hãng rồi về nhà nuôi con. Thời gian qua nhanh lắm. Khi cháu lớn, lập gia đình rồi Jimmy chồng. Ảnh còn lại một mình với tuổi đã lớn. Lúc này ở vậy luôn cho rồi. Thật ra, trừ phi về xứ lấy vợ đem qua, chớ kiếm người ở chung một nhà khó lắm. Thôi thì con người đôi lúc thiếu thốn cái gì đó thì “tự xử” cho xong. Hoặc nhờ “dịch vụ” xử giùm. Thân phận đàn ông là vậy.

Ảnh nói ảnh còn một chuyện buồn. Tui hỏi thương ai hả?. Không!. Vợ chồng đứa cháu không chịu sinh con dù hai đứa đi làm lương khá cao. Ảnh nói nếu phải nuôi cháu lần nữa, ảnh vẫn muốn….Tui an ủi, tụi nhỏ bây giờ khi thấy đủ điều kiện mới chịu có con…

Jimmy đi chơi, góp nhặt chuyện đời kể hầu quý vị. Đọc xong xin một like an ủi nghe!

Jimmy Nguyen
Tại sao Nhật không thể xâm lăng Úc năm 1942!

Một bài học lịch sử về địa lý, chiến lược và ý chí của người Úc.

Trong lịch sử chiến tranh hiện đại, có những thời điểm mà vận mệnh của một quốc gia chỉ còn được quyết định bởi một phòng tuyến cuối cùng. Đối với Úc Đại Lợi trong năm 1942, đường mòn Kokoda (Kokoda Track) tại New Guinea chính là một phòng tuyến như thế.

Nếu quân Nhật chiếm được Port Moresby (Port Moresby, nước Úc sẽ phải đối mặt với một tình thế cực kỳ nguy hiểm. Nhật Bản không nhất thiết phải đổ bộ ngay vào lục địa Úc, nhưng họ có thể xây dựng một căn cứ không quân và hải quân ngay sát cửa ngõ phía Bắc, đe dọa các thành phố, tuyến hàng hải và những con đường tiếp tế quan trọng.

Năm 1942 là thời điểm đen tối nhất của phe Đồng Minh tại Thái Bình Dương. Sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) ngày 7 tháng 12 năm 1941, quân đội Nhật Bản tiến nhanh như vũ bão khắp Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Trong vòng vài tháng, Nhật đã chiếm Philippines, Malaya, Đông Ấn thuộc Hà Lan và đánh bại lực lượng Anh tại Singapore. Sự sụp đổ của Singapore vào tháng 2 năm 1942 là một cú sốc lớn đối với toàn bộ thế giới Phương Tây.

Pháo đài từng được xem là bất khả xâm phạm ấy đã đầu hàng, đưa hàng chục ngàn quân Đồng Minh bị Nhật bắt làm tù binh.

Sau những chiến thắng liên tiếp, giới lãnh đạo Nhật tin rằng họ có thể tiếp tục mở rộng quyền kiểm soát xuống phía Nam.

Mục tiêu kế tiếp của chúng là Port Moresby.

Địa lý – kẻ thù vô hình của mọi đạo quân.
Nhưng Nhật Bản đã gặp phải một trở ngại mà họ không thể dùng sức mạnh quân sự đơn thuần để vượt qua: thiên nhiên.

New Guinea là một trong những vùng đất hiểm trở nhất thế giới. Những dãy núi cao, rừng nhiệt đới dày đặc, khí hậu nóng ẩm và những cơn mưa bất tận biến nơi đây thành một chiến trường khắc nghiệt.

Đường mòn Kokoda không phải là một con đường theo nghĩa thông thường. Đó chỉ là một lối nhỏ xuyên qua rừng núi, nối vùng bờ biển phía Bắc với Port Moresby ở phía Nam.

Trong khoảng cách chưa đầy 100 km ấy, người lính phải vượt qua những ngọn núi cao, những con dốc dựng đứng và những vùng bùn lầy có thể làm kiệt sức cả những đơn vị tinh nhuệ nhất.

Quân Nhật ban đầu có nhiều lợi thế. Chúng có kinh nghiệm chiến đấu trong rừng, tinh thần kỷ luật cao và đang ở thế tấn công.

Nhưng người Nhật đã không tính đến một điều quan trọng: chiến tranh trong rừng không giống chiến tranh trên bản đồ.

Sai lầm của Nhật Bản: đánh giá thấp sức chịu đựng của người Úc.
Quân Nhật từng tin rằng quân Úc là lực lượng yếu hơn, đặc biệt khi nhiều đơn vị Úc trên Kokoda là lực lượng quân địa phương.

Những người lính thuộc Tiểu đoàn 39 (39th Battalion từng bị giới quân sự chuyên nghiệp xem thường và gọi bằng biệt danh “Choco soldiers”.

Nhưng chính những người lính bình thường ấy lại trở thành những người đứng đầu trong cuộc chiến bảo vệ đất nước.

Họ không có điều kiện chiến đấu lý tưởng. Họ thiếu trang bị, thiếu kinh 
nghiệm chiến trường và phải đối mặt với bệnh tật, đói khát cùng sự mệt mỏi kéo dài.

Thế nhưng họ có một yếu tố mà quân Nhật không thể phá vỡ: quyết tâm không để kẻ thù tiến thêm.

Chiến thuật mới thay đổi cục diện.
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Nhật Bản thất bại trên Kokoda là sự thay đổi trong cách chiến đấu của quân Úc.

Chuẩn tướng Arnold Potts nhận ra rằng không thể áp dụng chiến thuật chiến tranh thông thường vào một khu rừng như New Guinea. Ông hiểu rằng người Nhật đang lợi dụng khu rừng để ẩn mình, tiếp cận và bao vây quân Úc.

Vì vậy, quân Úc phải biến chính khu rừng thành vũ khí của mình.

Chiến thuật “đợi địch đến thật gần mới khai hỏa” đã giúp các đơn vị Úc gây thiệt hại lớn cho quân Nhật. Thay vì bắn từ xa và để lộ vị trí, họ kiên nhẫn chờ đến thời điểm quyết định.

Sự bình tĩnh ấy đòi hỏi một kỷ luật tinh thần phi thường. Người lính phải thắng được nỗi sợ trong chính mình trước khi thắng được đối phương.

Nhật Bản bị đánh bại không phải trong một trận duy nhất.
Một điểm quan trọng của chiến dịch Kokoda là quân Nhật không bị đánh bại bởi một cuộc phản công lớn duy nhất.

Họ thất bại vì bị tiêu hao từng ngày. Mỗi ngọn núi, mỗi đoạn đường, mỗi vị trí phòng thủ đều khiến họ mất thêm người, trong khi đường tiếp tế ngày càng kéo dài và khó khăn.

Đạo quân Nhật từng chiến thắng tại Singapore đã bị mắc kẹt trong một cuộc chiến mà thiên nhiên, bệnh tật và sự kháng cự của quân Úc cùng một lúc chống lại chúng.

Khi tiến gần đến mục tiêu Port Moresby, họ đã không còn đủ sức để tiếp tục. Đến tháng 9 năm 1942, cuộc tiến quân Nhật bị chặn đứng.

Đây là bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh Thái Bình Dương.

Lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh bắt đầu, một cuộc tấn công lớn của Nhật Bản bị ngăn chặn trên đất liền.

Ý nghĩa của chiến thắng Kokoda.
Chiến thắng trên đường mòn Kokoda có ý nghĩa vượt xa một trận đánh địa phương.

Nó bảo vệ Úc khỏi nguy cơ bị cô lập và tạo điều kiện để Đồng Minh chuyển từ thế phòng thủ sang phản công.

Sau Kokoda, Nhật Bản không còn giữ được thế tiến công liên tục tại khu vực Nam Thái Bình Dương. Nhưng quan trọng hơn cả là bài học về con người.

Kokoda chứng minh rằng chiến thắng không chỉ thuộc về đạo quân mạnh nhất, mà thuộc về đạo quân biết thích nghi, biết hy sinh và có ý chí tồn tại.

Những người lính Úc năm 1942 không phải là những nhân vật huyền thoại ngay từ đầu. Họ là những thanh niên bình thường, nhiều người xuất thân từ nông trại, thành phố nhỏ và những gia đình lao động.

Nhưng trong giờ phút nguy hiểm nhất, họ đã làm điều phi thường.

Bài học lịch sử:
Lịch sử Kokoda để lại nhiều bài học cho các thế hệ sau.

Thứ nhất, không có chiến lược nào có thể thay thế sự hiểu biết thực tế về chiến trường. Một vị tướng nhìn bản đồ có thể thấy đường tiến quân, nhưng chỉ người lính ngoài mặt trận mới cảm nhận được địa hình, khí hậu và sự khắc nghiệt của cuộc chiến.

Thứ hai, một đạo quân bị đánh giá thấp vẫn có thể chiến thắng nếu có tinh thần, kỷ luật và người chỉ huy biết nhìn ra sự thật.

Thứ ba, trong mọi cuộc chiến, yếu tố con người luôn là điều quyết định.
Trên những ngọn núi New Guinea năm 1942, giữa mưa rừng và bùn đất, những người lính Úc đã viết nên một trang sử không bằng những lời tuyên truyền lớn lao, mà bằng sự chịu đựng, lòng can đảm và sự hy sinh.

Ngày nay, đường mòn Kokoda vẫn là biểu tượng của tinh thần Úc: can đảm, bền bỉ, tình đồng đội và trách nhiệm đối với quê hương.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Blog Archive