Thursday, September 17, 2026

Có những mùa không đi đâu cả!

Chỉ là người ở lại đã khác đi rồi.

Sáng nay trời còn mờ hơi sương, rồi bỗng dưng mặt trời trồi lên ngay từ nóc nhà đối diện, ánh sáng như xổng chuồng, ào một cái chạy tràn khắp mọi nơi, đâm thẳng vào tận góc chái nhà, nơi hai chậu Nhất Chi Mai con còn đứng nép mình trong bóng tối. Chỉ một khắc thôi mà cả vũ trụ đã khác hẳn. Ánh sáng gõ thẳng vào đôi mắt còn ngái ngủ, gọi tui dậy như nói rằng "Dậy đi, để còn kịp nói lời cám ơn với bình minh!"

Dường như cũng biết mình hơi quá tay, mùa Hạ dịu lại một chút. Mấy chậu Hạnh Nhân cháy khô lá, nằm cù bơ cù bất ngoài hiên, đã thấy nhú ra vài chồi xanh mới. Rất nhiều buổi sáng tưởng chừng bình thường như vầy, vậy mà biết bao nhiêu thứ đã lặng lẽ khác đi so với hôm qua. Một sợi tóc vừa bạc thêm. Một nếp nhăn vừa hằn sâu hơn chút nữa. Đã có một khoảng thanh xuân rộn rã tiếng cười, giờ tiếng cười đó nghe xa xôi lắm rồi.

Trong gian nhà, tui với ông chồng mỗi người một góc, mạnh ai nấy làm chuyện của mình, chỉ có cái quạt trần là đều đều lên tiếng thay cho câu chuyện. Thỉnh thoảng ổng buông cái computer, bước qua phòng Family, nơi tui đang dán mắt vô một cái computer khác, hỏi tỉnh bơ:
“Có gì mới không?”

Tui đáp lại cũng nhẹ tênh y vậy, rồi ai về lại việc nấy.

Không phải giận hờn gì nhau. Chỉ là bao nhiêu năm sống chung, hai đứa quen với cái im lặng đó hồi nào không hay, như thể lời nói bây giờ để dành cho chuyện cần thiết, còn thương nhau thì gửi vào mấy câu lặt vặt kiểu vậy.

Tui giở lại mấy cuốn album cũ. Không coi thì làm sao thấy được biết bao nhiêu người chẳng còn hiện diện trên cõi đời này. Rất nhiều tấm đã ngả màu thời gian, có tấm trầy xước không còn rõ mặt người, nhưng ít nhất nó là dấu vết kỷ niệm. Tui cầm lên, nhắm mắt hồi tưởng lại cái bối cảnh lúc lát cắt thời gian này ra đời. Mấy chục năm rồi mà cứ tưởng như mới hôm qua, vậy mà tui đã đi qua bốn mươi năm để tìm lại cảm giác của ngày xưa.

Nhớ thằng bạn hồi đó, quen nhau từ lớp ba, gọi nhau mầy tao quen đến mức lên cấp ba, ngại ngùng ngắc ngứ tiếng xưng hô mà tránh mặt. Vậy mà không có tấm hình nào có mặt cả hai đứa.

Khi kết nối lại được với nhau sau này, nó nói:
“Bà xuống thăm tui đi, tui dẫn bà đi tuốt lại. Bảo đảm chồng bà nhìn thấy là mê chết luôn!”

Tui cũng muốn đi, nhưng rồi cứ lần lữa vì nhiều lý do. Đến giờ thì tất cả đều muộn màng. Bạn đã về miền mây trắng, khiến cho lần gặp của bốn mươi năm trước trở thành lần gặp sau cùng.

Câu đùa đó giờ không còn ai đùa lại được nữa.

Và người lạc quan nhất trên cõi đời này cũng phải thúc thủ trước vô thường. Nó không gõ cửa, không rao trước. Nó chỉ lặng lẽ bớt đi một chút mỗi ngày, một chút tuổi trẻ, một chút sức vóc, một người, một mối tình, một giấc mơ còn dang dở. Rồi tới một bữa, mình đứng giữa cái đời sống quen thuộc của chính mình mà thấy sao lạ hoắc.

Có khi điều làm mình đau không phải vì mất, mà vì mình từng tin chắc nụi rằng mọi thứ sẽ còn hoài như vậy. Muốn người đó đừng đi, muốn cha mẹ đừng già, muốn tình đừng phai. Nhưng đời nó có ký giao kèo gì với ai đâu.

Chiếc lá rụng xuống không có nghĩa cây đã chết. Người rời đi không có nghĩa tình thương hồi đó chưa từng có thiệt.

Những chiếc lá vàng úa theo mùa, theo gió nhẹ rơi. Mùa thu tới, những chiếc lá còn xanh rồi cũng bắt đầu đổi màu, để rồi một ngày nào đó rời cành. Dưới gốc cây, có còn ai biết được chiếc lá nào đã rơi từ mùa hè, chiếc nào phai tàn khi mùa thu tới. Nó chỉ rơi, nhẹ hều.

Có lẽ con người cũng vậy. Đến một lúc nào đó, mình mới nhận ra có những thứ đã rời khỏi mình từ lâu mà mình không hay biết. Một chút tuổi trẻ. Một chút sức vóc. Một người. Một khoảng thời gian. Một điều từng tưởng sẽ còn hoài.

Bởi sau cùng, chẳng có mùa nào ở lại thiệt sự. Nhưng mùa nào đi qua cũng để lại trong mình một chút hương của nó, như cách tui vẫn coi mấy cuốn album cũ, không phải để quay lại quá khứ, mà để biết mình đã từng đi qua một đoạn đời có thiệt

Hong khuu
Thái Thanh

Tập sách này viết về những người đàn bà của một Sài Gòn cũ: Bạch Yến, Thái Thanh, Ý Lan... và những người đàn bà vô danh khác.

Đọc, để biết Thái Thanh đã chọn im hơi lặng tiếng suốt 10 năm ở lại Sài Gòn sau 1975, đúng cách một kẻ sĩ Bắc Hà.

Nàng từ chối mọi lời mời của những ông chủ mới để hát những bài hát mới, đứng trên sân khấu mới để hát cho những con người mới.

Sáng sáng, nàng bận bộ bà ba tối màu, vì áo dài bấy giờ đã là một thứ quá xa xỉ, che nghiêng nón lá và bước đi về phía chợ, mua những mẩu bánh mì cũ cho bữa ăn.

Sau khi bán lần mòn trang sức, nàng mở gánh nước bán loanh quanh trong các con hẻm, cung đường nhỏ trong thành phố để kiếm kế sinh nhai cho những đứa con.

Nhưng khi đêm về, tại nhà thân hữu, nàng được âm thầm mặc áo dài, âm thầm phục sức, phấn sáp và rảo tay trên những phím đàn, nhỏ nhẹ ngước nhìn họ và hỏi đầy duyên dáng “Bây giờ, anh muốn nghe bài gì?" như chưa từng có bất cứ sự khó nhọc nào.

Khi đó nàng đã trở thành một con người hoàn toàn khác hoặc nàng đang quay về, trở lại là chính nàng, của trước kia.

Đó hẳn là một điều kinh hoàng với nàng, người hát từ khi lên năm, lên ba, và hát như hơi thở, tiếng nói, sự sống của nàng. Hoặc giả là nàng đã chết từ cái ngày chiếc máy vi âm bị đánh rơi cùng Đêm - Màu-Hồng. Một cái chết ngay từ khi ta vẫn còn sống. Có thể đi đứng, nói năng, nhưng thực ra đã chết, chết hẳn, chỉ hành xử như một cái xác không hơn.

Tạ Tỵ, trong cuốn Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, kể một câu chuyện xúc động về Thái Thanh sau 1975:

"Một bữa, nhận được tin Thanh Tâm Tuyền được tha qua Doãn Quốc Sỹ, chúng tôi rủ nhau tới thăm, có cả Thái Thanh.

Sáng sớm, tôi và Sỹ đã có mặt ở nhà Thái Thanh ở gần chợ Thái Bình. Sau khi trèo chiếc cầu thang dốc ngược, tôi thấy Thái Thanh đang chải đầu. Xung quanh nhà toàn chậu hoa, tôi biết Thái Thanh mê cây cảnh.

Sợ mất xe đạp, tôi và Sỹ xuống thang, chờ Thái Thanh ở dưới chân cầu thang. Chừng 15 phút sau, Thái Thanh khoan thai, tay xách cây dù nhỏ đi xuống. Tôi và Sỹ đều ghếch chân lên bàn đạp sẵn sàng. Doãn Quốc Sỹ mời Thái Thanh ngồi vào chiếc pọoc-baga để anh đèo, nhưng Thái Thanh nói:
– Em nặng quá, anh đèo gì nổi, từ đây lên Tuyền bên Gia Định xa lắm!

Nói xong, Thái Thanh đi ra phía lộ, kêu xích lô. Sau khi ngã giá, Thái Thanh bước lên xích lô ngồi, trông vẫn đúng điệu lắm.

Tôi và Doãn Quốc Sỹ như hai vệ sĩ già, đạp xe lẽo đẽo theo sau. Khi xe leo khỏi con dốc cầu Kiệu, tôi mệt muốn đứt hơi, rồi qua lăng Tả Quân, gặp tòa tỉnh trưởng Gia Định cũ, chúng tôi quẹo trái, rồi quẹo mặt, qua trường trung học Hồ Ngọc Cẩn một đoạn khá dài, chúng tôi nhìn thấy Thanh Tâm Tuyền đứng chờ ở ven đường. Doãn Quốc Sỹ đã hẹn trước với Tuyền rồi.

Lúc ấy đã gần 9 giờ sáng. Thấy đói, tôi mời tất cả vào một quán cóc bên lề đường ăn sáng, uống cà phê.

Ăn uống xong, Tuyền đưa chúng tôi vào nhà bằng lối đi ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp dẫn đến căn nhà trệt xinh xắn có hàng ba sơn màu xanh, có cả giàn hoa giấy màu tím hồng trông rất nên thơ.

Vào đến trong nhà, ngoài chiếc bàn nhỏ, trên mặt để sẵn đĩa bánh bích-quy loại bình dân và ấm nước trà. Cách đấy một khoảng có mắc chiếc võng. Ở cuối nhà kê chiếc phản gỗ.

Chị Tuyền, người miền Nam, trông hãy còn duyên dáng lắm ra chào, rồi xin phép phải đi có chút việc. Thế là chỉ có chúng tôi.

Nói chuyện tù mãi cũng chán, Thái Thanh lấy cây đàn gui­tare treo trên vách xuống, so lại dây, rồi hát những ca khúc của Phạm Duy, Cung Tiến. Thoạt đầu tiếng hát còn nhỏ, sau như không trấn áp nổi sự hào hứng, Thái Thanh hát thật mạnh, thật to.

Tiếng hát âm vang rồi thoát đi qua khung cửa sổ, qua chiếc cửa ra vào không khép, nên chỉ một thoáng sau, một rừng người đứng lố nhố che kín cả khoảng rộng để nghe tiếng hát Thái Thanh."

Tác giả tập sách tự nhận mình là một “Mặc khách sống tại Sài Gòn, yêu nhạc vàng, nói chút tiếng Tây, thích tán chuyện thiên trời địa đất vô tư.”, và thể hiện cái chất Sài Gòn - Nam Bộ thấm nhuần trong từng câu chữ. Từ đó, những con người xưa cũ, những lớp từ vựng của một thời đã qua, một Sài Gòn xưa và nay hòa trộn vào nhau hiện lên một cách tự nhiên, đẹp, sang và đầy hoài niệm.

Dang Nguyen Triet

Quán cà phê

Bolsa, sáng nào cũng đông khách. Những khuôn mặt lạ nhưng quen. Họ đến đây hầu như mỗi ngày. Đi cả nhóm, đi một mình. Tất cả hình như chung một thói quen” ngồi lỳ” Một mình với cái phone. cả nhóm thì ồn ào. Không khí rất sống động. Không có bàn riêng thì ngồi chung.

Sáng nay, tôi ngồi một mình, Một người khách từ từ đi lại xin phép ngồi. Thoáng qua, tôi tưởng người gốc Trung Đông nhưng khi nói thì ra là “Mít”
nở nụ cười rất tươi, lễ phép:
“Em tên Công”
Tôi Nhi Dương, Chào bạn.

Ông kéo ghế ngồi xuống, lấy trong cặp táp ra cái lap top và ngồi làm việc. Hình ảnh này rất quen với tôi ở những quán cà phê thành phố Seattle. Chốc chốc lại nói phone. Âm thanh rất ồn ào chung quanh, tôi nghe không rõ lắm, mang máng như giờ giấc và những cuộc hẹn. Tôi nghĩ: Tay này chắc làm lớn, cấp cũng cao.

Đợi cho ông ngưng phone, tôi lân la trò chuyện.
-Anh coi bộ, bận rộn!
-Vâng anh, buổi sáng thường là em rất bận.
Em có business riêng.
-Oh! thảo nào thấy anh phong cách quá, tôi tò mò hỏi tiếp.
-Anh làm về gì vậy?
-Em làm transportation
-Vận tải hả?
-Em đưa đón người.
-Nhân viên đông không?
-Một mình thôi anh, vừa là manager, vừa là thư ký, vừa là nhân viên, Anh cười hóm hỉnh nói tiếp.
-Em trước làm cho công ty, ngày Covid đưa người quen ra phi trường, tình cờ gặp người bạn cũng đang thả người. Bạn quen bên Phi. Thân lắm, mấy chục năm giờ mới gặp. Hỏi thăm nhau mới biết bạn em chạy uber, Thấy em đang thất nghiệp, Bạn em sang cho em vài người khách, thế là em làm luôn tới giờ, Cũng năm năm rồi anh.
Tôi tò mò hỏi tiếp:
-Sống được không?
Anh cười,
-Thoải mái lắm anh, tự do. Ngày kiếm vài trăm easy.
Chạy vài chuyến. Khách không hết anh ơi, đôi khi em phải từ chối vì trùng giờ. Anh làm không, em sang cho anh vài khách làm duyên. em nói thật mà, anh nhìn tôi đăm chiêu chờ đợi.
-Tôi làm gì nữa anh, retire lâu rồi, giờ ông Trump cho tiền xài mỗi tháng, thu vén cũng đủ. Cám ơn anh.
-Phone lại gọi tới, anh xin lỗi trả lời phone,
-Em có mối cần đi ngay, chào anh nhé.

Anh gôm laptop đứng lên, từ từ tiến về phía cửa.
Anh là con lai, đi Mỹ theo diện Amerasian.
Quý vị cần đưa đón ra phi trường, bến tầu thì gọi anh
Công #714-399-8330.

Còn lại một mình, tôi ngồi nhìn quanh. Không gian vẫn vậy: tiếng nhân viên gọi tên người mua, tiếng nói cười xen lẫn tiếng kéo ghế, tiếng facetime của ai đó đang gọi, giọng oang oang như sợ đầu dây bên kia không nghe được, hợp âm chỉ Bolsa mới có.

Tôi nhìn cái ghế anh Công vừa ngồi. Cái dáng cao to “lai Mỹ” vừa bước ra cửa, phong thái tự tin của người bươn chải mà đứng được trên đất này.

Anh Công nói "ngày kiếm vài trăm". Tôi thì ngày kiếm được buổi sáng như vầy là đủ. Ngồi đây, không làm gì cả, mà thấy mình vẫn còn là một phần của cái dòng chảy ồn ào, sống động này

Tôi nhìn ra ngoài.
Nắng đã lên cao, dòng xe đi qua đi lại, ngược xuôi
Đứng ở đầu ngã tư, một ông lem luốc cầm bảng xin tiền, hình anh quen thuộc, không biết có từ bao giờ, len lỏi ẩn hiện vào cuộc sống như hình ảnh thường ngày của Bolsa.
Mỗi người một hoàn cảnh, buồn cho họ.
Họ chắc chưa đủ tuổi già để được trợ giúp từ chính phủ, hoặc là “ tường nhân” không có việc làm…
Hoàn cảnh nào đi nữa cũng là trách nhiệm chung của xã hội.
Nhấp ngụm cà phê, chợt cảm thấy đắng nghét.,.,
Nối tiếp dòng suy tư
Tôi bước ra, nắng Cali vẫn vàng như mật ong.

Nhi Duong
Anh Công ( đưa đón phi trường, và các vùng phụ cận)
BÀI HỌC NHỚ ĐỜI

Năm 1973, tôi là sinh viên Y3.

Hôm ấy là buổi đầu tiên đi lâm sàng ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân.
Chúng tôi có sáu đứa, sáu cái áo blouse trắng mới tinh, túi áo thêu 3 ngôi sao đỏ, cổ áo dựng lên vì căng thẳng. Từ cổng đường Phan Thanh Giản* đi vào, nắng Sài Gòn tháng đó không gắt lắm, vậy mà vừa bước qua cái hành lang khu ung thư, một mùi thối khắm, thối nồng nặc của mủ, của thịt hoại tử, của xác chết thối rữa xộc thẳng vào mũi cả bọn.
Tôi nín thở theo phản xạ. Thằng bạn đứng cạnh tôi đưa tay lên che mũi. Đứa con gái duy nhất trong nhóm thì tái mặt đi.

Khoa Ung thư thời đó không như bây giờ. Không có máy lạnh, không có buồng cách ly đầy mùi thuốc sát khuẩn. Chỉ là một dãy phòng dài, giường sắt kê gần nhau. Trên mỗi giường là một thân người đã bị ung thư gặm mòn. Có người nằm co quắp vì đau, có người rên ư ử...

Chúng tôi, sáu đứa nhóc Y3, vừa mới qua xong hai năm đầu chỉ học cơ thể học trên xác ướp, sinh lý học trên trong labo và triệu chứng học trên các bài giảng bệnh viện, chưa từng đối diện với những sinh mạng chỉ còn thoi thóp.

Sáu đứa líu ríu đứng chụm lại ở cửa khoa, e ngại chưa dám bước vào, tay kẹp chặt cuốn sổ ghi chép lâm sàng nhỏ bằng bàn tay.

Rồi chúng tôi thấy Thầy - Thầy Đào Đức Hoành**.
Thầy đang ngồi trên mép một chiếc giường bệnh ở cuối dãy. Một chiếc giường kê gần cửa sổ, nắng xiên vào chỉ đủ sáng một khoảng nhỏ.

Trên giường là một bà bệnh nhân khoảng năm mươi tuổi. Bà mặc một bộ bà ba nâu sờn, kiểu thường thấy của phụ nữ nông thôn miền Nam khi lên Sài Gòn chữa bệnh thời đó. Tóc bà đã điểm bạc, búi sau gáy nhưng rối bời. Bà rất gầy, xương quai xanh nhô hẳn lên, đôi mắt bà lo lắng như đang đối diện với một nỗi sợ hãi vô hình, nó trũng sâu có lẽ vì mất ngủ hay vì sụt cân quá nhanh. Sau này tôi mới biết bà bị ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối, đã di căn, không còn khả năng điều trị vì đến quá muộn.

Thầy ngồi bên bà. Không phải ngồi trên ghế. Thầy ngồi hẳn lên giường bệnh, ngay sát chân bà, như một người thân của bà.

Thầy cầm tay bà. Tôi nhớ như in bàn tay thầy, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc, khô đét của bà.

Thầy không đeo khẩu trang. Thầy cũng không mang găng tay.
Thầy hỏi chuyện bà nhỏ nhẹ, dịu dàng như với người thân của mình.
-Bà Tư, nhà bà ở đâu?
- Dạ thưa bác sĩ, ở dưới Cai Lậy...
- Bà có mấy cháu rồi? Đứa nào đi theo bà lên đây?
- Dạ có thằng Út nó theo...

Thầy nói giọng Bắc di cư, nghe nhẹ nhàng, ấm áp, chậm rãi, từ tốn.
Bà Tư ban đầu chỉ lí nhí, cứ chớp mắt nhìn đi chỗ khác, như ngại mình hôi thối không dám gần thầy. Nhưng thầy vẫn cầm lấy tay bà, thỉnh thoảng lại gật đầu khi bà trả lời, rồi vuốt nhẹ lên mu bàn tay nổi đầy gân xanh của bà.

Cả khoa vẫn ồn ào tiếng xe đẩy, tiếng rên rỉ, tiếng y tá gọi nhau văng vẳng, nhưng ở góc phòng đó, ở chiếc giường nồng nặc mùi ung thư đó, chỉ có hai người, một bác sĩ và một người bệnh, nói chuyện với nhau như hai người đã quen từ lâu rồi, không phải người dưng ở bệnh viện.

Chúng tôi sáu đứa đứng sững lại ở đó, không đứa nào còn che mũi. Các anh chị nội trú lớp trên cũng đứng sau thầy. Tất cả đều im lặng.

Theo lẽ thường, một buổi đi buồng đầu tiên, thầy sẽ gọi chúng tôi lại, giới thiệu bệnh nhân, chỉ vào khối u nào đó, giảng về cách thăm khám, về phân loại các giai đoạn của ung thư, về tiên lượng, về hướng điều trị... Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sổ để ghi chép những từ ngữ to tát đó.

Nhưng hôm đó, Thầy Hoành không giảng một chữ nào về bệnh.
Thầy không nói một tí gì về ung thư, về chẩn đoán, về tiên lượng của bà Tư. Thầy không lật hồ sơ bệnh án lên cho chúng tôi xem các kết quả xét nghiệm.
Thầy chỉ ngồi đó, cầm tay bà, hỏi bà ăn được không, đêm ngủ được không? có đau nhiều không? thằng Út nó có chỗ ngủ không?

Một lúc sau, bà Tư khóc. Khóc không thành tiếng Nước mắt bà chảy dài trên gò má hóp. Chỉ là những giọt nước mắt lặng lẽ của một người đàn bà biết mình sắp chết.
Thầy vẫn không buông tay bà ra. Thầy lấy trong túi áo blouse ra một chiếc khăn tay trắng, chấm nhẹ lên khóe mắt bà.

Khoảnh khắc đó, cái mùi hôi khắm nồng nặc của khoa ung thư mà lúc nãy làm chúng tôi muốn nôn mửa, bỗng dưng như biến mất.
Tôi chỉ còn cảm thấy mùi nắng khét trên bộ bà ba nâu của bà, mùi mồ hôi của một đời lam lũ.
Thằng bạn đứng cạnh tôi cúi gằm mặt xuống. Đứa con gái trong nhóm đưa tay quẹt mắt.
Chúng tôi hiểu.

Chúng tôi, sáu đứa sinh viên Y3 ngày đầu tiên đi lâm sàng ung thư năm 1973, vừa được học bài học lâm sàng đầu tiên và có lẽ là bài học quý giá nhất trong cả cuộc đời làm nghề y của mình.

Đó không phải là bài học về bệnh ung thư cổ tử cung.
Đó là bài học về cách đối xử với một con người đang mang trong mình căn bệnh ung thư.

Sau này ra trường, đi qua nhiều bệnh viện, phụ mổ nhiều ca, đọc hàng trăm cuốn sách y khoa rồi cũng quên dần theo năm tháng, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh buổi sáng năm 1973 đó. Thầy Hoành ngồi trên giường bệnh, cầm tay một bà bệnh nhân nghèo, bệnh ung thư không còn khả năng điều trị.

Thầy đã dạy chúng tôi bằng chính hành động của mình: Khi y học bất lực, thì tình người là thứ thuốc duy nhất còn lại.

Giờ nghĩ lại, ở tuổi này, tóc tôi cũng đã bạc trắng, thầy tôi cũng ra đi đã lâu rồi, tôi mới thấy mình thật là may mắn. May mắn vì năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là một thằng nhóc lơ ngơ, khá ngạo mạn với mớ kiến thức sách vở, tôi đã được học thầy một bài học đến giờ vẫn nhớ như in.

Hãy đối xử với bệnh nhân như chính người thân của mình.

Và mỗi khi tôi đặt tay lên bụng một bệnh nhân để thăm khám, tôi lại nhớ đến bàn tay to, ấm của thầy Hoành năm đó, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc của bà Tư, ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân, trong một buổi sáng nồng nặc mùi tử khí, một ký ức sao ấm áp lạ thường.

Thi Anh

Chú thích:
* nay là Đường Điện biên Phủ , trước năm 1975 có tên là đường Phan Thanh Giản.

** GS Đào Đức Hoành (1920 - 15.6.2002) là người đặt nền móng ngành Ung thư học miền Nam.
Thầy sinh tại Hà Nội, Tú tài 1941, tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa 1948. Thầy từng là Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa Hà Nội (1950), Bác sĩ thường trú Ngoại khoa BV Yersin (1952).
Thầy tu nghiệp chuyên sâu về ung thư tại Pháp với GS Henri Redon và tại Viện Gustave Roussy với GS Pierre Denoix (1956-1957), học Đồng vị Phóng xạ ở Tokyo (1958), Observer tại Memorial Sloan Kettering, New York (1964-1965).

Tại Sài Gòn trước 1975:
• Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa B - BV Bình Dân từ 1955.
• Giảng sư Ung thư học Đại học Y khoa Sài Gòn 1957, Giáo sư Thạc sĩ 1964, Giáo sư Thực thụ 1966.
• Thành lập Khoa Ung thư BV Bình Dân năm 1957, nơi vừa điều trị vừa giảng dạy cho sinh viên Y khoa Sài Gòn.
• Giám đốc Bệnh viện Bình Dân từ 1967.

Thầy có 41 công trình nghiên cứu, bảo trợ 70 luận án Tiến sĩ Y khoa (1958-1968), được kính trọng vì y đức và tài năng phẫu thuật đầu cổ, bụng chậu.

Thầy và gia đình đã rời Sài Gòn cuối tháng 4/1975 và sau đó định cư tại Canada.




NGHỆ NHÂN NHẬT NÀY ĐÃ TỰ TẠC CHÍNH MÌNH ĐỂ GỬI NGƯỜI YÊU VÌ BIẾT MÌNH KHÔNG SỐNG ĐƯỢC BAO LÂU ...

Bức tượng tự họa của Hananuma Masakichi, hoàn thành vào năm 1885, không chỉ là đỉnh cao của nghệ thuật "Iki-ningyo" (búp bê sống) mà còn mang một câu chuyện lịch sử đầy ly kỳ và xót xa. Theo ghi chép, Masakichi dồn hết tâm huyết tạo ra kiệt tác này vì tin rằng mình sắp qua đời do căn bệnh lao, với mong muốn để lại một kỷ vật hiện hữu cho người phụ nữ ông yêu.

Thế nhưng số phận trớ trêu, người phụ nữ ấy cuối cùng lại rời bỏ ông, còn Masakichi lại sống thêm gần một thập nien nữa trước khi qua đời trong nghèo khó vào năm 1895. Dù vậy, tác phẩm ông để lại vẫn khiến hậu thế phải kinh ngạc bởi kỹ thuật chế tác vô tiền khoáng hậu.

Tác phẩm được làm từ gỗ với hơn 2000 mảnh riêng biệt, được ghép nối với nhau qua kỹ thuật mối ghép đuôi én cùng keo dán tinh xảo đến mức không để lộ bất kỳ vết nối nào. Để đạt độ chân thực tối đa, sau khi ghép xong các bộ phận, ông đã dùng kỹ thuật sơn mài để trang trí tạo vẻ ngoài tựa như "bằng xương bằng thịt".

Ông khoan những lỗ li ti để dùng tóc và lông của chính mình gắn từng sợi nhằm hoàn thiện từng chi tiết nhỏ, và thậm chí sử dụng cả móng tay cùng răng thật để đắp lên tượng. Kết hợp với đôi mắt bằng thủy tinh được chế tác chuẩn xác theo tỷ lệ giải phẫu y khoa, bức tượng mang một ánh nhìn có hồn như người sống.

Sau khi ông mất, kiệt tác này bắt đầu hành trình lưu lạc sang Mỹ vào thập niên 1890, từng nổi tiếng tại một quán rượu ở San Francisco trước khi lọt vào mắt xanh của Robert Ripley, nhà sáng lập chuỗi bảo tàng kỳ lạ danh tiếng Ripley's Believe It or Not!. Ripley đã mua lại bức tượng với giá chỉ 10 USD vào năm 1934.

Trải qua nhiều thăng trầm, bao gồm cả việc bị hư hại nặng nề trong trận động đất Northridge năm 1994, bức tượng hiện đã được phục dựng và trưng bày cố định tại Bảo tàng Ripley's Odditorium ở Amsterdam, Hoà Lan, tiếp tục kể lại câu chuyện về một người nghệ nhân dâng hiến cả cơ thể và sinh mệnh cho nghệ thuật.




NGHỀ NAIL CÓ MỘT NỖI SỢ… KHÔNG GHI TRONG SỔ TAY DẠY NGHỀ!

Cửa tiệm vừa mở.
Chuông cửa “keng…”
Một vị khách bước vào.
Chủ tiệm đang cười… tắt nụ cười.
Thợ đang tám chuyện… im re.
Có người cúi xuống làm móng như chưa từng biết chuyện gì trên đời.
Có người nhìn sang đồng nghiệp bằng ánh mắt:
“Mày nhận đi… tao mới làm khách này hôm qua rồi!” 

Trong giới nail lâu năm đôi khi truyền nhau một câu đùa:
Rồi tới nữa!
Nhưng nói cho đúng, điều thợ sợ không phải màu da hay quốc tịch.
Thợ sợ nhất là gặp khách khó!
Khách bước vào:
“Làm bộ này.”
Làm xong:
“Không thích.”
Sửa.
“Vẫn không thích.”
Sửa tiếp.
“Ủa sao giống hình mà chị đưa không?”
Thợ nhìn lại tấm hình:
Một bàn tay của người mẫu đã chỉnh Photoshop tới mức móng dài hơn cả ngón tay.
Chủ đứng bên cạnh:
“Em ráng chiều khách…”
Thợ trong bụng:
“Dạ, em đang ráng giữ luôn cái mạng em đây!” 

Có khách thì hỏi giá trước, làm xong trả tiền rất vui vẻ.
Có khách thì:
“How much?”
Chủ nói giá.
Khách:
“Too expensive!”
Thợ nghe xong chỉ muốn quay mặt vào tường.
Bởi vậy nghề nail mới có một nguyên tắc bất thành văn:
Khách dễ thương bước vô, chủ tiệm chạy ra đón.
Khách khó tính bước vô, chủ nhìn thợ.
Thợ nhìn nhau.
Rồi tất cả cùng…
CHƠI CỤC LƠ! 
Vì trong nghề này, đôi khi thứ đáng sợ nhất không phải là khách không có tiền.
Mà là:
Khách có tiền… nhưng có đủ thời gian để bắt mình sửa tới 10 lần!
Anh chị em làm nail lâu năm chắc hiểu cảm giác này.
Chuông cửa “keng” một tiếng…
mà tim người thợ đập như nghe tiếng còi báo động! 

Phạm Sơn liêm

CÓ MỘT NƠI Ở CALIFORNIA… CÓ THỂ ĐÁNG GIÁ HƠN CẢ NHIỀU QUỐC GIA!

Bạn đang đứng ở Silicon Valley.
Nhìn bên ngoài, chẳng có gì quá ghê gớm.
Đường phố bình thường.
Nhà cửa bình thường.
Quán cà phê đầy người ngồi gõ laptop.
Những chiếc xe chạy qua chạy lại.
Nhưng hãy thử dừng lại một phút và hỏi:
“Đất này đang chứa bao nhiêu tiền?”
Câu trả lời có thể làm bạn giật mình.
Bởi vì xung quanh bạn là những cái tên như:
Apple. Google. Nvidia. Meta. Tesla. Intel. Cisco. Adobe. Netflix…
Đây không còn là chuyện “công ty điện tử”.
Đây là những trung tâm tạo ra hàng ngàn tỷ đô la giá trị.
Một công ty có thể mất hàng trăm tỷ đô vốn hóa chỉ trong một ngày.
Một công ty khác có thể tăng hàng trăm tỷ chỉ vì công bố một con chip mới.
Một startup vài năm trước chẳng ai biết tên, hôm nay có thể được định giá hàng chục tỷ đô.
Và đáng sợ nhất là:
những thứ tạo ra giá trị khổng lồ ở đây đôi khi chỉ nằm trong một con chip, một dòng toán hoặc một dòng mã.
Không cần mỏ vàng.
Không cần giếng dầu.
Không cần hàng triệu mẫu đất.
Chỉ cần chất xám.
Bạn bước vào một quán cà phê ở Mountain View.
Bàn bên trái có thể là một kỹ sư đang làm việc cho Google.
Bàn bên phải có thể là một nhóm startup đang tìm cách tạo ra công ty tỷ đô tiếp theo.
Một người đang nghiên cứu AI.
Một người đang thiết kế chip.
Một người khác có thể đang viết phần mềm mà vài năm nữa hàng trăm triệu người trên thế giới sử dụng.
Bạn không biết họ là ai.
Nhưng một trong số họ có thể đang ngồi trên một ý tưởng trị giá… hàng tỷ đô la.
Đó chính là điều kỳ lạ của Silicon Valley.
Ở nơi khác, người ta nhìn vào nhà máy, đất đai, dầu mỏ, vàng bạc để đo sức mạnh.
Ở đây, người ta nhìn vào:
Trí óc + máy tính + vốn đầu tư + ý tưởng. Và dám làm.

VÀ CÂU HỎI KHÓ NHẤT…
Nếu gom giá trị của những tập đoàn khổng lồ sinh ra, phát triển hoặc tập trung hoạt động tại vùng Silicon Valley và Bay Area lại…
chúng ta đang nói tới những con số tính bằng hàng chục ngàn tỷ đô la.
$1 trillion là:
1.000 tỷ đô la.
Vậy $10 trillion?
10.000 tỷ đô la.
Mà đây không phải tiền nằm trong một cái két bạc.
Đó là giá trị của những công ty đang tạo ra chip, AI, Internet, xe điện và những chìa khóa có khả năng thay đổi cả nền kinh tế thế giới.
Silicon Valley không phải quốc gia.
Không có quân đội riêng.
Không có tổng thống.
Không có biên giới.
Nhưng những quyết định được đưa ra trong những văn phòng quanh San Jose, Santa Clara, Mountain View, Palo Alto… có thể ảnh hưởng đến:
Wall Street.
Washington.
Thị trường chứng khoán.
Quân sự.
Trí tuệ nhân tạo.
Và cả cuộc sống của hàng tỷ người.
Ngày trước người ta nói:
“Ai có dầu mỏ, người đó có quyền lực.”
Thời đại mới đang đặt ra một câu khác:
“Ai có chip, AI và chất xám… người đó sẽ có bao nhiêu quyền lực?”
Và nếu câu trả lời nằm ở Silicon Valley… thì chúng ta có lẽ mới chỉ nhìn thấy phần nổi của tảng băng.
Bởi vì cuộc cách mạng AI còn chưa đi được bao xa.
10 năm nữa, vùng đất này sẽ đáng giá bao nhiêu?
$20 ngàn tỷ? $30 ngàn tỷ? Hay một con số mà hôm nay chúng ta còn không tưởng tượng nổi?

Phạm Sơn liêm



Blog Archive