Wednesday, May 6, 2026

Mỹ: Người đàn ông gốc Hoa lừa 59 triệu USD trợ cấp thất nghiệp, rửa tiền về Trung Quốc

Naveen Athrappully•Thứ Ba, 05/05/2026

Theo Bộ Tư pháp Mỹ, một vụ án lớn vừa được phơi bày, tiết lộ mạng lưới lừa đảo và rửa tiền có phân công rõ ràng, hoạt động xuyên biên giới Mỹ – Trung.














Biểu tượng Bộ Tư pháp Mỹ. (Nguồn: Samira Bouaou/ Epoch Times)

Vụ án cho thấy các đối tượng ở nước ngoài phối hợp với cộng sự trong nước Mỹ, lợi dụng lỗ hổng của hệ thống phúc lợi trong đại dịch để chiếm đoạt hàng chục triệu USD trợ cấp thất nghiệp.

Tuần trước, vào ngày 30/4, Văn phòng Công tố Liên bang khu trung tâm Pennsylvania thông báo, Bruce Jin, 61 tuổi, cư trú tại Los Angeles, California, bị kết án 144 tháng tù giam vì đồng mưu lừa đảo chuyển tiền điện tử và rửa tiền, với tổng số tiền liên quan khoảng 59 triệu USD. Jin đã nhận tội vào tháng Một năm ngoái.

Vụ án diễn ra trong bối cảnh Chính phủ Mỹ tăng cường chống lừa đảo. Ngày 7/4/2026, Bộ Tư pháp Mỹ thành lập “Cục Thực thi Chống Lừa đảo Quốc gia”, phối hợp với “Đội đặc nhiệm chống lừa đảo liên bang” để ngăn chặn các hành vi gian lận, lãng phí và lạm dụng quỹ phúc lợi.

1. Trung Quốc: Chi phối việc đánh cắp danh tính và quy trình đăng ký

Theo cáo trạng, các khâu đầu nguồn của mạng lưới chủ yếu ở Trung Quốc.

Một số cộng sự tại Trung Quốc đã đánh cắp quy mô lớn thông tin cá nhân (PII) của công dân Mỹ, bao gồm tên, số An sinh Xã hội và các dữ liệu nhạy cảm khác.

Những danh tính bị đánh cắp này được sử dụng để:
  • Mở hàng ngàn tài khoản ngân hàng tại Mỹ;
  • Giả mạo để nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp theo đại dịch tại nhiều bang;
  • Đồng thời đăng ký các khoản hỗ trợ kích thích kinh tế liên quan đến đại dịch.
Hoạt động lừa đảo này khiến các tieu bang như Pennsylvania, Virginia, Florida và nhiều bang khác chi trả hàng triệu USD quỹ cứu trợ.

2. Tài khoản nội địa trở thành “bể nhận tiền”

Sau khi chiếm đoạt tiền, số tiền đầu tiên được chuyển vào các tài khoản ngân hàng mở dưới danh tính nạn nhân, trở thành “bể trung chuyển” của dòng tiền.

Sau đó, tiền được chuyển đi nhanh chóng theo hai cách:
  • Chuyển trực tiếp vào các công ty ma trong nước;
  • Sử dụng hệ thống chuyển khoản tự động ACH để chuyển hàng loạt.
Trong quá trình này, các cộng sự tại Mỹ bắt đầu đóng vai trò quan trọng.

3. Công ty nội địa che giấu dòng tiền

Jin cùng 2 cộng sự — Brian R. Cleland (72 tuổi) và Carlos A. Grijalva (60 tuổi) — thành lập nhiều công ty ma tại Los Angeles, bề ngoài kinh doanh khẩu trang và đồ bảo hộ cá nhân, thực chất để che giấu dòng tiền bất hợp pháp.

Sau khi chiếm đoạt tiền trợ cấp, số tiền này được chuyển đến các công ty do 3 người kiểm soát. Ví dụ, Jin thông qua Ample International và Jin Commerce rút hơn 12 triệu USD từ các tài khoản nạn nhân.

Họ còn sử dụng hệ thống ACH chuyển hơn 45 triệu USD từ các tài khoản bị đánh cắp, phần lớn chảy vào năm công ty do Cleland và Grijalva kiểm soát. Sau đó, 5 công ty này phân phối tiếp: hơn 30 triệu USD về công ty của Jin, khoảng 6 triệu USD về công ty của cộng sự khác.

Bản chất của tầng này là biến tiền bất hợp pháp thành doanh thu hợp pháp của doanh nghiệp, hoàn tất giai đoạn rửa tiền ban đầu.

4. Chuyển tiền xuyên biên giới về Trung Quốc

Sau khi rửa tiền sơ bộ, tiền được chuyển sang khâu cuối cùng — chuyển tiền quốc tế về Trung Quốc.

Jin chuyển hơn 35 triệu USD về một công ty tại Trung Quốc do một cộng sự kiểm soát; đồng thời chuyển trực tiếp hơn 2 triệu USD cho cá nhân cộng sự đó.

Như vậy, toàn bộ chuỗi tiền được khép kín: Đánh cắp danh tính người Mỹ từ Trung Quốc → Lừa trợ cấp tại Mỹ → Rửa tiền tại Mỹ → Chuyển về Trung Quốc.

Ngoài 12 năm tù, Jin bị tịch thu toàn bộ tài sản liên quan: hơn 59 triệu USD tiền mặt, các tài khoản ngân hàng liên quan, và một bất động sản mua bằng tiền phạm tội tại Honolulu, Hawaii.

Cleland và Grijalva đã nhận tội, dự kiến tuyên án trong tháng này.

Theo Naveen Athrappully/ Epoch Times
nguồn trithucvn2.net.

Tuesday, May 5, 2026

5 MÓN RAU LUỘC TƯỞNG RẤT "THANH ĐẠM" NHƯNG ĐANG ÂM THẦM BÀO MÒN QUẢ THẬN CỦA NGƯỜI GIÀ!

Dạ, cháu xin kính chào các cô, các bác và các anh chị!

Chúng ta vẫn luôn tin tưởng rằng ăn rau luộc là một thói quen thanh đạm, lành mạnh và giúp bảo vệ sức khỏe tuổi già. Thế nhưng, có một sự thật y khoa khiến nhiều người phải giật mình: Chính thói quen tưởng chừng vô hại ấy lại có thể trở thành "con dao hai lưỡi", âm thầm hủy hoại quả thận mỗi ngày.

Sau độ tuổi 50, quả thận của con người giống như một chiếc máy lọc đã cũ, công suất hoạt động suy giảm rõ rệt. Khi các bác ăn sai loại rau, quá trình luộc sẽ giải phóng ra hàng loạt các chất như kali, oxalat, purin hay nitrat. Những chất này buộc thận phải gồng gánh làm việc gấp nhiều lần, dẫn đến hậu quả là chỉ số creatinin trong máu tăng nhanh, sỏi thận hình thành, tiểu đêm triền miên, huyết áp bất ổn, và nặng nề nhất là đối mặt với nguy cơ suy thận, phải chạy thận nhân tạo suốt đời.

Dựa trên các phân tích khoa học, dưới đây là 5 loại rau luộc tiềm ẩn mối nguy hiểm vô hình mà các cô bác cần đặc biệt cảnh giác:

1. Rau bina (Cải bó xôi): "Bẫy" sỏi thận từ lượng Oxalat khổng lồ

Nhiều bác thường nghe truyền thông ca ngợi cải bó xôi là siêu thực phẩm nhờ chứa nhiều vitamin. Tuy nhiên, với thận người lớn tuổi, loại rau này lại là một gánh nặng cực kỳ nguy hiểm vì nó chứa hàm lượng oxalat cao chót vót (khoảng 970mg oxalat trong 100g rau). Khi đi vào cơ thể, lượng oxalat khổng lồ này sẽ kết hợp với canxi tạo thành sỏi oxalat canxi - một loại sỏi rất cứng đầu và khó điều trị. Thận không lọc kịp sẽ gây lắng đọng, dẫn đến đau lưng, tiểu buốt, viêm tiết niệu và làm tăng vọt chỉ số creatinin. 

Lời khuyên: Các bác không cần tuyệt đối bỏ hẳn, nhưng chỉ nên ăn 1-2 lần mỗi tuần với lượng nhỏ. Bắt buộc phải luộc sơ và đổ bỏ nước luộc đi vì oxalat tan nhiều trong nước. Bác nào đã có tiền sử sỏi thận thì nên tránh hẳn, chuyển sang ăn cải ngọt, cải thìa hay rau dền để an toàn hơn.

2. Rau muống luộc: Thủ phạm làm tăng Axit Uric và vắt kiệt sức thận

Rau muống luộc với bát nước canh dầm sấu là món ăn quen thuộc trên mâm cơm người Việt. Tuy nhiên, 100g rau muống chứa tới 57mg purin. Khi vào cơ thể, purin chuyển hóa thành axit uric. Nếu thận đã yếu, axit uric không đào thải được sẽ tích tụ trong máu gây ra bệnh gout và viêm khớp. Đáng sợ hơn, nồng độ axit uric cao là yếu tố nguy cơ độc lập phá hủy chức năng thận nhanh chóng. Ngoài ra, rau muống ao hồ còn dễ nhiễm kim loại nặng và ký sinh trùng, càng làm hệ miễn dịch và quả thận thêm kiệt quệ. 

Lời khuyên: Chỉ nên ăn rau muống 1-2 lần/tuần và tuyệt đối không ăn vào buổi tối, vì ban đêm là lúc thận cần nghỉ ngơi chứ không phải để "làm ca đêm" lọc purin. Khi ăn phải luộc đổ bỏ nước, tuyệt đối không lấy nước luộc rau muống làm canh uống.

3. Cải xoăn (Kale): Nguy cơ ngừng tim đột ngột do thừa Kali

Gần đây, nhiều người rộ lên trào lưu ăn cải xoăn hoặc ép nước uống mỗi sáng. Ít ai ngờ, 100g cải xoăn chứa lượng kali cực kỳ cao, lên tới 480-500mg. Thận người già, người mắc bệnh tiểu đường hay cao huyết áp đã giảm khả năng đào thải kali. Khi kali tích tụ trong máu sẽ gây ra tình trạng tăng kali máu. Hậu quả là rối loạn nhịp tim, chuột rút, mệt mỏi, và trong trường hợp nặng có thể gây ngừng tim đột ngột. 

Lời khuyên: Các bác tuyệt đối không được uống nước ép cải xoăn đặc. Nếu luộc, chỉ ăn một lượng nhỏ và nên nấu chung với các loại rau ít kali như bầu, bí xanh, mướp, rau ngót để cân bằng. Tuyệt đối không ăn cải xoăn vào buổi tối.

4. Dưa cải muối luộc: Phá vỡ màng lọc thận vì lượng Muối và Nitrit

Nhiều gia đình có thói quen đem dưa muối chua đi luộc lên ăn cho nhạt bớt và nghĩ thế là lành. Thực tế, lượng muối natri khổng lồ trong dưa chỉ tan một phần ra nước chứ không hề biến mất. Ăn mặn lâu dài làm cơ thể giữ nước, tăng huyết áp, tổn thương các mạch máu nhỏ trong thận và làm giảm độ lọc cầu thận. Nguy hiểm thứ hai là chất nitrat trong rau khi muối chua đã chuyển thành nitrit. Quá trình luộc không hề làm mất đi nitrit. Khi vào cơ thể, nó tạo thành nitrosamin gây hại cho niêm mạc dạ dày và làm tổn thương màng lọc cầu thận. 

Lời khuyên: Hãy điều chỉnh ngay thói quen này, tốt nhất là giảm dần và thay thế bằng các loại rau luộc nhạt an toàn như bí xanh, bầu, rau ngót. Nếu thèm, chỉ ăn rất ít vào ban ngày.

5. Măng tươi luộc: Chứa chất độc Cyanua ép thận làm việc cật lực

Rất nhiều gia đình ăn măng luộc hàng tuần mà không hay biết mình đang tự đầu độc quả thận. Măng tươi chứa độc tố cyanid (cyanua), 1kg măng tươi có thể chứa tới 230mg chất độc này, trong khi chỉ 50-200mg đã đủ đe dọa tính mạng. Dù luộc nhiều giờ, lượng độc tố này chỉ giảm đi chứ không hết sạch. Khi ăn vào, gan và thận phải làm việc cật lực để trung hòa chất độc này. Kèm theo đó, măng lại chứa lượng oxalat cao bậc nhất, chẳng khác nào "đổ thêm cát đá" vào chiếc máy lọc đã cũ, gây sỏi thận nhanh chóng. 

Lời khuyên: Phải ngâm măng nhiều giờ, luộc bỏ nước 2-3 lần trước khi nấu. Tuyệt đối không uống hay dùng nước luộc măng làm canh. Người có tiền sử sỏi thận, suy thận, cao huyết áp nên tránh hẳn món ăn này.

LỜI KHUYÊN: Tuổi già, quả thận đã mệt mỏi, mỗi bữa cơm cần sự chọn lọc thật thông minh. Ăn đúng loại rau, luộc đổ bỏ nước, và đặc biệt không dồn ép thận làm việc vào buổi tối chính là cách bảo vệ "nhà máy lọc máu" của cơ thể tốt nhất.

Chăm sóc sức khỏe bắt đầu từ những lựa chọn nhỏ nhất trên mâm cơm. Chúc các bác, các cô chú luôn có những bữa ăn lành mạnh, cơ thể nhẹ nhàng, để sống vui, sống khỏe trọn vẹn từng ngày bên con cháu!
Palawan Miệt Đất Hứa

Lời phi lộ
Tui và vợ ở trại tỵ nạn Palawan 3 năm từ 1989 tới 1992 chờ Thanh Lọc vì đi sau ngày Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc = UNHCR đóng cửa
Đính kèm là hình của tui đang ngồi " nhậu " không có mồi , " chửa lửa " bằng nước lạnh, tui ngồi thứ 3 và vợ tui ngồi thứ 4 trong căn nhà lá, vách tre, nền Xi măng tại số 54 khu 9 như sau :

Tình cờ bạn tui gửi riêng cho tui bài viết này nên tui post cho tui và các ACE bốn phương trời từng Vượt Biên để... Nhớ Về... !!!

Puerto Princesa City

Chúng tôi đến Palawan giữa trưa nắng. Nắng chói chan nhiệt đới đập xuống mặt lũ thuyền nhân từ quân vận hạm leo vội vã lên các xe nhà binh. Chúng tôi gầy gò ướt sũng và da nhăn nhúm của 13 ngày trôi trên biển. Trôi ̶ từ bao giờ tôi hết còn ý niệm của trôi giạt ̶ chỉ còn bản năng sống sót. Chuyến tàu kinh hoàng xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 va vào đá ngầm mắc cạn trên san hô. Gần hai tuần lễ chúng tôi dầm dưới nước, ban ngày biển rút xuống mắt cá chân giúp cạo sò ốc nhai rong rêu và hứng nước mưa; đêm đến thủy triều lên lút đầu phải bám víu bè gỗ. 391 thuyền nhân đăng ký vượt biên bán chánh thức, lên đến đảo Liminangcong ngày 21 tháng 6 điểm danh còn đúng 285. Những người khác ̶ 106 kẻ khác của Camus ̶ chết đuối, chết chìm, mất tích. Chúng tôi không nghĩ đến họ nữa.

Không ai biết mai ra sao. Đất Phi lành hay dữ? Hải quân Phi trên đảo Liminangcong phát cho mỗi người mỗi ngày ba thìa cháo. Quát tháo và nạt nộ. Chúng tôi đi xin ăn trong các bản làng Phi, xin canh cặn cá thừa để cầm hơi. Một tuần sau Hải quân Phi chở chúng tôi đến Puerto Princesa City. Bến cảng hiện ra như thiên đàng.

Anh Vĩnh thông thái dịch:
- “Princesa là công chúa! Puerto Princesa City là thành phố của Công chúa! Chúng mày là hoàng tử công chúa đất Phi!”…

Chúng tôi ngơ ngác nhìn quanh, hết còn là làng chài lưới ván gỗ ọp ẹp mà xây bằng gạch. Có nhà thờ, biệt thự, trường học, quán bar! Đám thuyền nhân vỡ òa sung sướng. Nhưng phút sung sướng tắt nhanh vì các ngôi nhà khang trang biến mất dần nhường cho đường đất ngoằn ngèo. Mười chiếc quân xa rú máy chạy qua hết ruộng bắp này đến ruộng chuối khác. Hết nhà gạch, xuất hiện những túp lều lợp lá thưa thớt. Lộ đất mỗi lúc một hẹp, lổn ngổn đá với bụi gai hoang vắng. Chúng tôi biết đã xa thị tứ.

Trạm kiểm soát đầu tiên có quân cảnh vận quân phục y như quân cảnh VNCH nhưng lực lưỡng hơn với da đen sạm không chút thân thiện. Bót gác có rào chắn. Rồi đoàn xe bắt đầu leo dốc. Tôi ngồi bệt trên sàn sắt cố nhướng mắt với các anh Thành, anh Hoàng nhìn ra phía trước. Hai anh chung tàu bảo bọc tôi những ngày tàu chìm. Chung quanh các khuôn mặt vẫn còn nguyên nét bàng hoàng chết hụt trên bãi ngầm Trường Sa. Trước lúc đi chúng tôi đã biết tin thuyền nhân bị nhốt, bị đánh đập trong các trại cấm Hồng-Kông, bị đối xử dã man ở các xứ mới hôm qua hãy còn là đồng minh của VNCH. Anh Thành là thiếu úy bộ binh tù ba năm, gương mặt hằng nét khổ sai, nhưng anh cứng cáp nhất, lúc nào cũng trông chừng anh em tôi. Ở Liminangcong có ba thìa cháo, anh chia cho tôi, bảo:
- “Mày đang sức lớn nuốt đi.”

Giờ, chúng tôi chung thắc mắc: Cảnh binh Phi chở chúng tôi đi đâu? Không ai biết. Chúng tôi sắp bị đánh bị nhốt không? Sao không thấy Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ra nhận chúng tôi? Dẫy núi đen rập rờn không gây yên tâm. Lúc này hết ruộng thành rừng. Những gốc đa của táng rừng ven lộ mọc nghiêng xuống gần đụng mui xe.

Một người nói:
- “Côn Đảo rồi bây ơi!”.

Khoang xe im phắc lo lắng.

Nhíp xe xốc mạnh khi lên đến đỉnh dốc. Ba chục thuyền nhân chất cá mòi ngã đè lên nhau.

Đột ngột một tiếng la:
- “Cờ Việt Nam Cộng Hòa!”

Chúng tôi bật lên như lò xo. Tất cả mất thăng bằng vì xe rung lắc nhưng ráng bấu víu, bám lưng, chen lên vai người khác, bám vào đầu kẻ chung quanh để chồm lên. Ai cũng muốn nhìn. Trời quang giúp thấy lá cờ trên chóp một cột cao. Lá cờ ba sọc đỏ nền vàng.

Đồng loạt nhiều tiếng gào:
- “Cờ mình!”.. “Cờ mình!”

Cờ mình! Chúng tôi cứng sững người. Đã bốn năm rồi không nhìn thấy, phải phủ nhận, phải chôn vào huyệt ký ức, vậy mà lá cờ vẫn sống, đang bay. Và lần đầu tiên được thốt lên một lần nữa hai chữ “Cờ mình”. Mắt mọi người ràn rụa. Bốn năm dài tủi nhục hết rồi. Bồn năm trường uất nghẹn hết rồi. Một người sụt sùi “Mình thoát rồi…”, một người khác tức tưởi “Sống rồi”, “Sống rồi…” rồi là những tiếng nấc. Khóc vì sung sướng. Khóc cho vơi tủi hờn đằm đìa má. Một người cha cắn môi, một người mẹ ôm chặt con, một người đọc kinh Lạy Cha, một người khác niệm Phật, một người khác hứa ăn chay suốt đời.

Phải sống phút đó. Tôi đã sống phút đó trong thùng xe chiếc GMC chở thuyền nhân về trại Palawan. Tôi đã chứng kiến mọi người khóc nghẹn ngào khi trông thấy lại lá quốc kỳ của Miền Nam. Tức tưởi hòa với nước mắt của vui mừng vì lá cờ vàng còn dựng được trên mặt đất là còn hy vọng.

Vietnamese Refugees Camp

VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.

Chúng tôi đói lả. Hành trình một tháng vượt biên, một tuần ở đảo Liminangcong, một ngày một đêm hải hành đến Palawan không được phát thức ăn trên dương vận hạm khiến chúng tôi xanh mướt tàu lá. Ông Thanh trưởng trại ra lệnh cho nhà bếp cấp tốc thổi cơm. Tôi ăn liên tục một lúc 10 lon guigoz, đến bây giờ kể lại không ai tin, không có thức ăn, chỉ có cơm trắng nhưng tôi nuốt ngon lành, ăn hết lại chìa lon cho đến lúc người ta la hoảng: “Đừng cho thằng nhỏ ăn nữa nó sắp bội thực!” Người lớn giằng lon guigoz. Đến lúc đó tôi mới thực sự thấy đuối sức, rủ riệt tay chân. Sức vóc như đã pha loãng vào sóng biển và sóng cuốn trôi xa. Tôi muốn đi kiếm anh Thành, anh Hoàng và anh cả tôi không biết lạc mất lúc nào lúc phát cơm chen lấn hỗn độn nhưng lết không nổi. Giờ tôi mới thấy no muốn nghẹn. Tôi bước ba bước, mặt đất bồng bềnh như tôi còn dưới nước. Tôi hiểu trọng lực vật lý khác biệt làm lên bờ tôi bị nghiêng ngã nhưng tôi hết còn sức để suy nghĩ. Tôi ngã dụi lên đống củi phía sau chái bếp. Trong lơ mơ đầy tiếng động, tôi loáng thoáng nghe người ta kháo là trại chia làm năm khu: Khu 1 đi Canada, Khu 2 đi Mỹ, Khu 3 đi Úc, Khu 4 Vô thừa nhận; còn Khu 5 dành cho những gia đình khá giả có tiền thuê cất lều riêng. Tôi thiếp ngủ dưới lá cờ vàng.

Ông Thanh tập hợp chúng tôi lại và bắt chia thành toán rồi chỉ định về khu 4 Vô Thừa Nhận. Anh Vĩnh văng tục: “Đã thoát ra ngoài rồi còn lập tổ dân phố, lập Công an phường luôn đi.” Gọi là Khu 4 nhưng không có barrack, không có nhà, không vách tường mái tôn giường chiếu chi hết, chỉ là một bãi đất trống sát phi đạo chằng kẽm gai. Không điện, không nước máy, một miệng giếng duy nhất bên Khu 5 nhưng là giếng nước mặn. Mỗi ngày lính Phi kéo mấy móc hậu nước vào phân phối cho trại; mỗi người xếp hàng lĩnh hai lít nước, muốn thêm nữa thì hứng nước mưa. Những đêm đầu chúng tôi ngủ trên cỏ ướt. Tôi không còn quần áo nào khác ngoài đồng phục học sinh lúc xuống thuyền nhưng không thấy lạnh. Tôi đã dầm nước biển hai tuần, đã ngủ trên ghềnh đá sóng đập ở cầu tàu Liminangcong thì xá gì sương đêm. Nhưng giấc ngủ không an giấc, chập chờn mộng mị thấy mình còn ở Sàigòn, trong ngôi nhà mẹ, gọi “Mẹ, Mẹ.. con thoát rồi, con đến bờ rồi…” rồi hốt hoảng không hiểu vì sao mẹ đã đóng 12 cây vàng cho mình ra đi mà mình vẫn còn ở nhà và công an đang đập cửa… Tôi thức giấc giữa hai ác mộng, thấy lính Phi đi tuần chiếu đèn pin ngang dọc lên mặt lũ thuyền nhân đang ngủ xếp lớp như cá nục. Tôi cũng là con cá nục vừa chai với số phận.

Vài tuần sau, anh cả dạy Pháp văn và chị Tâm đi dạy Anh văn có tiền thuê các thanh niên trong trại đốn cây cất cho chúng tôi một túp lều chiều ngang hai thước, chiều dài ba thước với một góc bếp và một giường tầng, lợp bằng lá dừa kết với cây rừng. Căn lều sát sân bay. Mỗi khi máy bay Phi cất cánh là túp lều rung chuyển bần bật và sau vài tuần lá héo cong queo, trời mưa xuống làm chúng tôi ướt như chuột. Bổn phận của tôi là đi lĩnh thực phẩm, một con cá ươn, một miếng thịt heo ôi với ba lon gạo cho 3 người. Anh Vĩnh cằn nhằn: “Tụi nó ăn chặn tiền của Liên Hiệp Quốc, phát cho mình toàn của ôi.” Anh Thành an ủi: “Lúc tàu đắm mình xin ơn trên ít hơn vầy.” Lều của anh Thành và anh Vĩnh cách không xa, chúng tôi chạy qua chạy lại. Công việc của tôi còn là xếp hàng lĩnh nước ngọt và vô rừng đốn củi về nấu ăn. Vì lính Phi phát thịt sống, cá sống, gạo sống nhưng không phát chất đốt. Lúc ở Sàigòn tôi chưa từng xuống bếp nên tôi cho hết chuối, dừa, cá vô nón sắt lính Phi tôi lượm được đặt trên ba cục đá rồi đổ nước vô đốt củi đun. Anh cả tôi phun ra đất! Chị Tâm lịch sự nhắc nên đánh vẩy mổ ruột trước khi cho vô. Anh Vĩnh nhạo: “Tao nói rồi. Puerto Princesa City là đảo của Công chúa mà. Tụi bây là hoàng tử công chúa đất Phi! Công chúa không đụng tay, hoàng tử không biết đánh vẩy cá!”

Phu Nhân Imelda Marcos

Tin sét đánh: Phu nhân đương kim Tổng thống Ferdinand Marcos là first lady Imelda Marcos thăm trại ủy lạo các thuyền nhân tỵ nạn Cộng sản! Suốt hai tuần lễ đầu tháng 10-1979 Ban Điều hành đôn đốc đàn bà con gái kết hoa, treo đèn lồng, giăng cờ quạt khắp nơi, đàn ông thanh niên phải vô rừng đốn cây dựng khán đài. Nhóm chúng tôi cố tình đốn những cây ốm, không quá to cho dễ khuân. Ông phó ban Khu 4 « kiểm tra phẩm chất » không mấy ưng ý: “Không đạt chỉ tiêu. Đốn lại cây khác.” Anh Thành nổi sung quát: “Đây 6 năm lính, ném 200 trái lựu đạn. Ngon chơi tay đôi.” Tay phó ban tái mặt, nhìn nhìn rồi thì thào: “Thông qua.” Anh Vĩnh chửi thề: “Sang đây còn chức sắc. Còn sài chữ Việt cộng.” Anh Hoàng nói: “Nó bị nhiễm.”

Chúng tôi phải tập hát ca khúc suy tôn Tổng thống và những bài ca chào mừng Đệ nhất Phu nhân, mặc dù không hiểu chi hết chỉ lập lại như con két. Khắp trại giăng các biểu ngữ viết bằng tiếng Filipino. Rồi buổi sáng trọng đại cũng đến. 8 giờ sáng đã bị lùa ra đứng dọc hai bên cổng chào, đứng dọc lối đi dẫn đến cột cờ và đứng xúm xít chung quanh khán đài. Lính Phi phát cho mỗi người một lá cờ Phi bắt cầm trên tay và phất lên vẫy vẫy khi phu nhân đến. Trưởng ban quân nhạc Phi yêu cầu tập dợt quốc ca Phi “Lupang Hinirang” mặc dầu suốt tuần rồi đã hát đi hát lại cả chục bận. Ông Thanh trưởng trại yêu cầu đồng hương ăn vận chỉnh tề, giữ quốc thể! Anh Vĩnh càu nhàu: “Còn hơn đón Tôn Đức Thắng!!” Tôi ngó ra cột cờ, lính Phi đang hạ cờ VNCH thay bằng cờ Phi Luật Tân có hình mặt trời với ba ngôi sao cho đúng nghi lễ.

Tháng 10 mùa bão, trời bắt đầu mưa lất phất, mây đen kín đỉnh núi. Tôi nhìn xuống quần áo mình, tôi chỉ có ba bộ quần áo mặc suốt bốn tháng nay, hai bộ áo hồng và tím có nơ ren với thêu hoa hồng của dì phước cho ở Liminangcong. Hôm đó tôi gõ cửa tu viện xin ăn, một dì phước trẻ mở cửa nhìn rồi dẫn tôi lên phòng lấy cho tôi quần áo thời con gái của dì. Nhưng là đồ bộ đàn bà nên tôi không dám mặc ban ngày, chỉ bận khi ngủ, ban ngày tôi vẫn mặc đồng phục học sinh của mình. Trong tiếng nhạc “Pagsalubong sa unang ginang… Welcoming the first lady…” tôi thấy rõ hai ống tay áo của mình rách đến nách, còn hai ống quần dài rách đến gối. Rồi tôi nhìn ông Thanh đang cầm loa phóng thanh đi qua đi lại, ông vận quần tây đen gabardine, áo sơ mi trắng dài tay có cài manchette, thắt cà vạt có barrette, nhìn là biết ông không đắm tàu, chưa thành cá nục. Ông nói tiếng Anh oang oang “Ladies and Gentlemen…” nhưng chuyển sang tiếng Việt là ông quát “Cái xóm nhà lá bên hông khán đài đó… Không có ngồi xổm!”. Ông thật sự nghĩ là chúng tôi có thể ăn vận chỉnh tề? Mà tại sao trong tiếng Anh thuyền nhân sang trọng mà sang tiếng Việt thì bần hàn?

Mưa mỗi lúc một lớn. Giờ thì phải tập hô « Vạn tuế Phu Nhơn » …bằng tiếng Việt. Tất nhiên là bà Marcos sẽ không hiểu chi hết nhưng bà cần nghe thuyền nhân tung hô bà bằng chính ngôn ngữ của Trưng Trắc. Mưa nặng hạt. Ông Thanh cầm loa thông báo chương trình tiếp đón Phu Nhơn lúc 10 giờ lui lại …chờ bớt mưa. Nhiều gia đình lên tiếng yêu cầu cho về lều trú nhưng ông Thanh không chịu, viện cớ Phu Nhơn đã đáp xuống phi trường quân sự, từ đó đến trại có 20 phút, cho tất cả về barracks thì khi hô tập trung sẽ không kịp. Với lại chưa có lệnh giải tán của đại tá quân trấn trưởng Palawan. Chúng tôi bắt đầu ướt nhem, gió quất từng cơn. Đến trưa chẳng còn hàng lối, mọi người ngồi bệt xuống đất, con nít bắt đầu kêu khóc. Nhiều người phản đối. Lính Phi phát cho mỗi người hai miếng bánh lót dạ, huơ súng bắt giữ trật tự. Tôi có ý nghĩ là mỗi khi lá cờ vàng biến mất là dân miền Nam lại lầm than. Tại sao chúng tôi phải chầu chực ở đây dưới mưa? Tôi nhìn nước mưa nhiểu từ sống mũi mình xuống cằm rồi chạm ngón chân. Y những giọt mưa trên biển những ngày tôi dầm dưới đại dương. Những ngày mắc cạn trên san hô, ban ngày nước rút, ban đêm thủy triều lên quá đầu phải bám víu vào nhau, níu dây thừng, ván gỗ. Tôi đã trông thấy thây ma chết đuối nổi lên chương sình trôi lềnh bềnh bên cạnh phải lấy tay đẩy ra. Tôi đã không hiểu vì sao tôi phải chết quá sớm? Mới hôm qua tôi còn ở quận Nhất Sàigòn, đầu tháng Tư tôi còn đến nhà Thanh Mai trên đường Phan Thanh Giản đàn ca khúc Ngăn Cách của Y Vân trong ngày sinh nhật thứ mười bảy của cô bạn gái thân thiết nhất của mình. Mười ngày sau Thanh Mai vượt biên không kịp từ giã, rồi một tháng sau đến phiên tôi trôi giạt trên biển, cùng biển Thái Bình này, vẫn là biển Thái Bình bao quanh Việt Nam. Tất cả diễn ra quá nhanh. Tôi với Thanh Mai chỉ vừa chớm 17 tuổi. Suốt hai năm 78-79 chúng tôi không rời nhau, chung trường, chung lớp, ngồi chung bàn cạnh nhau, chiều chiều cùng đi học phụ đạo, tối đèo nhau khắp phố phường, tình yêu trung học trong sáng. Vậy mà giờ tôi ngồi đây, bệt trên cát đang chuyển sang bùn đợi bà Marcos. Tôi không biết bà là ai ngoài chức danh hoa hậu trước khi bà lấy ông Marcos.

Quá trưa, gần hai giờ chiều, nhiều gia đình tự động bỏ về mà ông Thanh không ngăn được, cả lính Phi cũng không còn muốn giữ trật tự vì hiểu là bà Marcos sẽ không đến. Mưa càng lúc càng lớn, đến ba giờ chiều thì tất cả mọi người ướt sũng chạy về lều. Đêm xuống Ban Điều hành hoan hỷ báo tin là tuy Phu Nhơn không đến nhưng quà ủy lạo đã chuyển đến: Gồm một lon sữa bột, một lon cacao, một túi cà phê, một bịch đường cho mỗi túp lều!

Vũ Thị Thanh Mai

Tháng 11 xảy ra tai nạn. Tôi chiên cá trong nón sắt lính Phi, lửa nóng làm cục gạch kê bị vỡ khiến chảo nón sắt đổ ụp xuống tay. Bị bỏng nặng nên tôi chạy lên trạm xá xin thuốc, chỉ được cho một ống kem đánh răng nhưng tôi cũng không sao bôi lên tay được vì da nổi phồng thành bong bóng đau rát suốt cả tháng. Áp Giáng sinh xảy ra tai nạn khác. Tôi đứng từ trưa đến chiều đợi lãnh nước. Nhiều người cãi vã vì mất kiên nhẫn. Đến phiên tôi hứng nước, một ông xếp hàng phía sau chen lấn xô tôi sang bên để giành chỗ. Ngay lúc đó thanh gỗ chống đỡ móc hậu nước không biết vì sao gẫy đôi làm nguyên cần móc sắt rơi đập xuống chân ông vừa chen lên, khiến gang bàn chân ông đứt lìa. Nguyên bãi đất máu me đến sợ. Người ta lật đật chở đi cứu thương. Tôi thầm cảm ơn Phật độ trì cho mình. Chỉ tíc-tắc thôi, nếu ông ta không giành chỗ là tôi đã đứt đôi bàn chân.

Sắp Giáng sinh, trại trang trí những cây thông giả kết bằng cành dứa với trái châu là những lon sữa của bà Marcos treo lủng lẳng. Tôi nhớ Thanh Mai vô vàn. Giáng sinh 78 tôi với Thanh Mai đi bộ từ chợ Bến Thành ra công trường Lam Sơn, tôi muốn hai chúng tôi đếm những bóng đèn đường như trong Phượng Vỹ của Duyên Anh. Nhưng dòng người đông đúc tràn phố khiến chúng tôi không sao bắt chước Chương với Phượng ở Thái Bình cùng sóng đôi đếm những cột điện của thị xã. Tuổi niên thiếu của chúng tôi ngập tràn mơ mộng với Duyên Anh, Nhã Ca, Erich Maria Remarque. Tôi chuyền cho Thanh Mai những trang tiểu thuyết và Thanh Mai cùng đọc chui những trang sách in trước 75. Rồi Tết 79. Chiến tranh với Khmer Đỏ, chiến tranh với Tàu nhưng Thanh Mai đẹp như một ước mơ. Mùng hai Tết Thanh Mai đến chúc Tết. Thanh Mai tóc ngắn, váy ngắn. Lần đầu tiên trông thấy đôi chân trần của Thanh Mai nên tôi nhìn không chớp mắt. Đến lúc ngửng lên bắt gặp Thanh Mai đang quan sát mình. Cả hai chúng tôi cùng đỏ mặt, vì Thanh Mai biết tôi đang nhìn đùi Thanh Mai, còn tôi xấu hổ đã nhìn chăm chăm đùi cô bạn mình. Chúng tôi cắn hạt dưa ngượng nghịu rồi Thanh Mai vội vã ra về. Tôi trách mình cùng cực và nghĩ chắc Thanh Mai phải khinh mình lắm, không biết làm sao xin lỗi. Nhưng sáng mùng ba Thanh Mai lại đến. Nghe bấm chuông tôi lao ra mở cửa, Thanh Mai mặc váy ngắn hơn hôm qua! Cô bạn thân xinh xắn cười tươi như hoa với ánh mắt ngầm nói “Mai vận váy ngắn cho Vũ ngắm nữa!” Chúng tôi vui hơn Tết. Tôi đập heo moi hết tiền lì xì chở Mai đi uống chanh rhum với yaourt đá bào. Mai quàng tay ôm thắt lưng tôi trìu mến. Mùng bốn Tết chúng tôi xem ciné ở rạp Casino, trú mưa bên hông thư viện quốc gia… Chế độ Cộng sản song mọi thứ như còn y nguyên và tuổi dậy thì của hai chúng tôi lớn lên với quá khứ cũ đẹp tựa nhành lúa.

Áp Giáng sinh, những cơn bão rời xa Palawan trả lại bầu trời quang đãng trên dải cát vàng. Tôi ra biển ngó những lượn sóng, thầm hỏi bây giờ Thanh Mai ở đâu? Tôi không sao xóa được hình ảnh của Thanh Mai. Tôi hay ra phía sau bãi đá lấy cành cây viết tên Vũ Thị Thanh Mai trên cát. Mỗi một lần viết là một lần xúc động và mỗi bận sóng đánh lên xóa nhòa làm thêm buồn bã. Vũ-Thị-Thanh-Mai tôi nuốt thầm từng chữ. Vì sao chúng tôi không thể cùng lớn lên với nhau, cùng lên đại học rồi đám cưới? Tại sao chúng tôi phải ra đi. Vì sao phải rời quê? Tôi tìm lời giải thích, vì phía chiến thắng đối xử tàn ác.

Thanh Mai vượt biên ngày 13 tháng 4. Tôi vượt biên ngày 28 tháng 5. Hai gia đình gửi hai đứa con ra biển mà không biết định mệnh nào chờ đón. Không lẽ chúng tôi thất lạc mãi mãi? Tôi quyết tâm tìm Thanh Mai.

Tôi không biết chuyến tàu của Thanh Mai đến đảo nào nhưng trên văn phòng trưởng trại của ông Thanh có danh sách các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Tôi không có xu nào. Phải có tiền mua tem, mua giấy bút với phong bì, và viết ít nhất mười lá thư nhắn tin gửi đến các trại Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Hồng-Kông, Tân-Gia-Ba. Tôi xin tiền, anh cả không cho, mắng: “Tí tuổi đầu đã yêu đương.” Tôi không giận anh cả nhưng tự ái, thề không xin nữa, nhất quyết tự kiếm cách. Tôi sang lều anh Thành hỏi cách có tiền. Anh Thành hỏi lý do, tôi ngập ngừng rồi nói hết. Anh Hoàng, em anh Thành ca vọng cổ “tình chỉ đẹp khi còn dang dở…” làm tôi ngượng chín mặt. Anh Thành ôn tồn: “Tao không có tiền cho mày nhưng phía sau lều tao có lỗ chó chui, tao thấy tụi nó buôn gạo chui qua ngả đó. Mày có gạo dư không? Không có thì qua tao ăn ké rồi giành giụm mang bán.”

Tôi có gạo dư. Từ hôm chê tôi nấu cám heo, anh cả tôi làm « gia sư » dạy Pháp văn cho các gia đình đi Québec, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ nên ăn chung mâm với họ. Chị Tâm dạy Anh văn cũng được mời ăn với các học trò của chị. Thành ra tôi nấu cám heo cho mình tôi thôi, lâu lâu sang lều chị Hồng « ké độ ». Ở trại tỵ nạn tôi thấy người Trung rất tốt, họ rất mực đùm bọc đồng bào bất kể xuất xứ. Có phải vì miền Trung nhiều thiên tai nên họ quen cứu giúp? Tôi không rõ, nhưng người này cho tôi cây rựa để đốn củi, người kia phụ chẻ củi, chị Hồng câu được cá lớn là gọi tôi qua cho. Tôi nhẩm tính sáu tháng nay dư năm chục cân gạo. Tôi nói anh Thành dẫn tôi ra lỗ chó chui.

Anh Thành với anh Hoàng gạt bụi cây, vạch mấy lùm gai rồi trỏ một đoạn kẽm gai ai đó đã cắt thủng rộng đủ một người chui: “Mày chui hướng này, chừng năm sáu cây số ra đến chợ Phi, họ bán đêm, tìm sạp gạo rồi quay về. Tránh đường lộ có trạm gác, đi đường rừng nhắm hướng Tây, khi về nhắm hướng Đông là hướng biển phía sau lưng trại mình. Sáu cây số đường rừng thì mày đi ba tiếng, đi về sáu tiếng. Khởi hành tám giờ đêm thì hai ba giờ sáng là về đến trại. Đừng để bị bắt”.

Tôi gật. Tôi biết bị bắt là sẽ bị lính Phi giam chuồng khỉ. Là một cái chuồng gỗ rào kẽm gai tứ phía, bị giam đứng suốt ngày, hễ té ngã là té vô kẽm gai. Anh Hoàng dúi tôi con dao bấm: “Giữ mà phòng thân.”

Tặng Phẩm Của Rừng

Hôm sau tôi với anh Hoàng ăn cắp bao bố ở các bao cát chằng cột kẽm gai, trút hết cát mang ra biển giặt rồi trút gạo vô. Tôi muốn bán hết 50 cân cho có nhiều tiền nhưng anh Hoàng nói “Mày vác không nổi đâu.” Tôi nhấc lên vai, thấy nặng nhưng vẫn khuân được, anh Hoàng lắc đầu: “Mày đi đường rừng, vác lâu sẽ khuỵu.” Tôi nghe lời trút bớt mười cân. 8 giờ tối, trại tối đen vì không có điện. Đồn quân cảnh với trạm gác có máy điện riêng nhưng bên trong trại leo lét đèn cầy. Ở các dẫy barracks ăn cơm tối giấc 5 giờ chiều, đến 7 giờ là giăng mùng. Anh Thành với anh Hoàng đưa ra lỗ chó chui, giúp tôi kéo bao gạo qua rào kẽm gai rồi chúc may mắn. Đêm chưa có trăng, im lìm chỉ có ánh điện ở quán bar trước cổng trại với đèn chiếu sáng bên phi đạo. Tôi bước nhanh, chốc chốc ngồi thụp xuống nghe ngóng, xốc lại bao gạo trên vai rồi đi tiếp. Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu nên tôi thấy khỏe khoắn tin đủ sức vác ra đến chợ. Chỉ không biết bán giá bao nhiêu. Đi một lúc đường đất bắt đầu gập ghềnh và hết còn cỏ tranh mà gai góc, cây rừng một lúc một nhiều. Ánh điện quán Bar tắt ngấm, ánh đèn phi đạo le lói xa dần rồi mất hút. Tôi biết đã ra khỏi khu vực canh gác. Kỷ luật của Quân cảnh Phi là cấm thuyền nhân vượt rào kẽm gai, chúng tôi được vô rừng đốn củi nhưng là mé rừng ven bãi cát, cấm không qua khu sân bay, cấm vào sâu trong các bản làng và cấm tuyệt đối tiếp xúc dân bản xứ. Lúc này tối đen không chút ánh sáng. Anh Thành dặn nhắm hướng Tây nhưng tôi không biết hướng Tây là hướng nào, cứ bước đại lên phía trước mặt. Rừng đêm đầy tiếng động của côn trùng kêu óp óp ẹp ẹp và tiếng tặc lưỡi của tắc kè làm tôi hơi sợ. Lâu lâu một gốc cây dị dạng hiện ra như ma. Trong bóng tối mọi thứ mang hình thù quái dị. Tôi bắt đầu thấy bao bố nặng, mấy bận tôi vấp đá ngã làm đầu gối bị trầy xướt. Tôi ngắt lá rừng cuốn quanh ngón chân cái để cọng kẽm buộc quai dép không cứa vô da. Đôi dép con gái cũng của dì phước cho. Tôi không có đồng hồ nên không biết đã đi được bao lâu. Anh Thành dặn đi sát ven lộ, cứ theo đường lộ là ra đến chợ vì chỉ có một đường độc đạo nhưng tôi không biết lộ nằm phía nào. Tối thui như mực. Ánh sáng duy nhất là bầy đom đóm lập lòe. Tiếng rắn rung chuông từng chập rồi chợt rừng như có lân tinh sáng mờ mờ. Tôi ý thức cứ xăm xăm sẽ bị lạc. Tôi quyết định lấy con dao bấm anh Hoàng cho khắc lên gốc cây chữ M, để lúc về giúp tôi nhớ lối về trại. Cứ mỗi năm mươi bước chân là tôi lại lấy dao rọc một chữ M to. M là Mai.

Không biết bao lâu nhưng tôi thấy hụt hơi, vả tháo mồ hôi ướt đầm. Bao bố trở nên nặng chịch. Tôi ngồi nghỉ, liệu sức không vác nổi nên trút bớt gạo. Tôi khát nước và lo lắng phập phồng. Đột ngột có tiếng động cơ ở xa rồi là ánh đèn pha sáng lòa. Ánh đèn vút qua nhanh nhưng tôi nhận ra hướng xe chạy. Đường lộ ở phía đó. Từ lúc này tôi không còn lấy dao rạch chữ M lên vỏ cây vì men theo lộ là không lạc, và gần đường cái cũng ít cây toàn bụi gai. Cứ mỗi khi có xe là tôi ngồi thụp xuống núp trong bụi, đợi xe qua rồi xốc gạo lên vai đi tiếp. Lâu lâu mới có xe, hầu hết là quân xa. Lúc mỏi nhừ chân ê ẩm vai thì có ánh điện xa xa. Tôi mừng quýnh. Ánh điện hắt lên trời làm màn đêm như phết màu. Mỗi lúc một thêm sáng, rồi có tiếng xe máy, tiếng nhạc phát vang vang. Thị tứ hiện ra, chưa phải là phố chính Puerto Princesa mà là một huyện ngoại ô. Tôi cúi gầm mặt đi sát tường, sợ người ta phát giác. Cuối đường là chợ lồng sáng trưng. Tôi đổi bao gạo sang vai trái để che mặt, và đi nép sát các cửa tiệm đóng im ỉm để không ai chú ý. Một xe cảnh sát đi ngang, chạy chầm chậm, tôi run bắn nhưng rồi xe chạy luôn. Tôi băng qua đường, một vài dân Phi nhìn nhưng không ai nói gì. Tôi bước vào lồng chợ, trống ngực đánh thùm thụp. Các gian hàng sáng lóa điện néon. Tôi cố đi bình thản, ra vẻ bình thường, ngó lơ mọi thứ không nhìn thẳng mặt ai. Mấy hàng chè đủ màu làm tôi chảy nước miếng, hàng bánh trái làm tôi đói cồn cào. Tôi nuốt nước miếng, liếc ngang dọc rồi vụt thấy mấy lu gạo ở một gian bên trái. Tôi tiến đến, ấp úng: “.. Sell.. rice… Sell rice…” Tôi chỉ biết có hai chữ này do anh Hoàng dạy. Bà Phi mập mạp da ngăm ngồi trên sạp nhìn đăm đăm rồi lấy mấy ngón tay to bằng quả chuối bốc gạo khi tôi tháo dây buộc bao cát. Bà vốc vốc gạo, vò vò, đưa lên mũi ngửi, khoắn sâu xuống bới lên xem có cùng loại gạo rồi chùi tay: “How much?” Bà nhấc bao lên cân.

Tôi cứng lưỡi. Tôi biết đếm số tiếng Anh nhưng không biết giá. Tôi tự trách sao không hỏi trước mấy người đi bán gạo chui trong trại. Tôi lúng túng không nói được chữ nào. “Twenty Peso.” Bà Phi moi trong cạp quần hai tờ giấy mười Peso. Tôi cầm lấy rồi đi ngay ra cửa hông. Tôi mừng kinh khủng, vừa bặm môi cố trấn tĩnh vì hãy còn run. Tính ra là bà Phi mua 1 Peso một cân gạo vì dọc đường tôi đã trút bớt mấy bận nữa cho nhẹ. Tôi ước chừng bao cát chỉ còn hơn 20 cân. Lúc đó một đô-la Mỹ đổi được 7 Peso mua được 7 chai coca.

Đường về tôi lại men theo lộ, cứ có xe là ngồi thụp xuống núp trong lùm cây. Cho đến lúc tự dưng tôi thấy có trạm gác trước mặt. Tôi sợ quíu. Sao lúc đi tôi không thấy trạm gác? Hay là bót gác ở trước khúc rừng chỗ tôi băng ra? Tôi không rõ nhưng lủi vội vào bụi tức thì vì ở trạm gác có xe tuần cảnh, lính Phi đang hút thuốc nói chuyện ồn ào. Tôi không dám đi tiếp ven lộ, vì đèn ở bót gác rất sáng và quân cảnh Phi có xe mô-tô với xe Jeep. Tôi quyết định băng rừng. Sau này tôi mới biết là quyết định sai, lẽ ra phải bò trong bụi cho hết đoạn có trạm gác rồi đi tiếp về đến gần cổng trại, khi đó mới rẽ qua ngả lỗ chó chui. Nhưng tôi sợ điếng, phải đi nhanh thật xa bót gác. Lúc này trăng đã lên, rừng như quết vôi. Gió làm lá chuyển động, cộng thêm tôi đi như chạy nên mọi thứ như di chuyển chung quanh. Đến một lúc tôi mới kịp định thần là mình đi không phương hướng. Tôi nhìn quanh không còn biết mình ở đâu nữa. Cảnh vật lúc tối lúc sáng. Mỗi khi mây che trăng thì rừng phủ bóng tối, mây lướt đi thì sáng trăng. Các gốc cây, mỏm đá giống hệt nhau, tôi không còn phân biệt đâu là trước mặt hay đằng sau và đường lộ ở phía nào. Mọi thứ chồng lên nhau và cứ tắt hiện. Tôi khát khô cổ. Tôi đi bao lâu rồi? Chừng lâu lắm. Lúc này hai đùi tôi mỏi rã rời, tay chân bị gai cào xướt, cọng kẽm ở quai dép chọc thủng lá quấn ngón chân cái làm chảy máu. Tôi phải buộc lại dép, lấy nhiều lá quấn ngón chân rồi chèn cọng kẽm lên bên trên rồi lấy dây buộc lại. Tôi đi nữa, cắm đầu đi đại. Đi nữa, thêm một đoạn nữa, một đoạn nữa cho đến lúc tôi thở hổn hển ngồi dụi xuống gốc đa, thở đứt quãng vì đuối sức. Tôi mệt lả. Giờ thì tôi biết chắc là đi lạc. Không thể nào đi lâu như vậy mà vẫn bít bùng trước mặt. Tôi sợ điếng là nếu lạc trong rừng đến sáng là tiều phu Phi sẽ phát hiện báo tuần cảnh, là tôi sẽ bị bắt, bị đánh đập nhốt chuồng khỉ và sẽ bị tịch thu 20 Peso.

Chữ M hiện ra lúc đó. Một chữ M trắng bạc lung linh như giát kim tuyến. Chữ M óng ánh sáng rựng. Tôi lao đến. Đúng là chữ M tôi đã khắc lên thân cây lúc này chảy nhựa và mủ đang phản chiếu ánh trăng. Tôi mừng điên. Cứ năm mươi bước chân một chữ M lóng lánh hiện ra, giống Thanh Mai đang dẫn đường. Tôi gọi Mai, Mai mỗi khi thấy chữ M. Tôi về đến trại lúc gần hừng đông.

Tôi không bao giờ biết những cánh thư nhắn tin Vũ Thị Thanh Mai của mình ai nhận. Tôi đã chọn một tảng đá ngầm phẳng phiu và nằm nhiều buổi trên tảng đá dưới nắng nhiệt đới nắn nót viết mười hai lá thư. Ban đầu tôi viết thư tình nhưng viết xong xé bỏ vì thấy quá cải lương. Viết lại nhiều thư khác cũng không hài lòng, vo quăng xuống cát cho đến khi sóng biển tràn lên, tôi nhìn xuống thấy các trang giấy vo tròn của mình đang bị sóng cuốn trôi xa. Sau cùng tôi viết vắn tắt: “Vũ đã đến trại tỵ nạn Palawan, Mai viết thư cho Vũ về địa chỉ này, rất mong tin Mai. Vũ nhớ Mai. Ký tên Lưu Linh Vũ, Lớp 11C1.”

Mỗi chiều tôi chầu chực trước loa phóng thanh nghe đọc tên những ai có thư lên nhận cho đến khi loa im bặt. Bao nhiêu chiều tôi hy vọng, nôn nóng bồn chồn rồi thất vọng. Mãi mãi không có cánh thư nào cho tôi. Phải sau này tôi mới biết Thanh Mai sớm đi định cư chỉ sau một tháng ở trại tỵ nạn Mã Lai nên đã không bao giờ nhận được lá thư nào tôi viết. Chúng tôi tiếp tục thất lạc mãi cho đến năm 2009 mới gặp lại ở California. Tôi kể cho Thanh Mai nghe về tặng phẩm của rừng đã cho tôi chữ M lúc tuyệt vọng. Chúng tôi kết hôn ngày 4 tháng 9 năm 2012.

Trần Vũ , Buena Park, 23 tháng 11-2025

--
SAN FRANCISCO“ …

… tôi thường gọi là “Xăng Phăng” lúc khoảng 6 hay 7 tuổi khi tôi xin anh ba vặn bài đó của Scott McKenzie trong băng cassette của anh cho tôi nghe vì tôi rất thích tiếng chuông hay khánh (orchestra bells), nó tạo ra cho tôi một hình ảnh một nơi vui nhộn và hiền hoà.

Một lần khi về phép anh ba dịch ra những câu trong bài và cho tôi coi những hình trên báo. Tôi tưởng tượng thêm nhiều cảnh còn đẹp hơn với những “người dễ thương với hoa cài trên tóc” đi trên xe điện, ngồi trên xe buýt, bãi cỏ công viên nghe nhạc … và tôi tự nhủ, mai mốt lớn làm phi hành gia, tôi sẽ đi thăm San Francisco như vài tháng nữa anh ba sẽ đi Mỹ tu nghiệp hải quân.

Nhưng anh ba không đi tu nghiệp mà đi tù 4 năm sau ngày bể dâu năm 1975, vài tháng trước dự tính.

Khi còn là thiếu niên trong thời gian đi học ở Đức tôi mua nhiều dĩa hát với tiền dành dụm được sau khi đóng những thùng đồ gởi về Sài Gòn và trang trải đời sống. Tình cờ tôi kiếm được dĩa nhạc Monterey Festival với bài San Francisco. Hí hửng tôi khoe anh ba và cả hai vừa nghe chung vừa mơ màng với phiên bản live rất sống động và sao đó thực hơn phiên bản studio thường nghe. Tôi mơ về ngày nào đó sẽ thăm San Francisco, anh ba chắc nhớ về dĩ vãng và nghỉ về hiện tại nhiều hơn, khi tôi hỏi anh “Mai mốt có tiền mình đi qua đó nhe?”. Anh chỉ buồn buồn đáp “Ừ để mai mốt có tiền đi!”. “Có tiền đi” trong thời gian đó thật ra là không phải là chuyện của mai mốt mà là của tương lai thật xa cho những người tỵ nạn như anh em tôi.

Hơn 20 năm sau tôi phải đi công tác ở Palo Alto và nhớ lại San Francisco, niềm mơ ước ngày xưa, mặc dầu trước đó từ lâu tôi đã có điều kiện để đi thăm thành phố với những người “người dễ thương với hoa cài trên tóc”. Những ngày nghỉ lễ hay cuối tuần tôi thường đón xe buýt đi khắp San Francisco để tìm lại những nơi tôi thấy trên hình thời thơ ấu. Tôi không đi bằng xe hơi mà đi xe buýt từ Palo Alto để muốn có cảm giác như thời đó, những người hippies, “gentle people with flowers in their hair”, ngồi chung, đi đến nơi mà “summertime will be a love-in there”. Tôi tìm lại được một số nơi như trong trí nhớ, một số nơi thật xa lạ với những toà nhà chỉ bằng thép và kiếng và những người thương gia, high potential techies thế cho những “people in motion”.

Tôi vào nhà thương thăm anh ba ngày tôi về sau khi chỉ để va li trong nhà vì tôi nghe tin anh bịnh nặng khi còn ở Mỹ. Tôi kể cho anh nghe thật nhiều những ngày ở San Francisco và nhắc đến bài “Xăng Phăng” ngày xưa. Tôi hối hận đã không đi với anh thăm nơi đó khi tôi đã có điều kiện. Anh ba tôi mất vài tháng sau đó trong giai đoạn cuối của cơn bịnh.

Louis Mishima



Có một điều mà hôm nay tôi mới dám nói ra…

Tôi từng là một người mà người ta hay gọi là “bò đỏ”.
Tôi từng tin tuyệt đối vào những gì mình được nghe, được dạy.
Tôi từng rất khó chịu, thậm chí phản ứng gay gắt với bất kỳ ai nói khác đi, ai đặt câu hỏi, ai bị gắn mác là “phản động”.
Ngày đó, trong suy nghĩ của tôi rất đơn giản:
ai bênh Mỹ là sai, ai nói khác là chống lại đất nước.

Nhưng rồi cuộc sống đưa tôi đi xa hơn —
không phải qua sách vở, mà qua chính trải nghiệm của mình.
Khi đặt chân đến nước Mỹ, khi sống, làm việc, nhìn cách một xã hội vận hành…
tôi bắt đầu tự hỏi:
liệu những gì mình từng tin có phải là toàn bộ sự thật?

Tôi không thay đổi trong một ngày.
Nhưng từng chút một, tôi bắt đầu tìm hiểu, đọc nhiều hơn, nghe nhiều hơn,
và quan trọng nhất — dám nhìn lại chính mình.
Tôi nhận ra một điều rất khó chấp nhận:
lịch sử không chỉ có một màu.
Mỹ có sai — điều đó không ai phủ nhận.
Nhưng Mỹ có thật sự là “kẻ xấu tuyệt đối” như tôi từng nghĩ không?

Nếu chỉ nhìn vào một phía,
thì chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được vì sao:
— họ quay lại xử lý hậu quả chiến tranh
— họ hỗ trợ những người bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam
— họ tài trợ rà phá bom mìn
— và họ đã cứu hàng chục nghìn người Việt trong những ngày cuối cùng của năm 1975

Tôi bắt đầu nhìn mọi thứ khác đi.
Và tôi cũng bắt đầu thấy một nghịch lý:
rất nhiều người chửi Mỹ mỗi ngày…
nhưng lại tìm mọi cách cho con mình sang Mỹ.
Tôi không viết điều này để tranh cãi.
Tôi viết vì tôi đã từng ở phía đó — phía chỉ biết một nửa câu chuyện.
Và tôi hiểu, để thay đổi một suy nghĩ,
điều khó nhất không phải là tìm thông tin,
mà là dám chấp nhận rằng có thể mình đã hiểu chưa đủ.
Và có những điều… không phải lúc nào mình cũng có thể nói ra hết.
Có những câu chuyện đang xảy ra trong nước,
có những điều nếu chưa từng trải qua, chưa từng tìm hiểu,
thì sẽ rất khó để hiểu hết được.

Tôi chỉ mong mọi người nhìn nhận một điều đơn giản thôi:
Việt Nam có được ngày hôm nay — cũng có một phần nhờ việc mở cửa,
nhờ cơ hội làm ăn, giao thương với thế giới,
và trong đó, nước Mỹ đóng một vai trò rất lớn.
Trước khi các bạn mở miệng chửi Mỹ,
nói về bom đạn hay quá khứ…
thì hãy nhớ — tôi cũng từng là một người như các bạn.
Nhưng khi tôi tự tìm hiểu, tự nhìn, tự sống và tự cảm nhận…
tôi mới hiểu mình đã nhìn thiếu đi bao nhiêu.

Tôi biết ơn nước Mỹ theo cách của riêng tôi.
Không phải vì họ hoàn hảo,
mà vì họ cho tôi cơ hội để nhìn thế giới rộng hơn,
và hiểu rõ hơn về chính mình.

Với tôi, Việt Nam là quê hương đầu tiên.
Nhưng nước Mỹ — là quê hương thứ hai.
Và khi đã hiểu rồi,
tôi nghĩ thế hệ trẻ chúng ta nên sống thật với chính suy nghĩ của mình,
dám đặt câu hỏi, dám tìm hiểu, dám nói ra.
Đừng để những điều chưa được kiểm chứng,
những câu chuyện một chiều,
làm cho mình sống trong sợ hãi và hiểu sai về thế giới.

Sống — là phải hiểu.
Hiểu — thì mới không bị dẫn dắt.
Và cuối cùng: Người Việt thương người Việt

Chau le
AI ĐÃ GIẾT HÃNG MÁY BAY GIÁ RẺ SPIRIT ?




Cách làm ăn ở xứ TA !!



Có 1 chú 3 Tàu đi lang thang đến một ngã tư đường. Anh ta dòm quanh thấy trống vắng quá bèn cắm dùi mở 1 cây xăng. Xe cộ qua lại ghé vào đổ xăng ủng hộ.

Một chú 3 Tàu khác ghé đổ xăng thấy chỗ này cũng được nên anh ta qua bên kia đường mở một cái Garage sửa xe để phục vụ những người ghé vào đổ xăng.

Thế rồi một chú 3 Tàu đi ngang thấy vậy bèn qua bên kia đường mở 1 cái nhà hàng phục vụ ăn uống...lại một chú 3 Tàu khác đi ngang qua... thấy ngã 4 đường có quán ăn, cây xăng, gara có vẻ sầm uất, thế là anh ta qua góc còn lại mở 1 cái Hotel.

Chẳng mấy chốc, ngã tư đường sầm uất hẳn lên... rồi mọi người đến mở thêm tiệm hoa, tiệm thuốc, tiệm cắt tóc v.v... Khu vực trở thành "CHINA TOWN" đông đúc. Bà con sống hạnh phúc với nhau.

--------------------
Có 1 anh Việt Nam đi lang thang tới một ngã tư đường. Anh ta dòm quanh thấy trống vắng quá bèn cắm dùi mở 1 cây xăng. Xe cộ qua lại ghé vào đổ xăng ủng hộ.

Một ngày kia, có 1 anh Việt Nam đi ngang thấy có vẻ đươc bèn qua bên kia đường mở 1 cây xăng giống y chang rồi bán rẻ hơn 1 chút.

Rồi 1 anh Việt Nam thứ 3 đi ngang, thấy 2 thằng kia làm được bèn chạy qua góc kia mở cây xăng thứ 3, giảm giá thêm chút nữa để cạnh tranh... đến đây thì chắc bạn biết rằng chẳng mấy chốc góc còn lại có thêm anh Việt Nam thứ 4 mở cây xăng thứ 4 và lại giảm giá bán.

Anh thứ 1 chưa kịp thu hồi vốn mà cũng không thể giảm giá nữa vì giá giảm 4 lần lỗ rồi... nên anh ta buộc phải pha tạp chất vô xăng để mà bán kiếm sống.

Anh thứ 2 thấy anh 1 pha tạp chất nên trương cái băng rôn lên bảo rằng "Tiệm số 2 mới là cây xăng Gốc... chính hiệu"...

Anh thứ 3 đứng bên kia đường xỉa xói "Mày căng băng rôn bảo mày chính hiệu, mày là xăng gốc... thế khác nào mà bảo tao bán đồ dỏm à?"... Thế là anh số 3 vác hàng qua đánh lộn với anh số 2.

Anh số 4 thấy thế móc Iphone ra quay phim lại rồi post lên mạng ghi Status "Haizz...làm ăn bây giờ sao bất chính quá... toàn côn đồ và lừa gạt".

Cư dân mạng share rầm rầm thương cảm anh số 4... báo mạng ăn cắp hình anh số 4 về giật tít " Giang hồ đại chiến giành bảo kê ngành xăng dầu" vô tình tới tai một sếp Công An.

Sếp công an thấy cái băng rôn của anh số 2 mới giật mình "Hèn gì chiếc Win 100 đổ xăng xong thì không chạy nữa.... thì ra thằng số 1 nó pha tạp chất"... thế là cho người xuống kiểm tra.

Cán bộ xuống kiểm tra anh số 1... anh số 1 chửi bới không cho kiểm tra. Móc Iphone ra quay lại đoàn kiểm tra và hù "Mấy anh sao chỉ kiểm tra 1 mình tui?"

Đoàn Kiểm tra sợ bi đăng lên mạng nên đành làm đúng chức năng... đè 3 anh kia ra thanh tra luôn.

Té ra cả 4 anh ai cũng pha tạp chất hoặc bơm không đúng lượng hoặc gắn chip ăn gian. Thế là đóng cửa hết 4 cây xăng. 4 anh phá sản...đời phiêu bạt.

Góc đường bây giờ lại trống vắng với 4 cây xăng bỏ hoang tàn phế theo thời gian...đâu đó vọng lại tiếng 4 anh đánh giày Việt Nam đánh nhau để giành khách.


Blog Archive