Tuesday, April 21, 2026

Nỗi Buồn Tháng Tư: Những Người Không Chịu Chết 



Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về - không hẳn chỉ là những con người - mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.

(Hôi Nghị Quốc Tế Bandung, Indonesia, 2015)

LÁ CỜ KHÔNG CHỊU CHẾT! Đó là lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ tượng trưng cho tinh thần dân chủ và tự do của mọi người Việt khao khát một cuộc sống an lành, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm. Lá cờ này không nhất thiết đại diện cho một chế độ hay một chính phủ nhất thời mà là một sự tiếp nối truyền thống lâu đời của một dân tộc hào hùng.

Nền vàng của lá cờ bắt nguồn từ cả ngàn năm trước, thuở Hai Bà Trưng quyết đánh đuổi quân Hán xâm lược, “đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Một số vì vua sau đó cũng dùng cờ vàng để làm biểu hiệu cho quốc gia. Lá cờ vàng được thêm thắt, sửa đổi về sau để thành cờ Long Tinh (triều Nguyễn 1920-1945), cờ quẻ ly (chính phủ Trần Trọng Kim) và cuối cùng là cờ quẻ càn, hay lá cờ vàng ba sọc đỏ mà chúng ta có ngày nay, được dùng trong thời kỳ Quốc Gia Việt Nam (1949-1955) và Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975).

Xem như thế đủ hiểu rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của một dân tộc, thấm đẫm hồn thiêng của tổ quốc từ đời này qua đời khác. Ngày 30 tháng Tư năm 1975, lúc cả trăm ngàn người miền Nam bỏ chạy ra khỏi nước để trốn tránh một chế độ độc tài sắp áp đặt xuống phần đất phương nam, lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng cùng mọi người đi tìm tự do. Lúc ấy, lá cờ vàng như vị thần hộ mệnh, đi theo đoàn người viễn xứ để bảo bọc, che chở họ, đồng thời giữ vững, hâm nóng ngọn lửa tự do dân chủ trong lòng họ.

Trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, chưa có lá cờ dân tộc nào tồn tại dai dẳng và kiêu hùng nơi xứ người như lá cờ vàng ba sọc đỏ, tính đến nay đã hơn bốn mươi năm trời, và còn biết bao nhiêu năm tháng trước mặt nữa. Không những sống vững, sống mạnh trong các cộng đồng người Việt tự do khắp thế giới, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn tiếp tục “sinh sôi nẩy nở” khắp nơi trên những phần đất tự do của các quốc gia sở tại.

Cách đây vài năm, như một phép lạ diệu kỳ, tại hội nghị quốc tế Bandung ở Indonesia vào tháng 4-2015, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại hiên ngang sánh vai với các các lá quốc kỳ khác với tư cách là lá cờ của một quốc gia hội viên. Đây là một ngoại lệ vô tiền khoáng hậu! Trên nguyên tắc, một hội nghị quốc tế không bị ràng buộc phải trưng một lá cờ của một quốc gia không tồn tại về mặt pháp lý. Ấy vậy mà hội nghị Bandung đã làm một việc mà ngay cả những nguyên tắc ngoại giao quốc tế cũng khó mà giải thích. Riêng ở Hoa Kỳ, đã có khoảng 14 tiểu bang, 7 quận hạt và 88 thành phố chính thức công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho cộng đồng người Việt tự do sinh sống nơi đây.

Hằng năm, vào các dịp lễ lạt cổ truyền hay sinh hoạt cộng đồng, lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn phất phới tung bay như góp vui với mọi người. Nơi tôi ở—Little Saigon, Orange County—cứ mỗi độ 30 tháng Tư về là các đường phố chính rợp bóng cờ vàng, xen lẫn với lá cờ của nước sở tại. Mỗi buổi sáng trong mùa tháng Tư Đen, vừa lái xe ra khỏi cổng tôi đã thấy những lá cờ vàng tung bay bên lá cờ sao Hoa Kỳ. Tôi vừa vui vừa buồn khi nhìn những lá cờ thân yêu ấy. Hy vọng một ngày nào đó không xa, khi đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia tự do, dân chủ, toàn dân sẽ đồng lòng chọn lá cờ vàng truyền thống để làm biểu tượng cho tinh thần bất khuất ngàn năm của người Việt Nam.

THÀNH PHỐ KHÔNG CHỊU CHẾT! 

Thành phố Sài Gòn, cho dẫu trong hiện tại có phải “mang tên xác người”, cũng như lá cờ vàng ba sọc đỏ, là một “thành phố không chịu chết”. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng tên gọi Sài Gòn không bao giờ mất đi trên môi những người Việt xa xứ. Không những vậy mà ngay tại Sài Gòn, tên gọi này cũng không những không mai một đi mà còn tồn tại song song với cái tên xác người. Đối với người dân thành phố, người ta vẫn nói “mưa Sài Gòn, nắng Sài Gòn” chẳng hạn—nghe vừa thân mật lại vừa thơ mộng— chứ chẳng ai biết “nắng mưa thành phố hồ chí minh” là cái chi chi! Một buổi sáng thức dậy trong lòng thành phố, bạn có thể nghe tiếng người cười nói lao xao ngoài ngõ, tiếng xe cộ, tiếng kèn xe, mùi khói xe lẫn với mùi cà-phê và hủ tiếu.

Và bạn bảo tất cả những âm thanh cùng những mùi khác nhau trộn lẫn lại đó là một cái gì rất đặc trưng của thành phố này, rất “Sài Gòn”; chứ chẳng có ma nào nói, tất cả những điều đó là một cái gì rất “thành phố hồ chí minh”! Loại ngôn ngữ khiên cưỡng đó tự nó đã sượng sùng, ngượng nghịu nên không bao giờ có dịp thoát ra khỏi đôi môi người nói. Thêm nữa, không biết bao nhiêu công ty, cửa tiệm, nhãn hiệu hàng hoá ngày nay vẫn còn ưu ái mang tên Sài Gòn trong thành phố (bị xui xẻo) mang tên “người… chết” này! Thành phố có thể đang tạm mất tên nhưng cái hồn Sài Gòn vẫn còn đó, trong từng con người đang thở mỗi ngày ở đó, chờ dịp thực sự hồi sinh.


Ở hải ngoại, Sài Gòn không những không chết đi trong lòng những người dân Việt lưu vong mà còn thoát thai sống lại thành những Sài Gòn mới trên đất nước tự do xứ người. Đây là những “Little Saigon” đã mọc lên ở những nơi có đông người Việt cư ngụ. Những nơi có tên Little Saigon chính thức có thể kể đến là ở Westminster (California), San Jose (California), San Francisco (California), Sacramento (California), San Diego (California), Houston (Texas), Vancouver (Canada), v.v. Đó là chưa kể những khu Little Saigon mang tên chưa chính thức khắp nơi trên Hoa Kỳ và thế giới mà sinh hoạt thương mại, văn hoá, chính trị cũng rộn rịp không kém gì những Little Saigon chính thức.

Những bảng tên đường tiếng Việt nhắc nhở đến Sài Gòn có thể tìm thấy ở Houston (Texas) hay Little Saigon (California), hay những bảng chỉ đường vào Little Saigon trên các xa lộ ở California đã đánh dấu sự “sinh sôi nẩy nở” của Sài Gòn không khác chi trường hợp của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Sài Gòn không những không chết đi mà còn tiếp tục nở rộ ra như những bông hoa biểu hiện cho dân chủ, nhân quyền trên khắp các vùng đất tự do trên thế giới. Một mai không xa, những Sài Gòn nhỏ này sẽ sum vầy cùng Sài Gòn lớn, như những dòng sông hân hoan đổ về biển rộng, cùng hát bài “Hội trùng dương” trong ngày hội lớn của dân tộc.

…VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHỊU CHẾT! 

Những người không chịu chết này là những người phải bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận sống dưới một chế độ phi nhân, độc tài. Về chủ nghĩa cộng sản, rất nhiều danh nhân thế giới đã phát biểu những danh ngôn vô cùng sâu sắc, thấm thía. Tuy nhiên, không gì hay bằng nghe chính những người đã từng là cộng sản nói về nó. Một trong những người này là ông Boris Yeltsin, vị tổng thống đầu tiên của nước Nga hậu cộng sản (nhiệm kỳ 1991-1999). Ông Yeltsin đã từng là đảng viên Đảng Cộng Sản Nga trong 29 năm (1961-1990) và từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Xô-viết.

Vào năm 1989, một trong những năm cuối cùng của Liên Bang Xô-viết, ông Yeltsin thực hiện một chuyến công du sang Hoa Kỳ. Trên danh nghĩa, lúc này ông vẫn còn là một người cộng sản. Trong chuyến công du, ông phát biểu như sau, do tạp chí The Independent của Anh tường thuật lại: “Let’s not talk about communism. Communism was just an idea, just pie in the sky”. (Xin tạm dịch: “Đừng nhắc đến chủ nghĩa cộng sản nữa. Chủ nghĩa cộng sản chỉ là một ý tưởng, chỉ là một cái bánh vẽ trên nền trời”). Những người trốn chạy cộng sản—hay trốn chạy “cái bánh vẽ” này—ở tất cả những nước đã từng bị hiểm hoạ này, kể cả ở Việt Nam, giờ đây đã trở thành những người không chịu chết. Nói như vậy là nói với một ý nghĩa có tính cách biểu tượng.


Người viết muốn nhấn mạnh rằng đa số những người tị nạn cộng sản không bao giờ quên được vì sao họ đã trốn chạy. Khi đã an thân ở chốn tự do, họ không chịu chấp nhận một lối sống mòn, sống cho qua ngày đoạn tháng, cho hết kiếp lưu vong. Sống như vậy cũng không khác gì đã chết. Vì vậy, đa số vẫn hướng lòng về quê hương, vẫn xót xa khi thấy đồng bào trong nước bị đàn áp dưới chế độ của bạo quyền. Mỗi người trong họ vẫn làm một điều gì đó, bằng cách này hay cách khác, để góp phần vào công cuộc tranh đấu chung của dân tộc cho một ngày mai không còn hiểm hoạ cộng sản trên quê hương. Cũng cần phải thấy rằng những người “không chịu chết” này là những người “không sợ chết” khi họ đã liều mình ra khơi, nơi mạng sống chỉ như sợi chỉ mành treo chuông. Ngày nay, những người không chịu chết này không chỉ là bậc ông, cha, chú của thế hệ lưu vong đầu tiên mà còn là cả thế hệ thanh niên gốc Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Thế hệ trẻ này không cam tâm, ích kỷ hưởng thụ cuộc sống tự do dân chủ mà mình đã may mắn có từ được lúc ra đời. Họ đã cùng đứng lên, sát cánh với cha ông đấu tranh cho tự do, dân chủ ở quê nhà bằng nhiều hình thức khác nhau.

Ở Việt Nam, ngoài thiểu số được hưởng đặc quyền đặc lợi, sẵn sàng làm lơ trước đau khổ của đồng bào, hay thậm chí đàn áp, hành hung người dân vô tội, đa số người Việt Nam cũng là những người không chịu chết, không chịu thua trước cường quyền. Họ là những nhà dân chủ sẵn sàng hy sinh sự an toàn của bản thân và gia đình để cất lên tiếng nói phản đối những điều trái tai gai mắt do chế độ gây ra trong xã hội. Họ là những người dân oan bị tước đoạt nhà cửa, đất đai, dám chấp nhận cảnh lấy trứng chọi đá để bảo vệ tài sản mồ hôi nước mắt của mình. Họ là tất cả những người nghe tiếng gọi của dòng máu Lạc Hồng trong huyết quản, đặc biệt là thế hệ trẻ, dám đứng lên để cất tiếng đòi lại những phần đất nước máu thịt của tổ quốc đang bị bọn cầm quyền “hèn với giặc, ác với dân” nhượng bộ cho chủ nghĩa bành trướng Đại Hán từ mấy ngàn năm nay.

Bốn mươi lăm năm đã trôi qua, kể từ khi miền Nam lọt vào tay bạo quyền cộng sản. Đó là một thời gian dài đối với một đời người ngắn ngủi, nhưng lại chỉ như là một khoảnh khắc phù du trong lịch sử, nhất là lịch sử của một đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến. Lá cờ không chịu chết - thành phố không chịu chết - những người không chịu chết, tất cả những thực thể không chịu chết đó chính là biểu hiện của một đất nước không chịu chết. Đất nước chúng ta như đang trải qua một căn bệnh ngặt nghèo. Nhất định đất nước sẽ hồi phục một ngày không xa. Với niềm tin vào lịch sử, vào thực tế và vào tinh thần bất khuất của mỗi người dân Việt, chúng ta có quyền chờ đón một ngày đất Việt sẽ lại được thái bình thịnh trị như xưa.

Trần C. Trí





CHUỘT NUTRIA

Loai chuột Nutria xuất xứ từ Louisiana, Được treo giải thưởng, cứ 1 đuôi chuột nhà nước Mỹ trả 6 dollars, ghê thật !!! .... Giữ lại chiếc đuôi khổng lồ của nó và gửi đến Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.

Ở đó, họ đang có chương trình treo thưởng 6 USD, tương đương 153.000 VNĐ, cho mỗi chiếc đuôi chuột Nutria mà bạn bắt được.

....kể từ khi xuất hiện ở tiểu bang Louisiana vào năm 1930, để nhân lên thành một quần thể 20 triệu con. Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Chỉ cần nhậ̣̣̣p cảng mấy tên bợm nhậu nam kỳ thì chẳng bao lâu sẻ có quán nhậu với chuột xã ớt, quay chảo, quay lu, khìa, xào lá cách, chiên dòn xúc bánh tráng... E rằng Mỹ sẽ sớm ra luật bảo vệ chuột Nutria thôi .

Những con chuột này không chỉ là bữa ăn miễn phí, bạn vừa có thể ăn chúng, lại vừa kiếm được tiền.

Trở thành một người vừa sành ăn, vừa yêu nước lại góp phần bảo vệ môi trường ở Mỹ chưa bao giờ dễ dàng đến thế. Bạn chỉ cần đến một bờ đê gần nhà, tìm một con chuột Nutria, bắt nó về làm thịt.

Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) sau đó sẽ ghi nhận việc làm của bạn như một thành tích đáng để tuyên dương.

"Các loài động vật xâm lấn [như chuột Nutria] đang chèn ép động vật hoang dã bản địa, hủy hoại môi trường sống và tàn phá hệ sinh thái", Erin Huggins, người phát ngôn của cơ quan Chính phủ Mỹ cho biết.

"Nhưng thay vì chỉ phàn nàn về chúng, hãy đưa chúng vào menu. Bằng cách ăn thịt các loài này, chúng ta sẽ giảm được số lượng và hạn chế các thiệt hại mà chúng gây ra cho hệ sinh thái, đồng thời bảo vệ được quần thể động vật hoang dã địa phương".

Loài chuột khổng lồ này đang đe dọa nước Mỹ, đến nỗi chính phủ phải khuyến khích người dân ăn thịt chúng

Trong trường hợp bạn chưa biết chế biến thịt chuột Nutria như thế nào, đừng lo lắng, FWS có hẳn một trang web gợi ý các công thực làm thịt chuột mà bạn có thể thử từ món hầm, làm súp, cho đến chuột xào ớt chuông.

"Thịt của chúng rất nạc, mềm và có vị như thịt thỏ", Huggins cho biết.

Nhưng dù bạn có ý định chế biết thịt chuột Nutria thành món gì đi chăng nữa, hãy chú ý một điều: Giữ lại chiếc đuôi khổng lồ của nó và gửi đến Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Ở đó, họ đang có chương trình treo thưởng 6 USD, tương đương 153.000 VNĐ, cho mỗi chiếc đuôi chuột Nutria mà bạn bắt được.

Vì vậy, những con chuột này không chỉ là bữa ăn miễn phí, bạn vừa có thể ăn chúng, lại vừa kiếm được tiền. Tất cả là bởi…

Chuột Nutria đang bị "truy nã" trên toàn nước Mỹ

Nutria là một loài gặm nhấm thuộc họ chuột gai có danh pháp khoa học là Myocastor coypus. Vốn là một loài bán thủy sinh chỉ sống ở Nam Mỹ, nhưng vài thập nien nay, chuột Nutria lại trở thành nỗi ác mộng sinh thái ở Hoa Kỳ.

Mọi chuyện bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, sau khi một thương nhân nào đó có ý tưởng nhập khẩu loài chuột nước này vào Mỹ để nuôi lấy lông. Chuột Nutria đã phục vụ ngành công nghiệp áo lông thú ở quốc gia này trong nhiều thập kỷ, trước khi, chúng tìm được đường trốn thoát khỏi các trang trại nuôi thú tập trung và trở thành một loài hoang dã xâm lấn.

Chỉ một cặp chuột Nutria duy nhất trong một năm có thể sinh tối đa 793 hậu duệ.
Chỉ một cặp chuột Nutria xuất hiện ngoài môi trường đã trở thành vấn đề, bởi loài gặm nhấm này có tốc độ sinh sản cực kỳ siêu việt. Một con chuột cái có thể mang thai tới 3 lần trong 1 năm. Mỗi lần, chúng đẻ trung bình từ 4 đến tối đa 13 con. Tính ra, một cặp chuột Nutria có thể đẻ từ 12 đến tối đa 39 con non trong một năm.

Những con non này cai sữa mẹ chỉ sau 7 tuần, và đạt tới độ trưởng thành trong vòng 3-4 tháng thay vì một năm như các loài động vật kh. Chuột mẹ có thể vừa nuôi con và vừa giao phối để thụ thai lứa tiếp theo chỉ 1 ngày sau khi sinh.

Như vậy, những con chuột con ở lứa đầu tiên đã có thể sinh sản cùng với mẹ mình ngay từ chu kỳ thứ 2. Chúng sẽ đẻ ra từ 16 đến 169 chuột cháu.

Những con chuột cháu này tiếp tục chỉ mất 3-4 tháng để đẻ tiếp thế hệ chuột chắt tiếp theo, từ 64-676 con. Quá trình này song song với chuột Nutria con thế hệ thứ ba, tiếp tục đẻ ra 12-39 chuột cháu non nữa.

Tính ra, chỉ một cặp chuột Nutria duy nhất trong một năm có thể sinh tối đa 793 hậu duệ, bao gồm 52 con, 234 cháu và 507 chắt về mặt lý thuyết. Nếu tính con số trung bình trong vòng đời 3 năm, chúng có thể đẻ 2.356 hậu duệ, với 36 con, 288 cháu, 592 chắt, 704 chút và 736 chít.

Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Đó là lý do tại sao loài sinh vật này chỉ mất 20 năm, kể từ khi xuất hiện ở tiểu bang Louisiana vào năm 1930, để nhân lên thành một quần thể 20 triệu con. Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Và đó mới chỉ là con số tính riêng cho một tiểu bang ở Mỹ, từ hơn 70 năm trước. Bây giờ, loài chuột này đã xuất hiện ở 30/50 tiểu bang của Hoa Kỳ, sinh sôi trên cấp độ quần thể ở 16 tiểu bang, từ vùng duyên hải Vịnh Mexico đến bờ Thái Bình Dương và Đông Bắc Đại Tây Dương.

Với tốc độ sinh sản kỷ lục, khả năng thích nghi đáng kinh ngạc và thiếu thiên địch trong tự nhiên, chuột Nutria hiện được coi là một trong những loài xâm hại nguy hiểm nhất nước Mỹ.

Nhưng rốt cuộc, chúng nguy hại thế nào?

Một con chuột Nutria bơi dưới nước có thể trông giống một con capybara, với cái đầu to, hai mắt, hai tai và lỗ mũi đều ở trên đỉnh đầu để quan sát và hít thở. Nhưng bạn đừng để vẻ ngoài đáng yêu đó của nó đánh lừa.

Ngay khi bước lên cạn, loài chuột nước này sẽ lộ nguyên hình là một kẻ phản diện đích thực. Trông chúng như một con chuột cống khổng lồ.

Nutria có thể nặng tới 17 kg, nghĩa là gấp 30 lần cân nặng của những con chuột cống to nhất.

Với kích thước cơ thể trung bình khoảng 40-60 cm, chưa tính 45 cm chiều dài đuôi, một con Nutria có thể nặng tới 17 kg, nghĩa là gấp 30 lần cân nặng của những con chuột cống to nhất.

Sống ở các khu vực ngập nước, chuột Nutria thường ăn thực vật thủy sinh như cỏ nước, lau, sậy. Nhưng một khi lọt được vào khu vực nông nghiệp của con người, chúng sẽ ăn cả ngô, mía và lúa mì.

Một con Nutria cần một lượng thức ăn tương đương ¼ trọng lượng cơ thể chúng mỗi ngày. Nghĩa là chúng có thể ăn tới 4 kg thực vật. Oái oăm ở chỗ, loài chuột nước này lại chỉ thích ăn rễ cây. Một khi chúng đào bật rễ cây lên để ăn, cả cái cây đó sẽ chết.

Mức độ tàn phá sinh khối thực vật của một con Nutria vì vậy tăng lên gấp 10 lần lượng thực vật mà chúng thực sự ăn. Các nhà khoa học cho biết ở những khu vực mà Nutria xuất hiện, ít nhất 40% thảm thực vật sẽ bị phá hoại.


Nutria chỉ thích ăn rễ cây. Một khi chúng đào bật rễ cây lên để ăn, cả cái cây đó sẽ chết.

Khi thảm thực vật bị phá hủy với tốc độ nhanh, đất đai mất đi lớp rễ cây giữ chặt sẽ trở nên dễ bị xói mòn và sạt lở, đặc biệt ở những vùng đất ngập nước hoặc ven sông. Điều này sẽ làm mất môi trường sống của nhiều loài động vật khác, từ côn trùng, chim chóc đến các loài thủy sinh, gây rối loạn cân bằng sinh thái.

Lấy ví dụ, ở khu bảo tồn sinh thái Blackwater National Wildlife Refuge ở Maryland, chuột Nutria đã xâm chiếm khoảng 2.832 ha đất ngập nước, nơi từng là nơi sinh sống của các loài chim nước bản địa như vịt đen Mỹ (Anas rubripes).

Số liệu từ Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ cho thấy quần thể vịt đen ở đây đã suy giảm tới 50% từ năm 1930 đến 1990 sau sự xuất hiện của chuột Nutria.

Tương tự tại vùng đồng bằng Sacramento-San Joaquin ở California, từ năm 2018, chuột nutria phá hủy 25% thảm thực vật ven đê, làm suy yếu môi trường sống của các loài cá bản địa như cá hồi Chinook (Oncorhynchus tshawytscha), vốn đã giảm 80% quần thể từ năm 1980.

Quần thể chuột xạ hương (Ondatra zibethicus), một loài gặm nhấm bản địa ở Louisiana, cũng đã bị suy giảm 30% vì sự xuất hiện của Nutria. Trên thực tế, loài chuột ngoại lai này thường cướp hang của chuột xạ hương bản địa và đẩy chúng vào cảnh không nhà.

Và bởi chuột Nutria to gấp rưỡi chuột xạ hương, hang của chúng cũng to và sâu gấp rưỡi loài chuột bản địa này.

Hậu quả là sau khi cướp nhà của chuột xạ hương, chuột Nutria sẽ đào chúng ra thành những chiếc hang khổng lồ, rộng tới 30 cm và dài tới 15 mét. Cá biệt, có những hang chuột Nutria dài tới 45 mét đã được xác nhận ở một số khu vực.

Việc hang của chuột xạ hương bị thay thế bởi hang Nutria đã khiến hệ thống cơ sở hạ tầng như đê điều, mương thủy nông, kè sông và đường sá ở Mỹ vốn không được chuẩn bị cho tình huống này bị suy yếu. Nutria đe dọa cả móng nhà và bến tàu ở các khu vực đất ngập nước mà chúng sinh sống.

Ước tính mỗi năm, loài động vật này gây ra thiệt hại lên tới hàng chục triệu USD cho hoạt động kinh tế, nông nghiệp và cơ sở hạ tầng ở các tiểu bang Hoa Kỳ. Đó là chưa kể đến những thiệt hại to lớn, vĩnh viễn và không thể đong đếm được trên hệ sinh thái mà sự xâm lấn của loài động vật ngoại lai này gây ra.

Một khu vực đầm lầy bị chuột Nutria tàn phá.

Người ta đã rào một khu vực nhỏ lại để ngăn không cho chuột Nutria phá phách.


Sau khi thảm thực vật phát triển trở lại.

Khu vực rào chắn được bảo vệ phát triển tốt hơn rất nhiều.

So với thảm thực vật bị Nutria tàn phá xung quanh.

Thưởng tiền cho thợ săn chuột Nutria, khuyến khích người dân ăn thịt chúng

Để chống lại cuộc xâm lược của loài chuột khổng lồ này, từ năm 2002, bang Louisiana đã triển khai một chương trình tiễu trừ Nutria trên diện rộng. Ban đầu, họ sử dụng các loại bẫy mồi đơn giản để bắt Nutria. Nhưng khi số lượng quần thể loài chuột này tăng lên, bẫy mồi đã không còn tác dụng đáng kể.

Chính quyền tiểu bang sau đó chuyển sang đánh bả chuột Nutria trên diện rộng bằng các bè chứa thức ăn được ngâm trong kẽm photphua, một loại thuốc diệt chuột đắt tiền. Vấn đề là kẽm photphua có thể tiêu diệt cả các loài chuột bản địa khác và hóa chất này cũng độc hại khi tồn tại lâu trong môi trường.

Đây là lúc ý tưởng treo thưởng cho các thợ săn chuột được tính đến.

Dưới sự hậu thuẫn của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Sở Động vật hoang dã và Thủy sản Louisiana đã đưa chuột Nutria ra khỏi danh sách động vật hoang dã, vốn bị cấm săn bắn. Thay vào đó, họ còn cấp phép và khuyến khích các thợ săn diệt trừ loài chuột xâm lấn này. Mỗi chiếc đuôi chuột Nutria thu thập được, các thợ săn sẽ được thưởng 4 USD. Số tiền thưởng thập chí còn tăng lên 6 USD từ năm 2007.

Kết quả của chương trình treo thưởng rất đáng kích lệ khi ngay trong năm đầu tiên, 2002-2003, đã có hơn 300.000 con Nutria đã bị tiêu trừ. Hơn 1,2 triệu USD tiền thưởng đã được giải ngân.

Đỉnh điểm trong mùa 2009-2010, hơn 445.000 chiếc đuôi chuột Nutria đã được thu thập, giải ngân khoản tiền thưởng hơn 2,2 triệu USD cho các thợ săn.

Chính quyền Louisiana ban đầu không quan tâm đến việc các thợ săn Nutria sau khi chặt đuôi Nutria sẽ làm gì với thịt của nó. Nhưng có một công ty đã được thành lập ở tiểu bang này chuyên đi thu mua thịt chuột Nutria để chế biến thành thức ăn cho chó.

Một thợ săn chuột Nutria.

Năm 2012, công ty có tên là Marsh Dog đã được trao giải thưởng "Doanh nghiệp bảo tồn môi trường của năm", vì ý tưởng tận dụng loại protein từ thịt chuột Nutria một cách bền vững.

Các thợ săn Nutria từ đó có thể thu thập đuôi chuột để kiếm tiền thưởng, bán thịt chuột cho công ty sản xuất thức ăn thú cưng, và họ còn có thể quên góp lông của chúng cho Righteous Fur, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thu thập lông Nutria để giới thiệu nó trở lại ngành thời trang lông thú, trước đây từng bị lên án mạnh mẽ vì góp phần đẩy nhiều loài động vật có lông vào nguy cơ tuyệt chủng.

Righteous Fur, đúng như tên gọi của nó là "Lông thú chính nghĩa", muốn kết hợp việc sử dụng lông Nutria vào việc giáo dục công chúng về các giải pháp bảo vệ môi trường bền vững, tập trung vào các vùng đất ngập nước mà Nutria đang tàn phá.

Chuột Nutria được đem vào Mỹ từ thế kỷ 19 để phục vụ ngành thời trang lông thú.

Trong một nỗ lực gần đây nhất để kiếm soát chuột Nutria, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) đã đưa loài động vật này vào một "menu" 5 loài động vật xâm lấn mà con người có thể ăn để bảo vệ môi trường.

Họ đang cố gắng thuyết phục người dân Mỹ ăn thịt chuột Nutria vì thịt của loài vật này "rất nạc và ngon". Phân tích thành phần cho thấy thịt Nutria chứa tới 25% protein, trong khi rất ít chất béo, chỉ khoảng 3-5% so với 20% béo ở thịt bò. Ngoài ra, thịt Nutria còn chứa nhiều khoáng chất như sắt và kẽm rất tốt cho sức khỏe.

Một số món ăn chế biến từ thịt Nutria.

Để tăng thêm phần hấp dẫn cho chiến dịch kêu gọi, cơ quan chính phủ Mỹ từng mời một số đầu bếp nổi tiếng sáng tạo ra các món ăn từ thịt chuột Nutria như món súp gumbo, xúc xích, thịt hầm. Những đầu bếp cũng xác nhận vị thịt của loài chuột này về cơ bản ngọt và ngon như thịt thỏ. Nó cũng có vị giống thịt gà và mọi người đều có thể ăn được.

Một số món ăn chế biến từ thịt Nutria.

Mặc dù vậy, nhiều người dân Mỹ vẫn thờ ơ với lời kêu gọi ăn thịt chuột Nutria của FWS. Các khảo sát cho thấy phần lớn họ không thoát được khỏi so sánh Nutria với một con chuột khổng lồ, loài vật mà trong văn hóa Phương Tây vốn bị kinh sợ và họ không có truyền thống ăn thịt chúng.

Thanh Long


Tulsi Gabbard và Kash Patel chuẩn bị điều trần

Tulsi Gabbard và Kash Patel chuẩn bị tung ra thông tin gây chấn động tại Washington D.C.: Vũ khí sinh học COVID, các cuộc bạo loạn BLM do Soros tài trợ, và âm mưu đảo chính phản quốc của phe Dân chủ nhằm thiết lập Trật tự Thế giới Mới chống lại nước Mỹ

● Jonathan Gregory

Washington, D.C. - 20/04/2026

Washington đang chuẩn bị cho vụ nổ chính trị thế kỷ khi Tulsi Gabbard và Kash Patel chuẩn bị công bố một hồ sơ chắc chắn vạch trần vai trò của Đảng Dân chủ trong âm mưu đáng sợ của Trật tự Thế giới Mới nhằm lật đổ nền Cộng hòa. Được trang bị hàng núi bằng chứng đã được thu thập, bộ đôi này sẽ vạch trần cách một nhóm phản quốc, làm việc với CIA, các nhà tài chính toàn cầu như George Soros và các đồng minh trong nước của họ, đã phát động một chiến dịch thay đổi chế độ quy mô lớn chống lại Donald Trump để giành quyền kiểm soát vĩnh viễn nước Mỹ và kéo quốc gia này vào một trật tự toàn cầu không biên giới, phá hủy chủ quyền. 

Những gì đã diễn ra vào năm 2020 không phải là sự hỗn loạn ngẫu nhiên; Đó là một cuộc đảo chính được dàn dựng tỉ mỉ, sử dụng chính xác kịch bản mà CIA từng triển khai ở nước ngoài, giờ đây hướng vào chính người dân Mỹ. Trump đã cảnh báo chúng ta về kẻ thù nội bộ, đã sống sót sau những trò lừa bịp luận tội, các âm mưu ám sát và các vụ bắt giữ theo kiểu chiến tranh pháp lý, và giờ đã đến lúc vạch trần sự gian lận này và buộc những kẻ gây ra phải chịu trách nhiệm.

Cuộc tấn công bắt đầu bằng việc cố tình phát tán COVID-19 như một hành động phá hoại kinh tế, một tác nhân sinh học được thiết kế để mô phỏng sự gián đoạn theo kiểu Dự án Mongoose, tàn phá nền kinh tế kỷ lục của Trump với việc buộc phải đóng cửa, mất việc làm hàng loạt và sụp đổ chuỗi cung ứng, tất cả đều bị đổ lỗi một cách trắng trợn cho tổng thống. 

Sau đó là các cuộc bạo loạn "Mùa hè tình yêu" do Soros tài trợ của BLM và ANTIFA, nơi các đặc vụ được CIA và USAID hậu thuẫn đã biến các cuộc biểu tình ôn hòa thành hỗn loạn bạo lực bằng cách sử dụng các chiến thuật Áo nâu giống hệt như các hoạt động thời Chiến tranh Lạnh của Cơ quan này ở Iran, Guatemala và Chile. Các thành phố bị đốt cháy, các doanh nghiệp bị phá hủy, và bạo lực bị đổ lỗi một cách mỉa mai cho những người ủng hộ Trump là "những kẻ phân biệt chủng tộc", tạo ra vỏ bọc hoàn hảo cho cuộc bầu cử năm 2020 bị đánh cắp. 

Đỉnh điểm là ngày 6 tháng 1; Một cái bẫy được dàn dựng đầy rẫy những kẻ khiêu khích liên bang, an ninh lỏng lẻo có chủ đích dưới sự giám sát của Pelosi, và những đoạn phim bị che giấu về việc tiến vào một cách hòa bình, tất cả đều bị CIA kiểm soát lợi dụng để bôi nhọ Trump, biện minh cho việc kiểm duyệt hàng loạt và củng cố cuộc đảo chính dưới chế độ mới.

Donald Trump đứng vững như một bức tường thành bất khả xâm phạm chống lại sự phản bội trong nước này. Họ đã cố gắng luận tội ông, gian lận bầu cử, ám sát ông nhiều lần và bỏ tù ông với những cáo buộc bịa đặt, nhưng ông vẫn đứng lên hết lần này đến lần khác, mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn và quyết tâm hơn trong việc cứu vãn nền Cộng hòa. 

Với bài trình bày gây chấn động này, những ngày hoạt động trong bóng tối của "nhà nước ngầm" đã kết thúc. Toàn bộ phạm vi của vũ khí sinh học COVID, các cuộc bạo loạn do Soros dàn dựng và cuộc đảo chính phối hợp gần như đã chấm dứt chủ quyền của Mỹ cuối cùng sẽ được tiết lộ. Người dân Mỹ xứng đáng được biết sự thật, và những kẻ chủ mưu phản bội của cơn ác mộng Trật tự Thế giới Mới này sắp phải đối mặt với công lý. Nền Cộng hòa không chỉ tồn tại mà còn sẽ chiến thắng.

@TrumpNews



Ký ức Tháng Tư – Khi “đàn bò vào thành phố”

Tháng Tư năm đó, trời Sài Gòn không nắng gắt như mọi năm. Không hiểu sao, nắng nhạt như vừa bị ai rút mất linh hồn. Những con đường quen bỗng trở nên xa lạ, như thể thành phố đã linh cảm được điều gì đó đang đến.

Người ta bắt đầu nói nhỏ với nhau. Không còn những câu chuyện ồn ào quán cà phê, không còn tiếng cười tự nhiên. Mọi thứ như bị bóp nghẹt bởi một nỗi chờ đợi nặng nề.

Rồi buổi sáng ấy cũng đến.
Không có khải hoàn ca. Không có ánh hào quang như những lời tuyên truyền sau này. Chỉ có tiếng xích sắt nghiến trên đường, tiếng giày dép lẫn lộn, và những đoàn người lạ tràn vào thành phố—ngơ ngác, lấm lem, ánh mắt vừa tò mò vừa chiếm hữu.

Người Sài Gòn đứng nép bên lề. Họ nhìn.
Và họ hiểu.

“Đàn bò vào thành phố” ai đó buột miệng nói nhỏ, rồi im bặt. Không phải để miệt thị, mà là một cách diễn tả sự ngỡ ngàng trước một thế giới va chạm: một bên là đời sống đô thị từng quen với tự do, một bên là những con người bước ra từ chiến tranh, mang theo cả một hệ thống niềm tin khác biệt.

Những ngày sau đó, thành phố thay đổi nhanh hơn người ta kịp nhớ.
Những bảng hiệu bị tháo xuống. Những cửa tiệm đóng cửa. Những gia đình lặng lẽ biến mất sau một đêm—người đi “học tập”, người tìm đường vượt biển. Tiếng nhạc cũ không còn vang lên. Thay vào đó là loa phường, là những bài ca mới, là những khẩu hiệu cũ kỹ nhưng lặp lại đến mòn tai.

Ba tôi vẫn ngồi trước hiên nhà mỗi chiều, nhìn con đường từng tấp nập giờ thưa dần. Ông không nói nhiều, chỉ hút thuốc. Mỗi điếu thuốc tàn đi, như một phần ký ức bị đốt cháy.

Má tôi thì lặng lẽ hơn. Bà gói ghém mọi thứ như thể chuẩn bị cho một chuyến đi mà không biết bao giờ trở lại. Những bữa cơm trở nên đạm bạc, nhưng nỗi lo thì đầy lên.

Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết. Chỉ nhớ rõ một điều: người lớn không còn cười như trước.

Một buổi tối, điện cúp. Cả nhà ngồi trong bóng tối. Ngoài kia, thành phố cũng chìm trong im lặng lạ lùng.

Ba nói khẽ, như nói với chính mình:
“Có những ngày, một dân tộc mất nhiều hơn một thành phố.”

Không ai trả lời. Nhiều năm sau, khi đã rời xa nơi ấy, tôi vẫn nhớ về tháng Tư như một vết cắt không lành. Không chỉ là mất mát vật chất, mà là sự đứt gãy của một đời sống, một niềm tin, một cách làm người.

Người ta có thể gọi đó là “giải phóng”. Nhưng trong ký ức của nhiều người, đó là ngày bắt đầu của những cuộc chia ly.

Và mỗi khi tháng Tư trở lại, tôi vẫn thấy đâu đó trong lòng mình một thành phố cũ, một buổi sáng im lặng, và hình ảnh “đàn bò vào thành phố” không phải bằng chân, mà bằng định mệnh.

Sau đêm mất điện ấy, thành phố như bước sang một đời khác.
Sáng hôm sau, người ta xếp hàng.
Xếp hàng mua gạo.
Xếp hàng mua nhu yếu phẩm. Xếp hàng… để được sống một cách hợp lệ. Những con người từng quen với lựa chọn, bỗng phải học lại cách chờ đợi. Không ai dạy, nhưng ai cũng hiểu: từ nay, mọi thứ đều phải xin.

Ba tôi không còn ngồi trước hiên nữa. Một ngày, người ta đến gọi tên ông. Không ồn ào, không giải thích dài dòng. Chỉ là một tờ giấy, vài câu nói ngắn gọn: “Đi học tập.”

Má tôi đứng chết lặng. Tôi không hiểu “học tập” là gì, chỉ thấy cái cách ba xếp lại chiếc áo sơ mi cũ, chậm rãi như thể ông biết chuyến đi này sẽ rất dài. Trước khi đi, ông nhìn tôi, đặt tay lên đầu:
“Ở nhà nghe lời má.”
Câu nói giản đơn, nhưng ánh mắt ông lúc đó… như gửi lại cả một đời.

Ba đi, rồi không có tin tức, kể từ đó ba không trở về nữa…
Thành phố tiếp tục đổi thay. Những căn nhà bị “quản lý”. Những người lạ dọn vào, nói cười lớn tiếng, dùng những vật dụng mà chủ cũ từng nâng niu. Có những đêm, tôi thấy má ngồi lặng trước bàn thờ, không khóc, nhưng đôi vai rung nhẹ.

Người ta bắt đầu rời đi.
Ban đầu là vài người. Sau đó là nhiều người. Tin đồn về những chuyến vượt biển lan đi như gió. Nguy hiểm, ai cũng biết. Nhưng ở lại—dường như cũng là một kiểu nguy hiểm khác, âm thầm hơn.
Một tối, má gọi tôi lại.
“Con có sợ không?”
Tôi không trả lời. Chỉ nắm chặt tay bà.

Vài tuần sau, chúng tôi lên đường.
Không hành lý nhiều. Không lời từ biệt. Chỉ có một đêm tối và một con thuyền nhỏ chờ ở đâu đó ngoài bến nước.

Biển đêm rộng và lạnh.
Con thuyền chở đầy người những gương mặt căng thẳng, những ánh mắt không dám nhìn nhau lâu. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một mất mát, và một hy vọng mong manh.
Có lúc sóng lớn tưởng chừng lật úp tất cả. Có tiếng trẻ con khóc. Có người cầu nguyện. Có người im lặng như đã giao phó số phận.
Tôi nằm sát vào má, nghe nhịp tim bà đập nhanh trong bóng tối.

Lần đầu tiên, tôi hiểu thế nào là sợ.
Nhưng cũng là lần đầu tiên, tôi cảm nhận rõ một điều: người ta có thể bị đẩy ra khỏi nhà, khỏi thành phố, khỏi quê hương… nhưng vẫn cố giữ một thứ vô hình—niềm tin rằng ở đâu đó, mình sẽ lại được sống như một con người đúng nghĩa.

Chúng tôi may mắn sống sót. Nhiều năm sau, ở một đất nước xa lạ, tôi lớn lên. Học một ngôn ngữ khác. Làm quen với một cuộc đời khác. Nhưng mỗi khi tháng Tư về, ký ức cũ lại trở lại, không cần gọi.

Má vẫn giữ thói quen cũ: nấu một bữa cơm đơn giản, thắp nhang, và ngồi rất lâu trước bàn thờ ba.

Phải rất lâu sau, chúng tôi mới biết: ba không bao giờ trở về. Không mộ. Không bia. Chỉ là một cái tên tan vào những trại cải tạo xa xôi, nơi mà thời gian không được đo bằng ngày tháng, mà bằng sự chịu đựng.

Tôi từng tự hỏi: Điều gì còn lại sau tất cả?
Không phải là hận thù, dù nó từng rất gần.
Không chỉ là nỗi buồn, dù nó vẫn còn đó.
Mà là ký ức. Một thứ ký ức không thể xóa, không thể thay thế, và cũng không thể truyền đạt trọn vẹn cho những ai chưa từng sống qua.

Thành phố bây giờ đã khác. Người ta nói nó phát triển, hiện đại, rực rỡ hơn. Có thể đúng. Nhưng với những người như tôi, luôn tồn tại hai Sài Gòn: một của hôm nay, và một của trước tháng Tư. Và giữa hai thành phố ấy là một khoảng lặng không bao giờ lấp đầy.

Nhiều năm trôi qua, tôi bắt đầu hiểu một điều: có những mất mát không ồn ào, nhưng kéo dài suốt một đời.

Ở xứ người, chúng tôi học cách sống lại từ đầu. Má đi làm sớm, về muộn. Những công việc lặng lẽ, không ai hỏi quá khứ. Tôi lớn lên giữa hai thế giới: ban ngày là ngôn ngữ mới, bạn bè mới; ban đêm là những câu chuyện cũ, những cái tên chưa bao giờ được quên.

Có những buổi tối, má kể về Sài Gòn. Không phải Sài Gòn sau này, mà là Sài Gòn trước tháng Tư nơi có tiếng xe, tiếng nhạc, có những quán nhỏ sáng đèn, và con người nói cười không cần dè chừng. Bà kể như giữ lửa, như sợ rằng nếu không nhắc lại, ký ức sẽ bị thời gian xóa mất.

Tôi hỏi má:
“Có ngày nào mình quay về không?”
Má im lặng rất lâu.
“Quê hương… không phải lúc nào cũng là nơi để trở về.”
Câu nói ấy theo tôi suốt những năm trưởng thành. Rồi một ngày, khi đã đủ lớn, tôi trở lại.
Má không đi cùng. Bà bảo: “Con cứ đi, nếu con cần hiểu.”
Tôi biết, có những vết thương không phải ai cũng muốn chạm lại.

Chiếc máy bay hạ xuống trong một thành phố đông đúc, sáng đèn, ồn ào. Người ta nói đủ thứ ngôn ngữ, nhưng tôi vẫn nhận ra âm điệu quen thuộc đâu đó trong từng câu nói.

Sài Gòn… vẫn là Sài Gòn.
Nhưng cũng không còn là Sài Gòn. Tôi đi qua những con đường cũ, tìm lại căn nhà năm xưa. Nó vẫn còn đó, nhưng đã đổi chủ từ lâu. Cánh cửa sơn lại, hàng rào khác đi, không còn dấu vết nào của gia đình tôi—như thể chúng tôi chưa từng tồn tại ở nơi này.

Tôi đứng bên kia đường, nhìn. Không trách. Không giận. Chỉ thấy một khoảng trống kỳ lạ, như nhìn vào một bức ảnh mà mình từng ở trong đó, nhưng giờ bị cắt ra.

Tôi tìm đến nghĩa trang cũ. Không có tên ba. Chỉ là những hàng mộ nối dài, những tấm bia vô danh, và gió thổi qua như kể lại những câu chuyện không ai còn nhớ rõ. Tôi thắp một nén nhang, không biết gửi về đâu, chỉ mong rằng ở một nơi nào đó, ba sẽ nhận được.

“Con đã về.”
Tôi nói nhỏ. Không có câu trả lời, nhưng lòng tôi nhẹ đi một chút. Những ngày sau, tôi đi nhiều hơn, nghe nhiều hơn. Thành phố này có những con người sinh ra sau mọi biến động, họ sống nhanh, sống gấp, và có khi không mang cùng ký ức với thế hệ trước.

Tôi không trách họ. Ký ức là thứ không thể ép buộc. Nó giống như một dòng sông ai đã từng trôi qua thì nhớ, còn người đứng trên bờ thì chỉ thấy nước chảy.

Đêm cuối trước khi rời đi, tôi đi dọc con đường cũ.
Đèn vẫn sáng. Người vẫn đông. Không ai biết tôi là ai, và tôi cũng không cần ai biết. Chỉ có một điều tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết:

Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra, mà là nơi những ký ức của mình còn được giữ lại. Dù ở lại hay ra đi, dù mất hay còn, những gì thuộc về tháng Tư năm ấy… vẫn nằm đó, trong một góc rất sâu của mỗi con người.

Khi máy bay cất cánh, tôi nhìn xuống thành phố lần nữa. Không còn giận dữ. Không còn hoang mang. Chỉ còn một nỗi buồn lặng lẽ
và một lời hứa không thành lời:

Rằng tôi sẽ kể lại. Để một ngày nào đó, ai đó nghe được, và hiểu rằng có một thời, một thành phố đã đổi đời trong im lặng, và có những con người đã mang theo cả quê hương mình đi suốt phần đời còn lại…

Ký ức Tháng Tư
Boston Massachusetts
Quốc Nguyên
(Người về từ lòng đại dương )





Blog Archive