skip to main |
skip to sidebar
Tuổi Hưu, Mơ Và Tỉnh
Định cư tại Mỹ theo diện HO và nay đã nghỉ hưu, ông Đạo sống những ngày an nhàn để vui tuổi già bên các con cháu đã có cuộc sống ổn định. Ông cùng nhóm bạn thân thường hội họp tại nhà một ông bạn hay trung tâm sinh hoạt của người già; họ trao đổi cho nhau những kinh nghiệm sống trên quê hương thứ hai nầy, hoặc hàn huyên tâm sự cho vơi bớt nỗi buồn xa quê hương trong những ngày tháng thảnh thơi của đời người.Một buổi trưa, nhóm ông Đạo hẹn nhau ăn tại một trung tâm cộng đồng. Trong bàn có một người Mỹ, ông ta hỏi: “Các ông từ đâu đến?” Sau khi biết mọi người còn lại trong bàn là người Việt, ông tiếp:- Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết “Người Mỹ Cô Đơn”(The Lonely American) của một nhà văn người Việt, nhân vật chính thật cô đơn vì sự chiến đấu của anh giúp chính phủ miền nam bảo vệ miền đất của tự do dân chủ bị chính người Mỹ hiểu sai. Tôi cũng giống như nhiều người Mỹ khác, bị tuyên truyền bởi nhóm phản chiến về sự vô nghĩa của chiến tranh Việt Nam, đã tham gia vào những cuộc biểu tình chống lại sự có mặt của quân đội Mỹ ở đất nước của quí ông, và đã góp phần vào sự sụp đổ của miền nam Việt Nam.Nhắc tới cuộc chiến Quốc Cộng, nét mặt mọi người Việt trong bàn ăn trở nên trầm tư. Một ông Việt lên tiếng hỏi ông khách Mỹ:- Ông có muốn nghe về nỗi cô đơn của một người lính Việt bại trận không?Ông khách Mỹ gật đầu và ông Việt nói một hơi như để vơi đi những nỗi niềm chất chứa trong lòng:- Tôi là kẻ chiến bại phải rời khỏi quê hương để tìm đường sống, tôi luôn sống với cảm giác của kẻ bị lưu đày. Nỗi cô đơn lạc lõng và mất niềm tin trên xứ người được người xưa mô tả bằng hình ảnh “tấm thân không nhà bơ vơ không chúa”. Nhiều lúc nghĩ đến câu “Quốc gia hưng vong thất phu hửu trách”, tôi cảm thấy hổ thẹn trong lòng, và tôi thường tự an ủi mình bằng câu “mệnh trời vận nước” để được nhẹ đi phần nào trách nhiệm của những kẻ cầm súng giữ nước. Ông nhờ một ông bạn trong bàn dịch ra tiếng Mỹ để ông khách hiểu, ông hỏi ông khách:- Bây giờ thì ông có thể hiểu được nỗi buồn và cô đơn của kẻ thua trận, họ phải buông súng đầu hàng và rời bỏ quê hương để sống cuộc đời lưu vong. Ông khách gật đầu trả lời:- Tôi là người Mỹ gốc da đỏ nên tôi cảm nhận được nỗi buồn Quốc phá gia vong của các ông. Xin lỗi các ông, tôi đã gợi nỗi buồn mà các ông không muốn nhắc tới.Thấy không khí không được vui, mọi người trong bàn lảng sang chuyện khác.Suốt buổi chiều hôm ấy, cuộc đối thoại giữa ông khách Mỹ và ông bạn Việt của ông Đạo khiến ông miên man nghĩ đến hình ảnh “tấm thân không nhà bơ vơ không chúa”. Ông thì sống với gia đình đứa con trai út, bà Đạo sống với gia đình đứa con gái lớn để giúp con săn sóc đứa cháu mới sanh, và ông bà chỉ gặp nhau ở cuối tuần. Sống xa nhau thì nhớ, sống gần nhau thì dễ cãi cọ. Cách nay vài ngày, ông muốn hai vợ chồng về Viêt Nam chơi một chuyến để thăm bà con và quê hương, bà Đạo từ chối vì bà bận giúp con gái trông coi cháu bé và các cháu lớn khi chúng trở về nhà sau giờ học. Ông Đạo đề nghị: “ Nếu bà đi không được thì để tôi đi một mình, chớ để vài năm nữa biết tôi có còn đủ sức khỏe về thăm quê hay không?” Bà Đạo không bằng lòng lấy lý do là không thể để cho ông đi một mình được vì bà nghe các bà bạn khuyến cáo các cạm bẫy đang chờ đón các ông tại quê nhà. Ông cố thuyết phục bà: “Bà phải tin tui chứ,bao năm nay tôi có lừa dối bà chuyện gì đâu.” Bà Đạo trả lời ngay: “tôi đã một lần tin ông, trước năm 75 ông bảo với tôi Mỹ nó không thể bỏ miền Nam, đến khi nó bỏ chạy thì gia đình mình chạy không còn kịp nữa. Ông đi tù, tôi vất vả bao nhiêu năm nuôi chồng nuôi con, tất cả cũng vì tin ông.”Chuyện về Việt Nam thăm và những sai lầm của ông Đạo trước năm 75 chẳng liên quan gì với nhau, nhưng bà Đạo cứ liên kết để phần thắng về phần bà. Mỗi lần những chuyện tương tự như vậy xảy ra, ông Đạo đành phải nhượng bộ cho yên cửa yên nhà và đành chấp nhận cái thế yếu của mình. Nhiều khi ông cảm thấy bơ vơ lạc lõng, người thân không tin ông, còn ông thì đã mất niềm tin từ lâu rồi kể từ ngày thua trận. Nghĩ cho cùng, câu nói “tấm thân không nhà bơ vơ không chúa” của người xưa cũng diễn tả được phần nào cái tâm trạng của ông.Ông Đạo ra khỏi nhà, thả bộ dọc theo con đường bên cạnh nhà ông để hít thở không khí ngoài trời. Nhờ con đường ít xe qua lại, ông cảm nhận được sự yên tĩnh của những ngày cuối thu. Nhìn những chiếc lá úa lìa cành quay theo chiều gió trước khi rơi xuống đất, ông nhớ lại những ngày trong trại tù cải tạo với hình ảnh của người bạn tù vàng vọt cố bám vào sự sống trước khi lìa đời, và ông thấy mình còn có nhiều may mắn mới được tồn tại tới ngày hôm nay.Vừa đi vừa suy nghĩ lung tung đến những biến cố đã qua trong cuộc đời ông như là một giấc mơ, ông đi dần về phía hướng núi, phong cảnh ở đây khá đẹp trong cái nắng dịu dàng của buổi chiều thu. Gần về phía núi nhà trở nên thưa vì nhà có vườn rộng, ông dừng lại một ngôi nhà có vườn trước trồng hàng cây hoa hồng đang nở bông rất đẹp,giữa vườn là hòn non bộ với tượng đức mẹ nhìn ra đường. Ông Đạo ngắm nghía cách trang trí cây cảnh của ngôi vườn rất hài hòa và đẹp mắt. Tình cờ nhìn vào trong nhà xe, ông thấy một ông Mỹ nhắm mắt đang ngồi thiền trong tư thế kiết già. Ông thấy người đàn ông nầy trông quen quá; nhìn kỹ lại, ông nhận ra người đàn ông đang ngồi thiền chính là ông Paul mà ông thường gặp tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng.Ông Paul thường có mặt tại trung tâm để giúp ban điêu hành trong nhiều chương trình dành cho người già đã về hưu có cuộc sống tốt hơn. Có một lần ông Đạo giúp ông Paul sắp xếp bàn ghế sửa soạn bữa cơm trưa cho người cao niên; sau khi công viêc xong, ông Đạo ngỏ lời cảm ơn ông Paul về những đóng góp hàng ngày của ông cho trung tâm người già nầy. Ông Paul mỉm cười trả lời: “Thật ra thì tôi phải cảm ơn trung tâm vì nhờ nơi nầy mà tôi có việc làm hàng ngày; mặc dù việc làm không công, nhưng nó giúp tôi có được nhiều bạn mới, và giúp tôi ngủ ngon mỗi đêm nhờ sự hoạt động ban ngày.” Từ đó ông Đạo có nhiều cảm tình với ông Paul.Ông Paul mở mắt nhìn ra đường và nhận ra ông Đạo; sau khi chào hỏi, ông Paul mời ông Đạo vào nhà để xe được làm thành thiền thất, và ông mời khách dùng trà. Quan sát thiền thất, ông Đạo thấy trên kệ cao có tượng Chúa và Phật được đặt ngang hàng, ông lộ vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn giữ yên lặng. Như đoán được ý nghĩ của người bạn, ông Paul mở lời:- Chắc ông ngạc nhiên vì tôi thờ cả hai vị.Như được dịp bày tỏ những điều mà ông thường nghe nói, ông Đạo lên tiếng:- Tôi được biết trong dân gian, người thờ chúa thì không thờ phật và ngược lại vì hai tôn giáo nầy có sự khác biệt về nguồn gốc của chúng sinh.Ông Paul vẫn nụ cười trên môi, ỏi ông về sự khác biệt như thế nào, ông Đạo trả lời:- Thú thật với ông, tôi cũng chỉ hiểu lơ mơ về sự khác biệt nầy; một bên đạo chúa là Chúa sinh ra vạn vật,bên đạo Phật thì vạn vật đều bắt nguồn từ Không mà ra và chẳng có một vị nào tạo ra vũ trụ nầy.Ông Paul nhìn ông Đạo và ôn tồn nói:– Như ông thấy, bên nào cũng đều giải thích vạn vật có nguồn gốc, một bên dùng danh từ “Chúa” và một bên thì đùng danh từ “Không”. Có thể là chỉ khác nhau về cái danh mà thôi. Tôi thờ hai vị vì tình thương bao la của hai vị đối với sự sống của muôn loài.Từ ánh mắt đến giọng nói cùng cách diễn tả ý tưởng của ông Paul, ông Đạo cảm nhận sự cảm thông và hiền hòa tỏa ra từ con người của ông Paul. Sau vài tuần trà trò chuyện với ông Paul về sinh hoạt hàng ngày của người già để được sống vui, theo ông Paul thì giúp đỡ người khác là giúp chính minh để được sống vui. Nói chuyện với ÔngPaul, ông Đạo thấy những buồn phiền trong lòng ông vơi đi rất nhiều. Nhân thấy ông Paul ngồi thiền, ông Đạo thú nhận với ông Paul:- Tôi có học vài lớp về thiền, nhưng mỗi lần ngồi thiền thì tâm của tôi chạy lung tung như con ngựa lồng, tôi không thể nào tập trung suy nghĩ về một cảnh giới nào đó được, và vì vậy tôi không cảm thấy thoải mái khi ngồi thiền.Ông nhờ ông Paul hướng đẫn ông về thiền để ông có thể hành thiền. Vẫn nụ cười hiền hòa ông Paul trả lời:- Mỗi ngày tôi ngồi thiền theo sự chỉ dạy của các vị thiền sư mà tôi theo học, nhưng thú thật với ông tôi cũng không biết tôi có làm được một phần nào về hành thiền mà các sư phụ đã hướng dẫn. Tuy nhiên, mỗi lần ngồi yên lặng tâp trung để đếm từng hơi thở của mình, tôi cảm được sự sống đang chảy trong tôi và tôi có cái cảm giác tôi đang trở về với chính mình để soi sáng cái tôi mê muội của mình.Ông Paul trở lại ngồi trên chiếc bồ đoàn và tiếp tục hành thiền. Căn phòng trở nên yên lặng, và ông Đạo có cảm giác ông Paul muốn ông cùng ngồi thiền. Ngồi xuống trong tư thế bán kiết già và nhắm mắt, ông Đạo đếm từng hơi thở của mình, ông tập trung vào khuôn mặt với nụ cười hiền hòa của ông Paul, và ông cảm thấy bình yên để tiếp tục ngồi thiền. Hơn nửa giờ sau, ông Đạo mở mắt ra xả thiền, và đây là lần đầu ông có thể ngồi tịnh tâm được lâu như vậy. Ông Paul cũng vừa xong buổi thiền, ông đứng lên và nói với ông Đạo: “tôi và ông hôm nay có duyên với nhau.”Từ buổi gặp ông Paul tại tại nhà riêng, ông Đạo thường xuyên ra trung tâm người già và làm việc tình nguyện để giúp trung tâm lo bữa cơm trưa cho người già mỗi ngày khoảng ba giờ đồng hồ. Ông tự coi đây là công việc hàng ngày của ông và ông vui với nó. Buổi chiều, ông thường hành thiền tại nhà, đôi khi tại nhà ông Paul để học hỏi thêm. Ông có cảm tưởng ông đang sống những ngày chưa về hưu, có công việc để làm hàng ngày, và chỉ nghỉ cuối tuần để sinh hoạt với gia đình.Sau vài tháng làm việc tại trung tâm người già, ông Đạo có thêm những người bạn mới, những nhân viên làm việc tại đây đối xử với ông đầy thiện cảm và họ coi ông như là một thành viên của trung tâm qua những đóng góp của ông. Ở nhà ông được mọi người trong gia đình hỏi han và chăm sóc nhiều hơn, bà Đạo trở nên dịu hiền với ông và thường lo cho ông những bữa cơm tươm tất hơn. Sự làm việc, cuộc sống điều độ, và nhất là sự quí mến của những người chung quanh đã giúp cho ông Đạo có cuộc sống tươi vui hơn trước. Ông Đạo cảm thấy vơi đi rất nhiều nỗi buồn “tấm thân không nhà bơ vơ không chúa”; thật ra thì ông không có thì giờ để nghĩ nhiều về nó.Thấm thoát đã hơn hai năm, ông Đạo sống những ngày bình yên và thoải mái. Bây giờ ông có thể ngồi yên cả giờ để đếm từng hơi thở ra vào nhẹ nhàng trong cái tâm tĩnh lặng của ông.Một buổi chiều mùa thu không khí hơi se lạnh, ông Đạo ngồi thiền trong thiền thất tại nhà ông Paul trong trạng thái ung dung tự tại, và rồi ông đi vào một giấc mơ...
*
Ông xuất thân từ gia đình nghèo họ Phạm tên Đạt tại một tỉnh miền trung. Mẹ mất sớm, cha cố gắng cho con theo học chữ nho tại trường của cụ Cử trong làng. Nhà quá đơn chiếc và trong cảnh gà trống nuôi con, cha cậu Đạt quyết định cưới vợ cho con lúc Đạt vừa mười sáu tuổi, vợ Đạt lớn hơn chồng hai tuổi và là con của người bạn thân của cha Đạt. Vợ Đạt là người đảm đang; ngoài công việc đồng áng, chị còn buôn bán rau quả tại ngôi chợ phiên được nhóm họp mỗi tuần một lần, và từ đấy gia đình Đạt thoát cảnh túng thiếu. Anh khóa Đạt chỉ còn một việc trao dồi kinh sử để có thể tiến thân bằng con đường khoa bảng. Năm Minh Mạnh thứ hai, anh thi hương tai Trường Bình Định, vào được trường tư và đậu tú tài. Đi thi lần đầu mà đậu được tú tài ở cái tuổi trên hai mươi, tú Đạt được tiếng hay chữ trong vùng, và chị Tú Đạt càng cố gắng tần tảo buôn bán nuôi chồng để mong một ngày kia trở thành bà cống bà nghè.Đến năm hai mươi sáu tuổi, tú Đạt đậu cử nhân, cùng năm ấy vợ anh sinh một cháu gái mạnh khỏe và kháu khỉnh.Năm kế tiếp, ông cử Đạt ra kinh để thi hội; lần nầy, ông không có tên trong bảng trúng cách để được tiếp tục vào đình thí. Với học vị Cử nhân và nhà nghèo, ông cử thấy khó chạy chọt để ra làm quan tại Kinh Đô. Biết được tâm trạng của ông cử, ông chủ nhà trọ gợi ý nếu ông chịu lấy cô em lỡ thì của một ông Quan làm trong bộ hình thì ông nầy có thể tiến cử ông làm việc ở tòa án phúc thẩm thuộc bộ hình. Ông cho biết vị quan nầy có bà con với ông nên ông có thể đứng ra làm mai. Cuối cùng chức quan trong bộ hình đã thắng sự do dự của ông cử, ông bỏ người người vợ quê mùa và đứa con gái nhỏ ở quê nhà để lấy người vợ nhà quan, và từ đó ông không bao giờ nhắc đến người vợ cũ.Cuộc đời ông cũng thay đổi từ đó, ông trở thành cấp dưới thân tín của thượng cấp, nhiệm vụ chính của ông là nhận các vụ kháng án từ các tỉnh đưa về và phân tích tình lý của từng vụ án để tòa án tối cao ở kinh đô xét lại. Tất cả đều không ngoài cái lẽ nén bạc đâm toạc tờ giấy, bên nào chạy nhiều tiền thì được bênh vực nhiều hơn, và đồng tiền đã chi phối cán cân công lý. Trong dân gian thường có câu “ Quảng Nam hay cãi, Quảng ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết” để diễn tả việc gì đem ra kinh đô nhờ phân xử thì phải lo lót cho quan lại trung ương mới mong được việc.Phần ông cử Đạt thì được thăng quan tiến chức đều đều, tiền bạc ăn tiêu dư thừa. Cũng có những đêm khuya vắng vẻ ông chạnh lòng nhớ đến người vợ đã già đi trước tuổi vì trải gió dầm mưa để nuôi ông ăn học, những giây phút ăn năn đến với ông rồi đi ngay vì ông nghĩ rằng nếu không có sự giúp đỡ bên vợ thì ông sẽ không có dịa vị của ngày nay. Ban đầu thì những vụ chạy án cũng làm cho ông ái ngại; nhưng nghĩ cho cùng, cả một hệ thống quan lại tham nhũng đã cuốn ông vào cái guồng máy của họ, và nếu ông không hùa theo với họ thì ông sẽ bi họ nghiền nát ông ngay. Đôi lúc ông cũng muốn rút lui ra khỏi quan trường, nhưng tiền tài danh vọng đã làm mờ lương tri ông và cứ thế ông lún sâu vào tội lỗi.Một buổi sáng, người nhà vào bẩm với ông có người khách lạ muốn gặp quan, ông biết ngay đây là vụ chạy án và cho mời khách vào. Ông khách họ Phùng trình bày mục đích ông đến gặp quan của bộ hình; ông đi vào chi tiết là dòng trưởng họ Phùng không có con trai nối dõi, vì vậy ngành thứ của ông muốn kiện để giữ nhà thờ và trên mười mẫu ruộng hương hỏa cho việc hương khói thờ phụng ông bà tổ tiên của dòng họ Phùng. Ông khách xin sự giúp đỡ của quan Đạt để giành gia tài của dòng trưởng. Sau vài câu vặn hỏi, quan Đạt biết ngay đây là một vụ nhận vơ dòng họ để hưởng gia tài vì không có gia phả để chứng minh sự liên hệ họ tộc. Ông khách bịa chuyện gia phả bị thất lạc vì những biến cố chiến tranh mà những đời trước của ông phải trải qua trong những lần chạy lánh nạn đao binh. Sự thật, họ có cùng họ Phùng nhưng không có sự liên hệ về huyết thống. Ông khách đề nghị nếu Quan Đạt lo được vụ kiện, ông xin dâng cho quan một nửa gia tài mà ông chiếm được từ ngành trưởng.Vì món tiền hối lộ quá lớn, quan Đạt đã nhận lời giúp họ Phùng thứ trong vụ kiện thay trắng đổi đen nầy. Với sự sắp xếp của quan Đạt bằng cách ngụy tạo giấy tờ về sự liên hệ giữa hai ngành trưởng và thứ của họ Phùng, ngành thứ đã thắng vụ kiện và được quyền giữ ngôi từ đường với số ruộng hương hỏa.Từ ngày trở thành một viên quan phụ tá cho quan lớn xử án tại tòa phúc thẩm của bộ hình, cử Đạt được lòng cấp trên vì tài khéo léo dàn xếp các vụ kiện cho có vẻ hợp lý và chung chi cho các quan trong tòa án đầy đủ. Bà con xa gần với quan Đạt có việc lớn hay việc nhỏ đều chạy đến quan Đạt nhờ vả, kẻ thì chạy chức lý trưởng, người thì chạy chức chánh tổng… Nhờ quan Đạt thu xếp thì mọi việc đều êm xuôi, nhưng phải biết các thủ tục đầu tiên cho phải lẽ mặc dù có họ với nhà quan. Một người làm quan cả họ được nhờ được áp đụng triệt để trong họ tộc nhà quan Đạt.Sông có khúc, người có lúc. Làm quan được vài năm với cảnh nhà dư dả, quan Đạt tưởng với tài khôn khéo của mình thì mọi việc sẽ trót lọt cho tới ngày về hưu, nhưng vận đen đã đến làm thay đổi cả cuộc đời của ông. Một người bà con xa của ngành trưởng họ Phùng được bổ vào chức quan giám sát của bộ hình, ông nầy xem xét lại tất cả hồ sơ của vụ án thừa hưởng gia tài của họ Phùng, và đã tìm ra gia phả giả để nhận họ hàng hòng chiếm đoạt gia tài của họ Phùng. Vụ án được xử lại, cử Đạt làm án gian dối thay trắng đổi đen nên bị trọng tội, ông bị tịch thu gia sản và bị đầy đi làm lính thú lên miền núi.Sau khi mãn án, cử Đạt sống trong cảnh nghèo nàn với vài sào ruộng được bên vợ cho. Thời vận đã hết, gia đình ông toan tính chuyện gì cũng đều thất bại. Đường khoa cử của các con ông với người vợ sau không qua nổi tú tài, và từ đấy cái nghèo theo ông cho đến già.Một ngày đầu năm, một cô gái tìm đến nhà ông để nhận tổ nhận tông, cô ta chính người con gái của người vợ quê mùa mà ông đã bỏ để lấy người khác vì danh vọng. Nhờ buôn bán tần tảo, hai mẹ con trở nên khá giả, bà thường nói với con gái rằng cha con đã chết lúc con vừa sinh ra được mấy tháng. Mỗi năm vài lần, bà đem vài bộ quần áo của cha cô để lại ra phơi như để tìm lại hơi hám của người xưa.Năm rồi bà lâm bịnh nặng, biết mình không qua khỏi, bà kể cho con gái lai lịch người cha để cha con có thể gặp được nhau. Nghe cô gái kể câu chuyện về mẹ cô, ông cử Đạt ôm con khóc ròng; những ăn năn hối hận đã âm ỉ trong lòng ông từ lâu, bây giờ mới có dịp bộc phát ra. Thấy gia đình cha quá nghèo, người con gái mua tặng cho cha vài mẫu ruộng, từ đó gia đình ông cử Đạt thoát ra được cảnh nghèo khó. Từ ngày gặp lại con gái, ông cử Đạt vào ở hẳn trong chùa như để sám hối những tội lỗi ông đã làm ra...*Đây là luc ông Đạo giật mình tỉnh dậy, ông lộ vẻ kinh hoàng với giấc mơ vừa qua và trên trán của ông còn ướt đẫm mồ hôi.Ông Đạo kể lại giấc mơ cho ông Paul nghe, ông Paul nhỏ nhẹ bảo ông: “Đây có thể là một khoảng đời nằm trong ký ức mà ông nhớ lại được trong những cuộc hành trình làm kiếp người của ông.”Từ đó, ông Đạo trở nên ít nói, ông làm việc nhiều hơn để giúp trung tâm người già và những người quanh ông, ông cảm thấy hạnh phúc và bình yên với cuộc sống hiện tại. Một buổi chiều mùa hạ, sau vài giờ phụ giúp ở trung tâm người già, ông ngồi thiền tại phòng khách và đi vào giấc mơ khác.Lấn này, Ông thấy mình sinh ra trong một gia đình người Trung Hoa họ Vương di cư sang Hoa Kỳ và được cha mẹ đặc tên David Wang, cha làm phu đường rầy xe lửa, mẹ làm công việc nhà cho những gia đình giàu có trong vùng. Cuộc sống của người di dân thế hệ thứ nhất ở miền đất hứa rất vất vả, cha mẹ ông phải làm việc lao động nặng nhọc mới kiếm đủ tiền nuôi sống gia đình và cho các con ăn học. Hàng rào ngôn ngữ là trở ngại lớn cho cha mẹ ông, nên họ phải chấp nhận công việc làm với đồng lương thấp và đôi khi bị chèn ép. Hy sinh đời bố để củng cố đời con là phương châm của cha mẹ ông.David Wang vừa xong Trung học thì cuộc nội chiến giữa các tiểu bang miền Bắc và miền Nam của nước Mỹ bắt đầu. Đã từng chứng kiến những cảnh bắt nạt của những học sing da trắng đối với học sing da màu và hoàn cảnh tủi nhục của người nô lệ da đen bị đối xử như súc vật, các hình ảnh đó ăn sâu vào tuổi thơ của cậu bé con của gia đình di dân, cậu David xin gia nhập vào đội quân tình nguyện của chính phủ liên bang miền Bắc chống lại quân đội của liên hiệp miền nam để giải phóng chế độ lệ được chính phủ miền nam ủng hộ.Sau bốn năm tham dự nhiều trận đánh ác liệt, David Wang được tưởng thưởng nhiều huy chương cao quí. Cuộc chiến chấm dứt với sự chiến thắng của quân đội của chính phủ liên bang miền bắc, David Wang xin giải ngũ và trở về trường đại học để hoàn thành ước muốn trở thành kỹ sư.Sau bốn năm ở đại học, David tốt nghiệp kỹ sư cơ khí và làm việc cho một hãng xưởng tại Sacramento thuộc tiêu bang California. Hãng chuyên chế tạo máy cày chạy bằng hơi nước và những máy móc khác giúp cho người nông dân thu hoạnh mùa màng được tiện lợi.Một ngày mùa hạ, David đạp xe ngang qua cánh đồng trồng bông trong mùa thu hoạch, anh lắng nghe tiếng ca của những người lao động đang nhặt bông bỏ vào bao bố đeo trên vai, họ vừa làm vừa ca để quên đi những nỗi nhọc nhằn dưới cái nóng của mùa hè. Một giọng ca truyền cảm từ ruộng bông vọng đến David, cô gái hát những ca khúc được sáng tác bởi người nô lệ để hát trong lúc làm việc. Lời ca chứa đầy những nỗi chịu đựng khổ cực, sự giận dữ, sự thất vọng và chống đối của người nô lệ đối với chủ nhân da trắng. Giọng ca của cô trầm bổng trong gió chiều diễn tả những nỗi thống khổ của kiếp người nô lệ. Lời ca và giọng hát của cô gái khiến cho David dầy những cảm xúc xót xa về thân phận của dân da đen sống trên đất nước nầy. Mặc dù chế độ nô lệ đã bị bải bỏ, sự kỳ thị chủng tộc vẫn còn đó.Buổi tối cả nhà quay quần dùng bửa cơm chiều, David kể cho cả mọi người nghe về xúc động của anh khi nghe cô gái da đen hát trên cánh đồng trồng bông. Mẹ anh bảo rằng anh đã lớn bằng những bài ca ru con đầy nỗi khổ cực và khát vọng của người di dân đến miền đất hứa trong những ngày đầu vất vả để hi vọng có một tương lai tươi sáng hơn cho những thế hệ kế tiếp,và anh được giáo dục phải cố gắng học hành để thoát cảnh nghèo khó mà cha mẹ anh đã trải qua. Tất cả nỗi niềm và khát vọng của gia đình người phu làm đường rầy đã ăn sâu vào kí ức của David, và chiều nay chúng được khơi dậy bằng giọng ca đầy cảm xúc u ẩn của người con gái hái bông.Trong suốt cả mùa hái bông năm đó, David chiều nào cũng ra ruộng bông để được nghe giọng hát của cô gái. Có những chiều bận việc không ra ruộng bông được, anh cảm thấy nhớ nhung tiếng hát và đầu óc lơ đãng không thể tập trung được vào công việc hàng ngày.Cuối mùa hái bông, David đi tìm gặp người con gái có giọng ca đã quyến rũ anh. Nàng tên là Helen ở lứa tuổi đôi mươi với đôi mắt to và làn da đen mịn, và một lần nữa David lại bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp cao ráo và mạnh khỏe của cô nàng Helen, và từ hôm đó đôi trai gái trở nên thân nhau.Mỗi buổi sáng chủ nhật, David và Helen cùng đi lễ ở nhà thờ dành cho người da đen,và họ quấn quít bên nhau những ngày cuối tuần hoặc những dịp lễ lạc. Vào một ngày thứ bảy đẹp trời, cặp David - Helen làm lễ cưới ở nhà thờ với sự tham dự của hai gia đình và bạn bè.Cuộc sống vợ chồng David thật yên vui, chồng có công việc ổn định, vợ lo việc nhà và chăm sóc các con. Các con anh chịu khó học hành và đều tốt nghiệp đại học. Họ dùng thời giờ rảnh rổi để làm việc công quả cho nhà thờ, họ đã sống những năm dài đầy hạnh phúc trong niềm tin tôn giáo. Tuổi già đến, ông kỹ sư về hưu David đã về nước chúa trong một ngày mùa đông với đầy đủ những người thân yêu vây quanh ông.Những buổi chiều năng ấm, bà David Wang mang những bó hoa đồng nội dặt trên mộ chồng, bà ngồi bên mộ ông hàng giờ và khẻ hát những ca khúc mà bà đã từng hát trên cánh đồng trồng bông trong mùa thu hoạch suốt cả một thời con gái.*Một cơn gió chiều se lạnh vào phòng khách khiến ông Đạt sực tỉnh, ông ngồi yên để nhớ lại giấc mơ, và tiếc rằng giấc mơ tuy đẹp nhưng ngắn ngủi quá. Ngày hôm sau ông kể lại cho ông Paul giấc mơ kỳ lạ, ông Paul nói với giọng buồn: “tiếng ca trầm thống và nỗi đau của người nô lệ da đen mà ông cảm nhận trong giấc mơ vẫn còn vang vọng cho đến ngày hôm nay, không biết bao giờ mới phai mờ hết được.”Ngoài công việc phụ giúp ở trung tâm người già, ông Đạt tham gia lớp học Yoga, và ông bỏ nhiều giờ hơn trong những buổi ngồi thiền để hi vọng có những giấc mơ mới. Ngồi thiền tại ông hay tại nhà ông Paul, ông Đạt cũng chỉ thấy quanh đi quẩn lại hai giấc mơ cũ. Ông Đạt kể laị cho ông Paul về chuyện chỉ có hai giấc tái diễn trong một khoảng thời gian dài, ông Paul mỉm cười bảo ông: “Có thể ký ức của ông chỉ mới hé mở nên ông chỉ thấy được có bấy nhiêu thôi.” Từ đấy ông không còn thắc mắc về những chuyện xẩy đến với ông và chỉ để tâm vào công việc hàng ngày.Ông Đạt và ông Paul trở nên đôi bạn thân, họ thường rủ nhau đi du lịch những danh lam thắng cảnh, và thỉnh thoảng tham gia vào những buổi thiền do các vi cao tăng hướng dẫn.Một buổi sáng hai ông ngồi uống trà trong phòng khách tại nhà ông Paul, ông Paul hỏi ông Đạt: “Bây giờ thì ông nghĩ gì về tấm thân không nhà bơ vơ không chúa của ông?” Ông Đạt mỉm cười trả lời: “Tình hoài hương vẫn mãi mãi trong lòng người ra đi; nhưng giờ thì với tôi, nơi nào cũng có thể là nhà, nơi nào cũng có những bậc thầy hướng dẫn mình để được sống yên vui.” Ông Paul thêm vào: “và chờ ngày tấm thân từ cát bụi sẽ về với cát bụi.”Hai ông bạn nhìn nhau cười xòa và cùng thưởng thức ly trà đang bốc khói.Cẩm Thành Dân
Chú Chín
Cẩm Thành DânTác giả họ Trần, trước năm 1975 là thầy giáo cấp 3 tại một trường Trung học thuộc tỉnh Long An, nay cư ngụ tại San Jose. Đây là bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên của ông. Mong tác giả sẽ tiếp tục viết.
* * *
Tha phương gặp lại người quen thật là niềm vui không thể nào tả xiết. Tôi gặp lại chú Chín tại một chợ Việt Nam, chú đang phụ người tính tiền bỏ hàng vào túi plastic để người mua đem ra xe. Nghe giọng Quảng và vóc người dong dỏng cao với vết sẹo trên cằm, tôi mường tượng người đàn ông nầy tôi đã gặp ở đâu, nhưng tôi không thể nhớ ra được, tôi đành ra xe với túi thức ăn trên tay.Ngồi trên xe, tôi cố nhớ lại bóng dáng quen nầy, bỗng trí tôi bừng dậy hình ảnh của một người dàn ông nghèo giúp việc cho những lò làm bánh tráng trong làng tôi trước năm 75; tôi tự hỏi: "Chẳng lẽ là chú Chín." Tôi trở vào chợ, và gặp lại chú Chín từ cái buổi đi chợ hôm ấy.
*
Chú Chín đến sinh sống tại làng tôi đã lâu lắm rồi. Vào khoảng năm 1949, một gã trung niên đi qua làng tôi, và dừng lại xóm làm bánh tráng để xin việc làm. Một lò bánh tráng đang cần người nên nhận chú vào phụ giúp công viêc làm bánh. Kể từ ngày đó, chú trở thành dân làng tôi mặc dù không ai biết về gốc gác của chú.Chú tự gới thiệu chú là đứa con thứ chín trong một gia đình, và từ đó cái tên Chín gắn liền với chú. Chú Chín làm việc rất chăm chỉ nên được chủ lò bánh cho phép cất một căn chòi trong vườn chủ để tá túc, và được nhận làm thợ chính trong công việc sản xuất bánh tráng. Riêng tôi, tôi rất quí mến chú vì chú nhái điệu bộ và giọng nói của những nhân vật khó tính trong xóm rất giống, bà con trong xóm cười thích thú mỗi khi chú diễn trò. Chú thường giúp đở những người chung quanh, vì vậy mọi người rất quí mến chú.Công việc hàng ngày của chú là xay bột, tráng và phơi bánh. Buổi chiều, chú thường ra quán nước đầu xóm để uống bát trà xanh và phì phèo điếu thuốc rê. Chú ngồi yên lặng nhìn người qua đường; đôi khi chú ngồi thừ người nhìn về hướng nam với đôi mắt buồn vời vợi, kẻ thì cho chú nhớ quê hương, người thì bảo chú thất tình ai đó nên mới bỏ làng ra đi tha phương cầu thực.Bà chủ lò bánh thấy chú hiền lành và siêng năng làm việc nên muốn làm mai để chú có một mái ấm gia đình với một cô gái trạc tuổi chú không còn cha mẹ.; bà hỏi ý chú,Chú lấy lý do thời buổi chiến tranh lấy vợ làm chi cho khổ. Từ hôm mai mối ấy, chú trở nên tư lự và ít nói hơn trước. Buổi chiều chú không còn ra quán nước, chỉ ngồi trước túp lều hút thuốc, yên lặng nhìn mây trời lãng đãng và miệng lẩm bẩm như đang nói chuyện với ai đó.Một buổi trưa mùa hạ, bọn con nít trong xóm gọi nhau chạy về phía nhà của chú Chín để xem chú lên cơn điên. Tôi cũng chạy theo bọn chúng, và đứng xa để nhìn về túp lều của Chú Chín. Chú đứng trên nóc lều, tay cầm chiếc búa bửa củi chỉ lên trời như để thách thức với ông trời, chú la hét:“Ông trời sao ông bất công với tui, ông hành hạ, thiêu đốt ruột gan tui, sao ông không sai thiên lôi cho tui một búa cho rồi đời.” Chú múa búa đòi đánh lộn với ông trời, hình như chú muốn chọc tức ông trời để được chết cho lẹ. Gào thét một hồi đến mệt lả người, chú té lộn nhào xuống đất; nhờ mái chòi thấp nên chú chỉ bị trầy sướt chút đỉnh.Sau ngày lên cơn điên, chú không đi làm nữa, ngồi lì trước cửa chòi, lúc khóc lúc cười,trông chú rất thảm. Bà chủ nhà thương tình đem thức ăn cho chú. Một buổi trưa, có người thấy chú bận bộ bà ba trắng, đi về phía bờ sông. Ngồi trên bờ một khúc sông sâu, chú thả từng tờ giấy bạc tín phiếu (một loại giấy bạc do chính quyền in ra chỉ dùng trong vùng do Việt Minh kiểm soát) xuống dòng nước. Sau khi hết tiền, chú thẫn thờ trở về chòi. Chú ngồi yên lặng nhìn trời, rồi ngủ trước cửa chòi. Những ngày kế tiếp, chú gom những đồng tiền còn lại chú cất dấu trong chòi, đi ra chợ mua bánh kẹo để phân phát cho bọn trẻ trong xóm. Khi không còn đồng tiền dính túi và bị đói khát vài ngày, chú hết điên, và bắt đầu đi làm trở lại.Năm một hoặc hai năm một lần, chú Chín lại nổi cơn điên. Sau khi tiêu hết tiền dành dụn, chú tỉnh người trở lại và tiếp tục đi làm để dành tiền cho cơn điên tới. Các cụ già cho là chú Chín bị trời hành. Bà con trong xóm rất thương chú vì tính chú hiền hòa và nhã nhặn; ngay cả trong cơn điên, chú chẳng bao giờ đụng chạm tới ai.Vài năm sau, có người trong xóm biết chút ít về thân thế của chú qua một người ở cùng làng của chú kể lại. Chú xuất thân từ một gia đình trung lưu tại một làng gần ranh giới tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, đậu bằng tiểu học, chú được móc nối vào phong trào Việt Minh chống Pháp trước năm 1945. Khi Việt Minh cướp chính quyền, dân trong xóm thấy chú đi công tác bất kể giờ giấc, người ta cho rằng chắc chú được giao công tác bí mật. Ở thời điểm đó, công tác bí mật không ngoài việc thủ tiêu các nhà cách mạng không ở trong hệ thống Cộng Sản của Việt Minh. Nhà cách mạng Tạ thu Thâu đã bị giết trên đường chạy vào nam.Chú Chín có thương một người con gái tên Hương, con của một gia đình khá giả trong làng, cô gái cũng có cảm tình với chú. Cô Hương có người chú đậu tú tài tây, theo Quốc Dân Đảng của nhà cách mạng Nguyễn thái Học. Người chú nầy bị bắt đi vào lúc nửa đêm, và bị đưa đi biệt tích luôn.Từ ngày ấy, gia đình cô Hương trở nên lạnh nhạt với chú. Người cha đã âm thầm tổ chức một cuộc chạy trốn ra khỏi vùng của Việt Minh kiểm soát bằng đường biển để vào Nha Trang, và sau đó cả gia đình vào nam lập nghiệp. Từ ngày gia đình cô Hương đi khỏi làng, chú Chín như người mất hồn, và chểnh mảng công tác. Cuối cùng, chú bị khai trừ ra khỏi tổ chức.Mẹ chết, cảnh nhà sa sút, chú lần hồi bán hết tài sản. Vào một buổi sáng đầu mùa hạ, dân làng thấy chú rời khỏi làng và không bao giờ quay trở về quê cũ nữa. Kẻ thì cho rằng chú bị vong hồn chết oan ám ảnh, người thì bảo chú thất tinh người con gái tên Hương. Sự thật, chẳng ai biết điều gì xẩy ra cho chú, và chú cũng chẳng bao giờ tâm sự với ai về cuộc sống của chú.Chú Chín sống lây lất trong cái xóm làm bánh tráng suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lúc thì tỉnh táo làm việc, khi thì sống trong một thế giới ám ảnh bởi những nỗi sợ hải như có ai rình để làm hại chú. Có những mùa hè, khi lên cơn điên, chú chui xuống gầm giường như để trốn ai đó đến bắt chú. Có khi chú quỳ trước cửa lều, mặt ngửa lên trời, chấp tay như cầu nguyện một điều gì, không còn la hét như khi lên cơn điên lần đầu.Sau hiệp định đình chiến chia đôi đất nước vào năm 1954, mỗi lần lên cơn điên, chú ngồi ủ rũ trước cửa lều với đôi mắt đờ đẫn nhìn lên trời. Vài ngày sau,chú măc bộ quần áo mới và rời khỏi xóm, và chỉ trở về xóm khi trong túi không còn tiền. Có người trong xóm, làm việc bảo trì cho một khách sạn tại tỉnh lỵ, gặp chú thuê phòng trong khách sạn để ở. Vài cô gái giang hồ sống trong khách sạn, biết chú có tiền, các ả tìm cách lột hết tiền bạc của chú. Cũng như bao lần trước, hết tiền thì chú cũng hết cơn điên. Chú siêng năng làm việc trở lại, trông chú tươi hơn trước, các bà già trong xóm cho là nhờ hơi hám của mấy ả giang hồ làm cho chú đở khùng hơn.Cuộc sống của chú Chín cứ như thế mà trôi qua trong khi cuộc chiến biến động từng ngày. Trước năm 75, đôi lần về quê, tôi có ghé thăm chú. Những năm tháng làm việc nặng nhọc trong lò bánh tráng làm chú già đi nhiều. Hình ảnh của chú Chín, hình ảnh của con ngựa già mỏi vó sống ngoài lề xã hôi, ăn sâu trong tâm trí tôi như một nhân vật khó hiểu trong cuộc sống đầy bon chen và đầy biến động.Gặp lại chú Chín trong một chợ Việt Nam trên đất Mỹ quả là chuyện tôi không thể ngờ tới. Hình ảnh một người sống khắc khổ và kỳ lạ bừng dậy trong tâm trí tôi. Chú Chín là loại người không bao giờ bước chân ra khỏi tỉnh, vậy mà nay lại lưu lạc đến phương trời xa xôi nầy khiến tôi thêm tò mò về chú. Vả lại, nơi đất khách quê người gặp được người quen ở quê nhà thì thật là quí hóa. Từ hôm ấy, tôi thường đến thăm chú vào mỗi cuối tuần.Chú Chín thuê gian nhà nhỏ ở vườn sau của một căn nhà do chủ xây thêm để cho thuê, có lối đi riêng nên cũng khá tiện nghi. Trong phòng, có giường ngủ, một cái bàn với bốn ghế nhỏ, một cái sofa và một TV cũ kê ở góc phòng.Lần đầu gặp nhau, hai chú cháu ngồi nhâm nhi bia nhẹ với khô mực. Tôi hỏi chú về những gia đình quen trong xóm để biết kẻ còn người mất. Tôi kể lại chuyến vượt biên đầy may mắn của tôi, đi một lần mà thành công. Tôi chờ để dược nghe chú kể chuyến ra đi của chú, nhưng chú chỉ mỉm cười và nói: “Chú mầy hên quá, đi một lần mà được bình yên đến bờ." Chờ một lát, chẳng thấy chú nói gì, tôi biết ngay rất khó để được nghe chuyện riêng tư của chú.Dần dần, hai chú cháu thân nhau hơn. Một lần, hai chú cháu cùng nhậu, nhìn lên tường nhà, thấy một tờ giấy được dán ngay ngắn với bốn chữ lớn: ÔNG TRỜI CÓ MẮT, tôi mời chú cạn ly bia rồi hỏi chú về ý nghĩa của bốn chữ trên, chú nói với giọng trầm buồn: “một việc làm độc ác, có thể không ai biết, nhưng người gây ra tội ác cảm thấy những quả báo nhãn tiền đến với hắn như thể có kẻ khuất mặt đang theo dõi và trừng phạt hắn; nhất là hắn phải sống trong những nỗi ám ảnh tội lỗi suốt đời," rồi chú hạ giọng, “Đúng là lưới trời tuy thưa mà khó thoát.”Tôi có cảm nghĩ chú Chín đang nói về những trải nghiệm từ bản thân của chú. Hai chú cháu uống thêm vài chai bia, thấy chú cởi mở hơn, tôi không còn e dè nữa và hỏi thẳng chú về chuyện vượt biên.- Chú đi từ đâu?- Chú đi từ Bà Rịa.Chú Chín trả lời vui vẻ và không còn né tránh nữa. Từ làng quê chú ở đến Bà Rịa khoảng chừng một ngàn cây số. Một người vô sản như chú mà phải qua cả ngàn cây số để tìm đường vượt biển thì kể cũng lạ. Tôi hỏi chú, giọng pha một chút bông đùa:- Chắc chú để dành được nhiều vàng, nên khi tụi VC đến chú phải lo ôm của mà chạy.Chú đưa mắt nhìn tôi, giọng nói trở nên buồn bã:- Ngày Việt Cộng chiếm thị xã, bọn nằm vùng và bọn cách mạng xu thời đi tìm bắt những người làm cho chế độ cũ mà chúng bảo có nợ máu với nhân dân. Chúng lập tòa án nhân dân xét xử tội phạm, kẻ thì bị giết người thì bị tịch thu gia sản. Buổi tối, chúng họp dân lại để ca tụng cách mạng và nhảy múa ăn mừng đại thắng mùa xuân. Em biết không? Đó chính là hình ảnh của chú vào những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền do Việt Minh chủ trương.Chú nhìn ra cửa, đôi mắt hướng về một phương trời xa xôi để hồi tưởng một quá khứ đã chìm trong ký ức. Rồi chú tiếp tục nói như để vơi đi những nỗi niềm thầm kím:- Bao nhiêu người bị bắt trong đêm khuya, lưỡi mã tấu chặt xuống, chiếc đầu còn lủng lẳng trên cổ, những thân xác được chôn chung một hố cạnh bờ sông. Lệnh trên đưa xuống chỉ là tờ giấy viết tay. Ngày hôm sau, có giấy ân xá của chủ tịch nhà nước. Kẻ theo giặc, kẻ tình nghi phản động, kẻ yêu nước theo đường hướng khác với chúng đều bị giết như nhau. Giết lầm hơn bỏ sót. Chú ở trong tổ hành động mật, và chỉ là một thằng thi hành lệnh cấp trên. Những đôi mắt chưa kịp nhắm trong ánh lửa bập bồng của ngọn đuốc hình như nhìn chú đầy oán hận, và những hình ảnh đó đã theo chú suốt đời.Tôi ngồi yên lặng, lắng nghe rồi cụng ly với chú để thông cảm nỗi niềm của người bạn già. Chúng tôi cùng cạn ly, chú kể tiếp:- Rồi từ đấy, những người thân yêu đều xa lánh chú. Chú không còn hăng say theo bọn chúng, và bị khai trừ ra khỏi tổ chức. Mẹ chết, chú chẳng còn gì để lưu luyến nơi chôn nhau cắt rún, chú bỏ làng ra đi và mang theo những đôi mắt đầy oán hận.Chú ôm đầu và nói như rên rỉ:- Cũng tại chú có mắt mà như mù, không nhìn ra sự độc ác của chúng. Đến khi nhận thức ra được thì tay đã nhúng chàm. Năm 1975, ngày chú thấy cảnh múa hát rồi giết người, đầu óc chú nóng lên quay cuồng với những hình ảnh năm xưa, cứ thế mà chú chạy, và rồi lưu lạc đến Bà Rịa.Tôi hỏi chú:- Chuyện cũ đã qua lâu rồi, cái gì đã làm chú phải chạy hốt hoảng như thế, chú là thành phần vô sản mà.Chú lắc đầu, trầm ngâm một lát rồi mới nói:- Chuyện chúng làm chính là những cảnh mà chú đã trải qua. Chú cũng chẳng hiểu tại sao chú lại hoảng hốt đến như vậy, hình như chú chạy để thoát khỏi những đôi mắt đầy kinh hoàng và uất hận chưa kịp nhắm lại sau khi bị giết, tất cả những hình ảnh đó bỗng bừng dậy trong đầu chú, và cứ thế mà chú chạy, và sống bằng của bố thí của những người xa lạ. Chú trôi dạt đến tận Bà Ria, làm phu khuân vát trong chợ để sống.Nhờ dẫn đường cho một nhóm người đi đến điếm hẹn, họ khuyên chú muốn đổi đời thì theo họ đi vượt biên.Chú đưa mắt nhìn lên tường, miệng lẩm bẩm: “Ông trời có mắt. Ông trời có mắt, lưới trời tuy thưa mà khó thoát”. Chú gục đầu xuống bàn, hai tay ôm đầu và chìm dần vào giấc ngủ trong trạng thái chếnh choáng hơi men.Sau lần tâm sự khi nhậu say này, tôi giữ ý, những lần không còn dịp hỏiMột lần, vào chiều thứ sáu, chú gọi tôi để báo tin chú đã tìm được việc mới, hỏi tôi có rảnh thì lên chú lai rai cho vui. Tất nhiên là tôi nhận lời để có cơ hội nói chuyện với chú.Lần nầy, chú bắt được cái job technician của một hãng điện tử đang cần người. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, chú lấy ra từ ngăn kéo chứng chỉ cán sự điên tử do một trường điện tử trong vùng Vịnh cấp. Chú kể những ngày mới bước chân đến đất Mỹ rồi cười bảo tôi:- Ở cái xứ nầy, chỉ cần biết bốn phép tính là có trường huấn nghệ họ dạy cho mình một nghề. Nhờ chú biết chút ít tiếng Pháp, vì vậy khi học qua tiếng anh của người Mỹ không vất vả lắm. Chỉ cần chịu khó vào thư viện để tìm hiểu những kiến thức khoa học thông thường, nhờ vậy mà chú học được chứng chỉ điện tử để đi làm technician. Có nhiều sách văn chương, lịch sử, triết học …tha hồ mà học hỏi.Thấy chú vui vẻ, tôi cũng vui lây. Chú Chín trên đất Mỹ nầy khác hẳn với chú Chín ở làng tôi ngày xưa, một người đàn ông khắc khổ và trầm lặng. Tôi hỏi chú về công việc trong hãng, chú thích thú trả lời:- Ở đây họ hay thật, họ huấn luyện theo phương pháp dể hiểu. Từng bước từng bức, người học việc thu nhận công việc giao phó một cách dễ dàng. Chỉ cần làm đúng theo sự hướng dẫn là mọi việc đều xong.Chú ca tụng đất nước đã cưu mang người tị nạn, cho họ những cơ hội để thăng tiến đời sống. Vậy là với sự chịu khó học hỏi, chú Chín đã trở thành một con người mới hội nhập được vào đất nước văn minh nầy. Tôi nghe mà thấy mừng cho chú. Từ đó, hai chú cháu trở nên thân với nhau hơn. Mỗi tháng ít nhất một lần, tôi đến chơi để tán ngẫu với chú về đủ thứ chuyện trên đời.Một hôm, có người nhờ tôi tìm một người độc thân có quốc tịch Mỹ để làm đám cưới giả với môt phụ nữ ở nước ngoài. Nếu mọi việc êm xuôi, người bảo lãnh sẽ được trả sòng phẳng. Tôi kể chuyện đó với chú, chú dứt khoát bảo tôi “Chuyện nầy thì không có chú”.Một lần khác, chú đưa tôi coi tờ báo với cái tin y sĩ gian lận medicare bị bắt rồi nói “Chớ giỡn mặt với pháp luật ở cái xứ nầy”,và chú trở giọng ngâm nga:- Đạo trời tâm điểm, đạo người điểm tâm.Thấy tôi có vẻ ngơ ngác, chú nói như giải thích: “Đạo trời là để điều hòa vạn vật, chính là trung tâm vũ trụ; còn đạo người là lo kiếm ăn, cái gì cũng muốn bỏ vào miệng để điểm tâm.” Chú bảo tôi cạn ly với chú, rồi nói:” Đối với tao, luật pháp của nước Mỹ là thế thiên hành đạo, ai tưởng qua mặt được pháp luật là vướng lưới liền.”Bây giờ tôi mới hiểu bốn chữ chú treo trên tường “ÔNG TRỜI CÓ MẮT” gắn liền với tinh thần thượng tôn pháp luật của chú ở cái xứ pháp trị nầy.Có những chiều mưa, hai chú cháu ngồi yên lặng để cảm nỗi cô đơn ở nơi đất khách quê người. Tôi thường nói với chú:- Những ngày mưa không đi làm,cháu nhớ nhà quá chú ơi.- Ai mà không nhớ quê hương xứ sở.Tuy đời sống ở đây đầy đủ vật chất,nhưng mình vẫn thấy thiếu thốn một cái gì. Chú gật đầu trả lời.- Hương vị quê hương phải không chú? Tôi hỏi lại.Chú Chín trả lời:- Hình như vậy, một cái gì thấm trong xương trong máu, trong ký ức, và nó làm thành những nỗi nhớ nhung mỗi khi chiều xuống hay những ngày mưa buồn.Rồi chú cất giọng ngâm khẻ:Quê hương khuất bóng hoàng hôn,Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.Ngoài trời mưa nặng hột. Hai chú cháu vừa uống bia vừa ôn lại những hình ảnh và kỷ niệm của nơi chôn nhau cắt rún, một vùng quê nghèo được mô tả vùng đất cày lên sỏi đá, mùa hè nắng cháy như thiêu đốt, mùa đông thì bão lụt triền miền. Thỉnh thoảng mới có năm được mùa để nồi cơm không có khoai độn…Những năm đầu ở nước Mỹ, cuộc sống của chú Chín thật bình yên và hạnh phúc. Ngày nghỉ, nếu không vào thư viện đọc sách, chú thường giúp chủ nhà chăm sóc vườn cây. Chú ít khi đi chơi xa, chỉ lái xe đi làm hay quanh quẩn trong thanh phố. Chú thường cho tiền những người ăn xin đứng ở các ngã tư. Chú nói với tôi chính chú cũng đã từng vô gia cư, và sống nhờ của bố thí. Tôi không còn thường xuyên lên thăm chú vì công việc bận rộn. Những năm về sau, chú trở nên tư lự và ít nói mỗi lần chú cháu gặp nhau.Vào thời điểm ngành điện tử chậm lại, hãng chú làm không đủ việc nên sa thải nhân viên, chú Chín bị cho nghỉ việc. Chú ở nhà lãnh tiền thất nghiệp một thời gian. Không tìm ra việc mới, chú trở về cái chợ chú đã từng làm công và được giao cho công việc cũ.Tôi bận việc sở ở tiểu bang khác, sau vài tháng mới xong. Khi trở về, tôi phone cho chú vào chiều thứ bảy nhưng không có chú ở nhà. Gọi thăm bà chủ nhà, bà cho biết chú làm ngoài chợ đến tám giờ tối mới về, và chỉ nghỉ ngày chủ nhật. Bà cũng cho tôi biết chú vừa mới về sau bốn tuần lễ vắng nhà. Tôi nhớ lại những lần bỏ nhà đi hoang của chú cũng vào mùa hè. Lần nầy, tôi hy vọng chuyến đi chơi của chú không giống như những lần trước.Chiều chủ nhật, tôi đến thăm chú với vài món ăn và một thùng bia.Tôi hỏi chú:- Chú có việc làm, công việc có dễ chịu không?- Chú trở lại việc cũ phụ giúp khách hàng ngoài chợ. Việc làm nầy đối với chú không có gì gọi là nặng nhọc vì chú đã từng làm việc nặng nhiều năm ở quê nhà. Chú trả lời.Hình ảnh của một chú Chín làm viêc vất vả trong xóm làm bánh tráng hiện lên trong trí tôi. Với sự cố gắng học hỏi, nhưng chú cũng chẳng bao giờ tránh né công việc lao động bằng chân tay để sinh sống.Sau khi uống vài lon bia, tôi thấy chú nói chuyện vui vẻ hơn, tôi hỏi chú:- Vắng nhà mấy tuần lễ, chú đi chơi có vui không?Chú nhìn ra ngoài cửa như để nhớ lại chuyện gì đã xảy ra, rồi chú chậm rải kể:- Buổi sáng hôm ấy, chú cảm thấy trong lòng bồn chồn và đầu chú nóng lên; chú ra khỏi nhà, và cứ đi để cảm thấy trong lòng dễ chịu hơn. Chú có cảm giác có những đôi mắt đang theo dỏi và sai khiến chú. Đầu óc chú trở nên mơ hồ và thụ động. Cuối cùng, chú gặp một người đàn bà…. cho đến khi đầu óc của chú tỉnh lại.Thấy câu chuyện của chú có vẻ ly kỳ, tôi tò mò hỏi chú:- Suốt mấy tuần lễ qua chú sống như thế nào? Chú có biết bà ta là ai không?Chú khẽ gật đầu:- Khi đầu óc chú tỉnh táo trở lại, chú nhận ra bà chính là người thường đứng ngã tư có đèn chỉ dẫn lưu thông để xin tiền, chú thường cho tiền bà ta mỗi khi qua đó. Bà ta niềm nở và thân mật khi gặp chú đi lang thang một mình. Chú chỉ nhớ lờ mờ chú gặp một bà đầm và bà ta có một sức quyến rũ lạ lùng, vì vậy bà ta yêu cầu điều gì chú cũng lẳng lặng nghe theo. Cho đến một buổi sáng, chú chợt thấy mình tỉnh táo trở lại trong căn phòng nồng nặc mùi rượu và cần sa, vậy là chú bỏ đi. Ai dè khi chú đi kiểm lại tiền dể dành trong bank, thì được biết tiền đã rút ra hết và tiêu sạch.Chú đưa ly lên ra đấu tôi cùng cạn ly với chú. Hỏi chú có đi tìm lại người đàn bà không, chú lắc đầu nói là khi tỉnh táo nhớ lại, chú thấy bà ta đối đãi với chú cũng không tệ. Hình như chú đã được sống trong một thế giới khác.Chợt nhớ ra điều gì, chú quay qua hỏi tôi:- Cháu có bao giờ đi vào thế giới của những người vô gia cư chưa?Tôi lắc đầu để trả lời, chú tiếp:- Chú đã từng san sẻ với họ thức ăn và thuốc hút dưới gầm cầu mưa lạnh. Nhiều người trong số họ từng có công ăn việc làm, rồi thất nghiệp và tìm việc không ra; họ đâm ra chán nản dể rơi vào con đường sa dọa. Cuối cùng, họ buông trôi và sống bên lề xã hội. Chú đã từng thất thế nên dễ thông cảm với người cùng cảnh ngộ.Hai chú cháu đều nhờ hơi men nên nói chuyện cởi mở. Đối với chú, công việc chú làm ngoài chợ hiên nay dễ chịu hơn những ngày tháng lao động ở quê nhà.Trước khi chia tay, tôi chúc chú thanh tâm thường an lạc,chú cười buồn và cảm ơn tôi.
*
Rồi một mùa hè đến, cái nóng bao trùm cả thành phố. Buổi sáng của một ngày nóng gắt, chú Chín không đi làm. Ngồi trước cửa nhà, chú nhìn đàn quạ bay lượn và kêu inh ỏi trên cây red wood gần nhà với đôi mắt lờ đờ như người mất ngủ.Bầu trời hôm ấy với những đám mây dật dờ hình quái thú, chú nhìn đám mây với vẻ mặt đầy kinh hoàng như trước mắt chú có bầy thú dữ đang nhe nanh vuốt muốn chụp người đối diện. Chú thay quần áo mới rồi đi ra ngoài chợ, tìm một góc vắng vẻ ngồi hút thuốc nhìn người qua lại.Buổi trưa, nhiệt độ lên cao nhất trong ngày, người ta thấy một người đàn ông chạy băng qua đường hướng về một người đàn bà đang đi bên kia đường, bà ta mặt áo bà ba màu trắng và đầu đội chiếc mũ rộng vành; người đàn ông vừa chạy vừa kêu lớn "Hương Hương..." Một chiếc xe SUV trờ tới tông mạnh vào ông ta và hất ông văng trên lề đường. Cảnh sát đến lập biên bản, và xe cứu thương chở người đàn ông đi cấp cứu.Hôm sau, báo địa phương tường thuật về tai nạn chết người cùng với hình ảnh hiện trường. Cảnh sát đến gặp bà chủ nhà để điều tra thêm và cho biết chú đã chết vì vết thương quá nặng. Cảnh sát giao lại cho bà chủ nhà giấy tờ và cái ví da lấy từ trong người của nạn nhân, và họ nhờ bà trao lại cho người thân của chú.Đó là chuyện tôi nghe bà chủ nhà kể lại khi báo tin cho tôi biết về cái chết của chú Chín. Tôi nghe mà bàng hoàng. Lần cuối gặp chú, chú nói với tôi rằng chú làm việc vài năm nữa rồi về hưu để nghỉ ngơi sau những năm tháng dài làm việc cực nhọc. Không ngờ chú ra đi quá sớm, và không thể thực hiện được những ước mơ của mình.Tôi gặp bà chủ nhà để lo việc hậu sự cho chú. Bà cho biết chú đã mua một bảo hiểm chuyên lo về việc hậu sự. Chúng tôi lo thu xếp ngày giờ đưa quan tài ra nhà quàn để những người quen có thể thăm chú lần cuối.Những giấy tờ và hình ảnh chú để lại, có một tấm hình của một cô gái mặc áo bà ba trắng với chiếc nón lá che nghiêng trên đầu;tấm hình quá cũ, tôi chỉ thấy lờ mờ một khuôn măt trái xoan với mái tóc dài buông xõa ngang vai.Nhờ tôi đăng cáo phó với tư cách của một người bạn thân của chú, những người bạn làm cùng hảng với chú khi xưa đưa vòng hoa đến phân ưu. Những người bạn không nhà mà chú đã từng quen biết, vài người Việt, còn lại là người ngoại quốc. Họ đến để vĩnh biệt một người dã từng chia xẻ với họ từ ổ bánh mì cho đến những điếu thuốc.Một người đàn bà da trắng đứng trước quan tài của chú thật lâu, bà lâm râm đọc kinh cầu nguyên cho người quá cố. Đến giờ đưa quan tài đi thiêu, bà mới ra về.Tôi nhờ một nhà sư tụng kinh và làm mọi nghi lễ phật giáo đối với người chết, vì vậy đám tang của chú Chín cũng được phần nào ấm áp. Trước giờ đậy nắp quan tài, tôi để trên người chú bức ảnh của người con gái mặc áo bà ba.Khi nói lời chia tay lần cuối với chú Chín, nhớ lại làng quê thời trước, tôi thấy nước mắt bổng nhiên trào ra. Ngoài trời bắt đầu đổ mưa như muốn tiển đưa một kiếp người cơ cực và nặng trĩu những nỗi niếm về với các bụi.
Blog Archive
-
▼
2026
(2009)
-
▼
August
(172)
- NGƯỜI DƯNG NGOÀI PHỐ"Mỗi nhân duyên gặp gỡ ai đó đ...
- Vài năm trở về trước, Trung Quốc từng xảy ra một v...
- GẠC MA: 38 NĂM NHÌN LẠI16/8/2026---Ngày 14/3/1988,...
- GIỚI THIỆU TÁC GIẢNguyễn Phúc Hậu rời Việt Nam năm...
- VÌ CHỈ “MƯỢN” ĐỠ …… cái poncho lính của anh hai tr...
- 10 quy tắc nhìn người trên bàn tiệc để chọn đối tá...
- Có thể phú quý sinh lễ nghĩa; rách quá, đôi khi cũ...
- Chữ nghĩa thời nayLứa tuổi của tui được liệt vào t...
- "Sự Nổi Giận" hèn hạ của những kẻ thất bại.Lắm lúc...
- “Chiếc Thánh Giá Rơi Từ Trời”[Một lời hứa giữa chi...
- Gà trống nuôi conĐể tui kể sơ về cái nghề nghiệp c...
- Tại sao Nhật không thể xâm lăng Úc năm 1942!Một bà...
- Tiếng Nam Kỳ ! ...
- SÔNG HẰNG LUÔN CHẢY KHÔNG NGỪNGMột hôm, Đức Phật đ...
- CHỒNG HÁN VỢ TAY TẠNG ...
- Một chuyến bay của Vietnam Airlines thoát nguy tại...
- Tin VắnFB Le Hoang-Tuỳ viên báo chí Bạch Ốc, K...
- THỢ XÂY TẠI BỈ TÌNH CỜ ĐÀO ĐƯỢC KHO VÀNG TRỊ GIÁ H...
- Sóc, "Nhà Lâm Nghiệp" Nhỏ BéThái-Phúc NguyễnTrong ...
- HERCULES VÀ NESSUS – CÁI CHẾT ĐÃ ĐƯỢC GIEO TỪ MỘT ...
- NHỚ VỀ KỸ SƯ CHU VĂN HỢP: "ÔNG TỔ CỦA LÀNG BÁO VIỆ...
- CHẾT RỒI MỚI ĐƯỢC THỪA NHẬNNăm 1996, Michael DeBak...
- ĐÊM QUA, TAO GẶP MỘT THẰNG ĐI BỘ TỪ NGHỆ AN VÀO… Đ...
- TRUMP LẤY LẠI BỨC TƯỜNG BIÊN GIỚIBiden đã bán 350 ...
- DÂNG MẸ!I. HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ - MỘT BẬC CHÂN TUHT....
- 'Niềm tự hào' của Trung Quốc bị dột?Chiếc phản lực...
- Người đàn ông Australia bị cáo buộc dội nước sôi l...
- Về Che GuevaraQuả thực vào những năm 1960 hình ảnh...
- Công dân Hoa Kỳ Robert Gilman trên đường trở về Mỹ...
- Cô này là Sanija Ameti, một chính trị gia Hồi giáo...
- Jason Arday, giáo sư da đen trẻ nhất lịch sử ĐH Ca...
- Nỗi đau Geraldton!Người phụ nữ Việt và tiếng kêu c...
- Ở PHÁP, KHÔNG PHẢI CHIẾC BAGUETTE NÀO CŨNG ĐƯỢC GỌ...
- Ngày ông gặp bà lần đầu, cả hai đều đã ngoài sáu m...
- Hủ tiếu Sài GònHủ tiếu Sài Gòn là hủ tiếu Sài Gòn....
- Thử đi cho biết"Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt...
- BỘ NGÂN KHỐ PHÁT GIÁC GẦN $5 TỶ MỸ KIM GIAO DỊCH N...
- SÀI GÒN BỐN XẸT VÀ MỘT CUỘC HẸNSài Gòn những năm ấ...
- LỖI HẸNMột ngày, tôi nhận được một tin nhắn lạ: " ...
- Nhớ nàng Hoàng Dung Tòa Bạch ỐcChư vị độc giả từng...
- CÔNG CHÍNH và DỐI TRÁXem phim Hong Kong xưa lúc nà...
- Cách người Mỹ yêu nướcBữa nay kể chuyện xứ Mỹ cho ...
- NHỮNG LÁ ĐỎ ĐENCó những gia đình, nhìn từ bên ngoà...
- Về Vụ Đại Biểu Quốc Hội Nguyễn Sỹ Cương Tông C.hết...
- Hơn 1.000 vụ kết hôn giả bị phơi bày, 11 người bị ...
- Đài Truyền Hình số 9 Việt Nam Cộng HòaĐây là một t...
- Hot girl "Athena" đã gặp phải chuyện gì ở Philippi...
- TÔ PHỞ ĐẶC BIỆTVõ Ngọc TríBà mẹ hỏi nhỏ cô chủ quá...
- TANG LỄ THẬT RA LÀ DÀNH CHO AI?Bố tôi mất lúc 7 gi...
- MỲ QUẢNG VÀ MỲ QUOẢNG, MỲ NÀO NGON HƠN(Nhân sắp có...
- Ngư ời Nhặt Lại Những T h a n h  m SàiGòn Đ ã M ấ...
- Chiến tranh lớn ở Texas và California vì luậ...
- Dư Âm Xưa Còn Đâu?Có những đêm ngồi một mình giữa ...
- Lời thú tội muộn màn..Vụ phản đối ca sĩ QT tui địn...
- NGƯỜI TÌM TỰ DONgười Tìm Tự Do" đầu tiên từ Cộng H...
- Những tiết lộ mới về FBI từ phó bộ trưởng tư p...
- Vì sao cuộc sống của tôi dạo này luôn tránh xa đám...
- Tin VắnFB Le Hoang- Văn phòng Thượng nghị sĩ Mit...
- Chiến thắng ý nghĩaCuộc bỏ phiếu để phê chuẩn ông ...
- TRUMP WORLD ORDER...!Trong địa chính trị, có một q...
- NHỜ CÂU NÓI LÚC SAY RƯỢU CỦA ÔNG BỐ LÀM NGHỀ NUÔI ...
- Buông tay! ...
- "Nữ thần từ thiện dỏm" bị phát hiện bịa ra cả một ...
- NHỮNG LỖI DỊCH THUẬT ANH-VIỆT VỀ QUÂN ĐỘI MỸ5/8/20...
- Cafe Seattle Tôi dụi mắt lồm cồm thức dậy khi tiến...
- Chăm sóc tuổi già - xin đừng nửa thương nửa nợ1.Tô...
- JAMES CARVILLE PHẢN CÔNG CÁNH CẤP TIẾN DÂN CHỦ SAU...
- GIANG..VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜIỞ We...
- TIẾNG MÔ TÔ Ở CUỐI HÀNH LANGĐêm ấy, bệnh viện gần ...
- XIN ĐÓ, ĐỪNG LÀM HỔ THẸN NGƯỜI VIỆT THÊM NỮA!Lại t...
- Y tế ở ÚcCó lẽ… nói về y tế ở Úc, không nhiều ngườ...
- CẢNH BÁO RẤT CẦN THIẾTNguyễn Danh Lam một nhà văn ...
- Dự án Trung tâm Hồi giáo được đề xuất tại McKinney...
- TÒA BẠCH ỐC CÔNG BỐ FRAUD LEDGER, NÊU $229.9 TỶ NG...
- Obama, lợi bất cập hại…Theo dõi chính trị Mỹ là mộ...
- Chính phủ Pháp đóng cửa nhà thờ Hồi giáo ở khu vực...
- THE ODYSSEY LESSONS 02"Không phải cái gì cũng ăn. ...
- Kỹ sư người Mỹ gốc Trung Quốc Li Xuochen đã bị Elo...
- Chú chó không chịu sủa nữa… cho đến khi nghe thấy ...
- Viện dưỡng lãoTôi tên là Massimo, năm nay 47 tuổi....
- TÔI LÀ AI?Ns Tuấn KhanhPhú Quý bất năng dâmBần Tiệ...
- "Xin lỗi Nước Mỹ"Phải mất 20 năm bà ấy mới rời bỏ ...
- Ai là vua ở Mỹ? Ông Trump, trật lất. Tối cao...
- Giáo dục ở MỹMấy năm truớc bà thống đốc Kate Brow...
- Chân dung của một người Cộng sản thật sựCô ...
- Tình Hình Tại Úc Đại Lợi | 09.08.26
- Giấc Mơ Mỹ Lời tác giả: Dạo gần đây, những câu c...
- Nhà Có Hoa Anh ĐàoKhi mở cửa bước ra sân sau, cả h...
- NGƯỜI XƯA BÊN BẾN CŨMùa đông xứ người lạnh một các...
- ELON MUSK CÔNG BỐ TERAFAB TẠI TEXAS, SIÊU NHÀ MÁY ...
- Công việc yêu thích- Hôm nay CiCi kể cho các bạn n...
- Trăm năm nghĩa tìnhÔng Võ Hương An thời sinh viên,...
- KHÁM PHÁ CÂY THÁNH GIÁ KHỔNG LỒ GIỮA ĐỒNG BẰNG TEX...
- Món Ăn Tinh Thần Của Dân Việt | 07.08.26
- Giải mật tiến trinh hạ bệ TT Donald TrumpNhững...
- Quân ta hạ quân mìnhSau 1 năm giấu giếm, giờ đây q...
- Chi $60 ngàn đô để ái nữ khỏi ra toà vì tông ch.ết...
- Cánh tả thua cuộc quyết phá buổi nhậm chức của Tổn...
- Cách người Trung Quốc nhìn nhận thế giới qua Lăng ...
- CÂN SỨC*với La Trinh TườngBài viết này rất hay và ...
- Vườn rau của BaNăm 1994 gia đình tôi đặt bước chân...
- Nghề Nói tới nghề chúng ta thường nghĩ tới chuyện...
- Mỹ chính thức bãi bỏ luật "ở lại không giới hạn" c...
- THỜI SỰ 24H | TT TRUMP SIẾT “DU LỊCH SINH CON”, FA...
- Nông nghiệp ở ÚcFrank Nguyen là một nông dân và do...
- Ông không được đào tạo để trở thành kiến trúc sư, ...
- CÓ ĐƯỢC TRI KỶ TRONG ĐỜI MỚI LÀ ĐIỀU ĐÁNG GIÁ NHẤT...
- Phút Hối Hận Muộn MàngÔng gốc Việt chờ bị trục xuấ...
- Thế Giới Này Và Con Người Thật Đáng SợBạn ơi,-Vì t...
- John Walton và cuộc chiến Việt NamJohn Walton con ...
- Bảo vệ Gia đìnhTháng 2 năm 1948, tại Seattle, tiểu...
- Chế độ cộng sản CubaHôm nay 6/8/2026 Ngoại trưởng ...
- Lòng trung thành của loài chimSuốt nhiều tháng, nh...
- Đúng Tương Lai, Sai Thời Điểm: Cú Ngã 45 Tỷ Đô Của...
- TIN NÓNG: Một nhà gây quỹ hàng đầu của Đảng Dân Ch...
- MARSEILLE – THÀNH PHỐ CÓ “NGƯỜI MẸ” ĐỨNG TRÊN CAOĐ...
- Người Thợ Săn Khôn Ngoan Không Đuổi Theo Con Mồi Đ...
- Vào hang cọpÔng dượng đi Cali. Tui nói là vào hang...
- ĐÔI BÔNG TAI(Một góc khuất của kiếp làm dâu thời p...
- Liệu 400 lá phiếu của người không phải là công dân...
- KHI SA CƠ MỚI BIẾT AI LÀ BẠNKhi miền Nam sụp đổ ng...
- Hồ sơ liên bang phơi bày nỗ lực của Bắc Kinh nhằm ...
- Một vụ mưu sát TT Trump tại Nam California bị bại ...
- Chính trị Mỹ đang chứng kiến một làn sóng đỏ rực t...
- Mỹ treo thưởng $102 triệu đô dành cho thông tin gi...
- Ông Kyle Shideler mới làm chứng rằng ứng cử viên H...
- Cảnh báo về router Trung QuốcNếu nhà hoặc doanh ng...
- Các tướng lĩnh cấp cao của Mỹ đã tham gia vào tổ c...