Friday, September 11, 2026

Sự Thật chung quanh Hillary Clinton

Author: Hoàng Hữu Phước

Hillary Diane Rodham Clinton – gọi tắt là Hillary Clinton – là Bộ Trưởng Ngoại Giao thứ 67 và là Nữ Bộ Trưởng Ngoại Giao thứ nhì của Hoa Kỳ (nắm quyền từ 2009 đến 2013) dưới thời của Tổng thống Barack Obama. 

Bà sinh ngày 26-10-1947; làm vợ của Bill Clinton, người cùng học chung với bà tại Đại Học Luật Yale, năm 1975; và từng trải qua các thời gian làm Thượng Nghị Sĩ Tiu Bang New York, ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2008 nhưng Đảng Dân Chủ lựa chọn Barack Obama làm ứng cử viên chính thức, v.v., trước khi trở thành ứng cử viên chính thức của Đảng Dân Chủ năm 2016 và là nữ ứng cử viên đầu tiên được một chính đảng giới thiệu ra tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ.
.
Hillary Clinton đặc biệt nguy hiểm do:
(a) thuộc hàng ngũ “chính trị gia chuyên nghiệp”;
(b) đã ở vị trí quyền lực cao nhất (chỉ sau Tổng Thống) tức Bộ Trưởng Ngoại Giao (nghĩa là ngồi trên cả Bộ Trưởng Quốc Phòng) với quyền uy vượt ra ngoài biên giới quốc gia nên đã có kinh nghiệm thực hiện các chiến dịch quân sự cũng như lật đổ các chính phủ;
(c) có tính tàn độc;
(d) am tường luật pháp chuyên nghiệp cao cấp y như chồng nên trở thành chuyên gia bất trị trong lách luật và đạp chà luật pháp quốc gia và quốc tế;
(e) sử dụng quyền lực của chồng để cùng chồng khuynh đảo về chính trị để tư lợi cũng như dùng quyền lực của bản thân để hỗ trợ chồng tiếp tục sự khuynh đảo đó; và
(f) phát triển với sức mạnh truyền thống của một gia đình phạm nhiều tội ác.

Bill Clinton
Khi nói Hillary Clinton có cả sức mạnh “truyền thống” của một gia đình tội phạm tàn độc, người ta trước tiên nói về những điều tồi tệ của chồng bà là Bill Clinton như

(a) Tham Nhũng

(b) Rữa Tiền và Buôn Lậu Ma Túy. Qua lời khai của người bạn thân tên Larry Nichols mà Bill Clinton thuê quản lý công ty ADFA để rửa tiền từ buôn lậu ma túy mà khoản thu mỗi tuần lên tới 10 triệu USD qua Phi Trường Mena ở Tiu Bang Arkansas từ đó việc chuyển ngân được rót đến một ngân hàng ở Florida, một ngân hàng ở Georgia, và Citycorp ở New York, rồi đưa ra nước ngoài; trong khi đó một bạn thân thiết khác của Bill Clinton là Dan Lasater cùng em trai của Bill Clinton là Roger Clinton cùng xộ khám vì những tội liên quan đến ma túy. ). 

Trong khi đó, Cảnh Sát Trưởng Arkansas Doc Delaughter khi cáo buộc họ buôn lậu ma túy cũng như tấn công tình dục các thiếu nữ đã bị các nhân viên công lực nhận tiền của Bill Clinton đe dọa. Bill Clinton khi lên làm Tổng Thống đã đền ơn Webb Hubbell là người đã cứu mình khỏi các liên quan đến tiền và buôn lậu ma túy bằng chức vụ Bộ Trưởng Tư Pháp; tuy nhiên, sau đó Hubbell đã phải quay về Arkansas chịu tội vì đã lừa gạt khách hàng của Công Ty Luật Rose của Hillary Clinton số tiền 500.000 USD.

(c) Giết Người Diệt Khẩu: Những cái chết không bao giờ rõ nguyên nhân đã xảy ra như với hai thiếu niên đêm khuya tình cờ chứng kiến hoạt động gì đó ở Phi Trường Mena nên bị đập nát đầu và cái chết xảy ra với tất cả sáu nhân chứng đã khai báo với cảnh sát về vụ sát hại hai thiếu niên đó, hoặc với những quan chức dám tiến hành điều tra về các “tội” của Bill Clinton như Danny Casoloro, Paul Wilcher, Charles Black, Ed Wilke, John Wilson, Kathy Furguson, Jon Parnel Walker, C. Victor Raider II, Mr. Friday, Ronald Rogers, Luther Parks, Vincent Foster, v.v, người thì tự sát bằng súng với tay phải nắm chặc khẩu súng lục trong khi thuận tay trái, người tự nhiên rơi từ lầu cao sau khi pha xong tách cà phê nóng hổi dù ai cũng biết người ấy rất ghét mở cửa bước ra ngoài ban-công ngắm cảnh, người tự làm rơi máy bay riêng vào ban ngày khi trời tốt và không có báo nguy hỏng hóc, người tự treo cổ, v.v., ngay sau khi phát biểu về việc đã có đầy đủ bằng chứng buộc tội Bill Clinton để rồi dường như tất cả các phát biểu ấy là vu khống vì sau khi họ chết chẳng ai tìm thấy các tập tài liệu bằng chứng ấy, hoặc thậm chí có người chỉ vì dám đến nhắc Bill Clinton trả tiền đã vay lâu rồi không chịu hoàn lại. Bill Clinton thoát tất cả các tội danh vì chính Bill Clinton đã đề ra luật áp dụng tại Tiu Bang Arkansas cho đến ngày nay, theo đó mọi giám định pháp y sẽ không được phép thực hiện đối với những trường hợp tự tử.

(d) Xâm Hại Nền Dân Chủ Hoa Kỳ: Sau khi Tổng Thống Richard Nixon từ chức, Hội Kính Illuminati khống chế nền chính trị Hoa Kỳ qua sự giúp sức của Henry Kissinger và Nelson Rockefeller. 

Từ đó Hoa Kỳ không bao giờ tồn tại bất kỳ cuộc bầu cử dân chủ nào vì tất cả các vị Tổng Thống Mỹ đều do Illuminati lựa chọn từ trước, và các ứng viên không thuộc Illuminati sẽ bị làm cho ô danh bằng các thủ đoạn bôi nhọ tổng lực qua giới truyền thông như nhạo báng, vu cáo, khiến họ bị mất phiếu từ đầu. 

Bill Clinton là thành viên Hội Kín này để được đưa lên làm Thống Đốc Arkansas như bước chuẩn bị cho chiếc ghế Tổng Thống Hoa Kỳ. Hillary Clinton đương nhiên cũng gia nhập Illuminati, thậm chí “có giá” cao hơn Bill Clinton trong hệ thống chuẩn bị nhân sự của Illuminati cho chức danh “tổng thống Hoa Kỳ”. Cả hai đều là bạn thân của Charles “Chip” Whitmore, người tôn thờ Quỷ Satan của Illuminati, và người này luôn bí mật có mặt trong đoàn người tháp tùng Bill Clinton trong những chuyến vi hành.

(e) Dâm Tà: Ngoài những vụ quấy rối tình dục khét tiếng của Bill Clinton mà thiên hạ không mấy ai không biết như đối với Eileen Wellstone, Juanita Broaddrick, Carolyn Moffet, Liz Ward, Becky Brown, Helen Dowdy, Cathy Ferguson, Christy Zercher, v.v. (không tính Monica Lewinsky vì Monica đáp ứng sự gạ tình của Bill Clinton), trong số đó những sự việc nổi cộm có thể kể đến là vụ tấn công tình dục nhân viên tình nguyện của Tòa Bạch Ốc Kathleen Willey, vụ vừa cưỡng hiếp vừa đánh rách miệng nữ quản lý Juanita Broaddrick ở Tiu Bang Arkansas năm 1978 để cô này không thể kêu la cầu cứu, v.v., nhưng chỉ có vụ hãm hiếp nữ công chức Tiu Bang Arkansas là Paula Jones mới làm Bill Clinton “chịu thua”, chấp nhận bồi thường 850.000 USD để được bãi nại. 

Ngoài ra, theo nhật ký hành trình của phi công, Bill Clinton có 26 lần đi trên máy bay Boeing 727 mang tên The Lolita Express của Jeffrey Epstein vốn là chuyên cơ trụy lạc mà y dành cho khách VIP của y được thỏa mản tình dục tập thể với các bé gái tuổi teen trên không trung, mà Bill Clinton đã ít nhất có 5 trong số 26 lần ấy phá luật không cho phép cận vệ được tháp tùng bảo vệ mình. Epstein sau này đã bị bắt ngay tại biệt thự của y và bị kết án 13 tháng tù giam vì tội tuyển mộ gái vị thành niên để bắt hành nghề mại dâm.

Nhà báo Deroy Murdock cho rằng các gia đình tội phạm ở New York như The Bonannos, The Colombos, The Gambinos, The Genoveses, và The Luchheses, đã có thêm sự có mặt của The Clintons để trở thành Lục Đại Bố Già. Chưa kể cái gia đình tội phạm Clinton còn có cả người không mang họ Clinton, như trường hợp bố chồng của Chelsea Clinton (con gái Bill Clinton) là Ed Mezvinsky cũng thụ án 5 năm tù giam tại nhà tù liên bang vì đã điều hành một đường dây đa cấp lừa bịp 10 triệu USD.

Hillary Clinton.
Như vậy, từ sự tệ hại của Bill Clinton, Mỹ cung cấp cho nhân loại người phụ nữ Hillary Clinton với một vài sự tàn độc tiêu biểu như sau:

(a) Bạo Hành Gia Đình: Hillary thường xuyên đánh đập bạo hành Bill Clinton, theo lời kể của Thư Ký Báo Chí Tòa Bạch Ốc là Cô Dee Myers khi nói về lý do vì sao Tổng Thống Bill Clinton hay bị trầy trụa trên mặt, và về chuyện Hillary hay đánh, đấm, đá, cào cấu, ném vật nặng vào mặt chồng trong Dinh Tổng Thống.

(b) Trấn Áp Công Dân: Hillary sử dụng các thám tử tư “mạnh tay” và đã thành công gần như tuyệt đối trong trừng trị và đe dọa những ai dám cáo buộc Bill Clinton xâm hại tình dục, và vài thám tử tư ấy như Jack Palladino, Ivan Duda, và Anthony Pellicano, đã phải ngồi tù vì đã lỡ “mạnh tay” thái quá.

(c) Buôn Bán Vũ Khí: Hillary chấp thuận bán hàng tỷ USD vũ khí hiện đại cho Algeria, Oman, Qatar, Saudi Arabia, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE, và Kuwait, trong khi Bộ Ngoại Giao của bà thì ra rả công kích các nước này độc tài và xâm hại nhân quyền, khiến xung đột quân sự và chiến tranh xảy ra thường xuyên hơn và khủng khiếp hơn.

(d) Tàn Phá Libya: Hillary đã bật đèn xanh cho NATO tấn công Libya năm 2011 nhằm giúp các thế lực cực đoan lên nắm quyền, khiến Libya ngày nay trở thành tan hoang, cứ địa của các tổ chức khủng bố trong đó có IS. Sau này, chính Tổng Thống Barack Obama khi trả lời phỏng vấn của Fox News đã ngậm ngùi nói rằng trong 7 năm làm tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, lỗi lầm lớn nhất của ông trong tất cả nhiệm kỳ tổng thống của ông là đã nghe lời Hillary để lật đỗ Muammar Gaddafi; tuy nhiên, ông thẳng thắn nhận hết trách nhiệm về mình cho sự dại dột đó. Ngược lại, Hillary khi trả lời phỏng vấn của Kênh Truyền Hình CBS đã cười to hớn hở về việc sát hại Gaddafi qua phát biểu gây sóng công kích cho sự tàn bạo của bà: “Chúng tôi đã đến, chúng tôi đã thấy, thằng chả chết queo rồi!”

(e) Bần Cùng Hóa Và Bất Ổn Hóa Haiti:

(f) Làm Sụp Đổ Honduras bằng cách ủng hộ cuộc đảo chính đẫm máu khiến xảy ra cuộc di dân ồ ạt chạy sang Hoa Kỳ mà sau đó Hillary cho trục xuất hết về Honduras với lý do kỳ quặc rằng người di tản chỉ muốn gởi đi một thông điệp chống chính phủ Honduras chứ không phải muốn lánh nạn tại Mỹ.
Hiện nay Honduras là xứ sở có tỷ lệ diệt chủng cao nhất thế giới.

(g) Làm Iraq Sụp Đổ Và Giúp IS Lớn Mạnh: Cuối năm 2011, Hillary đòi Tổng Thống Syria Bashar al-Assad phải từ chức, gây ra sự vùng lên của IS dẫn đến cuộc khủng hoảng năm 2015 khi hàng triệu người tràn vào Châu Âu tỵ nạn chiến tranh. Trước khi rời khỏi chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao, Hillary đòi vũ trang cho các kẻ thù của al-Assad để lật đổ al-Assad. Nhưng khi IS tạo được thế vững chắc ở Syria, các phe nhóm “ôn hòa” đã trao cho IS tất cả các vũ khí hạng nặng tối tân nhận được từ Mỹ cùng với nguồn lực tài chính từ các liên minh của Mỹ, khiến giúp IS bành trướng cực kỳ nhanh chóng lan sang Libya, Ai Cập, và nhiều quốc gia khác trong khu vực.

(h) Giúp Gây Ra Cuộc Tắm Máu Ở Yemen: Từ nguồn vũ khí tối tân của Mỹ trị giá 46 tỷ USD được Hillary duyệt bán, Saudi Arabia tiến hành xâm lược Yemen từ năm 2015, gây ra thương vong lớn cho thường dân Yemen. Ngay cả Anh và nhiều nước đồng minh khác của Mỹ cũng tranh nhau bán vũ khí và hỗ trợ hậu cần tích cực cho Saudi Arabia. Gần đây, Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã phải đưa liên minh do Saudi Arabia vào danh sách đen những nước xâm hại nhân quyền của trẻ em, và đích thân gọi liên minh đó đã sát hại và gây tàn phế cho trẻ em Yemen.

(i) Sát Hại Thuộc Cấp: Hillary đã lờ đi các tin tức tình báo nhận được về sự tấn công Đại Sứ Quán Hoa Kỳ ở Benghazi, Libya, năm 2012, khiến Đại Sứ J. Christopher Stevens cùng ba quan chức sứ quán trong đó có trưởng phòng quản trị thông tin Sean Smith thiệt mạng. Thậm chí khi bị tra vấn căng thẳng về nguyên nhân dẫn đến cái chết của đại sứ và ba tùy viên, Hillary đã ngang ngược trả lời khét tiếng và “gây bão công kích” rằng nào có gì khác biệt (What difference does it make?), với ngụ ý chết 4 người hay 1 người thì cũng là chết, có gì nghiêm trọng đâu mà tra với hỏi.

(j) Đặt An Nguy Quốc Gia Vào Vòng Nguy Hiểm, Cản Trở Điều Tra, Và Hủy Chứng Cớ:

Kể từ vụ đặt máy nghe trộm ở tòa nhà Watergate dẫn đến sự từ chức của Tổng Thống Richard Nixon, các vụ việc nổi cộm xảy ra tại Mỹ đều được gọi là “Gate”. Email Gate là vụ Hillary đã đem tài sản quốc gia (tức thông tin tuyệt mật) vào hệ thống email cá nhân lắp đặt riêng ở nhà để xử lý công việc quốc gia mà không phải vào Bộ Ngoại Giao, khiến tin tặc dễ dàng đột nhập lấy cắp các tài liệu tuyệt mật ấy.Ngược lại, khi vào Bộ Ngoại Giao, Hillary lại sử dụng hệ thống email chính thức của chính phủ để giao dịch việc riêng hoặc giao dịch kinh doanh cá nhân. Khi sự việc bị bại lộ, Hillary đã xóa khoảng 30.000 thư điện tử với lý do chúng toàn là cá nhân và riêng tư, dù Quốc Hội yêu cầu phải được xem tất cả.

(k) Thất Bại Trong Vai Trò Lãnh Đạo Bộ Ngoại Giao: Sau khi Hillary rời chức vụ Bộ Trưởng, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao không thể nêu lên được bất kỳ một thành tích cụ thể nào của Hillary; đã vậy số liệu lại cho thấy bà đã phí phạm 80 triệu USD xây một Tổng Lãnh Sự Quán ở Afghanistan, làm thiệt hại 6 tỷ USD vì không thực hiện được các hợp đồng đã ký; không chịu liệt Boko Haram ở Nigeria vào danh sách khủng bố khiến tổ chức này đường đường chính chính bắt cóc một lúc 300 nữ sinh; cấm không cho điều tra cáo buộc Bộ Ngoại Giao Mỹ của bà có dính líu đến việc sử dụng gái mại dâm phục vụ công tác riêng, việc các nhà thầu của Bộ Ngoại Giao sử dụng ma túy, và việc Đại Sứ Mỹ ở Bỉ yêu cầu cung cấp mại dâm thiếu niên nam.

(l) Dối Trá Để Đánh Bóng Bản Thân: Hillary đã tuyên bố bị các tay súng mật phục bắn tỉa khi đến Tuzla ở Bosnia năm 1996. Tuy nhiên, sau này đài CBS tìm được và phát sóng phim quay lại cảnh Hillary nhàn hạ dạo chơi khắp chốn, thậm chí vui vẻ chuyện trò với một bé gái vào đúng thời gian mà bà đã cho là khi bị bắn.

(m) Gian Trá Cơ Hội Chủ Nghĩa: Hillary đã có tư cách thấp kém khi đối với hiệp định NAFTA lúc thì khen đó là sự thành công của Hoa Kỳ, nhưng khi công luận chê bai thì bảo bản thân đã chống NAFTA ngay từ đầu; lúc trả lời phỏng vấn đã khoe được ông nội dạy sử dụng súng từ nhỏ, và giữa vòng vây của những người chống sở hữu vũ khí lại tuyên bố bản thân sinh ra và lớn lên trong một gia đình không bao giờ có súng ống; lúc tuyên bố chống hôn nhân đồng tính nam, để rồi sau đó bảo ủng hộ hôn nhân ấy; và gần đây nhất trong cuộc bầu cử tổng thống 2016 đã tuyên bố ủng hộ hiệp định TPP do Obama ký với 11 nước (trong đó có Việt Nam) nhưng khi thấy Donald Trump được ủng hộ vì chống TPP đã tuyên bố bản thân cũng chống TPP.

(n) Vô Đạo Đức Và Bất Lương: Khi Bill Clinton được yêu cầu phục vụ giải quyết xét hỏi sự sai phạm của Tổng Thống Richard Nixon trong vụ Watergate năm 1974, ông (Bill Clinton) đã tiến cử bạn gái là luật sư Hillary Rodham (tức Hillary Clinton khi trở thành vợ Bill Clinton) đảm trách thay mình nhằm tạo điều kiện cho bạn gái có cơ hội thăng tiến. 

Tuy nhiên, Hillary đã bị Luật Sư Trưởng Ủy Ban Điều Tra Jerry Zeifman sa thải với lý do chính thức rằng “Hillary là một luật sư vô đạo đức, bất lương, có mưu đồ vi phạm Hiến Pháp, vi phạm quy định của Hạ Viện, vi phạm quy định của ủy ban điều tra, và quy định bảo mật” (“She was an unethical, dishonest lawyer. She conspired to violate the Constitution, the rules of the House, the rules of the committee and the rules of confidentiality”). 

Thậm chi Zeifman còn từ chối không cấp chứng thư xác nhận công tác cho Hillary theo thông lệ đối với nhân sự thuộc cấp đã chấm dứt nhiệm vụ. Hillary là một trong ba trường hợp duy nhất mà Zeifman không cấp thư xác nhận trong suốt cuộc đời sự nghiệp của ông.

(o) Bao Điều Tệ Hại: Ngoài ra, còn biết bao điều tệ hại khác của Hillary mà bảng chữ cái không đủ để liệt kê hết ra đây, có thể được kiểm chứng qua các đường links trong phần Tham Khảo bên dưới, hoặc truy xuất từ mạng internet các vụ việc mang tên Whitewater Scandal, Cattle Gate, File Gate, China Gate, Quỹ Clinton, Haiti, Hội Tà Thuật Nữ Phù Thủy (Witches’ Covens), Travel Gate, Pardon Gate, It Takes a Village (quyển sách năm 1996 của Hillary đề xuất một cách bịnh hoạn rằng chính phủ Mỹ nên thay mặt các bậc cha mẹ trong nuôi dưỡng trẻ em, nói theo kiểu của Alders Huxley về những lồng ấp trứng để chính phủ kiểm soát chặt chẽ sự sinh sản), SRA (Satanic Ritual Abuse), và The Clinton Body Count (liệt kê dánh sách dài những người chống lại gia đình Clinton để rồi chết do tự tử, do tự bay khỏi lầu cao tầng, do tự gây ra tai nạn xe, do tự cho máy bay nổ, do tự bắn từ phía sau gáy, vì tình cờ phát hiện tấm ngân phiếu mà Clinton sơ xuất đánh rơi, vì lỡ có bầu với Bill Clinton, vì lỡ làm bác sĩ riêng nên biết được bí mật bệnh sử của thân chủ, hay vì bổng dưng chết bầm dập trần truồng bên trong phòng làm việc đã bị khóa trái cửa từ bên trong của Bộ Thương Mại như trường hợp của Cô Barbara Wise, v.v., mà tất cả đều được dán nhãn “tự tử”).

Sự tàn ác vô đạo bất nhân đam mê quyền lực bất chấp luật pháp của người phụ nữ thượng lưu làm chính trị chuyên nghiệp xuất phát từ cái đặc thù dân tộc tính của tàn ác vô đạo bất nhân đam mê quyền lực bất chấp luật pháp, cộng với những đặc điểm đó nơi người phối ngẫu, lại giúp minh chứng một chân lý: Hoa Kỳ trên nền móng của tàn ác, bất nhân, đam mê quyền lực, bất chấp luật pháp, sẽ không bao giờ là cường quốc trường tồn, sẽ dễ gây thương tổn và bị tổn thương, luôn tự tạo ra lắm kẻ thù làm cho chính mình, luôn tạo ra trong nước và từ ngoài nước những bản sao y hệt của tàn ác vô đạo bất nhân đam mê quyền lực bất chấp luật pháp, để rồi sẽ bị vùi dập từ những bản sao được nâng cấp ấy.

Có thể khẳng định rằng Mỹ và thế giới sẽ điêu tàn nếu Hillary Clinton lên làm Tổng Thống Hoa Kỳ.

CỰU CEO CỦA CLINTON FOUNDATION YÊU CẦU ĐƯỢC BẢO VỆ (Tin đã được kiểm chứng)

Ngay sau khi biết được WikiLeaks công bố emails liên quan đến việc Clinton Foundation bỏ túi gần nửa tỷ đô la từ quỹ từ thiện quyên góp giúp Ấn Độ năm 2013, Eric Braveman, người sau khi cố gắng thay đổi tổ chức từ thiện Clinton Foundation nhưng Không Thành, sau đó Anh đã rời khỏi chức vụ CEO tại Clinton Foundation về làm việc cho Trường Đại Học Yale, Eric đến Văn Phòng Consulate of Russia tại New York vào hôm qua để yêu cầu được cấp Visa sang Nga. Cựu CEO của Clinton Foundation yêu cầu thêm việc xuất ngoại của Anh lần này vì lý do chính trị, Anh muốn được tạm trú trong SỨ Quán Hoa Kỳ tại Nga.

Trước cái chết bí ẩn của Ông Gavin MacFadyen, người đồng sáng lập WikiLeaks với Julian Asange vào tuần trước, Eric Braveman rất lo ngại cho sự an toàn của mình, bởi vì trong thời gian làm việc tại Clinton Foundation, Anh biết rất rõ những việc làm phạm pháp và gian trá của tổ chức từ thiện mang tên họ gia đình Clinton này.

Thursday, September 10, 2026

Đi Mỹ: Vạn Dặm Tìm Chồng

Mười năm trước đây, mẹ chồng tôi, các con tôi và tôi được cho sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Tôi bâng khâng tự hỏi không biết mình có thích nghi được với lối sống mới này hay không"

Gánh nặng luôn đè nặng trên đôi vai nhỏ bé của tôi. Phần chăm sóc bà mẹ chồng tuổi già sức yếu lại mang nhiều bệnh tật trong người, một đàn con ba đứa còn nhỏ dại. Mười năm dài xa chồng, bây giờ tôi phải trải qua nửa vòng trái đất mới được gặp lại, quả là một chặng đường đầy gian nan vất vả.

Tay xách, nách mang cùng mẹ già con dại, qua những khâu giấy tờ ở sân bay Tân Sơn Nhất khi rời khỏi đất nước Việt Nam, cũng đủ làm tôi phờ phạc. Tôi ví mình giống như Thoại Khanh ngày xưa vạn dặm tìm chồng. Thoại Khanh ngày xưa cõng mẹ băng rừng vượt suối. Bây giờ hiện đại hơn, tôi chưa phải cõng, chỉ dìu mẹ và dắt díu đàn con leo lên máy bay mà thôi.

Theo đường bay, đến Thailand gia đình tôi phải ở lại trại để chờ thủ tục chuyển tiếp vào đất Mỹ. Tám ngày đêm ở trại Thailand, tôi không tài nào chợp mắt được. Hình ảnh quê nhà cứ chập chờn ẩn hiện. Đậm nét nhất vẫn là hình ảnh của cha tôi. Do một sự rủi ro cha phải rơi vào cảnh mù lòa tăm tối. Vì hạnh phúc của tôi, vì tương lai một đời của các cháu, cha tôi phải nén niềm thương nhớ để cho tôi ra đi không bịn rịn, nhưng tôi vẫn nhìn thấy được đôi dòng lệ chảy dài qua hai hố mắt sâu thẳm của người, đôi mắt đã vĩnh viễn không tìm thấy ánh sáng. “Cha ơi! Rồi một ngày nào đó thật gần con sẽ về lại thăm cha”. Trong bóng đêm và trong nước mắt, tôi đã thì thầm như thế.

Rồi cuộc hành trình lại tiếp tục, qua nhiều lần làm giấy tờ, nhiều chặng đường bay, một mình lo đủ thứ, người đã muốn lả đi, nhưng tôi vẫn vượt qua tất cả.

Từ Washington State, tôi đáp chuyến bay nhỏ về tiểu bang Idaho, một nơi hầu như ít người biết đến. Đây là chặng đường bay cuối cùng của cuộc hành trình. Nhìn mẹ chồng thiêm thiếp, các con say sưa trong giấc ngủ hồn nhiên, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Qua khung cửa sổ tròn của máy bay là vòm trời cao lồng lộng. Xa vút tầm mắt của tôi, một đám mây đen đang vần vũ. Đám mây ấy lại nhắc tôi lá thư của người bạn thân mà tôi đã vài tuần lễ, trước ngày lên đường đi Mỹ. Lá thư ấy, cho tới nay, tôi vẫn giữ bên mình, và vẫn thấy lòng mình bị lá thư ám ảnh.
Máy bay đang bình phi. Tôi phải đọc lại tận tường lá thư đó.

Ngày...tháng...năm

Thủy thân thương,
Đáng lẽ mình viết thư về liền cho Thủy sau khi đặt chân lên đất Mỹ tự do, thế mà cho mãi đến hôm nay, hơn nửa năm rồi... Hơn nửa năm ấy khủng khiếp ấy, làm sao mình có thể kể hết được với Thuỷ.

Thủy ơi! Khi chúng ta chia tay nhau, ngày lên đường đi đoàn tụ với chồng, mình đã dệt biết bao nhiêu là mộng đẹp. Nhìn chung quanh bạn bè cùng lứa mình thầm nghĩ mình là người may mắn và hạnh phúc nhất. May mắn là giấy tờ suôn sẻ ra đi nhanh chóng. Hạnh phúc là mình sắp được gặp lại chồng, các con của mình sắp gặp lại cha.

Mình và Thủy, hai đứa hoàn cảnh giống nhau, cũng có khoảng thời gian xa chồng dài đăng đẳng. Chắc Thủy sẽ dễ dàng cảm nhận được tâm trạng của mình hơn. Có lẽ mình đã tự dệt quá nhiều mộng đẹp nên khi va chạm với thực tế phủ phàng, mình mới thấy tinh thần bị sa sút dữ dội.

Ngày máy bay tới phi trường, trong dòng người hỗn độn đó, tay dắt hai đứa con thơ, mình cảm thấy thật bơ vơ, lạc lõng. Đảo mắt chung quanh để tìm kiếm người chồng thân thương nhất của đời mình, nhưng chẳng thấy đâu. Đang tâm trạng lo lắng, mình chợt thấy một cặp vợ chồng trẻ tiến về phía mình, sau khi giới thiệu tên và nói là bạn của chồng mình đại diện để mang hoa ra đón mừng ba mẹ con đến nước Mỹ.

Cũng vừa lúc ấy, bất chợt mình nhìn thấy anh Hoàng chồng của mình đang đứng chung với một cô đầm Mỹ trong gốc nhỏ nơi thân nhân chờ đợi, mình định kêu lên và chạy lại, nhưng đôi vợ chồng trẻ đã kịp thời giữ chặt lấy mình và nói nhỏ vào tai “Tốt nhất chị đừng nhìn anh ấy ngay bây giờ”.

Thấy mình tròn xoe mắt ngạc nhiên, họ nói thêm như để giải thích “Nếu chị nhìn anh ấy không những bất lợi cho anh Hoàng mà còn bất lợi cho cả mẹ con chị nữa. Chị có nhìn thấy con đầm Mỹ đứng sát cạnh anh ấy hay không" Hiện tại nó là vợ của anh ấy. Nó biết chị sắp qua, nên kè kè bên anh ấy không rời nửa bước. Túi xách nó đeo cạnh hông và tay lúc nào cũng để hở nơi miệng túi. Chỉ cần một hành động nào của chị hay của anh Hoàng là nó sẽ sẳn sàng rút súng và nhả đạn ngay. Sở dĩ tôi biết được điều này là vì trước ngày chị qua, anh Hoàng đã điện thoại cho tôi biết hoàn cảnh bất khả kháng của anh, con đầm Mỹ đã hâm dọa như thế. Chị nên biết cường độ ghen tuông của đàn bà Mỹ chỉ hơn chứ không thua gì người nữ Việt Nam, nhất là ở cái xứ mà ngay cả súng đạn, một thứ vũ khí dùng để giết người cũng được quyền bán tự do”.

Lời nói khó tin ấy như những làn roi quất mạnh vào da thịt nghe rát buốt. Đầu óc trống rỗng, bước chân hụt hẩng, mình dắt con theo họ để đi nhận lại đồ. Trước khi rời khỏi phi trường, mình quay nhìn lại Hoàng, người chồng mà mình hằng ắp yêu thương nhớ. Anh ấy vẫn đứng đó, xa lạ, khó hiểu.

Hoàng đã mướn căn nhà nhỏ cho mình và hai đứa con ở. Mọi sắp xếp nơi ăn chốn ở, sự học hành của con mình đều do cặp vợ chồng trẻ bạn của anh lo liệu hết. Chắc có lẽ họ thương hại hoàn cảnh của mình nên rất nhiệt tình giúp đở.

Đêm đêm khi các con đã ngủ say, một mình trong căn nhà cô quạnh, giữa nơi xứ lạ quê người, mình nghe tủi thân làm sao. Mình chỉ cầu xin cho ơn trên phù hộ cho anh Hoàng hồi tâm trở lại với gia đình. Mình luôn luôn hy vọng, dù chỉ là một hy vọng mỏng manh để làm cứu cánh cho cuộc đời mình.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, sự chờ đợi của mình chỉ hoài công vô ích. Có lần mình nói lại với vợ chồng anh chị Lan (bạn của Hoàng) ý định muốn trở về quê hương, anh chị đã cản và giải nghĩa cho mình biết, mình không nên vì mình mà hãy vì tương lai của các con. Sống trên một đất nước văn minh tiến bộ, chúng có điều kiện phát triển khả năng hơn là ở một nước nghèo đói chậm tiến.

Tình thương của một người Mẹ đối với con cái bao giờ cũng đặt lên trên hết, nên mình đã từ bỏ ý định trở về Việt Nam. Mình đã nhờ anh chị Lan xin cho mình một việc làm khả dĩ nào đó, để quên đi những buồn phiền trong tâm khảm. Mới qua, vốn liếng sinh ngữ ít ỏi, muốn tiếp thu được tiếng nói của nước người không phải là một ngày một tháng mà biết được. Vì thế anh chị Lan chỉ xin cho mình một việc làm hết sức khiêm nhường là cắt rau cải ở một nhà hàng Tàu. Nỗi buồn chưa kịp vơi, thì mình lại nhận được tin anh Hoàng đã nạp đơn xin ly dị. Mình đau khổ cùng quẫn. Chồng còn đó mà mình như người góa bụa. Cha còn đó mà các con mình phải chịu cảnh mồ côi.

Mình thật sự lầm lẫn khi đã chọn Hoàng để làm chồng. Không ngờ Hoàng lại tệ bạc như thế. Mình thì rả rời mà hai đứa con lại liên tiếp bị đau vì chúng chưa thích hợp với thời tiết bên đây. Thiên chức làm mẹ không cho phép mình buông xuôi, phải đứng lên chống chọi, dù đời có đen bạc như thế nào đi chăng nữa. Bây giờ, chỉ có ba mẹ con đùm bọc lấy nhau, mình không thể nào để cho các con mình mất đi một điểm tựa cuối cùng.

Sau nhiều lần hòa giải, thủ tục ly dị cũng đã hoàn tất. Mình đã vĩnh viễn mất Hoàng. Hàng ngày, mình chỉ còn biết lầm lủi với công việc cắt rau cải, đêm về vui với các con, với sự học hành của chúng. Bây giờ các con là niềm hy vọng cuối cùng của đời mình. Khi thư này đến tay Thủy, thì chắc có lẽ Thủy cũng sắp sửa ra đi. Thuỷ ơi, Hãy chuẩn bị tâm lý khi đặt chân lên xứ người và nhất là được đoàn tụ lại với chồng.

Chúc Thủy một cuộc hành trình tốt đẹp, một cuộc trùng phùng đầy hạnh phúc.
Người bạn bất hạnh của Thủy,

Phượng

Xếp lá thư lại trong tâm trạng bồi hồi cảm xúc, tôi thả tầm mắt xa xa để tưởng tượng một nơi mà tôi sắp sửa đặt chân đến, và cảm thấy lo sợ vu vơ. Hoàn cảnh của tôi và Phượng giống nhau, có thể nào xảy ra một sự trùng lập giống như thế không" Tôi cố xua đuổi những nỗi ám ảnh không đâu. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở chồng tôi, ảnh rất tốt. Vốn sinh ra trong một gia đình luôn luôn lấy nền tảng đạo đức làm đầu, thì không thể nào là một Hoàng thứ hai được. Nhưng biết đâu được...

Tiếng cô tiếp viên trên loa phóng thanh báo hiệu máy bay sắp đáp xuống phi trường Boise làm cắt đứt dòng tư tưởng của tôi.

Hai vai, hai túi xách, tay dìu mẹ, tay dẫn con, tôi bước từng bước chân hồi hộp ra khỏi phi cơ trong tâm trạng vui mừng lẫn lo sợ khi gặp lại chồng sau 10 năm dài xa cách. Vì đi bằng máy bay nhỏ, nên chúng tôi phải bắt buộc đi một đoạn ngắn từ sân bay vào bên trong phi trường. Đến đất Mỹ vào thời đang đổ tuyết, sự chuyển tiếp khí hậu từ nóng sang lạnh làm chúng tôi bị mất thăng bằng, cộng thêm cuộc hành trình khá dài, nên mẹ tôi đã yếu hẳn đi. Qua khung cửa kiếng mờ mờ, tôi thấy chồng tôi đang vẫy tay lia lịa, tôi cố dìu mẹ tôi đi nhanh vào cánh cửa để tránh cơn gió lạnh đến buốt da.

Bên trong phi trường, quang cảnh thật ấm áp và náo nhiệt, một số người thân và bạn bè của chồng tôi đang đứng đón chào. Chồng tôi chạy ào đến hai tay dang rộng ôm chầm hết tất cả những người thân vào trong vòng tay yêu thương ấm áp. Từng dòng nước mắt lăn dài trên má của chúng tôi, những giọt nước mắt ngọt ngào mừng vui cho ngày đoàn tụ. Có lẽ tôi là người sung sướng nhất, mọi ám ảnh, mọi gánh nặng âu lo trong tôi bây giờ đã được trút bỏ một cách nhẹ nhàng. Chồng tôi vẫn còn giữ được dáng vẻ hào hoa như ngày nào, nhè nhẹ chậm nước mắt cho tôi qua cái nhìn âu yếm gởi trao như lần đầu quen biết. Phải chăng đây là phần thưởng mà Thượng Đế đã ban cho tôi trong suốt mười năm trời xa chồng, tôi vẫn trọn niềm là một người con dâu hiếu thảo" Trong vòng tay hạnh phúc của chồng, tôi chợt cảm thấy se lòng chạnh thương cho hoàn cảnh của Phượng.

Đêm đó vợ chồng tôi nằm tâm sự kể cho nhau nghe những nỗi niềm nhung nhớ. Trong bóng đêm, anh khẽ đọc lại bài thơ mà hầu như anh đã thuộc lòng không sót một chữ. Bài thơ tôi đã làm bằng tất cả sự yêu thương của một người vợ xa chồng, trong đó có đoạn:

Anh nhé! Đừng quên em với con
Một lòng em giữ dạ sắt son
Chờ anh chờ đến ngày sum hiệp
Dẫu nát vàng phai, dẫu đá mòn...

....Và tôi đã chìm vào trong giấc ngủ hạnh phúc hồi nào không hay.

Sau hai tuần lễ tạm thời ổn định cuộc sống, vợ chồng tôi bắt đầu làm thủ tục nhập học cho các con.

Một lần nữa tôi lại lo sợ khi nghe các bạn ở Việt Nam có người thân bên Mỹ gởi thư về nói là ở Mỹ có những trường học họ kỳ thị dân da màu tóc đen. Con của người Á Đông vào học thường bị mấy đứa nhỏ Mỹ trắng đánh tới bầm mặt, bươu đầu, chảy máu.

Ngày đầu đưa các con tới trường, ra về tôi cứ trông từng giờ các con tan học, để xem chúng có sao không" Nhưng thật bất ngờ, con tôi về trong niềm vui hớn hở, chúng tíu tít kể cho tôi nghe ngày đầu đến trường, các cô giáo rất dễ thương, chăm sóc chúng từng chút, các bạn Mỹ thì bu lại chung quanh hỏi han, hướng dẫn những gì các con tôi không biết, dành nhau để được chơi chung. Một lần nữa tôi lại thở phào nhẹ nhõm. Sự kỳ thị chủng tộc tôi nghĩ cũng có, nhưng luật pháp của nước Mỹ đã nghiêm cấm điều đó. Riêng tiểu bang tôi ở, mặc dù ít người biết đến, nhưng tôi rất thích vì mọi người đối xử với nhau rất là “nice”.

Thời gian trôi qua, các con tôi lớn dần theo năm tháng và rất tiến bộ trong sự học hành. Tôi cũng mừng là chúng vẫn còn khép mình trong khuôn khổ dạy dỗ của tôi. Bởi vì con trẻ ở Mỹ lớn lên chúng giao tiếp với bạn bè ở trường hay ngoài xã hội nhiều hơn là với cha mẹ ở nhà.

Trong quá trình dạy dỗ con cái, tôi cố gắng để vừa là mẹ mà cũng vừa là người bạn tâm tình của chúng. Tôi dạy dỗ hướng dẫn các con những ưu điểm nào cần nên học và bắt chước. Những khuyết điểm nào cần phải sửa chữa cho được tốt hơn, vì thế gia đình tôi luôn luôn tràn đầy hạnh phúc.

Tính đến hôm nay tôi định cư ở tiểu bang Idaho này đã được hơn mười năm. Mẹ chồng tôi tuổi tác quá cao lại bệnh tật, phần không chịu đựng được khí hậu lạnh, nên đã qua đời sau khi đến Mỹ được 2 năm.

Cuối tuần, chúng tôi dự định một cuộc đi chơi, nhưng được tin người bạn đang làm việc trong sở tự nhiên ngã vì bị chứng máu cao hiện bại nửa thân người, dự định đi chơi phải chuyển qua đi thăm người bệnh.

Người bạn chúng tôi đến tham là anh Bách, tuy không thân lắm, nhưng sống giữa xứ người, nhất là tiểu bang này rất ít người Việt, nên chúng tôi luôn trân trọng tình đồng hương. Trong phòng bệnh thật im ắng, chúng tôi thấy anh nằm thiêm thiếp vẻ mặt xanh xao tiều tụy. Nhẹ đặt bình hoa với lời chúc anh mau chóng bình phục ở cạnh cửa sổ, ngoại trừ cô y tá trực và vợ chồng chúng tôi, không có một người thân nào ở cạnh để chăm sóc cho anh.

Biết anh Bách cũng khá lâu, nên chúng tôi cũng hiểu khá rõ hoàn cảnh của anh. Một vợ năm con còn kẹt lại ở quê nhà, thiết nghĩ anh có đủ điều kiện để bảo lãnh vợ con, anh làm cho hãng điện tử từ năm anh mới qua cùng đợt với chồng tôi năm 81, nhưng không hiểu tại sao anh vẫn lẳng lơ con cá vàng mà không bảo lãnh chị và các cháu. Nhiều lần chồng tôi thúc giục anh xúc tiến giấy tờ cho gia đình mau chóng đoàn tụ, nhưng anh chỉ ậm ừ mà thôi. Sau này tôi mới biết nguyên nhân chánh của việc anh không chịu bảo lãnh vợ con là vì anh mới vừa cặp bồ với một cô còn rất trẻ vào khoảng bốn mươi, nếu so về tuổi đời thì anh ấy lớn hơn cô ta khoảng gần 20 tuổi. Cô ta qua Mỹ cùng với chồng và hai đứa con, một trai, một gái chỉ mới vài tháng sau bỏ chồng cặp bồ với anh Bách gần hai năm nay.

Anh Bách còn có một người em gái lấy chồng Mỹ, một người em trai út mới qua theo diện HO mà anh bảo trợ cho về ở chung. Anh Bách và cô ta chỉ là hai mảnh đời dở dở dang dang rồi chấp nối lại với nhau thì làm sao có được những tình cảm thâm thúy đúng nghĩa của chữ vợ chồng. Từ ngày người em út về ở chung đã xảy ra nhiều chuyện. Người ta đồn cô vợ trẻ đang lẹo tẹo cùng người em trai út của anh. Anh hoàn toàn không tin về lời đồn ấy. Một lần bỏ quên cái bóp ở nhà, anh phải quay trở về lấy, anh mới chứng kiến tận mắt người em trai và cô vợ trẻ đang âu yếm tình tự. Sau sự thật bẽ bàng ấy, nghe đâu bây giờ họ thản nhiên mướn nhà khác ra mặt ở chung với nhau. Trong cảnh bất hạnh ấy, anh Bách thường gọi điện thoại tâm sự với vợ chồng chúng tôi, anh nói anh rất đau buồn, hối hận ăn năn vì đã phụ bỏ vợ nhà để lao vào một cuộc tình không đâu. Sự uất ức dày dò anh đến cao độ, vì thế đã làm anh đứt mạch máu não, liệt cả nửa thân người. Anh Bách từng bị người đời lên án bỏ vợ mình để đi cướp vợ người. Bây giờ tới phiên anh bị chính người em trai của mình cướp vợ. Anh nằm đó, thiêm thiếp trong cơn mê.

Thấy không thể hỏi han gì được nên vợ chồng tôi phải ra về. Nắng chiều trải nhẹ trên thềm bệnh viện. Đi song song bên cạnh chồng, tôi nghĩ nếu so sánh với hoàn cảnh của Phượng hay của chị Bách còn ở VN thì tôi thật là một người có phước. Tôi thầm cám ơn Thượng Đế đã ban cho tôi quá nhiều ân sủng, một người chồng tốt, ba đứa con ngoan đều sắp sửa ra trường. Hiện bây giờ ngoài giờ học, chúng lao vào công tác xã hội, giúp đỡ cho cộng đồng người Việt mới qua những giấy tờ cần thiết khi du nhập vào nước Mỹ, mở lớp dạy Việt ngữ cho các cháu nhỏ, vv... Tôi rất hãnh diện và sung sướng khi có được một mái gia đình hạnh phúc và ấm cúng như thế. Tôi tâm niệm phải dạy dỗ các con tôi làm sao, dù học hỏi theo văn minh tiến bộ của nước Mỹ, nhưng cũng phải luôn giữ nề nếp gia đình, và cội nguồn dân tộc.

Hương Thủy


NGÀY CUỐI..!!!

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không?
Căn nhà rộng 132m vuông. Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà:
"Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu"
Bà cụ tiếp tục nói:
"Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện".
Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu.
Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói:
"Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp"
Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói:
"Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con".
Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống, bởi đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.
Tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà, tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà, nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu…
Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…
Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng. Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình, nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm.
Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ, có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua...
Tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi công tác đột xuất nên không thể gõ cửa nhà bà …
Một tuần sau khi trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa, nhưng không nghe tiếng trả lời của bà. Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.
Khi cảnh sát mở cửa, chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé, pháp y nói: "Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim".
Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói:
"Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à!"
Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng…
Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào…
Nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.
Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng đó... nhớ lại những khoảnh khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực …
Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói: "Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao".
Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà và lắng nghe giọng nói của bà.
Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu:
Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.
Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về
Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi.

Tác giả : Trish Nguyen


MÂM CƠM NGÀY CŨ

Hộ khẩu ghi tám người, nhưng nội thì một kiểng hai quê nên thường trú có bảy. Nhà nghèo, thiếu trước hụt sau, vậy mà mấy bữa cơm ngày đó lại vui. Món chủ đạo chỉ là mắm tôm chưng và dĩa dưa leo xắt mỏng. Thằng em trai tui mà vô bếp là y như rằng có món bầu luộc chấm nước tương. Vậy mà cả nhà ngồi ăn, nói chuyện trên trời dưới đất, cười tới no còn nhiều hơn ăn tới no.

Nhớ mãi có lần ba dụ thằng em ăn nguyên trái ớt hiểm, nói ớt bỏ vô họng nhai nguyên trái thì không cay. Nó tin thiệt, nhai ngon lành, vài phút sau nước mắt nước mũi chảy tùm lum. Cả nhà cười muốn chết, còn nó vừa khóc vừa giận. Rồi có hôm tui đang tắm heo sau nhà, thấy một con chuột cống đang giằng co với con cá lóc mắc câu. Thấy động, nó bỏ cá chạy mất. Tui đem con cá vô nhà, cả nhà có thêm một nồi canh chua. Nghèo thiệt, nhưng hồi đó hình như chuyện gì cũng có thể thành chuyện để cả nhà cười.

Cái mâm tám cái chén đó không phải đợi tới ngày tui đi Mỹ mới tan. Nó bắt đầu tan ngay trên đất Việt Nam. Có một thời em gái tui bệnh nặng, người ta nói đủ thứ, có người còn bảo con nhỏ bị người khuất mặt khuất mày quấy phá. Ba lo quá nên cầu nguyện, nói nếu con khỏi bệnh thì ba nguyện ăn chay. Rồi em tui khỏi thiệt, ba giữ lời, bỏ thịt cá cho tới cuối đời. Bữa cơm trong nhà cũng từ đó khác đi. Người ăn món này, người ăn món kia, ai đói lúc nào thì ăn lúc đó.

Tới sau này, từ ngày bà mất, ba một mình lo chuyện tụng niệm trước bàn thờ. Tui chỉ còn nhớ lỏm bỏm mấy tiếng ba thường tụng, nghe riết thành quen mà hồi nhỏ chẳng bao giờ hỏi cho tới nơi tới chốn. Tụi tui thì đứa đi học, đứa đi làm, đứa lo chuyện riêng, đi ngang qua cũng chẳng để ý ba quỳ bao lâu. Mãi về sau tui mới thấy hai đầu gối ba đã chai cứng, sạm đen. Hồi đó nếu tui hỏi “Ba đau không?”, ba nói đau thì tui cũng đâu làm được gì, mà nói không đau thì tui biết ổng nói dối. Nghĩ vậy rồi thôi.

Rồi mỗi người trong nhà tự nhiên có một giờ ăn riêng, một cái chén riêng. Có khi tui vừa ăn cơm vừa coi phim bộ Hồng Kông, trộn cơm với đồ mặn, chan chút canh vô tô rồi ngồi trước tivi ăn tới đâu hay tới đó. Hồi đó nhớ từng nhân vật, từng tập, chớ hỏi bữa đó ăn món gì thì chịu, chẳng nhớ nổi. Cái mâm tám cái chén hồi nhỏ vậy là tan từ hồi đó, đâu cần đợi ai đi đâu xa mới tan.

Tui lấy chồng, đi Mỹ. Ba má sau này theo sang, rồi ba mất ở đây. Tiếng cốc cốc của mõ, những câu tụng quen thuộc trong nhà cũng mất theo. Hồi còn nghe thì chẳng thấy có gì đặc biệt, tới khi im hẳn mới thấy trong nhà thiếu một thứ.

Má còn đó. Hai đứa em trai ở gần má, chị lớn ở Indiana, tui ở Texas. Hồi nhỏ anh chị em chỉ cần bước qua mấy khoảnh đất là gặp nhau, muốn ăn cơm thì kéo ghế ngồi vô. Bây giờ muốn đủ mặt phải coi lịch làm việc, coi vé máy bay, coi đứa nào rảnh, đứa nào bận.

Ở Mỹ rồi mà má vẫn thích mấy món khô, thích cá, thích nước mắm, mấy thứ hồi nhỏ tụi tui đứa nào cũng chê mùi, chê mặn. Má chẳng ép ai ăn chung, ai không ăn thì thôi. Bao nhiêu năm rồi, đổi nhà, đổi chỗ ở, khẩu vị của má vẫn vậy. Chỉ có má ăn chậm hơn trước nhiều. Tui nhìn má ăn mà nhớ hồi xưa má ăn nhanh lắm.

Căn nhà cũ ở Sài Gòn, nơi cuối cùng anh chị em còn có thể tụ lại với nhau, rồi cũng bán. Người ta sửa lại, sơn lại, làm lại theo cách của người ta. Địa chỉ vẫn còn, con đường vẫn còn, nhưng những người từng sống trong căn nhà đó thì mỗi người một nơi. Từ bữa đó, tui muốn về cũng không biết về đâu. Không phải xa quê nữa, mà là hết quê để mà xa.

Ở bên Mỹ, nhà cửa sạch sẽ, trong tủ lạnh thứ gì cũng có. Vậy mà có những lúc tui nhớ cái mâm nhôm cũ, nhớ tiếng dép của ba, nhớ tiếng má gọi từ trong bếp: “Vô ăn cơm nghen con.” Hồi đó nghe hoài tới mức có khi còn thấy phiền. Đang coi phim mà má gọi ăn cơm, tui còn nói “chờ chút”. Ai biết được cái “chờ chút” đó có ngày kéo dài tới mấy chục năm.

Bây giờ nhiều khi tui ăn một mình. Cái bàn vẫn đó, chén vẫn đó, đũa vẫn đó, thức ăn cũng chẳng thiếu. Chỉ là không còn tiếng cười của một đám người ngồi sát bên nhau. Đời đâu có báo trước bữa nào là bữa cuối. Người ta cứ ăn, cứ đứng lên, rồi đi học, đi làm, đi xa. Tới lúc nhìn lại, cái mâm đã vắng người tự hồi nào.

Nếu biết trước, chắc tui đã ăn chậm hơn một chút, ngồi lâu hơn bên ba, hỏi coi hai đầu gối ổng có đau không. Chắc tui cũng đã chịu ăn chung với má mấy món khô mà hồi nhỏ cứ chê hôi, chê mặn. Nhưng đời đâu có báo trước. Mình cứ tưởng ngày mai còn đó, nên cứ để dành một câu hỏi, một bữa cơm, một lần ngồi lâu hơn bên người thân.

Có lẽ tới tuổi này tui mới hiểu, thứ mình nhớ không phải căn nhà. Căn nhà cũ bây giờ người khác ở rồi. Thứ tui nhớ là những người từng ngồi quanh cái mâm đó.

Thỉnh thoảng nghe ai đó nói “Vô ăn cơm nghen con”, tui lại nhớ cái mâm nhôm ngày cũ. Tám cái chén, tám người ngồi sát bên nhau, tiếng chén đũa, tiếng cười, tiếng ba, tiếng má. Hồi đó tui cứ tưởng mình rời nhà để đi tìm một cuộc đời khác. Đâu ngờ đi hết một vòng đời, thứ tui nhớ nhất lại chỉ là một chỗ ngồi bên cái mâm cơm cũ.

Mà cái chỗ ngồi đó, bây giờ tui cũng đâu còn chỗ mà về.

Hong Khuu
CHIẾC NHẪN VÀ NGÔI MỘ Ở PHƯỚC ĐỒNG

Có những ca bệnh đi qua đời người thầy thuốc chỉ trong vài phút.
Nhưng cũng có những “bệnh nhân” ở lại trong ký ức suốt cả thời gian dài.
Đó là một buổi sáng cuối tuần cách đây nhiều năm.
Khoa Cấp cứu của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa vừa bắt đầu một ngày làm việc thì một chiếc xích lô hối hả dừng trước cửa.
Người đạp xích lô vừa thở dốc vừa nói:
* “Bệnh nhân đi tàu hỏa. Đến ga Nha Trang thì ngất. Nhân viên đường sắt thuê tôi chở vào bệnh viện. Họ sẽ đến ngay.”
Không có người thân.
Không có giấy tờ chuyển viện.
Không có ai biết tên tuổi.
Chỉ có một người đàn ông lớn tuổi đang nằm bất động.
Các bác sĩ và điều dưỡng lập tức lao vào cấp cứu.
Năm phút…
Mười phút…
Mười lăm phút…
Mọi nỗ lực đều không thể đưa ông trở lại.
Hội chẩn xác định bệnh nhân đã tử vong ngoại viện, nguyên nhân chưa rõ.
Theo quy trình, Phòng Kế hoạch Tổng hợp được mời xuống xử lý hồ sơ.
Ngày ấy, tôi là cán bộ của phòng.
Tôi không ngờ rằng quyết định mình sắp đưa ra sẽ theo mình suốt nhiều chục năm sau.

Chúng tôi kiểm tra toàn bộ hành lý.
Một chiếc túi xách cũ.
Một chiếc bình bát.
Một chiếc ví.
Một túi vải nhỏ.
Trong túi vải là một chiếc nhẫn vàng khoảng một chỉ.
Và một phong bì đã được dán kín.
Bên ngoài ghi địa chỉ gửi sang Hoa Kỳ nhưng chưa dán tem.
Kèm theo là tấm ảnh người đàn ông mặc áo lam, ôm bình bát, đứng trước một ngôi chùa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi đứng lặng khá lâu.
Có nên mở lá thư?
Theo nguyên tắc, thư tín là bí mật cá nhân.
Nhưng lúc ấy, trước mặt tôi là một người đã mất.
Không tên.
Không thân nhân.
Không đầu mối liên hệ.
Nếu không tìm được thông tin, ông sẽ mãi mãi trở thành một “người vô thừa nhận”.

Sau khi trao đổi với các bộ phận liên quan, tôi quyết định lập biên bản và mở phong bì trước sự chứng kiến của các bên.
Đó là một quyết định không dễ dàng.
Nhưng tôi tin mình làm vì mục đích duy nhất: tìm người thân cho người đã khuất.
Trong thư là những dòng chữ gửi cho các con đang sinh sống ở Hoa Kỳ.
Những dòng tâm sự khiến tất cả chúng tôi đều lặng người.
Ông kể về cuộc sống cô đơn ở quê nhà.
Về những hiểu lầm trong gia đình.
Về đồng tiền từ nước ngoài gửi về đã vô tình trở thành nguyên nhân khiến anh em nghi kỵ, xung đột.
Ông chọn rời khỏi mái nhà.
Khoác áo lam.
Mang theo bình bát.
Đi khất thực.
Không phải để xin cơm.
Mà để xin cho lòng mình được bình yên.
Có lẽ chuyến tàu hôm ấy là một cuộc hành hương cuối cùng.
Không ai ngờ nó cũng là chuyến đi cuối cùng của cuộc đời ông.
Chúng tôi phối hợp với ngành đường sắt, công an và các cơ quan chức năng để tìm thân nhân.
Những lá thư được gửi đi.
Những thông báo được phát ra.
Ngày này qua ngày khác.
Ba ngày.
Một tuần.
Một tháng.
Ba tháng.
Rồi sáu tháng.
Không một ai đến nhận.
Theo quy định, bệnh viện tổ chức mai táng cho người vô thừa nhận.
Toàn bộ chi phí do bệnh viện đảm nhận.
Tài sản của ông được lập biên bản ba bên gồm Khoa Cấp cứu, Phòng Kế hoạch Tổng hợp và Phòng Tài chính trước khi niêm phong bảo quản.

Ngôi mộ ban đầu chỉ là một nấm đất đơn sơ với tấm bia nhỏ.
Nhưng trong lòng tôi vẫn day dứt.
Một con người, dù cô đơn đến đâu, cũng xứng đáng có một nơi yên nghỉ tử tế.
Sau khi báo cáo lãnh đạo bệnh viện và bàn bạc với Phòng Tài chính, chúng tôi thành lập hội đồng xử lý tài sản.
Chiếc nhẫn vàng được bán công khai theo đúng quy định.
Toàn bộ số tiền dùng để xây lăng mộ cho chính chủ nhân của nó.
Không một đồng nào được sử dụng vào việc khác.
Anh em Nhà Đại thể còn tự nguyện chăm lo hương khói cho ngôi mộ mỗi dịp lễ, Tết và Rằm tháng Bảy cùng với những ngôi mộ vô thừa nhận khác.
Không ai bảo ai.
Đó đơn giản là nghĩa tình của những con người vẫn ngày ngày làm việc giữa ranh giới của sự sống và cái chết.

Hơn một năm sau…
Một ngày, bệnh viện nhận được tin từ Hoa Kỳ.
Gia đình người quá cố đã tìm được địa chỉ.
Ít lâu sau, người con trai và người con gái của ông trở về Nha Trang.
Họ mang theo nhiều day dứt.
Nhiều nước mắt.
Và cả sự biết ơn.
Sau khi được đưa đến nghĩa trang Phật giáo ở Phước Đồng, đứng trước ngôi mộ của cha, họ lặng người rất lâu.
Người con trai nói với chúng tôi một câu mà đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ:
“Có lẽ cha tôi có duyên với Nha Trang. Ông muốn nằm lại nơi này.”
Họ không xin cải táng.
Không đưa cha về Bà Rịa - Vũng Tàu.
Họ nói ở quê nhà không còn người ruột thịt thật sự gần gũi để chăm nom.
Các con đều sống ở nước ngoài.
Cha họ lúc sinh thời cũng không muốn làm phiền con cháu.
Gia đình chỉ có một nguyện vọng:
Xin bệnh viện tiếp tục cho phép chăm sóc phần mộ.
Hằng năm, họ sẽ liên lạc, gửi kinh phí nhờ anh em Nhà Đại thể thắp giúp nén hương cho người cha đã khuất.
Cho đến hôm nay, ngôi mộ ấy vẫn còn nằm yên bình tại nghĩa trang Phật giáo Phước Đồng, như một chứng nhân lặng lẽ của lòng nhân ái.
Nhiều người hỏi tôi:
“Nếu ngày ấy anh không mở lá thư thì sao?”
Tôi cười và nghĩ.
Có lẽ sẽ chẳng ai biết ông là ai.
Không ai biết ông từng có những người con ở phương xa luôn mong ngày đoàn tụ.
Không ai biết phía sau một người hành khất lại là một người cha mang đầy yêu thương và đau đáu.
Đôi khi, một quyết định nghề nghiệp phải đặt trên nền tảng của pháp luật, nhưng cũng cần được soi sáng bằng lương tri, trách nhiệm và lòng nhân ái.
Làm đúng quy định là điều bắt buộc.
Làm bằng cả trái tim mới là điều làm nên giá trị của nghề y.

Bài học còn mãi
Câu chuyện này để lại nhiều suy ngẫm.

Đối với mỗi gia đình, người cao tuổi không nên một mình thực hiện những chuyến đi dài khi sức khỏe không bảo đảm. Một cuộc hành hương có thể là mong ước đẹp, nhưng cần có người thân đồng hành để bảo đảm an toàn.

Đối với xã hội, mỗi người đều cần quan tâm hơn đến cha mẹ, ông bà khi họ bước vào tuổi già. Điều người lớn tuổi cần nhất nhiều khi không phải tiền bạc, mà là sự lắng nghe, sẻ chia và tình thân.

Đối với người làm trong ngành y, mỗi bệnh nhân đều có một cuộc đời, một gia đình và một câu chuyện phía sau. Ngay cả khi họ đã qua đời, họ vẫn xứng đáng được đối xử bằng sự tôn trọng cao nhất.

Đối với người làm công tác quản lý, sẽ có những lúc phải đưa ra những quyết định rất khó. Khi quyết định ấy được đặt trên nền tảng của pháp luật, của trách nhiệm và của lòng nhân ái thì kết quả cuối cùng thường sẽ mang lại điều tốt đẹp cho nhiều người.

Lời kết
Sau nhiều năm làm nghề, tôi nhận ra rằng người thầy thuốc không chỉ chữa lành bằng thuốc men.
Có khi chúng ta chữa lành bằng một quyết định đúng lúc.
Có khi bằng một lá thư không nỡ bỏ qua.
Có khi bằng một nén nhang dành cho người không còn người thân.
Và có khi chỉ bằng một chữ Tâm.
Bởi suy cho cùng, cái Nhân làm nên cái Đức; cái Đức nuôi dưỡng cái Tâm; và chính cái Tâm sẽ dẫn đường cho mọi quyết định đúng đắn.
Khi người cán bộ, người thầy thuốc hay bất kỳ ai làm việc bằng Nhân - Đức - Tâm, thì điều còn lại sau tất cả không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ, mà còn là gieo thêm hạnh phúc cho con người, cho gia đình và cho xã hội.
Đó cũng chính là giá trị đẹp nhất mà nghề y để lại

BS NGUYỄN VĂN XÁNG
Nguyên GĐ BVĐK tỉnh Khánh Hòa

Ủng hộ truyền thống, chỉ trích chủ nghĩa xã hội: 10 dấu mốc đáng nhớ của Charlie Kirk

Lý Ngôn•Thứ Sáu, 11/09/2026

Thứ Năm (10/9) đánh dấu một năm ngày Charlie Kirk, nhà sáng lập Turning Point USA (TPUSA), bị ám sát khi tham gia một hoạt động trong khuôn viên Đại học Utah Valley.

Charlie Kirk, người sáng lập kiêm giám đốc điều hành của Turning Point USA, phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo Học sinh Trung học được tổ chức tại Đại học George Washington vào ngày 26/7/2018. (Ảnh: Samira Bouaou / The Epoch Times)

Là một trong những thủ lĩnh thanh niên bảo thủ gây tranh cãi và có ảnh hưởng nhất nước Mỹ đương đại, Kirk kết hợp tranh luận trong khuôn viên đại học, video ngắn trên mạng xã hội và các đại hội đảng để xây dựng mạng lưới thanh niên bảo thủ lớn nhất nước Mỹ. Ông đã thành lập hơn 3.500 chi nhánh tại các trường đại học trên toàn quốc, đồng thời thông qua mạng lưới truyền thông cá nhân đạt hàng tỷ lượt xem để đưa các tư tưởng bảo thủ trở thành nội dung phổ biến trên mạng, qua đó thúc đẩy đáng kể cử tri trẻ từ 18 đến 29 tuổi, đặc biệt là nam giới trẻ, nghiêng về Đảng Cộng hòa.

Từ những cuộc đối đầu trực diện trong khuôn viên đại học đến những tràng pháo tay tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa (RNC), Fox News tổng hợp 10 màn đối đầu đáng nhớ trong cuộc đời Kirk, qua đó khắc họa quãng đời tuy ngắn ngủi nhưng gây chấn động của ông trong việc thúc đẩy các giá trị truyền thống, bảo vệ thị trường tự do và chỉ trích các tư tưởng cánh tả:

1. Đối mặt với người theo chủ nghĩa xã hội

Tại Politicon năm 2018, Kirk tranh luận với Hasan Piker, cựu người dẫn chương trình của truyền thông cánh tả The Young Turks và một streamer nổi tiếng trên Twitch. Kirk chỉ trích Piker thúc đẩy các chính sách xã hội chủ nghĩa nhưng không muốn đưa tài sản cá nhân vào sở hữu chung.

“Tôi thực hành đúng những gì mình chủ trương. Tôi là người theo chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, tôi thuê nhân viên, tôi chấp nhận rủi ro và tôi có doanh nghiệp khởi nghiệp của riêng mình. Mỗi ngày, tôi đều thực hành những điều mình rao giảng. Còn anh ta lại muốn người khác đóng góp cho những điều mà anh ta cho là ý tưởng hay. Anh có quyền tự do sống theo lối sống xã hội chủ nghĩa. Cứ làm đi, Hasan. Có gì đang ngăn cản anh?”

2. Bám trụ mặt trận đại học

Trong một cuộc tranh luận tại trường đại học năm 2024, một sinh viên tiến đến hỏi Kirk rằng ở độ tuổi ngoài 30 mà tranh luận với sinh viên đại học có khiến ông cảm thấy “ngớ ngẩn” hay không. Kirk thẳng thắn nói rằng khuôn viên đại học là tiền tuyến để bảo vệ nền văn minh phương Tây.

“Tôi sẽ bỏ phiếu, anh cũng sẽ bỏ phiếu. Vì vậy, tôi đang nói chuyện với những cử tri sẽ quyết định tương lai của nền văn minh phương Tây tại đất nước này. Đó cũng là điều tôi đang làm ở đây.”

3. “Mở mic” đón nhận chất vấn

Cũng trong một cuộc tranh luận tại trường đại học năm 2024, một sinh viên cáo buộc Kirk là “phát xít”. Kirk yêu cầu sinh viên này nêu một niềm tin của ông phù hợp với tiêu chuẩn của chủ nghĩa phát xít, khiến người này nhất thời không biết trả lời thế nào. Sau đó, Kirk dùng sự hài hước để hóa giải cáo buộc.

“Tôi đúng là một tên phát xít tồi tệ, đến mức tôi còn cho những người phản đối mình sử dụng mic mở, để họ thoải mái nói chuyện với tôi suốt 2 giờ. Tôi đúng là một tên phát xít tồi tệ hết sức.”

4. Bảo vệ tinh thần hiệp sĩ truyền thống

Năm 2025, khi xuất hiện trên podcast nổi tiếng The Iced Coffee Hour, Kirk nói rằng “trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đàn ông cũng không nên để phụ nữ trả tiền cho buổi hẹn hò”, phản đối việc làm mờ nhạt quan niệm truyền thống về vai trò của nam và nữ.

“Đó chính là nữ quyền. Nữ quyền là việc bạn phải trở nên độc lập theo cách này. Đây không phải là một hành động tử tế, mà là bạn đang cố theo đuổi chủ nghĩa bình đẳng. Không, với tư cách một người phụ nữ, bạn nên mong muốn được (chồng) chu cấp. Thực tế, bạn nên có một kỳ vọng rằng với tư cách một người phụ nữ, bạn quan trọng, then chốt, không thể thiếu và xinh đẹp đến mức đây vốn không nên là một vấn đề.”

5. Đối thoại với người vô thần

Vài tháng trước khi bị ám sát năm 2025, Kirk tham gia podcast Club Random của người dẫn chương trình nổi tiếng Bill Maher. Khi Maher, một người vô thần, nói rằng “không ai biết Chúa có tồn tại hay không”, Kirk dẫn dắt đối phương suy nghĩ về ý nghĩa thực sự của đức tin.

Kirk hỏi ông: “Anh có mong mình sai không? Đây mới là câu hỏi quan trọng nhất. Anh có ước gì có thiên đường không?” Kết quả, Maher trả lời: “Tôi hy vọng họ có thể tìm ra cách khiến tôi bất tử…”

6. Phân tích các vấn đề của cánh tả

Trong chương trình nổi tiếng Surrounded của nền tảng truyền thông dành cho giới trẻ Jubilee năm 2024, Kirk một mình đối đầu với 25 sinh viên có tư tưởng tự do. Trước những chất vấn về các biến chứng sức khỏe trong thai kỳ, Kirk đưa ra quan điểm rằng sinh mổ tốt hơn phá thai, trực tiếp nhắm vào điểm mà ông cho là đối phương thiếu kiến thức.

“Sinh mổ (Cesarean section)… tức là C-section. Họ sẽ rạch một đường phía dưới rốn, sau đó đưa em bé ra ngoài để người mẹ không phải sinh thường. Về mặt kỹ thuật, đây cũng là sinh con, nhưng an toàn hơn nhiều. Vì vậy, trên thực tế, nó an toàn hơn phẫu thuật phá thai.”

7. Tranh luận tại trường đại học quốc tế

Tháng 8/2025, trước bài phát biểu tại Đại học Oxford ở Anh, Kirk mạnh mẽ bác bỏ cáo buộc của một sinh viên Oxford rằng Tổng thống Donald Trump trục xuất công dân Mỹ.

“Nếu anh có thể nói cho tôi biết công dân Mỹ nào bị trục xuất dưới thời Donald Trump, tôi sẽ đưa anh 1.000 bảng Anh ngay bây giờ. Anh đã nói 2 lần. Công dân Mỹ bị trục xuất dưới thời Donald Trump. Có ai có thể nói cho tôi biết không, 1.000 bảng Anh? Tôi sẽ đưa ngay… Đó là một lời nói dối. Anh đáng lẽ phải hiểu rõ hơn, anh học tại Đại học Oxford mà.”

8. Công kích toàn diện chính sách DEI

Tại một hội nghị của Turning Point USA năm 2025, Kirk chỉ trích gay gắt các chính sách “đa dạng, công bằng và hòa nhập” (DEI), đồng thời nhắc lại giá trị cốt lõi của phe bảo thủ là coi trọng “phẩm chất và năng lực” thay vì màu da.

“Điều mà những người bảo thủ chúng tôi tin là màu da thực sự không quan trọng đến thế. Điều chúng tôi quan tâm là phẩm chất và năng lực. Chúng tôi muốn đất nước này được xây dựng dựa trên năng lực mà bạn có thể thể hiện, chứ không phải diện mạo của bạn. Nếu bạn thực hiện thêm một hành vi phân biệt chủng tộc trên nền tảng của một hành vi phân biệt chủng tộc, điều đó không khiến hành vi phân biệt chủng tộc thứ hai trở thành điều tốt đẹp.”

9. Kiên định lập trường về quyền sống

Trong một hoạt động khác tại trường đại học năm 2025, Kirk tranh luận gay gắt với sinh viên về vấn đề phá thai. Ông dẫn số liệu cho rằng kể từ khi vụ ‘Roe v. Wade’ năm 1973 hợp pháp hóa phá thai, khoảng 45 triệu thai nhi đã bị chấm dứt thai kỳ trên toàn nước Mỹ, gọi quy mô này là một thảm họa lịch sử, đồng thời lập luận để buộc đối phương thừa nhận thai nhi có quyền con người.

Kirk: “Đó là 45 triệu em bé. Con số này gần gấp 8 lần số người thiệt mạng trong Holocaust. Về mặt đạo đức, sự khác biệt giữa một em bé trong bụng mẹ và những người Do Thái trưởng thành bị sát hại tại Auschwitz là gì? Một bên lớn tuổi hơn sao?”

Sinh viên: “Một bên là con người”.

Kirk: “Em bé trong bụng mẹ thuộc loài nào?”

Sinh viên: “Con người”.

Kirk: “Vì vậy, chúng phải được hưởng quyền con người”.

10. Xuất hiện tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa

Tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa (RNC) năm 2024, Kirk phát biểu ủng hộ ông Trump trở lại Nhà Trắng. Ông đặc biệt kêu gọi thế hệ Z đang theo dõi chương trình trực tiếp, nhấn mạnh rằng vận mệnh nằm trong tay chính họ.

“Bạn không cần tiếp tục nghèo khó. Bạn không cần chấp nhận một cuộc sống tệ hơn cha mẹ mình. Bạn không cần cảm thấy lạc lõng và bất hạnh. Bạn không cần ủng hộ những nhà lãnh đạo nói dối và lợi dụng bạn để giành phiếu bầu. Tương lai nước Mỹ là kết quả của một chuỗi lựa chọn. Sự suy thoái đất nước diễn ra chậm chạp mà chúng ta đang chứng kiến cũng là một lựa chọn. Tháng 11 năm nay, chúng ta sẽ lựa chọn thành công.”

Ảnh hưởng tiếp tục được duy trì

Những tư tưởng Kirk theo đuổi không chỉ dừng lại ở các bài phát biểu cá nhân mà còn được chuyển hóa thành hoạt động vận động chính trị quy mô lớn. Tổ chức Turning Point USA (TPUSA) do ông sáng lập đã xây dựng hơn 3.500 chi nhánh trên toàn nước Mỹ. Tổ chức vận động trực thuộc là Turning Point Action còn đầu tư hàng trăm triệu USD tại các bang chiến địa để đăng ký cử tri và vận động giới trẻ đi bỏ phiếu, qua đó bổ sung đáng kể cho hoạt động vận động cơ sở của phe cánh hữu trong giới trẻ.

Trong cuộc bầu cử Mỹ năm 2024, tỷ lệ ủng hộ Đảng Cộng hòa trong nhóm cử tri trẻ từ 18 đến 29 tuổi, đặc biệt là nam giới trẻ, tăng đáng kể, thu hẹp khoảng cách truyền thống với Đảng Dân chủ. Các chiến lược tranh luận trong khuôn viên đại học và đăng ký cử tri của Kirk được xem là một trong những lực lượng quan trọng thúc đẩy sự thay đổi này.

Trong một năm kể từ khi Kirk bị ám sát, Turning Point USA không rơi vào đình trệ vì mất người sáng lập mà nhanh chóng được đội ngũ lãnh đạo kế nhiệm và nhóm nòng cốt tiếp quản. Tổ chức đã biến Kirk thành một biểu tượng tinh thần của phong trào thanh niên bảo thủ. Theo dữ liệu chính thức và hồ sơ tài chính của tổ chức, ảnh hưởng của tổ chức không những không suy giảm mà còn tăng lên — tổng số chi nhánh tại các trường học trên toàn nước Mỹ đã vượt 5.000, gồm 3.500 chi nhánh tại các trường trung học và 1.500 chi nhánh tại các trường đại học; số tiền gây quỹ hằng năm cũng đạt mức cao kỷ lục, hơn 150 triệu USD, với hơn 1 triệu nhà tài trợ cá nhân. Hệ thống truyền thông chính thức của tổ chức đã đạt tổng cộng hàng tỷ lượt xem.

Turning Point USA vẫn là một trong những bộ máy chính trị thanh niên năng động nhất trong phe bảo thủ Mỹ. Chuỗi hoạt động lưu động tại các trường đại học mang tên “Tưởng niệm Kirk” thu hút hàng ngàn sinh viên xếp hàng tham dự mỗi sự kiện.

Theo Lý Ngôn/ Epoch Times

nguồn trithucvn2.net.

Blog Archive