Monday, May 25, 2026

Hoa Sứ Trắng












Vũ Thị Thanh Mai, ảnh Trần Vũ chụp 2015

LTS: “Hoa Sứ Trắng” của Vũ Thị Thanh Mai mở ra từ một khu vườn nhỏ, dẫn người đọc đi qua những tầng ký ức, những vỡ lẽ âm thầm của một đời người. Ở đó có bóng gia đình, có khói hương, có những lần tin rồi nghi, mất rồi hiểu. Tản văn không tìm cách giải thích, chỉ đặt xuống những câu hỏi cũ: về vô thường, về niềm tin, về chỗ nương tựa sau cùng. Văn nhẹ, trong, buồn vừa đủ—như hương sứ thoảng qua, mong manh mà ở lại lâu.

***
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sàigòn. Mùa hạ là những chuyện tình không viết ra của hai vợ chồng trên những bãi biển cát nóng sóng gầm. Mùa thu, các anh chị em tôi gọi là mùa gặt hái vì chừng tháng mười một các cây nhãn hạt tiêu, hồng giòn và ổi xá lị chín nặng trĩu cành; và giữa phòng khách trưng một quả bí rợ khổng lồ từ Halloween chễm trệ đến hết Thanksgiving. Mùa đông Cali khi mưa khi lạnh, cây không cần tưới nhiều, biển âm u. Bù lại là liên tục lễ tiệc, từ Tạ Ơn sang Giáng Sinh, đến Tết Tây, rồi Tết Ta. 

Cứ như vậy bốn mùa xoay vần, với tốc độ tăng dần, mỗi năm mỗi nhanh hơn. Chúng tôi miệt mài chạy theo thời gian, khi cảm thấy đuối sức mới nhận thức tuổi trẻ đã qua tự bao giờ. Viễn tượng của hưu trí là một cuối đường sẽ hẹp dần, không gian sẽ thu nhỏ lại cho đến khi mọi vật vốn mang bản chất phù du trở thành cát bụi. Làm sao đối diện với sự hữu hạn của đời người để được bình yên trong tuổi già?

Khi sợ hãi, người ta bắt đầu cầu nguyện.

Căn nhà thủa bé của tôi có một phòng thờ rất rộng, nơi đặt nhiều bàn thờ các vị Phật, đức Quan Công và tổ tiên, cũng là nơi chính cho các tiệc giỗ. Năm sáu tuổi, sáng sớm tôi theo bà nội hái những chiếc hoa sứ trắng đặt trên bàn thờ rồi thắp hương cúng Phật. Bà dạy tôi những lời khấn đầu tiên, xin cho bà cha mẹ anh chị em khỏe mạnh, xin cho con học giỏi.

Năm mười bảy tuổi trước khi vượt biên, mẹ dặn trên đường niệm nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát cho con tai qua nạn khỏi. Ba mươi mấy tuổi, tôi đưa mẹ về Long Thành tu ở Thiền Viện Thường Chiếu. Mẹ nói để xin hòa thượng Thích Thanh Từ quy y cho con, mẹ gieo nhân duyên này để con tìm đến khi cần thiết. Thầy đặt cho pháp danh Thích Thanh Nhàn, chắc vì tôi mang số tử vi của một đời gian truân.

Mẹ ở trong chiếc cốc nhỏ tu tập và làm việc thiện. Mỗi lần tôi và con gái về thăm, ba bà cháu đi dạo loanh quanh trong cảnh chùa thanh tịnh thênh thang, vào chánh điện lạy Phật, rồi ra tháp thắp hương tưởng nhớ bố và bà nội. Sự tín ngưỡng của tôi dừng lại ở đây; mẹ hiểu, nhưng thỉnh thoảng vẫn dúi vào tay tôi một băng cassette hay một quyển kinh để mang về.

Mấy mươi năm trôi qua, cảnh chùa ngày càng xanh tươi đông đúc. Nhưng cốc của mẹ không còn. Những chậu hoa mẹ trồng bây giờ đang vươn nở trong khu vườn khác. Tôi đã trải qua những đau khổ, mất mát, thất bại, thăng trầm mà gắn liền với đời sống của tất cả mỗi sinh vật. Cây cỏ hoa lá cũng hiển nhiên bệnh hoạn héo tàn và chưa hẳn sẽ trở lại sau mùa đông. Hữu sinh thì hữu diệt, có sinh thì có tử, đến rồi sẽ đi. Như vậy, mục đích của đời người là gì? Sống, đòi hỏi vật chất và tình người – hạnh phúc hoàn toàn phụ thuộc vào hai điều kiện này mà chúng khi ẩn khi hiện, thay đổi không ngừng khiến mình lao đao. Những người tin vào luật nhân quả cố gắng giữ gìn đạo đức nhưng vẫn không tránh khỏi tai ương, vì còn phụ thuộc vào những nghiệp đã gây ra trong kiếp trước (ai biết là gì!). Nói cách khác, không ai kiểm soát được số phận. Không ai nên mong chờ gì hơn số phận của một chiếc lá úa vàng trong mùa thu ảm đạm, rơi xuống mặt đường nằm chờ mục rữa.

Nhân duyên của mẹ gieo cuối cùng được quả. Tôi giờ chú tâm tìm hiểu Phật pháp. Và khám phá ra đạo Phật không có thần thánh mà là một triết lý uyên bác thâm sâu, dẫn dắt con người thoát khỏi khổ đau. Các hình ảnh tượng đài là phương tiện giúp người ta hướng về. Chùa chiềng là phương tiện giúp tín đồ tu tập. Tôi tiếc cho mình đã không bồi đắp đời sống tâm linh sớm hơn. Nghĩ lại, những lời khấn cầu bà và mẹ dạy chủ yếu là gieo trong tôi niềm tin.

Niềm tin là cứu cánh duy nhất của con người.

Trong những cơn lao đao trên bờ vực thẳm. Với cảm giác thất lạc tận cùng, sức ép đè nặng nề trên ngực, trước mắt tối tăm. Khi con người không thể cho mình hy vọng. Mình muốn tin vào một quyền năng thiên nhiên cho mình lối thoát.

Các khoa học gia ước lượng có hai ngàn tỷ thiên hà trong vũ trụ; tỷ lệ đường kính một giải ngân hà to gấp bảy mươi bốn ngàn tỷ lần trái đất, tương tự như Bắc Mỹ và một hạt cát. Họ còn cho rằng vũ trụ vẫn không ngừng bành trướng. Chỉ một cơn bão trên mặt trời có thể bùng phát to hơn trái đất nhiều lần. Những con số này luôn khiến tôi choáng ngộp mỗi lần nghe đến. Tôi muốn tin cách nhìn của triết gia Alan Watts trong ảnh hưởng Phật giáo - con người sinh ra từ vũ trụ, mỗi con người là một chức năng của toàn bộ vũ trụ, giống như con sóng là chức năng của toàn bộ đại dương, con sóng và đại dương không tách biệt, chúng liên tục. Và tôi đặt niềm tin vào quyền năng của vũ trụ huyền bí, chấp nhận chức năng của riêng mình cho một mục đích cao hơn.

Chấp nhận vì không có chọn lựa. Chấp nhận để biết xem nhẹ. Khi khổ đau, biết tỷ sinh vật đang đau khổ hơn mình; mình không duy nhất. Khi hạnh phúc, biết sẽ có ngày mất mát. Mất mát cũng chỉ là một cách gọi khi ngoài tầm tay tầm nhìn. Bà nội, bố mẹ mất đã nhiều năm nhưng họ vẫn sống trong lòng tôi, vẫn cho tôi hạnh phúc ấm áp khi nghĩ về họ. Từ góc nhìn này, tôi không hề mất họ. Hơn nữa, mất là đã có; tỷ sinh vật không có diễm phúc đánh mất những gì chưa bao giờ có.

Tôi hái một ít hoa sứ trắng ngoài vườn đặt lên bàn thờ. Vài cánh hoa mong manh chóng tàn cho tôi niềm tin suốt một đời.

Những ước mơ cho riêng mình mà vẫn chưa thực hiện, tôi hiểu, cần gói ghém lại cho kiếp sau. Kiếp còn lại để tìm an lạc – bình an trong tâm hồn và hạnh phúc. Không phải hạnh phúc tối thượng của Niết bàn – một trạng thái thoát khỏi tham, sân, si – mà con người sẽ không bao giờ đạt tới. Mà là hạnh phúc với gia đình và qua những ai có thiện duyên với mình.

Qua Tết, đại gia đình chúng tôi sẽ chuẩn bị đám cưới cho cô con gái duy nhất của tôi. Đứa cháu duy nhất sinh ra khi bà ngoại sang Mỹ được ba ngày và được bà nuôi mấy năm trước khi bà về lại quê hương đi tu. Tôi hy vọng nó sẽ sớm ý thức sự quan trọng của đời sống tâm linh, sớm hơn tôi.

Đám cưới sẽ diễn ra đầu mùa xuân. Thiên nhiên sẽ tưng bừng những mạch sống mới; con người cũng sẽ hớn hở qua khỏi một mùa đông âm u. Không gian sẽ toát ngời những năng lượng tích cực, chào mừng duyên lành của đôi vợ chồng trẻ. Tôi nhìn thấy một bắt đầu đẹp đẽ.

VTTM, áp Tết Bính Ngọ 2026

MÓN QUÀ CHO CHA


Ba kính mến,

Con viết thư này trên e-mail, để chuyển đến Ba món quà sinh nhật - một đoá hoa cúc vàng thật đẹp - và những tình cảm thương mến của đứa con gái út đi học xa, đang nhớ về Ba. Con hy vọng Ba còn thức để đọc những lời thương mến của con. Ngày mai, sinh nhật của Ba, Ba có nhớ không? Mẹ đang bận chăm sóc cháu ngoại mới chào đời ở tiểu bang xa, còn các anh chị ở nhà bận đi làm, có thì giờ tổ chức lễ mừng sinh nhật cho Ba không?

Trời đêm nay thật lạnh. Các bạn cùng nhà trọ với con đã ngủ cả. Chỉ có một mình Con còn thức để nói chuyện với Ba, hy vọng Con sẽ bớt lạnh lẽo cô đơn trong đêm nay.

Ðây không phải là lần đầu tiên Con sống xa Ba. Ngay từ ngày còn bé, Con đã không có Ba bên cạnh. Vì khi Con ra đời, đất nước đã thay ngôi đổi chủ, và Ba đã phải đi vào trại “ cải tạo” Miền Bắc trong hơn năm năm. Con còn nhớ trong thời gian đó, Con thật buồn vì không có người cha bên cạnh như các đứa bạn khác.

Rồi bỗng một hôm, có người đàn ông gầy ốm, xanh xao, mang một túi hành trang đã sờn rách bước vào nhà. Cả nhà mừng rỡ, bảo Con gọi đến chào Ba. Con đã không nhận ra Ba, vì từ khi bắt đầu hiểu biết, Con có bao giờ thấy Ba của mình đâu! Nhưng về sau, theo thời gian chung sống dưới mái gia đình, Con cảm thấy thương yêu Ba.

Con thường nghe Ba nói với Mẹ: Ba phải thương yêu con thật nhiều vì trong suốt những năm tháng xa nhà, Con thiếu tình phụ tử. Phải chăng Ba cảm thấy thiếu bổn phận làm cha trong suốt những năm dài ấu thơ của Con?

Riêng con, đôi lúc nhớ lại lúc Ba mới trở về, tinh thần Ba còn giao động, buồn nản, mà con lại tỏ ra xa lạ với Ba, con cảm thấy thật xấu hổ! Có phải những tình cảm phức tạp và tế nhị của cả hai, khiến Ba và Con càng ngày càng hiểu biết và thương yêu nhau nhiều hơn không ?

Ba thường đọc cho các con nghe những bài thơ, trong đó Con thích nhất bài “Vòm Trời Cao Trên Mái” mà Ba đã dịch từ một bài thơ tiếng Pháp mà con không nhớ tên(1)

Vòm trời ấy vẫn cao trên mái
Xanh làm sao, yên tĩnh làm sao
Cành cây trên mái lao xao
Nhẹ ru trước gió đưa vào giấc mơ

Tháp chuông ấy lưng trời in bóng
Vẫn dịu dàng vang vọng ngân nga
Trên cành, cất tiếng xót xa
Con chim chợt hót khúc ca não nùng

Thượng đế hỡi, dòng đời bên ấy
Sao đơn sơ, sao lắm hiền hòa
Từ nơi phố thị xa xa
Tiếng ồn vang vọng, la đà xôn xao

Mà người hỡi làm chi chốn ấy?
Lệ chan hòa thánh thót khôn nguôi
Ðời anh tuổi trẻ đẹp tươi
Chôn chân mãi mãi nơi này làm chi?

Bài thơ thật nhẹ nhàng và thật buồn. Trong hoàn cảnh mất tự do của một người tù bên Pháp, cách đây hơn hai trăm năm, có lẽ đã khiến Ba nhớ lại thân phận mình trong những năm trong trại “cải tạo” ở Miền Bắc.

Khi Ba mới về, đôi lúc Con đã tỏ ra ngang bướng, không vâng lời, khiến Ba phải dùng roi vọt dạy dỗ Con. Con đã không khóc khi Ba đánh đòn, chỉ lén bẻ gãy cây roi để lần sau Ba không đánh đòn Con nữa. Con nhớ Ba kể về một câu chuyện trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” bên Tàu ngày xưa. Người mẹ vẫn thường đánh đòn con mỗi khi con không vâng lời dạy dỗ; và những khi ấy, người con im lặng chịu đòn, không dám khóc.

Nhưng có một hôm sau khi chịu đòn, người con quỳ xuống thưa với mẹ: hôm nay mẹ không khỏe trong người sao? Người mẹ gật đầu và hỏi: vì sao con biết? Người con chí hiếu lúc ấy mới ôm mặt khóc và thưa rằng: vì hôm nay mẹ đánh đòn Con nhẹ quá, chắc là mẹ yếu trong người; hay mẹ không còn muốn dạy dỗ Con nữa?

Trong câu chuyện Ba kể, không có phần kết luận: từ đó người mẹ còn dạy đứa con ngỗ nghịch bằng roi vọt không? Nhưng với Ba, dần dần Ba không tỏ ra nóng giận, và đánh đòn chúng con nữa. Có lẽ những năm tháng dài trong trại tập trung “cải tạo”, cuộc sống đói khổ, đau buồn, đã lưu lại lại trong lòng Ba những uất ức, phẫn nộ. Mãi sau một thời gian sau, khi đã trở lại cuộc sống bình thường, ấm êm của gia đình, Ba mới trở nên vui vẻ yêu đời.

Trong những năm đầu định cư ở Mỹ, Con ở gần Ba, hướng dẫn Ba ghi danh vào học ở trường College mà con đã trải qua hai năm học nơi đây. Từ đó, Con thấy Ba thích đọc sách, thích sáng tác, thích gợi lại những kỷ niệm xưa. Có lẽ thế hệ những người lớn tuổi chỉ muốn sống lại dĩ vãng, muốn đem dĩ vãng về bổ túc cho cuộc sống hiện tại. Còn thế hệ trẻ chúng con, chỉ muốn sống cho hiện tại, nỗ lực làm việc để bồi đắp tương lai.

Có lẽ Con hiểu Ba, thông cảm những nỗi buồn phiền của những người lớn tuổi- thường hay hoài niệm về những kỷ niệm xưa. Cho nên Ba thường cảm xúc khi viết lại những mẫu chuyện thời thơ ấu, những mối tình trong sáng ở tuổi học trò. Sau khi viết xong một chuyện ngắn, Ba thường đưa cho con xem.

Con thường hỏi Ba: vì sao Ba say mê sáng tác như thế? Ba đã tâm sự rằng Ba làm công việc của người thợ săn đã về già, một hôm ngồi nhìn ngắm bộ sưu tập đã săn bắn trong thời trai trẻ, để kiểm điểm lại cuộc đời hoạt động trong quá khứ của mình.

Có thể những bộ sưu tập ấy chẳng có giá trị gì với khách thưởng ngoạn. Nhưng với ông ta, mỗi bộ da có thể gợi lại hình ảnh đẹp của con thú, hình ảnh của khu săn bắn, và cảm xúc của ông ta khi tham dự cuộc săn bắn đó. Với Ba, khi về già, Ba có thể giải sầu bằng những mẫu chuyện gợi lại cảm xúc thời thanh xuân, giống như người thợ săn ấy chăng?

Ngày Con dự định thi vào một trường Dược ở miền Bắc California này, Con cứ đắn đo mãi. Nếu Con đi học xa, ai săn sóc Ba Mẹ lúc trái gió trở trời, khi Ba Mẹ ốm đau? Chị cả đã đi lấy chồng xa, mãi tận Seattle miền tây bắc nước Mỹ; rồi chị thứ hai đi học Dược tận New York ở miền Ðông xa xôi. Và giờ đây, chị đã ra trường, về làm việc gần nhà, nên cả gia đình sum họp ấm cúng. Nay lại đến lúc Con phải đi học xa .

Hôm khai giảng, Con mời Ba Mẹ đi tham dự lễ “Mặc Áo Choàng Trắng Truyền Thống” của Trường. Chưa bao giờ Con thấy nét mặt Ba thay đổi nhiều như buổi sáng hôm ấy. Ba đã tươi vui và trang trọng trong bộ quần áo dạ hội, cùng Mẹ cùng Con và các anh chị đến Trường. Ba ngắm ngôi trường một cách thích thú, hãnh diện bước vào cùng cô gái cưng, tân sinh viên của trường này.

Gần một trăm sinh viên tuần tự bước đến trước các giáo sư để trình diện, giới thiệu tên họ và nơi phát xuất đến đây. Họ là những nam nữ thanh niên ưu tú đến từ các thành phố ở California, ở các tiểu bang khác. Nguồn gốc chủng tộc của họ khác nhau, nhưng có chung một hoài bão: tận tâm phục vụ bệnh nhân, phục vụ nước Mỹ mà họ đã chọn làm quê hương thứ hai. Sau đó họ được trao áo choàng trắng, có gắn huy hiệu của trường, rồi mặc vào để làm lễ tuyên thệ.

Ðứng giữa các bạn người Mỹ cao lớn, Con cố vươn người nhìn về phía hàng ghế dành cho phụ huynh sinh viên, và con đã nhìn thấy Ba. Ba nhìn Con, miệng mỉm cười mà nước mắt rưng rưng. Có phải Ba đã xúc động vì niềm sung sướng thấy đứa con gái út đã từng sinh ra trong cảnh đất nước đổi thay, gia đình nghèo túng, thiếu sữa, thiếu ăn đến còm cõi..; và đau thương nhất là thiếu tình phụ tử trong hơn sáu năm trời?

Giờ đây, Con đã trở thành người nữ sinh viên áo trắng tại nước Mỹ Tự Do này, thực hiện được giấc mơ đẹp nhất của đời Con, và chắc rằng Ba cũng rất vui mừng, hãnh diện. Có lẽ đây cũng là món quà sinh nhật đặc biệt, vô hình nhưng cũng vô giá mà Con muốn kính gởi Ba, nhân ngày sinh nhật của Ba. Con mong Ba luôn vui mạnh, tìm lại niềm hạnh phúc trong sáng tác, tìm lại những cảm xúc thuở thanh xuân, mà đã một thời tưởng như mất đi vì những thống khổ triền miên cuộc đời...

Con của Ba,
Stacey

****
Ông Tân đọc xong bức điện thư con gái vừa gửi, mỉm cười định tắt máy; nhưng ông kịp ngưng lại. Ông còn phải lưu giữ những lời tâm sự mến thương, lưu lại đoá hoa cúc vàng thật đẹp kèm theo thư này.

Ông hé cửa nhìn ra vườn sau, nơi đó có chậu cây cúc mới nở hoa, khoe sắc dưới ánh đèn đêm. Ông chợt nhớ đến bài thơ Hoa Cúc Vàng của cố thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật. Nhà thơ ấy đã diễn tả nỗi buồn sau lần người vợ (nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh) đến thăm Ông trong trại tù “cải tạo”:

Chỗ anh đứng chờ em ra
Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng
Mỗi lần có dịp đi ngang
Nhớ em anh tưởng áo vàng lụa bay

Nghĩ hoài sống mũi cay cay
Mấy năm chẳng được một ngày gần nhau
Hạnh phúc thường hay qua mau
Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn

Tự dưng thương ghế thương bàn
Nơi em đã để cho làn hương rơi
Anh muốn kêu lên em ơi
Nhớ gì nhớ đến chết người như không

Tay vò hoa cúc nát lòng
Vàng phai hay ý chờ mong nhạt dần.

Bài thơ này đã được một bạn đồng tù ở trại Thanh Cẩm phổ nhạc năm 1979 và được anh em đồng cảnh thầm hát trong những lúc nhớ nhà ở Miền Nam xa xôi.

Ngày ra tù được trở về nhà, Ông Tân thường ngâm nga những câu thơ của nhà thơ nổi tiếng ấy - người cùng hoàn cảnh tù “cải tạo” như Ông. Không ngờ nó đã khiến cho cô gái út, sau những ngày đầu lạ lẫm với người cha “xa lạ” mới về, bỗng thích thú lắng nghe!

Hôm nay, những đoá hoa cúc vàng cuối thu bỗng khơi lại trong lòng Ông những cảm giác năm xưa. Mấy mươi năm mà cứ ngỡ hôm nào - ngày còn nằm trong trại tù “cải tạo” CS, nhớ nhà ngâm nga hát thầm bài Hoa Cúc Vàng, mong một ngày trở về Miền Nam. Để tìm lại chút hạnh phúc đơn sơ, ấm áp của gia đình. Để ngắm nhìn hoa mai, hoa cúc nở rộ trong dịp Tết Nguyên Đán như những ngày thanh bình và hạnh phúc năm xưa…

ĐINH BÁ TÂM (ĐS12)

(1) CHÚ THÍCH ( của tác giả ĐBT)

Le ciel est par-dessus le toit ( Paul Verlaine)

Le ciel est, par-dessus le toit,
Si bleu, si calme!
Un arbre, par-dessus le toit,
Berce sa palme.

La cloche, dans le ciel qu’on voit,
Doucement tinte.
Un oiseau sur l’arbre qu’on voit
Chante sa plainte.

Mon Dieu, mon Dieu, la vie est là,
Simple et tranquille.
Cette paisible rumeur-là
Vient de la ville.

– Qu’as-tu fait, ô toi que voilà
Pleurant sans cesse,
Dis, qu’as-tu fait, toi que voilà,
De ta jeunesse?

CÔ THIỆT LẠ !

Năm tui đi học đánh Tennis, ông thầy dạy tui vốn là một người chơi và dạy Tennis ở Sài Gòn từ trước 1975. Không chỉ là Huấn luyện viên Tennis, ông thầy còn là một Vũ sư, dạy nhảy đầm. Chính vì vậy nên cái dáng đánh banh, những đường banh của ổng cứ dịu dàng, ẻo lả, nhưng không dễ ăn dễ đỡ đâu nhe.

Khi tui học tới phần giao bóng, giữa trưa nắng 11, 12 giờ, sân không mái che, ổng cho tui tập phát bóng một mình, ổng không cần đỡ. Ổng ngồi trong mát uống cà phê đá. Tui nhớ một xe banh cũ tui đếm được tất cả 103 trái. Và tui phải tập giao đủ 103 lần nhân đôi.

Nắng nóng, mệt...khiến tui giận thầm ông thầy. Giận ổng, tui không nói. Tui lầm lì “đập” banh. Chỉ sau một tháng tập, tui giao bóng tốt. Và ông thầy nói: “người ta học đánh thuận tay, trái tay dễ hơn học giao bóng, cô ngược lại, cái khó cô tiếp thu nhanh hơn”. Ông thầy nói thêm: CÔ THIỆT LẠ !

Năm tui đi học lái xe hơi (1993) ông thầy dạy tui đã có 22 năm trong nghề. Thuở đó đóng tiền học giờ. Xe tập lái là xe Jeep từ chế độ cũ để lại, vô-lăng nặng bà cố luôn. Xe có thiết kế một thắng phụ dưới chân ghế phụ ông thầy ngồi, kế bên tay lái. Ông thầy cho xe ra mặt đường luôn. Từ bãi xe ở đường Nguyễn Kim Q10, trước sân vận động Cộng Hòa theo sự hướng dẫn của ông thầy, tui lái xe ra Q1, tập lái khi đường xe đông, khi lên cầu. Và cũng không ít lần tui làm tắc đường vì xe chết máy. Nhưng khi học de, tui de ngọt xớt, không đụng chướng ngại vật bao giờ. Ông thầy thường cho tui tập de xe vào cổng nhà một Linh mục ở nhà thờ ngã 6. Tui de các kiểu rất tốt, không làm tắt máy xe như khi chạy đường trường, và cái chính là chưa hề làm sập hàng rào nhà “ông Cha”. Kkkkk...

Giống như ông thầy Tennis, ông thầy dạy lái xe cũng nói tui CÔ THIỆT LẠ! Học de khó hơn học lái vậy mà cô có vẽ chuyên nghiệp khi de hơn khi lái. Xưa giờ chắc hay cho nguời ta de lắm phải không? Ông thầy bồi thêm câu hỏi: Cô có đẻ ngược hông vậy? Tui trả lời: tui đẻ ngang. Bác sĩ phải mổ bụng Má tui bắt tui ra. Tui được sinh mổ. Má tui không đẻ ngược và tui cũng chưa từng cho ai “de” bao giờ.

Tui THIỆT LẠ, phải không? Lạ từ khi còn đi học: học Toán để làm Thơ. Hay cười với bạn nhưng chỉ khóc với mình.

Bữa nay rảnh nên lải nhải dăm điều, nhớ gì viết đó. Các lão gia, lão bà, các soái ca soái tỷ, các tiểu muội tiểu đệ vào đọc cho vui. Có chiếu cố cho tui 1 “lai” để làm kỷ niệm. Đừng rầy rà gì tui. Đừng nói tui nhiều chiện nha. Tui chỉ có chiện nhiều thôi. Hehe.

Hết!

Chi Le




NHIỀU NGƯỜI GHÉT TRUMP VÌ CHÍNH SÁCH HAY HỌ GHÉT VÌ ÔNG ẤY NÓI ĐÚNG.” 

Có một điều rất thú vị mình nhận ra sau nhiều năm theo dõi chính trị Mỹ.
Rất nhiều người nói họ ghét Donald Trump.
Ghét cách ông nói chuyện.
Ghét cách ông phản ứng.
Ghét sự ngạo nghễ.
Ghét những phát ngôn gây tranh cãi.
Nhưng đôi khi mình tự hỏi…
Liệu người ta thật sự ghét Trump?
Hay người ta ghét cái cảm giác khó chịu khi nghe một người nói ra những điều mà sâu bên trong họ biết… có phần đúng?

Trump không giống kiểu chính trị gia truyền thống.
Ông không nói chuyện như một người cố gắng làm vừa lòng tất cả. Không mềm mại. Không bóng bẩy. Không dùng những câu chữ quá “đẹp lòng”.
Và chính điều đó làm rất nhiều người khó chịu.
Bởi con người thường thích nghe điều dễ chịu hơn là sự thật.

Trump bước lên sân khấu chính trị giống như một người bước vào giữa căn phòng đầy những quy tắc lịch sự… rồi đập thẳng tay lên bàn và nói:
“Hệ thống này có vấn đề.”
Ông nói NATO đang sống dựa vào tiền Mỹ.
Ông nói Trung Quốc đã tận dụng nước Mỹ suốt nhiều thập niên.
Ông nói biên giới Mỹ đang mất kiểm soát.
Ông nói truyền thông thao túng dư luận.
Ông nói tầng lớp chính trị Washington nhiều người chỉ giỏi nói mà không giải quyết vấn đề.

Và điều đáng sợ là…
Rất nhiều thứ ông nói, dù cách diễn đạt gây tranh cãi, cuối cùng lại có một phần trở thành sự thật.
Ngày xưa khi Trump nói Trung Quốc là mối đe dọa kinh tế lớn nhất, nhiều người cười.
Bây giờ cả Washington từ Dân Chủ tới Cộng Hòa đều đang đối đầu với Trung Quốc.
Ngày xưa Trump ép NATO tăng chi tiêu quốc phòng, châu Âu rất khó chịu.
Bây giờ chiến tranh Ukraine nổ ra, cả châu Âu cuống cuồng tăng ngân sách quân sự.
Ngày xưa Trump nói Mỹ đang để biên giới quá lỏng lẻo.
Bây giờ vấn đề nhập cư trở thành một trong những chủ đề nóng nhất nước Mỹ.
Điều làm Trump nguy hiểm không phải vì ông lúc nào cũng đúng.
Mà vì ông nói những thứ mà nhiều chính trị gia biết… nhưng không dám nói quá trực diện.
Trump giống kiểu người bước vào một bữa tiệc sang trọng rồi chỉ thẳng:
“Căn phòng này có vấn đề.”
Và những người đang ngồi trong đó sẽ cực kỳ khó chịu.

Có một sự thật trong xã hội là:
Con người thường tha thứ cho người nói dối dễ hơn người nói thật quá thẳng.
Bởi sự thật nhiều khi làm đau cái tôi.
Đó là lý do Trump tạo ra cảm xúc rất cực đoan:
- người cực kỳ thích,
- hoặc cực kỳ ghét.
Rất ít người “bình thường” với Trump.
Bởi ông không phải kiểu chính trị gia khiến người ta cảm thấy an toàn.
Ông giống một cơn bão hơn.
Đi tới đâu cũng tạo tranh cãi, hỗn loạn và chia rẽ.
Nhưng cũng chính vì vậy mà ông làm cả thế giới phải phản ứng.
Nhiều người nói Trump làm nước Mỹ mất hình ảnh.
Nhưng cũng có rất nhiều người tin rằng lần đầu tiên sau nhiều năm, nước Mỹ bắt đầu đặt lợi ích của mình lên trước thay vì cố làm “người tốt của thế giới.”

Đó là lý do Trump không chỉ là một con người.
Ông là một biểu tượng của sự phản kháng với hệ thống cũ.
Và điều thú vị nhất là:
càng bị tấn công, Trump càng mạnh trong mắt những người ủng hộ ông.
Vì họ tin rằng:
“Nếu cả hệ thống đều ghét ông ấy… có lẽ ông ấy đã đụng đúng chỗ đau.”

Mình không nói Trump hoàn hảo.
Ông có rất nhiều phát ngôn gây tranh cãi.
Có lúc nóng nảy.
Có lúc quá cực đoan.
Có lúc hành xử như doanh nhân hơn là chính trị gia.
Nhưng nếu nhìn thuần về tác động…
Rất khó phủ nhận rằng Trump đã làm thay đổi cách thế giới vận hành trong gần 10 năm qua.
Ông buộc đồng minh phải thay đổi.
Buộc đối thủ phải phản ứng.
Buộc truyền thông phải xoay quanh mình.
Và buộc cả thế giới phải nói về mình mỗi ngày.
Trong chính trị, đó là thứ quyền lực rất ít người có được.
Cho nên đôi khi mình nghĩ…
Nhiều người không thật sự ghét Trump.
Họ chỉ ghét cảm giác khi một người nói ra điều mà họ không muốn nghe… nhưng lại không thể hoàn toàn phủ nhận. 

-- góc nhìn khác --


Sunday, May 24, 2026

Norman Borlaug —Người đàn ông CỨU 1 TỶ NGƯỜI khỏi chết đói


Bạn có biết người được mệnh danh là "cha đẻ của Cuộc Cách Mạng Xanh" không? Đó là Norman Borlaug — nhà nông học người Mỹ gốc Na Uy, người mà nếu không có ông, một phần tư dân số thế giới ngày nay có thể đã không tồn tại.

Sinh năm 1914 tại trang trại nhỏ ở Iowa, Borlaug lớn lên giữa Đại Suy Thoái, từng phải bỏ học để đi lao động. Năm 1944, ông đến Mexico — nơi nông dân đang mất trắng vụ mùa vì bệnh gỉ sắt lúa mì. Trong 16 năm liên tục, ông sống giữa cánh đồng, lội bùn, không nước nóng, không lương ổn định, lai tạo hàng nghìn giống lúa mì để tìm ra giống dwarf wheat thân ngắn, kháng bệnh, năng suất gấp 3 lần giống cũ.

Đến năm 1965, Ấn Độ và Pakistan đang đối mặt nạn đói có thể g/i/ế/t hàng trăm triệu người. Borlaug đưa hạt giống của mình đến đó giữa lúc chiến tranh Ấn-Pak. Ông kể: "Chúng tôi nghe tiếng đạn pháo nổ trong khi gieo hạt". Kết quả: chỉ trong 5 năm, sản lượng lúa mì Ấn Độ tăng GẤP ĐÔI. Nạn đói được chặn đứng.

Năm 1970, Norman Borlaug nhận Giải Nobel Hòa Bình — không phải vì ngừng chiến tranh, mà vì ngừng cái đói. Ủy ban Nobel ước tính sản phẩm của ông đã cứu sống hơn 1 tỷ người trên toàn cầu. Đến hôm nay, đây vẫn được xem là kỳ tích nhân đạo lớn nhất lịch sử khoa học nông nghiệp.

Nhưng có một điều cay đắng: phần lớn nhân loại không biết tên ông. Trong khi các nghệ sĩ, vận động viên được tôn vinh khắp nơi, người đã giúp cả thế giới có cái ăn lại sống và chết trong lặng lẽ. Borlaug qua đời năm 2009, hưởng thọ 95 tuổi, vẫn miệt mài nghiên cứu đến tận năm cuối đời. Câu ông nói trên giường bệnh: "Hãy mang công việc của tôi đến châu Phi".

Khoa học không ồn ào như chiến trận. Nhưng đôi khi, một hạt giống có thể cứu nhiều người hơn cả một đội quân.





Thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm

Ý đã trở thành quốc gia đầu tiên chính thức cấm thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, gây ra một cuộc tranh luận toàn cầu lớn về tương lai của sản xuất thực phẩm và ảnh hưởng ngày càng tăng của các tỷ phú đầu tư vào các sản phẩm thay thế thịt tổng hợp.

Động thái gây tranh cãi này ngay lập tức thu hút sự chú ý trên toàn thế giới bởi vì Bill Gates trước đây đã đầu tư vào các công ty liên quan đến công nghệ thịt thay thế, khiến nhiều người dùng mạng coi quyết định này như một sự bác bỏ trực tiếp đối với “thịt giả” được hậu thuẫn bởi các tỷ phú. 

Những người ủng hộ lệnh cấm đã ca ngợi Ý vì đã bảo vệ nền nông nghiệp truyền thống, nông nghiệp và các sản phẩm thực phẩm tự nhiên, trong khi những người chỉ trích cho rằng quyết định này có thể làm chậm quá trình đổi mới nhằm giảm thiểu tác hại đến môi trường.

Các quan chức Ý được cho là đã bảo vệ lệnh cấm bằng cách nói rằng đất nước muốn bảo tồn văn hóa ẩm thực, tiêu chuẩn sức khỏe và truyền thống nông nghiệp của mình. Trong khi đó, mạng xã hội bùng nổ với các phản ứng từ ăn mừng đến phẫn nộ khi câu chuyện lan truyền trên internet.

Cuộc tranh luận xung quanh thịt nuôi cấy trong phòng thí nghiệm tiếp tục chia rẽ các ý kiến ​​trên toàn cầu, nhưng quyết định của Ý hiện đã đặt quốc gia này vào trung tâm của một trong những cuộc tranh cãi lớn nhất về thực phẩm trong thế giới hiện đại.
----------






Italy has become the first country to officially ba

Ngày Memorial Day 2026

Hôm nay là ngày Memorial Day — ngày tưởng niệm và tri ân những người đã hy sinh cuộc đời mình cho lý tưởng tự do, cho quê hương, cho gia đình và cho thế hệ mai sau.

Hôm nay, tôi cùng mẹ và con trai đến thăm mộ bố tôi — ông Nguyễn Kính Cung, một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Bố tôi từng phục vụ và làm quản lý tại Quân Y Viện Trần Ngọc Minh trước năm 1975.

Bố đã rời xa gia đình hơn 20 năm nơi đất Mỹ, nhưng hình ảnh và tinh thần của một người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn luôn sống mãi trong lòng con cháu.

Đứng trước bia mộ của bố hôm nay, tôi không chỉ nhớ về riêng bố mình, mà còn nhớ đến cả một thế hệ cha anh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa — những con người đã hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc riêng và cả cuộc đời để bảo vệ miền Nam tự do.

Họ là những người lính đã chiến đấu bằng danh dự, trách nhiệm và lòng yêu nước.

Sau biến cố năm 1975, biết bao quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã phải trải qua tù đày, mất mát, ly tán và lưu vong… nhưng họ vẫn giữ phẩm giá, nghị lực và niềm tin vào tự do.

Gia đình tôi cùng bố mẹ và 9 người con đã đến Mỹ theo diện H.O năm 1991 — mang theo biết bao ký ức, hy sinh và nước mắt để bắt đầu lại cuộc đời nơi xứ người.

Nhân ngày Memorial Day hôm nay, tôi xin cúi đầu tưởng nhớ và vinh danh tất cả những người ông, người bà, cha mẹ, cô chú bác đã từng phục vụ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Xin chân thành biết ơn những hy sinh thầm lặng của quý vị để thế hệ con cháu hôm nay có cơ hội được sống trong tự do, hòa bình và hy vọng.

Riêng với bố tôi — ông Nguyễn Kính Cung — bố mãi mãi là niềm tự hào của gia đình chúng con.

Một người cha hiền lành, trách nhiệm, kiên cường và đầy nhân cách.
Dù thời gian có trôi qua bao lâu, chúng con sẽ không bao giờ quên những gì bố đã sống, đã hy sinh và đã cống hiến.

“Không ai thật sự mất đi khi họ còn sống mãi trong ký ức và lòng biết ơn của những người ở lại.”

Memorial Day 2026
Tưởng nhớ — Biết ơn — Không bao giờ quên.



Blog Archive