Wednesday, September 23, 2026

Lão nông gốc Việt ở San Diego lai tạo 6 giống thanh long quý.

Cách Little Saigon gần 90 dặm về phía Nam California, là thành phố núi đồi Vista thuộc San Diego County. Nơi đây phong cảnh hữu tình, với nhiều biệt thự nằm chênh vênh trên đỉnh đồi, xen kẽ là những nông trại xanh ngút mắt. Ở đó, hiếm hoi có một nông trang của “đôi bạn cao niên” gốc Việt, vốn là kỹ sư canh nông, ông Nguyễn Ngọc Ổn (82 tuổi) và bà Nguyễn Thị Quới (83 tuổi), với trên 500 gốc thanh long đang mùa thu hoạch và nhiều loại cây ăn trái khác.

Sau gần chín tháng “hẹn hò,” chờ cho tới mùa thanh long chín,
mới có dịp tới thăm nông trang của ông bà.
Mở cổng chờ sẵn chúng tôi, lão nông Nguyễn Ngọc Ổn cười hiền hậu nói: “Thật tiếc vì bà nhà tôi hôm nay đột nhiên không khỏe, phải tới nhà cô con gái để được chăm sóc, thành ra có mình tôi.”

Nông trại nằm sát dưới chân một quả đồi. Phía trước cổng là một khóm tre ngà màu vàng gợi nhớ cảnh làng quê Việt Nam quen thuộc. Sau bụi tre là một căn nhà mobile home, có ban công và khung cửa sổ màu xanh thật xinh xắn. Trước nhà là những chậu thanh long mà ông bà đang nghiên cứu trồng thử nghiệm. Phía sau là triền đồi, rộng 5 mẫu Anh với nhiều loại cây nhiệt đới như táo, bưởi, hồng giòn, cam quýt, bơ, nhiều nhất là cây thanh long.

“Tôi là người yêu nghề nông. Ngày trước ở Việt Nam, tôi cũng có nông trại ở Phú Mỹ, Vũng Tàu. Mới đây, tôi được biết Phú Mỹ trở thành cảng nước sâu quan trọng, tàu lớn bây giờ neo đậu ngay trên mảnh đất của tôi ngày xưa,” ông nói.

Người đầu tiên trồng mía
Di cư sang Mỹ năm 1979 và ở tiểu bang California đến tận ngày nay. Ban đầu ông bà ở San Jose, rồi di chuyển về Anaheim. Năm 1982 ông bà mua đất ở Riverside để trồng mía, mục đích để ép lấy nước mía.

Là một trong những sinh viên khóa đầu tiên của trường Quốc Gia Nông Lâm Mục dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ngành quản lý nông trại, chàng kỹ sư canh nông Nguyễn Ngọc Ổn tìm ra giống mía thích hợp để ép lấy nước và đặc biệt không có phấn như giống mía thông thường.

Cho phóng viên xem những tấm hình từ hơn 30 năm về trước bên những bụi mía xanh mướt, ông Ổn tự hào kể: “Năm 1986, tại hội chợ ở thương xá Phước Lộc Thọ, chúng tôi là người đầu tiên bán nước mía cho người Việt đồng hương. Ngày đó chúng tôi bán giá $2/ly mà khách xếp hàng dài chờ mua.”

Không dừng lại ở việc bán nước mía một mình, ông còn thiết kế và thuê thợ cơ khí làm ra những chiếc máy ép nước mía. “Tôi cho người ta thuê máy ép nước mía. Rồi tôi cung cấp mía cho họ để nhân rộng mô hình bán nước mía tươi,” ông kể.

Công việc cung cấp mía và máy ép nước mía đang hồi khởi sắc, khiến ông bà phải đi tìm nơi nào thích hợp trồng mía hơn.

Ông cho biết: “Năm 1997, chúng tôi mua lại nông trại 120 cây bơ này ở Vista. Tính là sẽ phá bơ đi trồng mía vì đất ở đây thích hợp với mía hơn Riverside. Nhưng có một điều không ngờ tới là các bụi mía bị loài chuột đất phá hoại. Chúng đào hầm, ăn hết rễ mía, nên kế hoạch trồng mía không thành.”

“Tôi đành bỏ mía đi chăm lại các cây bơ để lấy trái bán cho các chợ Việt ở Little Saigon. Sau này bơ nhập cảng từ Trung Mỹ giá thấp hơn nhiều, nên tôi bỏ bơ, chuyển sang trồng thanh long. Lúc đó thanh long còn rất ít người trồng, giá bán cao, tới $5 một pound,” ông nhớ lại.

Miệt mài gây giống thanh long
Vườn thanh long của ông, lúc đầu đa số là giống thanh long trắng. Với 300 gốc thanh long, cứ một tuần cho hai lần thu hoạch. Ông bà chở tới các khu chợ người Việt để bỏ sỉ, như chợ ABC ở Westminster. Mấy năm gần đây, thanh long đỏ ra đời, giống thanh long trắng trở nên mất giá. Vốn đều là kỹ sư canh nông, ông bà tiếp tục nghiên cứu lai tạo ra giống thanh long mới.

“Tôi sưu tầm và mua được nhiều giống thanh long quý hiếm từ hội Tropical Rare Food. Từ đó tôi tìm cách lai chúng với nhau. Mấy chục năm nghiên cứu, giờ đây tôi đã tạo ra được năm giống thanh long có cấp độ đỏ khác nhau và một giống thanh long trắng ngon đặc biệt.”

Theo chân ông đi dọc triền đồi, thăm những cây thanh long đủ loại, những gốc bưởi, cam, bơ, táo trái sum suê, mới thấy được công sức ông bà bỏ ra ở mảnh đất này.

Trong khi người ta thường trồng thanh long trực tiếp vào đất và cho leo vào các thanh bê tông đúc sẵn, thì ông Ổn sáng kiến ra trồng thanh long vào chậu và cho leo vào các ống nhựa. Ông giảng giải: “Trước kia tôi trồng thanh long trực tiếp xuống đất, mỗi năm tính ra mất 60 gallon nước cho một gốc thanh long. Nay tôi nghiên cứu trồng trên chậu, chỉ còn tốn 20 gallon nước mà vẫn cho năng suất cao như thường.”

Theo ông, đất California vốn khô như sa mạc, không hề thuận lợi cho nông nghiệp. Thời tiết khô, nắng nhiều, rất ít khi có mưa, rất ít mạch nước ngầm. Toàn bộ nước dùng và tưới cây đều dẫn theo kênh nhân tạo từ tiểu bang Arizona về chứa ở các hồ rồi dẫn tới từng hộ gia đình. Đối với người làm nông, việc quan trọng là tiết kiệm nước canh tác, để giảm chi phí. Chính vì thế, sáng kiến trồng thanh long trong chậu, tiết kiệm được 2/3 nước tưới tiêu là rất đáng tự hào. Ông đặt tên cho dự án nghiên cứu của mình là “Keep America Green” (tạm dịch “Giữ Cho Nước Mỹ Tươi Xanh”).

Cầm trên tay những trái thanh long đầu mùa chín mọng, căng tròn, vừa hái vào để “thiết đãi” chúng tôi, vị chủ nhân nông trang vừa bổ thanh long ra đĩa, vừa giải thích cặn kẽ: “Đây là năm loại trái thanh long đỏ do tôi lai tạo ra. Chúng có màu đỏ ở năm cấp độ khác nhau, nếu lấy thang điểm từ 0-100%, thì tôi có loại màu phớt hồng (70% đỏ), hồng (80% đỏ), hồng thẫm (90% đỏ) và một loại đỏ 95% và một loại gần như màu đen, tức là đỏ thẫm 100%.”

Ông tiết lộ một bí quyết chọn mua thanh long trắng: “Loại thanh long trắng hay bày bán ở chợ, tuy vỏ màu đỏ rất đẹp mắt, nhưng ăn thường hay có vị chua. Tôi đã lai tạo ra một loại thanh long trắng, ăn ngọt mà không chua. Chỉ có điều vỏ của nó nhìn không đẹp, không đỏ rực như thế. Nhiều người nhìn bề ngoài thì nghĩ là không ngon, thực tế đó mới là loại ngon.”

Từng trái thanh long đầu mùa, đều được đánh ký hiệu theo lô thí nghiệm rất khoa học. Trong số hàng chục trái thanh long đã hái bày trên bàn, có một số trái to hơn hẳn, nhìn rất “bắt mắt.”

Lão nông cho hay: “Mỗi năm tôi thay đổi, gia giảm đi một chút, mới tìm ra công thức phân bón thích hợp, vừa cho trái ngọt, lại to gấp rưỡi bình thường.”

Nông trang… dưỡng già
Giờ đây, đã qua độ tuổi “thất thập cổ lai hy,” ông bà coi nông trang của mình như một nơi dưỡng già, không còn là nơi sản xuất thâm canh để sinh nhai nữa. Một phần lớn đất ông trồng nhiều loại cây trái ăn quả như bưởi năm roi, hồng giòn, táo tàu… để thết đãi bạn bè, con cháu. Tuy tuổi cao nhưng ông bà vẫn hằng ngày cùng nhau lên đồi chăm sóc cây cối, như một cách tập thể dục giữ gìn sức khỏe.

Ông khoe: “Bằng tuổi tôi, nhiều bạn bè không đủ sức để leo đồi dốc như thế này, còn tôi, chạy còn được. Tuần nào tôi cũng lái xe freeway tới Little Saigon để đi chợ Việt Nam, mua sắm những đồ thuần Việt như là rau muống, rau thơm…”

“Ở đây bây giờ không còn là nông trại nữa mà là nhà dưỡng lão rồi. Nhà dưỡng lão này rộng rãi nhất ở San Diego, hai người ở căn nhà ba phòng ngủ, có đầy đủ không thiếu thứ gì. Có sân tập thể dục 20,000 thước vuông. Muốn chạy giờ nào thì chạy, muốn lên dốc xuống dốc đều được,” ông nói vui.

Chỉ tay về nơi đựng đồ làm vườn như cuốc, vá… ông nói rất hài hước: “Lại còn có phòng chứa đồ tập thể dục nữa.”

Từng giảng dạy tại trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc thời VNCH, ông Nguyễn Ngọc Ổn và bà Nguyễn Thị Quới có rất nhiều học sinh tốt nghiệp trường này hiện sinh sống ở hải ngoại. Có những sinh viên của ông, bà nay đã ở tuổi 70. Cách đây vài năm, ông vinh dự được các sinh viên chọn chính nông trang của ông làm nơi họp mặt.

Ông bà có ba người con, đều đã trở thành bác sĩ và kỹ sư, có gia đình riêng. Ông tâm sự: “Mấy đứa con cứ mời chúng tôi về Orange County sống cho vui. Nhưng tôi từ chối, thế hệ chúng tôi, có lẽ vì hội chứng chiến tranh, mà mỗi ngày không làm việc thì tối không ngủ được. Thay vì ngày ngày ra Phước Lộc Thọ để tán dóc, cãi lộn thì tôi ở đây, nghiên cứu và trồng cây, làm những việc có ích hơn.”

Tâm An.
Derek Trần (Dân chủ) vs Chương Võ (Cộng hòa)

Chỉ còn vài tuần nữa sẽ là cuộc so găng giữa hai ứng cử viên gốc Việt cho chiếc ghế Hạ viện liên bang địa hạt 45 California(3/11/2026): dân biểu đương nhiệm Derek Trần (Dân chủ) và cựu cảnh sát, cựu nghị viên Cerritos Chương Võ (Cộng hòa). Đây là lần đầu tiên hai ứng viên gốc Việt đối đầu nhau ở vòng tổng tuyển cử cho một ghế Quốc hội Hoa Kỳ và kết quả của nó có thể góp phần quyết định đảng nào kiểm soát Hạ viện trong 2 năm tới.

Về tài chính, cán cân lệch hẳn một phía: tính đến 30/6, ông Derek huy động gần $5 triệu, gấp 10 lần con số $496.000 của ông Chương. Derek còn được Ủy ban vận động tranh cử của đảng Dân chủ (DCCC) đưa vào diện "frontliner", bơm quảng cáo đa ngữ Việt–Hoa–Hàn.

Điểm mạnh của ông Derek là tiền, là ghế đương nhiệm, và một lý lịch khó công kích: cha vượt biên, thuyền lật; lớn lên nhờ tem phiếu thực phẩm; cựu quân nhân; luật sư. Địa hạt sau tái phân chia nghiêng Dân chủ hơn (D+1 lên D+5), và ông thắng sơ bộ với 52,5% phiếu.

Ông Chương không phải không có cửa. 30 năm làm cảnh sát và kinh nghiệm điều hành ngân sách thành phố cho ông thông điệp "làm tốt việc cơ bản": an toàn, giảm chi phí đúng nỗi lo của cử tri Orange County. Lá bài chống cộng ở Little Saigon vẫn rất mạnh. Và đừng quên: các ứng viên Cộng hòa tranh cử toàn tiểu bang năm 2022 đều thắng ở phiên bản mới của địa hạt này.

Nhưng điểm yếu chí mạng của ông Chương là tiền và độ nhận diện: sơ bộ ông chỉ được 15,7%. Ông Derek thì kẹt giữa hai làn đạn, cánh tả chê ông nhu nhược trước các cuộc truy quét nhập cư, cánh hữu xoáy vào nghịch lý "chạy cộng sản mà theo Dân chủ".

Vì sao ghế này quan trọng? Hạ viện hiện tại Cộng hòa dẫn 219–212 với 4 ghế trống. Mỗi ghế lật được đều có thể quyết định đa số ở Quốc hội khóa 120. Với người Việt, đây còn là phép thử: cộng đồng đã đủ lớn để không chỉ "có ghế", mà còn định đoạt hướng đi của nó.

Thu Hoang

CHỈ CÁI CHẾT LÀ KHÔNG THỂ SỬA

(Elena Kucherenko)

*
Tối hôm đó, cha Dimitry mời tôi đến nhà chơi. Tôi rất thích đến thăm gia đình cha. Mẹ dòng tự tay nướng món bánh kếp sở trường, rồi bên tách trà nóng, chúng tôi ngồi trò chuyện hàng giờ liền. Về Chúa, về sự An bài của Người, về cuộc sống giáo hội, về muôn hình vạn trạng những kiếp người. Cha giới thiệu tôi với bạn bè và các giáo dân của cha, để rồi họ kể cho tôi nghe những câu chuyện của riêng mình – có chuyện buồn, chuyện vui, và cả những bài học sâu sắc.

Hôm ấy, ngồi cùng bàn với chúng tôi là cô Irina Nikolaevna. Đó là lần đầu tiên tôi gặp cô. Một người phụ nữ chừng 50 tuổi, trông hơi buồn và trầm lặng. Cô hầu như không tham gia vào cuộc trò chuyện, nhưng lại rất thích chơi đùa với Masha – đứa con gái nhỏ mắc hội chứng Down của tôi. Con bé ngồi gọn trong lòng cô, bàn tay nhỏ xíu vuốt ve mái tóc cô. Đúng lúc ấy, tôi bắt đầu than thở rằng Masha sắp tròn 2 tuổi rồi mà vẫn chưa biết nói, chưa biết đi.

Irina Nikolaevna nhìn tôi rồi đột nhiên lên tiếng:
– Đừng than vãn, đừng buồn chị ạ. Chị đang hạnh phúc lắm đấy. Chị thậm chí còn không hình dung nổi mình hạnh phúc đến nhường nào đâu. Hãy trân trọng từng khoảnh khắc này – những khoảnh khắc hạnh phúc ngay lúc này và ở đây. Hạnh phúc chính là những gì ta đang có của ngày hôm nay.

Nói rồi cô im lặng… Cha Dimitry nhìn cô âu yếm và đặt bàn tay mình lên tay cô. Nhưng thú thật, lúc đó trong lòng tôi có chút khó chịu. "Một người phụ nữ chẳng biết gì về mình, chẳng biết mình đang sống ra sao, vậy mà lại đi dạy đời..." – tôi thầm nghĩ.

Một lúc sau, chồng tôi gọi điện đến. Khi ấy anh đang ở Matxcơva để lo sửa sang lại căn hộ của chúng tôi. Tôi nói chuyện với anh bằng giọng vô cùng gắt gỏng. Tôi chỉ muốn mọi thứ phải xong xuôi trước khi mẹ con tôi trở về. Anh làm không kịp, và thực tế là không thể kịp, dù anh đã cố gắng hết sức, thậm chí làm việc quá sức mình. Tôi biết rõ điều đó, nhưng vẫn không ngăn được sự bực bội, hết cằn nhằn lại trách móc:
– Nhìn chồng nhà người ta xem… Còn anh thì…

Tôi cúp máy cái rụp rồi ném xồng xộc chiếc điện thoại xuống ghế sofa.
– Đừng như thế, đừng tức giận làm gì, tôi xin chị đấy. Chị đang rất hạnh phúc mà, 

– Irina Nikolaevna lại cất lời. – Tôi cũng từng có một thời hạnh phúc như thế, chỉ là khi ấy tôi không nhận ra…

Và cô bắt đầu kể…
Irina kết hôn từ rất sớm, khi mới 21 tuổi. Bây giờ thì gọi là sớm, chứ thời đó thế là vừa lứa.

– Mà ngay cả thế thì bố mẹ tôi lúc nào cũng giục: "Hơn hai mươi tuổi rồi đấy, định ở vậy thành bà cô cô đơn à? Nhìn bạn bè mày xem, đứa nào cũng tay bế tay bồng rồi kìa", – cô nhớ lại. 
– Tôi cũng nhìn quanh, nhưng làm gì có ai đeo đuổi. Duy chỉ có Mitka – đứa bạn cùng lớp cũ. Một gã trông "xám xịt", cục mịch và chẳng có gì nổi bật. Nó chạy theo tôi từ hồi lớp năm. Mà gọi là "chạy theo" cho oai chứ thực ra chỉ biết đứng từ xa ngó sang, thở dài đánh thượt. Thỉnh thoảng thì xách hộ cái cặp sách. Chẳng biết viết thơ hay gửi thư tình lãng mạn như mấy đứa con trai khác dành cho người yêu. Nó nhút nhát lắm. Nhưng ai cũng biết – nó mê tôi như điếu đổ. Có điều, đó lại là một "mối" chẳng ai thèm ngó tới. Bố mẹ nó làm công nhân công trường, nghèo rớt mồng tơi.

Học xong cấp ba, Mitka vẫn cứ đứng đó mà thở dài. Nhà Mitka và Ira ở gần nhau nên cứ giáp mặt suốt. Một lần, sau khi nghe mẹ trách móc rằng rồi Ira sẽ thành bà cô già khốn khổ, thà lấy đại Mitka đi còn hơn vì chẳng còn ai ngó tới, cô đã chịu hết nổi. Trong cơn tuyệt vọng, cô chủ động bước đến trước mặt anh trên đường và hất hàm hỏi:
– Thế nào, có cưới tôi không?!

Anh đứng chết lặng, nhìn cô trố mắt mà không thốt nên lời. Anh không thể tin nổi vào may mắn của đời mình.
– Cậu bị câm rồi à? Hay không muốn cưới?

Thế là họ lấy nhau. Đám cưới diễn ra đơn sơ, không hề phô trương. Chẳng giống như đám cưới rình rang của mấy đứa bạn cô. Bố mẹ Irina cũng chẳng giàu có gì, còn gia cảnh Mitka thì như đã nói.

Họ sống một cuộc đời tằn tiện. Mitya không phải là người "nhanh nhạy", không biết xoay xở làm ăn, chẳng bắt kịp cái dòng đời đang biến đổi xoành xoạch ngoài kia.

– Đã bao lần tôi hối hận vì đã lấy anh ấy, – cô Irina Nikolaevna nhớ lại buổi tối hôm đó. – Thời ấy người ta bắt đầu đi nhà hàng nhiều lắm. Chồng người ta thỉnh thoảng lại đưa vợ đi đổi gió. Còn chồng tôi thì đưa tôi vào… quán bánh mì bao tử (pelmeni). Tiền trong túi chỉ đủ có thế. Vậy mà anh ấy vẫn vui, cứ nhìn tôi bằng đôi mắt trung thành như một chú chó nhỏ. Chồng người ta mua cho vợ áo lông thú. Còn tôi thì khoác chiếc áo cúc cũ kỹ tróc sơn, mẹ mua cho từ hồi chưa chồng. Tôi hất hàm phàn nàn về chiếc áo khoác thảm hại đó, anh lại cười: "Em mặc gì cũng đẹp nhất!". Tôi nghe mà phát điên! Những lúc ở quán bánh mì, tôi chỉ muốn hất cả đĩa thức ăn vào mặt anh cho xong. Thấy cặp đôi đi trên đường, cô vợ ôm bó hồng tây rực rỡ, tôi đá thúng đụng nia: "Nhìn người ta tặng hoa cho vợ kìa!". Anh liền chạy biến đi đâu đó, hái về một nắm hoa bồ công anh dại rồi chìa ra. Lại còn cười toe xét như một kẻ đần.

Mọi thứ ở người chồng đều làm Irina chướng mắt. Cả căn hộ nhỏ hẹp, xập xệ nơi anh đưa cô về sống chung với bà nội già nua, đêm nào cũng ngáy khò khò. Người ta mua nhà chung cư cooperatif rộng rãi, còn họ thì rúc trong cái "chuồng chó". Căn nhà lúc nào cũng nồng nặc mùi nước tiểu và mùi của một cơ thể già yếu, bệnh tật. Sau này bà mất, nhưng cái mùi ấy vẫn ám ảnh Ira suốt một thời gian dài.

– Tôi từng mơ về những lọ nước hoa Pháp đắt tiền, cô bạn thân từng khoe chồng nó đi nước ngoài xách tay về. Còn ở đây thì chỉ toàn mùi hôi hám…

Tôi phát tức cả cái cách Mitya ăn cơm, cách anh quệt miếng ruột bánh mì vào đĩa salad. Cả tiếng thìa đĩa va xành xạch vào răng anh… Irina lại đứng dậy bỏ về phòng. Phát tức cả cái cách anh ôm ghì lấy cô mỗi đêm rồi thở khò khè vào tai… Thậm chí cô còn bực mình khi thấy anh nựng nịu đứa con trai nhỏ như một người phụ nữ. Chồng người ta thì bôn ba kiếm tiền, làm thêm làm bớt chỗ này chỗ kia. Còn cái gã này thì cứ hết giờ làm là cuống quýt chạy về nhà… để thay tã lót ướt cho con.

Cô không ly hôn. Thời đó người ta không dễ bỏ nhau. Cô chỉ biết xót xa cho tuổi xuân và cuộc đời bị hủy hoại của mình. Mà cô cũng thương Mitka. Anh trung thành với cô như một chú chó nhỏ. Đứa con trai cũng quấn quýt bố không rời, lúc nào cũng dính lấy bố. Điều đó lại càng làm Irina ngột ngạt.

Cô đã ngoại tình vài lần với một người quen đã có gia đình. Thực ra cô chẳng thấy thích thú gì. Chính cô cũng không hiểu tại sao mình lại làm vậy. Có lẽ là để trả thù cái số phận trớ trêu của mình thì đúng hơn.
– Em lại đi đâu về muộn thế? – chồng cô hỏi sau lần hẹn hò gần nhất.
– Em đi chơi nhà bạn.
– Anh có rán ít thịt viên này, em ăn đi.

Lúc ấy, cô cảm thấy buồn nôn vô cùng. Buồn nôn chính bản thân mình, buồn nôn gã nhân tình, và buồn nôn cả người chồng vô dụng Mitka cùng đĩa "thịt viên" ngớ ngẩn của anh…

Cuộc sống cứ thế trôi qua… Nhạt nhẽo và vô vị. Tối tối, Irina ngồi xem những bộ phim lãng mạn và mơ tưởng về một hoàng tử cưỡi ngựa trắng sẽ đến bế cô đi, đưa cô đến một căn biệt thự sang trọng. Ở đó cô sẽ có chiếc áo lông thú đắt tiền mà cô chỉ cần dùng một động tác kiêu kỳ hất nhẹ khỏi vai xuống sàn, xung quanh ngập tràn những bó hồng tây, một tình yêu đích thực và hạnh phúc vẹn tròn. Hoặc chí ít, cô sẽ tự kiếm được thật nhiều tiền để ăn diện như một bà hoàng. Nhưng cô biết rõ điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Thời thanh xuân của cô đã trôi qua mất rồi. Nó đã lụi tàn trong căn nhà ổ chuột một phòng này, bên cạnh người chồng vụng về. Và tiền cũng sẽ không bao giờ có. Biết lấy đâu ra chứ?

10 năm sau, Mitya đột ngột qua đời. Một cơn thót tim cấp tính. Anh không kịp đợi xe cấp cứu đến.

Mọi chuyện xảy ra vào một buổi tối. Cô đang ngồi dạy con học bài, còn Mitya thì lụi hụi dưới bếp với mấy miếng thịt viên. Đột nhiên anh ồ lên một tiếng rồi ngã khuỵu xuống sàn. Chiếc chảo trên tay rơi xuống nghe một tiếng "chảng" chát chúa. Ira nghe thấy tiếng động liền chạy vào.

Anh trút hơi thở cuối cùng ngay trên tay cô. Anh nhìn cô bằng đôi mắt dịu dàng, cố nở một nụ cười gượng gạo và trấn an cô rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Chỉ tiếc là anh chưa kịp rán xong đĩa thịt viên, không biết hai mẹ con sẽ ăn tối bằng gì.

– Nhưng trong tủ lạnh vẫn còn món súp đấy. Sáng nay trước khi đi làm anh đã nấu rồi. Cả cái ngăn kéo tủ chè nữa, em nhìn vào đó nhé, cạnh cái gương ấy. Không phải bây giờ, để sau hãy xem…

Có lẽ lần đầu tiên sau từng ấy năm chung sống, Irina mới cảm nhận được hơi ấm từ anh, mới bàng hoàng nhận ra mình đang mất đi một người thân thương nhất. Từ bao giờ họ đã hòa làm một. Mitka giống như bàn tay của cô vậy. Bình thường cả đời chẳng mấy khi ta để ý đến bàn tay ấy, nhưng đến khi nó bị gặt phăng đi, ta mới gào khóc trong đau đớn.

Cô khóc, khóc nức nở…
– Mitenka, đừng bỏ em đi. Anh yêu của em…
Cô thậm chí không hiểu từ "Anh yêu" ấy từ đâu ra. Cả đời cô chưa từng nói với chồng câu đó.

Sau đám tang, Irina ngồi lại cùng họ hàng, mọi người cùng khóc. Ai nấy đều nói những lời chia buồn sáo rỗng theo thủ tục. Cô chỉ im lặng. Sau đó cô đứng dậy bước ra hành lang. Cô tiến lại gần chiếc tủ chè mà chồng đã dặn, mở ngăn kéo ra.
Ở đó là một lọ nước hoa Pháp. Chính là loại nước hoa mà cô đã từng ao ước…

Irina gửi con trai về nhà ngoại một thời gian để thằng bé nguôi ngoai và đỡ sốc.
– Còn bản thân tôi, mỗi buổi tối trở về căn hộ nhỏ bé ấy, tôi lại ngồi một mình và nhớ… nhớ lại tất cả… – cô Irina Nikolaevna nghẹn ngào. – Nhớ đôi mắt xanh sâu thẫm Mitenka đã nhìn tôi. Đôi mắt ấy đong đầy biết bao nhiêu tình yêu thương. Nhớ những bông hoa bồ công anh dại… Nhớ quán bánh mì bao tử năm nào… Tôi đã thèm khát biết bao được quay trở lại khoảng thời gian đó – để được ở bên Mitya. Chỉ đến lúc ấy tôi mới hiểu, những ngày tháng đó ấm áp và bình yên đến nhường nào…

Irina nhớ lại hình ảnh người chồng trẻ năm xưa đã chăm sóc người bà già yếu, bệnh tật của mình ra sao. Bà cụ suốt ngày cằn nhằn, gắt gỏng, nhưng anh chưa từng một lời oán trách, cũng chưa từng trách phạt Ira vì cô không chịu giúp anh một tay.

– Anh ấy thương tôi, không muốn trút gánh nặng của mình lên vai tôi. Nhớ cái cách anh đón tôi đi làm về với mâm cơm nóng hổi. Nhớ những đêm anh bế ru con ngủ để tôi được chợp mắt. Nhớ những cái ôm xiết chặt của anh mỗi đêm, lặng lẽ chờ đợi một chút nũng nịu, đáp lại từ tôi. Nhớ cả những lần anh nhẫn nhịn chịu đựng những lời mỉa mai cay nghiệt của tôi mà chưa một lần buông lời thô bạo.

– Có lẽ anh ấy biết tôi đã phản bội anh. Nhưng anh ấy cũng chẳng nói một lời. Tôi chỉ nhớ có một đêm, tôi nghe thấy tiếng anh khóc thầm trong góc tối. Anh đã tha thứ cho tôi… trong lặng câm…

Quá muộn màng tôi mới nhận ra, hóa ra bấy lâu nay mình đã sống đằng sau một bức tường đá kiên cố bảo vệ. Hạnh phúc từng ở ngay bên cạnh, vậy mà tôi lại mù kịt không hay. Và tôi nhớ mãi ánh mắt cuối cùng của anh… Khi anh nghe thấy tôi gọi anh là "Anh yêu". Anh đã ra đi trong hạnh phúc…
– Chỉ là… tất cả đã quá muộn rồi…

Irina Nikolaevna dừng lại, không không gian chìm vào tĩnh lặng…
– Đừng bực tức nữa, Lenochka ạ, – một lúc sau cô mới khẽ nói. – Tất cả những thứ đó chỉ là chuyện vặt vãnh, rồi cũng sẽ qua đi thôi. Mọi thứ trên đời này đều có thể sửa chữa và làm lại – từ chuyện sửa nhà cho đến những bất đồng nhỏ nhặt. Chỉ có một thứ duy nhất không thể sửa chữa, đó là cái chết.

Bây giờ tôi chẳng thiếu thứ gì. Tôi đã làm việc ở cơ quan chính quyền nhiều năm. Có căn hộ rộng rãi, có những chiếc áo lông thú đắt tiền mà tôi có thể thản nhiên hất từ vai xuống sàn như từng mơ ước… Nước hoa Pháp cũng có cả bộ. Nhưng lọ nước hoa năm xưa của Mitya, tôi vẫn giữ gìn cẩn thận cho đến tận bây giờ. Dù đã gần 20 năm trôi qua…

Và tôi nhớ căn hộ nhỏ bé ngày xưa biết bao nhiêu. Nhớ mùi thịt viên chiên. Nhớ hơi ấm ấy… Ngay cả bà nội cằn nhằn tôi cũng thấy nhớ… Nhưng không thể sửa chữa được nữa rồi, không gì có thể… Tôi đã vô tình bỏ lỡ hạnh phúc của đời mình. Quá muộn để nhận ra rằng, nó đã từng ở ngay sát bên ta…

Đúng vậy… Mọi thứ trên đời đều có thể sửa chữa. Chỉ có cái chết là không.
Hãy yêu thương và biết ơn khi còn có thể… Hạnh phúc chính là những gì ta đang có hôm nay…

*
(LĐH* st & dịch)


GHỆ TÂY

Mày có bồ chưa? Đó là câu hỏi của một em tóc trắng, "blond" ngồi cùng lớp học đánh máy. Thập niên 70 học sinh hầu hết ai cũng phải học cái môn gỏ ngón tay này vì hồi đó làm gì có computer, hay internet. Cái máy đánh chữ ngày xưa là bỏ tờ giấy vào đánh đến đâu tờ giấy nhẩy lên đến đó. Chữ nào sai thì có cái lọ thuốc trắng bôi lên xóa đi rất phiền phứt, về nhà mấy ngón tay sưng vù còn hơn đánh đàn guitar.

Cũng trong cái lớp học này tôi mới có quen được một cô bạn gái tây đẹp như tiên. Cặp mắt xanh như mắt mèo làm cho tâm hồn thằng con trai tóc đen da vàng như tôi phải bồi hồi, vì là hồi đó đến giờ tôi như con nai vàng ngơ ngác, chưa có cô bồ nào cả. Tính tình thì lại nhát gái nên đến năm 18t vẫn chưa cua được em nào thì may thay vào lớp này lại vớ được một em đẹp như tiên.

Mày có bồ chưa? Tôi đáp chưa. Mày có muốn làm bạn trai tao không? Hả! Mày nói gì? Em tây nhìn tôi cười nói: tao chưa có bạn trai, mày chưa có bạn gái thì hai chúng mình làm bạn ok không? Trời! Con gái bên này tỏ tình kiểu này sao? Tuy nhiên em rất đẹp, thân người bốc lửa thằng con trai nào mà không mê chứ lỵ.

Thế là khi tan học hai đứa nắm tay nhau như quen biết từ bao giờ. Lần đầu tiên gần gủi với con gái, những sợi tóc mềm mại như tơ bị gió nhẹ thổi lên mặt làm cho tâm hồn mình xao xuyến lạ thường. Hồi còn ở cái làng cao bồi cũng có vài em đưa đẩy nhưng hồi đó mới có 15,16 tuổi nên chưa biết yêu là gì? Giờ đây thằng con tôi không biết tại sao mà cầm tay mềm mại trắng bóc của em mà thấy cả người nó cứ tê..tê..làm sao ấy.

Năm nay em mới 17t tướng người mềm mại, nhỏ nhắn dễ thương làm cho tôi mê mẫn cả tâm hồn. Tình yêu là vậy sao? Lớn lên ở Việt Nam tôi chưa biết tình yêu trai gái nên bây giờ cũng hơi bỡ ngỡ khi cầm tay em. Cảm giác run..run..tê tái làm sao ấy khó mà diễn tả được. Thập niên 70 dân Việt Nam ở đây rất ít đếm trên đầu ngón tay, nói chi đến con gái Việt Nam rất hiếm. Khi đó mà có bất bất cứ em gái Việt Nam nào làm bạn gái thì tuyệt cú mèo vì tôi vẫn hằng mơ ước như vậy, nhưng người tính đâu bằng trời tính. Cả trường tôi là thằng Á Đông duy nhất thì tìm đâu ra em Việt Nam nào. Lớn lên ở bên này bạn bè tôi đều là Người Mỹ. Tóc trắng tóc nâu, tóc vàng đủ hết nhưng không có một em Việt Nam nào.

Thế là thằng con tôi đành cặp bồ với em Tây trong lớp. Mối tình đầu tưởng đâu sẽ bền vững nào ngờ..có một buổi chiều tôi đến nhà xin bố mẹ em để chở em đi xem phim, cũng là lần đầu tiên tôi đến nhà em. Em đứng đợi sẵn ngòai sân dẫn tôi vào nhà. Ông bố ngồi ở ghế sofa với cặp kính cận ngước lên nhìn tôi chăm..chăm.. rồi hỏi: tối nay mày dẫn con tao đi đâu? Tôi nói tụi tôi muốn đi xem phim. Ông bố nhìn đồng hồ treo tường rồi nói: đúng 10:00 mày phải chở con tao về. Tôi mừng húm nói cám ơn rối rít. Thế là tôi chở em vào rạp chiếu phim ngoài trời. Ở đây trả tiền xong chạy xe vào tìm chổ đậu xe. Mỗi chỗ đậu xe đều có hai cái cột hai bên, một bên loa, một bên máy sởi. Móc vào cửa kính xe rồi quay lên là nghe như trong rạp hát, âm thanh nổi. Ở đây cũng bán đồ ăn, thức uống. Mua rồi mang về xe. Lần đầu tiên tôi đi xem phim ngoài trời do thằng bạn nói: mày dẫn bồ vào đây thì rất là thơ mộng, tha hồ mà tình tứ nên tôi mới chở em đến xem sao.

Ở đây tối nào cũng chiếu hai phim liên tiếp nhưng phần đông vào đây đi về chẳng biết hôm nay chiếu phim gì? Vì có xem phim đâu. Ở trong đây tối thui như mực. Nhìn từng xe xếp hàng từng lớp..từng lớp như người ngồi trong rạp hát vậy, cũng đông đáo để. Tuy rằng trời tối om nhưng khi có một xíu ánh sáng từ phim tỏa ra mình cũng có thể nhìn thấy những cặp tình nhân ngồi trong xe ôm nhau hôn hít. Có xe còn nhún lên nhún xuống như họ đang làm gì bên trong. Em nép sát vào lòng tôi ngững đầu lên chờ đợi. Tôi run quá chưa biết phải làm sao thì em đã hôn môi tôi. Ôi nụ hôn đầu tiên sao mà nó tê điếng người. Hai đứa say mê hôn hít đến khi phim thứ hai đã chiếu xong, đèn đóm mở lên sáng hoắc. Cả đống xe còn phải xếp hàng từ..từ..đi ra cổng. Tôi nhìn đồng hồ thôi chết mạ gần 12:00 sáng, về đến nhà chắc cũng phải một giờ.

Về đến trước cửa nhà em, hai đứa còn đang ôm nhau hôn hít trong xe thì cánh cửa bật tung ra, ông bố cầm khẩu súng trường chạy ra tôi hoảng hồn phóng đi mặt xanh lè như tầu lá chuối. Tôi để em xuống gần nhà cho em đi bộ. Em vừa khóc vừa nói xin lỗi. Từ đó tôi không còn dám bén mãn đến căn nhà đó. Tình yêu của chúng tôi chỉ vỏn vẹn có hai năm rồi sau khi lên đại học mỗi đứa một nơi một thời gian sau không còn tin tức gì nữa. Một trong những kỷ niệm đầu đời khó quên của toi. Và những mối tình gái tây sau này nữa. Một thời hào hoa của tuổi thanh niên giờ đây chỉ còn là lão già gần 70 tuổi viết về qua khứ để đem lại niềm vui cho mình

Dung Dinh
TÌNH NGƯỜI NƠI CHIẾN ĐỊA

( Hai Hùng SG)

*
Có lẽ cuộc gặp gỡ định mệnh trên chiến trường
trong thời chiến tranh, một thời kỳ đầy đau thương và mất mát, nhưng cũng là nơi tình người tỏa sáng.

Tôi vốn là một người lính của một đơn vị Biệt Động quân bình thường, tôi đã có những trải nghiệm không thể nào quên trong những năm tháng chiến đấu ác liệt, và trong ký ức của tôi, hình ảnh anh Hưng, vị đại úy phi công trẻ trung của Phi đoàn 243 Mãnh Sư, sự gan dạ của anh mãi luôn in đậm trong tâm trí tôi.

*
Tam Quan vùng đồi núi chập chùng ở phía Tây, phía Đông giáp Biển chạy dài xa tít, nơi đơn vị tôi đóng quân là khu căn cứ đối diện chi khu Tam quan cách bởi Quốc lộ 1.

Vào một ngày nọ trời vừa hừng sáng tôi đã nghe tiếng động cơ trực thăng của Phi Đoàn 243 tăng phái cho đơn vị chúng tôi, chẳng bao lâu cả ba chiếc UH-1 đã đáp xuống bãi đáp trong căn cứ.

Ra bãi đáp tôi gặp ngay anh Hưng, và đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau tại chiến trường ác liệt ở Tam Quan.

Anh Hưng gốc là người miền Bắc, mang trong mình vẻ đẹp của chàng trai Hà Nội.
Đôi mắt sáng, nụ cười ấm áp và sự điềm tĩnh lạ thường mỗi khi gặp những tình thế hiểm nguy trên không, nó đã khiến tôi bị cảm phục ngay từ khi cùng anh quần thảo trên bầu trời Tam Quan Bồng Sơn.

Ra đón các anh gồm các vị sĩ quan trong đơn vị, sau một hồi giới thiệu thân thế của hai bên, các anh được mời vào Trung tâm hành quân của đơn vị tôi để nghe thuyết trình tình hình và phối trí lực lượng của ta và địch.

Khoảng một giờ sau tôi cùng Sếp lên chiếc C and C do Đại Úy Hưng làm phi công chính, thấy tui lần đầu anh Hưng vỗ vai hỏi:
- Chú em mầy tên gì, chắc chuyên mang PRC 25 theo ông Trung tá Lạc liên đoàn trưởng phải không?

Lấy làm lạ, vì lần đầu tiên đi bay cùng các anh không quân, có bao giờ họ chú ý đến mấy thằng "Cắc ké" như tôi đâu, tôi trả lời anh:
-Dạ em tên Hùng đó đại úy, đại úy nói đúng rồi, thằng em chuyên mang máy cho Sếp em từ lúc về đơn vị này đến giờ.

Đến lượt anh Hưng giới thiệu:
- Mình là Hưng, tương lai chắc "Ăn cơm tháng" với Liên đoàn của chú em mầy hoài đó, mà tôi hỏi thiệt nghe, chú em mầy đi trực thăng có sợ không, lên ngồi nhớ vịn cho chắc chớ không gió nó thổi là rớt xuống biển đó nghe.

Biết anh nói chơi cho vui, tôi dạ rân:
- Dạ tuân lệnh Đại úy ...

Sau nhiều chuyến đi bay với anh Hưng, tự nhiên hai anh em tôi thân thiết hồi nào chẳng hay, mỗi khi các đơn vị trực thuộc của Liên đoàn tôi chạm địch, thì trong tích tắc chiếc UH-1 mang số hiệu 0777 của anh lại xuất hiện trên bầu trời, anh chở thầy trò tôi bay lên quan sát chiến trường từ trên cao, nhờ đó sếp tôi đã chỉ huy giải tỏa áp lực địch một cách hiệu quả hơn.

Có lần, khi một đơn vị trực thuộc của đơn vị tôi bị phục kích, đại úy Hưng đã không ngần ngại lao vào bầu trời có những làn đạn phòng không phía bên dưới, anh điều động hai chiếc Gunship bắn rốc kết và những tràng Miligun trên trực thăng, các anh pilot đã cứu các chiến hữu tôi trở về an toàn.

Từ đó tình Huynh đệ chi binh giữa chúng tôi trở nên khăng khít hơn bao giờ hết. Có những buổi chiều tĩnh lặng, khi không có bận bịu nhiệm vụ, chúng tôi thường cùng nhau ngồi bên chiếc bàn nhỏ, nhâm nhi ly cà phê nóng và trò chuyện.

Anh kể cho tôi nghe về bầu trời, về những khoảnh khắc nghẹt thở khi đối mặt với kẻ thù.

Còn tôi, tôi chia sẻ với anh về cuộc sống của một người lính bộ binh, về những nỗi sợ hãi, những ước mơ và cả những kỷ niệm đẹp.

Một lần nọ, sau một phi vụ thành công, anh Hưng chở tôi về đơn vị của anh ở phi trường Phù Cát.

Hai anh em tôi ghé vào một quán nước nhỏ bên ngoài phi trường, gọi vài chai bia Larue uống giải khát kể chuyện đời cho nhau nghe, chiều hôm đó, chị Hưng đã chuẩn bị một bữa cơm tối thịnh soạn cho chúng tôi, trong căn nhà nhỏ đơn sơ, chúng tôi cùng nhau thưởng thức những món ăn dân dã, trò chuyện vui vẻ, khiến cho tôi có được cảm giác ấm áp, gần gũi như gia đình, nó đã làm cho tôi quên đi những mệt mỏi, những lo âu của chiến tranh đang hiện diên trên đất mẹ.

Sáng hôm sau trước khi ra về anh Hưng tặng tôi một chiếc đồng hồ đeo tay, chiếc đồng hồ Timex thật mỏng có khắc tên anh ở mặt sau.

Đưa cho tôi chiếc đồng hồ anh Hưng nói:
- Hùng mang nó đi, cứ mỗi khi nhìn vào chiếc đồng hồ này, anh muốn em nhớ rằng luôn có một người bạn ở bên cạnh em nhé.

Chiếc đồng hồ ấy đã trở thành kỷ vật quý giá của tôi, luôn theo sát tôi trong suốt những năm tháng chiến tranh, tiếc rằng trong thời gian di tản chiến thuật, sau một lần lội qua Sông Ba ở quận Cũng Sơn ( Phú yên) tôi đã làm rớt nơi nào chẳng hay, chừng phát hiện ra điều này khiến tôi buồn vô hạn vì mình đã đánh mất một báu vật không dễ gì có được.

Cuộc chiến kết thúc thật đột ngột, vừa đúng một tháng rưỡi kể từ khi đơn vị tôi giã từ Thị xã Kontum, Thời gian trôi qua thật nhanh, tôi trở về đời sống dân sự ở Sài gòn, anh Hưng thì sau khi phục vụ ở Phi trường Phù Cát anh được thuyên chuyển về một phi trường ở Vùng bốn chiến thuật, đúng vào ngày gãy súng anh Hưng và đồng đội đã bay ra Hạm đội Bảy của Hoa kỳ bắt đầu cho cuộc đời của người tị nạn, sống mỗi người một nơi.

Nhưng tình bạn giữa tôi và anh Hưng tôi nghĩ nó vẫn luôn bền chặt.
Nhờ mạng Internet toàn cầu, nhờ mạng xã hội Facebook chúng tôi liên lạc thường xuyên với nhau ôn lại những kỷ niệm đẹp.

Chiến tranh đã qua đi, nhưng những kỷ niệm về anh Hưng và những người đồng đội vẫn luôn sống mãi trong trái tim tôi.

Tình bạn giữa chúng tôi, một người lính bộ binh và một phi công, là một minh chứng đẹp đẽ cho tình Huynh đệ chi binh, tình bạn vượt qua mọi khó khăn thử thách.

*
Đại úy Hưng năm nay ngoài tám mươi, tuy không còn phong độ một thời khiến các em nữ sinh thầm ao ước kết giao, nhưng tinh thần anh còn rất minh mẫn, qua trò chuyện tôi hỏi anh:
- Bây giờ cho anh lên UH-1 anh vẫn lái ngon lành không anh Hưng.

Anh phá lên cười, anh nói:
- Mình bây giơ mắt mờ, chân tay run rẫy rồi, dễ gì lái được như hồi xưa nữa Hùng ơi!

Rồi anh nói tiếp:
-Cuộc chiến vừa qua nó khốc liệt quá, nhất là anh em mình ở nơi vùng hai chiến thuật, nơi bom đạn kinh hoàng nhất vậy mà mình còn nguyên vẹn hình hài này, quả là phước đức ông bà để lại cho mình dữ lắm.

Sau câu nói của anh Hưng, trong video Call tôi thấy anh nghẹn ngào như mình không kém.

Tôi và anh Hưng thầm ước mong có dịp nào đó, hai anh em tôi được gặp lại nhau ngoài đời để nhắc lại những buồn vui đã qua trong thời chinh chiến, thời gian mà chúng tôi đã cống hiến tuổi trẻ của mình để gìn giữ quê hương.

Sài gòn một sáng mưa buồn
(15.9.2024- Hai Hùng SG).


Tô Lâm Tại Nữu Ước | Kêu Gọi Gác Lại Quá Khứ | 23.09.26




NGƯỜI GIÀ Ở MỸ

Người già bên Mỹ trên 65t đều có thể làm đơn xin tiền già, mỗi người có đủ điều kiện sẽ được lãnh hơn 900 đô một tháng, bảo hiểm y tế không tốn một đồng xu, từ răng đến mắt tất cả đều free hết, không những vậy mà còn có thẻ thực phẩm để mua thức ăn mỗi tháng cũng gần 200 đô, và cũng có thể cho con, hoặc người thân trong gia đình săn sóc mình người đó cũng được chính phủ trả lương mỗi tháng rất hậu hỉnh. 

Vì thế những người già bên này ở với con cháu đều có tiền dư giả mỗi tháng, ngồi không sơi nước. Mỗi tháng trông cháu cũng được thêm một số tiền nữa. Ở nhà của con cái không phải trả tiền. Ai mà lấy tiền nhà của bố mẹ bao giờ. Mỗi tháng cũng có một số tiền của chính phủ gửi thẳng về nhà, hoặc thẳng vào nhà bank. Mỗi ngày không có gì làm rãnh rỗi sinh nông nỗi nên mấy cụ vào "casino: sòng bài kéo máy chơi cho đỡ buồn tiền nhiều để làm gì? Lâu..lâu bay về Việt Nam chơi. Ai cũng tưởng mấy cụ bên này làm ăn phát tài nhưng có ngờ đâu toàn là tiền trợ cấp của chính phủ.

Những người già bên này dù cả đời không đi làm cũng được hưởng trợ cấp. Còn những người gìa bên này mà đi làm cả đời thì lại là chuyện khác có tiền hưu trí, bảo hiểm sức khỏe theo trương trình hưu trí của chính phủ. Còn người nghèo thu nhập ít thì cũng được hưởng trợ cấp của chính phủ nhiều hay ít cũng tùy theo hoàn cảnh gia đình của mỗi người.

Dân di cư qua đây đủ lọai chủng tộc, mọi quốc gia ở đây hợp pháp đều xin được tiền trợ cấp của chính phủ, và tiền già vì vậy bà con hay có màn khai gian bậy bạ, để có tiền và có bảo hiểm sức khỏe. Có nhiều cặp vợ chồng giả bộ ly đị để được hưởng trợ cấp nhà, tiền và bảo hiểm sức khỏe, nhà nhiều con thì số tiền hàng tháng càng nhiều cho nên khi đến những khu chung cư của chính phủ nhà nào cũng cả đống con. Vì thế có nhiều trường hợp những phòng khám tư nhân rất thích những người có "Medicaid" bảo hiểm của chính phủ vì họ có thể tìm đủ bịnh tật chặt chém tự nhiên, vì thế bây giờ có vài nơi bị bắt gian lận tiền của chính phủ lên đến cả hơn trăm triệu đô la. Trong đó có cả các bác sĩ Việt Nam.

Dân Việt Nam cũng có rất nhiều người tham lam tìm đủ mọi cách để moi tiền của chính phủ, đủ mọi chiêu trò, nhưng bây giờ lại bắt đầu lo sợ ngủ không yên vì họ bắt đầu dò ra những người gian lận này và hậu qua thật khó lường có thể bị trục xuất nếu chỉ có thẻ xanh.

Ở đời tham thì cực thân, làm ăn đàng hoàng, không làm gì thẹn với lương tâm thì chẳng sợ chi, còn những người hồi đó khai gian dối thì ngày nào cũng nơm nớp lo sợ không biết khi nào họ đến nhà còng tay mang đi. Hiện giờ gian lận tiền của chính phủ quá nhiều. Họ không kịp dò ra tất cả nhưng trong tương lai sẽ lòi ra hết vì Mỹ không ngu như bà con nghĩ.

Dung Dinh

Blog Archive