Cái nghề nào không bao giờ cần kiểm tra xem khách đã chuyển khoản hay chưa?
Nghề bán báo vỉa hè.
Dạo gần đây tôi hay gọi đó là nỗi buồn tri thức, khi mình đứng trước một sạp báo cũ, nhìn vài tờ giấy mỏng nằm im, rồi nhận ra có những thứ sẽ không còn nữa, dù mình từng cứ tưởng nó còn mãi.
Hôm nay, khi ngồi tại sạp báo, tôi thấy một cô mua báo Phụ Nữ. Cô nói: đọc cần kiên nhẫn lắm con, mà người ta bây giờ ít kiên nhẫn rồi.
Nghe xong tôi lặng đi một chút. Ngay góc đường Phạm Ngọc Thạch, trước mặt tôi là chú Hùng.
Tôi gọi chú là người Hùng thầm lặng với sạp báo.
Chú bán báo ở Sài Gòn này từ những năm 2000. Một người Quảng Nam vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng, ngồi giữa nắng, mưa, bụi xe, báo ngày, báo tuần, báo tháng, vậy mà mua được nhà, nuôi hai đứa con ăn học thành tài. Nghe xong tôi thấy nể chú quá.
Chú không giảng về tri thức, không nói về văn hóa đọc, chú chỉ bán báo mỗi ngày ở góc đường này. Nhưng có những người cả đời không cần nói nhiều về tri thức, vì cái nghề họ làm đã đứng cạnh chữ nghĩa mấy chục năm rồi.
Cái nghề này lạ lắm. Nó ma sát với một lớp người đặc biệt: người đọc, người viết, người gieo con chữ, người làm ăn cần hiểu thời cuộc, người chịu ngồi với một bài viết dài, người còn tin rằng có những vấn đề không thể hiểu bằng vài dòng lướt qua.
Vậy mà chú nói một câu làm tôi thấy rất thú vị: chú không bao giờ kiểm tra tài khoản xem tiền đã vào chưa.
Tôi hỏi: tại sao vậy chú?
Chú nói đại ý là mấy chục năm nay, người mua báo chỉ có cho thêm, chứ chưa bao giờ lấy của chú cái gì.
Tôi nghe mà nghẹn thật. Trời ơi, ngay Quận 3, Sài Gòn, có một thứ mà tôi cứ tưởng chỉ còn ở đâu xa lắm.
Tôi nhớ tới một câu người ta hay nhắc về chợ sách cổ Al-Mutanabbi ở Baghdad: người đọc sách thì không ăn trộm sách, còn kẻ trộm thì không đọc sách.
Ở đó, người bán có thể bày sách tràn ra vỉa hè, có khi để qua đêm mà không cần trông coi kỹ, vì họ tin rằng người thật sự đọc sách không nỡ lấy trộm một cuốn sách như vậy.
Tôi từng nghĩ đó là một câu chuyện đẹp ở xứ khác. Vậy mà hôm nay, tôi thấy một phiên bản rất Sài Gòn của nó, nằm trên một sạp báo cũ, trong một cú chuyển khoản không cần kiểm tra, giữa người bán báo và người mua báo.
Một xã hội mà người bán báo vỉa hè có thể tin người mua tới mức không cần nhìn lại tài khoản, xã hội đó từng có một lớp quan hệ rất nhẹ nhàng, tình cảm. Người bán hàng không phải gồng lên đề phòng, người mua không bị nhìn như kẻ có thể quỵt vài chục ngàn.
Một tờ báo nằm giữa hai con người, tự nhiên làm không khí tử tế hơn một chút. Thứ tử tế rất nhỏ, như chén nước trà còn nóng, lời nói còn đáng tin.
Tôi từng đọc trong Gia Định thành thông chí, ngài Trịnh Hoài Đức ghi vùng Gia Định là nơi người từ bốn phương tụ lại, mỗi nhà có phong tục riêng, rồi tả người Gia Định trọng nghĩa khinh tài.
Lúc đọc trong sách, tôi thấy đó là một nhận xét hay. Nhưng đứng trước sạp báo của chú Hùng, tôi mới thấy câu đó có da thịt người Gia Định, Sài Gòn, với cái nghĩa của vài chục ngàn tiền báo, một cú chuyển khoản không cần kiểm tra, một niềm tin cũ còn sót lại giữa thành phố hiện đại đang chạy rất nhanh.
Có những thứ tử tế không nằm trong hội thảo, không nằm trong diễn văn. Nó nằm ở chỗ một người bán báo vẫn ngồi đó, một người mua báo vẫn quay lại, vài chục ngàn được chuyển đi trong sự tin nhau, không cần ai phải dạy ai sống tốt bằng mấy cuốn sách tự lực.
Chú Hùng nói báo vẫn bán đều, vẫn còn rất nhiều người đọc.
Chỗ này mới là nỗi buồn tri thức.
Vì nếu một tờ báo dừng lại do không còn ai đọc, mình có thể buồn, nhưng còn dễ hiểu. Đời sống đổi thay, thói quen đổi thay, mô hình cũ không còn hợp, nghe vậy vẫn có chỗ để giải thích.
Nhưng nếu người đọc vẫn còn, người bán vẫn còn, những người mỗi sáng vẫn quay lại với đúng tờ báo đó vẫn còn, thì nỗi buồn này không còn đơn giản là chuyện báo giấy bị thời đại bỏ lại phía sau nữa.
Nó đau hơn. Nó giống như thấy một cái cây vẫn còn xanh, vẫn còn người ngồi dưới bóng, nhưng người ta đã đóng dấu rằng tới đây là hết. Có những chuyện trong đời chỉ cần nhìn nhau là hiểu.
Chú Hùng nói: không bao giờ nghĩ có ngày này.
Có lẽ chú nghĩ vậy cũng phải. Chú đã kiên nhẫn bán, vì suốt nhiều năm vẫn còn rất nhiều người kiên nhẫn đọc. Với họ, tờ báo giống như ly cà phê sáng, đọc xong đầu óc tỉnh ra, có thêm chút tri thức để bước vào một ngày mới. Và chẳng ai nói: tôi không đủ kiên nhẫn uống cà phê sáng khi đang buồn ngủ.
Nhưng với tri thức, nhiều người lại đang nói vậy, chỉ là họ nói bằng cách khác.
Tôi nghĩ nhiều về câu: đọc cần kiên nhẫn lắm con.
Câu đó đúng, nhưng chưa đủ. Người trẻ hôm nay không thiếu thông tin. Chúng tôi sống trong một thời mà thông tin dí thẳng vào mặt từng phút.
Mở mắt ra là tin nóng, quan điểm nóng, phán xét nóng, tranh cãi nóng. Cái gì cũng đòi nhanh, gọn, dễ hiểu, dễ chia sẻ, dễ chốt phe. Một bài dài thì xin tóm tắt, một vấn đề phức tạp thì xin ba gạch đầu dòng, một cuộc đời người khác thì xin kết luận trong một câu.
Rồi AI xuất hiện và làm chuyện đó còn nhanh hơn nữa. Nó có thể tóm tắt một bài báo trong vài giây, rút ý chính của một quyển sách, viết lại một đoạn văn, dịch một bài dài, giải thích một chính sách, thậm chí bắt chước giọng của người khác.
Đời mới tiện dữ nghen. Tôi làm việc tại một công ty AI, nên tôi không có nhu cầu đứng ngoài công nghệ.
Nhưng càng làm với AI, tôi càng thấy một chuyện hơi ngược đời: máy có thể giúp con người đọc nhanh hơn, nhưng nó không thể đọc chậm giùm con người.
Vấn đề không phải là AI làm người ta ngu đi. Vấn đề là rất nhiều người đang dùng AI như cái máy nhai cơm. Việc đáng lẽ cái đầu phải tự làm, mình giao hết cho máy. Tóm tắt giùm tôi, kết luận giùm tôi, chọn phe giùm tôi, viết phản biện giùm tôi.
Cuối cùng, người ta không còn đọc để hiểu, mà đọc để lấy đạn đi bắn nhau. Không còn đọc để tự sửa mình, mà đọc để có thêm lý do thấy mình đúng.
Cái thiếu của đời này không phải là thông tin. Cái thiếu là sức nhai của một cái miệng thật.
Câu chuyện của sạp báo hôm nay vì vậy không chỉ là chuyện người ta đọc ít đi. Chú Hùng vẫn bán. Người đọc vẫn còn. Những người cần một tờ báo để hiểu kinh tế, chính sách, doanh nghiệp và đời sống vẫn còn. Cái bàn đó chưa vắng hết người ngồi. Ly cà phê sáng đó chưa tan đá hẳn.
Vậy mà có những tờ báo vẫn đi tới số cuối.
Chỗ đó mới là nỗi buồn khó gọi tên.
Tôi đọc khá nhiều bài luận về Kinh tế Sài Gòn ở số cuối này, về báo chí, về đô thị, về văn hóa đọc, phần lớn đến từ các thế hệ đi trước. Tôi biết ơn họ, nhưng tôi cũng tự hỏi người trẻ ở đâu.
Không phải người trẻ không viết, không nghĩ, không đọc. Nhưng đời sống mới kéo người trẻ vào một cái chợ quá ồn. Ai cũng phải nói nhanh hơn, sắc hơn, dễ lan truyền hơn. Nhiều khi một câu nói chưa kịp chín đã bị đem ra bày bán, một suy nghĩ mới nhú đã bị ép thành nội dung để đổi tương tác.
Cái nguy hiểm của thời này không phải là không ai nói. Ngược lại, ai cũng nói. Nhưng nói nhiều chưa chắc là nghĩ nhiều, viết nhiều chưa chắc là đọc sâu. Có nhiều người trẻ rất giỏi phản ứng, nhưng không giỏi suy nghĩ. Rất nhanh trong việc bắt lỗi người khác, nhưng rất chậm trong việc tự sửa cái sai đang nằm trong đầu mình.
Tôi đến với Kinh tế Sài Gòn khá muộn.
Tôi không có vài chục năm ký ức với tờ báo này, không từng cộng tác, không từng ngồi với các cô chú anh chị làm nghề để bàn một bài viết, một đề tài, một câu chữ. Tôi chỉ là người trẻ tới sau, tới lúc đủ lớn để hiểu giá trị của một tờ báo kinh tế nghiêm túc, thì nó đã đi đến số cuối.
Cái tiếc của tôi vì vậy rất khác. Không tiếc như mất một phần tuổi trẻ, tôi tiếc như thấy một cái bàn học cũ bị dọn đi ngay lúc mình vừa ngồi vào học, khi mình còn chưa kịp đọc, kịp chiêm nghiệm, kịp hiểu vì sao bao nhiêu người yêu quý nó đến vậy.
Một tờ báo như Kinh tế Sài Gòn không chỉ cung cấp tin. Nó rèn cho người đọc một kiểu đọc. Đọc để hiểu dòng chảy phía sau đời sống, đọc để thấy một quyết định chính sách không nằm riêng trên giấy, nó đi vào doanh nghiệp, đi vào bữa cơm, đi vào công việc, đi vào tương lai của rất nhiều người.
Kiểu đọc đó không dễ, vì nó bắt mình phải chậm lại. Mà đời này, cái gì bắt người ta chậm lại đều có vẻ lỗi thời. Nhưng lỗi thời không có nghĩa là vô dụng.
Nhiều thứ ở Sài Gòn cũng vậy. Một sạp báo, một tiệm sách cũ, một quán cà phê sáng có người ngồi đọc báo, một ông chú bán báo không kiểm tra chuyển khoản, những thứ đó nhìn qua tưởng nhỏ, nhưng nó giữ cho thành phố một chút nhịp sống rất người.
Không phải nhịp sống tiêu dùng, không phải quảng cáo, mà là nhịp sống của những người còn chịu đọc, chịu suy nghĩ, chịu tin tưởng nhau một chút.
Và nhiều người nghĩ tôi có thể là độc giả cuồng nhiệt của Kinh tế Sài Gòn. Thật ra tờ báo tôi mê nhất là Tuổi Trẻ Cười.
Có thể vì vậy mà tuổi thơ tôi từng nhịn ăn sáng để mua báo. Với tôi, Tuổi Trẻ Cười giống như bánh da lợn vậy, ăn từ bé, hơi ngọt, hơi dẻo, hơi quê quê, nhưng nhớ lâu.
Còn khi nghe chú Hùng ví Kinh tế Sài Gòn như ly cà phê sáng, tôi mới nhận ra mình vừa mất một ly cà phê tri thức, được pha bởi những người pha chế tài năng, bằng loại cà phê cô đặc và chất lượng cao.
Báo giấy sẽ mai một, chuyện đó có lẽ không tránh được. Đời sống thay đổi thì vật chứa cũng thay đổi. Từ giấy sang màn hình, từ màn hình sang AI, từ đọc trực tiếp sang hỏi máy móc tóm tắt, chuyện đó không có gì lạ.
Nhưng có một thứ không nên mất theo tờ giấy.
Đó là độc giả.
Vì người đọc không chỉ là người cầm tờ báo trên tay. Người đọc là người còn đủ kiên nhẫn để ngồi lại với một vấn đề, đủ bình tĩnh để đi qua một bài dài, đủ tự trọng để không biến mọi thứ thành vài dòng kết luận vội.
Người đọc là người biết một bản tóm tắt có thể giúp mình bắt đầu, nhưng không thể thay mình sống chung với một câu hỏi khó.
Vợ tôi, một người học kinh tế, đọc từ thời sinh viên, nghe chuyện cũng buồn hùi hụi. Hôm nay tôi đem về ba tờ cho nàng đọc, nàng ngẫm.
Tôi cũng mua thêm hai tờ Saigon Times để tặng một ông bạn người Nhật, một người ở Việt Nam nhưng chỉ đọc mỗi tờ này, rồi báo cho ông biết rằng nó sắp dừng lại.
Ngày mai tôi sẽ quay lại mua Tuổi Trẻ Cười, mấy tờ báo hồi nhỏ tôi đọc mê như đọc truyện tranh.
Có những cuộc chia tay không ồn ào. Không kèn trống, không náo nhiệt, nó chỉ lặng lẽ diễn ra trên một sạp báo cũ, nơi người bán vẫn ngồi đó, người đọc vẫn quay lại, vài tờ báo cuối cùng vẫn được trao đi bằng một niềm tin rất nhỏ.
Tôi nghĩ mình sẽ nhớ hình ảnh đó lâu. Một ông chú bán báo không kiểm tra chuyển khoản, một vài người đọc còn quay lại mua thêm mấy tờ cuối, một thói quen tử tế vẫn còn đứng đó, rất nhỏ, rất ấm áp, giữa một thành phố đang chạy rất nhanh.
Và cái đau nhất của một tờ báo số cuối, đôi khi không nằm ở chỗ nó biến mất.
Mà nằm ở chỗ khi nó biến mất, mình mới nhận ra quanh nó từng có nhiều điều đáng quý đến vậy.