Wednesday, October 14, 2026

Mỹ Có Thật Sự Cần 2 Triệu Thùng Diesel Từ Nga? | 14.10.26



“Tự do chết dần ở Mỹ”: Khán phòng lặng người với phát biểu của trùm tình báo




Tuesday, October 13, 2026

CHUYẾN ĐI ĐỊNH MỆNH CỦA BORIS YELTSIN

"Cũng đi ra nước ngoài; nhưng VN ta đi từ 1920 cho đến bây giờ vẫn thế? Hãy xem lại câu 'Đi một ngày đàng học một sàng khôn' của người VN? Và họ đi ra nước ngoài để làm được gì? Được cho ai?

Nhưng sai lầm lớn nhất của cố Tổng Thống Boris Yeltsin là chọn Putin làm người kế vị."

BORIS YELTSIN HAY GORBACHYOV?

Boris Yeltsin có liên quan gì đến sự sụp đổ của Liên Xô?
Nếu Boris Yeltsin, Thành viên Xô Viết Tối cao Liên Xô, không đến thăm Hoa Kỳ vào năm 1989, lịch sử thế giới có thể đã đi theo một con đường khác.

Nếu Yeltsin không dừng lại ở một siêu thị Mỹ trên đường tới sân bay, ông có thể đã không bao giờ trở thành Tổng thống Nga và không bao giờ khởi xướng việc giải thể Liên Xô.

Chuyến đi tới Mỹ đó, và lần dừng chân định mệnh tại Randall's, đã gây ấn tượng mạnh với Yeltsin đến mức ông vỡ mộng với chính ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản.

Vào tháng 9 năm 1989, Boris Yeltsin đến thăm Hoa Kỳ trong chuyến thăm không chính thức đầu tiên. Ông không phải là tổng thống Nga, mà chỉ là một trong những quan chức hàng đầu của Đảng Cộng sản trong Hội đồng Tối cao Liên Xô, một trong hơn 500 người trong số họ.

Vì vậy, ngày nay ông ấy giống như một thành viên bình thường của Duma Quốc gia. Trong thời gian ngắn ở Mỹ, Yeltsin chưa từng đến bất kỳ cửa hàng tạp hóa nào. Vì vậy, ông quyết định tìm xem một cửa hàng trên đường đến sân bay trước khi bay về nhà.

Xe buýt dừng lại ở một siêu thị bình thường của Mỹ ở Houston, TX. Cửa hàng khiến Yeltsin bị sốc. Ông ấy đã rất sửng sốt. Ở tuổi 58, ông chưa bao giờ chứng kiến ​​điều gì như thế này trong đời.

Và Yeltsin không phải là thường dân. Ông đã lãnh đạo một trong những khu vực liên bang chiến lược trong một thập niên, trước khi trở thành người đứng đầu thành phố Moscow. Ông thậm chí còn được đưa vào danh sách trở thành một trong những thành viên của Bộ Chính trị toàn năng. Ông là thành viên chân chính của giới tinh hoa Cộng sản Liên Xô. Nhưng lượng thực phẩm và hàng hóa dồi dào như vậy trong một cửa hàng bình thường thực sự khiến ông bị sốc.

Yeltsin liên tục giơ tay lên vì ngạc nhiên. Ông cho rằng ngay cả các thành viên Bộ Chính trị cũng không có dư giả như vậy. Ngay cả Gorbachev cũng không được vậy, Yeltsin nói.

Sau đó, trên máy bay, Yeltsin im lặng một lúc lâu. Ông ngồi ôm đầu, trên mặt hiện rõ sự giằng co cảm xúc.

Một số người dân Liên Xô sau khi từ các nước phương Tây trở về Liên Xô đã rơi vào tình trạng trầm cảm nặng. Vì có một xung đột tâm lý không thể giải quyết được giữa cách một người sống cả đời - và việc anh ta có thể sống như thế nào nếu anh ta sinh ra ở một đất nước khác.

Khi Yeltsin tỉnh lại, ông nói một cách cay đắng: “Những người dân tội nghiệp của chúng ta đã bị đưa đến đâu?".

“Cả đời tôi đã kể những câu chuyện cổ tích, cả đời tôi đã cố gắng bịa ra mọi thứ. Nhưng mọi thứ trên thế giới đều đã được phát minh rồi", Yeltsin than thở.

Một phụ tá của Yeltsin đã mô tả:
“Khi chúng tôi vừa quay lại sân bay, ma quỷ đã thúc giục chúng tôi đi xem một siêu thị điển hình của Mỹ.

Nó được gọi là Siêu thị Randall. Trong nhóm của chúng tôi, chỉ có Boris Nikolaevich và tôi chưa bao giờ đến những cơ sở buôn bán kiểu này.

Hơn nữa, đây không phải là một đô thị, càng không phải là một cửa hàng ở New York và theo tiêu chuẩn, một cửa hàng tỉnh lẻ rất “bình thường”. Tất nhiên, nếu Houston có thể được coi là một tỉnh.

Xuống xe, tôi bắt đầu tìm kiếm một đám đông người và thứ gì đó tương tự như hàng dài chờ đợi của chúng tôi. Tuy nhiên, không có xếp hàng chờ đợi - xung quanh cũng như trong chính cửa hàng.

Đó là một tòa nhà một tầng làm bằng kết cấu kim loại nhẹ. Đương nhiên, không ai trong số các nhân viên phục vụ biết về việc chúng tôi đến và do đó không thể có chuyện “khoe khoang” được. Một ngày bình thường, một loại hàng “bình thường”, những vị khách “bình thường”…

Chuyến đi tới Mỹ đó - và lần dừng chân định mệnh tại Randall's, đã gây ấn tượng mạnh với Yeltsin đến mức ông vỡ mộng với chính ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản.

Tôi ngay lập tức bị ấn tượng bởi sự dồi dào của ánh sáng. Và nhìn chung, cách phối màu của mọi thứ đều tươi sáng và ấn tượng đến mức khiến chúng ta có cảm giác như đang đi xuống vực sâu của kính vạn hoa.

Sự phong phú của các loài hoa cũng đầy mê hoặc - mọng nước, rực rỡ, như thể vừa được cắt ra từ bồn hoa. Hơn nữa, những bông hoa không phải để bán mà như một vật trang trí.

Ngay khi chúng tôi bước vào siêu thị, họ đã gọi cho ai đó từ ban quản lý. Từ đâu đó trong phòng tiện ích xuất hiện một chàng trai trẻ rất đẹp trai trong chiếc áo sơ mi trắng như tuyết, chải chuốt gọn gàng và tất nhiên là đang mỉm cười. Đó là quản trị viên trưởng.

Chúng tôi tự giới thiệu và nói muốn tìm hiểu về công việc của cửa hàng.
Không vấn đề gì: người quản lý đã mời một cô bán hàng trẻ đến hỗ trợ chúng tôi và cô ấy dẫn chúng tôi qua các lối đi.

Điều chính khiến chúng tôi quan tâm là sự đa dạng. Và về vấn đề này, Yeltsin đã đặt câu hỏi cho nhân viên cửa hàng.

Nhân vật mà họ đặt tên theo đúng nghĩa đen đã khiến chúng tôi bị sốc, và Boris Nikolayevich thậm chí còn hỏi lại; anh ấy có hiểu đúng người dịch không? Và người quản lý nhắc lại một lần nữa rằng phạm vi sản phẩm thực phẩm vào thời điểm đó thực sự lên tới khoảng 30 nghìn mặt hàng.

Khi chúng tôi đi dọc theo dãy hàng, mắt chúng tôi không biết dừng lại ở đâu. Tôi có thể đoán được nhiều điều khác nhau, nhưng những gì tôi nhìn thấy trong siêu thị này cũng không kém phần kinh ngạc so với chính nước Mỹ.

Một số người trong chúng tôi bắt đầu đếm các loại dăm bông. Chúng tôi đã mất số đếm.

Tôi nhớ đến cửa hàng xúc xích của chúng tôi ở Krasnaya Presnya, nơi vào năm 1963 bạn có thể mua “Brunswick”, “Stolichnaya”, “Tambov”, “Uglich”, “Krakov” và một số loại xúc xích khác. Lúc đó, tôi nghĩ đây là đỉnh cao trong giấc mơ của con người và những dấu hiệu đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản đã nở rộ. Công bằng mà nói, theo năm tháng, các kệ hàng của cửa hàng bắt đầu trống rỗng và giờ chỉ còn lại những ký ức về quá khứ tươi sáng của nó. Tôi nhớ đến cửa hàng Liên Xô đó và so sánh nó với cửa hàng này ở Houston, và nhận ra rằng sự phong phú mà Khrushchev hứa sẽ dẫn dắt chúng tôi đã vượt qua chúng tôi.

Vào thời điểm đó (ở Houston), tất cả 300 viện và phòng nghiên cứu của Liên Xô, có nhiệm vụ chỉ ra những lợi thế của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản có thể đang cố gắng thuyết phục tôi, nhưng những nỗ lực của họ sẽ là vô nghĩa.

Thực tế của Mỹ, trên ví dụ về siêu thị này, có vẻ thuyết phục hơn 100 lần so với bất kỳ lý thuyết nào của Liên Xô. Chắc chắn, con người sống không chỉ nhờ bánh mì... Không chỉ nhờ xúc xích, không chỉ nhờ pho mát...

Nhân tiện, bạn đã thấy phô mai màu đỏ, nâu, cam chanh chưa? Bạn nghĩ chúng tôi đã thấy bao nhiêu loại phô mai ở Houston? Còn giăm bông thì sao? Tất cả món ngon không thể tưởng tượng được này mà mọi người đều có thể thử ngay tại cửa hàng và quyết định - liệu nó có đáng để chi tiền không?

Chúng tôi không thể đếm được tên các loại kẹo, bánh ngọt, không thể nhận biết được sự đa dạng về màu sắc cũng như sức hấp dẫn ngon miệng của chúng bằng mắt.

Và mặc dù tôi đang cố gắng truyền đạt ấn tượng của mình, nhưng tôi hiểu rằng đây chỉ là một nỗ lực thảm hại, bởi vì lời nói bất lực trước thực tế những gì cửa hàng Mỹ đó có thể cung cấp.

Thỉnh thoảng, tôi liếc nhìn Yeltsin và nhận thấy đây là một bài kiểm tra khó khăn đối với ông. Và khi một người phụ nữ đi trên xe đẩy đuổi kịp anh ta, trên đó có một cậu bé đang ngồi, Boris Nikolaevich, xin lỗi và bắt đầu tra hỏi cô ấy.

- Cô ấy có thường xuyên đến cửa hàng này không? Hóa ra, chỉ vào thứ bảy.

- Gia đình bạn có lớn không? 3 người: cô, chồng và con.

- Thu nhập của gia đình bạn là bao nhiêu? Người phụ nữ giải thích rằng cô tạm thời không làm việc và sống bằng tiền lương của chồng, 3.600 USD một tháng.

Yeltsin hỏi cô thường chi bao nhiêu cho thực phẩm? Hóa ra gia đình này đã chi khoảng 170 USD cho thực phẩm trong một tuần. Từ thứ bảy đến thứ bảy. Cô vẫn phải trả tiền thuê nhà, bảo hiểm...

Ở khu vực rau quả, chúng tôi thực sự bị sốc bởi chất lượng của sản phẩm.

Một củ cải có kích thước bằng một củ khoai tây lớn được chiếu sáng bằng ánh sáng rực rỡ và nước được rải lên nó từ những “linh hồn” nhỏ.

Củ cải thực sự rực rỡ, và bên cạnh chúng là hành, tỏi, cà tím, súp lơ, cà chua, dưa chuột.

Bạn muốn lươn hun khói - đây.

Bạn có muốn cá mút đá không? Hay gan của bạn đã quen với cá tầm và hàu? Dứa, chuối…

Và ở khu vực bánh kẹo, người ta có thể đứng hàng giờ: nó có thể vượt qua cả Hollywood về mặt giải trí. Một chiếc bánh khổng lồ tượng trưng cho một đấu trường khúc côn cầu đang chờ khách hàng trên khán đài. Các hình tượng người chơi được làm bằng sô cô la. Một tác phẩm nghệ thuật thực sự và quan trọng nhất - dễ tiếp cận, khá dễ tiếp cận.

Nói chung, đây là một chủ đề tăng huyết áp. Đối với Boris Nikolaevich và tôi, việc đi siêu thị là một cú sốc thực sự.

Khi tôi đang viết cuốn sách này, vợ tôi hôm nay (tháng 9 năm 1991) đến cửa hàng mua sữa lúc 7 giờ sáng nhưng vẫn có hàng dài người xếp hàng. Xếp hàng khắp nơi: bạn phải đứng 2 ngày để mua đường. Và đây là ở đây - ở Moscow, vào nửa sau thế kỷ 20, 73 năm sau Cách mạng vĩ đại. Vào thời điểm đó, theo tính toán của Khrushchev, tất cả chúng ta lẽ ra đã sống dưới chủ nghĩa cộng sản rồi. Hoặc có thể những gì chúng ta đã xây dựng ở Liên Xô là chủ nghĩa cộng sản thực sự?

Ở lối ra khỏi siêu thị Mỹ, cô gái ngồi ở quầy tính tiền không cần phải đếm gì cả. Trên tay cô cầm một thiết bị nhỏ giống như máy sấy tóc, cô nhanh chóng xem qua mã giá trên bao bì. Sau thao tác này, giá xuất hiện trên màn hình máy tính tiền, khách hàng thanh toán và có thể tự do đi qua cửa quay điện tử. Chà, còn gì có thể đơn giản và thông minh hơn một hệ thống như vậy?

Khi chúng tôi rời siêu thị, người quản lý đã tặng chúng tôi một món quà: một chiếc túi nhựa lớn đựng những gói thực phẩm từ cửa hàng này.

Tôi hoàn toàn tin rằng chỉ sau khi Houston (sau khi đi siêu thị), trên máy bay, niềm tin cuối cùng của Yeltsin vào lối suy nghĩ Bolshevik của ông cuối cùng đã sụp đổ.

Có lẽ, trong những giây phút rối loạn tinh thần đó, quyết định rời bỏ Đảng Cộng sản và tham gia cuộc tranh giành quyền lực tối cao ở Nga đã chín mui trong anh ”.

Sau đó, Yeltsin nhận ra rằng tất cả những câu chuyện của các “nhà báo quốc tế” về những công nhân Mỹ được cho là đang chết trong cảnh nghèo đói khủng khiếp và chỉ mơ được chuyển đến Liên Xô, tất cả những câu chuyện này chẳng qua chỉ là tuyên truyền. Ngay cả những người “tinh hoa” trong đảng cũng không biết điều đó (Báo chí liên xô thuốc luôn cả lãnh đạo-BH).

Dựa trên cuốn sách của Lev Sukhanov (trợ lý của Boris Yeltsin), "3 năm với Boris Yeltsin".

Sau chuyến thăm Mỹ, Yeltsin đã trở thành Tổng thống đầu tiên của Nga.
Với tư cách là tổng thống Nga, Yeltsin đã đàm phán và ký thỏa thuận giải tán Liên Xô cùng với các tổng thống mới đắc cử của Ukraine và Belarus. Chỉ 3 người trong số họ đã phá hủy nhà nước mà hàng triệu người cộng sản đã xây dựng trong hơn 70 năm.

Nguyen Nam Hai

References:



Bi Kich của Shiori Ino

Năm 1999, cô sinh viên 21 tuổi Shiori Ino đã khóc nấc lên, cầu xin cảnh sát cứu lấy mình và gia đình khỏi sự rình rập, khủng bố điên loạn của gã bạn trai cũ. Thế nhưng, những kẻ khoác áo pháp luật ấy chỉ gạt phắt đi, lạnh lùng xuyên tạc lời khai của cô và đẩy cô vào bờ vực thẳm. Để rồi một buổi chiều chớm lạnh, Shiori rời nhà đến trường, và vĩnh viễn không bao giờ bước lên chuyến tàu ngày hôm ấy.

Shiori Ino sinh ngày 18 tháng 5 năm 1978, một cô gái với tương lai rực rỡ ở phía trước. Năm 1999, khi đang là sinh viên năm hai đại học, cô sống yên bình cùng bố mẹ và hai cậu em trai tại Saitama, hàng ngày bắt tàu đến giảng đường.

Khởi đầu của cơn ác mộng bắt đầu vào ngày 6 tháng 1 năm 1999. Khi Shiori đang dạo chơi tại một khu điện tử gần ga Ōmiya cùng bạn, một gã đàn ông xa lạ bước tới. Hắn tự xưng là "Makoto", 24 tuổi, một doanh nhân thành đạt chuyên bán xe hơi nhập khẩu. Nhưng sự thật tên hắn là Kazuhito Komatsu, 26 tuổi, một tay anh chị đang điều hành hàng loạt cơ sở kinh doanh tình dục không giấy phép trải dài khắp Tokyo và Saitama.

Họ bắt đầu hẹn hò, gặp nhau mỗi tuần một lần cho những bữa tối hoặc những chuyến lái xe hóng gió. Rất nhanh sau đó, chiếc mặt nạ ngôn tình bị xé toạc. Hắn bắt đầu dồn ép cô bằng những món đồ hiệu, túi xách đắt tiền. Mỗi khi Shiori từ chối, hắn gào thét, chửi rủa cô không thương tiếc ngay giữa chốn đông người. Không dừng lại ở đó, dù cô chỉ cho hắn số điện thoại di động, bàn tay nhớp nhúa của hắn đã vươn tới tận đường dây điện thoại bàn của gia đình cô.

Tháng 3 năm đó, sự thật ớn lạnh phơi bày khi Shiori phát hiện một chiếc camera quay lén được giấu kín trong căn hộ của hắn. Khi cô chất vấn, con thú trong Kazuhito hiện nguyên hình. Hắn dồn cô vào tường, vung nắm đấm nện sầm vào vách đá chỉ cách gương mặt đang tái mét của cô vài centimet.

Shiori muốn chạy trốn, nhưng ác quỷ đâu dễ buông tha con mồi. Kazuhito ra giá: Một triệu yên (khoảng 17.700 USD theo thời giá hiện tại) cho tất cả những món quà hắn đã ép cô nhận. Hắn rít qua kẽ răng, đe dọa rằng nếu không có tiền trả, cô sẽ phải dùng cơ thể mình để làm việc trong đường dây mại dâm của hắn.

Đến cuối tháng 3, bóng tối của sự sợ hãi bao trùm lấy Shiori. Mỗi lần phải đi gặp hắn, cô gái trẻ tuyệt vọng đến mức phải lén viết những bức thư tuyệt mệnh để lại cho gia đình và bạn bè. Cô chỉ mang một ước nguyện duy nhất: Cầu xin hắn buông tha cho mình.

Nhưng đáp lại lời cầu xin ấy là bản án đe dọa giáng xuống cả gia đình cô. Hắn dọa sẽ khiến cha cô mất việc, hủy hoại hoàn toàn cuộc đời hai người em trai. Kinh khủng hơn, hắn nắm rõ những bí mật gia đình mà Shiori chưa từng hé môi nửa lời. Hắn đã thuê thám tử tư để đào bới cuộc sống của cha cô và những người bạn xung quanh cô.

Điện thoại đổ chuông ngày đêm. Hắn bắt cô phải báo cáo từng nhịp thở, từng bước đi. Đến tháng 4, hắn ép cô đập nát chiếc điện thoại để chặt đứt mọi liên lạc với bạn bè. Hắn ghé sát tai cô thì thầm lời nguyền rủa: Cô sẽ không sống nổi để nhìn thấy năm 2000, và hắn thừa tiền để thuê kẻ đến lấy mạng cô.

Ngày 14 tháng 6, gom chút dũng khí cuối cùng, Shiori tuyên bố chấm dứt mọi thứ.

Ngay đêm đó, Kazuhito kéo theo anh trai hắn là Takeshi (33 tuổi) cùng một gã giang hồ khác xông thẳng vào nhà cô. Một màn kịch dơ bẩn được dựng lên: Takeshi đóng vai sếp, gã kia đóng vai giám đốc công ty. Chúng vu khống Kazuhito đã "biển thủ" 5 triệu yên (khoảng 88.500 USD) để mua quà cho Shiori, và giờ gia đình cô phải gánh món nợ máu này. Suốt hơn một giờ đồng hồ, ba gã đàn ông uy hiếp người mẹ và cô gái yếu đuối ngay trong chính ngôi nhà của họ. Chỉ đến khi cha cô về, ông mới dũng cảm đuổi chúng đi và tuyên bố mọi chuyện sẽ giải quyết tại đồn cảnh sát.

Trong góc tối, Shiori đã bí mật ghi âm lại toàn bộ cuộc uy hiếp.
Ngày hôm sau, ôm cuộn băng ghi âm và bao hy vọng, hai mẹ con bước vào Đồn cảnh sát Ageo. Họ kể về những lời đe dọa, về sự khủng bố tinh thần tột độ. Nhưng những viên cảnh sát chỉ nhún vai, phẩy tay coi đó là "xích mích tình cảm cá nhân". Mặc cho gia đình van nài, khóc lóc trong nỗi sợ hãi Kazuhito sẽ tới giết họ, công lý vẫn nhắm mắt làm ngơ.

Ngày 21 tháng 6, Shiori gói ghém trả lại toàn bộ những món quà.
Ngay ngày hôm sau, Takeshi nhận lệnh từ Kazuhito, bắt đầu vạch ra một kế hoạch sát hại cô. Hắn tìm đến Yoshifumi Kubota, một cựu nhân viên trong tổ chức đen tối của chúng.

Trong khi đó, chiếc điện thoại nhà Shiori liên tục réo vang bằng những cuộc gọi không lời. Những bóng đen lảng vảng rình rập quanh nhà. Rạng sáng ngày 13 tháng 7, hàng trăm tờ rơi bẩn thỉu in hình cô bị rải khắp khu phố, quanh trường đại học và nơi làm việc của cha cô, bôi nhọ cô là kẻ lừa tình đoạt tiền.

Nhưng Shiori không gục ngã, cô vẫn đến trường. Sáng hôm sau, khi người mẹ lo âu rằng hàng xóm sẽ nhận ra cô từ những tờ rơi, Shiori chỉ nhẹ nhàng đáp lời, một câu nói khiến trái tim người đọc thắt lại: "Con không làm gì sai cả mẹ ạ."

Ngày 15 tháng 7, hai mẹ con trở lại đồn cảnh sát để nộp đơn tố cáo chính thức. Thay vì bảo vệ, những viên cảnh sát lại dùng lời lẽ thao túng, dọa dẫm rằng việc đưa ra tòa sẽ khiến đời tư của cô bị bêu rếu. Họ lạnh lùng bảo cô hãy "quay lại sau kỳ thi".

Cơn bão thị phi tiếp tục leo thang. Ngày 20 tháng 7, những tấm thẻ in tên, ảnh và số điện thoại nhà Shiori bị vứt vương vãi khắp một khu chung cư ở Tokyo, vu khống cô đang tìm kiếm "những người đàn ông lớn tuổi". Những kẻ lạ mặt bắt đầu gọi đến nhà quấy rối.

Khi kỳ thi kết thúc, Shiori quay lại đồn, nhưng một lần nữa bị đuổi về với lý do người phụ trách đi vắng. Phải đến tận ngày 29 tháng 7, cảnh sát mới miễn cưỡng tiếp nhận lá đơn của cô.

Tháng 8, hàng trăm lá thư phỉ báng nhắm vào cha cô được gửi tới nơi ông làm việc. Mặc cho người cha mang thẳng bằng chứng đến đồn, sự quấy rối không hề thuyên giảm. Thậm chí đến tháng 9, cảnh sát còn trơ trẽn khuyên gia đình... rút đơn kiện. Nhưng người mẹ kiên cường đã dứt khoát chối từ.

Đỉnh điểm của sự khủng bố diễn ra lúc 2 giờ sáng ngày 16 tháng 10. Tiếng nhạc đinh tai nhức óc xé toạc màn đêm tĩnh lặng trước cửa nhà Ino. Hai chiếc xe hơi đỗ lù lù ở đó. Bố mẹ cô lao ra, nhanh tay chụp lại biển số trước khi những kẻ trong xe phóng vút vào bóng tối.

Và rồi, ngày định mệnh ấy cũng đến. Ngày 26 tháng 10 năm 1999.
Shiori dắt xe đạp ra khỏi nhà để bắt chuyến tàu chiều. Cô không hề biết rằng, từ xa, ánh mắt nham hiểm của Yoshitaka Ito (32 tuổi) đang ghim chặt lấy cô. Vừa thấy bóng cô, hắn lập tức báo tin. Satoshi Kawakami (31 tuổi) nhấn ga chở sát thủ Kubota (34 tuổi) áp sát ga Ōkegawa.

Khoảng 12 giờ 52 phút trưa, Kubota như một bóng ma lẻn ra sau lưng Shiori. Một nhát dao chí mạng đâm ngập vào lưng. Khi cô gái nhỏ bé kinh hãi quay lại, nhát dao thứ hai găm thẳng vào ngực cô. Shiori được đưa đi cấp cứu trong vô vọng, cô tử vong lúc 1:30 chiều do mất quá nhiều máu.
Đóa hoa ấy mãi mãi khép lại ở tuổi 22.

Thế nhưng, bi kịch chưa dừng lại khi cô nhắm mắt. Sau khi Shiori bị giết, cảnh sát cố tình xoáy sâu vào những món đồ hiệu cô từng sở hữu. Lập tức, một bộ phận truyền thông bẩn bâu vào xâu xé, khắc họa cô như một kẻ hám tiền, cuồng đồ hiệu. Họ rắc muối vào nỗi đau chưa kịp liền sẹo của gia đình, dùng chính những món quà mà Shiori từng sợ hãi không dám từ chối để đổ lỗi cho cái chết của cô.

Giữa bóng tối mịt mờ ấy, nhà báo Kiyoshi Shimizu xuất hiện như một tia sáng của công lý. Ông tự mình dấn thân điều tra. Qua lời kể của bạn bè nạn nhân, Shimizu bóc trần những lời đe dọa, sự quấy rối tàn độc và cả những lần Shiori cầu xin cảnh sát trong vô vọng.

Lần theo dấu vết, Shimizu đã tìm ra Kubota. Tháng 12, trước khi cảnh sát kịp rục rịch, ông đã chụp được ảnh của Kubota và Kawakami, giao tận tay cho các điều tra viên.

Ngày 19 tháng 12, Kubota sa lưới. Một ngày sau, Takeshi, Ito và Kawakami lần lượt tra tay vào còng. Bài báo của Shimizu không chỉ vạch mặt những kẻ giết người, mà còn phơi bày sự thối nát, vô cảm của lực lượng cảnh sát Ageo.

Còn kẻ chủ mưu Kazuhito? Hắn hèn nhát bỏ trốn đến Okinawa để tạo bằng chứng ngoại phạm, rồi chui lủi đến Hokkaido. Mãi đến 16 tháng 1 năm 2000, cảnh sát mới ban lệnh truy nã toàn quốc. Nhưng mỉa mai thay, hắn bị truy nã vì tội "quấy rối", chứ không phải tội giết người!

Ngày 27 tháng 1, thi thể Kazuhito được tìm thấy tại Hồ Kussharo. Cảnh sát kết luận hắn đã tự sát. Kẻ thủ ác 27 tuổi đã chọn cách hèn hạ nhất để trốn tránh bản án của tòa án nhân loại.

Bốn gã tay sai đã phải trả giá: Kubota nhận 18 năm tù. Ito và Kawakami mỗi tên 15 năm. Takeshi, 33 tuổi, nhận án chung thân vì tội dàn xếp vụ sát hại. Tòa án dân sự sau đó phán quyết Kazuhito chính là kẻ chủ mưu, nhưng vì hắn đã chết, phiên tòa dành cho hắn vĩnh viễn không thể diễn ra.
Sự thật về phía cảnh sát cũng bị phanh phui: Họ đã tự ý chỉnh sửa hồ sơ, biến tờ đơn tố cáo tội phạm hình sự của Shiori thành một tờ trình báo sự việc dân sự thông thường. Ba viên cảnh sát bị sa thải và kết án, dù chỉ nhận án treo.

Cái chết tức tưởi của Shiori và sự tắc trách phẫn nộ của cảnh sát đã lay động toàn nước Nhật, buộc quốc gia này phải thông qua Đạo luật chống rình rập cấp quốc gia đầu tiên vào năm 2000.

Shiori đã không ngừng cảnh báo cảnh sát rằng Kazuhito sẽ cướp đi mạng sống của cô. Gia đình cô đã đưa cho họ băng ghi âm, tờ rơi, thư từ, ảnh chụp, nhưng những người khoác áo bảo vệ công lý ấy đã chọn cách quay lưng, để rồi để tuột mất cơ hội cứu lấy cô gái bé nhỏ giữa ranh giới sinh tử.

Huy Phan


Monday, October 12, 2026

Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn Nam Bộ mắm tôm

- Đoàn Xuân Thu, 30/9/26

*
(NT: một góc nhìn riêng. Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam thuộc về một thời đã xa... Vụ này cần nghe thêm các nhà văn nhà báo miền tây: Võ Đắc Danh, Nguyễn Quốc Việt, Trần Chí Kông, ...)

Văn chương miền Nam, nhứt là văn chương Nam Kỳ trước 1975, vốn có một cái duyên rất riêng. Nó chân chất mà không quê mùa, bình dân mà không thấp kém, phóng khoáng mà vẫn có chiều sâu.

Đọc Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Hồ Biểu Chánh… người ta nghe được tiếng nói của một miền đất đã sống, đã khai phá, đã chịu biết bao cuộc dâu bể. Chữ nghĩa của họ có mùi đất, mùi bùn, mùi khói bếp, mùi cá khô, mùi mắm cá linh. Nó là cái mùi rất riêng của miền Nam.

Nhưng tới Nguyễn Ngọc Tư thì tôi lại có cảm giác khác.

Đọc văn Nguyễn Ngọc Tư, nhiều khi tôi cứ thấy có cái gì đó… không được Miền Tây cho lắm. Nó vẫn nói chuyện Cà Mau, Đầm Dơi, Đầm Thị Tường, vẫn có ruộng lúa, con xuồng, con cá, nhưng cái hồn của tiếng nói miền Tây thì đôi lúc cứ như bị ai đó lấy khăn bịt lại.

Có chỗ nghe lạ tai, có chỗ gượng gạo, có chỗ khiến người đọc miền Nam phải ngừng lại: “Ủa, dân Cà Mau mình có nói vậy hông?”

Nói cho vui, nếu Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam là mắm cá linh, thì Nguyễn Ngọc Tư đôi khi làm tôi liên tưởng tới… mắm tôm. Cũng là mắm, cũng nồng, nhưng cái mùi khác nhau quá!

▪︎ Bình Nguyên Lộc – người mở đường.

Bình Nguyên Lộc (1914–1987) là một trong những cây bút lớn của văn chương miền Nam trước 1975. Ông viết về đất và người Nam Kỳ bằng một thứ chữ vừa bình dị vừa uyên bác. Đọc ông, người ta gặp cả lịch sử di dân, khẩn hoang, lập ấp và hình thành tính cách người miền Nam.

Rừng mắm, Nước mặn, Ký thác… không chỉ là những câu chuyện văn chương. Đằng sau đó là một thế giới văn hóa. Người đọc thấy rừng tràm, rừng đước, thấy phù sa, thấy những con người từ nhiều nơi tới khai phá đất mới rồi dần dần biến vùng đất hoang thành quê hương.

Cái tài của Bình Nguyên Lộc là ông có thể dùng tiếng nói đời thường mà vẫn tạo được văn chương. Ông không cần làm cho tiếng Nam Phần trở nên “văn vẻ”. Chính tiếng nói tự nhiên của dân chúng đã là văn chương rồi.
Đó là điều quan trọng.
Muốn viết về một vùng đất, trước hết phải nghe được tiếng nói của vùng đất đó.

▪︎ Sơn Nam – người kể chuyện U Minh

Nếu Bình Nguyên Lộc là người khảo sát chiều sâu văn hóa của miền Nam thì Sơn Nam lại giống như ông già ngồi ngoài hiên, uống ly trà, rồi thong thả kể cho con cháu nghe chuyện xưa. Hương rừng Cà Mau, Người Sài Gòn, Lịch sử khẩn hoang miền Nam… là cả một kho chuyện về đất phương Nam.

Văn Sơn Nam không làm dáng. Ông không cần phải chứng minh mình là nhà văn bằng những chữ cầu kỳ. Một chuyện nhỏ về con người, một địa danh, một món ăn, một tập tục, một chuyện khẩn hoang… qua tay ông cũng có thể trở thành một mảnh ký ức của cả miền đất.

Đọc Sơn Nam, người miền Nam nhận ra mình trong đó. Đó mới là cái khó của văn chương địa phương: viết về địa phương mà người địa phương đọc lên không thấy xa lạ.

▪︎ Nguyễn Ngọc Tư – chữ nghĩa có lúc làm người Miền Tây ngơ ngác.

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, tức thuộc một thế hệ hoàn toàn khác với Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam. Cô trưởng thành trong một môi trường xã hội và văn hóa khác, nên dĩ nhiên không thể đòi hỏi cô phải viết giống các bậc tiền bối.

Nhưng chính vì viết về Cà Mau, Đầm Dơi, Đầm Thị Tường và con người miền Tây, nên người đọc có quyền đặt câu hỏi về tiếng nói địa phương trong tác phẩm.

Chẳng hạn, trong "Xa Đầm Thị Tường", có câu:

“Mình ngờ ngợ là mình đã quên cái gì nơi ấy. Lục lạo lại thì đúng là mình có bỏ lại cây bàn chải đánh răng…

Một người miền Nam có thể dừng lại ở chữ “lục lạo” mà thắc mắc. Lục lạo = tìm kiếm, mò mẫm, xem xét/bới tìm..

Người Miền Tây họ nói lục lọi. Lục lọi = bới tìm, lục tung ra để tìm.

Tôi không nói một chữ khác với thói quen của tôi thì lập tức trở thành “sai”. Ngôn ngữ luôn biến đổi, vùng miền cũng có những cách dùng từ khác nhau. Nhưng nếu nhà văn lấy tiếng địa phương làm chất liệu chính, thì cách dùng chữ càng đáng được soi kỹ.

Vấn đề không phải một chữ “lục lạo” có thể quyết định giá trị của cả một nhà văn.

Vấn đề là: nhà văn có thật sự làm chủ thứ tiếng mình đang dùng để dựng nên một thế giới địa phương hay không?

“Suốt năm” hay “quanh năm”?

Cũng trong câu chuyện về Đầm Thị Tường, Nguyễn Ngọc Tư viết “người Đầm Thị Tường làm lúa suốt năm”.

Một người miền Tây đọc câu đó có thể thấy hơi cấn.
“Quanh năm” là cách nói rất quen thuộc trong tiếng Việt miền Nam: quanh năm làm ruộng, quanh năm sông nước, quanh năm đầu tắt mặt tối.

Còn “suốt năm” không phải là một chữ mà người miền Nam hoàn toàn không hiểu hay không thể dùng. Nhưng đặt vào một câu văn muốn tạo ra không khí rất địa phương, sự lựa chọn chữ nghĩa ấy có thể làm người đọc cảm thấy cái giọng địa phương không còn tự nhiên như văn Sơn Nam.

Một chữ đôi khi chẳng đáng bao nhiêu. Nhưng văn chương được làm bằng những chữ nhỏ xíu như vậy. Khi sáng tạo ngôn ngữ trở thành một cuộc thử sức.

Trong văn Nguyễn Ngọc Tư còn có những cách dùng chữ khiến một số độc giả miền Nam phải ngạc nhiên, chẳng hạn những chữ như “mặt nước minh mông”, “soãi chân”, “le đé”, “hấp hé be xuồng”, hay cách dùng “tẳn mẳn” trong những ngữ cảnh mà người đọc quen tiếng Nam Bộ có thể thấy không tự nhiên.

Tôi không muốn biến chuyện khẩu ngữ thành một cuộc xử án từ điển.
Nhà văn có quyền sáng tạo. Nhưng độc giả cũng có quyền hỏi: sáng tạo tới đâu thì còn là sáng tạo, và tới đâu thì bắt đầu trở thành một thứ ngôn ngữ được chế biến?

Đặc biệt, khi nhà văn viết về một vùng đất có tiếng nói rất đặc thù như Cà Mau, thì mỗi chữ đều có thể làm nên không khí của câu chuyện.

Cá linh thì phải ra cá linh.
Mắm cá sặc thì phải ra mắm cá sặc.
Còn nếu đem mắm cá linh pha với mắm tôm rồi bảo đó là “hương vị mới”, người ăn có quyền bịt mũi mà hỏi: “Ủa, món nầy là món gì vậy?”

Điều đáng bàn hơn một chữ.
Tuy nhiên, điều tôi quan tâm hơn chuyện “lục lọi” hay “lục lạo” là cách Nguyễn Ngọc Tư nhìn lại lịch sử chiến tranh.

Có những đoạn viết về Đầm Thị Tường như một vùng căn cứ trong thời chiến, trong đó có hình ảnh máy bay “chiều về quẹo lại Đầm xả bom đạn chơi”.

Đọc tới đây, người đọc có quyền đặt câu hỏi về tính chính xác của chi tiết.
Chiến tranh Việt Nam là một đề tài lịch sử phức tạp. Máy bay Mỹ và đồng minh có những hoạt động quân sự cụ thể, với mục tiêu, kế hoạch và quy trình tác chiến; không nên biến những vấn đề như vậy thành một thứ giai thoại đơn giản kiểu “chiều về còn bom thì ghé ngang thả cho hết”.

Nếu một chi tiết lịch sử chưa được kiểm chứng mà được đưa vào văn chương như một sự thật, thì dù đó là tiểu thuyết, ký sự hay tản văn, người đọc vẫn có quyền yêu cầu nhà văn chịu trách nhiệm với tư liệu của mình.

Bởi văn chương có thể hư cấu. Nhưng lịch sử thì không nên bị hư cấu rồi đem kể như sự thật.

▪︎ Cái bóng của thời đại

Với tư cách một người Việt quốc gia, tôi nhìn văn chương sau 1975 bằng một con mắt khác với những người xem văn học chủ yếu qua hệ thống chính thống trong nước.

Tôi không chấp nhận quan niệm rằng mọi thứ xuất hiện trong văn học dưới chế độ cộng sản đương nhiên là tiếng nói trung thực của lịch sử.

Một nhà văn sống trong một chế độ kiểm soát văn hóa có thể viết hay, có tài, có cá tính; nhưng tác phẩm của họ vẫn tồn tại trong một môi trường chính trị cụ thể. Đó là điều người đọc có quyền đặt lên bàn cân khi đọc.

Điều này không có nghĩa là cứ nhà văn nào sống trong nước thì văn chương của họ đều là tuyên truyền.

Nói như vậy thì quá dễ dãi. Nhưng ngược lại, cũng không nên vì một nhà văn được giới chính thống trong nước ca ngợi mà mặc nhiên xem mọi cách nhìn lịch sử trong tác phẩm của họ là chân lý.

Đọc văn phải biết đọc cả cái văn bản lẫn cái thời đại đã sinh ra văn bản ấy.

▪︎ Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư

Đặt ba nhà văn cạnh nhau không phải để tuyên bố ai “hay” hơn ai. Văn chương không phải cuộc thi đua xe.

Nhưng có thể nhìn thấy ba cách tiếp cận rất khác nhau.

Bình Nguyên Lộc đào sâu vào văn hóa, nguồn gốc và tính cách của người miền Nam.

Sơn Nam ghi chép, kể chuyện và bảo tồn ký ức về vùng đất phương Nam bằng một giọng kể gần gũi như lời ăn tiếng nói ngoài đời.

Nguyễn Ngọc Tư đem đến một thứ văn chương đương đại, giàu cảm giác, nhiều nỗi buồn, nhiều thân phận và có cách sử dụng ngôn ngữ riêng.

Người thích Nguyễn Ngọc Tư có quyền thích. Người không thích cũng có quyền không thích.

Nhưng riêng tôi, khi đọc một tác phẩm tự nhận mình mang hơi thở miền Tây, tôi vẫn muốn nghe được tiếng miền Tây trong đó.
Không phải cái tiếng được pha chế cho lạ tai.
Mà là cái tiếng của người thiệt sự sống với đất.

▪︎ Mắm cá linh hay mắm tôm?

Tôi không có ý nói Nguyễn Ngọc Tư không phải là nhà văn. Càng không thể chỉ vì vài chữ gây tranh luận mà phủ nhận toàn bộ sự nghiệp của cô Tư.
Nhưng tôi muốn đặt ra một câu hỏi khác: văn chương Nam Bộ có phải chỉ cần lấy bối cảnh Nam Bộ là đủ hay không?
Theo tôi, chưa đủ.
Nam Bộ không chỉ là một địa danh.
Nam Bộ là tiếng nói, là ký ức, là phong tục, là cách ăn, cách mặc, cách gọi tên sự vật, cách cười, cách chửi thề, cách thương nhau và cả cách người ta kể chuyện đời.
Bình Nguyên Lộc hiểu điều đó.
Sơn Nam hiểu điều đó.
Còn Nguyễn Ngọc Tư thì có những chỗ khiến tôi vẫn muốn hỏi lại.
Bởi vậy, xin phép được cà khịa một chút:
Bình Nguyên Lộc là mắm cá linh. Sơn Nam là mắm cá sặc. Còn Nguyễn Ngọc Tư, với những chữ nghĩa đôi khi làm người Nam Bộ ngơ ngác, đối với tôi có lúc nghe giống… mắm tôm.
Mắm tôm không phải không có người ăn.
Trái lại, có người mê mắm tôm tới mức thiếu một chén là ăn cơm không vô.
Nhưng người miền Tây quen mùi mắm cá linh mà bất thần gặp mắm tôm thì thế nào cũng phải… đưa tay lên bịt mũi trước khi biết mình có ăn hay không!

Văn chương cũng vậy.
Hay dở còn tùy người đọc.
Nhưng hồn của một vùng đất thì không thể chỉ dựng bằng vài cái tên địa danh. Nó phải được dựng bằng tiếng nói của chính con người đã sống trên vùng đất ấy.
Và đó mới là điều tôi muốn bàn khi đọc Nguyễn Ngọc Tư.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.
------
NT ghi thêm

Đoàn Xuân Thu là một cây bút người Việt tại hải ngoại, hiện sống ở Melbourne, Úc.
Sinh năm 1951 tại Mỹ Tho.
Thuở nhỏ học Petrus Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn) và Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho).
Sau đó học Đại học Sư phạm Cần Thơ, rồi làm nghề giáo viên trung học và từng phục vụ quân ngũ.
Sau năm 1975 sang Úc định cư; về sau viết nhiều tạp bút, phiếm luận, thơ và bình luận xã hội cho báo chí tiếng Việt ở Úc và Hoa Kỳ.

CUỐN SỔ KHÔNG TÊN

“Hãy trân trọng những điều nhỏ bé trong cuộc sống, vì một ngày nào đó bạn có thể nhìn lại và nhận ra chúng chính là những điều lớn lao.” Robert Breault.

Minh có hai cuốn sổ.

Một cuốn là app ngân hàng trong điện thoại. Sáng nào nó cũng báo số dư, và sáng nào Minh cũng thấy tim mình đập theo con số đó. Số tăng thì anh thấy mình hả hê tự hào. Số đứng yên thì anh thấy mình vô dụng.

Cuốn thứ hai là cuốn sổ cũ không tên của mẹ, anh tìm thấy trong tủ thờ sau khi mẹ mất. Trong đó không có một đồng nào. Chỉ có chữ mẹ viết: Hôm nay bán hết bánh canh chỉ còn 2 tô. Hôm nay thằng Minh được 10 điểm toán. Hôm nay mưa, bán ế, nhưng thằng Minh hết ho là vui rồi...

Mẹ mất hồi tháng Tư. Để lại căn nhà cấp 4 trong hẻm sâu đường Tôn Đản, Q4. Minh lúc đó đang làm môi giới chứng khoán ở quận 1. Anh tin chắc một điều: hạnh phúc đo được. Cứ lấy số dư tài khoản chia cho một tỷ, ra số điểm hạnh phúc. Mọi thứ thật đơn giản.

Rồi năm ngoái thị trường vả cho anh một cú. Không sập hẳn, chỉ đủ để tài khoản anh từ chín số không còn bảy. Anh không phá sản. Anh chỉ mất đi cái cảm giác mình quan trọng. Trong những cuộc nhậu, người ta vẫn gọi anh là "sếp Minh", nhưng anh bắt đầu không còn nói nhiều nữa.

Anh bán căn hộ chung cư cao cấp, dọn về ở lại nhà cũ của mẹ. Đêm đầu tiên không có máy lạnh, chỉ có tiếng quạt kêu lạch cạch và tiếng rao "Ai bánh giò..." vọng vào từ đầu hẻm.

Sáng hôm sau, theo thói quen anh mở app ngân hàng. Số dư vẫn đủ để anh sống hai năm không cần làm gì. Nhưng lần đầu tiên anh thấy sợ chính cái đủ đó. Nếu mình không cần lo tiền sinh sống nữa, thì mình sống vì cái gì? Anh quyết định thử sống một tháng mà không nhìn vào sổ tiết kiệm.

Anh dậy lúc 4 giờ vì bà Tư, bạn của mẹ, bán xôi đầu hẻm dậy lúc đó. Bà thấy anh lóng ngóng thì kêu: "Minh, qua vo nếp phụ dì." Anh phụ. Bà không trả tiền công. Bà dúi cho gói xôi: "Ăn xôi cho no lâu, con."

Anh lôi chiếc xe đạp cũ của mẹ ra sửa. Rồi chạy lòng vòng không mục đích - qua chợ Xóm Chiếu, vòng qua cầu Calmette, dừng lại mua ly cà phê vợt 10 ngàn. Trước đây mỗi lần ra đường là phải có lịch hẹn, có KPI. Bây giờ anh đạp xe chỉ để nghe gió quệt qua tai. Anh nhận ra mình đã quên mất cảm giác đi mà không cần tới đâu từ năm 10 tuổi.

Trong thùng đồ cũ của mẹ, dưới đáy là một cuốn sách mỏng, giấy đã ố vàng: Gửi bạn - Lời của Kodo Sawaki, bản dịch tiếng Việt của một sư cô. Mẹ anh gấp đánh dấu rất nhiều góc. Một trang còn được gạch chân bằng bút đỏ:

"Một số người nghĩ rằng họ quan trọng bởi vì họ có tiền. Người khác thì cho mình quan trọng vì đã đạt được giác ngộ (satori). Nhưng cho dầu bạn thổi phồng tấm da thịt này bao nhiêu, bạn cũng không thể biến mình thành gì cả - ngoài việc trở thành ma."

Minh đọc đi đọc lại. Anh thấy chính mình trong đó. Trước đây anh thổi phồng mình bằng tiền. Mấy tháng nay, khi không còn tiền để coi mình là quan trọng, anh lại đang định thổi phồng mình bằng kiểu ta đây: "tôi đã buông bỏ được rồi, tôi giác ngộ rồi". Cũng vẫn là một con ma, chỉ là ma kiểu khác.

Tối đó anh mang sách qua hỏi Sư cô Diệu Hiền ở chùa nhỏ cuối hẻm. Sư cô ngoài 70, người Q4 gốc.

Cô cười: "Mẹ con hay qua chùa chép kinh lắm. Bà nói con trai bà giỏi lắm, làm nhiều tiền lắm. Cô nói với bà: nhiều tiền hay ít tiền thì cũng phải ăn cơm, cũng phải ngủ. Đừng có quá tiêu cực khi mình nói mình cần tiền để sống. Cần thì cần, nhưng không phải là tất cả. Trong thế giới này, con hoàn toàn có thể sống tốt mà không cần đến sổ tiết kiệm. Sống tốt đây là sống tử tế, sống ấm lòng người."

Rồi cô chỉ câu cuối cùng mẹ anh cũng đã gạch chân:
"Những gì không thuộc về bạn thì chiếm đầy vũ trụ. Khi nào những suy tưởng của cá nhân bạn chấm dứt, thì Phật có mặt."

"Con thấy không?" Sư cô nói. "Tiếng rao bánh giò đó có của con không? Mùi xôi của bà Tư có của con không? Đứa nhỏ hàng xóm đang ê a đánh vần, có của con không? Không cái nào của con hết. Mà nó đang giúp con "sống" đó. Con đang sống được là nhờ cả vũ trụ không thuộc về con."

Minh về nhà, mở lại cuốn sổ của mẹ. Dòng cuối cùng: Hôm nay thằng Minh sốt, nghỉ học, nó nằm mơ thấy mình bay.

Anh bật khóc. Không phải vì mất mẹ. Mà vì anh nhớ ra mình đã từng bay trong mơ mà không cần mua vé.

Từ đó anh mở một góc nhỏ trước nhà: nhận bơm xe, sửa xe đạp. Không bảng hiệu. Ai hư thì đẩy tới. Anh không hét giá. Có người đưa 20 ngàn, có người đưa trái xoài, có bà Tư trả bằng gói xôi.

Vợ cũ ghé lấy đồ, thấy tay chân anh lấm lem dầu nhớt thì nhíu mày: "Anh tiêu cực quá rồi, bỏ phố về hẻm sửa xe?"

Minh cười, lần đầu tiên không thấy mình phải giải thích: "Anh không tiêu cực khi nói anh không cần tiền. Anh vẫn cần. Nhưng nếu hạnh phúc chỉ đo bằng con số trong tài khoản, thì mọi việc đã đơn giản biết bao. Tiếc là nó không phải như thế."

Có những buổi trưa ế khách, anh chỉ ngồi yên trên cái ghế đẩu thấp. Không tính toán tháng sau ra sao, không nghĩ làm sao để mình lại quan trọng. Trong vài giây ngắn ngủi khi cái đầu ồn ào của anh - rằng mình là ai, đáng giá bao nhiêu, hơn kém ai - nó im bặt.

Lúc đó anh nghe rất rõ.
Tiếng ve trên cây me. Tiếng muỗng va vào tô cơm. Tiếng kinh trưa từ chùa cuối hẻm vọng ra, lẫn với tiếng xe container từ bên cảng.

Cả một vũ trụ không thuộc về anh, vẫn đang có mặt, và đang cho anh sống. Hạnh phúc không phải con số. Nó là khoảnh khắc anh ngừng thổi phồng tấm da thịt này lên. Và trong khoảnh khắc đó, anh không còn là con ma đi tìm sự quan trọng nữa. Anh chỉ là thằng Minh ở con hẻm quận tư, được nắng chiều rọi lên mặt và thế là đủ.

Thi Anh
BÀ KHUYÊN CHÁU

(Katerina Brusnika)

*
Bà thường bảo tôi:
— Katenka này, hoàng tử thì hiếm mà họ lại quá yêu bản thân lẫn mấy con rồng của mình. Họ chỉ vừa đủ cho mấy con điên không tự mình thoát ra nổi khỏi mấy đống rác rưởi cuộc đời và chỉ biết mơ mộng về một chiếc xe Mercedes màu trắng thôi. Cháu cần chi thứ đó?

Cứ chọn một chàng trai Do Thái tốt bụng, cậu ấy nhất định sẽ mua cho cháu bất kỳ loại xe gì, màu sắc thế nào cũng được. Tiền lương thì đem hết về nhà, chứ không cúng cho mấy con bồ và mấy đứa dở hơi.

Bà thường bảo tôi:
— Hãy sợ những gã đàn ông quá cuồng nhiệt. Họ chẳng mang lại điều gì ngoài chuyện tình dục nồng cháy, một cái đầu đau như búa bổ và những đau khổ khốn nạn.
Đó là ngọn lửa vô dụng và mang tính hủy diệt.
Nó không sưởi ấm, chẳng thể nấu ăn, cũng không làm tan được băng giá.
Nó chỉ thiêu rụi mọi thứ thành tro bụi. Thiêu rụi niềm tin vào con người, hy vọng và tình yêu. Khi Prometheus mang lửa đến cho loài người, ý ông ấy là một thứ khác cơ.
Nhưng chắc ông ấy là người Do Thái nên người ta mới hiểu sai (chúng ta, người Do Thái, lúc nào mà chẳng bị hiểu lầm).

Bà thường bảo tôi:
— Nếu cháu muốn bảo ai đó "cút xéo đi", đừng chỉ buông lời rồi để mặc họ ở đó.
Hãy vạch ra mục tiêu, vẽ cho họ một tấm bản đồ, đưa cho họ một cuộn chỉ thần kỳ hoặc tặng cho một cú đá vào đít.
Và nhớ kiểm tra xem họ đã cút đến đúng nơi chưa nhé.

Bà thường bảo tôi:
— Đừng bao giờ đưa ra những kết luận vội vàng, đừng đưa ra những quyết định đột ngột.
Ngồi xuống. Ngồi yên đó. Nghe một bản nhạc hay, ăn một món thật ngon, mỉm cười và tin bà đi, đến lúc đó thì chẳng còn việc gì cần phải giải quyết nữa đâu.

Bà thường bảo tôi:
— Nếu tất cả mọi người xung quanh đều nói ai đó là kẻ khốn nạn, đừng tin ngay. Luôn có khả năng là họ chỉ đang ghen tị với người ta thôi. Hãy uống với anh ta vài ly vang, pha thêm chút rượu mạnh, và khi cả hai đứa đều say bét nhè "quên lối về", chỉ lúc đó cháu mới thấu suốt được chân lý: Có nên uống với gã này một lần nữa hay không.

Bà thường bảo tôi:
— Đừng tham gia vào những cuộc tranh luận vô bổ về tôn giáo, chính trị hay xu hướng tình dục.
Cháu sẽ không bao giờ thuyết phục được mấy đứa đần độn hay đi tranh cãi về những chủ đề đó đâu, nghĩa là ngay từ đầu cháu đã tự đặt mình vào vị thế không chỉ của kẻ thua cuộc, mà còn của một đứa dở hơi nữa.

Bà thường bảo tôi:
— Đừng cố làm người tốt bụng. Lòng tốt là một khái niệm mang tính tương đối và với mỗi người nó lại một khác. Hãy sống khách quan và công bằng.

Bà thường bảo tôi:
— Luôn luôn cho một người vừa vặn ba cơ hội. Bởi vì ba cơ hội này cháu trao cho chính mình, chứ không phải cho họ.
Cháu đang cho bản thân cơ hội để không bỏ lỡ điều gì đó quan trọng, không làm vấy bẩn nghiệp quả của mình và học hỏi thêm điều gì đó mới mẻ.
Nhưng nếu cả ba cơ hội đều đổ sông đổ bể, hãy vẽ cho họ tấm bản đồ hướng tới lối "cút xéo" và đừng bao giờ quay đầu lại nữa.

Bà thường bảo tôi:
— Hãy kiêu hãnh, nhưng đừng kiêu ngạo. Sự kiêu hãnh nuôi dưỡng lòng tự trọng trong cháu.
Biết xin lỗi vì sai lầm của mình — đó là tự trọng.
Biết chấp nhận lời xin lỗi chân thành — đó là tự trọng.
Biết giữ lời hứa — đó là tự trọng.
Còn trở thành một kẻ kiêu ngạo, hợm hĩnh, coi mình bề trên hơn tất thảy mọi người — đó là điều vô sỉ.

Bà thường bảo tôi:
— Đừng sợ việc rước thêm kẻ thù về mình.
Chúng cần thiết, chúng thúc đẩy cháu tiến lên.
Hãy sợ việc kết giao với những đứa bạn tồi tệ, chúng sẽ làm cháu mất phương hướng và kéo cháu xuống đáy. (Nhớ vẽ bản đồ cho chúng nó).

Bà luôn bảo tôi:
— Chỉ cần ngồi trên bờ và chờ đợi. Thời gian là một loại tài nguyên có thể giải quyết được mọi thứ, mọi lúc mọi nơi.

*
(LĐH* st & dịch)



Blog Archive