Saturday, May 9, 2026

GIỜ THÌ TÔI ĐÃ THẤY RÕ SỰ “HÈN NHÁT” LÀ THẾ NÀO?

Khi còn trong nước, để tránh bị tẩy não và lung lạc ý chí chống cộng, tôi đã đọc rất nhiều báo mạng khi internet bắt đầu trở nên phổ biến ở Việt Nam vào những năm 1990s.

Tôi đã thấy ông tổng giám Mục Bình có thể nói chuyện ngang hàng với tổng thống VNCH, nhưng sau khi thống nhất thì khi ông làm việc, luôn có thằng công an ngồi canh. Thậm chí nó nói to tiếng, ông còn rớt cái chổi. Khi được phỏng vấn trên báo Công Giáo và Dân Tộc lúc hơn 80 tuổi, nói sợ cộng sản không, ông thừa nhận vẫn sợ.

Tôi đã từng đọc biết khi Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất họp đại hội vào năm 1972, ông Hòa Thượng Thích Quảng Độ trả lời báo giới rằng: Giáo hội không có ý định mời các vị chức trách từ chính quyền tham dự.

Khi họ họp, vào phòng kín, chỉ có hòa thượng với nhau. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Không ai được vào khuôn viên cấm. Dù cho trong ấy họ bàn cách chống chính quyền, thì cũng không làm gì được.

Để rồi sau này khi mất nước, họ họp thì công an … PHƯỜNG vào ngồi ở đấy, nghe họ bàn những gì.

Tôi đã từng biết đám ký giả ăn mày nghênh ngang đi trên đường phố để phản đối chính quyền. Ông Kỳ là phó tổng thống từ dinh Độc Lập phải đi ra mà mời nước họ uống. Mà sau này khi mất nước, họ thành đám ăn mày của nhà nước để kiếm từng bài viết để có cái đút miệng. Còn ai không chịu được thì bỏ đi nước ngoài sống.

Tôi đã từng nghe nói ông nhạc sĩ Trinh Công Sơn dám đứng lên hát kêu gọi hòa bình mà không hề sợ cảnh sát bắt hay đe dọa. Vậy mà sau này đất nước hòa bình, ông ấy phải chạy về Huế trốn vì nghe nói ông tướng Phạm Văn Trà muốn làm “thịt” ông ấy vì dám viết câu: 30 năm NỘI CHIẾN từng ngày.

Tôi biết 1 ông cha nhà thờ, trước 1975, ông ấy chửi quân cảnh như con. Thích là ông ta chửi. Không coi chính quyền ra cái ký lô gram nào hết. Vậy mà khi chiến cuộc hao tàn, công an đến giáo xứ nói A, ông ta nghe A. Nói B, ông ấy biết B. Chưa hề thấy mở miệng nói lại 1 chữ nào.

Tôi biết hàng trăm những kẻ đấu tranh dân chủ … CUỘI, miệng chống chính quyền, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Mà khi qua được hải ngoại rồi, thì họ không dám nói 1 tiếng nào. Bởi sợ nhà cầm quyền sẽ không cho họ về … nước nữa.

Tôi chứng kiến hàng ngàn, hàng ngàn … những người theo CỘNG HÒA, chỉ hùa vào các trang PHE MÌNH để post bài, chửi rủa, lớn tiếng với phe bên kia, mà không dám vào các trang của kẻ khác để đấu trực diện với những kẻ đang phá hoại đất nước này.

Tôi chứng kiến hàng ngàn người đã vì cả nể, vì thân, vì không muốn mất lòng, vì quen biết … mà khi thấy con cái, người quen, bà con, bạn bè… ủng hộ những chủ thuyết bệnh hoạn, những điều TRÁI TAI GAI MẮT, THƯƠNG THIÊN HẠI LÝ VÔ NHÂN ĐẠO như phá thai, woke, chuyển giới trẻ vị thành niên … lại không lên tiếng, không phản bác lại, im hơi lặng tiếng vì quyền lợi cá nhân, doanh nghiệp, danh tiếng, và cả sự hèn kém từ bản chất ….

Việt Nam không bước thụt lùi vì cộng sản. Mà nó không thăng tiến bởi những kẻ chỉ biết chống cộng bằng mồm.

Mỹ không bị tàn lụi 1 sớm 1 chiều, mà nó sẽ bị Hồi Giáo, tụi cộng sản, những kẻ di dân ngu ngốc tàn phá vì chúng ta quá …. HÈN.

Cá nhân thì hèn với bất công, mà dữ dằn với người mình biết sẽ không làm gì được mình, không thể bỏ mình.

Cộng đồng thì hèn vì sợ người ta sẽ chú ý đến mình, sẽ gây khó dễ cho mình, sẽ không còn TÀI TRỢ cho mình.

Tôi bang hết. Trang nào láo là tôi bang. Cùng lắm tao ra tòa, rồi cãi chúng mày 1 trận. Đi đâu về đâu tính sau.

Tao còn chân tay, còn trí não, còn ngôn ngữ, hổng lẽ tao thua chúng mày sao?

Hèn vậy thì sao trách các nhà đấu tranh? Sao trách các quan lại thời chế độ phong kiến không dám lên tiếng phản bác lại nhà vua.

Thời Sở Lệ Vương, có người họ Hòa tìm ra ngọc đem dâng vua. Vua cho người xem, nói không đúng. Cho chặt chân.

Đến thời Vũ Vương, lại đem dâng ngọc. Bị chặt chân còn lại.

Đến thời Văn Vương, mới biết là ngọc thật. Viên ngọc ấy sau thuộc về nhà Triệu thời Chiến Quốc. Lạn Tương Như phải đi sứ đổi nhà Tần 15 thành. Nhưng không thành công. Đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ. Lấy được viên ngọc ấy, đúc thành ngọc tỉ truyền quốc.

Cũng thời chiến quốc, có quân đại phu là Thôi Trữ giết vua chiếm ngôi, rồi nói sử quan viết: Vua chết vì sốt rét.

Các sử quan từ Thái Sử Bá, và 3 em là Trọng, Thúc Quý … đều viết: Thôi Trữ giết vua Quang. Trữ chém lần lượt từng người 1. Người sau lại viết y chang, không sửa sự thật ấy. Đến người cuối là Thái Sử Quý, Thôi Trữ nói:

- 3 người anh của ngươi đều vì câu này mà bị ta giết, lẽ nào ngươi không sợ chết sao?

Quý từ tốn trả lời: “Ghi lại sự thật là sứ mệnh của quan chép sử, nếu vì bảo toàn tính mạng mà làm sai chức trách, vậy thì thà chết còn hơn”

Thời nay, chúng ta trở nên HÈN vì không còn ai tôn trọng SỰ THẬT.

FB Hao Duc Nguyen


Chuyện quan chức vi hành

Thủ tướng TQ Lý Khắc Cường đến chợ hàng hóa Chiêu Thông năm mới, khi vào quầy hàng thịt hỏi:

- Công việc kinh doanh thế nào?

Đáp: Thông thường rất tốt, nhưng hôm nay đến một cân cũng không bán được.

Lý: Tại sao?

Đáp: Vì ngài đến, khách hàng không được vào.

Lý: Vậy thì tôi mua hai cân.

Đáp: Không bán được ạ

Lý: Tại sao?

Đáp: Vì để đảm bảo an ninh khi ngài đến, ở đây không được có dao.

Lý: Dao cũng không có, vậy thì mua tảng thịt này.

Đáp: Cũng không thể bán được.

Lý: Tại sao?

Đáp: Bởi khi ngài chưa đến thì giá mỗi cân là 23 tệ, ngài đến thì giá mỗi cân chỉ còn 18 tệ, nếu bán bị hao mất 5 tệ.

Lý: Vậy thì bán miếng thịt này theo giá 23 tệ mỗi cân.

Đáp: Vậy cũng không được.

Lý kinh ngạc: Tại sao thế..?

Đáp: Tôi không phải người bán thịt, thực ra tôi là cảnh sát vũ trang.

Lý: Gọi đội trưởng của anh đến đây!

Đáp: Đội trưởng đang bán trái cây ở góc đằng kia ạ…”



Ký ức tan chảy

Chết không phải là mất đi hơi thở, mà là khi người ta quên ta từng tồn tại.” - Jean Paul Sartre

Cả thế giới bàng hoàng khi nghe tin Bruce Willis, kẻ từng làm cả toà nhà Nakatomi rung chuyển trong "Die Hard", nay không còn có thể gọi đúng tên người thân, và cũng chẳng còn biết mình là ai. Người hùng màn bạc, kẻ bước qua bom đạn và băng đảng, lại bất lực trước một kẻ thù vô hình: sa sút trí tuệ trán - thái dương (FTD). Không có cảnh rượt đuổi, không có tiếng súng nổ, chỉ còn là sự im lặng dài dằng dặc nuốt chửng trí nhớ, ngôn ngữ và cả nhân cách.

Mình rất thích Bruce trong phim "Giác quan thứ 6". Bộ phim kể về một bác sĩ tâm thần bị chính bệnh nhân của mình bắn chết nhưng linh hồn ông không hề biến mất. Ông giao tiếp với một cậu bé có khả năng nhìn thấy "ma" và cả hai- một đã chết, một mắc chứng hoang tưởng tự kỷ- đã cùng nhau phá được vụ án giết người tưởng được che đậy khéo léo.

Thế giới dĩ nhiên thương xót Bruce Willis, nhưng có lẽ ít ai nhớ rằng ngoài kia, hàng chục triệu người cũng đang âm thầm biến mất theo cách tương tự. Alzheimer và FTD - hai cái tên nghe lạnh lẽo như bệnh viện - thực chất đang là đại dịch không tiếng súng. WHO ước tính có 55 triệu người mắc các loại sa sút trí tuệ, và đến năm 2050, con số ấy sẽ gấp ba lần. Nghĩa là, nhân loại sẽ có thêm một “siêu cường quốc Alzheimer” đông dân chẳng kém Trung Quốc hay Ấn Độ.

Người ta thường sợ robot cướp việc, trí tuệ nhân tạo thống trị, nhưng kẻ thù thật sự là trí tuệ tự nhiên đang dần rã mục. Một xã hội mà hàng trăm triệu người mất khả năng tự chăm sóc, con cháu thì phải nghỉ việc để chăm bố mẹ, ngân sách y tế thì đội lên. Cái giá đó không ngân hàng trung ương nào in nổi thêm tiền để trả.

Điều cay đắng là Alzheimer cướp đi ký ức - bạn không còn nhận ra chính mình; còn FTD cướp đi nhân cách - bạn biến thành một con người khác, lạnh lùng, bất cần, đôi khi hung hãn. Trong cả hai trường hợp, người thân sẽ có cảm giác như sống cùng một cái bóng, còn chính bệnh nhân thì trôi dạt giữa mảnh vụn thực tại.

Vậy nhân loại đối phó ra sao? Hiện chưa có thuốc chữa dứt điểm. Khoa học mới chỉ níu kéo được phần nào sự suy giảm, giống như cắm cái phao vào dòng sông đang chảy xiết. Người ta khuyên ăn uống lành mạnh thông minh kiểu Địa Trung Hải, tập thể dục, học ngoại ngữ, nghe nhạc Mozart để não đỡ mục ruỗng. Nhưng xin thưa, kể cả khi bạn ăn nhiều dầu ôliu đến mức da dẻ bóng loáng, Alzheimer vẫn có thể gõ cửa.

Thế giới đang già đi. Nhật Bản, Đức, Ý, Hàn Quốc… đều đã biến thành “nghĩa trang ký ức” khi tỷ lệ người cao tuổi quá cao. Và giờ, với Bruce Willis, phương Tây chợt nhận ra: bệnh này không chỉ gõ cửa những ông bà vô danh, mà còn có thể hạ gục cả một huyền thoại màn bạc.

Có thể, thảm kịch của Bruce Willis sẽ đánh thức công luận về sự cấp bách của việc đầu tư vào nghiên cứu não bộ. Nhưng tôi hoài nghi. Nhân loại thường chỉ lo chữa cháy sau khi nhà đã nát. Bao nhiêu ngân sách đổ cho tên lửa, cho vũ khí, cho việc “bắn hạ nhau trên mạng xã hội”, trong khi một phần nhỏ thôi có thể cứu vớt hàng triệu cuộc đời đang rơi vào vực quên lãng.

Hãy thử tưởng tượng: một thế kỷ sau, loài người có thể định cư sao Hoả, nhưng lại chẳng nhớ nổi đường về nhà. Đó là bi kịch đẹp đẽ nhất của văn minh - chúng ta thông minh đến mức phát minh ra AI, nhưng bất lực nhìn trí tuệ tự nhiên của mình tàn rữa.

Bruce Willis bây giờ không thể nhớ mình là ai, nhưng chúng ta nhớ. Và đó là trách nhiệm: nhớ để mà thương, nhớ để mà hành động, nhớ để mà không biến nhân loại thành một đám đông chỉ còn cơ bắp công nghệ, nhưng trái tim thì đã lãng quên chính mình.

Chúng ta sống bằng những gì ta nhớ, và chết khi trí nhớ rời bỏ ta.” -
Milan Kundera

Nhưng làm sao giữ cho trí nhớ khỏi rơi rụng như lá mùa thu? Bố mình năm nay gần trăm tuổi, vẫn rất minh mẫn, con cháu chưa chắc đã bằng. Chị mình bảo: do cụ uống trà xanh ròng rã gần một thế kỷ. Mình thì cho rằng: đến tần này tuổi cụ vẫn giữ thói quen đọc sách báo, viết hồi ký trên máy tính. Và quan trọng hơn- có cụ bà để cằn nhằn, quan tâm và cãi cọ.

7 bài tập hằng ngày cho não khỏi han rỉ

1. Viết lách
- Dù chỉ là vài dòng nhật ký hay status chửi thề chính trị, cũng buộc não vận động. Chữ nghĩa là thuốc bổ, miễn là đừng viết toàn lỗi chính tả.

2. Đọc sách
Sách dày, sách mỏng, thậm chí tờ hướng dẫn sử dụng máy giặt. Đọc để não không bị nhốt trong mấy câu comment ngắn ngủi.

3. Cãi lộn có chọn lọc
-Facebook, quán cà phê, hay bàn nhậu. Cãi để não nóng máy, nhưng nhớ cãi với kẻ ngang tầm. Cãi với đồ ngu thì não chỉ tốn calo vô ích. Đừng cãi với bò, với phò. Cãi với bọn này khéo mắc bệnh trì độn trước khi teo não.

4. Tra cứu linh tinh
- Hôm nay tìm hiểu vì sao con mèo hay nằm trên laptop, mai lại đọc về lịch sử nón cối. Kiến thức vụn vặt chính là vitamin cho trí nhớ.

5. Học cái mới
- Một ngôn ngữ, một nhạc cụ, hoặc ít nhất là món ăn chưa từng nấu. Cái mới ép não mọc đường mòn thần kinh mới, khỏi trơn trượt vào quên lãng.

6. Vận động thân thể
- Chạy bộ, đạp xe, hay đơn giản đi bộ ra chợ. Não cũng cần máu, chứ không chỉ cần triết lý.

7. Ngủ tử tế
- Ngủ là lúc não dọn rác, xếp ký ức gọn gàng. Thức khuya tám chuyện mãi, sáng ra não sẽ ném hết ký ức vào sọt rác.

Kết luận : Não như cái xe máy - không nổ máy thì han rỉ, nổ quá nhiều thì cháy piston.

Cái khéo là chạy vừa tầm, và nhớ thay dầu bằng chữ nghĩa, vận động, và cả… vài trận cãi lộn đúng đối tượng.

Nguồn: FB
PẰNG PẰNG… RỒI THÀNH YÊU

Tháng 4 năm 1975.
Lịch sử sang trang.
Anh Chương, hạ sĩ quan pháo binh, đứng chen giữa dòng người di tản. Trong túi anh chỉ còn vài tờ giấy bạc nhàu, trong lòng thì trống như khẩu pháo 105 đã bắn hết đạn.
Anh nhìn lần cuối phía sau, lẩm bẩm:
— “Thôi… hết rồi… giờ chắc phải học… bắn kiểu khác…”
Máy bay hạ cánh xuống Mỹ. Anh bước xuống, ngơ ngác giữa một thế giới mà ai cũng nói thứ tiếng nghe như… súng liên thanh.
Anh đứng im 5 giây.
Rồi quyết định:
— “Không hiểu… thì cười.”

——
Anh được gia đình bảo trợ, đưa về một thị trấn nhỏ ở Oregon. Công việc đầu tiên: phụ tiệm bánh mì.
Ngày đầu đi làm, ông chủ hỏi:
— “Hi Chuong! How are you?”
Anh Chương tưởng hỏi thiệt, trả lời thiệt:
— “Tui khỏe… mà nhớ nhà… với lại ăn không tiêu…”
Ông chủ đứng đơ.
Cindy đứng kế bên cười muốn xỉu:
— “Chuong… just say ‘I’m fine’ thôi!”
Anh Chương gãi đầu:
— “Ủa? Hỏi thiệt mà không cho trả lời thiệt hả?”
Rồi anh gặp Cindy.
Tóc vàng, mắt xanh, cười một cái… anh Chương suýt quên mình từng ở chiến trường.
Cô hỏi:
— “Hey, can you help me with this box?”
Anh nhe răng:
— “No English… me lính… soldier… pằng pằng!”
Vừa nói vừa làm động tác bắn súng.
Cindy cười gập người:
— “Oh my God… you are funny!”
Anh quay qua lẩm bẩm:
— “Chắc nó khen mình gan…”

Từ đó, hai người nói chuyện bằng… “quân lệnh tay chân”:
Đói, chụm tay vô miệng.
Khát, giả bộ uống nước.
Khen đẹp, giơ ngón cái, nháy mắt.
Không hiểu, đứng im như đang nghe lệnh cấp trên
Một hôm Cindy nói:
— “Help yourself in the kitchen.”
Anh Chương gật đầu cái rụp.
Mười phút sau… sạch nồi súp, hết bánh mì, bay luôn hai cái bánh ngọt.
Cindy vô bếp, đứng nhìn:
— “Chuong… you ate everything?!”
— “Ủa? Cô nói giúp mình mà!”
— “It means take a little!”
Anh tỉnh bơ:
— “Ở Việt Nam… giúp là giúp cho tới…”

Lần đầu đi ăn tiệm.
Thấy bill 6 đô, anh trả đúng 6 đô.
Cindy kéo lại:
— “You need to tip.”
— “Tip là gì?”
— “Trả thêm.”
Anh thở dài:
— “Ở Mỹ… đánh xong còn phải… nộp thêm đạn…”

Một hôm Cindy hỏi:
— “Do you want to go on a date?”
Anh Chương nghe chữ “date”, gật liền:
— “Ờ, ăn cũng được!”
Tối đó Cindy mặc đẹp như đi dạ tiệc.
Còn anh Chương… xách bịch trái cây.
— “Nè! Date nè!”
Cindy ôm bụng cười:
— “I mean romantic date!”
Anh đứng không biết nói gì:
— “Ủa… vậy cái này… để tráng miệng hả?”

Có lần Cindy ôm anh giữa tiệm.
Anh Chương cứng người, hai tay giơ lên như đầu hàng:
— “Ê ê… chỗ đông người…”
— “It’s just a hug!”
— “Ở Việt Nam… ôm vậy là… có chuyện rồi!”
Cindy nháy mắt:
— “Good. I want có chuyện.”
Anh đứng hình:
— “Trời… Mỹ đánh trực diện…”

Một buổi tối, Cindy nói:
— “You are hot.”
Anh Chương giật mình:
— “Đâu?! Cháy ở đâu?!”
Cindy cười lăn:
— “No… you are attractive!”
Anh thở phào:
— “Tưởng đâu tiệm cháy… suýt gọi cứu hỏa…”

Tình cảm cứ vậy mà lớn lên.
Không cùng ngôn ngữ.
Không cùng văn hóa.
Chỉ cùng… cười.
Anh bắt đầu đi học tiếng Anh.
Ngày đầu, cô giáo hỏi:
— “What is your goal in America?”
Anh suy nghĩ hồi lâu, rồi nói chậm rãi:
— “I want… understand Cindy… before she understand me too much.”
Cả lớp cười vang.
Anh cũng cười… mà không biết mình vừa nói câu hay nhất đời.

Rồi họ cưới nhau.
Anh học nói.
Cô học nấu nước mắm.
Anh dạy cô ăn mắm không nhăn mặt.
Cô dạy anh… “help yourself” không phải là ăn hết.
Cuộc đời người lính tưởng khép lại ở năm 1975…
Lại mở ra bằng một câu tiếng Anh bập bẹ:
— “Hello… pằng pằng…”

Năm 2026. California.
Hai ông bà ngồi trong sân. Con cháu chạy đầy.
Cindy huých vai:
— “Hey… remember the first day? ‘Pằng pằng’?”
Ông Chương cười khà:
— “Nhờ câu đó mới cưới được bà…”
Cindy cười:
— “You know what’s funny?”
— “Gì nữa?”
Cindy nói chậm:
— “I understood Vietnamese… from the beginning.”
Ông Chương trợn mắt!
— “CÁI GÌ?!”
— “I knew everything you said.”
— “Vậy… mấy lần tui nói ‘cô này đẹp dữ’…?”
— “Yes.”
— “Mấy lần tui nói ‘chắc cưới được’…?”
— “Yes.”
— “Cả lần tui nói ‘ăn nhiều mà dễ thương’…?!”
Cindy khoanh tay:
— “Especially that one.”
Ông Chương ôm đầu:
— “Trời ơi… vậy là tui bị phục kích từ đầu?!”
Cindy cười:
— “Yes. And you surrendered very fast.”
Ông Chương nhìn bà, rồi bật cười:
— “Ừ… trận này thua… mà lời cả đời.”
Cindy siết tay ông:
— “Good. Because this war never ends.”
Ông Chương gật gù:
— “Ừ… mà là chiến tranh… không có tiếng súng.”
Ông nhìn con cháu, giọng chậm lại:
— “Ngày xưa… lịch sử sang trang… tui tưởng đời mình hết rồi.”
Ông quay qua Cindy:
— “Ai ngờ… qua trang mới… lại gặp bà.”
Cindy tựa đầu lên vai ông:
— “And you said ‘pằng pằng’…”
Ông cười:
— “Ừ… mà trúng tim luôn.”

Một người lính “ngố” không hiểu tiếng…
Nhưng lại hiểu được tình yêu.
Và đôi khi, chính những hiểu lầm… lại là cách nhanh nhất để hiểu nhau.
Ai ngờ… lại mở ra một “mặt trận” khác:
Không tiếng súng.
Không khói lửa.
Chỉ có tiếng cười… và một người hiểu mình… từ cái “pằng pằng” đầu tiên. 

Phạm Sơn Liêm

Nhà hàng Thanh Thế và Cậu tôi

Tối thứ hai đầu tuần (17/01/2022) đang chuẩn bị bữa tối, nhận được một tin nhắn của anh họ, gửi từ Cali : “ H ơi ,cậu ba vừa mất lúc 6 h sáng Chúa nhật “

Tôi lặng người, gọi lại cho anh, mà nước mắt lăn dài.
Cậu tôi -ông chủ nhà hàng Thanh Thế- danh tiếng ở Sài Gòn một thời !

Đêm đó tôi nằm trăn trở mãi. Ký ức thời thơ dại mãi cho đến khi trưởng thành dần hiện về …

Sở dĩ tôi gọi ông chủ Thanh Thế là cậu vì mẹ của cậu và bà ngoại tôi là 2 chị em ruột (Đây là theo cách gọi của người Nam, người Bắc thì gọi là bác) Tóm tắt mối quan hệ giữa mẹ tôi và cậu, là họ hàng cô -cậu

1/.
Trước tiên, xin phép được chia xẻ vài thông tin về tên tuổi nhà hàng này và cảm nhận của tôi về sự ra đi của cậu.

Hẳn những ai từng sống ở trung tâm Sài Gòn trước đây ,không ai không biết đến một nhà hàng khá nổi tiếng: Nhà hàng Thanh Thế.

Tọa lạc trên một khu đất rộng ở một vị trí thuận lợi, mà ngày nay báo chí Việt Nam, giới buôn bán bất động sản thường dùng là nơi “Đắc địa “ và “ Khu đất vàng”.

Đây là một toà nhà nằm trên một diện tích rộng bao gồm trên 3 mặt tiền đường: Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực và Tạ Thu Thâu.

Về mặt kiến trúc theo lối hiện đại những năm 50-60 bao gồm 1 trệt, 3 tầng lầu đúc bê tông, mỗi tầng có balcon song sắt bao vòng quanh hành lang chắc chắn và sân thượng với vài cây xanh đón đầy nắng gió

Tầng trệt, mặt đường Lê Lợi (bên cạnh tiệm bánh Nguyễn Văn Đắc ) có một cửa ra vào, là lối đi chỉ dành riêng cho gia đình, nhân viên nhà hàng. Hai phần còn lại giáp vòng góc đường Nguyễn Trung Trực, số1& 3Tạ Thu Thâu phía cửa Đông chợ Bến Thành là cửa ra vào dành cho thực khách. Bên trong sảnh nhìn ra các cửa sổ lắp kính có thể đóng, mở. Ngoài những bàn ghế dành cho khách ,còn có quầy rượu giải khát, tủ bánh Tây các loại ….

Tầng một là khu vực dành cho nhân viên phục vụ sinh hoạt ăn uống, nghỉ ngơi. (Nhân viên làm việc cho nhà hàng đa phần là trong gia đình hai bên nội, ngoại).
Tầng 2, 3 là nơi ở của các thành viên trong gia đình trên cùng là sân thượng.

Ông chủ nhà hàng Thanh Thế là con trai thứ ba trong số 8 người con của ông bà chủ quán ăn Trung Thành - một biệt thự rất rộng, xây theo kiến trúc Pháp. Cũng cần nói thêm Quán Trung Thành, cũng là một trong những quán ăn nổi tiếng trong vùng Gia Định. Quán nằm trên 2 mặt tiền đường Nguyễn Văn Học cũ( nay là Nơ Trang Long ) Trần Quý Cáp, cách chân cầu Băng Ky độ chừng trăm mét.

Nhà hàng Thanh Thế đơn thuần là một nhà hàng bán thức ăn sáng, trưa, tối, cà phê giải khát cửa từ 8h sáng đến 22h đêm. Thực đơn nhà hàng Thanh Thế đủ các món Tây, Việt mặn, ngọt, vừa phục vụ thực khách hàng ngày, vừa nhận đặt tiệc cưới hỏi, tuyệt nhiên không có sân khấu ca nhạc, sàn nhảy, MC …như các nhà hàng vũ trường khác. Đặc biệt nhà hàng nổi tiếng với món “ Bún Suông “ mà nó được xem là một món đặc trưng, hương vị đặc biệt mà thời đó không một nhà hàng nào có thể cạnh tranh được.

Hơn 20 năm nhà hàng Thanh Thế giữ vững vị trí địa lý bên ngoài lẫn danh tiếng “Ngon” bên trong lòng thực khách dù chỉ ghé qua một lần.

Do có vị trí thuận lợi nên nhà hàng cũng đón nhận được nhiều thực khách. Cung cách phục vụ của nhà hàng thực đơn đa dạng phù hợp khẩu vị.
Thực khách đến nhà hàng rất đa dạng: Từ Sĩ quan cao cấp trong QLVNCH, chức sách trong chính phủ, cả giới trí thức, đến văn nghệ sĩ, thương gia, thượng lưu, trung lưu, rủng rỉnh túi tiền, và với một vị thế giữa trung tâm như vậy đương nhiên cũng có khách ngoại quốc, du lịch, vãng lai…

Họ ghé qua thưởng thức bữa ăn, hay đặt tiệc mừng cưới, hỏi, sinh nhật, đặt bánh …hoặc có khi chỉ vào ngồi nghĩ chân, chầm chậm nhẩn nha một chai bia, một tách cà phê, thưởng thức bữa sáng hay xế chiều, ngắm nhìn người qua lại, dạo phố Sài Gòn hay ra vào mua sắm ở khu thương xá Tam Đa nằm song song trên đường Nguyễn Trung Trực, một trong những khu thương mại sầm uất nhất nhì so với Thương xá Tax góc đại lộ Nguyễn Huệ, Lê Lợi cách đó không xa.

Sài Gòn thập niên 60, đầu 70 ( cho đến thời điểm tháng 3/1975 ), mặc cho những cuộc biểu tình của SVHS diễn ra một vài nơi trong thành phố, vòi rồng, lựu đạn cay mờ mịt, ngoài chiến trường, dù chiến tranh sôi sục căng thẳng nhưng Sài Gòn vẫn được che chở bảo bọc trong sự bình yên, vẫn là nơi phồn hoa đô thị của miền Nam. Những trung tâm mua sắm, vũ trường, rạp chiếu phim vẫn hoạt động nhộn nhịp, vẫn phát triển một cách bình thản,” Hòn ngọc viễn đông” vẫn long lanh tỏa sáng.

Đó cũng là thời kỳ Hoàng kim của nhà hàng Thanh Thế, đã tạo được cho mình chỗ đứng trong “Top” của những nhà hàng bậc nhất Sài thành.

30/4 /1975 Sài Gòn sụp đỗ. Cùng số phận với những người trong giới kinh doanh ở miền Nam nói chung, Sài Gòn nói riêng, Thương xá, nhà hàng, khách sạn, vũ trường, các khu giải trí, cửa hiệu lớn nhỏ lần lượt bị đóng cửa .

Sau biến cố lịch sử này, gia đình cậu mợ và một vài người cháu ( Cậu mợ có 8 người con, 3 trong số các anh chị này có 3 người đang Pháp du học trước 1975) quyết định vượt biên. Chuyến đi trót lọt. Trong thời gian chờ đợi ở trại tỵ nạn ,khi UNHCR ( Văn phòng cao ủy Quốc tế Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn ) phỏng vấn cho các thuyền nhân có nguyện vọng chọn nước thứ hai định cư, cậu mợ tôi chọn nước Pháp với lý do : Có con đang ở Pháp

Tất nhiên, khi nhà hàng đóng cửa, tất cả nhân viên mất việc, trong đó có ba tôi. Mỗi người tự tìm lấy phương cách lo cho cuộc sống của bản thân gia đình. Cuộc sống của người Sài Gòn nói chung thời điểm “ hòa bình” trở nên đảo lộn. Người đi kẻ ở, kẻ mất người còn.

Bà chủ quán Trung Thành ở lại quản lý khối tài sản của con trai gồm toà nhà nhà hàng như đã kể trên, ngôi biệt thự sang trọng ở đường Hàn Thuyên ( con đường ngắn yên tĩnh,bên cạnh công viên nhà thờ Đức Bà Sài Gòn), ngôi biệt thự thơ mộng nhìn ra biển dành cho gia đình nghỉ mát ở khu vực Bãi Dâu thuộc thành phố Vũng Tàu ( trước 1975 gọi là Cấp - Cap Saint Jacques) và không ít tài sản cá nhân như xe riêng, số tiền tiết kiệm không nhỏ trong ngân hàng …Nhưng họ tịch thu tất cả với lý do người đứng tên vắng mặt.

Mọi sự can thiệp nhằm giữ lại khối tài sản kể trên của bà mẹ ông chủ và những người thân còn lại đều không có giá trị với Chính quyền mới. Ngay cả quán Trung Thành cũng bị họ” tiếp thu” buộc đóng cửa. Bà dì tôi được họ nhân đạo cho ở khu vực phía sau mặt tiền quán.

Lúc đó để duy trì danh tiếng, dì Hai, chị của cậu mua một căn nhà một tầng ở khu vực Chợ Lớn mở lại một quán ăn nhỏ lấy tên cũ Trung Thành. Việc kinh doanh “cá thể” ban đầu có hơi ì ạch vì có “sự quản lý sát sao” của chính quyền mới, hơn nữa những năm sau 1975, người Sài Gòn số giàu có dư giả đi nhà hàng quán ăn cũng giảm so với trước đây. Trông coi kinh doanh được một thời gian,cả nhà dì đi nước ngoài theo diện đoàn tụ gia đình. Chính quyền “thuyết phục “ tạo điều kiện cho gia đình rời Việt Nam nhanh chóng, đổi lại bà dì tôi phải ký giấy tự nguyện hiến tặng quán Trung Thành trong Gia Định cho nhà nước trưng dụng làm trường Mẫu giáo phường dưới chiêu bài “ Vì sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ, mầm non của Tổ quốc !”

Nhưng dần rồi quán cũng được chuyển nhượng “hợp pháp “ cho người “ có công với CM” .

Còn nhà hàng Thanh Thế sau hơn một năm đóng cửa, chính quyền mới, mở lại dưới sự quản lý của “ Sở Thương nghiệp TPHCM “ với cái tên “ Nhà hàng ăn uống(?) quốc doanh Thanh Thế” . Sở dĩ lấy tên cũ là do được một nhân viên cũ “trở mặt “ hợp tác tư vấn với kỳ vọng thu hút được thực khách như thời trước đây .

Anh nhân viên này được họ “ trưng dụng “ ban cho cái chức “quản đốc “(?). Hoạt động một thời gian không có hiệu quả, Sở nhà đất TP thu lại, chuyển nhượng hùn hạp với tư nhân mở Trung tâm Thương mại Thanh Thế, nhưng thực chất cho tư nhân thuê mặt bằng ở tầng trệt mở các quầy bán nữ trang vàng bạc đá quý, thu đổi ngoại tệ ( lậu) vẫn dưới sự quản lý của Sở nhà đất, Sở Thương nghiệp TP. Rồi sau này qua một vài thông tin “Khu đất vàng” này đã được chuyển nhượng sang quyền sở hữu của một cán bộ chức trách nhà nước. Họ tiếp tục cho thuê mướn làm mặt bằng kinh doanh .

Lạ ở chỗ là dù kinh doanh bất kỳ đới hình thức nào họ vẫn giữ thương hiệu “ Thanh Thế”!

Hơn 10 năm tôi chưa về thăm lại nên hiện giờ cũng không biết nơi chốn cũ đó họ sử dụng để làm gì.

Xem như gia đình bà dì tôi - từ có đến không. Mất hết!

2./
Sang Pháp, ông bà chủ Thanh Thế cố gắng gầy dựng lại sự nghiệp từ đầu, một nhà hàng Thanh Thế thứ hai mọc lên giữa lòng kinh đô hoa lệ.
 
Cũng như thời còn tồn tại ở Sài Gòn, ông bà dành nhiều thời gian & công sức, vượt qua được những gian nan, thử thách khó khăn trên xứ người. Bắt đầu mua lại một nhà hàng nhỏ ở khu vực Paris 5è, rồi sự nghiệp kinh doanh thuận lợi phát triển, cậu mợ tôi chuyển sang tìm được một địa điểm khác, diện tích lớn hơn cũng trong nội vùng trung tâm Paris và dần dần đạt đến một thành quả mỹ mãn: Được Thị trưởng Paris cấp cho một bằng khen đạt danh hiệu “ Đôi đủa vàng” -Một phần thưởng có giá trị khích lệ về mặt tinh thần giúp nhà hàng Thanh Thế khẳng định và giữ được uy tín của mình từ trong ra ngoài nước. Công việc kinh doanh ngày càng tiến triển

Đến tuổi hưu, các anh chị có việc làm ổn định nơi xứ người, nên không ai nối nghiệp. Ông bà chủ Thanh Thế sang nhượng lại nhà hàng cho chủ mới, chuyên về ẩm thực Trung Đông. Nhà hàng Thanh Thế đóng cửa hẳn để lại bao tiếc nuối cho thực khách Á lẫn Âu vùng Paris

3/.
Cậu tôi là một người yêu thích ẩm thực, ham học hỏi, ngoại giao tốt, giỏi kinh doanh bắt kịp nhu cầu của thực khách mà còn là một người rất khiêm tốn, trầm tính, hiền lành, tử tế và độ lượng. Ông có phong thái trầm tĩnh, cư xử hoà nhã với mọi người, không hề hống hách, phân biệt chủ tớ. Chưa bao giờ thấy cậu lằn nhằn, quắc mắt, lớn tiếng nổi giận khi nhân viên hay con cháu vô ý phạm lỗi lầm nhỏ hay lớn.

Tính mợ dù hơi nóng nảy, khá nghiêm. Nhân viên lỡ có sai sót trong công việc, mợ thẳng thắng phê phán gắt gao, chủ yếu cũng chỉ đề sửa đổi, cho tốt hơn, rồi mợ vui vẻ bỏ qua, không để bụng. Cũng như cậu, mợ xem việc giúp người gặp khó khăn, mang lại niềm vui cho người cùng là mang lại niềm vui cho chính mình

Trong một bài viết trên trang này tôi có nhắc lại năm Mậu Thân, Cộng quân đánh vùng Gia Định, gia đình tôi chạy loạn và cậu mợ đã mở rộng vòng tay cưu mang chúng tôi tạm lánh nạn tại nhà hàng gần 6 tháng.

Suốt thời gian làm việc cho cậu, ba tôi thường khen “ Cậu đúng là một người tử tế, đạo đức, mực thước “. Với vai trò chủ mà lúc nào cũng hoà đồng, quan tâm gần gũi với nhân viên, ai có vấn đề gì khó khăn cứ giải bày, cậu luôn lắng nghe, khả năng giúp được thì cậu sẵn sàng. Vì vậy hầu hết nhân viên nhà hàng ai cũng quỷ mến cậu, trung thành, góp sức đáp lại lòng nhân ái của ông bà chủ, tiếp tục làm ra những món ngon, cũng cách phục vụ, tiếp đãi luôn làm hài lòng thực khách . 

Môn thể thao mà cậu yêu chuộng từ khi còn ở Sài Gòn là Tennis. Cậu chơi trong những giờ thư giãn. Sang Pháp cậu vẫn tiếp tục chơi một thời gian xem như luyện tập thể thao

Gia đình tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ gia đình cậu. Từ việc ba má thành gia thất, giúp đỡ về vật chất tài chánh, tạo dựng ngôi nhà dù đơn sơ nhưng đầy ắp tình người, cho đến khi chúng tôi đi học, cậu lo phần niên liễm. Mỗi năm cận Tết mợ chịu phần vải vóc để má tôi may quần áo mới cho chúng tôi mặc 3 ngày Tết. Cậu không những đảm nhiệm phần quà cáp cho tất cả nhân viên, mà còn lo cả việc lì xì cho con cháu .

Vừa là em rễ vừa là nhân viên lại được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của cậu mợ, nên gia đình tôi dù chỉ có ba đi làm, không dư giả nhưng đủ sống. Vì vậy ba luôn dạy chúng tôi bài học nhân nghĩa, sống biết có trước sau. Luôn ghi nhớ công ơn những ai đã giúp đỡ mình. Căn dặn chúng tôi giữ lễ phép, tôn trọng, thăm viếng hỏi han, chia sẻ khi có hiếu hỷ, không có điều kiện vật chất, thì góp công sức cũng là một cách đền ơn đáp nghĩa .

Cậu mợ ra nước ngoài, ba mất việc, má tôi thì đau ốm rề rề, cộng với thời Chính quyền mới, gia đình tôi rơi vào cảnh khó khăn túng thiếu. Dù ba tôi vẫn có được tin tức của cậu mợ tôi qua họ hàng còn ở Việt Nam, nhưng luôn căn dặn chúng tôi phải biết tự trọng, cố gắng vượt lên bằng đôi tay của mình, tuyệt đối không đòi hỏi, xin, vay, tạo nên một tiền lệ không tốt .

Sau 35 năm sống xa quê hương, cậu mợ tôi trở lại thăm nhà một lần duy nhất vào tháng 6/2000. Đó cũng là lần đầu hai ông bà ghé qua nhà thăm hỏi chị em tôi .

Lần đó, nhìn căn nhà vững chắc khang trang do chị em tôi góp công sức làm nên, cậu chia sẻ niềm vui, nhắc lại chuyện ba tôi lúc còn sinh thời làm việc với cậu, chịu mọi cực nhọc, khó khăn để nuôi chúng tôi ăn học chỉ mong chúng tôi thành tài. Cậu cũng tiếc khi chúng tôi có sự nghiệp hẳn hoi thì ba má tôi không còn để nhìn thấy thành quả mà vui cùng con cháu.

Khi biết tôi có mối quan hệ tình cảm, tiến tới hôn nhân với một công dân Pháp, cậu rất vui, thỉnh thoảng điện thoại từ Pháp về ân cần hỏi han, chúc mừng .

Sang xứ người, vợ chồng tôi ghé qua thăm cậu mợ vài lần, điện thoại thăm hỏi nhau thường xuyên, Lễ Tết không gặp được nhau thì cũng gọi Chúc Mừng. Chưa kể những dịp Lễ lớn đi viếng chùa gần nhà, biết cậu mợ thường làm công quả cho chùa, gia đình nhỏ của tôi cũng tìm gặp cậu mợ, cho các cháu chào ông bà. Mỗi lần gặp mợ, dẫn các con đến chào, bao giờ bà cũng dúi cho một túi bánh trái, ôm hôn các cháu. Ở phương trời nào, thì trong mắt tôi cậu vẫn là một người cậu điềm đạm, hiền lành, tử tế độ lượng như xưa .

Một lần khi dùng bữa trưa ở nhà cậu mợ, tôi dạm hỏi:” cậu mợ có ý định về Việt Nam sống, hưởng thời gian cuối đời ? Cậu trả bình thản nhưng ánh mắt đượm buồn: “ Chắc không đâu con ”, còn mợ thì thở dài rưng rưng:” Về chi con, cơ ngơi công sức bao nhiêu năm tạo dựng còn đó, nhưng người ta đã lấy hết, mình như kẻ lạ, đứng bên ngoài chỉ nhìn, một lần đầu và cũng là lần cuối!” Nghe mà xót xa !
Câu chuyện khác cũng khá thú vị do mợ kể lại như sau:

Lần về thăm đó cậu mợ thuê taxi vòng Sài Gòn nhìn lại đường phố ( cũng hơn 35 năm chưa trở lại) nhìn lại cơ ngơi của mình. Đến trước thương xá Tam Đa cũ, 2 ông bà xuống xe đứng bên đường nhìn qua nhà hàng, một người đàn ông trung niên trong áo sơ mi cộc tay trắng có đeo băng đỏ in hàng chữ “ bảo vệ” nhận ra cậu mợ, ông ta chạy đến bắt tay, chào, mợ không nhớ nhưng cậu biết: Đó chính là anh nhân viên ““trở mặt “ kể trên.

Thời gian đó ông ta không còn giữ chức “quản đốc” nữa, nhưng khẳng định rằng tiếng nói anh ta vẫn còn ít nhiều “giá trị”.
Anh ta ngỏ ý: Nếu cậu mợ tôi đồng ý trở về nước, tiếp tục kinh doanh nhà hàng, góp vốn đầu tư thuê lại mặt bằng lấy thương hiệu “Thanh Thế Sài Gòn “ anh ta sẽ làm trung gian giới thiệu cậu mợ cho cơ quan có thẩm quyền. Cậu im lặng, mợ trả lời khẳng khái “ Nhà hàng của chúng tôi mà bây giờ muốn mượn danh nghĩa cũ để làm ăn, đầu tám cũng không chứ đừng nói đầu tư!”

Sau này gia đình nhỏ của tôi rời Paris, đến một vùng biển cách nơi cậu mợ ở gần 300km, tôi vẫn giữ mối liên lạc với cậu mợ.

Mỗi lần có dịp trở lại, tôi đều ghé qua thăm cuối là vào tháng 11/2018. Khi ấy cậu trông vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn. Cậu cháu mỗi lần gặp nhau, ai cũng vui.Thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng hay nhắc về chuyện hồi xưa ,và thế hệ ông bà trước đây, thế hệ cậu, chúng tôi, cả thế hệ con cháu hiện thời.

Mợ cũng vui vẻ, cởi mở nhưng bắt đầu hơi nhớ nhớ quên quên. Lần nào tôi ra về cậu mợ cũng ôm hôn và tôi luôn hứa nếu có dịp sẽ ghé thăm cậu mợ.

Hơn 2 năm do dịch COVID-19 bùng phát, việc đi lại cũng khó khăn. Đôi lần diện thoại hỏi thăm nghe cậu mợ sức khỏe ổn định tôi cũng an tâm.

Tháng 10 /2021 tôi điện cho cậu, nói vài câu chưa đầy hai phút thấy giọng cậu có hơi yếu, nên tôi để ông nghỉ ngơi. Đâu ngờ đó là lần cuối tôi được nghe giọng cậu .

Hôm nay gia đình sẽ làm lễ cúng Thất cậu. Hai hôm nữa thôi, xác cậu sẽ thành tro bụi, nhưng linh hồn cậu sẽ vẫn còn ở quanh quẩn bên tất cả những người em, vợ, con cháu ở gần xa .

Hình ảnh về một người cậu đôn hậu, đầy lòng nhân ái, ngọt ngào, hiền lành mãi tồn tại trong ký ức của mỗi người trong gia đình chúng tôi từ những ngày chúng tôi còn bé.

Phần ở xa, phần do dịch bệnh ,tiếc là tôi không thể đại diện gia đình đến viếng, tiễn đưa nhìn mặt cậu lần cuối về cõi Vĩnh hằng .
Vẫn biết sinh, tử đời người ai rồi cũng sẽ phải qua. Cậu mất đi, trong tôi vẫn còn đó nỗi buồn. Ơn nghĩa mà gia đình cậu đối với gia đình chúng tôi, vẫn mãi khắc ghi .

Một nén hương thắp lên, ngậm ngùi thương nhớ cậu. Cầu xin linh hồn cậu sớm siêu thoát .

Tết này và mãi mãi gia đình sẽ vắng một người chồng, cha, ông…Tôi sẽ không còn nghe giọng trả lời dịu dàng của cậu mỗi lần gọi chúc Tết “ Cậu khỏe, cám ơn con. Cậu cũng chúc gia đình con….Khi nào lên Paris nhớ ghé qua cậu …”

Con sẽ trở lại Paris, nhưng không còn có dịp để con gặp lại cậu nữa, cậu ba ơi…

Phụ chú:

Quán Thanh Thế tọa lạc ở góc đường Nguyễn Trung Trực-Tạ Thu Thâu (bây giờ là đường Lưu Văn Lang), cách quán Kim Sơn vài chục mét. Quán Thanh Thế là ngôi nhà nhỏ hơn nhiều so với ngôi nhà làm quán Kim Sơn, nhưng sang trọng xinh đẹp, bàn ghế cũng sang trọng phù hợp với không gian của nó. Một nửa số bàn ghế bày ra hàng hiên, phía đường Nguyễn Trung Trực, vì phía đường Tạ Thu Thâu vừa hẹp, vừa có những sạp hàng vải vóc-mỹ phẩm cao cấp dài dọc con đường.

Với vẻ sang trọng của quán Thanh Thế, lớp tuổi sinh viên chúng tôi rất ngại vào, như thường vào ngồi ở quán Kim Sơn cùng trên một con đường.

Thế hệ” ngồi quán Sài Gòn buổi ấy có người từ La Pagode, Givral, Brodard hoặc từ Bạch Đằng, Thanh Thế…





Ngày Con Chào Đời, Ngày Mẹ Ra Đi”

Khoa phụ Sản, nằm trong của một bệnh viện lớn ở Santa Ana sáng hôm ấy ồn ào khác thường. Trên bảng sắp xếp công việc, một hồ sơ được khoanh đỏ:
“Leukemia, nguy cơ cao. Thai 32 tuần.”
Những tiếng nói nhỏ rơi vào nhau như những giọt nước lạnh:
– “Tiểu cầu thấp vậy… mổ là nguy hiểm lắm.”
– “Nghe nói cô ấy từ chối hóa trị… để giữ con…”
– “Liều… mà cũng… tội…”

Tôi là Linh, y tá thực tập năm đầu. Khi trưởng khoa nhìn về phía tôi, ông nói chậm rãi:
– “Linh, cô là người Việt. Cô vào phòng 12. Ở đó… cần một người hiểu họ.”
Tôi gật đầu, mà trong lòng nặng như có gì chặn ngang.
Tôi gõ cửa, rồi bước vào.
Người phụ nữ trên giường không giống một bệnh nhân đang cận kề nguy hiểm. Chị gầy, xanh xao… nhưng ánh mắt lại sáng và ấm lạ thường. Chị đang nhìn ra cửa sổ, nơi nắng California đổ xuống vàng óng.
Thấy tôi, chị cười nhẹ:
– “Em là y tá mới hả? Người Việt mình phải không?”
– “Dạ… em là Linh. Em sẽ chăm sóc chị.”
Chị khẽ gật đầu:
– “Chị là Hương. Ở đây… cũng đỡ buồn, vì còn nghe được tiếng Việt.”
Tôi kéo ghế ngồi gần hơn. Hỏi nhỏ:
– “Chị… có đau nhiều không?”
Chị xoa nhẹ bụng mình, mỉm cười:
– “Đau thì có… nhưng mà mỗi lần con đạp… là chị quên hết.”
Tôi lặng người.
Một lúc sau, chị nói như tâm sự:
– “Bác sĩ bảo chị phải chọn… hoặc là sống… hoặc là giữ con.”
Chị dừng lại, nhìn xuống bụng:
– “Mà em nghĩ coi… làm sao một người mẹ… lại chọn bỏ con được?”
Tôi nghẹn lời, không trả lời được.

Chiều xuống.
Người chồng đến. Anh Minh, dáng người gầy, đôi tay chai sần. Anh bước vào rất khẽ, như sợ làm đau không khí.
– “Hương… anh tới rồi.”
– “Anh ăn gì chưa?”, chị hỏi ngay, giọng lo lắng.
Anh cười, đặt hộp cháo lên bàn:
– “Anh ăn rồi. Em ăn đi, còn sức nuôi con.”
Chị lắc đầu:
– “Em không đói… nhưng anh phải ăn. Anh mà bệnh là ai lo cho con?”
Anh im lặng. Múc cháo, thổi từng muỗng.
– “Há miệng ra… em.”
Chị cười, ngoan ngoãn ăn như một đứa trẻ.
Rồi chị thì thầm:
– “Anh Minh…”
– “Ừ?”
– “Nếu… lỡ… em có chuyện gì…”
Anh cắt ngang, giọng gằn lại:
– “Đừng nói vậy.”
Chị nhìn anh, mắt ươn ướt:
– “Anh nghe em nói hết… được không?”
Anh không trả lời. Nhưng bàn tay nắm chặt tay chị.
– “Nếu em không ở lại… anh đừng để con thiếu tình thương… đừng để con nghĩ… nó là lý do khiến mẹ ra đi…”
Anh cúi đầu. Vai run lên.
– “Nó không có lỗi gì hết… anh nhớ không?”
Anh nghẹn giọng:
– “Anh nhớ… anh nhớ hết… em đừng nói nữa…”

Những ngày sau đó, tôi chứng kiến một thứ sức mạnh mà sách vở không dạy.
Những đêm đau đến run người, chị Hương chỉ cắn môi, không kêu một tiếng.
Tôi nói:
– “Chị đau thì cứ nói… tụi em có thuốc…”
Chị lắc đầu:
– “Thuốc mạnh quá… sợ ảnh hưởng tới con.”
– “Nhưng chị… chịu không nổi đâu…”
Chị cười, rất nhẹ:
– “Mẹ nào mà chẳng chịu nổi… vì con.”
Có lần, chị đưa tôi cuốn sổ nhỏ:
– “Linh đọc thử đi… chị viết cho bé.”
Tôi mở ra.
Những dòng chữ run run:
“Gạo à, nếu con đọc được những dòng này… nghĩa là mẹ đã không còn bên con. Nhưng con phải tin… mẹ đã ở lại trong từng hơi thở của con…”
Tôi không đọc tiếp được.
Chị hỏi:
– “Có sến không em?”
Tôi lắc đầu, mắt cay xè:
– “Không chị… không sến… mà đau…”
Chị cười buồn:
– “Đau… nhưng mà thật.”

Đêm trước ngày sinh. Chị nắm tay tôi thật chặt.
– “Linh…”
– “Dạ…”
– “Nếu mai… chị không qua khỏi…”
Tôi siết tay chị:
– “Chị sẽ ổn mà.”
Chị lắc đầu:
– “Nghe chị nói… một lần thôi…”
Tôi cắn môi, gật đầu.
– “Em kể cho bé Gạo nghe… là mẹ nó thương nó lắm… thương đến mức… dám đánh đổi cả mạng sống…”
Tôi không kìm được, nước mắt rơi xuống tay chị.
– “Và… em coi chừng anh Minh giùm chị… anh ấy yếu lòng lắm… mà hay giấu…”
– “Dạ… em hứa…”

Phòng sinh sáng rực ánh đèn. Máu… nhiều hơn dự kiến.
Máy móc kêu dồn dập. Chị Hương yếu dần. Chị quay đầu, tìm tôi:
– “Linh…”
– “Em đây!”
Chị thều thào, gần như không còn hơi:
– “Cứu… con… giúp chị…”
Tôi nắm chặt tay chị:
– “Tụi em đang cố… chị ráng lên!”
Chị lắc đầu rất khẽ:
– “Không… cứu con… thôi…”
Một tiếng khóc vang lên.
Mạnh mẽ. Rõ ràng. Sự sống.
Tôi bế đứa bé lại gần:
– “Chị Hương… con gái chị đây rồi… khỏe lắm…”
Chị mở mắt… rất khó khăn.
Nhìn con. Một giọt nước mắt trào ra. Môi chị mấp máy:
– “Gạo… của mẹ…”
Một nụ cười… nhẹ như nắng.
Rồi… im lặng…..

Ngày dọn lại phòng 12, tôi tìm thấy mảnh giấy dưới gối.
Chữ viết vội, nhưng rõ:
“Gạo ơi… nếu con thấy nắng ấm… là mẹ đang ôm con đó.”
Ngày Gạo xuất viện. Trời Santa Ana xanh và đầy nắng.
Anh Minh bế con, đứng lặng thật lâu trước cửa bệnh viện.
Anh thì thầm:
– “Mẹ con… đang ở đây… phải không con?”
Đứa bé đang khóc… bỗng im.
Bàn tay nhỏ xíu nắm chặt ngón tay cha.
Như đang… nắm lấy một điều gì đó vô hình.

Tôi vẫn làm việc ở đây. Vẫn đón những đứa trẻ chào đời.
Nhưng có những ca sinh… không chỉ là sự sống bắt đầu.
Mà là… một tình yêu kết thúc bằng cả một đời người.
Từ đó, mỗi khi nắng đổ xuống Santa Ana, tôi luôn nhớ đến chị.
Một người mẹ Việt Nam… đã chọn cách rời đi…
để con mình… được ở lại với ánh sáng.

Phạm Sơn Liêm



Blog Archive