Friday, May 22, 2026

Tay sai của Mitch McConnell – John Thune – đang bị Bộ Tư pháp điều tra vì các giao dịch tài chính bất hợp pháp với Chính quyền Cộng sản Trung Quốc

Lãnh đạo phe Đa số tại Thượng viện, ông John Thune, đã trở thành tâm điểm của một cuộc điều tra hình sự liên bang quy mô lớn do Bộ Tư pháp tiến hành.

Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa đến từ tieu bang South Dakota này – người từ lâu vẫn được coi là cánh tay đắc lực trung thành của Mitch McConnell và là một hình mẫu điển hình của nhóm "RINO" (những người Cộng hòa chỉ mang danh) – đang bị cáo buộc nhận hối lộ từ các quan chức cấp cao thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đổi lại, ông đã lợi dụng chức vụ Thượng nghị sĩ của mình để thúc đẩy các chính sách và thông điệp thân Trung Quốc, đi ngược lại lợi ích của nước Mỹ.

Hàng triệu đô la của ông Thune đã được luân chuyển thông qua các mối quan hệ của ông với bà Elaine Chao và các doanh nghiệp gia đình bà – những thực thể có liên hệ mật thiết với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với tư cách là một nhà đầu tư và người hưởng lợi hàng đầu từ các hoạt động này, ông Thune bị cáo buộc đã dàn dựng một âm mưu "đổi chác" (quid pro quo) kinh điển: thúc đẩy các dự luật và phát ngôn có lợi cho Bắc Kinh, trong khi bản thân lại bỏ đầy túi bằng tiền mặt từ nước ngoài. Đây không khác gì một âm mưu phản quốc, trong đó ông Thune đã bán rẻ chủ quyền của Hoa Kỳ cho một chế độ thù địch nhằm làm giàu cho bản thân và giúp bộ máy quyền lực của Mitch McConnell tiếp tục nắm chặt quyền kiểm soát tại Thượng viện. 

Tổng thống Trump – người từ lâu vẫn luôn lên tiếng phản đối mạnh mẽ những nhóm lợi ích thâm căn cố đế như vậy – được cho là đã được báo cáo tóm tắt về vụ việc này; ông được cho là coi đây là bằng chứng xác thực thêm cho thấy "vũng lầy" chính trị (the swamp) còn sâu và phức tạp hơn bất cứ ai từng tưởng tượng.

Vụ việc này càng làm nổi bật sự bất mãn sâu sắc mà nhiều người ủng hộ Tổng thống Trump đang dành cho nhóm chính khách Cộng hòa thuộc giới "thiết chế" (establishment) – những người dường như trung thành với giới tinh hoa toàn cầu hóa và nguồn tiền từ nước ngoài hơn là với cương lĩnh "Nước Mỹ trên hết" (America First). 

Sự sụp đổ của ông Thune sẽ đánh dấu một cuộc thanh trừng đã quá đến lúc phải diễn ra đối với nhóm RINO – những kẻ đã cản trở các nỗ lực đảm bảo an ninh biên giới, thiết lập các thỏa thuận thương mại công bằng, cũng như ngăn chặn các biện pháp đối phó với tầm ảnh hưởng xấu xa của Trung Quốc.

Jonathan G.
Washington, D.C. – Ngày 21 tháng 5 năm 2026



Tiểu bang North Carolina đã chính thức kiện VinFast

Theo Reuters, Tiểu bang North Carolina đã chính thức kiện VinFast vì cho rằng hãng không thực hiện đúng cam kết xây dựng nhà máy xe điện và pin tại Chatham County. (Reuters)

Dự án này từng được công bố với kế hoạch đầu tư hơn 3 tỷ USD và tạo khoảng 7.500 việc làm tại Mỹ. Tuy nhiên, phía bang cho biết công trường gần như không có hoạt động đáng kể hơn một năm qua. (Investing.com)

North Carolina hiện muốn:
• Lấy lại quyền kiểm soát khu đất
• Yêu cầu hoàn trả khoảng 80 triệu USD chi phí chuẩn bị mặt bằng đã hỗ trợ trước đó (The Economic Times)

Phía VinFast cho biết họ chưa nhận được hồ sơ chính thức từ Tiểu bang và nói rằng các thay đổi chính sách EV tại Mỹ đã ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Hãng cũng cho biết đang tiếp tục làm việc với các nhà thầu để triển khai theo kế hoạch mới. (The Economic Times)

Trước đó, Reuters từng đưa tin VinFast đã dời thời gian vận hành nhà máy sang 2028 do điều kiện thị trường EV khó khăn và áp lực tài chính. Công ty hiện cũng đang tái cấu trúc hoạt động để giảm áp lực dòng tiền. (Reuters)

Ngành xe điện hiện cạnh tranh rất mạnh. Không chỉ VinFast mà nhiều hãng EV khác trên thế giới cũng đang phải giảm giá, tái cấu trúc và điều chỉnh kế hoạch mở rộng để thích nghi với thị trường.




ĐỪNG BẮT TÔ PHỞ GÀ GÁNH CẢ NGÀN NĂM VĂN HIẾN














Dạo gần đây, thỉnh thoảng tôi đọc được vài bài viết nghe rất “lên đời” về văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực ở miền ngoài. Nào là ca sĩ miền Bắc có vẻ hợp với nhạc thính phòng hơn, còn ca sĩ miền Nam thì hình như chỉ chuyên trị bolero, nhạc sến, nhạc mùi. Rồi lại có những lời quảng cáo nghe rất trang trọng, kiểu như “Phở gà Hà Nội, nét di sản tinh tế của đất Kinh kỳ.” Thoáng đọc qua thì thấy chữ nghĩa rất có mùi văn hóa, bay lượn như khói trầm trong đình làng. Nhưng ngẫm kỹ, cũng nên thong thả một chút, kẻo tô phở gà chưa kịp nguội mà đã bị bắt đội mão “di sản”, mặc áo “ngàn năm văn hiến”, rồi đứng nghiêm chào lịch sử.

Nói cho ngay, gà thì đâu chẳng có. Phở gà cũng không phải món từ trời rơi xuống riêng cho một vùng đất nào. Món ăn ngon hay dở, phần lớn vẫn nằm ở tay nghề người nấu, kinh nghiệm nêm nếm, cách xử lý nước dùng, và nhất là nguyên liệu có thật sự tươi, sạch, đúng chất hay không. Gà thả vườn, chạy bộ ngoài sân, thịt chắc, da giòn, thơm tự nhiên, dĩ nhiên khác xa với gà công nghiệp nuôi theo lịch trình tăng trưởng nhanh như cán bộ chạy chỉ tiêu cuối quý. Mà giữa Hà thành thời nay, đất còn phải tính từng mét vuông, nhà còn chen nhau thở, thì chuyện nuôi gà thả vườn cho đúng nghĩa ngay đất Kinh kỳ nghe cũng hơi giống một thứ truyền thuyết dân gian thời đô thị hóa.

Những ai từng sống ở Sài Gòn trước đây hẳn cũng dễ nhớ tới quán phở gà Hiền Vương ở quận 3, một quán phở gà nổi tiếng do người gốc Bắc lập nên sau 1954. Sài Gòn thuở đó vốn là đất mở, ai mang theo món ngon, nghề hay, cách nấu khéo, thì cứ tự nhiên góp vào cái nồi chung của thành phố. Người Bắc đem phở vào Nam, người Nam thêm cái rộng rãi, phóng khoáng của mình, rồi món ăn cứ vậy mà sống trong lòng thực khách, không cần phải treo bảng “ngàn năm văn hiến” trước cửa.

Cả Sài Gòn ngày xưa đâu thiếu phở ngon. Có quán lớn, có quán nhỏ, có gánh phở đêm, có xe phở đầu hẻm, có tô phở ăn xong nhớ hoài mà chủ quán chẳng cần biết tới hai chữ “di sản”. Họ chỉ biết nấu cho ngon, bán cho tử tế, khách ăn thấy vừa miệng thì hôm sau quay lại. Vậy thôi mà bền. Cái hay của ẩm thực Sài Gòn là ở chỗ đó, không ồn ào xưng danh, không bắt tô phở phải gồng mình làm đại sứ văn hóa, càng không cần thổi nước dùng thành huyền thoại để chứng minh mình thanh lịch hơn ai.

Tôi không phủ nhận Hà Nội có nét ẩm thực riêng. Không ai rảnh tới mức đi cãi chuyện một tô phở ngon, một bát bún thang khéo, hay một chén nước dùng được nấu có tay nghề. Nhưng ngon là một chuyện, còn đem chữ “di sản”, “tinh tế”, “Kinh kỳ” treo lên khắp nơi lại là chuyện khác. Có khi món ăn chưa kịp đi vào lòng người đã bị quảng cáo kéo lên sân khấu, bắt mặc áo gấm, đội khăn xếp, rồi đọc diễn văn về truyền thống. Tô phở lúc đó không còn là tô phở nữa, mà giống như một đại biểu văn hóa đang bị bắt phát biểu quá giờ.

Chuyện nghệ thuật cũng vậy. Bây giờ nói ca sĩ miền Bắc hợp với thính phòng, ca sĩ miền Nam chỉ hợp bolero, nghe qua tưởng là nhận xét chuyên môn, nhưng thật ra dễ trượt qua kiểu phân chia văn hóa rất buồn cười. Bolero có cái hay của bolero, thính phòng có cái khó của thính phòng. Người hát hay thì ở đâu cũng hay. Người hát dở thì có đứng giữa nhà hát lớn, đèn chùm sáng rực, micro xịn tới đâu, khán giả cũng chỉ mong mau tới giờ nghỉ giải lao. Nghệ thuật không phải cứ khoác áo “bác học” là tự nhiên cao hơn người khác, cũng không phải cứ hát về đời thường, tình nghèo, phận người là thấp hơn ai. Có khi một câu bolero hát đúng nỗi đời còn thật hơn cả một buổi thính phòng mà người nghe chỉ dám vỗ tay vì sợ mình bị coi là thiếu trình độ.

Điều đáng nói là sự “lên đời” văn hóa hôm nay thật ra mới diễn ra trong vài mươi năm gần đây. Trước đó, trong thời bao cấp, thử hỏi cả Hà thành có được bao nhiêu phòng nghe nhạc cho ra hồn, để người ta thong dong thưởng thức thính phòng, jazz, hay những dòng nhạc không phục vụ khẩu hiệu? Lúc ấy, muốn thoát ra khỏi kiểu “tiếng hát át tiếng bom” cũng đâu phải dễ. Chỉ cần thích nghe, thích hát, thích mặc, thích sống hơi khác một chút thôi, người ta đã có thể bị chụp cho cái nón “tiểu tư sản”, “lai căng”, hay nặng hơn nữa là “có vấn đề lập trường”. Cái nón đó hồi xưa không cần chọn size, ai bị chụp cũng vừa.

Ẩm thực cũng vậy. Bây giờ đi đâu cũng thấy bảng hiệu “gia truyền”, “truyền thống ba đời”, “nấu theo lối xưa”, “hương vị Kinh kỳ”, nghe cứ như nhà nào cũng từng có bếp than hồng, nồi nước lèo nghi ngút, gà thả vườn chạy vòng vòng ngoài sân, gia vị tinh tuyển từ đời cụ cố. Nhưng mới đây thôi, trong thời bao cấp, nhiều gia đình củi còn không đủ để đun nồi nước sôi, gạo còn theo tem phiếu, thịt cá là chuyện phải tính từng lạng, nói gì tới chuyện ngày ngày nấu nướng tinh tế, truyền đời, thanh lịch như trong tờ quảng cáo. Không phải quá khứ không có cái hay, nhưng cũng không nên đem cái thiếu thốn, chật vật, kham khổ ngày xưa sơn phết lại thành một bức tranh vàng son để vừa mắt khách hàng hôm nay.

Điều buồn cười hơn nữa là bây giờ người ta rất thích nói tới “di sản”, “phố cổ”, “tinh hoa buôn bán”, “văn hóa hàng quán”, “nghề gia truyền”, “doanh nhân dân tộc”, nghe cứ như cái mạch thương nghiệp tư nhân ấy được nâng niu liên tục từ đời ông cố tới đời cháu nội. Nhưng lịch sử đâu có hiền như tờ quảng cáo. Đã có một thời, người buôn bán bị nhìn bằng con mắt nghi ngại, tiểu thương bị xếp vào diện phải cải tạo, chủ tiệm, chủ xưởng, người có chút vốn liếng, chút nghề nghiệp, chút cửa hàng riêng, đều có thể bị khoác lên người những nhãn hiệu rất nặng như “tư sản”, “tiểu tư sản”, “tư sản mại bản”. Hồi đó mở tiệm thì bị coi là có vấn đề, còn bây giờ mở chuỗi nhà hàng thì được gọi là khởi nghiệp văn hóa. Đúng là lịch sử cũng biết thay áo, chỉ có điều cái áo mới đôi khi che chưa hết vết vá cũ.

Cho nên, khi thấy hôm nay người ta dựng lại những khu phố ẩm thực, những quán cà phê phong cách xưa, những bảng hiệu “gia truyền ba đời”, những nhà hàng treo đèn lồng, bày bàn ghế gỗ, kể chuyện “nét thanh lịch đất Kinh kỳ”, tôi chỉ thấy nên cười nhẹ một cái. Không phải vì những thứ đó không đẹp, mà vì cái đẹp ấy đã từng có lúc bị chính những khẩu hiệu ngày xưa xem là tàn dư của lối sống tư sản. 

Ngày trước, một cái máy may, một tiệm tạp hóa, một quán ăn đông khách, một hiệu buôn nhỏ cũng có thể thành lý lịch kinh tế đáng ngại. Ngày nay, cũng những thứ đó, nếu biết trang trí lại cho sang, gắn thêm chữ “di sản”, “bản sắc”, “tinh hoa”, thì bỗng nhiên trở thành niềm tự hào văn hóa. Cái bàn gỗ ngày xưa là dấu hiệu tiểu tư sản, hôm nay đem lau bóng lại thì thành phong cách hoài cổ.

Cái nghịch lý nằm ở chỗ đó. Một thời thì đánh tư sản, cải tạo thương nghiệp, xem kinh doanh tư nhân như thứ cần uốn nắn. Một thời sau thì lại tôn vinh doanh nhân, cổ vũ kinh tế tư nhân, vỗ tay cho cửa hàng, quán xá, thương hiệu, nhà hàng, khách sạn mọc lên như nấm sau mưa. Lên đời là chuyện đáng mừng, nhưng lên đời mà quên mất cái thời từng đập bể cái thang để người khác không leo lên được, thì câu chuyện văn hóa nghe hơi thiếu thành thật. Hôm qua còn cấm người ta buôn bán, hôm nay lại khen ai biết làm ăn là có “tinh thần dân tộc”, nghe cũng vui, chỉ tiếc là nhiều người bị tịch thu bàn ghế ngày xưa không còn đủ sức ngồi lại để vỗ tay.

Nói vậy không phải để phủ nhận hiện tại. Đất nước khá hơn, người dân làm ăn được hơn, hàng quán đẹp hơn, món ăn phong phú hơn, đời sống có màu sắc hơn, đó là điều đáng quý. Nhưng nếu đã gọi là di sản thì phải nhớ đủ cả hai mặt. Di sản không chỉ là tô phở gà được bày trong cái tô sứ đẹp, với mấy lát lá chanh xắt nhuyễn nằm duyên dáng bên trên. Di sản còn có cả cái thời người ta phải xếp hàng mua gạo, phải đong dầu, phải tính từng bó củi, và phải giấu bớt sự tháo vát của mình vì sợ bị nhìn thành “thành phần kinh tế có vấn đề”. Di sản không chỉ có mùi nước dùng, nó còn có mùi khói bếp, mùi tem phiếu, mùi mồ hôi của những người từng sống qua một thời nói thật cũng khó, nói ngon lại càng khó hơn.

Lên đời là có thật. Kinh tế khá hơn, đời sống mở ra, người ta ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, nghe nhạc đa dạng hơn, đi nhà hàng nhiều hơn, có điều kiện chăm chút cho văn hóa hơn. Đó là điều đáng mừng. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Có cũ mới có mới. Có nghèo khó mới hiểu giá trị của no đủ. Có một thời tem phiếu, củi than, xếp hàng, thiếu thốn, thì hôm nay mới thấy một tô phở nóng, một ly cà phê ngon, một buổi hòa nhạc tử tế là điều quý. Nhưng quý không có nghĩa là phải dựng lại quá khứ theo kiểu lộng lẫy hóa, biến những năm tháng chưa mấy sáng sủa thành cái phông nền sang trọng để đánh bóng cái hào nhoáng hiện giờ. Nói nôm na, cái nồi từng thiếu củi thì đừng kể lại như thể lúc nào cũng hầm xương bằng lửa văn hiến.

Nói thật chẳng có gì khó. Khó là nói thật mà vẫn không làm mất vui. Phở gà ngon thì cứ khen ngon. Phở gà Hà Nội ngon thì cứ khen phở gà Hà Nội. Phở gà Hiền Vương ở Sài Gòn từng được nhiều người nhớ thì cứ ghi nhận là đáng nhớ. Ca sĩ hát hay thì cứ khen hát hay. Hà Nội có nét riêng thì cứ ghi nhận nét riêng. Miền Nam có bolero, có cải lương, có giọng ca mùi mẫn, có cái hồn bình dân, thì cũng chẳng có gì phải xấu hổ. Văn hóa không phải cái thang máy để ai đó bấm nút lên tầng cao rồi nhìn xuống người khác. Văn hóa, nếu thật sự là văn hóa, thì phải đủ rộng để chứa cả nhà hát lớn lẫn quán cóc, cả thính phòng lẫn bolero, cả phở gà Hà Nội lẫn tô hủ tiếu miền Tây lúc sáng sớm bên bờ sông.

Cho nên, xin cứ thưởng thức, cứ quảng bá, cứ tự hào, nhưng cũng nên chừa lại một khoảng trống cho sự thật. Bởi cái gì ngon thì tự nó có hương. Cái gì đẹp thì tự nó có dáng. Còn cái gì phải nhờ quá nhiều mỹ từ để đứng vững, thì đôi khi không phải vì nó quá tinh tế, mà vì nó đang hơi thiếu nước dùng. Phở ngon thì để người ăn nhớ, không cần bắt người ăn phải học sử trước khi húp nước lèo.

Lịch sử không phải cái khăn trải bàn để phủ lên những vết xước cũ. Nó là cái mặt bàn thiệt, có chỗ bóng, chỗ sứt, chỗ cháy cạnh, chỗ còn nguyên dấu dao. Nhìn thẳng vào đó thì câu chuyện văn hóa mới có chiều sâu. Còn chỉ đánh bóng cho sáng, rồi gọi đó là “di sản”, thì e rằng không phải văn hóa đang lên đời, mà chỉ là cái bảng hiệu đang được thay phông chữ.

- Fb Bí Bếp.



Ai Đã Đặt Tên Bố Già?

Một buổi sáng tháng Chạp năm 1972, một người đàn ông gầy ốm, mặt nhỏ choắt, mặc chiếc sơ mi màu cháo lòng, tay áo thả dài xuống lấp cả hai bàn tay, bước vào tòa soạn tạp chí Văn trên đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn. Mai Thảo giới thiệu với tôi (Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng - Tôi Nhớ chú thích) anh là Tú tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả cuốn Bố Già của Mario Puzo.

“Mình đi uống cà phê đi!” - Mai Thảo rủ cả hai chúng tôi (Nguyễn Xuân Hoàng và Ngọc Thứ Lang - Tôi Nhớ chú thích). Quán cà phê nhỏ nằm bên hông tòa soạn của bà Tư (Tôi không nhớ tên bà có đúng là bà Tư không, nhưng tôi nhớ bà là người Nam rất dễ tính, xởi lởi và hệch hạc). Bà vẫn thường cho tôi ghi sổ nợ để cuối tháng trả một lần cho tiện, mặc dù tôi ít khi được dịp trả nợ, vì Bố già Vượng luôn luôn “thanh toán hộ” tôi trước kỳ hạn. Thường tôi vẫn ra ngồi cà phê sáng ở quán Cái Chùa với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, chỉ hôm nào không ra ngồi ở Quán Cái Chùa, chúng tôi mới ăn sáng ở quán bà Tư - ở đây không có gì khác hơn là bánh mì hột gà (ốp-la hay ô-mơ-lét) và cà phê đen hay sữa. Quán nhỏ nằm bên hông nhà của một tiệm ảnh sát bên tòa soạn Văn, chỉ có hai ba chiếc ghế lèo tèo, loại ghế cao đóng bằng gỗ tạp.

Ngọc Thứ Lang ít nói. Và Mai Thảo hôm đó cũng không nói gì nhiều. Chưa uống hết ly cà phê, Ngọc Thứ Lang là người đứng dậy trước dợm bước đi, tôi thấy Mai Thảo đứng dậy theo và kín đáo dúi vào tay Ngọc Thứ Lang mấy tờ giấy bạc. Đó là lần đầu tiên và lần duy nhất tôi gặp dịch giả Bố Già. Tôi không có cơ hội nào khác để gặp anh. Tôi đọc cuốn Bố Già bản tiếng Việt của Ngọc Thứ Lang và cuốn sách đã lôi cuốn tôi mạnh mẽ. Thời gian đó tôi đang thực hiện một loạt bài dưới tên Nhà Văn Ở Phút Nói Thật, phỏng vấn các nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Mai Thảo, Bùi Giáng, Viên Linh, Nguyễn Mạnh Côn… Bỗng nhiên sau hôm đó, tôi thấy muốn phỏng vấn một người dịch là Ngọc Thứ Lang.

Bố Già Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tờ Văn cười bảo tôi, phỏng vấn chi người dịch Bố Già, cứ phỏng vấn trực tiếp Bố Già có hơn không - Bởi vì tôi vẫn thường gọi ông là Bố Già mà! Tuy nhiên thời gian đó có quá nhiều việc phải làm nên tôi quên luôn chuyện đi tìm anh Ngọc Thứ Lang để hỏi vì đâu anh nắm bắt được cái ngôn ngữ kỳ lạ của thế giới mafia như thế.

Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt mà chúng tôi vẫn chưa được xem Bố Già trên màn ảnh lớn. Bố Già Nguyễn Đình Vượng thì đã mất trước đó một năm. Gia đình, bạn bè thì đã ly tán. Cả thành phố chìm trong bóng tối. Tôi quên mất Bố Già Mario Puzo. Tôi cũng không nhớ có một người tên là Ngọc Thứ Lang đã dịch cuốn Bố Già tuyệt hay.

Năm 1986 từ Bataan Phi Luật Tân đến Mỹ, tình cờ tôi được xem cuốn video Bố Già. Tôi có cái cảm giác giống như anh Hoàng Hải Thủy, cuốn phim không lôi cuốn tôi như khi tôi đọc sách, mặc dù đó là một trong những tác phẩm lớn của điện ảnh Hoa Kỳ. Sự chờ đợi quá lâu đã làm tình cảm người ta nguội lạnh chăng? Tôi không tin là như thế. Bởi vì, có những tác phẩm, như cuốn Bác Sĩ Zhivago, sau bao nhiêu năm giờ đây xem lại vẫn làm trái tim tôi rung động như mới ngày nào vừa gặp người đàn bà định mệnh Lara từ cuốn tiểu thuyết của Boris Pasternak bước lên màn ảnh. Khuôn mặt đam mê quyến rũ ấy cứ theo đuổi tôi mãi suốt những tháng năm trong đời mình.

Thời gian đã cắt bỏ một góc trí nhớ này, ráp nối một månh ký ức khác. Giống như miếng bánh tráng nướng dòn trong tô Mì Quảng bao giờ cũng làm sống lại trong tôi cái hình ảnh dịu dàng của mẹ tôi một buổi chiều ngồi trước sân nhà trên tỉnh lộ Mười Ba ngó qua khoảnh sân bóng ngập cỏ với cái khán đài không mái che và những hàng ghế gỗ xộc xệch long đinh ván cong lên hay đã gẫy.

Và cái bản tin tôi đọc được cho biết tác giả The Godfather đã qua đời hôm 1 tháng Bảy tại thành phố Bay Shore, New York, thọ 78 tuổi, làm tôi nhớ lại hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc sơ mi màu cháo lòng, hai tay áo dài che lấp hai bàn tay, một buổi sáng nào đã bước vào tòa soạn tạp chí Văn trên đường Phạm Ngũ Lão. Bây giờ anh ấy ở đâu, người dịch giả tài năng ấy? 

Hoàng Hải Thủy nói Ngọc Thứ Lang mất cách nay cũng đã 20 năm rồi. Sau 1975, hai nhà xuất bản ở Việt Nam giành nhau in lại bản dịch Bố Già của anh, giờ đây không phải trả tiền bản quyền người dịch nữa. Một nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng đã in Bố Già và cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.

Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết best-seller từng bán đến 21 triệu quyển, qua đời ở nhà riêng trong thành phố Bay Shore, New York, ngày Một tháng Bảy 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. 

Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già, qua đời ở trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con. Theo trí nhớ Hoàng Hải Thủy thì ông đã gặp Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, công tử Bắc Kỳ vào năm 1951 tại Sài Gòn. Đó là năm mà cả hai ông đều mới ở tuổi đôi mươi. Thế nhưng ở vào tuổi đó, Tú đã là người chơi trội hơn Hoàng Hải Thủy nhiều: Đánh roulette ở sòng bạc Kim Chung và hút thuốc phiện. 

Năm 1955, mới chừng 25 tuổi, Nguyễn Ngọc Tú đã kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển Tại sao tôi di cư cho Bộ Thông Tin chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thời bộ trưởng Phạm Xuân Thái. Năm đó Nguyễn Ngọc Tú có trong tay cả trăm ngàn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Anh ăn diện như một tay chơi thứ thiệt, áo sơ-mi hàng nhập từ Paris sang chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, máy chữ, hút thuốc lá Philip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát...

Vào giai đoạn đó, Nguyễn Ngọc Tú gặp tình yêu. Nhưng mối tình trắc trở. Người yêu anh tự tử và cuộc đời anh bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong căn nhà bán thuốc phiện ở khu Monceaux, Tân Định. Ăn, hút và ngủ luôn trong nhà đó. Để có tiền hút, Tú bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da… Anh trở thành người nghiện nặng. 

Những năm 70 anh viết cho tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và nhiều báo khác với bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Khi Nguyễn Đức Nhuận đưa cuốn The Godfather cho Ngọc Thứ Lang dịch, anh đã chọn tên Bố Già cho bản dịch của mình. Và cuốn sách trở thành tác phẩm ăn khách của Sài Gòn những năm 71-72. 

Năm 1976, anh bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Trung tâm cai ma túy nằm trong tòa nhà Tu viện Fatima. Một nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung tâm ngạc nhiên khi biết Nguyễn Ngọc Tú, một con người thân tàn ma dại đang đứng trước mặt mình là dịch giả cuốn The Godfather của Mario Puzo. Cô nhà báo không tin. Và anh được phép về Sài Gòn mang cuốn sách dịch lên Trung tâm cho cô ký giả thấy là thật.

Người ta còn nhớ khi cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ của Mario Puzo được Ngọc Thứ Lang chuyển ngữ vào năm 1972 dưới tên Bố Già thì lập tức, như tác phẩm nguyên bản của nó, Bố Già trở thành cuốn sách ăn khách nhất thời bấy giờ, mặc dù đó là thời điểm mà cuộc chiến Việt Nam đang bước vào những giây phút ác liệt nhất, thời mà Phan Nhật Nam viết Mùa hè đỏ lửa.

Người Sài Gòn rất mê cuốn tiểu thuyết Bố Già, và chờ đợi xem cuốn phim thực hiện theo tác phẩm này, thế nhưng cho đến năm 1975, chưa người Sài Gòn nào được xem phim Bố Già do Marlon Brando đóng vai Don Corleone. 

Mặc dù như lời Hoàng Hải Thủy, ngay từ đầu năm 1975, người ta đã cho nhập cảng cuốn phim này vào Việt Nam, nhưng phim vẫn chưa được trình chiếu trước công chúng. Tại sao? Hoàng Hải Thủy cho biết vì những người nhập phim còn chờ đợi ngày lành tháng tốt mới đem ra chiếu để hốt bạc. Sự chờ đợi của những con buôn ấy không bao giờ trở thành hiện thực. Cuốn phim ấy đã đi qua và mãi hơn 20 năm sau người Sài Gòn mới được xem Bố Già trên băng video.

Với Mario Puzo, sau Bố Già ông vẫn không ngừng viết. Năm 1996, ông viết The Last Don – Bố Già Cuối Cùng, nhưng không mấy ăn khách, và tác phẩm cuối cùng của ông là Omerta (Luật Kín Miệng) được ấn hành năm 2000. Đó là cuốn sách mà tác giả không còn cơ hội nhìn thấy mặt mũi chính đứa con tinh thần của mình.

Nguyen Martha




SINH VIEN GỐC TÀU DÙNG ID GIẢ LỪA ĐẢO MUA XE TESLA 

Một phụ nữ 24 tuổi quốc tịch Tàu cộng bị bắt ở South Florida sau khi dùng giấy tờ giả để mua Tesla Model X; nhà chức trách nghi ngờ đây là mắt xích trong đường dây gian lận xe cao cấp có liên hệ từ California đến Tàu cộng.

Chuting Chen, 24 tuổi, công dân Trung cộng cư trú tại Miami-Dale, Florida, đã bị bắt ngày 9/2/2026 với một số cáo buộc hình sự:

- âm mưu lừa đảo tổ chức tài chính,
- lừa đảo có tổ chức,
- trộm cắp tài sản giá trị lớn,
- sử dụng giấy tờ tùy thân giả và chuyển nhượng giấy chủ quyền xe không hợp pháp.

Chen tìm cách mua một chiếc Tesla Model X trị giá $101,630 USD bằng giấy phép lái xe giả mang danh tính người khác có điểm tín dụng cao. Cô ta xuất trình cashier’s check trị giá $10,802.39 USD từ một doanh nghiệp ở Montana mà khai là do mình sở hữu.

Điều tra cho thấy Chen đã mua giấy tờ tùy thân giả trên mạng với giá chỉ $100 Mỹ kim để “mượn” credit của người khác. Ngoài ra, cô còn điều hành một công ty vỏ bọc tại hai tiểu bang Montana và California, đồng thời chuyển khoản $38,250 Mỹ kim làm tiền đặt cọc xe vào ngày 2/2/2026.

Cô sinh viên du học Chen thừa nhận là thành viên của một tổ chức gian lận có hệ thống hoạt động từ California và Tàu cộng; đồng phạm hiện đang ở Đại lục. Cảnh sát phát hiện trong xe của Chen 32 giấy chứng nhận chủ quyền xe California và 46 giấy chứng nhận nguồn gốc xe – những tài liệu được dùng để đăng ký xe gian lận và có thể xuất cảng ra nước ngoài.

FBI nhận định đây chỉ là một phần trong đường dây tội phạm xuyên quốc gia nhắm vào xe cao cấp, đặc biệt là Tesla. Thủ đoạn phổ biến là dùng danh tính giả, credit đánh cắp và công ty bình phong để mua xe rồi xuất cảng hoặc bán lại kiếm lời.

Qua sự kiện này làm dấy lên lo ngại về tình trạng tội phạm tài chính có yếu tố nước ngoài trà trộn vào Mỹ, lợi dụng kẽ hở hệ thống tín dụng và đăng ký xe để trục lợi. Cuộc điều tra đang được mở rộng nhằm xác định quy mô thực sự nhiều mạng lưới quốc tế đứng sau.

Chuyện này mà sinh viên Tàu cộng cũng làm được thì ở Mỹ có biết bao nhiêu Tàu Cộng nằm vùng làm gián điệp???

Tàu cộng và Việt cộng không thể tin được…

Thật đáng quan ngại !

Chris Phan… thực hiện


ĐỊNH MỆNH AN BÀI

Có những câu chuyện tình yêu vượt qua cả sự tưởng tượng của những nhà biên kịch tài hoa nhất, và câu chuyện của cô Lâm Hiểu Phân (Lin Xiaofen) cùng anh Liên Chí Thành (Lian Zhicheng) tại Đài Loan chính là một minh chứng như thế. Một lần hiến máu vô danh cứu người từ 11 năm trước đã vô tình gieo một sợi dây tơ hồng, kết duyên cho hai người xa lạ trở thành bạn đời của nhau trong tương lai.

* Biến cố sinh tử và giọt máu cứu mạng của người lạ *

Năm 2008, cô Lâm Hiểu Phân (khi đó đang sống tại Đài Bắc) bất ngờ lâm vào tình trạng nguy kịch do hội chứng rối loạn đông máu nghiêm trọng. Cô rơi vào hôn mê sâu, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc vì mất máu quá nhiều. Để giật lại mạng sống từ tay tử thần, các bác sĩ đã phải truyền cho cô tổng cộng 10 đơn vị máu toàn phần và 2 đơn vị tiểu cầu phân tách.

Nhờ những giọt máu kịp thời của những người hiến tặng vô danh, Lâm Hiểu Phân đã bình phục thần kỳ. Sau khi khỏe lại, cô luôn đau đáu lòng biết ơn đối với những ân nhân xa lạ đã cứu mình năm xưa, dù biết rằng quy định bảo mật y tế sẽ chẳng bao giờ cho cô cơ hội được gặp họ.

Lời nói đùa định mệnh của anh bán bánh ú

Nhiều năm sau biến cố, cô Lâm quyết định rời Đài Bắc để quay về quê nhà ở Tân Trúc tiếp quản công việc kinh doanh của gia đình. Tại đây, định mệnh đã sắp đặt cho cô gặp gỡ anh Liên Chí Thành, một người đàn ông hiền lành làm nghề bán bánh ú truyền thống. Hai người nhanh chóng nảy sinh tình cảm vì cảm thấy có một sự thấu cảm kỳ lạ, một cảm giác thân thuộc như thể họ đã quen nhau từ kiếp trước.

Trong một lần trò chuyện tâm sự, cô Lâm kể lại ký ức kinh hoàng năm xưa khi mình suýt chết và được cứu sống nhờ lượng máu hiến tặng của những người xa lạ. Nghe thấy vậy, anh Liên, vốn là một người hiến máu tình nguyện thường xuyên, đã mỉm cười nói đùa rằng: "Biết đâu trong số những người hiến máu năm đó lại có anh đấy!"

Hành trình vén màn bí mật khiến mọi người xúc động

Lời nói đùa của người yêu khiến cô Lâm nảy sinh sự tò mò lớn. Cô quyết định liên lac với các trung tâm hiến máu và bệnh viện tại Đài Bắc để tìm hiểu thông tin. Ban đầu, các nhân viên tổng đài đã từ chối thẳng thừng vì quy định bảo mật thông tin cá nhân tại Đài Loan vô cùng nghiêm ngặt.

Tuy nhiên, trước sự kiên trì và câu chuyện tình yêu chân thành của cô Lâm, một nhân viên y tế đã bị thuyết phục và đồng ý kiểm tra bảo mật trên hệ thống. Nhân viên này tiết lộ họ của người hiến đơn vị tiểu cầu quan trọng năm xưa là "Liên". Khi nhân viên đọc những chữ số đầu của số căn cước công dân của người hiến, cô Lin đã tự mình đọc tiếp các chữ số cuối cùng để đối chiếu với số của anh Liên Chí Thành.

Khi mọi con số trùng khớp hoàn toàn, cả cô Lâm và nhân viên y tế ở đầu dây bên kia đều bật khóc vì kinh ngạc. Người hiến đơn vị tiểu cầu phân tách cứu mạng cô 11 năm trước, người đã dành 2 tiếng đồng hồ nằm trên máy lọc máu để trao đi hy vọng sống cho cô, không ai khác chính là người đàn ông đang ở bên cạnh cô hiện tại.

Sự an bài tuyệt vời của số phận

Hóa ra vào thời điểm cô Lâm gặp nạn, anh Liên cũng đang sinh sống tại Đài Bắc và đã hiến máu tổng cộng hơn 470 lần trong suốt nhiều năm nhờ nền tảng sức khỏe rất tốt. Mẹ của cô Lâm khi biết chuyện đã vô cùng xúc động. Bà chia sẻ rằng ngay từ lần đầu tiên gặp anh Liên tại cửa hàng, bà đã có một thiện cảm đặc biệt và cảm giác rất gần gũi. Bà nói vui: "Hóa ra anh ấy đã là ân nhân cứu mạng con gái tôi từ trước khi hai đứa quen nhau. Đây đúng là định mệnh đã an bài."

Đến năm 2018, họ chính thức tổ chức đám cưới và về chung một nhà tại thành phố Tân Trúc, Đài Loan. Hiện tại, cả hai đang cùng nhau quản lý một cửa hàng bánh ú truyền thống rất nổi tiếng tại địa phương có tên là "Sảo Qua Nhục Tống" (傻瓜肉粽).

Câu chuyện kỳ diệu của vợ chồng anh Liên và cô Lâm sau khi được lan truyền đã làm tan chảy trái tim của hàng triệu cư dân mạng. Anh Liên cũng tích cực tận dụng câu chuyện của mình để kêu gọi mọi người tham gia hiến máu tình nguyện với một thông điệp vô cùng lãng mạn: "Hãy đi hiến máu ngay từ bây giờ đi, vì biết đâu bạn sẽ có cơ hội cứu mạng người vợ tương lai của mình đấy!"

PHAM TUAN ANH



JEFF BEZOS VỪA ĐẶT MỘT CÂU HỎI MÀ NƯỚC MỸ SẼ PHẢI TRANH LUẬN NGÀY CÀNG NHIỀU

Một y tá tại Queens kiếm khoảng 75,000 đô la mỗi năm.

Jeff Bezos nói người này không nên phải đóng federal income tax.

Nghe qua, nhiều người lập tức nghĩ đây chỉ là billionaire PR.
Nhưng câu chuyện thật ra sâu hơn nhiều.

75,000 đô la tại New York City không còn là mức sống “dễ chịu”.
Sau federal tax, state tax, city tax, tiền thuê nhà, thực phẩm và transportation…
Rất nhiều người thuộc tầng lớp lao động chuyên môn hiện chỉ đang “survive”, không thật sự xây dựng tài sản.

Điều Bezos nói phản ánh một vấn đề lớn hơn:
Chi phí sống tại Mỹ đã tăng nhanh hơn rất nhiều so với cảm nhận của hệ thống thuế và tiền lương truyền thống.

Nhưng đây là phần khó nhất mà ít người muốn nói tới:
Nếu một nửa nước Mỹ gần như không đóng federal income tax…
Ai sẽ trả cho hệ thống?

Hoặc:
Người giàu đóng nhiều hơn.
Chính phủ chi ít hơn.
Hoặc deficit tiếp tục tăng mạnh hơn nữa.
Không có phép toán nào khác.

Đó là lý do các cuộc tranh luận về thuế tại Mỹ ngày càng phức tạp.
Đây không còn chỉ là câu chuyện “đánh thuế người giàu”.

Mà là bài toán giữa:
Chi phí sống.
Bất bình đẳng tài sản.
Chi tiêu chính phủ.
Và sustainability của hệ thống tài khóa.

Như đã trình bày trong Making Sense of the Stock Market, tài chánh quốc gia cuối cùng cũng giống tài chánh cá nhân:

Tiền phải đến từ đâu đó.
Và nếu chi phí tăng nhanh hơn nguồn thu quá lâu, hệ thống sẽ chịu áp lực rất lớn.

Có thể Bezos đúng rằng nhiều người lao động Mỹ đang bị đánh thuế quá nặng.

Nhưng câu hỏi lớn hơn vẫn còn đó:
Nước Mỹ sẽ cân bằng bài toán đó bằng cách nào?

Luan Vo



Blog Archive