Monday, October 12, 2026

CHO CÒN KHÔNG THÈM

Hồi nhỏ khi còn ở Việt Nam tôi rất thích ăn cam, táo, đào, lê, nho..v..v..mỗi lần đi ngang qua hàng trái cây mùi thơm phứt tỏa ra làm cho bụng thấy cồn cào muốn ăn lắm nhưng toàn món xa xỉ mắc tiền nhà nghèo làm sao mà ăn được. Thèm rỏ dãi chỉ ao ước trong lòng mà thôi.

Thế mà thấm thoát đã 51 năm trôi qua tôi đã ở Mỹ. Khi đến Mỹ tôi luôn ao ước có một căn nhà, một cái vườn để trồng trái cây. Thượng đế không phụ lòng người. Giờ đây tôi đã có một cái vườn với đủ loại trái cây. Tôi sống ở xứ lạnh nên không trồng được những trái cây nhiệt đới như ở Việt Nam. Mà chỉ trồng được những trái cây này mà thôi.

Mỗi mùa hè chỉ vỏn vẹn có bốn tháng thôi nhưng cũng đủ những cây ăn trái ra hoa đậu quả. Năm nào cũng vậy trái cây chín rụng đầy sân tha hồ cho chim sóc thỏ sơi. Loài thú cũng có cuộc sống của tụi nó. Mỗi sáng ngồi nhâm nhi ly cà phê nghe tiếng chim hót, nhìn đàn sóc đuổi bắt nhau như những đứa trẻ đang vui đùa cũng thú vị. Năm nào cũng vậy những trái cây rụng dưới đất chúng công về cất trong tổ sữa sọan cho một mùa đông dài. Hồi đó tôi chưa biết nên ngày nào cũng ra hốt những trái cây dưới đất để bỏ thùng rác, nhưng từ ngày tôi khám phá ra mỗi dịp vào mùa thu sắp sữa đến mùa đông là những trái cây rụng dưới đất biến đi đâu hêt. về sau tôi để ý mới biết sóc, thỏ công về tổ để dự trữ cho mùa đông dài lạnh giá.

Hồi đó ở Việt Nam những trái cây này tỏa ra mùi thơm phứt nhưng bây giờ không còn hửi thấy mùi vị đó nữa, chắc có lẽ nhiều quá ngày nào mình cũng hửi mùi trái cây nên quen rồi không còn cảm thấy như hồi xưa nữa.

Mỗi mùa hè trái cây nhiều quá rụng đầy sân cũng thấy tiếc mang đến sở làm cho cũng chẳng ai thèm ăn. Anh em thì ai cũng trồng, hàng xóm mang đến mời cũng chỉ có vài người lấy cho có lệ.

Cuộc đời có nhiều thứ quá dư không ai thèm ăn, nhưng lại có nhiều nơi trên thế giới không có để mà ăn. Bên Mỹ đồ ăn quá dư giã, từ thịt cá, bánh kẹo, trái cây vô số. Mỗi ngày không biết bao nhiêu là đồ ăn dư thừa vứt thùng rác. Cuộc sống bên này kể cả loài vật cũng sướng vì chẳng ai ăn thịt chúng nên trong thành phố thỏ với sóc chạy tung tăng như chỗ không người. Vịt và ngỗng xếp hàng đi qua đường xe cộ phải ngừng lại đợi cho chúng từ..từ..đi qua rồi mới đi được. Bên này mà giết loài vật là bị phạt hơi nặng đấy, nhưng cũng chẳng ai thèm ăn chúng cả vì thịt thà bên này quá nhiều ai cũng có thể mua ăn được, đâu thiếu thốn gì mà ăn mấy con đó.

Đôi khi nhìn những trái cây chín rụng cũng thấy tiếc nhưng biết làm sao? Đôi khi mình tự nghĩ trồng cây ăn trái người không ăn hết nhưng cũng cho những con thú được no bụng cũng cảm thấy vui, vì dù sao những con thú đó không bao giờ chê. Không những thế chúng còn làm sạch vườn cho mình khỏi mất công dọn dẹp.

Dung Dinh



SỐ MỆNH

Bình Ca

Mấy hôm nay nghe tin Dương Tự Trọng chết. Tôi chưa từng gặp Trọng. Thông tin tôi nghe về anh cũng chỉ qua báo chí và mạng xã hội, nhưng số phận của Trọng và những người anh em của mình khiến tôi nhớ tới một câu chuyện đã xảy ra từ 50 năm trước.

Đó là câu chuyện về nhân vật Quang Anh trong QKNĐ.

“Một ngày mùa thu. Sẩm tối, có một thằng bé trắng trẻo, mặc bộ quần áo bò khá mốt, nhập phòng. Thằng này lập tức bị thu sạch các vật dụng mang theo cùng một trận đòn phủ đầu khá tàn bạo, tiếp đó là màn chui háng các anh. Thằng bé không chịu, nên bị nện tới nơi tới chốn. Trong phòng giam lúc đó, Quang Anh được xếp vào hàng đại ca. Nhìn cậu nhóc mặt non choẹt, máu mũi ròng ròng, nhớ lại lần đầu mình chân ướt chân ráo vào đây, Quang Anh động lòng trắc ẩn. Nó hạ lệnh cho bọn kia không đánh nữa và gọi Lê Trung Linh đến hỏi han.

Ở Quang Anh có một điều rất đặc biệt, nó lúc nào nói năng cũng từ tốn, nhẹ nhàng, giọng ấm áp, khiến người đối diện thấy gần gũi. Lê Trung Linh là đứa cương cường, nhưng nói chuyện một lúc với Quang Anh, đã cảm thấy tin cậy. Hai anh em hợp tính nhau, hay tâm sự. Có một câu chuyện của Lê Trung Linh làm Quang Anh ám ảnh mãi về sau. Đó là câu chuyện về số mệnh, cho dù Quang Anh hoàn toàn không tin vào số.

Lê Trung Linh sinh ra trong một gia đình có thế lực. Nó được bố thu xếp cho sang Cộng hòa dân chủ Đức lao động. Trong một lần Linh ngồi uống bia với bạn, nghe mấy thanh niên người Đức nói xấu người Việt, Linh nóng mắt chửi lại. Hai bên xô xát. Bị bốn thằng to lớn hơn hẳn quây đánh, Linh chộp lấy con dao ăn trên bàn và đâm. Nó chỉ đâm một nhát nhưng thằng kia chết. Cảnh sát Đức bắt Linh. Nhờ sự can thiệp tích cực của Đại sứ quán Việt Nam, nó được di lý về nước.

Nhà Linh không ở Hà Nội, nhưng bố nó là sếp lớn trong ngành, nên quen biết nhiều, và liên tục gửi quà cho con. Nhờ có Quang Anh, số quà đó không bị trấn lột. Linh biết án của mình kiểu gì cũng phải ngồi tù, vì đâm chết người, lại có yếu tố nước ngoài. Bố nó là ông giời cũng không “chạy” được. Linh không sợ tù, nhưng điều nó băn khoăn nhất là trước hôm sang Đức, nó đi xem bói, thầy phán: “Dòng họ nhà này danh gia vọng tộc, con cái thành đạt, tiền của như nước, nhưng cả ba anh em trai đều có chữ “phạm”, trong đó có một án tử”. Linh rất lo, vì người ta nói ông thầy này đoán linh lắm. Nó tâm sự với Quang Anh, mong vụ này mình lĩnh án tử hình. Như thế, hai anh trai nó sau này sẽ được bình yên. Quang Anh cười, vỗ vai nó, nói đừng tin thầy bói nói nhảm. Ở đời làm gì có chuyện số má. Con người, nếu kiên cường chiến đấu, sẽ vượt lên số mệnh.

Quang Anh còn lấy mình ra làm ví dụ:
- Như tao đây, nếu sợ chết không dám đánh, đã phải làm thằng đổ bô cho chúng nó từ lâu rồi. Mình nhỏ con, nhà nghèo, không có thế lực, theo lẽ trời, vào tù sẽ phải làm tôi tớ thằng khác. Nhưng tao không chấp nhận số phận, nên tao mới làm đại ca. Số mình là do tự mình quyết định em ạ.

Linh phản đối:
- Anh nói con người quyết định được số mệnh, sao anh không quyết trở thành một người tài giỏi, giàu có ngoài đời, lại quyết vào tù để thành đại ca? Anh không bao giờ muốn vào tù, đúng không? Nhưng số anh là số đi tù, nên anh phải vào đây. Cái vươn lên của anh dù có cao tới mấy, cũng chỉ dừng ở mức không để ai dám bắt nạt anh trong tù.

Quang Anh thở dài:
- Cũng do hoàn cảnh xô đẩy hết mày ạ. Nhưng nếu hai anh của mày không làm điều gì sai, sao lại phải vào tù? Còn nếu các anh của mày vi phạm pháp luật, thì đương nhiên phải tù. Người nào như vậy cũng tù hết. Cái đấy là do mình làm mình chịu, sao lại đổ cho trời?

Linh cãi:
- Anh nói thế nào ấy chứ, thiếu mẹ gì thằng vi phạm pháp luật mà vẫn sống nhởn nhơ ở ngoài kia? Đi tù là do số anh ạ. Như em chẳng hạn, bản chất hiền lành, tử tế, không bao giờ đánh ai. Thế rồi một buổi chiều bạn bè rủ đi uống mấy cốc bia... Nhoằng một cái, biến thành thằng giết người. Chẳng phải số là gì? Mà số này, “thầy” đã phán trước cả năm... Nói thật với anh, trước khi xảy ra chuyện, em cũng không tin “thầy”. Mình là con nhà cán bộ, có thằng nào tin chuyện mê tín dị đoan. Em không bao giờ tưởng tượng ra cảnh em phải vào tù. Nhưng giờ em tin. Em sợ hai anh của em sau này cũng gặp vận rủi. Anh xem án em có phải tử hình không? Nếu chưa đủ, em sẽ gây thêm một vụ nữa. Em tình nguyện gánh hết vận hạn cho hai anh của em.

Thấy Linh nói gở, Quang Anh mắng át nó:
- Thằng ngu, đừng nói nhảm. Tội mày kiểu gì cũng có án. Nhưng do mày bị kích động, bị đánh nên tự vệ, giết người không chủ ý. Mày lại có bố làm to, tao đoán cũng chỉ năm đến mười năm là cùng... Sau còn ân xá nữa, cũng chẳng mấy. Thôi, cố gắng mà chịu đựng. Mọi chuyện rồi cũng sẽ qua. Đừng nghĩ quẩn.

Mặc dù dạy dỗ Lê Trung Linh như thế, nhưng Quang Anh cũng cảm thấy băn khoăn. Từ nhỏ, bố mẹ, các chú các bác trong khu tập thể, cùng với nhà trường vẫn dạy nó không được tin vào thần linh, thầy số và những trò mê tín dị đoan. Tất cả chỉ là may rủi và bản lĩnh con người. Mẹ kiếp, nếu ngày đó xe đạp của Bích không hỏng, nếu Bích không tình cờ nhờ thằng Hùng chở tới trường Xã Đàn, nếu khi chạy thằng Hùng không đánh rơi cặp, chắc gì công an đã lần ra chúng nó...? Nếu vào đây nó không liều mạng chiến đấu, nó làm gì có cuộc sống đầy đủ trong tù như hôm nay?

Linh ra tù sau Quang Anh hai năm. Nó mất trong một tai nạn giao thông. Sau ba mươi năm, Quang Anh đã dần lãng quên câu chuyện về Linh thì một hôm vô tình đọc báo thấy nói tới một người anh trai của Linh bị truy nã. Ít bữa sau, nó nghe trên ti vi, thấy anh lớn của Linh bị tuyên án tử hình. Anh thứ hai của Linh cũng dính vào vòng lao lý.

Chả nhẽ cuộc đời có số mệnh?”\


Sunday, October 11, 2026

Lăng Ba Đình

Lăng Ba Đình, tên chính thức là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngồi chềnh ềnh ở phía tây quảng trường Ba Đình. Khối đá hoa cương xám ấy cao 21,6 mét, mỗi cạnh 41,2 mét. Người học phong thủy đứng trước nó thường chột dạ, và lý do chẳng dính dáng gì tới vẻ trang nghiêm.

Ngôi lăng phạm phép xưa ở ba chỗ: đất đặt lăng, dáng lăng, và cái thi hài nằm bên trong. Bài này xét ngôi lăng theo phong thủy và theo lề lối tang ma của người Việt.

Đất Ba Đình
Quảng trường Ba Đình nằm sát hoàng thành Thăng Long cũ, vùng đất các triều Lý, Trần, Lê từng dựng cung điện. Người xem phong thủy coi chỗ này là trung cung của long mạch Thăng Long, nơi khí từ sông Hồng, sông Tô Lịch và Hồ Tây hội về.

Năm 1010, Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô ra thành Đại La, vì đất ấy có thế "rồng cuộn hổ ngồi". Theo phép phong thủy, dựng gì trên một đất như thế cũng phải thuận khí, nghĩa là để khí đi cho thông, không chặn, không đè.

Năm 1973, ngay trên vùng đất ấy, người ta khởi công khối bê tông cốt thép nặng hàng ngàn tấn, đặc kín, không một ô cửa sổ. Tháng 8 năm 1975 lăng khánh thành. Từ đó nó ngồi trên huyệt Thăng Long như một tảng đá đè lên ngực người đang thở.

Đặt một vật nặng, đặc, kín lên huyệt, nhà phong thủy gọi là trấn yểm. Tương truyền hơn một ngàn một trăm năm trước, Cao Biền đã yểm đất này: đóng cọc sắt, chôn bùa, đè đá lên các huyệt cho đất khỏi sinh người tài, rồi cũng không yểm nổi. Cao Biền chỉ có cọc với bùa. Lăng thì có hầm ngầm, móng sâu, bê tông đổ dày hàng mét.

Chọn đúng chỗ ấy là tình cờ hay cố ý? Một chính quyền vô thần, không tin phong thủy, có thể chỉ vô tình đặt lăng lên huyệt. Cũng có thể trong số cố vấn Liên Xô, Trung Quốc có người biết chuyện và cố tình chọn huyệt mà yểm.

Người viết không có giấy tờ gì để trả lời câu ấy. Phong thủy thì không hỏi tới ý định: đá đã đặt lên huyệt thì huyệt phải mang, người đặt tin hay không tin cũng thế.

Cái hộp đá xám
Nhìn từ xa, lăng là một khối hộp xám đặt trên bệ thấp, mặt tiền có hàng cột vuông. Lăng không có mái cong, cũng chẳng có rồng phượng hay hoa văn gì của nhà cửa người Việt. Mỗi lần nhìn, người viết lại nhớ tới mấy nhà tắm công cộng thời La Mã, cũng khối nặng cột vuông, cũng mặt đá lạnh lẽo, chỉ nhỏ hơn.

Giống hơn nữa là lăng Lenin ở Quảng trường Đỏ. Giống là phải, vì lăng Ba Đình lấy mẫu từ lăng Lenin, do kiến trúc sư Liên Xô Garol Isakovich thiết kế.

Đẹp xấu là chuyện con mắt, cãi mãi không xong. Điều đáng bàn là một ngôi mộ dựng giữa Thăng Long, ngay trên long mạch, mà không mượn của đất này một nét nào. Nó như một bộ phận khác nhóm máu bị ghép vào cơ thể đang sống của kinh đô.

Nhà phong thủy xét một công trình qua mấy chữ quen thuộc: thuận khí, tụ khí, sinh khí. Muốn thuận khí thì phải có lối cho khí đi, mà khối bê tông này kín bung, không cửa sổ, không gió trời. Bên trong, máy lạnh chạy suốt ngày đêm, khí trời bị thay bằng khí máy, phép xưa gọi là nghịch khí.

Tụ khí là giữ cho khí dừng lại. Mái đình Việt cong vút ở bốn góc, hứng khí trời rồi uốn vào trong. Lăng chỉ có mặt phẳng với góc vuông, không mái cong, không hiên, nên khí chạm tường là dội ra.

Sinh khí cần cây với nước. Thân lăng toàn đá với bê tông, tức toàn hành Kim với hành Thổ. Trước mặt là quảng trường dài 320 mét, rộng 100 mét, chia thành những ô cỏ xén vuông với lối đi thẳng băng, không có lấy một mặt nước.

Chỗ ấy hợp cho duyệt binh. Khí đến đó không có gì giữ lại, chỉ tản đi. Xét công năng thì cái hộp đá ấy là một phòng bảo quản hóa chất, ốp đá cho ra dáng đài tưởng niệm.

Chuyện ướp xác
Kiến trúc đẹp xấu còn cãi nhau được. Ướp xác thì khác, vì nó đụng tới cách người Việt nghĩ về cái chết.

Nhà Phật gọi thân người là tứ đại giả hợp: đất, nước, gió, lửa tạm gom lại thành hình, chết thì tan về chỗ cũ, còn thần thức theo nghiệp mà đi. Đức Thích Ca nhập diệt cũng được hỏa táng. Tang lễ nhà Phật vì thế thường là đốt, hoặc chôn cho thân tự rã.

Người Việt sợ nhất cho người chết là cảnh không siêu thoát, vong lang thang không nơi nương tựa. Bao nhiêu lễ lạt sinh ra để tránh cảnh ấy: cầu siêu, cúng thất, cúng bốn mươi chín ngày, ba năm mãn tang, rồi bốc mộ cải táng. Các lễ ấy đưa người chết đi theo một chiều, rời khỏi cái xác.

Ướp xác đi ngược chiều ấy. Thân được giữ bằng hóa chất cho khỏi rã, thì theo lẽ vừa nói, thần thức cũng bị níu lại bên cái xác. Nói nôm na, buồng kính ở Ba Đình là nhà giam một vong hồn, xây bằng công nghệ Liên Xô.

Đạo gia coi người sinh ra từ khí trời đất, chết thì trả khí về trời đất. Giữ xác lại là giữ cái đáng phải trả, chặn đường khí luân chuyển.

Nhà Nho dạy giữ thân: "Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã", thân thể tóc da nhận của cha mẹ, không dám hủy hoại, ấy là khởi đầu của chữ hiếu. Nhưng giữ thân là giữ lúc sống. Chết thì nhập quan, chôn cho đúng lễ, trả về cho đất. Từ Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, chưa triều nào ướp xác vua để bày ra cho người xem.

Tin rằng linh hồn cần cái xác nguyên vẹn để sống ở thế giới bên kia là tín ngưỡng của Ai Cập cổ. Tín ngưỡng người Việt xoay quanh đầu thai và siêu thoát, mà cả hai đều cần cái xác buông ra. Đem lối ướp xác theo mẫu Lenin đặt vào giữa Thăng Long là áp một tục lạ lên một nền tang lễ vốn đi theo chiều ngược lại.

Âm trạch không chạm đất
Mồ mả trong phong thủy gọi là âm trạch, nhà của người chết. Táng kinh, tương truyền của Quách Phác, dựng trên một ý: xác chôn trong đất thì hài cốt nhận khí đất, rồi theo lẽ đồng khí mà truyền phúc họa xuống con cháu. Mộ đặt đúng huyệt thì con cháu phát, sai huyệt thì suy.

Cái lý ấy chỉ đứng được khi xác nằm trong đất. Ở Ba Đình, thi hài nằm trong hòm kính, quanh là bê tông, thép, kính chống đạn và máy điều hòa. Khí đất không vào được, khí người chết không ra được, hai bên cắt đứt hẳn.

Thi hài lại được tẩm formalin, glycerol, kali acetate cho khỏi rữa. Theo lý âm trạch, xác rữa là xác đang hóa: thịt da tan về đất, nước bốc về trời, còn lại bộ xương sạch, và khí đất nương vào chính bộ xương ấy. Người Việt bốc mộ sau ba năm, rửa xương bằng rượu, xếp vào tiểu sành, chôn sang huyệt mới, cũng là để cho xong chữ hóa đó.

Ướp xác chặn đứng việc hóa. Thịt không rữa thì xương không lộ, xương không lộ thì khí đất không có chỗ nương. Cái vòng đáng lẽ khép lại sau vài năm bị chặn ngang, và đã nằm chặn ngang như thế hơn nửa thế kỷ.

Chính Hồ Chí Minh đã muốn được đốt. Bản di chúc đánh máy năm 1965 và bản viết tay năm 1968 đều có đoạn hắn dặn hỏa táng. Bản 1968 viết: "Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là 'hỏa táng'."

Cũng bản ấy dặn chia tro làm ba hộp sành cho ba miền, mỗi miền chọn một quả đồi mà chôn, trên mộ đừng dựng bia đá tượng đồng, quanh đồi thì trồng cây cho lâu ngày thành rừng. Đặt lời dặn ấy cạnh phép phong thủy thì gần như khớp: đồi đất, cây xanh, thân trả về cho trời đất. Một người cả đời theo chủ nghĩa Mác, đến lúc lo hậu sự vẫn nghĩ như một ông đồ Việt.

Lời dặn ấy không được làm theo. Bản di chúc đọc ở lễ tang tháng 9 năm 1969 bỏ hẳn đoạn hỏa táng; phải hai mươi năm sau, năm 1989, Bộ Chính trị mới cho công bố toàn văn. Trong khi đó, chuyên gia Liên Xô được mời sang ướp thi hài, giữ ở căn cứ K9 vùng Ba Vì suốt mấy năm chiến tranh, rồi đưa vào lăng khi lăng xây xong.

Lý do chính thức là "theo nguyện vọng của nhân dân". Nhân dân ấy chưa từng được hỏi. Người dân lớn lên trong nếp Phật giáo và thờ cúng tổ tiên khó mà muốn đem thi hài một người, bất cứ ai, bày trong hòm kính.

Quyết định nằm trong tay một nhóm nhỏ ở Bộ Chính trị, nhìn theo mẫu Liên Xô. Họ đặt việc chính trị lên trên cả lời dặn của người chết.

Đặt cạnh lăng Huế
Muốn thấy lăng Ba Đình lạc lõng tới đâu, cứ đặt nó cạnh lăng các vua Nguyễn ở Huế. Những lăng ấy xây trước đó hơn một trăm năm, bởi những ông vua mà sách vở chính thống vẫn gọi là phong kiến lạc hậu.

Lăng vua Minh Mạng nằm giữa núi rừng, trước mặt là hồ Trừng Minh, hai bên đồi thông. Nước hồ giữ khí, đồi núi chắn gió; tiền án, minh đường, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đều có chỗ của nó. Vua nằm dưới đất, trong quan tài, hài cốt tiếp với địa khí, đúng cách âm trạch vận hành.

Lăng vua Tự Đức nằm trong một thung lũng kín, hồ Lưu Khiêm phẳng lặng, cây phủ bốn bề. Người ta dựng nó cho người chết được yên, và đứng trong đó thì thấy yên thật.

Lăng Ba Đình thì không núi, không nước, bốn phía là phố xá với công sở. Bên trong là phòng kính lạnh, đèn rọi vào hòm kính, máy điều hòa chạy hai mươi bốn giờ, lính gác thay ca ngày đêm. Mỗi năm hàng triệu lượt người xếp hàng đi qua nhìn vào.

Lăng Huế làm ra để người chết được yên. Lăng Ba Đình làm ra để người chết được xem.

Huyệt bị đè
Xét thuần theo phong thủy, lăng gây hại hai lần. Bên trên, khối bê tông đè xuống huyệt. Bên trong, một thi hài không hóa được khóa khí lại ngay giữa huyệt, kẹt mãi giữa sống và chết.

Theo phép phong thủy, huyệt nghẽn thì cả vùng do huyệt ấy chi phối cũng nghẽn theo. Ba Đình lại nằm ngay trung cung Thăng Long.

Từ năm 1975 đến hết thế kỷ, cả nước sống qua những năm đói kém, chiến tranh biên giới ở cả hai đầu đất nước, và biết bao người bỏ nước ra đi trên những chiếc thuyền mong manh. Những chuyện ấy có nguyên nhân chính trị rành rành, người viết không đổ cho một ngôi mộ. Có điều, người tin phong thủy sẽ để ý rằng huyệt giữa kinh đô bị đè đúng vào những năm ấy.

Sống gửi thác về
Người xưa nói sinh ký tử quy, sống gửi thác về. Về là về với ông bà, mang theo họ của cha, tên cha mẹ đặt, khắc trên mộ cho con cháu biết đường mà thắp nhang.

Hồ Chí Minh lai lịch bất minh, đến cái tên trên mộ cũng không phải tên thật. Hắn sinh ra là Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc, vậy mà trên trán lăng chỉ có hàng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá đỏ, một bí danh. Người Việt không ai bỏ họ cha, bỏ tên cha mẹ đặt, rồi mang bí danh xuống mộ.

Cả đời hắn làm những chuyện trời tru đất diệt với dân tộc Việt Nam, nên phải chịu quả báo. Xác thì bị giữ trong hòm kính, hồn thì làm kiếp quỷ không đầu thai được, vất vưởng nơi dương gian mà ám dân tộc này

Vo Danh


Đêm đã khuya. Ngoài ban công, gió khẽ lay những tán lá, mang theo hơi lạnh dịu dàng của một ngày vừa tắt nắng. Chị đứng trước gương, chậm rãi tháo đôi bông tai nhỏ, rồi đưa tay vuốt lại mái tóc đã xõa xuống bờ vai. Chiếc áo lụa màu rượu vang ôm lấy dáng người mềm mại, để lộ chiếc cổ thanh thoát và một khoảng vai trần dịu dàng dưới ánh đèn vàng. Chị nhìn mình trong gương, bất giác mỉm cười.

Đã lâu rồi chị mới thấy mình nữ tính đến thế. Không phải vì có ai khen đẹp. Cũng không phải vì muốn níu giữ những năm tháng đã qua. Chỉ là chiều nay, khi nhận được tin nhắn của anh, chị đã đứng trước tủ quần áo lâu hơn thường lệ. Chị muốn mình thật đẹp trong mắt một người đàn ông. Một người đàn ông khiến chị, ở cái tuổi tưởng như đã quen với mọi buồn vui, vẫn có những phút giây hồi hộp như cô gái mới biết yêu.

Anh hơn chị vài tuổi, điềm đạm, ít nói, nhưng có đôi mắt khiến người đối diện cảm thấy mình đang được lắng nghe. Từ ngày quen nhau, anh chưa bao giờ vội vàng bước qua những giới hạn chị đặt ra. Anh chỉ kiên nhẫn ở bên, khi thì một cuộc điện thoại hỏi thăm, khi thì một lời nhắc chị nhớ ăn tối, lúc lại là một câu đùa rất khẽ khiến chị bật cười một mình. Chính sự chừng mực ấy lại làm chị xao lòng. Bởi đã đi qua đủ những thăng trầm, chị không còn dễ rung động trước những lời đường mật. Điều khiến chị mềm lòng là cảm giác được một người đàn ông quan tâm mà không đòi hỏi, gần gũi mà vẫn biết trân trọng khoảng cách.

Tối nay, họ cùng dùng bữa tại một nhà hàng nhỏ bên hồ. Ánh nến dịu dàng, tiếng nhạc không lời và những câu chuyện chẳng đầu chẳng cuối khiến thời gian trôi qua chậm hơn thường ngày. Anh nhìn chị, khẽ hỏi: “Lâu rồi chị mới vui như hôm nay, phải không?” Chị hơi ngạc nhiên. “Sao anh biết?” “Vì từ lúc gặp nhau đến giờ, chị cười nhiều hơn mọi khi.” Chị cúi xuống, khẽ xoay chiếc ly trong tay.

Có những điều phụ nữ không cần nói ra, nhưng vẫn mong có người nhận thấy. Chẳng hạn như một nỗi buồn được giấu sau vẻ bình thản, một ngày dài mệt mỏi sau nụ cười quen thuộc, hay niềm vui bé nhỏ khi biết rằng có người đang thật lòng để ý đến mình.

Bữa tối kết thúc, anh đưa chị về. Con đường đêm thưa xe. Đèn đường trải những vệt sáng vàng trên mặt phố. Trong xe, bản nhạc cũ ngân lên thật khẽ, còn chị ngồi bên cạnh anh, cảm nhận một sự bình yên rất lạ. Khi xe dừng trước cổng, chị tháo dây an toàn rồi quay sang cảm ơn. Anh không vội đáp. Anh nhìn chị một lúc, ánh mắt dịu dàng nhưng sâu hơn thường ngày. “Chị có muốn tôi vô nhà ngồi với chị uống một tách trà không?”

Chị im lặng vài giây. Một câu hỏi bình thường, vậy mà khiến trái tim chị khẽ đập nhanh. Chị hiểu anh đang chờ câu trả lời, và cũng hiểu mình hoàn toàn có thể mỉm cười từ chối nếu chưa sẵn sàng. Nhưng đêm nay, chị không muốn mọi thứ kết thúc ở cánh cổng ấy. Chị khẽ gật đầu. “Vậy anh vào đi. Nhà em vẫn còn trà ngon.” Đó là lần đầu tiên chị gọi anh bằng một tiếng “em” tự nhiên đến thế. Anh mỉm cười, không nói gì, chỉ lặng lẽ bước theo chị.

Căn nhà sáng lên khi chị bật đèn phòng khách. Chị đặt túi xách xuống bàn, đi pha trà, còn anh đứng bên cửa sổ nhìn những giọt sương đang đọng trên khóm hoa ngoài hiên. Khi chị quay lại, anh đã ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Hai tách trà nóng đặt giữa họ. Câu chuyện ban đầu vẫn xoay quanh những điều quen thuộc, nhưng càng về khuya, lời nói càng thưa dần. Có những khoảng lặng không hề khó chịu. Trái lại, chúng khiến người ta nhận ra sự hiện diện của người đối diện rõ ràng hơn bất cứ lời nào.

Chị đưa tay nâng tách trà. Anh chợt nhìn chị và nói: “Chị biết không, có những lúc tôi rất muốn gặp chị, nhưng lại sợ mình làm chị khó xử.” Chị ngước lên. “Vì sao?” “Vì tôi không muốn chị nghĩ rằng tôi đến bên chị chỉ vì chị đang cô đơn.”

Lời nói ấy khiến chị lặng người. Đã lâu rồi không ai nghĩ cho cảm xúc của chị theo cách đó. Người ta thường nhìn một phụ nữ sống một mình rồi mặc nhiên cho rằng chị cần một người đàn ông. Nhưng ít ai hiểu rằng chị không thiếu khả năng sống độc lập. Điều chị thiếu đôi khi chỉ là một vòng tay đủ chân thành để chị có thể thôi mạnh mẽ trong chốc lát.

Chị đặt tách trà xuống, giọng nhẹ hơn: “Em không sợ cô đơn đến mức phải giữ một người bên cạnh. Em chỉ sợ nếu đã mở lòng, người ta lại khiến mình hối tiếc.” Anh nhìn chị thật lâu. “Vậy thì mình cứ chậm thôi. Tôi không cần chị phải tin tôi ngay hôm nay.”

Không hiểu vì sao, chính câu nói ấy lại khiến mắt chị cay cay. Chị quay mặt về phía cửa sổ, giả vờ ngắm những ngọn đèn xa xa. Anh không hỏi thêm, cũng không tìm cách xoa dịu bằng những lời an ủi. Anh chỉ ngồi đó, đủ gần để chị cảm nhận được sự ấm áp, nhưng vẫn dành cho chị khoảng riêng cần thiết.

Một lúc sau, chị khẽ nói: “Anh này…” “Tôi nghe.” “Đôi khi em cũng muốn được yêu như ngày còn trẻ.” Anh không trả lời ngay. Chị mỉm cười, giọng pha chút ngượng ngùng: “Muốn có người chờ mình, muốn được nhớ đến giữa một ngày bận rộn. Muốn khi mặc một chiếc áo đẹp, có người nhìn mình lâu hơn một chút. Muốn đôi khi chẳng cần nói gì, chỉ ngồi cạnh nhau thôi cũng thấy lòng ấm áp.” Anh đặt tách trà xuống. “Những điều ấy có gì là quá đáng đâu em.”

Chỉ một câu đơn giản, mà bao nhiêu dè dặt trong lòng chị bỗng dịu xuống. Anh đưa tay về phía chị, rồi dừng lại giữa khoảng cách nhỏ bé ấy, như muốn hỏi bằng ánh mắt thay cho lời nói. Chị nhìn bàn tay anh. Một bàn tay không còn trẻ, những đường gân hiện rõ, nhưng ấm áp và vững vàng. Chị chợt nhớ đã bao năm mình chưa thật sự nắm tay một người bằng tất cả sự tự nguyện, không phải để dìu đỡ, không phải vì một phép lịch sự, mà chỉ vì muốn được gần người ấy thêm một chút.

Lần này, chị là người đưa tay ra trước. Những ngón tay chạm nhau, rồi khẽ đan vào nhau. Không có lời thề hẹn. Không có những cử chỉ vội vàng. Chỉ có hơi ấm từ bàn tay anh truyền sang, khiến chị bất giác thấy lòng mình xao động. Anh nhìn chị, ánh mắt vừa dịu dàng vừa tha thiết. “Em có biết không,” anh khẽ nói, “mỗi lần ở gần em, tôi lại thấy mình trẻ hơn một chút.” Chị bật cười, nhưng đôi má đã ửng hồng. “Anh nói thế mà không sợ em tin thật sao?” “Tôi mong em tin.”

Căn phòng bỗng trở nên yên tĩnh. Chị nghe rõ tiếng đồng hồ trên tường, tiếng gió khẽ chạm vào rèm cửa, và cả nhịp tim mình đang đập nhanh hơn bình thường. Anh vẫn nắm tay chị, không siết chặt, cũng không buông ra. Chị chợt nhận ra điều khiến mình rung động không phải là một lời tán tỉnh táo bạo, mà là cảm giác được một người đàn ông nhìn mình như một người phụ nữ đáng khao khát, ngay cả khi thời gian đã để lại những dấu vết trên gương mặt.

Chị không còn là cô gái có thể yêu mà chẳng cần nghĩ ngợi. Chị đã có những mất mát, những nỗi sợ và cả những đêm dài tự mình vượt qua. Nhưng chị vẫn còn một trái tim biết thổn thức, một cơ thể biết rung động trước sự dịu dàng, và một tâm hồn vẫn mong được yêu bằng tất cả sự chân thành.

Chị khẽ nghiêng đầu nhìn anh. “Nếu một ngày em thật sự yêu anh, anh có ngại em đã không còn trẻ nữa không?” Anh lắc đầu. “Tôi chỉ ngại mình đến muộn, khiến em phải chờ lâu đến thế.” Chị không kìm được nụ cười. Rồi, trong một khoảnh khắc rất tự nhiên, chị tựa nhẹ đầu vào vai anh.

Anh hơi khựng lại, như thể cử chỉ nhỏ bé ấy còn khiến anh xúc động hơn mọi lời nói. Sau đó, anh nhẹ nhàng vòng tay ôm lấy chị. Chị nhắm mắt. Đã bao lâu rồi chị chưa được ở trong vòng tay một người đàn ông mà không phải lo lắng điều gì? Đã bao lâu rồi chị chưa cho phép mình yếu mềm, chưa để bản thân tận hưởng cảm giác được chở che mà không cần giải thích?

Mùi hương dịu nhẹ trên áo anh, hơi ấm nơi bờ vai, bàn tay khẽ vuốt mái tóc chị… tất cả đều bình thường, vậy mà khiến lòng chị mềm đi từng chút. Chị ngẩng lên. Khoảng cách giữa hai người bỗng gần đến mức chị có thể nhìn thấy ánh đèn phản chiếu trong mắt anh. Anh khẽ hỏi: “Em có thấy khó chịu không?” Chị lắc đầu. “Không.” Rồi chị mỉm cười, nói nhỏ: “Chỉ là em đã quên mất cảm giác này lâu quá rồi.”

Anh không nói gì thêm. Anh chỉ khẽ ôm chị gần hơn, chờ đợi để chị tự quyết định điều mình muốn. Và chính sự kiên nhẫn ấy khiến chị can đảm hơn. Chị đưa tay chạm nhẹ lên gương mặt anh, ngón tay dừng nơi khóe mắt đã hằn dấu thời gian. Chị nhìn anh, bỗng thấy thương những năm tháng anh cũng đã đi qua, những buổi tối có lẽ anh cũng từng trở về một căn nhà im ắng, cũng từng mong một người hỏi mình hôm nay có mệt không.

Hóa ra không chỉ riêng chị khao khát được yêu thương. Có những người đàn ông cũng giấu nỗi cô đơn sau vẻ ngoài bình thản. Họ cũng mong có người để tâm, có một mái đầu tựa vào vai mình, có một bàn tay tìm đến giữa đêm dài.

Chị khẽ gọi tên anh. Anh cúi xuống, dừng lại chờ chị. Lần này, chị không né tránh ánh mắt ấy. Nụ hôn đầu tiên đến thật nhẹ nhàng, dè dặt như một lời hỏi thăm sau bao năm xa cách. Nhưng khi chị khẽ nhắm mắt và tự nguyện nghiêng về phía anh, sự ngượng ngùng ban đầu dần tan đi, nhường chỗ cho cảm xúc đã bị cất giữ quá lâu.

Chị cảm nhận vòng tay anh ấm áp quanh mình. Chị khẽ cười khi hai người tách ra, đôi má nóng lên như thể vừa làm điều gì bí mật của tuổi thanh xuân. Anh áp trán mình vào trán chị, giọng trầm xuống: “Em làm tôi chẳng muốn về nữa.” Chị nhìn anh, ánh mắt ánh lên một nét tinh nghịch mà chính chị cũng tưởng mình đã đánh mất từ lâu. “Vậy ai bảo anh cứ ngồi mãi ở đây?” Anh bật cười. Chị cũng cười theo. Tiếng cười nhỏ thôi, nhưng đủ làm căn phòng bớt đi vẻ tĩnh lặng vốn đã tồn tại quá lâu.

Đêm ấy, họ không nói nhiều về tương lai. Chẳng ai hứa sẽ bên nhau đến cuối đời, cũng không ai vội gọi tên mối quan hệ vừa mới bắt đầu. Họ chỉ ngồi cạnh nhau thêm một lúc, bàn tay vẫn nắm lấy bàn tay, thỉnh thoảng trao nhau một ánh nhìn khiến lòng người xao xuyến.

Khi anh đứng dậy ra về, chị tiễn anh đến cửa. Anh quay lại hỏi: “Ngày mai anh có thể gặp em không?” Chị mỉm cười. “Ngày mai anh không bận à?” “Có bận đến đâu, anh cũng phải đến bên em anh muốn dành hết thời gian cho em.” Chị không trả lời ngay. Chị chỉ bước đến, nhẹ nhàng chỉnh lại cổ áo cho anh, rồi nhìn anh bằng ánh mắt dịu dàng. “Vậy ngày mai, anh đến sớm một chút nhé. Em sẽ nấu bữa tối.” Anh nắm lấy tay chị, đặt một nụ hôn thật nhẹ lên đó. “Nhất định rồi.”

Cánh cửa khép lại sau lưng anh. Chị đứng yên vài giây, rồi tựa lưng vào cửa, đưa tay chạm lên môi mình. Trái tim vẫn đập nhanh, gương mặt vẫn còn nóng. Chị bật cười một mình, vừa ngượng ngùng vừa hạnh phúc. Một người phụ nữ đã đi qua hơn nửa cuộc đời, hóa ra vẫn có thể hồi hộp vì một nụ hôn, vẫn có thể mong chờ một cuộc hẹn, vẫn có thể thao thức chỉ vì nhớ đến vòng tay của một người.

Chị bước đến bên cửa sổ. Thành phố vẫn sáng đèn, đêm vẫn sâu, nhưng căn nhà dường như đã khác. Lần đầu tiên sau nhiều năm, chị không còn nhìn đêm tối như một khoảng trống phải đi qua. Chị nghĩ đến ngày mai, đến bữa tối sẽ nấu, đến tiếng chuông cửa có thể vang lên vào giờ hẹn. Và chị chợt nhận ra mình đang mong đợi.

Không phải sự cứu rỗi. Không phải một phép màu. Mà là một người đàn ông khiến chị muốn mặc đẹp hơn một chút, cười nhiều hơn một chút, muốn được ôm lâu hơn một chút trước khi nói lời tạm biệt. Một người khiến chị nhớ rằng mình vẫn là một người phụ nữ, không chỉ biết chăm lo cho người khác, mà còn biết khao khát, biết rung động, biết yêu và muốn được yêu.

Đêm đã khuya, chị vẫn chưa muốn đi ngủ. Chị pha thêm một tách trà, ngồi bên cửa sổ và mỉm cười khi điện thoại sáng lên. “Về đến nhà rồi. Nhưng hình như anh vẫn còn nhớ em.” Chị nhìn dòng tin nhắn, để niềm vui lan chậm trong lòng. Một lát sau, chị trả lời: “Vậy thì ngủ sớm đi anh. Ngày mai còn gặp em.”

Gửi xong, chị đặt điện thoại xuống, khẽ kéo rèm. Ngoài kia, gió vẫn thổi qua những tán cây. Nhưng trong lòng chị, mùa xuân dường như vừa trở lại. Và chị hiểu rằng, có những ngọn lửa không tắt đi theo tuổi tác. Chúng chỉ lặng lẽ nằm sâu trong tim, chờ một ánh nhìn đủ ấm, một bàn tay đủ dịu dàng, một người đủ chân thành để đánh thức.

Bởi đôi khi, điều khiến một người phụ nữ thao thức không phải là những lời yêu nồng nhiệt, mà là ký ức về một vòng tay khiến mình không muốn rời xa. Và điều khiến chị mong đợi ngày mai hơn tất cả, chính là biết rằng khi cánh cửa mở ra, người đàn ông ấy sẽ đứng đó, nhìn chị bằng ánh mắt của đêm hôm trước. Ánh mắt khiến chị cảm thấy mình vẫn đẹp, vẫn quyến rũ, vẫn đáng được khao khát. Không phải bất chấp tuổi tác. Mà bởi tuổi tác chưa bao giờ lấy đi quyền được yêu của một người phụ nữ.

Có những đêm, người ta không sợ đêm dài. Người ta chỉ sợ khi đêm kết thúc, vòng tay ấy cũng rời đi. Và có những người, chỉ cần một lần ôm nhau thật lâu, đã khiến trái tim tưởng ngủ quên bỗng muốn yêu thêm một lần nữa - sâu sắc hơn, nồng nàn hơn, và chẳng còn muốn giấu mình sau hai chữ cô đơn.

Jimmy Nguyen
TIẾNG VÕNG ĐONG ĐƯA

Chuyện một người trở về sau gần nửa thế kỷ.

Tôi trở về Sa Đéc vào một buổi chiều cuối mùa mưa. Thành phố nhỏ hơn trong trí nhớ của tôi. Thành phố không những phát triển hơn mà nó như co rụm lại theo thời gian. Con đường dẫn vô xóm vẫn còn những ổ gà, hai bên là những căn nhà thấp với mái ngói bạc màu theo năm tháng.

Có những nơi người ta tưởng đã quên từ lâu, nhưng chỉ cần một lần trở lại, mọi thứ bỗng thức dậy. Từ mùi đất sau cơn mưa đến tiếng xe ồn ào ngoài đường, từ tiếng rao hàng ngoài chợ đến những tán me già im lặng bên vỉa hè, tất cả khiến tôi ngỡ như chưa từng có cuộc chia ly nào xảy ra.
Tôi đứng rất lâu trước một con đường nhỏ gần chiếc cầu sắt nơi có quán cơm của gia đình em. Gần năm mươi năm trước, tôi từng đi qua đây mỗi ngày.

Hồi đó tôi còn trẻ, tóc đen, áo sơ mi trắng đồng phục và chiếc quần tây đã bạc màu ở đầu gối. Tôi thường đạp chiếc xe đạp cà tàng đến một quán cơm bình dân ở cuối đường. Khi thì ăn một dĩa cơm, khi thì chỉ kiếm cớ ghé qua để nhìn người con gái mình thương.

Những năm tháng ấy nghèo nhưng nhẹ tênh. Chỉ cần được nhìn thấy em cười, được nghe vài câu hỏi han vu vơ là tôi đủ vui suốt cả ngày.

Tôi đi mà không biết ngày nào trở lại, cũng không đủ can đảm nói với người con gái ấy mình sẽ đi đâu, bằng cách nào, rồi cuộc đời sẽ đưa mình về phương trời nào. Tôi chỉ nghĩ mình đi một thời gian, khi có dịp sẽ trở về.

Tuổi trẻ thường vậy. Cứ tưởng những người thương mình sẽ còn đứng đó, những con đường quen sẽ còn đó, và thời gian dù có trôi cũng không thể lấy mất những điều đã thuộc về mình. Tôi đã lầm. Cuộc đời lấy đi mọi thứ nhanh hơn rất nhiều so với những gì một chàng trai trẻ có thể hình dung.

Quán cơm vẫn còn nằm đó dưới mái hiên thấp. Tấm bảng gỗ treo trước cửa đã bong gần hết lớp sơn, chỉ còn lờ mờ ba chữ "Cơm Bình Dân" và trên cửa chính có bảng "Cần sang quán" dấu mực còn mới.

Bên trong là những chiếc bàn gỗ cũ, những chiếc ghế đẩu thấp và chiếc tủ kính đựng cá kho tiêu, hột vịt kho, thịt nướng cùng vài đĩa rau luộc. Mùi nước mắm kho từ phía sau nhà thoảng ra làm tim tôi thắt lại.

Tôi bước vào và chọn chiếc bàn trong góc, nơi ngày xưa mình thường ngồi. Một cô gái chừng hơn ba mươi tuổi ra hỏi món ăn. Tôi gọi một dĩa cơm cá rô kho với chén canh chua rồi lặng lẽ quan sát mọi thứ xung quanh.

Khi cô gái mang cơm ra, tôi chợt thấy đôi mắt cô quen thuộc lạ thường. Đôi mắt hiền, hơi buồn và luôn như đang giấu trong lòng một nỗi mệt mỏi nào đó.

Tôi chưa kịp nghĩ thêm thì từ phía sau nhà vọng ra tiếng một người đàn bà gọi con gái. Chỉ một tiếng gọi rất bình thường thôi nhưng làm tay tôi khựng lại.

Tôi quay đầu nhìn về phía sau nhà. Một chiếc võng cũ giăng ngang hai cây cột nhà. Trên võng là một người đàn bà tóc bạc trắng nằm nghiêng, tay cầm chiếc quạt mo phe phẩy. Lưng bà đã còng, gương mặt gầy đi rất nhiều và đôi mắt đục mờ gần như không còn nhìn rõ người đối diện.

Nhưng tôi nhận ra bà ngay. Đó là người con gái tôi đã bỏ lại ở Sa Đéc năm 1979.

Ngày xưa em đẹp lắm. Mái tóc dài chấm lưng. Nước da trắng. Hai má có lúm đồng tiền mỗi khi cười. Những buổi chiều quán vắng, chúng tôi thường đạp xe ra bờ sông ngồi nhìn nước chảy đẩy những đám lục bình trôi về hạ nguồn. Có những hôm chẳng nói với nhau được bao nhiêu, vậy mà vẫn có thể ngồi đến khi mặt trời lặn mới chịu về.

Hồi đó tôi cứ nghĩ thương nhau là rồi sẽ cưới nhau. Mãi về sau tôi mới hiểu tình yêu đôi khi không thua vì hết thương. Nó thua vì hoàn cảnh, vì thời cuộc, vì những chuyến đi không có lời hẹn rõ ràng và vì con người không đủ sức giữ lấy điều mình muốn giữ.

Từ hôm đó, tôi bắt đầu ghé quán thường xuyên hơn. Có hôm vào buổi trưa, có hôm gần chiều tối. Tôi tự nhận mình chỉ là một người khách xa quê vô tình tìm được quán cơm hợp khẩu vị.

Tôi thường ngồi ở chiếc bàn trong góc, gọi một dĩa cơm cá kho và rau muống xào tỏi rồi lặng lẽ nhìn khách ra vào. Dần dần tôi biết cô gái phục vụ chính là con bà. Cô bị bệnh thận mạn tính, gương mặt lúc nào cũng xanh xao. Nhiều khi đang dọn bàn phải ngồi xuống nghỉ một lúc mới đứng lên được.

Hai mẹ con nương tựa vào nhau bằng quán cơm nhỏ này. Bà già yếu, mắt gần như không còn thấy rõ, còn cô con gái vừa bán hàng vừa chăm mẹ. Mỗi lần nhìn cảnh ấy, lòng tôi nặng trĩu.

Rồi trong hai tuần về thăm quê, sáng nào tôi cũng ghé quán. Dần cô gái quen mặt và bắt đầu nói chuyện với tôi thường hơn. Tôi hỏi thăm vu vơ về cuộc sống của gia đình. Ba cô mất hơn mười năm nay vì bệnh. Mẹ cô không còn giúp cô nhiều vì mắt mờ, sức yếu.

Tôi sống ở Canada mấy chục năm. Trải qua đủ những ngày tháng chật vật của người tha hương rồi cũng có được cuộc sống yên ổn. Tiền bạc với tôi không còn là chuyện quá lớn. Vì vậy, có nhiều đêm nằm trong nhà đứa em ở quê, tôi nghĩ đến một điều. Hay là mình mua lại quán cơm này.
Không phải để kinh doanh hay kiếm lời. Tôi chỉ muốn sửa lại mái nhà đã cũ, thay những bộ bàn ghế lung lay, để mẹ con bà đỡ vất vả hơn. Quan trọng hơn, tôi muốn có một lý do để được thường xuyên xuất hiện nơi đây mà không khiến ai nghi ngờ.

Thế nhưng lần nào nghĩ đến, tôi cũng gạt ý định đó đi. Tôi sẽ nói sao với họ? Một người khách mới quen bỗng nhiên muốn mua lại quán cơm của hai mẹ con nghèo khó. Dù có viện ra lý do gì, người ta rồi cũng sẽ hỏi tại sao. Mà câu trả lời thật sự đã bắt đầu từ gần nửa thế kỷ trước, một câu trả lời tôi chưa từng đủ can đảm nói ra.

Một buổi trưa, cô con gái đi mua thuốc. Trong quán chỉ còn tôi và bà. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều giữa cái nắng yên ắng của miền Tây.

Tôi đang cúi xuống ăn cơm thì nghe tiếng chiếc quạt mo rơi xuống nền. Bà quờ quạng đưa tay tìm. Tôi vội bước vào nhặt chiếc quạt lên, đặt vào tay bà rồi hỏi bà có cần gì không. Bà quay đầu về phía tôi, như cố nghe thật rõ giọng nói của người đang đứng bên cạnh.

Một lúc lâu sau bà chậm rãi nói:
“Giọng nói của ông làm tôi nhớ đến một người”

Tôi ngạc nhiên nhưng không biết phải trả lời thế nào nên chỉ ngồi yên. Bà cười rất nhẹ rồi bảo đó là một người đã bỏ bà đi gần năm mươi năm trước. Người đó rời quê mà không để lại địa chỉ, cũng không biết còn sống hay đã chết.

Bà nói có những năm bà từng nghĩ chắc tôi đã nằm lại đâu đó giữa biển khơi. Có những năm khác bà lại nghĩ biết đâu tôi vẫn còn sống ở một phương trời rất xa nhưng không nhớ đường về nữa.

Tôi ngồi lặng người. Suốt gần nửa thế kỷ qua, tôi vẫn nghĩ người mang nhiều day dứt nhất là mình. Nhưng hôm ấy tôi mới hiểu người ở lại cũng mang theo một nỗi đau dài bằng ngần ấy thời gian.

Bà kể rằng sau khi tôi đi, bà chờ tin một thời gian rất lâu. Cha mẹ thúc giục chuyện chồng con. Hoàn cảnh khó khăn. Cuộc sống không cho phép bà đứng mãi một chỗ để đợi. Cuối cùng bà lấy chồng. Không phải vì quên người cũ, mà vì cuộc đời phải tiếp tục.

Bà nói mọi chuyện bằng giọng bình thản, không trách móc, cũng không oán hờn. Chính điều đó mới làm tôi đau hơn. Nếu bà trách, có lẽ tôi còn nhẹ lòng hơn một chút. Đằng này, bà chỉ âm thầm giữ lại một góc ký ức cho người đã ra đi.

Từ hôm đó tôi càng ít nói hơn mỗi lần ghé quán. Tôi không hỏi về người chồng đã mất từ khi nào. Không hỏi bà đã sống những năm tháng ấy ra sao. Tôi cũng không cố gắng để bà nhận ra mình. Tôi chỉ ngồi đó như một người khách quen.

Dần dần tôi là khách quen với quán. Đôi khi tôi giúp cô con gái mang chồng chén vào bếp. Đôi khi nhặt chiếc quạt mo rơi bên võng. Đôi khi chỉ để nghe tiếng bà ho vài tiếng rồi trở mình nằm nghỉ.

Tôi biết mình không thể trở lại làm chàng trai năm hai mươi tuổi ngày nào. Bà cũng không còn là cô gái tóc dài bên bờ sông năm ấy. Giữa chúng tôi là gần nửa thế kỷ của những cuộc đời riêng, những mất mát và những mùa mưa nắng đã qua.

Ngày trở lại Canada đến gần, thời gian qua nhanh quá. Tôi ghé quán vào một buổi chiều. Trời mưa tháng tám rơi dài và buồn bã. Những giọt nước còn đọng dưới mái hiên thỉnh thoảng rơi xuống sân nghe lộp bộp.

Tôi ngồi ở chiếc bàn quen thuộc rất lâu. Nhìn chiếc tủ kính cũ. Nhìn căn bếp ám màu khói. Nhìn mấy bộ bàn ghế đã sờn theo năm tháng và chiếc võng vẫn đung đưa phía sau nhà.

Bữa cơm hôm ấy tôi ăn chậm hơn mọi lần, chậm đến mức chính tôi cũng biết mình đang cố kéo dài thời gian. Có cảm giác chỉ cần đứng dậy bước ra khỏi cửa, tôi sẽ lại một lần nữa rời khỏi một phần tuổi trẻ của mình.

Ăn xong, tôi bước đến gần chiếc võng. Bà nghe tiếng chân liền quay đầu về phía tôi. Đôi mắt đã mờ đục ấy hướng vào khoảng không trước mặt rồi bất ngờ hỏi: "Anh Hai đó hả?" Tôi đứng chết lặng.

Không biết đó chỉ là sự tình cờ hay trong sâu thẳm ký ức, trái tim bà đã nhận ra điều mà đôi mắt không còn đủ sức nhìn thấy. Tôi không trả lời, bà cũng không hỏi thêm.

Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà. Bàn tay ngày xưa từng nắm tay tôi bên bờ sông Sa Đéc, giờ chỉ còn những đường gân xanh nổi rõ dưới lớp da nhăn nheo của tuổi tác. Bà siết nhẹ tay tôi, nở một nụ cười rất hiền rồi bảo khi nào rảnh thì ghé ăn cơm nữa. Tôi cố gắng lắm mới đáp được một tiếng vâng.

Tôi buông tay bà và bước ra khỏi quán. Đi được vài bước, tiếng võng phía sau lại bắt đầu đưa. Kẽo kẹt. Kẽo kẹt. Âm thanh ấy theo tôi ra tận đầu hẻm. Tôi dừng lại giữa con đường còn ướt nước mưa. Lần đầu tiên sau gần năm mươi năm, tôi thật sự muốn quay đầu trở lại.

Muốn nói cho bà biết tôi là ai. Muốn xin lỗi vì đã để bà chờ trong mịt mùng suốt từng ấy năm. Muốn kể cho bà nghe những mùa đông tuyết trắng nơi xứ người, những đêm nhớ quê đến mất ngủ và rằng chưa bao giờ tôi quên bà. Nhưng rồi tôi vẫn đứng yên. Tôi chợt không biết nếu nói ra sự thật thì ai mới là người được thanh thản hơn. Bà, hay chính tôi.

Sau lưng tôi là căn nhà cũ, là chiếc võng vẫn đều đặn đung đưa, là một người đàn bà đã dành cả tuổi trẻ để thương một người ra đi không có ngày hẹn trở lại. Còn phía trước là quãng đời còn lại của cả hai. Tôi không biết con đường nào mới là đúng.

Có thể tôi sẽ quay lại. Có thể tôi sẽ tìm một cách nào đó để giúp mẹ con bà mà không cần giải thích điều gì. Cũng có thể một ngày nào đó tôi sẽ gọi tên bà và nói thật tôi là ai. Hoặc cũng có thể tôi sẽ tiếp tục im lặng.

Điều đau đớn nhất là cả hai vẫn còn đó, vẫn còn thương một phần ký ức của nhau, nhưng tuổi trẻ đã đi mất rồi và sẽ không bao giờ quay lại nữa.

Tôi bước tiếp trên con đường về làng. Gió chiều thổi qua những cánh đồng còn đọng nước sau mưa. Phía sau lưng, chiếc võng hẳn vẫn đang đưa trong căn nhà cũ ở Sa Đéc. Và lần đầu tiên trong đời, tôi không chắc mình còn đủ can đảm để rời đi thêm một lần nữa.

Bởi lần này tôi đã biết rất rõ điều mình để lại phía sau. Đó không chỉ là một quán cơm cũ hay một phần ký ức tuổi trẻ. Đó là một người con gái đã từng thương tôi bằng cả tuổi xuân của bà, và một món nợ ân tình mà có lẽ suốt phần đời còn lại, tôi vẫn không biết phải trả bằng cách nào.

(Trích từ tập truyện ngắn “Mùa Lá Đỏ”)

Tim Nguyễn
London, đầu xuân 2017


"Operation Free Skid Row"

Sáng nay, đoàn xe gần 100 chiếc của FBI, DEA và LAPD tràn vào Skid Row trong chiến dịch "Operation Free Skid Row", bắt 23 nghi phạm buôn ma túy. Nhưng câu hỏi lớn hơn vụ đột kích này: tại sao sau hàng thập niên và hàng núi tiền thuế, Skid Row ở Los Angeles và Kensington ở Philadelphia là hai biểu tượng vô gia cư và ma túy của hai bờ nước Mỹ vẫn y nguyên, thậm chí tệ hơn?

Skid Row tồn tại từ thập niên 1930, nay là nơi tập trung người vô gia cư lớn nhất nước Mỹ với hơn 4.400 người trên 50 dãy phố. Kensington được mệnh danh là chợ ma túy lộ thiên lớn nhất bờ Đông, nổi tiếng với cảnh dùng fentanyl công khai giữa ban ngày. Hai nơi, một kịch bản: đột kích, dọn dẹp, rồi vài tháng sau mọi thứ quay lại.

Vì sao? 
Thứ nhất là luật pháp. Trong mấy chục năm, các án lệ như Jones v. Los Angeles (2006) và Martin v. Boise (2018) từng trói tay chính quyền trong việc dẹp lều trại. 
Thứ hai là chính sách chập chờn: lúc "chứa" (dồn người vô gia cư về một khu), lúc theo cách tiếp cận chấp nhận thực tế là phát kim tiêm sạch và thuốc giải sốc thuốc để cứu mạng người nghiện thay vì ép họ bỏ hẳn, lúc trấn áp mạnh tay dẫn đến không có chiến lược nhất quán. 
Thứ ba là gốc rễ: thiếu nhà giá rẻ, hệ thống điều trị tâm thần và nghiện ngập sụp đổ từ thập niên 60-70 mà không có gì thay thế. Kiểm toán bang California năm 2024 phát hiện $24 tỷ chi chống vô gia cư trong 5 năm mà không theo dõi nổi hiệu quả dẫn đến tiền đổ vào cái xô thủng đáy.

Lần này liên bang nhảy vào: một mặt, đường dây xuyên biên giới, nghe lén, 44 lệnh khám xét là việc của FBI/DEA, địa phương khó làm nổi. Mặt khác, không thể phủ nhận đây cũng là đòn chính trị của chính quyền tổng thống Trump nhắm vào các thành phố Dân chủ, với thông điệp "địa phương bất lực". Lịch sử cho thấy cứ mỗi đợt trấn áp xong, nếu không xử lý nhà ở và nghiện ngập, mọi thứ lại đâu vào đó.

Vậy theo bạn: lần này sẽ khác, hay chỉ là một vòng lặp mới với diễn viên mới? Vấn đề nằm ở luật pháp, ở con người, hay ở chính sách?

(Nguồn: NY Post, Wikipedia, Kiểm toán tiểu bang California)

NGHỀ VE CHAI

Hồi đó mới qua Mỹ 15 tuổi đầu, ra ngoài đường ai cũng lái ô tô lâu lắm mới thấy chiếc Honda xe máy nhưng chỉ vào mùa hè mà thôi. Nên tôi nghĩ trong lòng thế nào cũng có ngày mình mua một chiếc.

Từ hồi nhỏ xíu tôi đã có ao ước được ngồi trên chiếc xe ô tô của mình. 51 năm về trước Việt Nam còn nghèo lắm, người có tiền mua ô tô là toàn những dân giầu hay ông to bà lớn lái thôi chứ dân bình thường thì làm sao mà mua sắm nổi. Vì thế khi qua đến đây mong muốn đầu tiên của tôi là để dành tiền mua xe, nhưng ở tuổi 15 thì tôi chưa thể ra ngoài xin việc được vì còn là học sinh. Tồi một hôm ông hiệu trưởng gọi tôi vô văn phòng hỏi tôi có muốn làm vài tiếng sau giờ học không? Tôi mừng húm nói yes. Ở cái làng nhỏ xíu này ai cũng biết ai, và ai cũng đi lễ ngày chủ nhật ở một cái nhà thờ duy nhất này, nơi mà họ bảo trợ cho tôi vì thế ông hiệu trưởng mới biết hoàn cảnh của tôi nên mới giúp đỡ cho tôi một chân làm sau giờ học ở trường. Một ngày chỉ có bốn tiếng sau giờ học. Thứ hai đến thứ sáu. Một giờ chỉ có 3.50 xu . Năm 75 tiền tối thiểu cho nhân công là 2.50 xu một giờ. Lúc bấy giờ cái gì cũng rẽ, 20 đô đi chợ là mua đầy cả xe, xăng thì chỉ có 30-40 xu một gallon bốn lít, thỏi kẹo chocolate chỉ có mười xu. Nhà cửa chỉ có mấy chục ngàn là mua được một căn ba phòng ngủ, hai phòng tắm. Người đi làm 6,7đô một giờ là có thẻ mua nhà trả góp rồi, hai vợ chồng mà đi làm thì dư sức mua một căn. Thời buổi đó chưa có phone tay mà chỉ có phone ở nhà mà thôi. Đi ra đường muốn gọi phone thì ra điện thoại công cộng bỏ vào 25 xu. Nói tóm lại năm mươi năm về trước ở đây cái gì cũng rẽ, rất dễ sống. Nhà máy mọc lên khắp mọi nơi. Dân lúc bấy giờ thì ít vì chưa có nhiều người nước ngoài vào. Dân Á Đông, và dân mễ cũng rất ít. Việc làm. Chỗ nào cũng có.

Công việc của tôi trong trường sau giờ học là lau bảng, thay bao thùng rác của thầy giáo, và lau sàn nhà. Nhà trường rất rộng lớn có cả trăm lớp học nên nhiều nhân công chính làm, họ chia ra từng khu, mỗi người làm một khu. Công việc chẳng có giờ là khó, chỉ cần ba tiếng là xong. Giờ tôi làm là học sinh về. Nhà trường có nhiều cửa ra vào đều bị khóa lại không ai được vào chỉ có người làm. Mỗi người một khu nên chẳng ai thấy ai. Có ông xếp thì lúc nào cũng ở trong văn phòng chỉ gặp khi ra về.

Sau ba tiếng là công việc của tôi đã xong thời giờ còn lại ngồi ôn bài.

Thời buổi đó mà có phone tay thì sướng quá đi mất, ngồi dạo FB cũng qua giờ, nhưng cũng vì thế mà tôi có công việc thứ hai hái ra tiền. Đó là một hôm sau giờ làm tôi lang thang đi bộ về nhà ngang qua một cái máy đề là: thu mua ống lon. Trời! Vậy mà bấy lâu nay tôi không biết cứ tưởng là cái máy thâu đồ củ người ta cho. Ở trong trường học thiếu gì ống long của học sinh bỏ. Mỗi ngày tôi bỏ thùng rác cũng rất nhiều, đó là chỉ riêng khu tôi, còn những khu khác dồn chung lại chắc cũng nhiều lắm. Ngày hôm sau khi bước vào văn phòng bấm thẻ để đi làm. Giờ này mọi người đều có mặt đông đủ ở nơi đây. Tôi mới nói với mọi người là làm ơn giữa lại cho tôi ống lon đừng bỏ thùng rác. Những người làm trong này đều là người đi nhà thờ nên họ biết tôi qua đây một mình nên họ nhận lời ngay tôi cám ơn rối rít.

Sau giờ làm tôi đi từng khu gom những bao ống lon mà họ để dành cho tôi. Những ống lon đã bị đè bẹp khỏi mất công tôi làm. Tất cả là tám bao, tôi không thể nào khiêng hết nên đành xách bốn bao trước hên là chỗ đó cũng chẳng xa đây lắm. Hai mươi phút sau tôi đã có mặt ở cái máy đẻ ra tiền này. Mồ hôi rỏ từng hột trên trán nhưng tôi chẳng thấy mệt chút nào. Bỏ từng ống long vào số tiền trong cái đèn đỏ càng lúc càng tăng. Cuối cùng nó dừng lại ở cái số 11.75. Mười một đô bảy mươi lăm xu. Wow! Còn bốn bao nữa chắc cũng được hơn mười đô. Cộng lại một ngày cho là hai chục đô, một tuần năm ngày là: 100 đô nhiều hơn tiền tôi đi làm. Thời buổi đó mà một tháng làm sáu bảy trăm đô là nhiều lắm, đối với thằng nhóc tì 15t như tôi. Đến năm tôi 16t thì đã có bằng lái và một cái xe tàng..tàng chạy đi học và chở ống lon đỡ vất vã hơn.

Một thân một mình thì tự lo cho mình thôi, tự lực, tự cường xài đồng tiền của mình vẫn là thoải mái hơn người ta có nuôi mình suốt đời được đâu? Nghề nào cũng là nghề miễn sao có tiền bỏ túi mỗi ngày là ok. Hồi đó lụm ve chai, ống lon ở đây chẳng có ai làm, và đến bây giờ cũng chẳng có ai làm. Nghề này coi vậy mà hái ra tiền đấy, vì mỗi ngày đồ dư thừa người ta bỏ đi quá nhiều..

Không kể hết, nhưng vì ở nước Mỹ này công việc rất nhiều nên chẳng ai chịu làm cái nghề này. Người mà chịu khó không quản mệt nhọc làm nghề này cũng giầu mà cũng không phải đóng thuế, và cũng không ai làm chủ mình, vậy mà cái nghề này vẫn ế nghĩa là sao? Vừa có tiền mà vừa không làm mất đi nhôm, sắt của đất nước.

Dung Dinh

Blog Archive