Sunday, April 12, 2026

NHỮNG NGƯỜI CŨ BOLSA !!!


Trần Chí Phúc là nhạc sĩ chuyên dòng nhạc đấu tranh, bài nhạc tôi thích nhất mà anh sáng tác là "Xác Em Nay Ở Phương Nào" khi anh viết về những thảm cảnh của thuyền nhân chúng tôi trên mặt biển ở thập niên 70s, 80s. Trước ở Bắc Cali, giờ về hưu thì về Nam Cali vẫn sinh hoạt trong văn nghệ nhưng lại chuyển qua NHẠC THỜI SỰ, anh cũng là một người viết báo với bút hiệu Trần Củng Sơn.

Anh Bạch Đông vốn là con rể của cố nhạc sĩ Anh Bằng, anh cùng nhạc phụ đã sáng lập khởi đầu là trung tâm Lê Minh Bằng, sau đó đổi tên thành trong tâm Dạ Lan và cuối cùng là trung tâm Asia, chúng tôi gọi anh là "tay phù thủy" xoay chuyển càng khôn.

Anh cũng là người lôi Trúc Hồ ra ánh sáng, khi Trúc Hồ còn là một nhạc sĩ keyboard trong ban nhạc. Thập niên 80s bộ ba Bạch Đông - Trúc Hồ - Trung Hành đã có những tác phẩm bằng Cassettes gây rung chuyển cả cộng đồng người Việt ở Mỹ với những liên khúc New Wave.

Kỷ niệm duy nhất anh Bạch Đông để lại Mỹ trước khi bay về sống một thời gian dài ở Thái Lan là cuốn phim "Cơn Mưa Hạ" do chị Thanh Hằng (phu nhân của anh Thái Đắc Nhả) đóng vai chính.

Và cuối cùng là Quốc Thái gia đình anh đã gây dựng nên phong trào tổ chức show ở các khách sạn danh tiếng ở California ở Disney Land, thân phụ của Quốc Thái là nhạc sĩ Nguyễn Lâm, người tiên phong tổ chức các show văn nghệ thời cộng đồng người Việt ở Mỹ còn sơ khai (70s - 80s). Trung Tâm băng nhạc và band "Mây Bốn Phương" là của gia đình Quốc Thái, anh cũng là em ruột của nữ ca sĩ Phi Khanh.

Chị Phi Khanh thì đã lập vũ trường Majestic hoạt động nhiều năm trước khi chuyển về vũ trường Blue hiện nay.

Quốc Thái vốn là ca sĩ trong band nhạc "Mây Bốn Phương", vào nghề truyền thông trước tôi vài tháng (1994) khi miền nam Cali có làn sóng Radio 106.3FM và anh vẫn làm đến ngày hôm nay.

Thập niên 80s Quận Cam chúng tôi có rạp chiếu phim Triều Thành, sau đó là rạp chiếu phim Thủ Đô, nhưng mãi qua thập niên 2000s, thì mới có rạp trình diển đầu tiên do người Việt làm chủ, Quốc Thái là người xây dựng ra rạp Star Performing Arts, rạp trình diễn đầu tiên của người Việt ở Hoa Kỳ.

Gần 40 năm sau, chúng tôi có những vận mạng khác nhau, Trần Chí Phúc thì về hưu, chỉ viết nhạc theo thời sự ở Việt Nam và các biến động thời sự.

Anh Bạch Đông thì sau thời gian ở Thái Lan, anh đã về VN và sống trong rừng để.... trồng Trầm Hương và Kỳ Nam, và giờ thì quay lại Bolsa an nhàn, công ty Trầm Hương thì giao lại cho gia đình cai quản.

Quốc Thái ngoài công việc Radio (trước đó anh cũng sáng lập đài truyền hình VHN chiếu song hành với SBTN trên DirecTV), thì điều hành khu shopping mall trên QT Golden Market Place.

Còn tôi thì trở thành Youtuber, chuyển nhà về Texas, dù vẫn đi lại giữa Cali và Texas.

FB Tran Nhat Phong



Từ trái sang phải : Trần Chí Phúc, Tôi, anh Bạch Đông và Quốc Thái.









SỰ HY SINH THẦM LẶNG

Sau khi hai Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thanh Long lần lượt bị mất chức và đi tù vì tham nhũng và buôn thuốc tây giả, chính phủ ta đã đưa một người không biết gì về y tế lên làm bộ trưởng. Đó là bà Đào Hồng Lan, người có khuôn mặt mũm mĩm, xinh ra phết, vốn là một nhà giáo đã có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.

Vừa lên ngôi, bà tân Bộ trưởng đã phát động cuộc thi viết về “Sự hy sinh thầm lặng” của ngành y tế. Giải thưởng rất hấp dẫn. Có nhiều bài viết gửi về. Trong số đó có bài của một em học sinh lớp 6 bị ném ngay vào thùng rác, giống như dân Facebook vẫn hay nói là “bị loại từ vòng gửi xe”. Bài viết của em như sau:

Người ta cứ bảo bác sĩ, y tá là lương y như từ mẫu, là những chiến sĩ thầm lặng, em thấy không đúng. Cả nước đều biết nếu không có phong bì hay tiền ứng trước viện phí, người bịnh sẽ có nhiều cơ hội bị bỏ nằm nhúc nhích ngoài hành lang, vừa thở vừa chờ cho tới sáng. Hay ai cần thay băng mà không lòi tiền bồi dưỡng ra, sẽ được các nhân viên y tế thay mạnh tay còn hơn đô vật…Cho nên em chỉ thấy những bịnh nhân bình thường như mẹ em mới xứng đáng đoạt danh hiệu “sự hy sinh thầm lặng”.

Mẹ em là một cô giáo, ở trong trường thì được chính phủ gọi là kỹ sư tâm hồn, nhưng lúc mẹ em bị bướu cổ phải đi bịnh viện thì không khác gì một con chuột đang bị cả hệ thống y tế xúm vô hành hạ.

Mẹ em phải dậy sớm đi vô bệnh viện lúc 3 giờ rưỡi sáng để lấy số thứ tự. Ba em nằm trên giường cằn nhằn “Chỉ có ăn trộm mới đi giờ này”. Em cũng phải đi “ăn trộm” với mẹ em, vì ba em nói chiều nay mắc nhậu, không giữ em được.

Lấy số xong, mẹ em ngồi chờ tới trưa cũng không thấy đọc tên, trong khi có nhiều người tới sau thì lại được mấy cô y tá vui vẻ nắm tay dẫn vô trước. Có một ông ngồi ngủ gục cạnh mẹ em, lâu lâu mở một con mắt ra nói “Không có người quen giới thiệu, không có tiền khám dịch vụ thì chị ngủ một giấc đi cho khoẻ tấm thân ngà”.

Tới hồi nghe đọc tên, mẹ em mừng muốn khóc, mẹ chạy lại ô cửa sổ. Cô y tá, khuôn mặt nghiêm khắc, sau khi điền tên tuổi, giấy tờ xong, nói với mẹ em “Đóng viện phí rồi tới phòng khám số 6”. Mẹ em nhẹ nhàng hỏi “Phòng số 6 ở đâu chị ?”. Cô y tá nạt “Ở trong miệng chị chứ ở đâu. Đi ra ngoài mà hỏi”.

Tại đây, sau khi chờ mòn mỏi thêm nửa tiếng nữa, mẹ em được vô gặp bác sĩ. Ông bác sĩ, mồ hôi đầy trên mặt và nách, chắc tại phải làm việc quá sức. Nhìn ổng, em không thấy giống bác sĩ chút nào, mà thấy giống mấy người bán keo dán chuột. Bác sĩ hỏi “Bệnh sao?”. Mẹ em đang trình bày thì bác sĩ đã ghi xong toa thuốc, ông nói : “Đi chụp X quang và mua thuốc”.

Mẹ em dẫn em ra ngoài, im lặng đi như một xác chết. Em hỏi mẹ: “Sao mình chờ hết buổi sáng mà chỉ được gặp bác sĩ không tới 3 phút vậy mẹ ?”. Mẹ thở dài : “Ở đây, bác sĩ là chủ tịch nước. Con đói chưa, ra mẹ mua xôi con ăn rồi mình ghé quầy thuốc tây mua thuốc”. “Mẹ không đi chụp phim hả mẹ”. “Không kịp chiều nay đâu con ơi, người ta xếp hàng dài thế kia, để mai mẹ sẽ xin nghỉ dạy thêm một ngày nữa đi chụp”.

Tại quầy bán thuốc tây, cũng lại cảnh xếp hàng và chen lấn. Nhiều người ngồi luôn xuống đất cho đỡ mỏi chân. Em cũng ngồi nhưng mẹ em thì không. Chắc mẹ nghĩ trong bệnh viện mẹ vẫn là cô giáo chứ không phải bệnh nhân bướu cổ. Đứng lâu lắm thì mẹ cũng mua được một loại thuốc, còn hai loại khác người bán bảo rằng “Ngành y tế đang thiếu thuốc, chị ra ngoài chợ đen mà mua”. Mẹ thất vọng, lảo đảo đi ra như người say nắng. Thời may, có một bà tiên mập mạp hiện ra trước mặt cứu nguy. Bà tiên móc từ trong áo ngực ra mấy vỉ thuốc : “Em có hai loại thuốc chị cần nè, chị lấy em để rẻ cho”. Nhưng mẹ em cám ơn và nắm tay em lôi đi. Mẹ bảo mẹ sợ mua nhầm thuốc giả của mấy con buôn.

Ngồi trên xe buýt về nhà, em thấy suốt ngày hôm nay khủng khiếp quá. Bịnh viện đông như kiến. Đông thế nhưng không kiếm ra một nụ cười. Ai cũng gắt gỏng. Ai cũng lê lết chầu chực để được khám qua loa. Mùi mồ hôi, mùi mấy người bịnh khiến em cũng muốn bịnh theo luôn. Vậy mà mẹ em vẫn im lặng chịu đựng. Lúc gần ra về, có cụ già nuôi bệnh, bị móc túi hết tiền, ngồi khóc lóc thảm thiết, mẹ em lẳng lặng lấy ra cho mấy ngàn, không nói một câu. Mẹ chỉ đổ quạu khi về tới nhà thấy ba em nằm say xỉn, ói tùm lum. Dọn đống ói xong, mẹ lại hấp tấp chạy đi mua nước chanh về cho ba uống giải rượu.

Nhìn theo bóng dáng mẹ chạy đi mua nước chanh, em thấy thương sự hy sinh thầm lặng của mẹ vô cùng, cho nên em viết bài dự thi này. Mong bà Bộ trưởng cho em được giải để em đưa hết tiền lãnh thưởng cho mẹ em trị bịnh bướu cổ. Chứ bịnh viện kiểu này, không có tiền thì chắc mẹ em chỉ có nước sống và trị bịnh bằng niềm tin.

Kính chúc bà Bộ trưởng dồi dào sức khoẻ, ngồi ghế được lâu, suy nghĩ được gì giúp ích cho dân nghèo bịnh hoạn, chứ đừng như ông Bộ trưởng trước, mới ngồi chưa nóng đít đã tham nhũng, phải vô khám ngồi bóc lịch mà nước mắt ổng cá sấu cứ rưng rưng.

Loc Duong




CỨU TINH ĐÂY RỒI

Dạo này hay bị đau đầu gối quá...

Castor Oil trên amazon hoặc Walmart, Target gì cũng có bán mọi người search nha, ngoài ra nó còn giúp mọc tóc, mọc lông mi, lông mày, dưỡng da, móng tay chân tốt lắm đó..

Hôm qua đau gối nhưng mình vẫn đi làm. Đến lúc ra về phải đi bộ một quãng xa thì mình bắt đầu khóc vì đau. Tưởng tượng là tự dưng như có một thằng taekwondo nó đạp vô gối gãy cái rụp rồi mình lặc lè vừa đi vừa khóc vậy. Đoạn đường thường ngày đi bộ 5 phút thì nay 50 phút chưa lết ra khỏi công ty. Cuối cùng cũng lết ra xe lái về gần nhà thì chợt nghĩ phải mua bánh mì để ăn trong vài ngày chứ đâu nấu nướng gì được. Vào tiệm mình xếp hàng sau một bà Mỹ, bả nhìn mình ái ngại khi thấy mình băng bó đầu gối và đứng không vững. Xong bả nói: tao và chồng tao từng đau gối nặng nhất mà giờ khoẻ rồi, tao bôi dầu castor chai màu xanh blue mua ở CVS có mấy đồng mà xài mấy năm luôn, thuốc tiên "miracle oil" đó, nhớ nhé phải thử đi !

Mình ráng lết đến CVS, vào đến quầy mình gần như bò kiểu chổng mông chống 2 tay xuống đất như loài vượn. Nhìn quanh mãi không ai giúp tìm chai castor oil mình sắp khóc thì một cậu nhân viên chạy đến tìm giúp. Về đến nhà mình gần như một cây cột đã bị đốn ngã cái đùng, nghiến răng lết vào phòng nằm thở hổn hển rồi xoa bóp chân bằng castor oil. Ngủ một giấc dậy đi cà nhắc vịn tường đi rồi tự dưng đứng thẳng lên được mình khẽ reo lên wow tôi đã đứng được trên chân của mình...

Đỡ đau rồi. Hy vọng gặp thuốc tiên. Tử vi mình có nói Cung Tật Ách có sao giải cứu, có bệnh vái tứ phương sẽ gặp thầy gặp thuốc. Có khi nào lại khoẻ lại, từ vượn tiến hoá lưng thẳng bước như người ?

Fb chị Tran Thi Thanh Loan







Tại sao dân Mã Lai và Indonesia lại ghét cộng sản và cờ đỏ sao vàng đến vậy?


Bài nầy chỉ nói về Mã Lai còn Indonesia xin hẹn vào dịp khác...

Mã Lai cũng từng có đảng cộng sản, hoạt động mạnh nhất vào những năm 1968-1989. Đó cũng là khoảng thời gian đen tối và đẫm máu nhất trong lịch sử Mã Lai.

Đứng đầu đảng cộng sản Mã Lai là Chin Peng, người Mã gốc Tàu, tham gia đảng cộng sản năm 1940 khi mới là thằng nhóc 14 tuổi. Tàn bạo, khát máu... nên Chin Peng thăng chức rất nhanh, làm đến Tổng Bí Thư năm mới 23 tuổi.

Thời Mã Lai bị Nhật chiếm đóng, tương tự như đảng Việt Minh tại Việt Nam, Chin Peng và đảng CS Mã Lai cũng chống Nhật, nên được coi là anh hùng và còn được chính quyền Mã Lai (lúc bấy giờ còn là thuộc địa của Anh) tặng thưởng huân chương.

Tuy nhiên, sau khi Nhật thua và chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, Chin Peng thất bại không cướp được chính quyền nên quay ra nằm vùng, đánh du kích... gây ra rất nhiều tang thương đổ máu cho người dân Mã.

Khẩu hiệu của Chin Peng và đảng CS Mã Lai lúc bấy giờ là “Chống thực dân Anh giành độc lập”, nhưng thực tế là chỉ muốn thành lập chính quyền cộng sản, được Mao Trạch Đông và Tàu cộng ủng hộ, chống lưng.

Vì vậy sau khi Anh Quốc rút đi và Mã Lai thực sự độc lập, có 1 chính quyền dân chủ dân bầu vào năm 1957, Chin Peng vẫn không ngừng chiến tranh du kích, tiếp tục khủng bố dân lành, chống lại chính quyền mới của Mã Lai.

Nhưng chính những trò đánh bom, đặt mìn, khủng bố dân của Chin Peng khiến cho người dân Mã Lai nhìn ra bộ mặt thật của đảng CS Mã. Số người theo Chin Peng ngày càng giảm dần và đến năm 1989 thì coi như hoàn toàn kết thúc.

Chin Peng chạy trốn tị nạn sang Thái và đã bị lưu đày lưu vong cấm không bao giờ được trở về Mã Lai. Gần đây, già yếu và bệnh nặng, Chin Peng đã tuyên bố hối cải và xin được hồi hương, xin được chôn tại quê nhà, nhưng chính quyền Mã Lai đã quyết liệt từ chối.

Chính quyền Mã Lai cho biết người dân Mã vẫn chưa quên những ngày tháng đen tối, đẫm máu mà Chin Peng đã gây ra nên không thể để cho ông này về nước, vì sẽ làm người dân nổi giận!

Chin Peng cuối cùng đã chết lưu vong trong 1 bệnh viện tại Thái Lan vào ngày 16/09/2013.

Còn lá cờ của đảng CS Mã Lai? Các bạn có thể đoán được rồi đó: là cờ đỏ với 1 ngôi sao vàng trong góc!!

Giờ bạn đã hiểu tại sao dân Mã Lai ghét cay ghét đắng cộng sản và cái cờ đỏ sao vàng rồi chứ? Các bạn có thể hiểu được tại sao cổ động viên bóng đá Việt Nam mà ôm cờ đỏ sao vàng qua Mã Lai quơ quơ la hét là người dân họ ngứa mắt muốn đập rồi chứ?

Tài liệu tham khảo:
1. Leader of Malaysia's Communist Insurgency Dies After Decades in Exile
2. Communist insurgency in Malaysia (1968–89)

Nguyễn Ngọc Nhi




Vịnh Hạ Long - Đèo Hải Vân Và Những Kẻ Bán Rẻ Quê Hương


Hạ Long là nơi mà núi đá vươn lên từ biển, như những cột trụ của trời đất. Một vùng thiên nhiên mà bao thế hệ người Việt đã tự hào gọi là di sản.

Đèo Hải Vân là nơi mà đất trời miền Trung cùng hòa bản giao hưởng hùng vĩ nhất. Con đèo uốn lượn giữa mây trời và biển cả, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là đại dương xanh thẳm trải dài. Từ trên đỉnh nhìn xuống, mây bay là là trên sườn núi, gió biển thổi lồng lộng, nó đẹp và đáng tự hào làm sao, thiên hạ đệ nhất hùng quan của ông cha ta - người Việt.

Và bây giờ, người ta mang máy xúc, mang thuốc nổ, mang từng đoàn xe tải đến. Núi bị cắt, đất bị đào, đầm lầy bị lấp, rừng bị mất. Cả một vùng tài nguyên bị biến thành đại công trường, và không ai khác, kẻ có quyền làm điều đó trên xương máu ông cha lại là Vin - group của ông Phạm Nhật Vượng.

Chắc chắn là đám vin n.ô và người đỏ sẽ thanh minh thanh nga và nói rằng đó là phát triển thôi.

Tao đ.éo thấy phát triển gì ở đây hết. Tụi bây suốt ngày cứ bô bô về một tương lai huy hoàng rực rỡ, còn thứ tao thấy là những vết thương đỏ lòm trên thân núi, là bụi đất bay mù trời, là những triền đồi bị cạo trọc và tiền nhơn tao đang khóc.

Một dự án mà hơn bốn ngàn hecta đất thiên nhiên bị phá hủy để bê tông hóa. Tụi bây hứa hẹn về một thành phố mới cho hàng trăm ngàn người sao? Hoành tráng quá! Phát triển du lịch để biến Quảng Ninh thành một trung tâm của quốc tế sao? Thật vĩ đại.

Những lời lẽ đê tiện vậy mà bây cũng nói ra được? Du lịch nào mà tồn tại được nếu cái đẹp nguyên sơ đã bị phá nát? Thằng tây nào sẽ tới Hạ Long, Hải Vân để nhìn bê tông và sân golf? Mấy thằng trung quốc đúng không?

Nhiều di sản thiên nhiên của cả thế giới đang bị biến thành các dự án bất động sản khổng lồ. Và rất nhiều người chỉ biết đứng nhìn thôi sao? Tôi chắc mẫm là họ phải thấy nếu còn sót lại chút lương tri chứ! Nhưng ai sẽ dám lên tiếng đây? Khi mà đằng sau ông Vượng là cả guồng máy chính trị đang cầm quyền trên đất nước với lực lượng an ninh hùng hậu. Người ta xót xa đó nhưng mà lên tiếng thì sẽ là 117, 331, sẽ bị bóp nghẹt tới nát tan.

Ông tân Thủ Tướng Lê Minh Hưng ngày hôm qua còn đi dự lễ khởi công dự án đường sắt Hà Nội Quảng Ninh cũng của Vin mà, rồi trên trục đường đó thì những dự án đất đô thị sẽ thuộc về ai? Ai khác ngoài Vin?

Thưa các ngài lãnh đạo, các ngài hãy cứ sáng suốt tài tình để phát triển đất nước theo kiểu “bất động sản hóa” đi, không sao cả! Hãy xứ lấy đất thiên nhiên để biến nó thành đô thị rồi bán nhà – bán đất và.... thu tiền đi! Những dự án khổng lồ như: Vinhomes Ocean Park, Phú Quốc, Hạ Long Xanh chắc chưa bao giờ đủ với các ngài đâu, các ngài còn bận buôn chổi đót tới thối móng tay mà.

Nhưng xin các ngài nhớ cho, thiên nhiên mất đi thì không bao giờ quay lại được nữa, núi bị san bằng thì không thể mọc lại, rừng bị chặt thì phải mất hàng trăm năm mới hồi sinh.

Những tòa nhà của anh em nhà các ngài có thể mọc lên trong vài năm để rồi cho đám con nhang miệt mài tự hào ngạo nghễ.

Nhưng mà một vịnh biển kỳ vĩ như Hạ Long, một hùng quan như Hải Vân phải mất hàng triệu năm mới hình thành.

Các ngài có thể trơ trẽn gọi tên mình như một một sự cứu rỗi dân tộc để vin vô nó mà mặc sức cày sới đất nước. Nhưng đất nước này cũng phải mất ngàn năm với bao máu xương ông cha đổ xuống mới nên hình nên dạng.

Các ngài đang đánh đổi hàng triệu năm của thiên nhiên chỉ để lấy vài đồng lợi nhuận. Các ngài bán rẻ tổ quốc, bán rẻ lịch sử của đất nước này để đổi lấy cái lương tâm đầy màu đỏ. Một cuộc đánh đổi, chia chác mà tôi đã thấy các ngài đã lời quá lớn.

Nhưng mà, rồi đây hậu thế của dân tộc này sẽ phải trả giá vì những cuộc giao thương đầy mùi tanh tưởi này của các ngài hôm nay.

Rồi đây, sách sử sẽ ghi khắc tên các ngài vào những trang nhơ nhớp ô nhục nhất của dân tộc này.

Tôi khinh bỉ các ngài vì xót xa cho tiền nhân tôi và tôi nguyền rủa các ngài vì cháu con tôi.

Nắng rồi phải lên trên quê hương này
Nhăc nhau nghe rằng:
Ngưởi Việt thương người Việt

Ban tron chinh tri vn










SAO LẠI CÓ NHỮNG LOẠI NGƯỜI KHỐN NẠN THẾ?

Trước hết phải nói rõ, không ai nên cổ súy cho chiến tranh, bởi hơn ai hết Việt Nam, đặc biệt là đồng bào ở phía Nam và những người phải tha hương hay đồng bào biên giới hiểu rõ và đến nay sau nhiều chục năm vẫn còn cảm nhận được những đớn đau mất mát mà chiến tranh gây ra...

Tuy nhiên, chiến tranh cũng là một phần tất yếu trong lịch sử và cả tương lai của loài người, và vì thế khi nó xảy ra rồi, con người không thể 100% vô tri vô trách, ít nhất cũng có 1 quan niệm nào đó về cuộc chiến đó, về phe phái nào..., nhẹ thì chỉ suy nghĩ trong đầu, trung thì thể hiện ra ngoài còn nặng bệnh hơn nữa thì tham gia trực tiếp vào...

Ở đây tôi muốn nói về phản ứng của 1 bộ phận người Việt về cuộc chiến Trung Đông 2026 giữa Mỹ + Do Thái và Ba Tư. Phân tích dựa trên 2 quan điểm Nhận thức và Lương tâm.

Thứ nhất, một quốc gia cũng như 1 địa phương, 1 dòng họ, một gia đình hay 1 cá nhân, trước một mâu thuẫn nào đó, trước hết thường có xu hướng bênh vực cho người thân của mình đầu tiên, nếu mâu thuẫn đó giữa 2 đối tượng đều không liên quan thì tiếp theo đó là ủng hộ đối tượng có khả năng mang lại lợi ích cho mình , sau cùng nếu hoàn toàn không liên quan thì thường đứng về quan niệm mà mình cho là lẽ phải.

Quay lại cuộc chiến nói trên, đầu tiên nói về 2 bên tham chiến.

Trước hết, nói về phe "Đế quốc sài lang" đi.

Mỹ là ai? là nền kinh tế số 1 toàn cầu, là đất nước mà nó chỉ khẽ ho 1 % thuế là cả thế giới chao đảo, mà thôi nó to lớn ảnh hưởng thế nào với thế giới quý vị tự tìm hiểu. Chỉ cần nói 1 câu đơn giản, có nước nào thân với Mỹ mà nghèo khó không?

Nói riêng với VN, cuộc chiến tranh Miền Nam đã qua 51 năm, nỗi đau nào rồi cũng nguôi ngoai, người ta đã nói không có kẻ thù vĩnh viễn. Với Việt Nam nước Mỹ bây giờ là bạn thậm chí là "ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN", về kinh tế kim ngạch xuất khẩu VN sang Mỹ năm 2025 là 152 tỷ USD, chiếm chẵn đúng 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Từ con tôm con cá tra ở Nam Bộ, đến những hàng may mặc ở Miền Trung, những linh kiện công nghiệp ở Bắc Ninh Bắc Giang... đều hướng đến Mỹ, nói không hề quá, nước Mỹ góp phần lớn nhất cho việc phát triển kinh tế của VN những năm qua và cả trong tương lai.

Về Do Thái, dù nhà nước VN không công khai, nhưng những ai trong quân đội đều hiểu rằng, những năm qua Israel có hợp tác rất nhiều với Việt Nam về mặt quốc phòng, như hiện đại hóa lực lượng thiết giáp, phòng không, bán vũ khí sát thương, công nghệ quốc phòng... sau Nga thì Israel chính là đối tác quan trọng hàng đầu của VN về quốc phòng chứ không phải ông anh ngàn năm truyền kiếp phương Bắc hay thằng cu em Ủn mập đâu các mày ạ.

Giờ nói về phe "kháng chiến", Ba Tư hay Cộng hòa Hồi giáo Iran (ở đây tôi hoàn toàn không có ý định xúc phạm tôn giáo, nếu có từ nào động chạm thì chỉ là do hành văn - thành thật xin lỗi đồng bào theo đạo Hồi). Ba Tư là 1 dân tộc có truyền thống lịch sử vĩ đại, xứ sở của Nghìn lẻ 1 đêm của 1 nền văn minh hàng đầu. Tuy nhiên với VN quan hệ gần như chẳng có gì. Thời Việt Nam còn chiến tranh thì chế độ quân chủ Ba Tư thân Mỹ, ủng hộ Mỹ, chứ chẳng ủng hộ VN 1 cắc nào, dù chỉ 1 lời ngoại giao. Năm 1979 chế độ quân chủ bị Cách mạng Hồi giáo lật đổ, từ đó Ba Tư theo chế độ hồi giáo thần quyền độc tài. Trong chế độ đó, người dân bị áp đặt ép buộc nhồi sọ đến mất hết mọi quyền con người. Đặc biệt người phụ nữ bị khinh rẻ bị cho là công cụ của đàn ông, nữ quyền gần như bằng không với bao đớn đau tủi nhục, so ngay với các quốc gia Hồi giáo khác chứ chưa nói so với các nước văn minh. Chế độ thần quyền còn nuôi dưỡng tài trợ khủng bố cho các lực lượng ủy nhiệm gây chiến tranh khủng bố khắp Trung Đông và cả thế giới... Đặc biệt nữa, ngay khi lên nắm quyền Khomeini đã đặt ngay đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, tàn sát tàn bạo những đảng viên theo chủ nghĩa Mác, đến tận hôm nay, cộng sản không bao giờ được phép tồn tại trên đất Ba Tư.

Vậy về cuộc chiến kia lý do là gì thì tầm nhận thức mỗi người sẽ cho ra 1 lý do khác nhau. Chiến tranh không bao giờ là tốt, nhưng nó vẫn là 1 phương pháp giải quyết mâu thuẫn, và đôi khi nó mang lại một lợi ích ổn định lâu dài hơn...

Với những phân tích trên, thật là khó hiểu khi thời gian qua một bộ phận báo chí, KOLS và khá đông "nhân dân cần lao" lại thông qua báo chí, thông qua mạng xã hội ủng hộ Ba Tư mà chửi bới Mỹ+ Do Thái với những ngôn từ từ mức ít học đến vô học.

Tại sao vậy? Nếu là người biết nhận thức có tri thức thì với những lý do tôi nói trên đây mà các bạn vẫn ủng hộ Ba Tư thì đúng là các bạn thần kinh có vấn đề.

Tại sao nữa? Nếu là người có lương tâm thì các bạn phải mong nhân dân Iran được xóa cấm vận để đời sống họ đi lên, người phụ nữ Iran cũng là những người mẹ, người vợ được sống đầy đủ một kiếp người. Muốn vậy thì chế độ thần quyền độc tài tàn bạo phải bị thay thế? Vậy sao bạn ủng hộ chế độ đó? Lương tâm của bạn để chó tha mất rồi à? Sống không làm được việc tốt thì cũng tu lời ăn tiếng nói để đức cho con cháu chứ?

Và bây giờ các bạn đọc đã hiểu cái tiêu đề bài viết rồi chứ? Sao lại có những người khốn nạn thế? Ăn cây táo lại đi rào cây sung? Mồ cha không khóc lại đi khóc đống mối? Cứ thấy ai dối lập với Mỹ là auto ủng hộ? Làm người phải có lương tri chứ (lương tâm và tri thức). Kinh tởm hơn, các bạn đó còn sử dụng ĐT Iphone, dùng MXH Facebook để chửi Mỹ, không những không có lương tri mà không có chút tự trọng nào còn sót lại...

Nhân đây tôi cũng đề nghị Bộ Công An, cụ thể là bên an ninh và an ninh mạng có biện pháp xử lý với những kẻ nêu trên, chúng gián tiếp phá hoại tình đoàn kết và mối quan hệ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN Việt Nam - Hoa Kỳ, gián tiếp có thể gây ảnh hưởng xấu đến hợp tác quân sự quốc phòng VN- Do Thái, gián tiếp đá đổ nồi cơm của nhân dân cả nước, thậm chí ảnh hưởng đến năng lực phòng thủ, đến chủ quyền quốc gia.

Cùng nhân đây tôi đề nghị Ban tuyên giáo chấn chỉnh báo chí đưa tin một cách khách quan về cuộc chiến như đúng chức năng báo chí, không đưa tin kiểu 1 nửa cái bánh mì bênh vực Iran. Có biện pháp xử lý thậm chí phong sát các KOLs vô học nói trên và cả 1 bộ phận vẫn bị cho là DLV là bò đỏ làm xấu hình ảnh đất nước Việt Nam.

Phan Cảnh Thanh






MỘT NGƯỜI ẤN

Nguyễn Đại Thuật

Hân đang nói chuyện trong phòng điện-thoại công cộng bên ngoài cổng trường đại-học thì một người đàn ông đi xe lăn đến ngừng bên cửa. Đã gần hết tháng tư nhưng Paris vẫn còn lạnh. Người đàn ông trên xe lăn đội mũ lưỡi trai kéo thấp xuống làm che đi phần trán nên khó phân biệt tuổi thời gian cũng như sắc dân của ông. Người ông hơi run dù thân thể ông được bao trùm bằng một áo ấm có tên tuổi thương hiệu và cao giá.

Có lẽ ông muốn xử dụng điện-thoại, Hân tự nhủ. Hân đang nói chuyện với mẹ ở Viêt-nam. Hôm nay Hân có nhiều chuyện nói với mẹ. Hai mẹ con đã nói với nhau hơn mười phút, chưa biết bao giờ sẽ ngừng. Người đàn ông trên xe lăn lấy một tờ quảng-cáo của một siêu-thị ra xem, bình thản chờ....

Khi Hân mở cửa phòng điện-thoại bước ra, người đàn ông đi xe lăn vội vàng lùi xe nhanh ra xa cánh cửa, mỉm cười.

Như hiểu ý, Hân giữ cánh cửa mở rộng, ông ta lăn xe vào bên trong, rồi nhìn Hân:
- Merci, jeune homme.

Hân chưa kịp đáp lại lời chào của ông, ông đưa một ngón tay chỉ vào người Hân, vừa cười, vừa nói lớn bằng tiếng Việt:

- Không cần hỏi, tôi biết cậu là người Việt nam. Lúc chờ gọi điện-thoại bên ngoài, nghe tiếng nói của cậu, tôi biết ngay cậu là người Việt-nam. Giữa Paris rộng lớn mà gặp được người Việt tôi mừng lắm. Bây giờ người Việt mình ở Paris cũng bắt đầu đông rồi, nhưng hiếm khi gặp được người Việt. Thuờng khi gặp những người Á-châu, mình không phân biệt được họ là người Việt, người Miên, người Lào hay người Tàu.

- Dạ, đúng rồi, cháu là người Việt-nam.

Hân trả lời và cúi đầu chào

Người đi xe lăn lấy mũ ra khỏi đầu, tự giới thiệu:
- Em có tin tôi là người Việt-nam không? Da tôi đen không giống như da của em, nên nếu tôi không nói tiếng Việt thì chắc không ai biết..? Tôi thuộc gốc dân Ấn-độ. Tên Ấn-độ của tôi là Taku, người Việt gọi tôi là Cư

Ông vừa nói vừa xoay người một cách khó khăn để lấy ống liên-hợp của máy điện-thoại. Hân lấy ống liên-hợp để vào tay ông. Ông đập nhẹ vào cánh tay Hân :
- Tôi chỉ cần nói điện-thoại chút xíu thôi, cậu có chuyện gì gấp để làm không, nếu không tôi nói xong thì mình đi uống cà-phê?

Hôm nay ngày lễ Phục Sinh, Hân cũng dự tính đi uống cà-phê sau khi nói chuyện điện thoại với mẹ. Thấy người đàn ông đi xe lăn vui tính nên Hân nhận lời. Hân chậm chậm đi xa phòng điện thoại chờ ông. Khi thấy ông gác máy, Hân lại giúp người đàn ông đi xe lăn lùi xe ra ngoài bằng cách chạy đến giữ cánh cửa phòng điện-thoại mở rông.

Ông nói:
- Bây giờ em và tôi đến quán cà-phê bên hông trường đại-học, giờ nầy nơi đó vắng khách, yên tĩnh, còn mấy quán khác trước trường đại học ồn ào và đông người, đôi lúc ngồi chờ cả tiếng đồng hồ cũng chưa thấy người phục vụ quan tâm đến mình.

Hân đi theo sau ông. Nghe cách ông nói và thái độ nhanh gọn của ông, Hân nghĩ chắc ông rất quen thuộc với khu phố nầy.
- Bác Taku rành khu phố nầy quá?

- Gọi tên bác là Cư, mình là người Việt, còn tên Taku để cho người Ấn độ gọi. Bác sinh sống ở khu nầy hơn hai mươi năm, không rành sao được. Nhà bác cũng không xa khu phố nầy bao nhiêu. Ông vừa nói vừa cười vui vẻ.

Sau khi hai người ngồi vào bàn, ông nói với Hân:
- Cháu uống gì cứ gọi, còn bác, mấy người hầu bàn ở đây biết bác uống loại cà-phê nào, tự động họ pha cho bác.

Sau khi cà-phê được mang đến, ông Cư hỏi Hân:
- Cháu sống bên nầy lâu chưa? đi học hay đi làm?

- Da, cháu còn đang đi học tự túc. Cháu học chương trình toán tại đại-học nầy. Năm nay là năm thứ hai của chương trình bốn năm.

- Cháu có anh chị em đông không ?

- Dạ, mẹ cháu chỉ có một mình cháu. Theo lời mẹ cháu kể, cha cháu không còn chung sống với mẹ cháu trước khi cháu được sinh ra, và có thể cha cháu không biết ông đã có con với mẹ cháu.

Hai mày ông Cư nhíu lại, ông buông một tiếng thở dài .Ông đăm chiêu một chút :
- Mười năm trước bác dạy ngôn-ngữ Ấn trong trường đại học nầy. Một buổi sáng trên đường đi làm bằng métro, métro bị bọn khủng bố đặt bom, bác bị thương mất hai chân, tai nạn cũng làm bác không còn khả năng có con. Bác đã nghỉ dạy học. Nhà của bác cách quán cà-phê nầy không quá hai trăm mét.

Hân ái-ngại nhìn hai chân bị cắt cụt của ông Cư, im lặng...Sự im-lặng kéo dài đến lúc hai nguời rời quán cà-phê.

Theo lời hẹn, vào ngày lễ Lao-động 1 tháng 5 Hân đến thăm ông Cư. Căn nhà ở tầng trệt trong chung-cư 5 tầng.

Nhà có một phòng khách, hai phòng ngủ được bày trí theo phương-cách tạo thuận tiện cho người tàn-tật xử dụng xe lăn. Hân giúp ông Cư pha cà-phê, trong khi ông đang nói chuyện điện thoại với ai đó bằng tiếng Ấn-độ. Vừa gát máy điện-thoại, ông bưng ly cà-phê nhấp một ngụm, thở ra một cách thỏa mái:

- Máy điện-thoại nhà bác không xử dụng được hai tuần nay vì lý do nào đó không rõ cho cả khu chung cư. Đường dây được hoạt động lại từ chiều hôm qua. Mấy ngày trước bác phải ra phòng điện thoại công cộng gọi cho gia- đình bác bên Ấn-độ để báo cho biết, sợ bên đó gọi qua không được lại lo, hôm đó tình cờ gặp cháu.

Hân đã được ông Cư kể cho nghe về ông: Cha ông ngưới Ấn gốc Penjab, có tiệm bán vải ở Sài-gòn. Mẹ ông người Việt, có ba người con, hai trai một gái, ông là con trai đầu lòng. Vừa học hết chương trình trung học nội trú Tabert thì Việt-nam hết chiến tranh. Gia-đình ông bị chính-quyền mới trục-xuất về Ấn-độ. Ông hoàn tất đại-học tại quê- ông. Ông xin dạy tại Pháp và định-cư tại đây. Ông cưới bà vợ Ấn, nhưng hai năm sau khi ông bị tai nạn, vợ ông bỏ về xứ lấy chồng khác, ông chưa có con.

Được biết Hân đang muốn tìm một công việc ngoài giờ học để phụ thêm tiền của mẹ gởi, ông Cư hứa giúp.

Nhờ sự hiểu biết về luật về việc làm cho sinh-viên đến học từ nước ngoài, mấy tháng sau ông đã tìm được cho Hân việc làm trong một quán cà-phê ông quen biết. Lần đầu tiên ông đưa Hân đến nhận việc, người quản lý tiệm hỏi Hân:
- Anh cùng xứ Ấn-độ vối ông Taku phải không?

Hân lắc đầu:
- Không, tôi là người Việt-nam, du học sinh.

Người quản lý nhìn Hân với cặp mắt không được bình thường, ngập-ngừng nói trước khi quay trở lại công việc đang làm:
- Tôi cứ tưởng....anh có họ hàng với ông ấy!

Câu nói của người quản-lý cứ ám-ảnh Hân suốt buổi làm hôm ấy. Hân nhớ lại lúc còn nhỏ, mỗi khi mẹ vắng nhà thường nhờ bà bán bánh Cay và chuối nướng đầu hẻm săn sóc. Không như mẹ, bà gọi Hân là thằng Cà-ry.

Hân thường hỏi mẹ tại sao bà Bảy bán bánh Cay và chuối nướng gọi Hân là thằng Cà-ry thì mẹ Hân chỉ cười, ôm Hân, hôn lên trán Hân, hay bẹo má Hân trả lời:

- Cách đây mấy năm, khu Chuồng Bò ở ngã Bảy có nhiều gia-đình Ấn-độ sinh sống, con cái họ rất đông, người Việt mình hay gọi họ là "Cà-ry"vì người Ấn có món ăn đặc biệt nấu có pha chế bột cà-ry. Trong xóm lúc nào cũng phảng phất mùi cà-ry rất nồng. Bà Bảy gọi con là thằng Cà-ry, có lẽ để nhớ những đứa trẻ trước đã sống ở đây, nay đã bị nhà nước mới đuổi về Ấn-độ cùng với gia-đình vì họ là người nước ngoài.

Mẹ không còn sống ở khu chuồng Bò, mua nhà trong khu cư-xá Đô-Thành, gần sát bịnh-viện Bình-dân, cách xa khu chuồng Bò chừng mười lăm phút đi bộ. Hân thi đậu vào trường trung-học Lê-hồng Phong. Trường học gần khu nhà cũ, thỉnh thoảng Hân ghé mua bánh Cay của bà Bảy. Qua cái nhìn của Hân, bà Báy không lớn tuổi hơn mẹ bao nhiêu ước chừng bốn, năm tuổi. Mẹ và bà Bảy thân nhau như hai chị em. Mẹ có mời bà Bảy cùng về sống chung với mẹ khi mẹ mua nhà mới nhưng bà Bảy từ chối. Hân nghe bà Bảy trả lời mẹ:

- Từ cha sinh mẹ đẻ chị đã gắn bó chỗ nầy rồi, nay bỏ đi chị sẽ nhớ không chịu nổi. Nghe đồn khu nầy sẽ bị giải tỏa, chờ đến lúc đó sẽ tính. Lúc đó chị sẽ về lại dưới quê hoặc qua sống với em.

Mấy năm sau, Hân lên học cấp ba, khu chuồng Bò chưa bị giải-tỏa, Hân ghé thăm bà Bảy, đang lúc bà chuẩn bị làm bánh Cay. Hân giúp bà nhồi bột. Hương thơm bột cà-ry kích-thích, Hân hít đầy lồng ngực,.nhìn thái độ của Hân, bà Bảy phì cười nói với Hân:

- Bộ thằng nhỏ mầy thích Cà-ry lắm hén?

Nói xong, bà Bảy chìa gói bột Cà-ry Nị trước mặt Hân:
- Có biết Bà gọi "mày" lúc nhỏ là thằng Cà-ry là tại sao không? Hãy nhìn kỹ cái ông "Cà ry-Nị"có giống "mày" không?

Nhìn hình người Ấn-độ trình bày trên gói bột, Hân cười... cười trả lời:
- Bộ bà Bảy nói con là Ấn-độ sao bà Bảy? da con đâu có đen như ông nầy.. con đâu có giống Ấn-độ như bà Bảy nói...con giống mẹ mà?

Bà Bảy thu lại gói bột Cà-ry Nị, rồi “xì” một tiếng:
- Mày giống Ấn độ hay giống mẹ mày thì về hỏi mẹ mày thì biết.

Hân tiến đến tấm gương nhỏ treo trước của nhà thay tấm bát quái đồ để trừ tà, theo thói quen của những người buôn bán. Hân nhìn kỹ mặt mình, trong cái ấn tượng mình là người Ấn-độ theo lời bà Bảy vừa nói ra. Hân nhìn thấy mình không khác gì với những lần nhìn mình trong gương trước đó. Mắt Hân to và đen láy có hàng lông nheo cong, lông mày đậm, mũi cao, da sáng...giống như những người đồng tuổi ngoài đời hay những bạn cùng trường. Nhưng rồi Hân cảm thấy có gì hơi khác lạ. Hân nhớ đến những lúc chơi thể thao ngoài trời, chỉ mặc cái quần ngắn, thân hình Hân to lớn, chân tay và ngực đầy lông, so với những bạn khác ngực và chân tay hoàn toàn trơ trụi.

Hân nghĩ lời bà Bảy có thể tin được, rồi giúp bà Bảy bày lò, cái bàn nhỏ, mấy thau bột, mấy nải chuối ra trước hiên nhà. Trước đây, cái thời nhà nước cũ, bà Bảy bán ngoài đầu hẻm. Hai mươi năm nay, nhà nước mới không cho bà bán ngoài đầu hẻm, vì cho rằng bán như vậy không có văn hóa, bà phải đưa bàn ghế về bán trước hiên nhà bà. Hân chào bà Bảy ra về. Vừa bước ra đến cửa, Hân nghe bà Bảy nói theo:

- Cháu ơi, Cà-ry hay nước mắm cũng là đồ ăn. Nuốt vào bụng rồi cũng tiêu hết. Ấn độ hay Việt-nam cũng là con người, có gì khác nhau..miễn sao sống có tình có nghĩa, có đạo đức là được.

Về nhà, vào bữa cơm tối, Hân kể lại cho mẹ chuyện ở nhà bà Bảy chiều nay. Mẹ nhìn Hân với đôi mắt thoáng buồn rồi chậm rãi nói:

- Trước đây nước mình có nhiều sắc dân trên thế giới tới ở, nay con ra đường thỉnh thoảng con cũng gặp không những người lai, pha trộn máu Việt với máu sắc dân của họ. Ngày xưa mẹ quen ba, yêu ba, mẹ chỉ biết ba con là người Việt, nói tiếng Việt, chỉ có vậy. Có điều không may với mẹ con mình, ba con đã xa mẹ khi chiến tranh vừa hết và con chưa ra đời. Nói đến đây, Hân nhìn thấy mắt mẹ long lanh nước. Hân nắm hai tay mẹ:

- Như vậy ba con đã chết phải không mẹ?

Mẹ thở dài, lắc đầu...rồi lại gật đầu, không trả lời câu hỏi của Hân.
Bữa cơm chấm dứt trong lặng lẽ. Đêm hôm đó, Hân nằm mơ... mơ về thời thơ ấu của mình.

Mẹ Hân làm nghề gánh nước thuê cho những nhà trong xóm. Ngày nào mẹ cũng phải làm việc. Thời đó trong những xóm lao-động chỉ có vài máy nước công cộng. Những nhà có ống nước dẫn vào nhà rất hiếm. Muốn có nước xử dụng, dân chúng phải tự lấy nước từ máy công cộng đem về tích trữ để dùng. Mẹ gánh nước cho những nhà không có người giúp việc lo lấy nước máy đem về nhà. Số gia-đình này khá đông vì họ bận đi buôn bán, đi làm.. nhờ vậy mẹ có nhiều người thuê, ngày nào cũng không hết việc. Trong xóm còn có một người khác nữa ở xóm trên cũng gánh nước thuê. Mẹ rất khỏe, ít khi Hân thấy mẹ bịnh. Đôi khi nghe mẹ nói với bà Bảy:

- Bữa nay phải lên gánh giúp cho con nhỏ xóm trên vài nhà, nó gánh không xuể.

Thường mỗi khi mẹ về nhà, mẹ nằm nghỉ, dang chân tay trên giường. Hân chạy lại leo lên nằm bên mẹ. Mẹ lại ôm Hân vào lòng vừa cười vừa hát:
“Mùa thu lá bay anh đã đi rồi"

Mẹ chỉ hát như vậy rồi ngừng. Mẹ lại im lặng. Mắt mẹ như nhìn ở đâu đó, buồn thiu.

Có một hôm, đang cưỡi ngựa trên bụng mẹ, nghe mẹ vừa hát xong:
- "Mùa thu lá bay anh đã đi rồi". Hân vừa nhún nhẩy vừa lập lại:

“ Mùa thu lá bay anh đã đi rồi " thì mẹ đưa tay bịt miệng Hân, bảo Hân phải hát theo mẹ:

" Mùa thu lá bay Ba đã đi rồi "

Hân lặp đúng theo lời mẹ. Mẹ bẹo má Hân, cười vang:
- Giỏi, con tôi giỏi lắm.

Từ đó, khi hai mẹ con ở bên nhau mỗi khi nghe mẹ hát: “Mùa thu lá bay anh đã đi rồi " thì Hân hát tiếp "Mùa thu lá bay Ba đã đi rồi".

Những năm sau nầy, khi không còn ngủ chung với mẹ, không còn nghe mẹ hát lời ca đó nữa, đôi lúc thơ thẩn một mình, Hân thầm lặp lại lời ca:"Mùa thu lá bay Ba đã đi rồi”, chợt nghĩ trong mông lung hình ảnh mơ hồ của người cha chưa một lần biết đến, đang bềnh bồng trong vô-định, Hân cảm thấy rất buồn và tủi thân.

Thời gian mẹ mua căn nhà nhỏ ở khu cư-xá đô-thành cũng là lúc chính quyền “mở cửa” đổi mới kinh-tế, mẹ được giấy phép mở quán bánh cuốn, không còn phải hàng ngày phải lội bộ về khu chuồng Bò gánh nước mướn. Tại quán bánh cuốn, Hân thấy có vài người đàn ông quan tâm săn sóc mẹ một cách đặc biệt, nhưng mẹ đối xử rất dè dặt, chừng mực. Hân cũng có khi muốn mẹ có một người bên cạnh để cùng chia sẻ tình cảm cũng như công việc với mẹ, nhưng mẹ không tha thiết lắm. Có lần bà Bảy nói với Hân:

- Mẹ "mày"cũng nên tìm một người chồng, chẳng lẽ sống mãi như vậy với "mày" sao? Nay đã có công việc ổn định, nhà cửa đàng hoàng, nên yên bề gia-thất. “Mày" nói với mẹ "mày" là bà Bảy nói vậy.

Hân nhắc câu nói của bà Bảy, mẹ cười:
- Gặp bà Bảy, con nói với với bà, “bà ơi, mẹ nói bà hãy lấy chồng trước rồi mẹ bắt chước theo! “ Rồi mẹ thở ra:

- Mẹ đâu còn trẻ nữa mà nghĩ đến lấy chồng? Mẹ già rồi!

Hân nhìn mẹ, thấy mẹ vẫn còn trẻ còn đẹp, mặc dầu không xài son phấn, nếu xài, mẹ sẽ đẹp hơn nhiều. Hân muốn mẹ nghe theo lời bà Bảy, nhưng chợt có một chút gì ghen tức trong lòng, Hân bỏ đi nơi khác.

Trong tuần, vào những ngày không có giờ học hay giờ phụ bán trong quán cà phê Hân thường đến nhà ông Cư. Hân đưa ông Cư đi đến những nơi ông cần đến theo lời ông yêu cầu. Hân không cần phải phụ giúp việc trong nhà cho ông Cư, vì ông là người tàn tật, cơ quan an-sinh xã-hội gởi người đến giúp đỡ về những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống: vệ sinh nhà cửa, áo quần. Cơm nước thì đã người đem đến giao tận nhà mỗi ngày.

Qua những giao tiếp thường xuyên, Hân chắp nối được hoàn cảnh gia-đình của ông Cư. Nhà ông ở khu Vườn Lài ngã Bảy Sài-gòn, có sạp buôn bán vải nổi tiếng trong chợ Bến-Thành. Cha ông gốc Ấn theo đạo Sik, đến Việt-nam từ những năm chiến-tranh Pháp-Việt. Mẹ ông gốc Thủ-Đức. Ông là con trai đầu và có một em trai. Mười tám tuổi, đậu xong tú-tài 2 trường Pháp, ông trúng tuyển vào Đại-học Y-khoa Sài-gòn. Một đêm, hai anh em ông đi xem chiếu bóng, lúc về đến gần nhà thì có một nhóm thanh-niên ba người chận anh em ông bằng cách dí dao vào hai người, chúng muốn cướp của. Hai anh em sợ quá đành để bọn chúng lục soát người thì đúng lúc có hai người con gái từ trong xóm đi ra thấy chuyện cuớp bóc nên đứng lại nhìn. Cô gái trẻ tiến đến chỗ ba tên cướp, bỗng quay người dùng các thế võ tấn công ba tên cướp tới tấp. Bị phản ứng bất ngờ, ba tên cướp cố gắng đánh trả rồi bỏ chạy. Từ hôm đó ông Cư và cô gái cứu mạng ông quen nhau, rồi hai người yêu nhau. Hai bên chỉ gặp nhau để đi chơi. Chưa ai có thì giờ tìm hiểu kỹ đến gia-thế mỗi bên trong một thành phố Sài-gòn đã bắt đầu giao-động và thay đổi từng ngày.

Từ đầu năm Dương lịch 1975, tin tức chiến sự ngày càng dữ dội, nóng hổi. Tin từ Cao nguyên và miền Trung cho biết cuộc chiến đang ở vào giai đoạn kết thúc. Chiến tranh đang đến sát ngoại-ô thành-phố Sài gòn. Dân chúng nhốn nháo, lo lắng, run rẫy trước đại nạn có thể xẩy ra...và cuối củng chuyện ấy cũng đã xẩy ra...Chính quyền VNCH của Miền Nam buông súng đầu hàng vô điều kiện.

Một chính-quyền mới theo Xã-hội-chủ-Nghĩa thay thế. Cùng với lá cờ đỏ sao vàng treo phất phới, nhiều chính sách hấp tấp được ban hành. Gia-đình ông Cư bị coi như nguời ngoại quốc, nhận được lệnh trục xuất vài tháng sau đó. Họ đi, bỏ lại nhà cửa, tài sản nhưng đem đi được một số tiền bạc. Tuy nhiên, số tài-sản hiện kim đem theo bị giới hạn, vì vậy gia-đình ông Cư đã đem chia sẽ ít nhiều cho người thân ở lại. Người yêu của ông Cư khóc hết nước mắt khi biết được tin nầy. Ngày chia tay, ông Cư đã tặng người yêu một ít vàng, ông nói một dạ yêu nàng và hứa ông sẽ trở lại Việt-Nam tìm nàng. Năm năm sau, ông Cư trở lại Việt-Nam, đến tìm người yêu cũ tại một địa chỉ được ghi trong khu Bàn-cờ. Nhà nầy đã được đổi chủ cho một người đến từ miền Bắc. Không tìm được người yêu, ông Cư trở về nước và cưới vợ người bản xứ.

Hân nhớ có những hôm ông Cư giữ ở lại Hân qua đêm. Trước giờ ngủ, ông Cư lấy quyển sổ tay từ túi áo mở ra để trên lòng hai bàn tay, nhìn vào một cách chăm chú....Từ xa, Hân thoáng nhìn có một tấm hình được dán vào cuốn sổ....ông Cư lâm râm đọc kinh bằng tiếng Ấn- độ. Khi ông Cư xếp quyển sổ tay lại, ngừng đọc...Hân tò mò hỏi:
- Bác Cư đọc kinh bằng tiếng Ấn-độ phải không?

Ông chậm rải trả lời :
- Đúng vậy cháu. Bác đọc kinh cầu an hằng đêm cho người yêu của Bác, nay không biết sống hay chết?

Hân hỏi, hơi giao động:
- Người yêu đầu đời của bác là cô gái Việt, sao bác không đọc kinh bằng tiếng Việt mà đọc bằng tiếng Ấn?

- Bác đâu có biết kinh tiếng Việt. Bác chỉ biết kinh bằng tiếng Sik.

Ông ngừng, rồi nói tiếp:
- Mà đọc kinh bằng tiếng gì chẳng được cháu ơi! Ông trời, ông Phật, ông Thánh đều hiểu hết ráo.

*****
Hân đang học giữa năm thứ tư đại học thì được tin mẹ bị tai nạn do sơ xuất làm bình ga nấu bánh cuốn nổ. Hân về đến nơi không kịp nhìn được mặt mẹ lần cuối. Bà Bảy bán bánh Cay được Hân mời về sống chung và bà chấp thuận, vì lẽ khu chuồng Bò đang bị giải tỏa . Bà Bảy tiếp tục công việc của mẹ. Hân giao hết nhà cửa cho bà Bảy trông nom, trở lại Paris để hoàn tất việc học.

Có mảnh bằng toán của đại-học Jussieu cấp, Hân dự định trở về nước, ông Cư cản .Ông đề-nghi Hân nên ở lại tiếp tục học thêm, ông sẽ tìm cho Hân một chân dạy giờ tại một trường trung học trong vùng ile de France, hoặc một công việc nào đó của tư nhân. Ông cũng khuyên Hân dọn về sống chung để đỡ gánh phần tiền nhà và ông cũng sống bớt đơn độc.Thương mến ông, Hân đã nhận lời.

Mùa đông năm đó, khí hậu Paris thay đổi bất thường, giá lạnh xuống quá thấp, theo thông báo thời tiết cho biết cơn lạnh này sẽ kéo dài đến dầu mùa xuân năm tới . Ông Cư không chịu được với thời tiết thay đổi quá cách biệt nên quyết định về Ân-độ tránh cái lạnh đồng thời gặp lại gia-đình sau mấy chục năm xa cách.

Trở về nhà sau khi tiễn đưa ông Cư rời sân bay, Hân xếp gọn gàng chăn mền trong phòng ngủ ông Cư, Hân thấy quyển sổ tay của ông bị bỏ quên lại, quyển sổ hàng đêm ông thường mở ra đọc lời cầu nguyện cho người yêu đầu đời của ông! Tò mò, Hân mở quyển sổ ra xem người yêu dấu của ông là ai? Tự nhiên mắt của Hân hoa lên, máu từ hai bên vai dồn lên đầu làm mặt Hân nóng bừng, hai chân Hân yếu đi, Hân phải ngồi xuống bên thành giường. Hân phải nhắm mắt, mở mắt nhiều lần để tin rằng mắt mình vẫn bình thường. Khuôn mặt một người con gái còn trẻ, miệng mỉm cười, mái tóc cột đuôi ngựa để thòng một bên ngực. Dường như Hân đã gặp người nầy ở một nơi nào đó...người đó từng hát :" Mùa thu lá bay anh đã đi rồi " sau lời ca, người nầy kéo đuôi tóc phủ lên mặt để che những giọt nước mắt đang ứa ra....Hân úp mặt vào tấm hình, kêu khẽ: Mẹ ơi!

Những ngày sau đó đầu óc của Hân rối bời. Có lúc đầu của Hân nói:” Ông Cư là cha của mình sao ?” Có lúc thì: " Ông chỉ là người tình của mẹ? "Có lúc thì: "Chắc ông là cha của minh rồi!"

Hân đã gởi ông Cư quyển sổ tay theo yêu cầu của ông từ Ấn-độ. Hân cũng lấy một tuần lễ nghỉ Đông trở vê` Việt-nam.

Bà Bảy cùng Hân đi thăm mộ mẹ. Trong lúc chờ tàn hương, Hân cho bà Bảy xem tấm hình của mẹ được Hân sao lại từ quyển sổ tay ông Cư. Bà Bảy xem hình xong nhìn Hân, ngạc nhiên thốt lên:

- Ủa, sao “mày" có cái hình nầy? Chắc mẹ " mày" chụp lúc còn đi múa võ Sơn-Đông, bán Cao-đơn hoàn tán ngoài đường, nhìn mái tóc cột đuôi ngựa là biết, múa võ không bị vướn. Nét mặt chụp hồi đó so với sau này khác nhiều.

Hân lặng lẽ đưa tiếp cho bà Bảy tấm hình Hân cùng chụp với ông Cư, hỏi:
- Bà có biết người nầy là ai không?

Nhìn tấm hình một lúc, bà Bảy lại nhìn Hân , nói giọng nghi ngờ:
- Chẳng lẽ là nó? Hồi đó nó đâu có cụt hai chân ngồi xe lăn đâu? Bà lại hỏi:

- Người nầy tên gì vậy?

- Cư,...ông còn có tên khác là Taku.

Bà Bảy lấy tay đập vào đùi mình thốt lên:
- Đúng rồi, thằng Taku con gia-đình Ấn-độ bán vải, giàu có khu Vườn-Lài ngày xưa. Rồi tự nhiên bà im lặng,nhìn chăm chú Hân...rồi hỏi với giọng ái ngại:

- Sao người nầy bị cụt hai chân. ..Mà...mà..sao "con" biết người nầy?

- Ông ta bị tai nạn trong một vụ khủng bố. Còn việc tại sao cháu biết ông ta thì còn dài lắm, cháu sẽ kể cho bà nghe sau nầy.

Hương đã tàn, bà Bảy đứng lên thắp tiếp, bà vái:
- Tiện hôm nay có con của em, chị sẽ xin hồn thiêng của em, thay em kể cho con em biết chuyện của đời em; con em lớn khôn rồi cũng nên nói cho nó biết.

Trong khói hương phảng phất hòa trong nắng chiều phai nhạt, bà Bảy kể:

- Thời đó bà Bảy hay đi chợ Bến-Thành mua vật liệu về làm bánh Cay và chuối nướng.Trên đường đi, bà dừng chân xem hai cha con một ông già múa võ bán thuốc cao đơn hoàn tán. Xem nhiều lần nên quen biết cô con gái múa võ. Hai cha con cô dân Bình-Định. Cha cô dạy võ. Trong bom đạn chiến tranh không biết từ phe nào, gia đình cô bị súng đạn cướp đi gần hết. Hai cha con cô bỏ xứ trôi giạt vào Sài-gòn bán thuốc dạo làm kế sinh nhai. Do được cha dạy võ nghệ, nên cô múa võ rất hay, được người xem cho tiền, nhiều hơn tiền lời bán thuốc. Biết hai cha con cô tìm nhà thuê, bà Bẩy đã giúp thuê được một căn nhỏ bên cạnh nhà bà Bảy. Không lâu sau đó, cha của cô qua đời. Cô bỏ nghề múa võ bán thuốc, nhờ có sức khỏe, nên làm nghề gánh nước thuê, cái nghề xem có vẽ thấp kém trong xã-hội nhưng được người chủ thuê thương mến vì lòng chân thật. Người chủ tin cẩn giao nhà cho cô khi không có mặt để cô đổ đầy nước tích trử. Cô gái lại có lòng hào hiệp, trả lời bà Bảy khi bà có ý khuyên: "Là con gái nên sửa soạn nhan sắc một chút, ít ra là nên xỏa tóc như chị em gái khác cho nó nhu mì..làm gì cột tóc như cái đuôi ngựa, cứng ngắc như đeo khúc gỗ ?" thì cô gái trả lời: "Cột tóc như thế nầy em quen rồi, từ lúc học võ cho đến khi múa võ kiếm tiền trông nó mạnh, nay gánh nước thuê, tóc để xỏa ra thì vướn đòn gánh làm đau đầu...hơn nữa để tóc đuôi ngựa cũng là thái độ sẵn sàng cho mấy tên cô hồn cướp giật bài học..cái đuôi ngựa sẽ trở thành thanh kiếm của người có võ. ". Thái độ cứng cõi như đàn ông con trai của cô khiến trai tráng trong khu ít quan hệ với cô. Khi chồng của bà Bảy chưa chết trận, mỗi lúc về phép có giới thiệu bạn bè cho cô ta, cô cứ lắc đầu; "Lấy chồng chiến binh, một lần đi không trở lại".
Rồi chuyện đã đến...một hôm cô ta và bà Bảy đi dự cưới của người bạn trở vê. Trời hơi khuya, trên đường trong hẻm đi ra, gặp ba tên đang chận đường trấn lột hai người Ấn-độ. Cô ta đã dùng võ đánh đuổi ba tên cướp. Chuyện nầy không phải là chuyện duy nhất, trước đó cũng có nhiều trường hợp xẩy ra tương tự do lòng hào hiệp của cô.

Bà Bảy không rõ cô ta và một trong hai người Ấn-độ được cứu đêm hôm đó đã gặp lại nhau như thế nào rồi yêu nhau. Bà đã được vài lần được đôi tình nhân nầy mời đi ăn nhà hàng hoặc đi xem chiếu phim. Bà không thấy cô gái đưa người yêu của mình về nhà vào xóm, bà có thắc mắc, cô buồn buồn trả lời: “Nhà nghèo quá em ngại, nhưng rồi cũng phải cho anh ấy biết.. không thể tránh mãi được". 

Yêu nhau nhưng tình yêu có khi mình không tự quyết định được. Thời thế thay đổi làm chóng mặt mọi người, làm tình yêu cũng trôi theo cơn đổi thay. Người yêu của cô về xứ cùng gia-đình. Người ấy đã để lại cho cô ta một ít vàng, để chứng tỏ sự quan tâm trong tình yêu của anh ta và hứa sẽ trở lại tìm cô khi tình thế cho phép. Cô đã chờ người yêu trở lại mấy chục năm qua...cho đến hôm nay thì mộ đã thay bao lần cỏ úa?

Người đàn ông ấy đã để lại cho cô một đứa con trai, cô đoan chắc là người ấy không biết chuyện nầy, vì cô chỉ biết mình có thai khi người ấy đã ra đi. Cái tên cô đặt cho con trai của hai người mang âm hưởng Việt-nam và Ấn-độ.

Hân là Viêt-nam. Hân là Ấn-độ. Hầu như ít có một ai biết Hân là con ruột của cô, người ta chỉ tưởng cô đã xin nuôi Hân từ một nhà hộ sinh nào đó trong thành-phố.

Hân ngồi yên nghe lời bà Bảy như hơi gió lững lờ trong khói hương, thấm vào máu, len lỏi vào tim, thổn thức dâng lên tận cổ. Hai dòng nước mắt trào chảy thương thân. Hân thương mẹ, nghĩ đến mẹ lại thổn-thức...Hân lại nghĩ đến ông Cư..lại là người cha của mình.? Trời cao giun rũi đã cho hai cha con gặp nhau mà mãi đến giờ phút nầy vẫn chưa biết là cha con, sau khi đã sống bên nhau vài năm!

Bà Bảy lại thắp thêm ba cây nhang. Hân đến nắm hai tay bà Bảy siết chặt nói trong xúc cảm:
- Cháu cám ơn bà Bảy đã cho cháu nghe câu chuyện gia-đình cháu. Như vậy cháu đã tìm ra được người cha của cháu. Hân lại chấp tay hướng về mộ mẹ :

- Mẹ ơi, mẹ có biết không, cha con đã có trở lại Việt-nam tìm mẹ nơi cái địa chỉ mẹ đã cho cha con, nhưng nơi đó đã đổi chủ. Vì tìm không được mẹ nên cha con mới cưới vợ. Con biết cha con vẫn còn thương mẹ, vì hàng đêm cha con vẫn nhìn ảnh mẹ, cầu nguyện cho mẹ.

Bà Bảy nắm tay Hân thúc rời nghĩa trang, điện hai bên đường đã được thắp sáng. Bà nói:
- Đi nhanh lên, bà muốn mau về nhà để được nghe "mầy" kể chuyện gặp được cha "mầy” nơi nào đó.

********
Mùa đông lạnh giá thầm lặng trôi qua. Đầu Xuân ông Cư trở lại Paris. Từ ngày biết ông Cư là cha ruột của mình, vui mừng và xúc động cũng dần lắng xuống, nhưng Hân vẫn trăn-trở tìm cách nào nói cho ông Cư biết sự thật một cách tự nhiên, không quá đột ngột vì ông Cư đang có bịnh cao máu. Đón ông từ phi-trường, trong taxi trên đường về nhà, Hân ôm bàn tay ông Cư trong hai tay của mình. Hân nghe thấy có cái gì đó từ hai bàn tay của Hân như chạm đến nguồn sinh lực trong người ông Cư, cái mà lần đầu tiên Hân mới cảm nhận được. Rồi Hân cũng tự cảm nhận những thương-yêu từ cơ thể mình làm thành dòng chảy trôi qua bàn tay của ông Cư. Hân cố gắng tự ngăn nước mắt của mình không rơi xuống.

Nhân một hôm, ông Cư đang ngồi uống trà nơi phòng khách, Hân đến ngồi bên cạnh lấy sách ra đọc. Một tấm hình từ quyển sách rơi xuống. Ông Cư nhặt lên xem. Trong hình, Hân chụp với một người đàn bà nơi một công- viên. Ông Cư chăm chú nhìn Hân rồi nhìn vào tấm hình, ông hỏi:

- Cháu chụp hình nầy bao lâu rồi, cháu chụp với mẹ cháu?

- Dạ, cháu chụp với mẹ cháu trước ngày cháu qua đây học.

Đôi lông mày ông Cư nhíu lại, một thoáng đăm chiêu xuất hiện trên khuôn mặt hơi hóp sau câu trả lời của Hân. Một phút yên-lặng trôi qua. Ông Cư vẫn nhìn Hân chăm chú. Tim Hân đập liên hồi... tay ông Cư run run lấy quyển sổ tay từ túi áo, mở ra.. Ông nhìn tấm hình trong sổ tay rồi lại nhìn tấm hình hai mẹ con Hân. Môi ông mấp máy.

Hân cảm thấy một chút cay cay nơi hai mắt của mình. Ông Cư lại mắp máy môi thành lời:
- Thúy...mẹ cháu tên Thúy...phải không?

Hân trả lời ông bằng những gật đầu, nhích tới ngồi cạnh ông. Ông Cư quàng tay qua vai Hân. Hân nghe có tiếng thổn thúc từ ngực ông. Ông Cư nói trong nước mắt:
- Nay em đã bỏ anh đi rồi...ngày ấy ...ngày ấy anh đã ..ông trời thật ác. Hai chúng ta đã làm gì nên tội?

Hân vỗ nhẹ vào lưng ông Cư:
- Bác còn nhớ bà Bảy bán bánh Cay không?

- Bác nhớ...Thúy, bác và bà Bảy đã có nhiều lần gặp nhau..và...

Không để cho ông Cư nói hết câu, Hân nói chận ngang:
- Bà Bảy nói mẹ Thúy cháu phát hiện đã có thai với ông Cư sau khi ông Cư rời Viêt-nam về xứ Mẹ Thúy đặt tên khai sinh cho đứa con là Han, tên Ấn-độ, nhưng người Việt-nam gọi là Hân, phát âm dễ hơn là Han.

Trong phòng khách vắng lặng chỉ còn vang lên âm thanh nghẹn ngào:
- Con..con của ba.

- Ba.. ba của con.

Đêm hôm ấy, lần đầu tiên hai cha con nằm bên nhau, mỗi người để hồn mình bềnh bồng theo tâm tưởng của mình.

Ông Cư thấy dẫn con trai mình đi trên những con đường xứ Penjab ngỗn ngang những con bò ốm còi xương, đang nhặt thức ăn từ những đống rác bên cạnh những đám đông vây xem những ông đạo sĩ điều khiến những con rắn đeo kính lắc lư đầu qua lại, hay đến viếng đền thờ Đạo Sik có những bầy khỉ leo trèo khắp nơi.

Hân thấy cùng đi với cha ra khỏi phi-trường Tân-sơn-Nhất, đến chợ Bến Thành dừng chân trước những sạp bán vải, qua khu Vườn Lài, khu Chuồng Bò, ngược về khu cư xá Đô-Thành và điểm dừng chân cuối cùng là ngôi mộ của mẹ.

Tiếng tích tắc của đồng hồ gõ đều, chen lẫn tiếng trở mình và tiếng thở dài./.

Paris ngày 16/5/2019
Nguyễn Đại Thuật




Blog Archive