Tuesday, August 25, 2026

LÊ THỊ Ý: TÁC GIẢ ''NGÀY MAI ĐI NHẬN XÁC CHỒNG”…

Mai Trung Tín

Cuối thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu” do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý gây xúc động lớn lao cho người nghe.

Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị. Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954.

Nhân dịp từ Virginia đến California ra mắt tác phẩm mới tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, bà đã dành cho biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái (ÐQAThái) cuộc nói chuyện thân mật sau đây.

– ÐQAThái: Tình khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu”, thơ của bà, Phạm Duy phổ nhạc; tựa đề khởi thủy của bài thơ là gì ạ?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc bấy giờ vào năm 1970, tôi viết 10 bài thơ trong tập thơ “Mười Bài Thương Ca”; bài mà Phạm Duy phổ thành ca khúc là “Thương Ca 1”.

– ÐQAThái: Phải chăng chính bà là người góa phụ đi nhận xác chồng trong bài thơ?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: (cười thoải mái) Không. Cho tới bây giờ tôi vẫn độc thân.

– ÐQAThái: Vậy, bà lấy cảm xúc từ đâu để viết nên bài thơ bất hủ này?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.

– ÐQAThái: Bài “Thương Ca 1”, Phạm Duy phổ nhạc, ngay khi được phổ biến, đã chiếm tâm hồn người nghe. Nhưng cũng có người lên án bài này “phản chiến”; bà nghĩ sao ạ?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi tôi làm thơ, tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên. Một người bạn của anh Vương Ðức Lệ tôi đến nhà chơi, thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh – người trụ trì sinh hoạt “Ðàm Trường Viễn Kiến” ở nhà cụ tại Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo – Cụ Quỳnh đọc, thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên, bài thơ của tôi được mọi người thương hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi, may mắn thôi, chứ tôi không chủ ý trước việc phổ biến bài thơ.

– ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, “Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng” thì Phạm Duy sửa thành “Bây giờ anh phủ mầu cờ” và cắt đi câu thơ kế tiếp.

– ÐQAThái: “Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng”, tại sao lại phũ phàng ạ?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.

– ÐQAThái: Khi nhạc sĩ Phạm Duy đổi chữ và cắt bớt câu thơ như vậy, là tác giả, bà có thấy mất đi nguyên ý khi cảm xúc sáng tác không?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi không nghĩ gì và cũng không thắc mắc, không để ý chuyện đó, vì khi tôi làm thơ, tôi theo vần điệu của thơ, còn ông Phạm Duy làm nhạc thì ông cảm hứng theo nốt nhạc.

– ÐQAThái: Hỏi câu này bà thứ lỗi cho, bà có người yêu là lính không?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: (ngập ngừng…, cười) Chắc cũng phải có chứ ạ!

-ÐQAThái: Bài thơ “Thương Ca 1” do bà sáng tác và Phạm Duy phổ nhạc, đã từ lâu trở thành của quần chúng. Nghĩa là, người ta hát say sưa mà không còn nhớ tới tên tác giả. Nếu tình cờ, ở một nơi chốn nào đó, bỗng nhiên nghe có người hát, có người nói tới bài thơ này, tâm trạng của bà sẽ ra sao?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi vui chứ ạ. Vì tôi thấy tôi may mắn có người biết đến thơ của mình; mà thực sự khi làm thơ, tôi làm vì tôi thấy cần làm thôi, chứ không mang ước vọng có con mắt nào đó để ý đến thơ mình (cười).

- ÐQAThái: Bà có thể đọc cho nghe nguyên văn bài “Thương Ca 1”.

– Nhà thơ Lê Thị Ý:

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ

Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu

Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen

Chao ơi thèm nụ hôn quen
Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng

Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”

– ÐQAThái: Nếu dùng thơ để kết thúc cuộc phỏng vấn này, bà sẽ chọn những câu thơ nào ?

– Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi muốn dùng hai câu thơ cuối của bài “Thương Ca 1” là “Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai”, để nói lên tâm trạng người góa phụ trong chiến tranh, trong nỗi đau tận cùng, cảm xúc như mình vẫn còn người mình yêu.

– ÐQAThái: Cám ơn bà đã nhắc nhớ lại một bài thơ bất hủ nói lên nỗi đau của con người và đất nước Việt Nam thời còn chinh chiến…

Mai Trung tín





THIÊN THẦN ÁO TRẮNG 

Ngày tôi bị cưỡng bức trở về Việt Nam từ trại tỵ nạn Malaysia, cuộc đời như rơi xuống tận đáy vực. Sau những tháng ngày lênh đênh tìm tự do, tôi trở về quê hương với hai bàn tay trắng, một tương lai mịt mù và trái tim đầy những vết thương không ai nhìn thấy. Giữa lúc tôi bị xã hội nhìn bằng ánh mắt lạnh lùng của một kẻ thất bại, lại có một người con gái bước vào đời tôi. Nàng là sinh viên trường Y, khoác chiếc áo blouse trắng tinh khôi. Trong mắt tôi ngày ấy, nàng không chỉ là một cô gái, mà còn là một thiên thần được Thượng Đế gửi đến để cứu vớt một linh hồn đang chìm giữa tuyệt vọng.

Nàng yêu tôi khi tôi chẳng có gì ngoài một quá khứ đau buồn và một lời hứa mong manh của Cao ủy Liên Hiệp Quốc rằng những người bị cưỡng bức hồi hương rồi sẽ có một con đường khác để đến Hoa Kỳ. Chúng tôi yêu nhau bằng tất cả sự chân thành của tuổi trẻ, tưởng rằng trên cõi đời này không một sức mạnh nào có thể chia lìa. Tôi đã từng tin rằng chỉ cần còn nắm tay nhau, chúng tôi sẽ vượt qua tất cả nghèo khó, định kiến, sự chờ đợi và cả những bất trắc của số phận.

Nhưng tình yêu đôi khi không thua vì hết yêu. Tình yêu thua bởi cơm áo, gia đình và nỗi sợ hãi trước một tương lai không có gì bảo đảm.

Rồi một Việt kiều từ Mỹ trở về hỏi cưới nàng. Khi ấy, lòng tôi ngập tràn căm giận. Tôi cay đắng nghĩ đến câu nói dân gian: “Bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu.” Nhưng sau bao nhiêu năm nhìn lại, tôi hiểu rằng đó chỉ là tiếng kêu bất lực của một người đàn ông đang đau đớn vì sắp mất người mình yêu. Tôi không biết người đàn ông ấy tốt hay xấu; tôi chỉ biết trong mắt một gia đình đang lo lắng cho tương lai của con gái, anh ta có một điều mà tôi lúc ấy chưa thể có: một con đường chắc chắn để sang Mỹ.

Nàng nói với tôi đó chỉ là một cuộc hôn nhân giả, là chiếc cầu để nàng đến Hoa Kỳ tiếp tục học ngành y. Nghe những lời ấy, bầu trời trong tôi như sụp đổ. Tôi đau đến mức không còn biết phải trách nàng, trách gia đình nàng hay trách chính số phận đã đặt chúng tôi vào một lựa chọn quá nghiệt ngã. Tôi đã nói với nàng rằng hãy chờ tôi, bởi rồi tôi cũng sẽ được đi Mỹ và chúng tôi có thể cùng nhau bắt đầu lại. Nhưng lời hứa của Cao ủy đối với gia đình nàng vẫn chỉ là một lời hứa xa xôi, còn người Việt kiều kia lại là một tấm vé đang nằm ngay trước mắt.

Tôi yêu nàng, vì vậy tôi phải làm điều đau đớn nhất mà một người đang yêu có thể làm: chấp nhận buông tay và chúc phúc cho nàng.

Tôi tự an ủi rằng ít nhất nàng sẽ được đến Mỹ, sẽ tiếp tục học ngành y và một ngày nào đó lại khoác lên mình chiếc áo blouse trắng. Nếu hạnh phúc của nàng phải được xây trên nỗi đau của tôi, tôi cũng cam lòng. Tôi mất nàng, nhưng tôi vẫn muốn nàng giữ được ước mơ. Bởi trong tận cùng tình yêu, đôi khi người ta không còn mong được sở hữu người mình yêu; người ta chỉ mong người ấy có một cuộc đời tốt đẹp.

Một năm sau, tôi cũng được sang Hoa Kỳ theo chương trình dành cho những người bị cưỡng bức hồi hương. Tôi sống ở miền Đông, nàng ở tận miền Tây. Giữa chúng tôi là cả một lục địa, là những tháng năm xa cách và là hai cuộc đời đã rẽ sang hai hướng khác nhau. Nhưng chúng tôi vẫn liên lạc. Có lẽ trong sâu thẳm, cả hai vẫn muốn tin rằng tình yêu năm xưa chưa hoàn toàn chết; nó chỉ đang ngủ yên dưới lớp tro tàn của định mệnh.

Rồi chúng tôi gặp lại nhau tại California.
Tôi đã tưởng giây phút ấy sẽ là một cuộc đoàn tụ kỳ diệu. Tôi tưởng mình sẽ lại nhìn thấy thiên thần áo trắng của ngày xưa cô sinh viên trường Y từng đặt bàn tay dịu dàng lên trái tim tan vỡ của một người vừa bị đẩy trở về từ trại tỵ nạn. Nhưng trước mắt tôi không còn là người con gái đang bước trên hành lang bệnh viện với ống nghe và những trang giáo trình y khoa. Nàng đã trở thành một người thợ nail.

Tôi không khinh nghề nail. Đó là một nghề lương thiện, được trả bằng mồ hôi, sự nhẫn nhịn và những cơn đau âm thầm của người nhập cư. Điều làm tôi đau không phải vì nàng làm nail, mà vì tôi nhận ra giấc mơ nàng đã đánh đổi tình yêu để theo đuổi cuối cùng cũng không thành hiện thực. Chiếc áo blouse trắng từng khiến tôi gọi nàng là thiên thần đã bị cất vào một góc quá khứ. Đôi bàn tay đáng lẽ cầm ống nghe, viết bệnh án và chữa lành cho người bệnh, giờ ngày ngày cầm chiếc kềm, chiếc giũa, cúi xuống trước những bàn tay, bàn chân của khách hàng.

Ba ngày liên tiếp, nàng chở tôi đến tiệm nail. Nàng bước vào làm việc, còn tôi ngồi một mình trong tiệm kem kế bên để chờ. Qua khung cửa kính, tôi nhìn nàng cúi xuống bên chiếc bàn nhỏ. Khoảng cách giữa chúng tôi chỉ là một bức tường và vài bước chân, nhưng tôi cảm thấy xa hơn cả chiều dài nước Mỹ. Tôi nhìn thấy trong dáng ngồi lặng lẽ ấy người con gái năm xưa, nhìn thấy những giấc mơ đã lỡ làng, nhìn thấy tuổi thanh xuân của chúng tôi bị nghiền nát giữa hoàn cảnh và định mệnh.

Có lẽ nàng nghĩ tôi chỉ đang kiên nhẫn chờ nàng tan sở. Nàng đâu biết rằng trong tiệm kem bên cạnh, tôi đang ngồi làm đám tang cho mối tình của chính mình.

Đến ngày thứ ba, tôi không còn đủ sức chịu đựng. Tôi lặng lẽ mua vé máy bay trở về miền Đông, không một lời từ biệt. Tôi ra đi không phải vì hết yêu, càng không phải vì khinh thường công việc của nàng. Tôi ra đi vì nhìn nàng mỗi ngày là nhìn thấy cả một thiên đường đã mất. Tôi sợ nếu ở lại thêm một ngày, tôi sẽ hỏi nàng những câu hỏi mà không ai có thể trả lời:
Nếu ngày ấy nàng chờ tôi, cuộc đời chúng tôi sẽ ra sao?

Nếu gia đình nàng không ép buộc, nàng có còn khoác áo blouse trắng?

Và nếu nàng đã đánh đổi tình yêu để đi tìm một tương lai tốt đẹp hơn, tại sao định mệnh cuối cùng vẫn không trả lại cho nàng giấc mơ ấy?

Tôi lên máy bay mang theo một nỗi buồn không hành lý nào chứa nổi. Phía dưới là California đầy nắng, còn trong lòng tôi là một mùa mưa kéo dài suốt bao nhiêu năm. Tôi không từ biệt nàng, bởi có những cuộc chia tay nếu nói thành lời thì con người ta sẽ không còn đủ can đảm để bước đi. Tôi để nàng lại bên chiếc bàn nail, nhưng hình ảnh thiên thần áo trắng ngày xưa vẫn theo tôi về miền Đông và ở lại trong trái tim tôi cho đến tận hôm nay.

Bao năm đã qua, tôi không còn oán trách nàng. Tôi cũng không còn căm giận người Việt kiều năm ấy như thuở còn trẻ. Bởi suy cho cùng, tất cả chúng tôi đều là những con người bị cuốn đi trong dòng thác của thời cuộc: một người đàn ông vừa bị cưỡng bức hồi hương chưa biết ngày mai sẽ đi về đâu; một cô sinh viên trường Y bị gia đình ép chọn con đường chắc chắn; và một người từ Mỹ trở về đã vô tình trở thành dấu chấm hết cho một mối tình.

Tôi chỉ tiếc cho chúng tôi. Tiếc cho một tình yêu rất thật nhưng sinh ra không đúng thời điểm. Tiếc cho người con gái đã từng cứu tôi khỏi đáy vực cuộc đời, nhưng cuối cùng chính nàng lại không thể cứu được ước mơ của mình. Và tiếc cho ba ngày ở California, khi chúng tôi ở thật gần nhau mà không còn con đường nào để trở về với nhau nữa.

Nàng từng là thiên thần áo trắng của đời tôi. Dù năm tháng đã thay chiếc áo blouse bằng chiếc tạp dề của người thợ nail, trong ký ức tôi, nàng vẫn mãi đứng nơi hành lang trường Y của tuổi trẻ tinh khôi, nhân hậu và đẹp như buổi đầu chúng tôi gặp gỡ.

Tôi đã rời California không một lời từ biệt. Nhưng thật ra, suốt cả cuộc đời này, tôi chưa bao giờ từ biệt được nàng.

Có những người đã bước ra khỏi cuộc đời ta từ rất lâu, nhưng vẫn âm thầm sống trong một căn phòng khóa kín của trái tim. Ta không còn mong gặp lại, không còn mong nối lại duyên xưa; chỉ thỉnh thoảng, giữa một đêm thật vắng, ký ức bỗng mở cửa bước ra, mặc chiếc áo blouse trắng năm nào, nhìn ta bằng đôi mắt dịu dàng rồi hỏi:

“Ngày ấy, nếu em chờ anh… liệu chúng ta có khác không?”

Tôi không có câu trả lời.
Tôi chỉ biết rằng mình đã yêu nàng bằng tình yêu chân thật nhất của một đời người. Và nỗi đau lớn nhất không phải là nàng đã thuộc về người khác, mà là khi gặp lại, tôi nhận ra cả nàng, cả tôi và giấc mơ của chúng tôi đều đã trở thành những người lưu vong ngay trên chính cuộc đời mình.

TẠI SAO TÔI VẪN VIẾT THƠ TÌNH VỀ CÔ GÁI ẤY?
Có người hỏi tôi: “Bao nhiêu năm đã trôi qua, mỗi người đều đã có một cuộc đời riêng, tại sao anh vẫn còn viết thơ tình về cô gái ấy?”

Tôi viết không phải để gọi nàng quay lại. Tôi càng không muốn làm xáo trộn sự bình yên mà nàng đang có. Tôi hiểu thời gian đã đưa chúng tôi đi quá xa và cánh cửa ngày xưa đã khép lại từ lâu. Những bài thơ của tôi không phải là lời níu kéo, không phải sự phản bội hiện tại, mà chỉ là những nén hương dành cho một mối tình đã mất.

Tôi viết bởi khi cả thế giới quay lưng, nàng đã đến bên tôi.
Ngày tôi bị cưỡng bức trở về từ trại tỵ nạn Malaysia, tôi là một người thất bại trong mắt xã hội: không tương lai, không sự nghiệp, không biết ngày mai sẽ trôi dạt về đâu. Nhưng cô sinh viên trường Y ấy không nhìn tôi như một kẻ trắng tay. Nàng nhìn thấy bên trong tôi một con người đang bị thương và trao cho tôi tình yêu khi tôi cần nó nhất.

Có thể đối với nàng, đó chỉ là một quãng đời tuổi trẻ. Nhưng đối với tôi, tình yêu ấy từng là sợi dây kéo tôi ra khỏi đáy vực. Nàng đã cứu tôi không bằng thuốc men hay chiếc ống nghe của người thầy thuốc, mà bằng sự dịu dàng, lòng tin và một bàn tay không buông bỏ tôi trong những tháng ngày tăm tối.

Vì thế, tôi viết thơ để trả một món nợ ân tình.
Tôi viết về mái tóc nàng, về đôi mắt nàng, về chiếc áo blouse trắng trên hành lang trường Y. Tôi viết về lời hẹn chờ nhau đã không thành, về chuyến bay chia chúng tôi ra hai miền nước Mỹ, về ba ngày tôi ngồi trong tiệm kem nhìn nàng làm nail qua một khung cửa kính. Tôi viết về ly kem tan chảy trước mặt và tấm vé máy bay đưa tôi trở lại miền Đông trong im lặng.

Ngày ấy, tôi đã rời California không một lời từ biệt. Có lẽ những bài thơ tôi viết hôm nay chính là những lời từ biệt đã đến muộn hơn cả một đời người.

Tôi không đau vì nàng không còn thuộc về tôi. Tôi đau vì nàng đã đánh đổi tình yêu để đi tìm giấc mơ áo trắng, nhưng cuối cùng giấc mơ ấy vẫn không thành. Tôi từng chấp nhận mất nàng chỉ vì tin rằng ở một phương trời khác, nàng sẽ trở thành bác sĩ. Vậy mà ngày gặp lại, đôi bàn tay từng lật những trang giáo trình y khoa lại đang cầm chiếc giũa nơi tiệm nail.

Tôi không hề khinh thường nghề nail. Đó là nghề lao động chân chính đã nuôi sống biết bao gia đình Việt Nam trên đất Mỹ. Nhưng khi nhìn nàng cúi xuống bên chiếc bàn nhỏ, tôi không chỉ nhìn thấy một người thợ nail. Tôi nhìn thấy cô sinh viên trường Y năm xưa, nhìn thấy chiếc áo blouse trắng đã bị thời gian cất vào ngăn tủ và nhìn thấy cả giấc mơ mà nàng đã phải chôn xuống để tồn tại nơi xứ lạ.

Tôi thương nàng nhiều hơn là trách.
Ngày trẻ, tôi từng oán giận nàng, oán gia đình nàng và oán cả người Việt kiều đã đưa nàng ra khỏi cuộc đời tôi. Nhưng càng đi qua năm tháng, tôi càng hiểu rằng không ai trong câu chuyện ấy thật sự chiến thắng. Tôi mất một người mình yêu. Nàng mất một mối tình và có thể cả giấc mơ nghề nghiệp. Còn người đàn ông kia có lẽ cũng chỉ bước vào một cuộc hôn nhân mang theo những điều mà tôi không bao giờ biết hết.

Thủ phạm thật sự không hẳn là một con người. Đó là hoàn cảnh, là sự bấp bênh của kiếp người tỵ nạn, là nỗi sợ hãi của một gia đình trước tương lai con gái và là định mệnh đã để hai người yêu nhau gặp đúng người nhưng sai thời điểm.

Tôi viết thơ tình về nàng bởi trong ký ức tôi, nàng không bao giờ già đi. Nàng vẫn là cô gái mặc áo blouse trắng, đứng giữa hành lang trường Y ngập nắng, mỉm cười với một người vừa trở về từ đáy vực. Nàng vẫn là “thiên thần áo trắng” đã yêu tôi khi tôi chẳng có gì để trao ngoài một trái tim chân thật.

Tôi viết không phải để sống lại với nàng, mà để phần đẹp nhất của chúng tôi không chết.

Bởi con người có thể bước ra khỏi đời nhau, nhưng ân tình thì không dễ gì xóa bỏ. Một cuộc tình không đi đến cuối con đường chưa chắc là một cuộc tình vô nghĩa. Có những người đến với ta không phải để ở lại suốt đời, mà để thắp lên một ngọn đèn trong quãng đời tối tăm nhất. Khi ta đủ sức bước tiếp, họ lặng lẽ rời đi, để lại ánh sáng ấy cháy mãi trong lòng.

Nếu một ngày nào đó nàng tình cờ đọc được những dòng thơ tôi viết, tôi chỉ mong nàng hiểu:

Tôi chưa bao giờ dùng thơ để đòi nàng trả lại tình yêu. Tôi chỉ muốn cảm ơn nàng vì đã từng yêu một người trắng tay, tuyệt vọng và bị cuộc đời ruồng bỏ. Tôi muốn nàng biết rằng ở một nơi nào đó trên miền Đông nước Mỹ, vẫn có một người gìn giữ hình ảnh đẹp nhất của nàng—không phải người thợ nail cúi đầu bên chiếc bàn nhỏ, mà là cô sinh viên trường Y với chiếc áo blouse trắng tinh khôi.

Nàng không còn là người yêu của tôi. Nàng đã trở thành một phần ký ức, một phần tuổi trẻ và một phần máu thịt trong những câu thơ tôi viết.

Vì thế, nếu hỏi tại sao tôi vẫn viết thơ tình về cô gái ấy, câu trả lời thật đơn giả.
Bởi tôi đã rời California mà không nói lời từ biệt.
Bởi nàng từng cứu tôi khi cuộc đời không còn một lối đi.
Bởi có những mối tình kết thúc trong đời sống, nhưng không bao giờ kết thúc trong thi ca.
Và bởi suốt cuộc đời này, mỗi khi cầm bút viết về tình yêu, tôi vẫn nhìn thấy nàng từ phía bên kia khung kính—một người phụ nữ lặng lẽ bên bàn nail, còn trong tấm gương của ký ức vẫn là thiên thần áo trắng năm nào.
Tôi viết thơ để trả nàng về với giấc mơ mà cuộc đời đã lấy mất.
Tôi viết để nói lời cảm ơn.
Và tôi viết, thay cho một lời từ biệt đã muộn mất một đời người.

Quốc Nguyên
Người về từ lòng đại dương


Những niềm vui nhỏ bé

"Enjoy the little things, for one day you may look back and realize they were the big things." — Robert Brault.

Ở Khoa Hồi sức, Bệnh viện huyện TL, người ta gọi cậu là "Bác sĩ Minh nhỏ".

Minh 27 tuổi, vừa xong 18 tháng thực hành ở Cần Thơ rồi xung phong về huyện. Bạn bè cùng khóa người ở lại thành phố, người đi chuyên khoa thẩm mỹ, người học lên chuyên khoa tim mạch can thiệp. Minh thì về đây, nơi mùa nước nổi nước ngập nửa sân bệnh viện, nơi khoa hồi sức chỉ có sáu cái giường, hai cái máy thở cũ kêu rè rè suốt ngày đêm và hai cái máy monitor lúc nào cũng chập chờn sợi dây đo SpO2.

Ngày của Minh bắt đầu lúc 5 giờ 30. Trời miền Tây tháng tám còn mờ hơi sương. Cậu chạy xe máy qua con lộ đất đỏ, ghé mua ổ bánh mì thịt của cô Tư đầu chợ, rồi tạt vô khoa. Ca trực đêm của chị điều dưỡng Lan vừa xong, sổ trực ghi nguệch ngoạc: "Bệnh nhân giường số 2 - bác Ba Đờn - sốt lại 38.5 lúc 3 giờ sáng."

Bác Ba Đờn 68 tuổi, ở xã Trường Xuân, vô viện vì viêm phổi nặng trên nền COPD. Hôm qua bác còn phải thở oxy dòng cao, nói không ra hơi. Minh rửa tay, khoác chiếc áo blouse đã ngả màu, lại giường bác. Cậu kéo ống nghe, áp lên lưng bác.
"Hít vô đi bác Ba... thở ra... giỏi rồi."

Tiếng rale nổ đã bớt. Chỉ số trên monitor: SpO2 94%. Minh nhìn tờ kết quả xét nghiệm mới chạy lúc sáng sớm kẹp trên đầu giường - bạch cầu từ 18.000 hôm qua nay còn 10.000. Một niềm vui nhỏ đầu tiên trong ngày, giản dị như vậy thôi. Thấy con số tốt hơn ngày hôm qua. Cậu ghi vào bệnh án, rồi vỗ nhẹ vai bác:

"Hôm nay mình tập ngồi dậy nghen bác. Mai mốt khỏe về ăn cá lóc nướng trui..."

Bác Ba gật đầu, mắt ươn ướt. Mấy người già miền Tây ít nói lời hoa mỹ, chỉ gật vậy là đủ.

Buổi sáng là lúc khoa đông nhất. Người nhà đứng chật ngoài hành lang, người bưng thau cháo, người cầm bọc cam. Ở bệnh viện huyện, phòng hồi sức cấp cứu không có cửa kính ngăn như thành phố. Người nhà nhìn thấy hết bác sĩ làm gì. Minh quen rồi. Cậu đi từng giường, dặn dò từng người.

Đến trưa, một ca suy hô hấp do đuối nước ở mương được đưa vô. Thằng bé 5 tuổi, té mương. Minh và chị Lan lao vào cấp cứu. Hút đàm, bóp bóng, cho thở máy. Mồ hôi chảy ròng ròng sau lưng áo blouse. Mười lăm phút căng như dây đàn, rồi tiếng máy thở nhịp đều trở lại. Thằng bé ho sặc một cái, rồi mở mắt.

Mẹ nó, một người phụ nữ đen nhẻm, chân còn lấm bùn, đứng ngoài cửa sổ cứ chắp tay lại vái vái. Khi Minh bước ra, chị chỉ líu ríu đi theo vừa khóc vừa nói mãi một câu: "Cảm ơn bác sĩ... cảm ơn bác sĩ..." Câu nói mộc mạc vậy thôi. Không có phong bì, không có hoa. Minh nghe hoài mà lần nào cũng thấy sống mũi mình cay cay vì cảm động. Đó là niềm vui thứ hai trong ngày của bác sĩ Minh. Ở thành phố, người ta sợ kiện, sợ quay clip. Ở đây, một lời cảm ơn là đủ vui để quên hết ca trực dài 24 tiếng.

Đầu giờ chiều, khoa ít việc hơn một chút. Đó là khoảng lặng hiếm hoi. Mấy anh em trong khoa - Minh, chị Lan, cậu điều dưỡng tên Hậu mới ra trường - ngồi bệt xuống nền gạch mát rượi, ăn vội bữa cơm hộp. Cơm căn tin bệnh viện, có miếng trứng chiên với miếng thịt kho hột vịt mặn mặn. Vậy mà ngon lạ lùng, vì được ăn chung và được ăn lúc bụng đang đói cồn cào. Họ kể chuyện ruộng lúa nhà ai trúng mùa, chuyện dừa rớt giá, chuyện con nước năm nay lên cao.

"Ê Minh, về đây có buồn không? Bạn bè nó đi hết rồi," Hậu hỏi.

Minh cười. "Buồn gì. Ở đây người ta cần mình thiệt. Mình làm mình giỏi lên từng ngày luôn á. Ở trên kia, một ca viêm phổi như bác Ba là tuyến dưới chuyển lên. Ở đây, mình là tuyến dưới rồi, mình phải ráng tự lo bà con đỡ khổ."

Ăn xong, Minh lại đi một vòng nữa. Bác Ba Đờn đã ngồi được dậy, tự cầm muỗng húp cháo. Thấy Minh, bác khoe: "Bác sĩ coi nè, tui hết nặng ngực rồi."

Thấy bệnh nhân hết đau, hết khó thở và được xuất viện, với bác sĩ hồi sức, đó là phần thưởng lớn nhất. Không phải là cứu được một ca ngoạn mục đăng lên báo, mà là nhìn thấy người ta từ lúc nằm liệt, thở không nổi, đến lúc tự ngồi dậy, tự múc cháo ăn. Sự hồi phục nó chậm rãi, nó mộc mạc, như cây lúa ngoài đồng sau lũ tự đứng thẳng lại.

Cuối giờ chiều, người nhà bác Ba Đờn vào. Vợ bác, một bà cụ nhỏ thó, tay xách cái giỏ đệm. Bà đứng rụt rè ở cửa khoa.

"Bác sĩ Minh ơi, mai ổng được ra viện rồi, tui không có gì... vườn nhà có mấy trái mít vừa chín cây, tui hái cho bác sĩ..."

Trong giỏ là hai trái mít tố nữ vàng ươm, bọc trong lá chuối, và một bó rau lang xanh mướt mới hái còn dính đất.

Minh lúng túng. Ở miền Tây, từ chối món quà quê này sẽ là phụ lòng người ta, những người nông dân chân chất. Nó không phải là hối lộ. Nó là ơn nghĩa.

"Dạ con cảm ơn... Rau này tối con luộc chấm mắm kho quẹt là hết sảy luôn."

Bà cụ cười móm mém, dúi cái giỏ vào tay cậu rồi mới yên tâm đi về. Món quà đơn sơ vậy thôi, mà Minh cầm thấy nặng trĩu. Cậu nhớ má cậu ở quê cũng hay gửi lên cho cậu mớ rau, trái cây như vậy.

Tối đó, Minh trực tiếp. Bệnh viện huyện ban đêm yên ắng, chỉ có tiếng ếch nhái kêu ngoài đồng và tiếng máy monitor tít đều. Cậu ngồi ở bàn trực, ánh đèn vàng, viết nốt bệnh án, thỉnh thoảng lại ngó vào sáu cái giường thân quen.
Chị Lan pha cho cậu ly cà phê đen: "Uống đi cho tỉnh, bác sĩ Minh nhỏ."

Minh nhấp một ngụm cà phê đắng. Cậu mở điện thoại, thấy tin nhắn trong nhóm lớp đại học: đứa khoe vừa mua được xe, đứa khoe đi hội thảo ở nước ngoài. Minh thả tim, rồi tắt máy.Thật lạ, cậu không thấy mình thiệt thòi. Niềm vui của cậu bây giờ được đo bằng những thứ rất nhỏ, nhỏ đến mức nếu kể ở thành phố người ta sẽ cười. Một chỉ số xét nghiệm đẹp hơn hôm qua. Một bữa cơm vội ngon miệng cùng đồng nghiệp. Một câu cảm ơn líu ríu. Một nụ cười của người vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Vài trái mít nhỏ và một bó rau lang còn dính bùn đất.

Những niềm vui nhỏ đó, gom lại mỗi ngày, đủ để cậu quên đi cái mệt của đôi chân đứng 12 tiếng, quên đi cái áo blouse ướt đẫm mồ hôi, quên đi những đêm mất ngủ.

Và đủ để sáng mai, 5 giờ 30, cậu lại nổ máy xe, chạy qua con lộ đất đỏ, đi vào khoa hồi sức sáu giường bệnh, nơi người ta vẫn đang cần cậu.

Thy Anh

BÀU QUYỀN

Khoảng đầu thu năm 1963, ở quê tôi, xưa tên Thường Đức, có một hiện tượng lạ, cá thần xuất hiện. Địa điểm là bàu Quyền. Thực sự đây không hẳn là con bàu như bao con bàu khác ở vùng quê. Nó như con sông bị cắt khúc, hình chữ L, độ dài ước chừng nửa cây số, nước rất sâu, có chỗ không dò tới đáy. Có suy đoán, nước bàu ăn thông trong lòng đất với nước của sông Côn gần đó (thực ra là sông Con, để phân biệt với sông Cái, người Pháp phát âm sai, đến người Mỹ cũng ghi tên sai trên bản đồ). Do vậy, nước bàu trong vắt. Vì tán cây rừng mọc chung quanh, nước bàu trở nên thăm thẳm màu xanh lục.

Chẳng ai trực tiếp nhìn thấy cá thần. Người thì bảo cá to như chiếc ghe nhỏ, có lớp vảy sáng rực như vảy…rồng. Người thì cả quyết cá dài chừng sải tay, màu đỏ như son, cặp mắt sáng như đèn pha. Có người, thực tế hơn, cho đó là con cá măng lửa khá lớn.

Ở thôn quê, thời còn bé, thỉnh thoảng tôi có thấy cá măng lửa đuổi bắt cá chép (to bằng bàn tay) ở các khúc sông nước sâu, nhất là mùa lũ, nước vừa rút khỏi làng mạc, trở về lòng sông, hai bên bờ còn tràn nước lụt, màu đục ngà ngà, gọi là “nước bạc”. Vì bơi đuổi con mồi với tốc độ khá cao, cá măng đôi lúc phóng lên bãi cát. Nhờ thế, tôi mới thấy tỏ tường, hình dáng một con cá măng lửa.

Cá có chiều dài chừng một mét rưỡi, lớp vảy to, óng sắc đỏ; đầu giống đầu cá chép nhưng to hơn so với cơ thể, chắc hàm răng sắc nhọn hơn. Cá có bề vòng to tầm bắp vế người lớn, thon nhỏ về hướng đuôi. Nổi bậc nhất là lớp vi gáy trên lưng, như cánh bườm, xé nước mỗi khi cá tăng tốc đuổi mồi trên mặt sông.

Nếu là một mình, nhìn mặt sông mênh mông nước bạc, chảy xiết, bờ bên kia là hàng tre ngả bóng âm u, bờ bên này là bãi cát dài vắng vẻ, tôi chắc chắn quý vị- cũng như tôi- sẽ rớt tim ra ngoài khi con cá măng vừa vụt lên bờ, rồi vội vã vụt xuống sông, đánh ùm một tiếng lớn, mất tăm. Cá ma rồi. Cá gì mà to lớn quá. Nếu không phải cá ma thì cũng là cá thần.

Con cá ở bàu Quyền có phải là cá thần? Không ai có câu trả lời chính xác cho đến lúc này, hiện tượng kỳ bí chấm dứt cách nay hơn nửa thế kỷ (1963-2026). Tôi có hỏi một vài cán bộ lão thành Việt Cộng (có vị ngoài 90) xem, hiện tượng cá thần, cá bàu Quyền, có phải họ là tác giả, tung tin giả, tạo cớ cho "cách mạng" hội họp, gặp gỡ công khai, mà không sợ bị đối phương phát hiện. Họ đều trả lời là không.

Vậy cá thần có thật?
Mỗi ngày, kéo dài đúng ba tháng mười ngày, hàng ngàn chứ không phải hàng trăm người, kéo về bàu Quyền để xin “nước thánh” vì bàu có cá thần. Từ Huế, Đà Nẵng, Hội An, kể cả từ Sài Gòn, xe đò như nối tiếp nhau, kéo về quê tôi, không khác chi trảy hội chùa Hương.

Các câu chuyện thần kỳ xuất hiện, truyền tai nhau, càng về sau càng lôi cuốn người nghe. Có người câm bỗng nói, người mù bỗng thấy, người điếc bỗng nghe. Nhiều người mắc bịnh hiểm nghèo bỗng nhiên hết bịnh. Tất cả họ nhờ uống nước “thánh” múc lên từ nước bàu vốn trở nên ngà ngà vì cả ngày đêm có người lấy nước.

Trên mặt bàu, người ta lập các bàn thờ Phật, khói hương (nhang) nghi ngút. Ai bước đến vái lạy xong sẽ được múc nước, tuỳ thể tích mà trả tiền cho chủ có bàn thờ. Có người mang sen từ nơi khác đến, nhúng vào nước, đem lên bán, giá 5 đồng một cái; quê tôi sen rất hiếm. 20 đồng, quý vị có thể mua một ang (10 lít) gạo. Một tô mỳ Quảng giá 3 đồng.

Dây xấp xôi, loài dây gai, trên lá cũng có gai, mọc dại rất nhiều trên các đồi đất quanh bàu đều gần như sạch. Chúng được cắt như hoa huệ, nhưng ngắn hơn, cứ mươi đoạn hay mươi ngọn ghép thành một bó, mỗi bó 5 đồng. Đương nhiên, chúng phải nhúng qua nước bàu Quyền, tức là nước thánh. Xấp xôi có nơi nấu nước uống, đôi lúc thay chè lá.

“ Xin” nước, bán nhang, bán “lộc”, cảnh người chen lấn nhau để được đến trước các chiếc cầu bắc ra giữa bàu, (gần bờ nước đục, hẳm sâu) tạo nên quang cảnh náo nhiệt, ồn ào, có khi trở thành bát nháo. Nhưng vì thành tâm lấy nước, mọi người đều nhường nhịn nhau: “Nhân hữu thiện nguyện, thiên tất tùng chi” ( Trời thương ai có tâm thiện lành).

Cảnh xin nước thánh thỉnh thoảng trở nên hỗn loạn, chen lấn xô đẩy nhau, có người bị ngã xuống bàu sâu, phải gọi người cứu, vớt. Nguyên có tiếng người nào đó la lớn như báo nhà cháy hay động đất. “Ngài lên, Ngài lên”. Có người hốt hoảng hỏi “nó đâu, nó đâu” liền bị có ai to tiếng mắng “sao gọi Ngài là nó? Muốn bị “nhận” (dìm ) nước hả?”. Đám đông kéo đến chỗ phát ra tiếng “Ngài lên”. Tất cả bỗng im phăng phắc, chú mục vào chỗ có ai đó trỏ tay, không chừng là chỗ cá thần vừa xuất hiện. Có người may mắn thì thấy chiếc vi cá sắc lẹm xé mặt nước cùng thân cá óng ánh vàng dưới mặt nước, dài bằng sải tay người lớn.

Kẻ thấy, người không, nhưng tất cả đều lần lượt quỳ bên bờ bàu; thấy người khác quỳ mình cũng quỳ, một phản xạ của đám đông. Quỳ để tỏ lòng kính trọng. Ai sao ta vậy!

Cá thần sẽ không nổi tiếng thần nếu chính quyền địa phương đừng cố tâm giết nó. Vị quận trưởng là người theo đạo Công Giáo. Việc tụ tập đông người gây rối loạn trật tự xã hội. Quan trọng hơn, chính quyền muốn dẹp “mê tín dị đoan” phát sinh từ cá thần, nước thánh.

Một toán lính công binh phái tới bàu Quyền. Họ được lịnh đặt một lượng lớn chất nổ TNT xuống bàu và cắt người canh gác. Khi thấy cá thần xuất hiện, họ sẽ kích hoạt thuốc nổ. Và cá xuất hiện thật. Cá chạy gần như lộ cả mình trên mặt bàu, nước xé theo đuôi cá, trông như khói nối sau tên lửa. Ùm, ùm, ùm, ùm…Những cột nước bắn lên trời cao như báo hiệu, cá thánh cũng tiêu, chứ kể chi cá thần.

Và lạ lùng thay, ngay buổi chiều hôm đó, trên mặt bàu, nước còn vẩn đục, cá “thần” lại xuất hiện trong tiếng reo hò tở mở của những người thất vọng, cứ nghĩ là cá đã chết. Họ mừng vì niềm tin không bị lay chuyển. Con người không thể qua thánh thần?

Hơn một tạ thuốc nổ vẫn không làm mất đi sự xuất hiện của cá thần. Thỉnh thoảng cá xuất hiện như thách thức con người. Và bàu Quyền vẫn nườm nượp đón người đến lấy nước về chữa bịnh.

Chẳng có thống kê nước thánh chữa lành được mấy người.

Mọi người ở quê tôi, cho đến bây giờ, vẫn không hiểu tại sao cá xuất hiện và mất đi đúng ba tháng mười ngày. Sau ngày “Cách mạng “ 1-11- 1963, bàu vắng vẻ, không một bóng người. Cá chẳng ai thấy nữa. Có cụ cao niên “lý giải”, bàu Quyền cạnh gò (trồng cây) Trao thành Trao-Quyền, hết ông Ngô Đình Diệm thì phải trao quyền. Hiện nay, bàu Quyền vẫn còn (ảnh) nhưng gò Trao chỉ là tên, cây trao bị đốn mất.

Nguyen Long Chien
Ảnh: Bàu Quyền.

ẾCH CHẾT TẠI MIỆNG, ĐẠI GIA MẠNG CHẾT TẠI… LIVE

*****
Ngày xưa các cụ có câu:
“Ếch chết tại miệng.” Hồi nhỏ tôi cứ tưởng câu ấy chỉ để dạy trẻ con đừng nói nhiều.
Lớn lên, nhất là từ ngày có Facebook, TikTok, YouTube và livestream, mới thấy các cụ ngày xưa quả thật nhìn xa.
Con ếch vốn chẳng làm gì nên tội. Nó chỉ có một khuyết điểm: ban đêm thích thông báo cho cả thế giới biết mình đang ở đâu.
Ộp! “Tôi ở đây.”
Ộp ộp! “Ở đây nè!”
Ộp ộp ộp! “Không những ở đây, tôi còn rất mập!”
Thế là rắn nghe thấy. Người soi ếch nghe thấy.
Kẻ muốn bắt nó cũng nghe thấy. Con ếch không gặp nạn vì nó là con ếch.
Nó gặp nạn vì nó quảng cáo vị trí của mình hơi kỹ.

****
NHỮNG CON ẾCH THỜI 4.0
Thời mạng xã hội cũng xuất hiện một giống “ếch” rất đặc biệt.
Họ không kêu ộp ộp. Họ livestream.
Hôm nay khoe xe sang. Ngày mai khoe biệt thự.
Ngày kia khoe đồng hồ, kim cương. Bữa khác mở két cho thiên hạ xem tiền.
Chưa hết. Còn phải ngồi trước vô-lăng một chiếc xe đắt tiền, chỉnh camera cho vừa góc, rồi bắt đầu giảng cho vài trăm ngàn người về bí quyết thành công, nghệ thuật kiếm tiền, đạo lý làm người và đôi khi cả cách… sống khiêm nhường.
Nghe cũng cảm động. Chỉ có điều, trong hàng trăm ngàn người đang xem ấy, không phải ai cũng chỉ bấm Like.
Có người tò mò. Có người ganh tị.
Có người không ưa. Có người biết đọc báo cáo tài chính.
Có người làm thuế. Có người làm quản lý thị trường.
Và có những người rất ít khi thả tim. Họ chỉ ghi chép.

***
XE VÀ NHÀ VẪN CHƯA ĐỦ. CÒN PHẢI… ĂN CHO THIÊN HẠ XEM
Khoe giàu thời nay mà chỉ có xe với nhà thì hình như vẫn chưa đủ.
Còn phải ăn cho thiên hạ xem.
Một bữa cơm bình thường thì làm sao thành viral?
Phải bàn dài thênh thang. Hải sản chất đầy.
Cá lớn. Cua lớn. Heo quay nguyên con.
Và đặc biệt, tôm hùm càng lớn càng tốt.
Nếu kiếm được con tôm hùm hai chục pound thì càng tuyệt.
Bởi tôm nhỏ quá, sợ thiên hạ… không nhận ra mình giàu.
Camera bắt đầu lia.
Đây là tôm hùm. Đây là cá.
Đây là heo quay. Đây là rượu.
Đây là khách quý. Và đây là chủ nhân, cười thật tươi như muốn nhắn với cả thế giới:
“Thấy chưa? Cuộc đời tôi nó vậy đó!”
Khổ nỗi, trong vài trăm ngàn người đang xem, đâu phải ai cũng đang vui.
Có người vừa ăn tô mì gói. Có người đang thất nghiệp.
Có người làm quần quật cả tháng chưa chắc mua nổi một món trên cái bàn kia.
Có người chẳng thù chẳng oán gì mình.
Nhưng xem xong tự nhiên… ngứa mắt.
Mà mạng xã hội có một quy luật rất kỳ:
Khi mình mời cả thiên hạ vào xem cuộc sống của mình, mình không có quyền lựa chọn tâm trạng của từng người khách.
Người này bấm Like. Người kia thả tim.
Người khác xuýt xoa: “Anh quá đẳng cấp!”
Nhưng đâu đó cũng có một ông ngồi gãi đầu:
“Ủa, cha nội này làm nghề gì mà dữ vậy?”
Người thứ hai bắt đầu tò mò: “Công ty bán cái gì mà giàu ghê vậy?”
Người thứ ba chẳng comment gì hết.
Họ chỉ copy cái link. Rồi gửi nó đi đâu đó.

****
KHI YOUTUBE VÀ FACEBOOK VÔ TÌNH TRỞ THÀNH… HỒ SƠ MULTIMEDIA
Ngày xưa muốn tìm hiểu một người giàu có, có khi phải mất công.
Người đó có những tài sản gì? Xe gì? Nhà ở đâu?
Kinh doanh ngành gì? Quan hệ với ai? Sinh hoạt ra sao?
Bây giờ đôi khi chẳng cần.
Chính chủ quay hết. Lại còn quay 4K.
Có flycam. Có biển số xe. Có mặt tiền căn nhà.
Có bảng tên công ty. Có những chuyến đi.
Có những bữa tiệc. Có những người thường xuyên xuất hiện chung.
Có ngày giờ đăng tải. Có khi còn có clip mở két.
Tất cả được Facebook, TikTok và YouTube sắp xếp ngay ngắn theo thời gian.
Gần giống một bộ hồ sơ multimedia tự nguyện.
Không ai ép khai. Tự khai.
Không ai hỏi có bao nhiêu xe. Tự quay.
Không ai hỏi nhà lớn cỡ nào. Cho flycam bay một vòng luôn.
Đấy mới là lúc câu “ếch chết tại miệng” bước sang thời đại kỹ thuật số.
Ngày xưa cái miệng chỉ phát ra âm thanh.
Ngày nay cái “miệng” có camera, GPS, video 4K và nút LIVE.

****
GIÀU KHÔNG CÓ TỘI
Đến đây phải nói cho thật rõ. Giàu không phải là một cái tội.
Khoe giàu cũng không phải là bằng chứng của tội phạm.
Ăn tôm hùm hai chục pound càng không vi phạm điều luật nào.
Một người làm ăn chân chính, đóng thuế đầy đủ, mua Ferrari, Rolls-Royce, xây biệt thự hay mỗi tối ăn tôm hùm là quyền của họ.
Và việc một người bị khám xét, bị điều tra hay bị khởi tố cũng phải được phân biệt rõ ràng; tất cả đều phải chờ quá trình tố tụng và kết luận theo pháp luật.
Nhưng câu chuyện đáng nói ở đây là một chuyện khác:
KHOE CÀNG NHIỀU, NGƯỜI TA CÀNG NHÌN KỸ.
Đơn giản vậy thôi. Khi một người bình thường có một chiếc Toyota, chẳng mấy ai thắc mắc.
Nhưng khi một người ngày nào cũng cho thiên hạ xem siêu xe, biệt thự, đồng hồ, vàng đeo nặng cổ, két tiền và những bữa tiệc xa hoa, thì sớm muộn cũng có người đặt câu hỏi:
Tiền từ đâu ra?
Không nhất thiết vì người ta xấu.
Đó đơn giản là bản chất của sự chú ý.
Mình càng muốn người khác chú ý đến mình, thì càng phải chấp nhận rằng có người sẽ chú ý kỹ hơn mức mình mong muốn.

****
MUỐN THIÊN HẠ GHEN, RỒI LẠI GIẬN VÌ THIÊN HẠ GHEN
Đây mới là nghịch lý buồn cười nhất. Một phần của văn hóa khoe giàu trên mạng tồn tại chính vì người khoe muốn tạo ra sự ngưỡng mộ.
Muốn người khác trầm trồ. Muốn người khác ước ao.
Thậm chí muốn người khác… ghen.
Nhưng đến khi thiên hạ thật sự ghen, thật sự tò mò, thật sự soi thì lại nổi giận:
“Sao xã hội này nhiều người ganh ghét quá!”
Ủa? Thì Chính mình dựng sân khấu. Chính mình bật đèn.
Chính mình kéo màn. Chính mình mời cả làng vào xem.
Rồi cuối cùng lại trách khán giả: “Sao mấy người nhìn kỹ quá vậy?”
Đã bán vé cho thiên hạ vào xem cuộc đời mình thì không thể quy định tất cả khán giả chỉ được vỗ tay.
Sẽ có người vỗ tay. Có người huýt sáo. Có người chê.
Có người ghen. Và đôi khi có một ông "kẹ" ngồi hàng cuối chẳng nói chẳng rằng.
Ông ấy chỉ lấy điện thoại ra… chụp lại và gởi đi cho ai đó.

******
CÁI GIÁ CỦA SỰ CHÚ Ý
Thật ra, đây mới là nghịch lý lớn nhất của thời đại mạng xã hội.
Nhiều người kiếm tiền nhờ sự chú ý. Càng nhiều người xem, càng nổi tiếng.
Càng nổi tiếng, càng bán được hàng. Càng bán được hàng, càng giàu.
Càng giàu, lại càng có thứ để khoe. Rồi càng khoe, lại càng nhiều người nhìn.
Một vòng tròn hoàn hảo.
Cho đến khi xuất hiện một câu hỏi:
“Ủa… mà tiền đâu ra nhiều dữ vậy?”
Và từ giây phút ấy, sự chú ý từng là tài sản có thể bắt đầu trở thành một món nợ.

****
CON ẾCH VÀ BÀI HỌC CUỐI CÙNG
Có lẽ những người thật sự giàu nhưng kín tiếng sở hữu một thứ tài sản rất quý mà chẳng bao giờ thấy họ mang lên Youtube và Facebook khoe.
Sự im lặng.
Không livestream két sắt. Không sáng Ferrari, chiều Lamborghini.
Không đếm tiền trước camera. Không nhất thiết phải cho cả thiên hạ biết tối nay mình ăn con gì nặng bao nhiêu pound.
Không phải vì họ nghèo. Mà có lẽ vì họ hiểu rằng:
Không phải thứ gì mình có cũng cần biến thành viral.

***
Con ếch ngoài đồng ít ra còn có một điều để bào chữa.
Nó kêu vì bản năng.
Còn con người có một nút POST.
Trước khi bấm, vẫn còn vài giây để suy nghĩ.
Ngày xưa, các cụ chỉ cần năm chữ:
ẾCH CHẾT TẠI MIỆNG.
Ngày nay có lẽ phải cập nhật thêm một phiên bản cho thời đại 4.0:
Cái miệng chưa kịp hại mình, thì cái điện thoại đã làm thay.
Và giữa một cánh đồng tối, đôi khi sống lâu không phải nhờ nhảy giỏi.
Mà nhờ biết lúc nào nên… ngậm miệng.

hvn
8/24/26
(viết mà chơi)


ĐỪNG NHÌN TÔI BẰNG QUÁ KHỨ

Tôi qua Mỹ năm hai mươi mấy tuổi. Lúc đó tôi chẳng có bằng cấp gì hết.
Tiếng Anh thì nói được vài câu yes hay no. Đi làm thì người ta nói một chút là tôi chỉ biết cười.
Ngày đầu đi xin việc, người ta hỏi:
— Do you have experience?
Tôi trả lời:
— Yes!
Người ta hỏi tiếp:
— Experience in what?
Tôi đứng nhìn.
Kinh nghiệm gì bây giờ?
Cuối cùng tôi làm đủ thứ.
Rửa chén.
Phụ bếp.
Dọn phòng.
Phục vụ nhà hàng.
Có thời gian làm ở một tiệm massage.
Rồi từ cái tiệm massage đó, tôi bước vào một thế giới mà sau này, dù đã bỏ rất lâu, tôi vẫn không muốn kể với ai.
Không phải vì tôi nghĩ mình là người xấu.
Mà vì tôi biết miệng đời. Ở Mỹ cũng vậy. Đừng tưởng người Mỹ không nhiều chuyện.
Họ chỉ nhiều chuyện bằng tiếng Anh.

Hồi đó tôi ở một thành phố miền Nam California.
Một người quen giới thiệu cho tôi công việc ở một câu lạc bộ dành cho người lớn.
Tiền khá.
Giờ giấc lạ.
Khách cũng đủ loại.
Có ông đi vào ăn mặc như triệu phú.
Có ông nói chuyện đạo đức cả buổi.
Có ông vừa bước vào đã kể chuyện vợ con.
Có ông chỉ ngồi uống nước, nói chuyện cả tiếng rồi về.
Tôi học được một điều rất lạ:
Đừng bao giờ nhìn một người qua bộ quần áo họ mặc.
Có người mặc vest rất sang nhưng trong lòng chẳng ra gì.
Có người mặc áo thun bạc màu nhưng đối xử với người khác tử tế vô cùng.
Nghề của tôi khi ấy không đẹp. Tôi biết. Nhưng cuộc đời đôi khi đẩy người ta vào những con đường mà lúc trẻ người ta đâu có nghĩ mình sẽ đi.
Một hôm có một cô gái mới tới. Tên Mỹ là Jenny.
Tên Việt của nó là Phương.
Phương vừa sang Mỹ được mấy tháng.
Nó hỏi tôi:
— Chị làm nghề này lâu chưa?
Tôi nói:
— Đủ lâu để biết nghề này không làm mình giàu, nhưng làm mình hiểu đàn ông rất nhanh.
Nó bật cười.
— Sao chị nói nghe ghê vậy?
Tôi nói:
— Không ghê đâu. Sau này em sẽ hiểu. Có người bước vào đây vì cô đơn. Có người vì buồn. Có người vì gia đình có chuyện. Có người chỉ muốn tìm cảm giác mình còn được ai đó chú ý.
Phương hỏi:
— Vậy đàn ông cần gì nhất?
Tôi suy nghĩ một lúc rồi nói:
— Nhiều khi họ chẳng cần gì hết. Họ chỉ cần có người ngồi nghe họ nói.
Phương ngạc nhiên.
Tôi cười:
— Em sẽ thấy. Có những ông bỏ tiền ra không phải để nói chuyện về đàn bà, mà để kể chuyện… vợ.
Tôi nhớ một ông khách tên Frank. Ông ấy khoảng ngoài sáu mươi. Lần nào đến cũng gọi một ly bia, ngồi một góc.
Một hôm tôi hỏi:
— Sao ông không về nhà?
Ông ấy nói:
— Vợ tôi mất rồi.
Tôi im.
Ông ấy nói tiếp:
— Tôi tới đây vì ở nhà buồn quá.
Tôi hỏi:
— Ông có con không?
— Hai đứa. Đều ở xa.
Rồi ông lấy điện thoại ra khoe hình mấy đứa cháu.
Ông cười.
Tôi cũng cười.
Đêm đó ông ngồi gần hai tiếng, rồi đứng dậy trả tiền.
Trước khi đi, ông nói:
— Thank you for listening.
Tôi ngẩn người. Ông ấy không cần gì từ tôi ngoài một người chịu ngồi nghe.
Tôi về nhà tối đó, nằm mãi không ngủ được.
Tự nhiên tôi nghĩ:
Có những người giàu tiền nhưng nghèo người để nói chuyện.

Tôi bỏ nghề năm ba mươi mấy tuổi. Không phải vì đạo đức đột nhiên cao lên.
Cũng chẳng phải vì tôi giác ngộ. Chỉ đơn giản là tôi mệt.
Mệt với ánh đèn.
Mệt với những cuộc vui giả tạo.
Mệt với việc mỗi ngày phải trang điểm trước khi bước ra khỏi nhà. Và quan trọng nhất… Tôi bắt đầu sợ một ngày nào đó mình sẽ không biết mình thật sự là ai.
Tôi nghỉ. Đi học làm tóc. Rồi học thêm nail. Sau đó tôi mở một tiệm nhỏ.

Ban đầu chỉ có hai bàn.
Một ghế gội đầu.
Một cái bảng hiệu nhìn hơi xiêu vẹo.
Ngày khai trương, tôi đứng trước cửa nhìn mãi.
Một người bạn hỏi:
— Sao không vô?
Tôi nói:
— Tao đang nhìn xem cuộc đời tao có thật sự đổi chưa.
Nó cười:
— Đổi bảng hiệu trước đi rồi tính!
Tôi cười theo.
Vậy là bước vào.
Mười năm sau, tiệm của tôi đông khách.
Có tiền. Không giàu. Nhưng đủ sống.
Tôi bắt đầu thuê mấy cô gái trẻ.
Có cô mới sang Mỹ.
Có cô ly dị.
Có cô làm mẹ đơn thân.
Có cô từng làm những nghề mà chẳng ai muốn nhắc tới.
Tôi không hỏi quá khứ.
Tôi chỉ hỏi:
— Em có chịu làm không?
Nếu nó nói có, tôi nói:
— Vậy bắt đầu từ ngày mai.
Tôi thường bảo tụi nhỏ:
— Đừng để quá khứ ăn hết tương lai.
Một cô hỏi:
— Nhưng người ta biết thì sao?
Tôi nói:
— Người ta nói một tuần. Em sống cả đời. Đừng lấy miệng người ta làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình.

Một hôm có cô gái tới xin việc. Cô ấy tên Mai.
Mai ngồi trước mặt tôi, hai tay cứ vò chiếc khăn giấy.
Tôi hỏi:
— Em từng làm gì?
Nó cúi đầu.
— Em không có gì hết.
Tôi nói:
— Chị hỏi nghề cũ, không hỏi em có giá trị hay không.
Nó ngước lên.
Tôi nói:
— Em từng làm gì?
Nó nói rất nhỏ:
— Em từng làm ở một club.
Tôi gật đầu.
— Rồi sao?
— Em sợ chị không nhận.
Tôi cười:
— Chị cũng từng làm.
Nó ngẩng phắt lên.
Tôi nói:
— Khác nhau ở chỗ chị đã đi qua rồi. Còn em đang đi.
Nó khóc.
Tôi đưa hộp khăn giấy.
— Đừng khóc. Khóc nhiều mắt sưng, mai khỏi đi làm.
Nó vừa khóc vừa cười.
Mai làm ở tiệm tôi được vài năm. Sau đó nó lấy chồng.
Một anh người Mỹ gốc Việt, làm kỹ sư.
Ngày cưới, tôi được mời. Tôi đứng phía sau nhìn Mai mặc áo cưới.
Tôi nhớ ngày đầu nó ngồi trước mặt tôi, hai tay vò nát chiếc khăn giấy vì sợ người khác biết quá khứ.
Bây giờ nó đang đứng giữa nhà thờ.
Có chồng bên cạnh.
Có mẹ khóc.
Có bạn bè cười.
Tôi đứng xa xa.
Mai nhìn thấy tôi, chạy lại ôm.
Nó nói:
— Nhờ chị mà em có ngày hôm nay.
Tôi lắc đầu:
— Không. Em tự làm.
Nó nói:
— Nhưng chị cho em cơ hội.
Tôi trả lời:
— Ai cũng cần một cơ hội. Quan trọng là lúc được trao cơ hội, mình có biết nắm lấy hay không.

Sau này tôi già hơn.
Tóc bạc.
Mắt kém.
Đi đâu cũng phải mang kính.
Mấy đứa nhỏ trong tiệm gọi tôi là “Má”.
Tôi nghe riết thành quen.
Một hôm có đứa hỏi:
— Má có hối hận không?
Tôi đang sơn móng tay cho khách, dừng lại một chút.
— Có.
Nó hỏi:
— Hối hận chuyện gì?
Tôi nói:
— Hối hận vì hồi trẻ không biết thương mình hơn.
Nó im.
Tôi nói tiếp:
— Người ta cứ dạy phụ nữ phải giữ cái này, giữ cái kia, giữ danh dự, giữ tiếng tăm…
Tôi nhìn nó.
— Nhưng ít ai dạy phụ nữ phải giữ lấy chính mình.
Bây giờ nếu ai hỏi tôi:
“Chị từng làm nghề gì?”
Tôi không còn hoảng.
Tôi cũng không cần nói dối.
Tôi chỉ trả lời:
— Tôi từng làm một công việc mà xã hội không thích gọi tên.
Nếu họ tò mò, tôi cười.
— Nhưng đó là chuyện của ngày hôm qua.
Hôm nay tôi là bà chủ một tiệm nhỏ.
Tôi đóng thuế.
Tôi nuôi gia đình.
Tôi giúp mấy đứa nhỏ có việc làm.
Tôi góp tiền cho hội từ thiện.
Tôi đi nhà thờ.
Tôi thăm bạn bè.
Tôi sống bình thường.
Và tôi hiểu một điều mà hồi trẻ chẳng ai nói cho tôi biết:
Một con người có thể từng đi qua một con đường rất tối, nhưng không có nghĩa là cả đời họ phải đứng trong bóng tối.

Ngoài cửa tiệm, nắng California vẫn vàng. Xe chạy ngoài đường.
Người ta đi làm.
Người ta đi chợ.
Người ta đưa con tới trường.
Chẳng ai biết bà già đang ngồi trong tiệm kia từng là ai.
Mà tôi cũng chẳng cần họ biết.
Bởi cuối cùng… Điều đáng kể nhất của một đời người không phải là mình đã bắt đầu từ đâu.
Mà là mình đã cố gắng trở thành người như thế nào khi cuộc đời cho mình một cơ hội để bắt đầu lại.

Phạm Sơn liêm

Blog Archive