Tuesday, June 9, 2026

Ông già nổi giận

Bữa nay mới thấy ổng giận. Trông mặt ổng dữ thật. Ông nói cho hết ý rồi đứng lên đạp cái micro và vô trong.

Thôi thì mấy cái thằng ghét ổng nó hả hê sung sướng. Vì cái câu con mẹ phóng viên hỏi “bằng cớ đâu? bằng cớ đâu?”.

Cái vụ phiếu bầu qua thư này là đòn đánh sáng tạo của phe DC. Riêng ở Cali nó thành luật hẳn hòi. Muốn đi bầu thì đi, không muốn thì ở nhà gởi thư. Ác một cái là thư có thể gởi ngay cái ngày bầu cử, sau khi đã biết tỷ lệ bầu trong ngày hôm đó. Chớ nhiều nơi như Úc, thư phải đến trước ngày đi bầu mới hợp lệ.

Đòn này hay đến mức ai cũng biết nó đặt ra để gian lận chớ không phải quyền lợi người đi bầu gì hết. Ai cũng biết mà “đ” làm gì được nhau. Dĩ nhiên người thông minh như mấy nhà báo phải dư biết rồi. Nhưng vẫn vặn vẹo ông dượng. Khiến ông phải nói ra một sự thật : cả đám chúng mày đều nói láo.

Mấy thằng ghét ổng nói “đệ tứ quyền bị xâm phạm”. Tụi nó không nhớ thời Biden, nhà báo thường hỏi bác Bi: ông thích loại kem nào? Loại nào ngon nhất?. Đại loại là như vậy. Dĩ nhiên nhà báo hay có câu hỏi hóc búa, nhưng thái độ không được…”mất dạy”. Bà con rảnh xem buổi phỏng vấn đi, chính người phóng viên làm đổ bể cuộc phỏng vấn.

Tháng 11 năm 2024 tui có ở Mỹ để theo dõi bầu cử trực tiếp. Năm đó ông Trump thắng áp đảo nên số phiếu qua thư không cần kiểm. Dẫu sao tỷ lệ phiếu cũng ít. Nhưng nay ở Cali, nó chiếm 40%. Quá nhiều để thay đổi mọi kết quả. Và với số lượng hàng triệu phiếu, phải mất cả tháng để đếm là phải rồi. Vì phải kiểm soát chữ ký từng người. Tránh “bằng cớ” gian lận. Còn ai là cử tri thì không thể biết vì đây là quyền của tiểu bang, họ không cung cấp là huề. Họ hợp pháp nhưng có thể ký một chữ để nhận một quyền lợi nào đó không ai biết được. Gọi là ai cũng biết nhưng không làm gì được.

Phải công nhận “Niu Sồm” biết nhìn xa trông rộng. Biết một ngày nào đó phe CH sẽ nổi lên. Nên đã ra luật này để luôn nắm chắc phần thắng. Và ta thấy họ “hạ gục” từng ứng cử viên CH.

Ông Trump cũng biết nên cố gắng ngăn ngừa bằng đạo luật SAVE. Nhưng đòi hỏi 60% nghị sĩ đồng ý, thật vô phương. Tương lai nước Mỹ, bầu cử phải chờ vài tháng mới biết kết quả. Gọi là “đi đầu” thế giới.

Nói vậy thôi. Chuyện gì cũng “bạo phát bạo tàn”. Tui biết ông tỏ vẻ giận dữ đá micro cũng là… diễn kịch. Để dân Mỹ thấy sự xấu xa khiến họ phải suy nghĩ. Có phải bà con ai cũng đang nghĩ về chuyện này mà. Đây là thủ thuật truyền thông mà dượng là sư phụ. Phải làm vậy để người dân hiểu cái vụ bầu cử ở Cali. Họ có thể ăn gian mà không làm gì được. Không thể tìm thấy bằng cớ. Cho dù họ không ăn gian, thì cái kiểu bầu này, dân homeless xay xỉn tối ngày vẫn có thể bỏ phiếu. Mà số lượng phiếu này đủ thay đổi mọi cán cân nếu hai bên ngang ngửa. Trong khi người CH, lười đi bầu là mất phiếu.

Đạo luật SAVE để lo cho tương lai nước Mỹ chớ với ông Trump, đây là nhiệm kỳ cuối. Bằng cớ đâu? Với bầu qua thư muôn đời không tìm được bằng cớ vì nó rất thật. Dấu bưu điện và chữ ký đều thật. Nhưng qua thư thì những người lười đi bầu cũng thể hiện được quyền công dân. Và đây chính là gian lận theo nghĩa của ông Trump. Anh nằm nhà vẫn uýnh được người chăm chỉ xếp hàng. Nhiêu đó đủ biết ai thắng ai thua rồi. Tui nói bạo phát bạo tàn là vậy. Cái gì mà làm quá sẽ bị tác dụng ngược. Bầu cử Cali đang cho mọi người thấy điều đó. Nó sẽ bị phản đối.

Jimmy Nguyen


TẠI SAO NGƯỜI VIỆT MÌNH HAY SO SÁNH - VÀ NÓ ĐANG GIẾT CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO

Có một buổi tối hè cách đây vài tuần, mình đến nhà một người bạn ăn cơm. Bạn mình có đứa con gái 15 tuổi - học lớp 10, một cô bé tên Vy ngoan, học giỏi, ít nói. Bữa cơm hôm đó, ba mẹ Vy đang nói chuyện về kết quả học cuối năm của em - GPA 3.9, được vào honors program năm sau, vừa thắng một giải debate cấp tiểu bang.

Đáng lẽ đó phải là một buổi tối vui. Nhưng ba của Vy - sau khi nghe vợ mình kể những thành tích của con, Anh không cười chúc mừng và buột miệng nói "Con của chị Linh ở Houston được 4.0 đó. Mà nó còn chơi violin hay nữa. Cô Linh nói năm sau nó có khả năng vào Stanford."

Vy không nói gì. Em chỉ cúi xuống bát cơm, lặng lẽ ăn. Không phản đối. Không buồn ra mặt. Chỉ là một chút gì đó trong đôi mắt em - mà mình tin chỉ có người từng là một đứa trẻ Việt-Mỹ ở tuổi đó mới nhận ra.

Sau bữa cơm, mình ra ngoài hiên uống trà với ba của Vy. Mình hỏi - thật nhẹ nhàng: "Anh, em thấy con bé hôm nay không vui."

Anh ấy ngạc nhiên. "Vy hả? Có sao đâu. Nó là đứa biết điều, không bao giờ giận chuyện đó cả. Tôi nói vậy để nó có động lực thôi mà."

Mình ngồi đó, nhìn anh. Mình hiểu anh ấy không hiểu. Mình cũng hiểu rằng có lẽ chính ba mẹ mình ngày xưa cũng đã không hiểu - khi mình 15 tuổi và bị so sánh với một ai đó "con nhà người ta" tại bữa cơm gia đình. Cái không hiểu đó - không phải là sự ác ý. Nó là một thói quen văn hoá đã chạy nhiều thế hệ, mà người làm thì nghĩ là "động lực", người chịu thì cảm thấy là một vết cứa nhỏ mà không bao giờ lành hẳn.

Hôm đó, mình quyết định sẽ viết bài này, không phải để chỉ trích văn hoá của mình. Mình là người Việt, lớn lên với câu "con nhà người ta"và đã từng là cả người được khen lẫn người bị so sánh và hiểu cảm giác từ cả hai phía. Mình viết để chúng ta - dù muốn hay không - cùng nhìn vào một sự thật mà ít người dám gọi tên: văn hoá so sánh trong cộng đồng người Việt-Mỹ đang ăn mòn chúng ta từ bên trong, một cách lặng lẽ, qua nhiều thế hệ.

"Con nhà người ta" - đã xuất hiện từ khi nào?

Văn hoá so sánh không phải là điều mới với người Việt. Nó đã có ở Việt Nam từ lâu, qua câu nói "con nhà người ta" - một câu mà phần lớn chúng ta nghe từ ba mẹ ngay từ khi còn nhỏ. "Sao con không học giỏi như con nhà bác Năm?" "Sao con không ngoan như con nhà cô Bảy?" "Con nhà người ta đã đậu đại học top, con thì..." Câu nói đó - trong nhiều gia đình Việt - không phải được coi là chỉ trích. Nó được coi là "động lực". Nó được coi là "thương con thì mới nhắc". Nó được coi là cách "giúp con tiến bộ".

Nhưng đây là sự thật: "con nhà người ta" không phải là động lực. Nó là một dạng bạo lực tâm lý mà cha mẹ Việt đã làm với con cái suốt nhiều thế hệ - phần lớn không cố ý, phần lớn vì họ cũng từng bị làm như vậy bởi cha mẹ họ. Đó là một chuỗi tổn thương được truyền lại không qua máu, mà qua lời nói.

Khi văn hoá đó được mang sang Mỹ, nó không biến mất. Nó chỉ đổi hình dạng. Ở Việt Nam, "con nhà người ta" được đo bằng thành tích học tập, ngoan ngoãn, biết vâng lời. Ở Mỹ, "con nhà người ta" được đo bằng những thứ rất khác - và đắt hơn rất nhiều: xe gì? Nhà bao nhiêu phòng? Con học trường nào? Đại học top hay không? Lương bao nhiêu? Có thẻ xanh hay quốc tịch? Đã mua được căn nhà thứ hai chưa? Đã đi nghỉ ở đâu trong năm qua? Đây là cái lạ lùng nhất của văn hoá so sánh ở Mỹ: nó vẫn dùng những cụm từ Việt - "con nhà người ta", "thằng đó hên đó", "nhà bác đó khá lắm" - nhưng đo lường thì hoàn toàn bằng các đơn vị Mỹ. Một sự pha trộn rất độc đáo.

Văn hoá so sánh giết chúng ta như thế nào?

Mình muốn nói thẳng - không phải để lên án, mà để cho các bạn nhìn rõ.
Nó giết các mối quan hệ bạn bè. Khi mỗi cuộc gặp gỡ giữa bạn bè biến thành một cuộc kiểm tra ngầm về thành tích, không ai còn tận hưởng được tình bạn. Mình có một người bạn từ thời cấp ba - hai đứa từng thân nhau như anh em. Bây giờ, sau 20 năm ở Mỹ, hai đứa ít gặp nhau hơn. Không phải vì hết tình cảm. Mà vì mỗi lần gặp, không khí trong bàn ăn lúc nào cũng có một cuộc đo đếm thầm lặng - ai đang ở vị trí nào trong cuộc đua. Mình mệt. Bạn mình cũng mệt. Hai đứa lặng lẽ giãn ra. Mất một tình bạn 20 năm vì văn hoá so sánh - mà không ai trong hai đứa thật sự muốn.

Nó giết các cuộc hôn nhân. Khi vợ liên tục so sánh chồng mình với chồng người khác - "chồng chị Xuân vừa mua nhà ở Buckhead", "chồng cô Nga lên chức director", "anh thấy chồng người ta không?" - người đàn ông ấy bắt đầu cảm thấy mình thất bại trong chính nhà mình. Khi chồng liên tục so sánh vợ với vợ người khác - "chị Hồng đó ăn diện như diễn viên", "em xem cô Liên đó có dáng không", "em làm gì cả ngày mà nhà dơ thế này" - người phụ nữ ấy bắt đầu nghĩ mình không đáng được yêu. Có những cuộc hôn nhân Việt-Mỹ không tan vì có người thứ ba. Chúng tan vì có hàng trăm người thứ ba, thứ tư, thứ năm - dưới dạng những cuộc so sánh hàng ngày làm cho hai người trong nhà cảm thấy không bao giờ đủ.

Nó giết tinh thần của trẻ con. Một đứa trẻ Việt-Mỹ lớn lên trong gia đình hay so sánh thường mang theo một cảm giác rất nặng: dù làm gì, mình cũng không bao giờ đủ. Đậu Harvard? Bác kia khoe con đậu Stanford và Harvard cùng lúc. Làm bác sĩ? Có người khoe con vừa làm bác sĩ vừa mở phòng khám riêng. Mua nhà 700 ngàn? Có người mua nhà 1.5 triệu. Đứa trẻ đó - dù bên ngoài thành công đến đâu - bên trong vẫn cảm thấy mình thiếu. Đó là một dạng tổn thương mà thế hệ trẻ Việt-Mỹ đang mang theo - và một số em đã chọn cách rời bỏ cộng đồng người Việt khi lớn lên, không phải vì các em không yêu cộng đồng, mà vì các em không chịu nổi cảm giác bị đo đếm liên tục.

Nó giết các bữa cơm gia đình. Đáng lẽ là khoảnh khắc thiêng liêng nhất trong ngày - khoảnh khắc cả nhà ngồi xuống bên nhau - nhiều bữa cơm Việt biến thành một cuộc kiểm tra. "Sao tháng này con không được tăng lương?" "Sao em, vợ chồng anh, chưa có con?" "Cháu vẫn còn đi xe Camry à? Anh Hai mới đổi BMW rồi đó." Người ngồi vào bàn ăn không còn thấy nhà mình là nơi an toàn. Họ thấy nó là một sân khấu - mà họ phải biểu diễn, phải chứng minh, phải xứng đáng.

Văn hoá so sánh đến từ đâu?

Mình không muốn chỉ liệt kê thiệt hại. Mình muốn hiểu nguồn gốc - vì nếu không hiểu, chúng ta không thoát được.

Mình tin văn hoá so sánh của người Việt có ba gốc rễ.

Thứ nhất: tâm lý khan hiếm. Cha mẹ ông bà chúng ta đã sống qua những thời kỳ mà tài nguyên thật sự khan hiếm - chiến tranh, nghèo đói, vượt biên. Khi tài nguyên khan hiếm, người ta tự nhiên so sánh để xếp hạng, để biết mình ở đâu trong cuộc đua giành lấy ít ỏi còn lại. Tâm lý đó - dù bây giờ không còn phù hợp với cuộc sống đầy đủ ở Mỹ - vẫn được truyền lại theo bản năng. Chúng ta vẫn so sánh dù không còn lý do thực tế để so sánh.

Thứ hai: di sản Nho giáo. Văn hoá Nho giáo - cái nền tảng cũ của xã hội Việt - rất coi trọng "sĩ diện", coi trọng "hơn người", coi trọng "được gọi tên" trong gia tộc và làng xóm. Đây không phải là điều xấu trong bối cảnh ban đầu của nó - nó từng tạo ra một xã hội có thứ bậc rõ ràng, có giá trị chung. Nhưng khi mang sang Mỹ - một xã hội cá nhân chủ nghĩa - thứ "sĩ diện" đó không còn cơ chế kiểm soát. Nó trở thành một cuộc đua liên tục, vô tận, không có điểm dừng.

Thứ ba: nỗi bất an của người nhập cư. Đây là cái sâu nhất, và ít ai dám nói. Khi cha mẹ chúng ta đến Mỹ với hai bàn tay trắng, họ phải chứng minh - với chính họ, với cộng đồng cũ, với xã hội mới - rằng họ đã không thất bại khi rời quê hương. Cách họ chứng minh điều đó là qua thành tích cụ thể: nhà, xe, con cái thành đạt. Họ so sánh để biết mình "đã đủ thành công" trong giấc mơ Mỹ chưa. Và họ truyền lại nỗi bất an này cho con cái - không cố ý, mà qua từng câu nói, từng ánh mắt, từng so sánh ngầm trong bữa cơm.

Vậy chúng ta thoát ra bằng cách nào?

Mình không có câu trả lời hoàn hảo. Nhưng mình có vài suy nghĩ.

Trước tiên: nhận ra. Văn hoá so sánh chỉ tồn tại được khi chúng ta không nhìn thấy nó. Một khi đã thấy, đã gọi tên, nó mất đi một phần sức mạnh. Lần tới khi bạn ngồi vào bữa cơm gia đình và có ai đó so sánh, hãy chú ý cảm giác trong ngực mình. Đó là cái mà bạn cần ý thức.

Sau đó: ngừng. Không phải ngừng nói chuyện - mà ngừng so sánh. Khi bạn muốn hỏi "con bạn học trường nào?" - hãy thay bằng "con bạn dạo này thế nào? Có vui không?" Khi bạn muốn khoe "con tôi đậu Yale" - hãy thử nói "con tôi vẫn đang tìm hướng đi, mỗi đứa có một con đường riêng." Sự khác biệt rất nhỏ trong câu chữ - nhưng nó thay đổi cả không khí xung quanh.

Và quan trọng nhất: cho con cái thấy. Nếu bạn là phụ huynh, đứa trẻ học từ bạn không phải qua lời bạn nói - mà qua cách bạn sống. Khi nó thấy ba mẹ không so sánh, nó sẽ học rằng giá trị của một con người không nằm ở vị trí trong cuộc đua. Khi nó thấy ba mẹ tự hào về nó vì chính con người nó, không phải vì những gì nó đạt được - nó sẽ lớn lên không mang theo cái gánh nặng mà các thế hệ trước đã mang.

Còn bạn - bạn có nhớ một câu "con nhà người ta" nào từ thời thơ ấu của mình không? Câu đó đến từ ai - và bạn đã làm gì với nó? Và quan trọng hơn: bạn có đang vô tình lặp lại nó với con cái mình - mà không nhận ra không?

Goc nhin khac

Bác sĩ cùi bắp được đào tạo tại India

Bác sĩ được đào tạo tại Ấn Độ làm việc tại bệnh viện Mỹ bị kiện 17 triệu USD vì cấy van tim ngược cho bé gái 13 tuổi

Portland, Oregon – Một bác sĩ phẫu thuật tim tại Bệnh viện Đại học Oregon Health & Science University (OHSU) đang bị gia đình một bệnh nhi kiện với số tiền 17 triệu USD sau khi bị cáo buộc cấy van tim ngược cho một bé gái 13 tuổi.

Theo đơn kiện, bác sĩ Ashok Muralidaran đã thực hiện ca phẫu thuật tim tại OHSU, khiến van tim của bệnh nhi bị đặt ngược. Sai sót này khiến bé gái rơi vào tình trạng nguy kịch, phải nằm hồi sức tích cực trong nhiều tuần. Gia đình cho biết bé chỉ thoát khỏi nguy hiểm sau khi được chuyển đến một bệnh viện khác để sửa chữa.

Bác sĩ Ashok Muralidaran nhận bằng y khoa và đào tạo ban đầu tại Ấn Độ trước khi được tuyển dụng làm việc tại OHSU – một trong những bệnh viện và trường y danh tiếng của Mỹ. Việc tuyển dụng và cho phép một bác sĩ có nền tảng đào tạo từ nước ngoài thực hiện các ca phẫu thuật tim phức tạp trên bệnh nhi Mỹ đang đặt ra câu hỏi về quy trình kiểm tra năng lực và giám sát tại các bệnh viện Mỹ.

Gia đình nạn nhân khẳng định sai lầm y khoa nghiêm trọng này đã gây tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe và tinh thần cho con họ. Họ yêu cầu OHSU và bác sĩ Muralidaran chịu trách nhiệm pháp lý.

Vụ việc một lần nữa cho thấy rủi ro khi các bệnh viện Mỹ tuyển dụng và giao phẫu thuật quan trọng cho các bác sĩ được đào tạo chủ yếu ở nước ngoài mà không có sự giám sát chặt chẽ. Việc bảo vệ an toàn cho bệnh nhân Mỹ, đặc biệt là trẻ em, phải là ưu tiên hàng đầu trong quy trình tuyển dụng và cấp phép hành nghề y tại Hoa Kỳ.

Hiện OHSU chưa đưa ra bình luận chính thức về vụ kiện. Vụ việc đang được theo dõi và sẽ tiếp tục được đưa ra xem xét tại tòa án


Không khó đoán bàn tay ai đã gài camera bí mật này

Một camera quay lén giấu trong tấm ốp trần vừa được phát giác tại dinh thự Whitehall trên đường Marsham, London, nơi đặt trụ sở Bộ Nội vụ và Bộ Gia cư, Cộng đồng và Chính quyền Địa phương, đây cũng là nơi giải quyết nhằm phê duyệt dự án "siêu đại sứ quán" đầy tranh cãi của Trung Quốc.

Vụ này lập tức làm chấn động các quan chức London, khiến cơ quan tình báo MI5 mở cuộc điều tra về phương thức lắp đặt, thời gian hoạt động và dữ liệu có thể đã bị truyền ra ngoài, mặc dù hiện vẫn chưa xác định được thủ phạm.

Trong thời đại mà kỹ thuật camera càng ngày càng rõ nét và kích thước nhỏ gọn hơn, lại càng làm nhiều quan chức ngán ngại hơn. Một số công chức cho biết vụ này khiến họ nhớ lại scandal năm 2021 khi đoạn video an ninh bị rò rỉ đã cho mọi người thấy cảnh Bộ trưởng Y tế Matt Hancock mùi mẫn hôn nhân tình Gina Coladangelo ngay trong văn phòng. 

Thời điểm phát giác càng làm gia tăng lo ngại về an ninh, bởi dự án "siêu đại sứ quán" Trung Quốc tại Royal Mint Court đã được Thủ tướng Starmer cho phép tiến hành xây dựng vào đầu năm 2026, bất chấp cảnh báo từ các chuyên gia về việc địa điểm này nằm ngay trên các tuyến cáp quang huyết mạch trọng yếu trong việc truyền tải dữ liệu tài chính và chính phủ

FB Uyen Vu

Những lổ hổng lớn cho phép Nithya Raman gặt hái và thu gom phiếu


Khi Spencer Pratt bị ứng viên XHCN Nithya Raman loại khỏi cuộc đua thị trưởng vào tối hôm qua, tờ New York Post tung ra chứng cớ cho thấy một trung tâm tạm trú cho người vô gia cư đã nhận $600.000 đô từ ứng cử viên xã hội chủ nghĩa này, có tới 185 cử tri ghi danh tại địa chỉ đó, nhưng không hề có chỗ lưu trú.

Hàng ngàn cử tri vô gia cư đã ghi danh bỏ phiếu tại các trung tâm tạm trú ở Los Angeles, dù nhiều người không hề sống ở đó hoặc các cơ sở này không có giường.

Những tiết lộ này đã khiến Công tố viên Liên bang Bill Essayli tuyên bố ông sẽ điều tra và “theo dõi bằng chứng” để xem luật có bị vi phạm hay không.

Một đánh giá hồ sơ cho thấy 7.600 cử tri liên kết với các trung tâm tạm trú cho người vô gia cư và các nhà cung cấp dịch vụ.

Trong số đó có St. Joseph Center ở Venice, một trung tâm dịch vụ tạm trú cho người vô gia cư với 185 cử tri ghi danh tại địa chỉ của họ. Tổ chức này đã nhận khoản trợ cấp $600.000 đô từ tiền thuế do Raman trao khi bà ta làm Chủ tịch Ủy ban Gia cư và Vô gia cư của Hội đồng Thành phố.

Tuần trước, NYP đã liên lạc với chiến dịch của bà và trung tâm để lấy bình luận về mối quan hệ giữa nghị viên và tổ chức, nhưng chưa nhận được phản hồi.

Tuy nhiên, bức ảnh Raman trao trao tấm check này đã bị gỡ xuống khỏi website của họ sau khi bị "hỏi thăm".

Martin Rowe, một người vô gia cư sống ở Venice, nói với NYP rằng ông được ghi danh bỏ phiếu trong một chiến dịch tiếp cận bên ngoài siêu thị Ralphs: “Họ hỏi bạn tất cả các câu hỏi. Họ đưa cho bạn một tờ giấy,” Rowe nói.

Nơi tập trung lớn nhất cử tri vô gia cư là tại Midnight Mission ở Skid Row, nơi hồ sơ bầu cử cho thấy 1.160 người ghi danh, nhưng website của họ cho biết chỉ có 84 giường cho nam và 36 cho nữ.

Một người vô gia cư ở Skid Row tên Norman cho biết ông đã chứng kiến các chiến dịch ghi danh cử tri trong khu vực này nhiều năm và tuyên bố trước đây ông từng được trả tiền để giúp ghi danh cử tri, và một số người được tặng thuốc lá trong các đợt vận động.

“Đó là một chiến dịch lớn để ghi danh bỏ phiếu cho một khu vực nhất định của thành phố,” Norman (ông không muốn nêu tên đầy đủ vì đang có vụ kiện đang chờ xử) nói với NYP: “Họ làm vậy chỉ vì chúng tôi ở đây. Bạn thấy mọi người ngồi xung quanh. Chỉ cần ký vài dòng là bạn trở thành cử tri đã ghi danh.”

NYP không thể xác minh độc lập ai là người cung cấp hoặc liệu hoạt động này có liên quan đến bất kỳ chiến dịch, tổ chức chính trị hay nhóm ghi danh cử tri nào, nhưng chi tiết này giống với một vụ trước đây mà báo đã đưa tin.

Trong vụ đó, một phụ nữ ở Marina Del Rey đã nhận tội vì trả tiền cho người vô gia cư ở Skid Row để ghi danh bỏ phiếu trong một kế hoạch kéo dài 20 năm liên quan đến việc thu thập chữ ký kiến nghị bất hợp pháp.

Ngoài Midnight Mission vào chiều thứ Hai, NYP đã gặp Bo Jackson, người đã ghi danh bỏ phiếu nhưng nói ông không nhớ mình đã ghi danh, và thậm chí không thể nêu tên một ứng cử viên nào trong cuộc đua thị trưởng LA.

NYP hỏi nhân viên của Midnight Mission về cách giải quyết lượng phiếu bầu ở trung tâm, nhưng phóng viên bị đuổi ra ngoài và không nhận được phản hồi.

Hàng trăm cử tri liên kết với các khu hỗ trợ gia cư và dự án gia cư giá rẻ cũng đã được xác định qua việc xem xét hồ sơ công khai. Một số địa điểm đã thêm gần 200 cử tri ghi danh trong những tuần cuối trước hạn chót.

Ba nhà cung cấp dịch vụ điều trị nghiện và khủng hoảng cũng xuất hiện trong số các địa chỉ có số lượng cử tri ghi danh đáng kể. NYP còn xác định 313 cử tri liên kết với các cơ sở dịch vụ xã hội của Quận Los Angeles.

Công tố viên Essayli nói: “California đã thực tế phi hình sự hóa gian lận bầu cử bằng cách loại bỏ các biện pháp phát hiện gian lận cơ bản mà các tiểu bang khác vẫn áp dụng.

Danh sách cử tri bẩn, không có thẻ nhận dạng cử tri và thu gom phiếu bầu không được kiểm soát là lời mời mở cho các tác nhân xấu thực hiện gian lận.

Nếu California muốn khôi phục lòng tin của công chúng, chúng tôi mời họ tuân thủ luật liên bang và cho phép chúng tôi kiểm toán danh sách cử tri, họ đang sợ điều gì?”

Garrett Fahy, luật sư chuyên về luật bầu cử tại California, nói với NYP rằng các trường hợp ghi danh này phản ánh cách hệ thống bầu cử của California được thiết kế để hoạt động.

“Hệ thống không được thiết lập để ngăn người ta bỏ phiếu. Nó được thiết kế để bảo đảm bất kỳ ai ghi danh đều được bỏ phiếu,” Fahy nói.

Ông nhấn mạnh rằng các quan chức bầu cử quận thường không có nhiệm vụ điều tra độc lập các cử tri ghi danh, mà chỉ thực thi bầu cử theo luật tiểu bang và quy định của các nhà lập pháp.

FB Uyen Vu


NĂM GIAI ĐOẠN CỦA SỰ TAN RÃ LÝ TRÍ: GIẢI PHẪU MỘT BỨC ẢNH

Có những bức ảnh không cần lời giải thích. Có những khoảnh khắc mà ống kính, một cách vô tình, đã nắm bắt được toàn bộ chân dung tinh thần của một thời đại trên một gương mặt người. Bức ảnh năm khung hình về nhà báo Kristen Welker — người dẫn chương trình Meet the Press của hãng NBC — đang lan truyền trên mạng xã hội những ngày qua chính là một bức ảnh như thế. Nó không phải tác phẩm nghệ thuật, không phải bằng chứng tư pháp, không phải tài liệu lưu trữ chính thức. Nhưng đối với những ai muốn hiểu hiện tượng đã được mệnh danh Trump Derangement Syndrome, năm khung hình ấy có giá trị hơn bất kỳ chuyên luận tâm lý học nào.

Năm biểu cảm, năm khoảnh khắc, năm tầng nấc của một quá trình tan rã. Từ sự sửng sốt ban đầu cho đến cơn cuồng nộ cuối cùng, gương mặt Welker tái hiện một cách hoàn hảo bản đồ tâm lý mà bài viết trước đã cố gắng phác họa bằng lý thuyết. Đây không phải biểu cảm của một cá nhân lập dị, mà là biểu cảm điển hình của cả một tầng lớp — tầng lớp tinh hoa truyền thông Hoa Kỳ — khi đối mặt với một thực tại mà thế giới quan của họ không cho phép tồn tại.

Trước khi đi vào phân tích, cần đặt nhân vật trong bối cảnh. Kristen Welker không phải nhà báo hạng hai. Cô tốt nghiệp Đại học Harvard, trải qua hơn một thập niên tại NBC News, từng là phóng viên Tòa Bạch Ốc dưới thời Obama và Trump, và năm 2023 đã thay thế Chuck Todd để trở thành người dẫn chương trình chính trị uy tín nhất của hãng — Meet the Press, chương trình đã chạy liên tục từ năm 1947 và được xem là khuôn mẫu của báo chí chính luận Mỹ.

Nói cách khác, Welker là sản phẩm hoàn hảo của hệ thống đào tạo báo chí dòng chính: học vấn ưu tú, đường sự nghiệp được vạch sẵn, vị trí đỉnh cao trong một thiết chế truyền thông trăm năm tuổi. Cô đại diện cho thế hệ nhà báo được kỳ vọng sẽ kế thừa di sản của Cronkite, Brokaw, Russert — những tên tuổi từng được coi là chuẩn mực của sự khách quan trong lịch sử báo chí Hoa Kỳ.

Vậy mà chính người mang trên vai trọng trách kế thừa ấy, trong một cuộc phỏng vấn với Tổng thống Donald Trump, đã để gương mặt mình diễn xuất nguyên một vở kịch tâm lý mà ngay cả Konstantin Stanislavski cũng phải kinh ngạc. Không phải vì cô là người yếu kém. Mà vì có những thực tại mà ngay cả một bộ óc Harvard được rèn luyện trong nghề báo cũng không thể tiêu hóa được, khi thực tại ấy đe dọa toàn bộ bản sắc và thế giới quan đã được xây dựng qua hàng chục năm.

GIAI ĐOẠN MỘT — SỬNG SỐT NHẬN THỨC

Khung hình thứ nhất ghi lại khoảnh khắc tinh tế nhất, và cũng là quan trọng nhất, trong toàn bộ chuỗi phản ứng: sự sửng sốt thuần khiết. Ánh mắt mở to, môi hơi hé, các cơ mặt còn chưa kịp định hình một biểu cảm rõ ràng. Đây là khoảnh khắc mà nhà tâm lý học Daniel Kahneman, trong tác phẩm Thinking, Fast and Slow, gọi là “sự gián đoạn của Hệ Thống 1” — khoảnh khắc bộ não tự động ngừng vận hành vì đầu vào không khớp với bất kỳ khuôn mẫu nhận thức nào đã được lưu trữ.

Welker đã nghe điều gì khiến cô sửng sốt đến vậy? Không quan trọng. Bởi vì đối với một bộ óc đã được lập trình qua nhiều thập niên rằng Trump là “kẻ ngu dốt,” “kẻ phân biệt chủng tộc,” “mối đe dọa cho nền dân chủ,” thì bất kỳ điều gì Trump nói mà không khớp với hình ảnh ấy đều gây ra cú sốc tương tự. Khi Trump trình bày một lập luận mạch lạc, đó là cú sốc. Khi Trump dẫn ra một dữ liệu chính xác, đó là cú sốc. Khi Trump giữ thái độ điềm tĩnh và lễ độ, đó là cú sốc.

Vấn đề ở đây không nằm ở những gì TT Trump nói, mà nằm ở khoảng cách giữa hình ảnh đã được dựng sẵn trong đầu Welker và con người bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt cô. Khoảng cách ấy lớn đến mức gây ra hiện tượng mà các nhà tâm lý học gọi là perceptual dissonance — sự lệch pha giữa cái được nhìn thấy và cái được kỳ vọng nhìn thấy. Não bộ, trong khoảnh khắc đầu tiên ấy, đơn giản là không thể xử lý được.

GIAI ĐOẠN HAI — TÌM KIẾM SỰ BẤT HỢP LÝ

Khung hình thứ hai cho thấy quá trình phục hồi nhận thức bắt đầu. Trán bắt đầu nhăn, đôi mắt nheo lại, ánh nhìn trở nên dò xét. Đây là khoảnh khắc Hệ Thống 2 — phần tư duy phân tích — bắt đầu vận hành. Nhưng nó không vận hành để hiểu, mà để phản bác. Không vận hành để tiếp nhận thông tin mới, mà để tìm ra bất cứ điều gì có thể dùng để bác bỏ thông tin ấy.

Đây chính là cơ chế mà Leon Festinger đã mô tả trong lý thuyết bất hòa nhận thức của ông từ năm 1957. Khi một niềm tin cốt lõi bị đe dọa bởi bằng chứng ngược lại, bộ não không tự nguyện điều chỉnh niềm tin — nó huy động toàn bộ nguồn lực nhận thức để bảo vệ niềm tin và loại bỏ bằng chứng. Welker, trong khoảnh khắc thứ hai này, không còn lắng nghe TT Trump như một nhà báo lắng nghe nguồn tin. Cô đang tìm kiếm điểm yếu, lỗ hổng, sơ hở — bất cứ điều gì có thể biến thành câu hỏi “gotcha” tiếp theo.

Điều cay đắng của giai đoạn này là nó hoàn toàn vô thức. Welker, tự đáy lòng, có thể vẫn tin rằng mình đang làm tròn vai trò của một nhà báo khách quan. Cô không nhận ra rằng các cơ mặt của chính mình đã phản bội mình. Nhưng máy quay thì không nói dối. Và hàng triệu khán giả, bằng trực giác sơ đẳng nhất của loài người về việc đọc biểu cảm khuôn mặt, đã nhận ra ngay điều mà chính Welker không nhận ra: cô không phải đang phỏng vấn, cô đang chiến đấu.

GIAI ĐOẠN BA — KHINH MIỆT GIAI CẤP HIỆN HÌNH

Khung hình thứ ba là khoảnh khắc đặc biệt nguy hiểm, vì nó để lộ điều mà giới truyền thông tinh hoa Hoa Kỳ luôn cố gắng che giấu: sự khinh miệt giai cấp. Khóe môi hơi trễ xuống, hàm bạnh nhẹ, ánh mắt mang một thứ ánh sáng lạnh lùng pha trộn giữa khinh thị và mỉa mai. Đây là biểu cảm mà người Pháp gọi là moue de mépris — cái bĩu môi của sự khinh bỉ.

Hillary Clinton đã đặt tên cho hiện tượng này vào năm 2016 với cụm từ khét tiếng “basket of deplorables” — cái rổ của những kẻ đáng khinh. Nhưng Hillary chỉ có cái sai lầm là nói ra điều mà cả giới tinh hoa nghĩ thầm. Welker trong khung hình ba không nói gì. Cô chỉ để gương mặt mình nói. Và gương mặt ấy nói rằng: làm sao một người như anh — một kẻ thô lỗ, một kẻ không có học vấn Ivy League, một kẻ ăn nói không theo nghi thức Washington — lại dám ngồi đó, dám đối đáp với tôi, dám không khuất phục trước thẩm quyền đạo đức của báo chí dòng chính?

Sự khinh miệt này không phải nhằm vào cá nhân TT Trump. TT Trump chỉ là biểu tượng. Sự khinh miệt thực sự nhằm vào bảy mươi bảy triệu cử tri đã bỏ phiếu cho Trump năm 2024 — những công nhân Rust Belt, những nông dân Trung Tây, những cựu chiến binh, những người Latino và da đen lao động đã rời bỏ đảng Dân Chủ. Trong ánh mắt Welker ở khung hình thứ ba, ta thấy toàn bộ sự bất lực của một giai cấp tinh hoa khi nhận ra rằng quần chúng đã không còn ngoan ngoãn nghe theo họ. Và sự bất lực ấy, không thể trút lên đám đông vô danh, được trút hết lên người đại diện cụ thể nhất của đám đông ấy: Donald Trump.

GIAI ĐOẠN BỐN — BỘC PHÁT BẢN NĂNG

Khung hình thứ tư là điểm bước ngoặt. Vẻ kìm chế chuyên nghiệp đã sụp đổ. Răng để lộ, môi căng, các cơ cổ nổi rõ. Đây không còn là biểu cảm của một nhà báo nữa — đây là biểu cảm tổ tiên của loài linh trưởng khi đối mặt với mối đe dọa sinh tồn. Charles Darwin, trong tác phẩm The Expression of the Emotions in Man and Animals xuất bản năm 1872, đã ghi nhận chính xác loại biểu cảm này: răng để lộ là dấu hiệu nguyên thủy của sự sẵn sàng tấn công, một di sản từ hàng triệu năm tiến hóa.

Điều đáng kinh ngạc là: cái kích thích cô lập sẵn sàng tấn công ấy không phải hổ báo trong rừng già, không phải kẻ địch trong chiến trận. Đó chỉ là một người đàn ông bảy mươi chín tuổi đang ngồi yên trong studio truyền hình, trả lời các câu hỏi mà chính cô đặt ra. Khoảng cách giữa nguyên nhân và phản ứng — giữa một cuộc phỏng vấn dân sự và biểu cảm chuẩn bị cận chiến — chính là thước đo định lượng cho mức độ nặng nhẹ của TDS.

Các nhà thần kinh học sẽ giải thích hiện tượng này bằng thuật ngữ amygdala hijack — sự chiếm đoạt vùng amygdala. Khi cảm xúc lên đến đỉnh điểm, vùng não nguyên thủy phụ trách phản ứng sinh tồn (amygdala) sẽ áp đảo vùng vỏ não trán trước (prefrontal cortex) — phần não phụ trách tư duy lý tính. Welker trong khung hình bốn không còn suy nghĩ. Cô đang phản ứng. Và phản ứng ấy là phản ứng của con vật bị dồn vào góc, không phải của một nhà báo đang điều khiển cuộc đối thoại.

GIAI ĐOẠN NĂM — TAN RÃ TOÀN PHẦN

Khung hình thứ năm là sự sụp đổ hoàn toàn. Tất cả các cơ mặt căng cứng đến biến dạng, miệng méo, mắt long sòng sọc, các nếp nhăn trên trán hằn sâu như được khắc bằng dao. Đây không còn là biểu cảm có thể giả vờ, không còn là phản ứng có thể kiểm soát. Đây là khoảnh khắc mà toàn bộ cấu trúc nhận thức đã sụp đổ và để lộ ra cái mà nó đã che đậy suốt nhiều năm.

Điều nghịch lý là trong khoảnh khắc tan rã hoàn toàn ấy, Welker thực ra trở nên trung thực hơn bất cứ lúc nào khác trong sự nghiệp của mình. Không còn lớp mặt nạ của sự khách quan giả tạo. Không còn giọng điệu trầm tĩnh được luyện tập trong studio. Không còn cấu trúc câu hỏi được biên tập tỉ mỉ. Chỉ còn lại con người thật bên dưới — và con người thật ấy, hóa ra, là một người căm thù.

Đây là khoảnh khắc mà nhà tâm lý học Carl Jung sẽ gọi là sự xuất hiện của bóng tối (the shadow) — phần nhân cách mà con người luôn cố giấu kín, kể cả với chính mình. Trong nhiều năm, giới truyền thông dòng chính đã thuyết phục cả nước Mỹ — và quan trọng hơn, thuyết phục chính họ — là họ chính là những nhà báo khách quan, công tâm, chỉ quan tâm đến sự thật. Khung hình thứ năm phá tan toàn bộ huyền thoại ấy trong tích tắc. 

Bóng tối đã hiện ra, và nó không còn có thể bị nhét trở lại vào trong.

Bức ảnh năm khung hình về Kristen Welker không phải bức ảnh đầu tiên thuộc loại này, và chắc chắn không phải bức cuối cùng. Trước cô đã có Jim Acosta của CNN với những cuộc đụng độ trong họp báo Tòa Bạch Ốc, Jake Tapper với những bài bình luận đầy cay đắng, Joy Reid với cơn cuồng nộ thường trực trên MSNBC. Mỗi nhân vật ấy, theo cách riêng, đều đã để lại những khoảnh khắc tương tự — những khoảnh khắc mà chiếc mặt nạ chuyên nghiệp rơi xuống và để lộ ra điều bên dưới.

Nhưng có một điều mà thế hệ nhà báo này dường như không nhận ra: thời đại đã thay đổi. Trong kỷ nguyên truyền hình tuyến tính cổ điển, khi cả nước Mỹ chỉ có ba kênh tin tức và mỗi chương trình chỉ được phát sóng một lần rồi tan biến vào không trung, các biểu cảm thoáng qua của nhà báo không bao giờ trở thành bằng chứng. Khán giả chỉ ghi nhớ thông điệp được biên tập, không ghi nhớ cử chỉ vô thức.

Thời đại đã khác. Mỗi cuộc phỏng vấn ngày nay được phát trực tiếp, được lưu trữ vĩnh viễn, được cắt thành hàng nghìn clip ngắn, được chia sẻ trên hàng triệu tài khoản X, TikTok, Instagram. Mỗi cái nhăn mặt, mỗi cái bĩu môi, mỗi khoảnh khắc mất kiểm soát đều trở thành bằng chứng vĩnh cửu. Máy quay không còn là công cụ của nhà báo nữa — máy quay đã trở thành phiên tòa nơi chính nhà báo bị xét xử.

Và phán quyết của phiên tòa ấy đã rõ ràng: niềm tin của người dân Hoa Kỳ vào truyền thông dòng chính, theo cuộc khảo sát mới nhất của Gallup, đã chạm đáy lịch sử. Con số ấy không phải kết quả của một chiến dịch tuyên truyền của phe bảo thủ. Con số ấy là kết quả của hàng triệu khoảnh khắc như khoảnh khắc của Welker — những khoảnh khắc mà công chúng, bằng đôi mắt của chính mình, đã nhìn thấy điều mà giới truyền thông luôn phủ nhận.

Một ngày nào đó, khi các nhà sử học tương lai viết về thời kỳ chính trị hỗn loạn đầu thế kỷ hai mươi mốt của Hoa Kỳ, họ sẽ không cần đọc hết hàng nghìn cuốn sách phân tích. Họ chỉ cần nhìn vào bức ảnh năm khung hình của Kristen Welker và họ sẽ hiểu mọi thứ. Họ sẽ hiểu vì sao một quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh lại rơi vào trạng thái phân cực sâu sắc đến vậy. Họ sẽ hiểu vì sao một thiết chế truyền thông từng được Hiến Pháp bảo vệ lại tự đào hố chôn mình. Họ sẽ hiểu vì sao hàng chục triệu cử tri đã quay lưng lại với những tờ báo mà ông bà họ từng đọc mỗi sáng với niềm tin tuyệt đối.

Câu trả lời nằm cả trên gương mặt một người phụ nữ — một người phụ nữ thông minh, được đào tạo bài bản, có đầy đủ điều kiện để trở thành tiếng nói khách quan của thời đại mình, nhưng đã chọn — hoặc đã để cho hệ thống chọn thay mình — con đường của sự thù hận có tổ chức. Năm khung hình ấy không phải bản án dành cho Welker với tư cách cá nhân. Đó là bản án dành cho toàn bộ một mô hình báo chí đã đánh mất lý do tồn tại của chính mình.

Hippocrates, người được mệnh danh là cha đẻ của y học phương Tây, đã dạy rằng bước đầu tiên của việc chữa bệnh là chẩn đoán đúng. Bức ảnh của Kristen Welker, theo nghĩa ấy, là một đóng góp y học vô giá. Nó chẩn đoán căn bệnh TDS chính xác hơn bất kỳ bài chuyên luận nào. Và một khi đã chẩn đoán đúng, hành trình chữa lành có thể bắt đầu — không phải hành trình chữa lành cho Welker, mà cho hàng triệu công dân Hoa Kỳ đang mang trong mình mầm bệnh tương tự, dù họ có nhận ra hay không.

Bởi suy cho cùng, lịch sử không phán xét chúng ta bằng những gì chúng ta nói, mà bằng những gì gương mặt chúng ta đã vô tình tiết lộ trong những khoảnh khắc mà chúng ta nghĩ rằng không ai đang nhìn.





TIỆM NAIL, TIỆM PHỞ, TIỆM BÁNH MÌ - TẠI SAO CHỦ DOANH NGHIỆP NHỎ NGƯỜI VIỆT ĐỀU NGẢ VỀ TRUMP

Có một xu hướng mà truyền thông Mỹ cố tình không muốn nhìn thẳng: tầng lớp chủ doanh nghiệp nhỏ người Việt - đặc biệt trong các ngành nail, F&B, dịch vụ - đã dịch chuyển mạnh về phía Đảng Cộng hòa trong các kỳ bầu cử gần đây. Hiện tượng này không phải là chuyện "older generation needs to evolve" như narrative quen thuộc của CNN. Đây là một hiện tượng kinh tế - chính trị có thể đo lường, có thể giải thích, và có thể dự đoán.

Mình muốn viết bài này không phải để bàn về Trump như một con người - đã có quá nhiều người làm việc đó. Mình muốn bàn về một câu hỏi mà mình cho là quan trọng hơn: tại sao một tầng lớp doanh nghiệp có những người chủ là người nhập cư - vốn thường được giả định là "khán giả lý tưởng của Đảng Dân chủ" (immigrant, person of color, hardworking) - lại quay lưng với chính đảng được cho là "đại diện cho người lao động và người da màu"?

Câu trả lời, mình tin, nằm ở năm vấn đề rất cụ thể - năm vấn đề đang giết doanh nghiệp nhỏ trong cộng đồng người Việt mỗi ngày.

I. THUẾ - GÁNH NẶNG MÀ KHÔNG AI THẤY.

Một chủ tiệm nail trung bình ở Mỹ - giả sử doanh thu khoảng $400,000/năm - phải trả gì? Liên bang: thuế thu nhập cá nhân (vì doanh nghiệp nhỏ thường là LLC pass-through hoặc sole proprietor) ở mức 22-32%. Self-employment tax 15.3%. Tiểu bang: ở California 9.3%, ở New York gần 7%. Local tax tùy thành phố. Cộng tất cả, doanh chủ nhỏ thường nộp 40-50% thu nhập ròng cho chính phủ ở các tiểu bang xanh.

So sánh: một corporation lớn như Amazon, Google, hay GE - với đội ngũ luật sư thuế và kế toán - thường nộp thuế hiệu dụng dưới 15%. Một doanh nghiệp niêm yết có thể trừ tất cả mọi thứ: máy bay, du lịch "công tác", quà tặng "kinh doanh", lương executive hàng triệu. Một chủ tiệm phở không có những công cụ đó. Khi truyền thông nói về "thuế công bằng", người ta thường nói đến "raising the corporate tax rate" - nhưng người chịu đòn nặng nhất của hệ thống thuế hiện tại không phải là Amazon. Là chủ tiệm bánh mì ở Westminster.

Đảng Dân chủ trong 10 năm gần đây không có một chính sách nào giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp nhỏ. Ngược lại - các đề xuất "wealth tax", "surtax on small business profits", "closing pass-through loopholes" đều nhắm vào tầng lớp này, dù lý lẽ được đóng gói là "taxing the rich." Đối với một chủ tiệm nail làm ra $200,000 lợi nhuận sau khi đầu tư cả đời mình vào tiệm, anh ta không phải là "rich." Anh ta là người vừa đủ giàu để bị đánh thuế nặng, nhưng không đủ giàu để có luật sư thuế.

Trump - dù được mô tả là "đại diện cho tầng lớp giàu" - là tổng thống đầu tiên trong vòng 30 năm thực sự giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ thông qua TCJA 2017, với điều khoản Section 199A cho phép pass-through entities khấu trừ 20% qualified business income. Đối với tầng lớp chủ tiệm Việt, đó là sự khác biệt giữa năm có lời và năm hoà vốn.

II. QUY ĐỊNH - NÚI GIẤY TỜ KHÔNG BAO GIỜ NGỪNG MỌC

Khi nhìn vào các phàn nàn lặp đi lặp lại trong các nhóm ngành nail và F&B người Việt trên Facebook, mình thấy một danh sách rất cụ thể. Một chủ tiệm nail trung bình ở California phải tuân thủ ít nhất 8 cơ quan: Board of Cosmetology, OSHA, Cal-OSHA, EDD (employment), Labor Commissioner, Air Quality Board (vì hóa chất), Health Department, và Fire Marshal. Mỗi cơ quan có biểu mẫu, deadline, và phạt riêng. Một sai sót giấy tờ - dù không gây hại gì cho ai - có thể dẫn đến phạt $5,000-$25,000.
Đó là chưa kể những "yêu cầu mới" liên tục được thêm vào. AB5 ở California đã reclassify hàng triệu "independent contractors" thành employees, buộc chủ tiệm phải gánh thêm chi phí worker's comp, payroll tax, và health insurance. Mục đích nghe rất nhân văn - "protect workers" - nhưng kết quả thực tế: hàng nghìn tiệm nail nhỏ đã đóng cửa hoặc chuyển sang model "booth rental" phức tạp hơn. Cái mà nhà lập pháp progressive ở Sacramento gọi là "worker protection", người chủ tiệm gọi là "chính phủ làm tôi không thể vận hành nữa."

Đây không phải là chuyện "chủ doanh nghiệp ghét lao động." Đây là chuyện những quy định được viết bởi người chưa bao giờ điều hành một doanh nghiệp nhỏ, áp dụng cho những người dành 12 tiếng mỗi ngày để giữ doanh nghiệp đó sống. Trump - với toàn bộ những kinh nghiệm của ông - đã có một thông điệp đơn giản và cụ thể: "deregulation." Đảng Dân chủ trong 10 năm qua chưa bao giờ nói câu đó một cách nghiêm túc.

III. LƯƠNG TỐI THIỂU - MỘT CHÍNH SÁCH NGHE THÌ THẤY TỪ THIỆN NHƯNG THẬT RA LÀ HÀNH HẠ.

Khi California tăng minimum wage lên $20/giờ cho fast food workers tại các chuỗi lớn (AB 1228) năm 2024, một hiệu ứng dây chuyền đã xảy ra trong toàn bộ ngành F&B. Một tiệm phở độc lập, dù không bị bắt buộc phải trả $20, vẫn phải tăng lương để giữ nhân viên không nhảy sang McDonald's hay Chipotle. Đây không phải là chuyện chủ tiệm "keo kiệt." Đây là toán học cơ bản: một tiệm phở có biên lợi nhuận khoảng 8-12%. Khi labor cost tăng 25-30%, biên lợi nhuận biến mất. Chủ tiệm có hai lựa chọn: tăng giá phở (mất khách) hoặc đóng cửa.

Truyền thông Mỹ rất ít khi đưa câu chuyện này vào narrative về minimum wage. Họ phỏng vấn worker, không phỏng vấn chủ. Họ đăng ảnh CEO McDonald's, không đăng ảnh chủ tiệm phở 60 chỗ ngồi ở Garden Grove đã đóng cửa sau 22 năm. Cái câu chuyện thật về minimum wage không nằm ở Wall Street. Nó nằm ở những strip mall mà truyền thông Mỹ không bao giờ đặt chân đến.

Đảng Dân chủ ủng hộ minimum wage cao như một biểu tượng đạo đức - "$15 an hour is a moral minimum." Trump và Đảng Cộng hòa nói: "để thị trường địa phương quyết định." Đối với một chủ tiệm bánh mì ở vùng có thu nhập trung bình thấp, "thị trường địa phương quyết định" có nghĩa là tiệm của tôi vẫn còn tồn tại được. "$15 minimum" có nghĩa là tiệm của tôi đóng cửa.

IV. ĂN CẮP VÀ TỘI PHẠM - CÁI CHẾT THẦM LẶNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ.

California Prop 47 (năm 2014) đã reclassify trộm cắp dưới $950 từ felony xuống misdemeanor. Hậu quả thực tế: cảnh sát ngừng đến hiện trường khi bị báo trộm dưới mức này. Công tố không truy tố. Cửa hàng không thể tự bảo vệ vì luật về "reasonable force" nghiêng về phía kẻ trộm. Walgreens đã đóng cửa hơn 12 chi nhánh ở San Francisco. Target đã thu hẹp giờ hoạt động. Nhưng các chuỗi lớn còn có thể survive - họ tự bảo hiểm, họ có lawyer trên payroll.

Doanh nghiệp nhỏ thì không. Một chủ tiệm bánh mì bị trộm $400 ba lần một tháng - đó là $14,400 một năm. Đối với một tiệm có lợi nhuận $80,000-$120,000/năm, đó là mất 12-18% lợi nhuận vào tay người chính phủ đã chính thức quyết định không truy tố. Người chủ tiệm đó - khi nghe Trump nói về "law and order" và "hard on crime" - không nghe một slogan chính trị. Anh ta nghe một người duy nhất công nhận vấn đề mà cuộc đời anh ta đang gánh chịu.

Trong khi đó, nhiều DA Đảng Dân chủ ở các thành phố lớn - San Francisco, Los Angeles, Chicago, Philadelphia - đã áp dụng "progressive prosecution" model, giảm truy tố các tội phi-bạo-lực. Mục đích được tuyên bố: "reform the criminal justice system." Kết quả thực tế đối với chủ doanh nghiệp nhỏ: không ai bảo vệ tôi nữa.

V. THÀNH PHỐ BLUE VÀ NGHỊCH LÝ CHÍNH TRỊ.

Có một mô hình mà mình quan sát được - và nó không phải là tình cờ. Năm vấn đề trên - thuế cao, quy định nặng, lương tối thiểu cao, tội phạm không bị truy tố, môi trường kinh doanh thù địch - đều tập trung ở các thành phố và tiểu bang do Đảng Dân chủ kiểm soát. California. New York. Illinois. Oregon. San Francisco, Los Angeles, Chicago, Portland.

Đây là một nghịch lý sâu sắc trong chính trị Mỹ. Đảng Dân chủ - về mặt rhetoric - tự nhận là "đảng của tầng lớp lao động và người nhập cư." Nhưng các chính sách thực tế của họ ở các thành phố họ kiểm soát đã làm cho tầng lớp lao động nhập cư khó vận hành doanh nghiệp nhất. Đây không phải là sự cố. Đây là kết quả có thể dự đoán được của một hệ thống ưu tiên ý thức hệ trên kinh nghiệm thực tiễn.

Người chủ doanh nghiệp Việt-Mỹ không phải là chuyên gia chính trị. Họ không đọc Heritage Foundation hay Brookings. Nhưng họ sống cái thực tế mà các think tank chỉ phân tích trên giấy. Khi họ nhìn vào Trump và Đảng Cộng hòa, họ không thấy một ý thức hệ phức tạp. Họ thấy người duy nhất nói về vấn đề của họ bằng ngôn ngữ giống vấn đề của họ. Đó không phải là sự lựa chọn tình cảm. Đó là lựa chọn dựa trên sự tồn tại.

Mình muốn kết thúc bài viết này bằng một observation mà mình tin là cốt lõi của hiện tượng. Tầng lớp chủ doanh nghiệp Việt-Mỹ không "yêu Trump" theo nghĩa cuồng tín. Nhiều người trong số họ thậm chí không thích cá nhân ông. Họ chỉ nhận ra một điều đơn giản: trong 10-15 năm qua, chỉ có một bên chính trị nói về những vấn đề thực sự đang giết doanh nghiệp của họ. Bên kia đã chọn nói về những chủ đề khác.

Khi truyền thông Mỹ gọi hiện tượng này là "surprising" hay "a shift to the right" hay "radicalization of immigrant communities" - họ đang dùng những khung phân tích sai. Đây không phải là radicalization. Đây là một tầng lớp doanh chủ nhập cư đã làm cái điều mà tất cả tầng lớp doanh chủ trong lịch sử Mỹ đã làm: bỏ phiếu cho người bảo vệ điều kiện kinh doanh của họ. Họ đã làm điều mà mọi nhóm cử tri lý trí làm. Sự "surprise" của truyền thông chỉ phản ánh khoảng cách giữa narrative của họ và thực tế của một cộng đồng.

Còn bạn - nếu bạn là chủ doanh nghiệp nhỏ trong cộng đồng người Việt, năm vấn đề trên có nằm trong cuộc sống hàng ngày của bạn không? Hay bạn còn thấy thêm những vấn đề khác mà bài viết này chưa đề cập?

-- Ryan Phan --

Blog Archive