Saturday, June 27, 2026

Vì sao The Godfather vẫn được xem là kiệt tác điện ảnh vĩ đại nhất mọi thời đại?

Mở đầu The Godfather không phải là một vụ nổ, một cuộc rượt đuổi hay cảnh đấu súng nghẹt thở. Francis Ford Coppola đưa khán giả bước vào đám cưới của Connie Corleone, nơi tiếng nhạc Sicily hòa cùng những điệu nhảy, những cái ôm gia đình và nụ cười của hàng trăm vị khách. Bên ngoài là một ngày hội ngập tràn ánh nắng. Phía sau cánh cửa văn phòng tối tăm, Don Vito Corleone đang tiếp những người đến xin ân huệ trong ngày cưới con gái theo truyền thống Sicily. Chỉ bằng vài phút đầu tiên, bộ phim đã đặt hai thế giới đối lập cạnh nhau: gia đình và quyền lực, tình yêu và bạo lực, ánh sáng và bóng tối. Đó là lời tuyên bố rằng đây không đơn thuần là một bộ phim mafia, mà là bi kịch về một gia tộc và cái giá của quyền lực.

Ít ai biết dự án này từng đứng bên bờ vực đổ vỡ. Paramount Pictures chỉ xem đây là bộ phim khai thác trào lưu mafia với kinh phí hạn chế. Francis Ford Coppola nhiều lần bị dọa sa thải vì liên tục thay đổi kịch bản và kiên quyết quay phim tại New York thay vì trường quay. Hãng phim phản đối việc chọn Marlon Brando vì cho rằng ông đã hết thời và khó hợp tác, còn Al Pacino bị đánh giá là quá thấp bé, quá vô danh để gánh vai Michael Corleone. Coppola đã đấu tranh đến cùng để giữ cả hai. Thời gian chứng minh đó là một trong những quyết định tuyển vai xuất sắc nhất lịch sử Hollywood.

Marlon Brando đã tạo nên Don Vito Corleone bằng hàng loạt chi tiết chưa từng có trong kịch bản. Ông nhét bông gòn vào hai má trong buổi thử vai để tạo khuôn mặt giống một chú chó bulldog già. Sau đó, bộ phận hóa trang chế tạo riêng hàm giả nhằm giữ nguyên gương mặt ấy trong suốt quá trình quay. Giọng nói khàn đặc, chậm rãi của Don Vito được Brando lấy cảm hứng từ những ông trùm ngoài đời mà ông từng quan sát, tạo nên hình tượng vừa đáng sợ vừa đầy uy nghi.

Cảnh mở đầu với chú mèo nằm trên đùi Don Corleone cũng là một khoảnh khắc ngẫu hứng. Coppola bắt gặp một con mèo hoang đi lang thang trong khuôn viên hãng phim, bế vào trường quay rồi đặt lên đùi Brando ngay trước khi bấm máy. Chú mèo ngoan ngoãn cuộn tròn và rừ rừ suốt cảnh quay, đến mức tiếng kêu của nó lấn át cả lời thoại và ê-kíp phải thu âm lại phần hội thoại ở giai đoạn hậu kỳ. Một chi tiết hoàn toàn tình cờ lại trở thành hình ảnh biểu tượng của điện ảnh thế giới.

Giá trị lớn nhất của The Godfather nằm ở cách bộ phim kể câu chuyện về sự tha hóa. Michael Corleone xuất hiện trong bộ quân phục Thủy quân Lục chiến với mong muốn sống một cuộc đời bình thường. Anh giới thiệu Kay về gia đình mình bằng câu nói nổi tiếng: "Đó là gia đình tôi, Kay, chứ không phải tôi." Câu nói ấy trở thành lời tiên tri cay đắng. 

Sau vụ ám sát hụt Don Vito, Michael bước vào con đường quyền lực bằng phát súng bắn Sollozzo và đại úy McCluskey trong nhà hàng Louis. Từ khoảnh khắc đó, mỗi quyết định đều khiến anh tiến gần hơn đến chiếc ghế Don, đồng thời rời xa con người mà anh từng muốn trở thành.

Coppola không bao giờ để Michael thay đổi đột ngột. Sự biến đổi diễn ra qua những khoảng lặng, những ánh mắt, những lần im lặng nhiều hơn lời nói. Khi Michael hôn Fredo và thì thầm: "Tôi biết đó là anh, Fredo", khán giả hiểu rằng người em trai từng mang dáng vẻ hiền lành ở đám cưới Connie đã biến mất hoàn toàn. Điện ảnh hiếm khi miêu tả quá trình đánh mất linh hồn của một con người chậm rãi và đau đớn đến vậy.

Hình ảnh của bộ phim cũng tạo nên một cuộc cách mạng. Nhà quay phim Gordon Willis, người được mệnh danh là "Prince of Darkness", sử dụng ánh sáng cực thấp, để đôi mắt các nhân vật nhiều lần chìm trong bóng tối. Don Vito thường xuất hiện với phần mắt bị che khuất, khiến quyền lực của ông trở nên khó đoán và đầy bí ẩn. Thời điểm bộ phim ra mắt, nhiều lãnh đạo hãng phim từng lo ngại khán giả sẽ không nhìn rõ khuôn mặt diễn viên. Coppola vẫn kiên quyết giữ nguyên phong cách ấy, và nó trở thành một chuẩn mực mới của nghệ thuật quay phim.

Âm nhạc của Nino Rota cũng góp phần tạo nên linh hồn tác phẩm. Giai điệu chủ đề mang âm hưởng dân ca Sicily vừa gợi nỗi nhớ quê hương, vừa chất chứa sự cô độc của những con người mang trên vai gánh nặng gia tộc. Chỉ vài nốt nhạc đầu tiên vang lên cũng đủ đưa khán giả trở lại thế giới của Corleone.

The Godfather đoạt ba giải Oscar gồm Phim xuất sắc nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Marlon Brando và Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất. Brando từ chối nhận tượng vàng để phản đối cách Hollywood khắc họa người Mỹ bản địa, cử nữ diễn viên kiêm nhà hoạt động Sacheen Littlefeather lên sân khấu thay mình. Đó vẫn là một trong những khoảnh khắc gây tranh cãi và được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử Oscar.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, The Godfather vẫn đứng ở vị trí hàng đầu trong hầu hết các bảng xếp hạng phim hay nhất mọi thời đại. Bộ phim không trường tồn vì những cảnh bạo lực hay các câu thoại nổi tiếng, mà bởi mỗi lần xem lại, khán giả đều nhận ra một tầng ý nghĩa mới về gia đình, danh dự, quyền lực và sự cô độc. Rất nhiều tác phẩm nói về mafia đã xuất hiện sau đó, nhưng rất ít bộ phim khiến người xem tự hỏi liệu chiến thắng cuối cùng có thực sự là chiến thắng. Có lẽ đó mới là dấu hiệu rõ ràng nhất của một kiệt tác

Hoang Pane Vino.



SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI” VÀ “GÁC LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI”

(Nhân câu nói của Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hùng Cao trong dịp thăm Việt Nam “trái tim tôi thuộc về nước Mỹ, dòng máu thuộc về Việt Nam” và báo chí CSVN đáp lại bằng một số khẩu hiệu quen thuộc như “hòa giải”, “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” v.v… Mời đọc bài viết dưới đây phân tích lý do tại sao sau 51 năm các khẩu hiệu đó vẫn chỉ là những khẩu hiệu tuyên truyền.”)

---------------
Mỗi người Việt Nam dù đi xa bao nhiêu đều mang theo trong lòng một quê hương. Truyền thống của dân tộc Việt Nam là "nhiễu điều phủ lấy giá gương", là "lá lành đùm lá rách", là "một giọt máu đào hơn ao nước lã" chứ không phải độc tài hay thù hận. Dân tộc Việt Nam, bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần, là một thực thể thống nhất và không một thế lực nào, một ý thức hệ ngoại lai vong bản nào có thể làm phân ly chia cách.

Thế nhưng, sau 51 năm, ý nghĩa của khái niệm dân tộc vô cùng thiêng liêng quý giá đó vẫn chưa là thực tế. Dân tộc Việt Nam đến nay vẫn còn một đoàn người nối đuôi nhau nhận sự ban phát từ chức tước bổng lộc đến chén cơm manh áo từ tay giới lãnh đạo đảng không khác gì thời vua chúa phong kiến. Sinh mệnh của họ và tương lai của con cháu họ vẫn còn trong tay một nhóm người rất nhỏ nhen, ích kỷ và lạc hậu.

Giống như trường hợp một con người bình thường phải vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt để tiến thân, một dân tộc chỉ có thể đuổi kịp đà tiến của nhân loại nếu dân tộc đó vượt qua được những bất hạnh của chính mình và vận động được sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Do Thái chỉ vỏn vẹn hơn 6 triệu dân, sống trong một diện tích 20 ngàn cây số vuông, và bị các quốc gia thù địch bao vây ngay từ ngày lập quốc, nhưng họ đã tồn tại và vươn lên nhờ sự vận dụng sức mạnh dân tộc rộng lớn khắp thế giới.

Vì điều kiện lịch sử, chất xám Việt Nam cũng trải rộng khắp năm châu, tinh hoa Việt Nam có mặt trong mọi ngành khoa học kỹ thuật của nhân loại và đang dấn bước vào chính trường của các quốc gia họ định cư. Thế nhưng cho đến nay, tuyệt đại đa số trong số 300 ngàn trí thức Việt Nam hải ngoại, như nhiều nguồn ước lượng, vẫn không hợp tác với đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam. Họ chẳng phải thuộc thành phần “bám theo chân đế quốc” hay “chống Cộng tới cùng” gì đâu, mà là những người thật sự quan tâm cho tương lai dân tộc.

Ngọn núi cách ngăn giữa họ và quê hương chính là cơ chế chính trị tại Việt Nam.

Việc bất hợp tác của họ với nhà nước Việt Nam không phải phát xuất từ những cách ngăn quá khứ, mà là vì những dị biệt khi nhìn về tương lai dân tộc.

Mối lo mất quyền lực đã làm cho giới lãnh đạo đảng hoài nghi trước mọi đóng góp của trí thức hải ngoại dù là những đề án hoàn toàn không liên hệ gì đến chính trị. Không một người Việt Nam có lương tâm nào mà không khỏi đau lòng khi nhìn lại đất nước sau 51 năm chấm dứt chiến tranh nhưng lòng người vẫn còn ngăn cách, anh em nhìn nhau thù hằn xa lạ. Một ông thủ tướng đi thăm nước ngoài mà bị chính dân nước mình biểu tình phản đối, phải đi vào cửa trước và đi ra cửa sau thì có gì để đáng hãnh diện.

Về hòa giải, lịch sử nhân loại đã để lại nhiều bài học quý giá về hòa giải.

Hãy tưởng tượng nếu tổng thống Abraham Lincoln thay vì nói “không ác tâm nhắm vào ai, với lòng nhân ái dành cho mọi người” (With malice toward none, with charity for all) trong phần kết luận diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ hai vào những ngày cuối của nội chiến Mỹ, mà kêu gọi “máu kêu trả máu đầu kêu trả đầu” thì nước Mỹ liệu có là một cường quốc hàng đầu thế giới và có diện tích trải rộng trên 9 triệu cây số vuông như ngày nay không?

Câu trả lời hẳn nhiên là không.

Hãy tưởng tượng khi Nelson Mandela, người bị tù suốt 27 năm ngoài hoang đảo và đã có thời gian nghiêng về phương pháp đấu tranh bằng võ lực, không chủ trương hòa giải mà nhất định trả thù cho bằng được thiểu số da trắng đã một thời đã áp đặt những đối xử bất công, phân biệt chủng tộc lên trên số phận của đa số người da đen thì nước Cộng hòa Nam Phi ngày nay liệu có còn là một trong những quốc gia ổn định và phát triển nhất Châu Phi?

Câu trả lời hẳn nhiên là không.

Hai nhà lãnh đạo quốc gia, tuy sinh ra và lớn lên trong những thời điểm lịch sử và hoàn cảnh bản thân khác nhau, nhưng đều sở hữu giống nhau ba đặc tính mà một lãnh tụ sáng suốt nào cũng cần phải có: kiên nhẫn, khôn ngoan và biết nhìn xa trông rộng.

Đất nước Việt Nam thời buổi này không có may mắn đó. Một trong những điều bất hạnh dễ nhận ra nhất là các nhà lãnh đạo Việt Nam không những thiếu ba đặc tính kiên nhẫn, khôn ngoan và nhìn xa thấy rộng đó, nhưng đáng buồn hơn họ lại mang trong người ba căn bịnh trái ngược với các đặc tính vừa nêu.

Thay vì kiên nhẫn trong từng bước đổi thay của đất nước bằng tinh thần hòa giải bao dung dân tộc, họ đã bắt nhân dân thắt lưng buộc bụng để “tiến nhanh, tiến mạnh” lên chế độ xã hội mà chính họ cũng chỉ mới được nghe qua hay đọc đâu đó trong các tài liệu tuyên truyền của đảng; thay vì áp dụng một cách khôn ngoan các chính sách đối ngoại thận trọng với những người từng là bạn cũng như rộng lượng ngay cả với những kẻ vốn là thù, họ đã chứng tỏ vô cùng thiếu khôn ngoan, kiêu căng vô lối trong bang giao quốc tế, để rồi dẫn đất nước vào vòng cô lập trong nghèo nàn lạc hậu suốt mấy mươi năm; thay vì nối lại nhịp cầu dân tộc mà trước đây các dã tâm thực dân đế quốc đã làm ngăn cách tình đồng bào ruột thịt, hay lót những viên gạch rắn chắc trên con đường dẫn đến tương lai hạnh phúc cho con cháu khi còn có quyền lực trong tay thì họ chỉ biết đợi đến cuối đời để ngậm ngùi nhìn lại.

Thủ tướng Konrad Adenauer, chính trị gia thân Mỹ hàng đầu tại Châu Âu sau Thế Chiến Thứ Hai, mặc dù lo tái thiết Tây Đức hoang tàn đổ nát bằng tiền của Mỹ, nhưng cũng không quên kín đáo tiếp xúc với Stalin để cứu những tù binh Đức bị tù trên lãnh thổ Liên Xô dù trước đây chế độ Đức Quốc Xã đã từng bỏ tù ông ta.

Tương tự, những gì Nelson Mandela đã cống hiến cho đất nước ông không phải vì nhờ ông đã quên quá khứ hay gác quá khứ qua một bên, nhưng nhờ ông đã sống rất trọn vẹn trong quá khứ, đã chiêm nghiệm và chuyển hóa những những vinh quang và chịu đựng, thành công và thất bại, hy vọng và tuyệt vọng của quá khứ thành nhựa nguyên, nhựa luyện cho những hàng cây xanh tốt tươi và hy vọng ở tương lai. Nelson Mandela là tổng thống da đen đầu tiên của Cộng hòa Nam Phi, nhưng không ít phụ tá của ông, chuyên viên cao cấp trong chính phủ là những người da trắng. Họ không phải chỉ được dựng lên để làm cảnh như Mặt trận Giải phóng Miền Nam, Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình tại Việt Nam trước đây, mà là những người có thực quyền. Ngoài ra, một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Nelson Mandela là thành lập ủy ban Sự thật và Hòa giải để điều tra các tội ác của chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi và thực thi chính sách hòa giải của ông.

Hòa giải chỉ có giá trị vĩnh cửu nếu hòa giải đó dựa trên sự thật và sự thật chỉ là viên ngọc quý khi nào nó được dùng để soi sáng công lý, xoa dịu khổ đau, chứ không phải để đào sâu thêm thù hận.

Các lãnh đạo đảng nói về hòa giải chắc là nhiều hơn cả Abraham Lincoln, Nelson Mandela và Konrad Adenauer cộng lại. Nhưng trong suốt 51 năm cai trị đất nước bằng nhà tù và súng đạn, họ chưa làm được một điều gì căn bản để thể hiện tinh thần đó.

Tệ hại hơn nữa, họ đã sử dụng hòa giải như là chiếc bẫy để lừa gạt những người dễ tin hay quá thật tâm đi tìm một con đường sống cho dân tộc. Đừng nói gì đến các chính sách đất nước đa màu (Rainbow Nation) nhìn xa thấy rộng như Nelson Mandela, hay hành động can đảm cứu người như của Konrad Adenauer, chỉ đơn giản sửa sang, tu bổ các ngôi mộ của những người lính miền Nam ở nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa ngoại ô Sài Gòn, giúp đỡ các thương phế binh miền Nam đang lây lất trên đường phố, họ cũng không làm.

Có nhiều lý do đã làm cho giới lãnh đạo đảng không thực tâm hòa giải và một trong những lý do đó là vì họ sợ sự thật.

Nhiều người cho rằng nhân dân Việt Nam quá sợ đảng Cộng sản, nhưng đừng quên giới lãnh đạo đảng cũng luôn bị ám ảnh bởi sự thật. Trong hơn năm chục năm qua, họ đã làm tất cả những gì có thể làm được để che giấu sự thật. Một tấm bia nhỏ để tưởng nhớ những đồng bào bỏ thây trên biển cả cũng làm họ run sợ. Một bức tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa tuy gãy đổ cũng làm họ ăn ngủ không yên. Các lãnh đạo đảng hẳn đang trách nhau tại sao năm mươi năm trước họ đã không san bằng nghĩa trang quân đội Biên Hòa cho rồi, để đến hôm nay, khi con dao chuyên chính vô sản không còn bén nữa, và trước mắt của cả thế giới khi vừa bước chân vào ngưỡng cửa WTO, họ không thể ra tay được.

Sinh viên Việt Nam nào cũng được dạy đảng là tổ chức anh minh, sáng suốt và lãnh đạo thành công mọi cuộc cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ trước đây cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nếu các em chịu khó vào trang mạng của đảng Cộng sản Việt Nam để đọc mục đích của đảng là gì, các em sẽ nhận thức ngay được tính mâu thuẫn đối kháng giữa nhu cầu của đất nước Việt Nam và quyền lợi của đảng.

Như một sinh viên, em muốn gì cho đất nước? Phải chăng đó là một Việt Nam hội nhập vào dòng thác cách mạng dân chủ, khoa học kỹ thuật, văn minh hiện đại của nhân loại bằng sức mạnh tổng hợp và đa diện của người Việt, không chỉ người Việt trong nước, mà cho dù họ đang định cư bất cứ nơi nào trên thế giới? Vâng, nhưng điều đó sẽ không thể thành sự thật khi đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến hôm nay vẫn bám vào hệ thống giáo điều lạc hậu, cơ chế độc tài mà hầu hết các quốc gia, từ dân chủ Tây phương cho đến các nước chậm tiến ở núi rừng Châu Phi khinh rẻ. 

Thế giới đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba rồi mà ngay trong trang mạng chính thức của đảng vẫn còn viết được những câu đầy tính lừa bịp như thế này: “Lý luận tập trung dân chủ là một bộ phận quan trọng của học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản, là cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho các chính đảng của giai cấp công nhân thực hiện phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung thống nhất trong Đảng.”

Giả thiết cho dù đảng Cộng sản đã đóng vai trò lãnh đạo trong chiến tranh đi nữa, sau 51 năm đưa đất nước vào con đường tụt hậu so với đà tiến văn minh của nhân loại hôm nay thì liệu họ có xứng đáng tiếp tục lãnh đạo đất nước hay phải bước xuống trả lại quyền quyết định tương lai đất nước cho nhân dân Việt Nam?

Giả thiết cho dù chuyện công hay tội của đảng Cộng sản trong chiến tranh có thể còn là vấn đề đang tranh luận, thì trong 51 năm cầm quyền với những tộc ác không thể nào chối cãi khiến hàng triệu gia đình ly tán, hàng trăm ngàn đồng bào chết thảm thương trong rừng sâu nước độc, ngoài biển khơi, trong trại tập trung, thì nhân dân Việt Nam có nên để đảng Cộng sản tiếp tục đè đầu cỡi cổ nữa hay không?

Từ khi viên đại bác đầu tiên do thực dân bắn vào cửa biển Đà Nẵng năm 1858 cho đến năm 1954, máu của hàng triệu người Việt yêu nước đã đổ xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Dân tộc Việt Nam nhớ ơn họ và các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ cúi đầu mỗi khi nghĩ về họ. Mặc dù trong hàng ngũ đảng Cộng sản có những người bắt đầu hành trình bằng lòng yêu nước, đảng Cộng sản, ngay từ ngày thành lập cho đến nay chưa bao giờ là một đảng yêu nước.

Lịch sử sớm hay muộn rồi sẽ sang trang. Tôi tin sẽ có một ngày các cháu sinh viên học sinh Việt Nam ngồi đọc lại những chương buồn của lịch sử dân tộc với Nhân văn-Giai phẩm, với Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, với Tết Mậu Thân ở Huế, với Cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, với “Trại cải tạo” khắp ba miền, với Kinh tế mới, với Thảm cảnh biển Đông, và hẳn họ sẽ rơi nước mắt cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của ông bà mình.

Trần Trung Đạo
(Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo IV)


Thời Gia Trưởng Và Cái Tôi Quá Lớn Đã Âm Thầm Giết Chết Đời Sống Hôn Nhân Của Nhiều Gia Đình Á Châu Tại Hoa Kỳ

“Một cuộc hôn nhân hiếm khi tan vỡ chỉ vì một biến cố lớn. Phần lớn tan vỡ bởi hàng ngàn vết nứt nhỏ tích tụ theo năm tháng – mà trong đó, cái tôi quá lớn thường là nguyên nhân sâu xa nhất.”

Là một người đã sống tại Hoa Kỳ gần ba mươi năm, tôi nhận thấy cộng đồng người Á Châu, đặc biệt là người Việt Nam, rất chăm chỉ xây dựng sự nghiệp. Chúng ta hy sinh cả tuổi trẻ để tạo dựng một cuộc sống ổn định cho gia đình, mua được một căn nhà, cho con học trường tốt và cố gắng lo cho tương lai.

Nhưng trong khi chúng ta đầu tư rất nhiều cho tài chính và giáo dục, thì lại đầu tư quá ít cho hôn nhân và sức khỏe tinh thần.
Đó là một nghịch lý.
Chúng Ta Giỏi Xây Nhà, Nhưng Chưa Hẳn Biết Xây Dựng Một Gia Đình Hạnh Phúc

Nhiều gia đình có thể sở hữu một căn nhà trị giá hàng triệu đô la.
Nhưng trong căn nhà ấy, vợ chồng có thể nhiều ngày không nói chuyện với nhau.
Có những bữa cơm chỉ còn tiếng chén đũa.
Có những cuộc trò chuyện chỉ xoay quanh hóa đơn, công việc và con cái.
Tình yêu dần bị thay thế bằng trách nhiệm.
Sự đồng hành bị thay thế bằng sự chịu đựng.
“Cái Tôi” Là Gì?

“Cái tôi” không phải là sự tự trọng.
Cái tôi là khi chúng ta luôn muốn mình đúng.

Là khi:

* Không chịu xin lỗi trước.
* Không chịu lắng nghe.
* Luôn muốn thắng trong mọi cuộc tranh luận.
* Luôn nghĩ người kia phải thay đổi trước.
* Đồng nhất việc nhượng bộ với sự yếu đuối.

Trong hôn nhân, nếu cả hai đều muốn chiến thắng, thì cuối cùng người thua sẽ là chính cuộc hôn nhân.
Văn Hóa Á Đông Đôi Khi Khiến Việc Giao Tiếp Trở Nên Khó Khăn

Nhiều người Á Châu lớn lên trong môi trường mà việc thể hiện cảm xúc không được khuyến khích.
Con trai được dạy phải mạnh mẽ.
Con gái được dạy phải nhẫn nhịn.
Cha mẹ ít nói lời yêu thương.
Xin lỗi hay cảm ơn trong gia đình đôi khi bị xem là không cần thiết.
Những điều này không có nghĩa là văn hóa Á Đông sai, nhưng khi sống trong một xã hội thay đổi nhanh như Hoa Kỳ, nhiều gia đình nhận ra rằng chỉ có tình yêu thôi là chưa đủ. Chúng ta cũng cần học cách giao tiếp và giải quyết mâu thuẫn.
Áp Lực Cuộc Sống Tại Mỹ

Cuộc sống tại Hoa Kỳ mang đến rất nhiều cơ hội, nhưng cũng đi kèm nhiều áp lực:

* Chi phí nhà ở cao.
* Áp lực công việc.
* Nuôi dạy con trong hai nền văn hóa.
* Chăm sóc cha mẹ lớn tuổi.
* Khó cân bằng giữa công việc và gia đình.

Những áp lực này có thể làm tăng căng thẳng trong hôn nhân nếu hai người không có cách chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau.
Khi Những Vết Thương Chưa Được Chữa Lành Tiếp Tục Lặp Lại Qua Các Thế Hệ

Có một thực tế rất đáng suy ngẫm trong nhiều gia đình Á Châu.
Có những người mẹ chồng đã từng trải qua những năm tháng làm dâu đầy vất vả, bị trách móc, bị kiểm soát, thậm chí chịu nhiều bất công. Chính vì đã từng đau, họ hiểu nỗi đau ấy và chọn đối xử với con dâu bằng sự yêu thương, cảm thông và bao dung. Họ không muốn con dâu mình phải đi lại con đường mà mình đã từng đi qua.

Nhưng cũng có những trường hợp khác.
Những vết thương trong quá khứ không được chữa lành lại biến thành sự cay đắng. Thay vì chấm dứt vòng lặp của đau khổ, họ vô tình lặp lại những gì mình từng chịu đựng, như thể đó là điều "bình thường" hoặc là cách để bù đắp cho những mất mát của chính mình.

Họ có thể nghĩ:
"Ngày xưa tôi cũng khổ như vậy, nên con dâu bây giờ cũng phải trải qua."
Đó là một suy nghĩ dễ hiểu về mặt cảm xúc, nhưng lại có thể tiếp tục tạo ra tổn thương cho thế hệ sau.
Đau khổ không nên trở thành một di sản được truyền lại.
Sự chịu đựng của thế hệ trước không nên là lý do để thế hệ sau tiếp tục chịu đựng.
Điều đẹp nhất không phải là bắt người khác trải qua những gì mình đã trải qua.
Điều đẹp nhất là dùng chính trải nghiệm của mình để bảo vệ người khác khỏi những tổn thương tương tự.
Một người mẹ chồng vĩ đại không phải là người đã từng chịu đựng nhiều nhất.
Mà là người đủ bao dung để nói:
"Mẹ đã từng rất cực. Vì vậy, mẹ không muốn con phải cực như mẹ ngày xưa."
Đó mới là sự chữa lành thật sự.
Đó mới là tình yêu giữa những người phụ nữ trong cùng một gia đình.
Mỗi thế hệ đều có quyền lựa chọn: tiếp tục truyền lại những vết thương, hay trở thành người đầu tiên chấm dứt vòng lặp của đau khổ. Chính lựa chọn ấy sẽ quyết định di sản mà chúng ta để lại cho con cháu mai sau.

Con Cái Là Người Chịu Ảnh Hưởng Nhiều Nhất

Nhiều cha mẹ nghĩ rằng:
“Chúng tôi không ly hôn nên con sẽ không sao.”
Nhưng trẻ em không chỉ bị ảnh hưởng bởi việc ly hôn.
Các em còn chịu tác động khi sống trong một ngôi nhà luôn căng thẳng.

Các em nhìn thấy:

* Những ánh mắt lạnh nhạt.
* Những cuộc cãi vã.
* Những ngày cha mẹ không nói chuyện.
* Không khí nặng nề trong gia đình.

Những trải nghiệm này có thể ảnh hưởng đến cảm giác an toàn và cách các em nhìn nhận các mối quan hệ sau này.
Thống Kê Cho Thấy Điều Gì?

Theo các nghiên cứu tại Hoa Kỳ:
* Khoảng 40–50% các cuộc hôn nhân đầu tiên kết thúc bằng ly hôn, dù tỷ lệ này đã giảm nhẹ trong những năm gần đây.
* Xung đột kéo dài trong gia đình có liên quan đến nguy cơ cao hơn về lo âu, trầm cảm và các khó khăn hành vi ở trẻ em.
* Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy trị liệu hôn nhân và trị liệu gia đình có thể cải thiện đáng kể sự hài lòng trong mối quan hệ và kỹ năng giao tiếp khi các cặp đôi tham gia sớm, trước khi mâu thuẫn trở nên quá nghiêm trọng.

Những con số này không nhằm tạo ra sự bi quan, mà để nhắc chúng ta rằng hôn nhân cũng cần được chăm sóc như sức khỏe thể chất.
Người Á Châu Thường Ngại Đi Trị Liệu

Đây có lẽ là khác biệt lớn nhất.
Nếu bị đau tim, chúng ta sẵn sàng đến bệnh viện.
Nhưng khi hôn nhân rạn nứt, nhiều người lại chọn im lặng.

Một số người lo sợ:
* “Người ngoài biết sẽ xấu hổ.”
* “Chuyện nhà đóng cửa bảo nhau.”
* “Đi gặp nhà tâm lý là mình có vấn đề.”

Thực tế, trị liệu không phải dành cho những gia đình đã thất bại.
Trị liệu dành cho những gia đình muốn học cách yêu thương nhau tốt hơn.
Hôn Nhân Không Cần Hai Người Hoàn Hảo

Một cuộc hôn nhân bền vững không cần hai người hoàn hảo.
Điều cần là hai người đều sẵn sàng:

* Lắng nghe.
* Xin lỗi khi mình sai.
* Tha thứ.
* Học hỏi.
* Cùng trưởng thành.

Không ai chiến thắng nếu người bạn đời của mình luôn cảm thấy cô đơn.
Điều Người Á Châu Cần Học Thêm

Ngoài việc dạy con học giỏi, chúng ta cũng nên học:

* Cách giao tiếp tích cực.
* Quản lý cảm xúc.
* Giải quyết xung đột.
* Chia sẻ trách nhiệm trong gia đình.
* Chăm sóc sức khỏe tinh thần.
* Chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần.

Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không tự nhiên mà có. Nó được xây dựng mỗi ngày bằng sự tôn trọng, khiêm nhường và những lựa chọn nhỏ nhưng bền bỉ.
Lời Kết

Cuộc đời quá ngắn để lúc nào cũng cố chứng minh mình đúng.
Đôi khi, một lời xin lỗi không làm chúng ta nhỏ đi.
Ngược lại, nó đủ lớn để cứu một cuộc hôn nhân.
Một cái ôm đúng lúc có thể chữa lành những khoảng cách mà nhiều năm im lặng đã tạo ra.
Và một gia đình biết đặt tình yêu cao hơn cái tôi sẽ trao cho con cái món quà quý giá nhất: một mái ấm bình an.
Bởi sau tất cả, điều con cái nhớ mãi không phải là cha mẹ đã kiếm được bao nhiêu tiền, mà là cha mẹ đã yêu thương và đối xử với nhau như thế nào.

Chinh Nguyen

21 NĂM ĐI QUA NỬA VÒNG TRÁI ĐẤT, EM VẪN ĐI TÌM MỘT BÓNG LƯNG NGƯỜI XA LẠ TRÊN CHUYẾN XE BUS NĂM ẤY...

​Chào mọi người, hôm nay em muốn kể lại một câu chuyện có thật của chính cuộc đời mình. Một câu chuyện đã trôi qua hơn 21 năm, nhưng mỗi khi nhớ lại, em vẫn nổi da gà vì xúc động và hai tai như vẫn còn nghe văng vẳng giọng nói ấm áp năm nào.

Năm đó là khoảng năm 2005, con trai em mới 3 tuổi. Ngày còn ở Việt Nam, cháu yếu ốm liên miên, cứ viêm họng, sốt cao là lại phải vào Bệnh viện Nhi đồng. Cái cảnh ẵm bồng con xếp hàng chen chúc giữa trời nắng sài Gòn, lòng dạ người làm mẹ lúc nào cũng như lửa đốt. Đến tận bây giờ, mỗi lần nghĩ lại chuỗi ngày vất vả đó, em vẫn thấy ngao ngán và sợ hãi.

​Em nhớ nhất một buổi chiều định mệnh, con lại lên cơn sốt hầm hập. Một nách hai tay, em vừa ôm chặt đứa con đang mệt lả vì bệnh, vừa xách nách mang một giỏ đồ nặng trĩu nào là quần áo, tã sữa của con để bước lên chuyến xe bus đông đúc, ngột ngạt tiến về phía bệnh viện Nhi đồng

Khi xe vừa chạy gần đến nơi, anh lơ xe hô to: "Ai xuống Bệnh viện Nhi đồng thì chuẩn bị bước lên trước, chuẩn bị xuống xe!"

​Lúc đó xe đông lắm, tròng trành dằn xóc. Em luống cuống, một tay bồng con, một tay gồng hết sức bình sinh xách giỏ đồ cồng kềnh, cố lách qua dòng người để tiến về phía cửa trước. Trong lòng em chỉ có một suy nghĩ duy nhất là làm sao giữ thăng bằng để bảo vệ con không bị va quệt vào ai.

​Ngay khoảnh khắc bế tắc đó, bất ngờ có một anh trai bước đến bên cạnh em cất giọng ân cần:

– "Mẹ con em xuống Bệnh viện Nhi đồng này à? Để anh giúp mẹ con em, vì bệnh viện ở bên kia đường."

Giữa cái nắng gắt và khói bụi hối hả của Sài Gòn, lời nói của anh giống như một chiếc phao cứu sinh xuất hiện đúng lúc. Nhìn dòng xe cộ cuồn cuộn qua lại như mắc cửi trước cổng viện, một mình em ôm con nhỏ thật sự không biết phải làm sao để băng qua. Anh nhìn em rồi bảo

"Đường xá đông đúc thế này rất nguy hiểm cho mẹ con em. Em cứ dịnh (vịn) vào vai anh, đưa cái giỏ xách tay anh cầm cho. Em ẵm cháu và đi theo anh qua bên đó. Xong rồi anh trở qua lại và đi chuyến tới, em cứ yên tâm lo cho cháu."

Em mừng rơi nước mắt. Anh ấy đã chấp nhận bỏ dở chuyến xe của mình, chấp nhận lỡ việc cá nhân chỉ để đứng ra làm lá chắn, che chở cho hai mẹ con người xa lạ qua đường. Suốt đoạn đường băng qua dòng xe cộ ấy, bờ vai của anh là điểm tựa vững chãi nhất giúp em bớt đi sự hoảng loạn.
.
​Qua đến cổng viện, vì con đang sốt cao, em chỉ kịp vội vã nói một lời cảm ơn, rồi ôm con chạy thẳng vào trong. Khi quay đầu lại, em chỉ còn kịp nhìn thấy bóng lưng anh bước đi xa dần, hòa vào dòng người hối hả ngược xuôi bên kia đường...

​Anh trai ơi, nếu anh có vô tình đọc được những dòng này.

Đã hơn 21 năm trôi qua rồi anh ạ. Hai mẹ con em sau đó đã sang Mỹ định cư tròn 20 năm. Điều kỳ diệu là từ ngày bước chân sang đây, con không còn bị viêm họng một lần nào nữa. Đứa trẻ hay đau ốm mà anh dắt qua đường năm ấy, giờ đã là một chàng thanh niên 23 tuổi cao lớn, khỏe mạnh và trưởng thành.

Thời gian quá dài, em không còn nhớ nổi gương mặt của anh ngày hôm đó, nhưng giọng nói ấm áp và bóng lưng chở che của anh thì em chưa từng quên một ngày nào. Em viết lên đây, từ phương trời Mỹ xa xôi, để gửi đến anh một lời cảm ơn sâu sắc nhất từ tận đáy lòng của một người mẹ. Em không biết anh giờ ở phương trời nào, cuộc sống ra sao, còn sống hay đã mất... nhưng em luôn cầu nguyện cho anh và gia đình luôn được bình an, gặp thật nhiều may mắn trong đời.

Em cũng muốn chia sẻ câu chuyện này đến tất cả mọi người. Cuộc sống này dù có hối hả, đôi khi khiến ta mệt mỏi, nhưng sự tử tế vẫn luôn tồn tại xung quanh chúng ta. Một việc làm tốt đẹp, dù là nhỏ bé và vô tư của một người lạ qua đường, cũng có sức mạnh sưởi ấm và đi theo cuộc đời một con người suốt hơn hai mươi năm. Xin hãy cùng em lan tỏa sự tử tế này nhé!

TRANG HUỲNH

Friday, June 26, 2026

Sự trưởng thành của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại vùng Paris

Hơn 50 năm kể từ ngày mất nước cũng là hơn 50 năm cộng đồng người Việt Nam tự do, không cộng sản tại các quốc gia phương Tây từng bước lớn mạnh và trưởng thành.

Anh Pa xin mạn phép chia sẻ đôi nét về quá trình trưởng thành của cộng đồng cờ vàng tại vùng Paris – một trong những nơi tập trung đông đảo người Việt tỵ nạn, bên cạnh Hoa Kỳ và Úc, ba quốc gia được nhiều người Việt chọn làm quê hương thứ hai.

Người Việt tại Đức cũng rất đông, tuy nhiên hoàn cảnh lịch sử có phần khác biệt. Một bộ phận lớn có nguồn gốc từ các chương trình lao động thời Đông Đức, cùng với những làn sóng di dân đến sau này dưới nhiều hình thức khác nhau.

Trở lại với cộng đồng người Việt tự do tại Pháp. Trong giai đoạn đầu từ 1975 đến khoảng 1980, cộng đồng rất năng động, nhiệt huyết, đôi khi khá quyết liệt trong các hoạt động đấu tranh. Những cuộc đối đầu với phía cờ đỏ diễn ra thường xuyên, trong bối cảnh nhiều người bên kia vẫn còn mang tâm lý tự hào sau chiến thắng năm 1975.

Thời kỳ đó, anh Trần Văn Bá đã kêu gọi đồng bào trở về quê hương tiếp tục con đường đấu tranh. Anh đã lên đường và sau này trở thành một biểu tượng của tinh thần yêu nước và chống cộng sản.

Riêng tôi vẫn còn nhớ một người bạn lai Pháp da đen đã bị những phần tử quá khích thuộc phía cờ đỏ đâm chết tại khu Maubert-Mutualité vào năm 1978. Đó là một ký ức đau buồn mà nhiều người trong thế hệ chúng tôi không thể quên.

Sau năm 1980, cộng đồng bước sang một giai đoạn mới: ổn định cuộc sống trên đất Pháp. Mọi người tập trung vào việc học hành, làm việc, lập gia đình, nuôi dạy con cái và xây dựng tương lai. Nhiều thập niên trôi qua, cộng đồng chủ yếu giữ gìn ngọn lửa ký ức và bản sắc của mình.

Sau sự kiện kỷ niệm 70 năm lá cờ vàng vào năm 2018, cộng đồng bắt đầu có xu hướng gắn kết trở lại, nhìn lại chặng đường đã qua, cùng nhau khẳng định và tôn vinh những giá trị mà lá cờ vàng tượng trưng. 

Rồi đến lễ kỷ niệm 50 năm ngày mất nước 2025 cùng với sự ra đời của vài hội đoàn trẻ, quyết liệt như hội VINH DANH CỜ VÀNG ÂU CHÂU đưa đến việc kiện Mairie de Montreuil ra tòa để đòi tháo gỡ di dời tượng bán thân Hồ Chí Minh.

Tuy vậy, nhiều người cũng nhận ra một thực tế rằng có không ít anh em từng đồng hành trong quá khứ nay đã thay đổi lập trường, hoặc chọn cách né tránh các sinh hoạt liên quan đến lá cờ vàng dưới danh nghĩa “không làm chính trị”.

Hiện tượng này cũng xuất hiện trong một số tổ chức tôn giáo được xây dựng bằng công sức, tiền bạc và mồ hôi của nhiều thế hệ người Việt tỵ nạn cộng sản. Đây là một vấn đề khiến không ít người trong cộng đồng trăn trở và suy nghĩ.

Giáo xứ Paris thuộc dạng anti-cờ vàng khá nặng ky'...chỉ thua đại sứ quán cộng sản một tí tẹo thôi.

Đối với các chùa chiền, tình hình cũng khá đa dạng và không khá hơn, không phải vì việc chăm lo tu hành không màng đến chuyện thế tục mà là vì chăm chăm lo chuyện hằng năm các vị chạy về bển với nhiều lý do khác nhau. Riêng chùa Khánh Anh, dưới sự hướng dẫn của Thầy Minh Tâm và sau này là Thầy Quảng Đạo, trong nhiều thập niên qua vẫn luôn duy trì sự gắn bó với cộng đồng người Việt tự do và các sinh hoạt của cộng đồng cờ vàng.

Trước đây, khi sinh hoạt tại Phật Học Viện Linh Sơn ở Vitry-sur-Seine, tôi nhận thấy dù nơi đây chưa chính thức treo cờ vàng, nhưng trong các chương trình văn nghệ của cộng đồng, hình ảnh lá cờ vẫn hiện diện. Điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng, bởi áp lực đến từ nhiều phía: từ giới tu hành, giới văn nghệ sĩ thường xuyên về Việt Nam biểu diễn hay những người muốn tránh các tranh luận chính trị. Nói ngắn gọn, nhiều người vẫn còn e ngại.

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần đủ can đảm để gìn giữ linh hồn và bản sắc của cộng đồng mình. Dù mỗi người có thể có những quan điểm khác nhau, nhưng nếu muốn những giá trị mà cộng đồng người Việt tự do đã xây dựng suốt nửa thế kỷ qua tiếp tục tồn tại trong 50 năm tới, chúng ta cần biết trân trọng lịch sử, bảo vệ di sản tinh thần của mình và truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Anh Pa nó

LƯƠNG HƯU CỦA MẸ VÀ CHUYỆN TRONG MỖI NHÀ

Bà mẹ có khoản lương hưu dăm triệu hằng tháng. Tuổi già khiến bà không còn đủ sức tự chăm sóc bản thân. Từ chuyện cơm nước, thuốc men đến việc đi lại, khám chữa bệnh đều cần có người hỗ trợ. Người con trai cả đứng ra gánh vác toàn bộ trách nhiệm ấy. Anh lo việc ăn uống, thuốc men, thuê người giúp việc chăm sóc và thu xếp mọi việc khi mẹ đau yếu phải vào viện điều trị…

Người con trai thứ tư của bà lại không may bị suy thận độ 5. Đây là căn bệnh hiểm nghèo, đòi hỏi chi phí điều trị rất lớn và kéo dài. Thấy con trai đau đớn vì bệnh tật, người mẹ thương con đến quặn lòng. Bà quyết định đưa toàn bộ lương hưu của mình cho gia đình con thứ. Đến đây, có lẽ nhiều người sẽ cảm động trước tấm lòng của bà mẹ. Trước nỗi đau của con, mẹ chỉ nghĩ rằng con nào khổ hơn thì cần được giúp đỡ nhiều hơn. Đó là suy nghĩ rất tự nhiên với nhiều phụ nữ Việt…

Nhưng nhìn sâu hơn sẽ thấy, mọi việc chăm sóc mẹ, từ nhiều năm nay đều do người con trai cả gánh; tiền hưu của bà lại chuyển sang hỗ trợ người em. Thêm nữa, người anh vẫn hỗ trợ tiền thuốc men và sinh hoạt hằng tháng cho em mình. Nhiều người khi nghe đến đây có lẽ sẽ chợt băn khoăn: Tại sao tiền lương hưu của mẹ lại không được ưu tiên sử dụng cho chính nhu cầu thiết yếu của chính bà? Chỉ sau khi các nhu cầu đó được bảo đảm thì phần còn dư mới nên được dùng để hỗ trợ cho con khác…

Nếu là người mẹ trong câu chuyện này, có lẽ tôi sẽ lựa chọn một cách khác. Tôi sẽ giao toàn bộ khoản lương hưu hằng tháng cho người con cả, người đang trực tiếp gánh vác việc chăm sóc mẹ. Đồng thời, sẽ nói rõ với anh rằng: "Mẹ gửi con khoản tiền này để lo cho mẹ, nhưng nếu còn khả năng thì con hãy thay mẹ quan tâm và giúp đỡ em nhiều nhất có thể. Nó đang mang bệnh nặng, rất cần sự đùm bọc của con và anh em trong gia đình."…

Tôi nghĩ đó không chỉ là cách quản lý nguồn tiền hợp lý hơn mà còn là cách quản lý tình cảm gia đình khôn ngoan. Khi được mẹ giao phó, người con cả sẽ cảm nhận được sự ghi nhận của mẹ đối với nỗi vất vả và trách nhiệm anh đang gánh. Anh không còn cảm giác mình chỉ có nghĩa vụ mà không được thấu hiểu. Đồng thời, người em vẫn nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ người anh đang giữ vai trò trụ cột cả gia đình…

Quan trọng hơn, cách làm ấy giúp gắn kết các con bà với nhau. Người anh sẽ coi việc giúp đỡ em là thực hiện tâm nguyện của mẹ. Người em cũng hiểu rằng sự hỗ trợ mình nhận được đến từ tình thương của cả mẹ lẫn anh trai. Khi người mẹ đặt niềm tin vào người con cả, đồng tiền ấy không chỉ mang giá trị vật chất. Nó còn mang theo sự ghi nhận, sự gửi gắm và trách nhiệm yêu thương giữa anh em trong gia đình…

Tôi cho rằng, tài sản lớn nhất của cha mẹ không phải là mảnh đất, ngôi nhà và đồng lương hưu hằng tháng mà là khả năng gắn kết tình thân, tình cảm yêu thương và nương tựa vào nhau giữa các con, ngay cả sau khi cha mẹ họ không còn nữa. Một người mẹ sáng suốt không chỉ nghĩ đến việc giúp ai nhiều hơn hôm nay mà còn nghĩ đến việc làm thế nào để ngày mai các con vẫn còn muốn ngồi chung một mâm cơm và vẫn còn xem nhau là anh em ruột thịt. Đó mới là giá trị lâu bền nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con cháu…

Nhưng trong nhiều gia đình, nhiều bậc cha mẹ chỉ nhìn thấy nỗi khổ của người con đang cần nhận trợ giúp mà quên mất những áp lực của người con đang phải gánh trách nhiệm. Người con cả có thể không bệnh tật, không nghèo khó, nhưng cũng có gia đình riêng, có con cái phải nuôi dưỡng, có những lo toan không ai biết. Sự mạnh mẽ bên ngoài không có nghĩa là anh không cần được thấu hiểu và chia sẻ…

Người con cả vẫn đều đặn chăm sóc mẹ hằng ngày; vẫn đưa mẹ đi bệnh viện khi bà mệt. Vẫn tự chi trả những hóa đơn viện phí mà không một lần nhắc đến tiền bạc với các em. Nhưng trong những đêm mất ngủ vì lo cho mẹ, đôi khi anh cũng mong nhận được một câu nói giản dị: "Mẹ biết con đã vất vả vì bố mẹ và các em."…

Có một nghịch lý rất thường gặp trong nhiều gia đình. Cha mẹ luôn sợ làm tổn thương đứa con yếu thế nên tìm mọi cách bù đắp cho nó. Đứa con nghèo và bệnh tật thường được ưu tiên nhiều hơn. Đứa con gặp khó khăn hơn được dành cho nhiều sự quan tâm hơn. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu, bởi đó là bản năng của tình mẫu tử, phụ tử. Nhưng trong lúc cố gắng xoa dịu nỗi đau của người con này, đôi khi cha mẹ lại vô tình quên mất cảm xúc của đứa con khác…

Người mạnh mẽ nhất không phải lúc nào cũng là người không biết đau. Người thành đạt nhất không phải lúc nào cũng là người không cần được yêu thương. Nhiều người con quen gánh vác trách nhiệm từ khi còn rất trẻ nên ít khi than phiền. Họ âm thầm lo cho cha mẹ, âm thầm giúp đỡ anh em và âm thầm chấp nhận phần thiệt về mình. Điều họ mong mỏi không phải là tiền bạc hay sự đền đáp, mà chỉ là một lời ghi nhận công bằng từ chính những người thân yêu của mình…

Một quyết định hợp lý, hợp tình có thể giữ gìn tình cảm gia đình qua nhiều thế hệ. Ngược lại, một sự thiên lệch kéo dài có thể để lại những vết gợn khó xóa trong lòng con cái ngay cả khi cha mẹ đang sống. Bởi vậy, thương con là điều rất đáng quý, nhưng tình thương cũng cần đi cùng sự sáng suốt. 

Hỗ trợ người con này gặp khó khăn là việc nên làm, nhưng không nên bằng cách chuyển toàn bộ gánh nặng sang vai người con khác. Khi tình cảm và lý trí biết đồng hành cùng nhau, gia đình mới có thể giữ được sự ấm áp mà vẫn bảo đảm sự công bằng. Và đôi khi, chính sự công bằng ấy mới là biểu hiện cao nhất của tình yêu thương.

Thanh Long Cao
BANGKOK và 7 ĐIỀU KỲ CỤC…

Thái Lan có nhiều cái rất kỳ cục, chẳng giống Việt Nam chút nào.

- Điều kỳ cục đầu tiên

Mấy năm trước tôi thấy diễn ra tại Bangkok là chợ phiên gần nơi vợ chồng tôi tạm trú. Đây là cái chợ bình dân, chỉ họp chợ vào cuối tuần. Lúc 6 giờ chiều, loa phóng thanh phát quốc thiều Thái thì toàn bộ người trong chợ đều đứng nghiêm chào cờ, người đi bộ trên đường cũng vậy. Từ chị bán cá, anh hàng thịt, chú xe ôm, anh lính, người đi chợ hay thanh niên nam nữ, ông già bà lão đang đi trên đường đều đứng lại, nghiêm chỉnh chào cờ! Người dân Thái chào cờ khắp mọi nơi, trong rạp hát, công viên và những nơi công cộng khác cũng vậy…

- Điều kỳ cục thứ hai là chẳng thấy chú công an nào đứng chốt ở các ngã tư đường, chẳng có anh hùng núp bắn tốc độ. Xe cộ lưu thông trên đường với tốc độ cao, xe buýt trong nội thành phi 60 -80 km/giờ, tất cả đều có vẻ hối hả nhưng hiếm khi nào tôi nghe được tiếng còi xe. Còn tai nạn giao thông thì mấy năm nay tôi chưa từng chứng kiến, dù một vụ va quẹt nhỏ. (Người Thái nói rằng có đụng xe, nhưng ở đâu đó ở ngoại thành, nhiều sinh viên Việt Nam sống ở Bangkok một thời gian dài vẫn chưa từng thấy cảnh đụng xe giống như tôi vậy).

- Điều kỳ cục thứ ba là đôi khi leo nhầm lên chiếc xe buýt nào đó, ngồi chờ hoài tôi chẳng thấy ai buồn đến thu tiền xe, dù có lúc tôi đi chuyến dài từ 30 phút trở lên. Đôi khi tôi đi chuyến xe buýt đông nghẹt, người đứng chật như nêm và nhân viên bán vé có lẽ do mệt (hay vì bán vé quá nhiều) nên chẳng thèm len tới chỗ tôi đứng để lấy tiền vé, cho dù tôi cố gắng ra hiệu, sợ rằng tới chỗ xuống mà chưa kịp trả tiền. Họ chỉ nhìn tôi mỉm cười, khoát tay ra hiệu đi đi, khỏi phải trả tiền.

- Điều kỳ cục thứ tư là mỗi khi thấy tôi hay những người khác muốn đi bộ băng qua đường, tất cả xe lớn xe nhỏ đều ngừng lại nhường đường, cho dù phải đùn ngang đùn dọc vài chục giây.

- Điều kỳ cục thứ năm là vào siêu thị tôi chẳng thấy khu vực gởi tạm hành lý, đành phải đeo ba lô, túi xách đi lung tung khắp nơi chọn hàng, chẳng thấy nhân viên chặn xét giỏ hay đứng một góc, quăng cái nhìn cú vọ theo dõi khách đi mua hàng.

- Điều kỳ cục thứ sáu là nhiều gian hàng chất đầy hàng hóa, bày bán cạnh đường đi mà chỉ có một người trông coi, bán hàng. Nói thật, hàng hóa để như thế, nếu nhám tay thì chôm chỉa rất dễ dàng, người chủ không hề hay biết.

- Điều kỳ cục thứ bảy là đi xe ôm, xe đò đôi khi cũng phải đứng xếp một hàng dài. Làm cái gì cũng phải đứng xếp hàng, thậm chí đi toa-lét công cộng cũng phải… xếp hàng!

Ôi thôi, Thái Lan còn nhiều cái kỳ cục lắm, chẳng giống Việt Nam chút nào...!!!

VƯƠNG TRUNG HIẾU.



Blog Archive