Sunday, October 4, 2026

HÒN ĐẢO ĐANG CHÌM

Năm nào biển cũng lấn vào, lấy đi một ít đất. Không nhiều, chỉ vài mét. Có năm đất mất ít hơn. Có năm nhiều hơn.
Người ta đóng một cây cọc gỗ ở mép nước để đo. Mùa hè năm sau nhìn lại, nước đã ngập nửa cây cọc.
Họ lại đóng một cây cọc mới. Rồi thêm một cây cọc nữa. Cứ như thế suốt nhiều năm.

*
Hòn đảo không lớn. Đi bộ từ đầu này sang đầu kia mất chưa đầy một giờ, ngày trước còn mau hơn.
Ông Năm, người già nhất đảo, vẫn thường kể rằng hồi ông còn nhỏ, phía đông có một cánh đồng rộng trồng khoai. Bây giờ dưới chỗ ấy là nước biển.
Ngày trước nữa có một hàng dừa chạy dài tới tận mũi đá. Bây giờ chỉ còn ba cây. Một cây đã chết. Hai cây còn lại nghiêng hẳn ra phía biển. Như thể chúng đang cố nhìn lại nơi mình từng đứng.

*
Người từ đất liền thỉnh thoảng ra đảo. Họ mang theo máy ảnh, sổ ghi chép. Và cả những câu hỏi:
— Mọi người có biết hòn đảo đang chìm không?
— Biết.
— Có định chuyển đi không?
— Chưa.
— Tại sao?
Người được hỏi thường chỉ cười, như thể câu hỏi ấy hơi lạ. Giống như hỏi một cái cây vì sao chưa dọn đi nơi khác.

*
Lâm sinh ra trên đảo. Cha anh cũng sinh ra trên đảo. Ông nội anh cũng vậy.
Ngôi nhà của gia đình nằm gần bờ biển phía nam. Ngày trước, nhà còn cách mép nước gần một trăm mét. Bây giờ chỉ còn hơn ba mươi. Từ trong nhà đã bắt đầu nghe rõ những đợt sóng lớn mùa mưa.
Ban đêm nằm ngủ, Lâm thường nghe tiếng nước va vào bờ cát, như thể ai đó đang âm thầm đào một cái hố rất lớn ngoài kia.
Một buổi sáng, vợ anh bảo:
— Em muốn trồng thêm một cây xoài.
Lâm nhìn khoảng sân nhỏ.
— Trồng làm gì?
— Thích thì trồng thôi.
— Cây xoài phải mất mấy năm mới có trái.
Vợ anh đang bế đứa con gái một tuổi. Cô nhìn ra biển.
— Thì cứ để nó lớn.
Lâm không nói gì nữa. Chiều hôm ấy anh đào hố, trồng cây xoài.

*
Mùa mưa năm đó, biển lấy thêm hai mét đất. Một đoạn đường ven đảo bị sập xuống. Người dân mang đá đến đắp lại. Một tháng sau, sóng cuốn mất số đá ấy. Họ lại mang số đá khác tới.
Không ai nói chuyện thắng hay thua thiên nhiên. Họ chỉ làm những việc cần làm.

*
Trên đảo có một trường tiểu học, gồm ba phòng học, một sân chơi và một cột cờ.
Cô giáo Hạnh dạy ở đó đã mười lăm năm. Ngày mới ra đảo, cô nghĩ mình sẽ ở vài năm rồi chuyển về đất liền. Bây giờ tóc cô đã bắt đầu điểm bạc.
Một hôm học sinh hỏi:
— Cô ơi, đảo mình có chìm không?
Cô ngừng viết, ngó ra ngoài cửa sổ. Biển xanh ngắt.
— Có thể.
— Vậy sau này trường mình ở đâu?
Lũ trẻ nhìn nhau. Chúng chưa từng nghĩ đến chuyện ấy.
Cô giáo Hạnh cười.
— Chắc lúc đó các em lớn hết rồi.
Một cậu bé giơ tay.
— Lớn rồi thì vẫn nhớ trường mà.
Cô không biết trả lời thế nào.

*
Năm sau, người ta xây một căn nhà mới ở cuối đảo. Ai cũng bảo anh Thành khùng. Nhà cũ của anh vẫn còn tốt, anh xây mới làm gì. Anh chỉ cười.
— Nhà cũ chật quá.
Ngôi nhà mới xây gần biển hơn ngôi nhà cũ.
Vợ anh hỏi:
— Anh không sợ à?
— Sợ gì?
— Biển.
Anh nhìn ra khoảng nước sáng lấp lánh.
— Chắc nó chưa lấn tới đây nhanh vậy đâu.
Rồi anh tiếp tục xây.

*
Một năm khác, đám cưới được tổ chức trên đảo. Cô dâu là con ông chủ quán tạp hóa. Chú rể từ đất liền ra. Tiệc dựng dưới những tấm bạt lớn. Biển ở ngay phía sau. Gió thổi tung bay những dải ruy băng màu đỏ. Người ta hát, uống rượu, nhảy đầm.
Lúc nâng ly, ông Năm ngồi cạnh Lâm nói:
— Người ta vẫn cưới nhau đấy thôi.
Lâm cười.
— Thì sao?
— Tôi cứ nghĩ khi biết đảo sắp mất, người ta sẽ không…
Ông bỏ lửng câu nói, nhìn những người trẻ tuổi đang cười đùa, nói tiếp:
— Hóa ra không.

*
Những năm tiếp theo, biển tiếp tục lấn vào.
Người ta phải dời cái kho chứa lưới. Dời cả một cái giếng. Dời những chuồng gà. Dời vài ngôi mộ ở mép nước.
Mọi thứ diễn ra chậm đến mức không ai nhận thấy trong một ngày. Chỉ khi nhìn tấm ảnh cũ mới thấy. À. Ngày trước chỗ đó là đất.

*
Cũng vào khoảng thời gian ấy, người ta bắt đầu bàn chuyện xây một bến tàu mới.
Bến cũ đã mục nhiều chỗ. Mỗi mùa mưa lại phải thay vài tấm ván. Có người phản đối.
— Xây làm gì nữa? Mấy chục năm nữa đảo cũng chẳng còn.
Nhưng rồi cuộc họp vẫn kết thúc bằng việc góp tiền và góp công.
Những người đàn ông đi lấy gỗ. Những người đàn bà nấu cơm mang ra bến. Đám trẻ con chạy tới chạy lui xem người lớn làm việc.
Mất gần hai tháng, bến tàu mới hoàn thành.
Ngày hạ cây ván cuối cùng, ông Năm chống gậy ra xem. Ông đứng rất lâu ở đầu cầu tàu, nhìn những con sóng đang lấp lánh dưới nắng.
Lâm hỏi:
— Ông thấy sao?
Ông cười.
— Đẹp đấy.
— Nhưng vài chục năm nữa có khi chỗ này là biển rồi.
Ông Năm gật đầu.
— Thì đó là chuyện của vài chục năm nữa.
Ông dùng mũi gậy gõ nhẹ xuống mặt ván mới.
— Còn hôm nay, người ta vẫn cần một cái bến để đi để về.
Lâm nhìn những tấm gỗ còn thơm mùi nhựa mới. Bỗng nhiên anh thấy câu nói ấy đúng với rất nhiều thứ khác trên đời.

*
Con gái của Lâm lớn dần. Cây xoài cũng lớn theo. Nó ra lứa trái đầu tiên vào năm con bé lên sáu tuổi. Trái không nhiều, chỉ hơn chục quả. Con bé háo hức hái từng quả một.
Chiều hôm ấy nó chạy vào nhà.
— Ba ơi!
— Gì vậy?
— Cây xoài mình có trái rồi.
Lâm nhìn ra sân. Cây xoài cao quá mái hiên. Anh chợt nhớ ngày mình trồng nó. Mới đó mà sáu năm.

*
Tối hôm ấy, con bé hỏi:
— Ba ơi.
— Ừ?
— Đảo có chìm không ba?
Lâm im lặng. Ngoài sân, lá xoài rung nhẹ trong gió.
— Có thể.
— Vậy cây xoài sao?
— Chắc cũng chìm.
Con bé suy nghĩ một lúc.
— Tội nghiệp ha.
Rồi nó tiếp tục ăn xoài. Như thể chuyện ấy không quá quan trọng.

*
Một đoàn chuyên gia từ đất liền ra khảo sát. Họ đo đạc, chụp ảnh, lập bản đồ.
Trước khi đi, một người nói:
— Nếu tình hình này tiếp tục, vài chục năm nữa đảo sẽ không còn.
Ông Năm hỏi:
— Vài chục là bao nhiêu?
— Ba mươi. Bốn mươi năm.
Ông gật đầu.
— Lâu ghê.
Rồi chống gậy đi về.

*
Mùa hè năm ông Năm mất, biển rất lặng.
Đám tang đi ngang qua trường học, qua chợ, qua cây đa giữa đảo. Ai cũng ra tiễn.
Khi hạ huyệt, một đứa trẻ hỏi mẹ:
— Ông Năm có biết đảo sắp chìm không?
Người mẹ đáp:
— Biết chứ.
— Vậy sao ông vẫn ở đây?
Người mẹ nhìn mặt biển xa xa. Một lúc lâu mới nói:
— Chắc vì ông thích nơi này.

*
Năm tháng tiếp tục trôi.
Con gái Lâm học cấp ba. Cây xoài cho nhiều trái hơn. Biển vẫn tiến vào, chậm rãi, kiên nhẫn. Như không bao giờ dừng lại.

*
Một chiều cuối năm, Lâm đứng trước sân nhà. Mặt trời đang lặn. Ánh nắng đỏ au phủ lên mặt biển.
Anh yên lặng nhìn cây xoài, nhìn con gái đang ngồi đọc sách dưới gốc cây, nhìn vợ mình đang thu quần áo trên dây. Rồi anh mỉm cười. Từ ngoài khơi, một chiếc thuyền đánh cá đang trở về.
Khói bếp bắt đầu bay lên từ những mái nhà. Mọi thứ đều rất bình thường. Đến mức khó tin rằng hòn đảo này đang dần biến mất.
Mặt trời chạm vào đường chân trời. Biển bắt đầu tối lại. Lâm nghe tiếng con gái gọi từ dưới gốc xoài:
— Ba!
— Hả?
— Năm sau mình trồng thêm cây nữa nha.
Anh bật cười.
— Cây gì?
Con bé suy nghĩ.
— Chưa biết.
Anh nhìn ra biển. Rồi nhìn khoảng đất còn lại trước sân, không nhiều. Nhưng vẫn còn đủ chỗ cho một cái hố nhỏ.
— Ừ.
Anh nói.
Ngoài kia, sóng vẫn đều đặn vỗ vào bờ, như đã vỗ như vậy từ rất lâu. Và sẽ còn tiếp tục như thế rất lâu sau, khi những người trên đảo không còn nữa.

Văn

NGẠC NHIÊN THÁNG MƯỜI: PHẢI CHĂNG LÀ CUBA ?

October Surprise: Would that be Cuba?
4/10/2026
—-
Xưa nay tôi vẫn luôn giữ quan điểm rằng, quốc gia sụp đổ kế tiếp Venezuela sẽ là Cuba.

Thập niên 50, Cuba là thiên đường nghỉ dưỡng tựa quần đảo Bahamas hay Hawaii. Cùng với Venezuela, Cuba là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất Trung và Nam Mỹ.

Khi đó Cuba là nơi du lịch, xài tiền và ăn chơi của giới nhà giàu Mỹ nhờ bãi biển đẹp, nắng ấm, xì gà hảo hạng và rượu Rum thơm ngon.

Cũng trong thập niên 50, một hòn đảo nho nhỏ mang tên Singapore chỉ là 1 làng chài nghèo khó, là nơi có culi gốc Hoa làm việc ở bến cảng và đồn điền cho thực dân Anh.

Năm 1959, cha già dân tộc Fidel Castro làm cuộc cách mạng vô sản thành công. Sau khi lên nắm quyền, Fidel quốc hữu hoá hết các tài sản của giới tư bản, tư sản và các nhà đầu tư nước ngoài. Đó chính là hình thức đánh tư sản giống Việt Nam sau năm 1975. Dân Cuba chạy qua Mỹ tị nạn nhờ Cuba rất gần với tiểu bang Florida của Mỹ. Hiện tại con số Cuba Kiều ở Mỹ gần bằng 1/5 dân số của quốc gia Cuba.

Năm 1959, Lý Quang Diệu lên nắm quyền ở Singapore với tư cách là thủ tướng đầu tiên của đảo quốc này. Lý Quang Diệu phát triển Singapore theo con đường Tư Bản chủ nghĩa.

Năm 1959 là năm định mệnh của Cuba và Singapore. Sau 67 năm (2026), Singapore là 1 trong những quốc gia giàu có nhất trên thế giới tính theo thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita), còn dân Cuba phải nói là nghèo nhất thế giới, vì họ không có điện sinh hoạt, nếu có thì mỗi ngày chỉ được vài tiếng đồng hồ.

Dân Cuba vẫn xếp hàng chờ chính phân phối thực phẩm theo tem phiếu kiểu Bao Cấp ở Việt Nam những năm sau 1975.

Đa số người dân Cuba sống nhờ kiều hối gởi về từ Mỹ hoặc thị trường chợ Đen. Đầu năm nay sau khi lãnh tụ độc tài Maduro của Venezuela bị bắt, nguồn viện trợ dầu mở miễn phí của Venezuela dành cho Cuba bị cắt. Ngay cả nguồn viện trợ dầu mỏ từ Mê-hi-cô cũng bị cấm, chỉ còn dầu viện trợ thoi thóp nhỏ giọt từ Nga và Trung Quốc, vì các nước khác không dám vi phạm lệnh cấm của Mỹ.

Sở dĩ Cuba vẫn còn tồn tại vì người dân Cuba đã quen sống ở mức tồn tại, kiểu được cho chút bánh mi, chút thịt sống qua ngày là họ vui như đang sống trên thiên đàng xã hội nghĩa, vẫn cứ tinh thần chống Mỹ bất diệt. Lý do thứ 2 là chính phủ vẫn sống nhờ du lịch, vì vẫn có rất nhiều du khách tò mò muốn tới thăm quốc đảo này như là di tích hiếm hoi về chủ nghĩa xã hội.

Thế nhưng ngành du lịch của Cuba đang chết lâm sàng vì không có đủ điện. Khách sạn 5 sao, 4 sao mà bị cúp điện thì tiện nghi ở chỗ nào. Đó là chưa kể những cây xăng ở Cuba khô ran xăng dầu, vắng hơn chùa Bà Đanh.

Cuba đang hấp hối, thiên đường xã hội chủ nghĩa kiểu mẫu đang tối thui. Giới Cuba Kiều giàu có, trong số đó có nhiều nhà kỹ trị và tư bản, đang hội ngộ ở Florida chờ ngày về tái thiết cố quốc. GDP của cả quốc gia Cuba bây giờ còn thấp hơn thu nhập của cộng đồng Cuba Kiều ở Mỹ, đa số ở Cuba và Bờ Đông.

Năm nay là năm bầu cử giữa kỳ của Mỹ. Bầu cử Mỹ xảy ra vào ngày thứ Ba đầu tiên của tháng 11, và tháng 10 là tháng đặc biệt nhất, gọi là October Surprise (Ngạc Nhiên Tháng Mười).

Tự nhiên tôi có cảm giác có thể Cuba sụp đổ chính là Ngạc Nhiên Tháng Mười của năm nay. Hãy chờ xem.

Hoa OC
—-
DISCLAIMER: Hình lấy từ Google Images. Bài báo về Cuba Kiều trong phần bình luận


Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 4
Đến Thốt Nốt xuống ghe thì đứa em trai tôi đã có mặt từ trước. Tôi bước lên nói lời cảm ơn và thanh toán tiền sửa chữa máy. Người anh em họ kéo tôi ra một góc riêng, nói nhỏ: "Ghe nhỏ quá, mấy anh đi như vầy có nguy hiểm không?". Tôi nhìn xuống đất, trả lời rất khẽ: "Không còn đường lựa chọn đâu chú Sáu"

Tôi xuống ghe, ba cậu cháu lui ghe xuôi dòng sông Hậu về Cần Thơ để kịp gặp mấy đứa bạn vào chiều tối nay. Chúng tôi cần sắp xếp một số việc như hẹn địa điểm, giờ giấc và phân phối khách cho mấy anh chị "taxi" (người đưa khách ra tàu), để hôm sau ráp nối ở bờ sông Cái Lớn rồi ra khơi. Khoảng 7 giờ tối, tôi đến điểm hẹn tại mấy tiệm bán bánh cống bên trong nhà lồng chợ Cần Thơ. Vừa ăn bánh cống, uống vài chai bia nội địa, chúng tôi vừa phân chia công việc và làm quen với những người "taxi" mới.

Tính đi tính lại, vẫn còn dư ra 4 người gồm 2 người lớn và 2 trẻ em không có "taxi" đưa đón. Tôi đành bảo mấy người bạn sáng sớm ngày mai dẫn 4 người này vô ngay cầu tàu chợ Cái Răng, tôi sẽ bốc thẳng lên ghe lớn luôn. Việc làm này là điều đại kỵ, rất nguy hiểm, nhưng biết sao bây giờ, người ta đã thiết tha muốn ra đi, bỏ lại thì tội nghiệp quá. Anh bạn và cũng là chủ của tôi cảm ơn tôi không xiết. Khoảng 9 giờ tối, mọi việc xong xuôi, tôi về ghe đậu dưới bờ sông Cần Thơ, len lỏi trong những ghe mua bán của nông dân đang đậu qua đêm ở đó.

Sáng sớm hôm sau, tôi chạy ghe vô chợ Cái Răng bốc hai người lớn và hai cháu nhỏ. Khi mọi người xuống ghe xong, tôi nhìn mà thấy phát sợ. Anh bạn mới này trạc tuổi tôi, người Đà Lạt, và một cháu tên Mỹ. Nhìn vẻ ngoài là biết ngay họ không phải dân quê sông nước. Anh bạn người Đà Lạt mặt mày trắng trẻo như con gái, đeo cặp kiếng cận dày cộm, trông đúng chất trí thức thành thị. Còn cháu Mỹ thì da trắng như hột gà bóc vỏ, mái tóc dài cắt tém thời trang rất đẹp. Lỡ chẳng may gặp trạm công an, họ chỉ cần chặn ghe kiểm tra sơ qua, nhìn thấy hai người này là bị bắt ngay lập tức.

Thôi thì giờ chẳng còn cách nào thay đổi, đành phó mặc cho số mệnh. Nhưng tôi cũng bắt anh bạn mới phải đội cái nón rơm cũ, kéo sụp xuống để che bớt làn da trắng trẻo. Còn cháu Mỹ thì tôi cho đội chiếc nón lá rách dính đầy dầu nhớt mà tôi có sẵn trên ghe. Tội nghiệp, anh bạn và cháu luôn làm theo mọi yêu cầu của tôi, cố gắng ít ra ngoài mui ghe để tránh bị phát hiện.

Khoảng 2 giờ chiều hôm đó, tôi đến chợ Gò Quao. Vì trên ghe có hai vị "khách quý" như đã kể nên tôi không dám cặp bến, cũng không dám đậu gần ghe nào. Tôi thả neo cách chợ chừng 1km để chờ đợi. Gần 3 giờ chiều, tôi cho ghe chạy ra gần chợ Xẻo Rô, từ đó bắt đầu quay đầu chạy vào trong để vớt khách. Mấy ông bạn "taxi" của tôi đã núp sẵn trong những đám dừa nước; khi thấy ghe tôi chạy ngang, họ liền chèo ra để tôi bốc khách lên ghe lớn. Chỉ trong hơn một tiếng, tôi đã đón xong tất cả mọi người.

Tôi quay đầu ghe lại, hướng ra biển và về phía bên Tắc Cậu để xuôi dòng ra cửa biển. Thật may mắn, nhờ con nước xuôi đang đổ ra biển nên chiếc ghe chạy rất nhanh. Theo sự hướng dẫn của anh Năm – một dân địa phương ở đây – tôi phải chạy cặp bờ bên Tắc Cậu. Nếu chạy gần phía Xẻ Rô thì dễ mắc cạn vì bên đó đất bãi bồi ra xa lắm. Hơn thế nữa, đầu kinh bên đó có trạm biên phòng. Lúc ghe tôi chạy ngang, có mấy tiếng súng nổ vang lên. Tôi cũng không biết họ bắn ghe tôi hay bắn ai, nhưng cứ nhắm mắt chạy đại. Tôi cũng tin lời anh Năm trấn an rằng cửa biển này rộng tới gần 2km, súng bắn từ bờ khó mà trúng được, đừng sợ. Đó có lẽ cũng là lời trấn an để tôi vững tinh thần thôi, lúc đó tôi chỉ biết lao tới, không còn đường thối lui.

Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn 7 giờ tối, trời tối hẳn. Nhìn về phía tay phải, thành phố Rạch Giá đã lên đèn. Theo chỉ dẫn, tôi phải chạy hướng về phía ánh đèn Rạch Giá thêm khoảng một tiếng nữa rồi mới thực sự ra khơi, nếu ra sớm quá dễ bị mắc cạn. Đến 8 giờ tối, tôi vẫy tay chào từ biệt ánh đèn Rạch Giá, cũng là từ biệt quê hương lần cuối, rồi lái con tàu hướng thẳng ra biển khơi.

Từ lúc đó, chúng tôi bắt đầu lấy lại tọa độ theo sự hướng dẫn của anh Lợi – một cựu Đại úy VNCH đi cùng. Ngoài ra còn có các bạn Duẫn, Hải, Tân, Giàu, Phát và đứa em trai tôi năm đó mới 20 tuổi nhưng giúp được rất nhiều. Tất cả chia nhau lái tàu. Ra đến biển rồi, cứ theo tọa độ trên hải bàn và hải đồ mà chạy, không sợ đụng chạm ai, cảm giác rất thoải mái. Mấy anh bạn tôi như Hải, Tân, Lợi dù chưa một lần lái tàu cũng cầm lái như ai.

Sau khi tàu ra biển khơi được hơn một tiếng, tôi giao tay lái cho Duẫn. Tôi và một vài anh khác cùng phủ miếng bạt che lại khoảng trống phía trước ghe, đóng đinh nẹp kỹ để sóng biển không tạt nước vào trong. Đến khoảng 12 giờ đêm, mọi việc tạm ổn. Chúng tôi chia ca hai người lái 1-2 tiếng, những người còn lại nghỉ ngơi lấy sức.

Riêng tôi, nguyên một ngày căng thẳng từ việc bốc "khách" đến lúc vượt cửa biển qua trạm biên phòng, mấy đứa bạn khuyên tôi nên đi ngủ trước. Tôi ra phía sau ghe, nơi có sàn nước nằm nghỉ. Tôi không quên lấy sợi dây buộc ngang thắt lưng vào thành ghe, sợ ngủ quên lỡ rơi xuống biển là coi như xong. Nhưng nằm đó chứ tôi không sao ngủ được. Tính tôi hễ có việc lo lắng là cứ chập chờn.

Chẳng mấy chốc, tôi đã thấy ánh rạng hồng phía Đông. Mặt trời lên rất nhanh trên biển. Chúng tôi đã chạy được một đêm bình yên, trời êm biển lặng nên đi được khá xa bờ. Nhìn bốn bề giờ chỉ thấy mênh mông sóng nước. Chiều hôm đó, chúng tôi phát hiện phía sau có một chiếc tàu đánh cá khá lớn đang tiến gần. Lúc đầu còn xa, nhưng sau thấy nó ngày càng gần hơn. Lấy ống nhòm xem kỹ thì hình như là tàu đánh cá quốc doanh. Chúng tôi vô cùng lo lắng. Trên ghe có sẵn một cái máy đuôi tôm phụ nhưng mấy hôm nay không khởi động được. Thấy tình hình nguy ngập, tôi ra kiểm tra lại rồi cho nổ máy, đặt xuống chạy phụ thêm. Chiếc ghe tăng tốc rõ rệt, bỏ xa chiếc tàu đánh cá kia cho đến khi khuất bóng lúc chiều tối.

Nguyên ngày hôm đó trời tương đối tốt, không có sóng lớn, nhưng cái nắng biển thì rát cả da. Trên đường đi, có những đàn cá heo bơi đuổi theo ghe, nhảy lên đua cùng, nhìn rất lạ mắt. Mấy anh bạn bảo đi biển mà gặp cá heo là điềm lành, như thế này là rất tốt và may mắn...

Còn tiếp phần 5.
Chi Le



Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng.

Phần 3
Sau những trục trặc vừa qua nay phải nhận một viêc mà Bản thân vốn chưa có chút kinh nghiệm gì về việc sửa chữa ghe cộ, lại đang trong tâm thế chẳng còn tin cẩn một ai, tôi hiểu rằng mình phải tự thân vận động. Chuyến ra đi này đặt cả sinh mạng của bao người trong đó có cả sinh mạng của tôi và người thân trên đó, nên tôi quyết định tự thuê thợ và giám sát thật kỹ lưỡng.

Tôi biết một anh bạn lớn tuổi hơn, có thâm niên trong nghề sửa ghe. Sau khi trao đổi, anh đồng ý nhận thầu trọn gói việc sửa chữa cho tôi với giá tiền công là 5 chỉ vàng – một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Tôi tin tưởng giao việc và thanh toán đầy đủ ngay từ đầu. Thế nhưng, anh ta chỉ làm nhiệt tình được vài ngày đầu, sau đó cứ vắng mặt suốt, bỏ mặc một bác thợ lớn tuổi lụi cụi đục đẽo một mình.

Có lần tôi gặp anh, tha thiết nhờ cậy: "Anh gắng giúp cho xong vào cuối tháng giùm em." Anh ta vẫn thản nhiên: "Cứ yên trí, sẽ xong đúng hẹn."

Một hôm, từ Long Xuyên tôi lên thăm ghe thì được bác chủ bãi sửa ghe gọi vào nhà nói chuyện riêng. Bác nhìn tôi đầy nghiêm trọng: "Mấy chú làm gì tôi không muốn biết, nhưng nếu còn để ông này sửa nữa, mấy chú sẽ mất ghe và đi tù luôn đó." Tôi bàng hoàng hỏi lý do, bác kể: "Hôm qua tôi thấy ổng lượm miếng gỗ tạp cũ nát đóng vào phần cong của ghe. Tôi mới nhắc lấy gỗ đó đóng vào mấy hồi nó mục thì sao, ổng trả lời tỉnh queo: 'Ôi bà lo xa, mấy đứa này nó xài đâu có tới lúc mục đâu mà sợ'."

Nghe đến đó, tôi rụng rời tay chân. Hóa ra họ coi thường mạng sống của chúng tôi như vậy. Tôi cảm ơn bác chủ bãi rối rít. Tiền đã trả rồi, việc chúng tôi làm rất nhạy cảm nên tôi chẳng dám đôi co. Tôi đến nói nhẹ nhàng với bác thợ kia rằng ngày mai bác không cần làm nữa vì tôi đã trả đủ tiền cho người thuê bác rồi. Có lẽ anh ta cũng đã được trả sòng phẳng cho bác nên ông cũng không mặn mà gì việc làm này lắm, và ông cũng lẳng lặng rời đi.

Sau lần đó, tôi tìm được những người thợ chuyên nghiệp hơn qua sự giới thiệu của người quen bên cồn Mỹ Hòa Hưng. Khi qua xem xét và định giá, họ báo giá chỉ bằng một nửa so với người trước. Trò chuyện mới biết, người thợ này cũng có bà con xa với ba má tôi ở quê. Tôi rút kinh nghiệm, chỉ đưa trước một nửa tiền với lý do "đang kẹt tiền, vài hôm nữa mới có," đồng thời hứa sẽ thưởng thêm nếu xong sớm trong 2-3 tuần.

Lần này mọi chuyện hạnh thông. Hôm sau anh thợ đưa thêm 3 người nữa qua làm ròng rã 10 ngày là xong xuôi. Tôi mừng quá, thưởng cho anh gấp đôi số tiền anh ra giá ban đầu. Đôi bên cùng vui vẻ. Tôi cũng không quên mua quà tặng bác chủ bãi để cảm ơn lời cảnh báo chí tình của bác.

Ghe hạ thủy chạy thử, nhưng máy móc lại trục trặc. Tôi lại lạch bạch chạy ghe xuống tiệm sửa máy ở Thốt Nốt của một người anh em họ để sữa chữa lại toàn bộ. Vì sự cố này mà chuyến đi không kịp khởi hành trước Tết.

Thôi thì cũng là cái duyên, tôi gửi ghe lại tiệm máy rồi về quê ăn Tết cùng gia đình. Đó là cái Tết cuối cùng của tôi trên mảnh đất quê hương, và tôi đã gặp điềm lành như đã kể trong bài "HOA MAI NƠI XỨ TUYẾT: MỘT NHÀNH MAY MẮN"

Mùng 7 Tết, tôi trở xuống Thốt Nốt. Máy móc đã hoàn hảo, tôi và đứa em chạy thử mấy ngày thấy rất ổn định. Tôi về lại Sài Gòn báo tin cho bạn bè chuẩn bị xuất phát vào khoảng ngày 15, 16 tháng 2 năm 1987. Trước khi đi, tôi về quê lấy những vật dụng thiết yếu như hải bàn, hải đồ và đến nhà cô Út để xin phép.

Trái với mong đợi, khi đến gia đình cô Út Tôi cảm giác lạc lẻo khác thường. Cô nói : "Má nói mày cãi lời má trốn đi, tao chết cho mày coi!" Đau lòng nhưng không thể quay đầu, tôi chỉ biết cố gắng níu kéo bằng một lời hẹn: "Tất cả mọi việc đã sẳn sàng, ngày mai anh chờ em ở quán cà phê Bạn Trẻ lúc 10 giờ sáng" Rồi ra về không nhiều hy vọng.

Đêm đó ở nhà ba má, tôi trằn trọc không sao ngủ được mới 5-6 giờ sáng, nghe tiếng rao hàng rong đầu ngõ, tôi đã trở dậy. Má tôi biết hai anh em tôi sẽ đi vào hôm nay, gương mặt bà hằn lên nỗi lo âu cùng cực. Tôi ra chợ gần nhà uống ly cà phê cuối cùng với bạn bè nhưng tuyệt nhiên không dám hé môi về việc ra đi.

8 giờ sáng, tôi về nhà lấy đồ đạc. Má bảo: "Gắng chờ chút má nấu cơm xong, ăn rồi hãy đi con." Tôi không dám ở lại, sợ rằng nếu nhìn vào mắt má lâu hơn, tôi sẽ không cầm được nước mắt. Tôi chỉ kịp nghẹn ngào: "Thôi con đi má ơi!" rồi bước đi thật nhanh như một kẻ trốn chạy..

Ra đến Long Xuyên mới hơn 9 giờ, tôi ngồi ở quán cà phê Bạn Trẻ, vừa ăn sáng vừa ngóng đợi cô Út. Kim đồng hồ nhích dần đến 12 giờ trưa nhưng bóng dáng Cô Út đâu vẫn không thấy. Tôi biết mình phải làm gì. Tôi đi bộ lại nhà chị bạn chủ tiệm may – nơi cô Út từng học may trước đây – để đón đứa con gái của chị mới 12 tuổi cùng đi theo. Ba cháu đã sang Mỹ vài năm trước. Hai cậu cháu dắt díu nhau lên xe lam đi về hướng Thốt Nốt, bắt đầu một hành trình không chắc sẻ đi về đâu.

còn tiếp phần 4
Chi Le

Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 2
Sau khi chính thức tham gia vào nhóm bạn mới, họ nhận thấy tôi có một vài kỹ năng mà họ đang cần, như lái tàu trên sông hay sửa chữa máy móc lặt vặt. Vì thế, họ rất quý trọng tôi. Từ đó, tôi không còn gặp khó khăn về tiền bạc như trước nữa.

Nhưng ở đời, chuyện gì cũng có cái giá của nó. Công việc này khiến tôi có thể đi "ủ tờ" bất cứ lúc nào, nên tâm lý lúc đó là "có đồng nào xào đồng đó". Tôi bắt đầu biết đến mùi rượu và uống lai rai – những điều mà má tôi rất sợ. Dĩ nhiên, bà không thể nào biết được vì tôi cứ đi biền biệt, nay đây mai đó.

Trong những năm ấy, đời sống người dân đa số còn nghèo khó lắm, nhưng nhóm chúng tôi mỗi lần lên Sài Gòn là lại ở những khách sạn sang trọng như Lục Quốc hay khách sạn Sài Gòn. Chúng tôi thậm chí còn muốn thuê cả khách sạn Caravelle, nhưng không được vì nơi đó chỉ dành cho khách nước ngoài hoặc đại biểu Quốc hội, nên cuối cùng lại quay về Lục Quốc.

Đọc đến đoạn này, có thể bạn sẽ trách tôi: mới khổ đó mà sao giờ lại hoang phí vậy? Nhưng không đâu các bạn, lúc đó chúng tôi sống mà không hề biết tương lai ngày mai sẽ ra sao. Đến ngày "đi đánh" – một từ lóng để chỉ việc đưa tàu vượt qua trạm biên phòng – chỉ cần chút xui xẻo là có thể bị đạn đồng ghim vào ngực, hoặc may mắn hơn thì vào tù, bị đánh đập để khai ra chủ mưu và đồng bọn. Thế nên, có tiền là phải tiêu xài hết, chứ để làm gì? Nếu ngày mai vào tù, ai xài tiền đây?

Tôi cứ sống như một người không phương hướng như thế cho đến hơn một năm sau. Sau khi giúp nhóm thực hiện thành công vài vụ ra đi, tôi mới giật mình nhìn lại và tự bảo mình phải tìm một lối thoát thực sự. Đó là năm 1986, tôi nhất quyết phải ra đi trong năm này.

Khoảng tháng 6, nhóm quyết định từ đây đến cuối năm phải tổ chức một chuyến ra khơi nữa. Lúc này, tôi đã có được sự tin tưởng nên người chủ nhóm giao cho tôi quản lý nguyên chiếc ghe. Tôi có quyền quyết định cho ai đi, ai ở, chỉ cần đảm bảo đủ số lượng người mà họ đưa xuống.

Cơ hội này cho phép tôi mang theo những người thân của mình, kể cả cô Út. Dự tính khoảng tháng 10 hoặc tháng 11 năm đó sẽ khởi hành. Tôi sắp xếp cho đứa em trai kế cùng đi. Đứa em Út cũng muốn theo, nhưng tôi không dám cho cả ba anh em đi cùng một chuyến vì không ai biết trước số phận ra sao. Khoảng hai năm trước, trong xóm tôi có một chiếc ghe chở 4-5 anh em cùng đi rồi mất tích đến tận bây giờ không có tin tức gì. Ngày đó, đi lâu mà không có tin về coi như là đã chết.

May mắn lúc ấy cô Út được má cho ra Long Xuyên học may và ở trọ nhà cậu Năm trên đường Hùng Vương. Vì thế, chúng tôi thường xuyên gặp nhau mỗi khi tôi về Long Xuyên. Hai đứa bàn tính: sáng sớm ngày X cô Út ra bến tàu, tôi đến đón rồi cho ghe chạy xuống Cần Thơ, về Vị Thanh, qua Tắc Cậu để ra cửa sông Cái Lớn rồi ra khơi.

Nhưng người tính không bằng trời tính. Sau khi tôi nhận chiếc ghe mà nhóm kia đóng xong, tôi đưa về đậu ở khu ghe buôn bán gần Cồn Phố Quế, Long Xuyên. Sáng ngủ dậy, tôi bàng hoàng thấy nước đã tràn vào gần nửa chiếc ghe. Té ra bọn này làm ẩu để lấy tiền.

Tôi vội để đứa em tạm ở lại trông ghe, còn mình tức tốc đến điểm hẹn với cô Út để báo rằng chuyến đi bị đình lại, bảo cô cứ về nhà cậu Năm. Nhưng tôi không ngờ cậu mợ Năm đã biết chuyện cô Út có ý định đi cùng tôi. Họ báo cho mẹ cô ấy biết. Mẹ cô yêu cầu tôi phải làm đám cưới rồi mới được đưa cô đi, chứ không muốn để con gái đi như thế.

Thú thật, lúc đó tôi tự thấy mình còn lông bông quá, chưa sẵn sàng để làm chồng, làm cha. Hơn nữa, nếu cưới vợ mà lỡ chuyến đi không thành, phải ở lại thì lấy gì mà sống? Vì tôi cứ lần lự mãi không đáp ứng yêu cầu của mẹ cô nên cô cũng đâm ra giận tôi.

Sau đó, tôi phải đi Cần Thơ ngay để nhờ thằng bạn chạy về Sài Gòn chặn không cho khách xuống. Nếu cứ để họ xuống rồi lỡ có chuyện gì thì cả đám đi tù như chơi. Chuyến đi coi như bị đình lại không thời hạn.
Vì đã lỡ lấy chiếc ghe quá cũ kỹ, bỏ thì không đành nên tôi và thằng bạn dự định đi chung bàn với nhau: họ sẽ bỏ tiền ra để sửa chữa lại rồi sắp xếp ra đi sau. Tôi nhận trách nhiệm trực tiếp giám sát thợ sửa theo ý mình, vì chính tôi sẽ là người cầm lái chuyến này.

Khi thuê thợ rã ghe ra sửa, tôi mới kinh hoàng nhận ra tụi kia làm ăn quá tắc trách. Nếu chuyến đó tôi cứ nhắm mắt cho ghe ra khơi thì chỉ có con đường chết. Dưới lườn ghe đã mục nát hết, chỉ cần chạy máy mạnh một chút là đinh ốc không còn chỗ bám, nước sẽ ồ ạt tràn vào. Nếu ra đến biển, gặp một con sóng lớn thôi là ghe chắc chắn sẽ bể tan. Đúng là trong cái rủi lại có cái may.

con phan 3

Chi Le
Tìm đường ra đi....sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 1
Chỉ còn vỏn vẹn hơn tháng nữa là kết thúc niên khóa, nhưng hoàn cảnh ngặt nghèo buộc tôi phải dứt áo ra đi ngay giữa niên khóa. Trong lòng không khỏi dấy lên nỗi ái ngại, xót xa cho những tiết học dang dở, cho gương mặt những đứa học trò nhỏ thơ ngây, nhưng "người ta" không thể chờ đợi tôi thêm được nữa. Một lời xin lỗi muộn màng gửi lại ngôi trường cũ, tôi bước chân vào cuộc hành trình mà chính mình cũng chưa biết về đâu.

Điểm dừng chân đầu tiên là Long Xuyên. Anh bạn thân dẫn tôi xuống bến đò Trà Ôn, nơi có bãi sửa ghe đang tất bật. Chúng tôi hối hả phụ những người thợ hoàn thiện chiếc ghe để kịp hạ thủy trong tháng sáu, chuẩn bị cho một chuyến "thử thời vận" ngoài biển lớn. Dù tháng Tám còn xa, nhưng chủ ghe muốn cho tàu xuống nước sớm để chạy rà soát trên sông, kiểm tra mọi ngóc ngách máy móc xem có trục trặc gì không.

Cũng may, tôi vốn là dân vùng sông nước, từ nhỏ đã quen việc lái tàu máy trong sông. Trước khi bước chân vào sư phạm, tôi từng có thời gian phụ việc ở tiệm sửa máy tàu của chú Bảy – người quen của ba tôi dưới chợ. Chút kinh nghiệm về máy đuôi tôm, máy bơm nước từ ngày ấy bỗng trở thành hữu dụng cho tôi lúc này.

Cuối tháng Sáu, lễ hạ thủy diễn ra. Từ một ông giáo cầm phấn, tôi chính thức trở thành một anh thủy thủ "bất đắc dĩ". Đấy các bạn thấy tôi làm việc gì cũng "bất đắc dĩ" nhưng mọi việc cũng khá suông sẻ.

Cuộc sống dưới ghe là một thế giới hoàn toàn khác, vui buồn lẫn lộn. Xưa nay ở nhà có Má nấu cơm dẻo canh ngọt, giờ trên ghe toàn những "thằng đực rựa" vụng về. Đói bụng thì "đầu gối phải bò", chúng tôi chia nhau nấu nướng. Bữa cơm trên sóng nước khi thì khét lẹt, khi thì hạt sống hạt chín, nhưng cũng phải gắng mà nuốt cho no bụng.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất là về "anh bạn đồng hành" có sở thích kỳ lạ. Cứ hễ ghé chợ nào, anh ta cũng chỉ đòi mua hột vịt lộn để ăn, không chịu ăn bất cứ thứ gì khác. Tôi thì vốn sợ món đó, nên cực chẳng đã, hai thằng đành chia nồi, ai muốn ăn gì tự nấu lấy.

Có những chiều mưa tầm tã, củi ướt nhẹp, tôi phải khom lưng thổi lửa đến đỏ rực cả mặt, nước mắt giàn giụa vì khói cay chứ chẳng phải vì buồn tủi. Lúc ấy mới thấm thía lời dạy người xưa: "Các con có bữa ăn phải cực khổ lắm".

Chiếc ghe cứ thế ngược xuôi. Khi thì trôi theo dòng sông Hậu hiền hòa về Cần Thơ, lúc lại len lỏi vào Cái Răng, Phong Điền, qua Cầu Nhiếm, Trường Long. Có khi chúng tôi ghé chợ Nhân Nghĩa, rồi theo kinh sáng đi Bảy Ngàn, Tám Ngàn về Vị Thanh, Hỏa Lựu, ra sông Cái Lớn, qua Gò Quao về Tắc Cậu, rồi lại vòng về Long Xuyên.

Bây giờ kể lại chắc mọi người sẽ ngạc nhiên: "Đi lòng vòng thế để làm gì?". Thật ra, chúng tôi chẳng thể đậu một chỗ quá hai ngày vì sợ công an để ý, phiền phức. Để có lý do bám trụ, chúng tôi ghé Gò Quao mua ít lá dừa nước về Long Xuyên bán cho người ta lợp nhà. Chẳng cần lời lỗ, chỉ cần có việc để làm, có cớ để di chuyển là đủ. Những hành trình không tên cứ thế nối dài qua Sa Đéc, Vĩnh Long, Cái Bè, An Hữu, Cai Lậy...

Đến tháng Tám năm ấy, khi chuyến đi thực sự ra khơi đã cận kề, tôi và anh bạn "nghiện hột vịt lộn" nảy sinh bất đồng. Phần vì tính cách không hợp, phần vì chủ tàu muốn giữ tôi lại phụ thêm vài chuyến nữa trước khi chính thức đi xa, nên tôi đã chọn ở lại. Nhưng cả hai lý do đó cũng không phải là hai lý do chính mà tôi quyết định ở lại, mà tôi muốn làm tiếp với tụi bạn mới này thời gian nửa để được đẫn cô ÚT của tôi, người mà tôi phải lòng, còn cô thì "Tình trong như đã mặt ngoài còn e"

Sau mùa Trung thu năm đó, tôi cùng vài người bạn lẳng lặng Tiễn chiếc ghe rời đi trong một đêm không trăng không sao. Tôi trở về Sài Gòn, dành vài tuần nghỉ ngơi và chuẩn bị cho một kế hoạch mới: tìm mua một chiếc ghe khác, bắt đầu một chương mới cho cuộc đời tôi vốn đã quá nhiều ngã rẽ.

còn tiếp phần 2.

Chi Le
CHÓ THẢ RONG

Bác sĩ Ba về hưu đã hơn 12 năm. Năm nay ông bảy mươi hai, ở với vợ chồng thằng con trong một con hẻm ở Phú Nhuận. Lương hưu không nhiều, nhưng cũng đủ sống. Việc của ông mỗi ngày là đi bộ. Sáng sáu giờ, chiều năm giờ, ra công viên gần nhà đi hai vòng.
Cái đầu gối trái của ông, cứ trở trời là nhức.
Sáng nay cũng vậy. Ông đi được nửa vòng công viên thì thấy phía trước có một cô gái trẻ dắt một con chó to. Con chó cỡ hai chục ký, lông vàng, giống chó ta lai. Cô gái vừa đi vừa bấm điện thoại, sợi dây xích lòng thòng trên cổ chó chứ không cầm ở tay. Thả rông hoàn toàn.
Con chó thấy một con mèo hoang bên kia đường, nó phóng vút qua.
Đúng lúc đó một cậu shipper chạy xe máy tới. Cậu ta thắng gấp, bánh xe trượt một vệt dài, người và xe loạng choạng suýt ngã. Cô gái la lên: "Milo! Lại đây!"
Ông Ba đứng khựng lại. Tim ông đập mạnh. Cái đầu gối trái nhói lên một cái đau buốt. Ông phải vịn vào ghế đá ngồi xuống.
Không phải ông sợ chó. Ông sợ cái cú tưng xe đó. Cú tưng mà hơn ba mươi năm trước ông phải chống cái chân trái xuống cho khỏi té để đến giờ đầu gối thỉnh thoảng vẫn còn đau.

Hồi đó ông còn là bác sĩ ở Bệnh viện Giồng Trôm. Ba mươi mấy tuổi. Lương thời bao cấp, ba cọc ba đồng, cả gia tài là chiếc Honda Cub 78, 50cc màu xanh lá cây mua ở Mộc Hóa.
Một bữa chủ nhật, ông chở vợ và đứa con đầu lòng mới 5 tuổi lên thị xã Bến Tre chơi. Đi ăn sáng rồi mua sắm. Vợ ngồi sau, đứa nhỏ ngồi trước. Ông chạy chậm, không quá 40 cây số giờ. Xe 50cc mà, vặn hết ga cũng không nhanh hơn được. Đường qua xã Lương Quới hai bên toàn vườn mía và ruông lúa, gió đồng thổi lồng lộng.
Tới chợ Lương Quới, từ trong căn nhà ven đường, một con chó mực to đùng phóng ra. Nó băng ngang mũi xe. Nhanh lắm.
Trong đầu ông lúc đó có hai lựa chọn rất rõ. Một là đánh lái qua trái, cả nhà sẽ qua làn đường ô tô, gặp xe ngược chiều tới. Hai là thắng gấp, chiếc Cub già sẽ trượt bánh sau quay ngang, quăng cả nhà xuống mặt đường rải đá xanh cục nào cục nấy to hơn quả trứng...
Mấy thằng bạn kinh nghiệm mua bán xe cub hồi đó thường nói với ông: Gặp chó băng ngang, cấm kỵ nhất là đánh lái và thắng gấp.
Ông đành nghiến răng, làm một việc mà tới giờ nghĩ lại vẫn còn run: Ông giữ cứng tay lái, không thắng, không lách, buông ga và tông tới luôn.
Xe tưng lên một cái rất mạnh. Ông cảm nhận rõ bánh trước cán qua một cái gì đó mềm rồi nảy lên, bánh sau lại tưng thêm một cái nữa. Con chó tru lên một tiếng ăng ẳng rồi lăn ra giữa đường, ói một đống cơm. Chiếc Cub chao đảo, quăng qua quăng lại cả chục mét, ông chống chân trái mấy cái, ê cả đầu gối, nhưng rồi cũng qua. Cả nhà không té.
Ông tấp vào lề, chân chống xe mà đầu gối trái còn run, đau nhói. Vợ ông mặt trắng bệch, ôm con khóc. Ông chủ quán hủ tíu gần đó chạy ra nói: "Chó nhà bà Sáu thả rông đó bác sĩ ơi. May cho bác sĩ đi xe 50cc chạy chậm, chứ chạy lẹ là lật rồi." Thật may mắn. Nhưng từ đó ông bị ám ảnh và cái đầu gối trái hay đau khi trở trời.

Sau này về lại bệnh viện ở Sàigon làm việc và dạy học, ông trực cấp cứu gặp không biết bao nhiêu tai nạn giao thông vì chó. Có một cô bác sĩ trẻ học trò cũ, trong đợt dịch Covid 19, trên đường đi chống dịch về, Sài Gòn lúc đó cách ly, đường sá vắng hoe, chạy xe bon bon, bị con chó băng ngang té xe đập hai gối xuống đường, xém gãy chân. Cô nói giờ ra đường thấy chó chạy rông là sợ thật sự, gối vẫn còn đau lắm. Ông đọc mà thấy như chính mình trong đó.

Ông ngồi ở ghế đá công viên, nhìn cô gái trẻ đang cố kéo con chó của mình lại. Cậu shipper đã dựng xe lên, chửi thề mấy câu rồi cũng chạy đi.

Ông gọi cô gái lại. Ông không la. Giọng ông chậm rãi của một ông già từng trải. "Con ơi, cho chú nói một câu. Con thương nó thì con xích nó lại. Ở Sài Gòn này xe đông lắm. Con thả rông nó vậy, nó không chỉ cắn người ta, nó còn làm người ta té xe chết. Chú từng chở vợ con tông trúng con chó y như vậy ở Bến Tre, may mà đi xe gắn máy chạy chậm mới không chết cả nhà."

Cô gái đỏ mặt, líu ríu xin lỗi, vội vàng xích con chó lại.
Ông Ba đứng dậy, xoa xoa cái đầu gối trái. Nó vẫn còn đau. Cái đau của một cú tưng xe xém chết cách đây hơn mấy mươi năm, và cái đau của một người làm bác sĩ hơn bốn mươi năm, đã chứng kiến quá nhiều cái đau không đáng có chỉ vì một sợi dây xích chó buông lơi.
Ông tiếp tục đi bộ. Đủ hai vòng công viên. Chậm rãi.

Ở Sài Gòn xe cộ tấp nập này, đi chậm một chút, giữ chắc tay lái một chút, và đừng bao giờ thả rông sự vô trách nhiệm của chính mình để người khác phải gặp nạn

Thi Anh

Blog Archive