Sunday, June 21, 2026

BÚN RIÊU

Tác Giả: Đặng Hồng Nam
May 13th, 2026

Chẳng cần nói ai cũng hiểu đấy là bún riêu cua. Cua đồng rửa sạch, bóc mai, bóc yếm, cho vào cối giã. Khi giã cua nhớ cho vào đấy mấy hạt muối để cho đỡ bị bắn nhưng điều quan trọng là nồi riêu sẽ có vị đậm hơn lúc nêm nếm mới cho. Cua giã tay ngon hơn xay bằng máy vì nó lấy được hết nước ngọt của con cua mà không bị lẫn quá nhiều bột vỏ. Lọc lấy nước, cho vào một ít mắm tôm. Mắm tôm cho vào khi chưa đun thì không bị mùi, ấy thế nhưng khi ăn người ta vẫn thích quệt vào bát một ít mắm tôm sống. Khi nước nóng già thì lọc vào đấy một ít mẻ, sao cho vừa đủ chua. Đun vừa lửa, đừng để nó sôi bùng lên mà vỡ hết gạch cua. Gạch là lớp thịt cua nổi lên trên mặt nồi nước đang sôi. Chỉ sôi vài tấp là lớp gạch ấy đã chín đều.

Cũng gọi là gạch nhưng chỉ một tí cái thứ đo đỏ, vàng vàng bám vào một góc mai cua. Người ta phải lấy tăm mà khều, khều hết cả một rổ cua mới được một lớp dính vừa đáy bát. Phi hành mỡ, cho cái gạch đó vào để làm nước màu. Cho nó vào nồi riêu đang sôi, nó tan ra thành muôn vàn ngôi sao nhỏ li ti, sáng lấp lánh. Một mùi thơm dìu dịu toả ra. Cái mùi thơm ấy người ta chỉ cảm thấy được thôi chứ không ngửi được một cách rõ ràng. Không có thứ nước màu ấy nồi riêu cua như chỉ có sắc mà không có hồn. Chính vì thế mà từ xưa đến nay, ăn cua đồng, dù là nấu canh hay nấu riêu, dù chỉ có vài ba con bé tẹo, người ta không bao giờ bỏ đi cái thứ tí ti nằm ở góc mai con cua ấy. Để tăng màu đỏ và cũng thêm vị chua người ta thường cho thêm cà chua. Người ta cũng có thể gia tăng các vị chua khác bằng một ít giấm bỗng, vài lát khế, mấy quả me hay một hai quả dọc, nhưng vị chua của mẻ thì hợp kinh khủng, không gì có thể thay thế được. Bún chần thật nóng cho vào bát, đặt lên đấy một phần gạch cua, hành, húng, mùi, tía tô rồi chan nước riêu, thế là ta được một bát bún riêu.

Ăn bún riêu nhất định phải có rau ghém.

Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ta

Ghém riêu cua ngon nhất là rau diếp. Rau diếp thái sợi, nó quyện vào với bún, ăn bằng nào cũng vừa. Bây giờ rau diếp ít có bán, thỉnh thoảng mới gặp ở những chợ vùng quê. Xà lách thì sẵn. Xà lách ăn thay rau diếp cũng được nhưng hơi mỏng và thiếu vị chát. Người ta cũng có thể ăn kèm với hoa chuối, thân chuối thái mỏng, giá sống, rau muống chẻ. Tôi nhớ hồi nhỏ có lần về quê, người anh họ đi bắt được một giỏ cua đầy, tất cả chỉ nấu riêu một bữa. Nồi riêu cua đặc sít sịt. Cả một rổ rau muống thái nhỏ, ở quê không chẻ rau như ở thành phố, rau thái như thế có vẻ không được nhã cho lắm nhưng khi ăn lại có cái khoái riêng. Múc riêu vào bát rồi thả rau muống vào ăn, cái bùi cái béo của cua trộn với cái giòn cái chát của rau, vừa húp xì xộp vừa nhai rau ráu, chẳng mấy chốc mà rổ rau hết nhẵn. Nói chung, nồi riêu cua càng đặc càng ngon thì càng được thoả thích ăn rau. Ăn như thế cũng có thể gọi là “ăn cho sướng miệng”. Ăn cho sướng miệng như thế thì cũng chẳng hết bao nhiêu tiền mà chả lo gì béo phì hay những bệnh do thừa chất dinh dưỡng.

Cũng có khi người ta dùng bún sợi to như cái đũa, gọi là bún đũa, đặt một lớp bún vào bát rồi một lớp rau muống luộc lên trên, loại rau muống trắng luộc vừa chín tới, cọng nào cọng nấy cứ xanh ngần ngật, mềm như bún, thêm mấy cọng rau rút rồi chan nước riêu. Mùa đông rau muống không ngon người ta thay bằng rau cần, ăn cũng thích.

Ngày xưa cua đồng rất sẵn. Bên bờ ruộng lúa chỗ nào cũng có vài ba cái mai cua, lúc nào cũng có thể bắt gặp một anh chàng hay một cô nàng cua thập thò trong một cái hang. Lần quanh gốc lúa cũng có thể bắt được vài ba con. Nhấc một túm bèo tây lên, rất dễ tóm được một chú cua đang giơ càng lên trong đám rễ bèo. Cua ở nhà quê người ta chỉ bán mớ thế nhưng đem ra thành phố thì lại bán theo từng sóc. Sóc cua được buộc rất khéo. Hai cái nan tre kẹp ngang hai bên con cua, cách mỗi con cua được quấn một sợi rơm, sóc cua như một cái thang nhỏ, đầu thang là con to nhất, cuối thang con nhỏ nhất. Một sóc cua như vậy chừng hai mươi con, giá hồi ấy chừng hai hào. Mỗi gia đình khi đi chợ thường chỉ mua hai sóc, thường chỉ dám nấu canh. Canh cua rau đay lẫn với mướp. Trời nóng, đi đâu về mệt, được một bát như thế mà húp thì tỉnh cả người.

Người ta bảo cua đồng là thứ dưỡng chất rất tuyệt vời. Chẳng biết có phải như thế không. Ngày xưa, những người ốm yếu cần lấy lại sức, người ta thường cho uống nước cua đồng. Cua giã ra, lọc nước, cứ thế mà uống. Người ta cũng lấy cua giã ra, trộn với gừng, đắp vào những vết thương để cho mau lành. Khi một đám võ này định hạ đám võ kia, họ thề với nhau “cho cha con nhà nó uống nước cua sống”.

Tôi nhớ một buổi tối dừng xe nghỉ lại thành phố Qui Nhơn. Nhờ chỉ dẫn của một người bạn, chúng tôi tìm đến một hàng ăn ở gần tượng đài Quang Trung. Bữa ăn thật là ngon. Ngon nhất là món canh cua. Rau lang chấm mắm cua cũng rất tuyệt. Ở ngoài Bắc xưa người ta cũng có làm mắm cua nhưng lâu nay không có nữa, thường chỉ ăn rau lang với nước mắm cáy. Hỏi ra mới được biết cua ở hai bên bờ sông Côn có vị ngon không mấy đâu có được. Người Bình Định giỏi võ có lẽ cũng nhờ những con cua như thế cũng nên.

Những người sống lâu năm ở nước ngoài khi nhớ về quê nhà hẳn có nhiều người nhớ đến bát canh cua đồng, nhớ đến bát riêu cua. Ngày xưa ông Nguyễn Trung Ngạn, vị quan triều Trần, khi đi sứ nhớ ở quê nhà lúa đang trổ bông, cua đang béo thì ước có thể bỏ ngay đất Giang Nam mà về.

Phải được nhìn thấy những người phụ nữ điệu đàng bên bát bún riêu trên các vỉa hè của đường phố Hà Nội. Cuộc sống dẫu có nhiều thay đổi, người ta có thể có nhiều những thứ ngon thứ bổ hơn nhưng vẫn không thể quên được món quà quê xoàng xĩnh ấy. Cũng có những cố gắng làm sang lên cho bát bún riêu. Người ta thêm vào đấy nào ốc, nào bắp bò, chả viên, chả cá… Cũng chẳng sao. Nhưng bát bún riêu chỉ cần cua thật ngon, thật đặc và thêm mấy miếng đậu phụ rán vàng.

Đi qua hàng bún riêu ta như bị đánh thức bởi cái mùi tanh dìu dịu của cua đồng, mùi thơm của hành phi, mùi chua của mẻ, giấm và các thứ quả chua, ta không cưỡng được lòng ham muốn ngồi lại và gọi lấy một bát. Ta bỗng bị chìm trong đủ thứ sắc màu, màu đỏ chói chang của cà chua, màu xốn xang của đậu phụ rán vàng, màu trắng thanh bạch của bún, màu xanh tươi mát của các loại rau, và thêm nữa, màu ớt và son môi.

Đặng Hồng Nam – 2015

TUẦN LỄ TỴ NẠN 2026

Tuần Lễ Tỵ Nạn năm nay đánh dấu 40 năm Tuần Lễ Tỵ Nạn đầu tiên được tổ chức tại Sydney. Tuần lễ này cũng đánh dấu 46 năm đại gia đình chúng tôi được tái định cư tại Nam Úc trong dịp sinh nhật của Nữ Hoàng Elizabeth II. Những năm tháng bình yên được lớn lên trong tình thương yêu của ba mẹ và gia đình, nhưng tôi chưa bao giờ quên ngày 12 và 13 tháng Sáu, ngày rời trại tỵ nạn Hồng Kông và ngày đến Úc. Hai ngày này cũng là sinh nhật của anh ruột và anh rễ của tôi nên dường như năm nào cả đại gia đình đều nhắc nhau và kể lại chuyện vượt biên.

Năm 1979, khi anh trai tôi được ra khỏi trại tù, hai chị gái cũng đã bị đẩy ra nơi đèo heo hút gió để day học, công an khu vực vẫn không ngừng khủng bố tinh thần Ba tôi, nên Mẹ tôi quyết định đưa cả nhà trốn đi, mặc dù nơi đến là vô định hay dù phải chết trên biển.

Nỗi sợ hãi khi trốn dưới chiếc thuyền mong manh nước ngập nửa người để chờ đưa ra chiếc thuyền lớn hơn một chút, không bằng một chút sợ hãi khi bị chiếc thuyền công an đuổi bắt và Mẹ tôi đã nói với một giọng cương quyết “cả nhà cùng chết chứ không để công an bắt lại”.

Có lẽ ơn trên che chở nên chiếc thuyền của gia đình chúng tôi thoát qua được hải phận, không bị bắt lại, chiếc thuyền tiếp tục theo kế hoạch qua Philippines. Nhưng ngay sau đó, thuyền chúng tôi gặp những cơn sóng lớn phủ ập xuống thuyền, đôi lúc như cuốn xoáy, nhận chìm chiếc thuyền vào lòng biển cả.

Sau cả ngày chống chọi với cơn bão, mưa và gió xoáy, những người đàn ông trên thuyền đều quá mệt vì tát nước và cố gắng giữ con thuyền đừng bị lật. Anh tôi kể lại, Ba và anh lúc đó trùm chiếc poncho vừa che mưa tạt vừa như muốn che mắt lại để không nhìn thấy những cơn sóng phủ trùm lên như muốn nuốt chửng chiếc thuyền. Ba bảo hai anh lớn ráng giữ cho con thuyền nương theo sóng, chứ đừng cố gắng băng qua theo hướng mình muốn đi nữa, rồi tới đâu hay tới đó. Tôi lúc đó say sóng như chết nhưng vẫn còn nghe tiếng Mẹ bảo cả thuyền cầu nguyện.

Nhớ lúc đó tiếng sóng gào, tiếng mưa tạt vào tấm bạt át đi lời cầu nguyện, chỉ còn văng vẳng tiếng nấc nghẹn giữa tiếng cầu kinh.

Khoảnh khắc tối đen đến lặng người. Giữa sự sống và cái chết trong cơn giông tố điên cuồng.

Trời sáng, chiếc thuyền bị vướng vào san hô và mắc kẹt. Ai nấy đều vui mừng vì còn sống sót sau cơn bão, không biết nghĩ đến cái nguy hiểm đang gần kề.

Mưa tạnh, có chút nắng ấm nhưng trời vẫn lạnh buốt. Mạn thuyền vẫn còn đẫm nước, trơn trượt. Tôi cố bám để leo lên phơi nắng. Ở cái tuổi chưa biết lo nhiều và qua nhiều ngày say sóng, không thấy nắng, tôi thèm thấy bầu trời và thèm những hạt nắng soi lên làn da đã sạm khô nước, bám đầy muối.

Sau cơn bão, trên thuyền nước, gạo, thực phẩm, dầu cho máy ghe, tất cả mọi thứ bị trộn lẫn vào nhau và một số bị cuốn đi. Mẹ gom được một ít mật ong, sửa đặc cho mọi người cầm sức. Chân các anh tôi và anh rễ bị san hô cắt đứt vì xuống đẩy chiếc thuyền ra chỗ mắc cạn, máu tuôn lai láng. Chỉ có nước biển dùng làm sát trùng và mảnh áo xé vội buộc vết thương.

Sau nhiều ngày chạy dọc theo ven biển vì sợ còn bão, xa xa thấy nước biển hồng như nước sông, có lúc thấp thoáng thấy nhà ven núi, anh tôi nói có thể thuyền đã bị bão đẩy vào hướng Trung Quốc. Lúc này nỗi lo bị Trung cộng bắt giữ càng khủng khiếp hơn là hết nước, hết lương thực và hết dầu.

May thay, thấy một chiếc thuyền đánh cá lớn của ngư dân Trung Quốc, trên thuyền có người biết tiếng Hoa và Ba tôi đọc được chữ Hán nên ngoắc cầu cứu. Họ đòi trao đổi dầu với những nữ trang họ thích trên tay chị Hai tôi, rồi họ chỉ chúng tôi đi về hướng Hồng Kông.

Cuối cùng sau 10 ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi nhìn thấy một khu đèn sáng rực, cứ tưởng là Hồng Kông nên mừng quá đâm thẳng vào. Nào ngờ đó là chiếc tàu của nước Anh. Được thuyền trưởng cho trẻ em và phụ nữ lên tàu tắm và ăn uống trước khi chỉ chúng tôi chạy tiếp thêm 1 ngày nữa mới đến Hồng Kông.

Dù ở trong trại cấm của Hồng Kông cực khổ, thiếu thốn nhưng gia đình chúng tôi thấy được một cánh cửa mở ra cho miền đất mới.

Tuần Lễ Tỵ Nạn không chỉ nhớ lại hành trình tỵ nạn của riêng gia đình tôi.

Đó là Tuần Lễ để nhắc lại câu chuyện thê lương hơn của hơn một trăm ngàn người Việt khác, những người đã bỏ lại tất cả, không màng sự sống chết để tìm lại quyền được làm người.

Tuần Lễ Tỵ Nạn cũng luôn nhắc lời Mẹ tôi thường nói, “nước Úc đã cưu mang chúng ta, cho chúng ta xây dựng lại cuộc đời, con phải trả ơn cho nước Úc”.

Không những chúng tôi biết ơn Ba Mẹ tôi đã hy sinh tất cả cho tương lai chúng tôi, biết ơn nước Úc cho chúng tôi quyền được sống, được thở và được nói, mà chúng tôi còn biết ơn những niên trưởng đi trước đã biến nỗi đau, nỗi mất mát thành sức mạnh để tạo dựng lại di sản văn hóa Việt Nam để truyền lại cho thế hệ sau, đó là Cộng Đồng Người Việt Tự Do, trong 50 năm qua đã luôn giữ được linh hồn, bản sắc người Việt tại Úc.

Vì vậy tôi luôn nhắc nhở bản thân sống cho xứng đáng với hành trình Ba Mẹ đã hy sinh, không được phản bội lại hai chữ Tự Do đã đánh đổi bằng mạng sống. Phải gìn giữ bản sắc Việt và biểu tượng căn cước tỵ nạn cho thế hệ mai sau và truyền tải cho thế hệ sau biết rằng tự do là nước mắt, là máu của bao nhiêu người ngã xuống.

Tuần Lễ Tỵ Nạn cũng không chỉ là ký ức đau thương mà là sức mạnh, sự kiên cường, dũng cảm, lòng nhân ái và là bản sắc của người Viêt Tự Do.

* Hình ảnh từ trên mạng. Cám ơn những người đã chia sẻ hình ảnh.
* Ban múa là những học sinh Việt tại trường Trung học Woodville, Nam Úc đóng góp cho chương trình của CĐNVTD SA vào thập niên 80. Áo tứ thân do chị Thi Dang mua vải và may cho.


CÓ ĐỊNH VỀ VIỆT NAM SỐNG KHÔNG?

Bấy lâu nay, tôi thấy vài người lên youtube chê nước Mỹ rậm rề....Những điều họ chê là vì qua Mỹ phải....đi làm, chứ không sáng cafe, chiều hàng quán như ở VN.
Có lần một người bạn Mỹ trong chuyến đi truyền giãng có ghé VN và họ ngạc nhiên là ngày thường mà hàng quán đông nghẹt người khác với bên Mỹ quán đông người chỉ có cuối tuần vì ngày thường ai cũng phải đi làm.

Nếu chỉ là chuyện trên FB thì tôi không ngồi gõ những dòng này. Chuyện khiến tôi phải nói, phải trả lời vì có bạn hỏi tôi " Có nhớ VN không ? Có muốn về sống nơi đó không ? ....".

Tôi sẽ trình bày và trả lời câu thứ 1.

Nhớ VN không ? Nhớ chứ. Vì nơi đó giữ gìn tuổi thơ thật đẹp của tôi. Nơi đó, là tình yêu đầu đời, tình đầu tinh khôi và thơm như mùi giấy mới của một nàng con gái. Nơi đó là gia đình. Là nơi người đàn ông từ xa trở về, bước tới, là vợ, là chồng, là thương yêu nâng niu tôi như quả trứng trên bàn tay của ông ấy cho đến hôm nay. Nơi đó còn những người bạn tôi thương. Nơi đó là một cái gì rất quý trong trái tim tôi.

Có muốn về đó sống không ? Đây là câu hỏi thứ 2 và tôi trả lời rất dứt khoát KHÔNG.

Cũng câu trả lời này, tôi không đem chính trị vào đây. Tôi chỉ trình bày những gì thực tế.

Trước tiên, trong lòng tôi khi trả lời KHÔNG là vì không ai bỏ chốn BÌNH YÊN để về nơi đó.

Nơi, mà xã hội bung bét. Nơi, một miếng thịt, một cọng rau, một con cá không biết đã tẩm những chất độc gì trong đó. Một ly cafe, một miếng bánh họ đã nhào nặn cái quái quỷ gì bên trong....

Chúng tôi ở xứ Mỹ đã quen những nề nếp. Ra đường, đi đúng luật giao thông. Và, dĩ nhiên " có làm mới có ăn " trong một xã hội thiện lương và nhiều cơ hội mở ra cho con người tham gia học hành thành đạt và cống hiến.

Ngoài ra, mặc dù chúng tôi có cực nhọc đi làm, nhưng những đồng tiền lương thiện đó đưa chúng tôi lên cao hơn để chúng tôi vươn mình trong một đất nước tân tiến được thế giới tôn là bậc nhất của hành tinh.

Đến một tuổi quá già yếu không thể đi làm được nữa thì lúc ấy tôi hưởng trọn những ưu đãi của Chính phủ cộng thêm những đóng góp của tôi từ xưa tới giờ để được chăm sóc một cách trân trọng....

Tại sao chúng tôi phải trở về ?

Thuy Vi

KỂ CHUYỆN CHO MẤY CHÁU ÍT HIỂU BIẾT

Bữa nay Chúa Nhật, nhân việc nghỉ xả hơi giữa buổi, bèn viết vài dòng nói về vụ phân biệt vùng miền.

Đây là việc mà tui nghĩ là tui phải có đôi lời, vì tui là dân Bắc kỳ chính hiệu, lại ăn cơm, uống nước Nam kỳ suốt gần 47 năm qua, cho nên tự tin là có đôi chút hiểu biết để nói vài điều.

Vừa rồi có 1 em (/cháu) trai lên mạng chê và mạt sát “dân miền Nam” thậm tệ, khiến cho dân mạng nổi sóng. Cháu đó sai hoàn toàn. Nhưng bài viết này không phải để mắng mỏ hay trách tội cháu trai kia, mà để nói vài điều chính tôi, mắt thấy tai nghe trong vòng gần nửa thế kỷ mà thôi.

Tôi theo gia đình vô Rạch Giá từ năm 4 tuổi, vào khoảng tháng 10 năm 1980, cái tuổi mà không nhiều đứa bé hiểu chuyện; nhưng tôi, chắc không giống ai, mà đã nhớ những chuyện từ lúc 2 tuổi, đi mẫu giáo trường làng ra sao, lớp có bao nhiêu bạn, hay mặc áo gì đến lớp, đến bây giờ tôi vẫn kể vanh vách. Cả cái nhà vách nện đất của ông bà nội, hàng xoan, cây cau, giếng nước; cây nào ở đâu tôi đều kể lại được. Đến nỗi sau 12 năm rời quê, tôi vẫn có thể “sục” khắp ngõ ngách của cái làng quê từ chỗ bị trâu chém ngã sõng xoài, đến chỗ ăn chuối xanh mà tôi và thằng Tùng ăn trộm được. Tất cả rõ mồn một mặc dù mà tôi đã ra đi từ hồi chưa được 4 tuổi và chưa 1 lần về thăm...

À, kể dài dòng vậy chỉ để thấy rằng, tôi “khôn” từ bé, cho nên chú ý, học hỏi được những điều mà ngay cả người lớn cũng bỏ qua. Và thật may mắn, tôi sống ở 1 cộng đồng rất ít người Bắc, cho nên toàn bộ tuổi thơ của tôi được thở trong một bầu không khí phải nói rằng thuần chất Nam bộ. Và cái không khí ấy luôn được “đối chất” hàng ngày với không gian trong gia đình tôi, vốn là 1 gia đình cán bộ ngoài Bắc (được “tăng cường” vào Nam từ 1976) cho nên tôi thấy và so sánh được những điều không phải ai cũng thấy.

Và tôi học được rất nhiều điều khi bên cạnh nhà tôi là 1 nhà “địa chủ” người Hoa khai khẩn đất Nam kỳ; còn sau lưng là một xóm người Khmer làm nghề đi biển.

* * *
Nãy giờ tôi viết theo văn phong Bắc kỳ. Còn bây giờ tôi viết theo lối viết Nam kỳ. Hehe…

… Ba mẹ tui khi vô Nam, được nhà nước cấp cho cái nhà gỗ 28m2 nằm ở góc vườn (chắc hơn 2000m2) của ông “địa chủ” người Hoa. Căn nhà này được coi như nhà hoang, khi người coi vườn (là cậu bà con của “ông địa chủ”) tạ thế cách đó vài năm. Thế là nhà nước lấy lại, mang đi cấp cho cha mẹ tui.

Ông “địa chủ” này có cái nhà rất lớn, tất cả là trệt. Ngoài cùng là nhà khách có tủ thờ khảm xà cừ và ti vi màu, rất hiếm khi mở, chỉ mở vào đêm giao thừa. Nối nhà khách là dãy phòng ngủ, sau phòng ngủ là khoảng sân trong khoảng 200m2 nối với gian bếp cũng khoảng 200-300m2 (chừng 10m x 30m). Cả nhà có 5 người (ông bà già cỡ 70-80 tuổi, cô con gái út gần 50 ở vậy để phụng dưỡng cha mẹ, 2 cô cháu nội) và 3 người làm (giúp việc) cùng với con cái của họ.

Nhà họ chủ yếu sinh hoạt ở gian bếp, nơi có 1 bộ bàn ăn cẩn xà cừ, cặp đôn ngồi men sứ thời Minh Mạng, chiếc xích đu, võng của ông già, 3 cái bộ ngựa, không gian bếp. Và ấn tượng nhất là một cái tủ gia vị giống hệt tủ thuốc trong mấy tiệm thuốc bắc, nhưng to lớn hơn nhiều: nó dài gần 10m và cao hơn 2m, ngăn không gian ăn và bếp ra làm 2 phần, muốn lấy gia vị thì phải cần 1 cái xe thang bằng gỗ mun.

Tui gần như lớn lên trong gian nhà sau (bếp) đó, bởi vì tui sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm lại khá giống với người cháu đích tôn nhưng bị mất tích khi cùng cha mẹ vượt biên của ông “địa chủ”, nên được ông thương như cháu nội. Thành ra tui có thể mặc sức đi lại trong nhà, ngay cả các xó xỉnh mà chỉ có tôi với chị Trâm - cô cháu gái của ông - được phép; trong khi cha mẹ tui cùng với hàng xóm, chưa bao giờ được bước chân vào căn nhà thâm nghiêm ẩn sau mảnh vườn 2000m2 ấy.

Tui cũng thường được ông Tư, tức ông “địa chủ”, cho ăn cơm cùng. Đây là 1 “vinh hạnh” đặc biệt khi được ông Tư cho ăn cùng mâm; bởi lẽ ông Tư là người dùng bữa trước, sau đó là bà Tư và cô Năm, sau nữa hai cô cháu gái. Và người làm và con cái của họ ăn cuối cùng. Bữa cơm bắt đầu vào 10h sáng và kết thúc khoảng 12h trưa, khi người làm trong nhà dùng bữa xong. Mỗi lần dẫn tôi qua dùng bữa, ông Tư đều đến trước cửa căn nhà gỗ của cha mẹ tui và ngỏ: “Thưa chú thím Hai, cho thằng Tân qua ăn cơm với tui”. Tui được cha mẹ mặc cho bộ quần áo mới và lon ton chạy sau ông Tư.

Cần nhớ là đó là những năm 1980s, khi cả nước ăn đói; nhà tui tuy không đến nỗi đói, nhưng ăn cá khô mục và gạo đỏ trộn bông cỏ từ ngày này qua tháng khác. Thật khác với bữa cơm bên nhà ông Tư, nó gần giống như là bữa trong hoàng cung: trên cái bàn cẩn xà cừ là khoảng chục loại canh khác nhau trong các chén nhỏ; có vài món xào, vài món kho, dưa, ăn với 1 chén cơm gạo Thái Lan thơm phức; và tráng miệng là 2 chén chè (tui được 1 chén) long nhãn hoặc thanh long dầm đá. Tui được ông thương và thường xưng là “nội”, cho nên được nếm thử nhiều món ngon mà tới giờ tôi vẫn nhớ.

Cũng ở gian bếp đó tui được biết cái chén Gia Long, cái tô Minh Mạng, đôi đũa kim giao mà chỉ có vua chúa mới biết. Tôi cũng được dạy cách cầm đũa hoa sen, cách lấy canh vào chén, cách ngồi ăn, ăn cái gì trước, ăn cái gì sau, cái gì chấm với cái gì…; đến những chữ Hán đầu đời trong Tam Thiên Tự.

Tui cũng chứng kiến cô Năm dạy 2 cháu gái (1 lớn hơn tui 5 tuổi, 1 bằng tuổi tui) cách đi đứng, mỗi ngày phải dành ra bao nhiêu phút kẹp cái đồng xu vô hẻ mông, đặt trái chanh vô giữa 2 đầu gối để tập đi đứng, đánh mông. Cô Năm đẹp và đài các, cô còn chỉ chị Trâm (lớn hơn tui 5 tuổi) làm thủ công, thêu thùa, bếp núc.

Tui gần như lớn lên trong gia đình ông Tư. Đến năm 1992 thì cả gia đình đi Mỹ định cư. Tính ra tui cũng được “hưởng ké” nền giáo dục đó hơn 10 năm.

* * *
Ở phía sau nhà tui là 1 xóm ghe lưới. Hầu như là người Khmer. Tui chơi thân với thằng Linh, nó lớn hơn tui 2 tuổi, người đen nhẻm, roi roi nhưng rắn chắc. Tui chơi với nó từ khi mới bước chân vào Nam, nó hào hiệp, hay binh tui khi bị ăn hiếp.

Tui chơi với thằng Linh và đám trẻ Khmer trong tất cả những giờ rảnh rỗi. Nhà nó là nhà bà Sáu, có cả thảy 13 người con, mà cha mẹ nó là thứ Hai. Tất thảy 13 người con đó đều đi ghe lưới, chỉ có chị Út tên Ngọc là ở vậy để làm nội trợ cho đại gia đình. Nhà mấy chục miệng ăn, nên chỉ thức từ 4h sáng là làm quần quật tới 11h đêm.

Chị Ngọc và bà Sáu nấu ăn ngon không thể tả. Người Khmer nấu ăn ngon lắm. Bà Sáu lại thảo ăn, hầu như ngày nào cũng mang cho “chú thím Hai” (là ba mẹ tui) khi thì tô canh, khi thì dĩa chả cá gói lá nhàu, khi thì tô lươn um. Ba mẹ tui người Bắc, cho nên rất “bảo thủ” ăn uống, ngoài mấy loại rau luộc, xào, bầu bí nấu canh và trứng luộc, chiên… mà nhà nấu ra thì không biết ăn các món của người Khmer. Thế là tui… dứt hết. Hehe…

Và tôi lớn lên bằng cơm của người Khmer. Hàng ngày sau khi đi chơi đã đời, tui và thằng Linh mò xuống bếp. Căn bếp rộng minh mông lúc nào cũng có nồi cơm, nổi cháo, chè… hay nồi bún mắm với rổ rau và xống chén với đủ thứ tô, tộ…, sạch sẽ để ai rảnh thì tạt qua ăn. Ăn rồi thì lại làm tiếp.

(Họ làm cật lực; Luôn bận bịu vì 3-4 chiếc ghe ra vô cảng hàng ngày. Khi hiểu ra người Nam kỳ bận bịu thế nào mà ít có bữa cơm chung, thì mới thấy văn hoá có cái nồi đồ ăn sẵn trong bếp và mạnh ai nấy ăn nó khác với văn hoá bữa cơm là phải đông đủ của người Bắc. Và cả xóm, cỡ 400-500 nóc nhà có ghe lưới thì nhà ai cũng vậy. Và phụ nữ như chị Ngọc hầu như nhà nào cũng có. Họ giỏi kinh khủng khi nấu cho 1 “đội quân” (có cả cháu) đến ăn và cùng làm. Mà họ không nấu 1 món, đủ thứ các loại bánh, chè, cháo, gỏi…, món nào cũng ngon; tui sống gần họ gần 15 năm, mà vẫn chưa ăn hết món họ nấu.

Cho nên DẸP cái tư tưởng con gái miền Tây lười và vụng đi. Ngay như mẹ tui và các cô tui, những người phụ nữ đảm, thì cũng chỉ biết loanh quanh mấy món như gà luộc, xôi gấc, giò chả, miến măng, là… hết bài. Còn họ không chịu cực, không lam lũ hả? Hãy xuống bến cảng mà coi phụ nữ họ cào cá, khiêng, cân, vác mấy cái cần xé 50-70kg, v.v. coi đàn ông miền Bắc mấy người kham nổi? Còn không biết tính toán ư? Hãy xuôi về Tân Châu, Hồng Ngự…, thử coi các bà chủ nhà bè buôn tấn lắc đeo đỏ tay, coi họ tính toán và điều hành công việc ra sao nha.)

Bác ruột tui ở miền Bắc vô chơi. Ông là thợ mộc có tiếng trong làng sau khi phục viên. Mới đầu vào, cũng như những người Bắc ít khi ra khỏi luỹ tre làng, hay chê.
Khi thấy ông Sáu (chồng bà Sáu đã nói ở trên) với cái búa và bộ đồ mộc cà tàng, bác tui lại chê. Tui bẻn dẫn bác tui ra sau nhà, nơi có cái xưởng đóng ghe “tại gia” của ông Sáu Khmer. Nhìn mấy cái ghe (tàu) gỗ 150 tấn với cái máy dầu bự chảng do ông Sáu và mấy người con ông đóng - bác tui kể từ đó không còn chê nữa.

Tui cũng dẫn bác tui đi coi người ta đào hầm (ao). Thấy cả đám cả người Việt lẫn Khmer đào đất mà đứng ở dưới sâu cả chục mét, quay lưng lại đào và hất… lên trời ra phía sau lưng, cục đất vuông vắn nặng cả 5-7 ký rơi xuống xếp đều tăm táp như mái ngói ở mé ao. Nhìn xa không thấy người đâu, chỉ thấy các tảng đất líu ríu bay lên và rơi xuống như đặt - thì bác tui trợn mắt. Về sau không thấy chê người miền Tây không biết làm lụng chi nữa.

Tui có cái may mắn, được lớn lên giữa cộng đồng “thuần Nam kỳ”, cùng ăn, ở, làm lụng với họ nhiều năm, nên hiểu rõ họ hơn nhiều người khác. Ngay cả bạn tui, những người Bắc kỳ, con của các cô chú cũng tăng cường 1 lượt với ba mẹ tui, cũng không được có cái may mắn lớn lên trong 1 cộng đồng có cả người Hoa mở đất và người Khmer như tui; cho nên nhiều nhận định của họ cũng phiến diện. Chứ không phải sống lâu ở chỗ nào đó là đã hiểu về nó.
Khép lại cái bài đã quá dài, tui xin kể một câu chuyện. Trên mạng hồi trước, có 1 anh KTS khá nổi tiếng, cũng huỷ kết bạn với tui, vì tui “sửa lưng”, nói ảnh là “thánh phán”, mới đi miền Nam có năm bữa nửa tháng mà đã dám phán như đúng rồi, rằng “tao còn lạ gì đất Nam kỳ, tao đã từng… ỉ* cả cầu cá vồ nữa cơ!”.

Thưa anh bạn, tui ở xứ này ngót nửa thế kỷ, tập nói ở xứ Nam kỳ, biết nói chữ “v” chúm miệng thành “d”, biết xà âm “tr” đổ hột như quý tộc Nam bộ xưa (vì được dạy), biết ca 6 câu vọng cổ mà không rớt nhịp, biết nghe 1 cái biết dân Mỹ Tho hay Rạch Giá…; mà còn chưa hiểu rõ xứ này - thì anh bạn và những người quen thói mục hạ vô nhân của dân xứ Bắc (tui là dân Bắc nên rành 6 câu) hãy tem tém lại.

À quên, tui chưa kể về gia đình tui. Ba tui là kỹ sư, còn mẹ tui là giáo viên, cả hai người đều được đào tạo ở miền Bắc. Hồi tui mới vô Nam, dọn vào căn nhà gỗ, việc đầu tiên là ba tui mua về 1 chiếc… xe cải tiến. Sau giờ làm là vợ chồng con cái hùng hục đẩy ầm ầm chiếc xe cải tiến ấy đi mua cám heo, chở đồ và cả cỏ, lục bình cho heo. Nhà tui không có đường đi, vì ở cuối khu vườn cho nên đi nhờ qua cái sân của ông Tư. Cái sân đẹp vậy mà sau 1 thời gian bị chiếc xe cải tiến “cày”, thì gạch lát nứt hết, mưa xuống đi ngang nước dơ xịt tới bụng. Ngay cả ống cấp nước chôn ngang lối đi cũng bị cán bể. Ông Tư, năm đó hơn 70 tuổi, một mình xắn cái quần lụa trắng ngồi dùng dây cao su quấn lại cái ống nước.

Còn ba tui, với cái nón cối trên đầu và bộ quần áo cũ kỹ, vẫn “vô tư” ngày ngày đẩy chiếc xe cải tiến qua lại khúc ống gãy đó.

(Sau này ngồi nghĩ lại hình ảnh một gia đình quê mùa, lam lũ nhưng bố lếu bố láo khi đùng đùng kéo cái xe [mặc dù đã được can ngăn] vào giữa cái sân đẹp đẽ kia; tui vừa xót xa, vừa thương lại vừa nhục. Thì thôi, cái gì qua thì đã qua, thời cuộc thế, nhận thức chung nó thế; nhưng đến đời tui, tui sẽ không để nó xảy ra thêm 1 lần nào nữa).

* * *
Bây giờ thì ba tui đã mất. Ông bà Tư nghe nói đã mất từ lâu, cô Năm thì ngoài 90, vẫn còn sống ở Mỹ. Còn mẹ tui, năm nay cũng gần 80, do vài thập nien đi dạy ở miền Nam, được văn hoá miền Nam khai phóng nhiều điều, nên từ lâu đã không còn giống như những người Bắc mới vô Nam nữa…

14/6/26, Dáo xư Phễu
—————————————

P.S:
Nhiều người cho là Phễu tui xạo, khi nói chỗ tôi đã có tivi màu từ 1980s. Để tui “giải ảo” cho mấy người mục hạ vô nhân:

1/ Xứ tui ở là Rạch Giá, một thủ phủ nức tiếng phồn hoa của lục tỉnh Nam kỳ. Từ trước 1975 đã là thị xã (thị xã thứ thiệt - chứ không phải mấy cái thị xã tự phong từ thập niên 1990). Và đến năm 1995 tôi về SG, đã bị “nhận diện” khi không xài tiền lẻ: “Mày dân Rạch Giá hả con?”. Đơn giản là dân RG giàu, trước 75 đã có sân bay (Rạch Sỏi), có rừng, có biển, lại tiếp giáp biên giới nên người dân rất giàu. Tui không giàu nhưng sống từ bé nên đã “nhiễm” tính không xài tiền lẻ” (thường thì khoát tay “khỏi thối [tiền]”).

2/ Thị xã Rạch Giá TỪ THỜI VNCH đã có đường điện riêng, bắt thẳng từ nhà máy nhiệt điện Trà Nóc (Cần Thơ), nhằm phục vụ cho đài ra đa quét cả hệ thống biển Tây và Vịnh Thái Lan, cho nên rất hiếm khi bị cúp điện. Giàn ra đa này đến 1997 đã bị dỡ bỏ. Trước đây nó nằm sát Khám Lớn.

3/ Ti vi màu Nhật bản, loại có 2 cánh đã được Nhật bán rộng rãi ở miền Nam VN từ trước 1975. Năm 1980s tôi ở Rạch Giá, đã thấy TV màu đầy ở các nhà xung quanh chợ Nhà lồng với giàn ăng ten cao có thể bắt trực tiếp đài truyền hình TPHCM. Lúc đó chỉ riêng “đài TP” (tức TPHCM) là có màu (khoảng năm 86-87). Còn đài TH Cần Thơ vẫn phát trắng đen. Còn đài TH Kiên Giang thì đến khoảng năm 84-85 gì đó mới có.

4/ Nhà tui, đến năm 1982 đã có ti vi trắng đen (nghĩa địa), nhờ vậy mà xem “Trên từng cây số” không sót tập nào và cũng xem đươc Mondial 1982 (?), và năm 1986 với pha “bàn tay của Chúa” của Maradona huyền thoại. Tui chỉ nhớ đại khái như vậy để biết rõ là cái TV trắng đen nghĩa địa hồi đó người ta bán sớm lắm, sẵn lắm, chứ không phải giống như ở miền Bắc.

* Miền Nam với đầy đủ hạ tầng công nghệ của Mỹ để lại, thì đã đi sớm hơn miền Bắc mấy chục năm. Các vị đừng lấy cặp mắt ếch ngồi đáy giếng mà luận nữa, không tưởng tượng ra đâu!

Khoa Phan

BẠC MÀU ÁO TRẬN

Nguyet Nga Trinh

Nhân dịp Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 Tháng 6 sắp đến, N muốn viết về các anh Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa từng là niềm hãnh diện và tin tưởng tuyệt đối của người dân miền Nam một thời dấu yêu

o0o

"Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày.
Qua miền xa mà nghe rừng thiêng gọi lá...
...Quê hương đau, nắng hạ cũng buồn.
Nước sông ngăn đôi sơn hà...
Thương những người giết giặc ngày đêm..."

Tiếng hát Duy Khánh đưa tôi trở về miền ký ức của hơn 60 mươi năm về trước. Khi đó tôi chỉ là một đứa con nít dưới 10 tuổi đang sống ở một quận lỵ nhỏ bé của miền Trung cằn cỗi đất cày lên sỏi đá nhưng chịu lắm thương đau vì chiến tranh tàn phá.

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vùng I rất bình yên, thỉnh thoảng có vài tên việt cộng mò vô làng xóm là bị giết liền, đem phơi xác ở bến xe để thị uy.

Qua tới thời Đệ Nhị Cộng Hòa vùng I hết yên ổn rồi, giặc giã nổi lên khắp nơi, nhiều vùng ở xa quận ban ngày của Quốc Gia, ban đêm của cộng sản.

Quận Điện Bàn nơi tôi đang ở cảnh vật giống như trong bài hát, cũng có một dòng sông trong vắt vì thiếu phù sa. Chạy dọc theo bờ sông đó đây vươn lên xanh xanh những lũy tre già hình ảnh điển hình của mọi miền quê nước Việt. Người dân rất hiền hòa, cam chịu khổ cực, nắng mưa dầu dãi và chiến tranh đè nặng lên giấc ngủ từng đêm...

Nhà tôi ở gần một cây cầu nối đôi bờ dòng sông Vĩnh Điện, có lao xá (là nơi nhốt tù), nhà đèn và bưu điện, đó là trung tâm của quận, là nơi lý tưởng để tụi việt cộng tấn công. Chúng muốn pháo cho sập cầu, chiếm lao xá để thả tù chính trị, và giật sập nhà đèn.

Thời đó hầu hết đêm nào cũng có đánh nhau, đang ngủ cũng phải bật dậy chạy giặc thiệt là khốn khổ! Tội nhất cho nhà nào có trẻ sơ sanh hoặc cha mẹ già đau yếu, giấc ngủ nghẹn ngào tức tưởi, không được trọn vẹn! Khi đánh nhỏ thì cả nhà tôi chui xuống bộ ván dày để tránh bị lạc đạn.

Những đêm đánh lớn sợ bị pháo kích trúng vô nhà, ba mẹ tôi phải dẫn các con chạy vô lô-cốt từ thời Pháp để lại ở sau vườn. Hỏa châu sáng rực trời, tiếng đại bác, tiếng xé gió của trái sáng được bắn từ tàu Hải Quân khi rớt vô nhà dân là có người bị đứt đầu, bỏ mạng, cùng đủ thứ âm thanh hỗn loạn từ các loại súng lớn súng nhỏ của cả hai bên làm rung chuyển đất trời, xé vỡ màn đêm, tan nát thân xác và linh hồn con người! Tụi em tôi còn quá nhỏ cứ khiếp đảm run rẩy, nép sát vô người cha mẹ rất tội nghiệp, người lớn cũng bạt vía kinh hồn! Có khi còn nghe tiếng kèn thúc quân của tụi chính quy, tiếng hô xung phong của bên ta, tiếng rên la của việt cộng bị thương nặng. Buổi sáng thức dậy thấy cửa chính của nhà tôi có nhiều lỗ đạn, xác tụi cảm tử nằm rải rác gần cổng lao xá, chúng chỉ mặc quần đùi màu đen, tụi này được dân "thờ ma" đào hầm giấu nên có vẻ mập mạp trắng trẻo.

Tuy sống ở nơi có bom rơi đạn lạc hàng đêm nhưng người dân chúng tôi vẫn may mắn bảo toàn được tính mạng, đó là nhờ các anh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa luôn chống trả mãnh liệt làm tụi việt cộng phải ôm đầu máu chém vè (bỏ chạy) rất thê thảm.

Đôi khi quận Điện Bàn cũng có được những ngày vui và yên ổn, khi những tiểu đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân ghé tới dưỡng quân chừng một tuần hay 10 ngày, thời gian đó không hề nghe một tiếng súng. Tụi tôi tha hồ đùa giỡn chạy nhảy trong xóm, tối về được ngủ yên một giấc tới sáng.

Các anh chiến sĩ tới nhà dân mượn chỗ nấu ăn bằng mấy chiếc nón sắt, tôi còn nhỏ không để ý nhiều, nhưng hình như các anh chỉ mượn chỗ nấu mà thôi, chớ ăn, ngủ, giặt giũ ở đâu thì tôi không biết, đúng là bí mật quân sự. Và một điều rất lạ, dù trời lạnh cũng không thấy một người lính nào mặc áo ấm hết, chắc các anh có sức mạnh phi thường chăng?

Người ta chỉ thấy trên đường phố mấy anh chàng sĩ quan trẻ dập dìu qua lại, áo hoa rừng xen lẫn những tà áo trắng học trò buổi tan trường trông thật đẹp, thật vui và bình an. Thời đó những cô nữ sinh đua nhau lấy chồng nhà binh, vì trai thời loạn mà, nhìn các anh oai phong đẹp trai và hào hoa như vậy sao mấy em gái hậu phương không nghiêng ngả cho được?

Tôi còn nhớ những kỷ niệm vui buồn khó quên với những người lính chiến...

Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông anh rể tương lai khi ổng tới nhà cua chị Hai tôi, ổng ngó tôi cười làm quen, xã giao hỏi vài câu, nhưng tôi sợ và mắc cỡ quá lấy hai bàn tay che mặt lại, im lặng rồi rút êm liền. Vì tôi còn nhỏ thấy một gương mặt phong trần, đen đúa, râu ria tua tủa, tóc dài, sau khi đi hành quân về, chưa kịp chải chuốt đã vội tới trình diện người yêu, làm tôi hết hồn!

Lần nhà trường gởi chúng tôi đi choàng vòng hoa chiến thắng cho các chiến sĩ xuất sắc trong ngày Quân Lực 19 tháng 6, tụi tôi đang học lớp 9 khoảng 14, 15 tuổi thôi. Khi đứng sắp hàng đối diện với các anh hùng hào khí ngất trời, tụi tôi thẹn thùng mắc cỡ, run run lúc nhón chân choàng vòng hoa cho các anh đang đứng hơi cúi đầu chờ đợi, xong xuôi tụi tôi chỉ biết im lặng, ngượng ngùng "vân vê tà áo"; trong khi mấy anh vui cười nói chuyện với nhau rôm rả, và than phiền xui xẻo vì gặp các bé nhỏ quá chẳng tán tỉnh gì được! Nhóm các anh nào may mắn gặp được những chị nữ sinh lớp 11, 12 choàng vòng hoa, họ kết bạn nhanh chóng trao đổi địa chỉ tâm tình thắm thiết, sau này có những người đã làm đám cưới nhà binh rất hạnh phúc.

Trường Trưng Vương của chúng tôi đỡ đầu bịnh viện Thủy Quân Lục Chiến Lê Hữu Sanh ở Thủ Đức, nên các nữ sinh được khuyến khích viết thư thăm hỏi, thêu khăn gởi cho các anh, và đôi khi Ban Giám Hiệu đồng ý cho phép bịnh viện đem GMC tới trường chở các nữ sinh đi thăm và tặng quà cho thương bệnh binh. Vì xe GMC rất cao, nên các anh chiến sĩ phải đỡ chúng tôi đặt lên xe và khi muốn leo xuống xe các anh cũng phải đứng bên dưới giúp cho chúng tôi chạm đất (thiệt là ngại ngùng).

Lần thăm bịnh viện LHS vào năm 72 chiến trường đang khốc liệt, làm chúng tôi buồn và lo lắng cho tương lai. Một số anh bị thương nặng thì nằm im chịu đựng những vết thương đã được băng bó nhưng còn rỉ máu, chỉ những anh bị thương nhẹ thì vui vẻ trò chuyện với chúng tôi. Các anh nói vũ khí của việt cộng do nga-tàu cung cấp rất tối tân, bên VNCH dùng M16 thì cộng sản có AK 47, loại súng đa dạng bắn được dưới nước và khi hết đạn nó có thể dùng đạn M16 để bắn lại chúng ta. Bọn chúng có trang bị cả hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7của Nga sô rất lợi hại, dùng để bắn máy bay. Chúng ta có M113 thì chúng có xe tăng hạng nặng T54, v.v.

Tình quân dân như cá với nước, không có sự hy sinh nào cao đẹp bằng sự hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa, họ sẵn sàng đem xương máu bảo vệ quê hương, đất nước vô điều kiện! Không có nỗi khổ cực nào bằng, có khi họ đi hành quân hàng tháng trời dầm mưa mà không được tắm! Mỗi người chỉ có một tấm poncho là nhà, là mền, là quan tài khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi những người tù khổ sai chung thân còn có mái nhà che mưa nắng, có cơm ăn ba bữa đúng giờ, có chỗ ngủ đàng hoàng, và giữ được tánh mạng, nguyên vẹn được hình hài, thì người lính phong sương ngày đêm bảo vệ Tổ Quốc. Các anh phải chiến đấu tới giọt máu cuối cùng để giữ vẹn toàn lãnh thổ dù thân anh có nát tan, bỏ lại cha mẹ già, người vợ trẻ và những đứa con bé bỏng chưa nhận biết mặt cha; dù có thể tàn phế một đời tàn tạ héo hắt!

Năm mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẫn in đậm trong lòng dân tộc Việt Nam.

Tổ Quốc và người dân Việt Nam Cộng Hòa mãi mãi ghi nhớ công ơn và sự hy sinh vô bờ bến của các anh.

Lời cảm ơn


Chiều nay, trên đường về, tôi ghé lại tượng Đức Mẹ như một thói quen nhỏ của riêng mình.

Trời Sài Gòn vừa chạm ngõ hoàng hôn. Những hàng cây đứng lặng trong gió chiều. Vài người ngồi trên những chiếc ghế đá, vài người bước vào rồi lặng lẽ ra về. Mọi thứ diễn ra rất nhẹ nhàng, rất bình yên.

Tôi ngồi xuống một góc quen thuộc và nhìn lên tượng Mẹ.
Không biết từ khi nào, những khoảng lặng như thế này lại trở nên quý giá.
Có lẽ vì cuộc sống mỗi ngày đều quá vội.
Ai cũng có công việc phải làm.
Ai cũng có những điều phải lo.
Ai cũng mang trong lòng những câu chuyện mà không phải lúc nào cũng nói ra được.
Vậy nên đôi khi, chỉ cần có một nơi để ngồi yên vài phút cũng đã là một món quà.

Tin Mừng hôm nay nói về Kinh Lạy Cha.
Một lời kinh mà rất nhiều người đã thuộc từ khi còn nhỏ.
Càng lớn lên, tôi càng nhận ra điều đẹp nhất trong lời kinh ấy không phải là những lời mình xin, mà là việc mình được gọi Thiên Chúa là Cha.

Và có một câu trong Tin Mừng hôm nay khiến tôi dừng lại khá lâu:
“Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.”
Đọc đến đó, tôi thấy lòng mình nhẹ đi rất nhiều.
Bởi có những lúc chúng ta không biết phải cầu nguyện điều gì.

Có những điều không thể diễn tả hết bằng lời.
Có những nỗi niềm chỉ lặng lẽ giữ trong tim.
Nhưng thật bình an khi biết rằng Chúa đã hiểu tất cả từ trước khi mình cất tiếng.
Khi gọi Ngài là Cha, tôi hiểu rằng mình không đi một mình trên hành trình này.
Những ngày vui có Chúa đồng hành.
Những ngày khó khăn cũng có Chúa đồng hành.
Những lúc mạnh mẽ có Chúa đồng hành.
Và cả những lúc mệt mỏi nhất, Ngài vẫn ở đó.

Ngồi trước Đức Mẹ chiều nay, tôi chợt nghĩ rằng cuộc sống thật ra không cần quá nhiều điều để trở nên hạnh phúc.
Một sức khỏe đủ để làm việc.
Một gia đình để yêu thương.
Một mái nhà để trở về.
Một vài người chân thành bên cạnh.
Và một trái tim vẫn còn biết hy vọng.

Có những điều khi đang có, chúng ta xem là bình thường.
Đến khi nhìn lại mới thấy đó là những hồng ân rất lớn.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi cũng nhận ra cuộc đời mình đã nhận được nhiều hơn những gì từng nghĩ.
Có những điều mình đã cầu xin.
Có những điều mình chưa từng cầu xin.
Nhưng bằng một cách nào đó, Chúa vẫn âm thầm sắp đặt và dẫn dắt mọi sự theo cách tốt nhất.

Vì vậy chiều nay, tôi không xin thêm điều gì.
Tôi chỉ muốn dành một chút thời gian để nói lời cảm ơn.
Cảm ơn vì những điều đã qua.
Cảm ơn vì những người đã gặp.
Cảm ơn vì những niềm vui nhỏ bé mỗi ngày.
Cảm ơn vì những thử thách đã giúp mình trưởng thành hơn.
Và cảm ơn vì những điều tốt đẹp vẫn đang âm thầm hiện diện trong cuộc sống này.

Và cũng xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho tất cả chúng ta.
Cho những ai đang mang trong lòng một nỗi lo được thêm bình an.
Cho những ai đang mệt mỏi có thêm sức mạnh để bước tiếp.
Cho những ai đang lạc hướng tìm lại được niềm hy vọng.
Cho những ai đang hạnh phúc biết trân trọng những gì mình đang có.

Chiều đang dần khép lại.
Ngọn đèn dưới chân tượng Mẹ vẫn sáng.
Tôi đứng lên ra về với một tâm hồn nhẹ hơn lúc đến.
Và tôi tin rằng, khi lòng mình đủ bình an, cuộc sống cũng sẽ trở nên dịu dàng hơn rất nhiều.

Thương chúc mọi người một buổi tối an lành.
Nguyện xin Chúa và Mẹ luôn đồng hành, gìn giữ và nâng đỡ mỗi gia đình trong mọi nẻo đường của cuộc sống

Tinh Ca

Món nợ với nước Mỹ

Năm 1975, quân đội Hoa Kỳ đã đưa ông ra khỏi một Sài Gòn đang sụp đổ bằng đường hàng không. Đến năm 2021, chính ông đã thuê một chiếc máy bay để đưa 380 người xa lạ thoát khỏi thành phố Kabul đang sụp đổ.

Tên ông là France Hoang.

Ông sinh tại Sài Gòn năm 1973, trong một gia đình vốn đã sống giữa ranh giới hiểm nguy của chiến tranh.

Cha ông là một sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Mẹ ông làm việc cho Tùy viên Hải quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Đó là loại công việc khiến bà trở nên vô cùng quan trọng đối với người Mỹ, nhưng cũng đồng thời khiến bà trở thành một người bị đánh dấu nếu thành phố thất thủ.

Đến tháng 4 năm 1975, thành phố đang sụp đổ.

Quân đội miền Bắc đang áp sát, và hàng chục nghìn người Việt Nam từng đứng về phía Hoa Kỳ bỗng phải đối diện với một tình thế ghiệt ngã: ai sẽ được thoát đi, và ai sẽ bị bỏ lại để đối mặt với những gì xảy đến sau đó.

Gia đình France nằm trong số ít những người may mắn thoát đi được.
Ngày 23 tháng 4 năm 1975, chỉ vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ, ông được bế lên một chiếc máy bay C-141 Starlifter của Không quân Hoa Kỳ và được đưa ra khỏi Việt Nam.

Khi ấy ông còn chưa đầy hai tuổi. Ông đã không có ký ức nào về thành phố nơi mình sinh ra, chỉ còn lại câu chuyện về cách mình đã rời khỏi nơi ấy.

Hành trình ấy dài và đầy bất định. Đầu tiên là Guam. Sau đó là trại Camp Pendleton ở California. Và cuối cùng là Camp Murray ở tiểu bang Washington — nơi đã xảy ra một điều mà France sẽ mang theo suốt phần đời còn lại.

Một gia đình địa phương, gia đình Peterson, đã cưu mang họ. Những người xa lạ, chẳng nợ gia đình ông điều gì, đã mở cửa ngôi nhà của mình cho một gia đình người Việt vừa đặt chân đến với gần như hai bàn tay trắng. Gia đình Hoang định cư tại thị trấn nhỏ Tumwater, tiểu bang Washington, và bắt đầu lại từ đầu.

France lớn lên như một người Mỹ. Nhưng ông lớn lên với sự hiểu biết rất rõ về việc mình đã trở thành người Mỹ như thế nào và trong hoàn cảnh nào.

Ông biết nhiều về câu chuyện — văn phòng tùy viên, chiếc C-141, những trại tị nạn, những người xa lạ đã cưu mang gia đình mình. Ông hiểu, theo cách mà phần lớn trẻ em không bao giờ phải hiểu, rằng mình còn sống và tự do là bởi những con người khác, rất nhiều người trong số đó mặc quân phục, đã quyết định rằng gia đình ông đáng được cứu.

Sự nhận thức ấy lắng sâu thành một điều còn lớn hơn lòng biết ơn. Nó trở thành một món nợ trong tâm khảm.

“Tôi cảm thấy mình có một món nợ cần phải trả,” nhiều năm sau ông nói. “Không chỉ với đất nước này, mà đặc biệt là với quân đội. Và tôi chọn cách trả món nợ đó bằng việc khoác lên mình quân phục.”

Năm 1995, France tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ West Point trong nhóm 1% đứng đầu khóa. Ông được phong cấp bậc sĩ quan ngành Quân cảnh, đạt được phù hiệu Ranger trên chặng đường quân ngũ, và được điều động sang vùng Balkans trong vai trò lực lượng gìn giữ hòa bình — một nơi khác trên thế giới cũng bị xé nát bởi một cuộc chiến khác.

Ông theo học Luật Georgetown và tốt nghiệp loại magna cum laude (tối ưu). Ông làm thư ký cho các thẩm phán liên bang. Ông hành nghề tại một trong những văn phòng luật danh tiếng nhất nước Mỹ.

Và từ năm 2007 đến 2009, France — người tị nạn từng sống trong một chiếc lều cho người tị nạn — mỗi ngày bước vào Bach Cung với cương vị Phó Cố vấn Luật cho Tổng thống Hoa Kỳ.

“Tôi thực sự đến nước Mỹ trên một chiếc máy bay và sống trong một cái lều. Rồi sau đó làm việc ở Bach Cung. Chuyện đó chỉ có thể xảy ra ở nước Mỹ.”

Năm 2009, sau chín năm rời quân ngũ, ở độ tuổi mà phần lớn những sĩ quan đã không còn gắn bó với chiến trường, ông tái ngũ.

Ông gia nhập vào đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt của Lục quân Hoa Kỳ với vai trò sĩ quan điều hành và được điều động sang Afghanistan, phục vụ qua nhiều tháng tác chiến ở một trong những chiến trường nguy hiểm nhất thế giới.

Ông đã trả món nợ của mình nhiều lần hơn mức cần thiết. Nhưng ông vẫn quay lại. Và hóa ra, đó đơn giản là con người ông.

Tháng 8 năm 2021, Afghanistan đang sụp đổ. Quân đội Mỹ rút đi, còn lại những người Afghanistan đã đứng bên cạnh họ suốt hai mươi năm — phiên dịch viên, cộng sự, đồng minh — bị bỏ lại phía sau, bị truy đuổi, tuyệt vọng tìm cách đưa gia đình mình thoát thân.

France đã từng nhìn thấy chính khung cảnh đó trước đây. Ông từng ở bên trong nó. Năm 1975, ông chính là đứa trẻ ở đầu bên kia của phép tính sinh tử ấy.
Ông không thể ngoảnh mặt làm ngơ.

Một mình, ông đã tổ chức một chiến dịch di tản tư nhân — một chiến dịch đặc biệt nguy hiểm, phần lớn được tiến hành ngoài lề chính thức. Ông đưa gần 400 người đồng minh Afghanistan và công dân Mỹ vượt hơn 200 dặm đường qua vùng lãnh thổ thù địch do Taliban kiểm soát để tới thành phố Mazar-e-Sharif, rồi che chở cho các gia đình ấy suốt ba tuần trong khi tìm cách đưa họ ra nước ngoài.

“Ngày 17 tháng 9 năm 2021,” sau này ông nói trước Quốc hội, “một chiếc máy bay thuê riêng đã  cất cánh lên bầu trời Afghanistan với 380 sinh mạng, trong đó có 128 người Mỹ, 152 trẻ em, và 1 em bé sơ sinh.”

Ngày nay, France là một doanh nhân kỹ thuật thành đạt. Ông đã góp phần xây dựng các công ty tạo ra hàng trăm triệu đô la doanh thu và tạo việc làm cho hơn một nghìn người trong các lĩnh vực luật, hàng không vũ trụ, quốc phòng và trí tuệ nhân tạo.

Đó là một cuộc đời phi thường theo bất kỳ thước đo nào. Nhưng nếu hỏi điều gì thôi thúc ông, ông sẽ không bắt đầu bằng những thành tựu đó. Ông bắt đầu bằng một chuyến bay vào tháng 4 năm 1975.

“Gần 50 năm trước, tôi là một trong những đứa trẻ được giải cứu,” ông nói trước Quốc hội. “Năm 1975, gia đình tôi đã được lực lượng quân đội Hoa Kỳ di tản khỏi Sài Gòn.”

Ông đã dành cả cuộc đời để trả lại món nợ ấy.
Và đâu đó trên hành trình ấy, ông đã bảo đảm rằng cuộc giải cứu năm xưa là điều xứng đáng — không chỉ cho chính ông, mà còn cho 380 sinh mạng mà ông đã đưa lên bầu trời tự do trong một buổi chiều tháng Chín 2021.

Source: West Point Center for Oral History



Blog Archive