Friday, July 17, 2026

Dòng Đời Đưa Đẩy

Phan Thanh Tâm nguyên là một ký giả nòng cốt của Việt Nam Thông Tấn Xã Sài Gòn trước năm 1975. Một cơ quan thông tin báo chí chính thức của nước Việt Nam Cọng Hòa 1954-1975. Ông phải qua một cuộc thi tuyển và từng là Trưởng phòng Phóng Sự và Ký sự. Phan Thanh Tâm thuộc lớp ký giả nổi tiếng cùng thời như ký giả Lê Thiệp, Lê Hùng, Vũ Ánh, Phạm Trần. Thành tích của ông thời Việt Nam Cọng Hòa là cùng vài đồng nghiệp thành lập ra "tổ hợp ký sự" (feature syndicate) đầu tiên ở Việt Nam. Tổ hợp cung cấp ký sự cho các nhật báo. Rất thành công. 

Thuộc đợt thuyền nhân đầu tiên vượt biển đến Mã Lai năm 1976. Sau đó sang định cư ở tiu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Sống và làm việc ở đấy cho đến ngày hưu thì dọn về Nam California. Ở Minnesota ông thành lập Việt Minnesota Radio trên đài KFAI;cùng phụ trách chương trình truyền hình Việt Ngữ Việtnamese Brodcasting in Minnesota.

Một nhà báo nhưng ông làm văn chương cẩn trọng chữ nghĩa như một nhà văn. Phan Thanh Tâm viết như một nhà văn. Ở Hoa Kỳ ông viết tích cực và cọng tác với các báo chí Tiếng Việt uy tín ở Mỹ. Các bài viết của Phan Thanh Tâm có giá trị, đáng tin, tính xác thực cao.

Phan Thanh Tâm sinh ngày 6/6/1938 tại Qui Nhơn; hiện sống ở California.

Một số bài viết giá trị của tác giả Phan Thanh Tâm trên trang Gió O, www.gio-o.com:

- Ai Giữ Tập bản thảo Hoa Địa Ngục?

- Cô Gái Huế Thời Tiền Chiến

- Đi Giữa Trời Âu Nhớ Bầu Trời Việt

- Hoài Nghi Tin Vịt và Sự Thật

- “Kiều Việt Nhân Hậu - Kiều Tàu Ác Hiểm” nhân đọc bản dịch Kim Vân Kiều Truyện của giáo sư Đàm Quang Hưng

- May Đã Có Một Thời Như Vậy Đó, Trịnh Công Sơn và Hoàng Ngọc Tuấn

- Ngày Quốc Tế Phở - International Pho Day (đặc biệt bản dịch sang English) (translated by Kim Vu)

- Ngồi

- Người Tù Trong Phòng Giam Tuyết Trắng

- Nhận định bài tổng kết về Phan Thanh Giản của “Người Anh Cả”* giới sử học Hà Nội

- Phạm Quỳnh & Nam Phong Tạp Chí

- Sách Lịch Sử Họ Phan Thanh: Lịch sử Việt NamTheo Dòng Lịch sử Họ Phan

- Saigon Execution: Bức Ảnh Định Mạng

- Sau 30 Năm Lìa Xa

- Sử Gia Trần Huy Liệu: Ông Thầy Bịa Sử

- Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền: Một Phía Khác

- Tô Phở Berlin

- Trần Đức Thảo, Những Lời Trăn Trối đọc sách của Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê

- Vạch Áo Cho Mọi Người Cùng Xem

- Về Việt Nam - Về Mỹ

- Vết Thương Lòng Của Một Thế Hệ

- Võ Phiến: Nghề văn do Trời cấp Lai Xăng

- Vua Đá Nói Huyền Vũ (1915-2005) Nhà Báo Làm Đẹp Văn Chương Thể Thao Việt Nam

- Xây Chừng

- Nghệ sĩ Võ Đình - một họa sĩ yêu viết

Là người Mỹ gốc Việt đến xứ cờ Hoa ngày 2 tháng 9 năm 1976 cho đến nay gần nửa thế kỷ, tôi vẫn ăn uống theo lối Việt Nam. Cơm với cá như mạ vớí con. Mắm muối, dưa rau là món ưa thích hằng ngày. Họa hoằn lắm tôi mới vô các tiệm bán các thức ăn mau, gọn, nhẹ như pizza, hamburger, sandwich, khoai chiên, gà chiên ở các cửa hàng KFC, McDonald, Burger King, Wendy’s, Dominos Pizza hay In-n-out Burger. Tiếng Anh tiếng u chỉ vừa đủ để lo chuyện cơm áo, gạo, tiền. Viết lách thì thuần tiếng mẹ đẻ. Bạn bè, phần lớn là bạn xưa từ Việt Nam. Người Mỷ cũng có nhưng chỉ sơ giao, thù tiếp trong công ăn việc làm.

Tuy vậy, tôi không còn coi xứ đang ở, xứ của những anh hùng “the home of the brave” – như lời trong quốc ca Mỹ - là đất tạm dung nữa. Dòng đời đưa đẩy đã khiến tôi chọn nước Mỹ là quê hương thứ hai. Tôi có hai nơi để về: “về Việt Nam hay về Mỹ”. Như một người có hai quê: quê ngoại và quê nội. Mỗi khi có chào quốc kỳ Mỹ tôi cảm thấy có một sự gắn bó như chào cờ “này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi” của Việt Nam Cộng Hoà (VNCH). Lại nữa, trong đoản văn trung thành với lá cờ Mỹ (Pledge of Allegiance) có mấy chữ mà tôi thấy rất đáng nhớ: tự do và công lý cho mọi người “liberty and justice for all”.

Trong lịch sử Việt Nam cận đại ngày 30/4/75 là ngày có nhiều tên gọi: ngày quốc hận; ngày gỉải phóng; ngày thống nhất đất nước; ngày tháng tư đen; ngày đổi đời; ngày dân miền Bắc vỡ òa, reo hò; ngày Saigon mất tên, ngày dân Nam bỏ của chạy lấy người: môt là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. Đó cũng là ngày xe tăng Nga T-54 ủi sập cửa sắt dinh Độc Lập và cũng là ngày lời hát trong quốc tế ca “Tất cả quyền lợi ắt hẳn về ta” được thực hiện khắp xóm phường. Cái giá để có ngày chiến thắng này là đường mòn Hồ Chí Minh thành xương trắng Trường Sơn. Có cả triệu thanh niên miền Bắc đã bị chôn vùi nơi đèo heo hút gió.

Tại sao chánh quyền Hà nội quyết tâm tiến về Saigon? Tại vì ông Hồ Chí Minh, đảng viên cộng sản quốc tế có một Tổ quốc Cách Mạng Nga để phục vụ. Ông có một sứ mệnh xây dựng phong trào vô sản ở Châu Á để hoàn thành. Ông có một “người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn” là Lénine để tuân phục. Ông chọn chủ nghĩa Mác Lê làm “cẩm nang thần kỳ”. Văn thơ, báo chí, âm nhạc miền Bắc đều cùng một giọng điệu cổ vũ cho chủ trương đánh chiếm miền Nam. 

Yêu biết mấy con nghe tập nói, Tiếng đầu lòng, con gọi Xít ta lin; hay bài hát: 1-2-3, ta là cha thằng Mỹ, 4-5-6, ta là cháu bác Hồ, 7-8-9, ta là lính thủ đô, 10-20, ta là người Xô viết. 

Đó là bài hát, câu thơ tiêu biểu được phổ biến nhằm khai thác lòng ái quốc của người Việt để phục vụ cho ý thức hệ cộng sản.

Ngoài ra, với chánh sách bưng bít, khép kín để dân miền Bắc chỉ có biết tin tức từ một chiều, chánh quyền Hànội đã nắm bao tử và cái đầu người dân bằng hộ khẩu và loa phường. Bao cấp hầu như mọi thứ đã khiến sinh hoạt xã hội chậm tiến. Chỉ có một số nhỏ hiểu biết còn đa số ngô nghê, như một đàn cừu. Dân Bắc phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối và để giúp miền Nam khỏi “rên siết lầm than". Khi vô Nam thực tế khác hẳn, khiến cán binh cộng sản phải chống chế. Nên mới có giai thoại “ngoài Bắc TV chạy khắp đường, "cà lem" phơi khô để dành ăn, dân chúng uống toàn "sữa honda".."hà-lội thứ gì cũng có !!!!”.

Thuộc Địa Miền Bắc

Chính nhờ tiến vô Nam năm 1975, miền Bắc mới có một cuộc cách mạng thầm lặng là biết xây cầu tiêu giật nước. Trước đó chỉ có cầu tiêu thùng. Dân Làng Cổ Nhuế chuyên sống bằng nghề đi hốt phân người. Sau ngày 30/4 phe thắng cuộc mới là bên được giải phóng. “Một nền văn minh đã thua một chế độ man rợ’. Đó là nhận xét của nhà văn miền Bắc Dương Thu Hương khi vô tới Saigon. Tốt đẹp hơn sao lại thua? Thua là vì miền Nam chỉ lo xây dựng và chống đỡ. Cả chục năm như vậy thì tất có ngày phải sụm. Như đá banh mà chỉ đá nửa sân. Hơn nữa, vào những năm cuối cuộc chiến, lại có nạn đồng minh bỏ chạy. Miền Nam đơn độc chọi với cả một khối cộng quốc tế thì làm sao Saigon không bị xóa tên, tan hàng?

Bức tường tre ngăn cách đôi miền không còn. Dân Bắc háo hức vô Nam. nhận họ, nhận hàng. Chuyện sinh Bắc tử Nam giải phóng dân Nam khỏi bị Mỹ Ngụy kềm kẹp chỉ là một chiêu bài. Khẩu hiệu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa được rêu rao cùng khắp. Sau đệ nhị thế chiến Việt Nam là bãi chiến trường cho cuộc chiến tranh lạnh, ủy nhiệm, giữa tư bản và cộng sản. Cuộc nội chiến từng ngày - trên ba triệu người chết - chấm dứt. Miền Nam thành thuộc địa của miền Bắc dưói một hình thức mới. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong “Hồi ký” chính quyền mới đã “tạo cái không khí giữa thực dân và dân bị trị; coi dân miền Nam này, coi đồng bào của họ như bọn da trắng coi dân da đen”.

Để nắm chặt quyền lực - Việt Nam từ trên 55 triệu người cuối thập niên 70 nay hơn 100 triệu người - đảng cộng sản VN đã phát động nhiều cuộc đổi mới cho phù hợp với tình thế. Tất cả chỉ nhằm điều chỉnh cho dễ bề cai trị; không nhằm đưa đất nước phát triển. Gần 50 năm sau, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm Tổng Bí thư Đảng ngày 26/10/24 dã bày tỏ trước Quốc Hội về thực trạng này. Ông nói, Việt Nam hãy còn “đi lò dò, lom dom” so với tốc độ phát triển rất nhanh của thế giới. Ireland là tấm gương để “học hỏi. Tại sao? Theo tôi, vì đảng cụ Hồ bị ràng buộc với đảng của nước Tàu quá sâu khiến Việt Nam khó thoát Trung. Không thoát Trung thì không thoát Hồ; mà không thoát Hồ thì không thoát Trung được.

Chiều ngày đó 30/4/1975 tôi rời sở VTX (Việt Nam Thông Tấn Xã), nằm trên đường Hồng Thập Tự, bên hông dinh Độc Lập cùng lúc với anh cảnh sát Rớt. Trên đường về, tôi thấy có vài xác chết nằm vất vưởng bên lề đường và vài chiếc xe jeep bị bắn cháy. Sau đó Sai gon hoảng loạn. Cả một xã hội bị bật gốc. Thất nghiệp tràn lan. Bạn bè kẻ bị tù tội, kẻ trốn chui trốn nhủi. Tôi phải tìm đường vượt biên. Đất nước hoà bình và thống nhất sao lại bỏ nước ra đi? Hoà bình nhưng chỉ có hoà bình cho kẻ thắng cuộc. Bên thua cuộc, sống trong lo sợ, hơn cả thời đại bác đêm đêm dội vào thành phố. Dân Nam thành công dân hạng hai.

Tôi có ba ông anh, một bà chị xa cách từ năm 1945, ba người ở Hà nội vô, gặp lại (một anh đi bộ đội qua đời vì phi cơ Pháp năm 1951). Đúng là 30 năm mới có ngày này. Sau đó anh đường anh, tôi đường tôi. Tình nghĩa chúng tôi vẫn tốt thôi. Không có hoà hợp hai miền. Hơn nữa, chính quyền mới giở đủ trò ăn cướp: quy chụp phản động, Việt gian, đày đọa giới trí thức trung lưu miền Nam qua học tập cải tạo, bắt đi kinh tế mới, đổi tiền, đánh tư sản mại bản, bao cấp cơ chế, độc tài đảng trị, đốt sách báo, phân biệt đối xử trong công ăn việc làm và nhất là chính sách ngăn chặn việc học hành của các công dân miền Nam, đã khiến “cột đèn cũng muốn bỏ nước ra đi”. Một bi kịch cuộc nội chiến là khi tôi rời sở cạnh dinh Độc Lập chiều ngày 30/4 cũng là lúc anh tôi vô dinh Độc Lập. Ông vô Nam để tiếp thu Bộ Giáo dục.

Biển Trời Mênh Mông

Ra đi vượt biên vào một đêm không trăng sao dưới chân cầu Hà Ra Nha Trang ngày 7 tháng 3 năm1976. Từ ba thuyền thúng chúng tôi 13 người trong đó có con của chị tôi mới sáu tháng được chuyển lên thuyền lớn khoảng 40 feet (hơn 12 thước). Thuyền trực chỉ ra khơi. Mất ba tiếng khi không còn thấy ánh đèn thành phố Nha Trang. tôi mới nhẹ nhõm; hết lo tàu tuần theo đuổi. Tôi bắt đầu sợ sóng to, gió lớn. Mặt biển đen ngòm. Tối đen mịt mùng. Con thuyền nhấp nhô lướt tới. Ai cũng ngả nghiêng, chao đảo. Càng lúc càng sợ. Quá hãi hùng. Không ai nói nên lời. Chỉ nghe tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền, tiếng gió và tiếng máy tàu.

Lái thuyền là ông anh rể, Hoàng Phước Quả, cựu viễn duyên thuyền trưởng thương thuyền, đã qua đời cách đây bảy năm. Lúc đầu dự tính chạy tới Subic Bay, một căn cứ Hoa kỳ ở Phi, nhưng vì thời tiết, sóng dữ, lại thêm thuyền chỉ chạy 5 km một giờ nên đổi huóng về phía Singapore. Sau sáu ngày đêm, những tưởng sẽ được đón như “anh hùng vượt biển”; nhưng tàu tuần xứ này ngăn chặn, khám xét. Họ giúp thêm thức ăn, dầu mỡ và ra lệnh ra khơi. Thuyền tiếp tục hướng về ngã Borneo. Được ba ngày thì máy tàu ngưng chạy. May trên tàu có anh kỹ sư Trương Tiếu Cầu (đã qua đời) loay hoay sửa. Máy hoạt động trở lại nhưng rất yếu. Cà rịch cà tang chạy dọc bờ biển Borneo.

Phía ngoài thì biển rộng cuối tận chân trời. Phía trong bờ toàn là rừng cây, chắng chịt, xanh um. Sau mấy ngày thấy thấp thoáng có ngưòi, thuyền vội tấp vô. Hỏi ra, đó là một làng nhỏ Samatan thuộc vùng Sarawak, Mã lai Á. Dân làng rất tốt, cho thức ăn tươi. Chúng tôi được đậu ở đó vài hôm lấy sức. Dân làng chỉ bày nên chạy tiếp tới hải cảng Sarawak để tu bổ máy tàu. Thuyền chúng tôi được tàu hải quân Mã Lai Á tiễn đưa tới Labuan sau khi cho thức ăn nước uống, dầu mở. Chạy được hơn một ngày thì sóng to, gió lớn, mưa đổ ào ào ập tới. Qúa kinh khiếp. Thuyền chúng tôi phải tấp vô vịnh Puerto-Pricess thuộc đảo Palawan, Phi Luật Tân.

Một tàu tuần của xứ này chận lại, bắt tất cả lên bờ hỏi cung. Một cha xứ già trên đảo người Ý hay tin có đứa nhỏ trên tàu đã trải qua một tháng trên biển; cha can thiệp với chính quyến địa phương cho chúng tôi lưu lại trong nhà thờ. Chúng tôi là nhóm người tị nạn Cộng sản đầu tiên tới nơi đây. Bồng bềnh theo sóng nước cả mấy chục ngày, lên bờ đi không nổi bước thấp, bước cao, lảo đảo. Mặt đất nghiêng bên này, ngả bên kia. Đêm mơ bị rượt đuổi. Nơi nằm thấy như sắp bị lật úp. Trước khi lên tàu chỉ mong ra khơi, ra khơi và ra khơi. Làn sóng đỏ tràn xuống miền Nam, đã gây ra nhiều làn sóng vượt biên, vượt biển. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có hàng triệu ngưòi bỏ xứ ra đi.

Có trải qua những ngày trôi giạt giữa đại dương mới thấy biển cả kỳ ảo và rất rất dễ sợ. Sống chết quá cận kề nhất là khi thấy vài chiếc thuyền bị lật úp trôi lềnh bềnh lúc mưa to, gió lớn. Theo United Nations High Commissioner for Refugees (Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn) ước tính có từ 200.000 đến 400.000 thuyền nhân chết.. Biển chỉ rực rỡ khi sóng yên, gió lặng; chỉ thơ mộng vào những đêm khuya trăng sáng, mặt nước long lanh và những lúc hoàng hôn hay bình minh vừa chờm lộ ở chân trời. Bái phục nhạc sĩ Phạm Duy và nhà thơ Huyền Chi (Hồ Thị Ngọc Bút) đã quá tài tình khi có những nốt nhạc, lời ca rất hợp cảnh, hợp tình qua bài Thuyền Viễn Xứ:

Ra khơi

Biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông
Biết đời viển vông, biết ta hãi hùng

Thấy lòng phơi phới, thấy tình thế giới
Thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới
Chơi vơi, con thuyền trên sóng không nguôi
Bão bùng xô tới xô lui, vững tay chèo lái

Đêm Việt Nam Ngày Mỹ

Chúng tôi trú tại nhà thờ Palawan một thời gian ngắn rồi được tàu hải quân Phi đưa lên nhập trại ti nạn Mandaluyong ở Manilla. Vô trại gặp vài người bạn quen thời làm cho đài phát thanh NhaTrang: Trương Hồng Sơn và Bác sĩ Trần Đoàn. Nhờ thơ của International Institude for Journalism In Berlin xác nhận tôi có tu nghiệp ở nơi này năm 1974, tôi được qua Mỹ ngày 2 tháng 9 năm 1976. Thành phố đầu tiên tôi tới là Carbondale ở Illinois. Người bảo trợ chỉ cho tôi cách đi hái nho để sinh sống như một số người Hmong và Mễ đang định cư ở đây. Chán quá, tôi xin họ một vé Amtrax đi Washington DC nơi gia đình bà chị đang ở.

Đón tôi tại nhà ga thủ đô Hoa kỳ có chị Hoàng Quỳnh Hoa, em của anh rể tôi và hai bạn đồng nghiệp hồi ở Saigon: Phạm Trần làm cho đài VOA và Vũ Thụy Hoàng làm cho Washington Post. Hai bạn này cho tôi 100 đô. Đó là tiền tôi có đầu tiên ở Mỹ ngoài 20 đô mà ông bảo trợ dúi cho tôi khi tôi rời bỏ họ. Tôi bắt đầu làm lại cuộc đời. Dần dà gặp lại dân Saigon khi trước: Phạm Tuân, Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại, Trần Đức Thắng, Đỗ Đình Trinh, Lê Kim Đính, Lê Tấn Huỳnh Long... (cả 7 người đều đã qua đời) và Đặng Văn Âu hồi học Quốc Học thời Trung Học ở Huế. Tôi đi học anh văn, computer và làm báo tờ Việt Báo của cha Nhất với Phạm Trần. Ngoài ra, cuối tuần còn làm cho tiệm 7-eleven.

Đêm đầu tiên tối thứ sáu coi tiệm xuất 11:00 pm cho tới 6:00 am. Tiệm cách không xa toà bạch ốc khu uptown. Mùa đông khách lai rai. Thỉnh thoảng có vài anh cảnh sát ghé qua rót cà phê uống cho ấm bụng. Họ bước ra trước khi nói khu này an toàn tụi tao chạy quanh đây hoài. Chỉ độ vài phút sau, một khách người da đen trẻ đẩy cửa bước vô. Anh ta đi vòng tiệm, tới trước quầy tính tiền, rút súng chỉ vô mặt tôi. Tôi phản ứng mau dơ tay đầu hàng, bấm nút khay tiền. Tên cướp thò tay rút cả khay đi ra. Tay kia vãn cầm súng. Tôi đứng như trời trồng. Không biết bao lâu, một khách bước vô, thấy tôi hãy còn hai tay lên trời, khách vội bỏ chạy. Cái nòng súng chĩa vô mặt ám ảnh tôi một thời gian dài.

Tôi ở DC tìm việc làm trong ngành computer. Một ngày kia có người bạn Bùi Ngọc Tuấn, em một cô bạn làm phiên dịch viên ban Anh Văn ở Việt Tấn Xã hồi ở Saigon giúp tôi có việc làm ở Minnesota. Tôi sống ở xứ lạnh tình nồng, có vạn ao hồ, gần 30 năm; mọc rễ ở đó, lấy vợ có con. Tôi làm programmer cho Fairview Hospital, University of Minnesota, Target, Macy...rồi về hưu, dọn về Califronia nơi có nhiều bạn, bà con và nắng ấm. Computer chỉ là cái nghề không phải cái nghiệp. Ở Minnesota tôi tham gia nhiều sinh hoạt cộng đồng, lập chuơng trình việt ngữ trên đài KFAI, làm trưởng ban Việt Ngữ cho chương trình truyền hình VBM. Thình thoảng viết ký sự gởi các báo ở hải ngoại.

Sống ở Mỹ bận bịu suốt ngày: chuyện nhà, chuyện sở, xứ lạ, quê người, phải lo toan nhiều thứ cơm gạo, xe cộ, nhà cửa nhưng lòng vẫn nhớ Việt Nam: nơi mình đã sống, đã lớn lên, đã đóng góp, đã có nhiều ước mơ nếu một mai có hoà bình. Rồi hòa bình tới. Không cón tiếng súng, tiếng bom, mà lại có nhiều chia ly thay vì đoàn tụ, có nhiều tiếng khóc, tiếng than, tiếng oán hận và niềm hối tiếc. Đúng là đêm Việt Nam, ngày Mỹ. Sinh ở Qui Nhơn, mà chẳng có kỷ niệm gì vì rời xa lúc còn nhỏ. Nhớ chăng là nhớ lá cờ lệnh của Tướng Võ Tánh (17681801). Nhớ nhiều là nhớ Saigon và Huế thời học trò. Saigon thì nhớ thời làm việc ở Việt Tấn Xã, nhớ thời mới lớn lên sống trong những ngã hẻm lầy lội.

Hồn Việt Nam Cộng Hoà

Khoảng năm 1967 tôi có dịp đi Bình Định, tình cờ ghé vô đền thờ tướng Võ Tánh ở Quận Phù Cát. Thấy đền trống trơn. Không có gì cả ngoài lá cờ lớn dựng trong góc. Dân làng cho biết cờ rất thiêng; ai mà lấy đi thì sẽ nguy đến tính mạng. Tôi kể lại cho Đại tá Trần Đình Vọng, tỉnh trưởng Bình Định hay. Ông Vọng trình với tướng Vĩnh Lộc là sẽ thỉnh cờ lệnh về thờ ở Trường Võ Bị Đà Lạt. Chuyện chưa tới đâu, Ông Vọng mất chức, bị án tử hình tội tham nhũng. Bà Paulette Vọng nghe tôi nói về sư linh thiêng của lá cờ, bà vội tìm lại lá cờ trả về chỗ cũ. Ông Vọng chống án chờ xử lại thì xảy ra ngày 30/4. Ông bị đi cải tạo và qua Mỹ theo diện HO.

Năm 1945 năm loạn lạc, gia đình tôi mười người, lớn nhất 20 tuổi, nhỏ nhất bốn tuổi, dắt díu nhau rời Quy Nhơn ra Huế. Chúng tôi như đàn gà con mất mẹ, tan tác. Anh em phân tán. Một số ra Bắc tìm bà con bên ngoại. Tôi và một ông anh ở với bà cô có sạp bán ở chợ Đông Ba.Trường học đầu đời là trường tiểu học Gia Hội ở Huế. Một thời gian sau tôi theo bà chị vô Saigon. Rồi vì bà chị làm ăn sa sút, chạy ăn từng bữa, tôi ra Huế ở lại với bà cô, học trường Quốc Học. Thời học trò vô tư, mơ mộng. Thi rớt tú tài hoài vì các cô gái Huế hay học tài thi phận? Vô lại Saigon tôi mới đậu hai cái tú tài toán. Vốn có máu giang hồ vặt, tôi lang thang ra miền Trung, tấp vô làm việc cho đài phát thanh Nha Trang.

Miền Nam thời đó, thời VNCH có những bản nhạc với những nốt nhạc, những câu thơ phản ảnh tâm tình tuổi học trò như bài Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nghe rất thấm, rất gợi cảm. Sau hơn nửa thế kỷ, đến nay âm nhạc miền Nam (1954- 1975), cái hồn của chế độ vẫn còn được ưu chuộng. Nó đi vào lòng người từ bao thập niên; dù rằng nó bị tịch thu năm lần bảy lượt. Theo nhà văn Võ Phiến nhờ có tự do nên VNCH mới có một nền văn học rực rỡ :

Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ
Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay...

Chân anh nặng nề, lòng anh nức nở
Mai vào lớp học, anh còn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ...
Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ

Hay bài Mắt Buồn nhạc Phạm Đình Chương, thơ Lưu Trọng Lưu:

Đôi mắt em lặng buồn
nhìn thôi mà chẳng nói

tình đôi ta vời vợi
có nói cũng không cùng
có nói cũng không cùng.

Thời tiểu học thì bài Học Sinh Hành Khúc của Lê Thương

Học Sinh là mầm sống của ngày mai.
Nung đúc tâm hồn để nối chí lớn.
Theo các thanh niên sống vì giống nòi.
Liều thân vì nước, vì dân mà thôi

và bài Khỏe Vì Nước của Hùng Lân:

Khỏe vì nước, kiến thiết Quốc Gia.
Đoàn thanh niên ta góp tài ba.
Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong năm giới.
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam.

Một khúc quanh lớn trong đời. Dòng đời đưa đẩy, năm 1965 Việt Nam Thông Tấn Xã mở khóa huấn luyện phóng viên. Tôi trúng tuyển. Sau khóa học tôi làm việc cho cơ quan này. Tôi đã đi khắp các tỉnh miền Nam. Đi lắm có ngày gặp ma. Một sáng năm 1968, máy bay C-46 khi chuẩn bị đáp xuống phi trường Quảng Tín thì bị trúng đạn Việt Cộng dưới đất bắn lên. Cánh quạt cháy. Trong khói mịt mù, tôi nhảy ra khỏi phi cơ, chạy một khoảng thì quỵ. Khi nghe tiếng trực thăng phành phạch, nhìn chung quanh chỉ có cỏ và cát. Rồi thấy mặt đất nghiêng ngửa, trời xanh mây trắng vần vũ. Tôi được chở về bệnh viện Đà Nẵng. Sau đó mỗi lần đi máy bay hễ nghe tiếng động gì lạ là sợ điếng người.

Nhớ Saigon và Nhớ Huế

Trong cái nghiệp làm báo có hai nhà báo mà tôi hay nhớ đến: Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh (1921- 1912) và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930- 1917) tác giả bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”. Nhà báo Sơn Điền, chef cũ của tôi, đã có công rất nhiều trong việc đặt nền tảng về cách viết tin cũng như về kỹ thuật làm báo của Việt Nam như cách làm báo hiện đại ở Mỹ cũng như nghề làm báo nói chung ở các nước tân tiến trên thế giới. Còn nữ sĩ Minh Đức là kỷ niệm khi cùng đi ra tiền đồn ở Tân Cảnh Dakto (Kontum) năm 1968. Nữ sĩ học trường báo chí bên Pháp, làm báo cho nhiều cơ quan truyền thông quốc tế; đã viết trên báo Phổ Thông: cái bằng quan trọng nhất trong nghề báo là bằng kinh ngiệm.

Tôi nhớ Saigon là nhớ tới ngã tư quốc tế. Lúc thiếu thời tôi ở khu Bùi Viện gần đó. Nơi này có bán nhiều món ăn. Buổi tối có: nem nướng, bánh mì thịt, bò bía, bò viên, bò khô đu đủ, chả giò, cháo lòng, cháo huyết, cháo gà, cháo vịt, cháo dứa hột vịt muối, bánh canh, hột vịt lộn, mì, hủ tiếu,... Mùi thức ăn bay cả một góc. Xe mía, xe sinh tố, xe đẩy đồ ngọt của người Tàu có táo soạn, đậu đỏ, đậu đen, bo bo, chí mè phủ (mè đen), hột sen, bạch quả, táo đỏ, phổ tai, nhãn nhục, đá bào. Buổi sáng thì bánh cuốn, bánh xèo, xôi vò, xôi rượu nếp, xôi bắp, xôi đậu đen, khoai mì, khoai lang, bánh mì thịt, hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho, phở, cơm tấm bì, sữa đậu nành, đậu hủ, bánh khúc..

Tôi nhớ Saigon là nhớ trong những xóm nghèo, lầy lội, chật chội. Những nơi tôi từng ở. Nơi đó có đủ hạng người trong xã hội. Chính từ những căn nhà nằm trong những con hẻm sau dãy nhà lầu, sâu hun hút, ngoằn nghèo, như một bàn cờ, mình mới được nghe hết các tiếng chửi tục, các lời ăn nói bạt mạng, các cuộc tranh cãi, đánh vợ, đánh con, chừi chồng, các trận đánh ghen, các lời ru con, các điệu nhạc, các câu vọng cổ, các giọng ngâm thơ, tiếng trẻ học bài, tiếng khóc rấm rức, tức tửi của người quả phụ, tiếng khóc của trẻ thơ, tiếng gà gáy, tiếng chó sủa; tiếng xối nước tắm của bà hàng xóm, tiếng xe gắn máy, tiếng rao hàng lúc khàn, lúc trầm, lúc thánh thót, tiếng lốc cốc, lách cách, cắc cụp, cụp cắc của mấy xe mì về khuya. Và cả tiếng lặng thinh bất chợt của buổi sáng, ban trưa.

Qua âm thanh này ta có thể đoán đươc bước chân của thời gian; và chiêm nghiệm được thêm nhiều về nhân tình thế thái. Ngày nay Saigon đã đổi tên. Cảnh cũ, người xưa chắc hẳn không còn. Nửa thế kỷ qua đi nhưng, tôi vẩn thấy Saigon đâu đây, ngoài những kỷ niệm ở khu Bùi Viện còn có con đường Duy Tân cây dài bóng mát; những hàng me về đêm rũ lá; các tiệm cà phê Givral, La Pagode, Brodard, Thanh Thế, Kim Sơn; những buổi trưa lang thang dưới nắng nung người; những khuôn mặt thân quen; những trái cóc xanh chua; ly nước dừa mát rượi và dư âm bản nhạc Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, nghe lúc nào cũng hay, cũng gợi nhớ.

Tôi nhớ Huế là nhớ tiếng ru con, giọng Huế trong đêm khuya, mưa rơi rả rích, tàu lá chuối sột sọat, tiếng ễnh ưong xa xa vọng lại: Con chim nho nhỏ cái mỏ nó vàng, nó đứng trên cây vạn thọ, nó kêu ớ nàng mồ côi! Mồ côi tội lắm ai ơi! Đói cơm không ai giúp, lỡ lời không ai bênh”. Tôi mồ côi, cù bơ cù bất, nên lời ru con chao ôi rất thấm, rất da diết, rất não lòng. Tôi nhớ Huế là nhờ tới những người đàn bà lam lũ ở chợ Đông ba, trong đó có cô tôi đã nuôi tôi ăn học.Tôi nhớ Huế là nhớ buổi chiều mùa hè ve kêu râm rang, phượng nở đỏ rực, thi rớt tú tài, ra bờ sông Hương ngồi buồn thẫn thờ, không biết đời mình sẽ ra sao ngày sau?

Tôi nhớ Huế là nhớ đến lời nói đầu trong bản nhạc Hình Ảnh Một Buổi Chiều của Lâm Tuyền và Dạ Chung: “Anh không giữ trong tay một kho tàng hay một danh vọng nào cả ! Anh chỉ giữ hình ảnh một buổi chiều, khi nắng vàng nhuộm thắm mái tóc em” và lời bản nhạc:

Miền xa mây núi xanh ngát màu
Hồn bơ vơ lúc hoàng hôn xuống
Khi nắng vàng phai trên núi đồi
Là lúc ta buồn bao kiếp nguôi

Tôi nhớ Huế là nhớ bản Nắng Thủy Tinh của Trịnh Công Sơn. Nhạc sĩ họ Trịnh đã giải thích cho tôi biết “Hàng cây thắp nến lên hai hàng; để nắng đi vào trong mắt em” là tả những tia nắng chiều chiếu trên ngọn các hàng cây như hàng cây nến được thắp lên bởi nắng chiều:

Hàng cây thắp nến lên hai hàng
Để nắng đi vào trong mắt em
Màu nắng bây giờ trong mắt em

Và mỗi lần nghe bản Seranade - Dạ Khúc lời Pham Duy nhạc của Franz Schubert thì lại gợi nhớ một thời ở Huế:

Chiều buồn nhẹ xuống đời
Người tình tìm đến người
Thấy run run trong chiều phai.

Bức ảnh bằng vạn lời nói

Có thần giao cách cảm hay không? Ông anh tôi đi ra ngoài Bắc từ 1945. Ông cho biêt chiều ngày 30/4/1975 ông có mặt ở dinh Độc Lập. Ngày 1/5/1975 ông gõ cửa vô nhà. Cả nhà quá kinh ngạc. Trong hồi ký ông viết, sáng ngày khi chúng tôi ra khơi ông cảm thấy “Ở Cần Thơ tôi có một linh cảm lạ lùng. Hình như có một điều gì rất quan trọng xảy ra ở nhà. Tôi đứng ngồi không yên, như ngồi trên đống lửa. Sốt ruột một cách vô cớ. Tôi gọi điên thoại về nhà N. Không ai trả lời. Gọi mấy lần nữa. Vẫn không có tín hiệu đáp lại. Tôi đoán được một phần sự thật. N. đi để lại cho tôi một nỗi buồn lớn, làm tôi mất ngủ một thời gian. Bây giờ nghĩ lại, đó là chuyện tất yếu phải xảy ra, ý thức hệ, bối cảnh lịch sử”.

Sau nửa thế kỷ, lớp thế hệ Việt Nam Cng Hòa ở trong nước và hải ngọai lần lượt qua đời gần hết. Thuyền tôi 13 người đã có sáu người đi xa; chỉ còn mình tôi trên 80. Hiện có một cộng đồng 2,300,000 người Mỹ gốc Việt. Họ đến Mỹ qua nhiều diện: thuyền nhân tị nạn, đoàn tụ, con lai, định cư diện HO… Họ rất thành công, có mặt trong mọi ngành, nghề. Trước 1975 chỉ có dưới 20,000 người Việt ở Mỹ. Nước Đức thống nhất, ngày 3/10/1990. Người dân chỉ đập bể mấy viên gạch ở bức tường Berlin. Chẳng ai bỏ xứ. Việt Nam ta, nửa thế kỷ sau vẫn còn có người ra đi. Đó là làn sóng quy mã, qua Mỹ theo diện giáo dục.

Để thấy Bên Thắng Cuộc có là một gánh nặng không thể chối bỏ cho Bên Thua Cuộc hay không thì hãy coi những bức ảnh Saigon - Hà Nội truớc và sau 1975. Bức ảnh bằng vạn lời nói. Hà Nội thủ đô, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà không thể nào bằng Saigon thủ đô của Việt Nam Cng Hòa, một thời được coi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Ngày nay Hà nội đã lột xác, có phần hơn TP.HCM, có tên cũ là Saigòn. Thống nhất đất nước nhưng không có hoà giải hai miền Nam Bắc. Chỉ có tôn trọng sự thật; thực thi công bằng, công lý thì mới có đoàn kết. Hô hào giải phóng miền Nam là ngụy biện. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, quê vùng Mũi Cà Mau cho rằng cuộc chiến này đã gây ra “những vết thương mãi mãi không hàn gắn được”.

Ai cũng bị dòng đơi đưa đẩy. Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao. Vì có trời mà cũng có ta nên xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. Nhưng đôi khi người tính cũng không bằng trời tính. Mưu sư tại nhơn, thành sự tại thiên mà. Mấy ai trước 1975 nghĩ rằng mình sẽ qua Mỹ ở đâu? Thập niên 50 có bài Que Sera Sera, biết ra sao ngày sau do Doris Day hát. Bài hát hàm chứa lẽ vô thường, phù du của cuộc đời. What will be will be, chuyện gì đến sẽ đến. Sông có khúc, người có lúc. Hoa lục bình trôi, không biết khúc nào là bến, khúc nào là bờ, trong nhờ, đục chịu. Người đời thì khác, thăng trầm cùng năm tháng, biết lúc nào tốt, lúc nào xấu, lúc nào nên dừng chân đứng lại./

Phan Thanh Tâm
01/2025 California
TẠ ƠN PULAU BIDONG - HÒN ĐẢO CƯU MANG NHỮNG MẢNH ĐỜI TỊ NẠN…

Có những nơi, chỉ một lần đi qua… nhưng sẽ ở lại trong tim suốt cả cuộc đời.

Hôm nay, tình cờ nhìn lại những tấm hình cũ của Pulau Bidong, nước mắt tôi chợt rơi…

Đã bao nhiêu năm rồi? Bốn mươi mấy năm… nửa đời người đã trôi qua. Thế nhưng, chỉ cần nhìn thấy một góc bãi biển, một mái lều đơn sơ, một con đường đất đỏ hay những khuôn mặt gầy gò năm ấy, mọi ký ức lại hiện về nguyên vẹn như mới hôm qua.

Pulau Bidong…

Hai tiếng ấy không chỉ là tên của một hòn đảo.

Đó là nơi đã ôm lấy những con thuyền mong manh giữa đại dương mênh mông. Đó là nơi đã cưu mang những con người kiệt sức sau bao ngày lênh đênh trên biển, đối mặt với bão tố, đói khát, hải tặc và ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.

Có những người đã đặt chân được lên đảo trong niềm vui vỡ òa vì mình còn sống.

Có những người đã mất đi người thân ngay trên biển, mang theo nỗi đau không bao giờ nguôi.

Có những đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời trên đảo, và cũng có những người khép lại cuộc đời nơi ấy, mãi mãi nằm lại giữa lòng biển Đông.

Pulau Bidong đã chứng kiến tất cả…

Đã lặng lẽ ôm lấy biết bao nước mắt, biết bao lời cầu nguyện, biết bao giấc mơ về một ngày mai có tự do, có bình yên và có tương lai cho con cháu.

Ngày rời đảo để bắt đầu cuộc sống mới, ai cũng mang theo niềm hy vọng. Nhưng có lẽ, không một ai mang hết trái tim mình đi được.

Bởi một phần trái tim ấy… đã ở lại Pulau Bidong.

Hôm nay, những người từng là thuyền nhân năm xưa đã trở thành ông bà, cha mẹ. Con cháu chúng ta lớn lên trong hòa bình, học hành thành đạt và có mặt khắp năm châu. Các thế hệ tiếp nối có thể chưa từng đặt chân lên Pulau Bidong, nhưng tôi mong các con, các cháu sẽ luôn biết rằng: cuộc sống hôm nay được đổi bằng biết bao nước mắt, sự hy sinh và lòng can đảm của thế hệ đi trước.

Xin đừng bao giờ quên.

Đừng quên những con thuyền nhỏ đã vượt biển đi tìm tự do.

Đừng quên những người đã nằm lại giữa đại dương mà không bao giờ tới được bến bờ.

Đừng quên những quốc gia, những tổ chức nhân đạo và những tấm lòng đã dang rộng vòng tay cứu giúp người Việt tị nạn trong lúc tuyệt vọng nhất.

Và trên tất cả…

Đừng bao giờ quên Pulau Bidong – hòn đảo nhỏ nhưng mang một trái tim vô cùng lớn.

Nơi ấy không chỉ cứu sống hàng trăm nghìn con người.

Nơi ấy còn hồi sinh niềm tin, gieo lại hy vọng và viết tiếp tương lai cho biết bao gia đình.

Hôm nay, tôi xin chia sẻ những hình ảnh về những Bidongers và các thế hệ tiếp nối trên khắp thế giới.

Xin mời mọi người cùng nhìn lại, để nhớ… để biết ơn… để tri ân… và để kể lại cho con cháu rằng:

Đã có một hòn đảo mang tên Pulau Bidong.

Đã có một thế hệ mang tên Thuyền Nhân.

Đã có một cộng đồng mang tên Bidongers.

Và dù thời gian có trôi qua bao lâu, dù mỗi người đang sống ở một phương trời khác nhau…

Pulau Bidong vẫn mãi là quê hương của ký ức. Là chiếc nôi của hy vọng. Là mảnh đất thiêng trong trái tim của những người Việt tị nạn.

Có những hòn đảo chỉ hiện diện trên bản đồ.

Riêng Pulau Bidong… mãi mãi hiện diện trong trái tim của những người đã từng sống, từng khóc, từng hy vọng và từng được tái sinh từ nơi ấy.

Xin cúi đầu tưởng nhớ những người đã không bao giờ đến được bến bờ.

Xin trân trọng biết ơn những người đã mở rộng vòng tay cứu giúp.

Và xin gìn giữ ký ức Pulau Bidong như một ngọn lửa thiêng, để truyền lại cho muôn đời sau.

Pulau Bidong – Một lần là ký ức. Một đời là ân nghĩa. Một đời không quên.

NGHIA CAM
KG 3640


Người Mỹ gốc Việt

Theo số liệu Cục Thống kê Dân số Mỹ (U.S. Census Bureau), số lượng người Mỹ gốc Việt phân bổ theo 50 tiểu bang từ cao xuống thấp (số liệu ước tính làm tròn để bạn dễ theo dõi):

1. California: ~850.000 người (Tập trung đông nhất ở Little Saigon Quận Cam, San Jose, Los Angeles, San Diego, etc)
2. Texas: ~350.000 người (Tập trung ở Houston, Dallas-Fort Worth, Austin...)
3. Washington: ~110.000 người (Tập trung ở khu vực Seattle, Tacoma...)
4. Florida: ~108.000 người (Tập trung mạnh ở Orlando, Tampa, Miami...)
5. Georgia: ~74.000 người
6. Virginia: ~73.000 người
7. Massachusetts: ~63.000 người
8. Pennsylvania: ~47.000 người
9. New York: ~42.000 người
10. Arizona: ~41.000 người
11. North Carolina: ~39.000 người
12. Oregon: ~35.000 người
13. Colorado: ~34.000 người
14. Illinois: ~33.000 người
15. Louisiana: ~32.000 người
16. Ohio: ~30.000 người
17. New Jersey: ~29.000 người
18. Minnesota: ~28.000 người
19. Michigan: ~25.000 người
20. Nevada: ~22.000 người
21. Oklahoma: ~21.000 người
22. Maryland: ~20.000 người
23. Hawaii: ~16.000 người
24. Kansas: ~14.000 người
25. Missouri: ~13.500 người
26. Utah: ~13.000 người
27. Indiana: ~12.000 người
28. Alabama: ~11.500 người
29. Connecticut: ~11.000 người
30. South Carolina: ~10.500 người
31. Tennessee: ~10.000 người
32. Nebraska: ~9.500 người
33. Wisconsin: ~9.000 người
34. Iowa: ~8.500 người
35. Kentucky: ~8.000 người
36. Arkansas: ~7.500 người
37. New Mexico: ~6.500 người
38. Mississippi: ~6.000 người
39. Delaware: ~2.500 người
40. Maine: ~2.000 người
41. West Virginia: ~1.500 người
42. Rhode Island: ~1.300 người
43. North Dakota: ~1.200 người
44. South Dakota: ~1.100 người
45. Idaho: ~1.000 người
46. Alaska: ~1.000 người
47. New Hampshire: ~900 người
48. Montana: ~800 người
49. Vermont: ~700 người
50. Wyoming: ~400 người

Có khoảng hơn 374.000 người Việt có chứng chỉ hành nghề nail/tóc/ thẩm mỹ tại Mỹ. Người Việt làm chủ đến hơn 65.000 tiệm nail trên toàn quốc. Tại một số tieu bang lớn, tỷ lệ thợ nail là người Việt có thể lên tới 80%. Dịch vụ Ăn uống và Nhà hàng chiếm thứ hai.
Công nhân nhà máy, technician chiếm thứ ba.
Điều dưỡng/Y tá (Registered Nurse - RN), y nha dược và IT chiếm thứ tư.

Mức lương trung bình của người Việt tại Mỹ đạt khoảng 63,171 USD/năm (tương đương hơn 5,200 USD/tháng) theo số liệu thống kê mới nhất.

Có rất nhiều người Mỹ gốc Việt đã và đang làm việc trong Bach Cung (White House) cùng các cơ quan nội các, nắm giữ nhiều vị trí quan trọng từ cố vấn chiến lược, trợ lý tổng thống cho đến lãnh đạo các ủy ban liên bang qua các nhiệm kỳ tổng thống. Đặc biệt hiện nay có các gia nô gốc Việt:

* Caroline Phạm (Caroline D. Pham) được Trump bổ nhiệm làm Quyền Chủ tịch Ủy ban Giao dịch Tài sản Tương lai (CFTC). Đây là cơ quan liên bang chịu trách nhiệm kiểm soát thị trường tiền ảo và phát sinh tài chính tại Mỹ.

* Hùng Cao: Cựu đại tá Hải quân Mỹ, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Hải quân và đảm nhiệm vị trí Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ (Acting Secretary of the Navy). Ông là người gốc Việt nắm giữ vị trí lãnh đạo quân sự cao nhất trong lịch sử quân đội Mỹ.

* Michelle Giuda: Từng phục vụ với tư cách là Trợ lý Ngoại trưởng cũng là một gương mặt được Trump trọng dụng trong các hoạt động đối ngoại chiến lược với CSVN, CSTQ.

* Tony Phạm: Từng giữ chức Quyền Giám đốc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ (ICE), một trong những cơ quan an ninh nội địa có tầm ảnh hưởng lớn nhất.

Trong các nhiệm kỳ tiền nhiệm (Joe Biden & Barack Obama):

* Bà Elisabeth Phu (Phú Nguyễn): Một trong những người Việt có tầm ảnh hưởng sâu sắc nhất ngay tại văn phòng Nhà Trắng. Bà từng giữ chức Giám đốc phụ trách khu vực Đông Nam Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời Tổng thống Barack Obama, đóng vai trò "cầu nối thầm lặng" định hình chính sách ngoại giao và an ninh của Mỹ tại khu vực.

* Ông Dat Tran (Trần Đạt): Được Tổng thống Joe Biden bổ nhiệm làm Quyền Bộ trưởng Bộ Cựu chiến binh Mỹ (VA) vào đầu năm 2021. Ông quản lý một bộ với ngân sách hàng trăm tỷ USD để chăm sóc cho hàng triệu cựu binh Mỹ.

Hiện nay có khoảng 2,3 triệu người gốc Việt đang định cư và sinh sống tại Mỹ, theo dữ liệu ước tính từ Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ. Trong số đó, có khoảng 1,36 triệu người là di dân sinh ra tại Việt Nam rồi chuyển sang Mỹ định cư, số còn lại là thế hệ người Việt sinh ra tại Mỹ hoặc các quốc gia khác.

Tao Nguyen


BẠN ĐÃ SẴN SÀNG CHƯA? 

Vì tối nay, tâm điểm sẽ là Pete Hegseth.

Pete Hegseth đã tốt nghiệp Đại học Princeton—một trong những trường đại học danh giá nhất thế giới. Với nền tảng học vấn đó, ông ấy có thể chọn bất kỳ sự nghiệp nào mình muốn: Tài chính, Luật pháp, hay các tập đoàn lớn tại Mỹ... một cuộc sống đầy đủ tiện nghi và cơ hội.
Thay vào đó, ông chọn khoác lên mình bộ quân phục.

ông đã đáp lại tiếng gọi lên đường phục vụ đất nước không chỉ một hay hai lần, mà qua ba đợt triển khai quân sự—tại Vịnh Guantanamo, Iraq và Afghanistan. Hai tấm Huân chương Sao Đồng (Bronze Star) mà ông mang trên ngực không chỉ đơn thuần là huy chương. Chúng tượng trưng cho lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần tận hiến vì đồng bào Mỹ.

Sau khi trở về, Pete tiếp tục cống hiến bằng cách đấu quyền lợi cho các cựu chiến binh và trở thành tiếng nói cho những người thường bị lãng quên.

Rồi Tổng thống Donald Trump đã nhìn thấy ở Pete những phẩm chất mà nhiều nhà lãnh đạo khác không nhận ra—đó là nhân cách, khả năng lãnh đạo và lòng tận tụy với đất nước—và ông đã chọn Pete để lãnh đạo lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới.

Hôm nay, Pete đang ở Singapore.
Xa Jennifer.
Xa bảy người con của mình.
Xa sự ấm êm, tiện nghi của mái ấm gia đình.
Một lần nữa, anh lại lên đường phục vụ vì đất nước cần đến ông.

ông ấy đã có thể chọn một con đường dễ dàng hơn từ nhiều năm trước—nhưng mỗi bước đi trong hành trình của ông đều thể hiện cam kết đặt lợi ích đất nước lên trên lợi ích cá nhân.

Đây chính là hình ảnh của một người đàn ông được tôi luyện bởi Princeton để trở thành người tận tụy phụng sự. Không chỉ là một sinh viên tốt nghiệp thành đạt. Không chỉ là một nhân vật của công chúng. Mà là một người lính luôn sẵn sàng đáp lời khi Tổ quốc cần.

Lạy Chúa, xin hãy che chở cho Pete Hegseth trong đêm nay. Xin giữ cho ông được bình an, bảo vệ ông ở bất cứ nơi đâu và đưa ông trở về an toàn bên Jennifer cùng bảy người con.

TẠI SAO TÔI YÊU NƯỚC MỸ

Một anh bạn ngoại quốc hỏi:
“Tại sao mày lại yêu nước Mỹ đến vậy?” 

Tôi trả lời ngay, không cần nghĩ:
- Tôi: Bởi vì tao từng sống với cộng sản. Họ nói rất hay nhưng làm thì ngược lại. Mày thử tưởng tượng đang sống ở Việt Nam… Tối nay mày ghé thăm tao và ngủ lại qua đêm, tao phải khai báo với công an. Không khai là bị phạt 40 USD.

- Bạn: What the hell?! Xâm phạm quyền riêng tư.

- Tôi: Đúng rồi. Còn nếu mày bình luận hoặc đăng bài trên Facebook chê bai đường lối Nhà nước (dù đúng sự thật), thì có khi bị bắt luôn, không chỉ bị phạt tiền.Nhiều người bị vào tù. Mỹ mày chê tổng thống thoải mái, thậm chí chửi Trump hay Biden cũng không sao. Sống với cộng sản, hãy mơ đi …
- Bạn: OMG!

- Tôi: Chưa hết. Nếu mày là nhà báo, nhà văn, hoặc công chức mà đụng vào chuyện tham nhũng, đất đai, nhân quyền … thì mất việc trong chớp mắt, thậm chí bị nhốt. Ở Mỹ, báo chí tha hồ đào bới, được quyền chê bai tổng thống.

- Bạn: Thôi… thôi… Tao nghe huyết áp tăng rồi!

- Tôi: Còn cái này vui hơn… Mày muốn lên tiếng phản đối điều gì đó, hoặc chỉ đăng status là bị phạt. Còn ở Mỹ, mày có thể biểu tình, chửi chính phủ thoải mái trước Nhà Trắng.

- Bạn: Nước Mỹ nghĩ lại tuyệt vời thật. Nhưng tại sao VN không học hỏi, hoà nhập với thế giới ?

- Tôi: Nếu học được … thì không còn là cộng sản. Chưa hết. Ở VN, đất đai do Nhà nước quản lý. Nhà nước muốn lấy đất làm dự án là lấy, đền bù rẻ mạt. Ở Mỹ, mày sở hữu đất, chính phủ muốn lấy phải mua theo hoặc trên giá thị trường; và mày kiện được nếu bị ép.

Bạn: Đủ rồi! Tao không muốn sống ở đó đâu.

Tôi: Đấy, lý do tao yêu nước Mỹ bởi Tự do ngôn luận, quyền riêng tư, và quyền phản biện là thứ mà cộng sản không bao giờ có. Họ kiểm soát từ cái ngủ qua đêm đến cái nghĩ gì trên mạng. Khiếp chưa?

Bạn: Khiếp quá. Cộng sản biến cuộc sống thành “phải xin phép” mọi thứ. Còn Mỹ, tối nay giả sử tao ngủ qua đêm ở nhà mày là không cần khai báo. Cảm ơn Chúa. 

Nhu Nguyen


Chiều muộn, cơn mưa vẫn kéo dài.
Trong căn nhà nhỏ ở cuối xóm, một bà cụ gần tám mươi tuổi run run nhóm bếp. Bà nấu một nồi canh rau, kho một con cá nhỏ và cẩn thận xới hai bát cơm.
Một bát dành cho bà.
Một bát dành cho con trai.
Người hàng xóm đi ngang qua khẽ hỏi:
– "Bác lại nấu hai bát cơm à?"
Bà cười hiền:
– "Ừ... nó bảo hôm nay sẽ về ăn cơm với mẹ."
Nhưng người hàng xóm chỉ biết lặng im.
Con trai bà đã mất trong một vụ tai nạn giao thông cách đây ba năm.
Từ ngày đó, ký ức của bà lúc nhớ lúc quên.
Có hôm bà ngồi trước hiên nhà từ sáng đến tối, chỉ để chờ tiếng xe máy quen thuộc.
Có hôm bà mua thêm đôi dép mới, vì nghĩ con đi làm về sẽ cần.
Đêm nào bà cũng hé cửa.
Sợ con về muộn... không vào được nhà.
...

Mưa mỗi lúc một nặng hạt.
Bà ngồi bên mâm cơm.
Cơm đã nguội.
Canh cũng nguội.
Bà vẫn nhìn ra cánh cổng.
Đôi mắt già nua cố tìm một bóng người.
Rồi bà mỉm cười rất khẽ.
– "Chắc hôm nay con tôi làm thêm giờ... mai nó sẽ về."
Bà cất phần cơm còn nguyên vào chiếc lồng bàn.

Sáng hôm sau.
Người hàng xóm sang gọi mãi không thấy bà trả lời.
Khi mở cửa bước vào, bà đã lặng lẽ ra đi trên chiếc giường gỗ ọp ẹp, chật hẹp - nơi bà đã gắn bó suốt những năm tháng cuối đời.
Trên bàn là tờ giấy được bà nắn nót viết bằng nét chữ run run:
"Con à... nếu con về ... phần cơm con .. trong lồng bàn, có canh rau đay con thích . Mẹ chờ lâu lắm rồi... Mẹ nhớ con, hôm nay mẹ không được khỏe, mẹ đi ngủ đây"
Người hàng xóm bật khóc.
Cả căn nhà im lặng.
Chỉ còn làn khói hương mỏng bay lên, như mang theo lời hẹn của một người mẹ chưa bao giờ thôi ngóng con trở về.

Jimmy Nguyen
HẬN THÙ KHÔN NGUÔI

Chúng ta thường tiếc nuối những gì chúng ta đã đánh mất : thời gian, tuổi trẻ, sức khỏe, tiền bạc và tình yêu. Có lẽ, lúc về già người ta tiếc nuối nhiều hơn, vì thời gian đã trôi qua, không còn níu kéo lại được, cũng như những sự lỗi lầm không thể đảo ngược. Còn với tuổi trẻ, như ở độ tuổi 30, họ có nhiều cơ hội để “làm lại cuộc đời”, bổ túc những gì mình đã thiếu sót, sống và làm những gì mình yêu thích mà chưa có cơ hội thực hiện.

Chúng ta thử nhìn tổng quát qua một cuộc khảo sát do hệ thống truyền hình UKTV Gold Anh Quốc thực hiện trên 1,500 người 65 tuổi và 1,500 người tuổi từ 20 đến 30, lẽ cố nhiên đây là những điều hối tiếc của những thần dân của Hoàng gia Anh Quốc, khác với những điều hối tiếc của chúng ta, những người Việt Nam, nếu có. Vì “Gold” là một dai truyền hình hài hước của nước Anh nên có thể quý vị sẽ cho những điều hối tiếc này, có lẽ có phần nhảm nhí!

Hầu hết những người về già ở Anh Quốc đều tỏ ra hối tiếc rằng mình đã không làm “chuyện ấy” nhiều hơn một tí, trong lúc còn trẻ trung. Bây giờ già rồi, có muốn làm cũng không được, vì “kho đạn Long Thành không bồi hoàn cấp số đạn không sử dụng đúng thời gian.” Nếu bây giờ cho những người này “đi lại từ đầu” hơn 70% số người 65 tuổi cho biết sẽ dành nhiều thời gian hơn để ân ái.

Ít hơn sự tiếc nuối về tình dục, 57% số người được phỏng vấn, nghĩ rằng, trước kia, mình đã không dùng thời gian để đi du lịch thế giới nhiều hơn. Bây giờ mắt đã mờ, chân yếu, có khi phải chống gậy, đi xe lăn, mang diaper, chuyện đi chơi xa chỉ còn là chuyện không bao giờ thực hiện được. Thôi xin giã từ những chuyến bay, những đêm vui, những bữa ăn bên bờ biển, hay những buổi leo núi, những phong cảnh tuyệt vời của thế giới.

43% tiếc rằng mình đã không đổi nghề. Theo thống kê của Văn Phòng Lao Động Úc, hơn 50% người đổi nghề sau 5 năm, 20% mỗi năm làm một nghề. Ở Mỹ, tính trung bình, trong cuộc đời của một người Mỹ, họ đổi nghề 11.7 lần. Một đời người làm việc, khoảng 40 năm, thì chưa đầy 4 năm, người Mỹ đã đổi qua một nghề khác. Thiên hạ đổi nghề xoành xoạch như vậy, thì còn gì nữa mà hối tiếc!

40% người già nuối tiếc tuổi trẻ tiêu pha xa xỉ, đã không dành dụm được chút tiền để lo cho tuổi già, bây giờ phải hối hận, (điều này có vẻ ngược lại với 19% đã hối tiếc mình đã không mạnh dạn chi tiêu cho những thứ xa xỉ.) Một năm tòa xử bao nhiêu vụ ly dị, xã hội xảy ra bao nhiều lần vợ chồng chém giết nhau, nhưng chỉ có 21% cho mình có lầm lẫn về hôn nhân!

Đối với những thanh niên tuổi từ 20 đến 30, khi các nhà nghiên cứu đặt những câu hỏi xem họ có mong muốn thay đổi điều gì từ những năm tháng trước đó hay không, kết quả cho thấy những người này quan tâm đến tài chính và chính trị hơn là những chuyện về sex hay là chuyện nghề nghiệp. Đứng đầu điều nuối tiếc của giới trẻ là nỗi lo về tài sản, 77% ước chi họ đã tích lũy tài sản sớm hơn. Hơn một nửa (56%) tiếc rằng mình đã lãng phí tiền bạc trong thời gian qua. Về chính trị, 45% hối hận mình đã bầu cho ông này, thay vì mình nên bầu cho ông khác. 44% nghĩ rằng mình phải được danh vọng hơn, 34% cho rằng mình chưa được đi nhiều nơi (còn nhiều thời gian để đi.) 32% nghĩ rằng mình đã sai lầm trong lần đầu nếm “trái cấm,” 30% hối hận đã không học tập chăm chỉ hơn, 29% cho rằng mình nhậu nhẹt hơi quá đà.

Đó là chuyện bên Anh.
Còn chúng ta, những người Việt thì sao?

Trong một đất nước Việt Nam mà chiến tranh, lưu lạc, đổi dời đã chia cuộc sống chúng ta ra làm trăm mảnh, và mỗi người có biết bao nhiêu điều hối tiếc. Nói về những hối tiếc lớn trong cuộc đời thì trên thế giới này không ai có những nỗi hối tiếc khổ đau lớn lao như người Việt Nam, khiến cho những chuyện như đổi nghề, kế hoạch về tài chánh, học vấn, tình yêu… đều là quá nhỏ nhoi, trẻ con.

Tháng 4/1975, nhiều người hối tiếc vì đã ngây thơ không hiểu gì về chế độ và con người Cộng Sản, đã ở lại đất nước, thay vì phải bỏ nước ra đi. Nhiều người đã ra đi đến bến bờ tự do, nhưng 1,652 người đã quay lại Việt Nam trên con tàu Việt Nam Thương Tín, để cuối cùng bị còng tay đưa vào nhà tù, với niềm ân hận cay đắng dày vò, đeo đẳng suốt cuộc đời họ. Nhiều nhân vật đảng phái, quân đội hối hận đáng lẽ ra phải bỏ nước hay tự sát, còn hơn là bị giam cầm, bỏ đói và hạ nhục bởi những con thú đội lốt người trong suốt một thời gian dài.

Hối tiếc vì lòng tin bị phản bội như Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Trọng Vĩnh, Tô Hải, Lê Hiếu Đằng… vì suốt đời đi theo Cộng Sản mà “cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức” (Hồi ký của một thằng hèn - Tô Hải).

Đau khổ và đắng cay của những trí thức miền Nam như Dương Quỳnh Hoa : “Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.”

Trương Như Tảng tham gia sáng lập và giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư Pháp của chính phủ “bù nhìn” Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam : “Tôi đã là người Cộng Sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa Cộng Sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã hết.”

Năm 1978, Trương Như Tảng xuống thuyền vượt biển và sinh sống ở Pháp. Tại đây ông đã viết cuốn hồi ký “Mémoire d’un Vietcong.”

Trí thức Nguyễn Mạnh Tường theo Cộng Sản từ năm 27 tuổi, đã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 năm. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng : “Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói.”

Số phận ông đã được Việt Cộng quyết định : Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở : “Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn 30 năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!”

Cuối cùng, ông chết trong đói nghèo, bị dày vò, đau khổ vì sự lầm lẫn của mình.

Triết gia Trần Đức Thảo, cuối năm 1951, trở về Việt Nam tham gia kháng chiến, qua ngã London – Prague – Moscow – Bắc Kinh – Tân Trào. Lúc đầu Trần Đức Thảo được trọng dụng theo chuyên môn, nhưng đến năm 1956, 2 bài báo của ông trên 2 tờ Nhân văn và Giai phẩm mùa Đông đã khiến ông phải ra khỏi “biên chế nhà nước,” nghĩa là bị đuổi việc, vợ bị Đảng sắp xếp cho kết hôn với người khác. 

Triết gia Trần Đức Thảo có thời gian đi lao động ở Tuyên Quang, chăn bò ở nông trường Ba Vì, coi như để “cải tạo tư tưởng.” Năm 1991, ông được Nguyễn Văn Linh cho đi Pháp, để bổ sung một số tư liệu khoa học và viết nốt mấy tác phẩm mà ông đã có đề cương. Sau khi hết trợ cấp, ông không về nước. Tại Paris, ông sống một cuộc đời cô đơn, nghèo khó, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ như bị người theo dõi.

Tối ngày 23/4/1993 tại nhà khách của sứ quán Việt Nam, số 2 Le Verrier, quận 5, triết gia Trần Đức Thảo, có triệu chứng bệnh như bị đầu độc và đã qua đời vào sáng hôm sau. Tuy vậy khi mất, ông được chính phủ CSVN gắn cho một cái huân chương Độc Lập, và tuyên bố “đã được đại sứ quán của nước ta tại Pháp tận tình chăm sóc!” 

Và 10 năm sau, họ lại dựng thây ma ông lên, truy tặng thêm cho một cái giải thưởng Hồ Chí Minh, và ca tụng “tư tưởng ông giống tư tưởng Hồ Chí Minh.” Bình tro của ông dược đem về Việt Nam, vứt nằm lăn lóc dưới chân cầu thang, trong một cái nhà quàn ở Hà Nội, về sau mới được chôn cất ở Nghĩa trang Văn Điển, mà không phải Mai Dịch, vì chính quyền cho rằng ông “chẳng có công trạng” gì!

Trong phần đầu, quý vị đã thấy những cái “hối tiếc” vớ vẩn" của con người, nếu so với những hối tiếc của những con người Việt Nam trong “thời đại Hồ Chí Minh,” không còn là những hối tiếc nữa, mà là những mối hận, “mang xuống tuyền đài chưa tan!”

Ph Ng

Blog Archive