Wednesday, August 26, 2026

Quê hương Canada

Có những tình cảm mình mang theo suốt mấy chục năm mà không hề biết nó đã bén rễ sâu đến mức nào, cho đến một ngày chỉ một câu nói của ai đó vô tình chạm đúng chỗ đó, mình mới nhận ra.

Hôm nay, có người đọc những bài tôi dẫn chứng những bản tin và phê bình chính sách thân Trung Cộng của đảng phái đang cầm quyền Canada rồi hỏi: “Cô không hài lòng với Canada thì phải? Cô có ý định rời khỏi Canada và định cư ở một nước khác như Mỹ chẳng hạn?”

Tôi hơi sốc khi đọc comment này và nước mắt bất ngờ tuôn xuống. Không phải vì tôi không chấp nhận nổi một ý kiến trái chiều, mà bởi câu hỏi ấy bỗng đưa tôi trở về những năm đầu tiên của cuộc đời mình trên đất Canada, khi tôi chỉ là một cô bé nhập cư bước vào trường trung học với vốn tiếng Anh còn vụng về và một tương lai hoàn toàn xa lạ phía trước.

Tôi vẫn nhớ 8:15 mỗi sáng, tiếng nhạc O Canada vang lên khắp trường. Nếu đã vào lớp, chúng tôi đứng lên, nếu còn đang ngoài hành lang, tất cả đều dừng bước và nghiêm trang đứng yên tại chỗ cho đến khi quốc ca kết thúc.

O Canada! Our home and native land!
True patriot love in all of us command…”

Ngày ấy tôi chưa thuộc hết lời để hát theo trọn bài và cũng chưa hiểu hết những chữ mình đang hát. Một đứa trẻ vừa rời Việt Nam, còn nhớ quê cũ da diết làm sao biết được rằng hai chữ “our home” rồi sẽ theo mình suốt nhiều năm sau, và mảnh đất xa lạ dưới chân rồi sẽ có ngày trở thành quê hương.

Canada đối với tôi từ lâu không còn đơn thuần là nơi mình chọn để sinh sống, mà là nơi đã đón một cô bé nhập cư vào trường học, cho cô bé ấy cơ hội trưởng thành và xây dựng cuộc đời. Lớp 10, môn Civics and Citizenship (Giáo dục Công dân) lại dạy cô một điều vô cùng quan trọng về ý nghĩa của tự do rằng một công dân có quyền yêu đất nước mình nhưng vẫn có quyền không đồng ý, chất vấn và phê bình chính phủ được hình thành thông qua tiến trình dân chủ để thay mặt người dân điều hành đất nước. Chính phủ được trao quyền để quản trị quốc gia trong một thời gian nào đó, chứ không được trao quyền để trở thành quốc gia.

Có lẽ vì tôi từng sinh ra ở một nơi mà người ta đã quá quen với việc đánh đồng đất nước với chính quyền, dân tộc với đảng cầm quyền, nên tôi càng hiểu giá trị của sự khác biệt ấy. 

Ở Canada, tôi học được rằng phản đối một thủ tướng không có nghĩa là phản quốc Canada, bỏ phiếu chống một chính phủ không có nghĩa là quay lưng với quê hương, và lên tiếng khi mình tin đất nước đang đi sai hướng khi để đảng cộng sản Trung cộng dùng tiền thao túng thương mại, bại hoại các chính trị gia, len lỏi vô bộ giáo dục nhồi sọ thế hệ trẻ bằng lịch sử sai lệch, ăn cắp trí tuệ sáng tạo, phát minh của Canada không phải là phản bội, mà chính là quyền căn bản của người công dân.

Thật ra, nước Mỹ đã từng mời gọi tôi nhiều lần trong cuộc đời. Thuở còn làm ở TD Bank, một người đồng nghiệp cũ sang San Francisco rồi gọi về rủ tôi qua đó, vì cùng một công việc nhưng lương cao hơn và cơ hội cũng rộng hơn. Tôi đã không đi.

Thuở anh Việt Dzũng còn sống, anh từng đề nghị tôi hát cho anh nghe để anh giúp tôi bước vào con đường ca sĩ, nhưng tôi từ chối. Tôi nhắc anh nhớ chính anh từng nói trong một buổi hội thảo dành cho phóng viên SBTN rằng mỗi người phóng viên khi cầm microphone đi làm phóng sự cộng đồng hãy xem mình như một người chiến binh đang cầm súng bảo vệ tiếng nói tự do. Tôi nói với anh: “Em muốn làm điều đó hơn là làm ca sĩ.”

Sau này, trong một buổi ăn trưa, đạo diễn Nguyễn Đức cũng nói rằng với nghề nghiệp của tôi, nếu sang Mỹ sống thì con đường phát triển sẽ rộng hơn. Anh nói đúng, bởi thị trường lớn hơn, cộng đồng người Việt đông hơn và cơ hội dành cho truyền thông, điện ảnh cũng nhiều hơn. Rồi khi Anh Lân VietTV mời tôi cộng tác vv…Nhưng tôi vẫn ở lại Canada.

Ngày ấy tôi chưa bao giờ nghĩ việc ở lại của mình có gì đặc biệt. Tôi chỉ lựa chọn theo cảm giác rằng đây là nơi tôi muốn sống, muốn trở về sau những chuyến đi và muốn gầy dựng cuộc đời. Mãi đến hôm nay, khi một người hỏi tại sao tôi không rời Canada nếu viết bài phê bình chính phủ, tôi mới nhìn lại và nhận ra rằng trong đời mình đã có nhiều lần có thể đi, nhưng lần nào tôi cũng chọn ở lại.

Không phải vì nước Mỹ không tốt, cũng không phải vì Canada đã cho tôi mọi thứ tôi mong muốn. Canada không hoàn hảo, và chính vì không hoàn hảo nên đất nước này cần những công dân dám nói khi họ nhìn thấy điều cần phải thay đổi.

Tôi không phải một người khách trọ trên đất Canada để mỗi khi không đồng ý với người đang điều hành đất nước thì phải cuốn gói để ra đi. Tôi là một công dân Canada, và tôi có quyền quan tâm đến tương lai của quê hương mình bằng chính tiếng nói của mình. Dù một con én không làm nên mùa xuân, nhưng nếu con én nào cũng nghĩ rằng một mình mình chẳng thay đổi được gì và thôi không cất tiếng hót, thì bầu trời sẽ chẳng bao giờ báo hiệu mùa xuân.

Hôm nay, trong lúc nước mắt chảy xuống, tôi lại nhớ cô bé năm nào đứng yên giữa hành lang lúc 8:15 sáng, nghe quốc ca vang lên và hát những lời mà khi ấy chưa đủ tuổi đời để hiểu:”O Canada, we stand on guard for thee.”

Bao nhiêu năm sau, tôi mới hiểu rằng “đứng lên bảo vệ Canada” không có nghĩa là bảo vệ một chính phủ khỏi những lời chỉ trích, mà là bảo vệ những giá trị khiến Canada trở thành một đất nước tự do, dân chủ, pháp quyền và quyền của công dân được nói với nhóm người được trao quyền điều hành đất nước rằng họ đang đi ngược lại với nguyện vọng của người dân không muốn bị Tàu Cộng xỏ mũi.

Có những tình yêu không cần phải gọi tên mỗi ngày hay hô hào với những lời lẽ đao to búa lớn gì. Nó chỉ âm thầm lớn lên qua năm tháng, qua những buổi sáng 8:15, qua mái trường, công việc, gia đình, những lần đứng trước một ngã rẽ rồi cuối cùng vẫn chọn quay về. Để rồi một ngày, chỉ vì có người hỏi “Sao không rời Canada?”, tôi mới biết tại sao một người lì lợm, cứng cỏi như tôi đã khóc…

Bởi đến lúc ấy tôi mới nhận ra, cô bé nhập cư năm nào đã không còn chỉ sống ở Canada nữa. Canada đã trở thành quê hương trong tim cô từ rất lâu rồi.

Thanh Tam



"Nhập gia tùy tục"

Tôi có một ông bạn hồi còn ở Úc sống lành mạnh lắm. Không hút thuốc, không uống rượu, nói chung nhìn rất là “healthy”.

Rồi một ngày đẹp trời, ông về Việt Nam làm ăn.
Vài năm sau gặp lại, tôi nhìn mà hết hồn.
Một tay cầm ly rượu, một tay cầm điếu thuốc, khói bay nghi ngút. Nhìn xa cứ tưởng ông đang làm quảng cáo cho hãng thuốc lá với hãng rượu nào đó. 
Tôi mới hỏi:
— Ủa, tao nhớ hồi xưa mày đâu có hút thuốc đâu? Sao bây giờ hút dữ vậy?
Ông tỉnh bơ trả lời:
— Trời ơi! Làm ăn bên Việt Nam là phải vậy đó mày! Muốn làm ăn thì phải biết hút thuốc, phải biết uống rượu. Hợp đồng nhiều khi phải ký trên bàn nhậu!

Nghe xong tôi chỉ biết cười.
Hồi ở Úc, muốn ký hợp đồng thì ngồi trong văn phòng, uống ly cà phê, nói chuyện công việc.
Về Việt Nam, muốn ký hợp đồng thì:
“Anh uống được mấy ly?”
Chưa nói chuyện dự án đã hỏi tửu lượng.
Một ly làm quen.
Hai ly tạo quan hệ.
Ba ly bắt đầu nói chuyện làm ăn.
Bốn ly thì thấy ai cũng là anh em.
Năm ly thì hợp đồng chưa biết ký chưa, nhưng tình cảm thì đã lên tới mức… “tao với mày như người một nhà!” 

Còn thuốc lá thì cũng vậy.
Không hút thì người ta mời.
Từ chối một lần thì mời lần hai.
Từ chối lần ba thì bắt đầu có cảm giác mình là người… không biết “hòa nhập cộng đồng”.
Cuối cùng từ một người không hút thuốc, vài năm sau trở thành người vừa gặp bạn đã hỏi:
“Có thuốc không?” 
Tôi chỉ mỉm cười và lắc đầu.

Tôi không biết ông bạn tôi về Việt Nam kiếm được bao nhiêu tiền.
Có thể rất nhiều.
Có thể những hợp đồng trên bàn nhậu thật sự mang lại cho bạn ấy rất nhiều lợi nhuận.
Nhưng tôi chỉ hơi thắc mắc một chuyện:
Không biết sau này những đồng tiền đó có đủ để mua lại lá phổi, cái gan và cái sức khỏe mà bạn ấy đã đem ra làm… vốn đầu tư hay không? 
Nói cho vui vậy thôi chứ sức khỏe mới là thứ đáng sợ.
Tiền mất có thể kiếm lại.
Hợp đồng thất bại có thể làm lại.
Làm ăn không được thì đổi nghề.
Nhưng cái gan mà đã “xin nghỉ việc”, lá phổi mà đã “đình công”, thì lúc đó có đem cả đống tiền ra cũng chưa chắc giải quyết được.

Cho nên đôi khi tôi nghĩ:
Làm ăn thì nên có quan hệ, nhưng đừng để quan hệ biến thành… quan tài.
Hợp đồng thì cứ ký.
Tiền thì cứ kiếm.
Nhậu thì tùy khả năng.
Nhưng nếu muốn làm ăn mà bắt buộc phải hút thuốc, uống rượu mới thành công…
thì chắc tôi chọn làm ăn… thất bại cho nó khỏe!

Chuong Ngo


"CHIẾN SĨ DIỆT MỸ" BẰNG MỒM

Cứ thử dạo một vòng trên mạng, ta sẽ thấy cả một "binh đoàn" chiến sĩ diệt Mỹ bằng ...mồm- một tầng lớp "anh hùng tinh hoa" đòi "giải phóng" đế quốc. Lũ người này hễ thấy ai khen nước Mỹ một câu là chúng “lên cơn co giật" nhào vô cắn xé đối phương như vừa bị đốt nhà quật mồ.

Vừa rồi, tui có viết mấy bài thời sự nói về Mỹ, tui cố dùng lời lẽ hết sức trung dung với những thông tin mà tôi kiếm tìm được trên những hãng tin khách quan, thế mà cũng bị đám này nhào vô tấn công, khiến " delete" không kịp luôn. Họ dùng những từ thật "ghê gớm" để lăng mạ, nói tui là đồ: ba que sọc vàng, bưng bô liếm gót, bơ thừa sữa cặn... Họ chửi Mỹ là thứ giãy chết, là địa ngục, là hiếu chiến, là bạo lực, là đồi trụy...

Tui gọi đây là loại bịnh hội chứng tâm lý:"Dị ứng Mỹ cấp tính". Bóc tách cái bịnh" tâm thần phân liệt" này một chút để mọi người hiểu rõ hơn tầng lớp "tinh hoa" của đất nước nhé!

Họ dùng kính hiển vi để soi những vụ nổ súng, những người vô gia cư homeless ở Mỹ để chửi Mỹ là tàn ác, là kém văn minh và "bênh chằm chặp" Iran, Cu Ba, Rusia, Trung Quốc..., nhưng nếu cho họ lựa chọn giữa sống ở Mỹ hay sang các nước cùng "hệ tư tưởng" đó mà sống thì họ lại chọn Mỹ và lắc đầu quầy quậy giảy nảy lên từ chối các nước mà họ "lý tưởng" như đĩa phải vôi.

Lạ kỳ thay, cái quốc gia mà các "chiến sĩ anh hùng" này bảo là địa ngục súng đạn, là xứ" thiên đường đang giãy chết" lại là nơi chính họ dạy con cháu phải học trối chết và chắt bóp từng đồng để được học bổng hay du học sang đấy. Mồm thì hô hào chống Mỹ, nhưng bụng thì mơ được xếp hàng trước cổng Đại sứ quán để được phỏng vấn đi Mỹ. Chửi Mỹ là địa ngục, nhưng cứ mải miết tra gu gồ tìm kiếm" Cách lách luật phỏng vấn visa Mỹ " hay" Kết hôn giả để định cư ở Mỹ"... Đúng là yêu nước bằng lý tưởng, nhưng khoái Mỹ bằng bản năng.

Chuyện kể rằng : có con cáo không hái được nho nên chê nho chua. Các “anh hùng” này cũng vậy, bản thân không đủ trình độ, không đủ điều kiện và không có tiền để chạm tới visa đi Mỹ, nên lựa chọn cách nhổ nước bọt và chửi đổng để đỡ thấy mình kém cỏi. Họ Chửi càng hăng những người khen Mỹ, họ càng lòi ra cái tự ti, cái nhỏ nhen ghen tị đã ăn sâu vào máu.

Mà ác nỗi, họ quên mẹ no’ rằng họ đang dùng công cụ gì để chửi. Họ chửi bằng cái iPhone của Mỹ hay từ cái đien thoai nào thì cũng từ phát minh công nghệ của Mỹ. Họ chửi qua nền tảng Facbook cũng từ Mỹ mà ra. Và có tiền họ không trữ đồng nhân dân tệ hay đồng tiền của Nga, của Iran mà lại đi trữ đồng đô la của Mỹ. Họ ghét Mỹ theo kiểu: "Tôi ghét nước Mỹ, nhưng tôi yêu cái điện thoại, cái xe và cái bằng cấp, cái nền giáo dục, cái quyền lợi an sinh và sự tự do của nước Mỹ.” Đây là sự" khôn lỏi tư duy"_ cái gì tốt thì vơ vào, cái gì không có được trong tay thì chửi cho bõ ghét.

Các chiến sĩ Anh hùng diệt Mỹ thân mến,

Nếu các bạn đã xem Mỹ là xấu, là hang ổ của quỷ dữ tư bản và các bạn chửi mắng nhục mạ những người khen Mỹ, thì các bạn cũng nên nhất quán trước sau một chút. Đừng có sáng chửi Mỹ, trưa lại nằm mơ thấy mình đang dạo chơi ở Quảng trường Thời đại New York, mơ đang đi du lịch Washington, chiều mơ được ăn chơi ở Los Angeles và tối ngủ ước ao được có thẻ xanh định cư ở Cali.

Thay vì dùng cái mồm "giải phóng" nước Mỹ, hãy dùng cái não để giải phóng chính mình. Đừng chơi kiểu đi chàng hảng hai hàng: Chửi Mỹ là cấp tính, nhưng mơ đi Mỹ mãn tính.

-Dynh Anh-


Đường Vòng

Buổi phỏng vấn thứ mười bảy kết thúc bằng đúng câu Khoa đã nghe mười sáu lần trước đó, chỉ khác cách nói. Người phụ nữ bên kia bàn gấp tập hồ sơ lại, cười một nụ cười lịch sự đã được luyện tập kỹ, bảo rằng portfolio của em ổn, ý tưởng cũng có, nhưng bên chị đang cần người có tối thiểu hai năm kinh nghiệm thực chiến, em thông cảm.

Khoa ra khỏi tòa nhà lúc bốn giờ chiều, đứng dưới nắng, nhìn cái bảng tên công ty sáng loáng trên tường kính, và bỗng thấy buồn cười. Cậu học thiết kế đồ họa, tốt nghiệp loại khá, ra trường tám tháng. Tám tháng, ba mươi mấy lá đơn, mười bảy buổi phỏng vấn. Ai cũng cần kinh nghiệm. Không ai cho cậu chỗ để có kinh nghiệm.

Tối đó, nhóm chat lớp đại học nổ tin. Hùng, đứa ngồi bàn dưới, vừa được nhận vào một agency lớn ở Sài Gòn, đăng ảnh cái bàn làm việc mới, hai màn hình, ly cà phê, dòng caption ngắn gọn "ngày đầu đi làm". Bên dưới hơn năm chục lượt chúc mừng. Khoa bấm thả tim, gõ hai chữ "chúc mừng", rồi tắt điện thoại, nằm ngửa nhìn trần nhà trọ, nghe tiếng quạt máy quay rè rè trên đầu.

Cậu không ghét Hùng. Cậu chỉ ghét cái cảm giác mình đang đứng yên một chỗ trong khi cả thế giới trôi qua trước mặt. Lan lấy chồng tháng trước. Đạt sắp đi Nhật. Ngay cả Vy, đứa học đuối nhất lớp, cũng đã có việc ở một studio nhỏ. Còn cậu, tài khoản còn hơn hai triệu, tiền nhà tháng sau chưa biết xoay đâu, và mẹ thì tuần nào cũng gọi, câu đầu tiên bao giờ cũng là "con có việc chưa con".

Cậu bắt đầu chạy xe ôm công nghệ vào tháng thứ chín.
Cậu không nói với ai. Với mẹ, cậu bảo đang làm freelance cho mấy chỗ quen, cũng tạm ổn. Với nhóm bạn, cậu im. Có lần đang chờ đèn đỏ ở ngã tư Phú Nhuận, mặc áo khoác xanh, đầu đội mũ bảo hiểm có logo hãng, cậu thấy một đứa bạn cùng khóa đi ngang trên taxi. Khoa cúi mặt xuống, kéo khẩu trang lên, tim đập thình thịch cho đến khi đèn chuyển xanh. Đêm đó về, cậu ngồi rất lâu trên mép giường, tay còn nguyên vết hằn của quai túi giao hàng, tự hỏi mình đã sai ở chỗ nào.

Chỉ có một việc cậu vẫn giữ, dù chẳng ai trả cậu đồng nào. Từ hồi còn sinh viên, Khoa vẫn nhận thiết kế mấy tấm banner, mấy tờ chương trình cho giáo xứ. Lễ bổn mạng, Giáng Sinh, khai giảng giáo lý, trại hè thiếu nhi. Cha phó cứ có việc gì cần in ấn là nhắn cậu. Bây giờ thất nghiệp, cậu càng làm nhiều hơn, phần vì rảnh, phần vì đó là thứ duy nhất còn khiến cậu thấy mình có ích. Có những đêm chạy xe về lúc mười một giờ, người mỏi rã, cậu vẫn mở máy tính lên, ngồi chỉnh từng dòng chữ trên tấm phông cho ngày lễ Chúa Nhật sắp tới, đến hai ba giờ sáng.

Tết năm đó cậu về quê.
Hai tám Tết, bữa cơm tất niên nhà bác cả, đông đủ họ hàng. Rượu vào được nửa chừng, ông chú họ, người vẫn có thói quen nói to nhất bàn, quay sang cậu: "Thằng Khoa học đại học ra rồi giờ làm gì mậy?" Khoa chưa kịp trả lời thì một người khác đã đỡ lời: "Nghe nói làm tự do đó chú." Ông chú cười khà khà, nói cái câu mà mãi sau này Khoa vẫn còn nhớ nguyên văn: "Tự do là thất nghiệp chứ tự do gì. Học cho lắm vô rồi cũng vậy. Nhìn thằng con anh Ba kìa, có học đại học ngày nào đâu, giờ nó mua được đất rồi đó."

Cả bàn cười. Không ai có ý ác. Người ta chỉ cười cho vui. Nhưng Khoa ngồi đó, tay cầm đũa, thấy mặt mình nóng ran, thấy từng con chữ đâm vào mình như kim. Cậu ăn hết chén cơm, xin phép ra ngoài trước, nói là ra ngoài hóng gió.

Cậu đi bộ ra nhà thờ xứ. Lễ chiều đã xong từ lâu, cửa nhà thờ khóa rồi, sân vắng, chỉ còn mấy dãy chậu cúc mới chở về xếp dọc lối đi chuẩn bị cho mấy ngày Tết, và ngọn đèn nhỏ trong hang đá Đức Mẹ ở góc sân. Khoa ngồi xuống cái ghế đá đối diện hang đá, không đọc kinh, không làm dấu, chỉ ngồi. Rồi tự nhiên nước mắt cậu chảy ra, không kìm được, cậu phải cúi đầu xuống, lấy tay quệt vội, sợ có ai đi ngang nhìn thấy.

Cậu không cầu nguyện gì đẹp đẽ. Trong đầu cậu lúc đó chỉ có một câu, lặp đi lặp lại, vừa giận vừa tủi: Chúa ơi, con có làm gì sai đâu. Con đâu có lười. Con đâu có ăn chơi. Sao con bị bỏ lại vậy Chúa.

Không có tiếng nào trả lời. Chỉ có tiếng nhạc xuân từ nhà ai đó vọng lại lẫn trong tiếng chó sủa cuối xóm, và bóng tượng Đức Mẹ đứng im trong quầng sáng vàng đục.

Ngồi được chừng nửa tiếng, cậu nghe tiếng dép lê trên sân gạch. Mẹ cậu, không biết đã đi theo con từ lúc nào, ngồi xuống ghế đá bên cạnh cậu, không hỏi gì. Hai mẹ con ngồi im một lúc lâu. Rồi bà nói, giọng bình thường như đang nói chuyện cơm nước:
"Mẹ biết con chạy xe rồi."

Khoa sững người.
"Tháng trước cô Hạnh ngoài chợ thấy con chở khách ngoài Sài Gòn, về kể mẹ nghe." Bà vẫn nhìn lên tượng Đức Mẹ, không nhìn con. "Mẹ có nói gì đâu. Mẹ chỉ buồn là con giấu mẹ. Con nghĩ mẹ xấu hổ vì con hả?"
Khoa không trả lời được.

"Ba con hồi trẻ đi bốc vác ở cảng bảy năm mới cưới được mẹ đó con." Bà nói tiếp, chậm rãi. "Bảy năm. Có ai chê ba con đâu. Con làm ăn lương thiện thì đi đâu mẹ cũng ngẩng mặt lên được. Mẹ chỉ sợ con nghĩ mình không ra gì rồi con bỏ nhà thờ, bỏ Chúa luôn, chứ mấy chuyện kia mẹ không sợ."

Bà ngừng một chút, rồi nói câu cuối, và đó là câu làm cậu vỡ ra:
"Tối nào mẹ cũng đọc kinh cho con. Không phải xin cho con giàu. Mẹ xin cho con đừng có mất lòng tin."

Ra Tết, Khoa quay lại thành phố, vẫn chạy xe, vẫn nhận thiết kế cho giáo xứ. Nhưng có gì đó đã khác. Cậu thôi giấu. Có đứa bạn hỏi dạo này làm gì, cậu nói thẳng là đang chạy xe, làm thiết kế thêm. Có đứa im lặng một cách khó xử, có đứa gật gù bảo cũng được mà, cũng có đứa nhắn riêng kể rằng nó cũng đang chán việc muốn nghỉ. Hóa ra ai cũng có phần chật vật của mình, chỉ là người ta không đăng lên mạng.

Tháng Sáu năm đó, giáo xứ tổ chức đại hội giới trẻ giáo hạt, gần hai nghìn bạn trẻ về tham dự. Toàn bộ phần hình ảnh, từ logo, phông sân khấu, băng rôn, áo, sổ tay, đến mấy chục tấm poster treo dọc khuôn viên, một tay Khoa làm trong hơn hai tháng, vẫn không lấy đồng nào. Cha phó áy náy, cậu chỉ cười bảo con làm cho Chúa, cha đừng tính tiền với Chúa.

Buổi tối cuối đại hội, một người đàn ông trung niên đến bắt chuyện với cậu ở khu vực hậu trường, hỏi ai làm bộ nhận diện cho chương trình này. Khoa nói là con làm. Ông ta ngạc nhiên, hỏi cậu làm ở công ty nào. Cậu ngập ngừng một giây, rồi trả lời thật: "Dạ con đang chạy xe công nghệ, thiết kế là con làm thêm thôi chú."

Người đàn ông nhìn cậu một lúc, rồi đưa danh thiếp. Ông ta có một công ty in ấn và truyền thông nhỏ, hơn chục nhân viên, đang cần một designer. Ông nói một câu mà Khoa nhớ mãi: "Chú không quan tâm con có mấy năm kinh nghiệm. Chú nhìn hai tháng con làm cái này không công là chú biết con làm được."

Khoa đi làm từ tháng sau, lương khởi điểm bảy triệu, thấp hơn Hùng, thấp hơn cả Vy. Cậu vẫn chạy xe buổi tối thêm một thời gian nữa cho đến khi ổn định. Không có gì hào nhoáng để đăng lên nhóm chat.

Nhưng có một buổi chiều, khoảng nửa năm sau, khi đang ngồi sửa file trong văn phòng, cậu nhận ra một điều. Cái năm mà cậu tưởng là năm mình bị bỏ lại, hóa ra lại là năm cậu học được nhiều thứ nhất. Cậu học được cách ngồi xuống nói chuyện với một bà cụ đi chợ về mà không thấy phiền. Cậu học được cách chịu đựng cái nhìn của người khác mà không sụp xuống. Cậu học được rằng đồng tiền kiếm ra khó tới mức nào, thứ mà đám bạn ngồi phòng máy lạnh của cậu chưa chắc đã biết. Và cậu học được rằng mẹ cậu, một người đàn bà bán rau ngoài chợ, hiểu về giá trị của một con người hơn tất cả những người ngồi bên kia bàn phỏng vấn cộng lại.

Tối đó về nhà trọ, cậu gọi điện cho mẹ, kể chuyện công ty, chuyện sếp, chuyện linh tinh. Cuối cuộc gọi, cậu nói, giọng cố tỏ ra bình thường:
"Mẹ khỏi đọc kinh xin cho con giữ lòng tin nữa nghen. Con giữ được rồi."

Đầu dây bên kia im lặng mấy giây. Rồi tiếng mẹ cậu, hơi nghẹn, nhưng vẫn cố nói cho gọn như mọi khi:
"Ừ. Vậy mẹ chuyển qua xin cho con biết ơn."

*St- Lấy từ trang Tủ Sách Dịch Công Giáo-không rõ Tác Giả



MÌ QUẢNG…

Thế là mùa Thu đến. Mùa hè bỏ đi bất chợt vội vã như một người tình hối hả vượt biên. Mùa Thu xuất hiện bất ngờ như một mối tình muộn màng, vào lúc mà người ta đã tưởng chuyện tình là chuyện không còn... cách nào xảy ra đuợc nữa.

Từ đó mặt trời bắt đầu dậy muộn. Chiều mỗi lúc một ngắn thêm. Lá phong vàng xanh - vàng nhạt, vàng thẫm, rồi hóa đỏ au - rơi bơ vơ trên những thảm cỏ nhạt xanh, chưa kịp đổi màụ Cảnh vật hoá hơi buồn nhưng đẹp. Sáng trời mưạ Mưa mà loay hoay với món điểm tâm quen thuộc như mì gói hay bánh mì với trứng thì cuộc đời quả là không đáng sống. Sao không dưng mà thấy nhớ một tô mì quảng đến muốn rơi nước mắt. Mì quảng, Trời ơi, biết tìm nó ở đâu bây giờ?

Trưa, trời vẫn cứ mưa, vội vã, co ro chạy từ lớp học đến phòng ăn đứng xếp hàng để chờ mua một cái... "cheese sandwich" ! Bất chợt bắt gặp một khuôn mặt quen quen, một "gã" đồng hương. Bèn gật đầu chào thật nhẹ với một nụ cười mím chi dè dặt.
- Chào cô.
- Dạ, chào anh.
- Năm nay mưa sớm.
- Dạ, hơi quá sớm.
- Trời như thế này được nằm nhà thì thích hơn.
- Dạ.
Lại "dạ" cho lịch sự chứ trời như thế nào thì nằm nhà mà không thích, cha nội?
- Cô thích mưa?
- Cũng không thích lắm.
- Tôi cũng vậỵ Đúng ra thì có thích nhưng hơi sợ. Mưa dịu dàng hơn là nắng nhưng sao thấy nhớ nhà...
"Ý trời, có nhớ nhà nữa sao - tình cảm dữ há"? Sau một giây im lặng ngắn ngủi bỗng người ta cảm thấy bị thôi thúc bởi nhu cầu tâm sự. Cái tâm sự mãi từ sáng tới giờ chưa trút được cho ai vì chưa gặp ai cùng là người Việt.
- Vâng, vừa nhớ nhà vừa thèm ăn mì quảng.
- Cô nói sao?
- Tôi nói mì quảng.
- Xin lỗi cô, tôi nghe chưa rõ.
- Mì quảng, loại mì sợi vàng...
Người đối thoại bỗng im lặng, đăm chiêu như thể vừa nghe đề cập đến một món ăn lạ lùng và đặc biệt của ... thổ dân Samoa! Còn mình thì nín thở hồi hộp chờ đợi tha nhân lục lọi trí nhớ.
- Ô, cô thích ăn mì hả? Mì thì người Tàu ở San Francisco nấu ăn cũng được. Cô có bao giờ thử mì ở tiệm Golden Dragon Restaurant chưa?

Cố lắm mới nén được một tiếng thở dài, với cái tâm cảm chua xót đắng cay của một thiếu nữ chợt biết mình đã... trao duyên lầm tướng cướp! Câu chuyện chấm dứt vĩnh viễn ở đó nhưng sự tấm tức, ấm ức thì kéo dài suốt cả ngày.

Mẹ ơi, sao lại có một người đàn ông Việt Nam không biết đến mì quảng, và còn lầm lẫn giữa mì quảng và mì hoành thánh nữa? Điều bất công khó chịu là từ lâu rồi mì quảng vẫn bị chịu thiệt thòị Nó chưa bao giờ được chào đón nhìn nhận cho đúng với giá trị của mình.Tệ hơn nữa là nơi nó xuất xứ - Quảng Nam, Việt Nam - người dân địa phương vốn được coi là thích chuyện tranh luận và họ có thể tranh cãi về hàng trăm thứ chuyện bà rằn không cần thiết nhưng riêng với sự bất công mà mì quảng phải chịu đựng thì dường như chưa thấy ai lên tiếng?

Phở, chả hạn, thì có gì là xuất sắc đâu mà luôn luôn được đề cập đến một cách ồn ào quá đáng. Sợi phở trắng nhách trông thấy ghệ Nước phở trong veo coi thấy chán. Thịt để ăn với phở thì đòi hỏi điệu hạnh đủ thứ như nạm, gầu, gân, sách...; mà chỉ cần vụng tay một chút là cả tô phở coi như là bỏ!

Bún bò Huế thì (chao ơi) cay quá. Nó cay như thể là trên đời này không còn có một thứ thức ăn nào cay hơn được nữạ Mà đã là bún bò sao còn có giò heọ Bò và heo không mấy khi đi chung với nhau một cách ổn thỏạ Đã thế, miếng giò heo vẫn thường làm cho tô bún bò bớt phần thanh nhã và khiến cho người đang nhồm nhoàm nó mất đi rất nhiều cái "phong thái tị nạn chính trị" của mình.

Tô bún riêu thì coi đỡ thấy ghét hơn một chút. Điều phiền là nó giản dị quá, giản dị tới mức... gần như là đạm bạc. Một chút cà chua và riêu cua thôi thì làm sao tô bún trông không lõng bõng cho được? Hơn nữa, ăn bún riêu vào một buổi sáng trời mưa thì đến trưa chắc chết (chết chắc) vì đói. Hủ tíu, mì sợi, hoành thánh, sủi cảo... thì kể như là hết thuốc! Vậy chứ những thứ thức ăn "ngoại nhập" và vô duyên đến như thế vẫn được chấp nhận dễ dàng và phổ biến ở khắp mọi nơị Chỉ có mì quảng là mãi mãi bị bỏ quên hoặc chưa bao giờ được đón chào đúng mức.

Mà mì quảng ngon tuyệt vời nha. Sợi mì làm bằng bột gạo rồi đem nhuộm vàng. Không phải cái màu vàng "đồng bóng" của nghệ, hay màu vàng thổ nhà quê đâu. Sợi mì quảng thường vàng tươi và chỉ đủ vàng để dung hợp với màu xanh của rau đi kèm với nó.

Rau sống ăn với mì quảng không bị đặt nằm một cách trơ vơ như một dĩa giá hay xà lách để ăn chung với phở. Nó cũng không bị thu vén một cách bần tiện trong những cái đĩa con con như rau để ăn chung với bún riêu hoặc bún bò. Tất cả những loại rau thơm để ăn chung với mì quảng, kể cả rau xà lách, đều đuợc thái nhỏ mịn và bỏ chung gọn gàng trong tô mì.

Nước mì quảng không lênh láng như nước phở, không thừa thãi như nước bún bò, không nhạt nhẽo như nước mì hay hủ tíụ. Nó hơi sền sệt với thịt heo xắt vụn, với tôm khô giã nhuyễn nấu nhừ, và luôn luôn chỉ được chan vào tô ở mức hơi săm sắp.

Mà đừng tưởng như vậy sẽ khiến cho tô mì không đủ nóng nha. Nghĩ như vậy là lầm à. Độ nóng của tô mì quảng không hoàn toàn do nước mà còn tùy thuộc phần nào vào số luợng ớt bằm mà thực khách múc bỏ vào tộ Nhiều ớt quá tô mì hóa cay chát. Hỏng. Mà ít ớt thì nó sẽ thiếu cái độ nóng và độ cay cần thiết. Hư. Mà nhớ là ớt bằm à nha. Mì quảng dứt khoát và quyết liệt không dung thứ những loại ớt khác như ớt xanh, ớt xắt, ớt khô, ớt ngâm dấm... hay bất cứ một loại ớt nào khác trên cuộc đời này.

Mô tả như vậy dễ gây ngộ nhận rằng mì quảng là một món ăn cầu kỳ, truởng giả. Nghĩ như vậy là kể như trật thêm một lần nữạ. Ráng chịụ Mì quảng không kiểu cách, lộn xộn, rườm rà như bún thang; không xuề xoà như bún ốc; không vô duyên như bún mọc. Mì quảng giản dị mà đậm đà và vô cùng đằm thắm.

Và mì quảng cứ ở miệt Quảng Nam. Nó không di cư ồ ạt rộn ràng như phở, không chen chân nơi những đô thị xa lạ như bún bò, không tỏ thái độ vô tình bạc bẽo theo kiểu "một đi không trở lại" như mì sợi hay hủ tiu.

Thản hoặc, người ta mới bắt gặp một tô mì quảng mon men đến một vài thành phố phụ cận như Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Bình, Bình Định... Nơi xa xôi nhất mà mì quảng trôi dạt đến nhưng vẫn giữ nguyên được bản sắc của mình có lẽ là Đà Lạt. Nơi đây mì quảng vẫn còn nguyên cái dáng vẻ trầm lặng và khép kín của mình. Mì quảng không trưng bảng hiệu, không ưa phố xá ồn àọ Nó thích hợp với không khí gia đình hơn bất cứ một thứ thức ăn nào khác. Có quá lắm thì mì quảng cũng chỉ hiện diện (với đôi chút ngỡ ngàng tội nghiệp) nơi một quán ăn nhỏ hẹp, nghèo nàn.

Nơi bán mì quảng ở Đà Lạt không nhiều và thường nằm ẩn trong một con hẻm nhỏ. Thực khách, nếu không phải là khách quen, còn lâu mới tìm ra nhà. Cái nhà không phải là cái quán. Chủ nhà không phải là chủ quán. Đó thường là một bà mẹ Quảng Nam hay Đà Nẵng. Chủ khách chào nhau tương kính trang trọng.

Không ai đề giá hay hỏi giá một tô mì quảng. Nó vô giá mà. Cũng không ai phân chia mì quảng thành tô lớn, tô nhỏ, tô đặc biệt... Mọi tô mì quảng đều đặc biệt. Cũng rất ít người chỉ ăn một tô mì quảng. Thường người ta gọi một "tô ăn thêm." Phải ăn thêm, dù no, cho khỏi phụ lòng người nấu và cho bõ công mình lặn lội đi ăn vào một buổi chiều Đà Lạt mưa dầm.

Nhân loại có thể đổ đi ba tỉ tô phở, hai tỉ tô bún, và một trăm tỉ tô mì hay hủ tíu nhưng không ai có thể bỏ dở một "tô mì quảng ăn thêm." Mì quảng không làm ai ngán. Ăn nhiều thì nó bớt ngon chút xíu thôi hà.

Ăn xong người ta tráng miệng bằng nước trà. Trong lúc khách nhỏ nhẹ kín đáo xỉa răng thì chủ thế nào cũng tìm dịp thỏ thẻ:
- Mì bữa ni nấu được không cô?
- Dạ...ngon.

Trả lời như vậy là không được. "Ngon" là một hình dung từ mơ hồ, nếu không muốn nói là hàm hồ, không thể nào diễn tả được cái đặc sắc tuyệt vời của một tô mì quảng. Có vụng về lắm thì người ta cũng phải đưa ra được vài ba nhận xét "bâng quơ" như sau:
- Dạ thưa bác mì ngon lắm. Tôm dã vừa nhỏ và nấu vừa nhừ. Rau chuối tươi mà không chát. Nước đậm đà vừa miệng. Củ sắn tuơi mà ngọt đậm.

Sau đó mới đến màn cảm ơn và từ tạ...
Coi, một thứ thức ăn nặng tình gia đình và văn hóa dân tộc như mì quảng mà bị bỏ vô "cửa hàng ăn uống quốc doanh" thì chịu đời sao thấụ Cỡ khoai mì, khoai lang mà đụng chuyện với người cộng sản còn bị te tua bầm dập nữa mà.

Càng khó chịu hơn nữa khi người ta gặp lại mì quảng trên bước đường lưu lạc. "Tha hương ngộ cố tri" không thiếu cảnh bẽ bàng. Nhưng đụng đầu mì quảng trong tiệm ăn ở thành phố San Francisco, Hoa kỳ thì quả là một chuyện bẽ bàng chết được.

Dù biết rằng tô mì quảng không thể nào được đặt trên bàn ăn trải khăn trắng, dưới ánh đèn màu, và bên cạnh một bình hoa daisy; mì quảng lại càng trông khổ sở ngượng ngịu trên tay người bồi bàn mặc áo "chemise" trắng, cổ thắt nơ đen... nhưng vẫn phải thử chứ, vẫn náo nức trông đợi coi sao chứ?

Đến khi nhìn thấy mì quảng được đặt trong tô sứ, đĩa hoa, và đi chung với đũa ngà thì người ta lại bắt gặp nơi mình một cảm giác đau đớn và chua xót khác - cái tâm cảm của một người bất chợt nhìn thấy "cố nhân" lái Mercedes với một vợ và tám đứa con trên xe. Người ta xêu nhẹ vài sợi mì vào muỗm, gắp thêm một chút rau, ấn nhẹ muỗm xuống tô để lấy thêm chút nước... rồi e ngại, rụt rè đưa vào mồm. Và rồi sẽ hiểu thế nào là nỗi thất vọng đắng cay của kẻ "yêu lại một người yêu thất tiết".

Mì quảng ơi, thôi vĩnh biệt!

Tưởng Năng Tiến



Thêm 5 phút

"Ai cũng có giới hạn chịu đựng riêng, đừng thử thách sức bền của người khác bằng sự vô tâm lặp đi lặp lại."

Phòng cấp cứu Bệnh viện huyện Kr. 2 giờ chiều. Ngoài trời nắng chói chang, gắt như đổ lửa.

Bé T. 8 tuổi được bố vác trên vai chạy xộc vào. Thằng bé ướt sũng, người mềm oặt, môi tím đen, bụng trương phình.

"Trời ơi ... trời ơi... con tôi. Con tôi mất rồi bác sĩ ơi... làm ơn cứu con tôi." - tiếng người mẹ chạy theo phía sau, gào lên đứt quãng, rồi ngã quỵ xuống nền gạch.

Bác sĩ Hoa 26 tuổi lao ra đón. Hoa mới về huyện được ba tháng sau 6 năm học ở Sài Gòn. Ở thành phố, cô quen với máy monitor, với đầy đủ trang thiết bị, với ê-kíp cáp cứu 4-5 người, có bác sĩ gây mê sẵn sàng ứng cứu. Ở đây, khoa cấp cứu chỉ có một máy sốc điện cũ, một bóng Ambu, đèn đặt nội khí quản, hai cái monitor, một máy thở nhỏ và hai điều dưỡng.

Bác sĩ Hoa quỳ xuống sàn, khám cho bé ngay trên cáng. Không thở. Không mạch cảnh. Đồng tử giãn.

"Ngưng tim do đuối nước, chuẩn bị cấp cứu ngừng tim!" - Hoa hét to, giọng lạc hẳn đi vì hồi hộp.

Y tá Nam 24 tuổi, cao to như vận động viên, cũng mới ra trường 1 năm, lập tức quỳ gối ép tim. Mồ hôi Nam túa ra ướt đẫm lưng áo. Hoa bóp bóng, mỗi lần bóp là một lần cô phải dùng hết sức hai bàn tay vì van bóng hở.

Cả phòng cấp cứu nín thở. Chỉ nghe tiếng lồng ngực bé T. chạm xuống băng ca dưới tay Nam, tiếng bóng bóp phì phà của Hoa, và tiếng người mẹ gào khóc từng đợt không ngớt.

Đúng lúc đó, một người đàn ông trung niên, mặt đỏ bừng, nồng nặc mùi rượu, chạy xộc vào. Ông ta là bác họ của bé.

Hắn nhìn cảnh hai người trẻ tuổi đang ép tim, bóp bóng cho đứa cháu thì gầm lên:
"Trời đất ơi! Tụi bây làm cái gì vậy? Sao không dốc ngược nó lên, sốc cho nó ra nước? Để nước trong bụng nó vầy sao nó sống được hả? Học hành kiểu gì vậy?"

Tất cả im lặng.
Không ai trả lời. Hoa không thể trả lời. Trong đuối nước, cái chết không phải vì nước trong bụng, mà vì nước hít vào phổi, ngạt thở, thiếu oxy não. Dốc ngược, sốc bụng chỉ mất thời gian vàng cấp cứu, làm tăng nguy cơ sặc, thêm thiếu oxy não, chết nhanh hơn. Nhưng làm sao giải thích điều đó trong những giây phút thập.tử nhất sinh khi đứa bé đang giữa làn ranh sinh tử?

Sự im lặng của ê-kíp bị người đàn ông coi là thái độ lúng túng, là ngu dốt, là coi thường.

"Mày điếc à? Tao nói không nghe hả?" - hắn hùng hổ nhào tới, toan ôm xốc đứa bé đang được ép tim lên để vác lên vai chạy vòng quanh sân bệnh viện như dân gian thường làm.

Nam bỏ ép tim một giây, dùng thân mình chắn hắn lại: "Anh ơi, bình tĩnh, để tụi em làm, bé đang ngưng thở, làm chậm bé chết luôn đó anh!"

"Bình tĩnh cái con c. " - hắn văng tục, và BỐP! Một cú đấm trúng ngay sau vai Nam. Nam hơi lảo đảo. Cú đấm không mạnh nhưng đủ làm nhịp ép tim bị gián đoạn. Monitor vẫn là một đường thẳng.

Bên ngoài, mẹ bé thấy vậy lại càng hoảng, chuyển từ khóc lóc sang chửi bới: "Bệnh viện huyện giết người... Kêu xe chuyển con tui lên tỉnh ngay cho tui... Ở đây tụi nó giữ con tui lại thực tập nè... Tui kiện! Tui kiện hết cho coi..."

Bác sĩ Hoa tự nhiên thấy tai mình ù đi.Tay cô vẫn bóp bóng nhưng nước mắt đã ứa ra. Ở Sài Gòn, khi cấp cứu, người nhà chỉ đứng ngoài cửa kính. Ở đây, người nhà đứng sát bên, có thể nắm áo, có thể tấn công nhân viên, và cô không được bảo vệ. Bảo vệ của bệnh viện lại vừa chạy lên khoa trên. Cô vừa là bác sĩ, vừa là người sẽ phải chịu đòn.

Cô, bác sĩ mới 26 tuổi, thân con gái một mình ở huyện lạ, lương chỉ 7 triệu bèo bọt, trực 3 đêm một tuần, vừa mới bị chính mẹ của đúa bé mình đang cố cứu sống chửi là "đồ giết người".

Cánh cửa phòng trực cấp cứu bật mở. Bác sĩ Trưởng khoa - bác sĩ Y Ngơn - bước ra. Ông 59 tuổi, người Ê Đê, râu tóc bạc phơ, bụng to, đi dép tổ ong. Ở huyện này, không ai không biết ông. Ông đỡ đẻ cho nửa cái huyện, ông đã khâu vết chém cho vô số những vụ say rượu nửa đêm, ông đã ở đây 32 năm, từ khi bệnh viện chỉ là cái trạm xá lợp tôn. Ông sắp về hưu.

Ông không quát tháo.
Ông chỉ đặt một tay lên vai gã đàn ông đang hung hăng, tay kia kéo nhẹ chị mẹ đang ngồi bệt dưới đất.

"Thằng K’Brăk, mày say rồi. Đây là cháu mày, để bác sĩ Hoa nó cứu. Mày đánh nó, nó gãy tay ai ép tim cho cháu mày? Mày muốn nó sống hay mày muốn nó chết?" - giọng ông từ tốn, tiếng Kinh lơ lớ nhưng dứt khoát như nhát chém.

Gã đàn ông khựng lại. Trước ông Ngơn, ai cũng nể.
Rồi ông quay sang người mẹ, ông quỳ xuống, ngang tầm mắt chị. Ông không dùng từ chuyên môn.

"Con à, con trai con uống nước no bụng rồi. Bây giờ tim nó đang ngủ vì ngạt. Bác sĩ Hoa đang thổi cho nó thở, chú Nam đang bóp cho tim nó đập lại. Nếu bây giờ mình dốc nó lên, sốc bụng, nước trong bụng nó trào lên họng, nó mà sặc là nó đi luôn, không cứu được nữa. Bình tĩnh chờ thêm 5 phút nữa đi, con sẽ thấy, nó vẫn còn cơ hội. Giờ mà lấy xe chở nó lên tỉnh, nó chết chắc. Già thề."

5 phút. Đó là một lời hứa đánh cược bằng uy tín cả đời người.
Người mẹ nức nở gật đầu. Gã bác họ cũng lùi ra góc phòng, cúi gằm, miệng vẫn lầm bầm.

Ông Ngơn không đứng ngoài. Ông chen vào, thay vị trí Nam đã mỏi nhừ tay. Ông ép tim. Nhịp ép của ông không nhanh, không màu mè, nhưng sâu, đều, và bền bỉ của người đầy kinh nghiệm. Hoa nhìn ông, như được tiếp thêm năng lượng.
"Adrenalin!" - Hoa nói.
"Có rồi!" - cô điều dưỡng đã pha sẵn.
Một phát,
Rồi hai phát.
Phút thứ 3, monitor vẫn thẳng.
Phút thứ 4, Nam đã quỳ xuống, lại tiếp tục ép tim thay ông Ngơn.
Phút thứ 5.
Một tiếng ọẹ rất nhỏ. Rồi một cái giật mình. Bé T. nôn ra một ngụm nước đục ngầu, rồi ho sặc sụa, rồi khóc ré lên - tiếng khóc tuy yếu ớt nhưng là tiếng khóc của sự sống. Monitor nhảy lên những đỉnh nhọn: 90, 110 nhịp/phút. Da bé từ tím chuyển sang hồng.
Hoa ngồi bệt xuống sàn, bóng Ambu rời khỏi tay. Cô khóc. Khóc vì tủi thân, vì lần đầu bị sỉ nhục, vì sợ hãi, vì vừa cứu sống được một đứa trẻ...

Người mẹ bò tới ôm con, rồi quay sang ôm chầm lấy chân ông Ngơn: "Con lạy bác, con lạy bác sĩ..."

Gã đàn ông khi nãy líu ríu: "Trời ơi cháu tôi sống rồi... sống rồi...xin lỗi, xin lỗi..."

Ông Ngơn đứng dậy, thở dốc, mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt già nua. Ông vỗ nhẹ vai Nam: "Đau không?"

Nam lắc đầu, cố cười: "Dạ không sao bác."

Ông quay sang Hoa, vẫn đang ngồi bệt dưới đất: "Lau mặt đi cháu, bác sĩ thành phố mà khóc coi xấu lắm."

Đó là một buổi chiều bình thường cũng như nhiều buổi trực khác ở bệnh viện tuyến dưới. Ở đây, bác sĩ không chỉ chiến đấu với tử thần để cứu người, mà còn phải chiến đấu với sự thiếu thốn cố hữu, với sự mông muội và đôi khi cả bạo lực. Thiếu máy móc, thiếu người, thiếu thuốc men, và đôi lúc thiếu cả sự tôn trọng.

Ở đây, bác sĩ không chỉ cần giỏi chuyên môn, mà còn phải giỏi chịu đựng. Chịu đựng sự nghi ngờ cố hữu của người dân: "Bệnh viện huyện thì biết gì". Chịu đựng bạo lực - cú đấm vào vai y tá Nam hôm nay không phải là cú đầu tiên, và chắc chắn không phải cú cuối cùng. Chịu đựng những lời lẽ xúc phạm đầy tổn thương. Chịu đựng những lời hăm dọa kiện cáo nếu không "chuyển viện" - chuyển viện không đúng cách chẳng khác gì một con dao hai lưỡi, vì trên con đường 60km đất đỏ lên tỉnh, biết bao đứa trẻ đã chết vì bị lắc lư, vì ngưng tim lần hai trên xe không thể cấp cứu hiệu quả.

Và ở đây, thứ giữ cho cái bệnh viện này không sụp đổ, đôi khi không phải là phác đồ của Bộ Y tế, mà là uy tín của một ông bác sĩ già sắp về hưu, người đã dùng cả đời mình để đổi lấy 5 phút niềm tin của dân làng.

Tối đó, bé T. được chuyển lên khoa Nhi nằm thở oxy. Hoa ngồi viết bệnh án, tay vẫn còn run. Ở mục "Diễn biến", cô viết: "Bệnh nhi ngưng tim, ngưng thở do đuối nước ngọt. Cấp cứu thành công sau 7 phút."

Cô không viết về cú đấm, không viết về tiếng chửi, về 5 phút xin thêm của bác Ngơn. Vì những thứ đó, không có trong bệnh án. Nhưng nó sẽ đọng mãi trong lòng mỗi nhân viên y tế tuyến dưới, như một vết sẹo không bao giờ lành.

Thi Anh

NHỮNG CON TRÙN ĐẤT XỨ NGƯỜI

Vợ chồng Kim cùng anh Minh vượt biên và được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ chấp nhận cho gia đình ba người này định cư ở Buffalo, một thành phố nhỏ của Mỹ nằm sát Canada, mà biên giới hòa bình giữa hai nước là cái thác Niagara Falls, một trong những kỳ quan nổi tiếng nhất thế giới.

Lúc ấy vào giữa tháng Ba năm 1986, trong lúc Khoa, chồng của Kim, đang lạch cạch chùm chìa khoá nhận căn nhà đầu tiên ở Mỹ, thì vợ chồng người Việt Nam hàng xóm sát bên nhà đã qua chào hỏi gia đình Kim thật niềm nở. Anh chồng cao lớn, nước da trắng hồng với cặp mắt kính cận dày cui, trạc chừng bốn mươi tuổi. Còn chị vợ tươi tắn và thật hoạt bát. Vui mừng và hạnh phúc biết là bao khi nhận được sự giúp đỡ tận tình của anh chị này vào những ngày đầu tiên ngơ ngác đặt chân lên một xứ sở đầy xa lạ, được xếp hạng văn minh nhất nhì trên thế giới. Chỉ độ năm ngày thôi, gia đình Kim đã được chở đi mua sắm, giải thích, chỉ dẫn rất nhiều. Sau khi biết Kim đang có thai đầu lòng ba tháng, thật cảm động, chị vợ đi gom góp đồ dùng và quần áo em bé ở đâu về đầy nhà cho Kim! Anh chị này thật tốt, đúng y hệt như cái tên: anh Đức, chị Hạnh!

Anh chị Đức Hạnh mời gia đình Kim qua dùng cơm chiều vài ngày sau đó. Vừa bước vào phòng khách, Khoa, (chồng của Kim) và anh Minh, (anh của Khoa) vô cùng mừng rỡ khi thấy anh chị ấy có một cây piano cũ để ở góc nhà. Gần cả năm trời ở trại tị nạn không có đàn để đánh, nên cả hai anh em giành nhau ngồi vào cái ghế piano, đánh say mê hết bài này tới bài khác trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên lẫn thích thú của gia đình anh chị. Lúc ấy, anh Đức và chị Hạnh mới biết hai anh em của Minh và Khoa là nhạc si. Chị Hạnh quay sang nhìn Kim, trợn mắt hỏi:
--- Còn em nữa? Chắc em cũng là... ca si hả?

Khoa cười giòn tan, và đỡ lời vợ:
--- Gia đình của em họ... “Si” cả chị Hạnh ạ! Chị có việc gì cho chúng em đi làm ngay không?

Chị Hạnh chớp-chớp con mắt có vẻ lúng túng. Chị ngần ngại liếc nhìn chồng như dò ý, rồi quay qua hỏi Khoa và anh Minh:
--- Hai anh có muốn đi làm kiếm tiền liền thiệt hông? Hôm nay anh chị cố ý mời qua ăn cơm để nói "chiện" này đây! Nhưng, cha ơi! Chị đâu biết tụi em là nhạc si ở Sài-Gòn đâu?!

Quay sang nhìn chồng, một thoáng ngần ngừ, chị nói tiếp:
--- Bi giờ, không biết cái nghề này có hạp "dzới" tụi em hay không đây nữa... Chị định giới thiệu cho tụi em đi... BẮT TRÙN!

Cả ba Minh, Khoa, và Kim cùng trợn mắt lên nhìn chị. Thật là thích thú lẫn ngạc nhiên khi nghe chị giải thích cái nghề lạ lùng này. Chị nói:

- Mùa Xuân là mùa làm giàu của người Việt sống ở thành phố này đó! Nếu mấy em chịu khó đi bắt trùn, chỉ cần một mùa Xuân thôi là có thể mua được ngay một căn nhà đó à nghen! Hầu như những người Việt "dzừa" đến đây đều làm qua kí nghề bắt trùn này hết á! Gia đình em có ba người lớn, Kim đang có bầu thì ở nhà cơm nước, còn Minh và Khoa đi bắt trùn vài đêm một tuần thôi, cũng kiếm tiền hơn cả lương kỹ sư đó à nghen...

Rồi chị cao giọng lên, khoát khoát cái tay trong không khí:
--- Chèn ơi... Dễ lắm mà! Chỉ lượm mí con trùn ở dưới đất rùi bỏ dô lon, rùi đem bán lấy tiền xài thôi mà...

Và chị đãi giọng dài ra:
--- Chờ..ời ơi! Đi... lư..ượm.. tiền đó mà..à...!

Thế là ông anh chồng và chồng của Kim hí hởn nhận lời ngay tức khắc, nôn nóng chờ vài hôm sau "đi lượm tiền" mà không một chút nào lo âu. 

Trong khi Kim đực mặt ra lo lắng, ưu tư, vui buồn lẫn lộn…
Kim rất sợ rắn, mà Kim cũng sợ con trùn không thua gì con rắn. Trùn ở xứ Mỹ chắc được hít thở không khí tự do, ăn bơ sửa trứng gà hay sao mà chúng to béo đến thế?! Chúng dài và to gần bằng chiếc đủa ăn cơm, người chúng "mũm mĩm" căng phồng màu nâu hồng, trông thật kinh khiếp! Kim tự hỏi, làm sao đi bắt trùn được khi nhìn thấy chúng gớm ghiếc như thế?

Chị Hạnh mua vải thưa có lỗ như vải lưới mùng, rồi cắt may thành những cái bao như bao cát thời chiến tranh, nhưng nhỏ hơn một chút, miệng bao có đính dây. Khi thùng thiếc đầy trùn rồi thì đổ vào bao và buộc lại. Con trùn ở trong bao vẫn sống được nhờ những lổ thông hơi này. Chị may cho hai đấng mày râu độ hai chục cái bao, rồi chị bảo:
--- Mấy ngày đầu có bắt dở, chắc cũng phải được năm ba bao trùn một người chứ hén?! Rồi sau vài lần, bắt lên đến vài chục bao dể dàng thôi!

Kim tính thầm, một bao trùn bán độ trên dưới $20. Nếu hai "ông tướng" này bắt được trung bình mười bao mỗi ông, và mỗi tuần đi ba lần thôi, thì gia đình Kim sẽ có khoảng $1,000 dư dả cho một tuần. Nhà lúc ấy chỉ cần có $50,000 là mua được một căn nhà đẹp lắm... Mà chỉ cần đặt cọc 10% thôi cũng mua được nhà rồi... Đầu tiên, Khoa và anh Minh chắc chắn sẽ mua ngay một chiếc xe hơi cũ cho ba anh em đi học đi làm, để không phải đứng đón xe bus lạnh rét như cắt da cắt thịt vào những ngày Đông giá buốt. Khoa và anh Minh sẽ mua ngay một cây piano, cũ thôi, cũng đủ vui lắm rồi! Khoa và anh Minh cũng sẽ mua đồ đạc cho em bé, cho Kim, cho căn nhà trống lốc này, có thể nhắm mắt múa may, quay cuồng trong nhà cũng không đụng cái gì cả...

Nhưng, Kim chợt thót cả tim, bàng hoàng nhớ lại khuôn mặt thân yêu của bao nhiêu người ở VN đang khốn khổ...

Kim bồi hồi nhớ lại khuôn mặt đầy mồ hôi nhễ nhãi dưới vành nón lá của mẹ. Mỗi sáng sớm, mẹ phải chất bánh mì ngọt mà Kim đã thức trắng đêm để nhồi bột và nướng bánh, rồi chở đi giao làm nhiều chuyến khắp Saigon bằng chiếc xe đạp lọc cọc mà rớt nước mắt. Từ một bà Quận trưởng, mẹ của Kim đã biến thành một bà bán bánh mì da sạm nắng, áo quần bỗng rộng lùng bùng ra như bơi trong ấy sau cái ngày ba đi học cải tạo, nhà bị tịch biên, tiền bạc bị kẹt cả trong ngân hàng. Không ngờ, quyển sách dạy làm bánh Pháp mà ông cậu khi đi tu nghiệp ở Paris mua về làm quà tặng Kim lại nuôi sống gia đình những năm tháng "đổi đời" này.

Kim phải thức trắng đêm để vừa nhồi bột bằng tay, vừa nướng bánh. Cực khổ và nhục nhằn đủ cả, mà vẫn không có tiền dư ra để lo cho Kim đi vượt biên, mẹ phải bán hết những gì có thể bán, cũng chưa có đến nữa cây vàng! Rồi mẹ đánh liều, chạy đi mượn vàng của các bác khi xưa là nhân viên của ba. Các bác ấy thật là tốt, cho mượn vàng mà không hề ăn lời hay đòi hỏi khi nào phải trả cả. Ơn nghĩa này, Kim sẽ không bao giờ quên được. Khi có tiền, Kim sẽ gửi ngay về cho mẹ để mẹ gửi trả lại các bác thật đáng quý này...

Kim cũng thật xót xa, đau buốt cả hồn khi nhớ lại gương mặt đẹp mỹ miều của Phương, cô bạn học hoa khôi một thời của trường Gia Long. Cuộc đời Phương là những bất hạnh gắn chặt với tai ương, khốn khổ một cách lạ lùng. Phương là chị cả của năm đứa em nhỏ. Ba của Phương là Thiếu tá Truyền Tin Phủ... Tổng Thống, đã ở lại làm việc cho đến giây phút cuối cùng mà chế độ Cộng Hòa bị sụp đổ ngày 30/04/1975. Khi ông vào tù cải tạo ngoài Bắc, vợ của ông phải bươn chải đi làm ruộng rẩy bên kia sông Sài Gòn cùng với ba đứa con nhỏ. Một hôm, gió to nổi lên, chiếc ghe bị bể, rồi chìm từ từ giữa con sông lớn. Khi mọi người trên ghe nhốn nháo hoảng loạn, má của Phương chỉ ngồi nghẹn ngào dặn dò và trăn trối với thằng con trai mười bốn tuổi:
-- Con đừng lo cho má! Con gắng cứu hai em của con thôi.. Cố gắng lo cho ba và các em, gắng làm người tốt, gắng học hành…

Hai đứa em gái của Phương đứa mười tuổi, đứa tám tuổi, đã bám chặt cứng lấy tay anh của mình. Sông quá lớn và sâu, mà thằng bé thì chỉ biết lội sơ sài thôi... Khi người ta cứu nó vào bờ, nó đã khóc rống lên thật thảm thiết, tay chân chòi đạp vùng vẫy, rồi tự đấm vào ngực nó ình-ình vì chính nó đã... hất tay hai đứa em gái của nó ra…

Thi thể hai em gái của Phương được kéo lên bờ ngay hôm ấy. Nhưng, đến ba ngày sau đó mới tìm thấy thi thể mẹ của Phương. Mớ tóc dài của mẹ Phương rối nùi, quấn chặt vào một chân cầu cách nơi xảy ra tai nạn khoảng ba cây số..

Vào lúc ấy, Phương đang đi theo người hàng xóm học cách mua bán gạo lậu ở miền Tây để mong phụ được má của mình nuôi năm đứa em thơ và ba trong trại cải tạo. Phương lúc ấy cũng như Kim, chưa tới mười tám, như đóa hoa vừa hé nụ hàm tiếu, còn rất ngây thơ lẫn ngờ nghệch, Phương đã bị bọn lơ xe cùng lũ tài xế cưỡng hiếp trên đường đi buôn! Bão táp vẫn tới tấp trên đầu Phương: Phương...có thai! Cái thai vừa mới tượng hình, thì ba cái quan tài to, nhỏ nằm sát bên nhau ở ngoài sân nhà…

Người tài xế “lính kiểng” cho ba của Phương, đã cứu vớt cuộc đời của Phương bằng cách cưới Phương và nhận cái thai ấy là của mình. Anh Tâm lớn hơn Phương một con giáp, là người Tàu lai Việt. Anh chỉ bị đi tù cải tạo một năm thôi là được thả ra. Nhưng ba của Phương thì đi "học" vĩnh viễn không có ngày về! Ông đã chết vì đói, chết ngay trên luống khoai mình trồng…

Phương được anh Tâm thương yêu hết mực. Anh săn sóc các em cùng đứa con trai của Phương tận tình. Anh mua bán thuốc tây, bỏ mối khắp các tỉnh. Chỉ trong vòng một năm thôi, anh đã mua xe hơi để việc mua bán, giao hàng dễ dàng hơn. Tất cả mọi việc trong ngoài đều được anh lo toan chu đáo, Phương hầu như không biết gì cả. Cuối tuần, anh chở Phương và cả nhà đi chơi, đi ăn uống thật vui vẻ.

Những tưởng Phương được đền bù một cuộc sống sung sướng và hạnh phúc sau chuổi ngày lao đao khốn khổ, nào ngờ đâu… Nhưng bọn công an phường khóm đã ập vào nhà vợ chồng Phương. Như những con chó hoang đói khát, chúng lục soát nhà Phương lấy hết tiền mặt, thuốc tây và lấy đi luôn chiếc xe hơi của anh Tâm. Anh té quỵ vì uất ức, rồi toàn thân bị bại liệt từ đó. Nước mắt anh lăn dài trên gò má, chảy xuống cuộc đời trầm luân của Phương...

Những gì còn có thể bán được trong nhà, Phương đã cố gắng bán đi để sinh sống và chửa trị cho anh Tâm. Rồi chỉ độ chừng nửa năm, Phương đã phải ngượng ngập thoa son trét phấn đêm đêm bán thân bán sắc để cố gắng nuôi ba đứa em không cha không mẹ, cố gắng chữa trị cho người chồng kính yêu…

Thế mà đã dứt tai ương đâu? Khi đang ở trại tị nạn, Kim lại nghe tin Phương bị... ung thư... Phương ơi! Thương mi quá! Đường đời có bao nhiêu gian truân đày ải đều bủa vây mi. Phương ơi! Hãy mạnh mẽ lên nhá, khi tao có tiền rồi, tao nhất định sẽ gửi về ngay tức khắc cho gia đình mi..

Tưởng tượng ngày mẹ và Phương nhận tiền mình gửi, Kim thấy hạnh phúc sung sướng ngập tràn cả hồn. Kim quên hẳn giấc mộng mua nhà, mua xe hơi, mua piano của mình...

*
Hai đấng mày râu vui lắm, bàn tán lăng xăng, ngậm thuốc lá phì phèo, chộn rộn đi ra rồi... đi vào! Anh chị Đức mua tất cả "đồ nghề" giùm cho Khoa và anh Minh! Đồ nghề của mỗi người muốn đi bắt trùn phải có là:
- Áo quần chịu được lạnh và mưa gió từ khoảng 40 cho đến 60 độ F (Khoảng 5 đến 15 độ C).
- Giày bốt cao su không thấm nước.
- Hai cái thùng thiếc tròn, cao độ hai tấc, đường kính độ 16 cm. Mỗi cái thùng này sẽ có hai sợi dây thun to bản ràng chặt vào hai bên chân phía dưới đầu gối. Một bên thì để đựng trùn, còn một bên thì đựng mạt cưa nhuyễn như cám.
- Một đèn pin mang trên trán mà ta thấy các bác sĩ tai mũi họng hay đeo trước trán, với cục pin vuông to tướng đút vào trong túi áo lòng thòng sợi dây nối với cái đèn.

Hai đấng mày râu mặc thử vào, người này...trầm trồ người kia! Còn Kim, đã dấy lên xót xa rồi, sao cái nghề kiếm tiền gì mà phải ăn mặc quá là cồng kềnh, dị hợm thế kia? Hai đấng mày râu này chưa bao giờ biết rửa chén, quét nhà, không biết có làm ra trò trống gì đây không?!

Khoa và Minh được anh Đức giới thiệu với anh Ba, người chủ xe van chuyên chở dân VN đi bắt trùn. Có khoảng mười người VN trên xe. Mỗi người phải trả cho anh tiền chuyên chở mỗi đêm là $5. Và khi bán trùn, mỗi thùng trùn cũng phải trả 50 cents cho anh. Hẹn nhau khoảng 8 giờ tối, vì đêm khuya thanh vắng trùn mới ra. Đặc biệt, trùn rất thích ngày có trăng, (Chúng nó cũng romantic quá đi chứ!).

Anh Ba chở mọi người đến một cái farm nuôi bò cách thị trấn độ 40 phút lái xe. Người Mỹ chủ farm thật tốt, cho phép đám dân VN khốn khổ này lếch thếch vào farm của ông bắt trùng mỗi ngày mà không hề đòi hỏi cái gì cả. Anh Ba bảo, cứ mỗi dịp lể lộc như Noel, anh biếu ông Mỹ này một chai rượu Hennessy đắt tiền ( Cho thấy anh là người không thiếu tiền lẫn tình...).

Mọi người xuống xe chia ra nhiều hướng, bắt đầu im lặng "làm việc". Anh Ba hướng dẫn hai anh em Minh Khoa tư thế bắt trùn. Anh lom khom như người đi cấy mạ, rồi dùng năm ngón tay mà kẹp bốn con trùn, nhẹ nhàng, kheo-khéo rút trùn ra khỏi mặt đất. Bắt hai bàn tay cùng một lúc là được tám con trùn, rồi thả vào lon thiếc bên phải. Xong, anh nhúng cả mười ngón tay vào lon mạc cưa bên trái để khi bắt trùn không bị trơn trợt! Anh đi chỉ độ 20' thôi là trùn đã đầy thùng, rồi anh đổ lon trùn đã đầy này vào cái bao lưới mà anh nhét sẵn trong túi áo. Cứ đầy thùng thiếc này là có khoảng bốn trăm con trùn, anh buộc dây chặt lại, để vào một góc riêng biệt nào đó mà anh phải nhớ để cuối ngày lấy về. Anh bảo, có nhiều khi anh "say mê" bắt trùn quá, anh đã không nhớ ra anh để bao trùn ở đâu vì farm quá lớn. Thế là công cốc! Anh cũng dạy khi kéo con trùn lên, phải kéo theo cái chiều con trùn nằm. Nếu kéo ngược chiều là con trùn sẽ bị đứt và chết. Con trùn chết mà nằm chung với con trùn sống, sẽ lây các con trùn khác chết theo... Chủ trùn sẽ không chịu mua, và sẽ kiểm "hàng" gắt hơn vào những lần sau...

Ông anh chồng không nghiện thuốc, nhưng trước khi "xuống" tay, anh xin thằng em nghiện ngập một điếu để lấy can đảm. Hai anh em vừa đứng phì phà khói thuốc, vừa ngắm nghía bóng tối chung quanh... Hai "sĩ " chỉ quen sống ở SG thật ồn ào náo nhiệt, chưa bao giờ được chiêm ngưỡng cảnh ban đêm thanh vắng với tiếng côn trùng rĩ rã, cóc nhái kêu ảo não trong tiết trời giá rét như thế này. Vài ánh sáng đèn pin xa xa mờ ão càng buồn và càng nhớ nhà vô cùng. Ủa! Mà các con trùn đã biến đâu cả rồi?! Hai ông nói chuyện rân trời, đi xẹt-xẹt tới đâu là trùn thụt nhanh xuống đất tới đó! Thỉnh thoảng, Minh cũng cố chụp được một con, giựt nó ra khỏi lòng đất. Nó quẫy người vùng vẫy kịch liệt trên tay Minh... Khủng khiếp quá! Dễ sợ quá! Minh thả ngay con trùn xuống đất, rắc-rắc cái tay lia-lịa như thể con trùn vẫn còn bám tay anh…

Khoa cười ha hả khoái chí, rồi bảo ông anh chết nhát xem mình bắt trùn đây. Khoa đi nhè nhẹ đến một gia đình trùn đang ưỡn ẹo, rồi thật nhanh, các ngón tay của người "sĩ " này thô bạo tóm gọn đầu gia đình họ trùn, nắm chặt và giật mạnh lên. Hỡi ôi! Các con trùn đứt ngang người, kêu "chít" thật nhỏ nhưng đầy thảm thiết, rồi dùng tàn lực để giãy giụa, và yếu dần, yếu dần…

Chưa hết, đang đi, bỗng thấy mấy đống... phân bò to tướng, anh Minh la toáng lên để thằng em trai mình kịp thời mà tránh....
--- Ê! Ê! Coi chừng! "Kít" bò! "Kít" bò kìa…

Thế là các con trùn lặn ngụp trốn ngay xuống lòng đất, không để lại một vết tích gì cả!

Mới có vài cái lom khom thôi mà hai ông tướng đã đau lưng và đói bụng quá... Mặc kệ sự đời chung quanh, Anh Minh và Khoa cởi bỏ hết "đồ nghề", lôi bánh mì mà Kim đã nhét trong túi áo của mỗi ông, ăn ngấu nghiến ngon lành. Xong rồi lẹt xẹt đi ra xe lấy bánh kẹo và nước uống Kim để trong một cái giỏ, nhâm nhi tiếp! Khoa rút thuốc lá ra châm, cả anh Minh nữa, hết điếu này đến điếu khác, ngồi phì phèo, thở vắn, than dài...

Gần sáng, mọi người lục tục kéo nhau về, ai cũng xách bao bị lủ khủ, ai cũng mỏi mệt, bơ phờ, giày bốt dính đầy sình đất, đầy phân ngựa, phân bò! Nhưng ai cũng vui vẻ khoe hôm nay được "mùa", bắt được nhiều cặp trùn đôi đang "ôm nhau", nên mau đầy thùng. Mọi người vui vẻ quay qua hai ông tướng hỏi thăm, rồi sững sờ nhìn vào cái thùng thiếc chỉ có... vài chục con trùn đang ngo-ngoe trong ấy. Tội nghiệp hai ông "sĩ " này quá, mỗi người bèn bốc cho mỗi "sĩ " vài nắm trùn để được đầy thùng mà bỏ vào bao, rồi cũng buộc lại, đi bán như ai!

Khi về đến nhà, Minh và Khoa thật dơ bẩn, hôi thối, người rũ rượi, ngượng nghịu không nói gì cả với Kim, giành nhau cái nhà tắm, rồi lăn đùng chết khò-khò trên giường, mặc cho Kim đi chà giày, giặt giũ, lau nhà, chùi rửa cái phòng tắm thối rình, thối um! Đến khi hai ông vừa thức dậy thì lại nghe anh Ba tài xế phone hỏi "có đi nữa không?"... Nhìn nét mặt buồn thảm của Kim tội nghiệp quá, Minh và Khoa lại quyết định ráng đi thử thêm lần nữa xem sao!

Đêm thứ nhì còn tệ hơn cả đêm đầu! Hai ông tướng đã chọc giận các người đi chung! Anh Minh kể, anh... buồn quá, đến gần mọi người để... nói chuyện phiếm! Có một người đàn bà nói giọng Trung nặng chịch, đã "van xin" hai anh hãy... tránh xa chị ta!

Khi kể lại chuyện này, anh Minh nhại lại giọng chị ấy:
--- "En làm eng đừng đến gèn tui! En lẹt xẹt đến gèn tui, cặch con trùn của tui lẹn xuống đét hết! Tui mèng reng cúm tiền nuôi con tui mô tề?!"
(Em làm ơn đừng đến gần tui! Em lẹt xẹt đến gần tui, các con trùn của tui lặn xuống đất hết! Tui mần răng kiếm tiền nuôi con tui mô tề?!)

Chỉ đi có hai lần thôi, tính tiền ra, Khoa và anh Minh chưa kiếm đủ tiền vốn đèn đuốc đã nhờ anh chị Đức mua giùm! Chuyện hai ông... "sĩ " mới đến định cư và đi bắt trùn này lan rộng trong giới VN ở thành phố Buffalo thật nhanh. Bao nhiêu mơ ước của Kim tan vỡ. Biết làm sao bây giờ? Kim không trách anh Minh và Khoa được, vì hai ông đã là công tử trong gia đình chồng từ xưa đến giờ rồi. Kim quặn thắt cả lòng khi nghĩ đến món nợ hai cây vàng mà mẹ phải gánh cho Kim. Kim đi rồi, đâu còn ai nhồi bột nướng bánh cho mẹ đi bán đây? Làm sao có tiền thăm nuôi ba trong trại học tập?

Thật thương cho Phương, chắc đang chịu không biết bao nhiêu là nhục nhã, khốn khổ để có tiền lo cho lũ em mồ côi và người chồng bệnh hoạn..

*
Gia đình chị Nga ở gần nhà Kim có bốn đứa con gái. Qua đến xứ Mỹ rồi mà vẫn không chưng diện, không son phấn như đa số các người con gái khác. Cả nhà đều ốm trơ da đầu, lại xanh mét, giống y hệt như dân hút xì-ke… Năm mẹ con của chị nổi tiếng là kiện tướng bắt trùn ở thành phố Buffalo này. Mỗi đêm đi bắt trùn, mỗi thành viên nhà chị bắt trên 30 thùng trùn. Đứa Út chỉ mười hai tuổi thôi lại "lượm tiền" nhanh nhất nhà. Tội nghiệp các con gái của chị Nga hết sức, chúng nó tự nguyện đi bắt trùn phụ mẹ lúc 11 giờ đêm, rồi khoảng 3 giờ sáng mới về ngũ vài giờ để đi học. Chị Nga chở chúng về trước rồi chị mới chở trùn đi bán sau.

Kim suy nghĩ trắng đêm sau khi đến thăm gia đình chị Nga về. Nỗi sợ hãi thầm kín trong lòng của Kim không sao lấp được những khoắc-khoải của mình. Kim thử các động tác bắt trùn và thấy không khó khăn gì lắm. Kim quyết định táo bạo: mình sẽ đi "lượm tiền" trước khi cái thai lớn lên! Trước hết, phải làm sao thuyết phục Khoa đồng ý cho Kim được đi bắt trùn trước đã! Kim bèn ngồi chồm hổm lau nhà trước mặt Khoa, cố tình cho Khoa thấy mình rất “bình thường”. Và thật vui, sau khi thỏ thẻ, thuyết phục với Khoa rằng Kim muốn thử đi bắt trùn một lần, Khoa đã đồng ý cho Kim đi thử lần đầu.

Thế là Kim hồi hộp bước lên xe của anh Ba để bắt đầu đi “lượm tiền”. Suốt quảng đường, Kim tập trung ý nghĩ: một con trùn là 5 cents. Năm ngón tay sẽ “lượm” được 20 cents. Mình đi “lượm tiền”, mình cần phải “lượm” nhiều tiền để cho mẹ, cho Phương ngay bây giờ. Khi sanh xong em bé thì sẽ không có cơ hội đi được nữa vì phải đi học, cơm nước, con cái...

Anh tài xế không cần mất thì giờ chỉ dẫn Kim nhiều vì Kim đã "nghiên cứu" trước rồi. Kim vừa xuống xe là đã nhanh nhẹn "nhặt tiền" ngay như dân chuyên nghiệp. Các con trùn ngoan ngoãn theo Kim về nhà mới. Kim chợt nghiệm ra, Kim phải thảy ngay con trùn vào thùng thiếc. Phải thật nhanh tay để con trùn không kịp giãy giụa trên tay Kim, sẽ làm Kim sợ hãi. Thế mà, đã bao phen Kim thét lên, bũn rũn cả người vì chúng nó vùng vẫy, hay vì lỡ tay giật đứt con trùn làm đôi. Phân nữa người của nó quẫy thật kịch liệt trên tay Kim, tiết ra một chất như... máu của chúng.. Thỉnh thoảng, Kim cũng gặp hai con trùn đang "ôm nhau". Kim nhíu nó ra khỏi mặt đất, chúng vẫn quyện với nhau. Chúng nó trơn trợt hơn những con trùn bình thường. Và đặc biệt là chúng nó không vùng vẫy gì cả. Kim bỗng thấy sao mình quá tàn nhẫn, đang phá vở hạnh phúc của chúng nó...

Kim đổi tư thế "làm việc" liên tục, hết đứng lom khom rồi lại ngồi chồm hổm. Hai cái chân có hai cái thùng thiếc quả là vướng víu. Càng về khuya, Kim càng mõi mệt, nước mũi chảy ròng ròng vì lạnh. Cái đầu gối của Kim bắt đầu ướt nhẹp và thật bẩn vì Kim chịu không nổi nữa, Kim bắt đầu bò lê lết. Kim bò lên tất cả những gì dơ dáy nhất ở cái farm bò này, mắt Kim mở thật to, tập trung vào những chỗ nào có nhiều "tiền" nhất đang nhúc nhích, ưỡn ẹo... Chung quanh thật yên lặng. Bóng tối bao trùm, chỉ chừa đúng khoảng đất ngay trước mặt của Kim được chiếu sáng nhờ cái đèn pin.

Bỗng dưng, linh tính Kim cho biết hình như có ai đó đang đứng rình rập sau lưng. Tiếng thở phì phò nho nhỏ.. rồi lớn dần, chứng tỏ người ấy đang tiến đến gần Kim lắm! Tim đập thình-thịch, cố gắng lấy hết can đảm, Kim từ từ quay đầu lại... Ôi trời đất ơi! Con mắt ma thật to và sáng rực trong đêm tối đang quắc mắt nhìn Kim chăm bẳm. Kim thét lên một tiếng hải hùng, rồi ôm bụng bầu cắm đầu cắm cổ chạy thụt mạng... Kim cố chạy nhanh về hướng có ánh sáng đèn pin của một người bắt trùn nào đó. Kim vừa thở hổn hển, vừa đứt quảng giọng kể cho chị ta nghe mình đã thấy ma! Chị ta cười ngất, bảo Kim rằng đó là mắt của... con ngựa! Kim đã đến gần nơi con ngựa đang đứng đó thôi!

Tim Kim vẫn còn đập bình-bình. Kim tiếc cái thùng trùn quá, vì chạy thụt mạng mà trùn đã đỗ ra cả rồi. Kim cố lấy lại bình tĩnh, ôm và xoa-xoa cái bụng tự an ủi mình, lắng nghe đứa con trong bụng của mình có bị gì khác lạ không, rồi lại quỳ xuống bò lê lết để "nhặt tiền" tiếp. Kim lầm lũi trong đêm khuya. Kim nhớ lại hình ảnh của mẹ khóc ngất ngày người ta đến lấy nhà, hình ảnh của con Phương đang bị công an đuổi bắt, đang kiếm tiền nhục nhã trên đường phố... Bỗng dưng Kim hết cả đau lưng và mõi mệt. Thoăn thoắt tay nhặt trùn, miệng Kim đếm lẩm nhẩm như tụng kinh: này 20, 40 xu, này 20, 40 xu…

Khoảng hơn 4 giờ sáng, mọi người rã rời ra xe để chuẩn bị về. Kim đi gom lại các bao trùn. Kim có bảy bao tất cả. Mọi người khen Kim giỏi và khuyến khích Kim rất nhiều. Kim phờ phạc theo họ đi bán trùn. Những con trùn này được bán cho dân câu cá mua về làm mồi. Cả người của Kim kiệt quệ thảm thương. Kim về nhà tắm rửa, kỳ cọ, giặt giũ cả tiếng đồng hồ rồi mới rón rén lên giường, cố gắng tươi cười, đóng kịch với Khoa rằng mình rất…”bình thường” để ngày mai được đi bắt trùn tiếp tục...

Thế là những con trùn cứ theo Kim những hôm sau. Chúng vươn cái thân người lên để hít thở không khí tự do trong lành, không biết tai họa đang rình rập. Những con trùn cũng theo Kim từ ở farm về tận nhà, về trong từng giấc ngủ, từng đêm khuya. Hể nhắm mắt lại ngủ là những con trùn màu nâu đỏ cứ xuất hiện lúc nhúc trong con mắt của Kim. Chúng bò lổn-ngổn thật kinh khiếp ngay màng đen con mắt, nhất định không tha Kim vì Kim đã kết liễu cuộc sống của chúng... Kim không dám nhắm mắt ngủ nên bị mất ngủ thật trầm trọng. Kim không biết phải làm sao để những con trùn đó đừng hiện về trong màng con mắt nữa, người Kim hốc hác và cặp mắt to sâu lại càng to hơn, hun-hút hơn... Khi đi bác sỹ, bác sỹ bảo vì Kim quá tập trung nhìn vào những con trùn nên mới bị như thế.

Kim đành bỏ hẳn không đi bắt trùn nữa sau khi gắng đi trọn mùa trùn năm ấy. Dù đã bỏ không đi bắt trùn nữa, mà những con trùn trong màng con mắt vẫn theo Kim cho đến vài tháng sau. Những lần cuối, Kim bắt nhanh gấp đôi. Rồi Kim gửi tiền về ngay cho mẹ, cho Phương.. Đêm mà Phương lần đầu tiên nhận tiền Kim gửi, hởi ôi.. cũng là đêm cuối cùng Phương còn hơi thở ở cõi trần, miệng nở nụ cười thật sung sướng vì sờ được, nắm được những tờ đô la Mỹ đầy quyền lực trong tay, như nhận một tia sáng hy vọng cho mạng sống treo mành.....

Kim tới thăm chị Nga sau đó vài năm, thật ngạc nhiên khi thấy gia đình của chị đã thay đổi khác hẳn. Bốn đứa con gái của chị bấy giờ mới ăn mặc tươm tất, trang nhã và xinh xắn. Một đứa đã tốt nghiệp đại học, nhưng đang tiếp tục học lên lấy M.D. Một đứa đang hành nghề Dược sĩ, có tiệm thuốc tây rất lớn. Còn hai cháu nhỏ vẫn đang học đại học và trung học. Chồng của chị cũng đã được bảo lãnh sang sum họp sau khi ra khỏi tù Cộng Sản. Chị nói:

-- Em biết không, chị cũng kiếm tiền được lắm đó chứ! Nhưng gia đình ở bên VN nghèo khổ quá, chị gửi tiền về cho ba má chị cất lại cái nhà ở mé sông gần sụm bà chè! Chị cũng cơi lầu cái nhà của cô em chồng, đã thay chị nuôi anh cực khổ bao nhiêu năm trong tù. Còn thằng em trai là thương phế binh, chị phải nuôi nó mổi tháng vài trăm đô. Chị bèn gửi về cho nó liền tù tì $20,000 để vợ chồng nó mua bán máy đuôi tôm, mà nào ngờ tụi nó thành công quá. Mấy đứa con của nó cũng muốn nối gót. Chị lại gửi tiếp thêm cho tụi nó có vốn mà làm ăn, chứ con của lính nguỵ mà em, có học giỏi cách mấy cũng bị đánh rớt ngay từ khi mới điền đơn dự thi, sao ngóc đầu lên nỗi với đám Cộng Sản? Rồi chị phải nuôi các cháu ở đây ăn học… Cái xứ Mỹ này, ăn ngày có nắm gạo thôi mà cũng hồng hào tròn quay... Chị chỉ tốn tiền để đầu tư cho con của chị được học hành thành đạt, không tủi hổ là người Việt Nam nơi xứ người là anh chị vui lắm rồi…

Cặp mắt của chị bỗng đỏ hoe:
--Nhờ mấy con trùn Mỹ này mà gia đình của chị mới thoát cơn bĩ cực, mới tạo dựng được tương lai cho gia đình ở VN và gia đình ở tại đây đó em.

Chị quẹt nước mắt, nói tiếp:
-- Hừm! Nhiều khi ngồi tự hỏi, nếu không đến được đất nước này, thì đại gia đình của chị sẽ sống ra sao ở VN hả em? Làm sao có được ngày hôm nay đây hả em?!

*
Trời lại vào Xuân hôm nay. Kim xới đất tơi lên nhè nhẹ vì sợ những con trùn lại bị đứt ngang người. Gia đình của Kim vẫn thường khoe với mọi người tánh mạnh mẽ của Kim thể hiện qua việc đi bắt trùn khi xưa. Đâu ai biết rằng, sau cái bề ngoài mạnh mẽ ấy, chỉ là một trái tim nhỏ bé của một phụ nữ Việt Nam yếu ớt, nhạy cảm. Cho đến bây giờ, mỗi lần nhìn thấy những con trùn đất, Kim vẫn giật thót mình, vẫn sợ điếng cả người, rồi cố nén nỗi niềm xuống tận sâu thẳm của đáy lòng.

Ôi! Thương thay những con trùn đất xứ người..

Kim Chi


Blog Archive