Hạn Chót Cho Bà Tư | Đại Tá Mỹ Về Với Vòng Tay Yêu Thương Của Đồng Đội | 06.04
Monday, April 6, 2026
Airpark - thị trấn sân bay
Để trải nghiệm cuộc sống ở đây bạn không chỉ cần có nhiều tiền mà còn phải chuẩn bị “tinh thần thép”.
Vùng đất đi ra ngoài là gặp máy bay Spruce Creek, một địa danh ở Đông Bắc Florida (Mỹ), cách bờ biển Daytona vài dặm về phía nam, là một trong những cộng đồng dân cư độc đáo nhất thế giới.
Nổi tiếng với tên gọi “thị trấn hàng không” (airpark) hay “thị trấn sân bay”. Gần Một nửa số cư dân của Spruce Creek có máy bay. Cụ thể ở đây chỉ có khoảng 5.000 cư dân, 1.300 ngôi nhà nhưng có tới 700 nhà chứa máy bay. Nhà chứa máy bay phổ biến như garage ô tô ở những khu dân cư thông thường. Hầu hết mỗi gia đình ở đây đều sở hữu ít nhất 1 chiếc máy bay và đều xây riêng khu nhà để máy bay cùng con đường dẫn tới đường băng.
Khái niệm về mô hình thị trấn hàng không bắt đầu nhen nhóm sau Thế chiến II, khi nước Mỹ đã phát triển ồ ạt về số lượng cả các sân bay và phi công. Để thích ứng với số lượng lớn người có khả năng lái máy bay, Cục Quản lý Hàng không Dân sự Mỹ đề xuất xây dựng mô hình thị trấn hàng không, nơi có đường băng và người dân có thể sinh sống ngay tại đó. Đây chính là một trong những động lực để người dân phát triển mô hình Airpark - thị trấn sân bay.
Với mô hình Airpark, mỗi lần đi máy bay họ không cần phải chạy xe ra các sân bay cách xa nhà, mà đơn giản chỉ cần bước ra khỏi cửa là leo lên máy bay, và có thể đáp ngay ở đường băng trước sân nhà vô cùng thuận tiện.
Bạn không những phải là một người có tiền để mua đất ở đây và sắm một chiếc máy bay, mà còn có khả năng thích ứng với tiếng ồn của máy bay, bởi khu này hầu như nhà nào cũng có một chiếc phi cơ đậu ngay trước cửa.
Gia đình sở hữu máy bay riêng là chuyện bình thường ở Spruce Creek. Ảnh: Internet
“Thiên đường” dành cho người đam mê máy bay… và có tiền
Đa phần cư dân ở đây là phi công chuyên nghiệp, số còn lại gồm bác sĩ, luật sư, doanh nhân bất động sản. Dù làm các nghề nghiệp khác nhau nhưng tất cả đều có điểm chung là niềm đam mê với những chiếc máy bay.
Người dân sống ở Spruce Creek đều có mức thu nhập cao. Ước tính, cần có ít nhất 169.000 USD để sở hữu một căn hộ nhỏ ở Spruce Creek. Trong khi đó, biệt thự lớn hơn với nhà chứa máy bay có giá lên tới hàng triệu USD.
Thay vì có nhà để xe, các ngôi nhà ở Spruce Creek đều có bãi để máy bay. Các bãi chứa máy bay đều có đường dẫn trực tiếp đến đường băng. Đường băng riêng này dẫn thẳng ra đường cao tốc được định vị bằng hệ thống GPS.
Ngoài sự giàu có, người dân nơi đây còn tự hào với an ninh nghiêm ngặt, có đội tuần tra bảo vệ 24 giờ, hàng loạt câu lạc bộ bay, dịch vụ cho thuê và huấn luyện bay cũng như có hẳn một sân golf 18 lỗ cũng được xây dựng phục vụ cho nhu cầu giải trí.
Hầu hết các gia đình ở Spruce Creek đều có máy bay riêng. Cứ vào sáng thứ 7 mỗi tuần, họ lại tụ tập tại đường băng, cất cánh theo nhóm 3 người và di chuyển tới một trong những sân bay địa phương chỉ để ăn sáng. Họ gọi đây là "Saturday Morning Gaggle".
Hình ảnh quen thuộc tại thị trấn đặc biệt. Ảnh: Internet
"Bộ sưu tập" máy bay ở Spruce Creek bao gồm từ Boeing cho đến Cessnas và Pipers, P-51 Mustang, L-39 Albatros, Eclipse 500, Fouga Magister của Pháp. Không chỉ có máy bay, ở đây người ta còn có thể bắt gặp Lamborghini, tàu hộ tống, xe máy đủ hình dáng và thậm chí cả Porsche GT2.
Carlos Bravo, một cư dân lâu năm của Spruce Creek. Theo ông Bravo, không có sân bay dân sự nào có quy mô lớn và hấp dẫn như Spruce Creek. Ông làm phi công từ năm 16 tuổi và đã mất nửa năm tìm một sân bay phù hợp để có thể sử dụng chiếc máy bay của mình đi đến Chicago.
Ông chia sẻ: "Khi đến đây, cảm giác như tôi đến Disneyland lần đầu tiên vậy. Nó trông như một khu phố thực sự trong khi hầu hết các sân bay dân sự khác chỉ có một dải cỏ nhỏ ở trung tâm với những ngôi nhà đủ kiểu. Nơi đây thực sự sang trọng".
Dù không phải tất cả cư dân ở Spruce Creek đều là phi công nhưng không có gì lạ khi bước vào một nhà chứa máy bay và nhìn thấy những bức tường được bao phủ bởi các bộ phận của máy bay cổ và kỷ vật liên quan. Nơi đây cũng có một số người nổi tiếng sinh sống như tài tử John Travolta.
Thuỳ Anh
TẠI SAO CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN KHÔNG THỂ QUÊN AI ĐÃ CỨU MÌNH VÀ AI ĐÃ BỎ RƠI MÌNH
“Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà.
Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”
— Ronald Reagan, A Time for Choosing, 1964
Tôi viết những dòng này không phải bằng mực, mà bằng máu của ký ức. Máu của những người lính miền Nam VNCH chết không phải vì hèn nhát mà vì hết đạn. Máu của những bà mẹ ôm con nhảy xuống biển và không bao giờ nổi lên. Máu của những người cha gầy trơ xương trong trại tù Cộng sản, chết trong im lặng, không một dòng cáo phó. Tôi không viết để gieo hận thù. Tôi viết vì sự thật đang bị lãng quên, và khi sự thật bị lãng quên, thì những người đã chết sẽ chết lần thứ hai.
Năm 1964, Ronald Reagan đứng trước cả nước Mỹ và nói một câu mà lịch sử sẽ chứng minh là lời tiên tri: “Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”
Mười một năm sau, nước Mỹ làm đúng điều Reagan khuyến cáo: gọi cuộc chiến lại và về nhà. Và bóng tối phủ xuống Việt Nam — chưa đủ một ngàn năm, nhưng đủ lâu để hàng triệu người chết, hàng triệu người bị bỏ tù, và hàng triệu người phải rời bỏ quê hương mãi mãi. Câu hỏi mà bài viết này đặt ra rất đơn giản: ai đã gây ra bóng tối ấy, và ai đã thắp lên ngọn nến?
NHÁT DAO ĐẦU TIÊN — VỤ LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
Hãy quay về Sài Gòn, mùa thu năm 1963. Ngô Đình Diệm — con người đã nhận một miền Nam hoang tàn sau Hiệp định Geneva 1954 và xây dựng nó thành một quốc gia có chủ quyền giữa vòng vây của du kích Cộng sản — đang điều hành một đất nước non trẻ trong vỏn vẹn 9 năm, tuy chưa hoàn hảo nhưng đang đứng vững. Ông đã làm được điều mà ngay cả chính tổng thống Dwight D. Eisenhower đã phải thốt lên: “Người tạo nên kỳ tích của châu Á” (“Miracle man of Asia”).
Có thể trong mắt 1 số người, Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân. Nhưng ông là đồng minh của Mỹ. Và đồng minh, trong mọi luật chơi của quan hệ quốc tế, không phải để giết.
Nhưng chính quyền của tổng thống đảng Dân Chủ John F. Kennedy lại nghĩ khác. Ngày 24 tháng 8 năm 1963, một bức điện tín từ Bộ Ngoại giao Mỹ — cáp điện DEPTEL 243, sáu chữ số sẽ khắc vĩnh viễn vào lịch sử như vết dao không bao giờ lành — được gửi tới Sài Gòn, bật đèn xanh cho các tướng lĩnh Việt Nam đã được Mỹ mua chuộc bằng tiền: Washington sẽ không cản đảo chánh.
Đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. thực thi mệnh lệnh với sự nhiệt tình mà sau này chính những người ra lệnh phải hối hận. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị giết trong xe thiết giáp. Một vị tổng thống đồng minh bị chính đồng minh của mình giết. Và ba tuần sau, John Kennedy cũng bị giết tại Dallas — và như thể lịch sử có cách riêng để trả lại món nợ.
Hậu quả của cuộc lật đổ ấy là cơn hồng thủy chính trị: bảy cuộc đảo chính liên tiếp trong hai năm, miền Nam rơi vào hỗn loạn, và chính sự hỗn loạn ấy cho phép chính quyền Dân Chủ tiếp theo — Lyndon B. Johnson — đổ nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam năm 1965 với Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ — dựa trên một sự kiện mà lịch sử xác nhận đã bị phóng đại và bóp méo. Xin hãy nghe kỹ lôgic tàn nhẫn này: họ giết nhà lãnh đạo đồng minh, tạo khoảng trống quyền lực, rồi dùng chính khoảng trống ấy để đổ quân vào. Hơn 58.000 quân nhân Mỹ và hàng triệu người Việt chết trong cuộc chiến mà đảng Dân Chủ khởi động nhưng không có chiến lược kết thúc. Đây là nhát dao đầu tiên.
NHÁT DAO THỨ HAI — JOHN KERRY VÀ LỜI PHẢN BỘI TRƯớC QUỐC HỘI
Nếu vụ lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm là nhát dao chém vào đầu, thì lời điều trần của John Kerry ngày 22 tháng 4 năm 1971 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện là nhát dao xoay trong vết thương còn đang rỉ máu. Hãy hình dung khung cảnh: một chàng trai 27 tuổi, mặc quân phục, đeo huy chương Silver Star và ba Purple Hearts, ngồi trước ống kính truyền hình quốc gia và nói với cả nước Mỹ rằng những người lính đồng đội của anh ta — và, bằng nghĩa mở rộng, những người lính đồng minh miền Nam — là những kẻ “hiếp dâm, cắt tai, cắt đầu, dùng dây điện gắn vào cơ quan sinh dục, tàn phá làng mạc theo kiểu Thành Cát Tư Hãn.”
Hãy để những lời ấy lắng xuống trong lòng bạn một giây. John Kerry so sánh những người lính Mỹ và đồng minh Việt Nam với kẻ xua quân tàn sát khắp lục địa với Thành Cát Tư Hãn. Và cả nước Mỹ xem. Và cả thế giới nghe. Và Hà Nội — Hà Nội đặc biệt ghi nhận, cất giữ, và sử dụng từng lời của Kerry như đạn dược tuyên truyền trong suốt những năm còn lại của cuộc chiến. Người lính Việt Nam Cộng Hòa — người đã bỏ lại vợ con để vào sinh ra tử, người mà sau này sẽ chết trong trại tù cộng sản hoặc chìm dưới đáy biển Đông — bị Kerry gộp chung vào bức tranh tội ác mà không một lời phân biệt, không một chút công bằng, không một giọt đồng cảm.
Nhưng điều đau đớn hơn cả lời nói là hậu quả. Kerry không chỉ nói — ông tạo ra môi trường. Ông giúp biến cuộc chiến tranh Việt Nam thành vết nhơ trong lương tâm Mỹ, và từ vết nhơ ấy, Quốc Hội Đảng Dân Chủ có cơ sở đạo đức để cắt viện trợ, bỏ rơi đồng minh, và rửa tay khỏi máu của hàng triệu người. Và để nghịch lý lên đến đỉnh điểm: năm 2004, chính Kerry ra tranh cử tổng thống với tư cách ứng viên Đảng Dân Chủ, dùng kinh nghiệm Việt Nam làm vốn chính trị. Rồi với tư cách Ngoại trưởng dưới thời tổng thống Obama, Kerry tiếp tục xích lại gần Hà Nội, nâng cấp quan hệ song phương, và không bao giờ — không một lần — đặt nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Người phản bội người lính đồng minh năm 1971 giờ ôm hôn chế độ đã bỏ tù chính những người lính ấy. Phản bội kép. Và cả hai lần đều dưới ngọn cờ Dân Chủ.
NHÁT DAO THỨ BA — CẮT VIỆN TRỢ VÀ THÁNG TƯ ĐEN
Năm 1973, Tổng thống Cộng Hòa Richard Nixon ký Hiệp định Hòa bình Paris, kèm theo một lời hứa — lời hứa của cường quốc số một thế giới với một quốc gia nhỏ bé đã đổ máu suốt hai mươi năm vì niềm tin của Mỹ: chúng tôi sẽ tiếp tục viện trợ. Các bạn sẽ không bị bỏ rơi.
Lời hứa ấy bị phản bội ngay trước mắt những người đã tin. Tu Chính Án Case-Church năm 1973, do hai nghị sĩ Dân Chủ chủ xướng, cấm mọi hành động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Rồi Quốc Hội Dân Chủ ra tay nghiền nát: viện trợ cho miền Nam bị cắt từ 1,4 tỷ đô la xuống 700 triệu, rồi xuống 300 triệu — trong khi Liên Xô và Trung Quốc đổ vũ khí cho Bắc Việt như nước sông. Quân đội miền Nam không còn đạn để bắn, không còn nhiên liệu để chạy xe, không còn phụ tùng để sửa máy bay. Họ chiến đấu bằng tay không chống lại đạo quân được trang bị tận răng. Và họ thua. Không phải vì họ hèn. Mà vì họ bị phản bội.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Một quốc gia biến mất. Hàng triệu người bị đưa vào trại tù “cải tạo” cái tên thật khốn nạn dành cho trại tù của Cộng sản — làm việc khổ sai, bị đánh đập, bị bỏ đói, nhiều người chết trong im lặng. Hàng trăm ngàn người liều mạng ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, và biển Đông trở thành nghĩa trang không bia mộ lớn nhất thế kỉ 20. Lời tiên tri của Reagan thành hiện thực: bóng tối đã phủ xuống Việt Nam. Và những người tắt đèn chính là Quốc Hội do Đảng Dân Chủ nắm quyền.
NHÁT DAO THỨ TƯ — BIDEN VÀ CÂU NÓI MÀ NGƯỜI VIỆT KHÔNG BAO GIỜ QUÊN
Trong những giờ phút tăm tối nhất ấy, khi Sài Gòn đang hấp hối và Tổng thống Cộng Hòa Gerald Ford cầu xin Quốc Hội bật đèn xanh cho lệnh di tản, có một giọng nói trẻ trung và lạnh lùng vang lên trong Toà Bạch Ốc ngày 14 tháng 4 năm 1975. Đó là giọng của Thượng nghị sĩ Joe Biden, 32 tuổi. Và ông nói: “Tôi sẽ bỏ phiếu cho bất kỳ khoản nào để đưa người Mỹ ra. NHƯNG —Tôi không muốn gộp chung với việc đưa người Việt ra.”
Hãy đọc lại câu ấy. Chậm. Từng. Chữ. Một. “Tôi không muốn gộp chung việc đưa người Việt ra.” Trong khi hàng trăm ngàn người đã làm việc cho Mỹ — phiên dịch, tài xế, nhân viên, quân nhân đồng minh — đang run rẩy chờ chết dưới họng súng Bắc Việt. Joe Biden còn nói: “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ, về đạo đức hay gì khác, để di tản công dân nước ngoài” và “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ di tản một — hoặc 100.001 — người miền Nam Việt Nam.” Không có nghĩa vụ đạo đức. Với những người đã đổ máu vì tin Mỹ.
Nhưng Gerald Ford — một tổng thống Cộng Hòa không được bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, nhưng có lương tâm — đã nói “có.” Ông bất chấp Biden. Bất chấp Quốc Hội Dân Chủ. Bất chấp dư luận mệt mỏi chiến tranh. Và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ an toàn. 130.000 cuộc đời mà Biden muốn bỏ lại. Hãy tự hỏi: bạn, hoặc cha mẹ bạn, hoặc ông bà bạn, có nằm trong 130.000 người ấy không?
NHÁT DAO THỨ NĂM — BILL CLINTON VÀ CHIẾC PHAO CỬU MẠNG CHO CHÍNH QUYỀN HẤP HỐI
Xin hãy theo tôi quay về đầu thập niên 1990 — một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam mà ít người nhận ra. Liên Xô vừa sụp đổ, cuốn theo nguồn viện trợ sống còn của Hà Nội. Nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ. Lạm phát phi mã tới 700%. Người dân đói khổ. Cán bộ cộng sản tìm đường tẩu tán tài sản bỏ đi ra hải ngoại. Bộ máy đảng lung lay. Chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở đúng nơi mà Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Rumani đã đứng trước khi sụp: bên bờ vực thẳm. Cấm vận của Mỹ là cái thòng lọng đang siết chặt cổ họng một chế độ đã hết ợ dựa. Lịch sử đang mở một cánh cửa — cánh cửa mà, nếu Mỹ giữ vững áp lực, có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ và tự do cho tám mươi triệu con người.
Tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton đóng sập cánh cửa ấy. Năm 1994, ông bỏ cấm vận thương mại. Năm 1995, ông bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Năm 2000, ông bay đến Hà Nội — vị tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam kể từ chiến tranh — và bắt tay với những người đã giết 58.000 quân nhân Mỹ, những người vẫn đang giam cầm tư tưởng, đàn áp tôn giáo, và cưỡng chế đất đai của dân. Clinton thả chiếc phao cứu mạng xuống giữa lúc chế độ đang chìm. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào. Thương mại mở ra. Và đảng Cộng sản — với bộ máy đàn áp vẫn nguyên — được tiêm máu mới để sống thêm ba thập niên.
Clinton và những người ủng hộ ông nói rằng bình thường hóa sẽ “mở cửa tự do.” Ba mươi năm sau, hãy kiểm kê: cửa tự do ở đâu? Việt Nam năm 2026 vẫn là nhà nước độc đảng. Người bất đồng chính kiến vẫn bị bỏ tù. Truyền thông vẫn bị kiểm soát. Tôn giáo vẫn bị sách nhiễu. Đất đai vẫn bị cưỡng chế. Nhưng đảng Cộng sản thì giàu lên, quan chức thì xây biệt phủ, con cái họ thì du học ở Mỹ, và hệ thống độc tài thì vững chắc hơn bao giờ hết — tất cả nhờ chiếc phao mà một tổng thống Dân Chủ đã quăng xuống. Bình thường hóa không giải phóng người dân Việt — nó giải phóng chế độ khỏi sự sụp đổ.
NGỌN NỀN GIỬA BÓNG TỐI — FORD VÀ REAGAN
Giữa bức tranh đen tối ấy, hai vị tổng thống đảng Cộng Hòa nổi lên như những ngọn nến mà gió không dập tắt được.
Gerald Ford — tổng thống không ai bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, không có vốn chính trị để đốt, nhưng có một thứ mà tổng thống đảng Dân Chủ Joe Biden không có: lương tâm. Ông đứng lên trước Quốc Hội đang nói “không,” trước dư luận đang mệt mỏi, trước các cuộc thăm dò đang chống, và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ.
Julia Taft, người phụ trách tái định cư, nói với NPR: “Họ là phiên dịch, là nhân viên, là một phần của quân đội đồng minh. Lẽ ra họ phải được giúp đỡ.” Và Ford đã giúp.
Rồi đến Ronald Reagan — người mà với người Việt tỵ nạn, tên ông gắn liền với hai chữ: hồng ân. Năm 1984, Ngoại trưởng Shultz tuyên bố trước Quốc Hội rằng Mỹ sẵn sàng nhận tới 10.000 tù nhân chính trị. Năm 1987, Nghị quyết 205 và 212 tạo khung pháp lý cho chương trình Nhân đạo. Ngày 30 tháng 7 năm 1989, dưới thời Bush cha, hiệp định HO được ký. Và cánh cửa tự do mở ra cho 180.000 cựu tù nhân cải tạo và gia đình — những người đã chịu tra tấn, lao động khổ sai, và mất mát không thể đo đếm.
Trong bài Diễn văn Chia tay ngày 11 tháng 1 năm 1989, Reagan nhắc nhở nước Mỹ về nghĩa vụ đối với người tỵ nạn Việt Nam — ông không nói suông như Clinton, ông hành động. Và 180.000 cuộc đời được cứu là bằng chứng.
Nhiều gia đình Việt tại Mỹ ngày nay — những gia đình HO — không biết rằng sự tồn tại của họ trên đất Mỹ bắt nguồn từ một quyết định của Reagan. Con cái họ học trường Mỹ, đậu đại học Mỹ, làm bác sĩ kỹ sư luật sư tại Mỹ — tất cả bắt đầu từ một tổng thống Cộng Hòa đã nghĩ đến họ khi không ai khác buồn nghĩ. Đây không phải lý thuyết chính trị. Đây là lịch sử gia đình. Và lịch sử gia đình không nên bị quên bởi bất kỳ chiến dịch vận động nào.
LÁ PHIẾU LÀ KÝ ỬC, VÀ KÝ ỬC LÀ MÓN NỢ KHÔNG THỂ QUÊN
Tôi đã dẫn bạn đi qua sáu mươi năm lịch sử. Sáu mươi năm máu và nước mắt. Và mô hình lặp đi lặp lại với sự tàn nhẫn của máy đồng hồ: đảng Dân Chủ giết đồng minh, đổ quân không kế hoạch, Kerry phản bội người lính, Quốc Hội cắt viện trợ, Biden nói “không có nghĩa vụ,” Clinton thả phao cứu chế độ đã giam cầm chính chúng ta. Trong khi Ford cứu 130.000 người. Reagan mở cửa cho 180.000 tù nhân. Đây không phải tình cờ. Đây là lịch sử.
Mỗi lá phiếu của người Việt tỵ nạn không chỉ là lựa chọn chính trị. Nó là hành động ký ức. Là câu trả lời cho câu hỏi mà cha ông chúng ta đã trả bằng máu: bạn có nhớ ai đã cứu mình không, và bạn có nhớ ai đã bỏ rơi mình không?
Reagan đã nói: cái giá của loại hòa bình dễ dãi là một ngàn năm bóng tối. Người Việt đã và đang sống trong bóng tối ấy. Và lá phiếu chính là cách duy nhất để bóng tối không quay lại — cho Việt Nam, cho nước Mỹ, và cho những đứa trẻ mà cha ông đã liều mạng vượt biển để chuyển giao cho chúng một điều duy nhất: TỰ DO.
Lá phiếu là ký ức. Ký ức là món nợ. Và món nợ, đối với người Việt tỵ nạn, là điều thiêng liêng mà Tháng Tư Đen 1975 không bao giờ cướp được.
Vo Danh
******************************///////**********************************
WHY THE VIETNAMESE REFUGEE COMMUNITY CAN NEVER FORGET WHO SAVED THEM AND WHO ABANDONED THEM
“Ending a conflict is not simply a matter of calling it off and going home. For the price of that kind of peace may be a thousand years of darkness.”
— Ronald Reagan, A Time for Choosing, 1964
I write these lines not with ink, but with the blood of memory. The blood of South Vietnamese soldiers who died not from cowardice but from running out of ammunition. The blood of mothers clutching their children as they leaped into the sea and never resurfaced. The blood of fathers, skeletal and wasting, in Communist prison camps, dying in silence without a single obituary. I do not write to sow hatred. I write because the truth is being forgotten, and when the truth is forgotten, those who have died will die a second time.
In 1964, Ronald Reagan stood before the entire nation and spoke a sentence that history would prove prophetic: “Ending a conflict is not simply a matter of calling it off and going home. For the price of that kind of peace may be a thousand years of darkness.” Eleven years later, America did exactly what Reagan had warned against: it called off the war and went home. And darkness descended upon Vietnam — not yet a thousand years, but long enough for millions to die, millions to be imprisoned, and millions to leave their homeland forever. The question this essay poses is simple: who brought about that darkness, and who lit the candle?
THE FIRST CUT — THE OVERTHROW OF PRESIDENT NGO DINH DIEM
Let us return to Saigon, autumn of 1963. Ngo Dinh Diem — the man who had inherited a devastated South after the 1954 Geneva Accords and built it into a sovereign nation encircled by Communist guerrillas — had been governing a young country for a mere nine years, imperfectly perhaps, but standing firm. He had accomplished what even President Dwight D. Eisenhower himself exclaimed: “The miracle man of Asia.” In some people’s eyes, President Ngo Dinh Diem may not have been a saint. But he was America’s ally. And allies, under every rule of international relations, are not meant to be killed.
But the Democratic administration of President John F. Kennedy thought otherwise. On August 24, 1963, a cable from the U.S. State Department — Cable DEPTEL 243, six digits that would be carved permanently into history like a wound that never heals — was sent to Saigon, giving the green light to Vietnamese generals who had been bought with American money: Washington would not stand in the way of a coup.
Ambassador Henry Cabot Lodge Jr. carried out the order with an enthusiasm that those who had issued it would later come to regret. On November 2, 1963, President Ngo Dinh Diem and his brother Ngo Dinh Nhu were killed inside an armored personnel carrier. An allied president murdered by his own ally. And three weeks later, John Kennedy himself was killed in Dallas — as though history has its own way of settling debts.
The consequence of that overthrow was a political deluge: seven coups in two years, the South plunging into chaos, and that very chaos allowing the next Democratic administration — Lyndon B. Johnson — to pour half a million American troops into Vietnam in 1965 under the Gulf of Tonkin Resolution, based on an incident that history has confirmed was exaggerated and distorted. Listen carefully to this ruthless logic: they killed the allied leader, created a power vacuum, then used that very vacuum to justify sending in troops. Over 58,000 American servicemen and millions of Vietnamese died in a war that the Democratic Party started but had no strategy to finish. This was the first cut.
THE SECOND CUT — JOHN KERRY AND THE BETRAYAL BEFORE CONGRESS
If the overthrow of President Ngo Dinh Diem was a blade to the head, then John Kerry’s testimony on April 22, 1971, before the Senate Foreign Relations Committee was the blade twisting in a wound still bleeding. Picture the scene: a 27-year-old man in uniform, wearing a Silver Star and three Purple Hearts, sitting before national television cameras and telling all of America that his fellow soldiers — and, by extension, the allied soldiers of South Vietnam — were people who “raped, cut off ears, cut off heads, taped wires from portable telephones to human genitals, razed villages in a fashion reminiscent of Genghis Khan.”
Let those words settle in your heart for a moment. John Kerry compared American soldiers and their Vietnamese allies to Genghis Khan, the conqueror who unleashed armies of slaughter across continents. And all of America watched. And the whole world listened. And Hanoi — Hanoi took special note, filed away, and weaponized every word Kerry spoke as propaganda ammunition for the remainder of the war. The soldier of the Republic of Vietnam — the man who had left his wife and children behind to fight and die, the man who would later perish in a Communist prison camp or sink to the bottom of the South China Sea — was lumped by Kerry into a portrait of atrocity without a single word of distinction, without a shred of fairness, without a drop of empathy.
But more painful than the words were the consequences. Kerry did not merely speak — he created an environment. He helped turn the Vietnam War into a stain on America’s conscience, and from that stain, the Democratic Congress derived the moral justification to cut aid, abandon an ally, and wash its hands of the blood of millions. And to bring the irony to its peak: in 2004, Kerry himself ran for president as the Democratic nominee, using his Vietnam experience as political capital. Then, as Secretary of State under President Obama, Kerry continued to draw closer to Hanoi, upgrading bilateral relations, and never — not once — making human rights a precondition. The man who betrayed the allied soldier in 1971 now embraced the regime that had imprisoned those very soldiers. A double betrayal. And both times under the Democratic banner.
THE THIRD CUT — THE AID CUTOFF AND BLACK APRIL
In 1973, Republican President Richard Nixon signed the Paris Peace Accords, accompanied by a promise — the promise of the world’s foremost superpower to a small nation that had shed blood for twenty years in the name of America’s beliefs: we will continue to provide aid. You will not be abandoned.
That promise was betrayed before the very eyes of those who had believed it. The Case-Church Amendment of 1973, sponsored by two Democratic senators, prohibited all American military action in Indochina. Then the Democratic Congress delivered the crushing blow: aid to the South was slashed from $1.4 billion to $700 million, then to $300 million — while the Soviet Union and China poured weapons into North Vietnam like river water. The South Vietnamese military had no ammunition to fire, no fuel to run vehicles, no spare parts to repair aircraft. They fought with bare hands against an army armed to the teeth. And they lost. Not because they were cowards. But because they were betrayed.
On April 30, 1975, North Vietnamese tanks smashed through the gates of the Independence Palace. A nation vanished. Millions were sent to “re-education camps” — that wretched euphemism for Communist prisons — subjected to forced labor, beaten, starved, many dying in silence. Hundreds of thousands risked their lives at sea on fragile boats, and the South China Sea became the largest unmarked cemetery of the twentieth century. Reagan’s prophecy came true: darkness had descended upon Vietnam. And the ones who turned off the lights were the Democratic-controlled Congress.
THE FOURTH CUT — BIDEN AND THE WORDS THE VIETNAMESE WILL NEVER FORGET
In those darkest hours, as Saigon lay dying and Republican President Gerald Ford begged Congress to authorize an evacuation, a young and cold voice rang out in the White House on April 14, 1975. It was the voice of Senator Joe Biden, age 32. And he said: “I will vote for any amount for getting the Americans out. BUT — I don’t want it mixed up with getting the Vietnamese out.”
Read that sentence again. Slowly. Word. By. Word. “I don’t want it mixed up with getting the Vietnamese out.” While hundreds of thousands of people who had worked for America — interpreters, drivers, staff, allied soldiers — trembled awaiting death under North Vietnamese guns. Biden also said: “The United States has no obligation, moral or otherwise, to evacuate foreign nationals” and “The United States has no obligation to evacuate one — or 100,001 — South Vietnamese.” No moral obligation. Toward the people who had shed blood because they believed in America.
But Gerald Ford — an unelected Republican president, without a popular mandate, without political capital to spend, but possessing something that Democratic Senator Joe Biden did not: a conscience — said “yes.” He defied Biden. Defied the Democratic Congress. Defied a war-weary public opinion. And he ordered the evacuation. 130,000 Vietnamese were brought safely to America. 130,000 lives that Biden wanted to leave behind. Ask yourself: are you, or your parents, or your grandparents, among those 130,000?
THE FIFTH CUT — BILL CLINTON AND THE LIFELINE TO A DYING REGIME
Follow me back to the early 1990s — one of the most consequential moments in Vietnamese history that few people recognize. The Soviet Union had just collapsed, sweeping away Hanoi’s lifeline of aid. Vietnam’s economy was exhausted. Inflation soared to 700 percent. The people starved. Communist cadres sought to smuggle their assets abroad. The Party apparatus trembled. The Vietnamese Communist regime stood exactly where the Soviet Union, East Germany, Poland, and Romania had stood before they fell: on the brink of the abyss. The American embargo was the noose tightening around the throat of a regime that had run out of patrons. History was opening a door — a door that, had America maintained the pressure, could have led to the regime’s collapse and freedom for eighty million people.
Democratic President Bill Clinton slammed that door shut. In 1994, he lifted the trade embargo. In 1995, he normalized diplomatic relations with Hanoi. In 2000, he flew to Hanoi — the first American president to set foot in Vietnam since the war — and shook hands with the people who had killed 58,000 American servicemen, people who were still imprisoning thought, suppressing religion, and seizing citizens’ land. Clinton threw a lifeline into the water just as the regime was drowning. Foreign investment capital poured in. Trade opened up. And the Communist Party — its apparatus of repression still fully intact — received a transfusion of new blood to survive another three decades.
Clinton and his supporters said normalization would “open the door to freedom.” Thirty years later, let us take inventory: where is that door to freedom? Vietnam in 2026 remains a one-party state. Dissidents are still imprisoned. Media is still controlled. Religion is still harassed. Land is still seized. But the Communist Party has grown rich, officials build mansions, their children study in America, and the authoritarian system is stronger than ever — all thanks to the lifeline a Democratic president threw down. Normalization did not liberate the Vietnamese people — it liberated the regime from collapse.
CANDLES IN THE DARKNESS — FORD AND REAGAN
Against that dark canvas, two Republican presidents emerge like candles that no wind could extinguish.
Gerald Ford — a president no one elected, without a popular mandate, without political capital to burn, but possessing one thing that Democratic Senator Joe Biden did not: a conscience. He stood up before a Congress that said “no,” before a weary public, before polls that were against him, and he ordered the evacuation. 130,000 Vietnamese were brought to America. Julia Taft, the official in charge of resettlement, told NPR: “They were interpreters, staff members, part of the allied military. They should have been helped.” And Ford helped them.
Then came Ronald Reagan — the man whose name, for Vietnamese refugees, is synonymous with two words: divine grace. In 1984, Secretary of State Shultz announced before Congress that America was prepared to accept up to 10,000 political prisoners. In 1987, Resolutions 205 and 212 created the legal framework for the Humanitarian Operation program. On July 30, 1989, under George H.W. Bush, the HO agreement was signed. And the door to freedom opened for 180,000 former re-education camp prisoners and their families — people who had endured torture, forced labor, and immeasurable loss. In his Farewell Address on January 11, 1989, Reagan reminded America of its obligation to Vietnamese refugees — he did not speak empty words like Clinton; he acted. And 180,000 saved lives stand as proof.
Many Vietnamese families in America today — the HO families — do not realize that their existence on American soil traces back to a decision by Reagan. Their children attend American schools, graduate from American universities, become doctors, engineers, and lawyers in America — all beginning with a Republican president who thought of them when no one else cared to. This is not political theory. This is family history. And family history should not be erased by any campaign.
THE BALLOT IS MEMORY, AND MEMORY IS A DEBT THAT CANNOT BE FORGOTTEN
I have walked you through sixty years of history. Sixty years of blood and tears. And a pattern that repeats with the cruelty of clockwork: the Democratic Party killed an ally, poured in troops without a plan, Kerry betrayed the soldier, Congress cut the aid, Biden said “no obligation,” Clinton threw a lifeline to the regime that had imprisoned us. Meanwhile, Ford saved 130,000 people. Reagan opened the door for 180,000 prisoners. This is not coincidence. This is history.
Every ballot cast by a Vietnamese refugee is not merely a political choice. It is an act of memory. It is the answer to the question that our forebears paid for in blood: do you remember who saved you, and do you remember who abandoned you?
Reagan said: the price of an easy peace is a thousand years of darkness. The Vietnamese have lived and continue to live in that darkness. And the ballot is the only way to ensure that the darkness does not return — for Vietnam, for America, and for the children whose fathers and mothers risked their lives crossing the sea to bequeath them one single thing: FREEDOM.
The ballot is memory. Memory is a debt. And that debt, for the Vietnamese refugee, is something sacred that Black April 1975 can never steal.
Đường dây lừa đảo tiền bảo hiểm cứu hộ trực thăng giả mạo tại Nepal bị bóc trần
RT•Thứ Bảy, 04/04/2026
Theo báo Kathmandu Post, một số hướng dẫn viên du lịch tại Nepal đã vận hành một đường dây cứu hộ trực thăng giả mạo để lừa đảo các công ty bảo hiểm tại Úc và Anh.
Du khách leo núi Himalaya. (Ảnh: Shutterstock)
Các cuộc điều tra của tờ báo này tiết lộ rằng ban đầu các hướng dẫn viên sẽ dàn dựng một tình huống y tế khẩn cấp, gọi trực thăng đến và đưa khách du lịch vào bệnh viện. Sau đó, một hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm sẽ được lập ra. Điều này gây khó khăn cho các đơn vị bảo hiểm nước ngoài (chủ yếu hoạt động tại Úc và Anh) trong việc xác minh những sự cố được cho là xảy ra ở độ cao 3.000 mét so với mực nước biển tại các vùng hẻo lánh thuộc dãy Himalaya.
Tờ báo này lần đầu công bố báo cáo điều tra về vụ lừa đảo vào năm 2019. Mặc dù các nhà chức trách Nepal không lập tức hành động trước những cáo buộc, nhưng vào năm 2025, Cục Điều tra Trung ương (CIB) thuộc Cảnh sát Nepal đã mở lại vụ án và phát hiện ra rằng hành vi này đang diễn ra trên diện rộng.
Theo báo cáo, cuộc điều tra của CIB đã hé lộ hai phương thức mà các hướng dẫn viên sử dụng để giả mạo tình huống khẩn cấp.
Phương thức đầu tiên liên quan đến những du khách không muốn đi bộ xuống từ các điểm cao. Sau chuyến đi bộ đến Trại nền Everest vốn có thể mất tới 2 tuần đi bộ, những kẻ lừa đảo đã thuyết phục các du khách ngại đi bộ quay về giả vờ bị bệnh. Sau đó, họ được đưa về bằng trực thăng.
Trong phương thức thứ hai, các hướng dẫn viên lợi dụng một số triệu chứng nhẹ và phổ biến của hội chứng say độ cao, sau đó nói với du khách rằng chỉ có sơ tán ngay lập tức mới có thể cứu sống họ.
Báo cáo cũng cho biết, các hướng dẫn viên đã chở nhiều du khách trên cùng một chuyến trực thăng, nhưng lại cung cấp những hóa đơn riêng biệt cho công ty bảo hiểm của mỗi hành khách như thể đó là một chuyến bay riêng lẻ. Việc này đã thổi phồng các khoản bồi thường từ 4.000 USD lên cao tới mức 12.000 USD.
Các nhân viên y tế cấu kết với những kẻ lừa đảo đã chuẩn bị bản tóm tắt hồ sơ xuất viện bằng cách sử dụng chữ ký điện tử của các bác sĩ cấp cao, đồng thời tạo ra các hồ sơ nhập viện giả.
Các điều tra viên chính thức phát hiện ra rằng 4.782 bệnh nhân nước ngoài đã được điều trị tại các bệnh viện địa phương từ năm 2022 đến 2025 trong đường dây lừa đảo này. Theo báo cáo, một số bệnh viện nhận được hàng triệu USD liên quan đến vụ lừa đảo cũng đã được xác định.
Vào ngày 12/3, CIB đã buộc tội 32 đối tượng với các tội danh chống lại nhà nước và bắt giữ 9 người trong số đó. Những nghi phạm còn lại được cho là đang bỏ trốn.
Cựu Thủ tướng Nepal bị bắt vì cáo buộc liên quan cái chết của hàng chục người biểu tình
Minh Hoàng, theo RT
nguồn trithucvn2.net.
Sunday, April 5, 2026
Ảo Ảnh Đời Tôi
Phần 1: Con là nợ, vợ là oan gia, cửa nhà nghiệp báo.
Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng
Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không.
Chưa bao giờ tôi thấy hai câu thơ trên thấm thía đến tận xương tủy của mình như những lúc này. Đối với tôi, một gã đàn ông tuổi đời chỉ còn vài năm nữa sau một bữa tiệc ăn mừng thượng thọ Lục Tuần sẽ được phong chức cụ. Lỡ dại sau bữa tiệc quá chén bị trúng gió ngã lăn quay, trên bàn Linh sẽ được viết hai chữ Hưởng Thọ chứ không phải Hưởng Dương.
Nhưng diện mạo tôi hiện nay hoàn toàn trái ngược, chẳng cân xứng với tuổi tác thực tế. Mái tóc muối tiêu mà phần muối nhiều hơn tiêu, đã được nhuộm màu đen tuyền hoàn hảo, trang phục được chăm chút chu đáo với những hàng hiệu nổi tiếng, như phần nào che được nét khắc nghiệt của thời gian đã hằn trên tôi.
Không diện vào cho trẻ, làm sao dám đi cùng người vợ trẻ mới rước từ Việt Nam sang. Tình yêu quả không biên giới, không phân biệt tuổi tác, nó khiến bao hormon trong thân thể già cỗi của tôi bừng bừng trào dâng mãnh liệt, đam mê, như người đang đi trong đường hầm chợt nhìn thấy ánh sáng le lói tận nơi xa thẳm. Cảm giác say sưa bên người vợ trẻ, mãnh liệt đến nỗi, nó khiến tôi quên đi những câu nói kháy của thiên hạ. Chẳng hạn Già rồi còn đánh trống bỏi, hay tàn nhẫn hơn Thằng cha già không nên nết, lấy con nhỏ thua cả tuổi con gái nữa…
Tận trong thâm tâm, tôi vẫn biết những lời phê bình này có lý, nhưng hơi sức đâu để ý! Thói đời này Trâu buộc ghét Trâu ăn mà lị.
Lấy vợ trẻ có nhiều cái lợi, bên cạnh nàng lúc nào ta cũng thấy sự tươi mát, như sống lại thời trai trẻ hồn nhiên ngày nào. Nhất là lúc nàng nhõng nhẽo nhún nhảy nói câu: Em hổng chịu đâu!
Hay những lúc nàng nũng nịu dụi đầu vào ngực tôi bày tỏ những ước mơ thật nhỏ bé của nàng như được có chung với tôi 1 đứa con, được cùng tôi đi du lịch 5 châu 4 bể, có 1 số vốn đứng riêng tên nàng để đề phòng khi tôi không còn hiện hữu để che chở cho nàng, được giúp đỡ gia đình nàng còn ở Việt Nam, đón cha mẹ già, anh chị em sang du lịch tại thiên đường Đức quốc, mà tôi chính là người diễm phúc được sinh ra để chiều chuộng và thực hiện mơ ước của nàng. Tôi vĩ đại làm sao! Trong vòng tay nàng tôi là người cao cả, trong ân ái nàng luôn nhắc nhở về những ước mơ của nàng, và cứ thế tôi đã trút sạch hầu bao để chiều nàng, trái hẳn với bản tính kẹo mạch nha cố hữu của tôi.
Cụ Tố Như có câu ví von: Bòn nơi kẻ chợ, đãi nơi quần hồng.
Chắc các bạn cũng biết, đây không phải là lần đầu tiên tôi lấy vợ, ít nhất đã 2 lần sang ngang, 2 lần ván đã đóng thuyền, thế mà…
Tôi xin đi ngược lại dòng thời gian.
Khoảng hơn 30 năm, ngày tôi bước chân sang xứ Đức mến yêu, những năm đầu của thập niên 70, khi cuộc chiến tranh ý thức hệ ở Việt Nam bùng nổ, bố mẹ tôi trút hết số tiền dành dụm để họ khi đau ốm cho tôi đi du học. Gia đình tôi đông con, mẹ tôi chỉ biết chăm lo bữa cơm, giấc ngủ của chồng con, bố tôi là người hiền lành, tốt tính, ông tin tưởng tuyệt đối vào người vợ nội tướng của mình, đã mỉm cười đồng ý khi mẹ tôi muốn gửi tôi đi du học để sau này sẽ trở thành kỹ sư hay bác sĩ, vừa trốn lính an toàn. Trong thâm tâm tôi biết tất cả vốn liếng gia đình đã đặt vào tôi, các em tôi sẽ phải chịu thiệt thòi vì khoản tiền gửi cho tôi mỗi tháng đã ngốn phần lớn vào đồng lương cố định của bố tôi. Tôi tự nhủ sẽ học thật nhanh, gửi tiền về giúp đỡ bố mẹ và các em.
Thời ấy trai trẻ kéo nhau ùn ùn sang Đức, toàn là những mầm non quý giá của đất nước. Trong khi ấy, con gái sang Đức là loại hàng xa-xỉ-phẩm, hiếm hoi, cỡ đẹp trai hiền lành như tôi còn không dám mơ tưởng chi nhiều.
Tôi nhớ thời kỳ học Cò-Lết, bọn con trai chúng tôi ở chung trong cư xá sinh viên chỉ toàn đực rựa. Thèm thấy hình ảnh một mái tóc thề, một giọng nói dịu dàng khác phái. Thằng bạn thân đi đâu về phao tin:
-Tụi bây ơi!Ngày mai ra phi trường đón em Huỳnh ThanhThảo mới qua.
Cả bọn nhao nhao đòi đi xem người đẹp. Nhưng hỡi ôi! Thanh Thảo lại là một chàng thanh niên. Mặc dù thuộc lòng câu:
Ta về ta tắm ao ta.
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Nhưng ao nhà ở mãi tận nửa vòng trái đất, giải phóng về chận hết nẻo đường về quê. Chẳng nhẽ chờ mãi cho thiu người, tôi đành tắm ao người, cưới cô bạn Đức xinh đẹp và cũng từ đó tôi đắm đuối mê man trong ao người. Những dự định với bố mẹ và các em từ ngày ra đi đã lùi vào bộ nhớ.
Tôi cảm thấy đã đến bến bờ bình yên bên người vợ da trắng, mỹ miều, trong sự bao bọc an toàn của nước Đức. Với nàng tôi không còn khó khăn về giấy tờ định cư, tôi khao khát hội nhập vào đời sống gia đình nàng như một người đi trong sa mạc thèm ngụm nước mát. Tôi cung kính cha mẹ nàng, nâng niu nàng như một vật quý. Nàng vừa là người tình vừa là người ân của tôi. Nàng tuyệt diệu làm sao!
Bố mẹ tôi và đàn em dại như một bức ảnh chụp đã lâu, từ từ biến mất trong cuộc sống ấm áp, ngọt ngào với nàng.
Từ ngày có vợ, tôi quyết học cho xong bằng kỹ sư cơ khí. Thời ấy ai cũng bị mê hoặc bởi nhãn hiệu “made in Germany“ nên đa số đều học về kỹ thuật.
Cuộc đời cứ thế êm trôi, ông kỹ sư sáng lái xe đi, tối lái về. Rồi tôi được làm bố, trai gái đề huề, nhà mới xây xong, tuy không được bên suối, nhưng cũng róc rách nước bên cái ao xinh xinh trong vườn, bao bọc những cụm hoa xinh đẹp.
Ngoảnh đi ngoảnh lại, thấm thoát đã gần 30 năm trên xứ người, các con tôi đã trưởng thành, chúng bỏ đi xây tổ ấm như tôi đã bỏ bố mẹ tôi. Có khác chăng khi tôi ra đi, mang theo vốn liếng gia đình và kỳ vọng của bố mẹ mà tôi đã không để tâm đáp ứng.
Các con tôi ra đi để lại ngôi nhà rộng thênh thang cho hai ông bà già với hai nền văn hóa khác nhau. Lúc này chúng tôi mới cảm nhận Đông Tây xa nhau vời vợi. Với nàng tôi vẫn là người khách vãng lai trong nếp sống ở đây, với tôi niềm mong ước được một lần đưa nàng và các con về quê hương gặp lại bố mẹ, gia đình vẫn chưa thực hiện được. Tôi và nàng thật gần nhau và cũng thật xa nhau. Có lẽ chúng tôi đã Đồng sàng dị mộng. Có phải tôi quá nhạy cảm chăng?
Chỉ điểm ăn uống thôi, cũng đủ làm nỗi buồn của tôi lên đến Sầu vạn cổ. Ngày nào đi làm về mệt nhọc, thèm bát cơm nóng, tô canh chua thơm ngọt, như ngày nào mẹ vẫn dọn sẵn ra. Nhưng than ơi! Trên bàn chỉ vài lát bánh mì đen, nằm khô khan bên những khoanh thịt nguội, xen vào mấy miếng dưa leo, cà chua thái mỏng. Xét về chất bổ dưỡng, quả thật những món trên đã làm cho dân Đức trở thành những Anh hùng lao động. Nhưng thú thật với dân Mít như tôi, lúc đẻ ra bà mụ lỡ tay đánh rơi vào thùng nước mắm rồi thì khó mà nuốt nổi ngày này qua tháng khác. Tình trạng này cứ tiếp diễn đều đều, hết năm này qua tháng nọ. Vợ tôi viện cớ, theo phong tục ông bà để lại, buổi tối chỉ ăn đồ nguội, cái bếp phải nghỉ ngơi. Anh không nhớ câu: Abendbrot hay sao? Thế là tôi á khẩu, phải tự lực cánh sinh tìm con đường sống. Sau những buổi tan sở, tôi đến thẳng các tiệm thực phẩm Á Châu, tìm cho ra các món cần thiết để trổ tài nội trợ. Lâu ngày tôi trở thành ông đầu bếp giỏi, từ hiền thê cho đến các cậu ấm cô chiêu đều ngồi xem TiVi, chờ bố đi làm về nấu cơm cho ăn.
Nhiều lúc nghĩ lại, tôi thấy xót xa cho thân phận mình, hình ảnh bố tôi ngày nào chợt hiện lên trong trí nhớ. Mẹ tôi chỉ cần sơ xẩy để nhiều hay ít nước trong nồi cơm là được ngay một bài văn tế của ông. Hôm nào cho ăn thịt gà, ông đòi ăn cá. Bắt ăn rau ông sợ xanh ruột. Ông xoay bà cụ như chong chóng, kiểu chồng chúa vợ tôi, thế mà mẹ tôi vẫn một điều vâng dạ. Thôi cứ xem như thế hệ cũ đã qua rồi, thời đại này làm gì có cảnh đó nữa. Nhưng nhìn lại chung quanh bạn bè lấy vợ ta, ít ra trong nhà cũng được một bữa cơm dẻo canh ngọt, chứ đâu phải ai oán như tôi. Đã nấu cho nó ăn, nồi phở húp sùm sụp, thế mà khi cho nước mắm vào nó chê thối inh nhà.
Qua vấn đề ăn uống, bước sang lãnh vực văn hóa, nàng thường có nhu cầu đi xem hát Oper hay Theater, giống như dân ta ghiền cải lương.
Lúc đầu tôi cũng chiều vợ, diện đồ vía theo nàng, bấm bụng mua vé cắt cổ vào xem với nàng. Đến hồi hai tôi mệt quá, phần buồn ngủ, phần chẳng hiểu ất giáp gì tôi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn. Nàng mắc cỡ với vợ chồng ông bà ngồi bên cạnh, sợ họ chê mình lấy phải người chồng thuộc giống dân nhược tiểu, không biết văn hóa là gì. Mặt khác nàng vùi dập văn hóa của tôi, mỗi lần tôi thắp hương lên bàn thờ ông bà, nàng ho sặc sụa chê hôi rồi đổ riệt cho tôi cái tội mê tín.
Nhiều lần nàng hạ tôi sát ván, về tội phát âm sai tiếng Đức, thế hệ dở dang như tôi cho dù ở Đức mãn kiếp, cũng không thể nói tiếng địa phương như nàng. Tự ái dân tộc của tôi nổi lên đùng đùng, cùng với nỗi buồn cay đắng khi nghe giọng cười khinh mạn của nàng. Gái đất Việt 4 ngàn năm văn hiến đâu cười trơ trẽn như nàng.
Xoay qua vấn đề giáo dục con cái, vì đã có nếp có tẻ đầy đủ, nên cuộc diện càng thêm phần phong phú. Nhờ thừa hưởng truyền thống ông bà để lại, tôi nghiệm câu: Hy sinh đời bố, để củng cố đời con. Cậu con trai duy nhất của tôi, cháu nội đích tôn của cụ Tham ngày xưa, phải theo dấu chân bố, ít nhất cũng phải tốt nghiệp đại học. Không! Đằng này nàng thản nhiên để tự do chọn lựa, cho con học nghề cho mau, kiếm tiền cho lẹ:
- Ở xứ Đức này sợ gì chết đói, chỉ giống dân nhược tiểu như ông mới lo sợ viển vông.
Con trai tôi được đà cười mũi:
- Nói tiếng Đức như bố còn nuôi được gia đình còn con là người Đức thì lo gì?
Tôi lặng người. Nếu nàng biết được 10 năm sau có luật Hart IV, sẽ thay đổi tư tưởng ngay.
Con gái tôi mới nứt mắt ra, nàng đã dẫn đi bác sĩ kiếm thuốc ngừa thai. Tôi phản đối kịch liệt, cho rằng hành động trên chỉ có tính cách nối giáo cho giặc, xúi trẻ thơ làm càng. Nàng kinh ngạc nhìn tôi như một vật thể xa lạ. Nàng cho tôi là tín đồ cuồng tín.
Ban ngày chuyện sở chuyện nhà cứ rối tinh, tôi chưa bị nhồi máu cơ tim là may. Tối lên giường, nhìn tấm thân bồ tượng của nàng mà thở dài ngao ngán. Ước gì kiếp sau xin chớ làm người, làm cục đá đứng giữa trời, để lúc nào cũng cứng cho nàng thỏa mãn.
Chúng tôi như hai con đường sắt, song song không thể đồng quy, thỉnh thoảng chúng tôi cũng gặp nhau tại một sân ga nào đó, nhưng sau đó lại tiếp tục song song. Cuối cùng chúng tôi chịu đồng quy tại một điểm là ký giấy ly dị. Như thế tôi và nàng đã cùng một chí hướng.
Tôi phải nói thêm không các bạn lại chê tôi thuộc loại thấy Lê quên Lựu, thấy Trăng quên Đèn, muốn tìm người vợ Việt khác. Không, nàng đề nghị ly dị trước, với lý do thật đơn giản là Keine Lust mit Dir! Tiếng Việt tạm dịch: Ngấy anh đến tận cần cổ! Còn ra thể thống gì nữa!!! Đường đường là một trang nam nhi, đầu đội nón Nike, chân đạp đất, há chịu để cho một con đàn bà nó leo đầu leo cổ như vậy sao. Tôi bằng lòng ký giấy cả hai tay, của cải muốn khuân đi đâu tùy ý, miễn sao đừng để tôi thấy mặt.
Để trả giá cho sự tự do, tôi phải mua bằng tiền bạc. Lương kỹ sư của tôi bị luật sư cắt ngang một mảng chia cho bà vợ dị chủng. Đến sổ lương hưu cũng bị chia đôi từng điểm. Ngôi nhà bên suối cũng phải chia đôi, tôi muốn giữ lại để có chỗ trú thân, đành mượn tiền nhà băng trao trả cho nàng. Đoạn trường này ai có qua cầu mới hay. Một lần chia tay là một lần tay trắng.
Con là nợ, vợ là oan gia, cửa nhà nghiệp báo. Tôi ở trong tình trạng dở sống dở chết mất một thời gian. Quả thật các cụ nói đúng, Thời gian là liều thuốc tiên. Thời gian hàn gắn mọi vết thương.
Khi cái lỗ hổng thiếu sót trong người tôi càng lớn, tôi càng tìm cách trở về nguồn, liên lạc với cộng đồng người Việt nhiều hơn.
Bước ngoặc lớn trong đời tôi đã diễn ra như thế nào, mời các bạn đọc tiếp phần 2 của câu truyện Ảo Ảnh Đời Tôi.
Phần 2: Đạo Bà Hai
Người đâu gặp gỡ làm chi.
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Tạo hóa sinh ra con người cũng hay, sống thì phải có đôi có cặp như lẽ Âm Dương của trời đất. Tôi khát khao đi tìm nửa mảnh còn lại của đời mình. Mặc dù chịu nhiều đắng cay với nửa mảnh đời phía trước, tôi vẫn không mỏi gối chồn chân. Tự cho mình mắt bị quáng gà nên chọn lầm đấy thôi! Lần này rút kinh nghiệm, ắt sẽ thỏa lòng mong ước. Xét cho cùng ngoài điểm tôi đã đánh mất tuổi thanh xuân, tôi có tất cả những gì một người đàn bà sáng suốt đang chờ đợi. Công danh sự nghiệp có sẵn từ hơn 20 năm, một căn nhà nho nhỏ xinh xinh và một trái tim đang cần được hâm nóng. Thời buổi này đâu còn cảnh 1 túp lều tranh với 2 trái tim vàng, nếu có xẩy ra phải cộng thêm 1 trái Lựu Đạn để phòng thân. Nhỡ khổ quá, ta sẽ cho nổ tan xác để hai linh hồn quyện vào nhau như chim liền cánh như cây liền cành. Với bầu máu nóng như thế, tôi hiên ngang bước vào ngưỡng cửa của tình yêu một lần nữa. Rồi tự hứa với lòng, chỉ một lần nữa thôi.
Do nhân duyên đưa đẩy, tôi gặp Nàng tại một văn phòng bán vé máy bay. Cậu con trai thân yêu của bố mẹ tôi, không biết nên liệt vào loại nào, chưa một lần về thăm cha mẹ. Lúc nào cũng viện cớ, đất nước đã lọt vào tay những kẻ mình không ưa, không nên làm giàu cho họ. Hôm nay không hiểu sao dự định một chuyến du hành về thăm đất tổ. Sau chiếc bàn vuông, người thiếu phụ với gương mặt khả ái, ngước lên nhìn tôi mỉm cười. Nàng chỉ dẫn thật tận tình, đưa ra đầy đủ giá biểu cao thấp cho tôi lựa chọn. Nếu bắt phải lựa chọn, có lẽ tôi sẽ chọn nàng. Ý quên! Chọn hãng hàng không nào.
Tôi lại lẩn thẩn rồi. Mới bị cô đơn có vài tháng sao dở chứng mau thế.
Tôi liên tưởng đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du, diễn tả đúng tâm trạng mình trong lúc này:
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Ai cho tôi là anh chàng Cả Đẫn chỉ biết học là sai. Tim tôi cũng nhạy cảm đấy chứ! Tim này có thể ví cùng tim của nhân vật Đoàn Chính Thuần trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, trái tim rất lớn và có nhiều ngăn để chứa nhiều nàng.
Bước đầu đã thuận tiện, tôi tiến bước thứ hai nhờ nàng xin hộ Visa. Nàng ân cần điền đơn, hỏi han về tên tuổi và tự nhiên biết hết phiếu lý lịch trích ngang của tôi một cách hồn nhiên. Nàng biết ngay tình trạng bóng lẻ phòng không của tôi,bạo dạn hỏi han thêm một vài chi tiết cần thiết cho nàng như anh được mấy cháu và các cháu học hành ra sao...
Câu chuyện vui như pháo rang, tôi tận hưởng cảm giác khách hàng là Vua trong quầy hàng bán vé máy bay lịch sự và hiếu khách này. Tôi thật vui khi biết nàng cũng trong một hội một thuyền như tôi, cả hai đều nằm chờ trong Bến Đợi. Chuyện tình của nàng đã chìm sâu vào dĩ vãng, có chăng dư âm còn sót lại là đứa con gái 10 tuổi của nàng.
Thế mới biết, cứ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, nếu chung một tần số ta sẽ dễ tìm đến nhau.
Thỉnh thoảng nàng điện thoại nhờ tôi đến chỉnh lại dàn máy vi tính cho nàng. Gớm! Sao dạo này thiên hạ nghịch ngợm bỏ chấy rận vào các hàng mềm nhiều thế, làm ăn như nàng mà dàn máy nghỉ chơi, có nước đóng cửa tiệm sớm. Tôi đóng vai người hùng đến “Bắt Giun“ (worms) cho nàng, ấy không phải, cho máy vi tính của nàng. Để thưởng công cho tôi, nàng nấu những nồi bún riêu thơm phưng phức. Nấu ăn ngon cũng là một nghệ thuật giữ người mình thương, đi đâu người ta cũng nhớ đến hương vị riêng tư của mình.
Khỏi cần phải tả thêm chắc các bạn cũng đoán được, chuyện tình của chúng tôi chỉ có thể đi lên chứ không thể đi xuống. Nàng là tất cả những gì tôi mong đợi, nàng phải là nửa mảnh đời còn lại của tôi. Bên nàng tôi có cảm giác được che chở, một tuýp phụ nữ mới, biết tự lập, không ăn bám vào chồng.
Chúng tôi đã nếm qua các vị chua cay của cuộc đời, của những lần đổ vỡ. Hứa lần này sẽ trân quý mối tình các cụ gọi là rổ rá cạp lại, mang cho nhau những an bình, hạnh phúc đến cuối cuộc đời.
Nàng rất khéo léo trong vấn đề xử thế với gia đình tôi. Từ ngày gặp nàng tôi có rất nhiều cơ hội về thăm gia đình. Thỉnh thoảng nàng đưa đề nghị, bảo lãnh cho một người thân nào đó của tôi sang Đức đi du lịch, một đặc ân hiếm có cho người nhận. Gia đình tôi rất quí mến nàng, mong sao cho chúng tôi sớm thành duyên giai lão. Sau lưng nàng có sẵn một hậu cần to lớn là gia đình tôi.
Nàng là người đàn bà tài giỏi, rất thành công trên thương trường. Những cơ sở thương mại của nàng khá phát triển. Nàng đề nghị tôi tham gia vốn vào trong công ty của nàng. Tôi chấp thuận vì xét có nhiều điểm lợi, thứ nhất địa vị tôi được nâng lên hàng ông chủ nho nhỏ, đỡ bị mặc cảm với nàng. Thứ hai về vấn đề tiền bạc, nếu lời tôi bỏ túi, nếu lỗ sở thuế sẽ trừ bớt thuế trong sổ lương kỹ sư cố định của tôi.
Một niềm tự hào trào lên trong khóe mắt tôi. Nhưng tôi quên mất một điều, kinh nghiệm thương trường mình hoàn toàn mù tịt. Bao hiểu biết chỉ nằm trong sách vở, mỗi lần ra quân tôi như anh lính mới tò te dưới sự chỉ huy vững chải của nàng. Vào trong cộng đồng người Việt, nàng lúc nào cũng nổi, cũng lịch thiệp. Tôi chỉ là cái bóng mờ đứng dựa sau lưng nàng, chờ nàng ra lệnh, đưa chỉ thị để thực hành. Tôi thất thế thấy rõ các bạn ạ!
Lâu ngày tự ái của một thằng đàn ông nổi lên đùng đùng, tôi không còn dịu dàng với nàng nữa. Tôi nhìn nàng qua lăng kính của một màn vô minh, ẩn hiện tính Vợ Chủ Nhân với đầy tinh tướng, nghĩa là thật quá quắt lúc nào cũng muốn chỉ đạo và kiểm soát. Nàng chờ đợi nơi tôi một sự phục tòng, một sự quan tâm đến nàng một cách tuyệt đối.
Tính này liên quan rất nhiều đến chữ Ghen của đại đa số phụ nữ. Các bạn cho phép tôi hơi lạc đề, đi sâu vào chữ Ghen một tí!
Nhắc đến chữ này, ta nhớ ngay câu:
Ớt nào là ớt chẳng cay.
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
Vâng! Ớt cay có nhiều loại, theo thống kê loại ớt cay nhất thế giới được tìm thấy ở Mexico. Ai cắn vào loại ớt này, sẽ có cảm giác như bị chặt đầu, hồn lìa khỏi xác. Vậy nồng độ ghen của người phụ nữ cũng na ná như độ cay của trái ớt.
Tôi cảm thấy nghẹt thở trong tình yêu của nàng, giãy giụa trong lưới tình êm ái nàng đã giăng ra. Tôi là con người chẳng bao giờ bằng lòng với hiện tại, một hiện tượng đứng núi này trông núi nọ, chả trách gì đời tôi lúc nào cũng khổ. Khi tôi đau khổ, tôi sẽ hành hạ nàng cho đỡ khổ. Tự tay tôi mở cánh cửa địa ngục để nhảy vào, nhiều lúc kéo theo nàng cùng nhảy xuống cho vui.
3 năm chung sống với nhau, xây biết bao mộng đẹp tưởng sắp bước dần đến ngưỡng cửa hôn nhân. Tôi quyết định một việc cho mãi đến ngày hôm nay tôi mới thấy mình dại dột là chia tay với nàng cho cả hai cùng bớt khổ.
Tình yêu là gì? Tại sao ban đầu nó nồng nàn đam mê và mãnh liệt đến thế. Chúng ta đã làm gì, để cuối cùng biến thành những bãi chiến trường không phân thắng bại. Theo tôi tình yêu được tôn trọng đến mức nó cho người ta sự tự do, và nếu tình yêu không phải là tự do, đó không phải là tình yêu thực thụ nữa, nó là cái gì trục lợi.
Sự ra đi của tôi đã để lại trong nàng một mối hận tình khôn nguôi. Nàng sống nhiều về nội tâm nên không dễ dàng quên được hình bóng tôi. Điều đáng tiếc này mãi đến thời gian dài về sau tôi mới khám phá ra. Tôi thật có lỗi với nàng, nhưng vạn ngàn lần xin lỗi cũng chẳng lấp vơi được nỗi khổ của nàng.
Gia đình tôi biết chuyện rất thương cảm cho nàng. Cô em gái tôi hăm ông anh ba rọi:
- Anh coi chừng nhé! Có ngày gặp quả báo nhãn tiền đấy.
Cũng hơi chột dạ, nhưng với chứng nào tật ấy, tôi vẫn nhởn nhơ làm cánh bướm tự do đi ve vãn các đóa hoa khác.
Mời các bạn đón đọc phần 3 của Ảo Ảnh Đời Tôi, xem cánh bướm đa tình của chúng ta sẽ đậu vào bến nào, trong hay đục.
Phần 3: Áo Bà Ba xuất khẩu
Biển khổ mênh mông sóng chập chùng
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi
Thuyền ai ngược sóng ai xuôi sóng
Cũng ở trong cùng biển khổ thôi.
Ái chà! Không ngờ cụ thi sĩ họ Vũ lại tức cảnh sinh tình cho ra được mấy vần thơ tuyệt cú như thế. Tôi ngân nga nho nhỏ cho chất thơ quyện vào hồn, hầu xóa tan nỗi buồn thiếu vợ.
Chỉ còn một tuần nữa tôi sẽ về thăm gia đình ở Việt Nam, bố mẹ và các em tôi dặn dò:
- Anh nhớ sửa soạn tinh thần về xem mắt cái Thảo, cả nhà chọn cho anh đấy!
Cái gì mà khủng khiếp thế, tôi lấy vợ cho tôi hay cho cả nhà. Sống hơn nửa đời người trên xứ Đức, tôi không còn thuần túy là anh chàng Việt Nam chính gốc kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nữa. Câu này phải đổi ngược lại là con đặt đâu cha mẹ ngồi đấy thì đúng hơn. Thôi cứ chiều lòng gia đình, đi lại thăm hỏi Thảo, biết đâu chẳng gặp duyên.
Tôi xuất hiện dưới hình ảnh một người độc thân vui tính, vừa trí thức lại ga-lăng. Mang nhãn hiệu Việt kiều tại Đức quốc, chỉ thua Việt kiều ở Mỹ và Úc chút xíu thôi. Mái tóc muối tiêu của tôi không còn mang mặc cảm dấu vết của thời gian, trái lại được các nàng nâng lên hàng tuyển chọn. Với mái tóc này, các nàng sẽ được che chở và bảo bọc từ vật chất đến tinh thần, nếu không suốt đời thì cũng mãn kiếp. Tôi mặc sức lựa chọn cho bõ những quãng ngày đen tối.
Thói đời kể cũng lạ! Lúc chưa đạt được ta háo hức, đến khi nắm trong tay ta dửng dưng. Các người đẹp con nhà gia giáo do gia đình tôi lựa chọn, từ từ không còn là đối tượng nóng bỏng của tôi nữa.
Ai đời về phép có vài tuần, mục tiêu phải đánh nhanh, đánh gục. Các nàng còn giữ kẽ, con nhà lành không được đi chơi về khuya. Chuyện rủ nàng ra Vũng Tàu cuối tuần chỉ là trò hư ảo, đi đâu cũng kè kè ít nhất một người nhà của nàng làm kỳ đà cản mũi. Làm sao tìm hiểu được, khi chỉ được phép nắm tay nàng. Tôi đã qua rồi thời mong chờ, hiện chỉ còn một thời để yêu và một thời để chết mà thôi.
Tại Sàigòn nơi hội tụ tất cả những hào nhoáng, quyến rũ đến lịm người như thế, chẳng lẽ tôi ngoảnh mặt làm ngơ, đóng vai anh hùng liệt sĩ. Không! Cái gậy Trường Sơn của tôi tuy có hư hao với tháng năm nhưng vẫn còn hữu dụng lắm. Nếu biết sử dụng đúng chỗ, nó có thể ngang dọc vẫy vùng. Một thứ đồ cổ tốt thuộc loại tốt gỗ hơn tốt nước sơn các bạn ạ! Bởi thế khi các bạn bè rủ rê đến những nơi có ánh đèn màu, tôi đều vác gậy đi theo để có cái giải muộn giải sầu.
Theo lời các cụ nhà Nho xưa, cái vật phía dưới eo phụ nữ chính là cánh cửa sinh ra ta, cũng là cánh cửa chôn ta.
Nhiều khi tôi có tư tưởng táo bạo, nếu con người ai cũng một lần phải chết, tại sao không chọn cái chết êm ái và sung sướng nhất trong tư thế Thượng Mã Phong. Hãy khoan, đừng vội mắng tôi là đồ mắc dịch. Tôi sẽ giải thích cho các bạn nghe thật khoa học. Theo các vị Thiền Sư sống trên những rặng núi tuyết Hy Mã Lạp Sơn, họ ngồi thiền suốt năm này qua tháng nọ, chỉ mong đạt được trạng thái vô vi, không buồn không vui, một hình thức của Niết Bàn trong Đạo Phật.
Ngược lại trong thế giới Ta Bà của chúng ta, còn được gọi là Dục giới, ta cũng đạt được tình trạng tương tự như vậy khi lên đến cao điểm. Cái khác ở đây là tình trạng ấy quá ngắn ngủi, chỉ kéo dài có vài giây. Để có được vài giây ấy ta phải đau khổ triền miên, lăn trôi mãi trên các nẻo luân hồi. Đã biết thế nhưng đại đa số đều tình nguyện làm con Thiêu thân đâm đầu vào lửa, trước khi chết còn gân cổ lên ngâm câu
"Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt. Còn hơn buồn le lói suốt quanh năm" của cái ông thi sĩ dở hơi nào đó.
Người xưa có câu, đi đêm lắm có ngày gặp ma. Vâng! Tôi đã gặp một con ma đáng yêu, nàng chẳng có gì so với những người đã đi qua đời tôi. Một loại vô sản chuyên chính thứ thiệt. Nhưng bù lại nàng có sự tươi mát và một nghệ thuật đã đưa tôi đến tận đỉnh Vu Sơn. Có lẽ nàng đã gãi trúng chỗ ngứa của tôi thật rồi.
Các bạn giai nào ở vào lứa tuổi như tôi, sẽ dễ dàng cảm thông một điều. Cái Gậy Trường Sơn đã bị hao mòn từ bề dọc tới bề ngang, gặp những Lá Đa xanh tươi mơn mởn ta mới điều khiển được như ý muốn mà thôi. Nhiều người cho rằng nàng đã bỏ bùa chài tôi, tôi nghĩ chính sự tươi trẻ và nghệ thuật gối chăn của nàng đã là lá bùa làm tôi đắm đuối say mê. Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Tôi sửa soạn trở về xứ Đức lạnh lẽo, kéo cày trả món nợ đời, bỏ lại Sàigòn với bao luyến tiếc.
Cuộc sống với tôi không còn an bình như ngày xưa, tôi cảm thấy thật cô đơn trong căn nhà thật lạnh lẽo. Ước gì có một mái ấm gia đình như hàng triệu thằng đàn ông khác, ước mơ thật nhỏ nhoi nhưng sao tôi không đạt được. Gia đình tôi ở nhà sợ tôi rơi vào lưới nhện của các nàng Ma Nữ, nên giục tôi phải tiến tới với Thảo. Tìm cách bảo lãnh cho Thảo sang Đức đi du lịch 3 tháng cho hai đứa có cơ hội tìm hiểu nhau hơn. Khi tôi thưa chuyện với bố mẹ nàng, ông bà cụ đưa ra điều kiện phải cưới hỏi đàng hoàng mới được đem đi. Các bạn nghĩ xem, làm sao tôi dám đút đầu vào sợi dây thòng lọng khi chưa thử xem dây bở hay dai. Thời đại này mà xử ép người ta đến thế thì thôi. Không có gan chơi xả láng làm sao câu nổi Việt Kiều trong đầu có sạn như tôi. Trong khi ấy, nàng Ma Nữ của tôi sẵn sàng sang chơi vô điều kiện. Tôi chụp lấy cơ hội ngàn vàng lôi nàng sang phục vụ cho cõi lòng đang trống vắng của tôi. Thế là tôi từ từ rơi vào lưới tình nàng đã giăng sẵn tự bao giờ.
Trong 3 tháng tìm hiểu nhau trên xứ người, chúng tôi cảm thấy thật cần nhau. Nàng đã cho tôi tất cả những gì mà một thằng đàn ông khi leo lên giường đều mong muốn. Tôi chỉ việc nằm giãn gân thoải mái cho nàng phục vụ. Trong truyện Kiều có câu: Vành ngoài 7 chữ, vành trong 8 nghề. Những người con gái nhà lành như Thảo làm sao chơi kịp với nàng Ma Nữ của tôi. Đời tôi còn được bao nhiêu nữa, tại sao không hưởng những ân huệ của trời đất. Dùng nữ sắc như một vị thuốc, trong bụng nghĩ rằng vị thuốc này không phải là cơm mà sao cứ đắm đuối say mê. Các bạn đừng cho rằng tôi đang viết dâm thư, đang dẫn dắt các bạn đến bến bờ trụy lạc. Các bạn phải hiểu, chính sự thiếu hiểu biết về nghệ thuật ái ân mà bao nhiêu gia đình phải tan vỡ.
Tôi can đảm viết ra như thế một phần muốn cho gia đình và bạn bè tôi hiểu, lý do tại sao tôi chọn một Ma Nữ trong ánh đèn màu làm vợ.
Vẫn biết phong tục tập quán của ta là hay là đẹp, người con gái lớn lên trong gia đình nề nếp được cả nhà giữ gìn như giữ Mả Tổ, xem chữ Trinh đáng giá ngàn vàng. Nhưng bên phương trời Tây, cái bọn con trai mất nết lại nghĩ ngược lại. Cho rằng con gái ngoài 20 vẫn còn trinh chắc xấu lắm hay có vấn đề gì đây nên bọn con trai mới chê. Thế mới biết. Ở sao cho vừa lòng người các bạn nhỉ!
Sau nhiều phen qua lại đi về, giấy tờ bảo lãnh phiền phức, tôi đã đem được người vợ Ma Nữ của tôi sang đoàn tụ. Nàng tuy xuất thân từ Ánh Đèn Màu nhưng vẫn dở thói màu mè riêu cua, đòi phải làm đám cưới thật linh đình tại nhà hàng Sinh Đôi cho cha mẹ dưới quê được nở mày nở mặt. Tôi chiều nàng để cùng được vui lây, và khoe ngầm với thiên hạ rằng chú rể thật tốt số, đứng cạnh nàng chú rể có cảm giác trẻ lại tới hơn 30 tuổi. Nàng như một liều thuốc hồi sinh cải lão hoàn đồng.
Đọc đến đây chắc có bạn nổi giận, nhất là các bạn gái đang trong cùng cảnh ngộ. Cảnh ngộ gì đây? Còn cảnh gì nữa, cái thằng chồng khỉ gió mắc toi của mình chứ còn ai nữa. Hắn lấy cớ về thăm mẹ già đau nặng đều đều, phận dâu con đâu dám cản ngăn chồng làm tròn chữ hiếu. Cho về vài lần là trở thành gã đàn ông trong chuyện ngay.
Còn phản ứng cái đám bạn giai đồng trang lứa với tôi như thế nào? Cha nào cũng muốn nhận vơ câu chuyện là của mình cả, sao mà nó giống thế, nói như đi guốc trong bụng ấy! Đấy là nói chuyện phiếm cho vui thôi, chứ các bạn đọc xong phần dưới đây, dám có người sẽ nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu cho thân phận thảm thương của tôi lắm.
Ngày trả quả của tôi đã bắt đầu khi vừa đón nàng về ngôi nhà bên suối cạnh cái ao nước chảy róc rách. Lúc này là mùa đông, trời lạnh cóng lại mưa rỉ rả, nếu tuyết rơi phủ đầy cành lá trắng tinh chắc nàng còn cho là rô-man-tích. Đằng này mưa ướt nhèm nhẹp, bầu trời xám nghét, nàng ngồi co ro sát bên lò sưởi như con mèo con. Tấm thân ván ép của tôi chỉ có 37 độ C không đủ cho nàng trốn rét.
Suốt tuần lễ đầu tôi phải đi chợ nấu cơm cho nàng xơi, khổ cho thân phận cậu ấm suốt đời chỉ đi cung phụng đàn bà. Tôi chạnh lòng chợt nhớ tới mẹ, người đàn bà đã hy sinh tất cả cho tôi, nhưng chưa bao giờ được ăn một bữa cơm do tôi nấu dọn bưng lên.
Có phải tôi chiều nàng quá đi không? Tất cả các câu châm ngôn dạy vợ như Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về, tôi không dám thực hành, nhỡ thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nàng chưa thấm vào đâu, nàng đã gọi đường dây nóng 110 tôi sẽ bị áp tải về bót cảnh sát ngay.
Lúc ở bên nhà, nàng là người phụ nữ Việt thuần túy, chiều chồng số 1. Nào là Tam Tòng Tứ Đức hiền dịu nhẫn nhục không thua kém gì ai. Nhưng sang đây mới uống vài lon bia cola, ăn xúc xích thịt nguội có vài tháng, nàng xem chồng còn thua cả thân phận một con chó. Mỗi lần mở mồm là chêm câu Lady first nghe đến rợn người. Nàng đặt nhiều kỳ vọng nơi tôi quá, thần thánh hóa thiên đường Đức quốc quá.
Lúc sang chơi 3 tháng nàng chỉ hưởng mật ngọt bên ngoài của cái xã hội được mệnh danh là bàn tay sắt bọc nhung này. Bây giờ với số tiền chợ cố định tôi đưa nàng hàng tháng, không đủ cung ứng cho nhu cầu càng ngày càng gia tăng của nàng.
Lúc ở nhà chỉ cần một phần ba số tiền thôi, nàng đã có cảm giác lên đến 9 từng mây rồi. Nếu được nương tựa tấm thân bên sổ lương kỹ sư của tôi, nàng xem như mình đã tu đến 70 kiếp. Nếu dè cuộc sống bên đây cần nhiều Euro như thế nàng đã không uổng công thả lưới quăng câu. Bạn bè nàng có đọc cho nàng mấy câu khẩu hiệu mới:
Việt Kiều thua Việt Cộng, Việt Cộng thua Việt Gian, Việt Gian thua Việt Kiều Đất, thế mà nàng chẳng chịu mở mắt. Tôi muốn nàng hội nhập vào thế giới bên này, ghi tên cho nàng học tiếng Đức. Nàng chiều tôi vác sách đi học, nhưng tâm hồn để tận đâu đâu, chỉ mong sao nhanh chóng tan học ghé shopping center dạo vài vòng rửa mắt phá tiền.
Cho học tiếng Đức chỉ tổ tốn tiền và mất công toi, đi bác sĩ nàng cũng bắt tôi dẫn đi phiên dịch, ngồi chờ cả tiếng đâm cáu tôi chửi nàng một trận. Nàng thản nhiên trả lời cần gì biết tiếng Đức, vào cộng đồng của nhóm Đông Âu chỉ nói tiếng Việt thôi cũng đủ chán. Cái nhóm Đông Âu này mới phức tạp, đủ loại hạng người thượng vàng hạ cám không biết đâu mà lần. Nguy nhất là mấy anh chàng tuổi trẻ sấp xỉ như nàng, mỗi lần gặp nhau cứ chuyện trò cười tít cả mắt làm tim tôi đau nhói.
Cái ưu việt trên giường của nàng sang đây cũng bị mai một, chắc thiếu động cơ thúc đẩy. Các mục tiêu khó khăn nàng đã đạt được, tội vạ gì bám theo cái gậy vừa cũ lại vừa mòn cho nhọc thân. Theo đúng bài bản chỉ dẫn, nàng chỉ cần gài cho tôi một đứa con là xứ Đức sẽ cưu mang nàng đến trọn kiếp, chẳng cần cây sào hay cây gậy gì che chở nữa. Lúc ấy nàng sẽ tự do sống theo tuổi trẻ, ngập tràn lòng xuân phơi phới của nàng. Nếu tôi lên án nàng cũng có phần khắt khe, làm sao yêu được người chồng hơn cả tuổi bố mình, đêm nằm hắn ngáy to hơn sấm, không thể nào dỗ được giấc ngủ chập chờn. Chuyện chăn gối lại còn tệ hại hơn, hắn lúc nào cũng là kẻ chiến bại với khẩu hiệu Khóc ngoài quan ải ai ơi. Về trình độ văn hóa chúng tôi cao thấp như đôi đũa lệch so sao cho vừa, học vấn của nàng chắc chỉ đến lớp 3 trường làng rồi chạy lên Sàigòn kiếm sống. Bắt nàng phải đàm luận vấn đề kinh tế chính trị chỉ thêm bực mình, chi bằng kéo nàng lên giường làm một quả, nếu không bổ tỳ thì cũng bổ vị.
Mỗi lần tôi chỉ bảo khuyên giải nàng quay về đường ngay lẽ phải, nàng trả treo cãi cọ cho tôi tức khí nói nặng nàng. Chỉ chờ dịp đó nàng lấy cớ bị chồng bạc đãi, mua vé xe lửa đi Đông Âu gặp cộng đồng để giải khuây. Tôi phải làm sao bây giờ, nỗi lòng biết tỏ cùng ai, kể ra cho thiên hạ nghe chẳng ai thèm an ủi lại còn tặng thêm một bài Pháp về luật nhân quả cho đáng đời cái thằng đàn ông hư đốn như tôi. Nếu nói là trả Nghiệp thì cái nghiệp này do chính tôi gây ra, chẳng oan uổng tí nào. Thầm nghĩ lại quá khứ, tôi tiếc rẻ người vợ Đức, dù sao nàng cũng đi chung với tôi trên một quãng đường khá dài, có chung với tôi những đứa con xinh đẹp. Không có nàng làm sao tôi thành công lớn trên con đường sự nghiệp trên xứ người. Tôi đã đối xử với nàng như thế nào để nàng phải thốt lên câu Ngấy anh đến tận cần cổ, rồi phủi áo ra đi.
Tôi tiếc luôn cho mối tình thứ hai, tuy nàng có vài điểm hơi cực đoan làm tôi không được thoải mái. Nhưng dầu sao nàng vẫn thích nghi với cuộc sống bên xứ người hơn con vợ Ma Nữ của tôi.
Con người tôi bên ngoài xem hùng hùng hổ hổ như thế chứ bên trong lại mềm như bún, thuộc loại già dái non hột như các cụ vẫn thường ví von. Từ thuở bé đóng vai cậu ấm được cả nhà nuông chiều, nên tôi không chịu được khổ đau, chỉ hơi một tí khó khăn là giãy nẩy kiểu nhà giàu đứt tay như ăn mày đổ ruột.
Lần này bị mấy cú như trời giáng tôi có hơi thức tỉnh, nhưng có lẽ đã muộn màng hết cả rồi, khi nàng báo tin mừng tôi sắp được làm cha.
Nên buồn hay vui đây? Vui vì bằng tuổi này vẫn có một thằng nhóc hay con lõi tỳ gọi mình bằng Bố, nhỡ sau này có đi ăn mày cũng có một nhóc tỳ xách bị đi theo. Buồn vì thấy tương lai mình còn đen hơn mõm chó nữa. Đáng lẽ với tuổi này tôi sẽ đi ngao du sơn thủy, làm bạn với gió trăng, tự do bay nhảy về Việt Nam vờn những đóa hoa hàm tiếu. Ai ngờ, tôi như một Chúa Sơn Lâm đã chui đầu vào rọ nằm than câu: Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ. Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa. Nhớ cảnh Sơn Lâm, bóng cả cây già....
Chúa Sơn Lâm đầu mọc sừng, ngồi ôm con cho vợ sang Đông Âu vui đùa với trai trẻ. Chưa đủ nhục hay sao, lũ con lai của tôi lại nhảy vào đánh hôi nữa. Chúng đem cháu nội, cháu ngoại của tôi đến nhà cho Bố trông dùm. Vẫn giọng khinh khỉnh cậu con trai tôi bảo:
- Đằng nào bố cũng trông con nít, thôi để cho cậu cháu nó bò chơi với nhau cho vui.
Tại sao con người lại sợ chết? Trong trường hợp của tôi có lẽ cái chết là một sự giải thoát tốt đẹp nhất. Nhưng chết làm sao được, khi thằng bé khóc đòi ăn, ị đầy một bịch tã như thế. Tôi phải sống để trả nợ chứ, ai cho phép tôi quịt nợ.
Tôi nhớ đến câu chuyện ngày xưa mẹ tôi hay kể về cái nợ giữa cha và con như sau. Hôm đó Diêm Vương đang xử một vụ kiện thật gay cấn, chủ nợ và con nợ khiếu nại ầm ĩ. Chủ nợ mặt đỏ tía tai nói:
- Tâu Diêm Vương! Thằng cha kia lúc sinh tiền thiếu nợ con số tiền lớn. Con bắt nó ở đợ trừ tiền, ai dè số nó chết yểu, mong ngài nghĩ cách cho nó trả đủ cho con.
Diêm Vương vuốt râu gật gù:
- À! Ta cho nó đầu thai làm thân trâu ngựa để kéo cày trả nợ cho ngươi.
Chủ nợ phản đối:
- Thưa ngài, thời buổi này người ta dùng máy cày, trâu bò chỉ làm cảnh bắt con nuôi thêm mệt.
Diêm Vương gãi đầu:
- Vậy ta cho nó làm đầy tớ phục vụ cho nhà ngươi, chịu chưa?
Chủ nợ vẫn lắc đầu ngoay ngoảy:
- Dạ bẩm ngài không được, xã hội chủ nghĩa không cho phép nuôi đầy tớ, cho nó vào sẽ bị đấu tố con sợ lắm!
Diêm Vương vò đầu bứt tai một giây lát rồi vỗ đùi cái đét, reo to:
- Ta tìm ra rồi! Ta sẽ cho nhà ngươi làm Con của nó. Thật tuyệt!
Chủ nợ ú ớ mặt ngẩn tò te chẳng hiểu gì cả. Diêm Vương ôn tồn giải thích:
- Nếu ta cho nó làm thân trâu ngựa trả nợ cho mày thì cũng chỉ 5-10 năm là dứt nợ. Nhưng nó là Bố mày, đẻ ra mày phải nuôi đến bao nhiêu năm cũng chưa đủ, lại còn phải nuôi cả con cả cháu cho mày nữa. Cho đến lúc chết vẫn chưa thôi.
Câu chuyện tuy hoang đường giả tưởng, nhưng nói lên đúng tâm trạng của tôi trong lúc này. Khi ta ở vào bước đường cùng, ta sẽ tìm cách vùng lên cho đời bớt khổ. Tôi theo chân các bạn bè đến Thiền Đường tham dự những khóa tu, hy vọng Phật Pháp nhiệm mầu sẽ giúp tôi thoát vòng tục lụy.
Nếu bây giờ tôi dứt sạch lòng trần, muốn xuất gia đầu Phật cũng chẳng Chùa nào chịu thu nhận những đệ tử quá "đát" như tôi.
Trên 50 đã xem như vô vọng, còn gần lục tuần như tôi chỉ Viện Dưỡng Lão mới dám đoái hoài.
Để kết thúc câu chuyện thương tâm của đời tôi, xin được dùng lại hai câu thơ của một vị thiền sư nào đó trong phần mở đầu:
Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng.
Được mất bại thành, bỗng chốc hóa hư không.
Hoa Lan
Hoa Lan
Subscribe to:
Comments (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(591)
-
▼
April
(46)
- Hạn Chót Cho Bà Tư | Đại Tá Mỹ Về Với Vòng Tay Yêu...
- Airpark - thị trấn sân bayĐể trải nghiệm cuộc sống...
- TẠI SAO CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN KHÔNG THỂ QUÊN AI ĐÃ CỨU ...
- Đường dây lừa đảo tiền bảo hiểm cứu hộ trực thăng ...
- Ảo Ảnh Đời Tôi Phần 1: Con là nợ, vợ là oan gia, ...
- Cảnh tượng kỳ thú dưới biển tại IndonesiaHải quỳ b...
- Một Ông Sao Sáng, Hai Ông Sáng Sao ...
- Các "Vườn Hoa Địa Đàng" Đẹp Nhất Thế GiớiKhi ghé ...
- Xin Lỗi Anh Long ...
- CHÁNH QUYỀN TỔNG THỐNG TRUMP TRỤC XUẤT THÂN NHÂN S...
- Rời đi trong yên lặng — đó mới là cách giữ lại phẩ...
- CẢNH BÁO KHI GỬI CHECK QUA BƯU ĐIỆN: MỘT NHÂN VIÊN...
- TIN TỨC - 4/4/2026CHIẾN TRANH IRAN - CẬP NHẬTTổng...
- VĂN HÓA MỸTin thời sự gần đây cho biết bố mẹ của m...
- HỘI CHỨNG LOẠN TRÍ VÌ TRUMP(TRUMP DERANGEMENT SYND...
- Exorcist Fr. Chad Ripperger: Possessed Politicians...
- NGƯỜI NỮ TU TẠI TRẠI PHONG CÙI DI LINH Trịnh Anh K...
- Hơn 100 sinh viên TQ sử dụng bằng giả để nhập học ...
- Hai chị em gốc Hoa đặt bom tại căn cứ quân sự Mỹ, ...
- Bánh mì thịt Sài GònKhi nói về ẩm thực Việt Nam, k...
- THỜI THƯỢNG ...
- CẢNH GIỚI CAO NHẤT CỦA CON NGƯỜI LÀ KHÔNG OÁN TRỜI...
- TRUMP XÓA NỖI NHỤC CHO MỸSau ngày đầu tiên 2/28/...
- Lý Do Âu Châu Không Thể Tự Đứng Một Mình | Phải Cầ...
- Cũng nên học sơ cứu25/03/2026, khu làm thủ tục nha...
- Mỹ Nữ Gián Điệp Bắc Kinh Bị FBI Bắt - Nhà Khoa Học...
- Lừa đảo, huy động vốn chiếm đoạt hàng triệu USD củ...
- DO NOT ENTER Quãng mê lối sống tự nhiên, nhất định...
- Ông Mỹ Phi Công Hải Quân Hàng XómHình minh hoạ...
- Người Tù Và Ánh Sáng Phục SinhLần đầu tiên g...
- 'Epstein, Gates were setting up COVID…': Economist...
- Du thuyền Cruise bảo sanh, bảo đảm 100% con san...
- Cào một phát, Tuyết Lê thành triệu phúBáo chí Mass...
- Phong ThủyNguyễn Ngọc Tú ...
- Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành N...
- Tôi Tìm Lại Chính Tôi… Orly nhỏ bé, yên lặng, con ...
- TT. Trump Nhắc Đến Hơn 19 Năm Mỹ Giúp Đồng Minh Ở ...
- Ba thứ KiwiCó một đất nước bé xíu nằm lủng lẳng tr...
- “Con gái thì nên lấy chồng sớm đi.”Câu nói ấy từng...
- QUẬN CAM LẠI DẬY SÓNG - CHỨC DÂN BIỂU LIÊN BANGHôm...
- TT TRUMP MỞ LẠI QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH | TỐI CAO ...
- Con gái của Fidel Castro nói rằng việc thay đổi ch...
- Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái Nếu ai ...
- HÀNG TRĂM ĐẶC VỤ IRAN ẨN NÁU TẠI CANADA, QUỐC HỘI ...
- Joshua McElwee và truyền thông cánh tả đã bóp méo ...
- "Du lịch sinh con"Năm 2009, Obama đã ban hành một ...
-
▼
April
(46)
