Thursday, April 30, 2026

Chính quyền Trump ban hành quy định mới: Hai câu hỏi quyết định việc cấp visa không định cư

Bình Minh•Thứ Năm, 30/04/2026

Một bức điện của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi tới các đại sứ quán và lãnh sự quán trên toàn thế giới mà Washington Post có được cho thấy, chính quyền Trump đang ban hành quy định mới về việc cấp thị thực. Theo đó, yêu cầu nhân viên lãnh sự khi xét duyệt thị thực không định cư phải đặt ra 2 câu hỏi then chốt đối với người nộp đơn.

Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: New Africa / Shutterstock)

Câu trả lời của đương đơn sẽ quyết định việc thị thực có bị từ chối hay không. Biện pháp này nhằm hạn chế đáng kể số lượng người sau này xin tị nạn tại Mỹ.

Theo Washington Post, bức điện yêu cầu tất cả viên chức lãnh sự phải hỏi người xin thị thực không định cư hai câu sau:

“Bạn có từng bị tổn hại hoặc ngược đãi tại quốc gia gốc hoặc nơi cư trú gần đây nhất không?”

“Bạn có lo sợ rằng khi quay trở lại quốc gia gốc hoặc nơi cư trú thường xuyên sẽ bị tổn hại hoặc ngược đãi không?”

Người nộp đơn phải trả lời rõ ràng bằng lời nói là “Không” cho cả hai câu hỏi, thì viên chức lãnh sự mới được tiếp tục xử lý hồ sơ.

Bức điện nhấn mạnh: “Việc người nộp đơn bày tỏ lo ngại về việc quay trở lại quốc gia gốc hoặc nơi cư trú thường xuyên sẽ khiến người ta nghi ngờ về mục đích thực sự của chuyến đi cũng như ý định nhập cư của họ”.

Quy định này có hiệu lực ngay lập tức. Đến nay Bộ Ngoại giao Mỹ chưa phản hồi yêu cầu bình luận từ truyền thông.

Các quy định mới này là động thái mới nhất của chính quyền Trump nhằm hạn chế mạnh số lượng công dân nước ngoài được cấp quy chế tị nạn tại Mỹ.

Theo luật liên bang Mỹ, công dân nước ngoài có thể xin tị nạn sau khi nhập cảnh nếu họ đang đối mặt với sự đàn áp hoặc có lý do chính đáng để lo sợ bị đàn áp khi trở về nước. Họ cũng có thể nộp đơn xin tái định cư với tư cách người tị nạn từ bên ngoài lãnh thổ Mỹ.

Bức điện không nêu rõ hậu quả cụ thể nếu người được cấp thị thực sau đó vào Mỹ và vẫn xin tị nạn. Tuy nhiên, Washington Post dẫn nguồn cho biết họ có thể bị cáo buộc gian lận thị thực và đối mặt với nguy cơ bị trục xuất.

Bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn sắc lệnh hành pháp mà Tổng thống Trump ký hồi tháng 1/2025. Sắc lệnh này yêu cầu đánh giá lại toàn bộ các chương trình thị thực nhằm ngăn chặn việc bị “các phần tử khủng bố nước ngoài và những đối tượng gây nguy hại cho an ninh quốc gia” lợi dụng. Sắc lệnh cũng nhấn mạnh việc phải thực hiện sàng lọc nghiêm ngặt đối với người tị nạn hoặc người không quốc tịch.

Trước đó, ngày 24/4, Tòa phúc thẩm liên bang tại Đặc khu Columbia đã phán quyết rằng việc Tổng thống Trump tuyên bố có “cuộc xâm nhập” của người nhập cư bất hợp pháp tại biên giới Mỹ – Mexico để hạn chế người xin tị nạn là không hợp pháp. Chính quyền Trump cho biết sẽ kháng cáo phán quyết này.

Phó phát ngôn viên Nhà Trắng Abigail Jackson lúc đó khẳng định Bộ Tư pháp sẽ yêu cầu tòa xem xét lại và tuyên bố: “Chúng tôi tin tưởng rằng sẽ chứng minh được mình đúng”. Bộ An ninh Nội địa Mỹ cũng phản đối mạnh mẽ phán quyết, nhấn mạnh Tổng thống Trump vẫn ưu tiên hàng đầu việc sàng lọc và thẩm tra nghiêm ngặt tất cả người nước ngoài muốn đến, sinh sống hoặc làm việc tại Mỹ.

Bình Minh (t/h)
nguồn trithucvn2.net.

Wednesday, April 29, 2026

"Tình yêu đầu đời của tôi chính là Thủy quân Lục chiến"

Hôm nay, tại sự kiện Modern Day Marine, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao đã chia sẻ về tình yêu đầu đời của ông:

“Tình yêu đầu đời của tôi chính là Thủy quân Lục chiến:

Bởi chính Thủy quân Lục chiến là lực lượng đã đưa tôi rời khỏi Việt Nam vào năm 1975.

Chính Thủy quân Lục chiến đã đón tiếp tôi tại Guam, và một lần nữa, chính Thủy quân Lục chiến lại hiện diện tại Trại tị nạn Camp Pendleton, nơi tiếp nhận đợt người tị nạn thứ hai.

Vào năm 1979, khi Quốc vương Iran bị lật đổ và tôi đang sinh sống tại Tây Phi, họ đã đưa chúng tôi vào trú ẩn bên trong các tòa đại sứ quán, và những người lính Thủy quân Lục chiến làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ chúng tôi đêm hôm đó đã nói rằng: ‘Đêm nay sẽ không có bất cứ điều gì làm hại được các bạn đâu, chừng nào chúng tôi còn đang làm nhiệm vụ canh gác tại đây.’

Chính vì thế, tôi đã khao khát được trở thành một người lính Thủy quân Lục chiến giống như họ. Tôi muốn được trở thành những người hùng ấy khi tôi trưởng thành.”

FB Hung Cao



“Những thế hệ anh hùng – Di sản Tháng Tư” Children of Heroes – The Legacy of April




“CUỘC RA ĐI LẦM LŨI CỦA MỘT VỊ TỔNG THỐNG”

50 năm trước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã có ngày lưu vong cô đơn đầu tiên trên đất khách quê người ở Taipei, Taiwan. Để rồi, ba ngày sau, 29/4/1975, vị tổng thống lưu vong đã cay đắng trả lời một đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”. 10 năm lính Mỹ cùng chiến hào binh sĩ Nam Việt có phải vì Mỹ muốn giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa hay đã dùng chính những người lính Việt này để thực hiện thế trận ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Châu Á thì lịch sử đã đủ tường minh rồi!

Từ nhiều tháng trước khi ông Thiệu phải lầm lũi ra đi trong đêm, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đến thế cờ tàn thật sự sau khởi đầu của chuỗi domino sụp đổ từ Hiệp định Paris 1973. Người bạn Mỹ, đồng minh chí cốt từng một thời làm quá tải phi trường Tân Sơn Nhất bởi dày đặc những chuyến không vận tiếp tế cho Sài Gòn, đã quay lưng thật sự.

Bản tin đài VOA tường thuật cuộc bỏ phiếu kín của Hạ Nghị viện Mỹ ngày 12/3/1975 về việc tiếp tục viện trợ quân sự cho Sài Gòn đã nhận kết quả cay đắng: chỉ có 49 phiếu thuận trong khi đến 189 phiếu chống. Một ngày sau, Sài Gòn lại tiếp tục nhận tin sét đánh từ Thượng viện Mỹ: chỉ có 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống việc viện trợ thêm vũ khí cho Sài Gòn trong năm 1975.

Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của ông Thiệu đã nhắc lại một đoạn u tối: “Tại nhà thờ Lutheran ở Arlington, tieu bang Virginia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schesinger đã khóc cho miền Nam Việt Nam”. Ông được ngài phó giám đốc Cục tình báo Trung ương Vernon Walters kể rằng viên đại sứ Nam Việt Nam ở Washington nói: “Phía bên kia vùng không có bình minh là hoàng hôn đang phủ xuống”. Rồi Schlesinger nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ lời miêu tả của Churchill về sự sụp đổ của nước Pháp trong Thế chiến thứ II. Đây là thảm họa tương tự, dù khác nhau về tầm cỡ. Tôi không trách người Việt Nam đã cố theo đuổi chút hy vọng mong manh. Tôi cảm thương họ. Tôi buồn cho họ!” …

Tổng thống Ford tháng 4 năm 1975 quyết định rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp về mặt quân sự nữa. Sẽ không có những hạm đội đổ bộ đến cứu nguy, cũng không có những chuyến tàu tiếp tế từ phía chân trời như đã từng có từ 10 năm trước đây …”.

Gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng đã chứng kiến sự tức giận cùng cực của vị tổng thống suốt 10 năm của nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt với đồng minh Mỹ: “Điều này không thể tin được. Trước hết ở Midway, người Mỹ bảo tôi chấp thuận vài ngàn lính Mỹ rút quân và tôi vẫn còn nửa triệu lính Mỹ ở lại chiến đấu với tôi”. Rồi sau đó, khi họ rút thêm quân, họ đã nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ tăng cường cho ông để bù cho những sư đoàn đã rút lui”. Khi nhịp độ rút quân gia tăng, và năm 1972 họ lại nói với tôi: “Đừng lo, ông còn có những lực lượng dự bị và chúng tôi bù đắp cho việc rút quân bằng việc tăng yểm trợ không lực cho bộ binh của ông”. Sau đó, lính Mỹ rút hết và cũng không còn yểm trợ không lực. Họ lại nói với tôi: “Chúng tôi sẽ tăng cho ông thêm nhiều quân viện để bù đắp vào tất cả những cái đó. Xin đừng quên Đệ thất hạm đội Mỹ và những căn cứ không quân ở Thái Lan sẽ bảo vệ ông trong trường hợp cần thiết”.

Cuối cùng, chẳng còn gì hết, người Mỹ không hỗ trợ quân sự cũng cắt tiếp viện cho Sài Gòn!

Chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cố gắng chống chọi bằng mọi giá, từ những lá thư khẩn cầu viện trợ gởi đích danh đến Tổng thống Ford, Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ, kể cả việc đem các mỏ dầu Hoa Hồng (nay là Bạch Hổ) dù mới ở giai đoạn thăm dò thấy dầu ra “thế chấp” để vay tiền.

Trong lá thư đầy u buồn với nhiều lời lẽ van nài của ông Thiệu gửi cho Tổng thống Ford có những đoạn như không thể nào buồn và cam chịu hơn được nữa: 

“ … Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng thương của nhân dân Mỹ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn đồng minh trung thành của nhân dân Mỹ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc đã chịu nhiều hy sinh và đau khổ to lớn trong hai thập niên để gìn giữ mảnh đất tự do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và giúp đỡ. Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc Hội xem xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” của chúng tôi. Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh, gửi đến nhân dân Mỹ”.

Giữa tháng 4 cuối cùng của chính thể miền Nam, Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng cầm lá thư “Freedom Loan” (vay tiền cho tự do) đầy bi thảm này đi Mỹ với trạng thái u uất, không tin mình sẽ thành công. Chuyến phản lực cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong một buổi sáng ầm ì tiếng bom đạn. Mặc dù nó không đầy hành khách, nhưng có cảm giác như nặng nề hơn bình thường với tâm trạng trĩu nặng của Tổng trưởng Hưng. Cô tiếp viên yêu cầu ông đặt chiếc cặp da lên giá hành lý trên đầu, nhưng ông ta khư khư giữ chặt trong lòng vì không muốn rời lá thư này.

Về sau, cuốn Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập đã thuật lại: “ Cảm thấy lòng ngực nhức nhối và chóng mặt. Hưng có một linh cảm sắc bén đây là lần cuối cùng ông ta còn nhìn thấy được quê hương mình, và có lẽ chẳng bao giờ ông còn gặp lại mẹ và các anh chị em của mình. Ông nhìn xuống Sài Gòn qua cửa sổ máy bay một cách tuyệt vọng. Từ trên cao, Sài Gòn hiện ra thật đẹp, tràn đầy những kỷ niệm của một thời đã qua … Như hiểu được tâm trạng ông, máy bay lượn hai vòng quanh Sài Gòn … Bên dưới vẫn là dòng sông Sài Gòn với màu nước nâu sẫm như Chocolate, với hàng dừa chạy dọc hai bên bờ, nơi đó cuối tuần nào ông cũng đến câu cá, bắt tôm. Xa xa, Dinh Độc Lập rực sáng và những nỗi đau khổ trong ba tháng qua lại ập đến với ông”.

Và Tổng trưởng Hưng đã dự cảm đúng. Kế hoạch “Freedom Loan”, chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Sài Gòn, hoàn toàn đổ vỡ. Từ khẩn cầu vay 3 tỷ USD ban đầu, rút xuống còn 722 triệu có hoàn trả, nhưng Quốc hội Mỹ vẫn lạnh lùng lắc đầu. Niềm hy vọng mong manh cuối cùng đặt ở nỗ lực của Chính phủ Mỹ đã bị Henry Kissingger dội gáo nước lạnh: “Việc bàn luận về Việt Nam đã chấm dứt. Chính phủ sẽ chấp nhận lời pháp quyết của Quốc hội mà không phản bác lại”.

“Chiều ngày 20/4, Đại sứ Martin đến thăm Tổng thống Thiệu để hỏi về tình hình và gợi ý ngọt ngào: “Tôi tin rằng một vài ngày nữa, các tướng lãnh của ông sẽ đến đề nghị ông từ chức”. “Nếu tôi từ chức thì sẽ có viện trợ quân sự không”, ông Thiệu hỏi. Martin trả lời: “Tôi không thể hứa với ông nhưng có thể vậy”. Trước khi Martin về, ông Thiệu nói rằng mình sẽ làm những điều tốt nhất cho đất nước”. Cuốn sách của Nguyễn Tiến Hưng nhắc lại những ngày cuối sầu thảm trên chiếc ghế Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa của ông Thiệu.

Suốt từ khởi đầu vào thập niên thứ hai của thế kỷ 20, Tân Sơn Nhất đã là chứng nhân của bao biến động thời cuộc. Từ giai đoạn phát triển của miền đất phía Nam trù phú, đến cuộc Thế chiến thứ hai tàn khốc, người Nhật kéo sang, quân Pháp tái xâm lược rồi cũng đến ngày phải rút lui hoàn toàn, quốc gia hình chữ S bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17 và nền Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hòa mong manh như ngọn đèn dầu trong chiến cuộc kéo dài suốt 20 năm. Đến tận cuối tháng 4/1975, phi trường Sài Gòn này lại trở thành chứng nhân một sự kiện lịch sử thầm lặng nói lên gió đã xoay chiều báo hiệu những trận cuồng phong dữ dội sắp ập đến.

Trước áp lực chiến sự dồn dập đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế bí, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ngậm ngùi từ chức, nhường vị trí lãnh đạo lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, với hy vọng mong manh sự đổi thay chính trị có thể thay đổi thế cờ quân sự đang sắp đến hồi “chiếu tướng” miền Nam. “Về vườn” nhưng vị cựu Tổng thống nắm quyền dài nhất ở miền Nam cũng không thể ở lại quê hương của mình. Lực lượng cách mạng buộc phải “loại biên” vĩnh viễn ông Thiệu, chính quyền tân Tổng thống Trần Văn Hương cũng cho rằng không thể làm được gì nếu vị cựu Tổng thống sắt đá chống cộng và đầy bản lĩnh chính trường còn hiện diện ở Sài Gòn.

Ông Thiệu buộc phải ra đi!
Phi trường Tân Sơn Nhất là chứng nhân cuộc ra đi thầm lặng, buồn thảm này. Đêm 25/4/1975, một chiếc DC6 thuộc quyền sử dụng của Đại sứ quán Mỹ bay từ Bangkok sang Tân Sơn Nhất để đón một vị khách đặc biệt.

Cùng lúc đó, tư dinh Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu, âm thầm diễn ra buổi chia tay một vị cựu Tổng thống như không thể nào sơ sài, giản đơn hơn được nữa. Không có hoa, rượu, cũng chẳng có lời diễn văn tiễn biệt hoa mỹ nào, ông Thiệu lặng lẽ lên một trong ba chiếc công xa màu đen của Đại sứ quán Mỹ lầm lũi chạy thẳng vào phi trường.

Ngồi băng ghế sau, vị Tổng thống mà lúc này đã là cựu của Chính quyền miền Nam Việt Nam lọt thỏm giữa hai người Mỹ to lớn là tướng Timmes và đặc trách tình báo Polgar. Hộ tống ông Thiệu cũng bằng vài lính thủy quân lục chiến Mỹ, chứ không hề có một người lính Việt nào trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông từng nhiều năm là tư lệnh tối cao của họ.

Đoàn xe chạy qua Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong với dòng chữ “Những hy sinh cao quý của chiến sĩ đồng minh sẽ không bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu thở dài giữa hai người Mỹ ngồi cùng băng ghế tiễn đưa một cựu Tổng thống mà chẳng khác gì như áp tải. Xe cũng không dừng lại ở bãi đậu máy bay của Air Việt Nam, mà sang bãi riêng biệt của Air America với lính thủy quân lục chiến lăm lăm M16 canh gác.

Ở đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin đã đợi sẵn với cái bắt tay xã giao cùng câu chào ngắn gọn. Ông Thiệu trông có vẻ rất buồn và nhẫn nhịn, nhưng vẫn giữ cố tư cách trang trọng của một Tổng thống, để nói lời cảm ơn Martin đã tổ chức chuyến ra đi đặc biệt này. Đại sứ Mỹ đáp lời: “Đây là điều nhỏ nhặt nhất tôi có thể làm. Chào ông và chúc ông may mắn”.

Ít phút sau, chiếc DC6 cất cánh rời khỏi Sài Gòn rực ánh hỏa châu báo hiệu chiến sự đang đến rất gần và thời điểm Đô thành thất thủ chỉ còn tính bằng ngày. Ông Thiệu ngậm ngùi dõi mắt qua ô cửa sổ máy bay, nhìn Sài Gòn bỏ lại sau lưng. Bàn cờ chính trị - chiến cuộc trên mảnh đất đẫm máu lửa, thương đau đã tàn và ông ta hiểu đây là lần cuối cùng mình được nhìn thấy quê hương!

Người dân, kể cả nhiều chính khách lớn nhỏ của miền Nam, cũng không hề biết một cựu Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa đã rời khỏi đất nước và không hề mang theo một thỏi vàng nào trong 16 tấn vàng ngân khố như lời đồn thổi đầy ác ý. Nhưng chiến tranh vẫn không hề được tạm dừng hay một chính phủ liên hiệp nào đó ra đời như một số người hy vọng. Biệt khu Sài Gòn vẫn đang bị thít chặt lại với tốc độ nhanh đến nỗi không ai ở bên trong đó có thể ngờ nổi.

Ngày 29 - 4 -1975, một đại diện không chính thức của Chính phủ Mỹ đã tìm gặp ông Thiệu khi ấy vẫn còn đang ở Đài Loan, để chuyển lời rằng ông không nên đến Mỹ vào lúc này, nhân dân phản chiến Mỹ không chào đón ông. Ông Thiệu nhún vai, trả lời một cách ngậm ngùi: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó” …

Đặc biệt, khi vị tổng thống lưu vong cay đắng thốt lên những lời này, thì ở quê hương Sài Gòn, tướng "độc nhãn" Hoàng Anh Tuấn - Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTMNVN đang ở trại Davis, phi trường Tân Sơn Nhất, đã lệnh cho cấp dưới chuẩn bị một lá cờ cách mạng thật lớn. Đúng 9 giờ sáng ngày 30 - 4 - 1975, lá cờ hai màu xanh đỏ ấy đã được treo lên tháp nước ở trại Davis trước khi quốc kỳ ba sọc Việt Nam Cộng Hòa bị hạ xuống ở Dinh Độc Lập.

50 năm trước, Mỹ đã quay lưng với đồng minh ngay thời khắc sinh tử nhất.”

---------------

(Trích sách 100 năm Phi trường Tân Sơn Nhất - tác giả Quốc Việt)


BẤT ĐỘNG SẢN

Năm 72, tui có đọc một bài viết của giáo sư Vũ Quốc Thúc, lúc đó giáo sư đang giảng dạy ở Đại Học Luật Khoa Saigon. Bối cảnh năm 72 là mọi người thấy ló dạng hoà bình và suy nghĩ để phát triển đất nước sau chiến tranh. Nên nhiều nhân sĩ, trí thức đua nhau hiến kế với lòng yêu nước. Có người nói về phát triển công nghiệp, nông nghiệp. Có người đề nghị cải cách giáo dục, đào tạo nhân tài. Vân vân. Giáo sư nói xây dựng, xây cất là cách nhanh nhất giúp ta thoát khỏi đói nghèo. Trên bình diện quốc gia cần luật lệ thông thoáng trước (giáo sư luật mà). Có chính sách tốt, tự nhiên nó phát triển.

Giáo sư nói đầu tư bất động sản cần luật chớ không cần... vốn. Thời đó không ai hiểu cả. Chỉ sau này khi sống ở nước ngoài nhiều năm, mới biết luật lệ quan trọng hơn cả tiền bạc. Có luật thì ngân hàng mới dám cho vay.

Người ít vốn nếu biết cách vẫn có thể làm ăn được. Tiền đổ vào xây dựng dễ hơn đổ vào các ngành khác, nó mau chóng vực dậy một quốc gia kiệt quệ bởi chiến tranh.

Cũng có nhiều cái mình không biết. Thí dụ như để cho một công ty nước ngoài vào VN xây dựng một khách sạn năm sao chẳng hạn. Nếu họ đầu tư một triệu thì quốc gia đó phải có ba trăm ngàn bỏ vô một quỹ trọng tài nào đó. Để nếu có tranh chấp hay bị quốc hữu hoá, thì người đầu tư còn biết kiện ở đâu để lấy lại. Đó là vốn của quốc gia bỏ ra trước thì tư bản mới chịu "nhào vô". Họ khôn lắm, không bao giờ nắm dao đằng lưỡi.

Tiếc thay những trí thức, nhân tài như giáo sư không có đất dụng võ. Để sau 75, quốc gia lúng túng vì thiếu luật lệ. Nên ta hiểu vì sao nước Mỹ tiến bộ. Họ có đội ngũ luật sư. Làm cái giống gì cũng phải có luật.

Ngành xây dựng phát triển kéo theo mọi ngành khác cùng hưởng lợi. Nhất là công ăn việc làm. Đây là cách nhanh nhất để vực dậy nền kinh tế. Còn các ngành sản xuất, phải mất từ mười năm mới có lời. Phát triển xây dựng cần một lãi suất vay mượn thích hợp. Vài ba "chấm" thấp thấp là bà con vui mừng xuống tiền... cọc để các công ty xây dựng làm ngày làm đêm. Ổng Dượng rầu ông Fed là vậy.

Khủng hoảng kinh tế năm 1929 bắt đầu cũng tại nước Mỹ. Sản xuất hàng hóa dư thừa khiến mọi thứ rẻ mạt và các nhà máy phá sản. Tổng Thống Roosevelt ban hành một chính sách (tên gì tui quên rồi) về xây dựng. Nhà nước bỏ tiền xây các công trình công cộng. Người dân có việc làm, có lương để tiêu xài và các ngành sản xuất từ từ phục hồi. Dĩ nhiên đây cũng là con dao hai lưỡi. Lạm dụng nó sẽ khiến nhiều "thành phố ma" mọc lên và ngân hàng sập tiệm.

Nước Mỹ bây giờ khi ông Dượng nắm quyền. Bên ngoài hào nhoáng mà bên trong rối bời vì nợ nần quá xá. Giống như bà chủ... hụi. Nhà cửa, xe cộ, túi hiệu mà toàn mua bằng tiền của... người ta. Phải trả tiền lời cắt cổ bằng cách hốt hụi non. Lấy nợ mới trả nợ cũ. Làm sao để thoát khỏi tình trạng này? Vực dậy các ngành sản xuất đã "rỉ sét" phải cần vài năm. Mà ông Dượng chỉ có mươi tháng nữa. Người Mỹ không kiên nhẫn. Mất đa số quốc hội giữa nhiệm kỳ là bó tay mọi tổng thống.

Là dân bất động sản. Ông Trump nhận ra Trung Đông là cơ hội đầu tư ngành xây dựng. Biến sa mạc thành tiền kiểu Las Vegas. Các quốc gia vùng này giàu có. Tiền của họ nằm đầy trong các ngân hàng khắp thế giới. Dầu hoả rồi cũng có ngày cạn kiệt. Họ phải tìm đường phát triển khác. Phải có hạ tầng đường xá, cầu cống và các thành phố như kiểu Dubai. Thì tiền mới đẻ ra tiền. Nhiều chính khách đến dụ dỗ họ để lấy hợp đồng làm ăn. Nhưng họ chỉ tin tưởng ông Trump. Ông thất cử năm 20. Họ ... chờ. Ông đắc cử. Chưa vô Bạch Cung mà họ đã đến Mar A Lago bàn bạc rồi. Vì sao họ chờ ông Trump?

Bà con thử nghĩ, xây dựng mà kế bên có ông láng giềng hung hăng, lại sắp có bom nguyên tử thì bố bảo ai dám xuống tiền. Chỉ khi Trung Đông có hoà bình dưới sự bảo đảm an ninh của Mỹ thì tư bản mới ồ ạt đầu tư.

Mỗi quốc gia có một thế mạnh. Mỹ không thể ngồi may vá nhưng khi cần luật sư, bảo hiểm, tài chánh và bao nhiêu dịch vụ khác phục vụ cho xây dựng. Mỹ là bậc thầy.

Nên giờ tui mới biết tại sao ông Trump chọn một bộ trưởng quốc phòng trẻ tuổi chịu chơi. Tại sao ngành sản xuất vũ khí Mỹ quay sang ủng hộ Dượng trong cuộc bầu cử này. Và bây giờ họ làm 3 ca không nghỉ. Mọi vũ khí tiên tiến nhất đã được đưa đến căn cứ ở Ấn Độ Dương cả hai tháng nay. Tất cả nhắm vào Iran. Nói ra là... ác. Nhưng như một vài bạn có comments trong bài trước. Tất cả vì tiền, vì quyền lợi quốc gia. Không có vấn đề đạo đức ở đây.

Chuyện nước Úc mấy năm trước. Một doanh nhân khi về nhà sau buổi làm việc. Bị một tên cướp đâm một nhát vào bụng rồi lấy giỏ tiền. Không ai thấy nhưng.... vệ tinh thấy. Thấy hắn đi từ đâu, núp ở đâu rồi sau đó trốn ở đâu. Bây giờ đụng xe chết người rồi bỏ chạy giữa đêm thanh vắng. Cảnh sát tìm ra liền. Thì mấy ông "Vệ Binh Cách Mạng" giấu bom đạn ở đâu chỉ là chuyện nhỏ. Cho là hầm sâu bom không xuyên thủng thì mấy... cửa hầm bị lấp cũng vậy mà thôi.

Mỹ cũng cần phô trương sức mạnh. Lâu lâu phải làm một lần không thì người ta... quên. Người ta khinh thường.

Họ có kinh nghiệm để không mắc sai lầm quá khứ. Chọn Iran để uýnh là tạo hoà bình trong sức mạnh. Để bác Tập, bác Pu biết mình biết ta. Chớ chỉ hăm mà không uýnh, người ta cười mình "xạo". Bây giờ đánh là có thể báo trước để dân tránh xa.

Tui hỏng khuyến khích bạo lực. Chỉ "chém gió" chuyện thời sự cho vui. Đoán mò là việc làm "động não". Nó khiến mình chống già nua. Chớ mình tài giỏi thì giờ này đâu còn phải làm ... thợ hồ. Hic!

Jimmy Nguyễn
A heart shattered… now silent / Trái tim tan vỡ… (giờ lặng im.)




Sau Ngày Đứt Phim

Có những cái chết không có đám tang.
Không có quan tài.
Chỉ có con người ta… mỗi ngày bớt đi một phần mình, cho đến khi không còn gì để mất nữa.

Mưa Sài Gòn không lớn.
Nhưng dai dẳng.
Như một thứ gì đó cố tình không cho người ta khô ráo.
Tú đứng dưới mái hiên mục nát ở Bến xe Miền Đông. Áo ướt sũng, dính vào da thịt lạnh ngắt. Anh không run vì lạnh. Anh run vì kiệt sức.
Và vì… không còn biết hôm nay mình sống để làm gì nữa.
Một chiếc xe tải trờ tới. Bao gạo quăng xuống, bụi bay mù.
— “Ê! Thằng Tú!”
Ông Cai quát, giọng to.
— “Đứng đó làm cảnh hả? Vô làm!”
Tú bước tới. Lưng anh khựng lại một nhịp, như cái gì đó bên trong vừa gãy thêm một đoạn.
— “Dạ… cho tôi… nghỉ chút… lưng tôi…”
Chưa nói hết câu.
Chát!
Cái tát quật ngang mặt.
Tú loạng choạng, tai ù đi.
Thằng Tèo cười, giọng sặc mùi khinh bỉ:
— “Lưng đau? Hồi xưa bắn súng được, giờ vác bao gạo không nổi à?”
Ông Cai dí điếu thuốc đang cháy vào tường, ghé sát mặt Tú:
— “Nghe cho rõ. Ở đây không có thương hại. Làm được thì sống. Không làm… thì biến.”
Tú không nói nữa.
Anh cúi xuống, ôm bao gạo.
Nhấc không nổi.
Anh thử lần nữa.
Vai rung lên.
Cắn răng.
Nhấc.
Bao gạo đặt lên vai. Một giây… hai giây…Rồi bước.
Mỗi bước đi như dẫm lên chính xương mình.
Phía sau, tiếng cười bật ra.
— “Coi kìa… anh hùng!”
Không ai bênh. Không ai muốn nhìn. Ở đây, ai cũng đang cố sống. Không ai còn sức để thấy người khác đau.

Chiều xuống.
Tú lê khó nhọc từng bước tới trụ sở phường. Cánh cửa gỗ đóng nghe “ cạch” phía sau lưng anh, nghe như tiếng khóa phận tù lớn.
Cán bộ Hiển ngồi đó, áo thẳng nếp, bàn sạch bóng.
Hai thế giới. Hai hoàn cảnh!
Một bàn.
Hiển không nhìn Tú.
— “Ngồi.”
Tú ngồi. Mép ghế.
Hai tay đặt lên đầu gối. Run.
Hiển lật hồ sơ.
— “Anh biết vì sao anh ở đây không?”
— “…dạ…”
— “Nói.”
— “…đóng góp…”
Hiển ngẩng lên. Cười nhạt.
— “Còn biết điều.”
Hắn đẩy tờ giấy tới.
— “Tuần này, mức mới. Cao hơn.”
Tú nhìn con số. Cổ họng nghẹn lại.
— “Tôi… không có…”
Hiển dựa lưng ra ghế. Im lặng vài giây. Rồi nói chậm rãi:
— “Anh có biết… chỉ cần tôi ký một cái… là cả nhà anh đi kinh tế mới trong đêm không?”
Tú ngẩng lên. Mắt đỏ.
— “Con tôi… nó bệnh… nó không đi nổi…”
— “Thì chết trên đó.” — Hiển nói nhẹ như không, “Ở đâu mà chẳng chết.”
Câu nói như một án tử.
Không cần la hét.
Không cần giận dữ.
Chỉ cần… lạnh.
Tú cúi đầu. Một lúc lâu.
Anh thò tay vào quần, lấy ra những tờ tiền ướt nhẹp. Đặt lên bàn.
— “…tôi chỉ còn nhiêu…”
Hiển không đếm. Kéo ngăn ra, tay lùa xuống.
— “Lần sau đừng để tôi nhắc.”

Đêm. Không có đèn. Chỉ có ánh sáng yếu ớt từ nhà bên hắt qua. Tú bước vào nhà.
Rồi đứng sững. Nhà… không còn là nhà nữa.
Tủ bị lật. Nồi niêu văng khắp nơi. Chị Thắm ngồi bệt dưới đất, ôm con Út. Con bé co giật, môi tím tái.
— “Anh… anh về rồi…”
Giọng chị nghẹn lời.
Bà Ba đứng giữa nhà. Tay cầm sổ. Không quay lại.
— “Đúng lúc lắm.”
Tú lao tới:
— “Chuyện gì… vậy…?”
Một tên dân phòng giơ bộ đồ rằn ri lên:
— “Cái này của ai?”
Tú chết lặng. Không cần trả lời. Ai cũng biết.
Chị Thắm bò tới, ôm chân bà Ba:
— “Lạy chị… tụi em không có gì hết… cái này… chỉ là… kỷ niệm…”
Bà Ba gỡ tay chị ra. Như gỡ một thứ vướng víu.
— “Kỷ niệm không đúng chỗ… là tội.”
Bà cúi xuống, ghi vào sổ.
Tiếng bút bi kéo một đường dài. Nghe rõ như lưỡi hái thần chết!
Rất rõ.
— “Sáng mai. 8 giờ. Cả nhà đi kinh tế mới.”
Tú đứng đó. Không xin nữa.
Không nói nữa.
Anh hiểu. Không phải họ không nghe. Mà là… họ không cần nghe.
Con Út giật mạnh. Một tiếng nấc. Rồi im.
Chị Thắm hoảng loạn:
— “Con… con ơi…!”
Tú bước tới. Quỳ xuống. Đặt tay lên ngực con. Không còn nhịp. Anh không khóc.
Chỉ ngồi đó. Như một cái xác.
Ngoài trời, mưa vẫn rơi.
Không ai biết trong căn nhà đó vừa có một đứa trẻ chết.
Không ai cần biết.

Sáng mai… xe vẫn tới. Danh sách vẫn đọc. Người vẫn bị chở đi. Như hàng hóa.
Không tên.
Không quá khứ.
Có những con người không chết trong chiến tranh.
Họ sống sót. Để rồi… bị nghiền nát trong hòa bình.
Chậm hơn.
Lặng lẽ hơn.
Nhưng tàn nhẫn hơn rất nhiều.

Phạm Sơn liêm


Blog Archive