Wednesday, August 12, 2026

TÔ PHỞ ĐẶC BIỆT

Võ Ngọc Trí

Bà mẹ hỏi nhỏ cô chủ quán:
‐ Bao nhiêu tiền một tô phở bò hả cô?
‐ 45 ngàn bác ạ.
‐ Cô có thể bán cho tôi một tô 30 ngàn được không, tôi không đủ tiền.
Cô chủ quán tỏ vẻ khó chịu:
‐ Bác không có tiền mà còn đi ăn phở. Mời bác ra quán cơm bụi mà ăn, để yên cho cháu buôn bán.

Có ông khách đang ngồi ăn gần đó, nghe được bèn lên tiếng:
‐ Cô cứ bán cho người ta đi, tiền để tôi trả.
Cô chủ quán nghe vậy, mới làm một tô phở bò bê ra, nóng hổi và thơm phức.

Bà mẹ giục cậu con trai:
‐ Con mau ăn đi cho nóng.
Người con lấy đũa đảo tô phở, nếm một chút nước lèo, rồi nhăn mặt:
‐ Phở gì mà tệ thế này, nhạt như nước ốc ấy.
Bà mẹ ngạc nhiên:
‐ Con rất thích phở bò mà. Mẹ lỡ gọi rồi, con không ăn bỏ thì phí lắm.
‐ Con không ăn thứ dở tệ này đâu, mẹ ăn đi.

Nói rồi người con đi ra ngoài, ngồi xổm xuống bậc thềm trước quán. Ông khách thấy vậy, có vẻ không hài lòng, ra gặp người con, nói bằng giọng bức xúc:
‐ Sao cậu nỡ đối xử với mẹ mình như vậy. Cậu thật là tệ.

Người con ngước nhìn ông khách, gật đầu:
‐ Đúng rồi, cháu thật là tệ. Xưa cháu bị mẹ ruột bỏ rơi khi mới sinh, nên cháu lang thang khắp nơi, không có ai hiểu và thương cháu như mẹ cháu. Mẹ xem cháu như con và cưu mang cháu. Cháu thương mẹ suốt ngày phải đi bộ nhặt ve chai, bán vé số, nên muốn đi làm bốc vác để đỡ đần cho mẹ, nhưng mẹ cháu không cho.
Giọng ông khách chùng xuống:
‐ Nhưng tại sao cháu lại không chịu ăn tô phở?
‐ Mẹ bắt cháu đi học nghề. Mẹ bảo cháu cố gắng học, có một cái nghề, khi tốt nghiệp, sẽ thưởng cho cháu một bát phở bò, món ăn mà cháu rất thích.
‐ Nhưng vì thương mẹ, nên cháu không nỡ ăn mà nhường cho mẹ ăn, đúng không cháu?
‐ Dạ. Cháu biết là mẹ cháu chưa bao giờ dám ăn phở. Đến cơm mẹ còn nhường cho cháu ăn nữa là...
Người con nói tiếp khi khoé mắt đã rớm lệ:
- Cháu đúng là rất tệ, khi vì cháu mà mẹ cháu phải khổ như vậy. Cháu không nỡ lòng nào ăn tô phở ấy đâu, chú ơi.

Ông khách có vẻ xúc động, ngồi im lặng bên cạnh hồi lâu, rồi đưa số điện thoại của mình cho người con:
‐ Nếu cháu chưa có việc làm, không chê chú, thì cứ gọi điện cho chú, lúc nào cũng được. Chú nghĩ sẽ có rất nhiều việc cho cháu làm.
Người con mừng rỡ:
- Thế thì tốt quá. Cháu sẽ có tiền trả cho chú tô phở.
Ông khách làm mặt giận:
- Tô phở ấy chú mời mà, có đáng là bao đâu cháu.
Người con vẫn dứt khoát:
- Với chú là nhỏ, vì chú ăn nhiều rồi. Nhưng với mẹ con cháu thì phở rất đặc biệt vì không có tiền mà ăn. Chú mời là mẹ con cháu nợ ơn chú rồi, cháu không muốn nợ thêm tiền chú nữa.

Ông khách nhìn người con. Tuy mặc quần áo đã cũ, nhưng gương mặt rất sáng và thông minh. Ánh mắt trung thực nhưng cũng đầy sự tự trọng và bản lĩnh.
Ông khách cười xoà:
- Thôi thì chú theo ý cháu. Còn bây giờ, cháu mau vào ăn phở với mẹ nhé. Thấy cháu chê không ăn, mẹ cháu ăn một mình không ngon miệng đâu.
Cháu ngồi xuống đây, để chú đi lấy tô phở khác cho cháu..


TANG LỄ THẬT RA LÀ DÀNH CHO AI?

Bố tôi mất lúc 7 giờ 15 phút sáng ngày 10 tháng 8 năm 2026, sau những ngày cuối cùng chống chọi với bệnh tật bằng một sức chịu đựng mà đến giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy đúng với tính cách của một người từng là lính: lặng lẽ, bền bỉ, không than thở, còn một chút sức lực thì còn chiến đấu; 

Sau khi bố mất, gia đình làm các thủ tục cần thiết rồi gửi thi hài bố vào khay lạnh của nhà tang lễ để bảo quản, bởi phải đến sáng ngày 12 tháng 8 gia đình mới làm lễ khâm liệm, phát tang, đón họ hàng, bạn bè và con cháu đến tiễn bố, như vậy bố sẽ nằm ở đó đêm nay, ngày mai và thêm một đêm mai nữa, mà đêm nay lại là đêm đầu tiên, cho nên khi mọi việc trong ngày đã tạm xong, mọi người đã mệt mỏi đi ngủ, tôi nằm xuống mà không sao ngủ được, trong đầu cứ hiện lên một hình ảnh khiến lòng mình quặn lại: bố đang nằm một mình trong căn phòng lạnh ấy, không có mẹ bên cạnh, không có các con, các cháu bên cạnh, không còn những tiếng nói quen thuộc của gia đình, chỉ có một thân thể đã đi cùng bố hơn bảy mươi năm đang nằm im lặng giữa cái lạnh của nhà tang lễ.

Tôi thương bố, và càng nghĩ càng thương, bởi một con người suốt đời sống giữa gia đình, từ thuở nhỏ đã có cha mẹ, anh em, rồi lớn lên có vợ, có con, có cháu, có đồng đội, đồng nghiệp, họ hàng, làng xóm, một người từng đi qua biết bao con đường, từng làm việc, dựng nhà, nuôi con, bế cháu, từng vui, từng buồn, từng khỏe mạnh, từng đau yếu, từng lo cho người này người khác, vậy mà cuối cùng thân thể ấy lại có một đêm nằm hoàn toàn một mình; nhưng rồi chính trong lúc không ngủ được ấy, tôi chợt tự hỏi một câu mà gần năm mươi năm sống trên đời tôi chưa từng hỏi mình một cách nghiêm túc: người đang nằm trong khay lạnh của nhà tang lễ kia có thực sự còn là bố tôi nữa không?

Tôi nghĩ rất lâu, và rồi thấy rằng dù nhìn theo cách nào thì có lẽ tôi cũng không nên thương bố theo cách tưởng tượng rằng bố đang rét, đang cô đơn hay đang chờ con cháu đến với mình, bởi nếu con người chỉ có thân xác, nếu chết thực sự là sự chấm dứt hoàn toàn của ý thức, thì từ 6 giờ 46 phút sáng hôm qua, khi trái tim bố ngừng đập, mọi cảm giác nóng, lạnh, đau đớn, sợ hãi và cô đơn cũng đã chấm dứt; còn nếu ngoài thân xác này quả thực có một phần nào đó mà từ hàng nghìn năm nay con người vẫn gọi là linh hồn, thần thức hay phần tinh anh của một đời người, thì có lẽ bố càng không nằm trong chiếc khay lạnh ấy, bởi phần thuộc về bố đã rời khỏi một thân thể quá mỏi mệt, đã bước ra khỏi căn phòng bệnh, khỏi những mũi kim, những dây truyền, những chiếc máy lọc máu, những tiếng báo động của máy móc và những ngày dài đau đớn, để đi đến một miền nào đó mà người đang sống như tôi không nhìn thấy và cũng không thể biết chắc.

Tôi không biết có thiên đường hay tiên cảnh hay không, cũng không biết linh hồn sau khi rời khỏi thân xác sẽ đi đâu, bởi đó là những câu hỏi mà con người đã hỏi từ hàng nghìn năm nay nhưng chưa ai có thể đem về một câu trả lời khiến tất cả mọi người đều tin; tuy vậy, trong đêm đầu tiên sau khi mất bố, tôi muốn cho phép mình tin vào một điều đẹp đẽ rằng bố không còn nằm trong căn phòng lạnh ấy nữa, ở đó chỉ còn thân thể mà bố đã mang theo trong hơn bảy mươi năm của một kiếp người, còn bố thì đã nhẹ nhàng rời khỏi nó, giống như một người đi đường sau một hành trình quá dài cuối cùng được đặt chiếc ba lô nặng xuống, không còn đau, không còn bệnh, không còn những giới hạn của tuổi già, biết đâu đang phiêu du ở một miền thanh thản nào đó, gặp lại cha mẹ, anh em và những người thân đã đi trước, hoặc đơn giản chỉ là được nghỉ ngơi sau một đời đã sống đủ những nhọc nhằn của kiếp người.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy thân xác của mỗi chúng ta có lẽ cũng giống như một ngôi nhà mà tạo hóa cho ta mượn để trú ngụ trong một quãng thời gian nhất định; có người được ở trong ngôi nhà ấy ba mươi năm, có người năm mươi năm, có người tám mươi, chín mươi hay một trăm năm, rồi đến một ngày người chủ phải rời đi, ngôi nhà vẫn còn đó nhưng người từng sống trong ngôi nhà, từng cười, từng khóc, từng yêu thương, từng giận dữ, từng hy sinh, từng mơ ước và từng trải qua cả một đời thăng trầm đã không còn ở trong đó nữa; và chính từ ý nghĩ rất giản dị ấy, tôi bỗng hiểu ra một điều mà trước đây đã nhiều lần dự đám tang của người khác nhưng chưa bao giờ hiểu đến tận cùng: tang lễ, xét cho cùng, không phải là nghi thức dành cho người đã chết, mà là nghi thức của những người đang sống để bày tỏ lòng biết ơn đối với một cuộc đời đã hoàn thành.

Nếu người đã chết thực sự không còn ở trong thân xác ấy nữa thì họ đâu cần một chiếc quan tài đẹp, đâu cần những vòng hoa, đâu cần một bài điếu văn thật hay, cũng đâu cần biết có bao nhiêu người đến viếng, ai khóc nhiều, ai khóc ít, đám tang được tổ chức lớn hay nhỏ, bởi tất cả những điều ấy chỉ còn có ý nghĩa đối với những người ở lại; chính chúng ta mới cần một đám tang để có một khoảng thời gian dừng lại giữa cuộc đời vốn lúc nào cũng vội vã, để được đứng trước người vừa đi khỏi thế giới này thêm một lần cuối cùng, được nhìn lại khuôn mặt quen thuộc ấy, được thắp một nén hương, cúi một cái đầu và nói những lời mà đôi khi suốt mấy chục năm sống cạnh nhau chúng ta vẫn ngại nói, hoặc cứ nghĩ rằng ngày mai, tháng sau, năm sau vẫn còn thời gian để nói.

Có lẽ lời đầu tiên mà một đám tang giúp chúng ta nói được chính là cảm ơn, cảm ơn một người cha đã đem phần khỏe mạnh nhất của cuộc đời mình ra làm việc để nuôi những đứa con, cảm ơn một người mẹ đã đem tuổi trẻ đổi lấy sự trưởng thành của chúng, cảm ơn một người vợ hay người chồng đã cùng ta đi qua những năm tháng nghèo khó, bệnh tật và thăng trầm, cảm ơn một người anh, một người em, một người bạn đã từng xuất hiện trong cuộc đời mình, bởi đến khi một người vĩnh viễn ra đi ta mới hiểu rằng giữa hàng tỷ con người trên thế gian này, việc hai con người được gặp nhau, sống cùng nhau một quãng đời, thương nhau, giận nhau, giúp đỡ nhau và để lại dấu vết trong đời nhau vốn đã là một điều rất đáng biết ơn.

Nhưng một đám tang còn cho người sống cơ hội nói một lời khác, đôi khi khó nói hơn cả lời cảm ơn, đó là xin lỗi, xin lỗi vì có những lần cha gọi mà con nói mình đang bận, có những lần mẹ kể một câu chuyện đã kể nhiều lần nên ta nghe một cách hờ hững, có những bữa cơm cha mẹ chờ mà ta nghĩ tuần sau về cũng được, có những lúc người thân cần một câu hỏi han nhưng ta lại dành hết sự kiên nhẫn và lịch thiệp cho những người ngoài xã hội rồi trở về nhà với những người thương mình nhất bằng một khuôn mặt mệt mỏi; con người chúng ta có một nhược điểm rất lạ là những gì luôn ở bên cạnh thì thường bị xem là đương nhiên, chỉ đến khi mất đi mới nhận ra rằng điều tưởng bình thường ấy hóa ra là thứ không thể mua lại bằng bất cứ giá nào.

Khi cha mẹ còn khỏe, ta nghĩ còn nhiều thời gian; khi cha mẹ bắt đầu già, ta vẫn nghĩ chắc còn vài năm nữa; khi cha mẹ nằm viện, ta bắt đầu sợ nhưng trong lòng vẫn hy vọng sẽ có một lần trở về nhà; đến khi bác sĩ nói không còn khả năng hồi phục, ta mới hiểu thời gian đang được tính bằng ngày, bằng giờ; và khi chiếc giường quen thuộc trong nhà thực sự trống đi, khi một số điện thoại từ nay sẽ không còn gọi cho mình nữa, khi một người sáng hôm qua còn nằm trước mặt ta mà sáng hôm nay chỉ còn lại di ảnh, ta mới hiểu rằng trên đời có những cuộc chia tay không còn một cuộc gặp nào phía sau để ta sửa chữa những điều mình từng bỏ lỡ.

Có lẽ vì vậy mà tang lễ không chỉ để tiễn người chết, tang lễ còn để đánh thức người sống, bởi một chiếc quan tài đặt trước mặt nhắc ta rằng đời người có giới hạn, một nén hương cháy dần nhắc ta rằng thời gian cũng có giới hạn, một người hôm qua còn hiện hữu mà hôm nay đã trở thành người thiên cổ nhắc ta rằng những chuyện hơn thua, những lời giận dỗi, những cuộc tranh giành, tiền bạc, địa vị và rất nhiều điều mà khi đang sống ta tưởng là ghê gớm, đến trước cái chết bỗng trở nên nhỏ bé đến lạ; 

và lúc ấy câu hỏi quan trọng nhất không còn là một người đã kiếm được bao nhiêu tiền, từng ngồi ở vị trí nào hay có bao nhiêu người biết tên mình, mà chỉ còn là sau khi người ấy đi rồi, có bao nhiêu người nhớ đến họ bằng lòng biết ơn.

Nếu một người cha mất đi mà những đứa con vẫn nhớ những năm tháng cha từng vất vả vì mình, nếu một người anh mất đi mà những người em vẫn nhớ những lúc khó khăn anh từng chìa tay giúp đỡ, nếu một người ông mất đi mà nhiều năm sau những đứa cháu vẫn kể cho con của chúng nghe rằng ông mình từng sống tử tế ra sao, thì tôi nghĩ cuộc đời ấy dù không có một bức tượng nào cũng đã dựng được một tượng đài trong lòng những người ở lại; mà tượng đài trong lòng người đôi khi còn bền hơn tượng đài bằng đá, bởi đá rồi cũng mòn, tên tuổi rồi cũng phai, nhưng một điều tử tế được truyền từ người này sang người khác có thể tiếp tục sống qua nhiều thế hệ sau khi người làm ra nó đã trở về với cát bụi từ lâu.

Từ cái chết của bố, tôi cũng hiểu thêm một điều tưởng ai cũng biết nhưng không phải ai cũng kịp làm, rằng hiếu thảo không thể đợi đến đám tang mới bắt đầu, bởi một đám tang thật lớn không thể bù cho những ngày cha mẹ cô đơn khi còn sống, một chiếc quan tài đắt tiền không thể thay cho một bữa cơm mà ta từng có thể ngồi ăn cùng cha mẹ, một vòng hoa thật đẹp không thể thay cho một cuộc điện thoại đáng lẽ ta nên gọi khi người ấy còn nghe được, một bài điếu văn xúc động đến đâu cũng không thể thay cho một câu “con thương bố”, “con thương mẹ” mà ta đã có thể nói khi người ấy còn mở mắt nhìn mình.

Hoa rồi sẽ héo, hương rồi sẽ tàn, khách viếng rồi sẽ trở về, tang lễ rồi cũng kết thúc, ngôi mộ rồi một ngày cũng phủ màu thời gian, chỉ có cách chúng ta đã đối xử với nhau khi còn sống là không thể quay lại để sửa chữa, cho nên nếu cái chết của một người thân có thể để lại cho người sống một bài học thì có lẽ bài học lớn nhất không phải là phải chuẩn bị một đám tang như thế nào, mà là hãy sống với nhau sao cho đến ngày phải chia tay, những người ở lại ít phải nói hai chữ “giá như”; 

giá như tôi về thăm bố nhiều hơn, giá như tôi ngồi với mẹ lâu thêm một chút, giá như hôm ấy tôi đừng nổi nóng, giá như tôi chịu nghe hết câu chuyện cũ ấy, giá như tôi nói một câu cảm ơn, giá như tôi nói rằng tôi thương họ, bởi nỗi đau lớn nhất trước cái chết đôi khi không phải là người thân đã chết, vì chết là quy luật mà cuối cùng không ai tránh được, mà là nhận ra rằng có những điều rất nhỏ ta hoàn toàn có thể làm khi họ còn sống, nhưng đến lúc muốn làm thì người cần nhận nó đã không còn nữa.

Đêm nay là đêm đầu tiên bố tôi nằm lại ở nhà tang lễ, ngày mai bố còn ở đó thêm một ngày và một đêm nữa, rồi sáng ngày 12 tháng 8 gia đình sẽ đón bố ra làm lễ khâm liệm, phát tang, để họ hàng, bạn bè và con cháu đến thắp hương, cúi đầu tiễn biệt trước khi đưa bố đi nốt đoạn đường cuối cùng của một kiếp người; 

nhưng viết đến những dòng này, tôi bỗng không còn thấy bố đang cô độc trong căn phòng lạnh như lúc mới nằm xuống nữa, bởi tôi hiểu rằng ở đó chỉ là thân thể đã hoàn thành sứ mệnh của mình, một thân thể mà tôi vẫn biết ơn và kính trọng, bởi đôi chân ấy đã chở bố đi qua biết bao con đường, đôi tay ấy đã từng lao động để nuôi gia đình, đôi vai ấy đã từng gánh những trách nhiệm mà những đứa con khi còn nhỏ không bao giờ hiểu hết, và trái tim ấy đã bền bỉ đập hơn bảy mươi năm, trải qua cả một cuộc đời vui buồn, khỏe mạnh, bệnh tật, rồi đến 7 giờ 15 phút sáng ngày 10 tháng 8 năm 2026 mới chịu dừng lại.

Nhưng bố tôi không chỉ là thân thể đang nằm trong khay lạnh của nhà tang lễ, bởi bố còn ở trong ký ức của mẹ, trong cuộc đời của những người con, trong khuôn mặt và tính cách của những đứa cháu, trong những ngôi nhà bố từng dựng, trong những người bố từng giúp đỡ, trong những câu chuyện mà từ nay gia đình sẽ còn kể đi kể lại, và có lẽ nhiều năm sau, khi một đứa con hay đứa cháu đứng trước một lựa chọn khó khăn rồi bất giác tự hỏi “nếu bố còn sống”, “nếu ông còn sống thì ông sẽ làm thế nào”, thì ngay trong khoảnh khắc ấy một phần của người đã mất vẫn đang hiện diện trong cuộc đời của người còn sống; một con người có thể chết về mặt sinh học khi trái tim ngừng đập, nhưng ảnh hưởng của họ chưa hẳn đã chết, bởi những gì tốt đẹp mà họ gieo vào người khác vẫn có thể tiếp tục sống, tiếp tục sinh sôi và đi xa hơn cả tuổi thọ của chính họ.

Tôi không biết có thiên đường hay không, không biết linh hồn sau khi rời khỏi thân xác sẽ đi đâu, và tôi cũng không muốn lấy niềm tin của mình để khẳng định một điều mà con người chưa thể biết chắc; nhưng trong đêm đầu tiên không ngủ này, tôi muốn tin rằng ở một miền nào đó ngoài giới hạn của đôi mắt, bố đã nhẹ nhàng hơn rất nhiều, người lính già sau trận đánh cuối cùng đã đặt chiếc ba lô nặng xuống, rời khỏi thân thể đã quá mỏi mệt, phủi bụi trên vai rồi thong thả bước tiếp trên một con đường khác, không còn máy móc, không còn kim truyền, không còn lọc máu, không còn bệnh tật và cũng không còn đau đớn.

Còn sáng ngày 12 tháng 8, chúng tôi làm tang lễ cho bố không phải vì bố cần một đám tang, mà chính những người còn sống như chúng tôi cần đám tang ấy, cần một ngày để con cháu trở về, để anh em đứng cạnh nhau, để họ hàng và những người từng quen biết bố được thắp một nén hương, để mỗi người có một khoảnh khắc đứng trước linh cữu mà nhớ lại một kỷ niệm của riêng mình, và để cả gia đình được nói với một người vừa hoàn thành hành trình hơn bảy mươi năm trên cõi đời này những lời cuối cùng mà từ nay không còn cơ hội nói trực tiếp nữa: cảm ơn bố đã đến với cuộc đời này, cảm ơn bố đã làm cha của chúng con, cảm ơn bố vì những năm tháng đã sống, đã lao động, đã hy sinh và đã để lại cho những người ở lại nhiều hơn những gì có thể cân đong bằng tài sản.

Phần đường của bố đã đi xong, phần đường của chúng tôi vẫn còn ở phía trước, và nếu có một điều tôi muốn mang theo từ cái chết của bố để sống nốt phần đời còn lại thì đó là đừng đợi đến một đám tang mới biết quý một con người, hãy thương khi người ấy còn biết mình được thương, hãy về thăm khi cánh cửa ấy vẫn còn người mở, hãy ngồi xuống ăn một bữa cơm khi chiếc ghế ấy vẫn còn người ngồi, hãy lắng nghe một câu chuyện dù mình đã nghe nhiều lần khi người kể vẫn còn có thể kể, hãy nói lời cảm ơn khi người ấy còn nghe được và nói lời xin lỗi khi vẫn còn cơ hội được tha thứ, bởi một đám tang dù trang trọng đến đâu cũng chỉ kéo dài vài ngày, trong khi điều quyết định ý nghĩa của một mối quan hệ, và có lẽ của cả một đời người, đã diễn ra từ rất lâu trước đám tang ấy: đó là chúng ta đã sống với nhau như thế nào khi tất cả vẫn còn đang sống.

Bây giờ đã rất khuya mà tôi vẫn chưa ngủ được, nhưng sau khi viết ra những dòng này, tôi không còn muốn nghĩ bố đang nằm một mình trong cái lạnh nữa, bởi nếu chỉ có thân xác thì bố đã không còn cảm nhận cái lạnh ấy, còn nếu thực sự có linh hồn thì bố càng không ở trong chiếc khay lạnh kia; bố cứ đi chơi đi, bố nhé, nếu có một miền nào đó sau cuộc đời này thì bố cứ thong thả mà đi, đừng lo cho mẹ, đừng lo cho anh em, đừng lo cho con cháu, bởi những việc bố có thể làm cho gia đình trong hơn bảy mươi năm của đời mình bố đã làm rồi, còn sáng ngày 12 chúng con sẽ làm nốt những nghi lễ cuối cùng đối với thân thể mà bố gửi lại, không phải để giữ bố ở lại, cũng không phải vì người chết cần những nghi thức ấy, mà để những người còn sống được cúi đầu trước một cuộc đời đã hoàn thành và nói một lời tưởng đơn giản nhưng đôi khi con người phải đi đến tận một cuộc chia ly mới hiểu hết ý nghĩa của nó:

Cảm ơn bố.

Và có lẽ, suy cho cùng, một đời người cũng không cần một lời tổng kết nào lớn lao hơn thế, bởi nếu đến ngày ta rời khỏi thế gian này mà vẫn còn vài người nhớ đến ta bằng lòng biết ơn, vẫn còn một người thấy cuộc đời mình tốt đẹp hơn một chút vì ta từng có mặt, thì cuộc đời ấy đã không sống uổng; còn tang lễ, khi hiểu đến tận cùng, cũng không phải là một nghi thức dành cho cái chết, mà là lời cảm ơn của những người đang sống dành cho một cuộc đời đã hoàn thành.

— Tú Lê

Tuesday, August 11, 2026

MỲ QUẢNG VÀ MỲ QUOẢNG, MỲ NÀO NGON HƠN

(Nhân sắp có cuộc hội thảo về Mỳ Quảng, xin đăng lại bài cũ; bài cũng có mặt trên tạp chí Sài Gòn Nhỏ ở Mỹ 6 năm trước).

Năm 1972, tôi thi vào trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, ban Anh văn, ngành huấn luyện “giáo sư” trung học đệ nhị cấp (giáo viên cấp 3). Toàn tỉnh Quảng Nam, đúng hơn, toàn trường Trần Quí Cáp Hội An, chỉ có tôi và bạn Nguyễn Thị Thanh Tú, đỗ vào ngôi trường đào tạo giáo viên tiếng Anh cấp 3 hàng đầu ở miền Nam. Cô Tú sau đó được học bổng du học Úc, chỉ còn tôi ở lại trường Sư phạm. Hãnh diện ghê lắm, lương công chức khi sinh viên tốt nghiệp còn cao hơn lương phó quận trưởng.

Nhưng trong lòng không hãnh diện nổi về… “giọng” Quảng Nam của tôi. “En không en, tét đèn đi ngủ” hay “con chó lớn kén con chó nhỏ nhen reng” (Ăn không ăn, tắt đèn đi ngủ; con chó lớn cắn chó con nhỏ nhăn răng). Những bạn học Nam bộ đã chế giễu tôi, người Quảng Nam duy nhất trong lớp. “Chửi cha không bằng pha tiếng". “Tức điên người”, giờ ta hay nói tức “hôi họng” (hôi họng là ăn hổng được vì quá tức). Thêm thay, giáo sư ngữ học Đàm Trung Pháp còn chế giễu tôi, khi phân tích ngữ âm học.

Ông ví dụ: to shop, mua sắm, các em phát âm như tiếng “sốp” Quảng Nam. Ông ví dụ bằng câu chuyện kể, lúc học tiến sĩ ở Mỹ về, bị gọi vô trường Trừ bị Quốc gia Thủ Đức, 12 tháng học quân sự, trước khi được dạy đại học. “Phốp, Phốp, lấy cho tô cây đèn sốp” – bạn quân ngũ người Quảng gọi ông (Pháp, Pháp, lấy cho tao cây đèn sáp – đèn cầy, đèn bạch lạp). To shop, các em phát âm như giọng Quảng Nam này nhé. Không hiểu có ý giễu cợt tôi không, nhưng tôi rất giận thầy, nên môn trong linguistics của ông tôi luôn dưới điểm C (cho điểm kiểu Mỹ).

Tôi muốn quay lại: Mỳ Quảng hay mỳ Quoảng, mỳ nào ngon hơn? Khi đi khắp các con phố Sài Gòn, nhan nhản tên quán Mỳ Quảng, mặc cảm giọng Quảng của tôi thời sinh viên vào Nam từ đây “mất sạch”. Dân Sài Gòn đã công nhận đặc sản món ăn xuất xứ từ Quảng Nam, Mỳ Quảng của quê hương tôi. Phải ngon, phải đặc biệt, tên Mỳ Quảng mới ngang nhiên nằm chễm chệ trên nóc các nhà ở phố, ngang ngửa các tên tuổi gạo cội của ẩm thực Việt Nam nổi tiếng từ lâu: Bún bò Huế, Hủ tiếu Nam Vang, Phở Hà Nội… Hãnh diện lắm chớ, Mỳ Quảng. Xin khẳng định, không được tranh cãi nghe, Mỳ Quảng là của Quảng Nam.

Xin đừng có nhầm lẫn từ Quảng, vì có “một dọc” tỉnh bắt đầu bằng Quảng: Quảng Ngãi, Quảng Tín (VNCH), Quảng Bình, Quảng Trị, có “ông” Quảng Ninh nữa. Khi đọc lịch sử Đàng Trong, nhiều người bắt gặp chữ “Quảng Nam quốc”, các giáo sĩ phương Tây tưởng từ Quảng Nam trở vào là một nước. “Bé cái nhầm” nhưng cái nhầm này nói lên địa danh ấn tượng nhất của người phương Tây với cái tên Quảng Nam. Thanh Chiêm một thời là thủ phủ “Quảng Nam quốc”, gần Thanh Hà, Hội An, nơi tàu bè nước ngoài coi như thương cảng một thời sầm uất. Thanh Chiêm, món mỳ Quảng có lẽ xuất phát từ đây.

May là tôi ở Sài Gòn, chứ còn ở Quảng Nam, chắc chắn sẽ bị “trói” lại vì dám nói Mỳ Quảng xuất phát từ Thanh Chiêm, một địa danh nằm giữa Vĩnh Điện và Cầu Mống, giáp Cẩm Hà, Hội An. Tôi sẽ được “cởi trói” nếu “cãi thua” các đồng hương của mình. Mỳ Đại Lộc, Mỳ Quế Sơn, Mỳ Đức Dục, Mỳ Túy Loan, Mỳ Cẩm Lệ, Mỳ Vĩnh Điện (tên các địa danh)… mới là “cái nôi” xuất phát Mỳ Quảng chớ? 

Xin thưa các anh chị, chúng tôi, những người Quảng không phải bỏ ra ba ngày, ba tháng, ba năm, mà ba chục năm, nếu còn khỏe, sẽ ba trăm năm cãi nhau xem địa phương nào mới đúng là cái nôi Mỳ Quảng. Tôi không bao giờ nói ngoa, quý vị nên nhớ: Quảng Nam hay cãi, không phải bây giờ mà hàng trăm năm trước, đã cãi, đang cãi, và sẽ cãi: Mỳ Quảng xuất phát từ địa phương nào của tỉnh Quảng Nam? Tôi sẽ nói: Thanh Chiêm, thủ phủ đầu tiên xứ Quảng, phủ Điện Bàn.

Trong đoàn khách được mời qua Tokyo để trình bày mối quan hệ giữa Hội An và người Nhật trong quá khứ, điển hình là di tích Chùa Cầu – dấu ấn kiến trúc Nhật Bản, người nấu Mỳ Quảng nổi tiếng ở Thanh Chiêm đã trình dọn Mỳ Quảng cho các nhà nghiên cứu về Việt Nam người Nhật thưởng thức. “Ngon, ngon quá hỉ”. Mấy ông “xứ sở mặt trời mọc” vừa ăn vừa thốt lên bằng tiếng Việt, “giọng” Quảng Nam. Nhật là xứ sở của tinh tế, của văn hóa thanh tao. Không ngon, họ sẽ không khen như thế.

Mỳ Thanh Chiêm có đặc trưng ít nước nhưn (dạng như nước lèo). Nước mỳ đậm đặc, hương vị chất phác, đậm đà và mộc mạc, như tính cách Quảng.

Rau ghém gồm vỏ lụa non bên trong bẹ chuối hột (chuối chát) xắt mỏng, cải con (không nhiều, nhiều sẽ đắng, hăng), ngò rí, lá hành, vài cộng giá sống mập mũm mĩm, bắp chuối (hoa chuối) chát thái lụa (mỏng), và rau húng lủi. Mì thiếu rau húng lủi, không còn là mỳ. Sợi mỳ xắt to bản, hơi dày, bôi với dầu phụng khử hành thật thơm. Mỳ phải là mỳ gà mới ngon.

Có mỳ lươn, mỳ cá tràu (cá lóc, cá quả), mỳ ếch, mỳ cá nhét (giống cá kèo miền Nam nhưng ngắn, bụ bẫm, chắc thịt, màu vàng ươm), mỳ bò, mỳ ốc, mỳ cá biển… “Nhưn” mỳ biến đổi tùy theo chất liệu có sẵn, hoặc thuận tiện ở từng địa phương, vì mỳ xưa kia, đâu có mỳ nào cũng được làm bằng thịt gà… Gà rất hiếm. “Khách đến nhà không gà thời vịt”. Gà đặt cao một bực hơn vịt là rứa. Mỳ gà là thượng đẳng. Gà ngon phải là gà mái tơ.

Người cũng vậy, “con đực” không ngon bằng “con cái”. Con cái mẩy hơn, mơn mởn hơn, đầy đặn hơn, dầy dầy hơn (Nguyễn Du: Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên – ổng tả phụ nữ đang tắm đó). Gà cũng phải theo người, gà mái tơ, “nhưn” my mới… tuyệt. Gà chặt miếng bằng dao thật sắc (tránh xương mẻ vỡ, ăn hóc xương), ướp hơn một tiếng bằng những gia vị (bí mật… chỉ phụ nữ người Quảng Nam mới được biết). Sau đó bỏ vào nước sôi, cho sôi thật lâu. Thịt gà ướp nấu lâu vẫn giữ hương vị đậm đà; khi gắp ăn thực khách vẫn nghĩ đây là thịt gà đầy hương vị, không phải như cục giò heo chặt khúc của bún bò Huế hay những miếng thịt bò của phở, chẳng dính dáng gì đến nước nhưn kèm theo, hoặc có dính dáng cũng không gắn bó, quấn quýt như miếng thịt gà với nước nhưn của món Mỳ Quảng. Ăn riêng miếng thịt gà, người ăn vẫn cảm nhận hương vị của nó như là hương vị của nước nhưn, không lỏng lẻo, lạ lẫm, xa cách.

Mỳ Quảng phải ăn với một ít đậu phộng rang “giã bể” bỏ lên trên (không giã nhỏ), “nêm” bằng nước giấm nuôi (không phải chanh), và bánh tráng nướng, bóp nhỏ (nhưng không quá vụn). Mỳ Quảng truyền thống không ăn bằng muỗng, chỉ bằng đũa, phải là đũa tre, khi ăn phải “lua và húp” (dùng đũa đưa mỳ vào miệng, húp nước kêu sồn sột). 

Trần Văn Khê, nhà văn hóa uyên bác đáng kính, cho biết khi ăn các món Á châu, ông không mời bạn người phương Tây đi cùng, vì họ ăn uống nhỏ nhẻ, từ tốn, không gây tiếng kêu như ta. Ông nói ăn bằng ngũ giác: nhìn, ngửi, nếm, sờ, mà thiếu nghe, âm thanh, món ăn chưa hẳn đã ngon. Ăn cần có âm thanh, điều cấm kỵ với người Tây. Như vậy, và đúng là như vậy, Mỳ Quảng “lua, húp” mới ngon (“nhà quê” quá hỉ).

“Ớt nào mà ớt chẳng cay/ Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng”. Ghen đem lại gia vị cho cuộc sống lứa đôi. Ăn mỳ mà không ớt (như vợ không ghen chồng) thì mì còn ý nghĩa chi đâu (ớt phải xanh, cay vừa, không cay xé). Một chén nước mắm nhỉ nguyên chất cho ai muốn mỳ có vị mặn mà hơn. Chớ bao giờ đâm tỏi cho vào nước mắm. Mùi tỏi sẽ là kẻ “thủ tiêu” mỳ Quảng.

Tả tỉ mỉ theo trí nhớ hay tưởng tượng như thế chắc chắn phải ngon đối với tôi, món mỳ Quảng, nhưng không hẳn đã ngon với người đọc bài này. Ngon hay không tùy khẩu vị mỗi người. Ngay một món trong gia đình nấu bởi người mẹ thân yêu đẻ ra mấy người con vẫn bị các con kẻ chê người khen huống hồ chi Mỳ Quảng, món ăn thường ở các quán, ở nhiều nơi, nhiều nước, ở nhiều thời điểm, làm bởi nhiều người, ngon nhất là điều không thể.

Nhưng điều này có thể: mỳ Quảng là “quốc hồn, quốc túy” của dân Quảng Nam, món ăn nghĩa tình mà ngon nhất (nghĩa tình: xưa, các dịp trọng đại như giỗ kỵ, ăn mừng con thi đỗ, tiễn con đi lính…, mỳ Quảng là món đãi chính). Mỳ Quảng này ông tổ tôi, ông cố tôi, ông nội tôi, ông cha tôi đã ăn, và tôi đang ăn, sẽ ăn, con cháu tôi cũng theo gương ông cha chúng, tiếp tục ăn mỳ Quảng. Một món ăn mà bao nhiêu thế hệ đã coi như hồn cốt trong người, món đó không ngon thì món nào ngon hơn Mỳ Quảng?

Mỳ Quảng có nhiều, nhưng nên ăn ở những quán người ta nói “Mỳ Quoảng” chứ không phải Mỳ Quảng. Ở đó mới có mì ngon. Vì ở đó có người Quảng Nam. Ăn và nghe giọng Quảng quê mình, giọng nói quê hương. Cái gì của quê mà không ngon đâu, hỉ.

Nguyen Long Chien



Ngư ời Nhặt Lại Những T h a n h  m SàiGòn Đ ã M ất..

Có những cuốn phim ra đời không chỉ để giải trí hay ghi chép lại một chặng đường lịch sử, mà là để chạm vào những sâu thẳm nhất trong tâm khảm của một dân tộc. "Y Vân - The Lost Sounds Of Sài Gòn" của hai đạo diễn Khoa Ha và Victor Velle là một tác phẩm như thế, xót xa nhưng tràn đầy tự hào về những di sản âm nhạc từng làm nên linh hồn của Sài Gòn.
​Y Vân không chỉ là một danh xưng trong tân nhạc Việt Nam; ông là một phần hơi thở, là nhịp đập của miền Nam một thời. Với hơn 500 sáng tác trải dài từ những bản tình ca đằm thắm đến những giai điệu quê hương thiết tha, âm nhạc của ông đã đi sâu vào tiềm thức của biết bao thế hệ. Mỗi nốt nhạc Y Vân cất lên là một mảnh tâm hồn Sài Gòn, phóng khoáng, bao dung, sâu lắng và chan chứa tình người.

​Thế nhưng, biến cố lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975 ập đến như một trận bão lớn. Những bản ghi âm, những đĩa nhựa xưa cũ, những trang bản thảo dường như đã bị vùi lấp, thất lạc dưới lớp bụi thời gian và sự dâu bể của thời cuộc. Sự mai một ấy không chỉ là tổn thất của riêng gia đình ông, mà là một khoảng trống đau đớn trong kho tàng văn hóa của cả một đô thị rực rỡ.
Điểm xúc động nhất, làm nên cái "hồn" diệu kỳ của cuốn phim, chính là góc nhìn của Khoa Ha. Sinh ra sau khi ông ngoại qua đời đúng một năm, cô chưa từng một lần được nhìn thấy nụ cười hay nắm lấy bàn tay ấm áp của ông. Nhưng âm nhạc, một thứ ngôn ngữ kỳ diệu vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian đã kéo cô trở về những giai điệu của ông ngoại như lời thì thầm từ quá khứ, vừa vỗ về vừa thúc giục, dày vò tâm trí cô. Làm sao có thể để 500 bài hát, để một di sản rực rỡ như thế chìm vào quên lãng? Sự thôi thúc từ tim đã dẫn dắt Khoa Ha bước vào cuộc hành trình gian nan đi tìm lại những mảnh ký ức rải rác, nhặt từng chiếc đĩa hát cũ kỹ, lần theo từng vết dấu tiểu sử của ông ngoại. Đó không chỉ là một dự án điện ảnh, mà là hành trình tự thức, là lời đáp từ của đứa cháu nhỏ gửi đến người ông ở bên kia thế giới.

​Qua bàn tay tài hoa, tinh tế cùng tâm huyết cháy bỏng của đạo diễn Khoa Ha, Victor Velle và toàn thể ê-kíp, cuốn phim đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật rung động lòng người. Mỗi góc quay, mỗi đoạn tư liệu, mỗi âm thanh được phục chế đều đong đầy sự trân trọng và tình yêu tha thiết, khắc họa một thực tế xót xa là trước năm 1975, Sài Gòn đã từng là nơi hội tụ của biết bao nhân tài, bao nét đẹp văn hóa nghệ thuật đỉnh cao. Cuộc đại nạn năm 1975 đã làm nhiều giá trị bị tan tác, nhiều tinh hoa bị chôn vùi. Xem phim, khán giả không khỏi ngậm ngùi, tiếc nuối cho một thời kỳ hoàng kim của âm nhạc và nghệ thuật miền Nam.

​Nhưng vượt lên trên những mất mát, bộ phim gửi gắm một thông điệp vô cùng sâu sắc đến thế hệ mai sau rằng: "Con người Việt Nam, dù ở bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu này, dù thuộc thế hệ nào, thì cũng không bao giờ được phép quên đi nguồn cội và những gì cha ông đã gầy dựng". ​Khoa Ha đã làm được một điều kỳ diệu; cô dùng chính nghệ thuật điện ảnh để hồi sinh nghệ thuật âm nhạc của thế hệ trước. 

Hành trình của cô là tấm gương, là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía cho giới trẻ sau này về trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn những nét đẹp văn hóa Sài Gòn rực rỡ ngày cũ. "​Y Vân - The Lost Sounds Of Sài Gòn" không chỉ trả lại cho đời những giai điệu bị lãng quên, mà còn thắp sáng lại ngọn lửa tri ân trong lòng người xem.

​Anh trân trọng gửi tặng đến em, đạo diễn Khoa Ha một đóa hồng thắm. Đóa hồng của lòng ngưỡng mộ, sự tri ân và niềm xúc động sâu sắc trước một trái tim ngập tràn tình yêu dành cho ông ngoại, cho âm nhạc và cho di sản văn hóa Sài Gòn.

Lê Xuân Trường
Chiến tranh lớn ở Texas và California vì luật phá thai ở Texas.

Một cặp vợ chồng ở California hiếm muộn, mướn một bà người Alaska thụ thai nhân tạo dùm. Đứa trẻ đang trong tuần lể thứ 20 và đang khám thai ở bệnh viện Alaska. 

Trong khi khám thai thì bác si khám phá ra đứa bé bị bệnh trụy tim khó sống lâu và bác si nói phải giải phẩu tim cho đứa trẻ khi vừa sinh ra mới hy vọng sống sót nhưng có thể bị tàn tật suốt đời. 

Hai vợ chồng người mướn sinh đứa bé yêu cầu bà mang thai mướn, phá thai giết đứa trẻ theo như hợp đồng đã ký. Người mang thai mướn không chịu nói ở Alaska cấm phá thai sau 16 tuần. Hai người mướn nộp đơn kiện, đòi tiền lại và không cung cấp tiền nuôi lúc bà mang thai. Bà liên lạc với một cơ quan chống phá thai ở Texas và được cơ quan này giúp đở di chuyển về Dallas. Lúc này Ông bộ trưởng tư pháp Ken Paxton của Texas vào cuộc, xin án toà quyết định.

Ông nói luật Texas cha mẹ không thể vượt qua quyền bác si để phá thai. Một khi đứa trẻ vừa được sinh ra ở Texas, thì nó có quyền hợp pháp của một con người được luật pháp Texas bảo vệ. Không còn quan trọng chuyện những hợp đồng nói ra sao. Trong khi đó toà California nói hợp đồng mang thai dùm là ở California nên toà Calfornia phải giải quyết.

Chuyện tới đây phải chờ quan toà Texas quyết định.
Đứa trẻ hiện nay đã 25 tuần và sẽ được sinh ra vào ngày 2 tháng 9, 2026. Hình.

Đơn kiện của Texas ở đây.
Có ai hay ho, xử dùm ông toà Texas.

Ba toà xử vụ án này.
Toà án California: Dựa theo hợp đồng mướn sinh con Người tả tiền mướn là cha mẹ ruốt và hợp pháp

Toà án Alaska :Dựa theo hiến pháp Alaska, người mang thai là mẹ của đứa trẻ, đứa trẻ là dân Alaska, không theo hợp đồng của California.

Toà Texas tuyên bố rằng luật pháp Texas xác nhận quyền người mang thai là mẹ của đứa trẻ và có quyền lựa chọn các quyết định về y tế cho đứa trẻ. Thẩm phán Texas bác bỏ luật Alaska nói đứa trẻ là dân Texas, không theo luật Alaska vì đứa trẻ đang ở Texas nên không áp dụng cho những vấn đề khẩn cấp sống chết như hiện tại.

Toà chỉ định Một người giám hộ tạm thời nuôi đứa trẻ khi sinh ra và sẽ có một buổi điều trần khi đứa trẻ sinh ra, tuỳ trường hợp khẩn cấp hay không, nếu không có người cho phép chửa trị cho đứa trẻ.

Ai sẽ có quyền tối thượng với đứa trẻ tháng sau mới biết

FB Le Hoang
Dư Âm Xưa Còn Đâu?

Có những đêm ngồi một mình giữa không gian yên tĩnh trong phòng thâu, lật lại những băng reel, những cuốn băng cassette đã ngả màu theo thời gian, nghe từng tiếng rào rạt mộc mạc cất lên, tôi lại thấy ngực mình nhói đau. Đó không đơn thuần là sự hoài niệm của một kẻ đứng bên kia sườn dốc cuộc đời, mà là sự bất mãn và phẫn uất sâu sắc trước một thực tại phũ phàng là những âm thanh, những ca khúc thuần túy của Âm nhạc Việt Nam trước năm 1975, hôm nay đang bị bức tử bởi những kẻ mang danh "nhạc " nhưng hoàn toàn mù tịt về thẩm mỹ, văn hóa và sự trân quý giá trị nguyên bản.

​Họ tự xưng là người làm nghệ thuật, nhưng lại không hiểu rằng, là khi trở thành một nhạc  là không phải chỉ biết bấm vài phím đàn, trên máy tính hay xào nấu vài câu giai điệu, mà bài học quan trọng nhất phải có đó là nền tảng học vấn, thẩm mỹ âm nhạc và một tâm hồn biết tôn vinh văn hóa. Đó là tại sao ở Hoa Kỳ, khi học về âm nhạc, thì ai cũng phải lấy qua cái lớp "Music Appreciation" là thế!
​Âm nhạc Miền Nam trước năm 1975, ta thấy và nghe gì? ​Khi ấy, kỹ thuật thu âm còn thô sơ, máy móc điện tử chưa phát triển, nhưng âm thanh vang lên lại mộc mạc, sang trọng và chạm thẳng vào tâm khảm. Bởi lẽ, đằng sau những bản hòa âm mộc mạc ấy là những bộ óc kiệt xuất. Những tên tuổi như Vũ Thành, Y Vân, Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi… họ là ai? Họ là những bậc thầy có kiến thức nhạc lý thâm sâu, dày công nghiên cứu từng hòa âm, tỉ mỉ biên soạn cho từng nhạc cụ. Một bản hòa âm ngày ấy là một công trình nghệ thuật có đầu, có đuôi, có ngụ ý. Đoạn Intro (mở đầu) của các bậc thầy viết ra luôn là một giai điệu để đời. Chỉ cần vài nốt nhạc vang lên từ xa trong xóm nhỏ, người ta đã nhận ra ngay bài hát gì, hòa âm dịu dàng dẫn dắt ca sĩ vào đúng nhịp, đúng hồn. Khi kết thúc, đoạn Outro mở ra một lối thoát mênh mang, đọng lại chút dư âm tiếc nuối trong lòng người nghe. Dàn nhạc như Tiếng Tơ Đồng với sự điều khiển của nhạc si Hoàng Trọng tập hợp những nhạc công danh giá, chơi nhạc bằng tất cả sự lịch lãm và tâm huyết. Mỗi ca khúc ra đời thời ấy không chỉ là một bài hát, mà là một di sản, một kỷ niệm thiêng liêng gạt đắng nuốt cay để sống mãi trong trái tim hàng triệu người yêu nhạc qua nhiều thế hệ. ​

Những người nhận là "nhạc " bây giờ soạn hòa âm không tìm đâu ra một câu lót, một đoạn dạo đầu để đời. Thay vào đó là những hợp âm hỗn loạn, vớ vẩn, chẳng ăn nhập gì với chủ đề hay tinh thần bài hát. Sự thiếu hụt trầm trọng về tư duy hòa âm khiến đoạn mở đầu trở thành một mớ âm thanh hỗn tạp. Ca sĩ hát như "chơi nhảy dây" Vì cấu trúc biên soạn lủng củng, không câu lót, không điểm tựa nhịp điệu, người ca sĩ đứng trên sân khấu hay trong phòng thu phải ngơ ngác tìm chỗ để "nhảy vào". Nhìn họ canh nhịp, hụt chân, lúng túng ba lần bảy lượt mới chật vật vào được câu hát đầu tiên mà thấy cay đắng, khi nghệ thuật bị biến thành một trò chơi nhảy dây vụng về! Khi ca khúc đi đến nốt cuối, bản hòa âm vô hướng ấy cũng chẳng biết làm sao để dứt. Ca khúc hòa âm không có lối ra tử tế, không có một cái kết lắng đọng, bài hát chỉ đành ngắt phụt một cách hụt hẫng hoặc lặp đi lặp lại mệt mỏi.

Dòng nhạc xưa trước năm 1975 ở Sài Gòn, mộc mạc, nên thơ, nhưng một bộ phận thế hệ sau này, với cái ảo tưởng mình "học cao hiểu rộng", thẩm thấu văn minh Tây phương đã lao vào biến chế, ​làm những ca khúc xưa trở thành lố bịch. Những người nhận họ là nhạc  một sớm, một chiều nghĩ mình là người khám phá ra phong cách nhồi nhét Jazz, Blues, Techno, ép vào hàng trăm thứ âm thanh điện tử chát chúa, vô hồn rồi vỗ ngực tự khen mình "ngầu", mình "đột phá".

Âm nhạc thân yêu của một thời vàng son vốn đã chịu nhiều mất mát đau thương từ biến cố tháng Tư năm 1975, nay lại bị chính những kẻ thiếu trình độ thời đại này bức tử thêm một lần nữa. ​Thử hỏi, Nhạc Trịnh Công Sơn với bản chất là sự tự sự, triết lý, mộc mạc đến tận cùng của thân phận con người mà đem ra quẫy đạp trên nền âm thanh điện tử chát chúa hay biến hóa, biến chất theo kiểu Jazz miễn cưỡng, thì chả ra thể thống gì?

​Hãy nhìn ra thế giới. Khi các ca sĩ quốc tế hát lại một bản Oldies cổ điển, điều đầu tiên họ làm là tôn trọng tác giả và giữ gìn cấu trúc hòa âm, tiết tấu nguyên bản. Người ta quý một bản cover vì nó giữ được cái Original, giữ được cái hồn cốt gốc rễ chứ không phải vì nó cố biến tấu cho dị biệt. ​Ở ta thì ngược lại. Sự thiếu hụt về học vấn và sự nghèo nàn về thẩm mỹ đã biến nhiều sản phẩm thành thứ ngoại lai rẽ ngả, "nửa tây nửa ta" chẳng giống ai. Họ dùng kỹ thuật số để lấp liếm sự yếu kém về tư duy âm nhạc, biến việc làm nhạc thành một công nghiệp vô cảm.

​Muốn tìm lại dĩ vãng, tìm lại sự mộc mạc nguyên thủy và cái tầm của một nền văn hóa âm nhạc đúng nghĩa, có lẽ không gì bằng tự mình bấm nút Play trên những cuộn băng cũ. Thà giam mình trong không gian của những giai điệu xưa cũ, còn hơn phải nghe những thứ âm thanh nham nhở, thiếu hiểu biết đang làm hoen ố giá trị nghệ thuật từng một thời được coi là bảo vật của văn hóa Việt Nam.

Lê Xuân Trường


Lời thú tội muộn màn..

Vụ phản đối ca sĩ QT tui định không nhắc tới nữa ..

Nhưng hôm nay có người hỏi tui
- Anh không thích QT thì không coi, người khác thích thì người ta coi, nước Mỹ tự do mà, mắc mới gì biểu tình phản đối, vô duyên vậy?
..
- Trước hết, biểu tinh phản đối cũng là 1 sự tư do được thể hiện trong khuôn khổ pháp luật Mỹ cho phép. Không thích thì biểu tình phản đối thôi không ai cấm..

- Thứ hai, là lý do vì sao không thích..

Để tui tự thú..
Lúc tui mới qua đâu khoảng năm 2001. Lần đầu Lam Trường đến Mỹ biểu diễn và được mời về Boston

Lần đó LT hát ở 1 nhà hát trên đường Massachusetts Ave. Đêm đó cũng khá lạnh và cộng đồng đến phản đối LT rất đông.
..
Tui không đi phản đối LT mà tui đi coi LT hát..ngạc nhiên chưa.
Đêm đó LT hát rất hay, khán phòng ấm cúng tui hơi buồn cười khi nghĩ đến những người biểu tình đứng lạnh lẽo ngoài đường, tui tự hỏi thầm

Biểu tình chi cho khổ vậy ..?
..
Hôm sau, tui đến hội Việt Mỹ để học tiếng Anh, cũng như các chương trình giúp đỡ người mới qua để xin việc làm. Sẵn tiện tui vô gặp chú A để nhờ chú giúp đỡ thông dịch 1 số giấy tờ..

Tui thấy chú bị sụt sùi có vẻ bị cảm nên mới hỏi chú bị bệnh hả

Chú bảo :
- Hồi tối chú đi biểu tình chống LT đứng ngoài trời lạnh hơi lâu nên bị sổ mũi.. Rồi chú hỏi tui có tham gia không vì biết ba tui chết trong trại tù cải tạo..

Tui ngượng ngùng 1 chút rồi trả lời không có..

Hồi sau, không nén nổi tò mò nên tui hỏi chú..
- Chú ơi, nhưng con thấy LT chỉ qua hát thôi đâu có liên quan gì đến chính trị đâu chú, tai sao cộng đồng phải biểu tình phản đối ?

Chú ngước lên nhìn tui rồi cười nói..
Không đơn giản như cháu nghĩ đâu,
- Thứ nhất, tuyên truyền về mặt trận văn hóa là rất nguy hiểm, mưa dầm thấm lâu, không phải ngẫu nhiên mà chính phủ CS khi mới giải phóng đã cấm tàn trữ, lưu hành sách báo, văn thơ, bài hát của chế độ VNCH

Chú là 1 đại úy bên chiến tranh chính trị những người cùng cấp ở các binh chủng khác bị giam cầm chừng 5,6 năm nhưng chú bị nhốt hơn 10 năm vì họ cho rằng những người làm bên tâm lý chiến rất nguy hiểm

- Thứ hai: người Việt mình rời khỏi Việt Nam đi theo hạm đội Mỹ từ 1975, rồi sau đó là phong trào thuyền nhân cả thế giới biết đến, cuối là những người đi diện H.O như chú và cháu..con số này là cả triệu người, những người này không ít thì nhiều đều vì chế độ CS mà tan nhà nát cửa, con khóc cha, vợ khóc chồng, người tóc bạc tiển kẻ đầu xanh, người bị chết chìm, người làm mồi cho cá, người bị cướp, bị hiếp...

- Những người này là nền tảng xây dựng nên cộng đồng người Việt khắp 50 tiểu bang. Giờ có người liên quan đến chế độ CS Việt Nam đến sinh hoạt văn hóa ở cộng đồng, làm gợi nhớ đến nỗi đau mà những người như chú, ba con hay hàng trăm ngàn người trong cộng đồng đã gánh chịu.
..
Có 1 cô ngồi làm việc bàn kế bên cũng lắng nghe chú nói, rồi cô cũng tham gia..
- Em trai của cô cũng bị bắt vào trại cải tạo 1975, nó là 1 đứa khỏe mạnh nhưng ở được hơn 3 năm lúc về cô nhìn không ra, nó thân tàn ma dại, đủ mọi chứng bệnh.. Về nhà chưa được nửa năm thì nó lăn đùng ra chết.. Cô đi biểu tình hồi đêm qua vì cô không thể quên được cái chết của em cô
..
Thấy tui còn đang ngẩn ngơ, chú nói thêm..
- Nhiều người không hiểu, nói giờ CS vững như bàn thạch chống thì làm được gì?

Đúng, hồi xưa súng ống đạn đầy đủ còn thua thì giờ làm được gì, chú cũng không thù hằn gì CS, với LT càng không vì chú không biết LT là ai, chú cũng không chống cộng..

- Chú bỏ nước chạy sang Mỹ, chú không muốn thấy sự tang thương, nhức nhối trong quá khứ, mỗi lần chú khó chịu, muốn bệnh là chú nằm mơ thấy cảnh chú đang bị giam giữ trong trại cải tạo, chú không muốn thấy văn hóa CS len lỏi, mọc rẻ trong cộng đồng, chú không muốn phải rời bỏ nước Mỹ để chạy nạn CS lần nửa vì sẽ không còn chỗ nào để chạy..

Chú biểu tình là để phản đối văn hóa tư tưởng CS như vòi bạch tuộc đang từ từ bám rễ vào các cộng đồng..

Và chú hy vọng thế hệ các cháu sẽ tiếp tục bảo vệ cộng đồng như các chú đang làm...
...

Đó, chỉ có vậy thôi..

Blog Archive