Sunday, August 16, 2026

NGƯỜI DƯNG NGOÀI PHỐ

"Mỗi nhân duyên gặp gỡ ai đó đều chứa những bài học mà con người cần phải học"- Nguyên Phong (Muôn kiếp nhân sinh)

Ông Tư năm nay đã gần 60, quê tận Rạch Giá, Kiên Giang. Hồi tháng ba, đất ruộng nhà ông bán cho người ta làm khu dân cư, ông theo thằng cháu lên Sài Gòn, lấy chiếc Wave cũ đăng ký chạy xe ôm công nghệ.

Nhà trọ của hai vợ chồng ông ở tuốt trong con hẻm đường Đỗ Xuân Hợp, quận 9 cũ. Một phòng trọ mười sáu mét vuông, kê vừa cái giường, cái bếp ga đơn và cái bàn nhựa thấp làm bàn ăn. Bà Tư cũng lên theo ông, ban ngày đi phụ quán cơm chay.

Tối nào cũng vậy, chừng tám giờ rưỡi, ông Tư chạy về, dựng xe, cởi cái áo khoác nắng đã bạc màu. Bà Tư đã dọn sẵn mâm cơm: đĩa cá sặc chiên, tô canh chua me, chén nước mắm dầm ớt. Mâm cơm tối là lúc ông Tư trút hết những tâm sự ông đã chở theo cả ngày, không phải là cuốc xe, mà là những người lên xe ông, những người qua đường ông gặp.

Hôm nay, bà Tư xới cơm, hỏi:
- Nay sao về trễ vậy ông?

Ông Tư lùa miếng cơm, thở ra một hơi dài.
- Nay gặp nhiều chuyện quá bà ơi.

Rồi ông kể bà nghe, giọng chậm rề rề của dân miền Tây.
- Sáng sớm, tui chở một con bé chừng hai mấy tuổi ở quận 1. Nó đứng ngay dưới cây cột đèn đường Lê Lợi, mưa mới tạnh, nó đang khóc. Khóc mà không ra tiếng. Tui hỏi “con đi xe ha?”, nó giật mình, leo lên xe. Đi một đoạn tới công viên, nó nói “chú cho con xuống đây được rồi”. Tui thấy nó ôm cái ba lô, chắc mới cãi nhau với bồ, hay mới mất cái gì lớn lắm. Tui không dám hỏi. Chỉ nói “khóc cho đã đi con, rồi về nhà nghen”. Nó gật đầu. Tui chạy xe đi, nhìn kiếng chiếu hậu thấy nó vẫn đứng đó, nhỏ xíu ...

Bà Tư im lặng, gắp cho ông miếng cá.
• Tội nghiệp con nhỏ. Ở cái xứ này, người ta khóc cũng phải tìm chỗ khuất chớ...

- Rồi trưa nay, ngay ngã tư Thủ Đức, đèn đỏ. Thằng nhỏ chừng năm tuổi à, đội cái nón lá rách bươm chạy tới chạy lui chìa vô từng cửa kính ô tô. Xe tui dừng, nó cũng chìa nón vô tui. Tui biểu “hết tiền lẻ rồi con”. Nó cười, nhe hai cái răng sún. Đèn xanh, nó chạy vô lề không kịp, vấp té ngay giữa đường. Tui hết hồn, thắng gấp đỡ nó dậy. Nó sợ quá, ôm khư khư cái nón không dám khóc. Tui móc cho nó chục ngàn. Nó líu ríu “con cảm ơn.”. Bà biết không, tay nó gầy tong, đen thui mà nóng hổi.

Bà Tư thở dài:
- Bằng tuổi thằng Tí nhà mình hồi đó. Chắc má nó đau, hay ba nó bỏ nó, mới đẩy nó ra đường như vậy. Ông cho vậy là phải. Cũng giúp nó được bữa cơm. Chỉ sợ có ai đó bắt ép nó đi xin thì ác quá...

Ông Tư gật đầu, uống hớp trà đá, ăn thêm miếng nữa rồi kể tiếp.
- Chiều, tui đón thằng nhỏ ở bến xe Miền Tây. Nó đen nhẻm, vai mang cái ba lô bạc màu, tay cầm tờ giấy gì ép plastic cẩn thận. Nó leo lên xe khoe liền: “Chú ơi, con đậu đại học rồi! Đại học Sư Phạm!”. Tui chúc mừng nó. Nó nói nó bắt xe đò lên xin tiền mẹ đang giúp việc nhà ở Bình Tân để đóng tiền nhập học. Nó vui lắm. Nó nói suốt dọc đường. Tui chở nó mà cũng vui lây, y như thằng Tí nhà mình thi đậu hồi đó vậy bà...

Bà Tư cười, mắt rưng rưng:
- Vậy là nhà nó có phước rồi ông. Ông có biểu nó ráng học không?

- Có chớ. Tui nói “ráng học nghen con, mai mốt làm thầy giáo ngon lắm đó”. Nó dạ lia.

Rồi ông Tư trầm giọng lại.
- Tui chở một bà, chắc cũng lớn tuổi hơn bà, cỡ sáu mấy... Bả ôm khư khư cái túi xách với cái bô nhựa màu đỏ. Bả nói bả phải vô bệnh viện Chợ Rẫy nuôi thằng con bị tai nạn giao thông hồi sáng. Xe tải quẹt, nghe đâu nứt sọ. Bả run lắm. Bà hỏi tui “chú ơi, vô trỏng người ta có cho mượn chiếu nằm không?”. Tui nói chắc có. Bà cứ ôm cái bô, chắc sợ vô không có. Tui chạy mà cứ sợ bả té, tui chạy thiệt chậm. Tới cổng bệnh viện, bả móc tiền trả. Tui không lấy. Tui nói “tui biếu bà tiền xe, bà vô lo cho cháu nó đi”. Bả nắm tay tui lắc lắc cảm ơn, tay lạnh ngắt, rồi bả khóc. Thấy sao nhiều người khổ thiệt hen bà.

Bà Tư đặt chén cơm xuống. Bà cũng đưa tay quệt mắt.
- Ông làm vậy đúng rồi. Mai mốt lỡ nhà mình có chuyện gì ngoài đường, cũng mong có người ta thương lại như vậy. Nhơn quả hén ông.

Mâm cơm nguội đi một chút.
Ông Tư ngập ngừng, rồi kể nốt mẩu chuyện cuối cùng.
- Cuốc cuối cùng mới hồi nãy, chở con bé kia nó xức dầu thơm nức mũi, mặc váy ngắn cũn cỡn. Nó đứng trước đường Bùi Viện, kêu tui đưa tới nhà nghỉ bên quận 3. Nó đi vội lắm. Tui chở nó đi mà tui xót. Tui nhìn kiếng chiếu hậu thấy mặt nó non choẹt, chắc cỡ con út bà Sáu dưới quê mình. Mà mắt nó tô đậm đen nhưng buồn hiu. Tới nơi, nó trả tiền rồi chạy ào vô. Tui đứng lại một chút mới đi.

Bà Tư im bặt một lúc. Rồi bà chậm rãi nói, giọng bà hiền khô:
- Ông à, mỗi người một cái khổ hén ông. Mình đừng có nhìn người ta bằng nửa con mắt là được rồi. Con nhỏ hồi sáng khóc ngoài cột đèn, nó khổ trong lòng. Thằng nhỏ xin ăn ngã tư, nó khổ cái thân. Thằng nhỏ đậu đại học, nó cũng khổ mà kết cục nó vui vì nó thấy được đường ra. Bà già ôm cái bô vô Chợ Rẫy, bả khổ vì lo lắng cho con, biết có di chứng gì hông? Còn con nhỏ váy ngắn đó... chắc nó cũng tới đường cùng mới phải bán thân như vậy... Cầu cho nó bình an thôi. Biết sao giờ ha ông?

Ông Tư gật gù. Ông thấy lòng mình nhẹ tênh. Cả ngày chạy ngoài đường, khói bụi, kẹt xe, có khi kèm lời mắng chửi, nhưng về tới cái bàn nhựa thấp này, nghe vợ nói nhẹ nhàng mấy câu, tự nhiên ông thấy Sài Gòn không còn hung dữ nữa.

Ông và bà, hai người già quê mùa, không có nhiều tiền để cho ai, cũng không có quyền thế để giúp ai. Cái họ có chỉ là một chút thương người còn sót lại sau một ngày dài mệt nhoài, đem về bỏ vào mâm cơm nóng, để cùng nhau nghĩ tới những người chưa hề quen biết .

Bà Tư đứng dậy, bới thêm cho ông chén cơm đầy.
- Ăn nữa đi ông. Mai ông chạy, gặp đứa nào tội thì cứ cho tụi nó năm mười ngàn, cũng được chén cơm. Mình ăn ít lại một chút cũng không sao. Ở hiền đi rồi trời thương. Ông Tư và miếng cơm, thấy ngọt gì đâu.

Ngoài hẻm, tiếng xe cộ vẫn ầm ầm. Trong căn phòng trọ nhỏ, bóng hai cái lưng còng in lên tường, ngồi sát bên nhau, vừa ăn vừa lo lắng cho những người dưng mà họ chỉ gặp một lần ngoài phố.

Thi Anh




Vài năm trở về trước, Trung Quốc từng xảy ra một vụ việc mà cho tới ngày nay vẫn được lấy ra làm ví dụ kinh điển của ngành giáo dục. Vụ việc ấy được biết tới với một cái tên: "Bố tao là Lý Cương".

Tối 16 tháng 10 năm 2010, Lý Khải Minh lái xe tông phải hai nữ sinh trong khuôn viên trường Đại học Hà Bắc, thành phố Bảo Định. Trần Hiểu Phụng, hai mươi tuổi, chết tại bệnh viện. Trương Kinh Kinh, mười chín tuổi, gãy chân trái.

Hắn không dừng lại. Hắn lái tiếp, chở bạn gái về ký túc xá. Bảo vệ nhà trường giữ hắn lại. Và hắn nói ra cái câu mà cả Trung Quốc sẽ nhớ suốt mười sáu năm sau:

"Có bản lĩnh thì cứ đi mà kiện. Bố tao là Lý Cương."

Lý Cương khi ấy là Giám đốc Công an thành phố Bảo Định.
Rồi chuyện gì xảy ra?
Người ta làm thơ.
Bốn ngày sau vụ tai nạn, một blogger mở cuộc thi thơ trên mạng.
Đề bài chỉ có một câu: "Bố tao là Lý Cương". Hơn sáu nghìn bài gửi về. Người ta ghép câu ấy vào thơ Đường. Người ta đưa nó vào bài hát. Nó thành câu cửa miệng của cả một đất nước một tỉ ba trăm triệu dân.
Không ai đập phá gì. Không ai xuống đường. Không một viên đạn nào.
Người ta chỉ làm thơ.
Và các bạn có biết chuyện gì đến sau đó không?

Ngày 22 tháng 10, hai cha con họ Lý phải lên đài truyền hình trung ương xin lỗi. Ông bố cam kết không bao che cho con. Dân không tin, bảo hai cha con đóng kịch. Nhưng ít nhất đã có người phải đứng ra nói.
Rồi vẫn có chỉ thị tuyên truyền yêu cầu đừng làm nghiêm trọng vụ việc. Vẫn có luật sư của gia đình nạn nhân bị ép rút. Vẫn có lệnh dừng thảo luận trên internet.

Vậy mà tháng 1 năm 2011, toà vẫn tuyên Lý Khải Minh sáu năm tù.
Ba tháng. Từ tai nạn đến bản án.
Còn cái kết mà tôi thích nhất thì không nằm trong bản án. Mười sáu năm sau, báo chí Việt Nam đưa tin: Lý Khải Minh không xin được việc ở đâu, vì không công ty nào muốn chuốc rắc rối. Nghe nói hắn đang kiếm sống bằng nghề sơn tường.
Sáu nghìn bài thơ. Cái bản án của dân nặng hơn cái bản án của toà, và nó dài hơn sáu năm.

Bây giờ thì tôi xin nói chuyện của chúng ta.
Ở Hà Nội, chiều 30 tháng 5 năm 2025, một chiếc xe lao sang làn ngược chiều, đâm vào một chiếc xe máy chở hai bố con. Cháu gái đứt lìa chân phải, nằm khóc trên đường. Hơn một tuần sau thì cháu mất. Cháu tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà người ta gọi cháu là Mina. Cháu mười tám tuổi, mất trước kỳ thi tốt nghiệp mấy ngày.

Mười bốn tháng rồi. Không một quyết định. Không một văn bản. Không một chữ. Không ai nói câu nào cả. Không ai cần nói.
Đấy mới là chỗ khác nhau giữa hai câu chuyện. Bên kia còn có một câu để mà làm thơ. Bên này chỉ có sự im lặng.
Nhưng im lặng cũng làm thơ được. Thậm chí còn dễ hơn.
Vậy nên tôi xin mở một cuộc thi.
Không giải thưởng. Không ban giám khảo. Không thể lệ. Ai muốn viết thì viết, viết xong thì đăng, đăng xong thì để đấy.
Tôi đề nghị mấy cái tên, các bạn chọn cái nào cũng được, hoặc tự nghĩ ra cái hay hơn:
"Mười bốn tháng"
"Gốc cây số 55"
"Vụ án không có ai"
"Thưa quý toà, cháu tên là Mina"
"Bó hoa trong thùng rác"
Các bạn thích thể loại gì cũng được. Lục bát. Đường luật. Thơ tự do. Rap cũng được — mà nói đến rap thì tôi nhớ ra, chính một album rap bị gỡ mới là thứ châm ngòi cho tất cả chuyện này.
Chỉ xin một điều thôi.
Đừng bịa. Một chữ cũng đừng bịa.
Các bạn không cần bịa. Sự thật ở đây đã quá đủ rồi. Một đứa trẻ mười tám tuổi. Mười bốn tháng. Không một văn bản nào.
Ba câu ấy đã là bài thơ nặng nhất rồi. Thêm vào là làm nó nhẹ đi.
Người ta gọi các bạn là tiếng ồn. Người ta gọi các bạn là ong ve.
Được thôi. Thơ cũng là một thứ tiếng ồn.
Nhưng nó là thứ tiếng ồn mà mười sáu năm sau người ta vẫn còn nhớ, trong khi cái tên của người ra lệnh chặn bài thì chẳng ai nhớ nổi.

( Chau Doan -ĐBC)

Saturday, August 15, 2026

GẠC MA: 38 NĂM NHÌN LẠI

16/8/2026
---

Ngày 14/3/1988, hải quân Trung Quốc (PLA Navy) bất ngờ áp sát bãi đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa. Bãi đá Gạc Ma có tên tiếng Anh là Johnson South Reef. 

Trước năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Khi đó VNCH kiểm soát đa số các thực thể hải dương (maritime features) ở quần đảo Trường Sa, trừ đảo Ba Bình, tên tiếng Anh là Itu Aba, còn gọi là Taiping Island (đảo Thái Bình), do Đài Loan chiếm giữ và vài thực thể gần Philippines do Philippines nắm giữ. 

Nói cách khác, bãi đá Gạc Ma trực thuộc VNCH. Việt Nam thống nhất thừa kế quần đảo Trường Sa từ VNCH theo luật quốc tế theo kiểu luật tự nhiên (Natural Law) sau khi chính quyền mới thay thế chính quyền cũ. Nói vậy để thấy Trung Quốc không hề có chính danh về chủ quyền của bất cứ thực thể hải dương nào ở quần đảo Trường Sa.

Khi đó báo chí quốc doanh tuyệt đối không đăng một mẩu tin nào. Báo Asia News Monitor của Thái Lan tường thuật rằng xung đột quân sự đã xảy ra. Các sĩ quan và lính hải quân của Việt Nam, đa số không cầm súng, đã đứng thành 1 vòng tròn để bảo vệ lá cờ tổ quốc treo trên bãi đá và cũng để khẳng định chủ quyền quốc gia. Hải quân Trung Quốc không phá vỡ vòng tròn này mà dùng súng ống trên khinh hạm (frigate) của họ để nã vào những kẻ bảo vệ bãi đá khiến 64 quân nhân Việt Nam bỏ mạng. Trung Quốc sau này còn công bố video quảng bá đó là một chiến công của hải quân Trung Quốc (coi phần bình luận).

Đó chính là ‘Vòng Tròn Bất Tử’ mà một viên tướng hồi hưu của Việt Nam gọi tên trong cuốn sách của mình. Khi đó tuyệt nhiên người dân Việt Nam không hề biết, ngoài tin đồn vỉa hè. Lý do chính là do bộ trưởng quốc phòng lúc đó là Lê Đức Anh ra lệnh bộ đội Trường Sa không được nổ súng. Quân lệnh như sơn, những người lính công binh và lính gác trên bãi Gạc Ma đành phải dùng biện pháp hòa bình là cùng nhau tạo thành vòng tròn bao quanh cột cờ quốc gia với hi vọng quân Tàu không tiến lên bãi đá mà giựt lấy lá cờ của Việt Nam đi để thay bằng lá cờ của Trung Quốc.

Sau này Lê Đức Anh lên chức Chủ Tịch Nước trong khi vẫn giữ quyền lực ở bộ quốc phòng nên việc để mất Gạc Ma vào tay Trung Quốc càng bị bưng bít, vì không ai dám đụng tới vị chủ tịch nước được coi là quyền lực nhất trong lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam.

Lịch sử thế giới gọi tên sự kiện này là Johnson South Reef Skirmish. Skirmish là đụng độ quy mô nhỏ, không phải là chiến tranh trên biển, hay hải chiến. Hải chiến gọi là naval war. Gọi là xung đột vì phía Việt Nam không hề nghênh chiến hay chiến đấu ăn miếng trả miếng.

Xét về địa chính trị năm 1988 thì đây là thời điểm Trung Quốc đang tìm mọi cách ‘thua me gỡ bài cào’ sau khi Đặng Tiểu Bình thất bại trong việc ‘dạy cho Việt Nam một bài học’ theo đúng ngôn từ họ Đặng tuyên bố với thế giới. Kẻ đi xâm lược, chiếm được các tỉnh phía Bắc của Việt Nam nhưng không chiếm được Hà Nội, cũng không nhận được sự đầu hàng hay nhượng bộ của kẻ bị chiếm đóng, thì theo chuẩn mực quốc tế, kẻ xâm lược là kẻ thua trận. Thua trên đất liền nên Tàu gỡ gạc trên biển. Đúng lúc Lê Đức Anh hèn nhát, vừa muốn tập trung phát triển kinh tế vì công cuộc ‘Đổi Mới’ do chính phủ Võ Văn Kiệt mới khởi xướng trước đó 2 năm (1986) đang có tác dụng vực dậy nền kinh tế của Việt Nam.

Chính sự mập mờ về chiến lược và sự bưng bít đối với sự cố để mất Gạc Ma vào tay Tàu Cộng này đã giúp Tàu Cộng tha hồ chiếm thêm nhiều bãi đá khác rồi xây căn cứ quân sự ngay tại Trường Sa. Và đó cũng là một trong những lý do Trung Quốc chịu bình thường hóa ngoại giao với Việt Nam năm 1991 sau 12 năm căng thẳng từ cuộc chiến biên giới năm 1979.

Bưng bít thông tin, che giấu nhân dân và bỏ qua nhiều biến cố lịch sử trong sách giáo khoa cũng như trong lịch sử chính thống của dân tộc khiến Hà Nội trở thành con tin của Bắc Kinh trong một thời gian dài. Bằng chứng là suốt nhiều năm, cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979 không được đưa vào sách giáo khoa lịch sử để dạy cho học trò.

Thiết nghĩ, với khẩu hiệu ‘kỷ nguyên vươn mình của dân tộc’, dân tộc Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải biết chính sử, phải biết sự thật về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải mà cha ông để lại.

Câu hỏi bonus: Việt Nam có vinh danh Lê Đức Anh bằng cách đặt tên hắn cho những con đường không ? Đừng để thế hệ Gen-Z biết, nếu không, coi chừng họ có hành động phản kháng theo lối riêng của họ.

Hoa OC

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ

Nguyễn Phúc Hậu rời Việt Nam năm 1981 khi mới mười bảy tuổi, trên một chiếc ghe chở hàng cùng 58 người khác để tìm đường đến tự do.

Cuộc hành trình tưởng chỉ kéo dài vài ngày đã trở thành ba mươi ngày lênh đênh trên Biển Đông. Giữa đói khát, bão tố, tuyệt vọng và những lần tưởng như không còn cơ hội sống sót, ông cùng những người trên ghe đã kiên trì tìm mọi cách để tiếp tục hành trình. Cuối cùng, 55 người được cứu và đưa đến Kota Kinabalu, Malaysia.

Sau những tháng ngày tại trại tị nạn Pulau Bidong, rồi Sungei Besi và Trung tâm Tiếp nhận Người Tị nạn Bataan ở Philippines, ông được định cư tại Hoa Kỳ và bắt đầu lại cuộc đời gần như từ con số không.

Tại Mỹ, Nguyễn Phúc Hậu vừa học tập, vừa thích nghi với một ngôn ngữ và xã hội hoàn toàn mới. Ông theo đuổi ngành kỹ thuật và dành hơn bốn thập niên làm việc trong ngành hàng không, trong đó phần lớn sự nghiệp gắn liền với Bell Helicopter. Từ một cậu bé tị nạn mười bảy tuổi không biết tương lai sẽ đưa mình về đâu, ông đã trở thành một kỹ sư và có cơ hội đóng góp vào những chương trình hàng không thế hệ mới.

Sau khi nghỉ hưu năm 2026, Nguyễn Phúc Hậu dành thời gian viết lại câu chuyện mà ông đã mang theo trong ký ức suốt hơn bốn mươi lăm năm.

PERSEVERE – 30 Ngày Trên Biển Đông không được viết để kể về một cá nhân phi thường. Đây là ký ức của một người bình thường đã sống qua một giai đoạn phi thường của lịch sử — và là lời tri ân dành cho những người đã cùng ông bước lên chiếc ghe năm ấy, những người đã đưa tay cứu giúp trên đường đi, những người ông gặp trong các trại tị nạn, và những người đã cho ông cơ hội bắt đầu lại cuộc đời trên một quê hương mới.

Ông viết cuốn hồi ký này với một mong ước giản dị: lưu lại câu chuyện cho gia đình, cho những người Việt Nam từng đi qua hành trình tị nạn, và đặc biệt cho các thế hệ con cháu sinh ra sau này — để các em hiểu rằng tự do mà mình đang có đã từng được đánh đổi bằng những cuộc chia ly, những hy sinh, và đôi khi bằng cả mạng sống của một thế hệ đi trước.

Với Nguyễn Phúc Hậu, PERSEVERE không chỉ là tên của một cuốn sách.

Đó là bài học ông đã mang theo từ tuổi mười bảy:
Khi vẫn còn hy vọng, đừng bao giờ bỏ cuộc.

Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả độc giả đã dành thời gian đồng hành cùng câu chuyện này, từ những trang đầu tiên cho đến dòng chữ cuối cùng. Sự đón nhận, những lời chia sẻ và những ký ức mà quý độc giả gửi lại chính là một phần ý nghĩa của hành trình PERSEVERE.

Cuốn sách khép lại ở đây, nhưng cuộc đời của cậu bé mười bảy tuổi năm ấy vẫn còn rất nhiều câu chuyện chưa được kể.

Từ những ngày đầu đặt chân lên nước Mỹ với hai bàn tay gần như trắng, những năm tháng học hành, lập nghiệp, xây dựng gia đình, cho đến hơn bốn mươi năm gắn bó với ngành hàng không — đó có lẽ là một hành trình khác.

Eric Nguyen

VÌ CHỈ “MƯỢN” ĐỠ …

… cái poncho lính của anh hai trong tủ thờ nên mẹ tôi vừa giận vừa khóc. Trong buổi ăn tối anh năm nghe được và la tôi. Tôi thật là “tủi thân” vì không ai hiểu là tôi chỉ “mượn” rồi mai mốt sẽ trả. Ngoài ra anh hai trên bàn thờ có “đồng ý” sau khi tôi khấn. May cho tôi là anh ba hôm đó về phép từ căn cứ hải quân và chỉ cười và nói với anh năm “Thôi la hắn chi, hắn còn nhỏ có biết chi mô! Để tau tính hắn”. Bình thường ba tôi thường binh tôi, nhưng kỳ này đụng đến đồ của anh hai, coi như đụng đến mẹ, nên ba tôi không dám binh.

Anh ba tôi là người không bao giờ la hay phạt tôi, mà ngược lại “hậu đãi” tôi với đủ thứ, đi chơi ở Crystal Palace, mua đồ chơi, truyện hình, … mà bây giờ đòi “tính sổ” với tôi! Tôi lúc đó cảm thấy “bất an”, không biết anh ba sẽ làm gì vì mẹ tôi thường than anh ba ngang tàng, không biết sợ nên … chẳng bao giờ lên lon. Ngày hôm sau tôi như trút được gánh nặng khi anh ba đi đâu về, nhìn tôi cười, nheo mắt đưa tôi một cái gói… có cái poncho trong đó, mà lại “to đùng”, to hơn cái của anh hai nhiều. Vừa mừng “hết lớn” vừa mở cái poncho ra tôi nghe anh ba hỏi có muốn đi hướng đạo không. Không chờ tôi trả lời anh cắt nghĩa cho tôi nghe và không cần chờ anh hết lời tôi gật đầu “lia lịa”.

Ngày hôm sau anh dẫn tôi lên vườn Tao Đàn, đến một nơi toàn những đứa nhỏ như tôi, khoảng 6, 7 tuổi, nhưng đều mặc đồng phục thật hay, đứng chung quanh một anh lớn, nhưng mặc đồng phục khác hơn và đội cái nón vành và hai chị lớn như chị sáu cũng mặc đồng phục. Sau khi nói chuyện với anh lớn, anh ba gọi tôi lại giới thiệu với anh lớn với cái tên lạ đời: Akela! Tôi không còn nhớ Akela nói và hỏi tôi những gì nhưng tôi thấy anh rất dễ thương và “kết” Akela liền.

Anh ba vì phải trở về căn cứ nên giao chị sáu lo bộ đồng phục cho tôi. Ngày chị sáu mang về tôi đứng lặn người khi chị mở ra cho tôi thử vì nó quá đẹp và “goai” (oai) nữa, đẹp hơn bộ đồng phục trường La San Hiền Vương của tôi và “goai” gần như bộ quân phục hải quân của anh ba vì … cái khăn choàng màu vàng với hình đầu con sói màu đỏ phía sau. Sau khi mẹ tôi giặt và ủi, tôi khư khư ôm bộ đồng phục lên giường chờ đến thứ bảy, ngày đầu tiên tôi đi hướng đạo.

Và cái ngày “trọng đại” sau bao nhiêu đêm “ngắc ngoải” mong chờ cũng đến, ngày họp hướng đạo đầu tiên của tôi ở vườn Tao Đàn. Vì anh ba phải vào bộ tư lệnh hải quân làm gì đó nên anh không dẫn tôi đi được mà chị sáu. Nhưng trước khi đi anh sửa lại cái khăn cho tôi vì chị sáu thắt “sai bét”, lúc đó tôi cảm thấy anh và tôi, hai người “xêm xêm”, đều có bộ đồng phục đẹp và “goai”. Ngày đó tôi không bao giờ quên được vì nó như một cánh cửa mở ra một nơi thật mới, với nhiều người, nhiều bạn thân thiện, nơi với những người anh, chị thật dễ thương với những tên ngộ nghĩnh như Hathi, Balu, Baghira,.. và tôi học được rất nhiều thứ. Vì còn nhỏ nên tất cả ở “đàn” tôi được gọi là “sói con”. Từ khi có cuốn “Chuyện Rừng Xanh” anh ba mua cho tôi hiểu nhiều hơn về những tên gọi, những vai trò trong đàn, nhưng tôi vẫn thích nhất chị Hathi của đàn tôi vì chị hiền “khô” và lúc nào cũng cười và kể chuyện hay. Mỗi lần hát chung bài tạm biệt, tôi lúc nào cũng gào lên thật to đoạn “Mào Li giết hùm, Mào Li giết hùm, diệt Sơ Khan” vì tôi mơ ngày nào đó tôi sẽ như “Mào Li”. Thỉnh thoảng đàn của được sinh hoạt chung với “tụi” “Chim Non”, nhưng tụi tôi không ưa lắm vì “tụi nó ỏng ẹo cà chớn”!

Ngày “trọng đại” khác của tôi là ngày cắm trại của tất cả đàn ở Sài Gòn tại Đại Học Vạn Hạnh, được ngủ trong lều thiệt, và quan trọng nhất với tôi lần đầu tiên trong đời là ngủ xa nhà! Cho đến bây giờ, sau hơn 50 năm, tôi vẫn còn những hình ảnh của thời gian đó trong đầu, sân Đại Học Vạn Hạnh với những ánh đèn pin, đèn dầu, những nhóm bạn tụ tập, bầu trời đầy sao, tiếng hát khe khẻ của chị Hathi, một trong những ngày hạnh phúc nhất thời thơ ấu. Không lâu sau đó là ngày bể dâu năm 1975, cánh cửa một nơi thật đẹp, thật an lành của tôi khép lại vĩnh viễn.

Louis Mishima


10 quy tắc nhìn người trên bàn tiệc để chọn đối tác làm ăn của người Tàu

Với người Hoa kinh doanh, bàn tiệc chính là "bàn mổ" tâm lý, nơi mỗi cử chỉ nhỏ đều được soi xét và có thể quyết định thành bại của cuộc hợp tác làm ăn.

Với thương nhân người Hoa, uống rượu cũng là đang thăm dò đối tác. (Ảnh: Sohu)

Đối với doanh nhân gốc Hoa, bàn tiệc không đơn thuần là nơi để thỏa mãn vị giác. Nếu thương trường là chiến trường thì bàn tiệc chính là nơi dàn quân, dàn trận và thực hiện những cuộc sát hạch tâm lý tinh vi nhất. Người Hoa gọi đây là "phạn cục" (饭局), trong đó "phạn" là cơm, "cục" mang hàm nghĩa là một ván cờ, một thế trận được sắp đặt sẵn.

Tại sao những thương nhân nổi tiếng chi ly, tính toán từng đồng bạc lẻ lại sẵn sàng chi hàng nghìn USD cho một bữa tiệc linh đình ngay cả khi hợp đồng chưa được ký kết? Câu trả lời nằm ở chỗ họ không "đốt tiền" để ăn uống, họ đang đầu tư để "mua" thông tin về nhân cách và bản lĩnh của đối tác thông qua 10 quy tắc nhìn người khắc nghiệt dưới đây.

Đừng bao giờ gọi món đắt hơn chủ tiệc

Bàn xoay thức ăn phổ biến của người Trung Quốc. Ảnh: Wing Lei

Quy tắc đầu tiên và cũng là cái bẫy tâm lý phổ biến nhất chính là việc gọi món. Khi chủ tiệc đưa thực đơn và lịch sự mời bạn chọn món mình thích, hãy cực kỳ cẩn trọng. Một người có chiều sâu văn hóa và sự quan sát tinh tế sẽ không bao giờ gọi món đắt tiền hơn món mà chủ tiệc đã gọi trước đó.

Người chủ trì thường gọi một vài món khai cuộc để định hình tầm giá của bữa tiệc. Nếu bạn gọi những món xa xỉ vượt mặt chủ nhà, bạn lập tức bị dán nhãn là kẻ tham lam, thiếu tôn ti trật tự và không biết quan sát. Ngược lại, người biết nhún nhường, chọn món phù hợp với khung giá của chủ tiệc sẽ ghi điểm về sự khiêm tốn và tinh tế trong giao tiếp.

Chủ tiệc là người gọi món đầu tiên, khách nên gọi món ít tiền hơn. (Ảnh: Sohu)

Chia sẻ thức ăn

Phép thử thứ hai thường được giới thương nhân lão luyện sử dụng là kiểm tra chia sẻ. Hãy tưởng tượng đĩa thức ăn dọn ra chỉ có 5 phần trong khi bàn có 6 người. Kẻ phàm ăn, chỉ biết đến cái bụng của mình sẽ nhanh tay gắp lấy miếng ngon mà không cần suy nghĩ.

Trong mắt người Hoa, hành động này phản ánh bản chất của một kẻ sẵn sàng chèn ép đối tác khi chia chác lợi nhuận trong tương lai. Nhường miếng ăn trên bàn tiệc thực chất là phép thử về khả năng nhường lợi ích trên thương trường.


Một người biết quan sát, biết nhường phần ngon cho người khác hoặc chủ động điều phối để mọi người cùng vui vẻ mới là người có tư duy đại cục, xứng đáng để hợp tác lâu dài.

Cân bằng của bàn tiệc

Bên cạnh đó, cách một người gọi món cho cả tập thể cũng phản ánh năng lực quản trị hệ thống. Một bàn tiệc hoàn hảo phải có "vị" và sự cân bằng. Có mặn có nhạt, có canh có rau, có món hợp với người già và món dễ ăn cho phụ nữ.

Nếu khách được giao quyền gọi món mà chỉ chọn toàn những thứ mình thích hoặc rặt những loại hải sản đắt tiền mà bỏ qua sự đa dạng, bạn đang bộc lộ sự thiếu chu toàn và tầm nhìn hạn hẹp. Cách sắp xếp một thực đơn phản ánh cách bạn điều hành một bộ máy. Liệu đối tác có quan tâm đến tất cả các thành phần trong hệ thống hay chỉ chạy theo những giá trị hào nhoáng bề nổi?

Người chủ khai tiệc

Đi đôi với vị trí ngồi là "phát súng lệnh" từ đôi đũa của người lãnh đạo. Dù món ăn có hấp dẫn đến đâu, khi nhân vật quan trọng nhất chưa nâng đũa và có lời khai tiệc, mọi người xung quanh bắt buộc phải giữ sự tĩnh lặng và kiên nhẫn.

Hành động "cầm đèn chạy trước ô tô" trên bàn ăn thể hiện sự vô kỷ luật và thiếu kiềm chế. Người không quản lý được cơn đói và ham muốn nhất thời của mình thì khó lòng quản lý được những dự án lớn lao, nơi đòi hỏi sự kiên nhẫn và tuân thủ nguyên tắc tuyệt đối để đạt được thành công bền vững.

Đôi đũa của chủ tiệc như phát súng lệnh, sau đó mọi người mới bắt đầu dùng bữa. (Ảnh: Baidu)

Vị trí ngồi

Văn hóa bàn tiệc người Hoa còn đặc biệt chú trọng đến tôn ti trật tự thông qua vị trí ngồi. Vị trí trung tâm, đối diện cửa ra vào luôn là "ghế nóng" dành cho nhân vật quyền lực nhất hoặc khách VIP.

Việc một người trẻ tuổi hoặc một đối tác chưa hiểu chuyện vội vàng chọn chỗ ngồi đắc địa không chỉ là sự vô duyên mà còn là dấu hiệu của kẻ không biết mình là ai.

Trong thế giới kinh doanh, người không hiểu luật chơi về vị trí sẽ dễ dàng phạm phải những sai lầm chết người. Trong đàm phán, sự kiêu ngạo hoặc thiếu hiểu biết chính là điểm yếu chí tử.

Nghệ thuật cụng ly


Người có địa vị thấp hơn hoặc trẻ tuổi hơn chủ động nâng ly chúc người cao hơn. Ly của bạn phải thấp hơn ly của người trên khi chạm ly (khoảng 1/3 thân ly). Đây là dấu hiệu tôn trọng.

Một tiểu tiết nhỏ nhưng mang sức nặng ngàn cân trong văn hóa uống rượu chính là nghệ thuật cụng ly. Khi nâng ly chúc mừng người lớn tuổi hoặc đối tác lớn hơn, vành ly của bạn bắt buộc phải chạm thấp hơn vành ly của họ từ 1 đến 2cm.

Khoảng cách nhỏ bé này chính là thước đo của sự tôn trọng và khiêm nhường. Những kẻ luôn muốn ly của mình cao hơn người khác thường mang tâm lý hiếu thắng, tự phụ và khó bảo. Người Hoa tin rằng, kẻ biết hạ thấp mình trên bàn rượu chính là người biết tiến biết lui, biết cương biết nhu trên thương trường đầy sóng gió.

Rượu vào nhưng lời không ra

Rượu vào lời ra là quy luật tự nhiên, nhưng với người Hoa, bàn rượu là nơi để thử thách sự kín kẽ của đối tác. Họ có thể ép rượu bạn không phải để chuốc say đơn thuần, mà để xem khi ý thức bị mờ mịt, bạn sẽ bộc lộ bản chất thật sự là gì.

Một kẻ mới uống dăm ba ly đã bắt đầu ba hoa, tiết lộ bí mật kinh doanh hoặc nói xấu người khác sẽ ngay lập tức bị gạch tên khỏi danh sách hợp tác. Tửu lượng có thể không cao, nhưng bản lĩnh giữ miệng phải vững. Người làm được việc lớn là người dù trong trạng thái say vẫn biết đâu là giới hạn của ngôn từ và bảo mật thông tin.

Uống rượu cũng là cách xem đối phương có biết kiềm chế bản thân. (Ảnh: Sohu)

Khách không thanh toán

Một sai lầm mà nhiều người thường mắc phải là lén ra quầy thanh toán tranh với chủ tiệc. Trong văn hóa người Hoa, ai chủ trì bữa tiệc thì người đó trả tiền. Bữa ăn của họ mang tính chiến lược, là một "thế trận" để họ đạt được mục đích của mình.


Việc đối tác cướp quyền thanh toán chính là hành động tước đi thể diện của họ, phá hỏng toàn bộ kịch bản mà họ đã dày công sắp đặt. Hôm nay, đối tác không phân rõ chủ khách trên bàn ăn, ngày mai khi hợp tác cũng sẽ dễ dàng phá vỡ trật tự và các nguyên tắc quản trị chung.

Thời điểm nói chuyện làm ăn

Thời điểm bàn chuyện làm ăn cũng là một nghệ thuật cần lưu ý trong các bữa tiệc "phạn cục". Đừng bao giờ lôi hợp đồng hay các con số khô khan ra khi món khai vị vừa dọn lên. Bữa tiệc là khoảng thời gian để kết giao, thăm dò và xây dựng niềm tin cá nhân.


Những vấn đề sinh tử của dự án chỉ nên được chốt hạ khi mọi người đã "trà dư tửu hậu", khi thức ăn đã vơi và sự phòng thủ đã giảm bớt. Một người quá vội vã nói chuyện tiền bạc ngay đầu bữa ăn sẽ bị coi là kẻ thực dụng, thiếu kiên nhẫn và không coi trọng giá trị của mối quan hệ lâu dài.

Biết lúc nào rời đi cũng là một nghệ thuật. (Ảnh: Baidu)

Tinh tế rời đi

Cuối cùng, một người tinh tế phải biết lúc nào nên kết thúc bữa tiệc và rời đi. Sau khi việc ăn uống hoàn tất, nếu chủ tiệc không có ý định giữ lại uống trà hay đàm đạo thêm, hãy biết rút lui đúng lúc để giữ lại sự lịch thiệp.

Sự nán lại quá lâu không cần thiết có thể gây phiền toái cho chủ nhà và làm mất đi dư âm tốt đẹp của buổi gặp mặt. Biết tiến biết lui, biết bắt đầu và kết thúc một cách trọn vẹn chính là phong thái của một người trưởng thành, chuyên nghiệp và có giáo dưỡng.

Nhiều người trẻ ngày nay thường cho rằng những quy tắc này là rườm rà, cổ hủ và nặng tính hình thức. Tuy nhiên, giới tinh hoa và những thương nhân lão luyện người Hoa đều hiểu một đạo lý rằng thà mất vài tiếng mệt mỏi trên bàn tiệc để nhìn thấu bản chất một con người, còn hơn ký nhầm một bản hợp đồng để rồi mất cả cơ nghiệp và dành nhiều năm trời sau đó để giải quyết hậu quả.

Hoàng Hà / Theo: vtcnews

Có thể phú quý sinh lễ nghĩa; rách quá, đôi khi cũng khó mà thơm, thế nhưng văn minh là chuyện khác. Không phải cứ giàu là văn minh, và ngược lại (tui, và chắc các bạn cũng vậy, đã nhiều lần chứng kiến lắm kẻ giàu nứt đố nhưng văn minh vẫn là zero đó thôi).

Không nói đâu xa xôi, sát bên nách mình thôi, nước Lào nè. Trời ơi, họ văn minh khủng khiếp. Chân đã đi nát mặt địa cầu nhưng nếu hỏi tui yêu quý dân tộc nào nhất, câu trả lời sẽ là Lào.

Người Nhật văn minh vì đôi khi họ buộc phải gồng lên làm điều đó để thỏa mãn những chuẩn mực tối thiểu của một nền văn hóa khắt khe, dần dà thành bản tính đặc hữu giống nòi.

Người Lào thì khác, họ văn minh một cách rất hồn nhiên, như máu họ sẵn có, như ngàn đời nay vẫn vậy, chẳng cần cố gắng gì.

Nước Lào tươi đẹp, tươi đẹp vì xanh mát, trong lành và bình yên. Người Lào hồn nhiên, hiền hậu, chân thật, lịch sự và điềm đạm. Từ lao động chân tay đến trí thức, cảnh sát hay doanh nhân, ai ai cũng toát lên một thần thái an lạc.

Nước Lào ít có người giàu, phần lớn những người giàu nhất là doanh nhân Hoa kiều và Việt kiều. Vì người Lào ít kinh doanh. Nếu có, họ cũng đóng cửa sớm lắm. Khi thấy mới 5 giờ chiều họ đã đóng cửa hàng, tui hỏi sao sớm quá, không bán thêm vài tiếng nữa, anh chị cười cười “Thôi, nhiêu đó đủ rồi, về ăn cơm rồi xem ti vi”. Là không phải họ lười biếng là không phải họ hổng biết kinh doanh, là không phải họ chê tiền, chỉ là họ biết đủ. Làm được điều này như họ khó, khó lắm.

Ở Lào rất rất hiếm có chuyện cướp giật hay mất trộm ngoài đường. Chiếc xe máy dựng trước thềm nhà không khóa, sáng ra vẫn y nguyên. Nửa khuya, giữa ngã tư thênh thang vắng, người ta vẫn dừng đúng vạch đèn đỏ. Giao thông bên ấy rất tuyệt vời, thinh thoảng giữa thủ đô cũng có kẹt xe giờ tan tầm nhưng tuyệt nhiên không có chen lấn hay bóp còi, không có cáu gắt hay bực dọc. Khi bạn băng qua đường, dù không trên vạch trắng, xe cộ thấy bạn từ xa, họ đã hãm tốc. Thành phố lúc nào cũng lằng lặng, ngày cũng như đêm. Đi mua sắm, lựa chọn đã đời, xách đít không đi ra, họ vẫn vui vẻ chắp tay chào. Và còn nhiều nữa...

Vũ trường ở Lào, nói thiệt, như cái quán hủ tíu bên mình vậy, sơ sài, nghèo nàn và vắng vẻ. Nhưng bảo tàng và thư viện rất to, nhà hát rất đẹp, lúc nào cũng đông.

Tự suy ra nhé.

Để tui kể chuyện này cho nghe, hồi SEA Games 25, lúc biết bóng đá Việt Nam vào được chung kết và cơ hội thắng Malaysia để vô địch là rất cao, tui rủ thằng bạn bay qua Viêng Chăn để ủng hộ đội nhà, để sướng với cảm giác vô địch. Trần ai kiếm được vé máy bay, qua tới nơi, khách sạn sang hèn, nhà trọ lớn nhỏ không còn một chỗ trống. Dân Việt Nam ngập tràn bên đó, phần lớn đi đường bộ qua cửa khẩu Lao Bảo.

Anh taxi cũng khốn đốn tới khuya để chở tụi tui đi tìm nơi ở, rồi anh xin lỗi vì không giúp được. Thì thôi, kiếm chỗ nào có mái che, lăn ra ngủ vậy, cổ động viên bóng đá chứ có phải doanh nhân đi nghỉ dưỡng đâu. Nghe vậy, anh taxi hổng chịu. Anh nói ở đây an toàn, không sợ gì con người nhưng anh sợ nửa đêm gió sương... Rồi anh mời tụi tui về nhà, gọi vợ mình dậy nấu mì cho ăn. Khách tắm rửa xong, vợ chồng anh nhường cho họ phòng ngủ của mình. Sáng ra, anh chở đi tìm vé vào sân vận động (ui trời, dân bán vé chợ đen toàn Việt Nam tràn qua). Gửi biếu anh chị tiền, họ nhất mực không nhận, chỉ lấy tiền taxi. Vậy đó.

Ai mơ ước người Việt được như người Nhật thì cứ việc. Tui, thằng đã mòn đít ở Nhật, chai chân ở Việt Nam, bạc đầu ở Đức,... lại mơ ước dân mình được như... dân Lào.

(HỒNG HẢI)

Blog Archive