Monday, July 6, 2026

Thế hệ không sinh con kỳ 1: Xếp hạng từ lúc lọt lòng

Gần khuya ở Daechi-dong, khu nhà giàu phía nam Seoul, cả một dãy phố vẫn sáng đèn. Không phải quán ăn. Là các lò luyện thi, tiếng Hàn gọi là hagwon. Đúng mười giờ đêm, giờ luật Seoul bắt lò học đóng cửa, cả khu phố đổ người ra một lượt. Trẻ con đeo balo bước xuống, mắt díp lại, có đứa vẫn còn nguyên đồng phục tiểu học. Cảnh này lặp lại mỗi tối, quanh năm không nghỉ.

Nhìn thoáng qua là một dân tộc yêu việc học tới mức khắc nghiệt. Nhưng chính người Hàn không gọi đây là học. Họ gọi kỳ thi đại học của mình là ipsi jeonjaeng, nghĩa là "chiến tranh thi cử". Ngày thi suneung, cả nước im lặng, máy bay tạm hoãn cất hạ cánh trong giờ thi nghe tiếng Anh. Cả một quốc gia nín thở như thời chiến. Vì đúng là thời chiến thật.
.
Trong cuộc chiến này, lính được tuyển từ rất sớm. Nhiều đứa trẻ Hàn ngồi trong lò luyện từ năm bốn, năm tuổi. Tới cấp ba, một tân binh điển hình học mười hai tới mười sáu tiếng mỗi ngày và ngủ khoảng năm tiếng rưỡi. Người ta truyền tai nhau “Tứ đương ngũ lạc” (4당5락) , ngủ bốn tiếng thì còn cửa vào trường top, ngủ năm tiếng hơn thì trượt. Đây không phải lời than của một đứa lười, mà là điều lệ hành quân cả một thế hệ mặc định phải theo.

Còn cha mẹ thì không ra trận. Cha mẹ làm hậu cần, việc của họ là tiếp đạn. Riêng tiền học thêm cho một học sinh cấp ba giờ ngốn gần 800 nghìn won mỗi tháng, thành khoản chi lớn thứ nhì trong một nhà có hai con, chỉ sau tiền ăn, và lớn hơn cả tiền nhà. Để giữ thứ hạng cho con, người ta chịu bỏ ra nhiều hơn cả số tiền giữ mái nhà che đầu chính đứa con đó. Cả nước năm 2024 đổ hơn 29 nghìn tỷ won vào dạy thêm, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên đời.

Mà khi cả xóm cùng tiếp đạn, nhà nào ngừng tay trước thì con nhà đó gục trước. Không ai dám hạ vũ khí đầu tiên. Thế là tất cả cùng nạp thêm.
.
Nhìn dãy đèn hagwon cháy tới khuya, dễ tưởng đây là những đứa trẻ bị bỏ rơi. Ngược lại hẳn. Đây là những đứa trẻ được thương nhiều nhất, được cha mẹ xếp cả đời mình ra sau điểm số của con. Có điều cái máy này nhận vào tình thương của cha mẹ, rồi nhả ra một tuổi thơ bị lấy mất. Ở Hàn, thương con và làm khổ con, tới một lúc, đã thành cùng một việc.

Và mọi cuộc chiến đều có thương vong.
Suốt mười bốn năm liền, thứ giết nhiều thanh thiếu niên Hàn hơn cả tai nạn và bệnh tật là tự tử. Năm 2024, cứ mười ca tử vong ở tuổi 10-19 thì hơn sáu ca là tự kết liễu. Khi được hỏi vì sao nghĩ tới cái chết, thứ các em nêu ra nhiều nhất không phải tình yêu hay gia đình, mà là chuyện học.

Cuộc chiến này kỳ lạ ở chỗ không có quân địch. Đứa bạn cùng lò luyện mới là người phải vượt qua để sống sót. Người ta bắt một đứa bé mười lăm tuổi ngủ năm tiếng, học tới nửa đêm, để thắng chính bạn mình.
.
Vậy thắng trận thì được gì. Đây mới là thứ khiến không ai dám bỏ cuộc.
Ba trường trên đỉnh, gọi tắt là SKY, gồm Seoul, Korea và Yonsei, mỗi năm chỉ hé cửa cho chừng một phần trăm thí sinh đứng đầu. Nhưng người tốt nghiệp SKY, dù chỉ chiếm năm tới bảy phần trăm sinh viên toàn quốc, lại nắm tới ba mươi phần trăm ghế tổng giám đốc trong một nghìn công ty lớn nhất Hàn. Lọt qua cánh cửa đó không phải là kiếm một việc tốt hơn. Là bước thẳng vào một Hàn Quốc khác, cái Hàn Quốc mà những người còn lại chỉ được nhìn qua màn hình.
.
Nhưng chín mươi chín phần còn lại thì sao.
Phần lớn người thua trận không chết. Họ sống, và sống rất lâu, trong chính cái thua đó. Người Hàn có một từ riêng cho lớp người này, sampo, nghĩa là thế hệ buông ba thứ, hẹn hò, kết hôn và sinh con. Rồi ba thứ vẫn chưa đủ, nó phình thành N-po, buông thêm nhà cửa, việc làm ổn định, bạn bè, sức khỏe, rồi tới ước mơ. Người ta đếm được tới thứ thứ mười phải buông, và thứ thứ mười là chính mạng sống của mình.

Có một thanh niên tốt nghiệp kỹ thuật ở Seoul, mơ vào một hãng bán dẫn lớn, ra trường chỉ nhận được lời mời từ mấy công ty nhỏ. Anh thi lại đại học, tin một tấm bằng oách hơn sẽ cứu mình, thi mãi vẫn trượt, giờ ở nhà, thôi luôn cả việc đi tìm việc. Câu chuyện đó không cá biệt, nó có hẳn tên trong thống kê.

Cay đắng hơn, người Hàn bắt đầu nghi ngờ chính lời hứa nền tảng của cuộc chiến. Họ có câu, cái thời rồng bay lên từ con lạch nhỏ đã hết rồi. Người ta xếp hạng nhau bằng thìa ngay từ lúc lọt lòng, thìa vàng cho con nhà giàu, thìa đất cho con nhà nghèo. Cả một dân tộc đổ máu cho cuộc đua mà đích đến, với đa số, đã khóa từ vạch xuất phát.
.
Tới đây, những phụ huynh bình thường ở Hàn bắt đầu ngồi xuống tính.
Cuộc chiến này gần như không thắng nổi. Kéo con ra khỏi hàng quân lúc mọi đứa khác đang chạy thì để nó bị giẫm lên. Đổ thêm bao nhiêu đạn cũng không đổi được kết cục cho số đông. Vậy chỉ còn đúng một nước đi giữ được đứa con tuyệt đối không thua, không gục, cũng không phải sống nốt phần đời trong nhóm buông bỏ. Là không bao giờ có nó. Không sinh thêm một người lính nào để đẩy vào cối xay này.
.
Đầu năm 2026, báo chí Hàn loan tin mừng, tỷ lệ sinh tăng năm thứ hai liên tiếp, số trẻ ra đời cao nhất mười lăm năm. Nghe như đã qua cơn nguy. Nhưng con số chạm mức 0,80 đứa trên một phụ nữ, vẫn thấp nhất thế giới, trong khi mức để một dân số không teo lại là 2,1. 0,80 nghĩa là cứ 100 người Hàn hôm nay, thế hệ con họ chỉ còn khoảng 40. Riêng Seoul là 0,63, cứ 100 người còn chừng 31. Không cần kẻ thù nổ một phát súng, chỉ cần vài chục năm không tuyển tân binh, hàng ngũ tự rỗng đi một nửa, rồi một nửa của nửa còn lại. Một quốc gia tuyệt chủng trông đúng như thế, không đổ máu, chỉ là những chiếc ghế lần lượt không còn ai ngồi.

Nhưng nhìn kỹ chỗ dân số Hàn thật sự vỡ, sẽ thấy nó không vỡ ở phòng sinh.

Nhớ lại thứ tự thế hệ sampo buông tay. Trước khi buông đứa con, họ buông hôn nhân. Trước khi buông hôn nhân, họ buông cả chuyện hẹn hò. Một dân tộc thôi được sinh ra không chỉ vì người ta không muốn có con, mà còn vì người trẻ ngày càng không cưới nữa. Cú nhích sinh nhẹ vừa rồi cũng đi sau một cú bật của số đám cưới, mà ở Hàn cưới rồi một hai năm mới tới lượt sinh, nên muốn đoán vài năm nữa còn bao nhiêu đứa trẻ ra đời, cứ nhìn số lễ cưới hôm nay. Nút thắt của cả cuộc chiến hóa ra nằm ở đó. Mà đi tìm lý do vì sao hai người trẻ không còn muốn cưới nhau nữa, ta bước thẳng vào một mặt trận khác, lần này giữa đàn ông và đàn bà. Đó là chuyện của kỳ 2.

Có hàng trăm nghìn người Việt đang sống và nuôi con ở Hàn. Họ hiểu cái guồng này rõ hơn bất cứ ai đọc bài này, và nhiều người vẫn chọn tin vào một tương lai tốt hơn cho con, ngay giữa cái guồng đó.

Còn ngồi ở Việt Nam đọc tới đây, dễ thở phào, chuyện của xứ người. Nhưng cái máy nghiền ở Daechi-dong không mọc lên từ riêng đất Hàn. Nó được lắp từ những mảnh rất quen, lớp học thêm kín cả tuần, điểm số thành thước đo một đứa con ngoan, nỗi sợ con mình chậm chân hơn con nhà bên cạnh. Ở ta, mấy mảnh đó đang được vặn dần vào nhau. Đứa trẻ Việt Nam còn ngồi ở bàn học lúc mười một giờ đêm nay chưa phải đứa trẻ Daechi-dong, nhưng nó đang đứng ở đầu con đường ấy.

Một dân tộc không biến mất vì hết người muốn sống. Nó biến mất khi những người còn lại tính ra rằng, thương một đứa trẻ tốt nhất là đừng sinh nó ra.

FB Tran Duy Hung


Cuộc gặp không hẹn trước của những người con Hội An nơi đất khách

Chú tôi, Trương Duy Hào, là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hội An. Cũng như bao nhiêu người cùng thế hệ, đến một giai đoạn của cuộc đời, chú rời Hội An để mưu sinh.

Sau nhiều năm bôn ba, chú định cư tại Hoa Kỳ, mang theo trong tim hình bóng của một thị xã nhẹ nhàng, đầm ấm và những ký ức không bao giờ phai nhạt.

Nơi đất khách, những người con Hội An vẫn luôn tìm về với nhau. Họ không hẹn mà gặp, cùng ngồi lại bên một tách cà phê hay một bữa cơm đậm hương vị quê nhà. Mỗi người là một thế hệ, mỗi hoàn cảnh, một con đường đời khác nhau. Có người rời quê từ khi còn rất trẻ, có người đã đi qua gần hết cuộc đời mới tha hương. Mỗi câu chuyện đều chất chứa biết bao vui buồn và hy vọng.

Nhưng khi gặp nhau, mọi khoảng cách dường như tan biến. Chỉ cần nhắc đến Chùa Cầu, sông Hoài, những con phố nhỏ, tiếng rao quen thuộc hay một món ăn của quê nhà, ánh mắt ai cũng sáng lên. Những kỷ niệm tưởng chừng đã ngủ yên theo năm tháng lại ùa về như mới gặp nhau ngày hôm qua.

Họ kể cho nhau nghe về những ngày thơ ấu, về mái trường cũ, về những người hàng xóm thân thương, về những ngày mưa gió bão lụt, Có những người bạn đã không còn, có những con đường đã thay da đổi thịt, nhưng tình yêu dành cho quê nhà thì vẫn không hề thay đổi.

Có lẽ, quê nhà không chỉ là nơi sinh ra cắt rốn, mà còn là nơi, để thương để nhớ, để trở về và để mỗi khi nhắc đến, lòng lại bồi hồi. Dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, những người con Hội An vẫn luôn mang trong mình niềm tự hào về mảnh đất đã nuôi dưỡng tuổi thơ và tâm hồn.

Cuộc hẹn của những người con xa xứ không chỉ là một buổi gặp mặt. Đó còn là cuộc hội ngộ của ký ức, của tình đồng hương và của tình yêu quê nhà chưa bao giờ vơi cạn. Chính những cuộc gặp ấy đã giúp họ hiểu rằng, dù thời gian có trôi qua bao lâu, dù cuộc đời có đưa mỗi người đến những chân trời khác nhau, thì hai tiếng Hội An vẫn luôn là sợi dây vô hình gắn kết tất cả trở về với nhau.

Ngồi lại với nhau nhớ lại từng tiếng rao từng món ăn lúc về khuya, hột vịt lộn với cây đèn dầu heo hắc nơi cuối phố, tiếng chè lục tàu xá văng vẳng bên góc đường, tiếng bánh chưng vọng từ bên kia con phố, ôi những tiếng rao càng về khuya làm cho tất cả những cô chú đang cuối đầu bên trang sách vở chợt bồi hồi, xếp lại tập sách chạy ào ra gọi í ới. Có những buổi trưa hè oi ả gọi nhau ra sông tắm mát, rồi ai về nhà nấy, ngồi bên mâm cơm chén mấm dưa dĩa rau luộc nhưng lại chứa chan biết đến dường nào. Đó là những gì mà tôi đuoc nghe các cô chú của tồi kể lại, ngày ấy Hội An sao mà hiền hoà và dể thương đến thế.

FB Bao Ly


Chu Tất Tiến viết War and Love: Kể lại mối tình giữa thời ly loạn

-- Phan Tấn Hải

Khi anh viết bằng tiếng Việt, anh ký tên Chu Tất Tiến; khi anh viết bằng tiếng Anh, anh ký tên Tien Chu. Tác phẩm mới nhất của anh là "War and Love," một tiểu thuyết hồi ký về chuyện đời của chính tác giả, vừa mới lưu hành trên Amazon, cả bản in giấy và bản điện tử.

Độc giả quan tâm về luật pháp hẳn còn nhớ rằng, sau khi các bài viết của Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San về chặng đường 2 thập niên của Thầy San phục vụ pháp lý và cố vấn mục vụ tại hệ thống nhà tù Oklahoma được tuyển lại và in thành sách "Pháp Luật Hoa Kỳ Thực Dụng," nhà văn Chu Tất Tiến đã cố vấn ấn hành bản tiếng Anh “A Book on U.S. Applicable Law” để giúp cộng đồng Việt tránh các bất trắc về luật pháp.

Cũng chính nhà văn Chu Tất Tiến đã phỏng vấn nhiều người, trong đó có nữ tù nhân Lê Thị Vân, người được Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San kể về trường hợp lãnh án oan ức giết người, cũng như phỏng vấn Thầy San (nguyên tuyên úy nhà tù nơi giam cô Vân) và nhiều thiện nguyện viên từng vào thăm cô Vân trong tù Oklahoma, để rồi hoàn tất cuốn "Tự Truyện Người Nữ Tù Chung Thân" bản tiếng Việt và vài tháng sau nhà văn họ Chu ấn hành bản tiếng Anh “A Cry For Justice” năm 2023.

Bây giờ, Tien Chu ấn hành "War and Love," một mảnh đời riêng của anh khi được chính phủ VNCH gửi đi du học tại Hoa Kỳ. Theo giới thiệu trên Amazon:

"Tác phẩm 'War and Love' là câu chuyện đầy xúc động về mối tình ngang trái giữa một nhà báo nữ người Mỹ và một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa — một tình yêu nảy nở giữa cảnh hỗn loạn, mất mát và tàn khốc của chiến tranh. Được khơi nguồn từ những trải nghiệm có thật, cuốn tiểu thuyết này đan xen giữa ký ức cá nhân và các sự kiện lịch sử, mang đến cái nhìn chân thực và sâu sắc về cuộc đời của những con người đã yêu, đã chiến đấu và kiên cường vượt qua một trong những giai đoạn biến động nhất của lịch sử Việt Nam.

Không chỉ là một câu chuyện tình yêu mãnh liệt, 'War and Love' còn là lời tri ân dành cho những nữ anh hùng thầm lặng của chiến tranh — những người phụ nữ đã cống hiến với lòng dũng cảm và phẩm giá cao đẹp trong vai trò nhà báo và y tá. Những hy sinh của họ thật to lớn, nhưng câu chuyện về họ lại thường bị lãng quên. Cuốn sách này tôn vinh lòng can đảm, sự kiên cường và tinh thần bất khuất của họ.

Với văn phong giàu cảm xúc và lối kể chuyện sống động, 'War and Love' đưa độc giả trải nghiệm:

. Những khoảnh khắc yêu thương dịu dàng tỏa sáng ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất
Những mất mát đau thương và những lựa chọn đầy nghiệt ngã;
. Hành trình gian nan tìm kiếm tự do;
. Sức mạnh, phẩm giá và sự kiên cường của người dân Việt Nam.

'War and Love' không chỉ đơn thuần là một câu chuyện tình yêu. Đó là một minh chứng sống động — lời nhắc nhở rằng ngay giữa lòng chiến tranh, tình yêu vẫn có thể nảy nở, chữa lành và trường tồn."

Và sau đây là lời tâm sự của nhà văn Chu Tất Tiến (CTT) về tác phẩm "War and Love" như sau. Một số nhận định riêng của Chu Tất Tiến về lịch sử có thể gây tranh cãi hoặc không chính xác, tuy nhiên lời tâm sự của nhà văn họ Chu xin ghi nguyên văn nơi đây.
.
Về cuốn WAR AND LOVE

Cách đây hơn 26 năm, CTT học chương trình Văn Chương Sáng Tạo (Creative Writing) ở Cal State University Long Beach. Trong môt tiết học Sử Việt Nam (Vietnam History) với 2 tiếng đồng hồ, vị Giáo sư Sử học phát cho sinh viên những tài liệu về Chiến Tranh Việt Nam và giảng cho sinh viên nghe đại khái là “Miền Nam Việt Nam thua trận, vì nhiều lý do. Trên hết là việc các Tướng, Tá tham nhũng, hối lộ, không lo đánh giặc, chỉ mong chờ viện trợ. Quân nhân thì nhát, thấy địch là chạy…” 

Nghe vị Giáo sư Tiến Sĩ Sử Học nói bậy bạ về quê hương như thế, CTT nổi giận, giơ tay hỏi ông Thầy: “Thưa Thầy, Thầy biết tôi là ai không?” (Do you know who I am?”. Ông Thầy ngạc nhiên, hỏi móc: “Anh là thằng quỷ nào?” (Who the hell are you?).

CTT đứng dậy, nói: “Tôi là Sĩ quan quân đội miền Nam, nhưng tốt nghiệp Thiếu Úy Hoa Kỳ tại trường Lục Quân Officer Candidate School (OCS), Fort Benning, Georgia, năm 1968. Về nước, tôi phục vụ quân đội đến cấp bậc Đại úy, thì ngày 30 tháng 4 xẩy ra. Tôi đi tù Cộng sản gần 6 năm. Tôi có thể khẳng định rằng chính phủ Mỹ không muốn thắng ở Việt Nam, Chính Phủ Mỹ đã bỏ rơi VNCH, cho dù đã hy sinh 58,000 quân nhân. Thầy muốn nghe lý do tại sao tôi nói như vậy không?”

Ông Thầy nói: “Nói đi!” Tôi liền kể cho ông ấy nghe về vũ khí, Mỹ viện trợ cho VNCH toàn vũ khí không thích hợp. Thí dụ như năm 1968, VC tấn công miền Nam bằng AK-47 bắn liên thanh 20 viên, trong khi quân miền Nam vẫn xài M.1 bắn từng viên, mà chỉ có 8 viên lại phải thay băng. Sau khi quân miền Nam phải rút ở gần 20 tỉnh thành, Mỹ mới gửi sang AR-15 là súng bắn liên thanh nhưng lại hay nổ nòng. Mãi sau mới gửi M.16 sang, khoảng cuối năm 1968, mà lại chỉ cho các đơn vị đặc biệt. Trong khi đó thì ở quân trường Mỹ, CTT đã bắn M.16 cả trăm viên môt ngày. Sau một thời gian quân miền Nam chới với, Mỹ mới phát M.16 cho toàn thể quân miền Nam. Lập tức quân miền Nam đánh quân miền Bắc tan tác. Khi Cộng Sản Quốc tế xài hỏa tiễn B-40, B-41 thì quân miền Nam còn Bazooka, và súng 57 ly. Sau khi quân miền Nam kẹt vì B-41-, B-41, thì cuối năm 1968, Mỹ mới gửi M-72 sang, thứ hỏa tiễn này, CTT đã bắn từ 1967. Về đại pháo, trong khi Cộng Sản bắn đại bác 122 ly xa hơn 20 cây số, và hỏa tiễn bay xa hơn 30 cây số, thì Mỹ viện trợ cho VNCH đại bác, 155 ly bắn xa nhất là 15 cây số. Sau khi thấy quân VNCH phải bỏ đồn vì pháo CS, Mỹ mới mang sang 175 ly có thể bắn xa hơn 30 cây số, nhưng loại thiết giáp chở pháo loại này lại rất nặng, không thể di chuyển được. Hỏa tiễn cầm tay cũng thế, M.72 của Mỹ chỉ bắn cháy được thiết giáp hạng nhẹ của CS, nên khi CS Miền Bắc được Nga sô viện trợ, mang sang T-54 thép dầy, thì M. 72 không nghĩa lý gì, chỉ có thể làm đứt xích T-54.

CTT còn nói thêm là có nhiều loại vũ khí mà CTT học ở trường OCS có thể hạ CSVN rất nhanh như súng cối 4.2 có quả đạn to như đạn đại bác 105 ly, bắn vòng cầu rất chính xác, nhưng ít thấy ở VN, lúc đó còn xài súng cối 60 và 81 ly! Mỹ lại có xe tăng bắn lựu đạn M.79, 400 quả trong 1 phút! Kinh hoàng! Nếu miền Nam có loại này thì chỉ cần 1 đại đội có thể diệt cả Tiểu Đoàn địch trong chớp mắt. Sau khi Mỹ ép VNCH ký hiệp định Paris, thì Mỹ rút hết quân viện, không thay đổi súng đạn hư như đã mất. Không cho xăng cho máy bay hoặc xe tăng dễ dàng, khiến quân miền Nam “bó tay”.

Nghe nói đến đây, ông Thầy xấu hổ, cho lớp tan hàng và bỏ đi. Nhưng chừng 15 phút sau, nghĩ lại sao đó, ông Thầy đến bắt tay CTT và ngỏ lời xin lỗi.

Một lý do thứ hai nữa thôi thúc viết cuốn WAR AND LOVE là nếu tìm hiểu trên mạng Internet về quân đội VNCH, sẽ không thấy bài báo nào viết khen ngợi quân đội anh hùng, mà chỉ có bài của CSVN và một số bài do người Mỹ viết, thiên vị CSVN. 

Người Mỹ cũng không muốn nhắc đến việc TT Kennedy ra lệnh cho một số tướng giết ông Diệm, gây rối loạn chính trường miền Nam, khiến quân dân bó tay mặc cho CS tràn vào. Không có bài nào viết về việc Dương Văn Minh, thủ lĩnh nhóm đảo chánh, liên hệ với người em là Thiếu Tá CSVN Dương văn Nhựt, từ đó mà Minh mới ra lệnh phá bỏ Ấp Chiến Lược, khiến CS tràn vào như thác lũ. 

Không báo nào nói đến 1971, Nixon cho Kissinger sang Bắc Kinh điều đình để bật đèn xanh cho CS quốc tế tấn công miền Nam cũng như mặc cho Trung Cộng chiếm Hoàng Sa.

Vì thế CTT phải viết cuốn truyện tiểu thuyết này, dựa trên một cuộc tình có thật của một nữ phóng viên Mỹ với môt sĩ quan VNCH rất lãng mạn, để nhắc lại những biến cố quan trọng từ 1945 đến nạn đói, đến Điện Biên Phủ, việc di cư vào Nam. Nhắc lại từ Kennedy đến Nixon, qua TT Ngô Đình Diệm, rồi TT Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ… CTT nhắc lại hai trận đánh oanh liệt của quân VNCH, Trận Chu Pao và trận Xuân Lộc. CTT cũng nêu bật lên tính anh hùng của quân đội qua việc Ngũ Hổ Tướng Quân tuẫn tiết cùng bao anh hùng các binh chủng. 

Cuốn này cũng nói đến các trại tù khổ sai do CSVN gài bẫy Quân VNCH và các giới chức hành Chánh cao cấp, rồi xã hội chủ nghĩa tàn phá VN, và vượt biên, chết thảm. 

Kết luận cuốn sách này mong rửa nỗi oan của VNCH bị bọn truyền thông thiên tả bôi lọ, đồng thời nêu bật tính anh hùng, không những của các quân nhân, mà còn vinh danh một đội quân lạ lùng không có nơi nào trên thế giới: Đội quân Thăm Nuôi do quý bà vợ lính tổ chức. Không có đội quân này, thì đa số người tù đều chết gần hết.

CTT viết với tư cách một người lính Cộng Hòa không chấp nhận giải ngũ, không chấp nhận im tiếng, mặc dù tuổi cao, 82 tuổi, vẫn tiếp tục chiến đấu trên măt trận văn hóa.
.
GHI CHÚ:
Sách WAR AND LOVE (Tác giả: Tien Chu) hiện bán ở Amazon, theo 2 ấn bản.

Bản đọc trên Kindle ($2.99):

Bản sách giấy ($9.99):

PHOTO: Nhà văn Chu Tất Tiến và bìa sách ‘War and Love’.


731761524_1718310483078109_7115817259089300692_n.jpg
MỘT CHÚT LAN MAN

Ngẫm lại sự đời, tôi thấy hình như hầu hết chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Hừm! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy tại sao ta không nghĩ ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!

Còn đối với các vị phụ nữ cũng có khi gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Thân thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần hỏi han ta, không cần biết ta có “chịu” không! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.

Trái lại nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Từ ngày “thế giới phẳng” thông qua internet, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với người nhà nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện với mọi người bên cạnh thì nhiều khi đã lỡ nhịp!

Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Từ ngày biết thương “thân thể” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho thân thể của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá!

Một người bạn tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương ông quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được? Giá ông nghèo một chút còn hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn ông ăn thấy ngon, thấy sướng!

Tôi cũng biết cho thân thể của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được!

Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc. Xong, phủi tay lên núi tu tiếp!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!

Nên nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe được, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy được, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là mắt xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.

Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Có lẽ như vậy hay hơn cho mình.

● BS. Đỗ Hồng Ngọc


Sunday, July 5, 2026

MỐI TÌNH VĨ ĐẠI !

Romy Schneider chờ Alain Delon 30 năm ròng. Ông không đến...

Tháng 8 năm 1958, trên trường quay bộ phim "Christine", chàng trai Alain Delon 22 xuân xanh lần đầu nhìn thấy Romy Schneider. Nàng đứng bên cửa sổ phòng thay đồ, vẫn bận trang phục của nữ công tước Elisabeth từ Bayern (sau này là hoàng hậu "Sissi" của đế quốc Áo - Hung) và hút điếu thuốc lá dài, mỏng. Ánh sáng chiếu rọi tạo cảm giác làn khói thuốc chuyển qua màu vàng. Delon đứng chết lặng ở lối ra vào. Và tự nhủ với mình - như ông thú nhận sau này -" tôi đã si mê nàng trước khi nàng ngoảnh đầu nhìn tôi". Romy 19 tuổi, Alain Delon 22 tuổi. Theo lẽ thường thì chỉ là chuyện rung động bình thường của các diễn viên cùng đóng phim. Nhưng chuyện xảy ra giữa họ trong 5 năm sau lại không hề bình thường ở mọi góc độ, cả trên màn ảnh lẫn trong góc khuất trái tim con người. Chuyện tình giữa họ đến giờ được coi là một trong những câu chuyện tình yêu vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Và càng vĩ đại thì càng hiếm khi kết thúc tốt đẹp.

Romy sinh năm 1938 ở Vienne, trong một gia đình nghệ sĩ: mẹ bà Magda Schneider là ngôi sao phim nói tiếng Đức những năm 1930, còn cha bà, ông Wolf Albach - Retty cũng diễn kịch và thinh thoảng đóng phim. Cuộc hôn nhân giữa họ tan vỡ sau khi bà Magda sanh con gái Romy. Từ bé, Romy đã sống trong thế giới nghệ sĩ lạ lùng nơi những nụ cười tươi dành cho công chúng, còn nước mắt thì giấu kín đằng sau những bức tường nhà.

15 tuổi, Romy Schneider đóng vai hoàng hậu "Sissi" lúc trẻ. Phim trở thành hiện tượng phòng vé. Tiếp đó là những phần phim tiếp theo. Áo, Đức, cả Châu Âu mê mẩn cô bé với cặp mắt to và đôi núm đồng tiền trên má.

Song Romy thì lại chán ngấy với hình ảnh Sissi bọc đường. Bà muốn thử sức trong những vai nữ với tâm lý phức tạp và đời thực sự. Các nhà sản xuất phim thì lại muốn Romy chỉ là Sissi bận váy chồng cồng kềnh và cúi chào kiểu quý sờ tộc kiểu cách. Bà mẹ độc đoán - người có vai mẹ của Sissi trong phim - thì ủng hộ họ - nói với con gái "con cần phải cảm ơn họ. Người ta cho con vai diễn mà hàng triệu người mơ ước...". Cho nên, bà chỉ đóng 3 phần phim và từ chối thẳng thừng phần thứ 4. Rồi dịp may đến khi bà được đề nghị đóng trong phim "Christine". Romy đồng ý tức thì, không phải vì kịch bản hay mà vì được quay phim ở Paris, cách xa Vienne, cách xa người mẹ, cách xa các bộ trang phục cồng kềnh của vai diễn Sissi. Bà còn chưa kịp hiểu rằng Paris cho bà tự do, song đổi lại, lấy đi một cuộc sống bình an.

Quay trở lại với Alain Delon. Sinh năm 1935 ở ngoại ô Paris, cha mẹ ly hôn năm ông 4 tuổi và một thời gian ông được giao phó cho cha mẹ nuôi giáo dưỡng. Cậu lớn lên với suy tư trăn trở: cha mẹ có thực sự cần mình không và ai cần mình? 14 tuổi, Alain Delon bị đuổi học. 17 tuổi, ông ghi danh làm lính thủy quân luc chiến và phục vụ ở Đông Dương, nơi Pháp tiến hành cuộc chiến giành giật thuộc địa. Ở đó, ông học được 3 điều: không sợ, không tin ai và không thể hiện sự yếu đuối. Tất cả đều là những kỹ năng sinh tồn, tuy chúng có hại trong tình yêu. Trở về Pháp năm 1956, ông làm cả chục nghề để kiếm sống từ bồi bàn, bán hàng rong đến làm phu khuôn vác. Và một lần, người quen đã đưa ông đi thử vai diễn trong phim. Các đạo diễn - và không chỉ có họ mà mọi người đều thấy - khuôn mặt này không thể quên được, với các bắp thịt giống như tạc từ pho tượng Hy Lạp cổ, cặp mắt xanh ánh lên vẻ lạnh lẽo. Alain Delon không biết diễn và chỉ có ống kính máy quay là thích ông. Lúc hẹn hò với Romy Schneider, Alain Delon chỉ có 3 vai diễn nhỏ và chưa có mối tình nghiêm túc nào tuy "con ong đã tỏ đường đi lối vào" với nhiều phụ nữ (đàn ông mà!).

Bộ phim "Christine" bấm máy vào mùa xuân năm 1957. Đạo diễn phim Pierre Gaspard Huit (1917 - 2017) đã xếp họ thành cặp: bà là con gái của một tay chơi đàn vĩ cầm, còn ông là sĩ quan trẻ. Một bộ phim tình cổ điển. Trên màn ảnh, họ phải yêu nhau, đau khổ vì yêu và xa nhau.

Cuộc sống khác với kịch bản. Những ngày đầu, Romy tỏ ra thận trọng vì bà quen với môi trường nói tiếng Đức đề cao tính kỷ luật và tuân thủ thời gian biểu chặt chẽ. Alain Delon ngược lại, sống tự do và ngang tàng, đi làm muộn, hay châm chọc, hút thuốc lá cả ở trong phòng quay, rồi ăn nói bằng ngôn ngữ chợ búa của Paris mà Romy chỉ hiểu được phân nửa. "Anh ta như con thú hoang. Đẹp trai, nguy hiểm, hành động không thể đoán trước" - sau này Romy Schneider nhớ lại. Còn Alain Delon thì sao? Ông nhận thấy ở Romy cái mà người khác không nhận ra : không phải là Sissi, không phải là con búp bê sứ, mà là một cô gái sống động đang ngạt thở trong chiếc lồng nhốt mang tên cuộc sống. Và ông muốn phá nát cái lồng này. Sau 2 tuần quen nhau, họ không rời xa nhau. Một tháng sau, Romy gọi điện cho mẹ mình báo tin mình sẽ ở lại Paris. Bà Magda giận điên người.

19 tuổi, ngôi sao điện ảnh Áo từ bỏ sự nghiệp, từ bỏ gia đình, từ bỏ đất nước để đến với nam diễn viên Pháp trong khi không có một xu dính túi, không có các mối quan hệ quen biết. Một scandal lớn. Báo chí Đức và Áo viết về Romy như thể bà đã phản bội đất nước " Sissi của chúng ta đã chạy theo một gã lạ hoắc, quen ngẫu nhiên". Mẹ bà không nói chuyện với con gái trong nhiều tháng, các nhà sản xuất thì xé bỏ hợp đồng đóng phim...còn Romy thì bất cần, vì đây là lần đầu tiên trong đời, bà cảm thấy mình là người tự do. Romy và Alain thuê một căn hộ nhỏ trên phố Messin ở Paris. Tiền gần như không có. Romy phải tự mình đi chợ, nấu ăn, giặt giũ, một điều không tưởng với tiểu thư được cơm bưng nước rót, có tài xế riêng đưa rước. Về sau bà nói " tôi hạnh phúc. Hanh phúc tột độ. Lần đầu trong đời tôi cảm thấy hạnh phúc đến vậy". Họ cùng nhau đi xem phim, đi dạo dọc bờ sông Seine, ngồi nhấm nháp cà phê ở quán rẻ tiền... Alain dạy Romy cách nói tiếng lóng Paris, Romy dạy Alain cách nghe nhạc. Chiều chiều, Romy đặt dĩa nhạc Schubert và họ ôm nhau cùng nghe dưới ánh nến bập bùng. Nhưng trong những ngày tháng ngập tràn hanh phúc này, trong lòng Romy vẫn có gì đó âu lo. Bà nhìn thấy ánh mắt của Alain Delon ngắm nghía như "lột truồng" các phụ nữ khác, giống như con thú canh chừng lãnh thổ mình. Bà muốn gạt đi những ý nghĩ vẩn vơ, song vô vọng.

Tháng 3 năm 1959, Alain và Romy tuyên bố đính hôn. Ảnh chụp họ đăng trên các báo Châu Âu: bà bận đầm trắng đơn giản, còn ông trong bộ vest đen. Cả hai rực sáng, một cặp đôi lý tưởng. Nhưng đời có chữ "ai ngờ".

Sự nghiệp của Alain Delon đi lên như diều gặp gió, ông trở thành ngôi sao chính của điện ảnh Pháp. Ảnh ông phủ kín trang bìa các báo, các đạo diễn xếp hàng chờ ông gật đầu tham gia phim, còn phụ nữ thì khỏi nói...Không ai còn để ý đến Romy. Ở Pháp, người ta chỉ nhắc đến bà là " vợ chưa cưới của Alain Delon". Các vai nghiêm túc bà muốn tham gia đều bị từ chối vì giọng Pháp lơ lớ của bà. Bóng ma "Sissi" như theo đuổi bà, đi thử vai bị từ chối bà đành về nhà chờ Alain Delon.

Mà Aiain Delon lặn mất tăm cả ngày, vì phải quay phim, phải dự các buổi tiệc, phải làm việc với các nhà sản xuất. Ông về muộn, người sực mùi nước hoa lạ và mùi khói thuốc lá. Romy không gây gổ, không to tiếng, chỉ lẳng lặng pha cà phê cho Alain và về phòng ngủ. Vì bà yêu, vì bà tin là đám cưới sẽ làm Alain thay đổi. Nhưng không có đám cưới nào.

Hè năm 1963, Alain Delon làm quen với Nathalie Barthelemy, một nữ người mẫu cao ráo, cân đối với đôi mắt mèo. Và như mọi lần, tất cả đều biết mối quan hệ, chỉ Romy là biết sau cùng.

Một chiều về nhà, Romy nhìn thấy mẩu giấy xé ra từ cuốn sổ tay, trong đó Alain Delon viết rằng mình rời đi "và sẽ tốt cho cả hai". Và vì rằng Alain sinh ra không phải là người dành cho cuộc sống gia đình .

Mẩu giấy nằm trên bàn bếp ăn, cạnh ly cà phê mà họ cùng uống mỗi sáng. Ly cà phê còn ấm. Romy không khóc, không vật vã đau khổ, bà chỉ ngồi bó gối trên sàn nhà cho tới sáng. Khi cô bạn gái tới nhà chơi, Romy chỉ nói "đã đi".

Tháng 8 năm, Romy ở lại một mình ở Paris, không vai diễn, không bạn trai, không tổ quốc. Bà 25 tuổi và có cảm tưởng cuộc sống đã kết thúc.

Nhưng cuộc sống vẫn tiếp tục. Bà thở hắt, dẹp bỏ những suy nghĩ tiêu cực và bắt đầu cuộc sống từ đầu. Vào giữa những năm 60, bà quay trở lại với điện ảnh. Không phải với tư cách "vợ chưa cưới của Alain Delon" mà là một nữ diễn viên nghiêm túc, đóng vai những phụ nữ có cuộc sống nội tâm phức tạp. Bà trở nên sống động, có phần ngang tàng hơn.

Bà gặp lại Alain Delon khi cùng đóng phim La Piscine của đạo diễn Jacques Deray. Họ gặp lại nhau sau 6 năm xa cách. Và đạo diễn bắt họ thể hiện một cặp đôi sắp tan vỡ. Các cảnh quay được thực hiện ở miền Nam Pháp trong thời tiết nóng nực. Romy bận đồ tắm, da rám nắng, tóc ướt sũng vì nước. Bà trở nên tự tin hơn, nguy hiểm hơn, một phụ nữ biết cái giá của sự mất mát. Và Alain nhìn bà, không rời mắt. Họ không diễn mà thể hiện nỗi đau thật sự của hai con người yêu nhau nhưng không thể chung sống. Bộ phim có tiếng vang lớn và Romy khẳng định mình là ngôi sao điện ảnh của Châu Âu. Và tất nhiên, sau đó là cả đống những lời đề xuất đóng phim.

Romy tìm cách xây dựng lại cuộc sống riêng. Năm 1966, bà lấy chồng là đạo diễn và diễn viên người Đức Harry Meyer. Ông nhiều tuổi hơn, thông minh và từng trải. Tháng 12/1966, Romy hạ sinh con trai David. Và những tưởng bà cuối cùng tìm thấy cuộc sống bình yên, song cuộc hôn nhân không thành. Vì sự nghiệp đi xuống, Harry trở nên trầm cảm, hay giận dữ và cả ghen với cô vợ ngôi sao. Romy phải phân thân, vừa đóng phim, vừa đi lại giữa Paris và Berlin, giữa vai trò một diễn viên và vai trò của một người vợ. Năm 1975, họ ly dị. Tháng 4 năm 1979, Harry tự tử trong căn nha ở Hamburg. Romy biết tin này từ báo chí khi đang quay phim. Người trang điểm kể lại rằng lúc đó các ngón tay Romy trở nên trắng bệch, cố bám vào thành ghế.

Sau đó, bà kết hôn với Daniel Biansini, một người làm nghề thư ký, trẻ tuổi hơn, không tham vọng. Cuối năm 1975, Romy sinh con gái Sara. Những tưởng có cuộc sống bình yên, nhưng lại không vì đúng là người nổi tiếng không thể sống chung với người bình thường. Vì bất đồng, họ chia tay năm 1981.

Trải qua thời gian, qua các cuộc hôn nhân, qua các vai diễn, qua những đêm mất ngủ, Romy chỉ giữ lại duy nhất bức ảnh chụp chung với Alain Delon bên bờ sông Seine. Trong ảnh bà cười, nghẹo đầu, còn Alain Delon nhìn bà như thể thế giới này không còn ai.

Đến cuối những năm 1970, Romy Schneider trở thành nữ diễn viên được yêu thích nhất Châu Âu. Các đạo diễn nói rằng bà biết cách thể hiện những điều không thể, như đóng vai im lặng trong khi khán giả nghe được hết.

Cuộc sống cá nhân không thành và Romy bắt đầu uống rượu, âm thầm uống, ban đầu một ly, sau là một chai rồi hai chai. Bà uống thuốc an thần để ngủ được và thuốc tăng lực để tỉnh giấc. Bà gọi cho bạn bè giữa đêm, nói câu được câu mất, nhiều khi chỉ cầm ống nghe, không nói gì. Đôi khi bà khóc, qua đầu dây bên kia, người ta chỉ nghe thấy tiếng thở của bà.

Ngày 5/7/1981, con trai David của bà bị thanh sắt đâm khi vượt qua hàng rào ở ngoại ô Paris. Cậu không qua khỏi. Khi nhận được tin báo về cái chết của con trai, bà không hét lên, không khóc, mặt trắng bệch như có ai tắt đi ngọn lửa sống bên trong. Bà không ra khỏi nhà trong nhiều tháng, không ăn, cân nặng sụt chỉ còn 45 kg và tóc thì bạc trắng. Bà mới 42 tuổi mà nom như 60 tuổi.

Biết tin, Alain Delon ghé nhà thăm bà. Ông vào nhà và thấy bà ngồi trong ghế cạnh cửa sổ. Theo những người chứng kiến, lần đầu tiên họ thấy Alain Delon không nói được câu nào. Ông chỉ ngồi bên cạnh, cầm tay bà. Ngồi vài giờ rồi ông rời đi. Bà ở lại một mình.

Mùa thu năm 1981, Romy trở lại đóng phim. Bà đóng trong phim "The Passerby" về một phụ nữ chịu nhiều mất mát trong trại tập trung của Đức quốc xã. Đạo diễn Jecques Ruffio nhớ lại không phải chỉ dẫn gì, bà đến và quay phim ngay. Không phải là một nữ diễn viên mà là con người thật, con người biết thế nào là mùi đau khổ. Phim ra mắt tháng 4 năm 1982. Các nhà phê bình đánh giá đây là phim hay nhất trong sự nghiệp điện ảnh của bà.

Song bà không kịp đọc các bài phê bình. Ngày 28/5/1982, người ta tìm thấy bà chết trong căn nhà ở phố rue Barbet-de-Jouy. Nguyen nhân cái chết được công bố là do tim ngừng đập. Song thực ra, tim bà đã ngưng đập từ ngày 5/7/1981, ngày con trai bà qua đời.

Khi người ta thông báo về cái chết của Romy, Alain đang đóng phim. Nghe tin, ông cởi áo khoác, máng lên chiếc ghế ngồi và lẳng lặng rời đi. Ông trả tiền cho tang lễ, đưa xác bà về từ nhà xác vì chồng cũ Daniel Biansini từ chối làm điều này. Ông mang tới những bông hồng trắng, loại hoa mà Romy yêu thích và đặt chúng vào quan tài bà. Ông đứng trước mộ bà ở nghĩa trang Boissy-Saint-Leger với đôi mắt đẫm lệ. Và đây có lẽ là lần đầu tiên ông khóc trước mặt mọi người. "Bà là tình yêu của đời tôi" - ông nói với báo giới sau lễ tang.

Alain trải qua cuộc sống gian khó, ông cố dựng bức tường trong người, ngăn cách tâm hồn mình để không ai biết chuyện xảy ra bên trong. Chỉ có duy nhất Romy phá thủng bức tường chắc chắn này. Trước bà, ông cảm thấy yếu ớt, cởi mở và sống thật hơn. Không ai đọc được tâm hồn của Alain Delon, ngoại trừ Romy. Trong một phỏng vấn hiếm hoi, Alain Delon thừa nhận "tôi đã thực hiện một lỗi lầm không thể sửa được trong đời. Tôi biết lỗi lầm này. Và bà cũng biết".

Họ đôi lúc cũng găp nhau. Một nhân viên nhà hàng nhớ lại "họ ngồi đối diện nhau và gần như không ăn gì. Bà xoay xoay khăn lau trong các ngón tay, còn ông nhìn ra cửa sổ. Ngồi trong khoảng 10 phút thì bà rời đi. Ông trả tiền hóa đơn và ngồi lại một mình khá lâu".

Hai người yêu nhau, không thể đến với nhau vì ai cũng sợ phải nắm giữ hạnh phúc thật chặt.

Trên mộ Romy Schneider bao giờ cũng có hoa tươi là những bông hồng trắng. Không ai tiết lộ nhưng ai cũng biết của ai.

Alain Delon sống thọ. Cuối đời, ông sống cô độc với bầy chó yêu. Ông giữ lại duy nhất bức ảnh chụp chung thời trẻ với Romy bên sông Seine. Khi đã già, ốm yếu, ông thừa nhận " Romy là người phụ nữ duy nhất tôi yêu thực sự. Tôi làm bà đau đớn. Một sai lầm không thể tha thứ. Bà đã tha lỗi cho tôi. Còn tôi không bao giờ tha lỗi cho mình".

Alain Delon mất ngày 18/8/2024 ở tuổi 88. Họ được an táng ở những nơi cách xa nhau. Romy ở Pháp, cạnh con trai David, còn Alain Delon ở Thụy Sĩ bên cạnh các con chó yêu. Khi mất, giữa họ vẫn có khoảng cách...

St





MỘT TẤM ẢNH TOÀN SAO NĂM 1971

Có những bức ảnh trở thành một phần của lịch sử. Tấm ảnh dưới đây là một trong số đó.

Được chụp tại đêm trao giải của Liên hoan Phim Châu Á - Thái Bình Dương năm 1971, tổ chức ở Đài Bắc, bức ảnh quy tụ năm gương mặt tiêu biểu của điện ảnh Sài Gòn trong giai đoạn hưng thịnh nhất. Nhìn từ trái sang phải là Kiều Chinh, Kim Vui, Ánh Nga, Túy Hồng và nam diễn viên kỳ cựu Đoàn Châu Mậu.

Đây không chỉ là một tấm ảnh lưu niệm của một đoàn điện ảnh tham dự liên hoan phim quốc tế. Nó còn phản ánh vị thế đáng kể của điện ảnh Sài Gòn trên diễn đàn khu vực vào đầu thập niên 1970, khi các nghệ sỹ Việt Nam thường xuyên góp mặt tại những kỳ liên hoan phim lớn ở châu Á.

Điểm thu hút nhất của bức ảnh có lẽ chính là nụ cười rạng rỡ của Kiều Chinh. Trong kỳ liên hoan năm ấy, bà được các đại biểu và giới truyền thông bầu chọn là Nữ diễn viên khả ái nhất của đại hội. Báo chí điện ảnh Sài Gòn thời bấy giờ thường ưu ái gọi bà là "Ảnh hậu", một danh xưng thể hiện sự yêu mến và ngưỡng mộ của công chúng đối với nữ minh tinh tài sắc này.

Nhìn vào bức ảnh, người xem còn bắt gặp những gương mặt quen thuộc đã góp phần tạo nên diện mạo điện ảnh miền Nam trước năm 1975.

Kim Vui xuất hiện với chiếc áo dài ren trang nhã, mang phong cách thanh lịch đặc trưng của thời kỳ ấy. Bên cạnh là Ánh Nga, một trong những nữ diễn viên trẻ được yêu thích trên màn bạc lúc bấy giờ, nổi bật với vẻ đẹp dịu dàng và hiện đại. Túy Hồng, nhỏ nhắn nhưng đầy duyên dáng, góp phần làm nên sự cân bằng của bố cục. Đứng cuối cùng là Đoàn Châu Mậu, nam diễn viên kỳ cựu với phong thái điềm đạm, đại diện cho lớp nghệ si đã gắn bó với điện ảnh Việt Nam từ những ngày đầu.

Điều đáng quý là bức ảnh không hề mang vẻ kiểu cách của một buổi chụp chân dung. Tất cả đều đeo những vòng hoa chào mừng, đứng gần nhau trong không khí thân tình của một đêm hội điện ảnh. Chính sự tự nhiên ấy đã lưu giữ được tinh thần của một thời kỳ mà điện ảnh Việt Nam luôn khát vọng vươn ra sân khấu quốc tế.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những nghệ si trong ảnh đã đi qua những ngã rẽ khác nhau của cuộc đời. Có người tiếp tục hoạt động nghệ thuật ở nước ngoài, có người rời xa màn bạc, cũng có người đã trở thành ký ức của nhiều thế hệ khán giả. Nhưng khi nhìn lại tấm ảnh này, người yêu điện ảnh vẫn có thể cảm nhận được một thời vàng son của điện ảnh Sài Gòn, nơi những ngôi sao hàng đầu cùng sánh vai trong một sự kiện quốc tế đầy ý nghĩa.

Đó là lý do bức ảnh không chỉ có giá trị tư liệu. Nó còn là một lát cắt sinh động của lịch sử điện ảnh Việt Nam, ghi lại hình ảnh những nghệ sỹ tài danh trong khoảnh khắc họ cùng đại diện cho nền điện ảnh nước nhà trên trường quốc tế. 

Và hơn tất cả, nụ cười rạng ngời của Kiều Chinh trong đêm Đài Bắc năm 1971 vẫn như một biểu tượng đẹp của niềm tự hào mà điện ảnh Việt Nam từng có được trong những năm tháng huy hoàng.




Thầy Tôi

(Mấy hôm nay, trang Facebook Giai Thoại Đất Cổ Hội An đăng 2 câu chuyện về Miếu Quảng An và Thầy giáo Cần nhận được nhiều bình luận là những giai thoại tưởng nhớ kính yêu Thầy. Chợt nhớ ký ức của chính mình để góp thêm vào giai thoại về người Thầy kính yêu.)

THẦY GIÁO CẦN – BIẾT TIẾNG ANH, RÀNH TIẾNG PHÁP.

Tôi được học lớp 5/2 trường Nam Tiểu học Hội An niên khóa 1967-1968 (tương đương lớp 1 hiện nay), là lớp được Thầy Phạm Phú Cần dạy dỗ.

Đầu năm 1968, sự kiện Tết Mậu Thân làm 2-3 phòng học Lớp Nhất bị pháo kích sụp đổ hoàn toàn, trường lớp toang hoang. Để không gián đoạn việc dạy đỗ, Trường được bố trí giảng dạy tạm vào các buổi chiều tại Trường Nữ Tiểu học Hội An trong lúc chờ Tiểu đoàn 102 Công binh chiến đấu VNCH xây dựng tái thiết.

Cuối một buổi chiều 1968, có môt máy bay UH-1 của lính Mỹ hạ cánh trên Sân vận động Hội An, lớp học của chúng tôi có 2 cửa sổ nhìn thấy, tất cả học sinh hiếu kỳ hướng mắt xem máy bay mà lơ là không nghe Thầy giảng dạy. Thầy không quở trách mà lẳng lặng bỏ ra khỏi lớp, đi thẳng ra máy bay “xí la xí lô” với mấy người lính Mỹ, lát sau Thầy vào lớp và tất cả học sinh được nghỉ sớm, Thầy dẫn dắt cả lớp ra xem máy bay và vui đùa cùng những người lính Mỹ, ai dạn dĩ cứ sờ mó leo trèo lên càng máy bay, máy bay cứ nổ máy và chong chóng cánh quạt vẫn gầm rít xoay nhẹ trên không, Thầy vẫn đối thoại với họ rất nhiều. Thật là một giờ học dã ngoại trực quan lý thú.

Hết giờ học, chia tay với máy bay cả lớp ra về, Thầy lên xe đạp, chiếc xe đạp sườn ngang và thói quen của Thầy là đặt chân lên pédal nhấp chân mấy bước rồi choàng chân còn lại qua xe để ngồi lên yên, chẳng may hôm đó lúc choàng chân thì mông quần của Thầy rách toạc mà Thầy vẫn không hay biết, nhóm học sinh nhìn thấy la ó lên giữa đường:
- Thầy, Thầy... quần Thầy rách đít

Thầy dừng xe và nhỏ nhẹ:
- Lần sau thấy vậy cứ gọi là “Mười giờ” (Rồi Thầy ôn tồn giải thích) “Mười giờ” Tiếng Pháp gọi là “Đít dzơ” (Dix heure). Nói vậy Thầy sẽ tự hiểu và che đậy.

Câu chuyện là một ký ức khó quên với người Thầy kính yêu.

Dong danke


Blog Archive