Sunday, May 17, 2026

ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG? 

Nguyễn Hạnh

Tại TP. Sài Gòn, không xa dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền. Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ  “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô. Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản. Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra. Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào:

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí. Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn. Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa. Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại cải tạo trên khắp đất nước…

Nguyễn Hạnh


TAÌ SAO DEREK TRẦN LẠI BIẾN PHIÊN ĐIỀU TRẦN CỦA QUYỀN TRƯỞNG HQ HÙNG CAO THÀNH CUỘC VẬN ĐỘNG PHIẾU?




Saturday, May 16, 2026

Cô Natalie Harp là ai?

Trong vài ba ngày nay trong chuyến đi Trung Cộng, báo chí luôn nhắc đến một người phụ nữ tóc vàng, Cô Natalie Harp, một tùy viên được cho là rất thân cận với ông Trump. Cô hầu như kề cận 24/24 với ông Trump vì cô là người viết tất cả các post của ông Trump trên mạng Truth. Từ đó bọn láo chí xấu miệng thêu dệt chuyện tình ái của cô với ông Trump.

Cô Natalie Harp là ai? Trở về nhiều năm trước để biết. Cô Natalie Harp xem ông Trump như một người cha, người đã cứu mạng cô khi ông ký lệnh"Right to Try" trong nhiệm kỳ thứ nhất, tức là người sắp chết có thể xin được dùng thuốc đang trong thời kỳ thí nghiệm.

Nghe chuyện cô nói phía dưới: Natalie Harp bị ung thư xương với những đau đớn không thể tưởng. Cô được cung cấp thuốc phiện, cần sa để chống cơn đau và cô cũng được thông báo cô có quyền xin được chết theo luật" Right to Die ". 

Nhưng Khi tổng thống Trump ký luật "Right to Try" tức là luật trước khi chết có thể xin dùng thuốc đang trong thời kỳ thí nghiệm. Cô xin dùng thuốc và khoẻ mạnh lại. Cô cám ơn Tổng thống Trump đã cứu mạng cô. Cô nói cô đã bị bỏ lại bên đường để chết, cho đến khi cô gặp Tổng thống Trump kéo cô lên. 

( Nếu không có luật này thì 5-10 năm sau thuốc mới được chấp thuận cho sử dụng )






THÓI VÔ CẢM

Thái độ vô cảm là do một nếp suy nghĩ, nếp sống mà đảng Cộng Sản vẫn dạy dỗ đảng viên, tuyên truyền với mọi người hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phong trào Cộng Sản là chiếm chính quyền để thay đổi loài người theo lối sống mới mà chúng tưởng tượng ra tuy chưa biết nó sẽ thế nào. Chúng bất chấp đạo nghĩa, nhất là thứ đạo nghĩa của “loài người cũ.” Chúng cổ động một nền văn hóa đề cao “bạo lực cách mạng,” dập tắt những ngọn lửa lương tâm le lói trong lòng mỗi con người.

Một biểu hiện của thứ văn hóa vô cảm đó mới được đưa lên mạng, là bức hình một cái búa. Cái búa này được đặt lên bệ một cách long trọng trong tủ kính, cái tủ lót khăn đỏ trưng bày trong một viện bảo tàng ở Việt Nam. Trước cái hộp kính là những hàng chữ lớn: BÚA, viết hoa, xuống dòng. Hai hàng dưới viết: “Ðồng chí Nguyễn Văn Thắng, huyện đội phó huyện Mỏ Cày (Bến Tre) dùng bổ chết 10 tên ác ôn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”

Dưới mấy hàng trên còn những dòng chữ dịch sang tiếng Mỹ: “HAMMER. WITH THIS, CAMARADE NGUYEN VAN THANG, DEPUTY CHIEF OF MO CAY MILITARY DISTRIS, BEN TRE PROVINCE, KILLED TO DEATTS A TOTAL OF 10 LOCAL TYRANTS” (dẫn nguyên văn, cả văn phạm và chính tả). Bản tiếng Anh nói rõ “local tyrants,” tức là “ác ôn địa phương;” nhưng không thấy những chữ “chống Mỹ cứu nước.”

Chuyện đồng chí Nguyễn Văn Thắng có thực sự búa chết 10 tên “ác ôn” hay không thì không thể có cách nào kiểm chứng để biết thực hư. Nhưng cần gì chi tiết đúng hay sai cho mệt, cứ dựng đứng lên rồi nhắc đi nhắc lại một hồi là thành “sự thật” như chuyện Lê Văn Tám, một anh hùng tí hon, sản phẩm hoàn toàn bịa đặt của Trần Huy Liệu mà sử gia Phan Huy Lê được chính Trần Huy Liệu nhờ cải chính, hay chuyện 16 tấn vàng và Tổng Thống Thiệu, cũng do chính tên tướng Việt Cộng Văn Tiến Dũng ngang nhiên viết trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân dựng lên để vu cáo ông Thiệu chẳng hạn.

Chi tiết đáng nói hơn ở đây là mức độ dốt nát của viện bảo tàng Quân Đội Việt Nam. Trong có hai hàng chữ tiếng Anh, người ta tìm được 3 lỗi chính tả, và 1 lỗi về cách dùng chữ.

CAMARADE là tiếng Pháp, không phải là tiếng Anh. Danh từ đồng chí trong tiếng Anh là COMRADE.
DISTRIS là sai chính tả. Phải viết là DISTRICT mới đúng.
DEATTS không có trong tiếng Anh. Phải viết là DEATH. Nhóm chữ KILLED TO DEATTS là sai hoàn toàn. Đã KILLED thì phải chết, nói KILLED TO DEATTS là không đúng. Vì thế, dẫu cho có sửa DEATTS thành DEATHS để viết KILLED TO DEATHS thì cũng vẫn sai. Viết BEATEN TO DEATH thì mới đúng. Có 10 người bị đánh chết thì vẫn là 10 PEOPLE WERE BEATEN TO DEATH, không bao giờ là DEATHS, cho dù có sửa lại chữ DEATHS cho đúng chính tả.

Thông thường thì nếu nó lú thì chú nó khôn. Nhưng ở cái viện bảo tàng Quân Đội Việt Nam ấy hình như không có một thằng chú nào hết, hay nếu có thì cũng dốt hệt như mấy đứa cháu lú đó thì phải. Chắc cũng đã phải có nhiều “lượt người” đến coi cái búa bầy trong lồng kính, đọc mấy dòng chữ ngu xuẩn đó rồi. Nhưng không thấy ma nào nhận ra những cái lỗi tày đình đó để đóng cửa lại dậy nhau cho đỡ dốt.

Thế nên cái dốt vẫn chính ình nằm đó, trơ gan cùng tuế nguyệt, không ai biết từ bao nhiêu năm nay, cho đến khi cái búa và thành tích tưởng tượng của quân đội được đưa lên báo với những lỗi chính tả và cách dùng chữ tầm bậy như người đọc ai cũng thấy.

Một người dùng búa giết 10 mạng, chắc không giết cùng một lúc, như trong một trận đánh, hai bên bắn giết nhau. Anh ta phải giết lần lượt từng người một, chứ giết hai người một lần đã khó rồi. Chỉ có cái búa mà giết 10 người, chắc anh ta phải tính toán hành động bằng cách đánh lén, đánh ban đêm, giết người xong còn chạy thoát. Cần nhất, không ai nhìn thấy, không ai biết; vì nếu bị lộ sẽ khó trở lại giết những người khác. Hoặc anh ta đã dúng búa ấy đập chết 10 tù binh "ác ôn", điều này có lẽ là hợp lý nhất. Những nạn nhân của anh ta là ai? Là những người hàng xóm, những người chắc anh ta vẫn gặp gỡ hàng ngày. Vậy thì lại lòi ra thêm một cái dốt khác là khoe khoang thành tích "khủng bố" và là một tội ác chiến tranh!

Giết người bằng phương pháp lạnh lùng như vậy, phải được huấn luyện tinh thần tuyệt đối vô cảm. Anh huyện đội phó này đáng được gọi là Mười Búa, cao hơn tên Sáu Búa của Lê Ðức Thọ. Anh Mười Búa đã giết người chỉ bằng cái búa. Còn Sáu Búa có thể giết người bằng lời nói. Sau khi chiếm được miền Nam, Lê Ðức Thọ họp các đồng chí cộng sản của mình, những người đã từng bị bên Việt Nam Cộng Hòa bắt giam trong thời gian chiến tranh; có người đã vượt ngục nhiều lần, bị bắt, rồi lại vượt ngục. Sáu Búa gặp đám quân của mình, những cựu tù nhân đang chờ nghe lãnh tụ khen ngợi lòng cam đảm và tài chịu đòn trong hàng chục năm bị bắt giữ. Nhưng Sáu Búa chỉ tuyên bố: “Các đồng chí đều có vấn đề!” Có vấn đề, trong ngôn ngữ cộng sản, nghĩa là bị nghi ngờ, không đáng tin cậy nữa! Một câu nói đổ thùng nước lạnh lên những niềm hy vọng của các cựu tù nhân. Một thái độ tuyệt đối vô cảm.

Chiến tranh là một điều bất đắc dĩ. Trong thời chiến tranh con người thành méo mó, tàn nhẫn, có thể biến thành vô cảm. Nhưng 40 năm sau khi chiến tranh chấm dứt mà còn đem trưng bày “Ðức Vô Cảm” trong hành động dùng búa đập chết 10 đồng bào của mình, thì điều này mới thật ghê rợn! Thử nghĩ đến những em nhỏ sinh ra không biết chiến tranh thế nào, khi vào cái viện bảo tàng này, nhìn thấy cái búa dính máu đó. Các em sẽ cảm nghĩ những gì? Con cháu của cái anh huyện đội phó này có muốn nhìn thành tích của cha, ông họ hay không? Trưng bày một khí cụ giết người không ghê tay, thái độ vô cảm đã ăn sâu vào cốt tủy!

Nhưng những người vô cảm thường không quan tâm đến chuyện giáo dục trẻ em. Ðối với đám trẻ con đó, cứ cho chúng leo dây qua sông đi học, cứ để bố con chúng chui bao ni lông mà lội qua sông cũng được. Chúng đói hay no, quần áo lành hay rách, đến trường có học được cái gì không, “lãnh đạo” còn lo toan những “vấn đề vĩ mô” không có thời giờ biết tới.

Cho nên mới có cái cảnh những trường tiểu học không có nhà vệ sinh. Trường Lộc Bảo (huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng), với hơn 200 học sinh là một thí dụ. Suốt bao năm qua học sinh và các thầy cô trường Lộc Bảo phải tự lo lấy. “Tới giờ ra chơi nữ sinh phải chạy ra gần suối, nam sinh thì ra phía đồi cỏ, còn thầy cô phải xách xe chạy về nhà, cách trường ba cây số. Vì nhà dân chúng chung quanh cũng không ai có nhà vệ sinh để nhờ.”

Phải nói, nước Việt Nam do một đám người hoàn toàn vô cảm cai trị từ trên xuống dưới. Mắt vô cảm, tai vô cảm, cái mũi cũng vô cảm. Tấm lòng thì đã hoàn toàn vô cảm từ lâu rồi! Những ông bà lãnh đạo Chữ Thập Ðỏ, những người phụ trách tang lễ, cho tới các ông bà hiệu trưởng cũng chỉ là nạn nhân của một nền văn hóa vô cảm do đảng Cộng Sản gieo rắc hơn nửa thế kỷ nay.

Ph Ng



THÀNH PHỐ BUỒN VÀ MỘT NGƯỜI TÔI THƯƠNG

Có những bài hát không chỉ để nghe.
Mà để nhớ.
Với tôi, đó là bài Thành Phố Buồn.

Mỗi lần tiếng nhạc cất lên:
“Thành phố nào nhớ không em…
Nơi chúng mình tìm phút êm đềm…”
là tôi lại thấy mình của những năm mười bảy tuổi, áo len mỏng đứng trước cổng trường Trung học Bùi Thị Xuân, nhìn anh đạp xe từ con dốc bên kia đi xuống.

Đà Lạt ngày đó nhỏ lắm. Nhỏ đến mức chỉ cần vô tình đi quanh Hồ Xuân Hương vài vòng là có thể gặp nhau. Nhỏ đến mức một ánh mắt trong sương chiều cũng đủ làm người ta nhớ cả đời.

Anh học giỏi, hiền và ít nói. Còn tôi thì hay cười. Hai đứa thường đi bộ qua những con dốc quanh co đường Phù Đổng Thiên Vương, Bùi Thị Xuân, rồi vòng qua khu Hòa Bình, ghé trước Rạp Cine Ngọc Lan đứng nhìn mưa bay qua phố.

Đà Lạt ngày ấy buồn thật. Nhưng cái buồn rất đẹp.
Buồn như hàng thông đứng im trong sương.
Buồn như mái nhà gỗ lợp tôn nằm nép bên biệt thự Pháp cũ.
Buồn như tiếng chuông nhà thờ Con Gà ngân lên mỗi chiều xuống.
Có những sáng chủ nhật, chúng tôi ngồi bên nhau thật lâu mà không nói gì. Chỉ nghe gió lạnh lùa qua vai áo. Tôi còn nhớ bàn tay anh lúc nào cũng lạnh. Anh nói sau này sẽ vào đại học ở Sài Gòn. Còn tôi cúi đầu im lặng.

Hồi trẻ, người ta cứ nghĩ yêu là sẽ ở bên nhau mãi mãi.
Nhưng rồi cuộc sống, gia đình… mọi thứ cuốn hai đứa về hai hướng khác nhau.
Anh vào đại học.
Còn tôi đi lấy chồng.

Ngày cưới, trời Đà Lạt có mưa. Tôi ngồi trong phòng nghe ai mở bài “Thành Phố Buồn” từ quán cà phê dưới dốc. Đến câu:
“Rồi từ đó trốn phong ba em làm dâu nhà người…”
tôi bật khóc.
Khóc đến nghẹn lòng.
Bởi có những nỗi buồn không cần gào thét. Chỉ cần nghe đúng một bài hát, là cả tuổi xuân trở về.

Nhiều năm sau, ở bên nhà chồng, tôi vẫn không dám nghe lại bài hát ấy. Mỗi lần tiếng hát vang lên, tôi lại thấy hiện ra con dốc cũ, hàng thông cũ, chiếc áo len màu khói sương của anh đứng chờ trước cổng trường năm nào.

Nhưng Đà Lạt bây giờ đã khác rồi.
Những hàng thông bị đốn bỏ. Những biệt thự Pháp xưa biến mất. Những căn nhà gỗ nép mình trong sương được thay bằng bê tông cao tầng và những màu sơn lòe loẹt.

Từ Ngã Năm Đại Học chạy về các con đường xưa, tôi gần như không còn nhận ra nữa. Võ Tánh, Hàm Nghi, Lê Đại Hành… tất cả đổi thay đến đau lòng.

Mấy hôm nay, mạng xã hội đầy hình ảnh Đà Lạt ngập nước như một thành phố xa lạ nào đó. Tôi nhìn mà nghe buồn cả buổi chiều.

Đà Lạt ngày xưa đâu có vậy.
Ngày xưa, chỉ cần bước ra ngoài vào một buổi sáng mù sương là đã thấy cả thế giới như đang trôi trong mây. Người ta có thể đi hết một vòng hồ chỉ để nhìn mặt nước mờ hơi lạnh, nhìn Thủy Tạ lặng im trong chiều tím, rồi mang về một nỗi nhớ rất nhỏ mà rất dài.

Bây giờ tôi mới hiểu.
Thứ mất đi không chỉ là rừng thông hay biệt thự cũ.
Mà là linh hồn của một thành phố.
Và có lẽ… cũng là tuổi trẻ của tôi.

Nhiều năm rồi, tôi không còn gặp lại anh. Có thể anh đã quên tôi. Có thể anh cũng như tôi, mỗi lần nghe bài hát “Thành Phố Buồn” thì lặng đi một lúc.
Chỉ có điều, anh còn giữ được Đà Lạt trong ký ức. Còn tôi, tôi đã đánh rơi Đà Lạt ở một chiều mưa nào đó — ngay giữa câu hát:
Tiễn đưa người quên núi đồi… quên cả tình yêu…”

Bây giờ, mỗi lần nghe lại bài hát ấy, tôi không còn biết mình đang nhớ anh, nhớ tuổi trẻ hay nhớ một Đà Lạt năm xưa.
Chỉ biết rằng có những thành phố khi rời xa, người ta vẫn còn có thể quay về.
Nhưng cũng có những thành phố chỉ còn tồn tại trong ký ức — nơi một hàng thông cũ, một con dốc mờ sương và một người mình từng thương.
Để rồi đến cuối cùng, điều làm người ta đau nhất không phải là mất một cuộc tình.
Mà là một ngày chợt nhận ra —
cả người mình yêu, lẫn thành phố mình yêu… đều không còn nữa.
Và rồi tôi hiểu ra rằng, có những điều trong đời không mất đi vì thời gian — mà mất đi vì con người ta không còn giữ được nguyên vẹn trái tim của ngày cũ.

Tuổi trẻ tựa như sương mai trên đồi thông Đà Lạt. Đẹp đến nao lòng, nhưng chỉ cần mặt trời lên cao một chút là tan biến. Người ta cứ nghĩ mình còn rất nhiều thời gian để yêu thương, để chờ đợi, để quay về. Cho đến một ngày ngoảnh lại mới biết mọi con đường xưa đều đã đổi khác.
Có những cuộc tình không cần một lời chia tay vẫn kết thúc suốt cả một đời người.
Và có những thành phố, càng lớn lên, càng hiện đại… thì ký ức của người cũ lại càng không có chỗ để quay về.

Có lẽ vì vậy mà bài hát “Thành Phố Buồn” vẫn còn sống mãi.
Không chỉ vì giai điệu buồn.
Mà vì trong bài hát ấy, ai cũng nhìn thấy một phần tuổi trẻ của mình — một người từng thương, một nơi từng nhớ, và một quãng đời tưởng đã quên nhưng thật ra vẫn còn mãi trong tim.

Lê Văn Thông


Nếu bạn đang mang trong lòng giấc mơ bỏ phố về Đà Lạt...

Mình không nói “bỏ phố về quê”, vì mỗi vùng đất sẽ có một nhịp sống khác nhau, và mình chưa đủ trải nghiệm để nói thay tất cả. Mình chỉ muốn kể thật về Đà Lạt …. nơi mình đã sống và làm việc suốt 5 năm qua, ( mình làm f&b, farm) với đủ những ngày nắng đẹp, mộng mơ… và cả những ngày chông chênh đến nghẹt thở.

Rất nhiều người nhìn Đà Lạt qua những video mình đăng vài phút một căn nhà gỗ nhỏ, ly cà phê nóng, buổi sáng có sương, chiều mưa lất phất, tối đốt lò sưởi.

Nhưng cuộc sống thật thì dài hơn một chiếc reel rất nhiều.

Nếu bạn đang có ý định về đây sống, hãy chuẩn bị tinh thần cho những điều này:

1. Thu nhập ở Đà Lạt khắc nghiệt hơn bạn tưởng.

Đà Lạt đẹp thật, nhưng để sống được ở đây không hề dễ.
Đây không phải nơi cứ mở quán là đông khách, cứ làm homestay là kín phòng, cứ trồng cây là có lời. Mình đã chứng kiến các bạn trẻ hoạc các nhà đầu tư lớn mở rồi lại đóng, rất nhanh chóng.

Chi phí vận hành ở Đà Lạt những năm gần đây tăng rất nhanh:

- Tiền đất tăng
- Nhân công tăng
- Vật liệu tăng
- Chi phí vận chuyển cao
- Mùa thấp điểm kéo dài

Có những tháng khách du lịch rất đông, nhưng cũng có những tháng vắng đến mức quán mở cả ngày chỉ vài bàn khách.

Nhiều người mang hết tiền tích góp về Đà Lạt mở quán cà phê vì nghĩ nơi này “dễ làm du lịch”, nhưng thực tế cạnh tranh cực kỳ khốc liệt.

Mỗi tuần đều có quán mới mở.
Mỗi tháng lại có một nơi đẹp hơn, đầu tư mạnh hơn, truyền thông tốt hơn.
Ở đây, nếu không có nội lực tài chính đủ lâu, bạn rất dễ kiệt sức trước khi kịp ổn định.

2. Mua đất ở Đà Lạt rất dễ mắc sai lầm và mông lung.

Đây là điều mình thấy nhiều người chủ quan nhất.
Một mảnh đất nhìn bằng cảm xúc rất khác với việc sống thật trên đó.
Bạn thấy một quả đồi đẹp, view thông, sáng có mây… nhưng có thể:

- Mùa mưa đường sạt lở
- Xe không lên được
- Điện yếu
- Nước thiếu
- Không xin được giấy phép
- Quy hoạch treo
- Pháp lý không rõ ràng mông lung

Mình biết có những người mua đất chỉ sau vài lần lên chơi cuối tuần. Nhưng cuộc sống thật không giống cảm giác đi nghỉ dưỡng. Và họ cứ để đó, muốn sang nhượng cũng khó khăn vì sổ sách không rõ ràng và vị trí heo hút.

Cẩn thận chỉ cần chọn sai vị trí, bạn có thể mất rất nhiều năm để sửa sai. Mà đôi khi, sửa cũng không được.

3. Thời tiết thì chill… nhưng cũng rất khắc nghiệt.

Người ta thường yêu Đà Lạt vì lạnh.
Nhưng khi sống lâu, bạn sẽ hiểu cái lạnh không chỉ là cảm giác lãng mạn.
Mùa mưa ở đây có thể kéo dài hàng tháng.
Mưa liên tục khiến:
- Tường ẩm
- Đồ đạc mốc
- Chăn ga không khô
- Cây chết
- Công trình xuống cấp
- Tinh thần cũng dễ tụt theo thời tiết

Những ngày mưa dài, bầu trời xám liên tục, nếu tinh thần không vững bạn sẽ rất dễ rơi vào cảm giác cô độc và mất năng lượng, thêm combo không có khách nữa thì lựa chọn của mình là xách xe về vùng biển làm việc ở Dala Story Nha Trang

Làm việc ở Đà Lạt cũng phụ thuộc thời tiết rất nhiều. Một cơn mưa lớn có thể khiến quán vắng cả ngày. Một tuần mưa liên tục có thể làm mọi kế hoạch bị đảo lộn.

Đà Lạt đẹp, nhưng không phải kiểu đẹp dễ chiều lòng người.

4. Muốn sống ở Đà Lạt phải có tinh thần thép.

Nhiều người nghĩ về Đà Lạt là nghĩ về chữa lành.
Nhưng thật ra, vùng đất này không chữa lành cho ai nếu chính người đó không đủ mạnh để đi qua áp lực của mình.

Có những ngày bạn:
- Làm rất nhiều nhưng không ra tiền
- Đầu tư rất lớn nhưng chưa thấy kết quả
- Một mình xoay đủ mọi thứ
- Không có người thân cạnh bên
- Không biết mình đang đi đúng hay sai

Đà Lạt rất dễ khiến con người ta đối diện với chính mình.
Nếu bên trong bạn còn quá nhiều bất ổn, cảm giác cô đơn ở đây sẽ hiện lên rất rõ nếu nội tâm của bạn chưa đủ mạnh.
ở đâu cũng vậy, con người vẫn phải học cách trưởng thành với lựa chọn của mình.

5. Có thể đầu tư rất nhiều tiền… nhưng hoàn toàn không có khả năng thu hồi nhanh.

Đây là điều thực tế nhất.
Một khu vườn đẹp, một quán cà phê tử tế, một homestay chỉn chu hay bất kì đầu tư khác tương tự … đều cần rất nhiều tiền và rất nhiều thời gian.

Không phải cứ đẹp là có khách.
Không phải cứ đầu tư lớn là sẽ thành công.

Có những người dành toàn bộ tiền tích góp nhiều năm để xây dựng giấc mơ ở Đà Lạt, rồi mắc kẹt vì dòng tiền không xoay kịp.

Ở đây, có những thứ mất rất lâu mới tạo được giá trị:
- Một khu vườn cần vài năm để xanh
- Một quán cần thời gian để có khách quen
- Một thương hiệu cần thời gian để được nhớ đến

Nếu bạn đi với tâm thế “làm nhanh thắng nhanh”, mọi thứ dễ ẹt có thể khiến bạn vỡ mộng rất sớm.

Nhưng sau tất cả những điều mình nói ở trên…
Mình vẫn ở đây.

Vì Đà Lạt cũng cho mình rất nhiều thứ:
- Những buổi sáng bình yên
- Những mùa cây lớn lên trước mắt
- Những người khách thương thật lòng
- Một nhịp sống chậm hơn để hiểu bản thân mình hơn

Chỉ là mình nghĩ, trước khi quyết định rời bỏ một thành phố để đến một nơi khác sống, ai cũng nên nhìn cả phần đẹp lẫn phần rất thực tế của nó.

Đừng chỉ mang theo một giấc mơ màu hồng. Hãy mang theo cả sự chuẩn bị, tiền bạc, sức bền và một tinh thần đủ vững.

Vì nơi này đẹp thật.
Nhưng để sống được ở đây lâu dài, cần nhiều hơn cảm xúc rất nhiều, nếu bạn quan tâm mình sẽ viết về cuộc sống 5 năm qua của mình ở đây, bình yên thì có mà còn chông gai khi khởi nghiệp thì chắc chắn là có

Mộc Nhiên

Một thời áo trắng nơi ngôi trường Lương Sư…

Tôi vào Đại học Sư phạm Saigon ngày 18. Lúc đó, tuổi thành niên là 21. Tôi không đủ tuổi để nói chuyện với chính phủ(!) nên Ba tôi phải ký giấy cam kết hoàn lại toàn bộ số tiền học bổng mà chính phủ sẽ cấp cho tôi, sinh viên Sư phạm trong suốt học trình 4 năm nếu tôi bỏ nhiệm sở trước khi hết hợp đồng 10 năm. Lúc đó ký là ký thôi. Ba tôi và tôi không thắc mắc tại sao lại có chuyện cam kết này.

Sau này tôi mới vỡ lẽ ra là vì tình trạng chiến tranh, có thể chúng tôi rơi vào những nhiệm sở thuộc vùng” xôi đậu “, mất an ninh nên tờ giấy cam kết đó là sợi dây buộc chặt chúng tôi để khỏi... đào nhiệm!

Tôi vào Sư phạm vì vâng lời Ba tôi. Ba muốn tôi có việc làm chắc chắn sau khi ra trường chứ ông không muốn tôi phải vác bằng cấp long đong đi xin việc, hơn nữa, theo Ba tôi, dạy học là một nghề hiền lành, thích hợp với tôi, một con bé nhút nhát, chậm chạp!

Tôi không mấy hứng thú nhưng không dám cãi lời Ba và cũng vì ham áo mũ ra trường, coi rất bảnh( khiếp ! chưa vào học mà đã tính chuyện tốt nghiệp!) và số tiền học bổng ba ngàn mỗi tháng nên “cũng liều... nhắm mắt đưa chân , mà xem con tạo xoay vần đến đâu “

Năm tôi vào trường thì thẩy Trần văn Tấn, tiến sĩ toán, tốt nghiệp ở Pháp là giáo sư khoa trưởng.

Ở Sư phạm, tôi gần như không biết đại giảng đường là gì, chỉ trừ hai kỳ thi bán niên thì chúng tôi mới tập trung vào đại giảng đường ( nhỏ xíu!) để thi cùng với sinh viên của các ban khác gồm Sử địa, Anh văn, Pháp văn. Còn xuân thu nhị kỳ chúng tôi chỉ quanh quẩn trong lớp học của bốn mươi sinh viên.

Những ngày đầu ở Sư phạm, tôi không vui vì ít ra một năm Văn khoa cũng đã cho tôi cảm giác tự do, thoải mái mà tôi chưa bao giờ được hưởng. Ở Văn khoa, muốn đi học thì đi, không thì thôi, chỉ cần mua sách( cours) về học, tới kỳ thi thì lại là kiếp con tằm... nhả tơ. Nhưng Sư phạm thì không, chúng tôi là những “ công chức” tương lai nên mỗi ngày phải đi học hai buổi sáng chiều, tám tiếng! Cứ mỗi hai giờ thì văn phòng sinh viên vụ lại đưa sổ điểm danh lên để sinh viên ký tên. Chúng tôi vẫn nói đùa là chữ ký của mình là chữ ký bằng vàng vì trường căn cứ vào đó mà phát học bổng!

Trường chúng tôi gồm hai dãy lầu cũ, ngăn cách bằng một sân cờ với hai thảm cỏ nhỏ. Tôi nghe nói, niên khoá đầu tiên của chúng tôi ở Sư phạm Saigon, trường chỉ có 900 sinh viên cho cả hai khối :nhân văn( khoa học xã hội gồm Việt Hán, Anh văn, Pháp văn và Sử Địa) và khoa học ( khoa học tự nhiên: Toán, Lý Hoá và Vạn vật). “ Hàng xóm” của chúng tôi là Trung học Petrus Ký, mặt tiền ở ngay đường Cộng Hoà, đối diện Tổng nha Cảnh Sát Quốc gia, kế đó là Đại học Khoa học.

Ở Sư phạm, tôi có cảm tưởng đang học trung học khi thầy gọi đọc bài, chúng tôi cũng phải đem tập lên bàn thầy, đứng vòng tay đọc bài!
Các thầy cô phụ trách giảng dạy chúng tôi cũng tương đối trẻ. Giáo sư lớn tuổi nhất của chúng tôi năm ấy là thầy Trương văn Chình. Thầy Chình dạy môn Văn phạm. Điều làm tôi nhớ thầy mãi không phải là những bài giảng của thầy mà là vẻ... đẹp trai, ô không, vẻ đẹp lão của thầy!

Nguyễn tấn diệu Tâm, bạn thân của tôi và tôi cứ nhìn thầy xuýt xoa” Chu cha, thầy ơi! Thầy ăn chi mà thầy đẹp dễ sợ rứa? Chừ thầy già rồi mà còn đẹp cỡ ni, khi trẻ chắc có lắm cô chết vì thầy! “Và dĩ nhiên đó chỉ là những lời tán dương vẻ đẹp” khuynh thành “của thầy mà hai đứa tôi chỉ dám nhỏ to sau lưng thầy!

Mà phải công nhận, thầy tôi đẹp thật!

Buổi học đầu tiên thầy kể cho chúng tôi nghe sơ về gia thế của thầy. Trước kia, thầy là Tổng giám đốc bưu điện Saigon và thẩy có một người con trai đang du học ở Úc, ngành kỹ sư đóng hộp. Sau này, bọn tôi thấy thầy có vẻ để ý ưu ái Thu Vân, bạn đồng môn của chúng tôi nên cả lũ hùa nhau chọc Thu Vân” Thầy chấm mày làm ... con dâu rồi đó! Mai mốt thầy sẽ... đóng hộp mày, gửi qua Úc! “ vả chúng tôi lăn ra cười mặc cho Thu Vân lúng túng, muốn khóc!

Nhưng rồi thế cuộc đổi thay nên Thu Vân không bị “ đóng hộp “ đi Úc mà hiện nay bạn đã là tiến sĩ, phó giáo sư đại học sư phạm thành hồ!
Rồi chúng tôi có thầy Phan Hồng Lạc là giáo sư môn Hán văn. Thầy trẻ, hiền và cười với sinh viên hoài!

Ngoài ra, thầy còn là giáo sư hướng dẫn thực tập của chúng tôi trong bán niên đầu.Thầy ân cần dặn dò chúng tôi từng chút một. Với các nữ sinh viên, thầy nhắc chúng tôi đánh phấn hồng để che nét mặt xanh tái, bối rối khi lên bục giảng!

Thầy dịu dàng phân tích những ưu, khuyết điểm của chúng tôi trong giờ thực tập và không bao giờ thầy nỡ xuống tay với sinh viên! Thầy ơi! Bao nhiêu năm qua, không còn được gặp thầy nhưng lúc nào nghĩ đến các thầy cô, thì thầy vẫn là một trong những hình ảnh rất đáng quý, đối với em, thưa thầy!

Thầy biết không, ngày đó, sinh viên Việt Hán một chúng em đã ưu ái tặng thầy biệt danh:”Hoà thị chi bích”, theo đề bài Hán văn đầu tiên thầy dậy chúng em: Viên ngọc của người họ Hoà.

Nói đến thầy Phan Hồng Lạc là phải nhắc tới thầy Lê hữu Mục. Thầy Mục giảng dạy môn chữ Nôm. Thầy mập, giọng thầy ồm ồm, mới thoạt nhìn, tôi rất sợ! Nhưng thật ra, thầy Mục dễ thương lắm. Thầy tận tâm giảng dạy. Môn chữ Nôm là môn học mới mẻ và khá khó nuốt(!) vì để học được chữ Nôm thì chúng tôi phải biết chữ Hán đã, do chữ Nôm được cấu tạo từ chữ Hán...

Thầy Mục có lẽ cũng hiểu chúng tôi đa số chỉ mới học Hán văn năm Dự bị Văn chương Việt Nam ở Văn khoa nên vốn liếng chữ Hán cũng rất còm cõi do đó thầy dạy chậm, giải thích tường tận, nhờ vậy chúng tôi cũng đỡ vất vả. Nhớ có lần thầy bảo cả lớp viết tên thầy bằng chữ Hán, tất cả chúng tôi đều viết chữ Mục là con mắt! Lê hữu Mục là... ông Lê có mắt! Thầy đã lắc đầu, mắng chúng tôi “ Dốt! Dốt! Mục của thầy là hoà thuận chứ không phải là con mắt!”

Ngoài ra, thầy Mục còn là một vĩ cầm thủ tài hoa! Thầy rất nghệ sĩ! Thỉnh thoảng thầy hát cho trò nghe và thầy cũng bảo chúng tôi hát cho thầy bạn cùng nghe. Thầy Mục của con! Thầy Mục của những ngày chữ Nôm và tiếng hát sinh viên!

Bên cạnh các thầy Phan Hồng Lạc, Lê hữu Mục là hai giáo sư Phạm văn Diêu và Phạm văn Đang. Hai thầy cùng họ, cùng chữ lót tưởng như anh em ruột nhưng thật ra không phải, thầy Diêu người trung, thầy Đang người bắc. Cả hai thầy chia nhau dạy chúng tôi phần Văn học Lý Trần. Thầy Diêu còn dạy thêm phần văn học dân gian. Thầy Diêu viết văn hay lắm, văn của thầy là một bài thơ!

Thầy Đang còn trẻ !Tôi đoán thầy chỉ ngoài ba mươi một chút thôi! Thầy vui tính và tôi là sinh viên được thầy ưu ái vì tính tôi ... lẩm cẩm, thích tìm đọc những điển cố Trung hoa nên tôi đã trả lời được khi thầy hỏi” tại sao gọi là chín suối? Tại sao Cao Bá Quát lại có hiệu là Chu thần?”...

Thầy Đang dễ chịu bao nhiêu thì thầy Diêu lại khó tính bấy nhiêu. Thầy hay rầy chúng tôi vì những “ lỗi” không do chúng tôi cố ý gây ra, thầy mới đến ngưỡng cửa lớp mà nếu chúng tôi chưa thấy, không kịp đứng lên chào là bị thầy “ dũa” te tua! Thầy Diêu cũng” biết mình biết ta” lắm(!) nên có lần thầy cay đắng bảo chúng tôi 

“ Ngày các anh chị ra trường, đừng mời tôi dự tiệc! Tôi biết các anh chị không ưa tôi nhưng đã phải chịu đựng tôi trong bấy nhiêu năm học, bây giờ, còn những giờ phút cuối, tôi phải tránh mặt đi để cho các anh chị thoải mái! “

Nhìn vẻ mặt buồn bã của thầy khi nói, tôi bỗng thấy xót xa nhưng tận thâm tâm, tôi vẫn tự hỏi “ sao thầy không thể thân ái với chúng tôi như các thầy cô khác? Tại sao thầy phải khắt khe với chúng tôi để thầy buồn và chúng tôi cũng không vui?”

Thầy Diêu buồn thì thầy Nguyễn sĩ Tế lại vui, rất vui! Những giờ văn học Phương Tây với thầy tràn ngập tiếng cười! Thầy đã được chúng tôi tặng biệt danh” ông cố vấn dung nhan “ và biệt danh này chỉ luân lưu trong phạm vi sinh viên chúng tôi. Số là, khi thầy dạy tác phẩm “ Trưởng giả học làm sang”( Les bourgeois gentilles hommes) của Molière, thầy giảng những bà nhà giàu mới nổi, thích làm sang và để tỏ ra ta đây thuộc hàng danh giá, tách biệt khỏi giới bình dân thì họ cũng đổi cách ăn nói, chẳng hạn cái gương soi mặt ( le miroir)thì họ lại gọi là cái cố vấn dung nhan (le conseil de la beauté!)và thế là từ đó thầy có tên...! Ngoài ra, tôi còn nhớ hễ mỗi khi thầy đang giảng mà bỗng cúi xuống là sinh viên cũng lo lật đật ...cúi theo... để ghi cours cho kịp vì thẩy nói nhanh lắm!

Chúng tôi học với thầyTế hai giờ cuối,ngày thứ hai và lúc nào cũng vậy, tôi ra về với một nụ cười!

Cô Nguyễn thị Xuân Lan là nữ giáo sư duy nhất của chúng tôi, Việt Hán một- Pháp văn trong bán niên đầu. Tên sao người vậy! Cô người Huế, cô là biểu tượng dịu dàng, khả ái của núi Ngự sông Hương! Ngày đầu tiên cô đã cho chúng tôi được chọn bài học, cả lũ đã nhao nhao xin cô cho học tình thư lãng mạn, và bức thư tình đầu tiên cô dạy là tình thư của Napoléon gửi cho Joséphine. Tôi còn nhớ có lần cô dạy chữ dépeupler, nghĩa là làm cho bớt người, dãn dân...và cô giảng chữ này trong một câu thơ của Lamartine: “Un seul Etre vous manque et tout est dépeuplé( xin tạm dịch: vắng một người cả trời đất đều hoang vu!) Hay quá là hay!

Thầy Lê thanh hoàng Dân và thầy Trần công Thiện phụ trách môn Tâm lý giáo dục. Buồn ngủ ơi là buồn ngủ! Thầy Lê thanh hoàng Dân cũng được chúng tôi nghịch ngợm “phong tặng” là “ông... tâm bệnh”(!) vì bài giảng của thầy lúc nào cũng là tâm bệnh, nghe một hồi tôi cũng muốn bị ... tâm bệnh luôn!

Thầy Giản chi Nguyễn hữu Văn dạy môn Triết đông. Thầy hiền ơi là hiền và thầy cho chúng tôi cảm tưởng như đang được nghe thầy kể chuyện đời xưa. Thầy là một trong những vị thầy khả kính của chúng tôi!

Thầy Lê Ngọc Trụ là giáo sư môn Ngữ âm của chúng tôi. Bây giờ thì tôi chẳng còn nhớ chút gì về những bài Ngữ âm nữa nhưng luôn nhớ thầy Trụ. Thầy cũng như thầy Giản Chi, rất hiền!

Bán niên hai, cô Khưu sĩ Huệ thay thế thầy Phan Hồng Lạc, phụ trách môn Hán văn. Cô là biểu tượng của một lương sư! Cô không bao giờ đi trễ và cũng không bỏ buổi dạy nào.Cô thương học trò nhưng rất nghiêm!

Hai giờ đầu, chiều thứ Hai là giờ Hán văn. Buổi sáng chúng tôi đã ngất ngư với hai giờ Văn học Lý-Trần và Văn học Dân gian. Đến chiều là đã bắt đầu uể oải! Hơn nữa trời Sài Gòn nóng nực nên hai mắt cứ muốn nhíp lại. Nhưng buồn ngủ cách mấy thì cũng phải ráng trợn mắt mà nuốt cho xong mớ chữ Hán hỗn độn kia!

Cô Khưu sĩ Huệ không giảng dạy theo lối thường như các thầy cô khác. Cô tập cho chúng tôi tinh thần tự tìm tòi, học hỏi.

Có lần cô cho đề bài”tuần sau,chúng ta sẽ học động từ “vi”. Các anh chị về tự học và mỗi người ít nhất làm cho tôi bốn câu có chữ”vi”! Chữ”vi”: động từ “là “như to be trong tiếng Anh hay Etre trong tiếng Pháp.

Thứ hai sau đó, cô kêu bốn đứa đầu tiên lên bảng và tôi “hân hạnh “ nằm trong bảng ”phong thần” của cô!

Tấm bảng lớn được chia làm bốn phần, cho Trần Phú Lai mà chúng tôi vẫn nghịch ngợm đọc lái là Phái Lu, tôi và hai bạn nữa mà tôi đã quên tên rồi.

Chúng tôi hí hoáy viết. Sau đó, cô biểu chúng tôi đọc lớn bài làm của mình cho cả lớp nghe.

Câu đầu tiên của Trần Phú Lai:
Ngã vi bần sĩ! Nghĩa là: Tôi là học trò nghèo!

Cô nhăn mặt!

Đến phiên tôi!
Vi nhân, mạc vô tử! Nghĩa Là: làm người ai mà chẳng chết!

Cô lắc đầu!

Và hai bạn sau tôi cũng với những câu hắc ám, bi quan tương tự!
Cô chán nản!

Cô hỏi Phái Lu:
-Anh tên gì?
-Thưa cô, em tên Trần Phú Lai.
-Anh viết tên anh ra coi!( dĩ nhiên là viết tên bằng chữ Hán), xong cô biểu Phái Lu dịch tên hắn ra rồi cô la:
-Cha mẹ anh đặt cho anh cái tên hay như vậy nghĩa là ông bà muốn sự giàu có đến với anh. Hà cớ gì mà anh lại nói anh là học trò nghèo?
Xong đời Phái Lu!

Đến phiên tôi, sau khi tôi đọc và dịch xong phần bài làm của mình, cô nghiêng đầu ngó tôi:
-Chị mấy tuổi?
-Thưa cô, con 18.
-Chị còn trẻ quá! Sống chưa được bao nhiêu sao đã lo chuyện chết?!
Tôi đứng yên, tàn đời!

Hai người bạn sau cũng đồng cảnh ngộ như Phái Lu và tôi!
Sau đó cô bảo tất cả chúng tôi viết tên mình nạp cho cô.
Tuần kế, cả lớp đều thoát “nạn”, chỉ trừ Tuyết Lệ!

Cô hỏi Tuyết Lệ:
-Chữ Lệ nghĩa là gì?
-Thưa cô, nước mắt.
Cô la:
-Chị nghĩ sao mà lại nói như vậy? Bộ khi sinh chị ra, ba má chị buồn lắm hả?
Và cô hỏi tiếp:
-Chị có biết nghĩa khác của chữ Lệ không?
Tuyết Lệ ấp úng:
-Thưa cô,không!
-Lệ có nghĩa là đẹp đẽ như tráng lệ, diễm lệ…

Một lần, giờ Hán văn của cô, lớp tôi có đến ba, bốn bạn đi trễ! Cô giận lắm nhưng cô vẫn ổn tồn bảo:

-Các anh chị phải biết, các anh chị ở trường này để được đào tạo thành thầy cô. Các anh chị nghĩ thế nào nếu mai này tới giờ dạy, các anh chị đã ở trên bục giảng mà cứ năm phút một đứa học trò đi vào, năm phút sau lại đứa kế tiếp?

Tất cả chúng tôi cúi gầm mặt xuống, im lặng! Từ đó về sau, giờ thầy cô nào còn dám đi trễ chứ giờ cô Khưu sĩ Huệ thì đố! Chưa tới giờ đã đủ mặt … bá quan văn võ!

Và cứ thế, cuộc đời sinh viên của chúng tôi khi nổi, khi chìm. Cho đến một ngày…

Ngày 30.04.1975!
Mệnh nước trầm luân!
Mệnh người phiêu bạt!

Thưa các thầy cô!

Con, học trò của quý thầy cô, đã từ bao nhiêu năm rồi.

Ngày 30.04.1975, nước mất, nhà tan! Thầy cô và chúng con cũng theo dòng sinh mệnh của dân tộc mà chung cảnh trầm luân!

Ngày vào Sư phạm, con mang ước vọng cũng như quý thầy cô, đem kiến thức đã được truyền thụ để hướng dẫn cho các thế hệ đàn em, làm cho các em hiểu và yêu mến tiếng Việt, tự hào về dân tộc mình. Nhưng thầy cô ơi! Con đã không làm được điều thầy cô kỳ vọng ở chúng con! Con rất buồn! Nhưng biết làm sao hơn được?!

Giờ này, sau bao cuộc bể dâu, quý thầy cô và chúng con chắc cũng khó lòng mong một ngày trở về, đoàn tụ dưới mái trường Sư phạm thân yêu!

Quý thầy cô, nếu còn thì cũng đã quá trọng tuổi và nhiều thầy cô đã trở về cùng cát bụi!

Những Lương sư đã không thấy được ngày Hưng Quốc!
Đau lòng xiết bao!

Giờ đây, con cũng như các bạn hữu chỉ xin kính chúc các thầy cô còn hiện diện với chúng con hai chữ an khang và với các thầy cô đã đi vào cõi thiên thu, con nguyện xin Thượng đế đưa quý thầy cô của chúng con về miền Vĩnh phúc!

Và chúng con xin chân thành cảm tạ công ơn giáo dục của quý thầy cô cho chúng con được như hôm nay. Có thể chúng con không thành công nhưng ít ra quý thầy cô cũng có thể mỉm cười khi biết chúng con, lớp hậu sinh của quý thầy cô đã thành nhân! Và câu châm ngôn “Lương Sư Hưng Quốc “ với riêng con, là điều tâm niệm mãi mãi.

Kính và thương,

Con,
Vũ hoàng Hoa

Blog Archive