Monday, June 29, 2026

TIẾN SĨ TRỘM CẮP

Bs Võ Xuân Sơn

Dư luận ồn ào vụ tiến sĩ phá khóa cửa phòng kế toán ăn trộm 128 triệu đồng và một máy tính. Tự nhiên tôi thấy có chút hãnh diện.

Sẽ có bạn hỏi, sao tôi không thấy mắc cỡ mà lại hãnh diện. Đúng vậy, lẽ ra nghe nói tiến sĩ ăn trộm thì một tiến sĩ sẽ phải thấy mắc cỡ vì trong giới của mình có kẻ xấu xa như vậy, có gì mà hãnh diện? Nhưng tôi thì nghĩ khác. Xã hội mà coi chuyện tiến sĩ ăn trộm là chuyện lạ để ồn ào, thì có nghĩa là họ vẫn nghĩ tiến sĩ là cái gì “ngon lành” lắm. Không hãnh diện sao được.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, không biết có phải ông tiến sĩ này bị xui không, mà mới chỉ lấy trộm có 128 triệu đồng và một cái máy tính, đã bị người ta làm ồn ào. 

Cách đây vài tuần, LS Lê Công Định đã đưa ra các bằng chứng, cho thấy ông tiến sĩ Huỳnh Công Bá đã ăn cắp, hay ăn cướp công trình của người khác. Giá trị đồ ăn cắp của ông tiến sĩ Huỳnh Công Bá lớn hơn nhiều so với 128 triệu và cái máy tính, thế mà có nhiều kẻ còn vô bênh vực.

Ờ, mà còn có ông tiến sĩ Chu Ngọc Anh không chỉ ăn trộm, ăn cắp, hay ăn cướp tiền, mà ông ấy còn ăn cắp hay ăn cướp bao nhiêu mạng dân Việt Nam. Lại còn có ông là giáo sư Nguyễn Thanh Long, thầy của nhiều tiến sĩ, cũng đã cướp đi cuộc đời của bao nhiêu người dân.

Nghĩ đi nghĩ lại, sao mà nước ta lại có lắm thể loại trộm cướp có mác tiến sĩ, giáo sư, thế không biết? Nhưng nhìn lại bức tranh giáo dục, thầy trò hùa nhau ăn cướp công trình của người khác mang đi thi quốc tế. Rồi cái vụ sửa điểm, thực chất thì cũng là ăn cắp. Đó là ăn cắp cơ hội, ăn cắp tương lai, ăn cắp cuộc đời của người khác. Mà cái này, không chỉ là các thầy cô, các cán bộ giáo dục, mà còn có cả ông quan to, đồng thời cũng là tiến sĩ Triệu Tài Vinh, tham gia vô.

Một nền giáo dục đầy bọn trộm cắp như vậy thì lạ gì chuyện tiến sĩ ăn trộm, ăn cắp. Trong chừng mực nào đó, cái anh chàng tiến sĩ ăn trộm 128 triệu đồng và một máy tính vẫn còn nhẹ tội hơn nhiều nếu so với bao nhiêu tiến sĩ, giáo sư khác. Chỉ là kiểu trộm cắp của anh ấy kém sang hơn so với các đồng liêu của anh ấy mà thôi.


DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI

Mình rất thích đi chơi bằng xe vì thế giới có những cung đường đẹp tuyệt vời mà chỉ có lái xe mới thấy hết gặp hết.

Lần này ba mẹ mình sang thăm, mình đã lên kế hoạch làm một chuyến đi lang thang lên bờ tây bắc của Mỹ và dãy núi Rocky hùng vĩ mà điểm đến là công viên quốc gia Banff đẹp nổi tiếng thế giới của Canada.

Mỗi lần mình đổi công việc mới, ưu tiên hàng đầu của mình là chọn nơi mà mình có thể nghỉ vài tuần mỗi năm để về VN thăm ba mẹ mình hay dẫn ba mẹ mình đi ta bà thế giới, tiền ít chút cũng không sao.

Lần này mình nghỉ luôn 3 tuần, dẫn luôn 1 đoàn 11 người đi thăm thú bờ tây bắc Mỹ, bờ đông thì mình đã dắt ba mẹ mình đi lang thang 3 tuần từ nam lên DC, New York, Niagara Falls, Toronto, Montreal, Boston, Virginia, Atlanta đâu hơn 10 năm trước rồi.

Mình bay lên Seattle, mướn một chiếc xe van 12 chỗ lái qua Vancouver, chỉ có hãng Avis mới có xe 12 chỗ mà cho lái qua Canada thôi, mấy hãng khác không cho.

Mình ở Vancouver 1 ngày đi chơi Capilano Suspension Bridge Park, qua Granville Island ăn trưa, rồi đi thăm Stanley Park, dẫn mấy đứa nhỏ qua mua quần áo ở tiệm Stussy nổi tiếng. Mình không biết nó bán quần áo gì mà tụi nhỏ sắp hàng dài để vô mua, có người ra mới cho thêm người vô, nghe nói chỉ có Vancouver mới có tiệm này, Mỹ không có. Tới Vancouver không nên bỏ qua nhà hàng Dynasty Sea Food nổi tiếng, ngon và giá cả phải chăng.

Ngày hôm sau mình dẫn cả nhà đi phà qua đảo Victoria thăm Butchart Gardens, thế giới của các loài hoa, rồi xuống trung tâm Victoria ngắm cung điện của nữ hoàng Victoria.

Ngày thứ 3 mình lái xe lên thăm Sea To Sky Gandola, từ đó nhìn xuống bao đẹp.

Rồi mình lái thêm 8 tiếng lên Jasper National Park, cung đường Sea to Sky Highway (BC High Way 99) là cung đường đẹp nổi tiếng chạy dọc theo bở biển và xuyên qua dãy núi Rocky. Tài xế thì lái xe ngắm cảnh, hành khách trên xe thì uống rượu vang binh xập xám tới hết rượu trời tối thì ngủ, haha.

Ngày hôm sau từ Jasper mình lái xe đi thăm hồ Maligne, là một phiên bản lớn hơn, đẹp hơn của Thung Lũng Tình Yêu. Rồi mình quay về lái xe qua Banff theo Icefield Parkway, là một cung đường đẹp nổi tiếng, đi xuyên qua Jasper National Park mình ghé thăm nhiều nơi rất đẹp và không thể bỏ qua Columbia Icefield, tiếc là hôm đó trời mưa và rất lạnh nên mình không đi lên icefield.

Dọc đường mình thấy gấu, moose, nai, sơn dương mỗi lần thấy tự nhiên có nhiều xe dừng 2 bên đường là mình biết có thú rừng bên đường nên bà con đứng coi.

Về tới Banff mình thuê nhà ở Canmore cho rẻ, rồi đi thăm hồ Louise, hồ Moraine, hồ Bow, hồ Payton, Johnston Canyon. Mỗi hồ đẹp mỗi kiểu, đẹp như tranh, không bút nào tả xiết.

Ở Banff mình sẽ mãn nhãn với suối và thác, đi đâu cũng thấy suối và thác vì xung quanh toàn là núi. Cung đường từ Banff về lại Seattle, mình luôn lái xe một bên là núi bên kia là dòng suối nước chảy cuồn cuộn, về tới hạ lưu thì thành một con sông êm ả, thung lũng nối tiếp thung lũng.

Về tới Seattle, mình ở một ngày đi lang thang thăm Pike market ăn món clam chowder trứ danh, đi thăm Chihuly Garden and Glass, nơi trưng bày cái đẹp của thủy tinh, lần này đẹp hơn 10 năm trước. Dĩ nhiên là phải ghé qua cho ba mẹ mình thăm mộ Lý Tiểu Long.

Ngày cuối cùng máy bay về bị hủy, phải ngủ ờ sân bay một đêm, rồi sáng cũng về tới nhà.

Chuyến đi coi như thành công, mình rủ ba mẹ mình năm tới đi nơi khác nữa. Ba mẹ mình tuổi ngày càng lớn, thích đi thì đi thôi, đâu cần hẹn khi nào, biết đâu lần nào là lần cuối.

Hung Truong


ĐỜI SỐNG VÀ TÂM TƯ NGƯỜI LÍNH QUA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

Chiến tranh luôn để lại những vết thương. Nhưng trong văn học nghệ thuật miền Nam trước năm 1975, người lính không chỉ hiện lên qua tiếng súng, mà còn qua những khoảng lặng rất đời thường.

Họ là những chàng trai vừa rời ghế nhà trường, những người con của miền quê, những công chức gác bút nghiên khoác lên mình bộ quân phục. Sau lưng họ là cha mẹ già, là người yêu, là người vợ trẻ và những đứa con còn thơ dại. Trước mặt họ là những cánh rừng, ngọn núi, dòng sông và những cuộc hành quân không biết ngày trở về.

Văn học miền Nam không chỉ ca ngợi lòng dũng cảm, mà còn dám nói về nỗi cô đơn của người lính.

Đó là nỗi nhớ nhà trong đêm gác giữa rừng sâu. Là tiếng đàn guitar cũ bên bếp lửa tiền đồn. Là lá thư nhà đã nhàu vì đọc đi đọc lại. Là tấm hình người yêu ép trong chiếc ví đã bạc màu.

Trong âm nhạc, biết bao ca khúc đã trở thành tiếng lòng của cả một thế hệ. Người lính hiện lên không phải là con người không biết sợ, mà là người biết sợ, biết nhớ, biết yêu, nhưng vẫn bước tiếp vì bổn phận.

Trong văn chương, nhiều tác giả đã viết về người lính với sự chân thực. Có những trang viết đầy chất bi tráng, có những đoạn văn bình dị như lời tâm sự. Người đọc bắt gặp những cuộc hành quân dài bất tận, những cơn mưa rừng, những đôi giày sũng nước, những bữa cơm vội, những người đồng đội vừa cười nói hôm qua, hôm sau đã nằm lại nơi chiến địa.

Điều làm nên giá trị của văn học nghệ thuật miền Nam không chỉ nằm ở chiến trận, mà ở tính nhân bản.

Người lính biết thương dân.
Biết đau khi chứng kiến làng xóm tan hoang. Biết rơi nước mắt trước cái chết của đồng đội. Biết nâng niu một cành hoa dại ven đường hay tiếng cười của trẻ nhỏ giữa vùng chiến sự.

Đó là những chi tiết rất nhỏ, nhưng làm cho hình tượng người lính trở nên gần gũi và chân thật.

Nghệ thuật miền Nam cũng không né tránh sự mất mát. Có những bài thơ viết về chiếc ba lô còn nằm lại trên đỉnh núi. Có những truyện ngắn kể về người vợ trẻ mòn mỏi chờ tin chồng. Có những bản nhạc chỉ cần vài câu hát đã gợi cả một trời chia ly.

Chính vì vậy, người lính trong văn học nghệ thuật miền Nam không chỉ là biểu tượng của chiến đấu, mà còn là biểu tượng của tình người.

Ngày nay, khi đọc lại những tác phẩm ấy, điều còn đọng lại không phải chỉ là khói lửa chiến tranh, mà là khát vọng rất bình dị của con người: được sống trong hòa bình, được trở về bên gia đình và được yêu thương.

Lịch sử có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng những trang văn, bài thơ và ca khúc viết bằng cảm xúc chân thành vẫn có giá trị như những chứng nhân của một thời đại. Chúng giúp các thế hệ sau hiểu rằng, phía sau mỗi bộ quân phục là một con người với trái tim biết yêu, biết nhớ và biết hy sinh.

Đó cũng chính là giá trị lâu bền của văn học nghệ thuật miền Nam trước năm 1975: lưu giữ hình ảnh người lính không chỉ như một chiến binh, mà trước hết là một con người.

Phạm Sơn Liêm.



50 NĂM SÀI GÒN ĐỔI TÊN 

"Nếu nói theo Plato rằng “Thời gian là ảnh tượng di động của Vĩnh hằng” thì tôi xin nói thêm “Không gian là quán trọ của ký ức”.
...
ĐỊA LÝ LÀ ĐỊNH MỆNH
...
"[Ở Sài Gòn] trong khi dân Hải Phòng dù năng động, hay dân gốc Hà Nội văn hay chữ tốt, cũng bị dân gốc Quảng Nam gạt ra lề. Hỏi một nhà báo về lãnh đạo truyền thông ở Sài Gòn thì hầu hết là dân gốc Quảng Nam. Ngay cả dân gốc Thanh Nghệ Tĩnh cũng chỉ vươn lên ở lãnh vực khoa bảng, chính trị lãnh đạo, hay đại gia tư bản thân hữu, nhưng nhìn chung, về bình diện dân sự quần chúng, người Quảng Nam vẫn làm chủ tình hình.
...
"Lạ lùng nhất là dân di cư gốc Huế ở Sài Gòn lại là khối dân bất động, liệt cơ, rất ít có nổi lên ở bất cứ lãnh vực nào - ngoại trừ trong các giáo hội Phật hay Công giáo. Có lẽ sự suy tàn của kinh đô và triều đại nhà Nguyễn ở Huế đã kéo theo sự tê liệt ý chí thế gian của con cháu xứ thần kinh Phú Xuân.
...
"Nhìn chung, ta có thể nhận thấy một điều hiển nhiên: Người Hà Nội, hay Huế, có thể trở thành người Sài Gòn, từ giọng nói, đến tính cách - nhưng ngược lại thì không. Dân Sài Gòn có ra Hà Nội sinh sống từ nhỏ vẫn không trở thành người miền Bắc. Hình như Sài Gòn là trạm cuối – the final destination - cho đoàn xe lửa một chiều của dân tộc. Điều đó cho ta thấy rằng văn minh Sài Gòn từng đứng ở điểm cao nhất trong chiều dài tiến hóa của tâm hồn Việt Nam."
...
"Nếu các đại gia ở Sài Gòn muốn tìm thuê một gia nhân ở đợ, họ chỉ tìm các cô gái, các bà gốc miền Tây. Họ ít tin người miền Bắc hay miền Trung làm việc đó. Người miền Tây, mang giòng máu vọng tộc nhà Minh, với bản tánh hiền hòa, nặng chữ tín, không gian xảo, từ lâu vốn là một nguồn đạo đức khá vững chắc xây dựng văn hóa Sài Gòn. Họ không có khiếu văn chương, học thuật, hay mang tham vọng quyền lực, nhưng họ giỏi về buôn bán, kinh doanh, trọng chữ tín. Họ là xương sống văn hóa bình dân Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn. Nếu bạn có lần đứng chờ taxi dưới mái hiên phố Sài Gòn trong cơn mưa xối xả thì người Hoa trong nhà sẽ đem cho bạn chiếc ghế để bạn ngồi."

KHI ĐỒNG HỒ CHỢ BẾN THÀNH DI CƯ QUA BOLSA
...
"Có thể rằng ân huệ lớn cho con cháu người Sài Gòn ở California, hay bất cứ địa phương hải ngoại nào, là khả năng quên đi quá khứ, lịch sử cố quốc, câu chuyện gia đình. Họ chỉ có tương lai - còn ký ức Sài Gòn thì chỉ là một giấc mơ muôn đời thoáng qua như sự di động của chiếc kim đồng hồ trên nóc chợ Bến Thành kia.
...
"Như Plato từ hơn hai ngàn năm trước đã có lần suy diễn rằng khi Thượng Đế đã hoàn tất sáng thế, Ngài chỉ vào chiếc bóng bên tường rêu, gọi là ảnh tượng chuyển hóa từ ký ức muôn thửa, mà ta cho là Thời gian.
...
"Đó chính là chiếc đồng hồ lớn mới được dựng lên mấy tháng trước trên nóc chợ người Việt gốc Hoa ở góc đường Brookhurst và Bolsa, thị xã Westminster (photo). Nó đã vượt biên từ chợ Bến Thành sang xứ mới - và mãi là biểu tượng hiếm muộn cho một Sài Gòn nay đã không còn." ...

NHL
California Tháng Sáu, 2026.

Cái nghề nào không bao giờ cần kiểm tra xem khách đã chuyển khoản hay chưa?

Nghề bán báo vỉa hè.

Dạo gần đây tôi hay gọi đó là nỗi buồn tri thức, khi mình đứng trước một sạp báo cũ, nhìn vài tờ giấy mỏng nằm im, rồi nhận ra có những thứ sẽ không còn nữa, dù mình từng cứ tưởng nó còn mãi.

Hôm nay, khi ngồi tại sạp báo, tôi thấy một cô mua báo Phụ Nữ. Cô nói: đọc cần kiên nhẫn lắm con, mà người ta bây giờ ít kiên nhẫn rồi.

Nghe xong tôi lặng đi một chút. Ngay góc đường Phạm Ngọc Thạch, trước mặt tôi là chú Hùng.

Tôi gọi chú là người Hùng thầm lặng với sạp báo.

Chú bán báo ở Sài Gòn này từ những năm 2000. Một người Quảng Nam vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng, ngồi giữa nắng, mưa, bụi xe, báo ngày, báo tuần, báo tháng, vậy mà mua được nhà, nuôi hai đứa con ăn học thành tài. Nghe xong tôi thấy nể chú quá.

Chú không giảng về tri thức, không nói về văn hóa đọc, chú chỉ bán báo mỗi ngày ở góc đường này. Nhưng có những người cả đời không cần nói nhiều về tri thức, vì cái nghề họ làm đã đứng cạnh chữ nghĩa mấy chục năm rồi.

Cái nghề này lạ lắm. Nó ma sát với một lớp người đặc biệt: người đọc, người viết, người gieo con chữ, người làm ăn cần hiểu thời cuộc, người chịu ngồi với một bài viết dài, người còn tin rằng có những vấn đề không thể hiểu bằng vài dòng lướt qua.

Vậy mà chú nói một câu làm tôi thấy rất thú vị: chú không bao giờ kiểm tra tài khoản xem tiền đã vào chưa.

Tôi hỏi: tại sao vậy chú?

Chú nói đại ý là mấy chục năm nay, người mua báo chỉ có cho thêm, chứ chưa bao giờ lấy của chú cái gì.

Tôi nghe mà nghẹn thật. Trời ơi, ngay Quận 3, Sài Gòn, có một thứ mà tôi cứ tưởng chỉ còn ở đâu xa lắm.

Tôi nhớ tới một câu người ta hay nhắc về chợ sách cổ Al-Mutanabbi ở Baghdad: người đọc sách thì không ăn trộm sách, còn kẻ trộm thì không đọc sách.

Ở đó, người bán có thể bày sách tràn ra vỉa hè, có khi để qua đêm mà không cần trông coi kỹ, vì họ tin rằng người thật sự đọc sách không nỡ lấy trộm một cuốn sách như vậy.

Tôi từng nghĩ đó là một câu chuyện đẹp ở xứ khác. Vậy mà hôm nay, tôi thấy một phiên bản rất Sài Gòn của nó, nằm trên một sạp báo cũ, trong một cú chuyển khoản không cần kiểm tra, giữa người bán báo và người mua báo.

Một xã hội mà người bán báo vỉa hè có thể tin người mua tới mức không cần nhìn lại tài khoản, xã hội đó từng có một lớp quan hệ rất nhẹ nhàng, tình cảm. Người bán hàng không phải gồng lên đề phòng, người mua không bị nhìn như kẻ có thể quỵt vài chục ngàn.

Một tờ báo nằm giữa hai con người, tự nhiên làm không khí tử tế hơn một chút. Thứ tử tế rất nhỏ, như chén nước trà còn nóng, lời nói còn đáng tin.

Tôi từng đọc trong Gia Định thành thông chí, ngài Trịnh Hoài Đức ghi vùng Gia Định là nơi người từ bốn phương tụ lại, mỗi nhà có phong tục riêng, rồi tả người Gia Định trọng nghĩa khinh tài.

Lúc đọc trong sách, tôi thấy đó là một nhận xét hay. Nhưng đứng trước sạp báo của chú Hùng, tôi mới thấy câu đó có da thịt người Gia Định, Sài Gòn, với cái nghĩa của vài chục ngàn tiền báo, một cú chuyển khoản không cần kiểm tra, một niềm tin cũ còn sót lại giữa thành phố hiện đại đang chạy rất nhanh.

Có những thứ tử tế không nằm trong hội thảo, không nằm trong diễn văn. Nó nằm ở chỗ một người bán báo vẫn ngồi đó, một người mua báo vẫn quay lại, vài chục ngàn được chuyển đi trong sự tin nhau, không cần ai phải dạy ai sống tốt bằng mấy cuốn sách tự lực.

Chú Hùng nói báo vẫn bán đều, vẫn còn rất nhiều người đọc.

Chỗ này mới là nỗi buồn tri thức.

Vì nếu một tờ báo dừng lại do không còn ai đọc, mình có thể buồn, nhưng còn dễ hiểu. Đời sống đổi thay, thói quen đổi thay, mô hình cũ không còn hợp, nghe vậy vẫn có chỗ để giải thích.

Nhưng nếu người đọc vẫn còn, người bán vẫn còn, những người mỗi sáng vẫn quay lại với đúng tờ báo đó vẫn còn, thì nỗi buồn này không còn đơn giản là chuyện báo giấy bị thời đại bỏ lại phía sau nữa.

Nó đau hơn. Nó giống như thấy một cái cây vẫn còn xanh, vẫn còn người ngồi dưới bóng, nhưng người ta đã đóng dấu rằng tới đây là hết. Có những chuyện trong đời chỉ cần nhìn nhau là hiểu.

Chú Hùng nói: không bao giờ nghĩ có ngày này.

Có lẽ chú nghĩ vậy cũng phải. Chú đã kiên nhẫn bán, vì suốt nhiều năm vẫn còn rất nhiều người kiên nhẫn đọc. Với họ, tờ báo giống như ly cà phê sáng, đọc xong đầu óc tỉnh ra, có thêm chút tri thức để bước vào một ngày mới. Và chẳng ai nói: tôi không đủ kiên nhẫn uống cà phê sáng khi đang buồn ngủ.

Nhưng với tri thức, nhiều người lại đang nói vậy, chỉ là họ nói bằng cách khác.

Tôi nghĩ nhiều về câu: đọc cần kiên nhẫn lắm con.
Câu đó đúng, nhưng chưa đủ. Người trẻ hôm nay không thiếu thông tin. Chúng tôi sống trong một thời mà thông tin dí thẳng vào mặt từng phút.

Mở mắt ra là tin nóng, quan điểm nóng, phán xét nóng, tranh cãi nóng. Cái gì cũng đòi nhanh, gọn, dễ hiểu, dễ chia sẻ, dễ chốt phe. Một bài dài thì xin tóm tắt, một vấn đề phức tạp thì xin ba gạch đầu dòng, một cuộc đời người khác thì xin kết luận trong một câu.

Rồi AI xuất hiện và làm chuyện đó còn nhanh hơn nữa. Nó có thể tóm tắt một bài báo trong vài giây, rút ý chính của một quyển sách, viết lại một đoạn văn, dịch một bài dài, giải thích một chính sách, thậm chí bắt chước giọng của người khác.

Đời mới tiện dữ nghen. Tôi làm việc tại một công ty AI, nên tôi không có nhu cầu đứng ngoài công nghệ.

Nhưng càng làm với AI, tôi càng thấy một chuyện hơi ngược đời: máy có thể giúp con người đọc nhanh hơn, nhưng nó không thể đọc chậm giùm con người.

Vấn đề không phải là AI làm người ta ngu đi. Vấn đề là rất nhiều người đang dùng AI như cái máy nhai cơm. Việc đáng lẽ cái đầu phải tự làm, mình giao hết cho máy. Tóm tắt giùm tôi, kết luận giùm tôi, chọn phe giùm tôi, viết phản biện giùm tôi.

Cuối cùng, người ta không còn đọc để hiểu, mà đọc để lấy đạn đi bắn nhau. Không còn đọc để tự sửa mình, mà đọc để có thêm lý do thấy mình đúng.

Cái thiếu của đời này không phải là thông tin. Cái thiếu là sức nhai của một cái miệng thật.

Câu chuyện của sạp báo hôm nay vì vậy không chỉ là chuyện người ta đọc ít đi. Chú Hùng vẫn bán. Người đọc vẫn còn. Những người cần một tờ báo để hiểu kinh tế, chính sách, doanh nghiệp và đời sống vẫn còn. Cái bàn đó chưa vắng hết người ngồi. Ly cà phê sáng đó chưa tan đá hẳn.

Vậy mà có những tờ báo vẫn đi tới số cuối.
Chỗ đó mới là nỗi buồn khó gọi tên.

Tôi đọc khá nhiều bài luận về Kinh tế Sài Gòn ở số cuối này, về báo chí, về đô thị, về văn hóa đọc, phần lớn đến từ các thế hệ đi trước. Tôi biết ơn họ, nhưng tôi cũng tự hỏi người trẻ ở đâu.

Không phải người trẻ không viết, không nghĩ, không đọc. Nhưng đời sống mới kéo người trẻ vào một cái chợ quá ồn. Ai cũng phải nói nhanh hơn, sắc hơn, dễ lan truyền hơn. Nhiều khi một câu nói chưa kịp chín đã bị đem ra bày bán, một suy nghĩ mới nhú đã bị ép thành nội dung để đổi tương tác.

Cái nguy hiểm của thời này không phải là không ai nói. Ngược lại, ai cũng nói. Nhưng nói nhiều chưa chắc là nghĩ nhiều, viết nhiều chưa chắc là đọc sâu. Có nhiều người trẻ rất giỏi phản ứng, nhưng không giỏi suy nghĩ. Rất nhanh trong việc bắt lỗi người khác, nhưng rất chậm trong việc tự sửa cái sai đang nằm trong đầu mình.

Tôi đến với Kinh tế Sài Gòn khá muộn.
Tôi không có vài chục năm ký ức với tờ báo này, không từng cộng tác, không từng ngồi với các cô chú anh chị làm nghề để bàn một bài viết, một đề tài, một câu chữ. Tôi chỉ là người trẻ tới sau, tới lúc đủ lớn để hiểu giá trị của một tờ báo kinh tế nghiêm túc, thì nó đã đi đến số cuối.

Cái tiếc của tôi vì vậy rất khác. Không tiếc như mất một phần tuổi trẻ, tôi tiếc như thấy một cái bàn học cũ bị dọn đi ngay lúc mình vừa ngồi vào học, khi mình còn chưa kịp đọc, kịp chiêm nghiệm, kịp hiểu vì sao bao nhiêu người yêu quý nó đến vậy.

Một tờ báo như Kinh tế Sài Gòn không chỉ cung cấp tin. Nó rèn cho người đọc một kiểu đọc. Đọc để hiểu dòng chảy phía sau đời sống, đọc để thấy một quyết định chính sách không nằm riêng trên giấy, nó đi vào doanh nghiệp, đi vào bữa cơm, đi vào công việc, đi vào tương lai của rất nhiều người.

Kiểu đọc đó không dễ, vì nó bắt mình phải chậm lại. Mà đời này, cái gì bắt người ta chậm lại đều có vẻ lỗi thời. Nhưng lỗi thời không có nghĩa là vô dụng.

Nhiều thứ ở Sài Gòn cũng vậy. Một sạp báo, một tiệm sách cũ, một quán cà phê sáng có người ngồi đọc báo, một ông chú bán báo không kiểm tra chuyển khoản, những thứ đó nhìn qua tưởng nhỏ, nhưng nó giữ cho thành phố một chút nhịp sống rất người.

Không phải nhịp sống tiêu dùng, không phải quảng cáo, mà là nhịp sống của những người còn chịu đọc, chịu suy nghĩ, chịu tin tưởng nhau một chút.

Và nhiều người nghĩ tôi có thể là độc giả cuồng nhiệt của Kinh tế Sài Gòn. Thật ra tờ báo tôi mê nhất là Tuổi Trẻ Cười.

Có thể vì vậy mà tuổi thơ tôi từng nhịn ăn sáng để mua báo. Với tôi, Tuổi Trẻ Cười giống như bánh da lợn vậy, ăn từ bé, hơi ngọt, hơi dẻo, hơi quê quê, nhưng nhớ lâu.

Còn khi nghe chú Hùng ví Kinh tế Sài Gòn như ly cà phê sáng, tôi mới nhận ra mình vừa mất một ly cà phê tri thức, được pha bởi những người pha chế tài năng, bằng loại cà phê cô đặc và chất lượng cao.

Báo giấy sẽ mai một, chuyện đó có lẽ không tránh được. Đời sống thay đổi thì vật chứa cũng thay đổi. Từ giấy sang màn hình, từ màn hình sang AI, từ đọc trực tiếp sang hỏi máy móc tóm tắt, chuyện đó không có gì lạ.

Nhưng có một thứ không nên mất theo tờ giấy.
Đó là độc giả.

Vì người đọc không chỉ là người cầm tờ báo trên tay. Người đọc là người còn đủ kiên nhẫn để ngồi lại với một vấn đề, đủ bình tĩnh để đi qua một bài dài, đủ tự trọng để không biến mọi thứ thành vài dòng kết luận vội.

Người đọc là người biết một bản tóm tắt có thể giúp mình bắt đầu, nhưng không thể thay mình sống chung với một câu hỏi khó.

Vợ tôi, một người học kinh tế, đọc từ thời sinh viên, nghe chuyện cũng buồn hùi hụi. Hôm nay tôi đem về ba tờ cho nàng đọc, nàng ngẫm.

Tôi cũng mua thêm hai tờ Saigon Times để tặng một ông bạn người Nhật, một người ở Việt Nam nhưng chỉ đọc mỗi tờ này, rồi báo cho ông biết rằng nó sắp dừng lại.

Ngày mai tôi sẽ quay lại mua Tuổi Trẻ Cười, mấy tờ báo hồi nhỏ tôi đọc mê như đọc truyện tranh.

Có những cuộc chia tay không ồn ào. Không kèn trống, không náo nhiệt, nó chỉ lặng lẽ diễn ra trên một sạp báo cũ, nơi người bán vẫn ngồi đó, người đọc vẫn quay lại, vài tờ báo cuối cùng vẫn được trao đi bằng một niềm tin rất nhỏ.

Tôi nghĩ mình sẽ nhớ hình ảnh đó lâu. Một ông chú bán báo không kiểm tra chuyển khoản, một vài người đọc còn quay lại mua thêm mấy tờ cuối, một thói quen tử tế vẫn còn đứng đó, rất nhỏ, rất ấm áp, giữa một thành phố đang chạy rất nhanh.

Và cái đau nhất của một tờ báo số cuối, đôi khi không nằm ở chỗ nó biến mất.

Mà nằm ở chỗ khi nó biến mất, mình mới nhận ra quanh nó từng có nhiều điều đáng quý đến vậy.



Ly Cà Phê Bên Sông Hàn, Đà Nẵng

Đà Nẵng, mùa hè năm 1974.
Buổi chiều, gió từ sông Hàn thổi mát rượi.
Quán cà phê nhỏ lợp mái tôn nằm sát bờ sông Hàn. Chỉ vài chiếc bàn gỗ, mấy cái ghế thấp và chiếc radio National rè rè phát bản Sầu Lẻ Bóng.

Ngày nào cũng đúng bốn giờ. Một anh lính trẻ của Quân lực VNCH lại chạy chiếc Honda Dame màu xanh đến quán.
Vừa dựng xe, cô bán cà phê đã chống nạnh cười:
— Ủa… hôm nay cũng “tuần tra” ngang đây nữa hả ông lính?
Anh cười tỉnh bơ:
— Không. Hôm nay tôi làm nhiệm vụ của mình. 
— Nhiệm vụ gì?
— Nhìn xem cô chủ quán có còn dễ thương như hôm qua không.
Cô gái đỏ mặt.
— Xạo vừa thôi!
— Tôi là lính. Có chứ, nhưng với người đẹp thì không.
Cô bật cười khúc khích.

Đặt ly cà phê xuống bàn, cô cố tình để chiếc muỗng kêu leng keng.
— Một ngày ông uống hai ly rồi đó. Coi chừng tim đập mạnh.
Anh nhấp một ngụm.
— Tim tôi đập mạnh từ lúc bước vô quán rồi, đâu phải vì cà phê.
— Thôi đi ông!
— Thiệt mà.
Cô lườm yêu.
— Bộ doanh trại không có ai đẹp sao?
— Có.
— Rồi sao?
— Toàn lính.
Cô ôm bụng cười muốn nghiêng cả bàn.

Hôm sau… Anh lại đến.
Hôm sau nữa… Lại đến.
Đến mức mấy cô bán hàng bên cạnh nhìn thấy chiếc Honda từ xa là cười:
— Kìa… “khách ruột” của con Thu tới nữa rồi!
Thu giả bộ bực.
— Khách gì! Ổng ghi sổ nợ đầy ra đó!
Anh nghe được, bước vào liền nói lớn:
— Ghi tiếp đi! Bao giờ cưới thì trừ vô của hồi môn!
Cả quán cười ồ.
Thu đỏ bừng hai má.
— Ai nói cưới ông?
— Chưa nói.
— Vậy?
— Tôi đang chờ cô nói.
Thu cắn môi.
— Đồ… mặt dày!

Một buổi chiều khác. Anh mặc đồ lính chuẩn bị theo đơn vị ra công tác.
Vừa ngồi xuống, Thu bưng ly cà phê mà không đùa như mọi khi.
Cô nhỏ giọng:
— Đi bao lâu?
— Chưa biết.
— Có… nhớ quán không?
Anh nhìn thẳng vào mắt cô.
— Nhớ người bán quán nhiều hơn.
Thu cúi đầu.
Một lát sau, cô lấy trong túi áo ra chiếc khăn tay trắng nhỏ xíu.
— Mẹ em thêu đó.
— Cho tôi?
— Ừ…
— Để lau mồ hôi?
— Không.
— Vậy làm gì?
Thu cười tinh nghịch:
— Để lúc nhớ em thì lấy ra ngửi…
Anh giả bộ làm theo ngay.
— Ừm… thơm thiệt!
Thu đánh yêu lên vai anh.
— Ê! Giữa quán đó!
— Có sao đâu.
— Người ta nhìn kìa!
— Kệ.
— Ông gan dữ!
Anh ghé sát, hạ giọng vừa đủ để chỉ mình cô nghe:
— Ra trận còn không sợ… chỉ sợ mai này về, quán cà phê đổi chủ, còn cô thì theo chồng.
Thu nhìn anh thật lâu.
Rồi bất ngờ nhéo nhẹ vào cánh tay anh.
— Đau!
— Cho nhớ.
— Sao nhéo?
— Để biết mình còn có người chờ.

Ngoài kia, nắng chiều phủ vàng lên mặt nước sông Hàn.
Tiếng xe Jeep, tiếng Honda, tiếng radio và tiếng cười của cô gái bán cà phê hòa vào nhau, tạo nên một ký ức rất riêng của Sơn Chà Đà Nẵng trước năm 1975. Có những mối tình chỉ bắt đầu bằng… một ly cà phê đen ít đường.

Nhưng đủ ngọt để một người lính mang theo suốt cả đời.

Phạm Sơn liêm.

TỪ KẾ TƯỜNG – BÁN DANH BA TRIỆU?!

Tác Giả: Nguyễn Hữu Thiện

Trong mấy năm gần đây, trên Google có một số bài viết bịa đặt về “chuyện tình tay ba” giữa nữ danh ca Minh Hiếu, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và Trung Tướng Vĩnh Lộc.

Theo sự tìm hiểu của tôi, những sự bịa đặt ấy đều dựa trên, hoặc sao chép từ loạt bài “Bí ẩn bài hát Hoa trinh nữ” của “cựu nhà văn” Từ Kế Tường.

Tôi viết “cựu nhà văn” để quý vị, quý bạn biết trước kia ông ta là một nhà văn, còn sau này ông ta chỉ là một nhà báo “nói láo ăn tiền” không hơn không kém!

Vì thế, chẳng đặng đừng, hôm nay tôi phải viết bài này để độc giả nào chưa biết về một “Từ Kế Tường sau 30 tháng Tư 1975” được tỏ tường.

* * *
Trước hết xin mời độc giả đọc tóm lược tiểu sử của Từ Kế Tường trên trang mạng Wikipedia:

Từ Kế Tường là một nhà văn tại miền Nam Việt Nam và hiện là nhà báo.

Từ Kế Tường tên thật là Võ Tấn Tước, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1946; quê quán tại xã Phú Vang, Bình Đại, Bến Tre. Ông là hội viên hội nhà văn Việt Nam.

Từ Kế Tường sống ở Sài Gòn trước 1975. Từ 1969 đã bắt đầu viết văn, làm báo. Ông là Thư ký toà soạn tuần báo Tuổi Ngọc, một trong những tờ báo văn nghệ ăn khách nhất thời đó dành cho lứa tuổi mới lớn. Rồi làm chủ bút tuần báo Mây Hồng —một dạng như báo Tuổi Ngọc. Tính đến 1975, ông đã xuất bản nhiều sách gồm: Thơ, tập truyện ngắn, tiểu thuyết, trong đó có các sách viết cho thiếu niên và nhi đồng.

Tháng 5 năm 1975, gia nhập hội văn nghệ giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Từ 1979 đến 1986: làm việc trong ngành văn hoá thông tin. Từ 1986 đến 2003: thư ký toà soạn báo công an TP Hồchíminh. Hơn nữa, ông còn là một nhà báo đeo quân hàm cấp tá của ngành công an. Sau đó làm việc tại tuần báo Văn nghệ TP. Hồchíminh. Khoảng năm 2014, ông chuyển qua làm cho một số tờ báo điện tử. (ngưng trích)

* * *
Theo các cơ quan an ninh cũng như truyền thông miền Nam trước năm 1975, Từ Kế Tường không phải việt cộng nằm vùng như Vũ Hạnh, Sơn Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Phạm Thế Mỹ, Trần Long Ẩn…, mà chỉ là một tay “30 tháng Tư” thuộc hàng nhanh chân nhất, thành công nhất sau ngày miền Nam đổi chủ.

Nhanh chân cho nên ngay trong tháng 5 năm 1975, ông ta đã gia nhập hội văn nghệ giải phóng, thành công nhất vì có mấy ai thuộc thành phần trở cờ mà được phía bên kia trao chức vụ Thư ký toà soạn của báo công an thành Hồ, lại còn được đeo quân hàm cấp tá của ngành công an!

Nhưng ở đây tôi không phê phán hành động trở cờ của Từ Kế Tường bởi vì nói cho cùng sau 30 tháng Tư 1975, trong bất cứ lĩnh vực nào cũng có những thành phần trở cờ vì miếng cơm manh áo, vì an nguy của bản thân, hoặc cả hai. Tôi chỉ phê phán tư cách con người Từ Kế Tường từ thập niên 2010, khi ông ta bắt đầu viết bài để bán cho các báo điện tử, nhắm vào đối tượng độc giả bình dân.

Với thành đối tượng độc giả này muốn ăn khách thì phải giật gân, ly kỳ rùng rợn, và rẻ tiền. Từ Kế Tường đã đáp ứng đủ ba yêu cầu đó.

Khởi đầu với bài “Ca sĩ Kim Loan và oan tình với Tổng Thống Thiệu?” được tung ra vào đầu năm 2012, được ông ta bán cho những tờ báo online lớn nhất trong nước, trong đó có VnExpress, PHUNUTODAY…, rồi được vô số báo online khác và các trang mạng đăng lại.

Cùng với Kỳ II mang tựa đề “Những bóng hồng qua tay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu”, loạt bài của Từ Kế Tường đã được hàng triệu lượt người xem.

* * *
Một điểm đáng chú ý trong loạt bài này là trong khi ra sức bịa đặt, bôi nhọ cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì những gì “không tốt” liên quan tới nữ ca sĩ Kim Loan, Từ Kế Tường luôn luôn đặt một dấu hỏi để đề phòng việc bị kiện về tội danh phỉ báng.

Nhưng tới loạt bài “Bí ẩn bài hát Hoa Trinh Nữ”, viết về chuyện tình tay ba (tưởng tượng) giữa nữ ca sĩ Minh Hiếu – nhạc sĩ Trần Thiện Thanh – Trung Tướng Vĩnh Lộc, tung ra vào năm 2015, Từ Kế Tường biết chắc chắn không ai làm gì được mình, cho nên đã viết xả láng, nào là việc Minh Hiếu bị viên Đại Úy cháu Tổng Thống Ngô Đình Diệm hại đời trinh nữ, tự tử nhưng được viên Trung Úy cháu Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí cứu sống; nào là Minh Hiếu trả thù đời bằng cách quyến rũ Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, buộc ông phải bỏ vợ con để lấy mình…, nhất nhất đều được Từ Kế Tường kể lại một cách chi tiết như thể ông ta đã nằm dưới gầm giường của người nữ danh ca (khi cô bị cưỡng hiếp), và rình sẵn trong toa-lét vũ trường (khi cô uống 20 viên thuốc ngủ)!

Thực ra, nếu Từ Kế Tường chỉ dựng đứng những chuyện ly kỳ rùng rợn về đời tư của Kim Loan, của Minh Hiếu để câu khách, tôi đã thây kệ ông, bởi sống ngần ấy tuổi hẳn ông phải biết câu “bút sa gà chết”, nhưng ở đây ông ta còn bịa đặt, xuyên tạc một cách trắng trợn khi viết về những nhân vật có liên quan, đồng thời vẽ ra một bức tranh cực kỳ xấu xa, tồi tệ về chính trường, quân đội, xã hội miền Nam trước năm 1975, tôi bắt buộc phải đặt câu hỏi: tại sao ông ta lại thù ghét và khinh miệt Việt Nam Cộng Hoà tới mức ấy? Ông ta lớn lên, được ăn học, và thành danh dưới hai nền cộng hoà mà!

Không có câu trả lời, tôi đành tạm kết luận Từ Kế Tường bẻ cong ngòi bút chỉ vì đồng tiền. Nghe nói loạt bài “Bí ẩn bài hát Hoa trinh nữ” kéo dài 8 kỳ được đăng trên nhiều tờ báo online đã mang lại cho ông ta một thù lao kỷ lục.

Như vậy câu “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” trong trường hợp Từ Kế Tường phải sửa lại là “bán danh ba… triệu”.

Nhưng dù ba triệu thì cũng là “easy money” – easy come easy go!

Sau vài năm làm mưa gió online với thể loại bài viết nhảm nhí, rẻ tiền nói trên, Từ Kế Tường bị “đói” (xin hiểu “đói” theo nghĩa của các nhà báo bị ế độ), phải về quê sống bằng lương hưu.

Rốt cuộc danh tiêu tan mà tiền cũng cạn sạch.

* * *
Cũng xin được nhấn mạnh, những loạt bài nói trên của Từ Kế Tường đã không hề được bất cứ tờ báo quốc doanh nào của cộng sản việt nam đăng tải, bởi những người làm báo quốc doanh ấy cho dù có thù ghét chế độ Việt Nam Cộng Hoà tới mức nào, cũng đủ sáng suốt nhận định: trong lĩnh vực tuyên truyền, đôi khi bịa đặt trắng trợn, nham nhở sẽ bị gây ông đập lưng ông!

Chính vì thế mà vào năm 2022 đã xảy ra một chuyện khó tin nhưng có thật: trang Văn Nghệ của tờ công an nhân dân đã đăng bài đả kích cuốn sách “Đệ Nhất Phu Nhân” (Trần Lệ Xuân) của tác giả Hoàng Trọng Miên khi biết có một nhà xuất bản trong nước đang chuẩn bị tái bản cuốn sách này.

Xin trích đăng nguyên văn:
Về cuốn “Đệ Nhất Phu Nhân” của Hoàng Trọng Miên

* Nguyễn Hồng Lam
Nổi tiếng suốt gần 6 thập niên, cuốn “Đệ nhất phu nhân” của Hoàng Trọng Miên (cũng có nơi ghi là Hoàng Trọng Miêng) là một cuốn sách tập hợp những lời đồn vỉa hè vô căn cứ nhằm câu khách, thoả mãn thị hiếu giải trí dễ dãi. Và phần nào đó, theo nhà nghiên cứu Đặng Tiến (Pháp), có thể, trả đũa nhân vật do bất đồng hay hiềm khích nào đó trong quá khứ.

Đã gọi là tiểu thuyết thì tác giả có quyền hư cấu, miễn sự hư cấu không làm tổn hại đến nhân vật trong đời thực, nếu họ không làm, không nói những điều như trong tiểu thuyết. Phần khác, hư cấu khác với suy diễn nhưng cả hai đều cần có căn cứ, cơ sở xác thực.

Một khi nhân vật trong sách đã là người thật, đã tồn tại trong đời, dù hư cấu hay suy diễn, dù tiểu thuyết hay sách tư liệu, không ai được phép gán cho họ những việc họ không làm, không được phép bắt họ nói điều mà chỉ tác giả mới có thể nghĩ ra.

Ông Hoàng Trọng Miên sinh năm 1918 ở làng Nguyệt Biều, Huế. Đó cũng là quê ngoại bà Trần Lệ Xuân, nhân vật chính của cuốn sách, sinh năm 1924.

��

Tất nhiên, những “lời đồn” được tập hợp thành hệ thống nội dung, chi tiết trong cuốn “Đệ nhất phu nhân” có hàm lượng chính xác và tin cậy rất thấp, cũng giống như nhiều cuốn sách khác của tác giả Hoàng Trọng Miên, kể cả sách khảo cứu đều có hàm lượng tri thức, độ xác tín, tính đúng đắn không cao. 

Ngay từ thập niên 1960, tại miền Nam cho đến tận thời điểm hiện tại, nhiều cuốn sách của Hoàng Trọng Miên, ngay sau khi xuất bản đều đã làm dấy lên những tranh cãi chê bai quanh các mặt tiêu cực và sai trái như đạo văn, bịa đặt, sáng tạo và xuất bản vì động cơ không trong sáng, phi học thuật, phi văn nghệ… Cho dù ở cả hai thời ông đều được coi là một tác giả có tiếng tăm, có vị thế trong làng văn nghệ.

Số là sau đảo chánh 1/11/1963 lật đổ và giết chết anh em Tổng thống Việt Nam cộng hoà Ngô Đình Diệm, bất cứ thông tin gì liên quan đến anh em ông Ngô Đình Diệm cũng trở nên thu hút độc giả miền Nam. Vì thế, trên mặt báo, nhất là các tờ báo đối lập với nhà Ngô và các tờ điện ảnh, kịch trường mang xu hướng giải trí, thông tin liên quan đến anh em ông Diệm, ông Nhu, bà Lệ Xuân và những người liên quan cứ được tung ra loạn cào cào. Đúng hay sai, tốt hay xấu —đa số là xấu— độc giả đều háo hức tiếp nhận.

Những chuyện càng xấu xa, bại hoại càng được độc giả tò mò chú ý hơn. Không ít cây bút chuyên viết báo feuilleton (dài kỳ) đã cố vẽ vời, phóng đại, thậm chí bịa đặt để câu độc giả.

Quanh việc anh em ông Diệm - ông Nhu đào thoát khỏi dinh Gia Long, trốn xuống nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn trước khi đồng ý nộp mình cho phe đảo chính, người ta đã thêu dệt không ít tình tiết ly kỳ và nó lại được coi như thâm cung bí sử trong hơn nửa thế kỷ.

Lúc đó có tin đồn người thiết kế đường hầm bí mật trong Dinh Gia Long là kiến trúc sư Võ Đức Diên. Ông KTS này được đương thời xem là một tài năng, từng rất nổi tiếng, là người điều hành tạp chí ảnh “Sáng dội miền Nam” do một hãng dầu tài trợ. Tin đồn sau đó còn đi xa hơn, cho rằng ông KTS Võ Đức Diên đã bị Ngô Đình Nhu sai người sát hại một cách bí mật bằng thuốc độc để không còn ai biết về bí mật của con đường hầm này.

Đến nay, sau gần 60 năm, vẫn không thể xác định được ai đã tung ra tin KTS Võ Đức Diên đã thiết kế đường hầm và bị giết để bịt đầu mối. Nhưng tất cả các chi tiết “lời đồn” đó, kèm nhiều thông tin bôi bác nhân vật khác đều được tập trung hết vào cuốn “Đệ nhất Phu nhân” của tác giả Hoàng Trọng Miên.

Với các bậc thức giả miền Nam, Hoàng Trọng Miên là một cây bút “giậu đổ bìm leo”. Ngay trong những ngày vàng son của chế độ Ngô Đình Diệm, Hoàng Trọng Miên đã là tác giả bộ sách dày khảo cứu về văn minh Việt Nam, tựa "Việt Nam văn học toàn thư", tập I do Quốc Hoa, Sài Gòn xuất bản năm 1959; tập II Văn Hữu, Sài Gòn in năm 1960.

Sách vừa xuất bản, nó đã được đánh giá cao, được chính quyền Việt Nam Cộng Hoà trao giải thưởng quốc gia về văn hoá năm 1960. Người đọc trầm trồ với một đóng góp lớn cho nền nghiên cứu văn học. Trí thức miền Nam rất quan tâm đến cuốn sách.

Nhưng chính vì thế, họ đã… chỉ ra ngay, quyển này Hoàng Trọng Miên đạo văn, nếu không nói là thuổng nguyên của những kết quả nghiên cứu của học giả Nguyễn Đổng Chi ở ngoài Bắc, từ các cuốn “Lược thảo về thần thoại Việt Nam” (1956) và “Sơ thảo lịch sử Văn Học Việt Nam” (đồng tác giả, năm quyển, 1958-1960). Phát hiện của dư luận là chính xác, đến mức Hoàng Trọng Miên ngay lập tức bị tước giải. Dư luận lại xôn xao, phê phán suốt một thời. Chính vì thế, mãi rất lâu sau, khi dư luận đã lắng dịu, Hoàng Trọng Miên mới có thể xuất bản “Việt Nam văn học toàn thư III” tại NXB Tiếng Phương Đông, Sài Gòn, vào năm 1973. Đó là một minh chứng rõ nét của sự gian lận.

Ngay sau 1/11/1963, Hoàng Trọng Miên đã viết trên báo hàng ngày một loạt feuilleton kể xấu thậm tệ về đời sống đạo đức của ông bà Trần Văn Chương, là bố mẹ bà Trần Lệ Xuân. Chị ruột của bà Trần Lệ Xuân là Trần Lệ Chi cũng bị ông Miên bêu riếu bằng hàng chục kỳ báo mô tả trần trụi quan hệ luyến ái ngoài luồng, cắm sừng chồng (một luật sư danh tiếng), đến nỗi bà này không chịu nổi, phải tự tử nhưng được cứu. 

Hoàng Trọng Miên còn gán việc bà Trần Lệ Xuân đề xuất Hạ viện Việt Nam cộng hoà luật cấm nạo thai, cấm ly dị… là để cứu chị mình, đẩy “người chồng bị cắm sừng” không thể ly dị cô vợ lăng loàn, nếu không muốn bị mất sạch tài sản! Những lời đồn kéo dài hàng chục năm về quan hệ luyến ái với nhiều nhân vật nổi tiếng ở miền Nam, với cả Đại Sứ Mỹ (!) của bà Trần Lệ Xuân cũng xuất phát từ “trí tưởng tượng”, của Hoàng Trọng Miên mà ra. Thậm chí, cây bút này còn nêu cả chuyện bà Trần Lệ Xuân từng có thái độ ỡm ờ, khêu gợi bất chính với anh chồng - Tổng thống Ngô Đình Diệm nên bị Tổng thống mắng cho té tát.

Trong thực tế, KTS Võ Đức Diên không hề liên quan gì đến việc xây hầm Dinh Gia Long. Cả hai, Dinh Độc Lập và Dinh Gia Long, xây mới hay sửa chữa đều là việc gắn với KTS Ngô Viết Thụ. Phần cũ của trường Đại Học Quốc Gia hiện nay ở Kinh Trung, Thủ Đức, rồi Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cũng do KTS Ngô Viết Thụ, giải Khôi Nguyên La Mã thiết kế.

Ngạc nhiên thay, một cuốn sách như thế, sau 1975 lại trở thành cuốn đầu tiên và hàng chục năm sau đó vẫn là duy nhất được tái bản trong cơ chế xuất bản mới. Không phải một mà nhiều nhà xuất bản đã từng in đi in lại cuốn sách này chỉ vì lý do duy nhất là “có người đọc, bán được”. Vì kém hiểu biết hay vẫn hiểu nhưng vì lợi nhuận nên nhắm mắt làm ngơ? Theo tôi là vì cả hai.

Được biết, hiện tại có ít nhất một NXB “có uy tín” đang chuẩn bị tái bản cuốn sách này. Nếu có đủ hiểu biết và tự trọng, tôi cho rằng NXB nói trên nên bỏ ngay kế hoạch xuất bản đáng coi thường này. Cục Xuất bản cũng cần xem xét minh bạch với những nội dung trong cuốn “Đệ nhất phu nhân” của Hoàng Trọng Miên, nên loại nó ra khỏi danh sách cấp giấy phép.

Nguyễn Hồng Lam

Blog Archive