Thursday, September 17, 2026

Một vụ án đặc biệt nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến cộng đồng người Việt tại Đài Loan vừa được Cơ quan Di dân Đài Loan công bố

Một phụ nữ gốc Việt họ Nguyễn (阮), 44 tuổi, đã kết hôn và sinh sống tại Đài Loan hơn 20 năm, bị cáo buộc tự xưng là “Phật sống chuyển thế”, lấy danh nghĩa tôn giáo để lôi kéo tín đồ Việt Nam đưa cả con nhỏ sang Đài Loan “tu hành”. Kết quả điều tra cho thấy 4 trẻ em Việt Nam, khoảng 8–14 tuổi, bị bố trí làm việc không lương trong thời gian dài.

Theo CNA và United Daily News, người phụ nữ họ Nguyễn tự nhận có khả năng biết trước tương lai, đồng thời truyền bá những nội dung như “ngày tận thế sắp đến”, “nước sạch có thể chữa bệnh”, “có thể chữa các bệnh nan y” và “lao động theo chỉ dẫn của sư phụ sẽ giúp tiêu trừ nghiệp chướng, tích công đức”. Những thông điệp này được truyền qua Internet để tác động tới một số tín đồ ở Việt Nam.

Cơ quan điều tra cáo buộc một số người sau khi tin vào các nội dung trên đã bán tài sản, rời gia đình, làm visa du lịch cho con nhỏ rồi đưa các em sang Đài Loan với lý do “tu hành”. Sau khi nhập cảnh, một số người tiếp tục ở lại quá thời hạn cho phép.

Tại Đài Loan, bà Nguyễn được cho là vừa làm nông nghiệp vừa kinh doanh dịch vụ ăn uống. Những người đi theo bị đưa tới nông trại và nhà hàng, thực hiện các công việc như thu hoạch nông sản, bán hàng, dọn dẹp, rửa chén và nhiều việc khác nhưng không được trả lương trong thời gian dài. Cơ quan Di dân cho biết hộ chiếu của các nạn nhân còn bị giữ, việc liên lạc với bên ngoài và tự do đi lại bị hạn chế.

Đáng chú ý nhất là tình trạng của các trẻ em. Nhà chức trách cho biết có trẻ phải bắt đầu làm việc từ sáng sớm, trong thời gian dài không được đi học bình thường, thiếu môi trường vui chơi, nghỉ ngơi và phát triển phù hợp với lứa tuổi. Hình ảnh do Cơ quan Di dân cung cấp cho báo chí cho thấy trẻ từng phải làm việc tại khu vực trồng ớt và rửa chén trong cơ sở ăn uống.

Để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện, nhóm này còn bị cáo buộc chuyển một số bà mẹ và trẻ nhỏ sang Miêu Lật, Tân Bắc và những địa điểm khác, giao cho các tín đồ khác quản lý và tiếp tục sắp xếp công việc. Theo CNA, những người tham gia được tuyên truyền rằng đây là một phần của quá trình “tu hành”, trong khi số tiền kiếm được được bà Nguyễn nói là mang sang châu Phi và Ấn Độ làm từ thiện.

Vụ việc bắt đầu bị phanh phui vào tháng 2/2026, khi nhiều người cha quốc tịch Việt Nam trực tiếp từ Việt Nam sang Đài Loan tìm đến Đội chuyên cần TP. Đài Trung thuộc Cơ quan Di dân trình báo. Họ cho biết vợ mình bị ảnh hưởng bởi nhóm tôn giáo này, đưa các con rời khỏi gia đình rồi sang Đài Loan. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Di dân báo cáo Viện Kiểm sát Địa phương Chương Hóa để chỉ đạo điều tra.

Chuyên án có sự phối hợp của nhiều đơn vị, gồm Đội chuyên cần Đài Trung, lực lượng thuộc Cơ quan Di dân khu vực miền Trung và miền Bắc, Cảnh sát Chương Hóa – các phân cục Viên Lâm và Bắc Đẩu – cùng lực lượng Tuần duyên. Sau nhiều tháng theo dõi và thu thập chứng cứ, đến tháng 5/2026, lực lượng chức năng đồng loạt khám xét các địa điểm liên quan và giải cứu thành công 4 trẻ em Việt Nam, trong đó có 2 em là anh/chị em ruột.

Sau khi được giải cứu và hoàn tất các thủ tục bảo vệ nạn nhân, 4 trẻ đã được đưa trở về Việt Nam đoàn tụ với gia đình.

Một chi tiết khác được cơ quan điều tra công bố là từ tháng 7/2023, người phụ nữ họ Nguyễn đã bị phía Việt Nam đưa vào danh sách vĩnh viễn không được nhập cảnh do các vấn đề được phía điều tra mô tả là liên quan đến hoạt động tôn giáo/lừa đảo. Do đã có tư cách định cư tại Đài Loan, bà này bị cáo buộc chuyển trọng tâm hoạt động sang Đài Loan và tiếp tục liên hệ, tác động tới tín đồ ở Việt Nam thông qua Internet.

Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan chức năng chuyển tổng cộng 8 người sang xử lý, gồm bà Nguyễn, 4 người bị cáo buộc là đồng phạm và 3 bà mẹ người Việt có liên quan.


Tiếng Miền Nam: Tí Nị là gì?

Người Miền Nam thiệt hay, con cháu nhỏ nhỏ, đứa nào nhỏ con kêu là con hay thằng Tí Nị.
Tí nị có nghĩa là nhỏ xíu, từ tiếng Anh gốc là Tiny.
Ngược với Tí Nị, ai lớn và thù lù kêu là Bành Ki. Bự bành ki, lớn bành ki. Bành ki là từ bulky.

Bự bành ki, tổ chảng, kếch xì nái, thù lù...
Nói nào ngay, Anh Ngữ chỉ có một ít, chứ Pháp Ngữ thì Nam Kỳ quá trời, minh mông luôn!

Thấy trên truyền hình tuyên truyền mà cứ “rửa tay bằng xà phòng” nghe thiệt mệt lỗ nhĩ. Tuyên truyền gì kỳ cục, muốn lọt vào lòng người Nam thì phải xài đúng kiểu Nam Kỳ chớ!

Nam Kỳ kêu xà bông hay sà bông? Xin khẳng định “sà bông” là trước nhứt, xà bông là chữ của người Nam Kỳ sau này. Tiếng Pháp gốc là Savon.

Trong một bao thơ in năm 1936 của hãng Việt Nam của ông Trương Văn Bền ta thấy chữ sa bông tức là sà bông.

Rồi sau này từ sà bông lại thành xà bông, chữ xà này nó xa quá, hơi hám con rắn, dân Nam Kỳ không phân biệt rõ chữ s và x, họ cho là chuyện nhỏ nên thành xà bông.

Người Nam Kỳ đọc tên Lan thành Lang, Phát thành Phác, Bán thành Báng, Sà thành Xà.

Có chỗ quảng cáo là sà phòng nữa, có lẽ là gốc Bắc, người Bắc Kỳ kêu là xà phòng.

Sau 1975 người ta đổi tên cái bến bắc thần thoại, yêu thương của người Miền Nam thành “phà” kiểu Bắc, gần đây lại thành “bến khách sang sông”.

Người Nam Kỳ kêu những cái tàu suông đuộc hình chữ nhựt như xà lan chở xe, người qua sông là bắc. Bắc là từ tiếng Pháp “bac” nghĩa là tàu, thuyền.

Hình như bên Pháp có cái xứ tên là Berry-au-Bac. Ta có bắc Mỹ Thuận, bắc Vàm Cống, bắc Cái Vồn, bắc Mỹ Lợi (Cầu Nổi) …

Em về đi qua bến bắc
Nhớ dòng sông sâu Bassac
Làng em chất phát thật thà.”

Sau đó người Bắc 75 đem từ “phà” vô Nam Kỳ. Phà là nghĩa gì thì chưa tìm ra.
Trong ngôn ngữ Nam Kỳ, Tiếng Pháp nguyên gốc giữ một vị trí đặc biệt, người Lục Tỉnh đọc nguyên văn không thêm bớt, không đặt thành Tiếng Việt.

Đặc sản trái sơ ri xứ Gò Công, chữ sơ-ri là gọi theo cách phát âm Pháp từ cerise, là loại cây được người Pháp đem vô Việt Nam cùng thời với cao su, cà phê.
Sơ ri được gọi là West Indian Cherry. Còn cherry nhập từ Mỹ, Úc..gọi là trái anh đào, thuộc họ Rosaceae, chữ cherry tiếng Anh cũng bắt nguồn từ tiếng Pháp “cerise”.
Nó có thể trùng âm, nhưng là khác nhau.
Tuy nhiên trái sơ ri Gò Công không có họ hàng chi với trái cherry anh đào, hai trái khác nhau hoàn toàn. Ngày nay người Nam Kỳ phân biệt rất rõ giữa trái sơ ri Gò Công và trái cherry nhập khẩu từ Úc, Mỹ hay Châu Âu.

Bữa kia đi ăn đám cưới, nghe mấy ông già xổ tiếng Pháp “Tui mẹc xi bóp c.u ông (Merci beaucoup)”.

Việt Nam thời thuộc địa Pháp được chia thành 3 vùng Annam (Trung Kỳ), Cochinchine (Nam Kỳ) và Tonkin (Bắc Kỳ).

Trong đó Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, dân Nam Kỳ cũng như người mang quốc tịch Pháp, hai vùng kia là xứ bảo hộ mà thôi. Thành ra Nam Kỳ xổ Tiếng Pháp ngon lành.

Người Sài Gòn quen thuộc với những gánh “Ai ve chai, lông vịt, dép đứt, thau nhôm, mủ bể bán hôn?”
Ve chai là đồ phế thải. Chữ “ve chai” là từ tiếng Pháp verre chỉ cái chai thủy tinh đựng chất lỏng, người Nam Kỳ kêu là “ve” hoặc “de”.
Ví dụ ve dầu gió Nhị Thiên Đường, ve nước tương, ve xá xị.

Nhớ hồi nhỏ con nít Nam Kỳ có trò chơi “em de”, tức là cắt quần áo cho chai dầu gió chơi trò đám cưới cô dâu chú rể.
Có những chai thủy tinh đựng xá xị, nước ngọt, rồi hãng bia BGI có bia La De Con Cọp, La De 33, Bière Larue, Lave Larue.
Cái chữ De của bia Con Cọp chẳng biết có dính dáng gì tới verre của cái chai hay không. Tuy nhiên dân Nam Kỳ quen với chữ “de” cũng từ mấy chai bia này.
Như vậy ve chai đã đủ nghĩa là cái chai thủy tinh phế thải.
Tui nghĩ chắc chắn là người Tàu nghĩ ra trò quảy gánh đi mua “ve chai” đầu tiên ở Sài Gòn Chợ Lớn. Họ đi mua chai đã qua xử dụng để về bán nó cho mấy cái chành chạp phô ở Chợ Lớn đựng dầu hôi, dầu phông, dầu hào, dầu cải bán lẻ.
Trong quá trình đi mua ve chai đó, họ bắt đầu mua đồng vụn, giấy vụn khi những thứ này tái chế được, dần dà cái nghề quảy gánh đi mua đồ phế thải đó kêu là “mua ve chai”.

Bắc Kỳ kêu ve chai là “đồng nát”.
Cái nghề ve chai chẳng cần vốn liếng nhiều, chỉ cần hai cái cần xé, đôi dóng và cái đòn gánh, một cái cân xách tay là xong.
Những người Tàu mua ve chai dân Nam kỳ xưa kêu là Chệt ve chai, ở trong những xóm Ve Chai và bán cho những vựa ve chai.

Những năm trước 1950-1960 người đàn bà Nam Kỳ nói chung và Sài Gòn nói riêng không ai mặc Xú chiêng hay Coóc xê (Áo ngực) hết.
Xú chiêng là áo ngực chứ không kêu áo vú nghe kỳ cục như ngày nay nha!
Người đàn bà Nam Kỳ rất ý tứ khi mặc áo dài hay bà ba ra đường, họ sẽ mặc cái áo túi bên trong và cái áo túi này kín đến độ che phủ không để hở da thịt chổ xẻ tà bên hông.
Xú chiêng là tiếng Pháp soutien nghĩa là nâng đỡ. Coóc xê (coọc-xê) là phiên âm của từ corset nghĩa là thắt chặt.
Người phụ nữ Nam Kỳ không mặc hai thứ này vì cho rằng đó là vú giả, vú cao su, họ không đụng, đàn bà mang tiếng xài vú giả tức đàn bà không có ngực là quê xệ với chồng con và xóm làng.

Trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa, học giả Vương Hồng Sển kể về cô Ba Thiệu đẹp không ai bì có tiêu chuẩn không mang Xú chiêng hay Coóc xê:
“Cô đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực cao su nhơn tạo. Tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng. Đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào con tem Bưu điện.”

Xà lỏn (Tà lỏn) là một phương ngữ Nam Kỳ chỉ cái quần ngắn của đàn ông .
Chưa ai tìm ra nguồn gốc chữ xà lỏn. Nhiều người cho rằng xà lỏn là do phát âm từ chữ “Caleçon”(quần lót ngắn) tiếng Pháp là “Quần Đùi”.

Nhưng xà lỏn khác xì lip nha! Xi líp là quần lót nhỏ kín bên trong trong có xuất xứ từ tiếng Pháp là slip.

“Xài líp ba ga ”là một từ mà người Nam Kỳ hay nói. Trong đời sống thường nhựt khi muốn nói về cái gì không giới hạn, ngút ngàn, xài minh mông, tới bến.
Xài líp ba ga có nghĩa là xài hết tiền luôn. Nhậu líp ba ga là nhậu chìm xuồng luôn.
Líp ba ga là tiếng Pháp bồi, ghép từ hai chữ “libre bagage”. Libre là tự do, không bị ràng buộc. Bagage là hành lý.
Líp ba ga tức là hành lý không giới hạn. Từ lóng này xuất hiện thời Pháp của giới đi xe đò lục tỉnh. Khi khách đi xe đò,mang theo hàng hóa lỉnh kỉnh từ đồ ăn, gà vịt tới xe đạp …chất hết lên xe mà ông cò không phạt vạ nên lơ xe mừng, rồi người mang hành lý cũng mừng.
Thành ngữ “líp ba ga”xuất hiện từ đó.
Ngày nay đi xe đò, xe bus dân Nam vẫn có thói quen tính tiền ba ga tức là tiền hàng hóa.
Líp ba ga còn đồng nghĩa với thả cửa, thả giàn, mút mùa Lệ Thủy.

Người Sài Gòn khi ám chỉ ai đó nói chuyện dài dòng mà không biết ngày kết thúc, nhây dai, nói câu chuyện không đầu đuôi mà dạng nhảm nhảm, vô bổ không có lợi ích gì là “Cái thứ bá láp”.
Ai cũng nghĩ bá láp từ tiếng Tàu, nhưng không phải vậy.
Chữ “bá láp”hay “ba láp” là từ chữ “palabre” tiếng Pháp, được chú thích là “discussion longue et oiseuse qui n’aboutit à rien de positif”(Cuộc bàn cãi dài dòng không đi đến đâu) .
Người “bá láp” là người dai nhách mà vô ích,vô tích sự, không đàng hoàng, nhảm nhí, cà chớn cà cháo. Bá láp bá xàm đồng nghĩa với “tàm xàm”, “tào lao””, tào lao bí đao và tào lao xí đế.

Nhơn tiện kể ra vài từ:
-Banh ta lông: Có nghĩa là banh chành, tan nát, kết thúc một sự việc.
Banh là từ Nam Kỳ, talon vỏ xe, talon là cái mép cứng của vỏ xe đạp, nó ôm chặt vỏ vào niền xe, banh ta lông có nghĩa là vỏ xe …đem quăng.

-Hổng xi nhê: Có nghĩa là không ăn thua, không có ý nghĩa gì hết.
Chữ “signifier” tiếng Pháp trong luật có nghĩa là tống đạt. Không xi nhê tức là cái tống đạt đó không hiệu quả, sau thành chữ thông dụng có nghĩa là không ăn thua gì, không sợ gì.

Nhà Nam Kỳ nào cũng có một cái Gạc Măng Rê hết, mà Gạc Măng Rê tên tiếng Tây đàng hoàng.
Gạc Măng Rê là đọc từ Garde à manger, người Bắc kêu là cái “chạn bát” (Người Bắc có câu “Chó chui gầm chạn”).
Garde à manger -Gạc Măng Rê là cái tủ đựng đồ ăn để trong bếp, nó luôn trong bếp hoặc sau nhà, làm bạn với Ông Táo.

Người Nam Kỳ không thích dài dòng cứ kêu nguyên bổn Garde à manger.
Ông bà Nam Kỳ mình xưa châm tiếng Tây ro ro, nhứt định kêu tiếng Tây, không định ra Tiếng Việt gì hết.

Xứ Nam Kỳ thuộc địa, bước ra đường lên xe đò là đụng “sốp phơ” nè, rồi xe “de” tới de lui nè, khi cần ngừng ở đâu thì khách nhổm dây kêu vầy “Sốp phơ ơi, stop”, nghề sốp phơ bẻ vô lăng.

Ông bà mình nói chuyện cũng châm toàn Tiếng Pháp, nào là thằng này nó giảng mô ran nè, thằng nọ “xếp de”, con kìa thiệt là “au to ma tic”.
Con gái đi làm ngồi “cét” (caisse) (thâu ngân) oai hết biết.

Nam Kỳ kêu khăn mu soa (mouchoir), mặc xoa rê (soirée), đứng trên ban công (balcon), ăn bánh mì ba ghét (baguette), nhét giăm bông (jambon), xúc xích (saucisse), patê (paté) rồi uống la de (la bière ) và bia ( bière).

Mấy năm gần đâu tự dưng nghe trái “lồng mứt” nghe mắc mệt. Đó là trái sa-pô-chê.
Sa-pô-chê là kêu theo tiếng Pháp “sapotier”. Kêu “lồng mứt” là theo tiếng Thái.
Bắc kêu sa-pô-chê là hồng xiêm.

Như ta đã biết chiếc xe xích lô có gốc từ chữ “cyclo” trong tiếng Pháp mà ra. Người Việt xài chữ quốc ngữ phiên âm ra thành “xích lô” rồi gắn chữ “xe” vô thành “xe xích lô”.

Coi Tô Ánh Nguyệt thấy hai ông già chửi lộn nhau, một ông xổ Nho, một ông xổ tiếng Tây vui hết xẩy:

Bạt đông anh chớ pha sê
Ắt tăng, moa rắc, công tê tú xà.”

(fâcher: giận; ắt tăng = attendre: đợi; moa =moi: tôi; rắc công tê =raconter: kể; tú xà = tout ça: tất cả mọi vật hay mọi việc.)

Xin đọc lại một bài thơ vui, tác giả (quên tên) rất giỏi khi tả được cái hồn người Miền Nam xổ Tiếng Pháp ra làm sao nè:

“Tiếng Pháp, tiếng Việt giống nhau,
Cùng nhau tìm chữ, tìm câu hàng ngày
Mu-soa (mouchoir) là cái khăn tay,
Buya-rô (bureau) bàn giấy, để ngay văn phòng.
Savon là cục sà-bông.
Ban-công (balcon) là chỗ đứng trông trước nhà.
Xót-ti (sortir) có nghĩa: đi ra.
Ve (vert): màu xanh lá, màu là cu-lơ (couleur).
Beurre thì có nghĩa là bơ
Ăn với ba-gét (baguette): bánh mì đũa que.
Chìa khóa còn gọi cờ-lê (clé)
Đốc-tơ (docteur): bác sĩ, kẹo là bòn-bon (bonbon)
Thịt nguội còn gọi giăm-bông (jambon)
Quần dài, là păng-ta-lông (pantalon), đúng không?
Tóc tém: đờ-mi gạc-xông (demi garçon).
Phòng khách có ghế sa-lông (salon) để ngồi.
Súp-lơ (choux fleur): bông cải, bỏ nồi.
Cùi-dìa (cuillère): thìa, muỗng, xin mời ăn cơm!
Trái táo còn gọi: trái bơm (pomme)
Dễ thương, hay gọi mi-nhon (mignonne), hay dùng.
Coát-xăng (croissant) là bánh hai sừng.
Cà-rem (creme) ai thấy cũng mừng, cũng ham.
Đặt hàng còn gọi còm-măng (commande)
Sớp-phơ (chauffeur) tài xế, phải ngồi vô lăng (volant)
Gọi mẹ, thì gọi ma-măng (maman)
Thường trực là pẹc-ma-năng (permanent) nghe bà!
Lối đi qua, gọi cu-loa (couloir)
Bi-da (billard) chơi nhớ, phải chà cục lơ (bleu).
Người chạy xe đạp: cua-rơ (coureur)
Đồng hồ điện, gọi công-tơ (compteur) hả bồ?
Bảo vệ là gạc-đờ-co (garde de corps)
Áo khoác dài gọi măng-tô (manteau) đó mà.
Tạm biệt, nói ô-rờ-voa (au revoir)
Món gà nấu đậu, gọi là la-gu (ragout)
Chửi nhau nói: mẹc-xà-lù (merde salaud)
Pê-đan (pédale) bàn đạp, rất cần cho xe.
Màu da ta gọi màu be (beige)
Cà-vẹt (carte verte) là giấy xe nè, hở anh?
Thắng xe, thì gọi là phanh (frein)
Cà-vạt (cravate) nhớ thắt, để thành… đẹp trai.
Pít-xin (piscine) là cái hồ bơi.
Búp-bê (poupée) bé thích, bé ngồi, bé mơ…
Buộc-boa (pourboire) ám chỉ tiền bo.
Tích-kê (ticket) là vé, ri-đô (rideau) là màn.
Táp-pi (tapis) là tấm thảm sàn.
Sinh nhật, nhớ mở nhảy đầm đãng-xê (danser)
Đầm dài là cái xoa rê (soirée)
Giuýp (jupe) là váy ngắn, nhìn mê không bồ?
Xe hơi còn gọi ô tô (auto)
Đờ mi (demi): một nửa, bô (beau) là đẹp trai.
Đúp (double) thì có nghĩa: gấp hai.
Bưu ảnh, là cạc-pốt-tan (carte postale) có hình.
Co (corp) là để chỉ thân mình.
Đề-pa (départ) mang nghĩa khởi hành đó nha.
Tôi thì mình xưng là moa (moi)
Còn bạn có nghĩa là toa (toi), là mày.
Tiếng Pháp Việt hóa, thật hay.
Nhưng không thể viết một ngày mà xong.
Chỉ mong đóng góp cộng đồng.
Soạn đi soạn lại, vẫn còn nhiều ghê.
Thủ quỹ quen gọi két-xê (caissier)
Giới thiệu nhà cửa, bởi mê tiền cò (com: commission)
Bịnh hoạn, ai lại chẳng lo?
Chạy mua thuốc ở tiệm gọi là phạc-ma-xi (pharmacie)
Màu xám còn gọi màu ghi (gris)
Cục gôm (gomme) để xóa, viết chì để ghi.
Con gái tôi, gọi ma-phi (ma fille)
Đét-xe (dessert) tráng miệng, ăn khi tiệc tàn.
Nhảy đầm, đẹp nhất điệu van (valse).
Nhẹ nhàng thanh thoát, chàng nàng say mê.
Mỗi sáng một phin (filtre) cà phê (café)
Bắt đầu làm việc, không hề quên đâu.
In-trô (intro): khúc nhạc dạo đầu.
Cam-nhông (camion): xe tải, lơ (bleu): màu xanh xanh.
Tiệc tùng khui rượu sâm-banh (champagne).
Sô-cô-la (chocolat) đắng, người sành thấy ngon.
La-de (la bière) uống giống bia lon.
Có người không thích, thì ngồi chê bai.
Bia (bière), bọt, chỉ nên lai rai.
Uống nhiều bia quá, hao tài, hao phrăng (Franc)
Tiền thì nhớ bỏ nhà băng (banque)
Trai gái sắp cưới, gọi là phi-ăng-xê (fiancé)
Mùa hè nắng gắt thấy ghê,
Nhớ đeo găng (gants) để bị chê đen thùi.
Ăn cơm, ăn xúp (soupe), ăn nui (nouille).
Nhớ chan nước xốt (sauce), nhớ mùi rau thơm.
Điện tín là tê-lê-gam (télégramme)
Vợ tôi thì nói “ma pham” (ma femme) của mình.
Te-ríp (terrible): là chuyện thất kinh.
Phi-nan (final): kết thúc… thôi thì… mình xì-tốp (stop)… luôn…”.


Truong Nhan Viet



Nh Ba

Tấm hình này cũ lắm rồi, màu đã ngả sang vàng, vậy mà hai người đàn ông trong đó thì vẫn còn ngồi nguyên chỗ cũ, chưa ai chịu đứng dậy. Người mặc áo trắng là ba tui. Người ngồi kế bên, tui kêu bằng dượng Ba. Chụp trước nhà bà Năm Lợi, ngay quán cà phê của ông Bảy Thép.

Ngộ một điều, cách kêu nhau giữa hai nhà này tréo ngoe hết biết. Vợ dượng Ba thì tui cứ tỉnh bơ kêu bằng chị Chung. Mấy đứa con chị Chung lại kêu ba tui bằng ông Ba, rồi quay qua kêu chị em tui bằng anh, bằng chị. Trật vai trật vế vậy mà có ai buồn sửa đâu. Hàng xóm với nhau chớ bà con ruột rà gì mà phải cho đúng phép. Sau này lớn lên tui mới hiểu, cái kiểu kêu lộn xộn đó không phải vì người ta ẩu, mà vì người ta thân quá, thân tới mức không cần một cái tên cho đúng chuẩn mới chịu thương nhau.

Dượng Ba không phải người gốc trong này. Dượng theo cha từ ngoài Bắc vô Sài Gòn, hồi đất nước còn chưa chia đôi hẳn. Rồi chiến tranh, rồi cha dượng mất, dượng còn lại một mình giữa cái thành phố lạ hoắc, không họ hàng, không chỗ dựa. Dượng học nghề may mui nệm, quen biết với ba của chị Chung. Ông thấy cái thằng nhỏ làm công này thiệt thà, tay chân lanh lẹ, chịu khó không than, nên mới ngỏ ý gả con gái. Vậy là dượng có vợ, có nhà, có một chỗ để gọi là của mình, sau bao nhiêu năm trơ trọi giữa Sài Gòn.

Nghề chính của dượng sau này là lái xe, nhiều chuyến phải đi dài ngày, có khi cả tuần không về. Những lúc đó, vợ chồng chú thím Hai - anh chị bên vợ - hay chạy qua chạy lại, ngó chừng ba đứa con gái ở nhà một mình. Cái xóm nhỏ hồi đó sống với nhau kiểu vậy, không ai nói ra thành lời, nhưng nhà này thiếu người là nhà kia tự động bù vô, không cần nhờ.

Cũng chính hai người đàn ông đó, những ngày ở nhà, lọt tọt đạp xe đạp chở hai đứa con gái - bé Ba nhà dượng với tui - qua bệnh viện Nhi Đồng 2 để cắt amidan. Có lần hai ông cha phải đi làm không xin nghỉ được. Tui lúc đó 14 tuổi dắt bé Ba 8 tuổi đi khám tiền phẫu. Khám xong, lội bộ ra đường Cường Để đón xe lam về Thị Nghè. Vừa băng qua đường thì cặp mắt cú vọ của bé Ba phát hiện chiếc xe tải của dượng đang trờ tới. Nó vặn hết volume, hét gọi ba. Giữa cái ồn ào phố xá, khói xe, tiếng còi - vậy mà dượng nghe được. Xe tấp vô lề. Bé Ba chạy tới, hai cha con nói với nhau cái gì đó, tui đứng xa không nghe rõ. Rồi dượng chạy xe đi tiếp, còn hai đứa tui leo lên xe lam về nhà.

Tui nhớ hoài cảnh đó mà hồi nhỏ đâu biết vì sao mình nhớ dai đến vậy. Giờ nghĩ lại mới hiểu - giữa trăm tiếng ồn của một buổi trưa Sài Gòn, chỉ có tiếng con mình kêu là người cha nghe lọt.

Gia đình dượng không phải lúc nào cũng êm. Có những năm tháng khó khăn, cực nhọc, chuyện nhà chuyện cửa dồn hết lên vai một người đàn ông ít nói. Dượng không than với ai, chỉ lặng lẽ gánh, lặng lẽ đi làm, lặng lẽ nuôi ba đứa con gái lớn lên. Rồi sức khỏe dượng yếu dần, bụng bắt đầu trướng, da bắt đầu đổi màu. Không ai nói ra bệnh gì, chỉ biết là bệnh gan, và bệnh gan thì không đợi ai.

Nhà tui ai cũng thương dượng. Một người đàn ông bộc trực, nói ít làm nhiều, thương con hết mực, sống cả đời không biết màu mè giả tạo là gì. Ba đứa con gái từ bữa đó phải tự lo cho nhau, thiếu cha từ quá sớm. Vậy mà đứa nào cũng nên người, cũng cơm no áo ấm. Chắc dượng ở đâu đó vẫn còn đưa tay ra hộ độ đám con côi cút.

Có một cái Tết nhà tui với nhà của dượng hùn nhau gói bánh tét. Ba tui với dượng làm thợ chính, tay trải lá, tay đong nếp, đòn bánh chặt cứng tròn vo không cần thước mà đòn nào cũng y đòn nấy. Bầy con nít tụi tui được giao cái việc nghe oai lắm: canh nồi bánh. Nói canh cho sang, chớ thiệt ra là ngồi chụm lửa, hít khói, mắt cay xè, nghe pháo nổ là chạy đi coi, sợ bỏ lỡ cái đêm vui nhứt năm.

Hai người đàn ông đó giờ chắc đã gặp lại nhau ở một nơi nào rất xa, tiếp tục ngồi kể cho nhau nghe chuyện vui buồn của một đời người. Còn bên này, tui ngồi soạn lại đống hình cũ, lật tới lật lui, rồi khựng lại ở tấm này.

Ba ơi, dượng Ba ơi, qua bên đó có còn gói bánh tét không vậy? Bên này con tìm mãi, mà đòn bánh tét ngày xưa không tìm ra

Hong Khuu

Wednesday, September 16, 2026

NGỌC TRAI ĐEN

(Trích Hồi ức Kinh tế mới sau 75) 

Tác giả: Hoàng Kao - 

Rừng nguyên sinh thời đó có nhiều loại trái cây ăn được, dù không phải ăn no, mà chỉ ăn giải trí cho vui. Có một loại trái mà chị em phụ nữ ở thành phố rất thích ăn. Đó là trái Xay, loại trái chỉ lớn bằng ngón tay có vỏ đen mịn như nhung, khi trái còn non thì ruột xanh, nhưng khi chín trong ruột chuyển sang vàng nâu. Có vị chua và ngọt, phảng phất mùi thơm nhẹ đặc trưng của loại trái rừng này. Cây Xay mọc trong rừng sâu. Thân cây cao vài chục mét và thẳng tắp. Gỗ Xay thì thời đó không búa rìu nào chặt nổi vì nó cứng như thép. Thường vào mùa xay, người đi khai khác chỉ trèo lên ngọn cây, rồi mé( chặt) từng cành chi chít trái chín cho rơi xuống, và người bên dưới chỉ việc tuốt trái cho vô bao là xong. Công việc đơn giản nhưng, cũng có tai nạn khi lỡ sẩy tay rơi từ ngọn Xay vài chục mét xuống đất coi như " Xuân này con không về..." 

Mùa Xay chín hình như vào tháng 6 hay tháng 7(tôi không nhớ rõ lắm). So với việc chặt củi hay làm lò than thì việc hái Xay nhàn hơn nhiều. Và một gánh Xay bán cũng nhiều tiền hơn gánh củi. Nhưng trên kinh tế mới thời đó rất ít người có kinh nghiệm đi rừng và biết khi nào Xay vào mùa trái chín. Vậy mà bác Mười hàng xóm với ba tôi, ổng lại rành từ việc đi rừng tìm chỗ có cây Xay, cho đến việc trèo lên cây cao mấy chục mét. Tối hôm đó, khi lai rai xị nước mắt quê hương với ba tôi. Bác Mười bỗng nói: Nay đang vô mùa Xay, tụi mình đi hái ít ngày kiếm tiền. Tôi dẫn bà xã với đứa con gái đầu và thằng Mạnh đi theo. Còn anh với thằng Hoàng chuẩn bị 4 cái bao và đòn gánh để tuốt trái. Ba hỏi: Anh tính khi nào đi? Ba Mười cầm chung rượu ực 1 phát gọn hơ. Rồi thủng thẳng nói: Khuya nay lên đường, vì Xay nó mọc tuốt trong rừng sâu nên cần đi cho sớm. Hái xong còn về trong ngày. Hai cha con nhớ giở cơm theo ăn sáng và ăn trưa luôn. 

Ba quay sang tôi đang ngồi chơi gần đó: Con vô lấy bơ gạo bắc lên bếp. Để chút ba làm cơm vắt mai đem theo. Nấu xong rồi đi ngủ mai còn đi sớm. Tôi vô lấy gạo ra đãi, xong nhóm lửa bắc lên bếp. Canh khi cơm gần chín, tôi lấy vài cục than hồng bỏ lên cái nắp xoong. Vậy là xong nhiệm vụ, tôi lên giường và đánh thẳng giấc. Không biết mấy giờ sáng, nhưng khi tiếng gà rừng cất lên đâu đó bên vạt rừng thưa là ba đánh thức tôi dậy. Ba đã chuẩn bị sẵn hành trang. Bên nhà bác Mười cũng đã dậy từ khi nào. Có tiếng bác hỏi vọng sang: Cha con chuẩn bị xong chưa để lên đường cho sớm! 

Lát sau, 4 người nhà của bác Mười đã đứng trước ngõ và chúng tôi bắt đầu khởi hành. Trời hãy còn tối thăm thẳm, sương mù giăng giăng trên đầu và trên con đường đất nhiều dốc cao, dốc thấp... Hành trang mỗi người mang theo gồm những cái bao, loại bao gạo 50kg. Dụng cụ là rựa chặt cây, thức ăn chỉ cơm vắt trong lá chuối, cùng ít muối hột giã với ớt xiêm và ít cá khô. Không mang theo nước, vì trong rừng luôn có sẵn nước suối tinh khiết miễn phí. Ra tới con lộ chính, bác Mười đi đầu trực chỉ về hướng Tây. Chúng tôi như những bóng ma rừng lầm lũi đi, lâu lâu chỉ có ba và bác Mười trò chuyện dăm câu. Nhớ lại những năm trước 75, khuya khoắt vầy là giờ tôi còn ngủ khò trên giường, chứ có đâu lọ mọ gồng gánh trên con đường xa hút dẫn về những cánh rừng u thẳm hãy còn tối tăm trong màn đêm và sương ngàn lạnh buốt da thịt. 

Mờ mờ sáng, chúng tôi tới chân núi, trước mặt là cánh rừng và con suối chắn ngang. Bác Mười dừng lại ven bờ suối có vạt đất trống. Bác nói: Nghỉ tạm ở đây ăn sáng xong xuôi rồi lên đường. Còn xa lắm mới tới! Chúng tôi lấy cơm ra ăn chung với nhau. Tuy 2 nhà, nhưng đồ ăn hệt nhau. Cũng muối ớt cùng vài con khô cá trích nướng và những nắm cơm vắt cứng như đất sét nén. Vừa ăn, tôi vừa hỏi: Rồi chừng nào mới tới vậy bác? Bác Mười đáp tỉnh bơ: Chỉ chừng nửa cái rựa là tới thôi! Bác dùng cách nói của người Thượng khi họ ước lượng khoảng cách đường đi. 

Ví dụ: Khi họ nói từ đây tới đó khoảng 1 rựa. Thì phải hiểu là đi gần 1 ngày mới tới. Còn chỉ nửa rựa là ít gì cũng vài ba tiếng đi đường. 

Lý do: Thường đi rừng hay cầm cái rựa để lên vai mà đi. Hễ mỏi vai này thì đổi sang vai kia. Cái rựa thì nhẹ hều, để nó trên vai mà chờ mỏi rồi sang qua vai kia phải mất vài tiếng đồng hồ. Cho nên khi nghe bác Mười nói vậy thì tôi áng chừng khoảng gần trưa mới tới chỗ có Xay. 

Cơm nước xong, nghỉ thêm chút xíu rồi 6 người chúng tôi tiếp tục lên đường. Con suối mùa này nước chỉ ngang bắp đùi nên lội qua dễ dàng. Nước suối vào buổi sáng sớm lạnh hệt nước đá. Chúng tôi tiến sâu vô rừng, con đường mòn nhỏ dần, nhỏ dần... Rồi có lúc hiện ra mờ mờ, rồi lại mất. Bác Mười đi vài chục bước lại bẻ 1 ngọn cây nhỏ quay đầu về hướng ra. Tôi hỏi: Bẻ ngọn cây chi vậy bác? Bác vừa bẻ 1 nhánh cây nhỏ vừa đáp: Làm vầy để khỏi sợ lạc, cứ đi theo hướng ngọn cây tao bẻ là ra khỏi rừng. Bài học sinh tồn đầu tiên của tôi khi đi rừng là bẻ nhánh cây là dấu. Những người từng sống với rừng ngoài kinh nghiệm thì họ còn có những kỹ năng sinh tồn trong rừng thẳm nếu chẳng may bị lạc( chuyện xui rủi mất mạng vẫn có, nhưng cứ làm hết khả năng và những gì mình biết). 

Tôi như chú chim non mới ra ràng mà bị lọt tuốt vô rừng sâu. Đi theo người lớn học hỏi, ghi nhớ để phòng thân. Như biết cách lấy nước uống tạm từ loại dây rừng có tên là dây Máu hay dây Mấu, hoặc chặt những cây lồ ô bị sâu đục thân... thế nào nước mưa cũng có trong đó để có thể uống tạm. Rồi biết vài loại trái rừng có thể ăn, và tránh những trái cây độc, cả những loại nấm rừng. Chúng tôi cứ đi hoài trong rừng già, khi tới một chỗ hơi thưa cây cối và nghe có tiếng nước chảy róc rách thì bác Mười dừng lại. 

Lúc này mặt trời đã lên khá cao, chắc khoảng chừng 10 giờ sáng. Bác Mười đi trước về hướng tiếng suối chảy, chúng tôi bám theo. Khi đến chỗ quang đãng thì bác dừng lại và biểu nghỉ ở đó để ăn cơm và chuẩn bị hái Xay. Tôi nhìn quanh quất tìm cây Xay. Cách chỗ chúng tôi nghỉ hơn 10m, có vài cây, nhưng có 1 cây khoảng 3 người ôm và thẳng tắp. Tôi ngước mắt nhìn lên. Trên đó là 1 thảm nhung đen tuyền, trái Xay dày đặc. Chúng chín rụng vương vãi gần chỗ chúng tôi. Tôi lượm 1 trái rồi đưa lên miệng ăn thử. Ngon hết sức, vừa mềm vừa thơm nhẹ và có vị chua ngọt. Hèn chi, đúng gu của phụ nữ. 

Bác Mười hối bày cơm ra ăn để còn làm. Có 1 thói quen mà tôi thấy ở bác. Là trước khi ăn, bác hay bốc một nhúm cơm rải gần chỗ ăn. Xong lầm rầm cầu nguyện gì đó. Ăn cơm xong, xuống suối uống 1 bụng nước là no cành hông. Nước suối trong vắt và lạnh tê răng. Tôi tới chỗ cây Xay cổ thụ rồi ngước lên thiếu điều mỏi cả cổ. Nó cao vầy sao mà trèo lên. Rồi thân nó trơn láng toàn rêu xanh... Đang suy nghĩ thì thấy bác Mười và ba tôi ôm mớ dây rừng tới và bắt đầu khoanh dây rừng vòng theo thân cây. Cái rựa được bác Mười cột theo sau lưng. Từng vòng 1 được thít chặt vào cây và lên cao dần. Một cái thang bằng dây rừng đã thành hình. 

Độ hơn nửa tiếng sau thì bác Mười đã ngồi vắt vẻo tuốt trên cao. Bác nói lớn: Ở dưới lo phát bớt cây cho trống chỗ để tao mé nhánh xuống cho dễ tuốt khỏi mắc kẹt trên cây khác! Chúng tôi xúm nhau phát quanh quanh gốc Xay. Chỉ 1 loáng là xong. Tản ra đi! Để nhánh rớt trúng đầu bây giờ! - Tiếng bác Mười trên cao quát vọng xuống. Rồi bác bắt đầu chặt. Tiếng rựa trên cao phập vào nhánh nghe như tiếng con chim gõ kiến mổ cồm cộp liên tục vào thân cây. Những nhánh Xay dày đặc trái lần lượt từ trên cao rơi xuống đất. Cứ thế, hết nhánh này tới nhánh khác thi nhau chất chồng trên đất. Ngọn cây thưa dần, mảng màu đen trên đó cũng trống dần, ánh nắng trưa không bị khuất bởi tàn lá và trái Xay nên rọi thẳng xuống đất. Tiếng bác Mười: Đủ rồi! Tuốt trái cho vô bao đi! Tao xuống đây! Rồi bác đu theo cái thang dây và tuột dần xuống. Tôi nghĩ thầm: Cao như vầy, lỡ sút dây hay tuột tay chắc là.... 

Bác đã xuống tới đất ngồi nghỉ và lấy thuốc rê ra quấn hút. Chúng tôi xúm nhau tuốt trái cho vô bao. Những trái Xay đen mịn như nhung và tròn căng. Vừa tuốt trái, tôi vừa hỏi: Sao mình không chặt cây cho nó ngã xuống rồi lấy trái, chứ leo cao vừa tốn công vừa nguy hiểm quá bác? Bác Mười cười hiền: Ăn nay, chừa mai, thứ nhứt là cây Xay nó cứng như thép, chặt gãy rựa mẻ rìu... hai là, cây Xay cần 50 hay 70 năm mới cho trái. Mình chặt hạ nguyên cây thì chờ kiếp sau mới có trái mà hái. Còn như chỉ mé nhánh nhỏ trên cành, nó ra lại nhánh khác và chỉ 2 hay 3 năm sau lại có thể khai thác. Hiểu chưa mầy? Tôi khâm phục cách suy nghĩ nhân bản của bác Mười quá! Dù ít học hành nhưng có những suy nghĩ mà không phải ai cũng biết và trân trọng rừng. 

Khi tất cả bao đã đầy nhưng vẫn còn rất nhiều nhánh đầy trái nằm la liệt trên mặt đất. Bác Mười nói: Để lại đó, mai bán xong hết mớ này rồi lại đi lấy tiếp. Thôi lo chuẩn bị về chứ trời chiều rồi! Chúng tôi gồng gánh lên vai và bắt đầu rời rừng già, lẽo đẽo gánh theo nhau trên lối mòn khi mờ, khi rõ dẫn ra đường để về nhà. Vẫn bác Mười gánh trước dẫn đầu, chúng tôi bám theo sau mà đi. Rừng chiều hiu quạnh và buồn tênh. Chỉ có tiếng vượn hú dội vào vách núi và tiếng những bước chân nặng nề dẫm trên xác lá khô trong tiếng thở hổn hển vì mệt và trong tiếng kẽo kẹt của đòn gánh trên vai. 

Đến tối mịt, thì cũng đến nhà. Hai cha con lại lo nhóm lửa nấu cơm cho bữa tối. Cơm nước xong, tôi tót lên giường và lăn ra ngủ liền vì quá mệt. Để rồi, nửa đêm khi nghe tiếng gà rừng gáy thì ba lại đánh thức tôi dậy để cùng nhà bác Mười gánh Xay xuống thị trấn bán lấy tiền mua gạo và những nhu yếu phẩm thiết yếu. Mùa Xay kéo dài không lâu, và trong rừng có lẽ vẫn còn rất nhiều Xay, nhưng chúng mọc quá sâu trong rừng ở chỗ chúng tôi không thể đi tới được. Nên chỉ khai thác vài cây gần chỗ cây Xay đầu tiên là chấm dứt. Rồi lại trở về chặt củi, làm than như mọi khi. 

Trái Xay của một thời khó khăn đã hầu như đang hiếm dần. Giới phụ nữ sắp mất đi một loại trái cây để nhâm nhi lúc tụ tập tán chuyện gẫu với nhau. Và không riêng gì trái Xay, những sản vật khác của rừng cũng đã, đang đối diện với nguy cơ tuyệt chủng với tốc độ hủy diệt rừng như hiện nay. 

Chỉ một chữ... Buồn!

CODEPINK BỊ MỜI RA KHỎI PHIÊN ĐIỀU TRẦN HẠ VIỆN VỀ ẢNH HƯỞNG NGOẠI QUỐC TẠI HOA KỲ

Đồng sáng lập CodePink Medea Benjamin cùng 2 nhà hoạt động khác hôm Thứ Ba bị Cảnh Sát Điện Capitol đưa ra khỏi một phiên điều trần của Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện. Ba người mặc áo có thông điệp ủng hộ Cộng Hòa Hồi Giáo Iran và Đảng Cộng Sản Cuba khi bước vào phòng điều trần 2272, nơi các dân biểu đang xem xét những hoạt động mà họ mô tả là “Trojan horses” phục vụ ảnh hưởng ngoại quốc tại Hoa Kỳ.

Khoảng 2 giờ 39 phút chiều, gần 30 phút sau khi phiên điều trần bắt đầu, nhân viên của Tiểu Ban Nam Á và Trung Á yêu cầu cảnh sát đưa Benjamin cùng những người đi với bà ra khỏi phòng. Trước đó, Benjamin đã chụp hình những khẩu hiệu trên áo khi chúng xuất hiện trên màn ảnh truyền hình phía sau các nhân chứng. Các nhà hoạt động phản đối việc bị mời ra ngoài.

Chủ Tịch Tiểu Ban Bill Huizenga, Cộng Hòa Michigan, nói những hoạt động như vậy chủ yếu nhằm tạo hình ảnh và nội dung cho truyền thông xã hội. Ông cho rằng mục tiêu không nhất thiết là trực tiếp thay đổi chính sách, mà có thể được dùng để gây chú ý, kêu gọi đóng góp, tuyển thêm người tham gia và gây gián đoạn hoạt động chính quyền cũng như xã hội.

Phiên điều trần mang tên “Trojan Horses: Covert Foreign Malign Influence Operations in America.” Nội dung tập trung vào các tổ chức bất vụ lợi, cơ quan truyền thông và nhóm hoạt động bị cáo buộc quảng bá quyền lợi của chính phủ ngoại quốc và các khuynh hướng thân cộng sản. Một trong những nhân vật được đề cập nhiều là Neville Roy Singham, một doanh nhân kỹ thuật Hoa Kỳ sống tại Thượng Hải.

Theo cuộc điều tra được Fox News Digital nêu trong phiên điều trần, Singham đã đưa khoảng $278 triệu Mỹ kim vào một mạng lưới các tổ chức cánh tả. CodePink được nói là đã nhận khoảng $1.33 triệu Mỹ kim từ Singham. People’s Forum được nói là đã nhận $22.44 triệu Mỹ kim, trong khi BreakThrough BT Media, đơn vị điều hành BreakThrough News, được nói là nhận $1.098 triệu Mỹ kim. Tricontinental Ltd. được nói là nhận $16.76 triệu Mỹ kim.

Bên ngoài phòng điều trần, Benjamin không trả lời câu hỏi của Fox News Digital về khoản tài trợ từ Singham. Sau đó bà cùng các nhà hoạt động vào phòng và ngồi phía sau các nhân chứng tại vị trí dễ xuất hiện trên truyền hình.

Mike Gonzalez, một senior fellow tại Heritage Foundation, nhận ra Benjamin và nói với bà rằng bà nên ngưng “làm người quảng bá cho một chế độ cộng sản chuyên chế.” Benjamin tự mô tả mình là người chống chiến tranh và phủ nhận việc nhận chỉ thị từ Đảng Cộng Sản Trung Cộng.

Trong phần phát biểu mở đầu, Huizenga nói Trung Cộng, Cuba, Iran và Nga đang thực hiện những chiến dịch ảnh hưởng bí mật nhằm tác động đến suy nghĩ và xã hội Hoa Kỳ. Ông cáo buộc những quốc gia này có chung mục tiêu làm suy yếu Hoa Kỳ.

Huizenga nêu Singham như một thí dụ, cho rằng ông sử dụng tài sản và những mối quan hệ với Đảng Cộng Sản Trung Cộng để cung cấp tiền và nhân lực cho CodePink, People’s Forum và Party for Socialism and Liberation. Singham và CodePink phủ nhận việc tổ chức nhận chỉ thị từ chính quyền Trung Cộng. Singham nói ông hành động theo niềm tin chính trị riêng, còn Benjamin nói CodePink không nhận tiền từ Đảng Cộng Sản Trung Cộng. Không có cáo buộc hình sự nào được đưa ra đối với Singham hoặc các tổ chức được nêu liên quan đến những cáo buộc này.

Gonzalez nói trước tiểu ban rằng một liên minh giữa các nhóm cực tả và các tổ chức Hồi Giáo đã sử dụng những tổ chức trung gian và quỹ tài trợ để chuyển tiền đến các nhóm tại Hoa Kỳ tổ chức biểu tình và sản xuất nội dung chính trị. Ông mô tả những hoạt động liên hệ đến Cuba và Trung Cộng như một chiến dịch phá hoại kéo dài nhằm vào Hoa Kỳ.

Gonzalez cũng nêu BreakThrough News như một nền tảng truyền thông khuếch đại các cuộc biểu tình và các nội dung phù hợp với thông điệp của Bắc Kinh. Ông nói những chủ đề như Gaza, Cuba, Venezuela, môi trường và công bằng xã hội thường được sử dụng làm điểm tập hợp cho các chiến dịch vận động.

Ông cũng đề cập đến những mối liên hệ của Singham tại Thượng Hải. Gonzalez nói Singham chia sẻ địa điểm với Maku Cultural Communication, một công ty truyền thông Trung Cộng quảng bá hình ảnh tích cực về Trung Cộng, và từng xuất hiện tại một hội thảo truyền thông chiến lược của Đảng Cộng Sản Trung Cộng năm 2023.

Sam Lyman, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu tại Bitcoin Policy Institute, trình bày rằng có 3 đường hướng ảnh hưởng chồng lấn nhau gồm truyền thông nhà nước và chiến dịch trực tuyến của Trung Cộng, các tổ chức được Singham hỗ trợ, và Party for Socialism and Liberation. Ông nói những nhóm được Singham tài trợ đã lặp lại các thông điệp của Trung Cộng về AI, data center và chính sách kỹ thuật Hoa Kỳ.

Lyman nói nghiên cứu của ông xác định 21 chiến dịch liên hệ đến Party for Socialism and Liberation tại 14 tiểu bang. Các chiến dịch này góp phần dẫn đến một số lệnh tạm ngưng data center, một lệnh cấm vĩnh viễn và việc bác bỏ hoặc hủy bỏ một số dự án. Ông cũng nói sự phản đối data center không hoàn toàn do các tổ chức vận động tạo ra, vì nhiều người dân Hoa Kỳ có những quan ngại thực sự về giá điện, môi trường và phát triển địa phương.

Matthew Johnson, senior fellow tại Jamestown Foundation, nói mạng lưới liên hệ đến Singham hoạt động như một tầng trung gian chuyển các chủ đề từ Bắc Kinh, gồm chống chủ nghĩa đế quốc, tác hại môi trường, quân sự hóa, bất bình đẳng và phản đối quyền lực Hoa Kỳ, thành ngôn ngữ hoạt động dành cho công chúng Hoa Kỳ.

Johnson nêu People’s Forum, BreakThrough News, Tricontinental, CodePink và ANSWER Coalition trong hệ thống rộng hơn này. Ông nói Bắc Kinh không thể trực tiếp ra lệnh cho một đại học, công ty, ký giả, think tank hoặc nhà hoạt động Hoa Kỳ, nhưng có thể tìm cách xây dựng quan hệ trong những định chế có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức, chuyên môn và quyết định.

Phía Dân Chủ mời Donald Sherman, Chủ Tịch Citizens for Responsibility and Ethics in Washington, làm nhân chứng. Sherman đưa ra quan điểm khác và chỉ trích Tổng thống Trump về việc nhận một phi cơ từ Qatar để sử dụng cho Air Force One cùng các giao dịch kinh doanh của gia đình Tổng thống với các quốc gia ngoại quốc.

Sau khi các nhân chứng phát biểu, Huizenga tạm ngưng phiên họp khi Cảnh Sát Điện Capitol tiến đến chỗ Benjamin và những người đi cùng. Ông nói họ chưa gây gián đoạn bằng lời nói, nhưng nhân viên ủy ban đã xác định việc mặc những chiếc áo và cách xuất hiện tại phiên điều trần là một hình thức biểu tình.

Dân Biểu Sydney Kamlager-Dove, Dân Chủ California, phản đối việc đưa các nhà hoạt động ra khỏi phòng. Bà nói họ đang thực hiện quyền tự do ngôn luận bằng cách mặc áo có thông điệp và chưa gây gián đoạn phiên điều trần.

Sau khi bị đưa ra ngoài, Benjamin tiếp tục quay video bên ngoài phòng Ủy Ban Ngoại Giao. Bà sau đó chạy theo Dân Biểu Randy Fine, Cộng Hòa Florida, và đặt câu hỏi trong khi nhóm của bà thu hình. Khoảng 2 giờ sau khi bị đưa khỏi phòng, CodePink đăng một video dài 43 giây về cuộc đối đầu trong ngày.

Cùng ngày, CodePink cũng phổ biến các đoạn video cho thấy thành viên của nhóm làm gián đoạn một phiên điều trần của Ủy Ban Dịch Vụ Tài Chánh Hạ Viện để chất vấn Bộ Trưởng Ngân Khố Scott Bessent. Bộ Ngân Khố đang điều tra CodePink và một số tổ chức khác về khả năng vi phạm những hạn chế liên quan đến hoạt động với Đảng Cộng Sản Cuba.

Nguồn: Fox News
Phân tích và biên tập: Luan Vo
Tin Hoa Kỳ by VLKT News

Ăn Trái Cây Cho Đã Cơn Thèm

Những năm đầu mới qua Mỹ, ở tiểu bang Washington chưa có bán các loại trái cây miền nhiệt đới. Những tiểu bang khác có hay không thì tôi không biết. Muốn ăn, chúng tôi phải xách xe chạy lên tận Vancouver, B.C., Canada. Từ Tacoma đi khoảng ba tiếng, gần 175 dặm, mới tới khu Phố Tàu.

Mùa hè, nhất là tháng Bảy, tháng Tám, cả khu phố nhộn nhịp với những sạp trái cây bày tràn ra vỉa hè. Nhãn thì tha hồ bóc vỏ ăn thử, loại nào ngon mới mua. Lững thững đi từ sạp này sang sạp khác, có khi chỉ thử thôi mà đã… no cả bụng! Nào xoài, mãng cầu, măng cụt, chôm chôm, sầu riêng… đủ thứ trái cây quê nhà, nhìn thấy là mắt sáng lên, bụng cũng tự nhiên réo gọi.

Mua xong, chúng tôi thường mang ra Stanley Park ngồi ăn cho hết. Ăn hết chứ không dám mang về Mỹ. Qua biên giới, nếu bị nhân viên quan thuế khám xe, trái cây bị bắt bỏ đi; nghe nói còn có thể bị phạt tiền, nhưng tôi chưa thấy người quen nào bị phạt. Có khi nhân viên chỉ hỏi sơ qua rồi khoát tay cho đi, chẳng buồn khám xe.

Những lúc như vậy, qua được cửa biên giới phía Mỹ rồi, chúng tôi lại tiếc hùi hụi: Biết vậy hồi nãy đừng ăn vội ăn vàng! Trái cây vừa ngon vừa quý, vậy mà phải ăn cho hết hoặc đành bỏ lại trước cửa biên giới.

Ngày ấy, việc qua lại Mỹ–Canada hình như cũng dễ dàng hơn bây giờ. Chúng tôi chỉ cần đưa bằng lái xe; nhân viên quan thuế nhiều khi chẳng xem giấy tờ tùy thân, thẻ xanh hay sổ thông hành như những năm sau này. Đi lại xem ra khá dễ dàng.

Tôi từng đọc trong một bài viết của nhà văn Mai Thảo kể chuyện Orchid LQ, con gái riêng của vợ nhà thơ DTLê, cũng từng được đưa lậu từ Canada vào Mỹ bằng xe khá dễ dàng.

Có một nơi đặc biệt ở biên giới Mỹ–Canada là Peace Arch Park. Một phần công viên nằm phía Mỹ, phần kia thuộc Canada, giữa hai bên chỉ là cỏ xanh, ghế ngồi và những lối đi bộ. Người ta có thể đi qua lại trong công viên mà không phải qua cổng kiểm soát hay trình giấy tờ; chỉ cần vào từ bên nào thì trở về bên ấy.

Nghĩ kiểu một chân đứng bên Mỹ, một chân đứng bên Canada, thấy cũng vui vui!

Gia đình tôi từng dự một picnic do nhà thờ Tin Lành tổ chức ở đây. Người Việt Tin Lành từ cả Canada và Mỹ lần đó tụ họp, vui chơi với nhau tại công viên này, vào một mùa hè khi mọi người chúng tôi mới sang Mỹ chưa bao lâu.

Một lần, gia đình tôi mua được một bịch xoài tượng chín, trái nào trái nấy to, vàng ươm và ngon tuyệt. Ba tôi bèn thả tôi xuống phía Canada, ngay tại Peace Arch Park. Tôi xách bịch xoài cứ nhởn nhơ như một du khách đi dạo, từ phía Canada thong thả đi qua cầu sang phía Mỹ. Trong khi đó, ba tôi lái xe qua trạm kiểm soát của Mỹ rồi đón tôi ở bên này.
Tôi bước lên xe, trong tay vẫn còn bịch xoài.
Đúng là điếc không sợ súng!

Nghĩ lại cũng thấy lạ. Chẳng lẽ nhân viên quan thuế không nhìn thấy? Họ chắc phải có ống nhòm để quan sát cả khu vực chứ! Hay là ngày ấy họ vốn dễ dãi, không quan sát kỹ như bây giờ?

Có lẽ cũng vì Mỹ và Canada vốn được xem như anh em láng giềng. Ngay trên tượng Peace Arch, phía Mỹ có khắc dòng chữ:
CHILDREN OF A COMMON MOTHER
“Những đứa con của cùng một mẹ” — vì cùng có nguồn gốc từ người Anh.
Phía Canada lại có:
BRETHREN DWELLING TOGETHER IN UNITY
“Anh em đồng lòng ở cùng nhau.”

Nghe những câu ấy, tự nhiên thấy việc qua lại giữa hai nước ngày xưa có vẻ… tình nghĩa hơn bây giờ!

Một lần khác, cô bạn tôi giấu một mớ nhãn trong xú-chiêng. Anh chồng không đồng ý, còn nói:
“Giá đi buôn lậu hột xoàn còn đáng làm. Đằng này chỉ có mấy trái nhãn! Lỡ họ hỏi có mang gì không, tui sẽ nói là tui không mang gì. Nhưng vợ tui thì có mang.”
Lần đó, chiếc xe cũng qua biên giới êm xuôi.

Mớ nhãn trót lọt được mang về, chia cho bạn bè mỗi người một ít. Mỗi người chỉ được vài trái, không bõ xỉa răng, nhưng ai cũng thấy quý vô cùng. Thời ấy, một trái nhãn quê nhà không chỉ là trái cây; nó còn mang theo cả một chút hương vị của quê hương.
Thật ra là nhãn Thái Lan!

Bây giờ thì khác hẳn. Trái cây nhiệt đới bán ê hề trong các chợ Á Đông, thậm chí cả những chợ Mỹ. Xoài, nhãn, chôm chôm, mãng cầu, sầu riêng… đủ loại, nhập từ Thái Lan, Việt Nam, Nam Mỹ, hay từ ngay trong nước Mỹ như Florida, Hawaii, California. Muốn ăn thứ gì cũng có, chẳng cần phải lái xe ba tiếng lên Canada nữa.

Nhưng những dãy sạp trái cây ngày xưa ở khu Phố Tàu Vancouver thì nay không còn. Từ sau đại dịch Covid-19, những hàng quán, sạp bán trái cây ấy bị đóng cửa, rồi dẹp luôn. Không còn mấy dãy phố nhộn nhịp của một thời.

Đó từng là nơi những người Việt tị nạn ở Washington và Oregon thường tìm đến, không chỉ để ăn trái cây cho đã cơn thèm, mà còn để tìm lại một chút hương vị quê nhà - cái hương vị mà những năm đầu xa xứ, có tiền cũng chưa chắc mua được.
Ngày nay, trái cây có thể mua ở chợ.

Nhưng cái cảm giác sung sướng khi được cầm trên tay một trái xoài, trái nhãn hay trái chôm chôm của quê hương trong những năm đầu nơi đất khách… thì có lẽ không chợ nào bán lại được.

Ghi chú: Hình chụp ở Stanley Park, Vancouver B.C.

Linh Vang


“Vũ khí kiểm soát không gian"

Hôm qua ngày 15/9, Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ Troy Meink thừa nhận Mỹ đã có “vũ khí kiểm soát không gian trên quỹ đạo có khả năng bảo vệ lực lượng liên hợp trước hành động thù địch của đối phương”.

Đây được xem là sự thừa nhận mạnh mẽ nhất từ một quan chức Ngũ Giác Đài về việc Mỹ có vũ khí trên quỹ đạo (ông Meink không nêu cụ thể loại vũ khí).

Sau tuyên bố đó, Bắc Kinh lập tức kêu gọi Mỹ dừng việc xây dựng quân sự ngoài không gian. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc Guo Jiakun tuyên bố Bắc Kinh phản đối việc vũ khí hóa không gian và biến không gian thành chiến trường.

Guo Jiakun nói: “Chúng tôi kêu gọi Mỹ dừng mở rộng xây dựng quân sự ngoài không gian và duy trì sự ổn định chiến lược toàn cầu bằng những hành động cụ thể.”

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo (truyền thông quốc doanh Trung Quốc) cảnh báo động thái này lộ rõ tham vọng “bá quyền không gian” của Mỹ và có nguy cơ kích động cuộc chạy đua vũ trang không gian toàn cầu.

Chuyên gia quân sự Trung Quốc Song Zhongping nhận định sự thừa nhận này đánh dấu sự chuyển đổi từ bảo vệ tài sản không gian và dựa vào hệ thống phản không gian mặt đất sang việc trực tiếp triển khai vũ khí trên quỹ đạo. Zhongping nói: “Nếu Mỹ tiếp tục đi theo con đường này, các nước khác có thể buộc phải phản ứng.”

Tuần trước, hãng tin nhà nước Tân Hoa Xã cũng phân tích rằng việc Mỹ đẩy mạnh vũ khí hóa không gian đang tạo ra “tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh”, buộc các nước khác phải tăng cường năng lực phản không gian, từ đó Mỹ lại xem đó là mối đe dọa mới.

FB Uyen Vu

Blog Archive