Monday, October 19, 2026

PHÁP- QUỐC GIA CỦA NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ

La France- Les Misérables
18/10/2026
——
Giờ đây, bạn chỉ cần gõ chữ ‘France’ (nước Pháp) trên mạng xã hội X hay bất cứ trang web nào, bạn sẽ tưởng là nước Pháp đang trải qua một cuộc cách mạng thời ‘Những người khốn khổ’ (Les Misérables) của đại văn hào Victor Hugo.

Nào là thành phố Lyon, Marseille, Nice và Paris bị đập phá, hôi của. Thành phần chính của đám đông bạo loạn là di dân đến từ Bắc Phi và Trung Đông, tức những người theo Hồi Giáo. Đương nhiên họ không chiếm 100% trong số kẻ nổi loạn, vì luôn có kẻ a dua, ăn theo để hôi của.

Thật khó mà tiếp tục nhìn cảnh họ vào cửa hiệu của người Pháp da trắng để cướp của và hành hung chủ tiệm là những người lớn tuổi. Thế nhưng cảnh tượng này xảy ra trước ống kính điện thoại và nhân lên gấp ngàn lần.

Năm 2017, tôi ghé lại Paris. Ngày đầu tiên tôi chọn 1 khách sạn nhỏ gần ga xe lửa phía Bắc Gare du Nord. Tối đến, tôi đi bộ tới những quán ăn trước mặt ga xe lửa để ăn tối. Cảnh tượng trước mắt tôi là những thanh niên da màu tập trung trước sân ga. Không biết họ làm gì, chỉ đứng chơi hay buôn bán ma tuý, nhưng chỉ biết rằng họ chiếm đa số trong tuổi trẻ Pháp.

Ngày hôm sau tôi đón xe lửa đi xuống Nice, thành phố ở miền Nam bên bờ Địa Trung Hải để viếng một người bạn học cũ. Tôi ở lại qua đêm ở một khách sạn gần bờ biển. Nice là thành phố biển du lịch nên có đa dạng chủng tộc hơn.

Hôm sau về lại Paris, tôi đổi sang khách sạn mang tên Victor Hugo để tránh khu vực chung quanh nhà ga xe lửa.

Đó là ấn tượng của tôi về Paris. Thanh niên Bắc Phi và thanh niên Hồi Giáo quá nhiều.

Về mặt dân số học, trung bình 1 người đàn ông Hồi Giáo sẽ có nhiều con cái hơn 1 người đàn ông Pháp bản xứ da trắng. Rất dễ hiểu, không cần phải chứng minh: Đàn ông Hồi Giáo tới tuổi phải lấy vợ, ở phương Tây chỉ cho phép kết hôn với 1 phụ nữ, thì họ có thể có con với vợ bé không cần giấy kết hôn. Đàn ông Hồi Giáo ngoan đạo thì sẽ không có rượu chè, không có vui chơi cuộc sống về đêm sau khi lấy vợ, vậy thì thời gian buổi tối ở nhà họ dùng để làm gì ?

Câu trả lời có thể liên tưởng tới đàn ông Việt ở thế kỷ trước: thú vui quanh quẩn với vợ và đẻ con.

Đó là chưa kể đàn bà Hồi Giáo ít có lựa chọn không sanh con hay sanh ít con, vì vai trò chính của họ vẫn là phục vụ chồng và đẻ con cho chồng.

Đó là chưa kể rượu chè, ăn chơi thường dẫn tới khả năng sinh lý và sinh sản của đàn ông. Đàn ông Hồi Giáo ít bị vấn đề này. Nhưng cái gì cũng có ngoại lệ, nhiều đàn ông Hồi Giáo sanh ra ở Phương Tây cũng lén lút ăn chơi kiểu Tây.

Thuỵ Điển đã nhận ra vấn đề này. Họ có chương trình khuyến khích di dân, đặc biệt là di dân Hồi Giáo, tự nguyện hồi hương. Họ chu cấp vé máy bay và tiền thưởng. Phụ nữ Thuỵ Điển nói riêng và phụ nữ Bắc Âu nói chung sanh con rất ít. Nhiều người chọn không sanh con.

Trong khi đó, Pháp luôn gương ngọn cờ Nhân Ái, Nhân Quyền và có chế độ an ninh xã hội cao ngất ngưỡng. Đây là miền đất hứa cho di dân Hồi Giáo vào đẻ con nhận trợ cấp xã hội cho con nít, tiền tã sữa và phụ cấp cho mẹ đơn thân.

Kết quả là dân số của di dân gốc Hồi Giáo phát triển như nấm sau mưa. Quỹ an sinh xã hội của Pháp cạn đáy, cộng thêm sự lười biếng của dân Pháp chỉ làm chính thức 35 tiếng/tuần. Hết tiền trợ cấp xã hội, lấy hẹn với bác si phải chờ từ 3 tới 6 tháng. Di dân ngoại quốc ở Pháp vốn quen với những thứ trợ cấp miễn phí, không làm mà vẫn có ăn có cảm giác ngày tận thế, cộng thêm lạm phát tăng, giá cả nhu yếu phẩm tăng từng ngày.
Nước Pháp phá sản.

Nhưng tổng thống Ma-cờ-rông của Pháp vẫn chỉ trích tổng thống Mỹ, dù bản thân ông bị bà vợ lớn hơn 24 tuổi đấm nâu mắt không biết bao nhiêu lần, một lần bị camera bắt gặp trên chuyên cơ.

Ma-cờ-rông là hiện thân của một nước Pháp bạc nhược, nói đạo lý, nhà bao việc không lo mà thích lo chuyện nước Mỹ.

Nhắc tới di dân Hồi Giáo Bắc Phi ở Pháp thì cũng nên nhắc tới nhóm di dân này ở Mỹ. Mỹ cũng có 1 tiểu bang trước đây có di dân người Hờ-Mông Lào chiếm đa số trong số di dân, nhưng nay đã nhường cho di dân Hồi Giáo Châu Phi. Không sắc dân nào có thể hơn họ ở chuyện sanh đẻ và sống bằng trợ cấp chính phủ.

Bạo loạn ở Pháp vô tình thức tỉnh dân chúng Mỹ về hiểm hoạ di dân Hồi Giáo này. Chỉ sợ những người thuộc Cánh Hữu Mỹ sẽ làm nặng tay với họ vì sợ sẽ có viễn cảnh tương tự như ở Pháp trong tương lai.

Tính ra bạo loạn di dân ở Pháp chính là Ngạc Nhiên Tháng Mười thứ 2 có lợi cho Cánh Hữu Mỹ.

Hoa OC
——
DISCLAIMER: Hình chụp từ 1 bài báo trên mạng trích dẫn hình của Reuters.

LINH MỤC PHAOLÔ CAO VĂN LUẬN VÀ DẤU ẤN TRONG LỊCH SỬ ĐẠI HỌC HUẾ

Linh mục Phaolô Cao Văn Luận là một trong những nhân vật có dấu ấn rất đặc biệt trong lịch sử giáo dục đại học ở miền Trung.

Sau khi Viện Đại học Huế được thành lập năm 1957, ngài trực tiếp tham gia tổ chức, xây dựng và phát triển Viện trong những năm đầu.

Đến cuối năm 1958, từ nỗi trăn trở trước tình trạng thiếu bác sĩ trầm trọng, nhất là ở nông thôn miền Trung, Cha Cao Văn Luận bắt đầu vận động để mở thêm Đại học Y khoa Huế.

Theo hồi ký của ngài, khi ấy nhiều vùng quanh Huế gần như không có bác sĩ dân sự, trong khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân rất lớn. Vì vậy, cha cho rằng muốn Viện Đại học Huế phát triển đầy đủ thì cần phải có thêm một trường Y khoa để đào tạo bác sĩ cho miền Trung.

Đề nghị này ban đầu gặp không ít phản đối. Có ý kiến cho rằng Việt Nam đã có Đại học Y khoa Sài Gòn, trong khi Huế lại thiếu giáo sư chuyên môn.

Nhưng Cha Cao Văn Luận vẫn kiên trì vận động. Sau khi có quyết định thành lập, ngài tiếp tục tìm kiếm sự hỗ trợ từ nhiều nơi, đặc biệt là Tây Đức.

Đại học Freiburg sau đó đồng ý hỗ trợ Đại học Y khoa Huế, cử giáo sư sang giảng dạy và giúp đào tạo đội ngũ giảng viên y khoa.

Cha Cao Văn Luận cũng trực tiếp sang Pháp mời bác sĩ Lê Tấn Vĩnh về làm Khoa trưởng đầu tiên.

Niên khóa 1959, lớp Dự bị Y khoa đầu tiên chính thức khai giảng.
Không chỉ lo nhân sự, cha còn phải tìm kinh phí xây dựng trường, từ tiền xổ số kiến thiết, ngân sách hỗ trợ cho đến viện trợ quốc tế. Công trình trường được triển khai theo họa đồ của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Từ những bước đi đầy gian khó ấy, Đại học Y khoa Huế từng bước hình thành và phát triển, trở thành một cơ sở đào tạo y khoa quan trọng của miền Trung.

Một linh mục, nhưng dấu ấn để lại không chỉ trong đời sống Giáo Hội, mà còn trong giáo dục, y khoa và việc đào tạo nhiều thế hệ trí thức cho đất nước.



"Làm cho Châu Âu vĩ đại trở lại.”

Hôm qua, tôi ngồi uống vài chai bia với một ông bạn người Tiệp Khắc. Trong lúc câu chuyện đang vui, tôi cao hứng hỏi:
“Mày thấy Tổng thống Trump của nước tao thế nào?”

Ổng đặt chai bia xuống rồi trả lời ngay:
“Tao thích ổng. Mày có hỏi tao một trăm lần thì câu trả lời vẫn vậy.”

Tôi hơi bất ngờ, bèn hỏi tiếp:
“Tại sao?”

Ổng nói:
“Vì từ khi Trump xuất hiện, tao thấy mấy nước Châu Âu bắt đầu bớt láo. Còn những người thiên tả thì đang phải trả giá từng ngày cho chính sách nhập cư vô tội vạ của họ.”

Ổng uống thêm một ngụm bia rồi nói tiếp:
“Châu Âu đã mở cửa quá rộng nhưng lại không chuẩn bị cách kiểm soát. Khi hậu quả xuất hiện, họ vẫn ngại thừa nhận chính sách của mình có vấn đề. Tao nghĩ Châu Âu cũng nên bắt đầu học cách của Trump.”

Tôi hỏi:
“Học điều gì?”

Ổng cười:
“Đặt quyền lợi của đất nước và người dân mình lên trước. Trump nói Make America Great Again. Còn tụi tao bây giờ cũng cần Make Europe Great Again — làm cho Châu Âu vĩ đại trở lại.”

Nghe xong, tôi cũng bật cười.
Ở Mỹ, có người ngày nào cũng nói ông Trump làm nước Mỹ mất mặt với thế giới. Nhưng khi đi ra khỏi nước Mỹ, ngồi uống bia và trò chuyện với người dân tại Châu Âu, tôi mới thấy cách nhìn của họ không phải lúc nào cũng giống những gì truyền thông thường mô tả.

Dĩ nhiên, một người bạn không đại diện cho cả Châu Âu. Nhưng câu trả lời của ổng cho thấy có những người tại đây đang nhìn ông Trump từ một góc khác: không phải vì họ yêu chính trị Mỹ, mà vì họ thấy những vấn đề ngay trên đường phố, trong khu dân cư và trong chính cuộc sống của mình.

Mấy chai bia rồi cũng hết.
Nhưng câu nói của ổng vẫn còn nghe rất rõ:
“Châu Âu cũng nên học cách đặt người dân của mình lên trước.”

Tác Giả : Quỷ Cốc

P/s: ông bạn người Tiệp đứng phía sau cô gái

EU LẠC HẬU CÔNG NGHỆ SO VỚI MỸ VÀ ĐÔNG Á, TRỪ ÁI NHĨ LAN

19/10/2026
—-
Nếu tôi nói rằng: Thu nhập bình quân đầu người của Pháp (tính theo GDP) chưa bằng 1 nửa thu nhập bình quân đầu người của Ái Nhĩ Lan (Ireland) thì có lẽ nhiều người sẽ bị sốc nặng.

Bản thân tôi cũng không thể tin được nên phải tự tìm hiểu thêm.
Nhiều chính phủ dùng con số GDP để mị dân vì muốn dân thấy độ lớn của nền kinh tế nước mình, nhưng nếu GDP của 1 quốc gia có 100 triệu dân là 500 tỉ đô la trong khi GDP của quốc gia có 10 triệu dân là 60 tỉ thì nước có 100 triệu dân chỉ có thu nhập đầu người là 5000 đô, trong khi nước có 10 triệu dân có thu nhập đầu người là 6000 đô.

Nói cách khác, dù Việt Nam có GDP vượt qua Thái Lan thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn thấp hơn thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan, vì Việt Nam có đông dân hơn.

Thu nhập bình quân của Ái Nhĩ Lan năm 2025 là trên 100 ngàn đô la trong khi của Pháp thì dưới 50 ngàn đô la/đầu người.

So với Pháp, Đức và Anh thì Ái Nhĩ Lan không phổ biến với người Việt. Người Việt ít đi du học hay định cư ở Ái Nhĩ Lan nên cộng đồng người Việt ở đây rất nhỏ.

Chuyện Ái Nhĩ Lan bứt phá, vươn lên thành quốc gia có thu nhập bình quân đầu người đứng thứ nhì Liên Minh Châu Âu (EU) bắt nguồn từ một chiến lược đúng đắn của chính phủ.

Chính phủ Ái Nhĩ Lan vốn im tiếng trên truyền thông, ít được truyền thông thế giới để ý tới nhưng họ đã đạt được điều này: Họ thu hút được đầu tư trực tiếp (FDI) từ 15 trong số 30 công ty chế tạo chip bán dẫn lớn nhất thế giới.

Kẻ thả neo cho dự án này, gọi là anchor (cái neo) chính là công ty Intel của Mỹ. Intel từng là nhà sản xuất chip bán dẫn số 1 thế giới.

Từ Intel, Ái Nhĩ Lan phát triển 1 hệ thống sinh thái chip bán dẫn để thu hút thêm 14 công ty khác như AMD, Qualcomm, Infineon, Synopsys, Cadence, ARM, Microchip, onsemi, ASML, KLA and Lam Research…

Trong khi EU lạc hậu về công nghệ chip bán dẫn so với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc trừ ngoại lệ Hoà Lan với công ty ASML đứng đầu về máy quang khắc chế tạo chip và Anh Quốc với hãng công nghệ ARM, thì Ireland vươn lên thành trung tâm công nghệ cao của Châu Âu.

Điều gì khiến Ái Nhĩ Lan tách khỏi sự suy thoái của Châu Âu về công nghệ?

- Áp dụng mô hình đào tạo thiên về các môn khoa học tự nhiên, gọi tắt là STEM mô hình của Mỹ.
- Trải thảm đỏ cho các tập đoàn công nghệ Mỹ vào đầu tư và tạo điều kiện ưu đãi về thuế. Trong khi đó, EU tìm mọi cách đánh thuế các tập đoàn Mỹ như Google, Meta (Facebook) và SpaceX với thái độ thù địch với Mỹ.
- Ái Nhĩ Lan là quê hương của các tổ phụ của Mỹ nên không thù địch với Mỹ như Pháp, Đức hay Bắc Âu.

Trong khi Ái Nhĩ Lan học Mỹ về phát triển công nghệ, chú trọng đào tạo kỹ sư và cử nhân hệ STEM, thì Pháp vẫn cứ tuyên truyền Hâm Nóng Toàn Cầu, Biến Đổi Khí Hậu rồi đóng thuế cạc-bon, bán chỉ tiêu cạc-bon cho các doanh nghiệp sản xuất, thiếu điều chưa đánh thuế đánh rắm đối với dân Pháp, vì đánh rắm cũng là 1 hình thức xả thải cạc-bon ra môi trường.

Giờ nhìn nước Pháp điêu tàn, mùa Đông phòng học không có máy sưởi, mùa hè không có máy lạnh vì chính phủ Pháp muốn bảo vệ môi trường, không muốn xài điện từ nhiệt điện, vì nhiệt điện phải dùng nhiên liệu hoá thạch (than đá, khí đốt, dầu mỏ), nhưng thực ra là chính phủ hết tiền vì nuôi 1 lũ ăn bám đông hơn quân Nguyên.

Giờ đây 1 Paris hoa lệ, kinh đô ánh sáng nhìn như bãi chiến trường. Chưa chắc gì Paris có đủ ngân sách để dọn dẹp mấy đống rác này, dựng lại biển báo, bảng tên đường và đèn đường….

Nhìn qua Ái Nhĩ Lan thấy họ thịnh vượng. Một bên âm thầm chơi với Mỹ, một bên giương ngọn cờ chống Mỹ và nói điều đạo đức nhân nghĩa.

Dân chơi ở Việt Nam đã có câu nói riêng dành cho mấy đứa nói đạo đức trên mạng: Thường thì ai ưa nói đạo đức hay đạo lý thì sống như…

Mà đa số mấy đạo đức gia trên mạng ở Việt Nam giờ đây đều đang xộ khám vì lừa đảo bán hàng online sau khi nói chuyện đạo đức để lôi kéo đám fan ngu ngục.

Mấy Shark nói về giương thành công đều là đám lừa đảo. Đám nhà nghèo vượt khó học giỏi thành công cũng lừa đảo nốt.

Bỗng nhiên muốn trích dẫn câu nói của Đặng Tiểu Bình: Chơi với Mỹ thì không có ai nghèo.

Nhìn qua Đài Loan, Hàn Quốc và giờ đây là Ái Nhĩ Lan… tính ra họ Đặng kia nói đúng.

Hoa OC

Nước Úc – quê hương thứ hai

Melbourne – nơi cuộc đời mới bắt đầu
Đối với nhiều người tỵ nạn Việt Nam, Melbourne không đơn thuần chỉ là một thành phố. Đó là nơi những mảnh đời tan vỡ dần dần được hàn gắn, để con người có thể đứng lên, làm lại cuộc đời.

Trong những ngày đầu, mọi thứ đều xa lạ: ngôn ngữ, thời tiết, phong tục, thức ăn, ngay cả cách người ta chào hỏi nhau cũng khác biệt.

Rời Việt Nam, nơi tình thân gia đình và sự gắn bó với cộng đồng có một vị trí vô cùng quan trọng, nhiều người mới định cư phải học cách sống trong một xã hội coi trọng sự độc lập cá nhân và đời sống riêng tư.

Nhưng nước Úc đã trao cho họ một điều vô cùng quý giá: cơ hội làm lại cuộc đời.
Những năm tháng đầu tiên chẳng bao giờ là dễ dàng.
Nhiều người Việt di dân làm việc trong các nhà máy, xưởng đóng gói, nông trại, nhà hàng và những cơ sở kinh doanh nhỏ. Họ đảm nhận những công việc đòi hỏi sức lực và sự chịu đựng. Đôi bàn tay họ chai sạn vì lao động, nhưng cũng chính đôi bàn tay ấy đã xây dựng tương lai cho con cái.
Họ không phải là những người nổi tiếng.
Họ cũng chẳng phải là những người giàu có.
Họ chỉ là những người đàn ông, đàn bà bình thường, nhưng có một lòng can đảm phi thường.

Học tiếng Anh – mở cánh cửa tương lai.
Khi tôi đến định cư tại nước Úc, tiếng Anh là một trong những thử thách lớn nhất.
Một người có thể xoay xở để sống với vài câu tiếng Anh đơn giản. Người ấy có thể mua thức ăn, đón xe buýt hoặc hỏi đường bằng những câu nói ngắn ngủi.
Nhưng muốn thực sự trở thành một phần của xã hội, người ta cần nhiều hơn thứ tiếng Anh đủ để sinh tồn.
Người ta cần sự tự tin.
Người ta cần khả năng giao tiếp, học tập, làm việc và thấu hiểu nền văn hóa của đất nước mình đang sinh sống.
Đó là lý do vào năm 1996, tôi ghi danh theo học khóa "English for Further Study" tại AMES (Adult Multicultural Education Services), một cơ sở giáo dục dành cho người trưởng thành đa văn hóa ở Melbourne.
Đến lúc ấy, tôi đã sống ở nước Úc nhiều năm. Tuy nhiên, việc học tiếng Anh vẫn là một hành trình dài suốt đời.

Lớp học AMES là nơi hội tụ của nhiều câu chuyện đời khác nhau.
Có những người di dân đến từ Á Châu, Âu Châu, Phi Châu và Trung Đông. Mỗi người mang theo một quá khứ riêng. Người đến để tìm việc làm, người đoàn tụ gia đình, người tìm kiếm một cuộc sống an toàn và một khởi đầu mới sau những hành trình gian nan, trong đó có rất nhiều người Việt Nam như chúng tôi.
Trong lớp học ấy, tiếng Anh không chỉ là một ngôn ngữ.
Nó là một nhịp cầu.
Một nhịp cầu nối những con người từ nhiều quốc gia khác nhau thành một cộng đồng Úc Châu.
Các thầy cô không chỉ dạy văn phạm, phát âm hay từ vựng. Họ còn giúp người di dân hiểu xã hội Úc: cách giao tiếp, cách tham gia vào đời sống cộng đồng và cách cảm nhận rằng mình thực sự thuộc về nơi đây.
Nhìn lại sau ba mươi mốt năm, tôi nhận ra rằng việc theo học tại AMES là một trong những bước ngoặt quan trọng trong hành trình định cư ở nước Úc của mình.

Từ người xa lạ trở thành láng giềng.
Theo thời gian, những người Việt di dân dần trở thành những gương mặt quen thuộc tại các khu ngoại ô Melbourne.
Những nơi như Richmond, Footscray và Springvale, vốn trước kia có ít cư dân Việt Nam hơn, dần dần phát triển thành những trung tâm đa văn hóa sầm uất.
Đường phố thay đổi.
Cửa tiệm thay đổi.
Ngay cả mùi vị của xóm giềng cũng thay đổi.
Bỗng nhiên, người ta có thể tìm mua rau muống, rau thơm, bún, bánh mì, phở, bún bò Huế và biết bao món ăn truyền thống khác của Việt Nam.
Đối với người Việt di dân, những nơi ấy không chỉ là khu mua sắm.
Chúng còn gợi nhớ quê nhà.
Một bó rau muống, một tô phở hay mùi bánh mì vừa mới ra lò cũng đủ làm sống lại những ký ức về Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc một ngôi làng nhỏ bên dòng sông quê hương.

Ẩm thực đã trở thành ngôn ngữ của ký ức.
Footscray, chỉ cách trung tâm Melbourne một quãng đường ngắn về phía tây, là một trong những nơi đặc biệt như thế.
Đối với nhiều người Úc gốc Việt, Footscray không chỉ là một khu ngoại ô.
Đó là một góc Việt Nam giữa lòng nước Úc.
Trong nhiều gia đình, tiếng Việt vẫn là ngôn ngữ chính ở nhà, còn tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai được sử dụng bên ngoài.
Trẻ em lớn lên giữa hai thế giới.
Ở nhà, chúng nghe cha mẹ kể chuyện Việt Nam bằng tiếng mẹ đẻ.
Đến trường, chúng nói tiếng Anh Úc với bạn bè.
Chúng mang dòng máu và di sản văn hóa Việt Nam, đồng thời trưởng thành qua những trải nghiệm của một người Úc.
Hai căn tính ấy cùng tồn tại trong con người chúng.
Gia đình Việt Nam xây dựng tương lai.
Việc di dân cũng làm thay đổi đời sống gia đình Việt Nam.

Những cuộc hôn nhân giữa người Việt và người Úc bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Hai nền văn hóa gặp nhau, đôi khi tạo nên những câu chuyện tình đẹp đẽ, nhưng cũng có lúc đem lại những thử thách không nhỏ.
Một người Việt mới đến có thể chỉ biết chút ít tiếng Anh, trong khi người bạn đời Úc của họ lại chẳng hiểu bao nhiêu về phong tục Việt Nam.
Việc giao tiếp không phải lúc nào cũng dễ dàng.
Nhưng nhiều cặp vợ chồng dần hiểu rằng tình yêu cần có sự kiên nhẫn, óc khôi hài và lòng cảm thông.
Những lỗi lầm khi sử dụng ngôn ngữ đôi khi tạo ra những tình huống dở khóc dở cười.
Một người Việt mới định cư, vốn tiếng Anh còn hạn chế, có thể phải dùng vài chữ ít ỏi, điệu bộ tay chân và trí tưởng tượng để giải thích điều mình muốn nói.
Đôi khi người nghe hiểu được.
Đôi khi câu chuyện biến thành một màn hài kịch!
Nhưng những khoảnh khắc ấy cũng là một phần của đời sống di dân.
Học một ngôn ngữ mới có nghĩa là chấp nhận rằng mắc lỗi là chuyện bình thường trên đường tiến bộ.
Nhiều cặp vợ chồng Việt Nam cũng đã chọn nắm tay nhau vượt qua những gian truân của cuộc sống định cư.
Họ nhớ câu ca dao Việt Nam: “Chàng đi cho thiếp theo cùng. Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.”
Họ cùng nhau vượt biển.
Họ bắt đầu từ hai bàn tay trắng.
Họ làm việc nhiều giờ liền.
Họ dọn nhà hết lần này đến lần khác.
Họ chắt chiu từng đồng bạc nhỏ.
Ước mơ của họ không phải là một cuộc sống xa hoa.
Ước mơ của họ chỉ đơn giản là đem lại cho con cái một tương lai tốt đẹp hơn.
Gia đình tôi cũng là một phần của hành trình ấy.
Tôi làm việc cực nhọc.
Vợ tôi cũng làm việc cực nhọc.
Giống như nhiều gia đình Úc gốc Việt khác, chúng tôi chỉ là những người lao động bình thường, cố gắng xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho con cái.
Chúng tôi đã nhiều lần dọn nhà trước khi ổn định cuộc sống tại vùng ngoại ô phía tây Melbourne.
Chúng tôi trở thành một phần của cộng đồng mà tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất, còn tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai.
Dần dần, nước Úc không còn chỉ là nơi chúng tôi sinh sống.
Nước Úc đã trở thành nơi lưu giữ những kỷ niệm của cuộc đời chúng tôi.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.
Nước Úc – quê hương thứ hai.

Thế hệ thứ hai – thành quả của sự hy sinh
Khi những người Việt tỵ nạn đầu tiên đến nước Úc, nhiều người phải bắt đầu từ những nấc thang thấp nhất của xã hội.
Họ làm việc trong các nhà máy.
Họ đóng gói hàng hóa.
Họ lau chùi văn phòng.
Họ làm ca đêm và làm việc nhiều giờ liền.
Vốn tiếng Anh còn hạn chế, tiền dành dụm chẳng được bao nhiêu, tương lai lại đầy bất trắc.
Nhưng họ mang theo một thứ quý giá hơn tiền bạc.
Đó là ý chí quyết tâm.
Đó là niềm hy vọng.
Và quan trọng hơn hết, đó là ước mơ dành cho con cái.
Họ mong con trai, con gái mình có được những cơ hội mà chính họ chưa từng có.

Rồi dần dần, ước mơ ấy đã trở thành hiện thực.
Sau ba hoặc bốn thập niên, những đứa con của người Việt tỵ nạn, vốn từng đặt chân đến nước Úc với gần như hai bàn tay trắng, đã trở thành kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, chủ cơ sở kinh doanh và những chuyên viên trong nhiều lãnh vực khác nhau.
Cha mẹ lao động bằng đôi bàn tay.
Con cái xây dựng tương lai bằng kiến thức.
Đó là câu chuyện của biết bao gia đình di dân tại nước Úc.
Một thế hệ hy sinh để thế hệ sau có thể vươn lên.
Đôi khi, người ta nhìn một người đang làm việc trong nhà máy rồi cho rằng người ấy chẳng đạt được thành tựu gì đáng kể.
Nhưng vẻ bề ngoài có thể đánh lừa chúng ta.
Người hôm nay mặc bộ đồng phục lao động, ngày mai có thể có một người con tốt nghiệp đại học RMIT trở thành kỹ sư hóa học.
Người mẹ từng làm việc trong nhà máy có thể có một cô con gái trở thành bác sĩ.
Đằng sau mỗi đứa con thành đạt thường là câu chuyện thầm lặng về những bậc cha mẹ đã hy sinh mà chẳng đòi hỏi ai phải ghi công.
Đó là phần lịch sử ít được kể đến của những người di dân.
Nước Úc – đất nước được xây dựng bởi những người di dân.
Bản thân nước Úc là một quốc gia được định hình bởi làn sóng di dân.
Người từ nhiều nguồn gốc khác nhau đã đến đây để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Có những người đến từ Âu Châu cách đây nhiều thế hệ.
Có những người mới đến từ Á Châu, Phi Châu và Trung Đông trong những thập niên gần đây.
Mỗi cộng đồng mang theo thức ăn, ngôn ngữ, phong tục và những câu chuyện riêng của mình.
Tất cả cùng góp phần tạo nên nước Úc hiện đại.

Người Úc gốc Việt chỉ là một chương trong câu chuyện lớn lao ấy.
Từ một cộng đồng nhỏ bé, với 382 người Việt được ghi nhận sau năm 1975 theo con số nêu trong bài viết gốc, sự hiện diện của người Việt tại nước Úc đã phát triển thành một cộng đồng đa dạng, năng động, đóng góp vào mọi lãnh vực của xã hội.
Họ là công nhân, chủ cơ sở kinh doanh, nghệ sĩ, học giả, quân nhân, công chức và những công dân bình thường, đơn giản chỉ vì yêu mến đất nước đã dang tay đón nhận mình.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.
Texas đi dễ khó về

Phi cơ bay thấp để chuẩn bị đáp xuống phi trường Dallas. Nhìn quanh thấy mấy hãng xưởng khổng lồ. Nhưng so với vùng quanh phi trường Lax thì không bằng. Nhiều cây xanh và hồ nước. Đường xá ít xe. Các khu nhà ở nằm dưới những tàn cây xanh. Coi bộ mát mẻ.

Hỏi ông tài xế uber khí hậu ở đây thế nào. Ổng nói đôi khi nóng rồi đột nhiên lạnh. Buồn buồn mưa... đá. Nghe ớn lạnh. Không biết ổng nói thật hay đùa.

Xe đưa đến nhà cô bạn quen, trước ở Melbourne. Qua Mỹ (Texas) làm việc cho một công ty đa quốc gia rồi... ở lại Texas luôn. Nhà cổ ở Melbourne cho thuê, lâu lâu nhờ tui sửa chữa chút. Vừa rồi đã bán. Nghĩa là cổ đi luôn không quay về Úc nữa.

Cô học giỏi, cỡ tiến sĩ. Ngành học gì đó liên quan đến.... nguyên tử. Học tới học lui, nghiên đi cứu lại. Quay tới quay lui cái tuổi...50 tới rồi mà chồng con chưa có. Xem như... ế chớ biết làm sao. Bà con bạn bè kiếm xa kiếm gần. Kiếm được một anh người Hoa chưa từng lấy vợ. Nhỏ hơn cô một vài tuổi thôi. Kỹ sư ngành IT. Cũng kiểu lo học quên ... lấy vợ. Hai người ráp vô sống đỡ buồn. Thấy đi đâu cũng có vẻ lạnh nhạt. Đàn ông Tầu mà. Mấy bà không chìu thì thôi chớ "ga lăng" là không có trong tự điển.

Rồi có một công ty cần người điều khiển cái máy lượng tử gì đó. Kiếm khắp thế giới mới tìm ra cổ nên mời làm việc. Lương cao. Có điều phải làm ở đây. Texas.

Mới đầu cổ than buồn. Ngày nghỉ là bay về Úc. Sau này thưa dần rồi biệt tăm luôn. Anh chàng Tàu phải khăn gói qua Mỹ. Một hai lần đầu vẫn ở chung căn apartment mà cô thuê. Lần sau cổ nói ảnh ở khách sạn đi. Người thông minh phải hiểu chuyện gì. Anh Tàu đành nói "fen shou le" (chia tay). Tội nghiệp.

Hỏi thăm mới biết xứ Mỹ đàn ông đẹp trai, ga lăng nhóc. Mà kiếm vợ còn không ra. Còn đâu tới lượt "chú Thòong". Cổ được một anh Mỹ trắng, khuôn mặt giống Tom Cruise nhưng cao ráo hơn, cầu hôn. Tui qua dự đám hỏi. Đám cưới chắc năm sau. Nếu được mời chắc tui qua nữa.

Tui ở Texas được 4 ngày. Chia ra 2 ngày Dallas và 2 ngày Houston. Sau đó về San Jose. Có mấy fans ở Dallas hẹn đến Saigon Mall kiếm đồ nhậu. Lát tui đặt uber đến lai rai với đồng hương.

Jimmy Nguyen Nguyen
NGƯỜI GIỮ TÔI LẠI

Tác giả: Georgy Zharkoy
Dịch từ tiếng Nga: Chu Thị Hồng Hạnh

Tôi tên là Pavel. Mọi chuyện bắt đầu vào một ngày thứ Ba trước Giáng sinh. Ngoài trời ẩm ướt và xám xịt, trong nhà hệ thống sưởi gần như không đủ ấm. Tôi ngồi trong ghế bành, tay cầm điện thoại, chờ một tin nhắn trong nhóm chat gia đình, mong được thấy hai chữ "con về".

"Xin lỗi bố, " con trai tôi, Andrey, nhắn. "Chúng con đang ở nhà bố mẹ vợ ăn lễ. Mình gọi nhau vào ngày 24 tháng 12 nhé, bố?"

Một lúc sau, con gái tôi, Irina, cũng nhắn:
"Bố ơi, con ngập đầu trong công việc, không dứt ra được. Hay là sau kỳ nghỉ lễ nhé?"

Tôi tắt màn hình, nhìn sang chiếc ghế đối diện. Ở đó là Pino, chú mèo bốn tuổi của tôi: một đám mây lông màu cam khổng lồ, dáng vẻ như một vị vua trầm lặng. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt màu mật ong, như thể cảm nhận được nỗi thất vọng của tôi, và cả nỗi cô đơn mà người ta chỉ biết lặng lẽ nuốt vào trong.

"Thôi vậy, hai bố con mình ăn Tết với nhau," tôi thì thầm.
Nó khẽ kêu một tiếng ngắn, cách nó nói rằng nó đang ở đây.

Hai đêm sau, tôi thức dậy đi uống nước. Tôi không bật đèn, vì suốt mười lăm năm qua tôi thuộc nhà này như lòng bàn tay. Tôi không hề hay biết rằng một dòng nước mảnh đã rỉ ra từ cái lò sưởi, phủ lên nền gạch một lớp màng vô hình.
Chân tôi trượt, và tôi ngã nghiêng xuống sàn, kèm theo một tiếng động mà cơ thể con người không bao giờ nên phát ra.
Cơn đau làm tôi nghẹt thở.
Tôi cố đứng dậy nhưng cơ thể không chịu nghe lời.
Điện thoại vẫn nằm trên tủ đầu giường trong phòng ngủ.
Chỉ ba mét thôi, một khoảng cách nực cười, vậy mà lúc ấy nó xa vời không thể chạm tới.
Cái lạnh thấm tận xương, tôi bắt đầu run bần bật. Ý thức lúc mất lúc còn. Tôi nghĩ đến các con và nhận ra rằng chúng sẽ chỉ phát hiện tôi vắng mặt vào ngày 24 tháng 12.
Rồi bỗng nhiên, tôi cảm thấy một sức nặng đè lên ngực.
Là Pino.
Nó vốn không phải con mèo âu yếm, nhưng đêm ấy, nó nằm lên người tôi mà không chút do dự. Cả cơ thể ấm áp của nó áp sát vào tôi. Nó quấn đuôi quanh cổ tôi như một chiếc khăn quàng và bắt đầu gừ gừ, trầm và mạnh, như thể bên trong nó có một chiếc động cơ đang chạy.
Nó sưởi ấm cho tôi.

Tôi không biết đã trôi qua bao lâu. Khi mở mắt ra thì trời đã hửng sáng. Pino bỗng đứng phắt dậy, đánh hơi khuôn mặt tôi rồi chạy ra cửa. Nó cất lên một tiếng kêu mà tôi chưa từng nghe nó phát ra bao giờ.
Đó không phải tiếng meo meo, mà là tiếng kêu khản đặc cầu cứu.
Nó lao vào cánh cửa, cào từ phía dưới lên, và kêu hết lần này đến lần khác.
Cô hàng xóm của tôi, một cô gái thường về muộn sau giờ làm, vừa lúc ấy bước vào cầu thang.
Sau này cô kể lại:
"Cháu định đi lướt qua, nghĩ chỉ là con mèo đang làm ồn. Nhưng tiếng kêu ấy không giống tiếng mèo kêu bình thường. Cứ như nó đang van xin được cứu vậy."

Cô gõ cửa, nhưng không có tiếng đáp lại. Cô gọi đội cứu hộ.
Khi họ mở cửa, Pino không bỏ chạy. Nó chạy lại chỗ tôi và nằm xuống cạnh đầu tôi, như muốn chỉ cho họ: đây rồi.
Ở bệnh viện, y tá hỏi có thể báo tin cho ai không.
Con trai tôi không bắt máy. Con gái nhấc máy:
"Bố ạ? Con đang họp, có chuyện gì thế?"
"Bố bị ngã. Bố đang ở bệnh viện."
"Trời ơi... bố gửi thông tin chi tiết cho con nhé. Hôm nay con không đến được, lát nữa con gọi lại. Hôn bố."
Rồi con bé cúp máy.
Tôi hạ điện thoại xuống...
"Chẳng có ai cả," tôi khẽ nói.
"Có đấy," một giọng nói vang lên từ phía cửa.
Là cô hàng xóm. Cô đã đi cùng tôi trên xe cấp cứu và ở lại bên cạnh tôi.
Khi con trai gọi lại, nó nói rằng con mèo có lẽ là một rủi ro, và nên tìm chỗ nào đó cho nó.
Cô hàng xóm đã đáp thay tôi:
"Bố anh ngã không phải vì con mèo. Ông ấy nằm trên sàn suốt sáu tiếng đồng hồ. Con mèo đã sưởi ấm cho ông bằng chính cơ thể nó và kêu cho đến khi tôi mở cửa."
Đầu dây bên kia im lặng.

Hai ngày sau, tôi trở về nhà.
Pino chậm rãi đi vòng quanh tôi, lấy chân chạm nhẹ vào tay tôi.
Giọng nó vẫn còn khản.
Tôi ngồi xuống, nó nằm cạnh và gối đầu lên tay tôi. Nó chẳng đòi hỏi gì, chỉ khẳng định rằng nó đang ở đây.
Điện thoại rung lên:
"Chúng con đã gửi hoa cho bố. Xin lỗi vì không thể về được."
Tôi nhìn cô hàng xóm, người mà một tuần trước vẫn còn là một người xa lạ. Tôi nhìn Pino, chú mèo đã mất giọng vì cứu tôi.
Và tôi hiểu ra một điều giản dị.
Gia đình không phải là khái niệm có sẵn một cách tự động.
Chỉ mang chung một họ hay quây quần dịp lễ thì chưa đủ.
Tình yêu không phải là người hứa hẹn núi vàng núi bạc bên bàn tiệc đầy ắp.
Tình yêu là người ở lại bên bạn khi bạn nằm trên nền đất lạnh.
Đôi khi, tâm hồn trung thành nhất không nói thứ tiếng của bạn, không mang họ của bạn, đi bằng bốn chân và kêu cho đến khi có người mở cửa...

--------------------
Lời người dịch:

Hoa có thể gửi đi, lời xin lỗi có thể gửi đi, nhưng sự hiện diện thì không.
Hai đứa con của ông Pavel không xấu; chúng chỉ nghĩ rằng còn nhiều thời gian. Nhưng khi người cha nằm trên nền lạnh, chỉ có người ở đó mới có giá trị: một con mèo biết kêu đến mất giọng, một cô hàng xóm biết dừng lại gõ cửa.

Người già hiếm khi nói thẳng nỗi cô đơn. Họ chỉ lặng lẽ chờ hai chữ "con về". Hãy nghe điều họ không nói, và đừng để "sau kỳ nghỉ lễ" trở thành câu nói cuối cùng.

"Gia đình không phải là những người cùng mang họ giống nhau, mà là người khi ta gặp hoạn nạn đã ở lại bên ta".

C.T.H.H




Blog Archive