Thursday, October 1, 2026

SỰ DỐI TRÁ TRẮNG TRỢN CỦA TRUYỀN THÔNG MỸ

Sự dối trá trắng trợn của truyền thông Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam cuối cùng đã bị bộc lộ.

Nào là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1960. Nào là hình chụp Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm..

Đó là hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.

Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em. Đồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.

Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhãn khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu trước thảm họa này?

Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu với tựa đề: “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,” trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.

Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh! (www.WND.com) biết như sau: "Những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến." Botkin còn cho biết thêm: "Có cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào ngày 16 tháng Ba năm 1968.."

Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng không thể thiên lệch như vậy."

Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, tổng thống Nixon đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: "Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch."

Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: "Apocalypse Now", "The Deer Hunter", "Good Morning, Vietnam,” "Rambo", hay “Full Metal Jacket” cũng chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối diện trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa Cộng Sản.

Nhà làm phim
Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người lính Mỹ tham chiến tại đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng, độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp"

Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, là người viết cuốn sách "Lội ngược dòng oan nghiệt" ("Ride the Thunder") để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu: "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bôi trong cuộc chiến tại Việt Nam" được dựng lên, sau khi đích thân đi điều nghiên tại những nơi xảy ra giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, thì lại khẳng định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai!

Botkin giải thích như sau: "Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của chúng tôi nhằm xóa đi hiểu lầm về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng."

Vào thập niên 1970, theo chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh" của tổng thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên chẳng còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân trong kế hoạch tổng tấn công vào mùa hè năm 1972, cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé này thoát khỏi tình thế nguy ngập.

Người thật việc thật - cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại Đông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố vấn quân sự của Mỹ...

Do anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng sản bị bỏ đói và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư toà án xét xử) gọi là trại "học tập cải tạo."

Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông là diễn viên Joseph Hiếu.

"Chúng tôi mở đầu bằng cuộc đời ông trong trại tù tập trung "học tập cải tạo" rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau đệ nhị thế chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”

Trung tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American Silver Star.

Botkin giải thích thêm: "Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì ở đó đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối.

Thông qua cuộc đời của Trung tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết "

Khi cuộc chiến đi đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng sản. Bao nhiêu người bị bỏ tù hoặc bị tử hình. Sáng 30 tháng Tư, những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, kết thúc 21 năm chiến đấu.

Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng sản, cựu chiến binh, thuyền nhân; có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.

Botkin tâm sự thêm: "Đối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải chỉ là để kiếm tiền mà là những nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy có trách nhiệm phải nói lên sư thật.

Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã hết cách lánh né mà buộc phải nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ."

Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim Botkin, đã giúp toàn khối Đông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản vốn đang lây lan mạnh lúc bấy giờ cũng như có hòa bình ổn định để phát triển.

Botkin nói: "Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonexia và Thái Lan. Nhờ có sự hiện của Hoa Kỳ tại Việt Nam, bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền thông như đã nghe đã thấy, đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ chấn hưng và phát triển để đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, không có nỗ lực của người Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như ngày nay."

"Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay," Botkin bàn thêm, "chúng ta đang loay hoay tìm lấy chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn (cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra,) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân bản tốt đẹp cho thế giới."

Rồi ông Botkin khẳng định: "Chúng ta đã cứu thế giới vào thời đệ nhị thế chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”

Chelsea Schilling
Nguyễn Trọng Dân lược dịch

Ngày Ba Vào Bếp, Má Được Nghỉ

Bây giờ tôi không còn nhớ năm đầu tiên ở Mỹ, 1975, đó là ngày Halloween hay Thanksgiving. Tôi chỉ nhớ đó là lần đầu tiên ba tôi nướng một con gà tây.

Tôi mời những người bạn quen từ khóa học hè ở Ellensburg, lúc ấy cũng đang sống cùng thành phố, đến nhà ăn gà tây. Chừng năm anh con trai và vài cô con gái. Những người bảo trợ đưa họ đến, vì thời điểm đó chẳng ai trong chúng tôi biết lái xe. Nhà tôi khi ấy vẫn còn ở căn nhà thuê trên đường 91.

Lần đầu nướng gà tây, ba tôi đâu đã có kinh nghiệm. Bạn bè tôi, tức những vị khách, đã đến đông đủ, vậy mà chờ mấy tiếng đồng hồ con gà vẫn chưa chín. Đến sớm thì ngồi chờ, chờ thì tán gẫu. Chẳng mấy chốc trời chạng vạng, rồi tối như mực. Còn con gà thì vẫn chưa chịu chín!

Tôi cũng chẳng nhớ cuối cùng nhà tôi đã kiếm món gì cho đám khách ăn hôm đó.

Nhưng từ đó về sau, mỗi năm có hai ngày mà không ai trong nhà tôi phải vào bếp, kể cả má tôi: Thanksgiving và Christmas. Bởi vì ba tôi sẽ lo tất cả chuyện nấu nướng.

Ba thường nướng một con gà tây khoảng hai mươi pounds, cùng đủ thứ món ăn kèm. Trong bụng gà là nhân stuffing, còn trên mặt da con gà, ba xếp những lát thơm cắt tròn.

Đó vừa là ngày lễ, ngày gia đình sum họp, vừa có thể gọi là ngày “vinh danh” má tôi — ngày phụ nữ mà má được hoàn toàn nghỉ vào bếp!

Ba cắt hành tây và cần tây thành những hạt vuông nhỏ, xắt ngò tây (parsley), rồi trộn chung với nho khô và những mẩu bánh mì khô vụn. Tất cả được nhét vào bụng gà tây để làm stuffing. Một số gia đình người Việt lúc ấy cũng biết biến chế, dùng xôi mặn làm nhân.

Khoai tây tán nghiền có bơ, tỏi và muối. Rồi có món khoai lang Mỹ hầm với bơ và rất nhiều đường vàng, nấu cho đến khi bơ và đường đặc sánh, quyện vào từng miếng khoai. Món này ba tôi và tôi đều thích. Về sau, cô em dâu Đ. làm món này ngon nhất nên thường để cô ấy phụ trách. Đó là chuyện của những năm sau này. Hồi ấy, chúng tôi chưa ai nghĩ nhiều đến chuyện ăn ngọt quá thì có ngày sẽ bị tiểu đường!

Bàn ăn còn có cranberry tím đỏ và apple cranberry sauce.
Phần nước mỡ vàng óng chảy ra từ con gà tây được ba dùng làm gravy, nước sốt rưới lên khoai tây tán nghiền hoặc lên từng miếng gà tây.

Và nhất định không thể thiếu pumpkin pie, ăn với một muỗng ice cream hoặc phủ một lớp whipped cream trắng mịn trên mặt bánh.

Đến khi con gà tây chín vàng óng, mùi thơm lan khắp nhà, ai nấy đều đã đói meo. Ba sẽ ngồi ở đầu bàn, tự tay cắt từng lát gà tây và đặt vào dĩa cho mọi người.

Một bữa ăn thịnh soạn cho gia đình tám người, mà chỉ một mình ba cặm cụi trong bếp suốt cả ngày. Không ai được “giúp” ba, vì ba muốn tự mình làm hết.

Tôi thích nhất là những ngày hôm sau. Những miếng gà tây còn dư được kẹp giữa hai lát bánh mì, thêm vài lát cà chua, dưa leo, thành những chiếc sandwich mang đi học, đi làm. Hoặc cả bộ xương gà được giữ lại để nấu soup, nấu cháo gà. Đơn giản vậy mà ngon tuyệt.

Những năm sau, khi ba đã lớn tuổi, vào những dịp lễ, gia đình tôi thường thay phiên nhau ăn ở nhà một trong hai cậu em nhỏ nhất. Lúc ấy mỗi người góp một món. Cậu em kế út thường làm khoai tây nghiền. Gà tây và mac and cheese hoặc potato casserole thì mua sẵn ở Costco. Thêm một tô salad nữa — vừa ngon vừa tiện.

Nghĩ lại, gia đình tôi đã thích nghi khá sớm với đời sống Mỹ. Chúng tôi ăn được những món ăn Mỹ, rồi dần dần cũng biết cách làm những bữa Thanksgiving, Christmas rất Mỹ. Chỉ có điều, thỉnh thoảng vẫn nhớ và thèm những món ăn Việt Nam. Mà những năm đầu mới sang, muốn tìm được một món ăn Việt Nam cũng đâu phải chuyện dễ dàng.

Vậy nên, trong ký ức của tôi, những mùa lễ đầu tiên ở Mỹ không chỉ có gà tây, stuffing, biscuits, pumpkin pie hay cranberry. Đó còn là hình ảnh ba tôi lụi hụi trong bếp suốt một ngày, để má tôi được nghỉ ngơi, và tám người trong gia đình có một bữa cơm sum họp giữa một quê hương mới.

Linh Vang
LÀM TƯƠNG- NGHỀ TRUYỀN THỐNG 100 NĂM Ở BẠC LIÊU

Lò tương – một ký ức đậm vị Bạc Liêu

Nói tới mấy cái nghề có tuổi đời cả trăm năm ở Bạc Liêu thì không thể không nhắc tới nghề làm tương. Đây là một nghề gắn với cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu từ rất lâu đời, theo chân những người Hoa sang Việt Nam rồi dần trở thành một phần trong đời sống ẩm thực của vùng đất này. Những cơ sở làm tương ngày trước thường được gọi là lò tương.

Vừa rồi, tình cờ trên báo đài có nhắc tới nghề làm tương, tự nhiên bao nhiêu ký ức thuở nhỏ của tui lại ùa về. Có những thứ tưởng như bình thường lắm, tới khi nghe nhắc lại mới thấy nó nằm sâu trong ký ức mình từ hồi nào không hay.

Nhà tui gốc Hoa nên nói tới hột tương, chai xì iếu, xì dầu thì thiệt là quen thuộc. A Côn với A Chệt tui hồi đó ăn cái gì cũng đem ra chấm xì iếu, riết rồi nhìn hoài thành quen mắt, ăn hoài thành quen miệng. Có một thời gian, Dì Úm tui bán hủ tiếu mì. Gia vị trộn hủ tiếu mì hồi đó cũng chẳng có gì cầu kỳ, chủ yếu là xì iếu với nước tương vậy thôi, mà cái vị đó lại làm tui mê mẩn tới tận bây giờ.

Nói thiệt, cái này nghe hơi “chéo ngoe” một chút: xì iếu thượng hạng đôi khi lại không hạp khẩu vị bằng loại rẻ tiền. Chắc mỗi người mỗi khẩu vị, còn nhà tui thì thường thích tương hột đỏ. Không biết ngày xưa có bao nhiêu loại tương, nhưng nhắc tới tương hột đỏ là tui nhớ ngay tới những bữa cơm gia đình.

Món mà tui thấy ăn với tương hột đỏ để nguyên hột ngon nhứt là cá chẽm hấp tương hột bún tàu. Tương có cái hậu ngọt, vị mặn vừa phải, quyện vô cá nghe sao mà bắt cơm dữ lắm. Còn tương hột đem xay ra thì lại có nhiều cách ăn khác: ăn chung với gỏi cuốn, bò bía mặn hay phở đều ngon. Có khi chỉ cần thêm chút đậu phộng, miếng dưa chua là thành một chén nước chấm rất vừa miệng. Rồi còn dùng làm gia vị chấm với heo quay, vịt quay hay mấy món chiên nữa, thiệt tình là “số dách”.

Có lẽ vì tương hiện diện trong bữa ăn nhiều như vậy nên hình ảnh những lò tương cũng trở thành một phần ký ức của người Bạc Liêu ngày trước.

Theo ký ức của Chệt tui, hồi xưa ở Bạc Liêu có nhiều lò tương lắm. Một số lò tiêu biểu như lò Vĩnh Thắng trên đường đi Vĩnh Châu, lò Nguyên Tuyền dưới dạt Cầu Quay, lò Trung Nguyên trên đường Trần Phú, rồi lò Bính Nhiệm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, hướng chùa Ông, chùa Bà.

Ngày trước, tương làm xong người ta còn gánh đi bán hoặc chở bằng xe đạp. Nước mắm cũng vậy, thường được đựng trong những cái tĩnh rồi chở đi khắp nơi. Cái cảnh mua bán, vận chuyển hồi đó chắc không ồn ào, náo nhiệt như bây giờ, nhưng lại có cái gì đó rất riêng của một thời.

Bà Cố tui ăn chay trường nên trong nhà lúc nào cũng có tương. Bởi vậy, với tui, tương không chỉ là một loại gia vị mà gần như đã trở thành một phần của căn bếp và tuổi thơ.

Hồi nhỏ, tui thích nhất là ăn vụng hột tương mỗi lần A Chệt mua về. Hột tương ngọt ngọt, hơi bùi, ăn chơi vậy mà ngon. Trẻ con hồi đó đâu có nghĩ gì nhiều, thấy ngon là ăn, thấy có trong nhà là lén lấy một chút. Vậy mà tới bây giờ nhớ lại, cái vị của hột tương vẫn còn nằm đâu đó trong ký ức.

Rồi tới hồi tui đi thực tập sư phạm, phía sau trường lại có một cái lò tương. Mỗi lần người ta mở nắp lu để đảo tương, cái mùi tương theo gió bay ra, thơm nứt mũi cả một khu. Đó là một thứ mùi rất đặc trưng, bây giờ nghĩ lại vẫn thấy khó quên.

Có khi tui cũng tự hỏi, không biết có phải vì mình là người Hoa nên thấy cái mùi tương đó thân thuộc hơn người khác không? Hay bởi cái khẩu vị này đã được truyền từ đời này qua đời khác, từ ông bà, cha mẹ rồi tới mình, nên chỉ cần nghe mùi là bao nhiêu ký ức tự nhiên sống lại?

Thiệt ra, có những món ăn đâu chỉ được nhớ bằng vị giác. Nó còn được nhớ bằng mùi, bằng tiếng người trong nhà, bằng con đường mình từng đi qua, bằng cái tĩnh tương nằm trong góc bếp hay bằng một buổi trưa thơm nức mùi tương từ phía sau trường học.

Ngày nay, nói tới lò tương có thể thấy thiệt lạ lùng với một vài bạn nhỏ. Nhưng với những người từng lớn lên cùng mùi tương, từng ăn hột tương, từng thấy những gánh tương hay những lu tương ngày trước, đó lại là một phần ký ức rất đẹp.

Một nghề truyền thống có thể mai một theo thời gian, nhưng cái vị của nó đôi khi vẫn ở lại rất lâu — trong bữa cơm, trong câu chuyện của người già và trong ký ức của những đứa trẻ ngày nào.

Với riêng tui, lò tương không chỉ là một nghề cũ của Bạc Liêu. Nó còn là một mùi hương của quê nhà, một phần ký ức gia đình và một cái vị mà càng lớn, càng thấy thương.

Duong Tan Loi
Xăm môi

Chị bước vào phòng khám với chiếc khẩu trang kín mít, chỉ để lộ đôi mắt đang cười tít. Trên tay là tờ xét nghiệm đường huyết mới nhất.
- Đường máu như vầy xăm môi được không bác?
Bác sĩ già liếc qua con số. Đường máu tốt. Nhưng nghe tới chữ "xăm" là ông dị ứng liền, nhất là bệnh nhân tiểu đường của ông.
- Trời... đường tốt, nhưng mà xăm chi vậy?
Chị hớn hở hẳn lên, tưởng được bác sĩ bật đèn xanh:
- Vậy xăm được hen bác?
Ông bác sĩ già lắc đầu. Thiệt tình ông có thấy dung nhan chị ấy đâu, khẩu trang che kín bưng, nhưng ông cứ nói đại, biết đâu chị đổi ý:
- Thôi đi, chị đẹp quá rồi còn xăm môi làm chi nữa?
Chị vẫn cố thuyết phục, giọng nài nỉ:
- Em đã xăm rồi mà có sao đâu?
- Trời đất, vậy còn xăm nữa làm chi?
- Dà xăm cho môi nó đậm hơn, em sợ sau này nó... phai, hi hi.
Chưa để bác sĩ già kịp ý kiến thêm, chị đã tụt phăng luôn cái khẩu trang, chìa cặp môi về phía bác sĩ chờ đợi... Ông bác sĩ già hơi sững lại. Phải công nhận, môi chị đẹp thiệt. Hồng cánh sen, không quá căng mọng, viền môi rõ mà mềm, cười lên rất tự nhiên. Không biết có bơm gì thêm không, nhưng nhìn khá mọng và rất hài hòa với khuôn mặt.

Bác sĩ già chợt nghĩ lan man. Không biết thêm chục năm nữa, khi già đi, môi chị sẽ thế nào. Ông thấy mấy người xăm lông mày đen thui, xăm môi đỏ tím về già trông hơi kỳ kỳ, mực xăm loang ra theo nếp nhăn, muốn xóa cũng khó. Lúc trẻ thì đẹp, lúc già thì thành gánh nặng, tóc thì bạc, da thì nhăn nheo còn mỗi cặp lông mày là đen thui, cái môi vẫn cứ căng mọng tươi rói.

Nhưng thôi, đờn bà mà, họ đã muốn là trời muốn, cũng khó mà cản. Ông đành thở dài:
- Vậy thôi... chị muốn làm gì thì làm. Đeo khẩu trang lại đi!
Chị cười khanh khách, đeo khẩu trang lại, cầm tờ xét nghiệm ra về, lòng chắc mẩm là bác sĩ đã đồng ý.

Ông bác sĩ già ngồi nhìn theo bóng chị đi khuất, lắc đầu cười buồn, suy nghĩ mông lung.
"Đẹp sẵn rồi mà sao cô ấy vẫn không tự tin mình đẹp, cứ phải nhờ tới kim mực mới chịu? Cái đẹp tự nhiên là cái đẹp logic nhất, vì nó tuân theo quy luật sóng đôi của cơ thể và thời gian. Môi hồng cánh sen vốn đã hài hòa với sắc da, tuổi tác, khi già đi nó nhạt dần một cách tự nhiên, không để lại dấu vết nhân tạo. Cô ấy tưởng đường huyết ổn định là cơ thể cô hoàn toàn bình thường sao? Trên giảng đường y khoa, người ta nhìn cái đẹp dưới lăng kính của hàng rào bảo vệ sinh học và tính toàn vẹn của mô. Việc tùy tiện đưa mực xăm vào môi lúc này không đơn thuần là làm đẹp, mà là một cuộc đánh cược y tế đầy rủi ro. Rối loạn chức năng lành vết thương và nguy cơ bội nhiễm hệ thống. Da môi là vùng chuyển tiếp niêm mạc vô cùng nhạy cảm, có mật độ mạch máu dày đặc nhưng lại cực kỳ mỏng. Mỗi mũi kim xăm là một tổn thương vi thể (micro-trauma). Ở các bệnh nhân tiểu đường, dù HbA1c có đẹp, hệ miễn dịch tự nhiên vẫn có thể bị suy giảm cục bộ. Quá trình thực bào diễn ra chậm, biến môi thành môi trường lý tưởng cho Herpes Simplex virus bùng phát hoặc vi khuẩn tụ cầu tấn công, gây nhiễm trùng lan rộng, hoại tử mô.

Phản ứng viêm mạn tính và u hạt dị vật (Granuloma) đôi khi cũng gặp. Mực xăm bản chất là dị vật (foreign body) đưa vào cơ thể. Hệ miễn dịch của người tiểu đường rất dễ phản ứng thái quá hoặc kéo dài dai dẳng, hình thành các u hạt dị vật, sẹo lồi hoặc xơ hóa mô. Càng xăm dặm thêm, mô sẹo càng dày, làm mất đi độ đàn hồi và cấu trúc cơ học tự nhiên của bờ môi.

Còn hiệu ứng Tyndall và sự biến đổi hóa học của hạt mực nữa. Mực hữu cơ dưới tác động của tia UV và đại thực bào sẽ bị phân rã không đều. Qua thời gian, màu hồng ban đầu sẽ biến đổi cấu trúc, gây ra hiện tượng tán xạ ánh sáng (hiệu ứng Tyndall) khiến môi chuyển sang màu thâm xỉn hơn, loang lổ. Khi đó, việc sửa chữa bằng laser sẽ là một cực hình, vì năng lượng laser dễ phá hủy cấu trúc collagen vốn đã yếu ớt của cô, gây sẹo mất sắc tố vĩnh viễn.

Xăm màu môi còn xóa nhòa các tín hiệu lâm sàng quan trọng. Trong y khoa, niêm mạc môi là 'cửa sổ' trực quan nhất để bác sĩ đánh giá nhanh tình trạng tưới máu ngoại vi, độ bão hòa oxy máu (SpO2), hay trạng thái mất nước của bệnh nhân. Việc phủ lên đó một lớp mực đậm vĩnh viễn chẳng khác nào cô tự ngắt đi hệ thống cảnh báo sớm của cơ thể. Đến lúc cấp cứu, môi cô tím tái vì thiếu oxy hay nhợt nhạt vì xuất huyết, bác sĩ cũng không tài nào nhìn ra được.

Y học không bài xích cái đẹp, nhưng cái đẹp bền vững phải dựa trên sự tôn trọng sinh lý cơ thể. Cô ấy đang đổi một hàng rào bảo vệ tự nhiên để lấy một vòng lặp luẩn quẩn: Xăm – Phai – Tổn thương mô – Sửa chữa bằng laser.

Đó không phải là thẩm mỹ, đó là tự hủy hoại."

Thi Anh


Wednesday, September 30, 2026


Ngày cô gặp anh, trời mưa rất lớn. Cô đứng dưới mái hiên của một tiệm sách cũ, ôm chặt chiếc túi vào ngực, còn anh thì chạy ngang qua màn mưa với một chiếc ô màu đen. Anh dừng lại trước mặt cô rồi hỏi: “Cô có muốn đi chung không?” Cô nhìn chiếc ô nhỏ trong tay anh, rồi nhìn khoảng đường còn rất xa trước mặt. “Nhưng tôi không quen anh.” Anh cười: “Vậy thì từ bây giờ quen.” Cô cũng cười. Cô đâu biết rằng, có những người bước vào đời mình chỉ bằng một câu nói rất bình thường, nhưng sau đó lại trở thành người khiến mình mất cả đời để quên.

Anh tên Minh, cô tên An. Họ yêu nhau ba năm. Ba năm đủ dài để anh nhớ cô thích uống cà phê ít đường, ghét hành lá, sợ tiếng sấm và mỗi khi buồn thường im lặng chứ không khóc. Cũng đủ dài để cô biết mỗi khi Minh nói “Anh không sao”, nghĩa là anh đang có chuyện. Họ từng ngồi bên nhau dưới một gốc cây vào những ngày cuối thu. Minh nắm tay cô, nói: “Sau này mình cưới nhau nhé?” An bật cười: “Anh cầu hôn kiểu gì mà chẳng có nhẫn?” Minh cười: “Anh nghèo.” An đáp: “Vậy đợi anh giàu.” Minh hỏi: “Lỡ anh không giàu thì sao?” An tựa đầu vào vai anh: “Thì em nghèo cùng anh.” Minh ôm cô thật chặt. Khi ấy, cả hai đều tin rằng chỉ cần yêu nhau đủ nhiều thì trên đời này chẳng có gì có thể chia lìa họ. Họ đã nhầm.

Một buổi tối, Minh nói với An rằng anh phải đi xa. “Một năm thôi.” An hỏi: “Anh đi đâu?” Minh chỉ đáp: “Xa lắm.” Cô lại hỏi: “Bao lâu?” “Một năm.” “Rồi anh về chứ?” Minh nhìn cô rất lâu rồi nói: “Ừ. Anh sẽ về.” An đưa tay ôm lấy anh. Cô không biết đó là cái ôm cuối cùng mà cô được phép gọi là của người yêu mình. Ba ngày sau, Minh lên máy bay. An đứng ở sân bay tiễn anh. Trước khi đi, anh tháo chiếc vòng tay bằng bạc trên cổ tay mình đưa cho cô. “Giữ giúp anh.” Cô hỏi: “Để làm gì?” Minh đáp: “Đợi anh về.” An cười qua đôi mắt đỏ hoe: “Anh mà không về, em đem bán.” Minh bật cười: “Nhớ đợi anh.” An gật đầu: “Em biết rồi.” Nhưng anh không nói với cô rằng chuyến đi ấy không phải vì công việc. Anh đi vì cha anh đang mắc một món nợ khổng lồ, và người có thể cứu gia đình anh chỉ đưa ra một điều kiện: Minh phải cưới con gái của ông ta.

Minh đã từ chối. Cho đến khi bác sĩ nói với anh rằng mẹ anh chỉ còn vài tháng để sống nếu không có tiền điều trị. Đêm hôm đó, Minh ngồi một mình ngoài hành lang bệnh viện. Anh gọi cho An. Cô vừa bắt máy đã hỏi: “Anh đến nơi chưa?” Minh im lặng. “Minh?” “Ừ.” “Anh sao vậy?” Minh siết chặt điện thoại rồi nói: “An…” “Dạ?” “Chúng mình… chia tay nhé.” Đầu dây bên kia im lặng rất lâu. Rồi cô hỏi: “Tại sao?” Minh nhắm mắt: “Anh hết yêu em rồi.” Cô cười, một tiếng cười rất khẽ: “Anh nói dối.” Minh nói: “Anh nói thật.” “Không. Em biết anh. Anh nói dối rất dở.” Minh muốn nói rằng anh nhớ cô, muốn nói rằng anh yêu cô, muốn nói rằng hãy đợi anh. Nhưng cuối cùng, anh chỉ nói: “Anh xin lỗi.” Rồi cúp máy.

Một năm sau, An vẫn đợi. Hai năm, cô vẫn đợi. Đến năm thứ ba, cô nhận được thiệp cưới. Tên chú rể là Minh. Tên cô dâu không phải cô. An ngồi rất lâu bên cửa sổ. Chiếc vòng bạc trên tay cô đã cũ. Cô nhìn nó rồi bật khóc. Không phải vì Minh cưới người khác, mà vì cuối cùng cô hiểu… anh thật sự đã không trở về.

Nhiều năm trôi qua. An lập gia đình và có một đứa con gái. Cuộc sống của cô bình yên, chỉ có điều mỗi khi trời mưa, cô vẫn nhớ đến một chàng trai từng che ô cho mình trước cửa tiệm sách cũ. Còn Minh? Anh vẫn sống trong căn nhà rất lớn, có tiền, có danh vọng, có một người vợ bên cạnh, nhưng không có An. Và không ai biết rằng mỗi năm, vào đúng ngày họ gặp nhau lần đầu tiên, anh đều đứng trước tiệm sách cũ. Một mình.

Một ngày mùa đông, Minh nhận được tin An bị bệnh nặng. Anh lập tức lái xe đến bệnh viện. Nhưng khi đến nơi, anh chỉ kịp nhìn thấy cô từ xa. An đang ngồi bên cửa sổ. Cô gầy hơn rất nhiều, nhưng trên cổ tay vẫn còn chiếc vòng bạc năm nào. Minh đứng ngoài cửa. Anh không bước vào, bởi người phụ nữ ấy đã có một gia đình. Anh không có quyền phá vỡ cuộc sống của cô thêm một lần nữa. Đúng lúc anh định quay đi, An bất chợt nhìn ra cửa. Hai người nhìn thấy nhau. Cô nhận ra anh và mỉm cười. Nụ cười giống hệt cô gái năm nào dưới mái hiên. Minh khóc, lần đầu tiên sau rất nhiều năm. An khẽ đưa tay lên, không phải để gọi anh, chỉ là chạm vào chiếc vòng bạc. Rồi cô mấp máy môi. Minh đứng ngoài cửa, không nghe được, nhưng anh hiểu. Cô đang nói: “Em vẫn giữ.”

Đêm ấy, Minh ngồi dưới mưa trước bệnh viện. Điện thoại của anh rung lên. Một tin nhắn từ số của An.“Minh, nếu ngày ấy anh nói thật, em đã đợi anh cả đời.”

Anh nhìn màn hình rất lâu.
Anh muốn nói rằng anh chưa bao giờ hết yêu cô. Muốn nói rằng suốt những năm qua, chưa một ngày nào anh thật sự quên được cô. Muốn nói rằng anh đã trở về từ rất lâu, chỉ là anh không đủ can đảm để bước vào cuộc đời cô thêm một lần nữa.

Cuối cùng, anh chỉ nhắn: “Anh xin lỗi.” Tin nhắn không được trả lời.
2 giờ 17 phút sáng, An ra đi.

Sáng hôm sau, Minh đứng trước căn phòng bệnh đã trống. Trên chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ có một hộp gỗ mà y tá nói An đã nhờ họ giữ lại. Anh run run mở nắp. Bên trong là chiếc vòng bạc năm nào.

Chiếc vòng đã cũ, bạc màu theo năm tháng, nhưng vẫn được giữ gìn cẩn thận. Bên dưới chiếc vòng là một mảnh giấy nhỏ, nét chữ của An đã run hơn trước rất nhiều.
“Em trả lại anh. Anh đã giữ lời. Anh đã trở về. Chỉ tiếc là lần này, em không thể đợi anh nữa.”
Minh cầm chiếc vòng trong tay. Anh cúi đầu thật lâu, nước mắt rơi xuống mu bàn tay.
Bao nhiêu năm qua, anh vẫn nghĩ người không trở về là An.
Đến cuối cùng anh mới hiểu, người không kịp trở về bên nhau… là cả hai.

Nhiều năm sau, người ta phá bỏ tiệm sách cũ nơi họ gặp nhau lần đầu.
Minh đứng trước đống gạch vụn, trong tay là một bó hoa trắng. Anh đặt bó hoa xuống bên vỉa hè rồi ngồi rất lâu dưới màn mưa.
Một đứa trẻ đi ngang qua hỏi:
“Chú ơi, chú đang chờ ai vậy?”
Minh nhìn màn mưa trước mặt. Anh mỉm cười, một nụ cười buồn đến mức đứa trẻ cũng không hỏi thêm.
“Chú đang chờ một người…”
Anh im lặng một lúc rồi nói:
“Nhưng người ấy không về nữa.”
Mưa rơi xuống vai anh, giống hệt ngày đầu tiên. Chỉ khác một điều: ngày ấy, anh có một người đứng dưới mái hiên chờ mình. Còn hôm nay, chẳng còn ai nữa.
Minh lấy chiếc vòng bạc từ trong túi áo ra. Anh vẫn giữ nó bên mình kể từ ngày An ra đi.
Anh siết chặt chiếc vòng trong lòng bàn tay rồi khẽ nói:
“Anh đã về rồi, An.”
Mưa vẫn rơi.
“Chỉ tiếc là em không còn ở đó để đợi anh nữa.”

Và lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Minh không cố quay đi để giấu nước mắt.
Bởi anh biết, có những người mình yêu không phải để cùng nhau đi hết cuộc đời.
Họ đến, để dạy ta biết thế nào là yêu, thế nào là mất, và thế nào là nhớ một người cho đến tận những ngày cuối cùng.

Còn mùa hoa năm ấy…
Cuối cùng cũng không kịp nở.

Jimmy Nguyen
An Cung Ngưu Hoàn

Năm 2018, ông chồng mình ăn gì vô cũng ói. Ói xối xả. Ói phà phà. Ói xong bình thường như chưa ói.

Đi công việc về, không nhậu, không say, tới đầu hẻm té cái ạch, hàng xóm phải dìu vô nhà.

Kết hợp 2 cái ói và té vô cớ, tui quyết định đưa ổng vô Bệnh viện Thống Nhứt khám (ổng có BHYT ở Bệnh viện này).

Bác sĩ Trưởng khoa Nội Thần kinh cho chụp MRI.
Kết quả: xuất huyết não.

Bs đưa phim lên bảng đèn chỉ cho tui coi những cục máu đông nhỏ như hạt đậu trên phim nằm rải rác trong khoang sọ và yêu cầu nhập viện ngay tức khắc.

Bệnh nhân Bảy nằm Bệnh viện TN 22 ngày.
Ngoài dịch truyền (không biết dịch gì), bệnh nhân được tiêm vào tĩnh mạch nơi cánh tay ngày hai lần, mỗi lần 1 ống thuốc (không biết thuốc gì luôn). Tiêm tống cộng 12 ngày = 24 ống. Khi xuất viện 2 cánh tay Bảy đầy vết kim tiêm như “dân chơi thứ thiệt”.

Bác sĩ điều trị mời tui vô văn phòng Khoa nói ổng bị đột quỵ xuất huyết não nhưng rất may mắn nhẹ thôi, không bị đứt gân máu đầu, không để lại di chứng méo miệng, liệt tứ chi. Cơ thể chỉ yếu đi, một phần cũng do tuổi tác. Nhưng cần cho ông ấy tập Vật lý trị liệu một thời gian.

Bác sĩ kết luận:
- Chị may mắn đấy nhé!

Dạ, tui hiểu rồi Bác sĩ. Ông ấy không bị di chứng là tui may mắn. Rất may mắn cho đời tui.

Ngay khi Bảy còn nằm trong bv, một người cháu đem vô cho 1 viên thuốc như thuốc tể, tròn to như trái vải, đựng trịnh trọng trong hộp gỗ. Viên thuốc không tiếng Việt, toàn tiếng Tàu. Người cháu nói chỉ cần chú uống 1 viên này cả đời không lo đột quỵ nữa. Người cháu nói mua viên thuốc 3 triệu đồng, tên gọi là An Cung Ngưu Hoàn gì đó.

Những ngày Bảy nẳm trong bv TN, khi Bảy ngủ trưa, tui lân la ra văn phòng Khoa, đọc những tài liệu nói về Đột quỵ được dán trên tường. Tui hiểu vể đột quỵ với nhiểu tên gọi khác nhau như Xuất huyết não, như Thiếu máu lên não…vv. Bệnh nhân phải chụp MRI mới biết nguyên nhân bị đột quỵ, lúc đó Bs mới lên phác đồ điều trị, uống thuốc gì, tiêm chích gì.

Viên thuốc không tiếng Việt, toàn tiếng Tàu được tui cất vào túi xách.
Bảy xuất viện vể nhà. Thỉnh thoảng than đau nhức thắt lưng. Tui mua lá Ngãi cứu rang cùng muối hột chườm lên lưng cho Bảy đôi lần. Bảy bớt đau nhiều lắm!

Sau đó tui nhắn đứa cháu đến nhà, tui trả lại viên thuốc trị giá 3 triệu đồng cho nó. Tui nói chú Bảy đã đỡ nhiều, cháu nhận lại viên thuốc trả cho người bán xem sao.

Tui không thể đặt cược sinh mạng của chổng mình bằng viên thuốc không rõ nguồn gốc. Bảy cũng đồng ý với tui như vậy.

Khi đột quỵ, hãy nhớ tới “giờ vàng” mà nhập viện ngay.
Đừng quan tâm Ngưu Hoàn hay Ngu Hoài nhé!

Chi Le
Thanh tra DHS Mỹ: 40% trong 678 hồ sơ tị nạn Afghanistan thời Biden có sai sót

Bảo Minh•Thứ Năm, 01/10/2026

Báo cáo của Văn phòng Tổng thanh tra Bộ An ninh Nội địa Mỹ, đề ngày 23/9, cho biết 40% trong số 678 hồ sơ tị nạn của người Afghanistan được rà soát có sai sót. Các hồ sơ này được xử lý để đưa người Afghanistan vào Mỹ dưới thời chính quyền Biden.





















Máy bay C-17 chở hành khách rời khỏi Afghanistan. (Ảnh: Không quân Hoa Kỳ)

Các thanh tra chọn mẫu từ 13.682 hồ sơ tị nạn đã xét duyệt của người Afghanistan tái định cư tại Mỹ theo chương trình Operation Allies Welcome (Chào đón Đồng minh), Epoch Times cho biết. Chính quyền Biden khởi động chương trình này sau khi Mỹ rút quân khỏi Afghanistan.

Trong mẫu kiểm tra, 40% số hồ sơ có ít nhất một lỗi về giấy tờ hoặc thẩm tra. Các thanh tra kết luận những thiếu sót này làm tăng nguy cơ Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) bỏ sót những thông tin lẽ ra có thể khiến một số người nộp đơn không đủ điều kiện được tị nạn, theo Fox News.

Báo cáo liệt kê 303 bí danh bị bỏ sót, 45 bản ghi chưa được xác minh dứt điểm, 23 lần thiếu bước kiểm tra an ninh và 115 lỗi giấy tờ khác.

“Phần lớn lỗi là do bỏ sót bí danh hoặc giấy tờ không đầy đủ, trong đó có hai trường hợp liên quan đến khả năng không đủ điều kiện nhập cảnh vì lý do khủng bố,” báo cáo viết.

Ở trường hợp thứ nhất, nhân viên xét duyệt tị nạn không lưu vào hồ sơ phiếu đánh giá xem người nộp đơn có thuộc diện bị từ chối nhập cảnh vì lý do liên quan đến khủng bố hay không. Ở trường hợp thứ hai, cấp trên đã bắt đầu quy trình phê duyệt nhưng không hoàn tất bước cuối cùng, khiến hồ sơ không thể hiện rõ người này chấp thuận hay bác bỏ đánh giá của nhân viên xét duyệt.

Báo cáo nêu một hồ sơ trong mẫu có tới 124 bí danh. Theo báo cáo, với số lượng bí danh lớn như vậy, trong khi vẫn phải bảo đảm đúng thời hạn xét duyệt, nhân viên khó có thể tránh hoàn toàn việc bỏ sót một số tên. Trong 23 trường hợp thiếu bước kiểm tra an ninh, có 13 trường hợp (57%) là do không thực hiện tra cứu tên qua FBI.

“Tỷ lệ 40% hồ sơ có lỗi là đáng báo động,” ông Mark Krikorian, Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư (CIS), một tổ chức bảo thủ, nói với Fox News. Ông nhận định báo cáo của Tổng thanh tra cho thấy rõ công tác thẩm tra, vốn từng được cam đoan là vẫn diễn ra, thực chất “hời hợt, thậm chí qua loa”.

Ông Krikorian cũng cho rằng báo cáo nhiều khả năng chưa phản ánh hết quy mô vấn đề, vì các thanh tra chỉ thấy được những thiếu sót lộ ra trong hồ sơ, chứ không xác định được mọi người nộp đơn đã được thẩm tra kỹ hay chưa.

Bộ An ninh Nội địa chỉ trích chương trình thời ông Biden

Trong thông cáo hôm thứ Ba (29/9), Bộ An ninh Nội địa Mỹ (DHS) cho rằng chương trình Operation Allies Welcome đã khiến nhiều người nhập cư phạm tội được thả vào nước Mỹ. Trong số này có những người bị cáo buộc tấn công tình dục, bắt cóc, tàng trữ ma túy, gây tai nạn rồi bỏ chạy và có hành vi dâm ô với trẻ vị thành niên.

DHS dẫn ra ba vụ bắt giữ những người từng vào Mỹ theo chương trình này. Tháng 11/2025, cơ quan này phối hợp với FBI bắt một người Afghanistan bị cáo buộc đe dọa giết người Mỹ. Tháng 12/2025, một người bị cáo buộc là thành viên chi nhánh Afghanistan của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) cũng bị bắt. Đến tháng 3/2026, một người từng bị kết án vì có hành vi phô bày khiếm nhã trước trẻ vị thành niên cũng bị bắt giữ.

“Hệ thống tị nạn của chúng ta phải nghiêm ngặt hết mức có thể. Chỉ cần một tên tội phạm nguy hiểm hay một kẻ khủng bố lọt vào đất nước chúng ta, vô số sinh mạng người Mỹ sẽ bị đe dọa,” Bộ trưởng An ninh Nội địa Markwayne Mullin nói.

Ông Mullin cho rằng chương trình Operation Allies Welcome đã bị “quản lý yếu kém đến mức nguy hiểm” và bỏ qua “các quy trình kỹ lưỡng, lâu đời của hệ thống tị nạn [Mỹ]”.

DHS cũng cho rằng một thỏa thuận dàn xếp trong một vụ kiện đã khiến USCIS phải ưu tiên giải quyết hồ sơ nhanh hơn thay vì thẩm tra kỹ lưỡng.

Thỏa thuận xét duyệt trong 150 ngày

Tháng 9/2023, DHS dàn xếp vụ kiện với một số nguyên đơn, cam kết xét duyệt 90% hồ sơ tị nạn của nhóm Operation Allies Welcome trong vòng 150 ngày. Hồ sơ của các nhóm khác theo quy trình thông thường có thể mất tới 180 ngày.

Văn phòng Tổng thanh tra tiến hành đánh giá sau khi nhận được khiếu nại rằng thỏa thuận này sẽ gây trục trặc cho khâu xét duyệt hồ sơ tị nạn.

Một số nhân viên USCIS đã phản ánh rằng thời hạn rút ngắn có thể ảnh hưởng đến khâu xem xét hồ sơ, theo Văn phòng Tổng thanh tra. Tuy nhiên, báo cáo kết luận thỏa thuận này không làm tỷ lệ sai sót tăng lên: trung bình mỗi hồ sơ có 0,716 lỗi sau thỏa thuận, so với 0,718 lỗi trước đó.

Hồi tháng 6/2022, USCIS dưới thời chính quyền Biden thông báo những người Afghanistan từng hỗ trợ, làm việc với Mỹ tại Afghanistan và đã qua thẩm tra nghiêm ngặt có thể đủ điều kiện được bảo vệ và hưởng các quyền lợi nhập cư khác.

Bộ trưởng An ninh Nội địa khi đó, ông Alejandro Mayorkas, cho biết chính sách này giúp những người đủ điều kiện và “không gây rủi ro cho an ninh quốc gia hay an toàn công cộng” được tị nạn, được cấp quy chế người tị nạn hoặc tình trạng nhập cư hợp pháp khác.

USCIS: Đã có nhiều lớp sàng lọc khác

Báo cáo có kèm thư phản hồi của USCIS về bản dự thảo. Trong thư, Giám đốc USCIS Joseph Edlow cho rằng bản dự thảo không tính đến bối cảnh của các trường hợp bỏ sót bí danh hay ghi nhận kết quả kiểm tra an ninh không đúng cách. Ông viết rằng những trường hợp đó diễn ra trong khi đã có sẵn “các biện pháp bảo đảm về sàng lọc, thẩm tra và kiểm tra an ninh rộng hơn, đã có từ lâu và vững chắc”, giúp “giảm thiểu tác động của những lỗi này”.

Theo ông Edlow, yêu cầu kiểm tra an ninh của USCIS bao gồm đối chiếu dữ liệu sinh trắc học và thông tin nhân thân của từng người với nhiều cơ sở dữ liệu thực thi pháp luật và danh sách theo dõi. Thư cũng cho biết cơ quan này đang tiếp tục tăng cường yêu cầu thẩm tra đối với người xin tị nạn.

Báo cáo đưa ra 5 khuyến nghị để USCIS tăng cường khâu xét duyệt hồ sơ tị nạn thuộc chương trình Operation Allies Welcome. Trong đó có đề nghị cải thiện cách ghi chép bí danh của người nộp đơn, bảo đảm ghi nhận đầy đủ các bước kiểm tra an ninh bắt buộc và tăng cường giám sát hồ sơ xét duyệt.

USCIS đồng ý với cả 5 khuyến nghị.

Bảo Minh (t/h)
nguồn trithucvn2.net.

Blog Archive