Monday, September 7, 2026

SỨC MẠNH LUẬT NHÂN QUẢ

Quang Tử

Cũng nhờ hai lần gặp ma ấy mà tôi có thể sống được đến ngày hôm nay, hơn nữa, họ còn giúp tôi nhận ra sức mạnh của luật nhân quả ghê gớm đến mức nào.
Nhắc đến ma thường khiến cho con người ta sợ, nhưng riêng tôi thì tôi xúc động nhiều hơn. Tôi tên Thoi Phánh, một người Hoa lớn lên trên đất Việt. Nhà tôi nằm trên đường Nguyễn An Ninh, khu Bến Đình, thành phố Vũng Tàu.

Năm 1990, khi ấy tôi 22 tuổi, sống bằng nghề buôn gỗ, nhưng không phải là gỗ rừng, mà chỉ là gỗ những cây ăn trái mà người ta muốn chặt bỏ. Ai bán thì tôi đến đốn hạ, rồi chở về bán lại cho các xưởng cưa. Công việc này thường phải đi đây đi đó xa xôi, lại khá nặng nhọc, cần rành về kĩ thuật, nên tôi tuyển lựa ra 3 người cộng sự, mỗi lần đi mua cây đều gọi đi làm cùng.

Lâu dần thành một ê kíp phối hợp ăn ý, mặc dù trên danh nghĩa thì tôi là chủ, nhưng anh em sống với nhau rất hòa đồng, thân mật.

Một lần, tôi cùng với ba người cộng sự ấy lên Long Khánh ( Đồng Nai) để mua cây xoài. Cưa chặt xong xuôi thì trời tối, tôi để cây lại, chờ sáng mai sẽ có xe đến chở sau. Còn tôi nhận tiền rồi cùng ba gã cộng sự kia đi về. Bốn thằng leo lên ba chiếc xe 67, phi nhanh trên con đường tối thui trở về nhà. Đó là một con đường rất hoang vắng, dài thăm thẳm chạy xuyên qua những vườn, rẫy trồng cây ăn trái. Cảnh vật tối tăm, tịch mịch.

Đang chạy, chợt mắt tôi đảo qua thấy một khổi gì đó đen thui, to lù lù trên cây. Tính tò mò, tôi gọi ba gã cộng sự dừng xe lại:
- Ê, tụi bay, hình như tao vừa thấy một con gấu, nó ở trên cây kia kìa.

Một gã bảo :
- Mày khùng hả? Long Khánh làm gì có gấu?

Nói thế nhưng cả đám vẫn quay lại xem sao. Bước lại gần, soi đèn pin lên thì… ông giời ơi, chẳng phải gấu cọp chi cả, mà là một người đàn ông mặc áo mưa, treo cổ chết lủng lẳng trên một cây me. Tá hỏa tam tinh, ba gã kia la toáng lên, rồi co giò chạy thục mạng, bỏ lại mình tôi giữa màn đêm hoang vắng với cái xác treo cổ.

“Có phúc cùng hưởng mà có họa thì thân ai nấy chịu” Haiizzz !"

Nhưng không sao, tôi trời phú cho từ bé đã gan góc cùng mình, những chuyện này không làm tôi sợ lắm. Hít một hơi trấn tĩnh lại, tôi bước đến vái cái xác người đàn ông ấy mấy vái, rồi khấn thế này:

- Tôi với ông vốn không quen biết, tình cờ gặp ông đây cũng là một cái duyên, mà duyên gặp này tiếc rằng cũng là khi ông đã tử rồi. Ba thằng kia nó cũng bỏ tôi chạy mất, thôi thì tôi chỉ có thể giúp ông báo công an xã để người ta truy ra ông ở đâu rồi đem về nhà cho người thân tẩm liệm.

Thế rồi tôi chạy đi báo công an. Họ tới đưa xác người đàn ông xuống, lục trong người thì thấy chứng minh nhân dân, rồi theo đó đưa xác về nhà. Tôi tính thích bao đồng, nên cũng đi theo về đến nhà ông ta luôn.

Vào nhà ông ta, thì câu chuyện lại càng buồn hơn. Vợ chồng ông có ba đứa con còn rất nhỏ, trong đó thì một đứa bị tật nguyền, gia cảnh nghèo xơ xác. Không biết có phải vì túng quẫn quá mà ông ta tự tử không nữa. Thấy hoàn cảnh ấy tôi cũng không đành lòng bỏ mặc. Lục trong túi đếm được hơn 300 ngàn (năm 1990 thì 300 ngàn không hề nhỏ), tôi chạy đi mua một chiếc quan tài. Rồi rút nốt chiếc nhẫn hai chỉ vàng trên tay, tôi đưa cho người vợ lo tiền mai táng cho người đàn ông xấu số kia. Sự việc xong xuôi, tôi trở về và cũng không suy nghĩ gì về việc đó nữa.

Vẫn đi buôn gỗ như trước, chỉ có một điều lạ, là tôi luôn gặp may mắn, làm ăn phất lên như diều gặp gió. Cứ thế mấy năm sau, rồi tôi được người ta giới thiệu lên Tây Ninh mua cây. Lần đó tôi mang theo khá nhiều tiền, đi buôn bán làm ăn mà, thêm một sợi dây chuyền ba chỉ vàng trên cổ nữa. Cũng như mọi khi, tôi gọi ba gã cộng sự quen thuộc đi cùng. Đốn cây, nhận tiền xong xuôi thì trời đã tối, phải xin chủ nhà cho chúng tôi ngủ lại. Nhà có hai cha con, là đàn ông với nhau cả nên họ vui vẻ chấp thuận.

Cả ngày làm mệt nhoài rồi, nên leo lên giường là tôi ngủ ngay. Đang đêm, khi say giấc ngủ ngon, tôi lạc vào một giấc mơ, và thấy một người đàn ông xa lạ bước đến, nói như hét vào mặt tôi :
- Ông mau thức dậy đi ! Tôi là người đi theo bảo vệ ông suốt mấy năm nay để trả nợ ông đây.

Tôi ngơ ngác hỏi lại:
- Mà ông là ai ?

- Tôi là người treo cổ ở Long Khánh đó, ông nhớ chưa ? Ở ngoài sau nhà, họ đang mài dao rựa, dao mác để giết ông cướp tiền và vàng của ông đó. Giờ ông hãy đạp cái cửa sổ này ra, rồi nhằm thẳng hướng đông chạy thật nhanh, ông sẽ gặp một cái am của ni cô. Chỉ có đường đó ông mới thoát thân được thôi, ngoài ra chạy đường nào ông cũng chết hết. 

Ngay đó thì tôi bừng tỉnh. Quả nhiên tôi thấy có tiếng bước chân đang tiến lại gần, cách tôi tầm 6- 7 mét. Không suy nghĩ nhiều, tôi lập tức y theo lời chỉ dẫn của hồn ma trong mơ. Dùng hết sức, tung chân đạp mạnh vào cái cửa sổ. Đúng là nó không có kiên cố gì, ăn một cú đạp thì văng ra liền. Bản năng sinh tồn trỗi dậy, tay vơ nhanh lấy túi tiền, tôi phi ra ngoài, nhằm thẳng hướng đông chạy thục mạng.

Đằng sau, một đám thấy tôi chạy liền phóng theo bám gót. Tôi ngoái lại thì nhận ra ngay ba dáng người thân quen, chính là ba tên cộng sự, tên nào cũng dao rựa, dao mác lăm lăm trên tay.

Hiểu ngay ra vấn đề, tôi tăng tốc chạy. Chạy trối chết, chạy quên sống chết. Vừa là đêm tối khó thấy rõ, vừa gặp tôi chạy quá nhanh, và cũng vì bất ngờ không hiểu sao tôi biết trước mà tỉnh dậy, bỏ chạy như vậy, chỉ một lát sau ba gã kia đã bị tôi bỏ mất dấu. Tôi cứ thế tiếp tục chạy, được một lát, quả nhiên gặp một cái am. Tôi nhanh chân leo qua hàng rào vào trong, thì thấy một sư cô đang thức, chắc là dậy sớm tụng kinh hay sao đó. Trông thấy tôi, sư cô cũng hoảng sợ. Nên tôi vừa thở hổn hển, vừa kể lại mọi chuyện, xin cô thương tình cho tôi trốn ở đây. 

Cũng may sư cô tin lời tôi, nên nói:
- Thôi con ở lại đây chờ đến khi trời sáng rồi đi ra, bây giờ cũng là 4 giờ sáng rồi.

Tôi cảm ơn sư cô, rồi kiếm một góc ngồi, chậm rãi suy nghĩ lại mọi việc, mà lúc nãy nhanh quá tôi chưa kịp hiểu hết. Nhân tình thế thái thay đổi thật nhanh, mới anh anh em em đó, chỉ vì tiền mà nỡ xuống tay giết nhau cho đành.

Sau đêm đó ba tên ấy cũng bỏ trốn không bao giờ để tôi gặp lại nữa. Đến khi trời sáng, tôi cáo biệt sư cô, rồi một mạch đi về Vũng Tàu.

Tôi lục tủ lấy hai cây vàng và một triệu đồng, đem đến nhà người đàn ông treo cổ chết ở Long Khánh mấy năm trước. Tôi kể lại sự tình đêm qua, rồi tặng số tiền vàng đó cho vợ con ông ta như một lời cảm ơn. Trước bàn thờ ông ấy, tôi thắp nén nhang mà khấn rằng:

- Ân nghĩa duyên nợ giữa tôi với ông xem như đến đây cũng đã trọn vẹn. Tôi giúp ông, rồi ông theo tôi bảo vệ suốt mấy năm, và cứu mạng tôi. Thôi coi như huề, không ai nợ ai, ông không cần theo bảo vệ tôi nữa. Ông đừng vương vấn cõi trần này làm gì nữa, mà lo siêu thoát đi đầu thai đi.

Từ nhỏ, trong nhà theo đạo Phật, nên tôi cũng biết Đức Phật dạy rằng vũ trụ này có 6 cõi luân hồi: Trời – a tu la – người – ngạ quỷ (tức cõi ma quỷ) – súc sinh - địa ngục. Nghe rồi để đó chứ tôi không tin. Phải qua sự việc này rồi thì tôi mới biết đó là sự thật.

Cảm ơn ông vì đã cứu tôi một mạng, cảm ơn vì đã cho tôi mở mang hiểu biết, nhận ra lời Phật dạy không phải là hư vọng, rằng cõi thế giới này không chỉ có loài người và súc sinh...

Kể từ đó thì tôi không còn gặp hồn ma ông ấy lần nào nữa. Nhưng mà chuyện gặp ma thì tôi vẫn còn gặp thêm một lần nữa, thậm chí còn ma mị hơn lần này...

P/s: Nhân quả thật là đáng sợ. Tiếc thay cho những ai không biết, không tin vào nhân quả, buông lung theo lòng sân hận, tham lam, mặc tình tạo ác, đến khi quả báo đến thì đã quá muộn....

(Viết lại từ lời kể của Thoi Phánh)


CHUYỆN ANH RÔ BE VỀ LÀNG

Anh Rô Be mà tui hay gọi là anh Việt, đi Mỹ ngót nghét ba mươi năm, đợt này mới gom góp đủ tiền về thăm quê lần đầu.

Nói cho đúng, anh không phải đại gia hay Việt kiều giàu có gì cho cam. Tiền mua cái vé máy bay thì có, mua vài món qùa cho má và bà con thì có, nhưng còn cái gọi là phong thái Việt kiều hào hoa thì anh phải tự "trang bị" thêm.

Ngày anh rời xóm nhỏ năm 1995, quê mình còn nghèo xơ xác. Đường xá toàn đất đỏ, mưa xuống một cái là lầy tới mắt cá chân ổ gà ổ vịt khắp nơi. Nhà nào sắm được cái tivi màu là cả xóm bu lại xem ké, ai có chiếc Dream Thái là được coi như đại gia.

Thời đó, hai chữ "Việt kiều" sang trọng và ghê gớm lắm. Chỉ cần mặc cái áo thun in chữ tiếng Anh, đeo cái đồng hồ hơi to, nói câu Hello là bà con nhìn bằng ánh mắt khác liền. Chưa cần biết bên đó làm nghề gì, nghe danh Việt kiều là trong bụng người ta tự cộng thêm vài trăm triệu.

Anh Việt đi đúng vào cái thời điểm đó. Bởi vậy, suốt ba mươi năm ở đất khách, trong cái đầu chất phát, ít học của anh, quê nhà cứ đứng yên mãi ở cái năm 1995.

Sự thật thì anh làm nghề cắt cỏ ở tiểu bang Texas. Con vợ tào khang không chịu nổi cái nghèo nên bỏ anh về California làm nail. Sáng sớm mờ sương, anh chất máy cắt lên chiếc truck cũ, chạy hết nhà này tới nhà khác. Nắng cháy da thì chịu, máy hư tự sửa, gặp chủ nhà khó tính thì cắn răng nghe la. Tiền công kiếm được chia đủ thứ: tiền nhà, tiền xăng, bảo hiểm... Cuối tháng, tằn tiện gửi về cho má vài trăm đô là anh thấy lòng vui sướng như vừa làm được chuyện đại sự.

Có điều, anh chưa từng kể với ai rằng ba mươi năm qua anh vẫn chưa mua nổi căn nhà riêng. Chiếc truck bự chà bá thực ra chỉ là xe cũ mua lại. Cái "business" mà anh hay hào hứng khoe với bà con thực chất chỉ có mỗi mình anh với cái máy cắt cỏ dầm mưa dề nắng.

Tui cũng là Việt kiều, nhưng tui ở Canada. Tui nghèo, về hưu sống nhờ vào tiền già của chính phủ. Gom góp chút đỉnh tích góp nửa đời người, về lại bến sông làng, nơi ngày xưa tui sinh ra và lớn lên, cất căn nhà nhỏ dựa mé sông làng để sống gọn, đơn giản cho những năm tháng còn lại.

Vì tui về trước anh, lại từng trải qua cái cảnh tha hương nên tui hiểu cuộc sống bên xứ người và sự đổi thay của quê nhà hơn anh nhiều.

Đợt này anh về, tui đón anh qua ở chung nhà với bên bến sông cho vui vẻ anh em. Nhìn cái dáng lóng ngóng và cái vẻ gồng mình của anh, tui thương lắm nhưng không muốn làm anh buồn, dù sau cũng để anh khoe cho thỏa mãn trong 2 tuần thăm quê hương. Tui biết anh đang sống trong một giấc mơ tự tạo, anh chưa tỉnh hẳn.

Ba mươi năm không về, anh đâu ngờ quê mình đã thay da đổi thịt. Đợt này tích cóp dành dụm đủ tiền nên anh chuẩn bị kỹ càng lắm. Anh ghé tiệm đồ cũ Goodwill sắm bộ đồ hiệu con cá sấu, qua Costco mua đôi giày mới, rồi mượn thằng bạn sợi dây chuyền vàng to tướng đeo vô cổ. Sợi dây bự tới mức nếu đeo ở sân bay Texas chắc hải quan phải chặn lại hỏi thăm.

Anh còn cẩn thận luyện lại mấy câu tiếng Anh, không phải để giao tiếp với người Mỹ, mà để về quê phán vài câu cho bà con nghe cho oai. Anh tính bụng đợt này về phải cho tụi ở quê biết thế giới bên Mỹ hiện đại ra sao. Anh đâu biết rằng, trong lúc anh loay hoay tập nói câu Very good, thì ở quê nhà người ta đã chạy sang thời livestream, TikTok, Shopee và thanh toán không tiền mặt tự bao giờ.

Tối hôm đó, bà con trong họ mời anh qua ăn bữa cơm sum họp. Vừa ngồi xuống mâm là anh bắt đầu "mở máy" nổ: "Bên Mỹ sướng lắm cô ơi, khỏi phải đi làm, cần tiền là ra đầu đường đút cái thẻ ngân hàng vào cái máy ATM là tiền chạy ra, tha hồ mà xài. Nhà nào cũng có máy lạnh trung tâm, mát rười rượi từ phòng khách tới phòng ngủ. Siêu thị thì bự chà bá lửa!".

Mấy đứa cháu nhỏ vừa ăn chân gà vừa bấm điện thoại. Một đứa ngước lên ngơ ngác: "Siêu thị hả cậu? Ở đây Go, WinMart, Bách Hóa Xanh đầy đường mà cậu. Giờ con đặt Shopee người ta giao tới tận cửa luôn đó."

Anh Việt khựng lại một nhịp. Nhưng cái thế người đã lỡ "nổ" rồi thì khó mà thắng gấp. Anh hớp ngụm nước cho đỡ nghẹn, miếng cơm trong miệng tự nhiên thấy khó nuốt lạ kỳ. Anh bèn lái sang chuyện xe cộ cho bớt quê: "Bên Mỹ nhà nào cũng hai ba chiếc, tui có chiếc truck bự như cái nhà!". Thằng cháu gật gù: "Truck hả cậu? Xóm mình giờ người ta thích đi xe điện hơn, VF8 VF9 chạy đầy đường rồi." Anh Việt lóng ngóng hỏi: "Xe điện chạy được tới Mỹ không?". Thằng nhỏ trả lời tỉnh rụi: "Chắc được đó cậu, mà xe của cậu chạy được tới Việt Nam không?"

Cả bàn ăn cười ồ lên vui vẻ. Anh Việt cũng cười theo, nhưng là cái cười gượng gạo. Trong bụng anh nghe một cái "bụp". Hình như cái mác Việt kiều lấp lánh của anh vừa bị đứa cháu gặm chân gà làm xẹp mất một góc. Anh nhìn quanh mâm cơm, rõ ràng không ai khinh anh, chẳng ai bảo anh dóc tổ. Chỉ có điều, những câu chuyện anh tưởng sẽ làm bà con trố mắt trầm trồ thì giờ đây nghe bình thường quá đỗi. Vì lịch sự ai cũng trầm trồ khen đất nước cờ hoa.

Đêm đó, về lại căn nhà bên bến sông của tui, anh trằn trọc lăn qua lăn lại trên giường không sao ngủ được. Nghe tiếng gió sông thổi rì rào ngoài hiên, tui biết anh đang trăn trở. Anh nhớ lại từng lời mình đã phát ra lúc tối, toàn là "bên Mỹ", "ở Mỹ". Anh tự nhẩm đếm rồi thở dài hỏi thầm: Ủa, bộ ngoài chuyện bên Mỹ ra, mình không còn chuyện gì khác để kể cho người ta nghe sao ta? Nghĩ tới đó, anh muốn cười cay đắng mà cười không nổi, đành quay mặt vô vách xám xịt mà thở dài. Ba mươi năm rồi, mình đi xa thiệt xa, nhưng cái đầu mình thì vẫn cứ kẹt lại ở cái xóm nhỏ nghèo xơ xác của năm 1995.

Sự việc đẩy lên cao trào khi anh quyết định xuống Cái Răng kiếm một người vợ. Anh nhờ bà mai dẫn đi, trong cái đầu đơn giản của anh vẫn mang suy nghĩ cũ kỹ: con gái miền quê chắc vẫn còn mê danh tiếng Việt kiều. Ngày xưa suy nghĩ đó có lý, nhưng thời thế đã đổi thay. Cô gái miền quê bây giờ biết lướt mạng, biết xem nhà cửa xe cộ bên Mỹ qua màn hình điện thoại, có khi còn rành rẽ hơn cả anh.

Cô gái đầu tiên hai mươi bảy tuổi, làm nghề bán mỹ phẩm online, nhà hai tầng khang trang, trước sân đậu chiếc xe SH láng bóng. Anh Việt ngồi xuống khẽ kéo lại cổ áo, chỉnh lại sợi dây chuyền cho ngay ngắn rồi hắng giọng: "Bên anh làm business...". Cô gái tròn mắt hỏi: "Business gì vậy anh?". Anh đáp gọn lỏn: "Đủ thứ hết!". Cái câu "đủ thứ" nghe rất kêu, rất "Mỹ". Cô gái gật gù rồi hỏi tiếp: "Vậy anh có biết chạy quảng cáo Facebook không?". Anh im lặng. "Anh có biết làm TikTok Shop không?". Anh lại im lặng. "Vậy anh có bán hàng online không?"

Anh cúi gằm mặt nhìn xuống ly trà, mồ hôi hột rịn ra trên trán. Cô gái vẫn nhẹ nhàng lịch sự: "Vậy rốt cuộc business của anh là gì?". Anh gom hết chút can đảm còn lại, nói nho nhỏ: "Cắt cỏ...". Cô gái chỉ gật đầu: "À..." một tiếng nhẹ hều. Nhưng trong lòng anh Việt, cái tiếng "à" đó rớt xuống nghe nặng trịch. Anh tự nhiên thấy cái chữ business mình vừa khoe khoang nó quá rộng lớn, rộng hơn cái máy cắt cỏ của anh, rộng hơn cả cái sân vườn của người ta.

Cô gái không hề giễu cợt, cô còn chu đáo hỏi: "Cắt cỏ chắc cực lắm phải không anh?". Anh thật thà đáp: "Cực lắm em.". Cô bảo: "Vậy là quý rồi anh, làm ăn lương thiện bằng sức mình thì nghề gì cũng đáng trân trọng hết.". Nghe câu đó, lòng anh càng ngượng ngùng hơn gấp bội. Cô gái không hề làm anh quê, mà chính cái sự thật thà và tử tế của cô đã làm anh tự thấy ngượng với chính mình.

Bước ra khỏi nhà cô, anh lê từng bước chân nặng trĩu trên con đường làng. Anh bắt đầu hiểu ra rằng: mình không quê vì cái nghề cắt cỏ, mà mình quê vì đã lỡ đem cái nghề cắt cỏ giấu sau cái vỏ bọc business bóng bẩy. Cái nghề đã nuôi sống mình suốt mấy mươi năm qua, vậy mà mình lại thấy mắc cỡ với nó!

Cô gái thứ hai ở Long Xuyên, làm chủ ba tiệm gội đầu dưỡng sinh. Anh lại quen tay kể: "Bên Mỹ nhà nào cũng có nhà đậu hai chiếc xe.". Cô hỏi: "Anh có nhà xe không?". Anh nói có. "Nhà riêng của anh hả?". Anh ngập ngừng: "Không, anh thuê thôi...". Cô cười hiền: "Vậy cũng tốt mà anh, miễn có chỗ đậu xe là ổn rồi.".

Tối đó, tui chở anh tới bến Ninh Kiều, tui kéo anh vô quán gọi hai ly cà phê. Gió sông Hậu thổi lên mát rượi, thành phố lên đèn lung linh, dòng người qua lại nhộn nhịp. Anh nhìn chằm chằm xuống dòng nước cuồn cuộn rồi cất giọng nghẹn ngào: "Tao quê quá mày ơi..." Tui mỉm cười nhẹ nhàng: "Có gì đâu mà quê anh. Tui ăn tiền già chính phủ Canada đây mà tui có quê đâu."

Anh lắc đầu, mắt rớm lệ: "Ba mươi năm nay tao cứ tưởng tao ngon, tưởng mình ghê gớm lắm. Tao tưởng về đây người ta còn nghèo, còn dốt, còn ngồi há miệng nghe tao kể chuyện bên Mỹ. Ai dè người ta chạy trước tao xa quá rồi. Người ta biết làm ăn, biết bán hàng, biết tiếng Anh... Còn tao..." Anh chỉ tay vô ngực mình, giọng chùng xuống: "Tao ở Mỹ ba mươi năm mà tiếng Anh còn thua một cô gái bán mỹ phẩm..."

Tui vỗ vai anh: "Quê mình đâu có đứng yên một chỗ chờ mình anh. Nó lớn lên từng ngày mà. Mình nghèo thì mình nhận mình nghèo, cực khổ thì nói cực khổ, có gì đâu mà sợ."

Anh im lặng. Gió sông vẫn thổi lồng lộn. Lần này anh không cãi lại một câu nào. Có lẽ câu nói đó đã chạm tới khoảng trống thăm thẳm trong lòng anh. Anh bỗng thấy mình như người khách lạ trở về nhà cũ, mở cửa ra ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang sang trọng, còn tay mình vẫn cầm chiếc chìa khóa gỉ sét của ba mươi năm về trước.

Anh nhìn tui, ánh mắt chao đảo: "Vậy là tao lạc hậu thiệt rồi hả mày?" "Cũng chút đỉnh anh..."

Anh suy nghĩ một hồi rồi thở dài: "Chắc là nhiều lắm..."

Rồi lần đầu tiên từ ngày bước chân về nước, anh bật cười, một nụ cười nhẹ nhõm, không cần phải giữ hình tượng "Việt kiều", không cần giọng Mỹ gượng gạo, không cần chữ business, không cần sợi dây chuyền vàng nặng trịch trên cổ. Lúc này, anh mới hoàn toàn là chính anh: một người đàn ông ít học xa quê ba mươi năm, sống cực nhọc nơi đất khách quê người, kiếm được bao nhiêu tiền đều chắt chiu gửi về nuôi má. Vậy thôi, có cái gì đâu mà phải mắc cỡ?

Tui nhìn anh mà lòng trào lên một niềm thương cảm sâu sắc. Người đáng thương không phải là người làm nghề cắt cỏ. Người đáng thương nhất là người làm một công việc lương thiện bằng chính mồ hôi của mình nhưng lại luôn cảm thấy mình thấp kém, chỉ vì sợ người đời coi thường.

Anh Việt vì ít học, lại mang cái mặc cảm đó suốt ba mươi năm dài nên mới "nổ" như vậy chứ anh đâu có xấu tính. Anh "nổ" vì anh thật sự không biết mình đã sai, không biết thế giới bên ngoài đã đi xa đến mức nào. Cái sự "nổ" của anh không phải là sự hợm hĩnh của kẻ giàu sang, mà là tiếng kêu bấn loạn của một cái tôi đang cố che đậy sự tự ti tổn thương bên trong.

Anh đã mượn sợi dây chuyền vàng, mượn chữ business, mượn chiếc xe truck để thấy mình có giá trị, mà không hề biết rằng giá trị thực sự của anh đã có sẵn từ lâu rồi. Nó nằm trong ba mươi năm anh dầm mưa dãi nắng đi cắt cỏ, nằm trong những đồng tiền nghĩa tình gửi về cho má mỗi tháng, nằm trong sự lương thiện chưa từng ăn gian nói dối của anh.

Sáng hôm sau, tui tiễn anh ra sân bay. Chiếc vali lúc về đầy ắp chocolate, lúc đi thì nhẹ hều, chỉ vỏn vẹn mấy hũ mắm ruốc, mấy bịch me chua và ít khô cá má anh gói cho. Anh không còn đeo sợi dây chuyền bự chảng, không còn nhắc tới hai chữ business, cũng chẳng khoe khoang về gara hay siêu thị bên Mỹ nữa.

Anh nắm chặt tay tui, mắt ngấn nước: "Lần sau tao về, tao không nổ nữa đâu mày. Tao hối hận quá..."

Nhìn bóng lưng anh khuất dần sau cửa an ninh, lòng tui dấy lên một niềm thương mến anh vô hạn.

Anh Việt có quê mùa, có lạc hậu, có "nổ", nhưng xin đừng ai cười chê anh quá lâu. Anh chỉ dùng chút hào nhoáng còn sót lại để tự an ủi bản thân rằng những năm tháng bạt mạng nơi đất khách không phải là một chuỗi ngày vô nghĩa. Cuối cùng anh cũng đã hiểu ra: làm một người bình thường sống tử tế thì chẳng có gì phải mắc cỡ cả!

Tim Nguyễn
Đồng Tháp 2023

LỚN THUYỀN THÌ LỚN SÓNG

(May mắn, tui đứng ngoài rào, toạ sơn quan hổ đấu!)

Hồi đó thấy người ta đi lũ lượt rủ nhau vượt biên, rồi lại thấy gia đình có người đi nước ngoài ầm ầm gửi đồ về, tui cũng mơ một giấc mơ thật xa vời. Nhưng con đường tới giấc mơ của tui lại đến bằng một cú lướt mạng, gặp một ông cũng đang chán phèo, muốn tìm người tán gẫu. Rồi theo cái định luật khác dấu thì hút nhau, hai đứa tui cứ vậy mà dính nhau qua mấy chục năm. Tui theo ổng tới vùng đất Hứa, từng vẽ trong đầu một thiên đường, nghĩ rằng rồi mình sẽ đi làm, gửi tiền về, để nhà tui cũng lên đời như mấy nhà khác.

Nói phải tội, thân con gái như hạt mưa sa... tui sa đúng vào một ông chịu nuôi tui đi học, thành ra không chỉ được đặt chân lên đất Mỹ mà còn được làm đệ tử của "thầy lang hiện đại". Làm tôi tớ của bọn tư bản giãy chết này đúng là bán đi ngày tháng đổi lấy thần tài. Mà nói cho cùng, con người mình cũng là cha mẹ của thần tài chớ bộ. Mình đi làm, mình đổ mồ hôi tạo ra tiền, rồi chính mình lại tạo ra đủ thứ chi phí để nuôi tụi nó. Có điều, cái đám con cái này nó không chịu nghe lời cha mẹ. Rước Ms. Money vô cửa trước, ngồi chưa nóng đít thì Mr. Bill đã mở cửa hông tới rước đi. Hai đứa nó cứ hẹn hò nhau như con nhà người ta dựng vợ gả chồng, cha mẹ ngồi đó mà có quyền quyết định gì đâu!

Hồi năm 2016 về Việt Nam thăm ba má, có lần nhân lúc trà dư tửu hậu tui nói với một đứa em là tui còn nợ khoảng 75 ngàn đô tiền nhà. Nó nghe xong tỉnh bơ: "Vậy thì khỏe thôi! Trả vài tháng là xong!" Tui ngồi im mấy giây, trong bụng muốn hỏi: "Ủa, em tưởng chị có máy in tiền trong nhà hả?" 75 ngàn đô mà trả vài tháng! Chắc tui phải đi cướp ngân hàng chớ đi làm bình thường sao nổi.

Nhưng nghĩ lại thì cũng không trách nó. Ở xa, người ta chỉ nghe một con số nên dễ tưởng đó là số tiền mình đang có. Cũng giống như chuyện một người bạn của tui. Chồng bạn làm kỹ thuật cho một công ty Semiconductor, một năm kiếm gần 80 ngàn đô. Một đứa cháu ở Việt Nam hỏi mượn 3 ngàn. Bạn không cho, nó nói: "Một năm kiếm gần 80 ngàn mà 3 ngàn cũng không có để giúp!" Nghe cũng mắc cười. 80 ngàn đó là tiền kiếm trong cả một năm, chớ đâu phải 80 ngàn nằm sẵn trong túi, cần là móc ra. Mà ngay cả có 3 ngàn trong tay, người ta cũng có quyền quyết định có cho mượn hay không.

Mà mắc cười nhứt là trước khi gia đình thằng em trai qua Mỹ, tui cũng có một màn "công tác tư tưởng" với thằng cháu trai. Tui nói trước cho nó biết, thời gian đầu cả gia đình phải kề vai sát cánh mà làm ăn, gây dựng cho được một cái nền tảng ổn định. Nó nghe xong gật gù rồi tuyên bố: "Mỗi tháng con chỉ xài 10% tiền lương, còn lại con để dành 90%." Mẹ ơi! Nghe mà tui muốn vỗ tay. Nếu người Việt Nam nào qua Mỹ cũng làm được như nó nói thì chắc giờ này bà con mình dọn vô Phố Wall hết rồi, khỏi cần đi làm hãng, làm nail hay chạy tới chạy lui kiếm thêm jobs chi cho cực.

Nhưng qua Mỹ rồi mới biết, tiền lương vừa vô tài khoản thì một đám "con cháu" đã đứng chờ sẵn trước cửa: mortgage, điện, nước, xe cộ, bảo hiểm, thuế, ăn uống, đủ thứ bill lớn nhỏ. Tay làm hàm nhai, tiền đi vô cũng biết đường mà đi ra. Muốn để dành được 90% thì trước hết phải có cái bụng biết sống bằng 10% - mà cái bụng này nhiều khi nó không chịu hợp tác.

Rồi tui từng biết một câu chuyện khác, số tiền không còn là 3 ngàn nữa mà lên tới 100 ngàn. Hồi mới qua Mỹ, hai vợ chồng người bạn làm việc quần quật, có overtime là làm, vừa trả mortgage vừa gửi tiền về phụ cha mẹ hai bên. Một hôm má bạn nói: "Con cứ gửi lẻ tẻ tiền về hoài, tiền manh mún không làm ăn gì được. Giờ con cho má 100 ngàn. Gửi cho má một lần thôi. Má làm ăn, sau này con khỏi cần gửi nữa." Tui nghe mà rùn mình. Một trăm ngàn chớ đâu phải một trăm đồng. Chồng bạn cũng cực lực phản đối: "Mình còn không có 100 ngàn, tại sao phải đi vay ngân hàng để đưa cho người khác?"

Nhưng bạn tui lại nghĩ đó là cách trả công nuôi dưỡng của mẹ. Nghĩ vậy nên bạn quyết định thế chấp lại căn nhà mà hai vợ chồng đã phải vắt giò lên cổ làm hai, ba jobs mới trả xong, rồi vay ngân hàng 100 ngàn gửi về Việt Nam. Khỏi nói, chuyện gì tới cũng tới. Hai vợ chồng ly dị. Số tiền về Việt Nam cũng dần dần mất hết qua tay người em trai, rồi cờ bạc, gái gú, rượu chè, cuối cùng không còn một teng. Tui không muốn phán xét má bạn đúng hay sai, cũng không nói bạn tui lúc đó đúng hay sai. Má bạn có cái lý của má, bạn tui có cái lý của bạn. Chỉ tiếc là một quyết định về tiền lúc đó lại kéo theo một cái giá quá lớn. Tiền mất còn có thể kiếm lại, chớ một cuộc hôn nhân đổ rồi thì đâu phải muốn ráp lại là ráp được.

Tui xa quê đã 24 năm, càng sống lâu càng thấy một chuyện rất đơn giản: người ta kiếm được bao nhiêu là chuyện của người ta. 40 ngàn, 80 ngàn hay 120 ngàn thì cũng phải liệu cơm gắp mắm. Cơm nhiều thì gắp nhiều, cơm ít thì gắp ít. Phía sau một mức lương là nhà cửa, con cái, cha mẹ, nợ nần, bảo hiểm và đủ thứ chuyện phải lo. Mình chỉ nghe được cái người ta kiếm, chớ mình đâu biết cái người ta phải trả.

Còn đời mà lên hương thì... lớn thuyền lớn sóng. Làm trối chết thì cũng phải ngóc đầu lên mà thở một chút, hưởng chút mưa móc hồng trần, chớ chẳng lẽ cứ cong đít đi làm, dành dụm được bao nhiêu rồi đem đi cho hết? Mình cực khổ làm ra tiền cũng đâu phải chỉ để nuôi thiên hạ. Đôi khi cũng phải biết dành một phần cho mình, để còn được làm ông vua trong cái vương quốc nhỏ của mình - một căn nhà ấm cúng, một bữa cơm ngon, một chuyến đi chơi, hay đơn giản là một ngày được ngồi yên, không nghe ai réo tên mình.

Tui nghĩ giúp được nhau là chuyện đáng quý, nhất là người thân trong nhà. Nhưng giúp tới đâu còn tùy khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Đừng lấy mức lương của người khác làm thước đo xem họ có nghĩa vụ phải giúp mình bao nhiêu. Người ta kiếm được đồng tiền đó bằng thời gian, bằng sức lao động, bằng những ngày đi làm mệt muốn đứt hơi, có khi phải chắt bóp từng đồng, giật gấu vá vai để lo cho cuộc sống của mình. Không cho mượn không có nghĩa là keo kiệt. Có khi người ta không có. Có khi có nhưng số tiền đó đã có chỗ phải đi. Và cũng có khi đơn giản là người ta không muốn cho mượn. Vậy thôi.

Ở Mỹ đi rồi biết, đô la không phải lá cây mà hái xuống được. Nó là những giờ đi làm, những ngày tăng ca, những khoản phải tính toán và những năm trả nợ. Cho nên giờ ai nói với tui: "Lương vậy mà không có tiền hả?" Tui chỉ cười. Tui đâu có giấu tiền. Tui chỉ giấu... mấy cái bill thôi. Mà khổ nỗi, tụi nó biết đường về nhà.

Hong Khuu, 07/09/2026

THỦA BAN ĐẦU

Sau khi vợ tôi có cái visa cầm trong tay, chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm chỉ sợ có gì trục trặc thì phiền lắm.

Lần đầu tiên vợ tôi đi máy bay nên hơi run nhất là khi máy bay mới bắt đầu cất cánh. Trãi qua thêm hai chuyến bay nữa mới đến tiu bang tôi ở. Bước xuống máy bay đi ra ngoài phi trường vợ tôi như lạc vào một hành tinh khác. Những tòa nhà cao tần, đường xá rộng rãi, xe ôtô chạy đầy đường, không còn thấy những chiếc xe gắn máy, không còn những chiếc xe lam, hay xích lô khi còn ở Bên Philippines nữa. Không còn những tiếng còi xe inh ỏi mỗi ngày và khói xe mịt mù.
Vợ tôi ngơ..ngơ ngác..ngác.. cái gì cũng thấy lạ mắt. 

Ở bên Philippines vợ tôi chưa biết dùng xe đạp nên tôi mua một chiếc cho vợ tôi tập. Thế nhưng cứ mỗi lần buông tay ra là vợ tôi ngã. Tôi mua hai cái bánh xe nhỏ gắn hai bên cho khỏi ngã, nhưng vẫn vậy. Thôi dẹp cái xe đạp qua một bên. Tôi hỏi vợ tôi có muốn lái xe ôtô không? Vợ tôi lắc đầu lia..lịa..nói: em lái xe đạp còn không được, lái xe ô tô sao được. Tôi nói: không được cũng phải được vì ở đây không biết lái xe ôtô kể như không có chân để đi vì đường xá rất rộng rãi lết bộ thì không thể nào được đón xe bus vào mùa đông buốt giá thì còn khổ hơn, thế là nói mãi vợ tôi mới chịu học lái.

Tôi dẫn vợ tôi đến một bãi đất trống. Ngồi lên tôi dậy bật đèn xe, và chỉ cách đạp thắng, đạp ga và nói vợ tôi chỉ dùng một chân mà thôi, nhưng vợ tôi cứ để hai chân, một chân ở ga, còn một chân để ở thắng. Cái xe di chuyển cứ cà khựng..cà khựng.. nhập nhờn. Thắng cứ nhấp liên tục. Cứ cái đà này mà chạy ra ngoài đường thì rất nguy hiểm. Tôi nói nếu em còn dùng hai chân nữa thì anh buộc cái chân kia của em lại. Sau hai tháng thì vợ tôi đã quen dùng một chân nhưng vẫn còn chưa vững. Mỗi lần ngồi trên xe vợ tôi cứ cứng đơ hai tay ôm chặt tay lái, người chúi về phía trước như nhìn cái mui xe. Tôi nói: em nhìn đường kìa nhìn mui xe làm gì? Ngồi bên bà xã lái vòng..vòng.. trong cái sân trống không mà cũng làm cho mình toát cả mồ hôi hột.

Sau bốn tháng thì thấy cũng tiến triễn nên chở bã đi thi lý thuyết. Ấy thế mà một lần đầu tiên lại đậu. Cầm cái bằng giấy trong tay bà xã tôi vui lắm, nhưng tôi vẫn còn lo vì cái tướng của bã ngồi lái xe cũng như bà già nhìn tức cười lắm, không có tự nhiên chút nào. Sau vài tháng tôi hỏi vợ tôi có muốn đi thi lái xe để lấy bằng không? Thì vợ tôi đáp ngay muốn. Em chắc không? Chắc mà anh. Ok thế là tôi chở vợ tôi đi thi. Tôi đứng ở ngoài đợi thì thấy vợ tôi chở theo ông giám khảo cầm cái bảng ghi chép từ..từ.. tiến ra đường cái. Tôi nghĩ bụng chắc là ok rồi. Ngồi đợi chưa đến mười phút thấy xe bà xã trở về. Ôi mừng quá ! Chắc là ok rồi, nhưng khi thấy ông giám khảo bước ra mặt xanh lè đóng cửa cái rầm viết cái gì trên tờ giấy rồi đưa cho vợ tôi. Tôi vội hỏi sao rồi em? Vợ tôi lắc đầu buồn bã nói: rớt rồi ! Sao vậy em? Em vượt hai cái đèn đỏ, một cái rẽ phải cái bản nhỏ xíu đề: "không được quẹo phải" khi đèn đỏ mà em đâu có đề ý, còn cái thứ hai em thấy mới có đèn vàng nên em phóng thẳng luôn. Úi zơi ơi ! Em lái như thê anh còn sợ nói chi đến ông già giám khảo đó. Thôi đừng buồn nữa em, đó cũng là những kinh nghiệm cho lần sau..

Ba tháng sau tôi lại chở bà xã đi thi. Lần này thì may mắn thay đã được đậu. Cầm cái bằng lái có hình của mình trong đó vợ tôi mừng lắm thế là hai vợ chồng đi mua xe. Bên này hai vợ chồng cũng phải có ít nhất là hai xe để đi làm. Tìm vài nơi thì vợ tôi ưng ý một chiếc Honda automatic màu xám mang về nhà bà xã hí hững lau chùi láng cóng mỗi ngày.

Một tháng sau vừa đi làm về thì thấy bà xã ngồi khóc nức nỡ. Tôi vội hỏi: sao vậy em? Vợ tôi nói: em bị đụng xe. Tôi giật mình hỏi: em có sao không? Hay anh chở em đi khám bác sĩ nhé? Vợ tôi lắc đầu nói : em không sao, chỉ tội cho cái xe. Ủa em đụng ai? Hay người ta đụng em? Vợ tôi vẫn khóc nói: trời tuyết em thắng một cái mà cái xe lao thẳng vào nhà người ta. Chết chửa ! Vậy có ai bị gì không? Không, em chỉ tông xập hàng rào mà thôi. Tôi nói: người không sao là may lắm rồi, còn cái xe thì bảo hiểm đền em không sao là tốt rồi. Trời tuyết em đừng thắng gấp, nhấp từ..từ.. mà thôi. Bị một lần thì sẽ có kinh nghiệm ngay.

Thế mà bây giờ sau mấy chục năm vợ tôi cũng chỉ dám lái xe trong thành phố mà thôi chứ không dám lái ra xa lộ. Nhưng từ hồi có cái xe mà bà xã tôi đi học, đi làm không phải đứng đón xe bus nữa. Bên này ai cũng phải cố gắng có một chiếc xe ôtô vì mùa đông mà không có xe thì khổ lắm

Dung Dinh



Ngày còn trẻ, hắn có một tiêu chuẩn rất rõ ràng về phụ nữ. Phải xinh. Xinh trước đã, chuyện khác tính sau.

Hắn từng nghĩ đàn ông lấy được một cô vợ đẹp thì đi đâu cũng nở mày nở mặt. Bạn bè nhìn vào phải có chút ghen tị. Ra đường phải có người ngoái lại. Đăng ảnh hai vợ chồng lên mạng phải có vài chục người vào bình luận: “Đúng là trai tài gái sắc.”

Nghĩ thì hay lắm.
Cho đến ngày hắn lấy vợ.
Vợ hắn không xấu. Nhưng cũng chẳng đẹp đến mức người ta phải đứng lại giữa đường để chiêm ngưỡng. Nàng thuộc kiểu phụ nữ mà lần đầu gặp, người ta nhìn một cái rồi thôi. Lần thứ hai gặp, thấy cũng được. Đến lần thứ mười thì bắt đầu thấy… dễ thương.
Còn đến lần thứ một trăm thì hắn phát hiện ra một chuyện rất nguy hiểm: Hắn quen nhìn thấy nàng rồi.
Sáng mở mắt thấy nàng. Tối đi làm về thấy nàng. Cuối tuần thấy nàng. Đi đâu vài hôm không thấy nàng lại nhớ.
Đấy mới là vấn đề.

Nhan sắc hóa ra cũng giống pháo hoa. Lúc đầu rất đẹp. Nhưng sáng hôm sau chẳng còn gì.
Còn một người khiến mình quen với sự có mặt của họ đến mức vắng một ngày đã thấy căn nhà trống đi một nửa, thì lại là chuyện khác.
Vợ hắn chẳng bao giờ trang điểm cầu kỳ. Có hôm tóc tai rối tung, mặc nguyên bộ đồ ở nhà, đi dép lê kéo loẹt quẹt từ phòng khách vào bếp.
Hắn nhìn mà buồn cười.
Nàng quay sang:
- Nhìn gì?
- Không có gì.
- Không có gì thì đừng nhìn.
Hắn quay đi. Nhưng khóe miệng vẫn cười.
Có lần hắn bị người ta làm khó trong công việc. Về nhà mặt mũi bí xị. Nàng đang nhặt rau, chẳng ngẩng đầu lên:
- Lại có chuyện gì?
Hắn kể.
Nàng nghe hết. Không bênh chồng mù quáng. Không chửi người khác hộ chồng. Nàng chỉ hỏi:
- Anh sai chỗ nào?
Hắn im.
- Người ta sai chỗ nào?
Hắn nghĩ.
- Vậy thì mai giải quyết từng cái một.
Xong nàng lại cúi xuống nhặt rau. Bình thản như thể chuyện hắn vừa kể chỉ là giá rau hôm nay hơi đắt.
Hắn nhìn nàng một lúc rồi bật cười.
Đúng là vợ.
Người ngoài cho mình lời khuyên. Vợ cho mình cái đầu lạnh để tự giải quyết vấn đề.

Nàng cũng chẳng phải người phụ nữ lúc nào cũng dịu dàng. Giận thì nàng giận thật. Cãi nhau cũng chẳng vừa. Có hôm hắn đang định tranh luận cho ra ngô ra khoai thì nàng nói:
- Anh nói tiếp đi.
Hắn nói tiếp.
Nàng:
- Tiếp đi.
Hắn thấy có gì đó không ổn.
Nói thêm được ba câu thì tự nhiên… hết muốn nói.
Đàn ông lấy vợ lâu năm thường có một kỹ năng rất đáng nể: Biết lúc nào mình đúng nhưng vẫn nên im.
Nhưng đùa vậy thôi.

Sau nhiều năm, hắn mới nhận ra mình từng hiểu sai về chuyện lấy vợ. Hắn từng nghĩ phải lấy một người khiến thiên hạ ngưỡng mộ. Sau này mới hiểu, lấy vợ là tìm một người mà mình có thể sống một cuộc đời bình thường cùng họ mà không thấy chán.
Không cần ngày nào cũng hoa. Không cần tháng nào cũng quà. Không cần lúc nào cũng nói những lời ngọt ngào.
Chỉ cần lúc mình bệnh có người mua thuốc. Lúc mình thất bại có người ngồi cạnh. Lúc mình thành công có người thật lòng vui. Lúc trong túi chẳng còn bao nhiêu tiền vẫn có người tính: “Tháng này mình tiết kiệm thế nào?”
Và quan trọng nhất…
Sau một ngày ngoài kia phải làm người mạnh mẽ, về nhà mình được phép là chính mình.

Hắn bây giờ không còn quan tâm người khác nhận xét vợ hắn đẹp hay không.
Bởi vì người ngoài chỉ nhìn thấy khuôn mặt của nàng. Còn hắn đã nhìn thấy cả một đời người phía sau khuôn mặt ấy.
Hắn biết nàng cười thế nào khi vui. Im lặng thế nào khi buồn. Lo lắng ra sao khi con ốm. Thức khuya thế nào khi hắn chưa về.
Và hắn biết, trong những ngày hắn chẳng có gì đáng để tự hào, nàng vẫn gọi hắn bằng cái tên thân thuộc nhất:
“Chồng.”
Thế là đủ.

Ngoài kia có người đẹp hơn vợ hắn. Chắc chắn. Có người trẻ hơn. Có người ăn mặc sang hơn. Có người chụp ảnh lên mạng nhìn lung linh hơn rất nhiều.
Nhưng hắn chẳng còn quan tâm.
Bởi vì…
Hắn đâu có lấy vợ để thiên hạ ngắm.
Hắn lấy vợ để cùng một người đi hết những năm tháng mà chẳng ai biết trước sẽ vui hay buồn.
Đẹp là lợi thế.
Nhưng hợp nhau mới là may mắn.
Và nếu có ai hỏi hắn:
- Sau từng ấy năm, ông thấy vợ mình thế nào?
Hắn sẽ cười:
- Bình thường.
Rồi nghĩ một chút.
- À không…
Với tôi thì đặc biệt.

jimmy Nguyen
Chè Nước Sôi

Có những thứ mình tưởng đã gạt lại được bên kia đại dương, vậy mà không hiểu sao nó cứ lén lút tìm đường mò về - giống như một sợi dây tơ, chăng tít tắp mà buộc chặt đâu đó trong lòng mình. Mình càng đi xa, nó càng thả dây dài ra, dài tới mức tưởng đâu đã đứt. Vậy mà lâu lâu, từ đầu dây bên kia, đất mẹ lại giật nhẹ một cái - nghe một tiếng Việt quen quen, thấy một món ăn cũ, bắt gặp một chữ viết sai sai - vậy thôi mà nguyên cái thân mình rung lên bần bật, như bị ai gọi tên từ trong ký ức.

Tui là người Việt Nam. Sống ở xứ Mỹ này bao nhiêu năm đi nữa thì cái mũi tẹt, cái da vàng vẫn tỉnh bơ bám theo, không thèm xin phép ai hết. Có những thứ mình muốn quăng bớt cho nhẹ lòng, nhưng cái gốc thì nó không chịu buông. Nó nằm im đó, lâu lâu trở mình một cái, làm mình nhớ quê tới nghẹn họng. Tự nhiên nhớ Sài Gòn, nhớ tiếng Việt, nhớ một cái gì đó không gọi tên được. Cảm giác nó là lạ, giống hồi nhỏ lên cơn suyễn giữa đêm - ngực nghẹn lại, thở không ra hơi, phải ngồi dậy hít một hơi thiệt sâu rồi tự dỗ mình: "Từ từ, thở đi bà nội, không thôi quê hương chưa kịp về đã xuống chầu tiên tổ!"

Mà cái chuyện giữ tiếng Việt trong nhà tui cũng có sắc màu hơi đặc biệt. Con gái tui ở nhà với tui tới bốn tuổi, quanh quẩn chỉ nghe toàn tiếng Việt. Vậy mà coi phim hoạt họa một hồi, nó tự học tiếng Mỹ mình ên. Chở nó ra thư viện, thấy đám con nít Mỹ đang chơi là nó nhào vô nhập bọn tỉnh queo. Hai đứa nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ "Mỹ con", đứa ngọng kiểu này, đứa ngọng kiểu kia, vậy mà hiểu nhau rắp rắp. Chắc trẻ con có một thứ ngôn ngữ quốc tế riêng, người lớn học cả đời chưa chắc bằng.

Tới lúc vô lớp Pre-K, những màn "chuyển ngữ" của nó bắt đầu làm bà mẹ này nhiều phen đứng hình. Có bữa đi học về, nó chạy tới phán một câu xanh rờn:
"Mommy, con muốn ăn chè nước sôi!"

Tui khựng lại. Chè thì tui biết. Nước sôi tui cũng biết. Nhưng "chè nước sôi" là cái món gì trời? Hỏi tới hỏi lui một hồi mới vỡ lẽ: nó đem nguyên cái cú pháp tiếng Anh ráp ngược vô tiếng Việt, thế là món "chè sôi nước" của má nó, qua một vòng trong cái đầu Mỹ con, biến thành "chè nước sôi". Tui nghe xong bật cười. Con nhỏ cũng cười theo, tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra. Một đứa nhỏ lớn lên giữa hai dòng nước, có lúc chẳng biết tiếng nào đang cầm tay lái.
Nhưng đó mới chỉ là màn khởi động.

Có lần nó tập đọc chữ "cò". Tui ngồi kế bên, trong bụng mừng thầm, tưởng đâu tiếng Việt của con mình bắt đầu có tương lai. Nó nhìn chữ, lấy hơi đánh vần rất tự tin:
"Cờ o co sắc cò."

Tui với ba nó trố mắt nhìn nhau.
"Ủa? Huyền mà con!"

Nó vẫn tỉnh bơ. Đối với nó, dấu sắc hay dấu huyền chắc cũng không quan trọng lắm, miễn cuối cùng ra được chữ "cò" là coi như thành công. Hồi nhỏ ở quê tui từng nghe người ta kể chuyện đánh vần tiếu lâm "trờ âu trâu huyền bò" cho vui miệng, không ngờ mấy chục năm sau, cái phiên bản nâng cấp đó lại chạy thẳng vô nhà mình, không báo trước một tiếng.

Chưa hết đâu. Cô giáo cho bài tập điền vào chỗ trống, câu hỏi là: "Chiều nay mẹ em đi thăm..." Tui nghĩ bụng câu này dễ ợt. Ai dè con nhỏ hí hoáy viết một hồi, rất nghiêm túc điền vô: "Con bò."
Tui đọc xong muốn té ghế.

"Chiều nay mẹ em đi thăm con bò."
Ủa? Mẹ nào mà rảnh rỗi đi thăm con bò không biết?

Con nhỏ thì tỉnh bơ, cắm cúi làm bài tiếp theo, như thể vừa viết xong một câu chuyện hết sức bình thường.

Lại có lần tui lấy tờ khai sinh của ba nó ra, chỉ cho nó coi nơi sinh. Trên giấy ghi "Kiên Giang". Nó đọc tới đọc lui một hồi, rồi long trọng tuyên bố quê quán của ba nó là xứ... "Kiến Vàng". Ba nó nghe xong chắc trong bụng có cả đàn kiến đang bò. Kiên Giang. Kiến Vàng. Thôi thì cũng được, ít ra qua miệng con nhỏ, quê quán của ba nó nghe còn sinh động hơn bản gốc.

Nhưng câu làm tui nhớ dai nhất, lại là một câu tiếng Anh. Hồi đó chụp hình xong đâu có điện thoại coi liền như bây giờ, phải đem cuộn phim ra tiệm rửa. Một bữa nó nói chuyện với bạn, tỉnh rụi:
"My dad leaving to wash picture."

Tui nghe xong đứng hình tại chỗ. Ba nó có đem hình đi giặt hồi nào đâu! Trong đầu tui lập tức hiện ra cảnh ổng đứng trước máy giặt, bỏ mấy tấm hình vô, cho thêm chút xà bông, bấm nút "Normal Wash", rồi đứng chờ hình nó vắt xoay trong lồng giặt - tự nhiên mắc cười muốn chết. Nhưng tui không sửa lưng nó liền. Tui chỉ đứng nghe. Nó biết "rửa hình" trong tiếng Việt. Nó biết "wash" là rửa, "picture" là hình. Nó chỉ lấy những chữ mình có sẵn, ráp lại theo cách của một đứa nhỏ đang học cả hai thứ tiếng cùng lúc.

Những chuyện như vậy cứ nối đuôi nhau trong căn nhà nhỏ. Có lúc tiếng Anh thắng thế, có lúc tiếng Việt trồi lên, có lúc hai đứa bắt tay nhau đẻ ra những câu mà người lớn nghe xong chỉ còn biết ôm bụng cười.

Nhưng đâu phải lúc nào tui cũng cười nổi. Có bữa đi làm về mệt, nó lại buột miệng nguyên câu tiếng Anh giữa bữa cơm, tui gắt lên một tiếng, biểu nói tiếng Việt lại coi, giọng chắc không dễ nghe gì. Con nhỏ im re, cúi mặt ăn cơm. Tối đó tui nằm nghĩ lại, thấy mình kỳ cục - mình muốn giữ cái tiếng của quê hương cho nó, mà lại giữ bằng cách quát nó. Không biết bữa đó nó có nhớ không, chớ tui thì nhớ hoài.

Từ đó tui ráng bớt ép con. Tui vẫn muốn nó biết tiếng Việt, nhưng không còn muốn biến tiếng Việt thành một thứ bài tập mà nó phải làm cho đúng để khỏi bị mẹ la. Tui chỉ sợ một ngày nào đó nó không còn hiểu tiếng của ông bà, không biết kêu "má", kêu "ba", không biết những câu thương yêu rất đỗi bình thường trong tiếng Việt mà khi dịch qua tiếng Anh, tự dưng nghe lạnh đi một khúc. Bởi vậy tui mới gửi nó vô nhà thờ học thêm chữ Việt. Không phải để nó thành nhà văn hay giáo sư Việt ngữ gì. Chỉ mong nó giữ lại được một chút tiếng nói của gia đình. Một chút thôi cũng được.

Rồi con cũng lớn.
Đứa nhỏ từng nói "chè nước sôi", từng đánh vần "cờ o co sắc cò", từng viết "con bò" vô bài tập, từng khiến ba nó đi "wash picture", từng biến Kiên Giang thành Kiến Vàng... bây giờ đang học đại học, sống trong ký túc xá. Cũng như tui ngày xưa từng ở ký túc xá. Chỉ khác là ngày xưa tui đi học với cái đầu đầy mộng tưởng và cái túi tiền lép xẹp. Còn nó đi học với cả một dàn hậu thuẫn phía sau, lâu lâu mới mò về nhà "ngoại giao" để xin thêm viện trợ.

Con cái lớn nhanh thiệt. Lúc nhỏ thì cứ bám riết lấy mình. Lớn lên thì bám cái cửa phòng ký túc xá. Hồi nó còn nhỏ, mình chỉ mong nó mau lớn để mình được rảnh tay rảnh chân. Tới chừng nó lớn thiệt rồi, mình mới hiểu cái chữ "rảnh" đó, đôi khi nó buồn dữ lắm.

Có những hôm tui bước vô phòng con, nhìn cái giường trống, cái bàn trống, mấy món đồ nằm im lìm, mà tự nhiên hụt một nhịp thở, y như cái bữa lên cơn nhớ quê ngày trước - chỉ khác lần này không phải nhớ Sài Gòn, mà nhớ một đứa nhỏ từng chạy rần rần trong chính căn phòng đó. Con mình đâu có khổ sở gì, nó đang có một cuộc đời rộng hơn, có cơ hội học hành, có một tương lai của riêng nó mà ngày xưa tui chưa chắc dám mơ tới - tui mừng thiệt tình. Chỉ là trong cái mừng đó, tự nhiên có một khoảng trống chen vô, không mời mà tới.

Nhà vẫn vậy. Cái bàn vẫn đó. Căn phòng vẫn đó. Chỉ có tiếng "Mommy!" là không còn vang lên thường xuyên nữa.

Hai người già ngồi giữa một căn nhà từng đầy tiếng trẻ con, tự nhiên lại đâm ra thèm nghe những câu nói sai ngày trước. Ngày đó nghe, chỉ biết cười. Bây giờ nhớ lại mới thấy, đó chính là những âm thanh đẹp nhất của một thời con còn bé bỏng.

Có lẽ làm cha mẹ nơi xứ người là vậy đó. Mình đưa con đi thật xa để nó có một tương lai rộng hơn, rồi tới một ngày nó thật sự bước hẳn vào cái tương lai đó, mình đành đứng lại phía sau mà nhìn theo, thấy nó rõ mồn một trước mắt mà xa như cách nhau một thế hệ.

Mình cứ tưởng mình là người dạy nó tiếng của quê hương. Tới chừng nó xách vali đi, mới nhận ra hóa ra suốt bao năm nay, chính nó mới là đứa dạy mình cách buông tay - mà dạy hồi nào mình cũng không hay.

Để rồi một ngày, mình chợt nhận ra mình đã sống cả một đời giữa hai bờ cõi: một nơi mình đang ở, và một nơi mình chưa từng thật sự rời khỏi. Ngày xưa tui sợ con mình lớn lên sẽ mất tiếng Việt. Sau này mới hiểu, tiếng Việt không chỉ nằm trong chuyện nói đúng hay sai. Nó nằm trong chữ "má", chữ "ba", trong cái giọng con gọi mình lúc còn nhỏ, trong những câu nói lộn xộn mà chỉ có người trong nhà mới hiểu.

Quê hương đôi khi đâu cần mình phải quay về. Chỉ cần một chữ "Kiên Giang" bị đọc trẹo thành "Kiến Vàng", một chữ "cò" mà dấu nào gắn vô cũng cứ ra cò, hay một câu "wash picture" ngây ngô... cũng đủ để cái sợi dây vô hình bên kia đại dương giật nhẹ một cái.

Nhẹ thôi.
Mà đau thì nguyên người biết.

Còn tui, nếu một ngày nào đó con gọi điện về rồi nói: "Mommy, con muốn ăn chè nước sôi" - tui thề tui không sửa nữa. Tui sẽ chạy vô bếp nấu cho nó một nồi thiệt ngon, cho nó ăn, rồi hai mẹ con ngồi cười. Có những thứ, lúc còn có thì mình chỉ thấy nó mắc cười. Tới khi mất rồi, mới biết đó là tiếng của một thời mình thương nhất.

Có ai trong quý vị cũng đang sống giữa hai thứ tiếng, hai quê hương, hai thế hệ như tui không? Kể tui nghe với. Biết đâu trong cái sự "mất gốc" tưởng chừng của người này, lại đang có một cọng rễ mới, âm thầm mọc lên trong lòng người kia.

Hong Khuu, 07/09/2026

CHUYỆN BUỒN XỨ ÚC

Ông chủ tiệm tạp hoá Hồng Hưng không qua khỏi. Ông đang dọn hàng, thấy một nhóm thiếu niên ăn cắp đồ ở một shop gần đó rồi bỏ chạy, chủ shop tri hô. Ông chạy đến nắm giữ tên ăn trộm. Hắn tuổi vị thành niên nhưng to như con voi. Đang giằng co thì đồng bọn chúng lao tới đánh hội đồng. Ông bất tỉnh tại chỗ và không tỉnh lại cho tới lúc mất ba ngày sau đó. Ông là trụ cột chính trong gia đình. Mất đi để lại vợ và hai con. Chuyện xảy ra không ngờ.

Dạo gần đây tội phạm thiếu niên nhiều. Chúng khoái vô các shopping uýnh lộn, mang dao và các hung khí tự chế. Khiến các shop phải thuê bảo vệ. Chi phí dồn lên khách hàng. Cảnh sát bắt nhiều nhưng không có hình phạt tương xứng nên chúng không sợ. Có điều ta không để ý, rằng khi có chút “thuốc” trong người thì không sợ gì hết. Những loại ma tuý mới nó dễ xài như cục kẹo.

Có lần tui nghe một người Việt từng ở tù bên Úc kể chuyện. Tui tính viết mà thấy không nên, nên thôi luôn. Anh này mê đá gà. Đi làm, tiền lương bao nhiêu cúng vô độ hết. Rồi ảnh nuôi gà đá. Thuê một farm ở xa và nuôi lén lút. Nghe ảnh kể việc chăm sóc gà với niềm đam mê nó sẽ thắng độ. Tui mới biết mình mê …thứ khác cũng là may. Ảnh kể có trường gà đá trong farm mà ngày cáp độ, gà các tiểu bang khác đem đến nườm nượp. Có livestream phục vụ người ở nhà và bắt độ online. Một lần anh bị cảnh sát vây bắt. Dân độ bỏ xe chạy tứ tung vào rừng nhưng đều bị bắt hết vì cảnh sát có trực thăng và chó nghiệp vụ. Anh trốn trong một ống cống tưởng thoát thân, ai dè một chú gâu gâu mò tới. Lần đó anh bị ba năm tù vì đã có tiền án với tội danh tương tự. Ở được một năm, anh được về nhà nhưng không được ra khỏi nhà. Gọi là “tù tại gia”. Đeo cái vòng ở cổ chân. Bước ra khỏi hàng rào là cảnh sát biết liền. Bạn bè có thể tới chơi. Ở nhà buồn, ảnh làm vườn trồng cây. Tiền trợ cấp đủ sống. Ảnh nói cho về nhà, một năm chính phủ tốn có hai mươi mấy ngàn trợ cấp. Còn ảnh ở trong tù, tính ra chính phủ phải chi cho một phạm nhân trên hai trăm ngàn. Nuôi ăn, nuôi bịnh, canh gác, điều hoà khí hậu… thôi thì đủ thứ. Tội phạm vị thành niên thì tốn gấp đôi vì nếu để chúng “trầy trụa” chút, là đủ thứ kiện tụng. Chưa kể nếu cần giáo dục, thì tiền trả cho chuyên gia tâm lý, tâm thần… cả trăm đô một giờ…

Nên cũng phải thông cảm cho chính phủ. Và hiện nay nhiều loại ma tuý phổ biến trong giới trẻ, mà gia đình tui đã gặp phải.

Khi tui qua Úc, ở với chị này. Chị có con riêng là một cháu trai. Khi vào trung học, cháu chơi với bạn và “dính”. Tui là người thường xuyên vô đồn cảnh sát để bảo lãnh cháu về nhà. Đôi lúc mình hỏi cảnh sât cháu bị tội gì mà bắt hoài vậy?. Họ cho xem vài video. Có cảnh cháu dùng dao “xin tiền” một hành khách đi tàu điện. Họ đưa cho tui xem hung khí là cái lưỡi cưa sắt của tui, cháu mài nhọn hoắt. Trên đường chở cháu về nhà, nước mắt nước mũi cháu giàn giụa. Cháu xin hai chục đô và nói ngừng xe ở một ga tàu điện. Chỉ một loáng là cháu trở lại mặt tươi tỉnh hồng hào. Rồi cháu bỏ học. Tui dắt cháu theo tui đi làm mong sẽ “cai” được. Nhưng vô phương. Cháu hay nóng giận vô cớ. Đấm lủng tường khi giận dỗi. Khi tui và mẹ cháu ly dị rồi, có lần nghe tin cháu bóp cổ bà suýt chết. Khỏi nói là gia đình tan nát và khủng hoảng đến thế nào.

Mỗi thời đại có nỗi khổ khác nhau. Khi nghèo chỉ lo cái ăn là mừng. Khi đầy đủ thì lại lo cái khác. Họ ăn trộm không phải vì nghèo đói mà vì con giun nó đang ngoáy trong cơ thể. Và ta biết lúc này họ mạnh lắm. Nắm đấm hơn trăm ký, đánh túi bụi vào một người già….Chịu sao nổi. Nghe tin mà phẫn uất. Không hành động thì mang tiếng hèn, mà hành động thì thiệt hại không thể tả. Xin cầu nguyện cho anh. Dẫu sao anh đã làm chuyện đúng. Ít nhất sau này không tên nào dám “quậy” ở khu phố người Việt.

Jimmy Nguyen 






Blog Archive