Sunday, September 6, 2026

Một Lời Xin Lỗi 


Thu năm 1990, nhóm tôi gồm sáu người được hãng General Dynamics (GD) ở Dallas, nay là Lockheed, gửi qua Nhật để huấn luyện các kỹ sư Nhật cách tính toán bảo trì máy bay chiến đấu cơ F16. Bốn nhân viên người Mỹ trong số chúng tôi ký với hãng sẽ ở lại Nhật làm 2 năm. Tôi chỉ qua một tháng. Người còn lại là Mỹ gốc Đại Hàn, thông thạo tiếng Nhật, cũng chỉ ký ở lại làm 6 tháng.

Năm đó cũng là năm kỷ niệm 45 năm hai quả bom nguyên tử bỏ xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Các đài TV của Mỹ đánh hơi được người Nhật tổ chức lễ truy điệu rất quy mô nên gửi nhiều phóng viên qua Nhật làm phóng sự. Phóng viên nổi tiếng nhất của đài NBC là Tom Brokaw bay qua Tokyo để phỏng vấn Thủ Tướng Nhật Bản. Ông Thủ Tướng trông rất thư sinh nhưng ăn nói hung hăng vô cùng. Ông đòi tổng thống Mỹ phải qua Nhật, tới đền thờ những người dân vô tội đã chết qùy thắp nhang xin lỗi chứ không chỉ gửi thư qua xin lỗi và phóng viên qua hỏi lung tung.

Nhân viên gốc Đại Hàn thông dịch cho chúng tôi trong khách sạn rồi kể cho chúng tôi chuyện do người thân của anh ta nói lại những gì lính Nhật đã làm ở Đại Hàn năm xưa. Nhật Hoàng khi đó không có đủ tiền trả lương nên thưởng cho lính Nhật tự do muốn làm bất cứ gì trong 10 ngày mà không bị xử phạt. Những cuộc giết người, cướp bóc, hãm hiếp đã xảy ra khắp mọi góc trong nhiều thành phố ở Đại Hàn khủng khiếp tới độ không có ngòi bút nào có thể tả xiết được.

Cách sắp xếp làm việc của người Nhật thập niên 90 như trong quân đội. Ông sếp lớn ngồi đầu một cái bàn thật dài. Hai bên là các kỹ sư theo cấp bậc ngồi hai bên dọc theo bàn. Hai cái bàn nhỏ đặt sau hai góc phòng cho hai cô thư ký phụ giúp mang giấy tờ, trà hay cà phê cho các nhân viên. Hai bên bờ tường có treo nhiều tấm bảng nhỏ cho từng nhân viên ghi chú mỗi khi muốn rời khỏi bàn đi vệ sinh, nghỉ giải lao, hay nghỉ ngang vì có công chuyện riêng…

Ngày đầu tiên thấy cách sắp xếp chỗ ngồi làm việc tôi bất mãn, cự ngay với ông sếp Nhật. Tôi đòi phải có chút riêng tư để mỗi lần chúng tôi chỉ cho hai, ba nhân viên của ông chứ không thể nói trước cả nhóm hơn ba chục mạng. Thấy ông ngần ngừ, tôi dọa thêm chúng tôi sẽ về lại Mỹ và nói hãng mở lớp ở Mỹ. Ông nói chuyện với hãng rồi hứa với chúng tôi sẽ có hai phòng cho sáu chúng tôi ngồi riêng làm việc vào tuần tới.

Ngày hôm sau, ông mang tờ báo có hình ông Thủ Tướng và phóng viên Tom để một góc bàn, cố ý cho chúng tôi thấy. Chúng tôi im lặng tới trưa, ông mới lên tiếng hỏi: Nghĩ sao về hai trăm ngàn người dân Nhật vô tội chết.

Tôi hỏi lại: Ông nghĩ sao khi hai triệu người dân VN vô tội chết đói năm 1945 vì lính Nhật không cho dân miền Bắc trồng gạo mà bắt phải trồng đay. Trong khi đó miền Nam dư gạo thì cũng bị chính quân Nhật tịch thu hết và cấm mang gạo ra Bắc cứu đói.

Tôi hỏi tiếp: Ông nghĩ sao về cái chết từ từ vì đói và nằm cả mấy ngày nhìn xác vợ con mình thối rữa sẽ khủng khiếp và đau khổ ra sao so với cái chết tức thời vì bom nguyên tử.

Ông im lặng. Cả nhóm ông cũng im lặng.

Những ông Thủ Tướng sau thấu hiểu hơn nhiều khi nói về hai trái bom nguyên tử. Chính vì bị hạn chế xây dựng quân đội và ngân sách cho quốc phòng của Liên Hiệp Quốc trong 50 năm sau đại chiến đã giúp cho dân Nhật dồn mọi nổ lực lẫn tiền của vào kinh tế để đưa Nhật Bản thành cường quốc hôm nay.

Dân Mỹ cứ bị è cổ ra đóng thuế để lính Mỹ tới Nhật gìn giữ an ninh quốc gia trong 75 năm qua.

Cha ông họ đã gây tội ác nên phải lãnh lấy hậu quả trong chiến tranh nhưng con cháu họ lại được hưởng quá nhiều lợi nhuận.

Cha ông Việt Nam chúng ta sống rất đạo đức, hiền lành, không hề gây bất cứ tội ác nào mà cũng phải lãnh hậu quả chết gấp mười lần và chúng ta chưa hề nhận được một lời xin lỗi chính thức từ chính phủ Nhật.

Ngay chính các sử gia Nhật Bản cũng phải khâm phục: “Một nạn đói lớn như thế mà không hề xảy ra những hiện tượng mà những nơi khác có: Người không ăn thịt lẫn nhau, người nghèo không tranh đoạt lẫn nhau. Trái lại có rất nhiều giá trị đạo lý truyền thống của dân tộc được phát huy: Tình làng nghĩa xóm, dòng họ xã hội cưu mang"

Vì đại dịch nên Thu những năm nay dân Nhật không tổ chức họp mặt truy điệu những người chết do bom nguyên tử trong đền thờ quốc gia. Hy vọng vì không đi lại, họ có thêm giờ cầu nguyện cho những người dân vô tội đã chết ở các nước khác.

Lê Như Đức

Hồn Ma Xứ Pháp



Chiều thứ bảy 26/3/2011

Rời khỏi phòng nhãn khoa, bà Minh mời tôi vào quán café. Thấy trời chạng vạng tối, tôi ngần ngại nhưng lại không nở từ chối vì nghĩ bà tuyệt vọng, đang cần tôi để trút nổi niềm lo lắng. Giọng bà phẫn uất:

- Tui thề với chị từ ngày chồng chết đến nay tui chưa ngủ với thằng cha nào thì làm sao tui bị Sida cho được! (bệnh Aids).

Tôi định giải thích người ta không hẳn lây bịnh Sida vì ngủ với thằng cha nào, nhưng bộ mặt thảm sầu của bà khiến tôi đổi qua giọng trấn an:

- Chị đừng lo. Người ta gởi chị tới trung tâm Sida thử máu vì người ta tìm không ra bịnh của chị, họ đâu đã quả quyết chị bị Sida.

- Tại sao trung tâm Sida đẩy tui tới đây khám mắt? Mắt đâu có liên quan gì tới Sida!?

- Em không rành y học, tốt nhất chị chờ kết quả.

Từ hơn 10 năm nay, tôi giúp bà Minh thông dịch. Bà xấp xỉ lục tuần hơn tôi 2 tuổi, người Nam, vẻ mặt đẹp phúc hậu, bản tính bộc trực, thân hình phốp pháp so với chiều cao không quá một mét rưỡi nhưng bà ít chú trọng ngoại dáng, vẫn không thể thiếu lon Coca trong bữa ăn (theo lời bà “cho nó ợ dễ tiêu”). Mang nhiều thứ bịnh tuổi xế chiều loại tê thấp, gai cột xương sống, bao tử... nhưng chưa bao giờ bà quá lo lắng như lần này. Mỗi khi ho hoặc hắt hơi, hai bên tai bà bị ù và cảm thấy nhức nhối trong đầu. Chụp quang tuyến vẫn không tìm ra bịnh, bác sĩ gởi bà đến trung tâm điều trị Sida. Giúp bà quên nổi lo, tôi bắt qua chuyện khác:

- Ông bác sĩ gia đình hôm nọ nói chị dư kí lô, khuyên chị nên đi bộ nhiều. Mấy hôm nay chị có đi không?

- Tui mới đi hổm rày.

Bà chợt nhớ ra, nói:
- Tui muốn hỏi chị chuyện này. Sáng sớm trên đường ra hồ thể dục, ngay chỗ ngọn đồi gần viện dưỡng lão, chị có gặp nhiều người hông?

- Em không theo hướng đó. Từ nhà em qua lối khác gần hơn. Mà sao chị?

- Kỳ thiệt, tui gặp đông người lắm! Có một bà mặc quần đen, áo trắng, tóc dài đi gần tui. Qua hôm sau tui cũng thấy giống y như dzậy. Tui nghĩ giờ đó còn sớm, ai mà ra đường đông quá hé!

- Người đàn bà đi gần chị là người Pháp hay người mình?

- Tui hổng biết. Tui hổng thấy rõ mặt nhưng gặp hai ngày liên tiếp thì tui chắc chắn cũng là bà đó vì đầu tóc dài, mặc quần đen, áo trắng.

Tôi nghĩ đúng là kỳ lạ, xứ Pháp nơi tỉnh tôi ở rất ít người ra đường lúc trời chưa sáng. Tôi lan man nhớ đến phim “Giác quan thứ sáu (The sixth sense)” do nhà đạo diễn Ấn Độ M. Night Shyamalan thực hiện năm 1999, tài tử Bruce Willis và nhi đồng Haley Joel Osmen thủ vai chánh. Chuyện phim kể về một cậu bé 9 tuổi bỗng dưng có năng khiếu thấy được người thế giới bên kia, ở trong tình trạng ghê rợn như ói mửa sặc sụa, treo cổ, máu me bê bết...Cậu rất sợ hãi và trở nên đứa trẻ sống khép kín. Cho tới khi được một bác sĩ tâm lý tin lời, khuyến khích cậu làm sáng tỏ cái chết oan ức của một cô gái bị bà mẹ ghẻ đầu độc. Và bất ngờ cậu khám phá ông bác sĩ cũng là người ở thế giới bên kia, mới qua đời vì bị một bệnh nhân tâm thần ám sát. Bởi cái chết đột ngột, chưa biết mình đã chết nên ông vẫn quyến luyến cõi trần và đau khổ ghen tuông mỗi khi nhìn thấy vợ yêu của mình với người đàn ông khác... Nhờ lời hướng dẫn thông minh của cậu bé, ông hiểu và chấp nhận mình đã chết.

Tôi nghĩ biết đâu bà Minh có khả năng tiếp xúc với thế giới bên kia, bèn nghiêm giọng nói:

- Có lẽ họ muốn chị cúng.

Bà Minh bật nẩy người:
- Chị nói gì mà ghê dzậy! Bộ chị nghĩ là ma hả?

- Em nghĩ không chừng họ cần chị giúp đỡ.

- Thôi chị ơi, tôi hổng dám ra đó cúng một mình đâu, mà nếu cúng cũng phải đợi thứ bảy tụi học trò nghỉ học, chỗ đó gần trường học. Thấy mình cúng, tụi học trò Tây bu coi, hổng được đâu!

Vậy rồi cả ngày chủ nhật và thứ hai, tôi bị câu chuyện trên ám ảnh. Tôi định bụng sẽ khuyến khích bà Minh đi cúng cùng với tôi, nhưng rồi tôi chần chờ vì nghĩ: “còn lâu mới tới thứ bảy, vài ngày nữa mình phôn cho bả cũng chưa muộn”.

Lần lữa đến tối thứ tư, vào ngày con gái tôi ghé nhà ăn cơm tối, tôi đang kể cho con tôi nghe nghi vấn “hồn ma trên ngọn đồi” thì thình lình hai mẹ con giật mình bởi tiếng clic, bóng đèn chớp một cái thật nhanh và sáng trở lại trong tích tắc. Đây là lần đầu tiên chuyện bất thường này xảy ra. Tôi thầm nghĩ: “không lẽ ma chơi mình sao ta!?”

Ăn cơm tối xong, con gái tôi viết mail cho cô bạn Pháp mà từ tháng nay vì bận rộn với người yêu (mới!) nên quên bẵng. Đang gõ mail thì nghe tiếng clic giống hồi này, đèn điện chớp nhanh và sáng trở lại. Điều kỳ lạ tuy mail biến mất nhưng máy vẫn hoạt động. Con gái tôi lẩm bẩm: “Cả tháng mới viết mail mà cũng sinh chuyện!” May thay bức thư viết dở dang tuy biến mất nhưng vẫn còn lưu trữ trong hộp brouillons (nháp).

30/3/2011, 21giờ 47

Chào Maud,

Mình nghe Michael báo tin bồ đã sinh được một bé gái rất dễ thương! Mình muốn chúc mừng bồ và hỏi thăm sức khỏe của bồ (Coucou Maud, J’ai appris par Michael que tu avais accouché d’une adorable petite fille! Je voulais t’envoyer mes félicitations et te demander comment ça va...). Tiếc rằng đã không làm điều này sớm hơn! (Désolée de ne pas l’avoir fait plus tôt!).

Con tôi tiếp tục gõ mail thì bỗng nghe clic, mail lại biến mất lần thứ hai. Bực bội, con tôi lẩm bẩm:

- Lạ thật, thôi khỏi viết nữa!

Tôi chợt hiểu, bảo con:
- Má nghĩ ông bà khuất mặt nào đó hối má gọi bác Minh về việc đi cúng ngày thứ bảy. Con đợi má nói chuyện với bác Minh xong rồi hãy viết lại, biết đâu sẽ được!

Qua phôn, bà Minh kể với giọng sôi nổi:

- Sáng sớm thứ hai, tui ra ngoài hành lang cột dây giày trong khi chờ thang máy xuống. Chị nhớ tui ở lầu một. Thang máy không ngừng lầu một mà lại chạy xuống tầng dưới cùng. Tui tò mò đi bộ thật nhanh xuống dưới để kịp xem người nào dậy sớm như tui. Tuyệt nhiên không có ai cả và ngoài đường vắng tanh. Ui chời ơi, tui lạnh toát cả người, sợ quá hổng dám đi ngang qua con đường cũ ra hồ, mà phải vòng qua lối khác xa hơn. Hổm rày tui hổng dám ra đường sáng sớm nữa. À, tui quên kể chị tin dzui, tui mới nhận thơ báo tui hổng bị Sida.

Sau khi tôi hẹn với bà Minh sáng thứ bảy sẽ cùng nhau ra ngọn đồi, con gái tôi vào brouillons tìm lại mail đã biến mất hồi nãy thì vô cùng kinh ngạc... Ba hàng chữ mà con tôi viết tiếp theo không còn nữa, chỉ còn câu: “Tiếc rằng đã không làm điều này sớm hơn”, như một lời nhắc khéo tôi đã không sớm gọi bà Minh.

Qua lần thứ ba con tôi viết và gởi mail đi êm thắm. Sinh trưởng trên xứ Pháp, dù đầu óc khoa học nhưng con tôi cũng phải sững sờ trước hiện tượng không thể giải thích.

Thứ bảy 02/4/2011

6 giờ rưỡi sáng tháng tư trên xứ Pháp trời tranh tối tranh sáng, tôi hẹn bà Minh nơi có xe cộ thưa thớt qua lại. Tôi chưa bao giờ biết cúng cô hồn nên bà Minh lãnh phần mang đồ cúng. Tay bà xách bọc nylon, mặt có vẻ trầm trọng. Đi bộ khoảng vài phút thấy viện dưỡng lão, tôi nao nao xúc động nhớ ngày nào mình đã từng làm việc cận kề những người già yếu cô đơn. Bên cạnh viện là ngọn đồi nhỏ um tùm cây cối vẫn còn ngủ yên trong sương mù, vòng quanh đồi ngoằn ngoèo những con đường đất chật hẹp dành cho người đi bộ. Tôi thầm thì khấn:

- Ông bà linh thiêng cho tui thấy, có cần chi xin cứ nói.

Bà Minh nạt nhỏ:
- Cái chị này, người ta sợ muốn chết mà chị còn đòi thấy. Tui sợ đến nổi cả tuần nay mất ngủ. Thôi xin kẻ khuất mặt khuất mày để yên tui cúng, làm ơn đừng cho tui thấy.

Sắp tới nơi, tôi dặn dò:
- Khi nào chị thấy "họ", chị bấm tay em thật chặt làm hiệu nghen chị.

Bà Minh gật đầu và nắm nhẹ tay tôi. Một phút sau, bà Minh bấm mạnh vào bàn tay tôi lia lịa, mặt bà thất thần sợ hãi. Tôi đảo mắt nhìn quanh nhưng không thấy gì ngoài cây cối. Bà Minh lui cui dọn đồ cúng dưới gốc cây. Trước tiên bà trải hai tờ báo lớn và trải bánh kẹo lên trên, rót ba ly nước lạnh, thắp 6 cây nhang. Vẻ mặt bà xúc động, run run nói “tui lạnh quá!” Tôi cầm 3 cây nhang bà Minh mới trao, lâm râm niệm Phật và khấn vái tứ phương, cầu nguyện cho những oan hồn sớm siêu thoát. Tôi nhắc nhở oan hồn rằng họ đã chết rồi, họ không còn sống ở cõi trần, không sống ở cõi chết mà đang ở giữa hai cõi. Chính vì muốn bám víu cõi trần nên họ đau khổ. Tôi mong họ hãy chấp nhận sự chết để họ sớm được bước vào một cõi khác tốt đẹp hơn.

Bỗng nhiên từ xa tôi thấy trong sương mù xuất hiện một bóng dáng đàn ông cao lớn đi chầm chậm. Tôi hồi hộp nghĩ thầm: “họ cho mình thấy rồi!” Tôi ghé tai bà Minh thầm thì:

- Em thấy rồi. Chị có thấy ông mặc đồ đen phía tay phải không?

Bà Minh nhíu mày, nói nho nhỏ:
- Hổng phải, thằng cha Tuyệt (Turc: Thổ Nhĩ Kỳ) này ở gần nhà tui thường hay nhậu xỉn. Đương không mắc mớ gì sáng nay chả ra đây sớm dzậy nè!

Tôi chưng hửng khẽ bật cười, lòng thầm an ủi lời Thánh kinh “Phước cho những ai không thấy mà tin!” Khi chúng tôi rời khỏi khu vực huyền bí, bà Minh bạo miệng kể:

- Hôm nay trên đồi đông hơn hai lần trước, mà hổng khi nào tui thấy rõ mặt mũi của ai. Người đàn bà tóc dài mặc quần đen áo trắng có vẻ dân xứ mình.

Tôi chợt nhớ câu chuyện thương tâm mấy năm trước đã gây chấn động trong cộng đồng người Việt nơi tôi ở. Bà Tư Muối tuổi gần 70, chết cả tháng trời trong căn phòng nhỏ, mùi hôi thối xông nồng nặc cả chung cư khiến hàng xóm khiếu nại. Ông gác dan mở cửa thì kinh hãi khám phá một thi thể lúc nhúc dòi bọ. Thiên hạ bàn tán... tuy thằng em trai cư ngụ cùng tỉnh và hai người em gái ở Paris cách 300 km nhưng chị em rất ít liên lạc. Tôi nhắc bà Minh:

- Không chừng bà Tư Muối chết uất ức hiện về nhờ bà cúng đó!

- Hổng phải đâu. Bà Tư Muối lùn và mập. Bà này ốm và cao. Tui ở đây mấy chục năm, bà nào chết tui cũng đưa đám. Tui chưa bao giờ thấy dáng ai giống bà này.

- Em nghĩ tỉnh mình không có chùa, vậy mỗi sáng thứ bảy tụi mình ra đây thì cũng như đi chùa. Em không rành đọc kinh nhưng có thể niệm Phật cầu nguyện cho đến khi nào chị không thấy "họ" nữa.

- Ờ, chị nói dzậy cũng phải. Tui vái họ cho tui trúng cá ngựa, tui sẽ mời Thầy tới lập trai đàn giúp họ mau siêu thoát.

Tôi phì cười:
- Chị có máu hối lộ hí! Sách Phật dạy mình không được cầu lợi cho mình dưới bất cứ hình thức nào.

- Hổng phải hối lộ, tại tui lãnh tiền trợ cấp xã hội mấy trăm bạc hổng đủ tiền mời thầy.

- Cho dù chị muốn lập trai đàn cũng không được đâu, cảnh sát bắt đó! Nếu thân nhân mình chết ngay ngọn đồi thì mình có thể lấy cớ phong tục xứ mình để xin giấy phép. Mình kể câu chuyện này ai mà tin, không chừng mình bị cảnh sát nhốt vào nhà thương điên.

- Ờ, tui cũng hổng dám nói với ai, người ta sẽ cười tui mê tín đặt chuyện.

4 ngày sau... (thứ ba) bà Minh phôn:

- Tui suy nghĩ hoài ngủ hổng được. Tui đoán người đàn bà này là má của ông bác sĩ Hướng (ông bác sĩ Việt Nam duy nhất trong tỉnh nay đã về hưu). Tui hổng biết bà này nhưng mỗi khi tui đi thăm mộ hai người hàng xóm, tui thấy mộ của má bác sĩ Hướng bên cạnh tiêu điều hổng ai thăm viếng thật tội nghiệp! Tui lượm những cành bông còn tốt người ta vất làm thành một bó cắm lên mộ bả. Tui khấn bả tha lỗi cho tui tặng bả bông lượm giỏ rác, nhưng vì tôi muốn làm mộ bả đẹp để bả dzui. Tui nghĩ người đàn bà đó có thể là má bác sĩ Hướng, vì tui nghe người ta nói bà này ở viện dưỡng lão nhưng tui hổng biết tên viện dưỡng lão.

Tỉnh tôi ở có 4 viện dưỡng lão. Tôi tới viện dưỡng lão gần ngọn đồi, là nơi tôi đã từng làm animatrice thì được xác nhận có một người đàn bà Việt Nam duy nhất nhập viện khoảng hơn 2 năm và qua đời vào năm 1980.

Sau khi hội ý với tôi,bà Minh phôn trình bày câu chuyện với bác sĩ Hướng. Bà phập phồng lo lắng ông sẽ nghĩ bà có máu đồng bóng, hoặc bịa chuyện để trục lợi. Bà van vái vong hồn mẹ ông linh thiêng cố gắng hối thúc ông con sớm liên lạc với bà.

Sáng thứ sáu bà Minh phôn cho tôi rất sớm, bà háo hức báo tin bác sĩ Hướng sẽ tới nhà bà lúc 11 giờ và bà yêu cầu tôi có mặt.

Gặp bác sĩ Hướng, ông xác nhận mẹ ông dáng cao, gầy và tóc dài như lời bà Minh tả. Ông trầm ngâm đọc bức thư tôi mới in ra giấy có hàng chữ: “Tiếc rằng đã không làm điều này sớm hơn”. Ông cho biết ông có vợ Đầm và ba con, sau khi bảo lãnh mẹ qua thì không còn cách nào hơn là phải đưa mẹ vào viện dưỡng lão. Hôm mẹ chết, đứa em ông định cư tại Mỹ đã nhờ Thầy cầu siêu đem vong linh mẹ vào chùa ở Los Angeles.Tôi nói:

- Theo tôi đọc sách Phật thì việc cầu siêu tuy ích lợi cho người chết nhưng chính những ý tưởng và cảm xúc ở những giây phút trước khi lìa đời đóng vai trò rất quan trọng. Sự lẻ loi đơn độc là điều bất hạnh nhất của người sắp mất. Nếu họ hôn mê trong trạng thái buồn phiền, uất ức thì phần lớn những oan hồn này lang thang vô định, không có nơi nương tựa thường lưu lại cõi âm lâu hơn những người ra đi trong thanh thản. Tôi nghĩ mẹ ông chết trong cô đơn, cần phải cầu hồn cho hương linh được siêu độ mới mong thoát được kiếp oan hồn vất vưởng. Tỉnh này không có chùa, tôi nghĩ ông nên gởi Bác về chùa ở Việt Nam.

Ông chưa kịp trả lời thì bà Minh sốt sắng:
- Ông đưa tên tuổi và ngày chết của Bác, tôi sẽ lo chuyện này. Tôi cũng xin thưa với ông, tôi không đòi hỏi tiền bạc gì cả. Bác đã tin tưởng chọn tôi thì tôi xin hết lòng giúp Bác.

Ông bác sĩ nói:
- Xin bà cứ làm như vậy, tôi sẽ lục giấy khai tử của mẹ tôi xem lại, lâu quá tôi quên ngày rồi.

Tôi nói thêm:
- Ông có muốn xem ngọn đồi đó thì chúng tôi đưa ông đi, cũng gần đây.

- Dạ thôi để dịp khác.

- Sáng thứ bảy này tụi tui ra đồi cúng sớm, ông muốn tới càng tốt.

Ông thối thoát:
- Nhà tôi có khách Paris ghé chơi nên bận lắm!

Bà Minh dặn dò:
- Ông nhớ mua bó bông ra mộ khấn vái Bác nghen!

Ông bác sĩ làm thinh.

Sau khi ông bác sĩ ra về, tôi nói:
- Ông bác sĩ muốn “bán cái” cho chị rồi. Coi bộ ổng nửa tin nửa ngờ. Thôi kệ ổng, mình cứ làm theo ý mình.

Bà Minh hậm hực:
- Nghĩ bà này đau thiệt! Hao tốn biết bao nhiêu tiền lo cho thằng con qua Pháp ăn học tới bác sĩ, qua đây bị bỏ vào viện dưỡng lão!

- Công bằng mà nói thì ông bác sĩ này cũng có hiếu đó! Nếu không thương mẹ, ổng đã không bảo lãnh bà già qua đây. Chẳng qua hoàn cảnh xã hội bắt buộc ổng phải đưa mẹ vào viện dưỡng lão.Hơn nữa ổng đã quen hội nhập vào đời sống bên này. Tập tục người Pháp khác xa với người mình, họ ít quan tâm tới sự gặp gỡ chăm sóc về mặt tâm linh lúc người thân sắp qua đời.

- Người Pháp ở viện dưỡng lão là xứ của họ mà họ còn buồn thúi ruột, huống gì bả hổng rành tiếng của người ta!

- Bộ chị nghĩ tụi mình sẽ được sống chung với con cái khi về già à!? Tốt nhất mình phải chuẩn bị tinh thần ngay từ bây giờ, phải học chấp nhận mọi hoàn cảnh. Đừng có uất ức như mẹ ông bác sĩ chết 31 năm rồi mà hồn còn vất vơ vất vưởng.

- Ít ra bác sĩ học cao thì cũng phải biết tâm lý người già, phải thường xuyên vào viện dưỡng lão thăm mẹ mới phải chớ!

- Chị làm như bác sĩ thì phải giỏi mọi thứ! Thật ra bác sĩ chưa hề được trang bị những gì thuộc về lãnh vực tâm linh. Họ chỉ chuyên môn trong phạm vi khoa học, thuộc về sự sống. Họ thiên về suy luận lý trí mà coi thường thế giới siêu hình. Hầu hết bác sĩ đều lúng túng trong trường hợp bệnh nhân hấp hối với những lời mong ước cầu xin liên quan tới tâm linh.

Thứ bảy 09/04/2011

6g 30 sáng, tôi xách bao nylon bánh kẹo bà Minh dặn mua, tới chỗ hẹn với bà Minh lần thứ hai.

Ngọn đồi nhỏ vẫn chìm trong sương mù mang vẻ hoang liêu cô tịch. Tôi chẳng thấy ma nào nhưng có cảm giác căng thẳng do bà Minh bóp chặt tay tôi liên hồi, thầm thì với ánh mắt sợ hãi: “đông lắm!” Mùi thơm 6 cây nhang quyện vào không gian vắng lặng huyền bí, tôi niệm Phật không ngừng nghỉ, bỗng nghe tiếng bà Minh đứng dưới chân đồi hối tôi đi. Tôi xuống đồi nói:

- Đợi nhang tàn mới đi, sao chị gấp vậy!? Lên đây niệm Phật nữa chị!

Bỗng nhiên mặt bà Minh đổi sắc. Bà nhìn tôi trừng trừng. Tôi hồi hộp nghĩ thầm có lẽ bà Minh đang bị ma nhập. Bà khóc sướt mướt, giọng run rẩy:

- Tui lạnh quá! Tui lạnh!

Tôi có cảm giác lạnh buốt dọc theo xương sống mặc dù không cảm thấy chút gì sợ hãi. Tôi nghĩ oan hồn đang lẩn quẩn rất gần đâu đây nhưng không thể cho tôi thấy họ và họ cũng không thể nhập vào tôi, có lẻ vì tôi không cùng tần số. Bình tĩnh móc túi áo khoác lấy khăn giấy lau nước mắt cho bà Minh, tôi dỗ dành:

- Ông bà nào có điều chi oan ức nói đi, tui có thể giúp cho.

Bà Minh vẫn nhìn tôi trừng trừng,run lập cập, mếu máo:
- Tui lạnh quá! Tui lạnh quá!

Bà Minh vẫn tiếp tục khóc và khoảng một phút sau, vẻ mặt bà trở lại bình thường, hối:
- Mình đi chị.

Thấm nước mắt bà còn đọng trên đôi má bằng mảnh khăn giấy, tôi hỏi:
- Tại sao chị khóc?

Bà ngơ ngác:
- Tui khóc à?

Trong tuần, bà Minh gọi phôn than bị đau lưng, hai cánh tay nhức mỏi vì bà ra nghĩa địa chùi rửa ngôi mộ bằng ciment mốc meo của mẹ ông bác sĩ. Bà xuýt xoa tấm bia gãy đã xóa mất dòng chữ lý lịch người quá cố và bà than van thằng con bác sĩ vẫn chưa tặng mẹ bó bông như lời bà nhắc nhở. Nghĩ lần này vong linh sắp sửa giã từ xứ Pháp, bà chơi đẹp mua một chậu bông tươi đặt lên mộ thay vì tặng bông lượm trong giỏ rác.

Chiều thứ bảy 26/3/2011

Bà bồn chồn, chờ đợi ông con đưa ngày chết của mẹ nhưng ông vẫn lặng thinh. Không đủ kiên nhẫn, bà dẹp tự ái phôn tới nhà ông. Nắm được tin tức, bà vội vàng phôn về chùa Gò Vấp, gọi cả 4 số điện thoại của 4 ni cô bà quen nhưng không ai trả lời. Nóng ruột, bà gọi vào chùa Chợ Lớn thì may mắn được thầy trụ trì chấp nhận giúp đỡ vong linh. Bà thở phào nhẹ nhõm, hớn hở phôn báo tin ông bác sĩ:

- Tôi đã gởi Bác vào chùa Đại Thế Giới rồi.

- Hồi trước mẹ tôi ở Chợ Lớn, nhà sát chùa Đại Thế Giới. Cám ơn bà.

Ông bác sĩ thản nhiên về sự trùng hợp này nhưng bà Minh và tôi rất xúc động. Chúng tôi tin rằng mẹ ông linh thiêng hoặc một thế lực vô hình đã sắp đặt giúp vong linh trở về đúng nơi quê quán.

Thứ bảy, 23/4/2011

Đây là lần thứ ba chúng tôi lên ngọn đồi huyền bí. Bà Minh không bấm mạnh vào tay tôi vì bà không thấy một ma nào nữa.

Điều kỳ lạ, bịnh ù tai và nhức đầu của bà tự nhiên lành hẳn. Bà nặng thêm vài kí lô nhưng cũng mặc kệ lời khuyên bác sĩ, bà bỏ hẳn đi bộ buổi sáng và vẫn tiếp tục uống Coca cho nó ợ dễ tiêu.

Tôi tin mọi chuyện có bàn tay của Đấng Vô Hình sắp đặt. Nếu bà Minh không bị nghi vấn Sida thì có lẽ hôm đó tôi đã từ chối vào quán Café và mất dịp nghe bà kể câu chuyện huyền bí. Nhờ vậy, tôi có cơ hội được học điều tôi cần phải học đi học lại: “Ý thức tính cách vô thường để không bị ràng buộc tình cảm, tiền bạc, danh vọng... và chuẩn bị chấp nhận cái chết.”

Chấp nhận là chìa khóa của sự chuyển hóa (Darshani Deane).

Lê Khánh Thọ
ĐAN MẠCH VÀ 4 QUỐC GIA ÂU CHÂU THỐNG NHẤT LẬP “TRUNG TÂM HỒI HƯƠNG” NGOÀI EU, DỰ KIẾN BẮT ĐẦU TỪ 2027

Đan Mạch cùng Đức, Hòa Lan, Áo và Hy Lạp hôm thứ Sáu đã đồng ý về một mô hình thiết lập các “trung tâm hồi hương” tại những quốc gia không thuộc Liên Hiệp Âu Châu. Các nước này hy vọng có thể bắt đầu đưa những người di dân bị bác đơn xin tị nạn đến các cơ sở đó sớm nhất từ năm 2027.

Thỏa thuận được công bố sau một ngày họp tại Copenhagen. Đây là bước mới nhất trong nỗ lực của một số quốc gia EU nhằm đưa những người đã bị bác đơn xin tị nạn sang các nước thứ ba bên ngoài khối, thay vì tiếp tục để họ ở lại trong lãnh thổ EU.

Morten Bødskov, Bộ trưởng Di trú và Hội nhập Đan Mạch, nói các nước đang tiến tới điều mà ông gọi là “một sự thay đổi căn bản” đối với hệ thống di trú và tị nạn chung của Âu Châu. Ông cùng các bộ trưởng của Đức, Hòa Lan, Áo và Hy Lạp cho biết 5 quốc gia đang thương lượng với các chính phủ, phần lớn tại Phi Châu, về những địa điểm có thể được sử dụng cho mô hình này.

Các tổ chức nhân quyền đã chỉ trích kế hoạch đưa người di dân đến các trung tâm hoặc cơ sở giam giữ tại những nước thứ ba. Họ cho rằng các quốc gia Âu Châu không thể bảo đảm quyền của những người bị đưa tới đó sẽ được tôn trọng.

Bødskov bác bỏ quan điểm cho rằng cụm từ “trung tâm hồi hương” chỉ là một cách gọi khác của các trung tâm giam giữ và trục xuất. Ông nói Tổ chức Di cư Quốc tế và cơ quan tị nạn của Liên Hiệp Quốc sẽ giám sát các cơ sở này.

“Chúng tôi không nói về các trại. Chúng tôi nói về những cơ hội, về một cơ hội mới cho những người di dân bất hợp lệ hiện không thể trở về quốc gia của họ và không có căn bản pháp lý để ở lại các nước của chúng tôi,” Bødskov nói.

Tuy nhiên, UNHCR nói với Associated Press rằng cơ quan này “chưa được tiếp xúc với các chi tiết của một đề nghị như vậy.” Vì thế, UNHCR cho biết chưa thể bình luận về những sắp xếp cụ thể đang được thảo luận hoặc vai trò nào mà cơ quan này có thể đảm nhận.

Các bộ trưởng không nêu tên những quốc gia thứ ba đang được xem xét, nhưng Bødskov cho biết họ dự kiến đạt được thỏa thuận đầu tiên vào đầu năm 2027. Ông cũng thừa nhận rằng chỉ vài năm trước, ý tưởng về các “trung tâm hồi hương” từng bị chế giễu và bị xem là không phù hợp với luật EU cũng như luật quốc tế.

Luật EU sau đó đã thay đổi trước áp lực chính trị và dư luận đòi hỏi các biện pháp cứng rắn hơn đối với di trú bất hợp lệ. Hồi tháng 6, các nhà lập pháp Âu Châu bỏ phiếu cho phép các quốc gia thành viên tự thiết lập các trung tâm bên ngoài EU hoặc hợp tác theo những nhóm nhỏ, rồi đưa những người bị bác đơn xin tị nạn đến đó thay vì đưa họ trở về quốc gia nguyên quán.

“Đây là điều mới và mang tính đột phá,” Bộ trưởng Tị nạn và Di trú Hòa Lan Bart van den Brink nói.

Đầu tháng 8, phát ngôn viên chính phủ Rwanda Yolande Makolo nói việc Rwanda thương lượng với các quốc gia Âu Châu và những nước khác về khả năng tiếp nhận người xin tị nạn không được phép cư trú ở nơi khác là điều “tự nhiên.” Makolo viện dẫn một cơ chế trung chuyển khẩn cấp được thiết lập tại Gashora năm 2018 dành cho những người được di tản khỏi Libya và được ở đó cho tới khi được tái định cư tại các quốc gia thứ ba.

Makolo nói một trong những ý tưởng được thảo luận là cung cấp một “nơi an toàn” cho những người không còn nơi nào khác để đi. Tại đó, họ có thể được chăm sóc y tế, huấn luyện và nghỉ ngơi trong thời gian hồ sơ tị nạn được cứu xét, trước khi có thể trở về quê nhà nếu an toàn hoặc được tái định cư tại một quốc gia khác.

“Chúng tôi muốn trở thành một phần của giải pháp cho một vấn đề lớn mang tính toàn cầu,” Makolo nói.

Hiện vẫn chưa rõ các quốc gia đang thương lượng với EU sẽ nhận được điều gì để đổi lấy việc tiếp nhận những người di dân bị Âu Châu bác đơn tị nạn. Các tổ chức bảo vệ quyền của người di dân tiếp tục chỉ trích kế hoạch thiết lập các trung tâm ở nước ngoài, cho rằng việc theo dõi và thực thi các tiêu chuẩn nhân quyền tại những nơi này có thể gặp khó khăn.

Ủy viên Nhân quyền Hội đồng Âu Châu Michael O’Flaherty nói rằng “những bảo đảm mơ hồ về việc tuân thủ luật nhân quyền là chưa đủ.” Ông nói các quốc gia cần cam kết những biện pháp bảo vệ cần thiết để ngăn việc hình thành những nơi mà quyền con người không được kiểm soát.

Các bộ trưởng Âu Châu tại Copenhagen nhấn mạnh những trung tâm mới sẽ tuân thủ luật Âu Châu và luật quốc tế. Van den Brink cho biết các cuộc thảo luận kỹ thuật và những chuyến công tác tới các quốc gia đối tác tiềm năng sẽ được sử dụng để hiểu rõ hơn về tình trạng nhân quyền và điều kiện sinh sống của người tị nạn.

Ông nói mục tiêu là thực hiện kế hoạch “theo cách của Âu Châu,” phù hợp với các giá trị, luật quốc tế và đặt nhân quyền ở vị trí trung tâm. Trong khi đó, tổ chức PICUM tại Brussels lên án cuộc họp ở Copenhagen, cho rằng việc đưa việc kiểm soát di trú ra bên ngoài EU chỉ là một cách cũ nhằm đưa người di dân ra khỏi tầm mắt và tránh các nghĩa vụ về nhân quyền.

Nguồn: Associated Press / Breitbart
Phân tích và biên tập: Luan Vo
Tin Hoa Kỳ by VLKT News



YÊU XA

Người ta nói mạng là ảo nhưng cái thời mà tôi yêu em thì phone nhà cũng chẳng có nói cho đến phone tay. Tất cả liên lạc đều bằng những lá thư xanh đỏ.

Tôi quen em trong một dịp tình cờ do một người chị giới thiệu qua một tấm hình. Thế là từ đó hai chúng tôi liên lạc bằng thư từ mỗi tuần một hai lần để tìm hiểu nhau. Nói thật ra lúc bấy giờ tôi cũng chẳng biết người Philippines là gì? Vì hồi nhỏ đến lớn tôi chưa hề gặp hay tiếp xúc với một người Philippines nào. Nhưng tạo hóa đã cho chúng tôi quen nhau, và từ đó mầm non tình yêu bắt đầu nẩy nở. 

Suốt ba năm trời chúng tôi qua lại bằng thư từ, chưa bao giờ nói chuyện qua phone vì nhà nàng không có phone. Ngày xưa ít có nhà nào có phone chỉ có ở những văn phòng mà thôi. Thời mà cái máy đánh chữ vẫn còn bỏ giấy vô gỏ đau cả mấy ngón tay. Thời đó hầu như nhà ai cũng nghèo, cơm không có mà ăn phải ăn khoai hay bắp thay cơm. Không những chỉ có ở Việt Nam mà cả ở bên Philippines cũng vậy.

Gia đình vợ tôi ở một cái đảo nhỏ xíu không thấy trong bản đồ. Mỗi lần đi học phải mang khoai mì để ăn nguyên tuần. Ở lại cái chòi cuối tuần mới về. Lội bộ qua một ngọn núi mấy tiếng mới tới nơi. Lên đại học thì lên tỉnh ở nhờ nhà bà cô, sau bốn năm có cái bằng nắm trong tay vợ tôi mới xin được một công việc trong tiệm sách ở thành phố lớn, đó là Manila để nuôi gia đình và các em. Dân ở mấy cái đảo nhỏ thường lên mấy cái tỉnh lớn để tìm việc. Vợ tôi làm một tuần sáu ngày, mỗi ngày 8-10 tiếng thế mà một tháng tính ra chỉ có trên dưới một trăm đô la. Khi vợ tôi lên Manila để làm việc thì cũng là lúc chúng tôi quen nhau. Ba năm đủ để cho tôi biết về nàng, và gia đình.

Nàng là một người rất sùng đạo, chịu khó, và hiền. Tuy rằng chỉ liên lạc qua thư từ nhưng tôi cũng cảm nhận được con người của nàng ra sao. Thế là một ngày đẹp trời tôi bỏ lại tất cả khăn gói lên đường. Cầm cái ticket trong tay tôi cũng không biết Philippines là gì? ở đâu? Trên thế giới này nhưng hình như có ai xui khiến, hay tại vì tình yêu của chúng tôi đã chín mùi mà tôi đã liều lĩnh để lên đường.

Tôi đến Manila lúc năm giờ sáng ngày chủ nhật. Bước ra khỏi phi trường trời mới tờ mờ sáng mà người ta đã đứng đông đúc. Cầm cái lá thư có địa chỉ nhìn chung quanh để tìm xe thì một thằng nhỏ cỡ mười mấy tuổi chạy đến hỏi bằng tiếng Anh: anh đang tìm xe hả. Tôi gật đầu hắn nói đi theo tôi. Nó dẫn tôi băng qua đường, ở đây có một hàng xe taxi đang đứng đợi. Tôi phóng lên xe đầu tiên, đưa địa chỉ cho bác tài, và cho thằng nhỏ năm đô hắn mừng húm nói "thank you" lia lịa. Tôi ngồi trên xe nhìn ra ngoài cửa kính, sáng sớm mà người ta đã đi đầy đường. Nào là xe bus, xe xích lô, xe lam, xe gắn máy và người đi bộ chen chúc nhau như kiến.

Tôi qua đây bất thình lình không cho vợ tôi biết để dành sự ngạc nhiên cho nàng vì tôi biết vợ tôi không bao giờ ngờ rằng tôi dám đi qua đó một mình .

Chiếc taxi đỗ lại trước một con hẻm rộng cỡ ba mét. Hai bên người ta ngồi giặt đồ nước chảy lai láng. Tôi xách ba lô tay cầm địa chỉ đi vào con hẻm. Vài người ngước nhìn tôi chào hello. Tôi đi một lúc thì dừng lại trước một ngôi nhà nhỏ xíu mà vợ tôi mướn. Gỏ cửa một thằng nhóc cỡ 16,17t chạy ra hỏi: anh tìm ai? Tôi hỏi Catherine có nhà không? Nó nói: chị em đang ở nhà thờ. Nó bỏ cái bao lô của tôi vô nhà rồi dẫn tôi đi lòng vòng trong con hẻm một lúc sau ra đường cái. Nhà thờ rất lớn và lâu đời nằm bên kia đường. Chúng tôi băng qua đường. Người ta dự lễ cũng đông đứng cả ra ngoài sân. Nó len lõi dẫn tôi ra những cái cửa bên hông nhà thờ. Ở đây cũng đông người đứng dự lễ. Nó nói tôi đứng đợi rồi biến đâu mất vào đám đông. Một lúc sau nó quay lại cầm tay tôi Len lõi vào đám đông đến trước một cánh cửa bên hông nhà thờ chỉ tay và nói: chị tao ngồi ở đó mặc áo hồng. Tôi nhìn thấy nàng rồi. Giống như trong hình. Nàng đang quy gối hai tay chắp lại như đang cầu nguyện. Tôi cho thằng nhỏ hai chục và nói nó đi về.

Tôi đứng đó nhìn nàng mà tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Tan lễ mọi người ùn..ùn.. kéo nhau đi ra.. nàng đi ngang qua tôi rồi chợt quay lại nhìn tôi chăm..chăm.. bỗng nàng chạy lại ôm tôi nước mắt cứ tuôn trào. Tôi không bao giờ quên được giây phút gặp gỡ lúc đầu tiên ấy.

Chúng tôi đi đăng ký kết hôn trên giấy tờ và về đảo của bố me vợ để làm đám cưới ở nhà thờ. khi về lại Mỹ tôi làm giấy tờ bảo lãnh. Sau sáu tháng nàng có thư mời đi phòng vấn. Tôi lại bay trở lại Philippines.

Ngày phỏng vấn cuộc hẹn của chúng tôi lúc 11:00 trưa mà chúng tôi đã có mặt lúc năm giờ sáng mà người ta đã xếp hàng dài cả cây số. Vợ tôi tính đi đến xếp hàng nhưng tôi cầm tay vợ tôi đi thẳng đến cổng sắt, nơi mà có hai ông lính cầm súng gác. Tôi đưa ra cái us passport một tên liền mở cửa cho chúng tôi vào. Bên trong đã có cả đống người ngồi đợi để được gọi vào phỏng vấn. Chúng tôi ngồi đợi đến phiên mình mà tôi đã chứng kiến đã có mấy cặp đi ra cải nhau vì không được chấp nhận cho visa vì lý do gì đó.

Đến đúng 11:00 trưa có người đi ra gọi vợ tôi vào. Tôi cầm tay vợ tôi trấn an. Một lúc sau nàng đi ra và có người đi theo gọi tôi vào, còn vợ tôi thì phải ngồi lại. Tôi đến một cái ô cửa kính, nên trong là một gã râu quai nón mặt rất nghiêm nghị. Hắn hỏi bao lâu anh quen Catherine? Tôi nói ba năm. Rồi hắn hỏi anh có cái gì để làm bằng chứng hai người quen nhau. Tôi lấy ra mấy trăm lá thư hắn cầm đọc hai lá thư rồi hỏi: tụi tôi làm đám cưới ở đâu? quen ở đâu ?..v..v. rồi hỏi tôi về vấn đề tài chánh, sổ lương và hai năm khai thuế. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng tât cả giấy tờ đưa cho hắn. Cuối cùng hắn nói: chúc mừng hai anh chị đã được thông qua. Và hắn đưa cho tôi cái visa của vợ tôi. Tôi mừng húm nói thank you lia lịa.

Bước ra ngoài vợ tôi nhìn tôi như lo lắm và hỏi: sao rồi anh? Tôi móc ra cái visa trước bao nhiêu cặp mắt nhìn chúng tôi như ngưỡng mộ lắm vì rất cả mọi người vào đây chỉ đợi có vái tấm giấy visa. Người vào thì đông nhưng người trợt phòng vấn cũng không ít.

Cầm được cái visa trong tay chúng tôi mừng lắm chạy đi mua vé máy bay để trở về Mỹ sau hai tuần. Khi đón xe về nhà thì ôi thôi một khu mấy trăm căn nhà bị cháy rụi, trong đó có nhà nàng. Hên là ngày hôm đó là ngày phòng vấn chúng tôi mang tất cả giấy tờ đi theo chứ thường..thường.. buổi trưa chúng tôi hay đi vào shopping dạo chơi vì ở trong đây có máy lạnh chư không thì giấy tờ kể như tiêu tan.

Thế mà thấm thoát đã 30 năm trôi qua, và ba đứa con tình yêu của chúng tôi vẫn như ngày nào không bao giờ thay đổi. Tuy rằng bây giờ hai đứa tôi đã già rồi nhưng vẫn yêu thương và săn sóc cho nhau như thủa ban đầu. Vợ chồng đến với nhau như một cái duyên mà thượng đế đã tạo ra cho hai người vì thế mình phải biết quý mến và yêu thương người bạn đời của mình cho đến hơi thở cuối cùng. 

Giờ đây viết lại giây phút đầu tiên ấy đã mấy lần mà tôi vẫn thấy bàng hoàng, tê tái cả tâm hồn. Một cảm giác mà suốt đời này tôi không bao giờ quên.

Dung Dinh

TẠP GHI : EM ƠI, SÀI GÒN XÓM

Như Nguyễn

Đừng quên phía sau Sài Gòn phố còn là Sài Gòn xóm. Những con xóm một thời ẩn chứa nhiều cổ tích, là một phần không thể thiếu trong ký ức và đời sống của đô thị.

Hẻm 109 Nguyễn Thiện Thuật, khu Bàn Cờ, quận 3, nơi có quán cà phê Cheo Leo nổi tiếng

Sài Gòn xóm bắt đầu từ thế kỷ 19, lúc thành Gia Định có khoảng 40 làng, tụ hội dọc bờ sông, bờ rạch, xen kẽ với chợ búa và xưởng thợ. Người Pháp đến, họ kiến thiết đô thị hiện đại, phóng đường mở phố nguy nga. Tuy nhiên, phía sau những dãy nhà mặt tiền to lớn ở trung tâm đô thị mới vẫn còn nhiều vườn tược, bãi đất, ao hồ, mương rạch. Từ đó, dần dần ra đời những con hẻm, những ngõ ngách, những xóm nhà ẩn khuất xung quanh những con đường chính ngang dọc.

Những cái tên dấu ấn làng quê
Sài Gòn xóm có tên riêng tùy nơi: Cầu Muối, Cầu Kho (Q.1), Chợ Đũi, Bàn Cờ, Vườn Chuối (Q.3), Xóm Chiếu, Khánh Hội (Q.4), Xóm Cải, Xóm Đất (Q.5), Cây Da Xà (Q.6 - Bình Tân), Xóm Củi, Lò Gốm (Q, Cống Bà Xếp, Hòa Hưng (Q.10), Lò Vôi (Q.Gò Vấp)... Những cái tên nôm na, mang đầy dấu ấn làng quê trước lúc chuyển sang thị thành.

Tôi sinh ra và lớn lên ở xóm Bàn Cờ, khu vực đóng khung giữa các đường Cách Mạng Tháng Tám (trước 1975 là Lê Văn Duyệt), Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự) và Lý Thái Tổ, Điện Biên Phủ (Phan Thanh Giản ngày xưa). Nơi đây là giao điểm gạch nối Q.1, Q.3, Q.10, Q.5 với nhau. Với địa lợi như vậy, Bàn Cờ ngày càng đông đúc, nhà dân, chợ búa, siêu thị, nhà hàng, trường học, bệnh viện mọc lên tấp nập. Thế nhưng, 50 năm trước, xem bản đồ Sài Gòn xưa, ta có thể ngạc nhiên thấy cả khu vực này đều chưa có tên. Tìm hiểu qua sách báo và cư dân lâu năm, mới biết cuối những năm 1950, Bàn Cờ là “trại tạm cư”. Dân “chạy loạn” từ quê lên, được chia ô cắm dùi làm lều, làm nhà ở tạm. Cứ thế, trên đất trống hình thành những con hẻm đường đất, chạy chi chít nhưng vuông vắn như... Bàn Cờ.

“Làng quê” ven phố
Xóm Bàn Cờ xa xưa giống như những con xóm khác của Sài Gòn, không những là nhà nghèo mà còn là “nhà quê”, bởi chính khung cảnh đậm đặc “thôn làng” giữa phố! Nhiều xóm nhà ngày ấy rất đúng nghĩa là “xóm nhà lá”, vì phần lớn đều là những căn nhà có mái và vách ngăn làm bằng lá dừa nước phơi khô. 

“Sang” hơn thì nhà vách ván, vách tôn, thậm chí bằng thiếc gỡ ra từ những thùng hàng lớn nhỏ. “Sang” nhất trong xóm là những ngôi nhà đóng bằng “cây” (gỗ), dẫu chỉ là gỗ tạp, còn gọi là “nhà cây”. Đó thường là nhà hai tầng, khung và các cửa đều bằng gỗ, sơn phết màu xanh da trời hay màu xanh đọt chuối, rất hiền hòa. Kiểu dáng nhà nào cũng đơn giản. Nhà nào “điệu đàng” nhất thì nơi khung cửa sổ có treo rèm vải. Hoặc hàng rào gỗ ở ban công trên lầu, có các chấn song được xếp theo hình chữ X, thay vì xếp hàng dọc đơn điệu.

Thuở ấy, đèn néon chưa phổ biến, nhà nào khá lắm cũng chỉ có bóng đèn vàng. Đường hẻm chưa có đèn công cộng. Tối đến, khung cảnh các xóm càng trông giống làng quê với những ánh đèn vàng tĩnh mịch.

Chính những con hẻm đường đất vẫn còn nhiều cây xanh là ngôi vườn, là sân chơi chung cho con nít chúng tôi. Dưới những tàng cây thanh bình, trẻ em trong xóm chơi đánh đáo, bắn bi, ô ăn quan, đá banh, nhảy cầu, nhảy dây, tạt lon... Hết thảy, đều vui nhộn và hồn nhiên! Con nít sau giờ học, đổ ra hẻm, chơi đùa với nhau dễ dàng. Người lớn thả con ra khỏi cửa, không lo lắng trăm nỗi an nguy như bây giờ.

Các ngày Tết Nguyên đán, nhà nào nhà nấy trang hoàng rộn rã, hầu như nhà nào cũng có chậu mai vàng hay chậu cúc kim trước cửa. Sắc hoa vàng nở tưng bừng trên nền xác pháo đỏ. Trước Tết, bà con trong xóm thường nấu chung nồi bánh chưng, bánh tét trên đường hẻm. Xóm giềng thăm hỏi nhau, tặng chút mứt nhà làm, tặng trái cây cúng bàn thờ là chuyện bình thường.

Hàng xóm thân thiết
Thuở ấy, Sài Gòn xóm chưa có nước máy vào nhà, chưa có cột đèn dẫn điện vào các hẻm. Ngoài nước giếng, người dân quen xài nước máy công cộng. Cứ ba bốn hẻm, lại có một “phông ten”. Trong khu chợ Bàn Cờ, giữa hẻm 212 Nguyễn Thiện Thuật có một “phông ten” nước, vừa xài cho xóm, vừa xài cho chợ. Tại đấy, từ sáng đến tối đều đông chật người. Các bà, các chị gánh nước thuê, đầu đội nón lá, mặc áo bà ba, xắn ống quần cao để lộ bắp đùi rắn rỏi. Hai thùng nước sóng sánh, đong đưa nhịp nhàng trên đòn gánh. Đó là loại thùng thiếc vuông của các hãng nước mắm, dầu dừa, dầu hôi..., bây giờ rất hiếm thấy. Từ nhỏ, tôi khó quên được cái giọng ngọt ngào, thân mật khi họ gánh nước đến đổ vào lu cho từng gia đình. Các bà, các chị hay gọi chủ nhà là “Thầy Hai, Cô Ba”! Thật ra, thầy hay cô cũng đều là dân lao động như nhau, giới “bình dân” - hai chữ này bây giờ cũng vắng bóng.

Hầu như ngày ấy, nhà cửa trong xóm không có cảnh “kín cổng cao tường”. Bởi lẽ đơn giản, nhà trong xóm, không có cổng, không có tường rào. “Nhà cây” hay nhà gạch, ban ngày lúc nào cũng mở cửa thông thoáng. Nếu có mành tre hay mành gỗ cũng chỉ để che nắng. Hiên nhà là nơi đặt mấy chiếc ghế cũ hay “bộ ngựa” để người nhà hay hàng xóm ngồi chơi. Có khi đó là một bệ xi măng hay băng ghế sắt lấy ở đâu đó, cứ tự nhiên trở thành salon ngoài trời. Đặc biệt, trước hiên nhà thường có một giá thờ đơn giản nhưng trang trọng, gọi là bàn thờ Ông Thiên. Trên đấy, bao giờ cũng có một bát nhang và một cây đèn hột vịt. Người trong xóm tin các vong hồn phiêu lạc và tà ma nào đấy trông thấy khung cảnh thiêng liêng đó sẽ phải tránh xa.

Ở nhiều nhà, còn để một khạp nước có nắp đậy cẩn thận, kèm theo chiếc gáo dừa hay chiếc ly nhựa để khách đi qua cứ tự nhiên múc uống. Thêm vào sự hào phóng đó, còn phải kể đến những tiệm thuốc bắc của người Hoa trong xóm. Tại đây, trên quầy lúc nào cũng có sẵn mấy lọ trần bì (vỏ quýt phơi khô tẩm thuốc) hay những loại kẹo ngậm gì đấy vừa ngọt vừa hăng hăng mùi thuốc bắc. Bọn con nít chúng tôi chạy vào xin thì đều được ông Tàu “bụng phệ” gật đầu cho lấy thoải mái.

Từ xóm ra phố
Thành phố nhìn từ trên cao, bên cạnh rừng cao ốc vẫn còn nhiều xóm nhỏ
Giờ đây, các con hẻm hoàn toàn khác hẳn ngày xưa, nhà nào nhà nấy đều xây cao hơn, đẹp hơn, vật liệu đa dạng, sơn phết đủ màu. Có những con hẻm được mở rộng, xe hơi ra vào được dễ dàng. Các tiệm tạp hóa trở thành cửa hàng tiện lợi. Quán cà phê, tiệm uốn tóc, nhà may “bùng nổ” trong hẻm. Nhiều nhà trang bị thiết bị phòng chống trộm “tận răng”, nào là cửa sắt sơn đen, tường gạch, cắm thủy tinh, đèn chiếu sáng, kể cả camera quan sát bên ngoài. Không ít nhà vì lo lắng an ninh nên làm cửa sắt rào kín mặt tiền, giống như pháo đài hay chuồng sắt vậy. Trong các con hẻm, cây xanh rất hiếm hoi, chỉ còn cây kiểng hay chậu hoa trang trí trước nhà hoặc trên sân thượng.

Sinh hoạt Sài Gòn xóm cũng đổi thay! Người lớn và trẻ em bây giờ có nhiều thú vui “tại gia”: Hát karaoke, chơi game điện tử, xem truyền hình, lướt internet... Về đêm, trong các hẻm lớn, hay ngoài bờ kè, mọc lên nhiều quán nhậu, quán cóc, quán ốc, bia bọt lan tràn. Ngày tết, ngày lễ, nhiều nơi phường xóm thưa vắng vì người về quê năm nào cũng đông, người đi du lịch trong nước hay nước ngoài trở nên thường xuyên.

Sài Gòn ngày càng phát triển, vấn nạn càng nhiều. Ngay kiểu sống không ai biết ai, lạnh lùng như những căn hộ cao tầng, luôn luôn kín cửa cũng sẽ là một “thảm họa” cho các đại đô thị, nếu những ký ức và giá trị tốt đẹp cứ rơi vào quên lãng!


Bài Ca Không Tên

Có những chuyện trong đời, người ta không đặt tên được. Không phải vì không biết gọi sao, mà vì gọi kiểu gì cũng sai. Buồn thì chưa tới buồn, vui thì chưa tới vui, thương thì chưa tới thương, mà bỏ thì… không bỏ được. Giống như có ai đó đứng sau lưng mình hát một câu quen lắm: “Biết bao lần anh đã hứa… hứa cho nhiều rồi lại quên…” rồi bỏ ngang đó, để mình tự đi tìm phần còn lại. Tới lúc tìm ra thì thấy mình già thêm một chút, mệt thêm một chút, mà lòng cũng thôi còn tin như xưa.

Con người thiệt ra không khó hiểu. Chỉ là sống lâu rồi mới thấy: ai cũng có cái tật biết sai mà vẫn làm, biết mai sẽ hối hận mà hôm nay vẫn ráng thêm một lần cho biết. Tui nghi lúc bà Nữ Oa nặn con người, bả nặn vội quá, nên chỗ dư tự ái, chỗ thiếu lý trí, chỗ mềm như bánh flan, chỗ cứng như đá cuội. Rồi bả còn lỡ tay rắc thêm một nhúm tình yêu, thành ra từ đó tới giờ nhân loại cứ vừa thương vừa đau, vừa hứa vừa quên, vừa tin vừa thất vọng.

Đàn ông là một giống loài kỳ lạ. Ban ngày họ làm việc ngon lành, ký hợp đồng bạc triệu, nói chuyện trước cả trăm người không run. Vậy mà tối về, vợ hỏi: “Anh thấy cái áo em mặc hôm nay đẹp không?” là coi như xong phim. Nói “đẹp” thì bị hỏi tiếp “đẹp chỗ nào”, nói “bình thường” thì khỏi ngủ, nói “cũng được” thì khác nào tự đào cái hố rồi nhảy xuống đứng đợi, chờ người ta lấp đất. Đàn ông nhiều khi không cần ai hại, tự mình làm cũng đủ chôn mình.

Một người có thể học tới tiến sĩ, biết đủ thứ trên đời, nhưng đứng trước câu: “Anh có nhớ hôm nay là ngày gì không?” thì toàn bộ kiến thức trong đầu ổng tắt đèn. Không phải ổng ngu. Chỉ là có những chuyện đàn ông không giỏi, mà phụ nữ lại nhớ dai như sợi dây thun kéo hoài không đứt.

Phụ nữ thì cũng đâu khá hơn. Biết chồng mình có tật hứa rồi quên, vậy mà lần nào ổng nói: “Từ nay anh bỏ nhậu”, bả vẫn tin — tin kiểu hy vọng chứ không phải tin thiệt. Ổng bỏ được đúng bốn ngày. Qua ngày thứ năm, bạn gọi “Ra làm vài chai không?” là ổng đi liền, nhanh hơn đi cấp cứu. Về tới nhà thấy vợ ngồi chờ, ổng nói: “Anh chỉ uống có hai chai.” Bả biết thừa là tám chai nhưng vẫn hỏi lại: “Hai chai thiệt hả?” Ổng gật đầu tỉnh bơ. Bả quay mặt đi, trong bụng vừa tức vừa đau, nhưng sáng hôm sau vẫn chừa phần cơm cho ổng. Đó, phụ nữ thương kiểu vậy đó: giận thì giận, nhưng vẫn lo cho người ta.

Rồi tới chuyện “quân ta - quân địch”. Dân gian nói rồi:

“Vợ nhà là kẻ địch,
Bồ bịch là quân ta.
Khi chiến sự nổ ra,
Ta về nhà cùng với địch.
Dù rằng trong lòng địch,
Mà vẫn nhớ quân ta.”

Đàn ông đọc mấy câu này thì cười, phụ nữ đọc thì nhíu mày. Nhưng thiệt ra, đời nó vậy. Hồi chưa có vợ thì mong có người bên cạnh. Có rồi thì thấy “kẻ địch” ở ngay trong nhà. Ra ngoài gặp “quân ta” thì đời tươi đẹp, nói câu nào cũng ngọt như mía lùi. Nhưng tối đến vẫn lò dò về nhà với “kẻ địch”, ăn cơm của địch, nằm chung giường với địch. Sáng ra địch hỏi: “Anh uống cà phê không?” thì vẫn tỉnh bơ: “Ừ, pha giùm anh.”

Tới lúc bệnh, địch là người lấy thuốc. Tới lúc thất nghiệp, địch là người ngồi tính từng khoản tiền. Tới lúc cha mẹ hai bên đau yếu, địch là người cùng mình chạy tới chạy lui. Tới lúc tóc bạc, mắt mờ, chân chậm, cái “quân ta” ngày nào có khi chẳng còn nhớ mình là ai, còn “kẻ địch” vẫn nằm bên cạnh, kéo chăn lên rồi càm ràm: “Ngủ đi, già rồi còn thức khuya.”

Có lúc tui nghĩ nếu đem chuyện “con người được nặn từ đất sét” đi làm luận văn tốt nghiệp, chắc bà Nữ Oa phải ngồi bảo vệ tới sáng. Hội đồng hỏi: “Tại sao sản phẩm của bà biết rõ cái gì có hại mà vẫn làm?” Bả nói: “Dạ… tại em cho tụi nó quyền tự do. Mà tự do thì đôi khi nó tự quậy.” Họ hỏi tiếp: “Vậy tại sao vợ biết chồng hứa suông mà vẫn tin?” Bả nhìn xuống bàn: “Dạ… tại em nặn trái tim phụ nữ hơi dư chỗ thương. Còn trí nhớ đàn ông thì em nặn bằng đất sét hơi mềm.” Hội đồng nghe xong, nhìn nhau, ghi vô biên bản: “Sản phẩm của thí sinh tuy phức tạp, khó kiểm soát, nhưng có giá trị sử dụng lâu dài. Đề nghị cho tốt nghiệp.”

Đời có một trò chơi oái oăm: người làm mình vui chưa chắc thương mình, người làm mình bực chưa chắc muốn mình đau. Có người cả đời chỉ đem tới tiếng cười, nhưng lúc mình khóc thì họ biến mất. Có người khiến mình phát điên mỗi ngày, nhưng lúc cả thế giới quay lưng thì họ vẫn đứng đó.

Và rồi tới một ngày, khi hai đứa cùng già, cùng ngồi trên một cái ghế, cùng nhìn ra ngoài sân mà chẳng cần nói gì, người ta mới hiểu: cả đời đánh biết bao nhiêu trận, nhưng người mình tưởng là kẻ địch lại chính là người cùng mình sống sót qua tất cả. Còn “quân ta” ngày xưa, thôi để họ ở lại trong thơ. Đời thiệt, tới cuối cùng, ai còn ngồi bên mình mới là người thắng.

Hong Khuu, 05/09/2026


Người tị nạn Việt Nam tai Israel

Vào tháng 6 năm 1977, một chiếc thuyền chở 66 người tị nạn Việt Nam trôi dạt nhiều ngày trên Biển Đông. Họ được một tàu chở hàng Yuvali của Israel cứu hộ, nhưng không quốc gia nào đồng ý tiếp nhận họ.

Israel, khi đó chỉ 29 năm tuổi và vẫn đang tiếp nhận làn sóng nhập cư Do Thái .
Thủ tướng Menachem Begin, người đã mất cha mẹ trong cuộc diệt chủng Holocaust, nói:

“Hãy để họ đến. Chúng ta, dân tộc Do Thái, hiểu cảm giác làm người tị nạn là như thế nào.”

Quyết định nhân đạo : Dù tàu Yuvali chỉ trang bị đủ phao cứu sinh và áo phao cho 30 thành viên thủy thủ đoàn, Thuyền trưởng Tadmor vẫn quyết định đón toàn bộ 66 người tị nạn lên tàu.

Tàu Yuvali đã đánh tín hiệu đến nhiều cảng biển ở châu Á (như Hong Kong, Singapore) và các quốc gia khác để xin cập cảng lánh nạn cho hành khách, nhưng không một nơi nào đồng ý tiếp nhận.

Khi biết tin, Thủ tướng Israel Menachem Begin vừa nhậm chức được vài ngày đã lập tức ban bố sắc lệnh đặc cách đón họ về Israel. Ông tuyên bố hành động này nhằm nhắc nhở thế giới về thảm kịch lặp lại của con tàu chở người Do Thái MS St. Louis năm 1939 – con tàu từng bị toàn bộ châu Mỹ từ chối và đẩy hàng trăm người Do Thái trở lại tay phát xít Đức.

Đến miền đất mới:
Ngày 26/6/1977, nhóm 66 người tị nạn chính thức đặt chân đến Sân bay Ben Gurion. Người đại diện phát ngôn cho nhóm lúc đó là bác sĩ quân y Trần Quang Hoa. Ông xúc động chia sẻ rằng trước khi được cứu, họ chưa từng biết đến cái tên Israel trên bản đồ thế giới.

Mở rộng vòng tay:
Sau nhóm đầu tiên trên tàu Yuvali, Israel tiếp tục đón thêm 2 nhóm tị nạn nữa trong giai đoạn 1977–1979, nâng tổng số người Việt được tiếp nhận lên khoảng 366 người.

Chính sách hỗ trợ:
Toàn bộ người Việt được cấp tư cách thường trú, sau đó là quốc tịch, căn hộ và được hỗ trợ học tiếng Do Thái (Hebrew). Họ định cư tập trung tại các thành phố duyên hải như Bat Yam, Jaffa, Haifa, và Tel Aviv.

Thách thức ngôn ngữ:
Thế hệ đầu tiên gặp rất nhiều rào cản khi hòa nhập vì tiếng Do Thái cực kỳ khó học và văn hóa có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên, họ đã nỗ lực làm việc trong các nhà máy, mở nhà hàng món ăn Á Đông, hoặc làm việc trong ngành y tế. Thế hệ con cháu của họ (thế hệ thứ 2 và thứ 3) lớn lên nói tiếng Hebrew trôi chảy, đi học trường bản địa và tham gia nghĩa vụ quân sự như công dân Israel thực thụ.

Cuộc sống của cộng đồng hiện nay :
Theo thời gian, hơn một nửa số người tị nạn gốc Việt ban đầu đã rời Israel để chuyển sang các quốc gia có cộng đồng người Việt lớn hơn như Mỹ, Pháp, Canada nhằm đoàn tụ với người thân.

Hiện tại: Tính đến những năm gần đây, ước tính chỉ còn khoảng 150 – 200 người thuộc thế hệ tị nạn cũ và hậu duệ của họ ở lại gắn bó với Israel. Một số người đã gặt hái được thành công lớn, chẳng hạn như ông Dao Wong (từng đứng đầu chi nhánh Ngân hàng Hapoalim của Israel tại Singapore), hay ông Kien Wong (chủ nhà hàng Yan Yan nổi tiếng tại Haifa).

Hiện nay, Hội người Việt Nam tại Israel ghi nhận có tổng cộng khoảng 700 người Việt đang sinh sống tại đây. Con số này bao gồm gần 500 người định cư lâu dài (tính cả nhóm tị nạn năm xưa kết hôn với người bản địa, người sang lao động định cư) và số còn lại là du học sinh, tu nghiệp sinh nông nghiệp. Dù trải qua nhiều giai đoạn biến động địa chính trị ở Trung Đông, cộng đồng người Việt tại đây vẫn duy trì cuộc sống ổn định, đoàn kết và giữ mối liên hệ chặt chẽ với quê hương. 

( Võ Hữu Nhậm )

Blog Archive