Lăng Ba Đình
Lăng Ba Đình, tên chính thức là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngồi chềnh ềnh ở phía tây quảng trường Ba Đình. Khối đá hoa cương xám ấy cao 21,6 mét, mỗi cạnh 41,2 mét. Người học phong thủy đứng trước nó thường chột dạ, và lý do chẳng dính dáng gì tới vẻ trang nghiêm.
Ngôi lăng phạm phép xưa ở ba chỗ: đất đặt lăng, dáng lăng, và cái thi hài nằm bên trong. Bài này xét ngôi lăng theo phong thủy và theo lề lối tang ma của người Việt.
Đất Ba Đình
Quảng trường Ba Đình nằm sát hoàng thành Thăng Long cũ, vùng đất các triều Lý, Trần, Lê từng dựng cung điện. Người xem phong thủy coi chỗ này là trung cung của long mạch Thăng Long, nơi khí từ sông Hồng, sông Tô Lịch và Hồ Tây hội về.
Năm 1010, Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô ra thành Đại La, vì đất ấy có thế "rồng cuộn hổ ngồi". Theo phép phong thủy, dựng gì trên một đất như thế cũng phải thuận khí, nghĩa là để khí đi cho thông, không chặn, không đè.
Năm 1973, ngay trên vùng đất ấy, người ta khởi công khối bê tông cốt thép nặng hàng ngàn tấn, đặc kín, không một ô cửa sổ. Tháng 8 năm 1975 lăng khánh thành. Từ đó nó ngồi trên huyệt Thăng Long như một tảng đá đè lên ngực người đang thở.
Đặt một vật nặng, đặc, kín lên huyệt, nhà phong thủy gọi là trấn yểm. Tương truyền hơn một ngàn một trăm năm trước, Cao Biền đã yểm đất này: đóng cọc sắt, chôn bùa, đè đá lên các huyệt cho đất khỏi sinh người tài, rồi cũng không yểm nổi. Cao Biền chỉ có cọc với bùa. Lăng thì có hầm ngầm, móng sâu, bê tông đổ dày hàng mét.
Chọn đúng chỗ ấy là tình cờ hay cố ý? Một chính quyền vô thần, không tin phong thủy, có thể chỉ vô tình đặt lăng lên huyệt. Cũng có thể trong số cố vấn Liên Xô, Trung Quốc có người biết chuyện và cố tình chọn huyệt mà yểm.
Người viết không có giấy tờ gì để trả lời câu ấy. Phong thủy thì không hỏi tới ý định: đá đã đặt lên huyệt thì huyệt phải mang, người đặt tin hay không tin cũng thế.
Cái hộp đá xám
Nhìn từ xa, lăng là một khối hộp xám đặt trên bệ thấp, mặt tiền có hàng cột vuông. Lăng không có mái cong, cũng chẳng có rồng phượng hay hoa văn gì của nhà cửa người Việt. Mỗi lần nhìn, người viết lại nhớ tới mấy nhà tắm công cộng thời La Mã, cũng khối nặng cột vuông, cũng mặt đá lạnh lẽo, chỉ nhỏ hơn.
Giống hơn nữa là lăng Lenin ở Quảng trường Đỏ. Giống là phải, vì lăng Ba Đình lấy mẫu từ lăng Lenin, do kiến trúc sư Liên Xô Garol Isakovich thiết kế.
Đẹp xấu là chuyện con mắt, cãi mãi không xong. Điều đáng bàn là một ngôi mộ dựng giữa Thăng Long, ngay trên long mạch, mà không mượn của đất này một nét nào. Nó như một bộ phận khác nhóm máu bị ghép vào cơ thể đang sống của kinh đô.
Nhà phong thủy xét một công trình qua mấy chữ quen thuộc: thuận khí, tụ khí, sinh khí. Muốn thuận khí thì phải có lối cho khí đi, mà khối bê tông này kín bung, không cửa sổ, không gió trời. Bên trong, máy lạnh chạy suốt ngày đêm, khí trời bị thay bằng khí máy, phép xưa gọi là nghịch khí.
Tụ khí là giữ cho khí dừng lại. Mái đình Việt cong vút ở bốn góc, hứng khí trời rồi uốn vào trong. Lăng chỉ có mặt phẳng với góc vuông, không mái cong, không hiên, nên khí chạm tường là dội ra.
Sinh khí cần cây với nước. Thân lăng toàn đá với bê tông, tức toàn hành Kim với hành Thổ. Trước mặt là quảng trường dài 320 mét, rộng 100 mét, chia thành những ô cỏ xén vuông với lối đi thẳng băng, không có lấy một mặt nước.
Chỗ ấy hợp cho duyệt binh. Khí đến đó không có gì giữ lại, chỉ tản đi. Xét công năng thì cái hộp đá ấy là một phòng bảo quản hóa chất, ốp đá cho ra dáng đài tưởng niệm.
Chuyện ướp xác
Kiến trúc đẹp xấu còn cãi nhau được. Ướp xác thì khác, vì nó đụng tới cách người Việt nghĩ về cái chết.
Nhà Phật gọi thân người là tứ đại giả hợp: đất, nước, gió, lửa tạm gom lại thành hình, chết thì tan về chỗ cũ, còn thần thức theo nghiệp mà đi. Đức Thích Ca nhập diệt cũng được hỏa táng. Tang lễ nhà Phật vì thế thường là đốt, hoặc chôn cho thân tự rã.
Người Việt sợ nhất cho người chết là cảnh không siêu thoát, vong lang thang không nơi nương tựa. Bao nhiêu lễ lạt sinh ra để tránh cảnh ấy: cầu siêu, cúng thất, cúng bốn mươi chín ngày, ba năm mãn tang, rồi bốc mộ cải táng. Các lễ ấy đưa người chết đi theo một chiều, rời khỏi cái xác.
Ướp xác đi ngược chiều ấy. Thân được giữ bằng hóa chất cho khỏi rã, thì theo lẽ vừa nói, thần thức cũng bị níu lại bên cái xác. Nói nôm na, buồng kính ở Ba Đình là nhà giam một vong hồn, xây bằng công nghệ Liên Xô.
Đạo gia coi người sinh ra từ khí trời đất, chết thì trả khí về trời đất. Giữ xác lại là giữ cái đáng phải trả, chặn đường khí luân chuyển.
Nhà Nho dạy giữ thân: "Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã", thân thể tóc da nhận của cha mẹ, không dám hủy hoại, ấy là khởi đầu của chữ hiếu. Nhưng giữ thân là giữ lúc sống. Chết thì nhập quan, chôn cho đúng lễ, trả về cho đất. Từ Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, chưa triều nào ướp xác vua để bày ra cho người xem.
Tin rằng linh hồn cần cái xác nguyên vẹn để sống ở thế giới bên kia là tín ngưỡng của Ai Cập cổ. Tín ngưỡng người Việt xoay quanh đầu thai và siêu thoát, mà cả hai đều cần cái xác buông ra. Đem lối ướp xác theo mẫu Lenin đặt vào giữa Thăng Long là áp một tục lạ lên một nền tang lễ vốn đi theo chiều ngược lại.
Âm trạch không chạm đất
Mồ mả trong phong thủy gọi là âm trạch, nhà của người chết. Táng kinh, tương truyền của Quách Phác, dựng trên một ý: xác chôn trong đất thì hài cốt nhận khí đất, rồi theo lẽ đồng khí mà truyền phúc họa xuống con cháu. Mộ đặt đúng huyệt thì con cháu phát, sai huyệt thì suy.
Cái lý ấy chỉ đứng được khi xác nằm trong đất. Ở Ba Đình, thi hài nằm trong hòm kính, quanh là bê tông, thép, kính chống đạn và máy điều hòa. Khí đất không vào được, khí người chết không ra được, hai bên cắt đứt hẳn.
Thi hài lại được tẩm formalin, glycerol, kali acetate cho khỏi rữa. Theo lý âm trạch, xác rữa là xác đang hóa: thịt da tan về đất, nước bốc về trời, còn lại bộ xương sạch, và khí đất nương vào chính bộ xương ấy. Người Việt bốc mộ sau ba năm, rửa xương bằng rượu, xếp vào tiểu sành, chôn sang huyệt mới, cũng là để cho xong chữ hóa đó.
Ướp xác chặn đứng việc hóa. Thịt không rữa thì xương không lộ, xương không lộ thì khí đất không có chỗ nương. Cái vòng đáng lẽ khép lại sau vài năm bị chặn ngang, và đã nằm chặn ngang như thế hơn nửa thế kỷ.
Chính Hồ Chí Minh đã muốn được đốt. Bản di chúc đánh máy năm 1965 và bản viết tay năm 1968 đều có đoạn hắn dặn hỏa táng. Bản 1968 viết: "Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là 'hỏa táng'."
Cũng bản ấy dặn chia tro làm ba hộp sành cho ba miền, mỗi miền chọn một quả đồi mà chôn, trên mộ đừng dựng bia đá tượng đồng, quanh đồi thì trồng cây cho lâu ngày thành rừng. Đặt lời dặn ấy cạnh phép phong thủy thì gần như khớp: đồi đất, cây xanh, thân trả về cho trời đất. Một người cả đời theo chủ nghĩa Mác, đến lúc lo hậu sự vẫn nghĩ như một ông đồ Việt.
Lời dặn ấy không được làm theo. Bản di chúc đọc ở lễ tang tháng 9 năm 1969 bỏ hẳn đoạn hỏa táng; phải hai mươi năm sau, năm 1989, Bộ Chính trị mới cho công bố toàn văn. Trong khi đó, chuyên gia Liên Xô được mời sang ướp thi hài, giữ ở căn cứ K9 vùng Ba Vì suốt mấy năm chiến tranh, rồi đưa vào lăng khi lăng xây xong.
Lý do chính thức là "theo nguyện vọng của nhân dân". Nhân dân ấy chưa từng được hỏi. Người dân lớn lên trong nếp Phật giáo và thờ cúng tổ tiên khó mà muốn đem thi hài một người, bất cứ ai, bày trong hòm kính.
Quyết định nằm trong tay một nhóm nhỏ ở Bộ Chính trị, nhìn theo mẫu Liên Xô. Họ đặt việc chính trị lên trên cả lời dặn của người chết.
Đặt cạnh lăng Huế
Muốn thấy lăng Ba Đình lạc lõng tới đâu, cứ đặt nó cạnh lăng các vua Nguyễn ở Huế. Những lăng ấy xây trước đó hơn một trăm năm, bởi những ông vua mà sách vở chính thống vẫn gọi là phong kiến lạc hậu.
Lăng vua Minh Mạng nằm giữa núi rừng, trước mặt là hồ Trừng Minh, hai bên đồi thông. Nước hồ giữ khí, đồi núi chắn gió; tiền án, minh đường, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đều có chỗ của nó. Vua nằm dưới đất, trong quan tài, hài cốt tiếp với địa khí, đúng cách âm trạch vận hành.
Lăng vua Tự Đức nằm trong một thung lũng kín, hồ Lưu Khiêm phẳng lặng, cây phủ bốn bề. Người ta dựng nó cho người chết được yên, và đứng trong đó thì thấy yên thật.
Lăng Ba Đình thì không núi, không nước, bốn phía là phố xá với công sở. Bên trong là phòng kính lạnh, đèn rọi vào hòm kính, máy điều hòa chạy hai mươi bốn giờ, lính gác thay ca ngày đêm. Mỗi năm hàng triệu lượt người xếp hàng đi qua nhìn vào.
Lăng Huế làm ra để người chết được yên. Lăng Ba Đình làm ra để người chết được xem.
Huyệt bị đè
Xét thuần theo phong thủy, lăng gây hại hai lần. Bên trên, khối bê tông đè xuống huyệt. Bên trong, một thi hài không hóa được khóa khí lại ngay giữa huyệt, kẹt mãi giữa sống và chết.
Theo phép phong thủy, huyệt nghẽn thì cả vùng do huyệt ấy chi phối cũng nghẽn theo. Ba Đình lại nằm ngay trung cung Thăng Long.
Từ năm 1975 đến hết thế kỷ, cả nước sống qua những năm đói kém, chiến tranh biên giới ở cả hai đầu đất nước, và biết bao người bỏ nước ra đi trên những chiếc thuyền mong manh. Những chuyện ấy có nguyên nhân chính trị rành rành, người viết không đổ cho một ngôi mộ. Có điều, người tin phong thủy sẽ để ý rằng huyệt giữa kinh đô bị đè đúng vào những năm ấy.
Sống gửi thác về
Người xưa nói sinh ký tử quy, sống gửi thác về. Về là về với ông bà, mang theo họ của cha, tên cha mẹ đặt, khắc trên mộ cho con cháu biết đường mà thắp nhang.
Hồ Chí Minh lai lịch bất minh, đến cái tên trên mộ cũng không phải tên thật. Hắn sinh ra là Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc, vậy mà trên trán lăng chỉ có hàng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá đỏ, một bí danh. Người Việt không ai bỏ họ cha, bỏ tên cha mẹ đặt, rồi mang bí danh xuống mộ.
Cả đời hắn làm những chuyện trời tru đất diệt với dân tộc Việt Nam, nên phải chịu quả báo. Xác thì bị giữ trong hòm kính, hồn thì làm kiếp quỷ không đầu thai được, vất vưởng nơi dương gian mà ám dân tộc này
Vo Danh