Tuesday, February 3, 2026

Hồ sơ Epstein

Một trong những phụ nữ quyền lực nhất của nội các Obama cũng rất thân thiết với Epstein, thậm chí bà ta còn gọi y là "Uncle Jeffrey", đó là Kathryn Ruemmler (tóc vàng).

Kathryn Ruemmler là một trong những cố vấn pháp lý thân cận và quan trọng nhất của Obama tại Toà Bạch Ốc, bà giữ vai trò White House Counsel lâu nhất dưới thời Obama. Hiện tại bà là Tổng cố vấn Pháp lý và Giám đốc Pháp lý của tập đoàn toàn cầu Goldman Sachs.

Ngay từ nhiệm kỳ đầu của Obama, Kathryn Ruemmler đã là nhân vật số 3 của bộ Tư pháp, rồi là tuỳ viên luật pháp của lâu đời nhất suốt những năm Obama làm tổng thống. Bà vẫn duy trì mối quan hệ thân cận với Obama và gia đình ông, và được xem là một phần của "Obama alumni network" (mạng lưới cựu quan chức Obama), thường tham gia các sự kiện hoặc tư vấn không chính thức.

Trong các hồ sơ Epstein mới công bố, Ruemmler được đề cập nhiều lần vì mối quan hệ xã giao với Epstein sau khi rời Bạch Ốc (2014–2019), kể cả tư vấn pháp lý và nhận quà tặng của Epstein, đó là một túi xách hiệu Hermes có giá $9.400. Tuy nhiên, bà ta phủ nhận đại diện cho Epstein hoặc nhận thù lao từ ông ta, chỉ nói mối quan hệ là "giới hạn và chuyên nghiệp".

Ruemmler gặp Epstein nhiều lần từ năm 2014–2019, khi bà làm luật sư tại Latham & Watkins, tức là sau khi Epstein đã bị xác định tội trạng.

Bà cũng bà gửi ít nhất 135 email cho Epstein, theo privilege log, nhật ký đặc quyền.

Nội dung là:
-Bảo vệ thỏa thuận nhận tội năm 2008 của Epstein.
-Soạn thảo và chỉnh sửa các tuyên bố công khai của Epstein.
-Hiệu đính thư từ với một thượng nghị sĩ Mỹ.
-Thảo luận về thỏa thuận bồi thường nạn nhân..
-Cố vấn về các vấn đề danh tiếng và pháp lý khác trong giai đoạn Epstein gặp rắc rối lớn.

Một số email cho thấy bà gọi Epstein là "Uncle Jeffrey" trong các thư từ thân mật.

Bà ta từng tham khảo ý kiến của Epstein khi cân nhắc lời mời làm Bộ trưởng Tư pháp, thay Bộ trưởng Eric Holder thời Obama, có lẽ Epstein khuyên can nên bà không nhận lời.

Sau này, bà tuyên bố: "Tôi hối tiếc vì từng biết ông ta". Goldman Sachs vẫn giữ bà ở vị trí hiện tại, dù có báo cáo nội bộ về kế hoạch sẵn sàng nếu bà rời đi.



Một Dòng Xuôi Mải Miết 


Bữa nhậu gần tàn. Kim đã uống gần hết một lượt để từ giã ra về thì có anh thanh niên hào hển chạy lại hỏi thăm anh Kim nhà văn, còn dò đi hỏi lại có đúng là Kim viết mấy cái truyện về những người chăn vịt mới được đọc trên đài. Kim gật đầu. Anh ta cười cái phào:

- Vậy thì may quá. Tôi tính xong mùa lúa này sẽ lên trển tìm cho được anh. Vợ tôi cứ biểu hoài...

Kim ngờ ngợ, không biết mình có dây dưa chuyện gì với vợ chồng anh chàng này đây. Anh hỏi, “Tôi giúp gì được cho anh?”. Anh chàng nọ ngần ngừ nhìn quanh rồi hỏi “Tôi có thể nói chuyện này cho một mình anh nghe được không?”, Kim dại gì mà không gật đầu, ở lại, dễ gì rụp một cái có thể rời khỏi chiếu nhậu.

Vậy mà cũng xà quần cả buổi, chờ cho anh chàng nọ uống chào sân hết cả thảy chín ly rượu trắng mới đi được. Hai người xuống cái bến bùm xùm những lùm đậu cộ, Kim chờ tàu Khánh Hội lên .

- Anh viết mấy cái truyện chăn vịt hay thiệt, sành sỏi như người trong nghề, nghe bắt mê. Chắc anh đi nhiều chỗ, gặp nhiều người lắm. Tôi đang suốt lúa, nghe có nhà văn Trần Kim về Rạch Giồng để viết về vụ hè thu, tôi bỏ dãi chạy ra đây. Không biết anh nhà văn có biết người nuôi vịt chạy đồng nào tên Sáng, trạc ba sáu, ba bảy tuổi không? Dà, vợ tôi nó trông gặp anh Sáng này tới mỏi con mắt nhưng trời đất mênh mông, tôi hỏi cùng khắp rồi, mà chưa thấy tăm hơi đâu hết. Chuyện của ba người chúng tôi cũng dài lắm anh à, anh biết, hai người với nhau thì dễ, thêm người thứ ba rắc rối lắm.

Tôi không biết quê Sáng ở đâu, mấy lần nghe loáng thoáng ở An Bình, Phước Long gì đó. Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng này. Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm Lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi.

Tôi thường trông Sáng mỗi khi mùa lúa mới về. Hai mươi hai tuổi, ông già tôi đã giao cho cái máy suốt Bình Thủy, hễ lúa chín là tôi tha thủi một mình ngủ giữ máy giữa đồng khơi. Anh nhà văn không biết chớ, ngủ trên đồng buồn thê thiết lắm. Gió thì hiu hút, gió thổi rơm rạ tả tơi, trời sao vằng vặc, đất mênh mông. Đang thèm hơi người nên gặp được ai là thương, là quý ngay người ấy. Vì vậy mà tôi quý Sáng. Những lần cho vịt đi ăn xa, chạng vạng không về kịp, Sáng cũng hay cầm vịt giữa đồng, hai đứa tôi ôm rơm tụm lại nhóm lửa, đánh bài tiến lên, uống ít ly cho ấm người. Xong rồi ca khơi khơi vài câu vọng cổ. Tôi hay hỏi Sáng chuyện đồng bãi mùa màng này nọ, về những nơi mà anh đã đi qua. Sáng lớn hơn tôi chừng năm tuổi nhưng anh già dặn, chững chạc trầm lặng hơn tôi, hơn cả tuổi của anh nhiều. Ban ngày, anh hay lội lại, khi thì xoắn tay xách lúa tiếp, lúc cho máy ăn để chúng tôi lua vội bữa trưa, có khi giúp vác cái thùng suốt lội ròng rã mươi công đất gò. Tôi ngại lắm, nhưng Sáng chỉ cười, “Một mình cũng buồn, tôi phải kiếm một việc gì đó để làm để khỏi phải mơ biến thành vịt”.

Ai sống một mình cũng buồn hết, anh nhà văn à. Nhưng Sáng ngon hơn tôi nhiều, anh kể đã nuôi vịt chạy đồng bảy năm. Tính ra thì cỡ mười lăm, mười sáu tuổi anh đã dầu dãi giang hồ. Tôi ngẩn ngơ, “Sao ông hay vậy? Sống một mình? Tôi mà lúc cúc một mình trên đồng khơi thể nào cũng điên”. Sáng cười, nhiều người ở cạnh tôi lắm chớ. Ai đâu. Không có ở đây, nhưng tôi luôn nghĩ về họ. Tôi hỏi Sáng nghĩ tới ai. Sáng chỉ cười. Anh để ý coi, những người ít nói thì hay cười, không phải vì vui mà vì để khỏi trả lời. Rồi tự nhiên Sáng hỏi ngược lại rằng tôi đang nghĩ tới ai.

Tôi nói tôi nghĩ tới Xuyến, tên của vợ tôi bây giờ. Cùng xóm mà, thương lúc nào cũng không nhớ, có thể hồi mười bảy hay hai mươi hay chừng tám chín tuổi gì đó… Tôi nói thiệt, hồi thương cổ, tôi lội tới lội lui thiếu điều sạt bờ dừa nhà ông già vợ. Tới lúc chiêm bao cũng thấy Xuyến là đậm lắm rồi. Mà chiêm bao ngộ lắm, lặp đi lặp lại hoài cũng cái cảnh tôi nắm tay em Xuyến xuống bến, nhưng không có chiếc xuồng nào, chờ một hồi thấy có người bơi lại, không thấy rõ mặt (thường thì chiêm bao ít thấy rõ mặt người), chỉ thấy cái lưng hơi khom, vai bè bè… giống như Sáng vậy, tới đó rồi thôi, giấc mơ đứt đoạn. Tôi kể cho Sáng nghe, hơi hồ nghi “Sao trong câu chuyện của tôi và Xuyến lại có ông vậy ta?”. Sáng chỉ cười, cái cười làm tôi quên mau, chuyện chiêm bao mà.

Sáng cũng biết Xuyến, chỗ anh cầm vịt ngang với hậu vườn nhà Xuyến. Sáng hay qua nhà uống trà, nói chuyện mùa màng chơi với ông già vợ tôi. Có bữa anh nằm tâm sự, “Cứ mỗi lần cặp ghe vịt vô bến thấy thím Hai khum cái tay che nắng hỏi ai in thằng Sáng, thấy cô Xuyến chạy ra cửa nhoẻn cười thấy lòng vui như được trở về nhà”. Cũng nghe nhiều người thắc mắc, thằng Sáng chắc có gì với con Xuyến, chớ không sao năm nào cũng cầm vịt ngay trân chỗ đó, năm nào cũng mua cho Xuyến khi thì khúc vải, lúc là cây dù… nhưng tôi ỷ y, cũng biết bao nhiêu người lui tới nhà Xuyến rồi, thấy tôi mài miết còn chịu hổng nổi dạt ra. Sáng thì một năm ở đây chừng ba mươi bữa, tôi đâu có ngán. Với lại tôi tin Sáng lắm, chính anh biểu tôi chỗ đó được, bước tới đi. Tôi bước tới.

Bữa nay, anh nhà văn về gấp quá, nếu không thì lại nhà tôi chơi, cho biết mặt vợ tôi. Cổ đẹp, giỏi mà hiền lắm. Hiền nhưng làm toàn chuyện động trời. Tôi bị một lần, bây giờ đang ngủ nhiều lúc còn bàng hoàng thức dậy, ngồi coi có đúng người nằm cạnh mình là Xuyến không.

Có lần, Xuyến băng đồng tìm tôi, cổ khóc, đã lỡ thương người khác rồi, nên không thể làm đám cưới, không thể lấy tôi làm chồng. Không có đám cưới nào vào rằm tháng Chạp này.

Anh nhà văn không biết cảnh này đâu. Tôi ngồi chết lặng. Cay đắng, bỡ ngỡ, đau đớn, bàng hoàng không sao tả được. Có gì bằng vợ sắp cưới của mình lại hồi hôn. Tôi cứ ngồi lặng, đầu thì tăm tăm cái câu hỏi, “Vậy là sao?”

Đâu biết. Tôi hỏi Xuyến vậy chớ em đã thương ai. Xuyến trả lời, “Anh Sáng”. Tôi thuận miệng hỏi bừa “Sáng nào?”, Xuyến nhìn tôi, “Anh biết mà…”.

Sao lại là Sáng?

Sao lại là cái người mà mới hôm qua thôi tôi còn rủ anh ở lại dự đám cưới, còn nhờ anh làm chú rễ phụ cho bữa đó tôi đỡ run. Sao anh lại nhận lời, rồi bây giờ…?

Dưng không tôi mất đi hai con người mà mình thương yêu nhất, đau lòng vậy mà Xuyến còn thút thít, “Anh đừng giận anh Sáng mà hại ảnh, tại em hết, chớ ảnh có nói gì đâu”. Dường như Xuyến đọc được trong mắt tôi những tia hằn học. Nhưng mà tôi đâu có tử tế, cao thượng dữ vậy, tôi không giận Xuyến, thương quá, không thể giận, nhưng Sáng thì khác…

Mà, anh nhà văn nè, theo anh thì con vịt nó có sinh mạng không? Bà nội tôi nói cỏ cây cũng có sinh mạng vậy là đúng? Anh biết không, có lần vì nóng giận mà tôi hủy đi cả thảy một ngàn hai trăm mười bảy sinh mạng. Anh nhà văn sửng sốt hả, ghê quá phải hôn. Tôi lúc đó cũng vậy, cũng cảm giác như mình đang gây tội ác.

Tôi nhớ hoài cái cảnh mình đứng trong một buổi sáng đầy sương. Xung quanh tôi vịt nằm chết sắp lớp, không khí nồng nặc mùi thuốc trừ sâu. Tôi giở một con vịt lên, dưới đôi cánh nó là một quả trứng vỡ be bét, chắc nó đã từng giãy giụa, đau đớn lắm mới đập nát cả trứng của mình. Sáng đứng tần ngần trong quây lưới, hơi ngơ ngác, như trong lòng bị đổ vỡ cái gì đó quý giá lắm.

Nhưng không phải vì ngủ một đêm thức dậy đã trắng tay, cái cảnh người làm nghề nuôi vịt chạy đồng không lạ. Dường như Sáng xúc động, đau đớn vì những lời tôi nói, cái cây bị đốn thường không ngã về phía có ngàm búa, chắc Sáng cũng không ngờ rằng người bỏ thuốc vô mẻ lúa của bầy vịt là tôi, và vì Xuyến mà tôi làm việc đó.

- Nếu chuyện Xuyến thương tôi là thật, Sáng bảo, thì đó là chuyện buồn nhất đời tôi. Tôi không chờ đợi điều đó.

Tôi không tin. Có lẽ Sáng cũng biết tôi không tin, anh hỏi tôi có muốn nghe chuyện nhà anh không? Tôi bảo không, anh nhà văn biết, hoàn cảnh đó mà ngồi nghe chuyện gì nữa, nhưng Sáng cứ kể.

Sáng mồ côi cha từ mười tuổi, má anh cũng mất đã ba năm. Đó là người đàn bà sống hết đời không được mấy ngày vui, mấy ngày nhàn nhã. Cái xóm Rạch Giồng bé nhỏ này cũng đã giữ lại niềm vui nửa đời còn lại của má anh.

Sáng còn một người em gái (hồi trước anh hay đùa là sẽ gã em cho tôi). Nhưng hai anh em không ở chung nhà, cả một quãng dài không gặp, anh quên cả khuôn mặt của nó. Hôm cúng giáp năm má anh, bày dĩa vịt luộc phay với nải chuối chín lên bàn, lòng Sáng bất chợt cồn cào. Sáng quyết định về Rạch Giồng. Vì nhớ má và vì muốn gặp em.

Hôm gặp, em gái anh đi hái ổi cho một bầy em trai, em gái nhỏ. Nó giống má anh như tạc, giống từ vóc dáng đến cốt cách. Nhìn nó đứng chia ổi cho đám em mà thấy dịu dàng, nồng hậu biết bao.

Nhưng anh chỉ đứng xa xa nhìn. Như hồi còn mạnh giỏi, má Sáng hay xuôi ghe lại trước nhà, lén nhìn. Sáng hỏi sao không chạy lại nói cho nó biết. Má anh biểu, hồi xưa, má hứa là sẽ không trở lại. Sáng nói cần gì phải giữ lời. Má anh nghiêm mặt, “phải giữ chớ, làm người ai lại phản trắc”. Rồi má anh bảo, má nhớ em con thì buồn chút vậy, nhưng còn có thể nhìn nó lớn lên, còn không nhờ người ta, con nhỏ đâu còn.

Đó là đứa em mà Sáng mắc một món nợ lớn. Cái hồi nghèo không đồng xu cạo gió, không cục đất chọi chim, ba anh lại trốn quân dịch nên cả nhà Sáng bồng bế nhau xuống ghe trôi nổi làm mướn khắp nơi. Sáng còn bồng nèo nẹo bên nách thì má anh sinh em bé. Hoàn cảnh khó khăn, Sáng hồi đó ốm đói quặt quẹo, hay đau, mũi lúc nào cũng chảy nước chèm nhẹp. Em nhỏ lại bị sài đẹn, khóc ngằn khóc ngặt, không bú được. Không thể cứu một lúc cả hai, má anh buộc phải cho người ta đứa em gái nhỏ.

Nghe Sáng kể lờ mờ tôi nhận ra một sự thật. Là Xuyến. Không thể tin được, bàng hoàng quá phải không anh nhà văn. Giống như cải lương, ừ tuồng gì mà Vũ Linh đau khổ tới lăn ra đất vừa giãy vừa khóc đó, Hòn Vọng Phu, ờ, hơi giống Hòn Vọng Phu.

Vợ tôi hồi đó cũng khờ quá. Thương thầm Sáng mà không chịu nói thẳng, cứ nói xa nói gần. Hỏi Sáng sao không lấy vợ, anh trả lời, chờ cô Xuyến lấy chồng cái đã. Hỏi sao cứ mỗi lần về Rạch Giồng lại mua quà cho chi vậy, Sáng trả lời, tôi chẳng còn ai, cô Xuyến là người thân nhất. Thân nhất rồi mai mốt em có chồng, anh Sáng có buồn không, Sáng trả lời, Chuyện vui của cô mà, tôi nói buồn coi sao được, nhưng nói thiệt, tôi buồn, cô nhỏ đi rồi, đâu còn gặp nữa, năm tới tôi xuống buồn cho mà coi. Sáng trả lời thật lòng, nhưng cũng thật thận trọng từng chữ để khỏi phải hớ hênh, Xuyến thì cứ tưởng Sáng gửi tình vào trong ấy. Rồi một bữa Xuyến đi gom củi ngoài hậu vườn, gặp Sáng, Sáng bảo, anh cầm vịt ở đây hết mùa nầy rồi chắc lâu lắm mới quay trở lại. Hết mùa gặt nầy, anh sẽ rã bầy để mua cái gì có giá trị một chút làm quà cưới cho Xuyến, anh hứa sẽ ở lại đưa dâu qua tới nhà trai.

Những lời nói đó là Xuyến mủi lòng khủng khiếp, cô quyết định không lấy tôi. Xuyến nói tôi buồn còn nhiều người an ủi, nhưng Sáng buồn chỉ có một mình, tụi vịt tối ngày lạc cạc có biết gì đâu?

Nhưng sau cái hôm đàn vịt của Sáng lăn ra chết không còn một con, Sáng đã đi khỏi Rạch Giồng. Tôi đứng nhìn chiếc ghe khuất mất sau doi dừa nước lặng lẽ làm một cuộc tiễn đưa. Tối lại, Xuyến tuyệt vọng hỏi tôi sao Sáng đi mất tiêu mà không từ giã gì cổ hết? Tôi bảo không biết. Cứ mỗi lần có chiếc ghe bầu nào đi ngang qua, Xuyến lại chạy chấp chới theo triền sông tới khi chiếc ghe khuất dạng mới thôi. Nhớ lại cái cảnh đó, tới bây giờ tôi còn thương.

Không giống như chuyện Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sáng đã không còn con vịt nào để rứt lông để lại để tôi với Xuyến lần theo dấu. Vậy mới vất vả.

Anh nhà văn à, anh đi nhiều, nghe truyện, tôi chắc anh lăn lộn trong giới nuôi vịt chạy đồng dữ lắm. Nếu mai nầy anh còn tính đi tiếp, có gặp anh Sáng, nhắn giùm ảnh là vợ chồng tôi chờ ở Rạch Giồng. Hồi đó, Sáng đi là để cho vợ tôi nó khỏi đau đớn, bẽ bàng, để giữ lời hứa muôn năm với ông bà già vợ tôi. Nhưng bây giờ, hết thảy mọi người đều mong anh trở lại, thâm tình cũng như nước dưới sông, có chảy đi đâu, có chém vè ở đâu cũng hợp lại một dòng xuôi chảy mãi./.

Nguyễn Ngọc Tư
(7) Facebook


Quà Tết Trời Cho

Bảo Huân

Một hôm trong dịp dự tang lễ của một người chú họ tại nhà thờ trên đường Senter, lúc ra về ông Hai thấy phía bên kia đường có quán cà phê của người Việt Nam, ông ghé qua uống nước giải khát ngồi nghỉ mệt.

Lâu lắm rồi ông mới tới một quán cà phê kiểu Việt Nam như thế này, khách hàng toàn người Việt cười nói vui vẻ ồn ào, ông Hai chợt có cảm giác gì gần gũi thân thuộc, mà từ lâu ông đánh mất.

Ông Hai góa vợ mấy năm nay, 3 năm về trước vợ ông lâm bệnh nặng chỉ trong vòng 6 tháng thì qua đời. Ông suốt ngày lủi thủi một thân một mình, con gái ông thấy vậy nói ông dọn về ở chung cho đỡ hiu quạnh tuổi già. Nhưng con gái và con rể bận bịu công việc cả ngày, đi làm từ sáng tới chiều, hai đứa cháu ngoại thì đi học xa, lâu lâu mới về nhà một lần.

Buổi sáng ông đi đến phòng gym tập thể dục chừng một tiếng đồng hồ, về nhà tắm rửa ăn uống rồi mở tivi xem tin tức, nếu không thì mở iPad coi đủ thứ chuyện trên đó, thỉnh thoảng ra vườn sau nhà tưới cây làm cỏ coi như tập thể dục. Ngày nào cũng như ngày nấy, bạn bè thân thiết thì mỗi người một hoàn cảnh lại ở xa, lâu lâu hẹn nhau gặp mặt một lần.

Sáng nay ông Hai trở lại cái quán cà phê sân vườn hôm trước ông có lần ghé qua. Ông lựa bàn ngồi ngoài hàng hiên tránh khói thuốc lá bên trong. Ngồi bàn gần bên là một ông khách cũng cỡ tuổi ông đang hào hứng chơi vé số cạo, ông Hai thấy ông này có vẻ quen quen không nhớ là gặp ở đâu.

Có hai ông khách lớn tuổi bước vô quán ngó dáo dác nhìn quanh quay lại hỏi ông ta:

– Ông Hiền có thấy ông Tài tới chưa?

– Chưa.

Nghe vậy hai ông khách vội bước vào trong tìm bàn ngồi.

Người đàn ông này thấy ông Hai ngồi một mình nên mở lời làm quen:

– Anh mới tới quán này lần đầu?

– Lần thứ hai, hôm trước có tới một lần, nhưng tôi ít khi vô quán cà phê lắm.

Anh tên Hiền?

Ông bật cười nói ở đây ai cũng gọi tôi là “chú Hiền”, mà thật ra tên Hiền chỉ là tên giả.

– Tên giả?

– Lần đầu vô quán này, mấy cô tiếp viên không biết tôi tên gì, nói với bà chủ cái chú “hiền hiền” ngồi một mình uống cà phê đen đá. Mấy cô kêu tôi “chú Hiền” lâu ngày quen miệng chết danh cái tên Hiền, tôi thấy tên Hiền cũng tốt nên không đính chánh cứ để vậy nhận mình tên Hiền.

Ông khách lớn tuổi từ trong bước ra nói với ông Hiền:

– Ông Tài gọi phone nói chừng một tiếng nữa ổng mới tới, ông ở đây chờ đừng đi đâu.

– OK

Ông Hiền nói với ông Hai:

– Mấy ổng hẹn rủ chơi đánh bài xập xám, anh có biết chơi không.

– Biết, mà tôi ít khi chơi.

– Giờ còn thiếu một tay, anh chơi chút cho vui khi nào ông kia tới thì anh nghỉ.

Ông Hai bật cười nói OK cũng được.

Hôm nay ông cảm thấy vui vui, nhập bọn mấy ông già xóm nhà lá quán cà phê bình dân này chơi đánh bài.

Lúc rày buổi sáng sau khi tắm rửa ăn uống, ông Hai thường đến quán cà phê nhìn thiên hạ nói cười cho đỡ buồn, chớ ở nhà một mình chèo queo quanh năm suốt tháng rầu thúi ruột. Ông vừa quen một ông bạn già ở quán cà phê đó: “chú Hiền”. Chú Hiền nầy người cũng hiền lành nói năng nhỏ nhẹ, nhưng sở thích hai người thì khác nhau có thể nói là một trời một vực. Trong khi ông Hiền thích cờ bạc, cá độ football với lại mua vé số cạo thì ông Hai ngược lại chẳng dính vô thứ nào, không hề.

Đôi ba lần ông theo ông Hiền mua vé số cạo nhưng không thấy hứng thú nên thôi. Đến quán cà phê nói chuyện đời, chuyện thời sự với bạn bè, nếu không ngồi làm thinh nhìn thiên hạ cũng đủ vui rồi.

Thỉnh thoảng ông Hai rủ ông Hiền qua khu mua sắm của người Việt gần bên ăn trưa. Qua lại nhiều lần thân thiết, ông tình thật kể cho ông Hiền nghe trước kia ông là một sĩ quan trong quân đội VNCH. Ông và gia đình qua đây từ rất sớm, cố gắng làm ăn nên cũng có của ăn của để. Con cái ông học hành rất giỏi, đều là những người thành đạt, công danh lẫn sự nghiệp.

Ông nói vợ ông qua đời bất thình lình mấy năm về trước, ông về sống với gia đình đứa con gái, nhưng ban ngày mọi người đi vắng, ông ở nhà một mình buồn quá chẳng biết làm gì để giải sầu.

Ông Hiền bật cười nói tôi thì trái lại là một phiên bản trái ngược. Là một người thất bại, đúng hơn là một người không nên thân.

Tôi đi làm trong hãng điện tử lương ba cọc ba đồng, có bao nhiêu xài hết bấy nhiêu, lại có tật cờ bạc nên chẳng dành dụm được gì, sống tà tà ngày nào biết ngày đó.

Tôi sống buông thả một phần cũng vì không vợ không con, không có gì để lo, không ai cử nhử cằn nhằn nên muốn làm gì thì làm. Cờ bạc lâu ngày gỡ không ra tôi giờ như một con nghiện hết thuốc chữa.

Tôi sống với gia đình bà chị từ ngày qua Mỹ tới giờ, cũng đã hơn 30 năm rồi. Từ ngày nghỉ hưu, nhiều thì giờ trống trải, tôi hay ra quán cà phê la cà ở đó đôi khi tới chiều mới về.

Ông Hai cùng con cháu chuẩn bị đi Việt Nam chơi một tháng nhân dịp các cháu nghỉ hè. Ông hỏi ông Hiền đã bao lâu rồi chưa về Việt Nam, ông Hiền nói chưa lần nào. Ông trố mắt ngạc nhiên.

– Sao ông không về chơi thăm lại làng quê xứ sở?

Ông Hiền trả lời nửa đùa nửa thật:

– Tại vì tui không có tiền.

Ông Hai bật cười nghĩ ông bạn già nói giỡn chơi.

– Ông còn bà con thân nhân nào ở bên đó không? Trước kia ở Việt Nam ông ở đâu?

– Nhà cha mẹ tôi ở Sa Đéc, tôi còn ông anh lớn và bà chị ở bên đó, họ sống cùng con cháu đông lắm, căn nhà của cha mẹ tôi cũng còn giữ, không bán. Tôi về bên đó không lo chỗ ở.

Ông Hiền hỏi ông Hai:

– Chắc ông là dân Sài Gòn?

– Vâng, nhà cha mẹ tôi trước đây ở Phú Nhuận, nhưng giờ cha mẹ anh em đều qua đây hết, tôi về bên đó ở khách sạn cũng tiện.

Ông Hai mặt trầm ngâm đăm chiêu nghĩ ngợi. Ông hỏi ông Hiền:

– Ông qua đây bao lâu rồi? Có bao giờ ông nhớ về làng quê xứ sở? Có bao giờ ông nhớ lại những buồn vui cùng người thân và bạn bè nơi mình sinh ra và khôn lớn?

Ông Hiền nhìn về dãy núi xa xa ngoài kia, vẻ mặt buồn buồn, giọng nói buồn buồn.

– Tôi qua đây hơn 30 năm rồi. Trước đây lúc còn trẻ, lúc còn đi làm có tiền, có điều kiện, không hiểu sao tôi không nghĩ đến việc về Việt Nam thăm lại làng quê xứ sở, thăm bà con bạn bè thân thiết. Rồi tôi lại vướng vào hết đam mê này đến đam mê khác, tiền bạc có bao nhiêu nướng vào cuộc đỏ đen. Giờ tuổi già trắng tay, đôi lúc cô đơn hiu quạnh bỗng nhớ về làng xóm nơi mình đã sinh ra và lớn lên, nhớ một cách tha thiết, muốn về thăm lại chốn xưa một lần trước khi chết mà không có tiền.

Ông Hai nghe vậy chợt thấy cảm động, tội nghiệp cho ông bạn già mới vừa quen chưa được bao lâu.

Ngày hôm sau ông Hai gặp ông Hiền tại quán cà phê, ông nói con gái ông cho ông Hiền một vé đi Việt Nam cùng tiền xài một tháng.

Ông Hiền nghe qua có hơi bất ngờ.

– Chuyện gì về nhà ông cũng kể cho con gái nghe hết hả? Ông nói với con ông điều gì về tôi vậy hả ông bạn già.

Ông Hai bật cười giòn.

– Tôi không có nói xấu ông điều gì đâu, khi nghe con gái tôi có ý tặng ông một món quà đặc biệt, tôi đồng ý liền mà trong lòng cũng vui khi thấy con mình có lòng thương người, biết thông cảm, biết giúp đỡ người đang gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ông Hiền làm thinh không nói gì, đôi mắt nhìn xa xăm, gương mặt lộ vẻ xúc động.

– Tôi thật cảm động khi có người có nhã ý tặng mình vé máy bay về Việt Nam thăm lại làng quê xứ sở. Cảm ơn ông và con gái ông có lòng tốt giúp tôi, nhưng chắc tôi không dám nhận, nay tôi đã già, cuộc đời tôi mang ơn nhiều người quá, cuối đời tôi không muốn mang ơn ai nữa cả, làm sao mà trả.

Ông Hai nghe vậy thấy cảm động ứa nước mắt, trong lòng có chút xót thương ông bạn già mới vừa quen.

– Chuyện nhỏ thôi mà, chỉ là chút quà của cháu tặng ông, ông đừng nghĩ ơn nghĩa gì cả.

Mấy người chơi vé số cạo trong quán cà phê, thường vất bừa bãi mấy tờ vé số trật thay vì vất nó vào thùng rác. Ông Hiền thường lượm mấy tờ vé số đó đem vô máy dò lại cho chắc ăn. Có đôi khi ông nhặt được tờ vé số trúng mà người ta liệng bỏ, không nhiều lắm, vài ba đồng, vài ba chục, có lần được một trăm. Ông nói tiền bạc mà đi vụt vô thùng rác, phí của trời.

Thỉnh thoảng trong quán cũng có người mua vé số cạo trúng lớn, năm mười ngàn, đôi ba chục ngàn. Nhưng bởi một lẽ tế nhị nào đó, thay vì điền đơn đem đến sở xổ số lãnh thưởng, họ tìm người để bán lại tờ vé số đó lấy tiền mặt. Thường là theo tỷ lệ 6/4, nghĩa là họ bán tờ vé số trúng đó chỉ bằng 60% giá trị trúng thưởng.

Đầu tháng 12 xứ Mỹ rộn ràng mùa lễ hội, sáng thứ Bảy quán cà phê đông nghẹt không còn chỗ đậu xe, ông Hai bước vô quán tìm chỗ ngồi, ngó quanh mà không thấy ông Hiền. Chưa kịp uống hết ly cà phê, anh chàng thanh niên trẻ ngồi bàn gần bên trúng vé số cạo mừng rỡ nhảy cà tưng. Anh chàng cầm tờ vé số mà tay run run, miệng nói ái dà trúng lớn, trúng lớn lắm, mười ngàn đô. Anh chàng chắp tay xá xá miệng nói con cảm ơn ông Địa, con cảm ơn ông Thần tài.

Ông Hai nhanh trí kéo anh ta lại nói nhỏ, ông muốn làm một “hợp đồng âm dương” đôi bên cùng có lợi. Hai người âm thầm dẫn nhau ra nhà bank, ông Hai rút tiền đưa anh ta, ông mua lại tờ vé số trúng đó. Ông căn dặn anh chàng tuyệt đối không nói cho ai biết.

Mấy ngày sau lúc chia tay ông Hiền ở quán cà phê ra về, ông Hai nhẹ để tờ vé số trúng xuống đất chỗ ông Hiền đi qua, cẩn thận nhìn trước nhìn sau không cho ai thấy. Ông núp vào chỗ kín âm thầm theo dõi. Ông Hiền đi ngang thấy tờ vé số ai quăng dưới đất, như thường tình ông lượm lên coi dò lại, ông trố mắt kinh ngạc nhìn cho rõ, ông bỏ tờ vé số vào túi lên xe ra về.

Ông Hai nửa vui nửa hồi hộp, sợ ông Hiền không thấy mà quăng tờ vé số vô thùng rác.

Mấy ngày sau hai ông bạn già gặp nhau ở quán cà phê như thường lệ, ông Hai nói loanh quanh thăm dò coi ông bạn già có nói gì không, nhưng ông Hiền nín thinh không đá động gì đến việc mua vé số hay trúng số. Ông Hai mở lời:

– Tết gần đến, người ta đi Việt Nam quá trời, vé máy bay giờ dễ mua mà cũng rẻ, hổng ấy ông làm một chuyến về quê “ăn Tết”.

Ông Hiền miệng cười cười.

– Vấn đề đầu tiên là tiền đâu.

Ông Hai mỉm cười:

– Thì trời cho.

Cả hai ông bạn già cười khúc khích.

Ông Hiền vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ một điều gì khó nói, ông nhìn ra ngoài sân cắn móng tay nghĩ ngợi, ông nói với ông Hai:

– Tôi tuy mới quen biết ông mấy tháng nay, nhưng tôi thấy ông là người chân thành dễ mến, có lòng tốt, có lòng thương người. Mấy lần tôi thấy mấy người “homeless” vô quán xin thuốc lá ông đều cho họ tiền vì ông không hút thuốc, có một lần ông mua ly cà phê mới cho họ khi họ định lượm uống ly cà phê của ai bỏ dở.

Ông à, tôi nói thật cho ông biết điều này, mấy hôm trước lúc ra về tôi có lượm được một tờ vé số trúng của ai bỏ dưới đất. Nếu trúng ít thì không nói làm chi, không đáng kể, tôi cũng thường lượm được vé số trúng người ta bỏ, nhưng chỉ vài ba đồng, nhiều lắm là vài chục, đằng này trúng tới mười ngàn, một số tiền đâu có nhỏ. Tờ vé số lại cạo sạch sẽ, dễ nhìn, tôi nghĩ chắc có ai làm rớt.

Về nhà tôi cứ suy nghĩ hoài, nếu tôi âm thầm đem đi lãnh, trong lòng tôi sẽ cứ áy náy hoài năm này qua tháng nọ, mà tôi cũng sợ họ biết được sẽ kiện tôi ra tòa về tội ăn cắp.

Mấy ngày nay tôi chờ đợi nghe ngóng, coi có ai trong quán la lên là họ làm mất tờ vé số trúng, tôi sẽ trả lại cho họ. Họ cho tôi chút đỉnh là đủ vui rồi.

Ông Hai có chút ngạc nhiên khi nghe ông bạn già nói. Ông cảm mến ông này tuy nghèo chớ không tham. Ông nói với ông Hiền:

– Ông nói vậy cũng phải, mình chờ coi ai mất thì trả lại cho họ. Nhưng ông cẩn thận đừng nói cho ai biết là ông có lượm được tờ vé số trúng, sợ có đứa tham nhận bừa là vé số của nó làm rớt. Nếu không phải tờ vé số của nó mua, nó không thể biết là tờ vé số loại gì, màu gì, trúng con số mấy và trúng bao nhiêu tiền.

– OK, tôi sẽ chờ thêm một thời gian nữa xem sao, nếu không có ai báo mất tôi sẽ đi lãnh, coi như quà Tết, quà Tết trời cho.

Ông Hai mỉm cười gật gật đầu.

– Để tới hôm đó tôi sẽ chở ông tới sở xổ số điền đơn lãnh tiền, rồi tôi cũng chở ông ra văn phòng du lịch đặt vé máy bay, nhất định kỳ này về Việt Nam “ăn Tết” một chuyến nhe ông bạn già.

Ông Hiền vẻ mặt hân hoan vỗ vai ông Hai nói cảm ơn ông có lòng lo lắng cho tôi.

Hai ông bạn già cười giòn khoái chí, vui quá… vui như Tết.

Nguyễn Thạch Giang

Sunday, February 1, 2026

Ngày Tết Xưa Và Nay

 
Tết đến Xuân về lại gợi biết bao nỗi nhớ nhung về những tập tục truyền thống của những cái Tết nơi quê nhà, từ những cái Tết rất xưa cho đến cận 1975, từ làng quê cho đến thành thị. Trong hoàn cảnh ly hương, ăn Tết không trọn vẹn, hãy cùng nhau làm sống lại những truyền thống của những ngày Tết, ngày Xuân thơ mộng, như ý của thuở nào, đồng thời giải bày với nhau những bâng khuâng, vương vấn:

Thu đã qua và Đông, cũng sang
Lá bay chôn hết nắng tơ vàng,
Heo may khiến lạnh lỏng ly xứ,
Ôi biết xuân nào vui cố hương. Ái Trinh

Ta ngẩn ngơ, bắt chước Yên Lan nữ sĩ mà khẻ hỏi:

Quê tôi chốn cũ hẳn lên hoa
Cảnh có như người nhớ chốn xa
Ngõ trước vườn sau đành vắng vẻ
Nhà xưa lối cũ hẳn phôi pha.

Dù gì đi nữa, nơi xứ người làm sao có thể mừng Xuân, vui Tết được khi thiếu tất cả, thiếu cái hồn Việt Nam, thiếu tình non nước, thiếu hương vị quê hương, thiếu cả những người thân yêu:

Xuân lại về đây, Xuân đến đây
Mênh mang thương nhớ vóc mai gầy...

Trong cái phôi pha mờ nhạt đỏ, người Việt tha hương phải cam chịu những mất mát không gì đến bù lại được. Đành rằng ở đây, nếu bạn muốn cũng có áo gấm, mai đào, bánh chưng, giò lụa, pháo đỏ, rượu nồng. Nhưng chỉ là để thay thế tạm bợ, giả yờ như là thật. Chính điều đó làm chúng ta hâm hực và ngậm ngùi nhớ lại những mùa xuân xưa ngạt ngào hương vị và đậm đà ý nghĩa ngày Tết Nguyên Đán nơi quê nhà.

Có những mùa Xuân thật xa xưa và có những mùa Xuân không xa lắm trước năm 1975 còn như luẩn quẩn phảng phất đâu đây trong tâm trí chúng ta:

Xuân đã nở trên cành mai chớm nụ
Tết đã về theo tiếng pháo nhà bên
Gió giao mùa nhè nhẹ động chân rèm
Tình non nước lắng trong hồn vũ trụ. Lê Sử

Và nếu nói về một mùa Xuân xưa thật xưa thì phải nhắc đến bài thơ Tết Xưa:

Tết về nhớ bánh chưng xanh
Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà
Nhớ cành đào thắm đầy hoa
Nhớ giây phút đợi giao thừa trang nghiêm

Nhớ ngũ vị, nhờ che lam
Nhớ cây nêu, nhớ khánh vang, tiếng sành
Nhớ tam cúc Tết, nhớ mình
Nhớ cân mứt lạc, nhớ khoanh giò bì. Bàng Bá Lân

Và nhất là những cái Tết ở làng quê, nơi đầy ắp những phong tục cổ truyền dân tộc. Nói như thế không phải là khi xưa thành thi không ăn Tết, "Tết chẳng riêng ai khắp mọi nhà..." nhưng ở thành thị sống xa hoa sung sướng theo lối tây phương, dần dần cũng mất đi ít nhiều những tập tục dân gian ngày Tết, khác với thôn quê vẫn còn bảo tồn những gì tiêu biểu của ngày Tết tự ngàn xưa.

Người dân quê hồi xa xưa đó chuẩn bị ăn Tết thật chu đáo từ cả tháng trước ngày lập Xuân. Các phiên chợ tháng chạp bao giờ cũng động vui nhất, hàng mật, hàng đường, lá dong, hàng mã đủ màu ngồi từ ngoài cổng vào đến các gian hàng bán chậu kiểng, hoa tươi, tranh tứ quý, câu đối treo phất phơ đu đưa theo gió, bên các ô mứt ngũ sắc thật vui mắt. Vịt, gà, heo, thực phẩm tăng cương ê hề khỏi nói, ai nấy đều sắm sửa để vui chơi trong ba ngày Tết.

Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết
Kiết cú như ai cũng rượu chèTú Xương

Tan phiên chợ về là sửa soạn bàn thờ gia tiên, lư hương đỉnh đồng hạ xuống đánh cho sáng choang, năm mới cái gì cũng phải mới, bụi bậm năm cũ gột rửa cho sạch. Rồi chưng bày cho khéo mâm ngũ quả đồng thời không quên chung rượu cúc "vô tửu bất thành lễ".

Ngoài hàng hiên, kim quất hay mai đào được gia chủ tỉa thật khéo để nở rộ đúng ngày ăn Tết. Cái gì cũng bảo để ăn Tết, làm như quanh năm nghỉ ăn không bằng:

Nếp cái, nếp ngỗng để dành gói bánh chưng ăn Tết
Hành củ tím, dừa bánh tẻ để nén ăn Tết
Heo vô cho béo để Tết đánh bụng
Xấp tơ tằm vàng óng để dành may đồ Tết cho trẻ.

Người dân quê Việt Nam là như vậy, họ ăn Tết với tất cả tâm hồn. Tết như là một cái mốc thời gian để làm mới lại cuộc sống, một sự xúc cảm tuyệt vời hòa điệu với đất trời từ chân tơ kẻ tóc.

Mấy ngày giáp Tết, đầu thôn ngoài ngõ gọi nhau ơi ới. Họ giúp nhau gói bánh chưng, bánh tét, họ rủ nhau giết heo mổ gà, làm giò, mọc. Họ như ăn Tết với nhau, tạm gát bỏ những giận hờn thù vặt, xích lại bên nhau ăn Tết đã. Người nào việc nấy, người có chức phận ra đình, chùa làng đốc thúc quét vội, sơn cột, tô lại hoành phi câu đối, cắm cờ ngũ hành, dựng nêu ăn Tết. Kẻ có công nợ lo đi đòi vào ngày cuối năm. Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, những hàn sĩ của chúng ta từng không may gặp cảnh công nợ réo tít mù, ngày 30 Tết đã phải ra câu đối rằng:

Chiều ba mươi, công nợ hỏi tít mù,
co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu chè say túy lúy,
giờ tay bồng ông phúc vào nhàNguyễn Công Trứ

Hoặc nói một cách nửa thanh nửa tục như nữ sĩ Hồ Xuân Hưong thì có hai câu đối Tết sau đây:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn,
nich chặt lai kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa,
mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào.

Chiều ba mươi Tết, nhà nhà sửa soạn đón ông bà, bàn thờ nghị ngút trầm hương, đèn nến sáng choang. Đêm 30, trẻ em con nhà nghèo họp nhau đi chúc Tết, "súc sắc súc sẻ" để được tiến lì xì. Giờ phút thiêng liêng nhất là giao thừa, pháo nổ ran, chuộng chùa và nhà thơ đổ dồn nghênh tân tổng cựu.

Người ta chọn hướng xuất hành đi lễ nửa đêm, lễ Phật, lễ Thổ công, Thổ thần, đi hái lộc đầu năm, đi xông đất, chúc lành cho nhau. Đất trời, cây cỏ, hoa lá vạn vật và lòng người bừng dậy một sức sống mới, sáng ngời thông cảm trước thềm năm mới. Đây cũng là dịp để nghỉ ngơi, tu bổ lại cuộc sống và nghĩ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ, họ hàng, bạn bè thân bằng quyến thuộc :

Mồng một ăn Tết ở nhà hoặc Mồng một thì ở nhà cha
Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy.

Hay:

Mồng một thì Tết mẹ cha
Mồng hai Tết chú, mồng ba Tết thầy.

Đối diện với một mùa xuân mới tinh, người ta còn có tục kiêng đủ thứ: kiêng không quét nhà những ngày đầu năm, kiêng cáu gắt và ăn nói lăng nhăng, kiêng để bụng đói, kiêng làm vỡ chén bát v.v... Những tập tục dễ thương ấy có khi hơi lẩn thẩn nhưng đã làm cho những kẻ xa nhà nhiều khi có hơi dị đoan cũng vẫn tuân theo.

Cũng một mùa Xuân xưa, nhưng không xưa lắm và làm chúng ta nhớ nhiều hơn nửa là mùa Xuân của những năm trước 1975. Phần nào những mùa Xuân ấy gần gũi chúng ta hơn, nhất là chúng ta đã hoà mình vào đó bao năm. Mùa Xuân miền Nam tươi đẹp ấy trải rộng trước ngày mất nước từ thành phố Sài Gòn lộng lẫy lan tới các tiền đồn hẻo lánh. Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trong tiếng nhạc Xuân rộn ràng "ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi..." .

Các chợ Xuân tưng bừng khắp nơi: chợ Tân Định, Bình Tây, Cầu Ông Lãnh, Bà Chiểu và nhất là chợ Bến Thành mở rộng cả bốn mặt, các ô hàng tuần tự mọc lên bao vây cả bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Xe từ đầu đường Phan chu Trinh và Lê thánh Tôn bị chặn không cho đổ vào phía trong chợ và công trưởng Quách thi Trang. Bánh mứt, trái cây, áo quần bày bán ê hề cho thấy rõ một xã hội có ăn có mặc, không phải nghèo đói cùng cực như ở miền Bắc, dù chiến tranh vẫn đang rình rập và vẫn nghe vắng vẳng tiếng súng đạn trong đêm ở xa xa "chào Xuân đến súng xa vang rền...". Những gia đình nghèo cũng có dịp đi mua sắm quần áo cho con cái tí chút, vừa có chút gì gọi là Tết nhất, vừa có dịp la cà ngắm thiên hạ ăn Tết. Hàng hóa bày bán la liệt bên vỉa hè, những quày bán kem đánh răng Hynos, Perlon, mứt, rượu ngọt, khô nai, khô cá thiều đều có các người đẹp mặc áo dài đồng màu trình diện và rao hàng khá hấp dẫn. Ôi thôi chợ Tết, đông vui và nóng nực chen chân đi không nổi mà ai ai cũng thích đi xem. Nhiều lúc tưởng là "đi xem lựng" thì đúng hơn. Hàng bán nước giải khát rau má, nước mía được chiếu cố khá đông, ly nước mía vừa ép ngọt lim thơm mùi quất vắt làm cho tỉnh người, khoan khoái đi viếng tiếp khu chợ hoa đường Nguyên Huệ. Khu chợ này đẹp nhất là về đêm khi thành phố đã lên đèn. Đủ mọi thứ hoa lung linh muôn màu từ Đà Lạt và khắp các tỉnh đưa về: Thủy tiên, Thuợc dược, Hải đường, Lan, Mai, Trúc, Đào, quất nở vừa độ đương xuân. Cũng nơi này không hẹn mà gặp bao nhiêu tài tử giai nhân dập dìu nên duyên giai ngẫu.

Ở Chợ Bà Chiểu và Cầu Ông Lãnh trái cây, dưa hấu bày bản cả rừng đỏ ối. Riêng báo Xuân, lịch và thiệp Tết thì tập trung ở đường Lê Lợi, tới đó tha hồ chọn cho vừa ý. Việc làm báo Xuân là một tục lệ đẹp cống hiến món ăn tinh thần cho ngày Xuân thêm ý nghĩa đậm đà.

Không khí Tết tràn ngập thành phố một phần nhờ các cây mùa xuân được tổ chức khắp nơi: cây mùa Xuân cho trẻ mồ côi, cho quân y viện Cộng Hòa, các trường học và cả cây mùa Xuân chiến sĩ. Trong mỗi gia đình, các cha mẹ cũng ít nhiều lo làm bánh mứt để ăn và đi sêu Tết, bánh chưng có nhà làm lấy, có nhà đi mua. Nếu có chỗ nấu bánh thi thường là các bà mẹ thich gói bánh ăn Tết. Đêm đông lạnh cả nhà quây quần quanh nồi bánh chưng tán dóc hoặc kể chuyện kỷ niệm từ năm nào, ấm cúng và thú vị nào bằng! Những kỷ niệm quanh bếp lửa như vậy có bao giờ phai nhòa trong lòng nguời.

Đã bao khách giang hồ, bôn ba suốt năm, rày đây mai đó vì chí hướng, vì sự nghiệp, vì công việc làm ăn mà đến lúc chợt nhớ đến ngày giờ cuối năm cũng vội tất tả đáp chuyến tàu chót về sum họp với gia đình bên nồi bánh chưng. Những vui buồn ấm lạnh nương theo khói bếp tỏa ra thấm vào lòng người trong cái giờ phút thiêng liêng dứt năm cũ sang năm mới.

Ngoài sân buổi sớm có nắng hanh vàng đọng trên những mẹt củ cải, cà rốt, bí phơi khô để làm mứt hay dưa món, dưa hành, kim chi v.v... Ý Xuân chan hoà trong nắng reo vui, ong bướm dập dồn, muôn hoa nở rộ. Tỉnh Xuân len lén đến nhẹ nhàng "Xuân vừa về trên bãi cỏ non..." như một Nguyễn Bính dịu dàng tâm sự bên tai:

Đã thấy Xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiện hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.

Mùa Xuân ấy còn đến thật sớm nơi nhà trường. Thầy trò mỗi lớp lo làm báo Xuân dán tường, tờ báo nào cũng vẽ một cành mai to tướng bên phong pháo đỏ hồng. Từ 23 tháng chạp là Tết ở trường học rộn rã vì làm văn nghệ mừng Xuân và ăn Tất niên.

Một tục lê nữa không bao giờ quên của nhà trường cuối năm là đốc thúc học sinh viết thư ủy lạo các chiến sĩ ngoài tiền tuyến, thật là ý nhị với hoàn cảnh đất nước trong thời chiến tranh.

Những người chiến sĩ, lúc mà mọi người đang vui cảnh đoàn tụ gia đình trong ba ngày Tết, thì vẫn phải dầm mưa dãi nắng nơi rừng sâu núi thẩm, không thể nào về dù biết "mẹ chờ, em trông để quây quần bên bếp lửa hồng". Trong nỗi cô đơn xa nhà, xa gia đình, phải "đón giao thừa một phiên gác đêm..." nơi tiền đồn hẻo lánh, họ vẫn thường thầm mơ ước:

Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Mà ước chiếc bánh ngày Xuân
Cùng hương khói vương niềm thuơng...

và nhiều khi cũng không ngăn được nỗi sầu, thầm trách:

Chốn biên thùy này Xuân tới chi?
Nếu Xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi,
Thì đừng đến Xuân ơi! Nguyễn Văn Đông

Những kỷ niệm êm đềm của những ngày Tết theo thời gian không còn nữa. Những năm sau ngày quân Bắc công chiếm đóng miền Nam, người dân nghèo thì không ăn Tết, hết cả cúng bái. Chùa chiền, Lăng Ông Bà Chiểu cũng thưa vắng bớt người đến lễ đầu năm và xin xâm cho năm mới. Những người còn có thể sửa soạn mâm cơm cúng ông bà thì phải hết sức chật vật, thắt lưng buộc bụng. Nhạc Xuân, theo việt cộng là ủy mị, phản động nên bị cấm triệt để, thay thế vào đó toàn là một loại bài hát đằng đằng sát khí, đỏ ôi là đỏ, nghe mà chói tai, lợm giọng nhất là vào dịp Xuân về tình tư. Lúc ấy bà con miền Nam mới thấy thiếu "ly rượu mừng", thiếu tiếng hát Thái Thanh là thiếu tất cả một mùa Xuân. Ngày Tết mất hết cả ý nghĩa, phong tục vui và lần vào quên lãng.

Nơi xứ người, mỗi lần Tết đến lại gợi lên biết bao kỷ niệm thân yêu nay đã mất, chỉ còn những luyến nhớ, tiếc thương của một thời vàng son, nhung gấm. Không ai còn nao nức mừng Xuân, đón Tết trong nỗi ngang trái, bẽ bàng:

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi Xuân đến gợi thêm sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đauChế Lan Viên

Vì bận bịu làm ăn, nhiều khi không dám lấy ngày nghỉ, chúng ta không còn có chút thì giờ nghĩ đến việc mua cái bánh chưng, cân mứt bí sêu Tết cho nhau theo tập tục Việt Nam. Trời Âu Mỹ tiết đông rét buốt, có đâu mà nghĩ đến chuyện diện chiếc áo dài truyền thống có mà co ro, run lập cập chết. Có nơi cũng tổ chức Tết văn nghệ mừng Xuân, nhạc hội rình rang nhưng vẫn thấy trống vắng trong lòng, vẫn mong muốn kéo ngược dòng thời gian để sống lại những giây phút tuy mộc mạc nhưng tình tự nơi quê hương ngày nào.

Cũng mứt bánh, cũng rượu nồng, hương khói
Cũng tiệc tùng nhạc hội kém chi đâu
Nhưng lòng ta day dứt nỗi niềm đau
Vì đã mất những gì sao kiếm được

Thời gian hởi có nghe xin dừng bước
Đưa ta về tìm mộng ước xa xưa
Dù quê hương nắng sớm lẫn chiều mưa
Ta vẫn thấy nặng tình dưa với muối. NdP

Khí hậu lạnh lẻo và cây cối trợ trụi như bộ xương khô, những cây mai đào trước nhà vẫn chưa đơm bông trổ nụ, thì làm sao đem lại được cái cảm giác "Ngày thắm tươi bên đời Xuân mới...". Còn đâu cảnh quây quần đầm ấm của đại gia đình vào cái giờ phút giao thừa thiêng liêng, bên bàn thờ gia tiên trầm hương nghi ngút và trong tiếng pháo nổ vang.

Không gian đã cách biệt, thời gian cũng vôi vã, ngày Tết đến không đúng vào thời điểm đối với những người ly xứ. Chúng ta ăn Tết tạm vào một cuối tuần nào đó, có khi thờ ơ cả việc đưa đón Táo quân và ông bà. Quơ quơ quào quào dựng bàn thờ và dọn một mâm cỗ Tết, rồi vội vàng thu dẹp nhà cửa để sớm mai trẻ con còn đi học và người lớn phải đi làm.

Tết đến thật ư, Tết gì đây?
Xuân đâu chẳng thấy, tuyết rơi đầy
Mai đào trước ngõ chưa đơm nụ
Pháo đỏ bên thềm vắng xác bayNdP

Cảnh trong vườn trước nhà tuyết rơi đầy và mai đào chưa nở vào dịp gần ngày Tết ở những nước thuộc vùng Bắc bán cầu.

Thôi thì đối đế ta cùng nhau ăn Tết trong tâm hồn, thương nhớ nhưng không yếu mềm, đó cũng là một bản chất của người Việt. Chúng ta cảm nhận những thiệt thòi, thờ ơ của hiện tại và cố giữ lấy ngày Tết biểu hiện cho côi nguồn của dân tộc.

Tạm dừng chân trên quãng đường mưa gió,
Rủ phong sương vui đón lấy ngày Xuân
Đừng bi quan hờ hững với Đông quan,
Hãy vui sống nhìn tương lai vui sống
Nước non còn, sông núi sẽ vinh quang
Ngày Xuân mới, giang sơn ta đổi mớiÁi Lan

Và cũng cầu chúc và hy vọng sẽ có một mùa Xuân chiến thắng mà người Việt khắp năm châu quy tụ về ẩn Tết giữa lòng đất Mẹ:

Khứ tuế, Xuân quy, sầu cửu biệt,
Kim niên, Xuân đáo, khánh tương phùng. Tản Đà

hoặc là:

Chúc cho non sông được thái bình
Những ngày Tết đến hết điêu linh
Gia đình đoàn tụ, vui sum hợp
Hải ngoại hồi hương trọn nghĩa tìnhNdP

Nguyễn Duy Phước (NdP)


Blog Archive