Monday, April 20, 2026

Bộ ba tại California sử dụng bộ đồ hóa trang thành gấu, dàn dựng hồ sơ giả, bồi thường bảo hiểm 142.000 USD

LOS ANGELES – Ba cư dân California đã bị tuyên án vì âm mưu gian lận bảo hiểm "kỳ quặc", liên quan đến việc sử dụng một bộ đồ gấu để giả tạo các hư hại nội thất bên trong những chiếc xe hơi hạng sang.

Cuộc điều tra, do Sở Bảo hiểm California dẫn đầu, đã kết luận rằng nhóm này đã dàn dựng các vụ tấn công trục lợi gần 142.000 đô la từ các nhà công ty bảo hiểm.

Sau khi đưa ra lời nhận tội không tranh tụng đối với cáo buộc trọng tội gian lận bảo hiểm, Alfiya Zuckerman, Ruben Tamrazian và Vahe Muradkhanyan đã bị tuyên phạt 2 năm quản chế và 180 ngày tham gia chương trình giam giữ vào các ngày cuối tuần.

Hai trong số các bị cáo đã bị buộc phải bồi thường tổng cộng số tiền hơn 107.000 đô la.

Hoạt động gian lận này xoay quanh một sự việc xảy ra vào tháng 1 năm 2024 tại Lake Arrowhead, trong đó các nghi phạm khai báo rằng một con gấu đã đột nhập vào chiếc xe Rolls-Royce Ghost đời 2010.

Sở Bảo hiểm California cho biết ba nghi phạm đã sử dụng một người mặc bộ đồ hóa trang thành gấu để dàn dựng các vụ tấn công giả bên trong một chiếc Rolls-Royce và hai chiếc Mercedes trong năm 2024; sau đó, họ nộp các hồ sơ gian lận yêu cầu bồi thường gần 142.000 USD từ các công ty bảo hiểm.

Để hỗ trợ cho yêu cầu bồi thường của mình, nhóm này đã cung cấp đoạn video ghi lại cảnh vụ "tấn công" được cho là do động vật gây ra cho các công ty bảo hiểm. Theo Sở Bảo hiểm, một nhà sinh vật học thuộc Sở Cá và Động vật Hoang dã California đã xem xét đoạn video và kết luận rằng đó "rõ ràng là một người đang mặc bộ đồ hóa trang thành gấu".

Cũng theo Sở này, sau khi thực thi lệnh khám xét, các thám tử đã tìm thấy bộ đồ hóa trang hình gấu nói trên ngay tại nhà của các nghi phạm.

Ủy viên Bảo hiểm Ricardo Lara phát biểu, "Gian lận bảo hiểm là tội nghiêm trọng làm gia tăng chi phí cho người tiêu dùng, và không có tình cảnh nào quá khó khăn khi chúng tôi điều tra”.

Cảnh những chú gấu đột nhập vào nhà cửa hoặc thùng rác để tìm kiếm thức ăn đang ngày càng trở nên phổ biến tại California — từ khu vực Hồ Tahoe thuộc dãy Sierra cho đến các thành phố ở Nam California như Claremont và Fillmore, nơi một số cá thể đã bị camera ghi lại cảnh lục lọi tủ lạnh, thậm chí còn xuống tắm trong các hồ bơi và bồn tắm nước nóng ở sân sau nhà dân.

Trong khi ba trong số các nghi phạm chính đã bắt đầu chấp hành án phạt và thời gian quản chế, tiến trình pháp lý đối với cá nhân thứ tư có liên quan vẫn đang tiếp diễn.

Ararat Chirkinian hiện vẫn đang chờ xét xử, với phiên tòa tiếp theo dự kiến ​​diễn ra vào tháng 9 năm 2026.





MÙI SÀI GÒN

(Mùi phố bình yên, thân thuộc Sài gòn với cảm nhận của người HÀ NỘI )

Mùi Sài Gòn không chỉ ở những món ăn từ hàng quán, của đường phố mà còn là mùi của tình cảm mến thương giữa con người với nhau, giúp nhau với tất cả chân tình

Tuổi thơ của tôi có thật nhiều kỷ niệm đáng nhớ, trong đó đặc biệt nhất là những chuyến vào TP HCM nghỉ hè. Lần nào cũng vậy, tôi lang thang trên đường phố, mong chờ nhất được gặp một xe kem. Lơ ngơ một hồi, bỗng ở ngã tư hiện ra một chiếc xe đạp tự chế với chiếc thùng to uỵch, trên cái tủ có đúng môt chữ "Kem". Thế là sà vào, rồi cố chen cho được qua đám đông. Hồi đó kem Sài Gòn có mùi thơm thoang thoảng của chanh và vị thật đặc biệt, ngọt dịu thơm hòa lẫn với vị của những hạt mưa.

Đó là tôi của thuở bé, của khát khao được sống ở Sài Gòn. Nhớ lại Tết năm nào đó đến Sài gòn Cũng mười mấy năm rồi. Khi Tết Hà Nội lạnh thì Tết ở Sài Gòn nóng. Tết Sài Gòn thật lạ khi được uống ly nước đá me mát rượi từ gánh hàng rong ven đường.

Saìgòn lúc đó giống một mê cung huyền bí, nơi chỉ một mình một cõi, tha hồ khám phá hết các cung đường và ngõ ngách. Thành phố rộng quá, tha hồ để tôi rong ruổi cho hết bước chân của một người đã lâu ngày gặp lại.

Những tiệm bánh mì nổi tiếng ở Sài Gòn luôn tấp nập khách mua

Lần đầu tiên tôi đến TP HCM là khi còn bé tí. Là người Hà Nội nhưng tôi bị ảnh hưởng cách sống của bà, vốn có thời gian dài hoạt động trong miền Nam. Thú vui thích lang thang đường phố TP HCM cũng là từ đó. Tôi đi trên con đường đầy nắng xuân. Xa xa, mùi nước lèo len lỏi vào hai cánh mũi. Lại một mùi khói khác. Khói bếp tỏa hương. Hình như là canh bún! Tôi vẫn nhớ như in bát canh bún thơm ngon năm ấy. Chỉ là một xe bún, một chiếc bàn và ghế gỗ khiêm tốn thôi, nép mình ở góc cây hoa giấy. Hương vị món canh bún ở Sài Gòn luôn sâu đậm, khó quên với kẻ xa nhà như tôi.

Giờ này, Hà Nội đang là mùa đông. Đông mưa phùn, đông rét mướt. Còn Sài Gòn vẫn ấm, vẫn đổ mồ hôi. Tôi nhớ có năm nào đó Sài Gòn cũng lạnh, không, chỉ man mác thôi nhưng cũng đủ làm các cô cậu học trò phải mặc thêm chiếc áo khoác gió. Tôi may mắn có mặt trong cảm giác thú vị đó. Dân Sài Gòn thiệt vui! Lạnh co ro thế mà vẫn cà phê và bạc xỉu đá. Họ bảo, thói quen rồi, thói quen dễ thương

Mùi Sài Gòn không chỉ ở thức ăn. Còn là mùi của tình thương đồng loại. Giữa đường phố tấp nập, không yên tĩnh, nhưng chính cái không khí đó đã làm nảy sinh bao tình cảm mến thương giữa con người với nhau. Họ sửa nón miễn phí cho người chạy xe ôm. Họ chẳng ngại lo chuyện bao đồng, chẳng lo gì miệng lưỡi thế gian, giúp được ai trong khả năng là họ giúp, miễn là họ thấy hạnh phúc khi giúp được ai đó. Đi ngang qua góc phố cũ, thấy bà cụ bán trái cây vất vả, mấy người quanh đó đã mua hết chỗ còn lại để cụ được nghỉ sớm. Ở Sài Gòn còn có những "ông Bụt" xe ôm, "bà tiên" bán cơm. Ở Sài Gòn, tôi thường xuyên gặp được những cử chỉ có mùi yêu thương đó. Ngày ấy hết tiền đi xe ôm, tôi được chú chở miễn phí, khi biết tôi là sinh viên dù không học ở Sài Gòn. Tôi đã ăn cơm trong quán cơm 2.000, 5.000 đồng ở Sài Gòn rồi ủng hộ lại quán chút gì đó. Quán cơm như thế mọc lên để giúp đỡ người nghèo, nhưng ai cũng có thể vào ăn để cảm nhận được cuộc sống và tình thương của dân Sài Gòn.

Mùi Sài Gòn còn dịu dàng bởi sự tinh tế. Ô tô, xe máy qua lại tạo thành từng dòng như thác đổ nhưng chúng ta lại thèm cuộc sống tĩnh lặng với chim hót líu lo, với cảnh quan tươi mát, với không khí trong lành, nhưng ở Sài Gòn có rất nhiều góc để thưởng thức không gian như vậy. "Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi".

Tiếng nhạc phát ra từ quán cà phê đem lại cảm giác tươi mới và tràn đầy sức sống. Sài Gòn sôi động nhưng lúc này bỗng trở nên bình yên quá. Bình yên từ tiếng rao hàng rong trên phố. Tiếng rao của Sài Gòn gợi cho tôi nhớ lại thời thơ bé, khi cứ nằng nặc đòi ăn bánh mì thay vì ăn phở trong tiệm với gia đình. "Bánh mì Sài Gòn đặc ruột thơm bơ". Bao năm rồi tiếng rao Sài Gòn vẫn thế, vẫn như ba chục năm về trước, vẫn đượm tình cảm từ những xe, gánh hàng rong. Tiếng rao như đánh thức tâm can mệt mỏi. Đi làm về muộn, nghe tiếng rao dễ thương ta cũng thấy ấm lòng, thấy bớt cô đơn trên quãng đường đời dằng dặc.

Mùi của phố Sài Gòn đem đến cho tôi sự bình yên. Bình yên của năng động, bình yên của những tấm lòng hướng thiện không thể ngồi yên khi thấy những cảnh đời chưa được an vui.

Sưu tầm




Elon Musk vs Giáo hoàng Leo XIV


Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên sau khi nhậm chức, Giáo hoàng Leo XIV đã nhắc đến Elon Musk. Ngài nói: "Musk đã trở thành tỷ phú nghìn tỷ đầu tiên trên thế giới. Điều đó có nghĩa là gì? Nếu đó là điều duy nhất quan trọng, thì chúng ta đang gặp rắc rối lớn." 

Ngài cũng nói rằng 60 năm trước, các CEO được trả lương gấp bốn đến sáu lần so với người lao động bình thường, trong khi hiện nay con số đó là gấp 600 lần. Musk không im lặng. Ông đáp trả trên X bằng một câu trích dẫn từ sách Phúc âm Ma-thi-ơ 7:3: "Ngươi thấy cái bụi trong mắt anh em mình, mà không thấy cái xà trong mắt mình." Hàm ý là: trước khi chỉ trích người khác, hãy tự xem xét bản thân mình.

Câu Kinh Thánh mà Musk trích dẫn là một lời phản bác ngầm: Vatican, với hàng thế kỷ tích lũy của cải và quyền lực, lấy quyền gì để phán xét người khác? 

Giáo hội Công giáo sở hữu bất động sản trên toàn thế giới có diện tích tương đương với tiu bang Texas, bao gồm các đại sứ quán, nhà thờ, thánh đường, trường học và tu viện. Riêng Nhà thờ Thánh Patrick trên Đại lộ số 5 ở New York đã trị giá hàng tỷ đô la. Việc tích lũy tài sản của Giáo hội trải dài hai thiên niên kỷ, sử dụng các phương pháp kém minh bạch hơn nhiều so với thị trường vốn ngày nay. 

Vào thời Trung cổ, giấy xá tội được bán cho các tín đồ như những tấm vé lên thiên đường; khẩu hiệu được lưu truyền rộng rãi là, "Khoảnh khắc đồng xu được ném vào hộp, linh hồn sẽ thăng thiên từ luyện ngục." Việc bán giấy xá tội trên quy mô lớn thậm chí còn trực tiếp dẫn đến cuộc Cải cách của Martin Luther. 

Giáo hội cũng được hưởng các miễn thuế dài hạn. Vatican nắm giữ cổ phần đáng kể trên thị trường chứng khoán Ý, với các khoản đầu tư trải rộng trên các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, hóa chất, thép, xây dựng và bất động sản, nhưng lại tránh được việc nộp thuế cổ tức, khiến truyền thông cánh tả Ý gọi họ là "kẻ trốn thuế lớn nhất nước Ý". 

Ngân hàng Vatican vẫn hoạt động mờ ám về mặt tài chính, quản lý khối tài sản ước tính từ 90 đến 100 tỷ euro, phần lớn trong số đó chưa bao giờ được công khai. 

Thật thú vị khi thấy một người quản lý tổ chức tích lũy tài sản lâu đời nhất, lớn nhất và đa dạng nhất trong lịch sử thế giới lại chỉ trích sự giàu có của người khác.

FB Du Di



LỜI KÊU GỌI MA QUỶ !

Trên chuyến bay từ Cameron tới Angola trong chuyến công du Châu Phi, Pope Leo XIV trả lời phóng viên rằng ông không có hứng thú thảo luận với TT Trump về chiến tranh ở Iran!

Pope Leo XIV cũng nói thêm khi ông phát biểu về WAR & PEACE là nói CHUNG CHUNG chứ không nói riêng về cuộc xung đột tại Iran, và khi dùng từ TYRANT, ông cũng không ám chỉ ai (?), mà do truyền thông mạng diễn dịch quá xa, gây nên xáo trộn!

Nói thành thật, khi đọc những trần tình nói trên, tôi cảm thấy quá sức thất vọng, một người đứng đầu VATICAN như Pope Leo XIV mà tư cách quá kém cỏi !

Những gì Pope Leo XIV phát biểu trong thời gian gần đây khiến công luận phản ứng dữ dội, bây giờ Pope Leo XIV PHỦI một phát sạch trơn!

Nhưng dù ông nói thế nào thì trong vai trò một Giáo Hoàng, ông đã đánh mất niềm tin của khá đông người có Đạo Thiên Chúa, còn người không có đạo đả kích thái độ thiên tả, đạo đức giả, thiển cận ..v.v. của ông thì vô số, không kể hết được!

Người ta vạch trần SỰ THẬT là không đợi tới chiến tranh MỸ, ISRAEL & IRAN, mà từ khi còn là HỒNG Y ROBERT F. PREVOST, Pope Leo XIV đã chống TT Trump một cách mạnh mẽ, nhất là về CHÍNH SÁCH ĐÓNG CỬA BIÊN GIỚI, TRỤC XUẤT DI DÂN LẬU của TT Trump !

Vừa khi trở thành Giáo Hoàng, ông đã xoá bớt một số tút có tính cách hằn học với Trump (?)

Khi Mỹ & Israel không có chọn lựa nào khác hơn là phải dùng sức mạnh quân sự để triệt hạ dã tâm tàn bạo của chế độ thần quyền Iran, Pope Leo XIV công khai nói hành động gây chiến của Mỹ & Israel Là PHI NGHĨA (unjust) . Ông nói “Đừng lợi dụng danh Chúa để biện hộ cho chiến tranh, Thượng Đế không đứng về phía người cầm gươm và bom đạn!

Khi TT Trump cầu nguyện “God bless our soldiers!”thì Pope Leo XIV tuyên bố “Thượng đế không lắng nghe cầu nguyện của những người gây chiến, tay dính đầy máu ( Trích Isaah 1:15)”

Khi gạch đá ném tới tấp về phía mình vì những tuyên bố đầy bản chất thiên tả, ủng hộ cái ÁC, đả kích những hành động bảo vệ an toàn của nước Mỹ và cả thế giới trước dã tâm TÀN BẠO của chế độ thần quyền Iran, Pope Leo XIV lươn lẹo chối bỏ tất cả những gì ông đã tuyên bố ?

Khi TT Trump đưa ra giới hạn 10 ngày cho chế độ Tehran, nếu không mở cửa eo biển Hormuz hoàn toàn vô điều kiện thì TT Trump sẽ ra lịnh tiêu diệt Iran trong một đêm !

Pope Leo XIV không hề nói tới Trump khi nói về chiến tranh ?

- Vậy ai đã nói “LỜI ĐE DOẠ TIÊU DIỆT IRAN TRONG MỘT ĐÊM LÀ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC!”?

- Vậy ai đã nói CUỘC CHIẾN TẠI IRAN LÀ PHI NGHĨA ( UNJUST )?

Tôi mới đọc một bản tin về Pope Leo XIV và PTT JD Vance, cả 2 đều có vẻ muốn HẠ NHIỆT nên dịu giọng, nhưng những gì Pope Leo XIV tuyên bố đã khắc sâu vào tâm trí người Mỹ, không dễ gì quên được. Chúng phơi bày trọn vẹn một đầu óc thiên tả không tưởng, bị lũ ma quỷ ám chướng nên thốt ra những lời cực kỳ trái tai!

Không hiểu bạn sẽ nghĩ gì nếu bạn có cơ hội nghe một thiếu nữ trẻ Iran nói với gương mặt buồn thảm, rằng Cô sẵn sàng chết nhưng chỉ muốn Mỹ tiêu diệt chế độ ma quỷ tại Tehran, Cô bảo bạn không ở Iran như Cô nên không thể hiểu được hoàn cảnh thê thảm của Cô, vì vậy đừng ĐẠO ĐỨC GIẢ, lên tiếng ngăn Mỹ tiến hành dội bom lên đầu bọn IRGC !

Pope Leo XIV nói ông rao giảng PHÚC ÂM, KIẾN TẠO HOÀ BÌNH, KHUYẾN KHÍCH SỐNG CHUNG HOÀ HỢP THÂN THIỆN GIỮA NGƯỜI CHRISTIANS VÀ NGƯỜI ISLAMISTS ?

Pope Leo XIV tới Lebanon và tuyên bố rằng Lebanon là điển hình tuyệt vời nhất về sự hoà hợp thân thiện giữa người Christians và người Islamists?

Một phụ nữ từng sống ở Lebanon lên mạng chế diễu Pope Leo XIV, Cô nói tất cả là một màn kịch cho Pope Leo XIV xem và ông này đã tin tưởng một cách ngớ ngẩn!

Thật là mỉa mai khi một Giáo Hoàng, luôn dẻo miệng nói về yêu thương, hoà bình, lại tuyên bố những câu MỘT CHIỀU rất tởm.

Suốt 47 năm qua, người dân Iran như sống trong địa ngục cực kỳ dã man khủng bố, họ không có chọn lựa nào khác, phải xuống đường dù phải chết. Những thanh niên nam nữ đầy nhiệt tình lại bị chế độ Tehran giết hại, tàn sát mà con số đã lên tới gần 40000 người chỉ trong 3 tháng đầu năm 2026!

Thế mà Pope Leo XIV chẳng hề có lấy một câu để quan tâm tới tình trạng đau thương của người dân Iran. Ông cũng chẳng để mắt tới tình trạng bị giết hại tràn lan của những người Christians tại Nigeria, những nạn nhân thê thảm của bọn dân quân hồi giáo tại nước này. Thời gian của ông là để tìm mọi lý lẽ để tấn công Trump và ca ngợi sự hiệp thông với người hồi giáo ?

Nói về Pope Leo XIV làm tôi nhớ tới một nhân vật khác của MIỀN NAM VIỆT NAM trước 1975, đó là thằng giặc trọc THÍCH NHẤT HẠNH!

Lão trọc này cũng có cách hành xử rất giống với Pope Leo XIV !

TNH ăn hạt gạo của VNCH nhưng đầu óc lại cảm tình với lũ cộng sản Hà Nội. TNH kêu gọi hoà bình nhưng lại ca ngợi lũ cộng sản Hà Nội và dựng đứng những điều không thật để tố cáo VNCH trước thế giới. Năm 1973, vụ HOÀ ĐÀM PARIS, TNH đưa ra đề nghị của lão - Quân đội VNCH không được hành quân tìm diệt CS, phải đóng quân một chỗ. TNH không hề đả động gì tới những sư đoàn CS Bắc Việt đang đóng quân trên đất miền nam, chẳng khác gì lão muốn quân đội VNCH tự trói tay cho kẻ thù tập bắn ?

Pope Leo XIV cũng y như thế, ông ta tố cáo Mỹ & Israel gây ra cuộc chiến mà ông cho là PHI NGHĨA, nhưng lại không có lấy một lời phản đối tham vọng giết người của chế độ hồi giáo Iran !

Bi hài là ngay cả Hồng Y Piertro Parolin, Secretary Of State của Vatican, cũng kêu gọi người Thiên Chúa Giáo hãy đứng cùng với Pope Leo XIV, đừng để LỜI KÊU GỌI HOÀ BÌNH của ông ta tan loãng trong sa mạc ?

Kêu gọi hoà bình của Pope Leo XIV là gì? Phải chống Mỹ & Israel, bãi bỏ phong toả, bồi thường chiến tranh, dễ dãi cho chế độ Tehran tiếp tục tinh lọc Uranium để chế tạo vũ khí hạt nhân? Là khuyến khích người dân Mỹ bớt sợ người hồi giáo và sống chung thân thiện, hữu hảo với họ?

Đó là lời kêu gọi của ma quỷ, chứ có phải kêu gọi hoà bình gì đâu!

Huỳnh Hậu




HỐI HẬN MUỘN MÀNG Ở HOUSTON



Tôi ký vào đơn ly hôn vào một buổi chiều trời Houston nhiều mây.
Không có mưa. Nhưng bầu trời xám xịt, nặng như có gì đè xuống lòng người.
Cây bút trên tay tôi không hề run. Tôi ký rất nhanh, gần như theo phản xạ, như ký một hợp đồng mua bán bình thường.

Ký xong, tôi còn đẩy tờ giấy về phía Mai, giọng thản nhiên:
“Xong rồi.”

Mai không nói gì.
Em chỉ nhìn xuống tờ giấy, nơi có tên tôi vừa ký, rất lâu. Lâu đến mức tôi bắt đầu thấy khó chịu.

Một lúc sau, em mới khẽ gật đầu:
“Ừ… vậy là xong.”

Giọng em nhẹ. Không trách móc. Không oán hận.
Chính cái giọng nhẹ đó… sau này, tôi mới hiểu, là thứ ám ảnh nhất đời mình.

Tôi gặp Mai năm 2007, khi cả hai còn tay trắng.
Tôi lúc đó là một thằng hết hạn visa, sống chui lủi, ban ngày bưng phở ở khu Bellaire, tối về nằm trong căn phòng trọ nhỏ, không cửa sổ, nóng như lò.
Còn Mai đứng quầy thu tiền.

Ngày đầu tiên tôi làm, em hỏi tôi một câu rất đơn giản:
“Anh ăn gì chưa?”

Tôi lắc đầu.
Em lẳng lặng bưng ra cho tôi một tô phở nhỏ.
Không tính tiền.
Tôi nhớ rất rõ cảm giác lúc đó, không phải vì tô phở ngon, mà vì lần đầu tiên, giữa đất khách này, có người nhìn tôi như một con người.

Chúng tôi quen nhau, rồi thương nhau lúc nào không biết.
Những ngày đó nghèo lắm.
Tiền nhà trả từng tuần. Tiền xăng phải tính từng đồng. Có những đêm tôi nằm quay mặt vào tường, giả vờ ngủ, vì trong túi không còn nổi 5 đô.
Sáng hôm sau, dưới gối luôn có 20 đô.

Tôi hỏi:
“Tiền đâu ra vậy?”

Mai cười:
“Tiền tip thôi mà.”

Tôi biết em nói dối. Nhưng tôi không hỏi thêm.
Vì hỏi… thì sẽ thấy mình nhỏ lại.

Có lần tôi nói với em:
“Mai này anh khá lên, anh sẽ bù cho em gấp trăm lần.”

Mai gật đầu, cười rất tươi:
“Em không cần gấp trăm. Chỉ cần anh đừng bỏ em là được.”

Lúc đó tôi còn cười, cho rằng em nói cho vui.
Tôi không biết… đó là điều duy nhất em cần.

Rồi cuộc đời đổi khác.
Tôi học lại, đi làm, vào được một công ty lớn. Từ một nhân viên bình thường, tôi lên dần.
Có tiền. Có nhà ở Sugar Land. Có xe đẹp. Con trai tôi, thằng Tommy, học trường tư.
Bề ngoài, tôi là một người thành công.
Nhưng bên trong… tôi bắt đầu thay đổi.

Tôi quen Emily, một cô gái trẻ, xinh đẹp, mới vào công ty.
Cách nó nhìn tôi… làm tôi quên mất mình đã là ai.

Một buổi tối, tôi về nhà, nói với Mai:
“Anh nghĩ… mình nên dừng lại.”

Mai đang rửa chén. Tay em khựng lại.
Nhưng em không quay ra ngay.

Một lúc sau, em mới hỏi:
“Dừng… là sao anh?”

Tôi thở dài, nói thẳng:
“Anh hết yêu em rồi.”

Câu nói đó… tôi nói rất dễ dàng.
Dễ đến mức, sau này nghĩ lại, tôi tự hỏi:
Làm sao một con người có thể lạnh đến vậy?

Mai không khóc. Không gào. Không giữ. Em chỉ lặng lẽ lau tay, đi vào phòng, rồi mang ra một cái hộp nhỏ. Trong đó là giấy tờ mới soạn viết.
Em đặt trước mặt tôi:
“Anh ký đi.”
Tôi ký.
Nhanh như ký một tờ giấy vô nghĩa.
Tôi không biết… tôi vừa ký vào cái chết của chính gia đình mình.

Vài ngày sau là giỗ ba vợ.
Tôi vẫn về.
Không phải vì còn tình nghĩa, mà vì… không muốn mang tiếng.
Nhà cũ ở khu Alief. Mẹ vợ mở cửa, nhìn tôi. Không cười. Không mời vào.
Chỉ nói:
“Vô thắp nhang cho ba nó đi.”

Tôi bước vào. Trên bàn thờ là di ảnh ông Sáu. Ánh mắt ông nhìn thẳng ra ngoài.
Bình thản. Nhưng tôi… không dám nhìn lâu.
Mẹ vợ đứng phía sau, giọng trầm xuống:
“Hồi xưa… ổng không cho tụi bây cưới.”
Tôi im lặng.
“Con Mai nó quỳ ngoài sân… từ tối tới khuya…”
“Đầu gối chảy máu… mà không chịu đứng dậy.”

Tay tôi cầm nhang bắt đầu run.
“Nó nói với ổng… ‘Ba ơi, ảnh nghèo nhưng ảnh không bỏ con…’”
Tôi nghe tới đó… cổ họng nghẹn lại.
“Mày nhớ lúc mày phá sản không?”
Tôi gật nhẹ.
“Đêm đó… nó đi bán máu.”
Tôi sững người.
“Bán luôn cái nhẫn cưới… để đóng tiền điện.”
Tôi phải vịn bàn mới đứng vững.
“Nó sảy thai… một mình trong bệnh viện…”
“Mà không cho gọi mày.”
“Nó nói… ‘Ảnh đang lo tương lai cho gia đình…’”

Tôi nhắm mắt lại.
Lần đầu tiên… tôi thấy mình không còn xứng đáng làm người.
Mẹ vợ nói nhỏ:
“Trước khi ổng mất… ổng chỉ nói một câu…”
Tôi đứng im.
“Ổng nói… ‘Tội con Mai…’”
Chỉ một câu đó… mà như ai bóp nát tim tôi.

Hôm sau, Mai gọi tôi.
“Anh… ra nghĩa trang với em được không?”
“Lần cuối thôi.”
Tôi đồng ý.

Trời Houston hôm đó mưa.
Không lớn. Nhưng lạnh.
Mai mặc lại chiếc áo dài cưới cũ.
Màu đã ngả hơi vàng.
Em quỳ xuống trước mộ ba.
“Ba ơi…”
Giọng em run.
“Con xin lỗi…”
Rồi em bật khóc.
Không còn kìm được nữa.
“Ba ơi… con đau quá…”
“Con giữ hoài… mà không giữ được…”

Tôi đứng phía sau.
Chân như bị đóng xuống đất.
Không dám lại gần.
Một lúc sau, Mai quay lại nhìn tôi.
Mắt em đỏ, nhưng nước mắt vẫn còn chảy.
“Anh còn nhớ cái nhẫn 25 cent không?”
Tôi lặng người.
Em lấy ra một chiếc nhẫn nhựa.
Đã nứt.
“Anh nói sau này sẽ mua kim cương cho em…”
Tôi cúi đầu.
Mai lắc đầu, giọng nghẹn lại:
“Em không cần kim cương…”
“Em chỉ cần anh của năm đó…”
Em nhìn thẳng vào tôi:
“Anh… trả lại cho em được không?”

Tôi không trả lời được.
Vì tôi biết…
người đàn ông đó…
đã chết rồi.

Mai đặt chiếc nhẫn xuống đất.
Nói rất nhẹ:
“Chôn đi… để em khỏi nhớ.”

Tôi quỳ xuống.
Nhặt chiếc nhẫn lên.
Nó nhẹ… mà sao tay tôi nặng trĩu.

Ngày ra tòa.
Thẩm phán hỏi:
“Hai người còn muốn hòa giải không?”

Mai nói ngay:
“Không.”

Tôi chậm chạp.. rồi nói:
“…Có.”

Nhưng đã quá trễ.
Mai ký.
Không do dự.
Tôi chạy theo ra ngoài.
“Mai!”
Em không quay lại.
Thằng Tommy ngồi trong xe.
Nó nhìn tôi qua cửa kính.
Ánh mắt đó… tôi chưa từng thấy. Không giận. Không khóc. Chỉ… xa lạ.
“Dad…”

Tôi tiến lại gần.
Tim đập loạn.
Nó hỏi:
“Lúc mẹ nằm bệnh viện… ba ở đâu?”
Tôi đứng chết. Tôi không trả lời được.

Tommy gật đầu nhẹ, như đã hiểu.
Rồi nó nói một câu… mà cả đời này tôi không quên:
“Vậy… con cũng không biết ba là ai nữa.”

Cửa kính từ từ chạy lên.
Chiếc xe lăn bánh.
Tôi chạy theo.
Đập vào cửa kính:
“Tommy! Cho ba xin lỗi! Ba sai rồi!”

Chiếc xe chậm lại một giây.
Tôi tưởng… còn cơ hội.
Cửa kính hạ xuống.
Tommy nhìn tôi. Giọng rất bình tĩnh:
“Mẹ nói… nếu có ngày ba quay lại…”
Tôi nín thở…
“…thì đừng quay lại làm ba của con nữa.”

Tim tôi như vỡ ra.
… “…hãy quay lại như một người lạ.”

Cửa kính đóng lại. Chiếc xe đi thẳng. Không dừng.
Lần này…
là thật sự không bao giờ dừng nữa.

Tôi đứng giữa bãi xe.
Trời vẫn mưa. Tay tôi nắm chặt chiếc nhẫn nhựa nứt.
Lúc đó tôi mới hiểu… trên đời này… có những thứ mất đi…
không phải vì hết yêu.
Mà vì…
mình đã phản bội nó…
khi nó còn nguyên vẹn nhất.

Và có những lời xin lỗi…
dù có nói cả đời…
cũng không còn ai để nghe nữa.

Phạm Sơn Liêm










Tránh Eo này thì gặp cái "eo" khác

Chuyện cái eo biển ở bên xứ Ba Tư chiếm hết dư luận cũng như 'quan ngại' của thế giới suốt nhiều ngày nay... Nó cũng làm cho nhiều thường dân biết đến mức quan trọng của các cái eo khác trên tuyến thông thương đại dương quốc tế.

Riêng những nhà hoạch định chiến lược thế giới thì đó thật sự là những con bài quan trọng bậc nhất về địa chính trị. Một điểm nóng và gần Việt Nam nhất (khoảng 650km) là "Dự án Kênh đào Kra", nằm trong chiến lược "Vành đai Con đường" - BRI của Trung Quốc, dự kiến được xây dựng trên đất Thái Lan để tránh Eo biển Malacca. Nếu kênh Kra này thành hiện thực, Việt Nam vừa có cơ hội lớn, vừa chịu sức ép cạnh tranh rất lớn. Theo tính toán của các chuyên gia thì Singapore mất khoảng 30% sản lượng, Việt Nam có thể mất 10–15% tăng trưởng cảng nếu không chuẩn bị.

Nhưng cái "Dự án Kênh đào Kra" này cũng không dễ ăn, một cái đùi gà chọi đầy gân, hay một thế lưỡng đầu nan giữa Tàu và Thái! Một con kênh chưa đào đã chia đôi Thái Lan, và đẩy Trung Quốc vào canh bạc $28 tỷ đô chưa thấy lối thoát.

Nếu nhìn trên bản đồ, eo đất Kra ở miền Nam Thái Lan chỉ là một vệt đất hẹp dài 102 km. Nhưng trong 10 năm qua, vệt đất ấy đã trở thành lằn ranh địa chính trị sắc nhất Đông Nam Á. Nó buộc Bangkok phải chọn giữa Washington và Bắc Kinh. Và nó buộc Bắc Kinh phải chọn giữa tham vọng và rủi ro.

Cơn khát Malacca và giấc mơ “Suez châu Á”. Mọi thứ bắt đầu từ nỗi ám ảnh có tên “Malacca Dilemma” (thế lưỡng nan Malacca). Eo biển Malacca dài 1,000 km nhưng chỗ hẹp nhất chỉ 2.5 km. Mỗi năm 84,000 con tàu chen qua, chở 80% dầu nhập cảng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Dự báo 2025, con số lên 140,000 tàu, vượt xa công suất 120,000.

Với Bắc Kinh, Malacca là yết hầu. Mỹ có căn cứ ở Singapore, có Hạm đội 7, có căn cứ quân sự Diego Garcia. Khi chiến tranh Đài Loan nổ ra, Washington chỉ cần khóa eo biển vài tuần là kinh tế Trung Quốc nghẹt thở.

Kênh Kra hứa hẹn giải thoát. Đào xuyên eo đất, nối thẳng Ấn Độ Dương với Vịnh Thái Lan, tàu sẽ rút ngắn 1,200 km và tiết kiệm 2 đến 3 ngày. Một tàu dầu 100,000 tấn bớt $350,000 đô tiền dầu mỗi chuyến. Trên bản vẽ của công ty Trung-Thái, kênh rộng 400 m, sâu 20 m, đủ cho siêu tàu VLCC đi hai chiều. Tổng chi phí $28 tỷ đô, làm 10 năm. Nếu dùng công nghệ đắt, 7 năm sẽ xong với $36 tỷ đô.

Với Thái Lan, đó là giấc mơ đổi đời. Hiệp hội Văn hóa Kinh tế Thái-Trung (TCCEAT) tuyên bố kênh sẽ “chấm dứt suy thoái kinh tế Thái và biến nước này thành trung tâm hàng hải toàn cầu, sánh với kênh Panama”. Thu phí tàu, phí cảng, khu công nghiệp, việc làm. Miền Nam nghèo khó sẽ hóa Singapore thứ hai.

Ngày 15/5/2015, giấc mơ cứ tưởng thành thật. Công ty China-Thailand Kra Infrastructure Investment and Development ký 'Biên bản ghi nhớ' ở Quảng Châu. Truyền thông Trung Quốc 'hồ hởi phấn khởi' đồng loạt đưa tin: “Suez châu Á” sắp khởi công.

Bốn ngày sau, giấc mơ chết lâm sàng. Ngày 19/5/2015, Chính phủ Thái Lan ra thông cáo: không có thỏa thuận nào với Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Bắc Kinh cũng nói “không có kế hoạch tham gia”. Dự án chìm xuống, không một cuốc xẻng nào được đào.

Vì sao? Vì cả hai nhận ra cái giá phải trả. Với Bangkok, đào kênh đồng nghĩa chia ba mối lo. Thứ nhất, chia cắt đất nước. Kênh tách miền Nam đa số Hồi giáo khỏi phần còn lại, tiếp lửa cho phong trào ly khai. Quân đội Thái sợ mất kiểm soát. Thứ hai, mất bạn cũ. Singapore mất vị thế cảng số một, mất thị trường cung ứng và mua bán nhiên liệu cho tàu biển lớn nhất thế giới. Malaysia, Indonesia mất phí eo Malacca. Cả ASEAN quay lưng. Thứ ba, rước kẻ thù mới. Mỹ coi kênh Kra là đường thoát giúp Trung Quốc phá vòng vây Malacca. Washington đã mua Westports Malaysia qua BlackRock, tăng cường căn cứ của Philippines, và ngầm nhắn Bangkok: đào kênh là chọn phe.

Với Bắc Kinh, rót tiền đồng nghĩa đánh cược. $28 tỷ đô có thể thành $50 tỷ nếu đào xuyên dãy núi Tenasserim cao 4,600 ft. Nếu Thái Lan bất ổn nội bộ, đổi chính phủ có nguy cơ hủy dự án, tiền mất trắng. Nếu kênh xây xong nhưng Bangkok ngả theo Mỹ, tàu Trung Quốc vẫn có thể bị cấm qua khi có chiến tranh. Và tệ nhất, thế giới sẽ gọi Trung Quốc là “thực dân mới” dám cắt đôi một quốc gia vì lợi ích riêng.

Thế là kênh Kra thành một thứ “dự án Schrödinger”, không ai biết chắc nó còn sống hay đã chết. Vừa sống trong hội thảo và bản đồ BRI, vừa chết trong thông cáo chính phủ Thái. Vừa được nhắc mỗi khi Mỹ siết Malacca, vừa bị phủ nhận mỗi khi cần lòng tin Washington.

Vậy ván cờ 10 năm này, ai giữ dao, ai nắm cán? Trung Quốc cầm :con dao tiền". Năm 2018, viện nghiên cứu chính sách Carnegie đánh giá kênh “có thể sớm thành hiện thực như một phần Vành đai Con đường”. Mỗi khi thương vụ BlackRock ở Malacca bị chặn, Bắc Kinh lại đưa kênh Kra lên bàn. Đó là cách nhắc Mỹ: các ông khóa Malacca, tôi mở đường khác.

Thái Lan nắm cán địa lý. Bangkok dùng dự án làm lá bài mặc cả. Cần vốn Trung Quốc thì cho khảo sát. Cần vũ khí Mỹ thì ra thông cáo phủ nhận. Thủ tướng nào lên cũng hứa “nghiên cứu thêm”, nhưng 10 năm không có xẻng đất nào lật lên.

Cả hai kẹt ở thế không ly hôn, không chung giường. Thái Lan không dám đào nếu Trung Quốc không bảo kê an ninh trước Mỹ. Trung Quốc không dám bỏ tiền trong nỗi lo ngại Thái Lan có thể quay xe.

Khi ông Trump ra sức siết vòng vây, thế kẹt càng chặt và chuyện này có vẻ ngày càng rõ hơn. Ở Malacca, Mỹ hậu thuẫn BlackRock mua 43 cảng của CK Hutchison, trong đó có Westports Malaysia ngay eo biển. Bắc Kinh chặn thương vụ, càng thấy cần kênh Kra. Ở Manila, Pete Hegseth tuyên bố mở rộng căn cứ EDCA lên 9 điểm, triển khai rocket Typhon. Ở Bangkok, Washington ngầm ra giá: từ bỏ kênh Kra, đổi lấy đầu tư và bảo đảm an ninh.

Thái Lan vì thế đứng giữa hai làn đạn. Đào kênh thì mất Mỹ và ASEAN, mất luôn miền Nam nếu ly khai. Không đào thì mất $28 tỷ đô, mất cơ hội thoát bẫy thu nhập trung bình, và mãi mãi lệ thuộc Malacca do Mỹ kiểm soát.

Trung Quốc cũng đứng giữa hai làn đạn. Đổ tiền thì sợ mất trắng và mang tiếng. Không đổ tiền thì Malacca mãi là yết hầu, và giấc mơ “Con đường Tơ lụa trên biển” khuyết một mắt xích then chốt và dĩ nhiên cái "sáng kiến Vành đai Con đường" cũng nghẽn mạch.

Tương lai dự đoán sẽ có ba kịch bản cho 102 km định mệnh này

Kịch bản một: Đóng băng vĩnh viễn. Khả năng cao nhất. Kênh Kra tiếp tục làm “dự án Schrödinger” 20 năm nữa. Hội thảo vẫn họp, bản đồ vẫn vẽ, nhưng không ai đào. Dùng để mặc cả. Malacca vẫn nghẽn, nhưng chiến tranh Đài Loan không nổ, nên không ai mạo hiểm.

Kịch bản hai: Đào trong khủng hoảng. Nếu Mỹ phong tỏa Malacca thật, Bắc Kinh bơm tiền khẩn cấp, Bangkok bật đèn xanh xây cấp tốc 7 năm. Khi đó phản đối cũng muộn. Singapore và Malaysia chỉ còn cách đàm phán thương lượng về mức phí.

Kịch bản ba: Chết chính thức. Thái Lan ký hiệp ước an ninh với Mỹ, công khai hủy dự án, đổi lấy FTA hoặc căn cứ. Trung Quốc chuyển sang hành lang Myanmar hay tuyến Bắc Cực. Kênh Kra đi vào sách sử.

'Con kênh chưa đào chưa có nước chảy qua...' (nhớ thời cả nước làm thuỷ lợi ghê) kênh chưa đào nhưng đã chia đôi tất cả.

Điều trớ trêu là kênh Kra chưa đào nhưng đã chia cắt Thái Lan. Chia giữa phe thân Mỹ và phe thân Trung Quốc. Chia giữa miền Bắc và miền Nam. Chia giữa giấc mơ trung tâm hàng hải và nỗi sợ mất chủ quyền.

Với Trung Quốc, kênh Kra là phép thử tàn nhẫn: BRI có đủ sức khiến một đồng minh lâu năm của Mỹ tự cắt đất mình không. Mười năm qua, câu trả lời là chưa.

Với Thái Lan, kênh Kra là phép thử khác: một nước tầm trung có thể đu dây mãi giữa hai siêu cường không. Mười năm qua, câu trả lời là có, nhưng cái giá là không ai còn tin mình tuyệt đối.

Kênh Kra vì thế không chỉ là 102 km đất và nước. Nó là 102 km lưỡng nan. Là nơi tham vọng gặp thực tế, và cả hai cùng mắc kẹt. Chừng nào Mỹ còn "giữ" Malacca, chừng đó Bắc Kinh và Bangkok còn phải sống trong thế vừa muốn vừa sợ này. Và con kênh sẽ tiếp tục tồn tại theo cách duy nhất nó biết: vừa sống, vừa chết, chờ một cuộc khủng hoảng đủ lớn để mở chiếc hộp bí ẩn của Schrödinger.

Xứ Việt có câu tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, Tàu tránh Eo này lại gặp cái 'eo' khác

FB Uyen Vu





HẠNH PHÚC LÀ GÌ?


Hạnh phúc là buổi sớm
Mở mắt thấy an nhiên
Một hơi thở thật nhẹ
Cũng đủ ấm lòng riêng.

Hạnh phúc là rất khẽ
Khi buông xuống muộn phiền
Không cần thêm gì nữa
Chỉ cần lòng bình yên.

Hạnh phúc không quá lớn
Chẳng ở tận chân trời
Đôi khi là chén nước
Giữa lúc lòng chơi vơi.

Hạnh phúc là hiểu được
Sau giông gió cuộc đời
Nước mắt rơi lặng lẽ
Dạy ta biết mỉm cười.

Hạnh phúc không phải giữ
Mọi thứ ở bên mình
Mà là khi dám mất
Vẫn thấy lòng lặng thinh.

Hạnh phúc là chia sẻ
Một ánh nhìn, bàn tay
Cho đi mà không đợi
Nhận lại điều gì ngay.

Hạnh phúc đôi khi lạ
Chỉ một phút dừng chân
Nghe tim mình rất thật
Không vướng bận, phân vân.

Đừng đi tìm xa quá
Hạnh phúc vốn đang gần
Ngay trong từng khoảnh khắc
Ta sống thật với tâm.

Rồi một ngày sẽ hiểu
Giữa thế gian xoay vần
Hạnh phúc không rực rỡ
Chỉ cần… đủ ấm lòng

ST



Blog Archive