Sunday, June 28, 2026

"Vì sao Trúc Mai được xem là một tượng đài của nền tân nhạc Việt Nam?"



Nhắc tới những giọng ca vàng của Sài Gòn một thời, người ta thường nhớ tới Thanh Thúy, Hoàng Oanh hay Châu Hà. Nhưng bà con có còn nhớ cái tên Trúc Mai không?

Có một thời, tiếng hát của Trúc Mai vang lên khắp các phòng trà, đài phát thanh và sân khấu lớn nhỏ của Sài Gòn. Người ta mê bà không chỉ vì giọng hát ngọt ngào mà còn vì nét đẹp sang trọng, đài các, rất đặc trưng của người phụ nữ miền Nam ngày ấy.

Ít ai biết rằng cô bé Trúc Mai ngày nào lại bắt đầu rất bình dị.

Sinh ra ở Gia Định rồi lớn lên tại Thủ Đức, từ nhỏ Trúc Mai đã theo sinh hoạt trong ca đoàn nhà thờ. Nhưng hồi đó chẳng ai nghĩ cô bé hát bè đứng phía sau lại có ngày trở thành một trong những tiếng hát nổi tiếng của nền tân nhạc Việt Nam.

Cuối thập niên 1950, Trúc Mai bắt đầu đi hát. Từ những chương trình văn nghệ học đường, rồi đến các đoàn văn công phục vụ quân đội. Giữa những năm tháng chiến tranh, tiếng hát của bà theo chân những chuyến lưu diễn đến nhiều nơi, mang niềm vui và sự an ủi đến cho biết bao người.

Đến năm 1959, Trúc Mai chính thức bước vào con đường ca hát chuyên nghiệp. Bà xuất hiện tại các phòng trà nổi tiếng ở Sài Gòn như Văn Cảnh và nhanh chóng được khán giả chú ý.

Rồi những ca khúc như Hàn Mặc Tử, Sài Gòn, Nhà Anh Nhà Em, Lá Vàng Rơi hay Lời Tạ Từ lần lượt đưa tên tuổi Trúc Mai lên hàng ngôi sao của làng nhạc.

Nhưng nếu hỏi bài hát nào gắn liền với tên tuổi Trúc Mai nhất, có lẽ nhiều người sẽ nhắc đến Giấc Ngủ Cô Đơn.

Ngày ấy, bài hát nổi tiếng đến mức từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng nghe. Câu chuyện về người vợ ôm con đợi chồng đã chạm vào trái tim của biết bao gia đình trong thời chiến.

Ngoài giọng hát, Trúc Mai còn gây ấn tượng bởi nhan sắc nổi bật.
Người xưa thường nói bà đẹp theo kiểu "càng nhìn càng thấy đẹp". Không phải vẻ đẹp sắc sảo, mà là nét dịu dàng, đằm thắm khiến người đối diện khó quên.

Nhiều khán giả kể rằng có lúc họ ngắm Trúc Mai trên sân khấu nhiều hơn là nghe hát.

Sau năm 1975, bà sang định cư tại California. Dù sống xa quê hương, Trúc Mai vẫn tiếp tục xuất hiện trên sân khấu hải ngoại và gìn giữ những ca khúc đã làm nên tên tuổi của mình.

Đến hôm nay, mỗi khi nhắc về nền âm nhạc Việt Nam trước năm 1975, người yêu nhạc vẫn dành cho Trúc Mai một sự trân trọng đặc biệt.

Bởi bà không chỉ là một danh ca. Mà còn là một nhân chứng sống của cả một thời vàng son của âm nhạc miền Nam. Một thời mà chỉ cần tiếng nhạc cất lên, người ta đã thấy cả một bầu trời kỷ niệm ùa về.

Tư Tuấn - Sài Gòn 1965



“Vẫn còn chưa sáng mắt?” – Sự thật phũ phàng về chủ nghĩa xã hội



"Cuối cùng thì những người Cộng sản cũng ra tay Tôi đã chờ đợi và chuẩn bị cho điều này từ lâu. Muốn trở thành một người Cộng sản thì dễ dàng — tất cả những gì bạn phải làm là nói, “ Tôi sẽ cho các bạn mọi thứ,” nhưng điều đó có nghĩa là bạn đang lấy đi những thứ mà những người khác phải làm mới có . Trải qua hàng nghìn năm, hệ tư tưởng đó chưa từng thành công một lần nào. Cuộc chơi đã bắt đầu. Chúc các bạn xem vui vẻ! Tổng thống DONALD J. TRUMP "( 25 tháng 6 năm 2026, 6:46 chiều ET)

Hôm nay, một bức tranh AI lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội đã khéo léo vẽ nên sự thật mà nhiều người vẫn cố tình nhắm mắt làm ngơ. Bên trái là “Socialist Citizens” – những công dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa: căn nhà tường nứt nẻ, ánh đèn leo lét, bữa ăn đạm bạc chỉ vỏn vẹn ổ bánh mì và nước cháo loãng. Cả gia đình già trẻ sum vầy trong không khí u ám, lo âu, với tấm biển “Equality – Shared Sacrifice” (Bình đẳng – Hy sinh chung) treo tường như một lời mỉa mai cay đắng.

Bên phải là “Socialist Leaders” – những nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa: biệt thự xa hoa, đèn chùm lộng lẫy, bàn tiệc thịnh soạn với đủ món ngon, rượu vang thượng hạng, và nụ cười thỏa mãn trên môi. Họ nâng ly chúc tụng trong khi dân chúng bên kia đang chịu “hy sinh chung”.

Bức tranh không chỉ hài hước mà còn sắc bén đến đau lòng. Nó phản ánh chính xác thực tế lịch sử của chủ nghĩa xã hội ở khắp nơi trên thế giới: từ Liên Xô cũ, Cuba, Venezuela cho đến những thí nghiệm xã hội chủ nghĩa ở phương Tây hiện đại. Khi lãnh đạo hô hào “bình đẳng”, “công bằng xã hội”, “chia sẻ của cải”, thì chính họ lại sống trong cung điện, bay phi cơ riêng, trong khi người dân xếp hàng mua thực phẩm theo tem phiếu, chịu lạm phát phi mã, và mất tự do.

Tại Mỹ, chúng ta đang chứng kiến những dấu hiệu tương tự. Các chính trị gia cánh tả liên tục thúc đẩy chính sách tăng thuế cao, kiểm soát năng lượng, y tế xã hội hóa, và phân phối lại của cải. Họ chỉ trích “tư bản tham lam”, nhưng bản thân lại sở hữu nhiều nhà, tài khoản ngân hàng khổng lồ, và hưởng lợi từ hệ thống mà họ lên án. Bernie Sanders, AOC và nhiều người khác trong bức tranh là minh chứng sống động. Họ kêu gọi “cách mạng” cho người nghèo, nhưng chính họ lại không bao giờ sống như người nghèo.

Cuộc bầu cử giữa kỳ 2026 sắp tới là thời điểm quan trọng. Đây không chỉ là cuộc chọn lựa giữa hai đảng, mà là lựa chọn giữa hai tầm nhìn:
Một bên là chủ nghĩa Mỹ – tự do cá nhân, trách nhiệm cá nhân, kinh tế thị trường, và cơ hội bình đẳng thực sự (ai cũng có cơ hội vươn lên nếu nỗ lực).

Một bên là chủ nghĩa xã hội trá hình – hứa hẹn nhiều thứ miễn phí nhưng cuối cùng dẫn đến nghèo đói tập thể, mất tự do, và giai cấp thống trị mới (là chính những lãnh đạo “cách mạng”).

Lịch sử đã chứng minh: không có ngoại lệ nào. Venezuela từng là quốc gia giàu có nhất Mỹ Latinh nhờ dầu mỏ, nhưng sau khi theo đuổi chủ nghĩa xã hội, người dân phải đào rác để ăn, hàng triệu người tị nạn, lạm phát hàng triệu phần trăm. Cuba vẫn nghèo đói sau hơn 60 năm. Còn Trung Quốc, dù có tăng trưởng nhờ mở cửa kinh tế một phần, nhưng vẫn là nhà nước độc tài kiểm soát toàn bộ, đàn áp tự do tôn giáo và nhân quyền.

Là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản hoặc con cháu của những người đã trải qua đau thương, chúng ta hiểu rõ hơn ai hết giá trị của tự do. Chúng ta đã chứng kiến “bình đẳng” kiểu xã hội chủ nghĩa là gì: cả nước cùng nghèo, chỉ có cán bộ và con cháu cán bộ giàu có. Đó là lý do hàng triệu người Việt hải ngoại, đặc biệt tại Little Saigon và các cộng đồng Việt Nam trên toàn nước Mỹ, luôn kiên định ủng hộ giá trị bảo thủ, ủng hộ America First, ủng hộ những chính sách thực tế mang lại thịnh vượng thực sự.

Quý vị còn mơ mộng nữa không?

Đã đến lúc mở mắt. Đừng để những khẩu hiệu hoa mỹ “công bằng xã hội”, “chăm sóc y tế cho tất cả”, “miễn học phí” che mắt. Hãy nhìn vào bức tranh này. Hãy nhìn vào lịch sử. Hãy nhìn vào những gì đang xảy ra ở các thành phố do cánh tả quản lý: tội phạm tăng, vô gia cư lan tràn, giáo dục xuống cấp, và người dân trung lưu bị bóp nghẹt bởi thuế má.

Chúng tôi kêu gọi anh chị em người Việt, người Mỹ yêu tự do: Hãy đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới. Hãy chọn những ứng cử viên ủng hộ tự do kinh tế, pháp quyền, an ninh biên giới, và giá trị gia đình – Kitô giáo truyền thống. Đừng để giấc mơ xã hội chủ nghĩa biến giấc mơ Mỹ thành cơn ác mộng.

Tự do không phải là miễn phí. Nhưng nó đáng giá hơn bất kỳ lời hứa “bình đẳng” giả tạo nào.

Hãy cùng nhau giữ gìn ánh sáng tự do cho thế hệ con cháu chúng ta.
Những câu đồng dao có vần có điệu mà bạn đã nghe ngày nào vẫn còn văng vẳng đâu đây:
Chủ nghĩa xã hội/Chủ nghĩa xếp hạng /Xếp hạng con người/Xuống hàng chó ngựa!

Bạn nghĩ sao?
Mấy hôm rày TT.TRUMP cũng đã tuyên chiến rồi đó.
Ô
ng nói:"Tôi sẽ phát biểu lúc 1:30 giờ chiều trước Liên minh Đức Tin và Tự Do. Một trong những điều tôi sẽ đề cập, và có lẽ là điều quan trọng nhất, liên quan đến việc những người cộng sản vừa mới đắc cử tại đất nước chúng ta.

Chủ nghĩa cộng sản rất dễ được quảng bá. Nếu muốn, tôi có thể trở thành người cộng sản vĩ đại nhất trong lịch sử. Tôi sẽ cho thuê nhà miễn phí, tặng nhà miễn phí, thực phẩm miễn phí, mọi thứ đều miễn phí. Nhưng đáng tiếc là sau 2 hoặc 3 năm, quốc gia áp dụng điều đó sẽ sụp đổ. Điều đó lúc nào cũng xảy ra. Rồi quý vị sẽ bắt đầu sống trong cảnh thiếu thốn. Sẽ không còn thực phẩm, không còn nhà ở, không còn quân đội, sẽ chẳng còn gì cả. Đất nước sẽ trở thành một quốc gia thuộc Thế giới Thứ ba trên mọi phương diện, và mọi người sẽ chịu đau khổ hoặc chết.

Tôi rất tiếc phải nói rằng việc ám sát những người chống đối họ là một phần rất quan trọng trong hệ tư tưởng của họ. Họ là những kẻ dã man. Trong nhiều trường hợp họ không thông minh, nhưng trong một số trường hợp thì có. Họ dễ thu hút người đi theo vì đưa ra những lời hứa mà chính họ biết là không thể thực hiện được, trong khi đảng Dân chủ lại không chống trả. Trên nhiều phương diện, họ để mặc cho những người đó muốn làm gì thì làm. Họ sợ thua bầu cử, họ sợ xung đột. Họ không đủ thông minh hoặc đủ cứng rắn để chống lại tai họa này. Nếu họ chống lại những người đó giống như cách họ chống lại đảng Cộng hòa, hay chống lại tôi, thì họ đã có thể chiến thắng. Nhưng họ không có can đảm để làm điều đó.

Đây không phải là những người Dân chủ theo khuynh hướng xã hội. Đây là những người cộng sản vô thần cực đoan. Đây là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với đất nước chúng ta kể từ khi lập quốc cách đây 250 năm.

Thật mỉa mai khi chúng ta đang kỷ niệm một ngày sinh nhật hết sức quan trọng của quốc gia, nhưng thay vì nói về Đấng Christ, về tự do và những chiến thắng đủ mọi mặt, chúng ta lại phải nói về một mối đe dọa khác đối với nền tảng của nước Mỹ.

Những người cộng sản tàn nhẫn này sẽ tấn công mọi tôn giáo, nhưng đặc biệt là Kitô giáo. Họ luôn luôn như vậy. Mọi quốc gia cộng sản đều dùng bạo lực để tấn công các tôn giáo.

Như quý vị đã biết, gần đây chúng ta đã tấn công Nigeria và phần lớn đã chấm dứt việc tàn sát đông đảo tín hữu Kitô giáo tại đó. Họ biết rằng nếu đi xa hơn, họ sẽ phải đối diện với một cuộc tấn công còn mạnh mẽ hơn nữa, và vì vậy họ không muốn can dự thêm.

Tôi đang bảo vệ các tín hữu Kitô giáo trên khắp thế giới, mặc dù chúng ta không hiện diện tại những quốc gia đó, bằng cách tấn công mạnh mẽ và quyết liệt vào những phần tử khủng bố này. Họ sẽ đóng cửa các nhà thờ của quý vị. Họ sẽ giết người của quý vị. Đó chính là điều họ theo đuổi.

Đây là mối đe dọa lớn nhất đối với đất nước chúng ta kể từ ngày lập quốc cách đây 250 năm!"

Lá phiếu đang trong tay bạn!

AECH


TỪ CHIẾC THUYỀN VƯỢT BIỂN ĐẾN MỘT CỘNG ĐỒNG – 50 NĂM TRI ƠN VÀ CỐNG HIẾN


Nếu chỉ nhìn lướt qua, nhiều người sẽ nghĩ đây chỉ là một áp-phích chúc mừng hai cột mốc: 250 năm lập quốc của Hoa-Kỳ và 50 năm hình thành cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Nhưng nếu dành vài phút quan sát từng hình ảnh, ta sẽ nhận ra đây không chỉ là một áp-phích. Đây là câu chuyện của một hành trình, được kể bằng hình ảnh thay vì bằng ngôn từ.

Câu chuyện bắt đầu bằng chiếc thuyền vượt biển. Đó là hình ảnh của hàng triệu người Việt đã chấp nhận đánh đổi tất cả để đi tìm tự do. Họ bỏ lại quê hương, sự nghiệp, nhà cửa, người thân và hơn 500 ngàn người đã bỏ cả sinh mạng.

Không ai biết phía trước là bến bờ hay biển cả. Điều duy nhất mà họ biết là họ không muốn con cháu mình lớn lên trong cảnh mất tự do, không có quyền sống đúng nghĩa một con người.

Rồi đến những ngày đầu trên đất Mỹ. Những chiếc túi mang hàng chữ IOM gợi nhớ thời gian đầu của những người tỵ nạn. Họ đến với hai bàn tay trắng, chưa biết tiếng Anh, không có tài sản, không có nghề nghiệp được công nhận và cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Họ không được trao sẵn thành công. Điều họ nhận được là một cơ hội để bắt đầu lại.

Và họ đã nắm lấy cơ hội ấy bằng chính đôi tay của mình.

Áp-phích không vẽ những người Việt ngồi chờ sự giúp đỡ. Áp-phích vẽ họ đang làm việc. Người cắt cỏ. Người sơn nhà. Người làm trong hãng may, hãng điện, hãng xưởng. Người rửa chén trong nhà hàng. Người lau dọn văn phòng. Người làm nhân viên vệ sinh. Đó đều là những công việc lương thiện mà nhiều người trong xã hội thường xem là thấp kém. Nhưng đối với thế hệ tỵ nạn đầu tiên, không có công việc lương thiện nào là thấp kém. Thấp kém là từ chối lao động khi mình vẫn còn có khả năng lao động.

Ít ai biết rằng trong số những con người ấy có những người từng là sĩ quan, kỹ sư, giáo sư, bác sĩ, doanh nhân hay công chức tại Việt-Nam. Họ gác lại địa vị cũ để bắt đầu từ số không mà không hề than trách. Họ hiểu rằng danh dự của một con người không nằm ở chức vụ mình từng có, mà ở sự trung thực trong lao động và trách nhiệm đối với gia đình.

Điều đáng quý hơn nữa là thế hệ ấy gần như không mang theo một tâm lý mà ngày nay người Mỹ gọi là entitlement mentality – tâm lý cho rằng xã hội có bổn phận phải nuôi mình. Họ biết ơn sự giúp đỡ ban đầu, nhưng không xem sự giúp đỡ ấy là mục tiêu của cuộc đời. Đối với họ, trợ giúp chỉ là chiếc cầu để bước qua, chứ không phải nơi để ở lại. Họ muốn nhanh chóng tự đứng trên đôi chân của mình, bởi họ hiểu rằng phẩm giá của người tự do luôn gắn liền với khả năng tự lập.

Có lẽ chính tinh thần ấy đã khiến nhiều người Mỹ dành cho cộng đồng người Việt một sự kính trọng đặc biệt. Trong nhiều thập niên qua, báo chí, các học giả và nhiều nhân vật lãnh đạo tại Hoa-Kỳ đã nhiều lần ghi nhận rằng người Mỹ gốc Việt là một trong những cộng đồng hội nhập nhanh, chăm chỉ lao động và có tinh thần trách nhiệm cao. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ, từ những người tỵ nạn trắng tay, họ đã xây dựng nên hàng ngàn doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm, đóng thuế, tham gia quân đội, phục vụ trong các cơ quan công quyền, trở thành bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, nhà khoa học và doanh nhân trên khắp nước Mỹ.

Điều gây xúc động nhất là họ không chỉ xây dựng sự nghiệp cho mình mà còn đặt toàn bộ hy vọng vào thế hệ kế tiếp. Trong khi cha mẹ làm hai hoặc ba công việc mỗi ngày, con cái chỉ có một việc duy nhất là học. Họ tin rằng giáo dục là món tài sản quý giá nhất có thể để lại cho con cháu. Niềm tin ấy đã mang lại kết quả. Trong các trường trung học và đại học, tên của học sinh và sinh viên gốc Việt ngày càng xuất hiện nhiều trong danh sách danh dự. Tôi vẫn còn nhớ khi học đại học, vị giáo sư dạy môn Quantum Physics đã nhìn cả lớp và nói với một niềm tự hào rằng trong suốt những năm 1980 và 1990, các sinh viên gốc Việt và gốc Á của ông hầu như luôn đạt thành tích học tập rất cao. Đó không phải là lời tự khen của cộng đồng người Việt, mà là sự ghi nhận từ chính một nhà giáo Hoa-Kỳ.

Nhưng nếu chỉ ca ngợi sự cần cù hay tài năng của người Việt thì chúng ta mới chỉ kể một nửa câu chuyện. Nửa còn lại chính là nước Mỹ.

Người Việt mang đến Hoa-Kỳ ý chí, nghị lực và khát vọng làm lại cuộc đời. Hoa-Kỳ trao cho họ điều vô giá: một xã hội được xây dựng trên nền tảng của Hiến pháp, của nền Cộng-Hòa, của thể chế Dân-Chủ và của nguyên tắc “We the People”. Đó là một xã hội mà chính quyền tồn tại để phục vụ người dân, nơi luật pháp bảo vệ quyền tự do của mỗi cá nhân và nơi cơ hội không bị quyết định bởi lý lịch hay đặc quyền mà bởi tài năng, sự cố gắng và tinh thần trách nhiệm.

Một hạt giống tốt chỉ có thể phát triển trên mảnh đất tốt. Người Việt đã chứng minh điều đó. Họ không thành công vì được ưu đãi đặc biệt. Họ thành công vì được trao cơ hội bình đẳng để phát huy những phẩm chất tốt đẹp vốn đã có trong mình. Và điều ấy không chỉ đúng với người Việt. Bất cứ dân tộc nào cũng có thể phát triển nếu được sống trong một xã hội tôn trọng tự do, bảo vệ pháp quyền và tạo cơ hội công bằng cho mọi người.

Có lẽ vì vậy mà áp-phích này không chỉ là lời chúc mừng 250 năm Hoa-Kỳ hay 50 năm cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Đây còn là lời tri ơn sâu sắc gửi đến đất nước và nhân dân Hoa-Kỳ đã mở rộng vòng tay đón nhận những người tỵ nạn năm xưa. Và cũng là lời khẳng định rằng cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã đáp lại lòng tin ấy không phải bằng những lời hứa, mà bằng mồ hôi, bằng lao động, bằng giáo dục, bằng những đóng góp cụ thể cho xã hội và bằng một thế hệ mới đang tiếp tục làm rạng danh cả cộng đồng gốc Á lẫn đất nước Hoa-Kỳ.

Hoa-Kỳ đã không trao cho chúng tôi sự giàu có. Hoa-Kỳ trao cho chúng tôi một cơ hội. Và bằng chính đôi tay, khối óc, lòng biết ơn và tinh thần trách nhiệm của mình, cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã biến cơ hội ấy thành thành quả. Có lẽ đó chính là lời cảm ơn đẹp nhất mà một cộng đồng tỵ nạn có thể gửi đến đất nước đã cưu mang mình suốt nửa thế kỷ qua.

Có người vẫn thích nhìn chữ ‘Việt’ như biểu tượng của sự ‘vượt’ – vượt qua nghịch cảnh, vượt qua thử thách, vượt qua chính số phận của mình. Dù đó không phải là một kết luận ngữ nguyên học, hình ảnh ấy lại diễn tả rất đúng hành trình của dân tộc Việt-Nam.

Có lẽ điều đẹp nhất mà áp-phích này kể lại không chỉ là hành trình của một cộng đồng, mà còn là hành trình của những ước mơ chưa bao giờ tắt.

Có một thời, biết bao người Việt-Nam đã mơ về một đất nước thống nhất trong tự do, dân chủ và một nền cộng hòa tôn trọng phẩm giá con người. Ước mơ ấy đã không thành hiện thực như họ mong đợi. Biến cố năm 1975 khép lại một chương lịch sử, nhưng không khép lại khát vọng tự do trong lòng họ.

Vì không chấp nhận sống thiếu tự do, họ lại mang theo một ước mơ khác. Họ chấp nhận đánh đổi cả sinh mạng để vượt biên, vượt biển, tìm đến một chân trời mới. Đối với họ, tự do đáng giá hơn tất cả những gì phải bỏ lại phía sau.

Khi đặt chân đến các trại tỵ nạn, họ lại nuôi một ước mơ mới: được một quốc gia tự do mở rộng vòng tay đón nhận để có cơ hội làm lại cuộc đời. Và khi Hoa-Kỳ trở thành quê hương thứ hai của họ, họ lại tin vào một ước mơ khác – Giấc Mơ Mỹ. Họ không ngồi chờ giấc mơ ấy trở thành hiện thực. Họ xây dựng nó bằng đôi tay, bằng mồ hôi, bằng giáo dục và bằng lòng biết ơn đối với đất nước đã cưu mang mình.

Hôm nay, sau năm mươi năm, Giấc Mơ Mỹ đã trở thành hiện thực đối với biết bao gia đình người Mỹ gốc Việt. Nhưng đó vẫn chưa phải là ước mơ cuối cùng.

Trong lòng rất nhiều người Việt tỵ nạn vẫn còn một ước mơ khác, lặng lẽ nhưng bền bỉ suốt nửa thế kỷ qua: một ngày nào đó Việt-Nam cũng sẽ được hưởng những giá trị đã giúp họ xây dựng cuộc đời nơi đất nước Hoa-Kỳ – tự do, dân chủ, pháp quyền và một chính quyền thực sự phụng sự nhân dân. Chính vì thế, lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn hiện diện trong các sinh hoạt của cộng đồng. Đối với nhiều người, đó không chỉ là biểu tượng của một giai đoạn lịch sử, mà còn là biểu tượng của một ước mơ về một Việt-Nam tự do mà họ đã mang theo khi rời quê hương, gìn giữ trong những năm tháng dựng xây cuộc sống mới và trao lại cho con cháu như một phần của di sản tinh thần.

Có lẽ vì vậy mà áp-phích này không chỉ là câu chuyện về năm mươi năm đã qua.

Đó còn là lời nhắc rằng những con người từng vượt biển để đi tìm tự do vẫn chưa bao giờ thôi mơ.

Và lịch sử cho chúng ta một niềm tin giản dị nhưng mạnh mẽ: những ước mơ được nuôi dưỡng bằng tự do, bằng lao động và bằng lòng kiên trì có thể mất nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ, nhưng chúng không bao giờ biến mất. Chúng chỉ chờ đến ngày có cơ hội để nở hoa.
Từ con thuyền mong manh đến lá cờ Hoa-Kỳ tung bay bên cạnh lá cờ Việt-Nam Cộng-Hòa sau 50 năm, đó không chỉ là hành trình của một cộng đồng. Đó là hành trình của một ước mơ chưa bao giờ chịu đầu hàng.

Con thuyền tỵ nạn cộng sản của người Việt đã cập bến từ lâu, nhưng ước mơ mà nó chở theo vẫn chưa bao giờ ngừng hải hành.

(ghi chú: hình trên, bức áp-phích tại chùa Liên Hoa, thành phố Houston và hình dưới, bức áp-phích tại công viên thành phố Annandale, bên cạnh 250 quốc kỳ Mỹ. Dự tính bức áp-phích sẽ tiếp tục xuất hiện tại một số nơi khác trong năm)

Vi Kha Hoang
VÌ SAO GỌI HUẾ LÀ XỨ SỞ MẮM RUỐC?

Bản "đại cáo"của văn hoá ẩm thực 
----------------
Nhắc đến Huế, người ta thường nghĩ ngay đến vẻ đẹp đài các của đền đài lăng tẩm và sự tinh tế của nhã nhạc cung đình. Thế nhưng, tận sâu trong huyết quản của đời sống thường nhật, thứ định hình nên bản sắc thực sự của con người vùng đất này lại là một loại gia vị bình dân, nặng mùi và đầy gai góc: Mắm ruốc. 

Tại sao một vùng đất kinh đô lại chọn một thứ mắm nồng nặc làm linh hồn ẩm thực? Tại sao mắm ruốc lại có mặt trong mọi món ăn từ Bún bò, Cơm hến cho đến mâm cơm vua chúa? Câu trả lời không nằm ở khẩu vị, mà nằm ở một cuộc vật lộn sinh tồn khốc liệt và một cuộc tiếp biến văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử Nam tiến của người Việt.

1. CUỘC CHIA TAY VỚI "TƯƠNG BẦN" VÀ NỖI ÁM ẢNH BẢN ĐỊA

Để hiểu vì sao Huế trở thành xứ sở mắm ruốc, chúng ta phải quay ngược thời gian về thế kỷ 14 - 16, khi những đoàn lưu dân Đại Việt đầu tiên bước qua đèo Ngang (Hoành Sơn) tiến vào đất Thuận Hóa.

Họ mang theo trong hành trang tâm thức là nền văn minh lúa nước châu thổ sông Hồng êm đềm. Ở miền Bắc, gia vị chủ đạo đệm cho mọi bữa ăn là "Tương" (như Tương Bần) – một sản phẩm lên men từ hạt đậu nành và gạo nếp. Tương mang vị ngọt thanh, điềm đạm, phản ánh một nền nông nghiệp định cư vững chắc trên những vùng đồng bằng châu thổ phì nhiêu.

Tuy nhiên, khi đặt chân lên dải đất miền Trung, người Việt đối mặt với một cú sốc sinh thái. Thuận Hóa là một vùng đất hẹp, cồn cát bỏng rát, đầm phá mênh mông, đất đai nhiễm mặn và bão lụt triền miên. Đậu nành không thể sinh trưởng tốt trên cát rí. Những vại tương của người Bắc đem vào nhanh chóng bị chua hỏng dưới cái nắng miền Trung. Đối diện với nạn đói và sự khắc nghiệt của thiên nhiên, di dân Đại Việt đứng trước một lựa chọn mang tính sống còn: Hoặc là thay đổi khẩu vị, hoặc là chết.

Ngay tại thời điểm tuyệt vọng đó, họ đã nhìn sang những người "hàng xóm" bản địa – cư dân Champa. Là những nhà hàng hải vĩ đại thuộc ngữ hệ Nam Đảo, người Champa từ ngàn đời đã biết cách vắt kiệt sinh chất từ biển cả. Để bảo quản lượng hải sản đánh bắt được dưới khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, họ đã phát minh ra kỹ thuật ủ ướp cá, tôm bằng muối biển. Đó chính là nguồn gốc của "Mắm". Người Việt đã từ bỏ sự thanh tao của Tương đậu nành để học lấy kỹ thuật ủ Mắm ruốc, Mắm nêm từ người Chăm. Sự chuyển dịch từ "Tương" sang "Mắm" chính là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự đứt gãy với văn hóa sông Hồng, bắt đầu một cuộc hòa huyết vĩ đại về mặt ẩm thực để sinh tồn trên vùng đất mới.

2. LINH HỒN CỦA MỌI MÓN ĂN: TỪ CƠM HẾN ĐẾN BÚN BÒ

Không giống như nước mắm (chỉ lấy phần nước cốt) hay các loại mắm nêm (để nguyên con cá), mắm ruốc Huế được làm từ con ruốc (một loại tép biển nhỏ, người Huế gọi là con khuyết) ủ muối rồi xay nhuyễn, để choi lên men quánh lại thành một hỗn hợp đặc sệt, màu đỏ tía hoặc nâu đậm, bốc mùi nồng nặc.

Ở miền Nam hoặc miền Bắc, mắm chỉ là một món nước chấm phụ trợ (như mắm tôm ăn với bún đậu, hay mắm nêm chấm thịt luộc). Nhưng ở Huế, Mắm ruốc đóng vai trò là "chất nền" (base) định hình toàn bộ cấu trúc của một món ăn. Nó không nằm ngoài rìa mâm cơm, mà nó ngự trị ngay trong nồi nước dùng.

Bún bò Huế – món ăn quốc hồn quốc túy của Cố đô – sẽ chỉ là một bát bún giò heo vô hồn nếu thiếu đi vị mắm ruốc nêm vào nước dùng. Quá trình nấu bún bò là một nghệ thuật đánh thức mắm: người thợ nấu phải hòa mắm ruốc vào nước lạnh, để lắng, rồi chắt lấy phần nước trong ngọt lịm rót vào nồi xương hầm đang sôi. Mắm ruốc khi được gia nhiệt đúng cách sẽ triệt tiêu hoàn toàn mùi tanh, chỉ để lại một hậu vị ngọt sâu (umami) và một mùi thơm nồng nàn không thể nhầm lẫn.

Cơm hến – món ăn đại diện cho tầng lớp bần hàn ven sông Hương – lại là một bản giao hưởng khác của mắm ruốc. Vị chát của bắp chuối, vị cay xé lưỡi của ớt sừng, vị mát của hến xào sẽ trở nên rời rạc nếu không có những thìa mắm ruốc sống vắt chanh tỏi ớt trộn đều. Mắm ruốc đóng vai trò như một chất keo kết dính mọi hương vị cực đoan của Cơm hến lại thành một chỉnh thể hoàn hảo.

Đến cả những món ăn dân dã nhất như thịt luộc, rau khoai lang luộc, hay quả vả thái lát... người Huế cũng chỉ chấm với mắm ruốc đánh tỏi ớt. Mắm ruốc đi vào từng ngõ ngách của thực quản, quy định một phổ vị giác đặc trưng của người Huế: Mặn Mòi và Cay Xé.

3. TRIẾT LÝ SINH TỒN VÀ VỊ GIÁC CỰC ĐOAN (CAY - MẶN)

Vì sao mắm ruốc Huế lại mặn và cay đến thế?
Câu trả lời không nằm ở sở thích, mà nằm ở quy luật thích nghi sinh học. Mắm ruốc vốn nặng mùi, để khử được mùi tanh của biển và vị nồng của quá trình lên men, người Việt phải sử dụng một lượng lớn gia vị nóng như ớt, sả, tỏi. Hơn nữa, sống trong môi trường mùa đông thì mưa dầm dề thấu xương, mùa hè thì gió Lào rát mặt, người Huế cần vị "Cay" của ớt để phát hãn (đổ mồ hôi) giải nhiệt vào mùa hè, và làm nóng cơ thể để chống chọi cái rét buốt vào mùa đông.

Mặt khác, vị "Mặn" của mắm ruốc là tàn dư của thời kỳ nghèo khó. Những dải đất khô cằn không sản sinh ra nhiều lúa gạo. Người dân nghèo chỉ có một niêu cơm nhỏ. Để ăn được nhiều cơm, đánh lừa cảm giác đói, thức ăn phải thật mặn. Một đĩa mắm ruốc kho thịt ba chỉ xắt hạt lựu, rắc đầy ớt bột có thể "đưa" cạn cả nồi cơm lớn. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã ép người Huế đẩy hệ thống vị giác của mình đến ranh giới cực đoan: đã mặn thì phải mặn chát, đã cay thì phải cay xé nước mắt. Mắm ruốc chính là viên nén cô đặc sự nhẫn nhịn, chịu đựng và sức sống mãnh liệt của di dân Đại Việt trước thiên nhiên Thuận Hóa.

4. SỰ CHINH PHỤC CUNG ĐÌNH: KHI MẮM RUỐC LÊN NGÔI

Một trong những nghịch lý thú vị nhất của ẩm thực Huế là sự bình đẳng của mắm ruốc. Trong lịch sử phong kiến, ranh giới giữa "Cung đình" (nơi ngự trị của Vua chúa, quý tộc) và "Dân gian" (nơi ở của bần nông) là vô cùng nghiêm ngặt. Âm nhạc cung đình khác biệt với nhã nhạc dân gian, trang phục bá quan văn võ khác xa áo nâu sồng.

Thế nhưng, mắm ruốc đã phá vỡ mọi bức tường thành giai cấp.
Nó sinh ra từ những túp lều tranh ven biển Thuận An, từ những bàn tay nứt nẻ của ngư dân ướp cá dưới nắng gắt. Mùi của nó nồng nặc đến mức những bậc nho sĩ mới từ Bắc vào thường cau mày bịt mũi. Nhưng theo thời gian, vị ngọt umami kỳ diệu của mắm ruốc đã len lỏi qua các bức tường thành rêu phong của Tử Cấm Thành.

Các cung tần mỹ nữ, vốn xuất thân từ những làng quê quanh kinh thành, đã mang theo thói quen ăn mắm ruốc vào chốn nội cung. Để phục vụ khẩu vị của các bà, các ông hoàng bà chúa, những đầu bếp trứ danh của triều Nguyễn đã nâng tầm mắm ruốc thành nghệ thuật. Thay vì ăn sống, mắm ruốc được chưng cất, gạn lọc khắt khe nhiều lần để lấy ra phần tinh túy nhất. Nó được nêm nếm vào các món yến tiệc, ngự thiện để tạo ra hậu vị thanh tao mà không một loại nước mắm nào có được. Mắm ruốc trở thành "mẫu số chung" duy nhất kết nối một ông vua ngự trên ngai vàng với một người phu xe kéo bến đò. Đó là lúc mắm ruốc không còn là thức ăn, nó trở thành một Tôn giáo Ẩm thực.

5. MẮM RUỐC VÀ CÂU CHUYỆN BẢO LƯU DNA CHAMPA

Nghiên cứu về mắm ruốc không thể tách rời cái nhìn nhân học văn hóa. Các nhà sử học thừa nhận rằng, người Việt không phát minh ra mắm ruốc, họ chỉ hoàn thiện nó.

Người Champa bản địa – những người thợ lặn, những thủy thủ vĩ đại của văn minh Nam Đảo – mới là chủ nhân đích thực của công nghệ lên men hải sản. Khi vương quốc Champa lùi dần về phía Nam, họ bỏ lại những tháp gạch đổ nát, những giếng vuông trên cát rí, và cả những lu mắm ủ dở. Di dân Đại Việt tiến vào, đập nát tháp gạch để xây nhà, nhưng lại nhặt lấy công thức làm mắm để no bụng.

Trong hàng thế kỷ, mắm ruốc đã đóng vai trò là một "vật chuyên chở" (carrier) mã Gen văn hóa. Mỗi khi một người Huế nêm thìa mắm ruốc vào nồi bún bò, hay quết một đũa mắm ruốc ăn với trái vả non, họ đang thực hành lại chính xác nghi lễ sinh tồn của người Champa cách đây hàng ngàn năm. Văn hóa Nam Đảo không hề bị tiêu diệt bởi gươm đao của các triều đại phong kiến. Nó chỉ từ bỏ hình dáng của những pho tượng đá, để thu mình lại thành một hũ gia vị đặt trong góc bếp của mọi gia đình xứ Huế.

ĐỊNH DANH XỨ SỞ MẮM RUỐC

Vì sao gọi Huế là xứ sở mắm ruốc?
Bởi vì mắm ruốc ở đây không phải là một món ăn phụ thêm. Nó là nhân chứng lịch sử của cuộc thiên di vệ quốc. Nó là cuốn biên niên sử ghi lại quá trình đoạn tuyệt với văn minh châu thổ sông Hồng để vươn ra chinh phục Biển Đông. Nó là kết tinh của máu, mồ hôi và nước mắt của những thế hệ di dân vật lộn với cồn cát và bão tố.

Quan trọng hơn hết, mắm ruốc là bằng chứng sống động nhất cho thấy: Sự vĩ đại của văn hóa Việt Nam không nằm ở việc tiêu diệt văn hóa của kẻ khác, mà nằm ở khả năng "tiêu hóa và tái sinh". Họ mượn một thứ mắm tanh nồng của người Champa, trải qua lửa đỏ và sự nhẫn nại, để tạo nên một nền ẩm thực Huế rực rỡ và quyến rũ bậc nhất thế giới. Huế là xứ sở mắm ruốc, vì đó là nơi mã Gen Champa và linh hồn Việt Nam đã vĩnh viễn hòa tan làm một

Người Kim Long

Nguồn hình ảnh từ internet
--------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
- Văn hoá cổ Chăm Pa - Ngô Văn Doanh - NXB Văn Hoá Dân Tộc 2002
- Vương quốc Chăm Pa: Địa dư, dân cư và lịch sử - GS.TS Pierre-Bernard Lafont

MỘT MÓN QUÀ VÔ GIÁ

Tôi vừa được chị tôi gởi cho một cuốn sách cũ, của ba tôi để lại. Bao lâu nay nằm khuất trong góc tủ thờ và không có ai cần hay để ý. Đúng là "Thứ người này bỏ đi lại là bảo vật của người khác."

Nhân một cuộc nói chuyện điện thoại, tôi có kể với chị là tôi muốn tìm mua vài cuốn tự điển cũ, chị tôi chợt nhớ là chị có thấy một cuốn trong tủ thờ nhưng là cuốn nào, để chị coi lại và nếu tôi cần chị sẽ gởi cho tôi. Đúng là DUYÊN!

Tôi cầm trong tay mà rơi nước mắt. Cuốn sách được tái bản lần 3 vào năm 1957, trẻ hơn tôi 2 tuổi.

Tôi còn có thể mường tượng chỗ của nó trong tủ sách của ba tôi.
Ngày xưa, khi còn nhỏ tôi bị “bắt buộc” phải ngủ trưa. Tôi luôn lén bò vào phòng viết của ba tôi, khiêng nhẹ mấy cuốn truyện tàu ( Tam Quốc, Thuỷ Hử, Phong thần, Chung Vô Diệm ….nhiều lắm, bìa da mạ chữ vàng, cả một tủ). Tấn cao cái gối ôm cho không ai thấy, rồi rút mình len lén đọc cho đến đúng giờ “được thức dậy”.

Lúc đó tôi nhỏ xíu, ốm nhách, núp sau cái gối ôm bự là coi như an toàn.

Đó là lý do mà má tôi luôn dẫn tôi theo mỗi khi bà coi hát Bội! Do thuộc tích Tàu, tôi sẽ kể cho bà nghe diễn tiến của tuồng hát. Hồi đó tôi cũng thích coi hát Bội lắm. Những buổi hát cúng giỗ Đức Tả Quân hầu như tôi đi coi đủ.

Sau này, khi bắt đầu tuổi thích ăn “ô mai” thì tôi chỉ còn mê say kệ sách của chị tôi. Thôi thì đủ thứ mọi tác phẩm của các tác giả đương thời.

Ngồi nhớ lại kỷ niệm xưa của cuộc sống cũ mà lòng tôi đau không kể xiết.

Ba Má tôi đã đi xa, anh chị em phân tán. Ai giờ cũng tóc trắng đầu, còn được thấy nhau bao lâu nữa?

Rồi sẽ trôi đi, bắt đầu một kiếp sống khác.

Cho nên, là con là cháu; là anh chị em; là vợ là chồng; là cha là mẹ; là bằng hữu của nhau trong kiếp này xin hãy quý trọng, bởi biết ta có còn gặp lại nhau ở kiếp sau? Tất cả tùy vào Duyên và Nghiệp.

Lê Ngọc Túy Hương
Tháng 6/2026

Xem phim 70mm

Trước khi rạp Vistarama Quốc Tế ra đời trên nền tảng xây lại từ rạp Thanh Bình cũ ở đường Phạm Ngũ Lão, dường như Sài Gòn ngày đó - Nếu tôi nhớ không nhầm - chỉ Rex, Đại Nam và Văn Hoa Capitol là thỉnh thoảng có chiếu phim 70mm. Nhưng "chuyên" thì về sau, cho tới 1975, chỉ mỗi Vistarama!

Trước hết, có cuộc tranh cãi về cái tên Vistarama hay Victorama.

Bên nào cũng có lý cả: Vista là góc nhìn, Rama là lấy nửa sau của Panorama, nghĩa là toàn cảnh. Rạp Quốc Tế lấy tên Vistarama là muốn thể hiện điểm ưu việt của mình, khi khán giả đến rạp, sẽ được xem phim 70mm đúng nghĩa trên nền một màn ảnh rộng chưa từng thấy, cho cái nhìn toàn cảnh giống hệt như khi người ta đứng trên đỉnh một ngọn đồi, nhìn xuống một đồng bằng hay xuống một thành phố nằm dưới chân mình. Cái nhìn đó cũng na ná giống như khi người ta đứng ở đầu một con quốc lộ, hay đại lộ với điều kiện nó không bị nhà cửa hay building cao tầng hai bên che khuất, phóng tầm mắt mình đến tận đường chân trời. Định nghĩa bằng chân trời thực (Quốc lộ) gồm đường vạch ngang xa tít tắp mà mắt còn có thể nhìn thấy, hay cuối con đường (Đại lộ) ấy khi nó bị cắt ngang bởi một con đường vuông góc khác, thành một ngã ba. Phải là ngã ba chứ nếu là ngã tư, thì đại lộ mà người ta đang đứng lại sẽ cứ chạy tiếp, xa hơn nữa và không thể gọi là chân trời. Đại khái, đứng ở Tòa Đô chính ngày xưa nhìn về phía Bến Thủ Thiêm, và người ta phải nhìn vượt qua hồ nước phun nơi bùng binh trước cửa thương xá TAX!

Còn Victorama, lại mang hình thức ghép từ Victor (Người chiến thắng) + (Pano) Rama (Toàn cảnh). Ngụ ý, khi rạp Quốc Tế ra đời, nó chính là kẻ chiến thắng không thể tranh cãi trong trình chiếu các phim trên nền 70mm.

HIểu rõ hơn, phim 70mm còn được gọi là phim 65mm do trong máy quay, phim chỉ rộng có 65mm nhưng khi chiếu thì người ta cần bổ sung 5mm để chứa âm thanh. Tỷ lệ màn hình khi đó lên tới 2,78/1, tạo ra góc rộng hơn nhiều so với những phim thuộc diện đã khá rộng thời bấy giờ (Và cả bây giờ) là 1,85/1. Độ phân giải của phim 70mm cũng cao hơn nhiều, tạo ra những hình ảnh sóng sánh, trông nghệ thuật và mỹ thuật ăn đứt phim màn ảnh rộng bình thường, tức 35mm. Tất nhiên, chi phí cho từng thước phim 70mm cũng rất khủng. Có thể lấy vài ví dụ: Cleopatra (Liz Taylor đóng chính), Ben Hur (Charlton Heston) hay Tora! Tora! Tora! (Martin Balsam). Phim này cần tới 3 đạo diễn, một người Mỹ, hai người Nhật. Kinh phí hồi năm 1970 để sản xuất nó là 25 triệu đô-la - Một con số khổng lồ.

Lật lại, theo một số tài liệu: Thước phim định dạng 70mm đầu tiên trong lịch sử phim ảnh có lẽ thuộc về những cảnh quay sự kiện đua thuyền Henley Regatta, trình chiếu vào năm 1896 - 1897 nhưng có lẽ, chúng đã được quay sớm hơn, vào 1894. Một máy chiếu đặc biệt lúc ấy đã được kỹ sư Herman Casler thiết kế để có thể phát được đoạn phim đó. Từ ấy một số nhà làm phim, chấp nhận chịu lỗ sau đó, cũng đầu tư vào định dạng phim ảnh “con nhà giàu” này. Gọi là "con nhà giàu", bởi người ta phải bỏ ra gấp đôi, gấp ba hoặc hơn thế nữa, nếu chịu chơi!

Tuy nhiên, các loại 35mm, 16mm đã là phổ thông để ra rạp và dần dần, các hệ thống rạp lớn đã bỏ những máy chiếu 70mm - Kể cả 35mm - để thay thế bằng những máy kỹ thuật số rẻ hơn, đại chúng hơn và cho chiếu trong các cụm rạp gồm nhiều khán phòng nhỏ bé như hộp diêm. Các hãng làm phim cũng không mặn mà với định dạng này nữa do vốn đầu tư quá lớn, quan trọng nhất, giá vé đắt khiến khán giả dần dần đã tự làm sai lệch đi điểm mà mình cần có khi đến rạp, để nhìn lên màn ảnh rộng. Có khi người ta còn vui lòng xem cả phim video được chiếu qua những ống phóng!

Một ví dụ nữa: Giàu có như Mỹ mà tính từ khi ra đời, tới hiện tại họ vẫn chỉ mới có 46 phim 70mm - Ở châu Âu càng khiêm tốn hơn với chỉ 17 phim! Giờ đây, chỉ những đạo diễn có sức ảnh hưởng lớn mới có khả năng kêu gọi đầu tư cho những dự án phim 70mm - Như Christopher Nolan với phim Dunkirk - và “gọi hồn” những thiết bị chuyên dụng, cũng như thuê các nhân viên có khả năng sử dụng những máy chiếu cũ.

Nói như vậy để thấy, những rạp "thường thường bậc trung" như Lê Lợi, Victory Lê Ngọc, Khải Hoàn (Nằm gần Quốc Tế!), Long Phụng (Chuyên phim Ấn) và cả Eden, cùng hàng loạt nữa, với thiết kế rạp và kích thước màn ảnh của mình, ngày xưa phải chọn "cửa khác". Ngay cả Rex và Đại Nam, ngày đó cũng chỉ thi thoảng thôi, vì chuyện bán vé, khi họ nhìn Quốc Tế hốt bạc mãi cũng sốt ruột. Họ luôn có sẵn thiết bị chiếu phim 70mm, lâu lâu lôi ra, lau sạch để dùng cho một phim nào đó theo ý chủ rạp. Nhưng như đã nói, cả nền điện ảnh Mỹ - Và cả châu Âu - cho đến nay gộp cả 2 bên vẫn chỉ có 63 phim, lấy đâu ra nguồn dồi dào mà ngày xưa cho dân Sài Gòn xem hàng tuần?

Mới có "cái sự" chiếu xen kẽ 35mm với 70mm, trên màn ảnh chuyên dụng cho 70mm. Thật vậy, với một rạp "chuyên" như Quốc Tế, những phim mà họ từng chiếu khi đó như Billy Jack, Khuyển Tặc (Dobermans), Chúa lười hữu dụng (On m'appelle Trinita) thì không thể là phim 70mm được. Và nếu bạn cứ quen ngày đó đọc thấy những dòng quảng cáo trên báo là phim này đại vĩ tuyến, phim kia cũng đại vĩ tuyến, thực ra đó chỉ là phim 35mm chiếu trên màn ảnh dài có tỷ lệ 1,85/1 mà thôi. Ngoài ra, cụm chữ "đại vĩ tuyến" đó người ta đã dùng cho phim 35mm mất rồi, thế nếu muốn quảng cáo rách trời cho một phim 70mm thứ thật, họ sẽ "ca" nó bằng những chữ mỹ miều nào nữa?

Quả thế, với cảnh Độc thủ Đại hiệp Vương Vũ múa cây Tàn đao của mình mà thử sức với kiếm Samourai của Hiệp sĩ mù Shintaro Katsu trên màn ảnh rộng của Rex, tuy thấy ấn tượng lúc đó thật, nhưng nếu nó được làm bằng phim 70mm, hãng Gia Hòa Golden Harvest chỉ có nước lỗ sặc gạch. 

Nhưng với cảnh lắp cầu người trong Thập Tứ Nữ Anh Hào, biết đâu hãng Thiệu Thị hồi đó đã chịu chơi? - Lâu quá, xin không dám khẳng định dẫu phim này, khi đọ sức với Đường Sơn Đại Huynh của Lý Tiểu Long, đã hơn về doanh thu (58 triệu USD/50 triệu USD). Nếu phim sau làm bằng 70mm, bạn có nghĩ ông Trâu Văn Hoài đã lãi đến thế không?

Bạn chỉ cần biết rằng, khi mình ngồi lọt thỏm trong một rạp mênh mông như Vistarama, nhìn lên màn bạc thấy Charlton Heston phóng xe tứ mã trong đấu trường tung bụi mờ, cảm giác khi đó là sướng tê người, thế đã đủ!

Tien Van


Tội nghiệp chữ 'Liberal'.

Hồi mới qua Úc, tôi thấy có một đảng tên là Liberal Party — Đảng Tự Do.

'Tự do' và 'Khai phóng'
Tôi nghĩ đảng này chắc thiên tả, ủng hộ tự do cá nhân, cởi mở xã hội. Nghe có vẻ... tiến bộ.
Nhưng không phải. Liberal Party ở Úc thực ra là đảng bảo thủ. Đó là đảng của (đa số) giai cấp trung lưu. Họ tin vào tự do cá nhân và tự do kinh doanh.

Tôi đã hiểu sai.
Phải mất một thời gian tôi mới dần hiểu ra chữ 'liberal' không đơn giản như tôi nghĩ; nó không chỉ có một nghĩa. Và nghĩa quan trọng nhứt, 'liberal arts', giáo dục khai phóng lại là nghĩa ít người Việt mình biết đến.

Giáo dục khai phóng là gì?
Danh từ "Khai phóng" xuất phát từ chữ Latin 'liberare', có nghĩa là 'giải phóng'. Trong giáo dục, nó có nghĩa là mở ra năng lực suy nghĩ của con người: dạy người ta biết đặt câu hỏi, biết phân tích, biết tự tìm ra câu trả lời thay vì chỉ thuộc lòng những gì được bảo.

Nói đơn giản hơn, giáo dục khai phóng không dạy bạn phải nghĩ gì; nó dạy bạn biết cách suy nghĩ.

Hãy thử nghĩ như vầy: bạn muốn con bạn lớn lên như thế nào? Bạn muốn nó chỉ biết làm theo lệnh, không dám phản bác dù thấy sai? Hay là bạn muốn nó biết suy nghĩ độc lập, có chánh kiến, nhưng vẫn biết tôn trọng người khác?

Nếu bạn chọn vế sau, thì bạn đang ủng hộ giáo dục khai phóng đó.

Không có 'tư duy' độc lập, chúng ta dễ bị lừa hơn.
Trong thời đại mạng xã hội, tin giả tràn lan, thao túng tâm lí tinh vi hơn bao giờ hết. Người đọc nếu không được rèn luyện suy nghĩ sâu sẽ dễ tin vào những gì được đưa cho, dù đó là quảng cáo lừa đảo, tin đồn thất thiệt, hay tuyên truyền từ bất kì phía nào.

Chẳng hạn như đầu năm 2024, báo The Guardian [1] đăng tải một kết quả survey cho rằng ông Trump là tổng thống tệ nhứt trong lịch sử Mỹ, trong khi đó ông Biden được coi là một trong những tổng thống tài ba nhứt của Mỹ.

Nhiều người đọc bản tin và tin như thế. Nhưng nếu người có suy nghĩ sâu, họ sẽ tìm đọc phương pháp survey, quá trình làm, và kết quả survey. Và, nếu đã biết ba khía cạnh đó thì mới thấy bài báo của The Guardian là không đáng tin vì nó chỉ là một loại tuyên truyền.

Hay như một trường hợp tuần qua về sự ky` diệu của AI (thông minh nhân tạo). Một bài báo trên New York Times [2] cho chúng ta biết rằng bác sĩ đã bỏ sót một ca bệnh tim mạch nguy hiểm, trong khi đó AI nhận ra ca bệnh!

Wow! Nhưng khi đọc ky thì mới biết đây chỉ là một ... quảng cáo. Tác giả bài viết rõ ràng là không hiểu vai trò của AI nên viết khẳng định như vậy.

Do đó, giáo dục khai phóng dạy người ta hỏi những câu như: Nguồn này đáng tin không? Lập luận này có lỗ hổng không? Ai được lợi nếu tôi tin điều này?

Đó không phải là "phá hoại" như vài người nghĩ; đó là bảo vệ bản thân.

Người Việt mình đã từng có giáo dục khai phóng
Giáo dục khai phóng không phải là thứ nhập khẩu xa lạ. Như một tác giả gần đây [3] đã viết rằng Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, những bậc hiền triết của dân tộc, đều có tư tưởng mang tinh thần khai phóng.

Thế nhưng chẳng hiểu sao ông lại khẳng định: "Nền giáo dục của Việt Nam không thể là 'nền giáo dục khai phóng'” [3].

Ở miền Nam trước 1975, nền giáo dục VNCH được xây dựng trên ba trụ cột: Dân tộc, Nhân bản, Khai phóng. (Tác giả bài trên [3] cho là 'tàn dư'). Ba trụ cột đó bổ sung cho nhau:

Dân tộc để không quên mình là người Việt.
Nhân bản để tôn trọng phẩm giá con người.
Khai phóng để mở rộng tầm nhìn ra thế giới.

Tôi lớn lên trong nền giáo dục khai phóng đó. Thời đó tôi đã học chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, bên cạnh chủ nghĩa tư bản; đã học không chỉ học triết Tây phương mà còn học triết học Đông phương (Nho, Phật, Lão). Nói cho ngay, học mấy thứ này thì nhiều, nhưng hiểu thì ít. Mãi sau này lớn lên mới hiểu một chút về triết học.

Nhờ giáo dục khai phóng mà thời đó tụi tôi học văn của các nhà văn ngoài Bắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh, Đoàn Văn Cừ, v.v. Sau này mới biết mấy người này từng đóng vai trò chống lại Nhân Văn Giai Phẩm, làm cho những người như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, v.v. xất bất xang bang.

Thiệt tình mà nói, tôi thầm cảm ơn nền giáo dục Dân tộc, Nhân bản, Khai phóng đã hun đúc nên tôi (và hàng chục triệu người khác) như ngày nay.

Suy nghĩ độc lập không có nghĩa là chống lại tất cả
Một lo ngại thường gặp là "Nếu ai cũng tự suy nghĩ, xã hội sẽ loạn."
Nhưng thực tế lại ngược lại. Người có suy nghĩ (hay 'tư duy') tốt không phải là người chống đối mọi thứ; họ là người biết khi nào nên đồng ý và khi nào nên phản bác, và có ly' do rõ ràng cho cả hai.

Sự phục tùng mù quáng mới là nguy hiểm. Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều đó nhiều lần, ở nhiều nơi rồi.

Quay lại câu chuyện của tôi ở Úc. Điều tôi học được không phải là đảng Tự Do / Liberal Party có chủ trương tốt hay xấu; điều tôi học được là đừng vội kết luận khi chưa hiểu rõ.

À, mà đó cũng chính là điều mà giáo dục khai phóng dạy.
Một cách ví von, giáo dục khai phóng mở cửa cho tất cả chúng ta, chứ không giam cầm ai. Chỉ những người muốn cánh cửa đó khép lại mới gọi nó là nguy hiểm. Vì người bước qua cánh cửa đó rồi, sẽ không còn dễ bị dẫn dắt nữa.

Albert Einstein từng nói một câu bất hủ:
"Giáo dục không phải là nhồi nhét kiến thức, mà là luyện tập cho tâm trí biết suy nghĩ" (Education is not the learning of facts, but the training of the mind to think.)

Nghĩ lại thấy rất đúng.

Nguyen Tuan

Blog Archive