Sunday, May 3, 2026

Tôi và AI
Tôi bắt đầu để ý đến AI không phải bằng một bài báo khoa học hay một buổi hội thảo hoành tráng. Mọi thứ đến rất tình cờ. Một tối, tôi cần viết bản tóm tắt công việc, nhưng đầu óc rối tung. Người bạn ngồi cạnh bảo: “Thử hỏi AI xem, biết đâu giúp được.” Tôi bán tín bán nghi, nhưng rồi vẫn gõ vài dòng vào một công cụ lạ lẫm. Kết quả trả về gọn gàng, súc tích và khá logic. Đó là lần đầu tôi cảm thấy AI giống như một người bạn biết trò chuyện, chứ không chỉ là một cỗ máy lạnh lùng.

Nhưng rốt cuộc AI là gì? Nói cho đơn giản, AI là hệ thống học từ dữ liệu và đưa ra phản hồi gần giống cách con người suy nghĩ. Nó giống một cái gương lớn: bạn đưa vào thông tin, nó phản chiếu lại theo cách đã được huấn luyện. Có lúc rất thông minh, có lúc hơi vô duyên, nhưng vẫn đủ thú vị để người ta muốn thử tiếp.

Tôi phải thừa nhận, AI giúp tôi tiết kiệm thời gian đáng kể. Viết báo cáo nhanh hơn, soạn email dễ hơn, tìm thông tin cũng gọn gàng hơn. Một người quen của tôi làm thiết kế còn dùng AI để thử nhiều phong cách chỉ trong vài phút. Bạn tôi dạy học thì dùng AI để tạo bài tập phù hợp cho từng học sinh. Những việc trước đây tốn cả buổi giờ chỉ cần vài phút.

Nhưng mặt khác, không phải lúc nào AI cũng thân thiện. Có lần tôi hỏi cách sửa máy in, nó trả lời dài như sớ, toàn thứ không liên quan. Bạn tôi thì bị AI vẽ cho bức tranh… sáu ngón tay. Một số người còn lo nó lấy mất việc hoặc tạo ra nội dung giả rất khó phân biệt.

Tiện thì tiện thật, nhưng nếu quá tin, AI cũng có thể khiến mình gặp rắc rối.

Kinh tế là nơi thay đổi rõ nhất. Công ty tuyển ít người hơn cho những việc lặp lại. Doanh nghiệp nhỏ có thể làm nội dung quảng cáo nhanh hơn trước. Người làm văn phòng phải học cách kết hợp AI vào công việc thay vì né tránh.

Trong nghệ thuật, AI tạo ra một thế giới vừa mở rộng vừa không ổn định chắc chắn. Người không biết đàn vẫn tạo được đoạn nhạc hoàn chỉnh. Người không biết vẽ vẫn dựng được tranh. Điều này khiến nhạc sĩ, hoạ sĩ lo ngại. Một người bạn nhạc sĩ nói với tôi: “AI tạo nhạc nhanh thật, nhưng nó không có tuổi thơ, không có những buổi tối nằm nghe gió thổi, cũng chẳng có nỗi buồn để kể.” Tôi nghe vậy thì hiểu vì sao người nghệ sĩ vẫn giữ vai trò không thể thay thế.

Văn sĩ dùng AI để lên dàn ý nhưng câu chữ cuối cùng vẫn phải chỉnh rất nhiều. Ca sĩ dùng AI để luyện giọng, tạo nhạc nền, nhưng họ cũng sợ giọng mình bị sao chép. Ảnh hưởng thì sâu, nhưng không hoàn toàn xấu. Vấn đề là nghệ sĩ phải biết giữ phần con người trong tác phẩm.

Có những người thích và dị ứng với AI và vì sao? Người thích AI thường tò mò, thích khám phá. Họ thấy AI như một trợ lý giỏi việc, luôn sẵn sàng. Người dị ứng thì có lý do khác: từng bị trả lời sai quá nhiều, sợ mất việc, không quen công nghệ, hoặc đơn giản thấy nó làm mất chất sáng tạo của con người.

Vậy làm thế nào để thích nghi với AI? Tôi rút ra vài điều:

- Xem AI là công cụ, không phải triết gia.
- Kiểm tra lại mọi nội dung quan trọng.
- Phát triển kỹ năng con người: tư duy, cảm xúc, tính sáng tạo.
- Cởi mở thay vì phản kháng.

Tôi xin kể vài chuyện vui về người dùng và AI.

Một đồng nghiệp từng nhờ AI viết email xin nghỉ vì đau bụng. AI soạn rất trang trọng, nghe như thư gửi bộ trưởng. Sếp đọc xong nhắn lại: “Khỏi nghiêm túc vậy, đi khám đi.”

Bạn tôi hỏi AI cách tìm lại động lực học tiếng Anh. AI khuyên đủ thứ. Bạn tôi đáp: “Cảm ơn, nhưng tôi vẫn lười.” AI trả lời: “Lười cũng là trạng thái bình thường.” Chúng tôi cười suốt buổi vì câu trả lời quá… dễ thương.

Có người còn dùng AI để tán tỉnh. Anh kia nhờ AI viết tin nhắn làm quen. Tin nhắn quá trau chuốt nên cô gái tưởng anh là nhà văn. Được vài hôm anh nói chuyện bằng giọng thật, lộ tông… kém lãng mạn. Cô hỏi thẳng: “Anh dùng AI phải không?” Kết quả thì ai cũng đoán được.

Gần đây, lần đầu tôi thử sáng tác nhạc với AI, tôi gõ mô tả: “Viết giúp tôi một giai điệu buồn nhẹ, kiểu đang đi bộ dưới trời mưa nhưng vẫn hy vọng.” AI tạo ra một đoạn nghe cũng ổn. Tôi bật cho bạn bè nghe và lập tức chia hai phe. Phe khen thì rất nhiệt tình:

- Hay phết. Mày mà viết chắc mất cả tối.

Nghe cũng vui. Ít ra tôi có bản nháp để bắt đầu.

Phe chê thì cũng thẳng thừng:
- Nghe giống nhạc game cũ.

- Thiếu hồn.

Có người còn nói:
- AI không biết mày buồn kiểu gì.

Tôi đùa:
- Ờ, nó đâu có chứng kiến cảnh tao bị kẹt xe dưới mưa.

Lý do khen chê cũng khá rõ. Người thích thì thấy AI như chiếc máy thử ý tưởng nhanh. Không hợp thì bỏ, hợp thì phát triển tiếp. Người chê thì bảo nhạc AI quá sạch sẽ, thiếu cái “sai” tự nhiên của cảm xúc con người.

Có lần tôi đưa lời nhạc mình viết vào để AI gợi ý cách phổ. Nó trả về phiên bản vuốt cao như nhạc kịch. Tôi nghe mà cười muốn té ghế. Bạn tôi bảo:

- AI hiểu câu “lòng anh sáng” hơi… mạnh.

Một lần khác, tôi nhờ AI làm đoạn điệp khúc mạnh hơn. Nó làm nhạc nhảy tưng tưng như aerobic. Bạn tôi nghe xong phán:

- AI đang nhắc mày tập thể dục đó.

Dù đôi khi khó dùng, AI lại giúp tôi bật ra những hướng mới. Nhiều lúc một đoạn gợi ý kỳ cục lại khiến tôi nghĩ ra thứ hợp hơn. Kiểu nó ném một cái sai khiến tôi tìm được cái đúng.

Càng dùng AI, tôi càng thấy nó là phần tất yếu của thời đại. Không hoàn hảo, đôi khi gây rối, đôi khi buồn cười, nhưng cũng đầy tiềm năng. Quan trọng nhất là mình hiểu giới hạn của nó và hiểu giới hạn của chính mình.

AI sẽ không thay thế nghệ sĩ. Nó chỉ thay đổi cách nghệ sĩ sáng tác. Còn ký ức, cảm xúc, sự tinh tế, những thứ làm nên con người, AI vẫn chưa chạm tới.

Thêm một chút nữa. Tôi nghĩ tương lai sẽ có nhiều câu chuyện “người và AI” còn kỳ quặc hơn. Trẻ con sẽ học bằng AI như trò chuyện với một người thầy hiền. Người lớn tuổi dùng AI để nhớ uống thuốc. Nghệ sĩ xem AI như công cụ thử nghiệm. Và chúng ta thì tiếp tục vừa than phiền vừa bật cười khi nó hiểu sai ý mình.

Có lẽ rồi ai cũng quen với việc có một “người bạn vô hình” trong túi áo. Không phải để thay mình sống, mà để giúp cuộc sống dễ hơn một chút.

Phước An Thy
MỘT CHUYẾN THĂM NUÔI

Những ngày cuối đời trên giường bệnh, Mạ tôi hay kể chuyện đời xưa. Chuyện gì nhớ đến đâu thì kể tới đó, phần lớn là những chuyện xảy ra đã lâu nhưng để lại ấn tượng rất lớn với Mạ.

Mạ kể năm đó được giấy đi thăm nuôi Ba tôi đang bị giam giữ tại trại tập trung học tập cải tạo Bắc Thái ở ngoài Bắc. Mạ chắt chiu được thùng đồ tiếp tế cho Ba và đơn thân một mình ra đi.

Phải mất mấy ngày mới đến nơi thì được cho biết họ đã chuyển Ba tôi đến một phân trại khác, không còn ở đây nữa. Lúc đó trời đã về chiều gần tối, Mạ xin ở lại tạm trú qua đêm, mai sẽ tiếp tục đi, nhưng ban quản giáo trại nhứt định không chịu, viện luật lệ của trại không cho. Họ cho địa chỉ trại mới Ba tôi ở, và nói Mạ ra đường cái ngoài kia đón xe đi. Mạ không biết làm gì hơn đành ôm thùng đồ cho Ba trở lại đường cũ.

Khi ra trở lại tới đường cái thì trời sập tối, đồng không mông quạnh, không một ánh đèn điện, không xe cộ nào đi ngang để xin đi cả. Mạ tôi khi đó lo sợ vô cùng vì đơn thân từ nam ra bắc thăm nuôi chồng ở nơi xa xôi này, bây giờ đứng giữa đường hoang vắng, lỡ có thổ phỉ giặc cướp ra thì sao? Nhất là nhìn Mạ tôi với thùng đồ cũng biết là vợ của “Ngụy” ra đây thăm chồng, chắc chắn sẽ mang theo tiền bạc. Lo thì lo chứ Mạ biết làm gì hơn là cầu nguyện Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn.

Không biết do lời cầu nguyện của Mạ hay tình cờ, từ cuối đường bỗng có hai chiếc xe đạp chạy đến. Hai thanh niên còn trẻ rất giống nhau như hai anh em, độ tuổi 17, 18 thấy mạ tôi đứng đó, họ tới hỏi có phải thân nhân sĩ quan “Ngụy” trong kia đến đây thăm chồng, sao không vào trại mà đứng đây? Mạ tình thiệt nói đúng là ra thăm chồng, nhưng ông đã chuyển đi chỗ khác. Mạ đưa họ địa chỉ chỗ mới của ba tôi. Hai anh em nhìn và nói biết trại đó ở khá xa, Mạ phải ra thị xã, xong rồi từ đó mới có xe đi tiếp. Ở đây không xa thị xã lắm, nhưng cũng phải đợi sáng mai mới có xe đi qua chở, bây giờ đã trễ rồi, Mạ tôi đứng đây nguy hiểm mà chắc chắn không có xe đi.

Đang phân vân không biết tính sao, bỗng hai anh em nọ nói họ sẽ chở Mạ ra thị xã giùm. Không còn cách nào hơn, Mạ đành nhắm mắt đưa chân.

Người anh thì chở mạ, người em thì chở thùng đồ, trên đường đi vắng teo và tăm tối nhưng anh em họ quen thuộc đường lối nên chạy khoảng nửa tiếng thì tới thị xã, có chút ánh đèn điện văn minh. Họ đưa Mạ tới chỗ có phòng trọ an toàn cho Mạ qua đêm, lại còn dặn dò kỷ lưỡng ngày mai mấy giờ, đón xe gì để tới chỗ của ba tôi chi li như biết rất rõ đường đi nước bước đến trại mới này. Đâu ra đó xong xuôi, họ từ giả ra về. Mạ tôi cảm động vô cùng muốn tặng chút tiền để tỏ lòng cám ơn, nhưng cả hai anh em đều nhứt quyết từ chối, nói thế nào cũng nhứt định không. Cuối cùng, thấy Mạ cứ nằn nì, và sẵn có hàng thuốc lá lẽ gần đó, hai anh em chịu để Mạ tôi mua cho một gói thuốc lá, và đạp xe trở về.

Sáng hôm sau, Mạ tôi theo lời chỉ dẫn của họ mà đi đến nơi, về đến chốn, gặp được Ba tôi và trao gói quà. Mạ nói trời phật phò hộ cho Mạ gặp người tử tế chứ hôm đó anh em nọ đập Mạ một cái ngất xỉu rồi lấy hết tiền bạc cùng thùng đồ tiếp tế cho ba mang đi thì cũng chịu chứ không biết ai đâu mà kêu!

Tôi hỏi có biết tên anh em nọ? Mạ nói hôm đó vô ý không hỏi!

Mỗi năm tháng Tư đến lòng không khỏi bồi hồi nhớ một giai đoạn trầm luân khổ ải của không biết bao nhiêu người vợ của các Quân Cán Chính miền Nam phải lặn lội nuôi chồng tù tội những nơi xa xôi hiểm trở tận ngoài Bắc. Trường hợp xảy ra như Mạ tôi chắc không phải it, thử hỏi có được mấy người may mắn như Mạ?

Đã mấy mươi năm trôi qua. Ba và Mạ tôi đều đã ra người thiên cổ. Tuy không biết hai anh em nọ là ai, nhưng niềm cảm kích của gia đình tôi đối với tấm lòng nhân ái của họ không bao giờ quên.
./.
ThaiNC


KỶ NIỆM 30/4/1975

Thấm thoát đã 51 năm. Năm 1975 ai mà trên 20t sống đến bây giờ cũng hơn 70t rồi, còn ai trên 30t thì bây giờ phần đông đã đi về với ông bà tổ tiên. Còn tôi hồi đó mới gần 15t mà bây giờ đã trên 65t. Thời gian không chừa một ai.

Ngày 30/4/1975 là một ngày mà ai trên 60t cũng đều phải biết. Là một ngày khủng hoảng, kinh hoàng. Ngoài đường vắng bóng người. Ai cũng nú ở trong nhà không dám ra đường. Lâu..lâu.. có một hai chiếc xe chạy đi vội vã. Một chiếc trực thăng bị rơi treo lơ lửng trên một sợi dây điên làm cho con đường trở nên một mùi chết chóc. Cũng cái ngày này, có người ra đi mãi..mãi, có người mất tích biệt tăm. Còn tôi thì may mắn thay chạy một mach lên tàu. Cái tàu chở tôi một mach đến đảo Guam. Đảo Guam là một hòn đảo rất đẹp của Mỹ. Ở đây lính Mỹ rất nhiều họ lập lên những cài lều của lính rộng lớn, một lều có tám cái ghế bố, bốn cái bên phải và bốn cái bên trái cho tám người ở. Sáng, trưa, chiều thì sếp hàng ăn do mấy ông lính Mỹ đứng phát đồ ăn.buổi tối họ chiếu phim ngay bải biển ai muốn xem thì đi không đi thì chạy ra chợ trời. Ở đây tự nhiên mọc ra một cái chợ bán quần áo. Đồ họ phát cho mình không sài mang ra bán Mỗi tuần họ phát quần áo cho từng gia đình một. 

Ở đây được bốn tháng thì họ chuyển đến California ở đây cũng ở trại lính, cũng ở trong lều, một lều cũng tám người. Ở đây họ chia làm bốn khu a,b,c,d. Mỗi khu có cả hơn trăm lều. Họ phát chăn, mền, kem đánh răng, quần áo..v..v..không thiếu thứ gì. Thời gian ở đây là để chờ người bảo trợ. Lúc bấy giờ nước Mỹ có những trương trình nảo lãnh cho người tị nạn. Nhà thờ, company, hoặc tư nhân có đủ điều kiện đều có quyền bảo lãnh. Người thì đi California, người thì đi Texas, còn người thì đi Arizona..v....v.. khắp cả nước Mỹ. Khi có người hoặc phái đoàn bảo trợ mình mà mình không muốn đi tiểu bang đó thì có thể từ chối ở lại đợi dịp khác.

Ở đây được ba tháng thì có một nhà thờ bảo lãnh cho tôi ở Colorado. Lúc bấy giờ tôi như con nai vàng ngơ ngác, họ đặt đâu mình ngồi đó. Mình cũng đâu biết tiểu bang nào có tuyết hay không mà từ chối. Thôi thì đành tùy theo số phận.

Ngồi trên chiếc máy bay để đến tiểu bang Colorado. Tôi như một con nai vàng ngơ ngác. Trên ngực áo tôi có một mảnh giấy đề tên, tuổi..v..v..ngồi trên máy bay tôi vừa lo, vừa hồi hộp không biết mình đi về đâu? Tương lai rồi sẽ ra sao? Họ có bắt mình làm trâu, làm ngựa hay không? Bao nhiêu là suy nghĩ, bao nhiêu là lo sợ vây kín tôi.tôi chợt nhớ đến bố, mẹ gia đình chị em, giờ đây đã tám tháng rồi xa gia đình chắc giờ họ đã nghĩ tôi chết rồi. Tôi nhớ nhà, nhớ chị em và bạn bè. Nước mắt tôi bắt đầu chảy ra lúc nào cũng không biết.. Nước Mỹ là gì? Ở đâu mà tôi chỉ thấy trên màn hình tv trắng đen.

Chiếc máy bay sắp sữa ha cánh vào một buổi tối. Một thành phố về đêm hiện ra trong mắt tôi. Những ánh đèn màu sáng chói ở dưới rộng bao la làm cho tôi cảm thấy mình lạc vào một thế giới nào đó huyền bí. Chiếc máy bay đáp xuống. Tôi ngồi im lo sợ, hành khách bắt đầu đi xuống hết còn tôi một mình thì có một cô tiếp viên hàng không đến dắt tay tôi đi ra. Trong phi trường mà cũng rộng lớn đến thế. Cỡ 20 phút sau cô ta mới dẫn tôi ra đến ngoài. 

Ở đây đã có một đám người đứng đợi. Họ chạy ra ôm lấy tôi như lâu ngày mới gặp vậy. Tôi được nguyên một cái nhà thờ bảo lãnh nên đông người đi đón là vậy. Họ dẫn tôi ra chổ đậu xe lên một chiếc xe bus của nhà thờ. Chiếc xe chở tôi vào trung tâm thành phố. Ở đây ngoài đường ai cũng chạy xe ôtô. Đường xá rộng rãi. Những tòa nhà cao tầng, cao vút trời, đèn đóm sáng trưng. Tôi như đi lạc vào một thế giới huyền bí mà chỉ có trong giấc mơ. Chiếc xe lăn bánh qua những con đường trong thành phố rồi chuyển hướng ra xa lộ. Hơn hai tiếng sau chiếc xe stop ngay trước cửa một ngôi giáo đường. Ở đây mọi người đã đứng đợi sẵn. Họ chạy đến ôm lấy tôi như một người thân trong gia đình đi xa mới về làm tôi cũng bở ngỡ. 

Ở đây là một cái tỉnh nhỏ nằm cách xa thành phố cả mấy tiếng lái xe. Trong thành phố này chỉ có mấy trăm căn nhà. Một cái nhà thờ, một cái chợ tạp hóa nhỏ xíu, một cái trạm xe bus greyhound, một cái trường tiểu học. Cái làng này nằm sát xa lộ lớn interstate 70 đi xuyên bang. Dân ở đây vẫn còn sống theo thời xưa. Mọi người trai gái, con nít đều mặc quần jean, áo ca rô, thắt lưng bự, đội nón cowboy, đi giầy cao cổ. Nhất là những đứa con nít hai, ba tuổi cũng mặc và đội nón như vậy trông thật dễ thương.

Hai ông bà mục sư có một căn nhà sau nhà thờ. Hai ông bà này có bốn người con. Ba trai một gái tuổi từ 13 cho đến 15. Cô con gái út là 13t cả nhà ai cũng có bộ tóc trắng hếu, mũi lõ, da trắng trông cũng ngộ ghê! Tôi được ở nhà ông bà mục sư tuy rằng cũng có vài gia đình muốn tôi ở nhà họ. Ở đây ai cũng tốt và hiếu khách, đồ ăn, quần áo họ mang đến chất đầy dưới hầm nhà thờ. Đến bửa ăn ông mục sư cầu nguyện xong họ bắt đầu chuyền đồ ăn. Bữa ăn lúc nào cũng có thịt, khoai tây, rau, và đồ ăn tráng miệng. Trên bàn ai cũng có một ly sữa tươi và một bình sữa để sẵn để rót thêm. Bên trái cái dĩa của từng người là một con dao, bên phải là một cái xĩa, một cái thìa và một cái khăn bằng vải. Bà mục sư cầm cái khăn để vào cổ không biết làm gì? Và ai cũng làm theo. Nà mục sư đi qua phía tôi dậy tôi cầm dao, cầm dĩa để cắt thịt. Tôi như trong rừng mới ra, hồi nhỏ cho đến lớn tôi chỉ ăn cơm với đũa chứ làm gì có những thứ này phiền phức thật. Ở đây bữa ăn nào cũng như vậy toàn là chất bổ hèn gì họ to lớn là vậy. Ăn xong rồi còn ăn thêm bánh ngọt tráng miệng no căng cả bụng.

1975 đúng 51năm về trước nước Mỹ còn thưa thớt người ngoại quốc. Dân Mễ, dân Á Đông cũng rất ít nhất là ở dưới làng quê này chỉ có một mình tôi là người Á Đông lại là người Việt Nam mà họ đã từng xem chiến tranh Việt Nam qua những năm chiến tranh trên màn tv. Giờ đây họ đã thấy tận mắt một thằng nhóc Việt Nam bằng da bằng thịt nên họ nhìn tôi bằng những ánh mắt tội nghiệp đầy thương sót. Mỗi ngày họ mang đồ ăn đồ uống, quần áo đủ thứ chất đầy. Dưới hầm nhà thờ có mấy cái tủ đông lạnh đầy nhóc thịt, cá..v..v.. đồ hộp cũng xếp đầy cả góc. đồ ăn ở dưới hầm này có thể ăn một năm không hết. Mỗi cuối tuần đều có người đến chở đi chơi đó đây. Đôi khi họ chở vế nhà để ăn trưa hoặc chiều. Ở cái tỉnh nhỏ này ai cũng tốt và hiếu khách. Ở đây hầu như nhà nào cũng có ngựa để cưởi. Họ đội nón, đi dầy boot giống như trong phim cowboy.

Bà mục sư dẫn đến trường tiểu học ghi danh. Vào trường ai cũng nhìn mình bằng cặp mắt kỳ lạ như tôi mới ở hành tinh khác tới. Con nít ở đây cũng hiền, họ đến bắt chuyện nhưng mình có hiểu gì đâu nhưng cũng giả bộ gật đầu yes.. yes..Ở Việt Nam mình đã theo học english for today hai khóa nên cũng biết sơ qua vài chữ thông thường, nhưng khi họ nói nhanh quá thì mình chỉ đoán mò vậy thôi. Tuổi của tôi lúc bấy giờ là lúc ham ăn chóng lớn nên tôi ăn bạo lắm. Táo, cam, kẹo chocolates gì tôi cũng ăn hoài không chán. Ở đây được vài năm thì tôi bắt đầu chán vì ở đây chẳng có khỉ gì. Lên trung học phải lên xe bus nhà trường để qua tỉnh kế bên học. Nói tóm lại là ở đây buồn lắm, tuy rằng ai cũng qui mến tôi nhưng ở đây chẳng có chổ nào để đi chơi. Chung quanh là đồng ruộng trồng lúa mì. Ngô, khoai ..v..v..

ở đây được hai năm tôi chán lắm nên một hôm tôi gọi lên uscc tôi tìm trong quyển sách điện thoại nơi mà họ lo cho những người tị nạn như tôi. Vì tôi còn dưới tuổi vị thành niên nên họ tìm cho tôi một gia đình bảo trợ khác ở thành phố. Gia đình này có tám người con trai và một bé gái người Việt Nam không biết xin ở đâu mới một năm tuổi còn nằm trên nôi. Hai ông bà này là chủ một company xi măng nên cũng khá giả. Nhà lớn có bẩy phòng trên và bốn phòng dưới. Tôi được xếp cho ở phòng dưới hầm. Và từ đó tôi gọi hai ông bà là bố mẹ. Nhà có chín thằng con trai kể cả tôi. Lớn nhất là 16t. Thế là từ đó tôi sống trong một căn nhà tiếng cười nói ồn ào suốt ngày. Mọi người xem tôi như một thành viên trong gia đình. 

Mỗi sáng bà mẹ Mỹ chở một đàn con đi học và phát cho mỗi người năm đô. Thời buổi đó năm đô cũng lớn. Mười xu cũng mua được một thỏi chocolate rồi. Trong trường đá banh, đánh tennis, đô vật môn gì tôi cũng chơi, không những vậy tôi còn được một cái cúp đô vật, một cúp đà banh, và một cúp tennis. Môn nào tôi cũng chơi giỏi. Sống ở đây rất hợp với tôi. Gần trường học, chợ búa, nhà thờ và hồ câu cá.

Lúc này Mỹ và Việt Nam vẫn chưa ban giao nên không có thư từ liên lạc được, và nếu có liên lạc được tôi cũng chẳng biết địa chỉ. Từ ngày ra đi đến giờ đã đã mấy năm rồi chắc ở nhà ai cũng nghĩ là tôi đã chết, trên bàn thờ đã có hình của tôi rồi, nhưng họ có biết đâu tôi đang sống ở một nơi rất sung sướng, một gia đình thứ hai cũng đông như gia đình tôi ở Việt Nam vậy. Nhà tôi có tám chị em và bốn trai, tôi là đứa con trai lớn nhất xếp hàng thứ ba trong gia đình sau ba bà chị. Mẹ tôi sau khi tôi mất tích chắc khóc hết nước mắt. Thời buổi lạc loạn người chết ở khắp mọi nơi nên sau vài năm thì cả nhà đã chắc chắn là tôi đã chết.

Đến khi Mỹ bỏ cấm vận và ban giáo lại với Việt Nam thì đã mười năm. Thư từ mới bắt đầu qua lại, nhưng địa chỉ nhà tôi cũng không biết làm sao mà liên lạc được đây? Lúc bấy giờ điện thoại tay làm gì có. Ở Việt Nam làm gì có điện thoại nhà nên muốn liên lạc cũng là một vấn đề. Cuối cùng tôi lành khăn gói lên đường.

Máy bay đáp Xuống phi trường TSN vào một ngày mưa phùn giữa tháng tám năm 1985 tôi xách bao lô đi ra khỏi phi trường cảnh vật sau bao năm xa cách vẫn như củ, ngoài đường vẫn những tiếng còi inh ỏi mới có năm giờ sáng. Phi trường lúc nào cũng đông đúc người tôi len lấn đi qua đường đón taxi tôi không nhớ địa chỉ nên vừa đi vừa chỉ đường. Xóm nhà tôi không còn nữa, thay vào đó là những ngôi nhà mới mọc lên san sát. Ngôi nhà thờ nhỏ vẫn còn đó nhưng cái trường học kế bên cũng không thấy nữa. Mọi cảnh vật đều thay đổi. Tôi kêu tài xế chở đến nhà ngoại nơi mà mỗi mùa nghỉ hè tôi đều đến đây chơi vài tháng hoặc ở nhà nội. Nhà ngoại tôi ở bên hông nhà thờ phú thọ. Xe dừng lại trước cổng nhà thờ vì không thể đi vào trong đươc. Sau khi trả tiền xe tôi sách bao lô đi dọc theo con hẻm quen thuộc. Đến trước cửa sắt nhà ngoại nhìn vào trong tôi thấy một ông cụ già yếu mặc áo thung trắng đã củ kỷ đang đứng bổ củi. Tôi gọi ông ngoại, ông quay lại nhìn tôi vài giây rồi giật mình kêu lên trời ơi! thằng Dũng mày đi đâu hơn mười năm cả nhà ai cũng tưởng mày đã chết rồi. Mẹ mà khóc hết nước mắt. Tôi chạy lại ôm ông mà không cầm được nước mắt. Tôi hỏi gia đình cháu đi đâu hết rồi. Ông dẫn tôi vào nhà giọt nước mắt vẫn rơi trên má ông. Ông bước vào nhà kêu lên: bà nó ơi thằng Dũng về nè. Bà ngoại ở trong bếp chạy ra nhìn tôi một giây rồi chạy đến ôm tôi những giọt nước mắt của bà rơi trên mà rồi từ..từ bà khóc to lên vừa khóc bà vừa nói: cháu đi đâu mà cả chục năm không về bố mẹ cháu khóc hết nước mắt đi tìm mọi góc, mọi nơi. Hồi nhỏ bà ngoại hay cho tiền tôi và mỗi lần nhét tiền vào tay tôi bà đều nói: cho cháu nhiều nhất. Bà tôi vừa khóc vừa nói: sau khi giải phóng bố mẹ cháu đã dọn về vùng kinh tế mới khổ lắm phá rừng để làm rẫy. Ở nhà lá ăn không đủ no.

Chiếc xe taxi chở tôi và ông bà chạy qua những cánh đồng và những con đường gồ ghề đến một cái nhà lá. Trước nhà có hàng rào làm bằng cây tre sơ xài. Nên trong sân ba cô gái đang ngồi đan lá. Tôi mở cổng đi vào mấy cô ngước mắt lên nhìn rồi hỏi: anh tìm ai? Mười năm trước khi đi Mỹ mấy đứa em tôi chỉ có mấy tuổi mà bây giờ ai cũng đã thành những cô gái trưởng thành nhưng tôi vẫn nhận ra từng người. Tôi gọi tên từng người rồi nói anh Dũng đây. nhưng đứa em chạy lại ôm tôi khóc. Tôi hỏi cả nhà đi đâu hết rồi? Em tôi nói cả nhà ra rẫy làm ruộng rồi anh và ông bà vào nhà ngồi uống nước. Tôi bước vào trong nhà. Đồ đạt đơn sơ, lâu lắm rồi tôi không còn thấy cái cảnh này nữa. Nhà tranh vắt đất trông như trong tranh. Từ đây ra rẫy đi bộ cũng mất nửa tiếng, mấy đứa em nói: ông bà ngoại ở nhà đợi, rồi dẫn tôi đi. 

Vừa đi vừa nói rẫy ở xa nên mọi người thường thay phiên ở lại trông chừng. Con đường hình như nhiều người đi nên trở thành một đường mòn. Đi băng qua mấy cánh đồng đến gần ven rừng thì đến rẫy. Ở đó có mấy người đang đào đất, tưới nước không để ý chúng tôi đang đi đến. Em tôi chỉ tay nói bố mẹ ở đằng kia. Khi gần đến nơi em tôi nói: anh đừng nói gì xem bố mẹ có nhận ra không? Đến nơi em tôi giới thiệu đây là bạn con. Bố mẹ tôi ngước mắt nhìn tôi rồi bỏ cuốc đến tính bắt tay tôi. Tôi cầm lòng không được nên ôm lấy mẹ tôi rồi nói: con là Dũng đây bố mẹ ơi! Mẹ tôi khựng lại nhìn tôi rồi rồi hình như nhận được một nét quen thuộc trên khuôn mặt tôi nên bà gào lên trời ơi! con ơi là con, con đi đâu mà biệt tăm, biệt tích ca chục năm trời vậy con, còn bố tôi thì đứng vuốt nước mắt, mấy đứa em tôi thì chạy đến vây chung quanh tôi. 

Tôi như một người chết đã sống lại, tất cả như một chiem bao dài vô tận. Còn hạnh phúc nào hơn khi tưởng một người thân trong gia đình đã ra đi vĩnh viễn, nhưng tự nhiên lại xuất hiện bằng xương bằng thịt. Đôi khi cái rủi cũng là cái may mà tạo hóa đã ban cho. 

Cám ơn trời, cám ơn đời đã cho ta những cảm xúc hạnh phúc nhất mà trên đời này không có gì so sáng bằng. Đó là hạnh phúc đoàn viên, gia đình cha mẹ và anh chị em.


CÁ KHÔ

Cuộc sống dư thừa, cao lương mỹ vị riết rồi người ta ngán, đâm thèm ngược lại những thứ tầm thường. Như trước đây nghèo khó thì mong có quần áo mới lành lặn để mặc, bây chừ người ta lại mua đồ mắc tiền về, xé cho nó rách te tua mới chứng tỏ đẳng cấp sành điệu fashion. 

Hôm qua vô cái nhà hàng bên đường Bolsa, Little Sài Gòn thấy bà con lại nhao nhao đòi món cơm chiên cá mặn. Cơm chiên thì là cơm nguội bời rời nấu bằng thứ gạo dỡ ùm đem chiên khô khốc, còn cá mặn là mấy con khô cá sặc mặn chát xé tơi ra trộn vào. Ăn cái món này như ăn cát với giẻ rách trộn muối vậy mà làm như quý lắm, ai cũng xúc một chén, im lặng ăn rồi không thấy ai mở miệng khen ngon hay chê dỡ, nhưng nhìn qua rồi cũng hết sạch dĩa cơm to trên bàn. Tôi xúc một muỗng nhỏ cùng nếm với mọi người cho phải phép lịch sự. Miếng cơm miễn cưỡng trôi qua cổ họng rát rạt, làm tôi rùng mình nhớ lại món cá khô thời đói khổ mà mấy anh em tôi phải ăn triền miên, từ đợt đổi tiền lần đầu sau ngày miền Nam được “giải phóng”.

Hồi đó ba tôi đã đi “học tập” xa nhà cũng gần nửa năm rồi. Mẹ tôi thì thân cò lam lũ làm rẫy trên Long Khánh kiếm gạo nuôi năm anh em tôi. “Căn hộ” mà mấy anh em tụi tôi bơ vơ như trẻ mồ côi ở lúc đó là cái gác gỗ, mái tôn, nóng hầm hập như lò bánh mì, không giường, không chiếu, chẳng mùng mền, còn gối là những cái gì tôi không nhớ, vậy mà cũng ở tới mấy năm trường. Sống còn thiếu thốn chẳng ra hồn người như thế, thì có được cái ăn để ngáp ngáp tồn tại cũng là quá may rồi. Hàng xóm dân gốc có đủ tiêu chuẩn nhu yếu phẩm còn “thiếu trước hụt sau”, huống chi nhà tôi dân tạm trú từ ngoài Trung chạy giặc vô không miếng giấy lận lưng. 

Mỗi tuần tôi nhảy xe lửa về quê, để lấy cái gì có thể lấy được mà mẹ tôi đã gom góp dành dụm cả tuần cho anh em tôi. Giữa những thứ “măng rừng củ chuối” ấy có món thường xuyên nhứt và quý nhứt là cá khô. Những con cá nhỏ đủ loại bà con loanh quanh Ấp đi câu đi cắm bắt lượm, rồi đem bán trong những chiếc rổ nhỏ che đậy bằng lá chuối, ngồi len lén bên gốc cây, bụi cỏ. Mẹ tôi mua được rẻ đem về rửa sạch bùn sình, rồi ngâm muối sống cả đêm để hôm sau phơi trên sợi dây chuối dài giấu phía sau hè cho khô, chờ tôi về lấy đem lên Sài Gòn cho mấy anh em ăn.

Nhà chật hẹp trong xóm lao động nghèo tối tăm thiếu ánh nắng, tôi thì không biết cách bảo quản, nên cá thường ẩm ướt. Sau đổi tiền, ngoài những món đồ ăn, gạo, củi mẹ tôi chắt chiu ở quê thì bà cho thêm mỗi tuần 3 đồng (tiền mới), để tụi tôi chi tiêu bút viết sách vở học hành, hay mua thêm chút đồ ăn ngoài chợ Cây Gòn. Năm anh em tôi phải gói ghém trong số tiền ấy. Mỗi tuần về quê mẹ hỏi: “Đủ tiền xài hông con, để má cho thêm?”, tôi trả lời cho bà yên lòng: “Đủ mà, má đừng lo”. 

Tôi xin đi dạy Bình dân học vụ buổi tối, mỗi tháng được 15kg gạo, được cho thêm mấy cuốn tập, vài cây viết. Ba đứa em trai tôi nhận đóng bàn chải giặt đồ, ngoài thời gian đi học, về nhà là mấy đứa nó chạy đi nhận bàn chải về đóng, đóng suốt ngày tôi không nhớ được trả công bao nhiêu mà chắc ít lắm chỉ được chừng vài xu. Cộng hết vô những thứ mang từ dưới quê lên, cùng với những gì anh em tôi “lao động” kiếm thêm chỉ đủ tiền để hàng ngày tụi tôi mua rau sống với một trái thơm “cải thiện”. Thơm tôi xắt lát mỏng trộn vào rổ rau sống đủ loại, ăn với mấy con cá khô mẹ tôi cho mang từ dưới quê lên, tụi tôi cũng “no đủ” qua ngày.

Mà cá khô ẩm ướt cột treo sơ sài thì thường có giòi, nhưng chẳng bao giờ mấy anh em tôi nghĩ chuyện phải vứt bỏ đi, mà chỉ tiếc xót của, đem ra đập cho giòi rớt bớt, lấy mấy que nhang móc cho ra hết những con giòi lì lợm còn nằm trong ngóc ngách của mấy con cá. Sau đó đem cá đi nướng trên bếp củi. Rồi cá cũng cháy vàng, không biết mỡ cá chảy ra hay những con giòi mủm mỉm rớt xuống than cháy xèo xèo bay mùi thơm lựng. Đói mà! Mấy anh em bu quanh tha hồ hít hà chảy nước miếng. Những con cá khô cháy vàng thơm ngát ấy tôi xé ra dầm vào chút nước tương, có miếng ớt, thế mà năm anh em cũng chấm rau sống có những miếng thơm nhỏ chua chua ngọt ngọt, với chút cá khô mằn mặn beo béo, tí ớt cay cay, vô tư bữa nào cũng vét sạch đến hột cơm, rổ rau với miếng cá khô cuối cùng.

Bây giờ giữa trời Cali, xứ Cờ Hoa, cuộc sống chắc đã “lên hương” phủ phê no đủ. Người ta lại thích hồi tưởng để nhớ lại thời nghèo khổ khó khăn hồi ấy (?). Vô nhà hàng là phải gọi món cơm chiên cá khô mặn! Chắc cá khô này bây giờ thì “một trời một vực” đâu như mấy con cá khô anh em tôi ăn ngày xưa, mỗi lần ăn phải đập cho ra hết giòi.

Phan Thanh Trà

CHUYỆN HAI NGƯỜI BẠN


Suốt những năm trung học, Hào và Hữu là hai thằng bạn nối khố, cặp bài trùng. Họ thân nhau ngay từ ngày đầu tiên ngồi cạnh nhau, và bao giờ cũng sát cánh suốt bảy năm trời mài ghế nhà trường.

Sau khi cùng đỗ Tú Tài tốt nghiệp trung học, Hào ghi danh vào Luật Khoa như dự định. Tưởng bạn sẽ theo mình, hay ít ra cũng tiếp tục đường học vấn, nhưng không, Hữu cho biết hắn sẽ xin vào Hải Quân, thực hiện mộng hải hồ. Hào ngạc nhiên khi nghe hắn nói. Tương lai, gia đình, và bè bạn không đủ cầm chân hắn. Hữu cho biết hắn đã suy nghĩ kỹ. Hải Quân là nơi thích hợp nhất, vừa đáp lại lời kêu gọi của núi sông, vừa là dịp cho hắn được đi khắp miền quê hương gấm vóc.

Năm đầu ở Luật Khoa buồn nản. Hào cảm thấy thiếu vắng tình bạn thân thiết. Hữu ra đi biền biệt, thỉnh thoảng chỉ gửi cho Hào một tấm thiệp nhỏ, cho biết từng địa danh hắn đã đi qua… Anh cảm thấy phục bạn mình hơn bao giờ.

Mặc cảm hèn yếu theo đuổi Hào ngày mỗi lớn. Khi anh có ý định ra đi như Hữu, thì Mai xuất hiện trong cuộc đời chàng. Những ánh mắt gặp nhau trong giảng đường, những ly nuớc dừa tươi của con đường Duy Tân cây dài bóng mát đã mang đến cho Hào một luồng gió mới. Buổi hò hẹn hò trong thư viện, từng vòng tay ôm, nụ hôn vội vàng, đã cầm chân Hào trở lại. Anh tạm quên ý hướng ra đi, tạm quên Hữu để phiêu lưu trong tình yêu đầu đời.

***
Hữu trở lại Sàigòn lần đầu tiên sau một năm trời xa vắng, đến tìm Hào tại trường. Hắn thay đổi hẳn, mái tóc cắt ngắn, da đen sạm, khỏe mạnh trong bộ quân phục màu xanh nước biển. Chỉ có ánh mắt tinh nghịch và phong cách cởi mở là không thay đổi. Một lần nữa Hào lại cảm thấy mình nhỏ đi trước bạn. Không để anh suy nghĩ lâu hơn, Hữu vỗ vai Hào thân mật:
-Đi mày, ra làm vài chai băm ba với tau rồi nói chuyện sau.

Hào vui vẻ theo Hữu ra khỏi trường, quên luôn giờ hẹn với Mai ở thư viện.

Hữu đang ở Vũng Tàu nên hắn về Sàigòn đều đặn hơn. Gặp Hào, hắn nói là phép, thỉnh thoảng lại mỉm cười bí mật: tao “dù” về chơi. Hào giới thiệu Mai với Hữu. Nhưng những cuộc đi chơi tay ba không mấy thú vị. Hào nhận thấy bạn mình không được vui vẻ cởi mở như trước nữa. Có thể hắn thấy sự hiện diện của Mai chia xẻ tình thân của Hào. Cũng có thể hắn thấy lẻ loi. Hào biết bạn mình đang trống vắng. Đời sống quân ngũ với thời gian ít ỏi đã không cho hắn những cơ hội gặp gỡ. Anh đem cảm nghĩ mình bàn lại với Mai, nhờ nàng giúp đỡ.

Như dự định, lần sau đó khi Hữu về Sàigòn, Mai đã đến với một người con gái khác, Vân, cô em họ của nàng để giới thiệu với Hữu. Họ tổ chức một cuộc picnic tại Thủ Đức. Buổi đi chơi xa có lẽ mang lại kết quả tốt. Hào và Mai cố ý tách ra để hai người được tự do. Vân thật hiền và ít nói. Nàng chỉ chăm chú nghe và hưởng ứng những chuyện Hữu kể về những chuyền đi biển và phong tục đặc biệt từng địa phương hắn ghé qua.

Qua mấy lần gặp gỡ, thấy bạn không có dấu hiệu gì tiến triển, Hào hỏi cảm nghĩ của Hữu về Vân.

-Vân đẹp và dễ thương ghê.
-Vậy mày…. thấy sao?

Hắn tỉnh bơ:
-Tao nhận Vân làm em gái rồi.

Hào sững sờ.
Ban đầu chàng tưởng bạn mình giở trò “em gái hậu phương” để tô điểm cho cuộc tình. Nhưng anh lầm. Hữu thật tình coi Vân như em. Hào buồn bã kể cho Mai và nhờ nàng kiếm giùm một người khác.

Cơ hội thứ hai không thể đến. Hữu được lệnh nhổ neo ra một vùng nào đó ở miền Trung. Hắn nói lần này ra đi sẽ rất lâu, chưa biết khi nào trở về. Hào, Mai và Vân lặng lẽ tiễn đưa Hữu rời bến.

Đó là lần cuối cùng hai người gặp nhau.
Hào ra đi bất ngờ như tiếng gọi của định mệnh. Từng khối người chen chúc trên con tàu già nua từ từ rời cảng Sài Gòn. Hào phóng mình bơi theo và leo lên như một mãnh lực huyền bí nào đó đã khiến anh quên tất cả.

***
Sài Gòn 1981

Anh thân mến,
Chỉ còn vài tiếng nữa là bắt đầu một năm mới. Pháo đang nổ báo hiệu cho tất cả mọi người, già cũng như trẻ, trai hay gái, nghèo hèn hay sang cả, đều được thăng thưởng thêm một tuổi. Có lẽ đây là điều công bằng nhất của thượng đế. Giữa giây phút thiêng liêng của đất trời này, em lại nhớ anh.

Anh ơi, em mới đi thăm ba ở ngoài Bắc. Mẹ đau nặng và đã yếu nên năm nay Mai đi thay. Cả đi lẫn về mất gần một tháng. Nghĩ lại còn rùng mình thấy sợ. Nếu không may mắn có anh Hữu đi cùng chắc em chết mất. Ba anh ấy cùng ở một chỗ với ba em nên tụi em đi chung. Lần đầu tiên trong đời Mai đi xa như vậy, và có đi mới biết được thế nào là thân gái dặm trường. Em chỉ còn nhớ khi tàu ra tới Huế là kiệt lực, không biết gì nữa. Mọi việc anh Hữu lo liệu hết. Em đã mệt ngất nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại thấy gói quà cho ba vẫn còn bên cạnh mới yên tâm, rồi lại thiếp đi. Hình như sau khi xuống sân ga, tụi Mai đã đi xe hàng, đi xe, đi bộ…và có lúc anh Hữu phải cõng Mai nữa. Tội nghiệp anh Hữu. Mỗi khi nghĩ lại cảnh đó Mai chỉ muốn khóc.

Không biết mình còn phải xa nhau đến bao giờ hả anh? Kìa pháo nổ lớn, nhiều lắm! Giao thừa rồi! Mẹ đang cúng ông bà, riêng em nhớ anh muốn khóc đây. Chờ em nhé anh. Mình nhứt định sẽ gặp lại nhau.
Chúc anh một năm mới như ý.

Mai.

Hào gấp lá thư lại, thở dài. Anh đọc mãi câu cuối “…chờ em” mà tưởng như tiếng nàng vang vọng bên tai. Mai ơi, năm, sáu năm rồi anh vẫn chờ, nhưng liệu chúng ta sẽ còn chịu đựng được bao lâu nữa?

Ngẩng đầu lên, chàng nhìn lại Vân, người con gái đã ở cạnh chàng gần hai năm qua.

Ngày gặp Vân thật bất ngờ khi hội nhà thờ địa phương nhờ chàng giúp đỡ phiên dịch cho hai chị em Việt Nam mới được bảo lãnh qua. Nhìn cô gái co ro trong cái lạnh của xứ người, chàng ngờ ngợ nhưng không dám nhận. Chỉ khi Vân ngạc nhiên hỏi “Anh…Hào hả?” chàng mới reo lên mừng rỡ và ôm chầm lấy Vân. Trong một giây, Hào quên mọi người chung quanh, quên Vân là con gái, quên luôn người mới qua chưa quen lối thân mật kiểu Mỹ mà chàng ít nhiều bị ảnh hưởng. Trước mắt chàng không phảI là Vân nữa, mà là những gì chàng bỏ lại sau lưng từ tháng tư năm ấy, là Sài Gòn, là em gái chàng, là Mai, là… tất cả.

Sau khi lo liệu xong mọi việc cho chị em Vân, đời sống của Hào bỗng nhiên khởi sắc. Mỗi tuần Vân đến, và căn phòng độc thân bề bộn đã được chăm sóc gọn ghẽ. Nhà bếp từ lâu vắng lạnh được hâm nóng với những món ăn quen thuộc mà Vân khéo léo chắp nối từ những gia vị của Tàu, Đại Hàn… Hào có cảm tưởng như mình đang sống trong cảnh Bích Câu Kỳ Ngộ mà chàng đã học trong một giờ Việt Văn năm xưa.

Nhưng không hẳn.
Tú Uyên đã xé bức tranh và cưới Giáng Kiều làm vợ. Còn Hào và Vân vẫn còn một khoảng cách ở giữa: Mai. Đã có những lúc Hào muốn quên tất cả để xây dựng hiện tại và tiến tới hạnh phúc tương lai thì những lá thư của Mai từ quê nhà kéo anh trở lại. Những kỷ niệm êm đềm vẫn hiển hiện trước mắt, những lời hẹn ước đằm thắm vẫn còn văng vẳng bên tai anh. Hình ảnh cô sinh viên Luật trẻ trung tươi thắm, theo dòng đời đổi thay đã thành một cô chợ trời lam lũ.

Mai, anh vẫn yêu em nhưng anh không là thánh nhân. Làm sao anh có thể sống mãi với một bóng hình trừu tượng? Nơi đó dù sao em cũng còn một quê hương để yêu, để ghét. Dù sao em cũng còn tình thương của gia đình, bạn bè thân thuộc. Anh ở đây nào có gì ngoài một tấm thân cô độc?

Hào nhìn Vân. Cả năm trời gần gũi mà tình thân không qua một cái nắm tay. Sự quan hệ gắng gượng giữa hai người ngày càng làm Hào bứt rứt.
-Anh ăn đi, cơm nguội hết rồi...

Tiếng Vân nhắc nhở cắt đứt giòng tư tưởng. Chàng nâng chén và bắt gặp Vân đang nhìn mình âu yếm. Hào cảm thấy bồi hồi xao xuyến, chỉ muốn bỏ chén xuống, ôm lấy tấm thân nhỏ nhắn kia xiết chặt trong vòng tay.
-Em tốt với anh quá.

Vân cúi đầu thật lâu, và nói dối với chính mình:
-Em… săn sóc anh giùm cho chị Mai thôi.

Hào muốn nổ tung như xác pháo. Nếu anh có thể xẻ mình làm hai để một nửa ở lại chờ Mai thì nửa kia sẽ giao cho Vân để đáp đền duyên tri ngộ.

***
Sài Gòn 1983

Hào thân mến,
Cám ơn thùng quà của mày đã cho tao một mùa Giáng Sinh êm đẹp. Đừng cười bạn hiền. Tao biết tiếng cám ơn giữa tao và mày quả hơi thừa thãi.

Nhưng nếu không như thế, tao biết lý do nào để viết thư này? Mấy lần cầm bút rồi lại buông! Có nhiều điều muốn nói với mày quá, mà sao cứ ngập ngừng. Thôi thì cũng đành nói hết một lần.

Ba tao mất rồi, trước Noel khoảng ba tháng. Khi tao ra tới nơi, chỉ còn nấm mồ hoang lạnh của ông. Tao ở đó một ngày trời, không biết làm gì hơn là đọc kinh cầu nguyện. Chẳng hiểu sao đời tao gặp nhiều bất hạnh. Mẹ tao đã mất năm trước như mày biết. Bây giờ người thân cuối cùng cũng bỏ ra đi. Tự nhiên tao trở thành một thằng không cha mẹ, không luôn cả thân bằng quyến thuộc. Bạn bè cũ đã từng thằng giã biệt. Bà con tao hầu hết ở ngoài Bắc và cũng không liên lạc. Hết cả rồi! 

Sàigòn không có gì cho tao lưu luyến, nếu không vì hoàn cảnh của Mai.
Cuộc sống bên này chắc mày đã biết, qua báo chí, qua thư của Mai. Nhưng Hào ạ, mày không thể tưởng tượng được hoàn cảnh thực sự qua những dòng chữ đó đâu! Mai đã thôi bán chợ trời. Bọn họ bố ráp, kiểm kê, tịch thu… và cho Mai đi cải tạo thương nghiệp 7 ngày, nhẹ thôi mà. Bây giờ Mai dọn một hàng trà đá và thuốc lá lẻ ở Bến Xe Miền Đông, gắng gượng qua ngày. Bác gái không làm gì được nữa, chỉ chăm sóc nhà cửa, đau yếu luôn. 

Tao thì mỗi ngày vẫn chiếc xích lô độ nhật. Một thân một mình dầu sao vẫn dễ chịu hơn. Mỗi sáng, tao tạt ngang qua nhà phụ Mai chở đồ ra bến xe, rồi tà tà kiếm khách. Bữa nào khấm khá thì ghé làm vài ly bia quốc doanh… tối lại đến bến xe giúp Mai dọn về. Cứ thế mỗi ngày mà sống. Thỉnh thoảng ở lại dùng cơm tối với nhà Mai, tìm lại chút hơi ấm gia đình. Bác gái làm tao nhớ mẹ ray rứt.

Hào ạ, tao có lỗi với mày nếu tao yêu Mai không? Thời gian qua tao vẫn cố giúp đỡ Mai giùm mày và hằng đêm vẫn cầu nguyện cho hai người sớm gặp lại. Nhưng Chúa ở cao quá, hay có quá nhiều người cầu nguyện nên chưa tới phiên chúng mình. Càng ngày tao càng cảm thấy số phận tao và Mai có gì ràng buộc lẫn nhau. Từ những lần tiếp tế đồ cho hai ông cụ. Những lần Mai hớt hãi lo buồn khi bị đổi tiền, kiểm kê tài sản. Người con gái yếu ớt cần một sự chở che, an ủi bên cạnh mà mày nào biết. Mày làm sao tưởng tượng được cô sinh viên tươi tắn ngày nào, nay đã héo hon, mòn mỏi, mỗi chiều ngồi trước xe, ôm lấy từng cái ly, từng gói thuốc, bảo vệ di sản cuối cùng của nàng. Hào ơi, trái tim tao cũng không phải bằng đá. Ngày xưa, tình yêu của mày và Mai được tô thắm bằng những buổi chiều công viên, bằng vị ngọt của nước dừa, còn hôm nay tình yêu của tao và Mai chỉ là những lon gạo đong, chan hòa những giọt nước mắt.

Tao biết mày vẫn chưa quên Mai và cố gắng đợi chờ. Tình đầu bao giờ cũng đẹp nhưng không có nghĩa là nó sẽ thành. Dù mày không nói nhưng tao cũng đoán Vân và mày đã yêu nhau rồi, chỉ có Mai là chút vấn vương còn sót lại. Đã đến lúc mình không thể chối bỏ sự thực. Bắt đầu già hết rồi Hào. Mình không thể ôm kỷ niệm mà sống, và để tuổi xuân của Mai và Vân phai tàn theo thời gian. Kỷ niệm dù đẹp cũng chỉ là dĩ vãng, hãy nên nhìn vào thực tại và vươn lên nắm lấy tương lai. Vân là em gái tao, mày nhớ chứ? Và tao sẽ rất vui mừng nếu có thằng em… là mày.

Những gì cần nói, tao đã nói hết, mong mày hiểu. Dù sao đi nữa tao cũng đợi thơ mày trước khi làm bất cứ chuyện gì. Chúc mày những ngày tháng đẹp.

Hữu.

Hào lặng lẽ châm điếu thuốc và đọc lại lá thư dài của Hữu. Có phải đây là kết cuộc tốt đẹp nhất cho bốn người? Tâm trạng và lời lẽ của Hữu trong thư cũng giống như những gì Hào đang nghĩ và định viết cho Mai. Không ai có thể sống mãi với kỷ niệm mà quên đi hạnh phúc trước mắt. Chàng không thể để cho Vân chờ đợi lâu hơn, mà ngay cả chính chàng cũng không thể chịu đựng được nữa những ngày dài cô độc. Vân ở đây, vẫn mỗi ngày săn sóc chàng với cả trời thương mến, tại sao chàng cứ để một bóng hình khác che khuất con tim?

Và Hữu, cuối cùng rồi hắn cũng tìm được tình yêu, cho dù là tình yêu của từng lon gạo đong chan hòa những giọt nước mắt như hắn nói. Hắn nào có lỗi gì đâu? Hào cảm thấy thông cảm và thương bạn hơn bao giờ hết. Tại sao số phận cứ dành cho anh những ưu đãi, bình yên, rồi trừ lại bằng những mất mát bất hạnh cho Hữu? Dù sao Hào cũng cảm thấy yên tâm và an ủi vì Hữu là người sẽ đưa Mai đi nốt quãng đời còn lại.

***
Đám cưới của Hào và Vân, Hữu gửi mừng một bức cưa lộng rất công phu do chính tay hắn làm lấy. Những miếng gỗ thông mịn màng do chính Hữu cưa và tỉ mỉ ghép lại theo hình con tem đám cưới Việt Nam ngày trước. Trong thư hắn viết: “Quà cưới của mày cho tao và Mai hậu hĩ quá, làm tao không biết gởi gì cho Vân và mày nữa. Bên đó đầy đủ tất cả, đành gởi tạm cái này gọi là…”

Hào cảm động trước chân tình của bạn. Hai người là đôi bạn thân nhưng từ lâu Hào biết, trong thâm tâm, Hữu hơn mình về mọi phương diện. Rời ghế nhà trường hắn đã biết chọn cho mình một hướng đi, để rồi sau bao thế sự đổi thay, hắn vẫn luôn luôn đứng vững để sống còn và đùm bọc cho Mai.

Trước đó, trong thiệp cưới của Mai và Hữu gởi cho Hào và Vân, Mai kèm một bức thư ngắn: “… Em cám ơn anh đã thông cảm cho hoàn cảnh của chúng ta. Từ nay mọi chuyện anh Hữu sẽ viết thư cho anh. Tâm hồn em bây giờ đã bình yên, không còn cuống quít với kỷ niệm xưa cũ nữa. Em cảm thấy tin tưởng hơn vào cuộc sống mới, và vẫn kính trọng anh là một người bạn thân thiết nhất của cuộc đời. Vân là một người hoàn toàn, anh phải đối xử tốt với nó và đừng chần chờ nữa.”

***
Nhưng dòng đời không bao giờ trôi suôn sẻ. Bên kia bờ đại dương, Hữu và Mai đang sống những ngày hạnh phúc. Đứa con đầu lòng của họ đã được ba tuổi. Ngày Mai khai hoa nở nhụy, Hữu đánh điện tín sang, phong cho Hào-Vân làm cha mẹ đỡ đầu đứa bé. Hào cũng vui mừng không kém. Trong giờ phút thiêng liêng được lên chức “bố” hắn vẫn nhớ đến chàng. Thư từ qua lại đều đặn hơn giữa bốn người.

Niềm sung sướng hãnh diện về đứa con của Hữu và Mai làm Vân lo lắng suy nghĩ. Đã mấy năm chung sống, hai người ân ái mặn nồng như bất cứ cặp vợ chồng nào hạnh phúc nhất trên đời, vẫn không thấy có triệu chứng gì Vân sẽ cho Hào một đứa con.

Nỗi lo lắng của Vân ngày một lớn dù Hào có an ủi và không mấy quan tâm. Anh vẫn quan niệm, con cái là do trời cho, khi có là… tự nhiên sẽ có.

Nhưng Vân lại không nghĩ như vậy. Nàng bắt đầu dò hỏi, tìm tòi qua sách báo, tìm ra những phương pháp và yêu cầu Hào áp dụng khi hai người gần gũi. Thậm chí nàng còn đi lễ chùa để cầu khẩn (mặc dù đây chỉ có chùa… Nhật Bản). Nghĩa là Vân đã cố gắng hết sức, từ khoa học hiện đại cho đến mê tín dị đoan. Vẫn không thấy kết quả.

Bác sĩ cho hay Vân không thể có con. Đám mây đen đầu tiên xuất hiện trong cuộc sống hai người. Cả mấy tuần Vân chẳng thiết ăn uống, chỉ nằm khóc cho số phận. Hào không biết làm cách nào để an ủi vợ. Chàng hiểu nỗi mong ước có con của Vân lớn đến chừng nào. Đến khi giải pháp xin một đứa con nuôi của Hào mới làm Vân nguôi ngoai.
Họ thực hiện ngay ý định.

Những cú phone, thư từ và các thủ tục khác lần lượt qua Hội Cha Mẹ Nuôi, qua Cao Ủy Tỵ Nạn… đã mang bé Hạnh về với gia đình chàng. Vân và Hào được Cao Ủy cho hay, Hạnh là một số ít người còn sống sót trong chuyến tàu vượt biên bị hải tặc tấn công. Cha mẹ bé đều vùi thây dưới biển cả. Cô bé sống trong trại không thân nhân, không rõ gốc tích, và đang chuẩn bị được đưa sang Thụy Sĩ nhờ những bàn tay nhân ái. Hai người cảm thấy thương mến ngay đứa bé mồ côi tội nghiệp, và quyết định mang bé về với gia đình.

Sự hiện diện của bé Hạnh đã mang lại gia đình Hào nguồn sống mới. Vân như hồi sinh.

Ngày đón đứa bé tại phi trường, Hào và Vân đã nắm chặt tay nhau trong niềm thông cảm sâu xa. Cuộc đời cũng không đến nỗi bất công cho lắm. Tại đây, gần mười năm trước hai người đã gặp lại nhau, vượt qua bao thử thách. Nay cũng nơi này, đang mang về cho họ một đứa con từ bên kia bờ biển xa xôi.

Vân đã chuẩn bị đầy đủ tất cả. Một căn phòng riêng cho con, áo ấm, giầy vớ, búp bê…không thiếu món gì. Nàng dạy cho bé Hạnh kêu chàng là “ba”, gọi nàng là “mẹ”. Mỗi ngày đi làm về, Hào sung sướng khi thấy hai mẹ con quấn quít bên nhau.

Tuy sống trong tình thương yêu của Vân và Hào, hai người thỉnh thoảng bắt gặp bé Hạnh một mình tư lự trong phòng. Bé có một cuốn sổ tay mang theo trong người, hàng ngày vẫn mở ra coi rồi lại buồn thiu muốn khóc, nhưng mỗi khi thấy vợ chồng chàng, nó lại giấu đi. Vân tò mò muốn xem, cuối cùng lại thôi. Hai người đều tin đó là kỷ vật còn lại của cha mẹ ruột nó. Họ phải tôn trọng người đã khuất cũng như sự riêng tư của con. Ngày tháng còn dài để tìm hiểu bé.

Hôm nay tại sao bé Hạnh lại đưa cho Vân coi cuốn sổ tay có tấm hình?
Tấm hình tuy đã nhòe vài chỗ nhưng vẫn rõ ràng một gia đình gồm hai vợ chồng và một đứa con, bé Hạnh.

Hai người ở phía sau, chình là Hữu và Mai.

Hào và Vân run rẩy nhìn sửng tấm hình như không thể tin được sự thật.
Chỉ một thời gian không thư từ, Hào đâu ngờ họ đã vượt biên để đi đến một kết quả bi thảm!

Nước mắt chảy dài trên má. Hào đau đớn không thể thốt ra tiếng nấc…
Chàng như nghe thấy tiếng sóng biển rì rào lẫn trong tiếng cười man rợ của loài dã thú.
Có tiếng la hét cầu cứu!
Tiếng phụ nữ!
Tiếng của Mai.
Hào như thấy Hữu thân yếu thế cô vẫn cố xông lại mong cứu người vợ yêu dấu đang dẫy dụa trong bàn tay của loài thú dữ.
Một nhát búa!
Hai nhát búa!
Máu loang lổ!
Một cái đẩy tay tàn bạo đưa người sĩ quan Hải Quân trẻ tuổi năm xưa về với biển khơi. Chuyến hải trình cuối cùng! Hào lại thấy Mai trong phút tuyệt vọng khốn cùng, thoát khỏi bàn tay dã nhân, lao mình xuống dòng nước. Nàng lấy tay che vết thương trên đầu chồng và cùng nhau chìm xuống biển sâu…

Hào đón lấy bé Hạnh từ tay Vân. Đứa con của Hữu và Mai đây. Nó đã từ ngàn dặm tìm đến gia đình chàng mà chàng nào biết. Có phải hồn thiêng của hai người bạn đã đưa đứa con mồ côi của họ về cho vợ chồng chàng nuôi dưỡng?

Hữu và Mai ơi, các bạn hãy yên tâm nhắm mắt. Đây là đứa con của chúng ta. Tôi sẽ thương yêu, đùm bọc nó cho đến khi nên người.

Bé Hạnh nằm yên trong lòng. Nó cũng đang khóc và cảm nhận sự thương yêu vô cùng của cha mẹ.

Ngoài kia, trên bầu trời xanh, trong áng mây chiều lờ lững như đang có Hữu và Mai đứng đó đón nhận lời khấn nguyện của Hào. Họ mỉm cười mãn nguyện, và nương theo làn gió bay về chốn thiên đàng.


ThaiNC

 Trần Đức Thịnh

Đã có thông tin của cậu bé Trần Đức Thịnh hiện đang sinh sống ở Springvale. Cậu bé tội nghiệp. Bị chính người Việt Nam trẻ trong lẫn ngoài nước nguyền rủa mấy hôm nay.

Theo hình chụp Ed Huynh gởi, tôi tìm thêm thì té ra các bạn trẻ dùng tiếng Anh qua lại để nói về cậu bé này 1 cách không có gì là thiện cảm.

Và, tìm thêm được 1 bài viết rất hay trong trang THÔNG NÃO BÒ ĐỎ về việc du sinh đóng tiền mua nền giáo dục của Úc. Bài viết không ghi tác giả. Cho tôi xin về đây để chia sẻ với mọi người, dạo này bò đỏ  cũng tự động chui vào nhà tôi nhiều lắm!
~~~~~~~~~~~

Thằng trốn nghĩa vụ quân sự còn làm trưởng chuồng chăn cả trăm ngàn BĐ thì thằng bé mặc áo đỏ sao vàng check-in trước cờ vàng làm BĐ bắn tung tóe cũng không có gì ngạc nhiên.

Thằng bé trông mặt đã thấy "thông minh" rồi, nên không trách nó. Cái đám tung hô nó nào thì "khiêu vũ trước bầy sói", "cho.c tức ///"..... là BĐ kéo tụt văn hóa xã hội mới đáng nói.

Thẩy hỏi các chuồng trại: Thằng bé đang làm gì ở Úc?

Gia đình đóng tiền cho sang Úc học RMIT. Nói về kỉ niệm ngày 30/4 thì Úc không phải vô can. Nước Úc mà thằng bé đang đứng để thể hiện lòng yêu nước đã gửi 60 ngàn quân sang Việt Nam đánh Bắc Việt. Họ bắn vào bộ đội Bắc Việt.

Nếu yêu nước, muốn tưởng nhớ ngày chiến thắng 30/4, vẫn coi cờ vàng là kẻ thù thế có coi Úc là kẻ thù đã đánh ông bà cậu ta không?

BĐ có bao giờ đặt câu hỏi sao thằng bé không ở Việt Nam mà học? Sao thằng bé đó lại nộp đơn xin visa của kẻ thù? Sao gia đình thằng bé lại đóng học phí nuôi trường đại học của kẻ thù? Sao thằng bé sống trong nhà kẻ thù, ăn cơm kẻ thù, đi làm giầu cho kẻ thù?

Vậy thì yêu nước hay tưởng nhớ ngày chiến thắng cái gì?

Mấy ông bà già cầm cờ vàng đó là dân Úc. Họ có quốc tịch Úc, hộ chiếu Úc, đóng thuế cho Úc. Họ là chủ ở mảnh đất đó.

Ở Melbourne thằng bé là gì ở đó? Chỉ là du học sinh, cầm visa tạm thời do chính phủ Úc cấp, tư cách là khách, có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào nếu vi phạm. Đến đó học nhờ, ở nhờ, sống nhờ trên đất của người ta. Cờ vàng được thành phố Melbourne công nhận là biểu tượng của cộng đồng người Việt tại Úc. Người Úc người ta nhìn cờ vàng còn nhận diện được người VN, vì nó được dùng trong các sự kiện, trưng tại tòa thị chính. Còn mặc áo đỏ sao vàng chưa chắc người ta biết thằng bé đó là ai.

Vậy các chuồng trại tung hô thằng bé cái gì? Tung hô thằng bé đem tiền nhà sang nuôi nền giáo dục của kẻ thù? Tung hô việc thằng bé tự nguyện trả học phí cho trường đại học của nước đã bắn vào bộ đội Việt Nam? Tung hô chuyện thằng bé xếp hàng xin visa, đóng phí, làm hồ sơ, bay 8 nghìn cây số để được sống chung thành phố với chính những người cờ vàng?

Dĩ nhiên thực tế làm gì có chuyện vô lý như thế. Thằng bé nó chỉ diễn thôi, vì biết BĐ ngoo, rất hay quay tay và sẽ tung hô nên nó mới diễn. Chứ yêu nước đến thế thì nó để ảnh đại diện mặc áo cờ đỏ sao vàng, chứ đâu mặc áo đội bóng đá Anh thế kia. Chỉ có BĐ là mãi ng.... thôi.







Blog Archive