Sunday, August 9, 2026

Chăm sóc tuổi già - xin đừng nửa thương nửa nợ

1.
Tôi không hiểu sao, tiếng Việt mình gọi là tình mẫu tử, tình phụ tử - chữ tình bao hàm bản năng trong đó, không thể tách rời. Nhưng hiếu thảo lại là - "lòng" hiếu thảo. Chữ "lòng" mang tính tự nguyện, nên hiếu thảo là lựa chọn của tâm, không phải nghĩa vụ. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học. Tôi chỉ cảm nhận như thế.

Lòng hiếu thảo có tính phổ quát, dù là tự nguyện, thì hiếu thảo ở đâu, phương Đông hay phương Tây gì cũng thế. Chỉ có điều thể hiện khác nhau.

Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ, có lẽ mỗi nền văn hóa có một cách riêng để thể hiện lòng hiếu thảo. Tôi đọc được status của một phụ nữ Mỹ chia sẻ chuyện cô đến thăm mẹ ở viện dưỡng lão. Cả tuần cô mới sắp xếp được một ngày đến thăm, tuần nào cũng thế. Khi cô đến, bà cụ đã ngồi chờ sẵn ở sân viện. Hai mẹ con chuyện trò đủ thứ. Khi cô về, bà cụ cũng ngồi ở sân viện, dõi mắt trông theo. Cô lên xe, ngoái lại, vẫn thấy cụ đang nhìn theo. Cô chia sẻ điều này trên Facebook, bằng giọng văn viết vội, không đầu không đuôi, lại sai chính tả. Cô bị ám ảnh bởi đôi mắt "trông theo" của mẹ.

Tôi cũng bị ám ảnh khi đọc những dòng chia sẻ của cô. Tôi nhớ lại đôi mắt của mẹ tôi, cũng dõi nhìn tôi như thế, khi tôi phải đi công tác xa vài ngày, trong những ngày tháng bà bệnh nặng. Bà sợ không kịp nhìn thấy tôi lần cuối trước khi qua đời.

Với phương Tây, lòng hiếu thảo không đồng nghĩa với "ở cạnh và tự tay chăm sóc". Bác sĩ và điều dưỡng có chuyên môn chăm sóc tốt hơn. Điều này rất thực tế. Đi làm cả ngày, có khi đi công tác xa, chăm sóc thể nào được, khi tuổi già mong manh.

Hiếu thảo là làm thế nào để cha mẹ được chăm sóc đúng cách, tự quyết định mà không lệ thuộc con cái. Con cái chỉ cần thỉnh thoảng tới thăm. Và nếu cần, hỗ trợ viện phí cho nhà dưỡng lão.

Ở ta, ảnh hưởng văn hóa Nho giáo, lòng hiếu thảo bị ràng buộc nặng nề bởi đạo lý và xã hội, và cả sự kỳ vọng của cộng đồng. Chút tiền trợ cấp, theo pháp luật, không nói lên điều gì về hiếu thảo. Chăm sóc cha mẹ già mới là vấn đề.

2.
Thế hệ con cái bây giờ sống trong đô thị, dù làm việc gần hay xa, đều muốn ở riêng. Mô hình gia đình, tam tứ đại đồng đường hầu như biến mất, may ra còn sót lại đâu đó ở nông thôn.

Cha mẹ sống chung với một đứa con nào đó cũng đang dần thu hẹp. Lập gia đình là ra ở riêng. Vẫn thỉnh thoảng về thăm nom cha mẹ, vẫn hỏi han qua điện thoại hằng ngày. Nếu ở chung, con cái sẽ chăm sóc cha mẹ theo cách riêng của chúng. Áp lực xã hội còn quá nặng nề, chưa đủ để con cái nghĩ đến đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão, dù là đóng phí không rẻ, tùy dịch vụ.

Bọn già tụi mình cũng thế. Căn nhà không chỉ là căn nhà, mà đó còn là tài sản chắt chiu, chất chứa biết bao ký ức một thời vất vả, vì bổn phận gia đình. Căn phòng ở viện dưỡng lão dù tiện nghi đến đâu cũng chỉ là nhà thuê, không phải là "home", mà là "house".

Sự xung đột nửa tây nửa ta như thế quả là một thách thức để thích nghi. Thách thức không chỉ với con cái, mà còn với tuổi già. Con cái chăm sóc chúng ta theo kiểu hiện đại. Còn tuổi già bọn mình mong muốn những gì ở tuổi xế chiều? Khi mà đầu óc lãng đãng, chuyện xưa thì nhớ, chuyện nay thì quên.

Chúng ta chưa đủ tinh thần để tách rời khỏi căn nhà. Hầu hết người già muốn được sống gần con cháu, không chỉ vì cần giúp đỡ vật chất, mà vì là mong muốn được hiện diện, được nghe tiếng người, được thấy đời sống tiếp nối. Mong muốn đó không phải là "lệ thuộc" vào con cái, mà là một cách níu kéo sợi dây với đời.

Đôi lúc chúng mang con cái về nhà gửi cả ngày, vợ chồng chúng đi chơi. Vừa là nhờ vả, vừa là ân huệ với tuổi già - mà chắc là ân huệ thiệt. Tuổi già thèm thủ thỉ với trẻ thơ. Chẳng phải chúng ta đã mua bánh kẹo sẵn, chờ đợi bọn trẻ đến đấy sao? Vừa chăm sóc, vừa chiều chuộng, vừa hỏi han. Chỉ có già mới kiên nhẫn lắng nghe, những câu hỏi thật nhanh, và quên thật nhanh của trẻ con. Dù sao, đó cũng là chút chứng tỏ mình còn có ích, con cái mới nhờ vả, chứ chưa vô dụng.

Có khi mình trông con cho chúng, không đúng như chúng dặn, là bị cằn nhằn. Nghĩ cũng buồn!

Dù sao, con cái còn quan tâm, chăm sóc đến mình là điều đáng mừng. Dù là quan tâm cho có lệ, hay thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi cũng là điều đáng mừng rồi.

Nếu có đứa nào tới lui chăm sóc là điều vượt quá mong đợi của tuổi già. Hãnh diện chứ! Nhưng mọi chăm sóc của chúng thường theo xu hướng hiện đại. Có điều gì đó mà đôi khi tuổi già miễn cưỡng nghe theo để khỏi phụ lòng.

Miễn cưỡng nghe như là chịu đựng… Có cách quan tâm, chăm sóc nào khác không?

3.
Thỉnh thoảng, con cái đặt "món ngon mẹ nấu", ship về tận nhà cho mình, nhưng chẳng bao giờ chúng đãi người già "món ngon con nấu".

Con nấu thế này, có ngon như hồi xưa mẹ nấu không? Khẩu vị người già dù đã thay đổi ít nhiều, nhưng trong khoảnh khắc sẽ hồi tỉnh lại. Tuổi già sẽ chỉ bảo, phải làm thế này, thêm thứ nọ mới đúng. Già rồi, đi đứng hết nổi, nhưng cũng cảm thấy mình còn có ích đôi chút, còn "truyền nghề" cho chúng. Niềm vui tuổi già chỉ giản dị thế thôi.

Nhưng có đứa nào chịu làm "món ngon con nấu" đâu. Chúng đặt hàng vài phút là có "món ngon mẹ nấu". Ký ức ẩm thực tuổi già bị lãng quên!

Người già thèm những món ăn quen thuộc. Thèm để nhớ một thời gian khổ, mà sao hồi đó ngon lạ thường. Món phá lấu, chẳng hạn. Hồi trước, ngày nào rủng rỉnh chút đỉnh, tôi mua đĩa phá lấu. Phần chúng nhiều gấp ba bốn phần mình. Nhìn chúng ăn ngon lành, ăn xong còn thòm thèm. Cha mẹ nào nuốt nổi phần mình nữa.

Bây giờ thèm, mình mua món phá lấu. Chúng cằn nhằn, chê món phá lấu mất vệ sinh. Ăn nội tạng heo bò làm tăng mỡ máu, có hại cho sức khỏe. Chúng ép mình phải ăn "món ngon mẹ nấu" mà chúng đặt hàng. Có đứa còn ép mình ăn kiêng, chỉ toàn món chay hảo hạng. Không ăn đúng như thế lại cằn nhằn.

Hồi đó mình thèm món phá lấu, nó cũng thèm. Mình nhường hết cho nó. Bây giờ mình thèm phá lấu, chúng lại bắt mình ăn "nem công chả phượng" như cách chúng nó. Món ăn dĩ vãng của tuổi già đã bị bỏ rơi!

Tôi làm ở phòng lab, điều chỉnh chính xác từng giọt dung dịch từ burette để định lượng. Bây giờ tay chân vụng về, rót nước từ bình đun vào chai, rơi vãi. Con cái cằn nhằn, nói để chúng làm. Không, tôi muốn tự làm những gì có thể làm được. Các bạn già cũng thế, phải không?

Thế hệ chúng ta làm cật lực, bất kể ngày đêm chỉ để trang trải gánh nặng gia đình. Bây giờ ngồi không, như kẻ vô dụng. Thật khó chịu!
Không ít bạn già, theo chân các đoàn thể tôn giáo, đóng góp và giúp đỡ những nơi bị thiên tai, những vùng đói kém. Cũng làm được chút gì đó có ích cho đời.

Tôi cũng vậy. Tôi vẫn viết lai rai về an toàn thực phẩm, chỉ muốn chia sẻ lại chút kiến thức, không chỉ lý thuyết, mà cả những kinh nghiệm tích lũy suốt mấy chục năm. Có được một người nghe, và làm theo cũng là niềm vui. Không làm được chuyện lớn cho đời thì làm chuyện nhỏ, dù là rất nhỏ. Còn hơn ngồi than thở và phẫn nộ những chuyện chướng mắt ở đời.

Gần hết cả đời, chúng ta đã cho đi. Già rồi, có cần gì nữa đâu, mà chỉ sợ mình thành gánh nặng hoặc bị lãng quên. Nếu sợ, đó là sợ tình thương pha lẫn lòng thương hại.

Các bạn trẻ, xin đừng tước đi niềm kiêu hãnh cuối cùng của tuổi già. Đừng "xả láng" báo hiếu, để rồi chăm sóc quá đáng - Hãy để chúng tôi tự làm. Đừng khuấy động mặc cảm vô dụng tuổi già.

4.
Quê mẹ tôi không trồng lúa được, vì nước sông dâng cao cả vài tháng, chỉ có thể trồng bắp, khoai, vài loại rau ngắn ngày. Năm 1945, quê mẹ tôi chết đói nhiều lắm, tứ tán cả. Ngay từ hồi tôi 4 tuổi, bà đã dạy tôi phải biết quý hạt gạo. Hạt cơm rơi xuống phải nhặt lên.

Khi mẹ tôi mất, tôi bỏ lên Đà Lạt. Đêm giao thừa đầu tiên, không có bà bên cạnh. Tôi nâng ly rượu, chợt nhớ "hạt cơm rơi". Tôi ngước nhìn bàn thờ, và tự hỏi - Đời bà gian truân thế nào? Nước sông dâng cao như vậy, khi nước rút, làm sao nhận ra mồ mả ông bà? Bà bỏ lên Hà Nội kiếm sống thế nào? Vào Sài Gòn, bà bán xôi. Tôi chưa bao giờ hỏi bà cách đồ xôi thế nào, chọn nếp ra sao? Còn nhiều câu hỏi trong đầu, nhiều điều tôi muốn biết nữa, nhưng không thể…

Những năm cuối đời, nếu ai hỏi chuyện xưa, mẹ tôi nói cả giờ. Tôi chỉ miễn cưỡng nghe vài phút, rồi lên lầu. Còn nhiều công việc mưu sinh phải làm. Tôi nghĩ, chỉ cần chăm sóc bà đầy đủ là được.

Thế hệ chúng ta lớn lên trong chiến tranh - Khổ! Tàn cuộc chiến - Khổ. Khổ đủ kiểu, tùy môi trường xuất thân. Ở cái thời "rau muống bổ hơn thịt bò" - Thật xấu hổ! Có lẽ mấy bà khổ nhất - Cái khổ ngấm ngầm mà dai dẳng. Đó là cầm giỏ ra chợ với chút xíu tiền. Làm sao thu vén cho bữa ăn gia đình. Những năm tháng đó, làm sao ai biết? Mà có ai muốn biết đâu!

Tuổi già ở nhà là một thế giới khép kín, cô đơn giữa mọi tiện nghi, giữa những "món ngon mẹ nấu", và những cú điện thoại "chăm sóc" quá kỹ lưỡng của con cái. Muốn được chia sẻ, nhưng có ai lắng nghe để chia sẻ? Con cái ư?

Tôi chỉ nín lặng chấp nhận "quả báo", không dám cưỡng cầu. Nhưng mấy bà thì tâm tư chất chứa đủ thứ. Về nhà dồn nén, dồn nén… Các bạn marketing rất tinh quái, nếu biết số phone, sẽ gọi lại tỉ tê đủ thứ, và chào bán thực phẩm chức năng. Sa bẫy là điều dễ hiểu. Đừng trách tuổi già! Marketing biết lắng nghe họ hơn con cái.

Già rồi, cổ lỗ sĩ mọi thứ. Dĩ vãng cũng cổ lỗ sĩ. Nhu cầu lắng nghe nhiều nhất, nhưng cũng mong manh nhất. Tôi thì quá muộn rồi! Ai còn cơ hội thì chớ bỏ lỡ.

Tuổi già muốn được chăm sóc. Muốn chỉ vì gìn giữ sự kết nối, không phải muốn để lệ thuộc. Muốn được làm theo ý nguyện, muốn được tôn trọng, và muốn được lắng nghe, nhưng bất khả.

Sự lạc nhịp giữa hai thế hệ, những mong muốn chăm sóc tuổi già chỉ là giấc mơ. Tôi biết - Chỉ là giấc mơ thôi. 

(FB:Vũ Thế Thành)
JAMES CARVILLE PHẢN CÔNG CÁNH CẤP TIẾN DÂN CHỦ SAU KHI BỊ KÊU GỌI RỜI KHỎI ĐẢNG

James Carville đã phản bác các nhân vật cấp tiến trong đảng Dân Chủ sau khi có những lời kêu gọi ông rời khỏi đảng, cho thấy sự căng thẳng ngày càng rõ giữa cánh ôn hòa và cánh cấp tiến. 

Xuất hiện trên chương trình “Saturday in America,” ông Carville được cho xem những đoạn phim từ lần xuất hiện gần đây của Abdul El-Sayed, ứng cử viên Dân Chủ tranh ghế Thượng viện Michigan, trên chương trình Twitch của Hasan Piker.

Trong đoạn phim, ông Piker nói về việc Carville từng đề cập khả năng rời khỏi đảng Dân Chủ và cho rằng điều đó chỉ làm lời đề nghị hấp dẫn hơn. Ông El-Sayed sau đó nói: “Tại sao vẫn còn ai nghe James Carville? Ông ấy từng nói một điều thông minh một lần, điều mà dường như chính ông ấy đã quên.”

Carville phản ứng bằng giọng châm biếm, nói: “Tôi không biết mình có thể làm gì. Tôi không chịu nổi nữa, làm ơn mẹ ơi giúp con. Những con người thật hung dữ. Chà.” Ông El-Sayed là một ứng cử viên cấp tiến được Thượng nghị sĩ Bernie Sanders và Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez ủng hộ.

Ông El-Sayed đã thắng sát nút Dân biểu Haley Stevens trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ tại Michigan hôm Thứ Ba và sẽ đối đầu với ứng cử viên Cộng Hòa Mike Rogers trong tháng 11. Ông Sanders trước đó lên CNN bảo vệ cả El-Sayed lẫn Piker và nói nếu Carville không muốn ở chung một đảng với cánh cấp tiến thì “ông ấy có thể lập đảng riêng.”

Carville đáp lại bằng cách nhắc ông Sanders là một chính trị gia độc lập và từng thất bại trong các cuộc tranh đề cử tổng thống của đảng Dân Chủ. Ông nói: “Khi ông ấy là một người xã hội chủ nghĩa, tôi đã là người Dân Chủ. Tôi vẫn là người Dân Chủ. Bây giờ ông ấy có phải là người Dân Chủ không? Tôi không biết.”

Carville nói thêm rằng ông Sanders có thể vẫn còn bất mãn vì đã 2 lần tìm cách giành đề cử tổng thống của đảng Dân Chủ nhưng đều thất bại. Ông nói ông Sanders đã thất bại “khá ngoạn mục” trong cả 2 lần tranh cử đó.

Carville từ lâu đã cảnh cáo về ảnh hưởng ngày càng gia tăng của cánh cấp tiến trong đảng Dân Chủ. Trước đây, ông từng nói ông sẽ không tiếp tục ở lại đảng nếu những nhân vật cực tả như Hasan Piker trở thành một lực lượng lớn hơn.

Khi được hỏi về Francesca Hong, ứng cử viên cấp tiến tranh chức Thống đốc Wisconsin, Carville tiếp tục chế giễu cánh tả cấp tiến. Ông nói: “Tôi nghĩ cánh tả cấp tiến, họ rất mê kỹ thuật. Tôi nghĩ họ đã tạo ra một máy AI chuyên phát sinh những ý tưởng ngu xuẩn ngẫu nhiên.”

Ông Carville nói chiếc “máy phát sinh ý tưởng ngu xuẩn” đó có thể nghĩ ra những điều mà con người không nghĩ tới, như hủy bỏ Lễ Tạ Ơn hoặc phản đối việc hẹn hò khác chủng tộc. Ông nói mình đang chờ xem “ý tưởng ngu xuẩn” kế tiếp sẽ là gì.

Fox News Digital đã liên lạc với ông Sanders, chiến dịch của ông El-Sayed, chiến dịch của bà Hong và ông Piker để xin phản hồi. Dù tiếp tục chỉ trích cánh cấp tiến, Carville vẫn nói ông tin El-Sayed sẽ thắng ghế Thượng viện Michigan trong tháng 11.

Nguồn: Madison Colombo, Fox News, Ngày 8 tháng 8 năm 2026
Phân tích và biên tập: Luan Vo
Tin Hoa Kỳ by VLKT News

GIANG..VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

Ở Westminster, California, có những con đường mà chỉ cần chạy xe ngang qua, người Việt đã thấy như mình đang trở về một nơi nào đó rất xa.

Trên đường Bushard, những bảng hiệu tiếng Việt chen nhau giữa những cửa tiệm, nhà hàng, tiệm tóc, chợ và quán ăn.Trong một tiệm phở có cái tên nghe rất Mỹ, Phở Holic. Giang làm việc mỗi ngày.
Giang không phải chủ tiệm.
Cũng chẳng phải người nổi tiếng.
Chỉ là một người đứng phía sau quầy, bưng phở, dọn bàn, tính tiền, đôi khi phụ bếp khi khách đông.
Nhưng Giang có một thứ mà không phải ai cũng có.
Đó là khả năng nhìn người.
Giang từng nói:
— Ở đây, nhìn người ta ăn một tô phở là biết được nhiều chuyện lắm.
Người ta tưởng Giang nói đùa.
Không. Giang nói thật. Bởi mỗi ngày, Giang gặp hàng trăm người Việt.
Có người bước vào quán với bộ quần áo sang trọng, đồng hồ đắt tiền, nói chuyện điện thoại bằng tiếng Anh.
Có người đi chiếc xe cũ, ngồi một mình ở góc bàn, gọi đúng một tô phở nhỏ.
Có những ông già ngồi hàng giờ bên ly trà đá, không ăn gì thêm.
Có những bà cụ đi với con cháu, nhưng cả buổi chẳng nói một câu.
Và cũng có những người cứ mỗi lần bước vào quán là kể lại một chuyện cũ.
Một chuyện đã xảy ra cách đây mấy chục năm.
Như thể thời gian chưa từng trôi.

Có người thành công.
Giang nhớ một ông khách khoảng ngoài sáu mươi. Ông thường đến vào buổi trưa. Áo sơ mi bỏ trong quần, giày bóng, nói chuyện điện thoại toàn tiếng Anh.
Một hôm, ông vừa ngồi xuống đã gọi:
— Cho tôi tô tái nạm. Ít bánh. Nhiều rau.
Giang mang phở ra.
Ông ăn rất chậm. Điện thoại reo.
— Yes, I’m coming tomorrow. The meeting is at nine.
Nói xong, ông tắt máy.
Giang hỏi:
— Chú làm ăn lớn lắm hả chú?
Ông cười:
— Cũng đủ sống.
Một câu trả lời rất Mỹ.
Nhưng sau vài lần gặp, ông mới kể.
Ngày xưa ông đến Mỹ chẳng có gì.
Không tiền.
Không tiếng Anh.
Không nghề nghiệp.
Ban ngày đi làm.
Ban đêm đi học.
Có thời gian ông ngủ ngay trong xe.
Sau này ông mở được công ty. Mua nhà. Con cái học đại học. Bây giờ người ta gọi ông là thành công.
Nhưng một hôm ông nói với Giang:
— Con biết không, cái khó nhất không phải là nghèo. Cái khó nhất là lúc mình có tất cả rồi mà chẳng biết mình đang tìm cái gì nữa.
Giang đứng im.
Ông cúi xuống tô phở.
— Hồi nhỏ, chỉ cần có một tô phở nóng là vui. Bây giờ muốn ăn tô phở như hồi nhỏ cũng không tìm lại được.
Giang nhìn ông. Có lẽ ông không thiếu tiền. Ông chỉ thiếu một thời đã mất.

Có người thất bại Rồi có một người đàn ông khác. Ông thường đến vào buổi chiều.
Một mình. Áo khoác cũ. Tóc bạc. Lúc nào cũng chọn cái bàn sát cửa sổ.
Ông gọi:
— Một tô đặc biệt.
Giang mang ra.
Có lần Giang thấy ông đếm từng tờ tiền trước khi trả.
Không đủ tiền.
Giang nói:
— Thôi chú, lần sau trả cũng được.
Ông lắc đầu.
— Không. Để tôi trả.
Giang không hỏi nữa.
Nhưng một hôm ông tự kể. Ông từng có nhà.
Có vợ.
Có con.
Có công việc tốt.
Rồi làm ăn thất bại.
Nợ nần. Ly dị. Con cái không còn nói chuyện. Nhà bán. Xe bán. Cuối cùng ông thuê một căn phòng nhỏ.
Ông nói:
— Người ta thường hỏi tôi tại sao thất bại.
Ông cười buồn.
— Chẳng ai hỏi tôi đã cô đơn bao lâu.
Giang nghe mà thấy nghẹn.
Bởi thất bại ở Mỹ đôi khi không phải là không có tiền.
Mà là một ngày thức dậy, phát hiện chẳng còn ai gọi mình bằng hai tiếng:
Ba ơi.

Có người sống bằng hoài niệm. Nhưng có những người đến quán không phải để ăn.
Họ đến để nhớ. Một nhóm các ông già thường ngồi với nhau vào sáng Chủ Nhật.
Họ gọi phở. Gọi cà phê. Rồi nói chuyện Việt Nam.
Sài Gòn.
Đà Lạt.
Huế.
Nha Trang.
Những con đường cũ.
Những người bạn không còn gặp.
Những người đã nằm lại ở một nơi nào đó mà họ không thể trở về.
Giang nghe mãi thành quen.
Có ông nói:
— Hồi đó, Sài Gòn đẹp lắm.
Ông khác cãi:
— Đẹp gì mà đẹp. Tao nhớ nhất là cái nóng.
Người thứ ba cười:
— Tao nhớ nhất là mấy cô nữ sinh.
Cả bàn cười vang. Nhưng sau tiếng cười ấy thường là một khoảng im lặng.
Bởi ai cũng biết: Có những thứ chỉ có thể nhớ. Không thể quay lại.
Một ông khách từng nói với Giang:
— Tụi chú không sống bằng hiện tại đâu con.
Giang hỏi:
— Vậy sống bằng gì?
Ông nhìn ra ngoài cửa kính.
— Sống bằng ký ức.

Và có người muốn quên. Nhưng cũng có một nhóm người khác. Họ rất ít khi nói chuyện Việt Nam. Một thanh niên khoảng ngoài ba mươi, sinh ra ở Mỹ.
Một lần Giang hỏi:
— Ba mẹ em người Việt hả?
Anh trả lời:
— Yes.
— Em có nói tiếng Việt không?
— Một chút.
Rồi thôi. Không nói thêm.
Giang không hỏi nữa. Nhưng một lần khác, anh đi cùng cha.
Người cha gọi phở bằng giọng miền Nam rất rõ. Còn người con ngồi đối diện, nhìn điện thoại suốt bữa ăn. Hai cha con gần như không nói chuyện.
Đến lúc tính tiền, người cha đứng lên.
Ông nói:
— Ba đi trước.
Người con đáp:
— Okay.
Chỉ một chữ.
Giang nhìn theo hai người.
Một người mang theo cả Việt Nam trong lòng.
Một người dường như muốn để Việt Nam lại phía sau.
Nhưng Giang nghĩ:
Có những thứ mình muốn quên chưa chắc đã quên được.
Bởi chỉ cần một ngày nghe lại một bài hát cũ… Ngửi thấy mùi nước mắm… Hay bất chợt ăn một tô phở giống tô phở mẹ từng nấu…
Ký ức có thể quay về.
Không cần xin phép.

Mỗi tô phở là một câu chuyện. Giang dần hiểu rằng mình không chỉ bán phở.
Giang đang đứng giữa một dòng người Việt đi qua lịch sử.
Có người rời Việt Nam khi còn trẻ.
Có người vượt biển.
Có người sang Mỹ bằng máy bay.
Có người sinh ra ở Mỹ nhưng vẫn nói tiếng Việt.
Có người giàu lên.
Có người nghèo xuống.
Có người giữ được gia đình.
Có người mất cả gia đình.
Có người muốn con mình nhớ quê hương.
Có người lại sợ con mình nhớ quá nhiều.
Có người kể chuyện Việt Nam suốt ngày.
Có người nghe hai chữ “Việt Nam” là muốn đổi đề tài.
Nhưng cuối cùng… Tất cả đều có lúc ngồi xuống trước một tô phở. Khói phở bay lên. Mùi hành ngò. Mùi thịt bò.
Tiếng muỗng chạm vào thành tô. Một thứ rất bình thường. Nhưng đôi khi, chính những thứ bình thường ấy lại kéo người ta về với những năm tháng tưởng đã mất.

Một buổi tối, quán vắng.
Giang lau bàn. Ngoài đường, xe chạy qua. Ánh đèn neon phản chiếu trên mặt kính.
Một ông cụ bước vào. Ông ngồi xuống chiếc bàn quen thuộc.
Giang hỏi:
— Hôm nay chú ăn gì?
Ông đáp:
— Như cũ.
Giang cười:
— Phở tái nạm?
Ông lắc đầu.
— Không.
Giang ngạc nhiên.
Ông nhìn Giang rồi nói:
— Hôm nay cho chú tô phở giống hồi còn nhỏ.
Giang đứng yên.
— Hồi còn nhỏ chú ăn phở ở đâu?
Ông cụ nhìn ra ngoài.
Rất lâu mới trả lời:
— Ở Sài Gòn. Với má chú.
Giang không hỏi thêm.
Anh quay vào bếp. Nước phở vẫn sôi. Hành vẫn xanh. Bánh phở vẫn trắng. Thịt vẫn mềm.
Mọi thứ chẳng có gì khác.
Chỉ có người ngồi trước tô phở là đã đi qua gần cả một đời người.
Giang đặt tô phở xuống. Ông cụ chắp hai tay trước mặt.
Không ăn ngay. Ông chỉ nhìn.
Rồi nói rất nhỏ:
— Má ơi…
Giang quay đi.
Anh giả vờ bận rộn. Bởi có những lúc, người đứng phục vụ cũng cần giữ cho mình một khoảng im lặng.
Đêm đó, khi đóng cửa quán, Giang đứng ngoài nhìn bảng hiệu. Anh chợt hiểu:
Westminster không chỉ là nơi người Việt đến để ăn phở.
Đó còn là nơi người Việt mang theo quá khứ của mình.
Người thành công mang theo những ngày nghèo khó.
Người thất bại mang theo những ngày từng hy vọng.
Người già mang theo quê hương.
Người trẻ mang theo một quê hương mà đôi khi chính họ chưa từng biết.
Và những người muốn quên…
cũng mang theo một phần ký ức mà họ tưởng mình đã bỏ lại.
Giang chỉ là người đứng trong một tiệm phở. Nhưng mỗi ngày, anh nhìn thấy cả một cộng đồng đi ngang qua đời mình.
Họ đến. Gọi một tô phở. Ngồi xuống. Ăn. Rồi đứng lên. Ra về.
Có người để lại tiền tip.
Có người để lại một câu chuyện.
Có người chẳng để lại gì.
Nhưng Giang biết…
Mỗi người bước ra khỏi cánh cửa ấy đều mang theo một câu chuyện riêng.
Và có những câu chuyện…
cả đời họ cũng không thể kể hết.

Phạm Sơn liêm

TIẾNG MÔ TÔ Ở CUỐI HÀNH LANG

Đêm ấy, bệnh viện gần như đã ngủ.
Ngoài cửa sổ phòng 314, ánh đèn của bãi đậu xe hắt lên những thân cây khô. Gió cuối mùa lùa qua những khe cửa, mang theo tiếng xe chạy xa dần trên đại lộ.
Trong căn phòng nhỏ, một ông già nằm bất động. Tên ông là James Walker.
Tám mươi chín tuổi. Một cựu Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
Ngày còn trẻ, ông từng mang súng đến những nơi mà người ta chỉ nghe tên cũng thấy sợ. Ông từng đặt chân lên những bãi biển đầy khói lửa, từng nhìn thấy những người lính trẻ hơn mình ngã xuống trước mặt.
Nhưng những chuyện ấy đã cách ông quá xa.
Xa đến mức, đôi khi chính ông cũng tự hỏi:
Có thật mình đã từng ở đó không?
Ba tuần rồi không có ai đến thăm. Không một người con.
Không một người vợ. Không một người bạn. Không một bó hoa. Không một tấm thiệp.
Chỉ có tiếng máy theo dõi nhịp tim đều đều bên cạnh giường.
Tít…
Tít…
Tít…
James mở mắt.
Ông nhìn lên trần nhà.
— Có ai đến chưa?
Cô y tá trẻ đứng bên cạnh khựng lại. Cô tên Katie.
Đó là câu hỏi James đã hỏi cô rất nhiều lần trong những ngày qua. Lần nào cô cũng phải trả lời:
— Chưa, ông James.
Ông im lặng.
Một lúc sau, ông lại hỏi:
— Ngày mai… có ai đến không?
Katie không biết phải trả lời thế nào. Cô bước tới, kéo chăn lên cho ông.
— Có thể.
James mỉm cười rất nhẹ. Một nụ cười của một người đã không còn đủ sức để hy vọng.
— Tôi từng nghĩ chết là điều đáng sợ nhất.
Ông ngừng lại để thở.
— Nhưng hóa ra… không phải.
Katie cúi xuống.
— Vậy điều gì đáng sợ nhất, ông?
James nhìn ra cửa sổ.
— Là chết mà không có ai nhớ mình từng sống.
Câu nói ấy khiến Katie quay mặt đi. Cô không muốn ông nhìn thấy mắt mình đỏ.

Đêm đó, sau ca trực, Katie ngồi trong xe rất lâu. Cô nghĩ về người đàn ông trong phòng 314. Một người từng mặc quân phục. Từng ôm súng. Từng chiến đấu cho đất nước. Vậy mà giờ đây, đến lúc gần nhắm mắt, ông chỉ còn một mình.
Katie lấy điện thoại. Cô viết một dòng. Rồi xóa. Viết lại.
Rồi lại xóa.
Cuối cùng, cô đăng lên một nhóm cộng đồng địa phương:
“Có một cựu chiến binh 89 tuổi đang nằm ở bệnh viện. Ông từng chiến đấu ở Thái Bình Dương. Ông không còn người thân bên cạnh. Ông thường hỏi tôi rằng có ai đến thăm ông không.
Ngày mai có thể ông sẽ không còn nữa. Nếu ai đó từng là đồng đội của ông, hoặc chỉ đơn giản là một người muốn nắm tay ông trong những giờ cuối cùng… xin hãy đến.”
Katie đặt điện thoại xuống.
Cô không nghĩ sẽ có chuyện gì xảy ra. Nhưng chỉ vài giờ sau, điện thoại bắt đầu rung.
Một tin nhắn.
Rồi mười tin.
Rồi hàng trăm.
Một người đàn ông tên Mike gọi cho cô.
— Cô là y tá Katie?
— Vâng.
— Ông ấy còn ở đó không?
— Vẫn còn.
— Chúng tôi sẽ đến.
— Ai vậy?
Mike im lặng vài giây.
— Những người từng mặc quân phục.

Sáng hôm sau, tiếng động cơ xuất hiện ngoài bãi đậu xe.
Một chiếc.
Rồi hai chiếc.
Rồi năm chiếc.
Mười chiếc.
Những chiếc mô tô nối nhau chạy vào.
Người mặc áo da.
Người tóc bạc.
Người còn trẻ.
Người chống gậy.
Trên lưng áo họ là những phù hiệu của các hội cựu chiến binh.
Có người lái xe suốt đêm từ một tiểu bang khác.
Có người vừa tan ca đã lên đường.
Có người không biết James là ai.
Nhưng họ biết một điều. Ông ấy từng là lính. Thế là đủ.
Hai mươi người bước vào bệnh viện. Họ đứng quanh phòng 314.
Không ai nói lớn.
Không ai chụp hình.
Không ai đến để được cảm ơn.

Big Mike bước tới bên giường. Ông nhìn James thật lâu.
— Chào anh.
James mở mắt.
— Anh là ai?
Mike kéo ghế ngồi xuống.
Nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của ông.
— Tôi là Mike.
James nhìn xuống bàn tay mình đang được nắm.
— Chúng ta quen nhau sao?
Mike lắc đầu.
— Chưa.
Rồi ông mỉm cười.
— Nhưng từ hôm nay thì quen.
James nhìn ông thật lâu.
Hai mắt già nua bắt đầu ướt.
Đến tối, nhân viên bảo vệ bước vào.
— Giờ thăm đã hết.
Không ai đứng dậy.
— Tôi nói giờ thăm đã hết.
Big Mike vẫn ngồi đó.
Bàn tay ông vẫn nắm lấy tay James.
— Chúng tôi biết.
— Vậy xin mời mọi người rời khỏi đây.
Mike nhìn ông bảo vệ.
— Chúng tôi sẽ không làm phiền ai.
— Đây là quy định của bệnh viện.
Mike gật đầu.
— Tôi hiểu.
Ông quay nhìn James.
Rồi nói rất chậm:
— Nhưng người này đã từng đứng gác cho chúng ta.
Căn phòng im lặng.
— Đêm nay, chúng tôi đứng gác cho ông ấy.
Nhân viên bảo vệ không nói được gì.
Một lúc sau, cảnh sát đến.
Hai viên sĩ quan đứng ngoài cửa. Một người nói:
— Các ông phải rời đi.
Một người trong nhóm bước lên.
— Anh ấy là lính.
Viên cảnh sát nhìn vào trong.
Ông thấy những người đàn ông mặc áo da. Những mái đầu bạc. Những đôi mắt đỏ vì thức trắng.
Ông thấy một người đang chỉnh lại chiếc gối cho James.
Một người khác rót nước.
Một người ngồi đọc Thánh Kinh.
Một người chỉ đơn giản ngồi im.
Nắm tay ông già.
Viên cảnh sát hỏi:
— Ông ấy là ai?
Katie trả lời:
— James Walker.
— Có gia đình không?
Katie lắc đầu.
— Không còn ai.
Viên cảnh sát nhìn James. Rồi nhìn những người đang đứng quanh giường.
Ông thở dài.
— Vậy thì…
Ông bước sang một bên.
— Để họ ở lại.
Không ai nói gì.
Nhưng Big Mike khẽ gật đầu.

Ba ngày. Những chiếc mô tô thay nhau đến.
Người đến.
Người về.
Người khác lại đến.
Không để bàn tay James lạnh. Họ kể chuyện.
Có người kể về những con đường dài hàng ngàn dặm.
Có người kể về một người bạn đã không trở về.
Có người kể về ngày cuối cùng mình mặc quân phục.
Có người không nói gì.
Chỉ ngồi đó.
Đôi khi James tỉnh lại. Ông nhìn những khuôn mặt xa lạ.
— Các anh… là ai?
Mike cười.
— Anh em.
James nhắm mắt.
Một lúc sau ông nói:
— Tôi không còn anh em.
Mike siết nhẹ bàn tay ông.
— Bây giờ có rồi.

Đêm thứ ba. Ngoài trời mưa nhẹ. Phòng 314 chỉ còn ánh đèn vàng.
James bỗng mở mắt. Ông nhìn quanh. Hai mươi người đàn ông vẫn ở đó.
Ông nhìn Big Mike.
Môi ông run run.
— Tôi tưởng…
Ông phải lấy hơi.
— Tôi tưởng tôi sẽ chết một mình.
Mike cúi xuống.
— Không đâu.
James nhìn ông. Một giọt nước mắt chảy xuống thái dương.
— Tôi đã rất sợ.
Mike cúi đầu.
— Không sao.
— Tôi đã từng không sợ chết.
— Tôi biết.
— Nhưng… James ngừng lại.
— Tôi sợ không có ai nhớ tôi.
Mike đưa tay lau nước mắt cho ông.
— Chúng tôi sẽ nhớ.
James khẽ cười.
Rồi bàn tay ông siết lấy tay Mike.
Một cái siết rất nhẹ.
Nhưng đủ để Mike hiểu. Đó là lời chào. Cũng là lời cảm ơn.
Nhịp tim trên máy bắt đầu chậm lại.
Tít…
Tít…
Rồi một khoảng im lặng. James ra đi lúc gần sáng.
Không tiếng kêu.
Không đau đớn.
Không cô độc.
Hai mươi người đàn ông đứng quanh giường.
Không ai khóc thành tiếng.
Mike cúi xuống.
Ông đặt bàn tay James lên ngực người lính già.
— Nghỉ đi, anh bạn.
Ông nghẹn giọng.
— Ca trực của anh hết rồi.

Một tuần sau, họ lại gặp nhau. Không phải trong bệnh viện. Mà tại nghĩa trang cựu chiến binh. Hơn một trăm chiếc mô tô nối thành một hàng dài.
Động cơ nổ đều.
Brừm…
Brừm…
Brừm…
Chiếc xe tang từ từ đi qua.
Không ai biết James Walker trước ngày hôm đó.
Nhưng hôm ấy, cả một đoàn người đưa ông về nơi cuối cùng.
Một người lính.
Một con người.
Một cuộc đời.
Không còn bị lãng quên.

Một tháng sau, Katie trở lại phòng 314. Một cựu chiến binh khác đang nằm trên chiếc giường ấy. Ông ta cũng không có ai đến thăm.
Katie đứng ngoài cửa. Rồi cô nghe tiếng ghế kéo. Có người đang ngồi bên giường.
Cô bước vào.
Một người đàn ông mặc áo da.
Một bàn tay đang nắm lấy bàn tay người bệnh.
Katie không cần hỏi. Cô biết họ là ai.
Ngoài bãi đậu xe, một chiếc mô tô vừa tắt máy.
Rồi chiếc thứ hai.
Chiếc thứ ba.
Katie mỉm cười.
Bây giờ cô hiểu. Có những người lính khi còn trẻ đã chiến đấu để bảo vệ tự do.
Nhưng có những người, đến cuối đời, vẫn còn một trận chiến khác phải chiến đấu.
Chiến đấu để không một người lính nào phải chết trong cô độc.
Và đôi khi… trận chiến ấy không cần súng. Chỉ cần một bàn tay.
Một chiếc ghế.
Một người chịu ngồi lại.
Và một lời nói:
“Anh không một mình đâu.”
Ngoài kia, tiếng động cơ lại vang lên.
Không còn là tiếng của những người nổi loạn.
Không phải tiếng thách thức.
Mà là tiếng của một lời hứa.

Rằng dù cuộc chiến đã kết thúc từ rất lâu…
Tinh huynh đệ của những người từng mặc quân phục sẽ không bao giờ kết thúc.

Phạm Sơn liêm.
XIN ĐÓ, ĐỪNG LÀM HỔ THẸN NGƯỜI VIỆT THÊM NỮA!

Lại thêm một vụ án rúng động, lại thêm những cái tên của người Việt Nam trên bản tin hình sự Nhật Bản. Lần này là Trần Văn Hùng, 20 tuổi, sống tại thành phố Akō, tỉnh Hyōgo. Cảnh sát tỉnh Aichi bắt Hùng và đang điều tra với nghi vấn thanh niên này giữ vai trò cầm đầu trong một đường dây chiếm đoạt smartphone có quy mô rất lớn lên tới ít nhất là 900 triệu Yên, khoảng 160 tỉ VNĐ.

Đáng nói hơn, trong số những người bị bắt trước Hùng có cả anh ruột của Hùng là Trần Văn Hải, 22 tuổi, sống tại thành phố Suzuka, tỉnh Mie, Hải bị bắt ngày 8/7/2026.

Để giải thích thủ đoạn của nhóm này: sử dụng tài khoản thuê bao đứng tên người khác, giả danh chính chủ để làm thủ tục nâng cấp hoặc đổi sang điện thoại mới trên hệ thống trực tuyến của nhà mạng, đồng thời thay đổi địa chỉ giao hàng qua địa chỉ của chúng. Nhà mạng tưởng khách hàng thật đang thực hiện giao dịch nên gửi iPhone tới địa chỉ đã đăng ký, còn người của đường dây chỉ việc nhận máy rồi mang đi tiêu thụ, còn người trả tiền máy thì chắc chắn là khách hàng thật rồi.

Biết nói gì nữa! thôi thì đợi án của tòa thôi chứ biết là sao. Quá nhiều vụ rồi, Tới nỗi người Việt tại Nhật có một số anh em đã phải lên clip “lạy”, họ lạy xin đừng làm xấu hổ người Việt nữa!

Ngày 23/7/2026, truyền thông Nhật đưa tin một phụ nữ Việt Nam 49 tuổi bị bắt trong cuộc điều tra một đường dây chuyên lấy trộm thuốc và hàng hóa tại các drugstore. Một ngày sau, 24/7, lại có tin tại Yamagata: một thực tập sinh kỹ năng người Việt 23 tuổi bị bắt vì bị nghi đột nhập một căn nhà bỏ trống và lấy hai chiếc nhẫn. Xa hơn một chút tháng 5/2025, người ta còn thấy một đường dây ở quy mô đáng sợ hơn, Báo chí Nhật gọi là “công ty chuyên ăn cắp”.

Trộm cắp người Việt tại Nhật đã được tổ chức thành chuỗi cung ứng: có người tuyển, có người ra lệnh, có danh sách mặt hàng, có người trực tiếp lấy, có nơi tập kết, có người nhận và có đường đưa hàng đi tiêu thụ. Tôi không biết người Việt lại trở nên hèn mọn một cách “chuyên nghiệp” như vậy từ lúc nào nữa!

Tập trung đi! Xin anh em người đỏ đừng ngạo nghễ nữa, bỏ cái nón cối xuống, bớt hát hò ở thủ đô nước người ta lại. Theo Sách trắng Tội phạm của Bộ Tư pháp Nhật, đối với nhóm “người nước ngoài ở Nhật”. Người Việt đứng đầu về số vụ trộm cắp bị cảnh sát xử lý: 4.964 vụ, liên quan 834 người. Còn tỉ lệ tội phạm thì Người Việt ở Nhật đỡ hơn một chút, cũng cảm thấy an ủi khi chúng ta OUT trình so với phần còn lại của thế giới.

Nói vui vậy chứ chua chát quá. Con bé em tôi đang làm cho một tập đoàn quốc tế ở Nhật bản liên tục than van rằng: anh ơi, em không dám nhận người Việt luôn đó, mắc cỡ quá!!!!

Sao lại như vậy? sao không để ý giùm là hàng trăm ngàn người Việt khác vẫn thức dậy mỗi sáng, lao đầu vô lao động, đóng thuế cho Chính Phủ Nhật Bản, nuôi con và gửi từng đồng tiền dành dụm về cho cha mẹ ở quê nhà mình mà. Sao lại bị rẻ rúng chung phần, tội họ chứ!

MẤY NGƯỜI CÓ BIẾT MÌNH ĐANG LẤY CẮP THỨ GÌ KHÔNG? Uy tín của một cộng đồng đó.

Người Việt sống ở nước ngoài hiểu chuyện này hơn ai hết. Một người Nhật gặp mười người Việt tử tế chẳng bao giờ lên mạng viết rằng: “Hôm nay tôi gặp một người Việt Nam rất bình thường, đi làm rồi về nhà.”

Nhưng một đường dây người Việt lấy trộm hàng trị giá hàng chục triệu yên thì khác. Tức là gì? Đối với người Nhật thì sự tử tế là điều tự nhiên phải làm, không có gì phải khen ngợi cả. Nhưng hành vi xấu xa thì phải lên án, đó là văn minh. Cho nên thiểu số xấu xa sẽ tạo ra một hình ảnh méo mó cho số đông sống đàng hoàng.

Đã nghe chuyện thằng cu du học sinh bị chủ nhà từ chối cho thuê sau khi biết nó là người Việt chưa? Đau lòng không? Một đứa nhỏ người Việt lớn lên ở Nhật có thể sẽ phải nghe bạn bè nó nói về đồng bào của nó những điều không hay ho, mà đó là những thứ nó chưa từng làm. Phải biết nhục nhã, phải biết hổ thẹn với tương lai đi.

Bản chất người Việt không xấu mà sao cứ phải ê chề mãi như thế này? Chúng ta trả cả đống tiền để đi lao động, bán thanh xuân, bán tuổi trẻ, trả nợ vay và rồi còn lại gì sau bao nhiêu năm ở xứ người! Vì đâu nên nỗi? Chính vì cơ chế vận hành xã hội lại tạo ra những nguyên nhân đầu tiên.

Pháp luật lỏng lẻo, tạo ra những con kền kền mang tên môi giới, những lời quảng cáo về mức thu nhập trong mơ. Sau đó gia đình cắm đất cắm sổ cho con đi học tiếng, học văn hóa và đợi người ta lựa như con tôm con cá, qua tới rồi thì lại mang áp lực trả nợ.

Có những trường hợp bỏ thực tập để chạy ra ngoài, rơi vào tình trạng cư trú bất hợp pháp, không còn đường bước vào thị trường lao động chính thức. Và bên ngoài đã có sẵn những mạng lưới tội phạm nói tiếng Việt sẵn sàng tuyển họ và cuối cùng họ khép lại ước mơ mà trở thành tội phạm.

Ở đây tôi chỉ cố gắng giải thích chứ không biện hộ cho họ. Nợ nần - Nghèo không phải giấy phép để đi ăn cắp, đi lấy đồ của người khác được. Nhưng mà còn có biết bao người Việt đang cúi đầu làm việc tử tế ở Nhật. Họ không cần ai ban cho họ lòng tự hào, họ chỉ cần những người đồng hương khác đừng phá mất sự tin tưởng mà họ phải mất nhiều năm mới gây dựng được.

Và sau tất cả, chúng ta phải quay về hỏi chính ở quê hương mình, chính quyền đầy ngạo nghễ vinh quang này:

Tại sao thanh niên Việt Nam phải vay một khoản tiền lớn, rời cha mẹ, bỏ làng xóm, học một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ rồi đi hàng ngàn cây số để đứng trong nhà máy của một đất nước khác? Tại sao người trẻ cứ phải đi? Đi Nhật, đi Hàn, đi Đài Loan, đi châu Âu,....

Đi bất cứ đâu mà họ tin rằng vài năm tuổi trẻ của mình có thể đổi lấy cuộc đời dễ thở hơn, thậm chí là sẵn sàng đánh đổi cả sinh mạng của mình ở những thùng đông lạnh hoặc nơi Amazone rừng thiêng nước độc. Chúng ta, Những người Việt vẫn phải đủ can đảm nhìn về phía thực tại.

Đất nước đáng sống mà không thể giữ chân công dân của mình hay sao? Dân số vàng đó! Đất nước đáng sống mà dân mình thà ở bất hợp pháp xứ người còn hơn sống ở xứ mình hay sao? Sao vậy? Vì ở quê hương không có cái mà người ta cần tìm, một chén đủ đầy, một hoài bão xa xôi, một ước mơ lương thiện.

Chỉ cần cho đám thanh niên lớn lên cảm giác rằng nếu chịu học, chịu làm, sống ngay thẳng thì họ vẫn có cơ hội xây dựng một cuộc đời có phẩm giá ngay trên mảnh đất nơi mình sinh ra mà sao lại khó tới như vậy hả chính phủ ngạo nghễ tài tình sáng suốt ưu việt ơi?

Đừng tự hào nữa! Hãy làm gì đó để sau này con cháu người Việt ra nước ngoài là vì muốn nhìn thế giới, muốn học hỏi, muốn trải nghiệm. Chứ không phải ra đi vì cảm thấy ở lại chẳng còn đường nào khác để sinh nhai.

Nếu quê hương mình tử tế, đâu ai muốn bỏ ra đi.
Nắng rồi sẽ lên thôi

Nhắc nhau nghe rằng:
Người Việt thương Người Việt
Y tế ở Úc

Có lẽ… nói về y tế ở Úc, không nhiều người cảm nhận sâu sắc bằng tôi.

Bởi có một khoảng thời gian, tôi ở bệnh viện còn nhiều hơn ở nhà.

Ở Việt Nam, mỗi lần đi viện là mỗi lần áp lực. Áp lực vì tiền bạc, vì không biết chi phí sẽ đến đâu, vì cảnh chờ đợi dài lê thê, mệt mỏi.

Còn ở Úc, tôi gần như không phải lo những điều đó. Tôi không phải chuẩn bị sẵn một khoản tiền.

Không phải dậy từ tờ mờ sáng để xếp hàng. Cũng không phải nghĩ đến chuyện “biếu” hay “lót tay” cho bất kỳ ai.

Vậy mà, họ vẫn chăm sóc tôi như một người thân trong gia đình.

Có những lúc tôi yếu đến mức không thể tự lo cho bản thân. Họ không chỉ nghĩ đến bệnh nhân, mà còn nghĩ đến cả cuộc sống phía sau bệnh nhân.

Nếu bạn có con nhỏ, họ có thể hỗ trợ đưa đón con đi học. Có những dịch vụ giúp dọn dẹp nhà cửa, hỗ trợ việc nấu ăn hoặc chăm sóc khi bạn không còn đủ sức khỏe.

Họ hiểu rằng khi một người ngã bệnh, cả gia đình cũng đang phải gồng mình. Chống chọi …

Ngày đầu mới sang Úc, tôi luôn nghĩ mình chưa làm được gì cho đất nước này. Tôi thấy ngại khi nhận quá nhiều sự giúp đỡ.
Và tôi đã từ chối rất nhiều hỗ trợ vì cứ nghĩ:
“Thôi, mình cố thêm một chút cũng được.” đừng làm gánh nặng.

Bây giờ nghĩ lại, tôi mới hiểu… đó không phải là sự ban ơn.
Đó là những quyền lợi mà một xã hội văn minh dành cho những người đang cần được giúp đỡ.

Mỗi buổi sáng trong bệnh viện, vừa mở mắt đã có y tá mỉm cười hỏi:
“Hôm nay bạn thấy thế nào? Bạn có cần gì không?”

Cứ một lúc lại có người ghé vào hỏi thăm.
“ Bạn cần gì không “

Hay “bạn ổn chứ ?“…

Đến gần giờ ăn, lại có nhân viên đến tận giường hỏi:
“Hôm nay bạn muốn ăn gì?
Bạn có dị ứng món nào không?”
“ Bạn có muốn nước gì ? Nước ép trái cây hay nước ấm?”

Ôi hàng chục câu hỏi thăm cứ thế mà đến với một người xa lạ mà ấp áp.

Chỉ một câu hỏi nhỏ thôi cũng khiến tôi thấy mình được tôn trọng. Tôi biết mình may mắn dường nào…

Rồi khay thức ăn được mang đến.
Một bữa ăn bệnh viện nhưng được chuẩn bị rất chỉn chu: có món chính nóng hổi, có canh, có bánh ngọt, trái cây tươi và cả sữa chua.

Nhìn khay cơm trước mặt, tôi vừa bất ngờ vừa xúc động.
Tôi đã từng nghĩ: “Sao người ta có thể chăm bệnh nhân chu đáo đến vậy?”

Sau này tôi mới hiểu thêm một điều.
Nhiều người nhìn vào mức thuế ở Úc và bảo rằng sao cao thế…Đúng là cao thật.
Nhưng chính những đồng thuế đó đã quay trở lại phục vụ người dân bằng bệnh viện hiện đại, đội ngũ y bác sĩ tận tâm, trường học miễn phí và xinh đẹp, đường sá và rất nhiều những dịch vụ hỗ trợ khi một người không may gặp biến cố trong cuộc sống. Mà tôi từng chia sẻ thông qua hội phụ nữ VN tại Perth những lần trước.

Khi còn khỏe, mình đóng góp theo khả năng. Đến lúc yếu bệnh, xã hội lại dang tay đỡ mình đứng dậy.

Đó không phải là miễn phí.
Đó là sự sẻ chia của cả một cộng đồng thông qua những đồng thuế mà mọi người cùng đóng góp.

Tôi vẫn luôn biết ơn nước Úc. Biết ơn những người đang lao động ngoài kia.
Không phải vì tôi được chữa bệnh mà không phải trả một hóa đơn khổng lồ.
Mà vì trong những ngày yếu đuối nhất cuộc đời, tôi chưa từng cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau.

Có lẽ, đó mới là điều khiến tôi nhớ mãi.

My Duyen

CẢNH BÁO RẤT CẦN THIẾT

Nguyễn Danh Lam một nhà văn trẻ, đến Mỹ theo diện “chào đón tài năng.”

Lam hiện sống và làm việc ở Houston nhưng luôn đau đáu thế sự quê nhà. Gã xin giới thiệu bài viết mới nhất của Lam có tựa để “Quê hương tan rã” mà theo gã bất cứ ai thật sự quan tâm tới các giá trị văn hoá- các giá trị nền tảng của Dân tộc, rất nên đọc, suy ngẫm.

“Sáng nay, đọc được tin nhà sách Phương Nam- Phú Thọ đóng cửa. Một nhà sách từng tồn tại 44 năm, một địa chỉ văn hóa tại khu vực Chợ Lớn gắn bó với không biết bao người. Đọc những comments bên dưới mà lòng nặng trĩu, không ít người có cảm giác mất đi một phần quá khứ giống tôi. Đây là địa điểm gần nhà cũ, tôi vẫn thường đưa các con đến cuối tuần. Hơn thế, đây cũng là trụ sở của công ty văn hóa Phương Nam, nơi tôi đến ký hợp đồng in lần lượt 3 cuốn sách.

Trước Phương Nam- Phú Thọ chỉ một thời gian ngắn là sự “ra đi” của hai nhà sách lẫy lừng không kém: Cá Chép- NTMK và Cá Chép- VVT. Với Cá Chép, tôi cũng có những sự gắn bó sâu đậm không kém. Tôi là bạn của chủ chuỗi nhà sách này, họa sỹ TĐT. Trước đó, chủ quản của Cá Chép là Đông A cũng in 2 cuốn sách của tôi. Khi Cá Chép mới chỉ hình thành trong ý tưởng, họa sỹ TĐT rủ tôi đi “làm vài chai”, hai anh em ngồi bàn nên đặt tên nhà sách là gì…

Khi còn ở VN, tôi đi nhà sách hằng tuần, gắn bó với từng ngóc ngách của thế giới sách. Từ những kệ sách cũ đầy dấu thời gian, với những cuốn sách xuất bản trước 1975, đến những “cơ ngơi” đồ sộ, đầy ánh đèn của Cá Chép, của Phương Nam… Buớc chân lên thềm nhà sách như được bước chân vào một “thánh đường” văn hóa, với niềm đam mê êm dịu, thẳm sâu… Thế rồi từng “thánh đường” ấy lần lượt đóng cửa…

Cùng với các chuỗi nhà sách, sự kiện chấn động gần đây là hàng loạt tờ báo… biến mất. Dù có những góc nhìn khác nhau, nhưng việc bao tờ báo gắn bó cùng độc giả hàng chục năm, thậm chí hơn nửa thế kỷ bỗng chốc mất đi, đó vẫn là nỗi đau xót lớn. Thiết nghĩ tôi không cần nói thêm, vì mọi người đã nói quá nhiều rồi.

Và cũng chỉ mới tuần vừa qua, một ấn phẩm nổi tiếng trong văn giới VN cũng vừa thông báo đóng cửa. Đó là tờ Viết & Đọc. Một ấn phẩm công phu, được nhiều người trân trọng. Có lẽ đó là một trong những “địa chỉ” cuối cùng để giới viết văn trong nước (và cả hải ngoại) gửi tác phẩm in ấn, ngoài việc đưa lên mạng. Tất nhiên, cũng sẽ có người bảo, in làm gì, đưa lên mạng cho “khỏe” (và tôi cũng làm như vậy). Nhưng không thể nào so sánh giữa những dòng chữ trên màn hình, với một ấn phẩm thơm mùi giấy trên tay…

Còn rất nhiều, những sự kiện, hoặc những biểu hiện nhỏ khác về sự “tan rã” của văn hóa nơi quê nhà. Sự tan rã dường như không thể phục hồi. Không phải sự tan rã do “hết thời”, hoặc chuyển đổi hình thức từ cái cũ sang cái mới. Mà gần như chúng bị… bức tử, chết ngạt. Tôi vẫn đi nhà sách ở Mỹ, chúng vẫn dập dìu người đọc đó thôi. Các nhà xuất bản, các tờ báo ở bao quốc gia vẫn hoạt động rầm rộ đó thôi…

Và ở chiều ngược lại, một phiên livestream chấn động nước nhà với hàng triệu người theo dõi, ở đó có nhiều lời tục tĩu chửi bới dù là trút giận vào ai đó, thế lực nào đó. Không chỉ một cuộc, mà nhiều cuộc đã diễn ra, tạo thành “thương hiệu” hùng mạnh.

Cùng đó, hàng loạt “giang hồ mạng” đã trở thành “thần tượng” của không ít bạn trẻ- và thậm chí nó ảnh hưởng cả đến giới kinh doanh, công nghệ… Công thức chung vẫn là “càng chửi càng mau nổi tiếng”, càng có nhiều “fans”.

Và chửi bới, mạt sát, tấn công nhau không chỉ trong giới giang hồ, hay “con mụ” nào đó, chúng đến từ những ai đó áo mũ chỉnh tề mang danh “chính thống”, những kẻ tự cho mình độc quyền nắm trong tay “lịch sử”, quyền lực, sinh sát. Nhưng kết lại cho cùng, vẫn cứ là… chửi. Cho dù hình thức chửi có thể khác ít nhiều.

Bao năm đọc, đi, nghiên cứu… tôi tự nhận mình biết đôi điều về lịch sử, về xã hội học, về dân tộc học, cùng những thứ liên quan. Nhìn ngược lịch sử loài người, từ cổ đại đến hiện đại; hay từ Ai Cập, Hy- La, sang Ấn Độ, Nam Mỹ… cho đến thời kỳ Cách mạng Văn hóa ở TQ, hay thời Gulag- Stalin… Có nơi nao, thời nào mà một dân tộc ngập tràn tiếng chửi, sự chửi rủa lên ngôi, len tận cùng ngõ ngách. Dù có ức chế đến đâu, bị kềm nén đến mức độ nào, thậm chí bị đô hộ, mất nước, hay vùi sâu dưới ách nô lệ- như hàng vạn quốc gia, hàng vạn dân tộc khắp chiều dài lịch sử, nhưng có nơi nào mà sự chửi rủa lại “phổ quát” đến vậy?

Một quê hương nếu bị tan rã về địa lý, lãnh thổ còn có thể khôi phục nhanh được. Nhưng tan rã về văn hóa, về nhân tâm, về hành xử xã hội thì thời gian khôi phục là… thăm thẳm.

Tôi yêu đất nước tôi, dân tộc tôi. Tôi vẫn hẹn một cuộc trở về, sau khi đã rong ruổi, đủ biết thêm thế giới bên ngoài. Nhưng tôi còn có thể “trở về”, khi chính cội nguồn của tôi đang tan rã? Khi chính cái bến bờ xưa cũ ấy, nếu quay lại cũng không còn chỗ để neo đậu linh hồn?

Tôi vẫn đau đáu viết:

Bóng về ngồi hiên cũ
Như hồn ngày chưa đi
Mắt về ngồi ngõ cũ
Trông chính mình chưa về

Nhưng liệu cuộc hẹn về ấy có trở thành hiện thực? Tôi về cùng ai, về làm gì? Bạn bè văn chương, văn nghệ cũ tan tác, hay khuất chìm đâu đó. Những địa chỉ văn hóa để cộng tác, đăng tải, in ấn tác phẩm đã lụi tàn. Vô vàn thứ đã thất lạc, đã “lưu vong” trên chính quê hương mình. Phải chăng, đó cũng chính là cái tứ cho một cuốn tiểu thuyết- một “Things fall apart” phiên bản khác?”.

Đọc xong bài này nhà văn Trần Kỳ Trung có bình luận như sau: Mất văn hoá, mất tất cả, đồng cảm với em. Rất đau!

Còn gã bình luận: Cuộc sống vẫn có bao điều bình yên và vô cùng thú vị đó Lam à. Nếu ai là nhà văn vẫn cứ viết, sự đổ vỡ này sẽ luôn có những bù đắp kì lạ mà ta không ngờ. Cơn lũ cuồng hung dữ có đau đớn nhưng lại cảnh tỉnh cái ý thức sống còn cho kẻ trồng rừng. Tạo hoá sinh ra đất chỉ để cho cây trái và hoa mọc, sự vĩ đại của Tạo hoá không kẻ nào làm sứt mẻ hay đổ vỡ được, bất kể kẻ đó là ai và đông đảo như thế nào.

Nguyễn Danh Lam trả lời: Lưu Trọng Văn dạ, có lẽ đó là cái nhìn lạc quan- như cái hạt hy vọng là hạt cuối cùng còn tồn tại trong chiếc bình- Thần thoại Hy Lạp.

Gã đáp: Thực ra rất buồn đó Lam ơi! Rất đau đó Lam ơi!

Blog Archive