Wednesday, August 5, 2026

SẼ CÓ MỘT NGÀY!

Elon Musk muốn xóa khái niệm mất sóng, cuộc gọi sẽ đi theo bạn đến mọi nơi

+ Starlink đã đưa hơn 10.000 vệ tinh lên quỹ đạo và Elon Musk đang theo đuổi một mục tiêu táo bạo hơn, biến bầu trời thành mạng viễn thông phủ gần khắp hành tinh. Lúc đó, chiếc điện thoại trong túi bạn có thể gọi điện, nhắn tin và truy cập mạng giữa đại dương, trên đỉnh núi hay khi bước sang một quốc gia khác mà không cần đổi SIM.

Khi bầu trời trở thành cột phát sóng khổng lồ

+ Trong hơn 40 năm, điện thoại di động vận hành theo một nguyên lý. Muốn gọi điện, nhắn tin hay truy cập mạng, thiết bị phải tìm được cột phát sóng gần nhất. Núi cao, sa mạc, đại dương hay vùng cực luôn là những khoảng trắng trên bản đồ liên lạc.

+ Elon Musk muốn thay đổi điều đó. Tầm nhìn mà ông nhiều lần nhắc đến là biến hàng nghìn vệ tinh Starlink thành những "cột phát sóng" bay quanh Trái Đất. Khi điện thoại rời khỏi vùng phủ của nhà mạng mặt đất, tín hiệu sẽ hướng lên bầu trời thay vì tìm kiếm một trạm phát dưới đất.

+ Đây là cách tiếp cận khác hẳn những mạng viễn thông truyền thống vốn phải xây dựng hàng triệu cột phát sóng, kéo cáp quang, lắp đặt thiết bị và duy trì nguồn điện trên diện rộng.

+ Theo SpaceX, mạng Starlink hiện đã có hơn 10 nghìn vệ tinh hoạt động ở quỹ đạo thấp. Lớp vệ tinh này bay cách mặt đất khoảng 550 km, gần hơn rất nhiều so với các vệ tinh viễn thông truyền thống ở độ cao gần 36.000 km. Khoảng cách ngắn giúp giảm đáng kể độ trễ tín hiệu.

+ Điều gây chú ý hơn nằm ở công nghệ kết nối trực tiếp giữa điện thoại và vệ tinh.

+ Thay vì yêu cầu người dùng mua một thiết bị chuyên dụng, SpaceX phát triển giải pháp để nhiều mẫu điện thoại hỗ trợ mạng 4G hiện nay có thể liên lạc với vệ tinh khi ở ngoài vùng phủ sóng. Giai đoạn đầu tập trung vào tin nhắn, sau đó mở rộng sang cuộc gọi và truyền dữ liệu.

+ Khi hoàn thiện, khái niệm "mất sóng" sẽ dần trở thành ký ức đối với nhiều khu vực trên hành tinh.

+ Đó là lý do nhiều chuyên gia coi dự án này là bước tiến lớn của ngành viễn thông kể từ khi điện thoại di động xuất hiện.

Chuyến du lịch không còn cần đổi thẻ SIM

+ Mỗi năm, hàng trăm triệu người phải đổi thẻ SIM hoặc đăng ký gói cước mới khi đặt chân đến một quốc gia khác. Đây là thủ tục của khách du lịch, doanh nhân và người lao động quốc tế.

+ Elon Musk hình dung một tương lai khác. Ông từng cho biết người dùng có thể giữ nguyên số điện thoại, giữ nguyên nhà mạng và vẫn sử dụng dịch vụ ở nhiều quốc gia nếu nhà mạng đó hợp tác với Starlink và được cơ quan quản lý sở tại chấp thuận.

+ Điều này đồng nghĩa chiếc điện thoại sẽ tự lựa chọn đường truyền phù hợp. Ở thành phố, thiết bị sử dụng mạng mặt đất như hiện nay.

+ Ra biển, lên núi, băng qua sa mạc hoặc bay đến những vùng dân cư thưa thớt, tín hiệu sẽ chuyển sang vệ tinh mà người dùng gần như không nhận thấy sự thay đổi.

+ Ý tưởng ấy đặc biệt hấp dẫn với ngành hàng hải, hàng không, cứu hộ, nghiên cứu khoa học và các đoàn thám hiểm. Những nơi trước đây phải mang theo điện thoại vệ tinh đắt đỏ có thể sử dụng ngay chiếc điện thoại quen thuộc.

+ Nhiều nhà mạng tại Mỹ và một số quốc gia đã bắt đầu hợp tác với SpaceX để thử nghiệm dịch vụ này.

+ Đây cũng là con đường mà SpaceX lựa chọn thay vì tự xây dựng một mạng viễn thông toàn cầu độc lập. Công ty tận dụng mạng lưới sẵn có của các nhà mạng, còn vệ tinh đảm nhiệm phần phủ sóng ở những nơi cột phát sóng không thể vươn tới.

+ Khi mô hình này được mở rộng, hàng tỷ người sẽ có thêm một lớp bảo đảm kết nối khi xảy ra thiên tai hoặc mất điện trên diện rộng.

Giấc mơ đã khởi động nhưng đích đến vẫn còn phía trước

+ Dù triển vọng rất lớn, vẫn còn nhiều rào cản. Mỗi quốc gia đều có quy định riêng về tần số vô tuyến, cấp phép dịch vụ và an ninh viễn thông. Muốn hoạt động tại một thị trường, SpaceX cần đạt được thỏa thuận với nhà mạng địa phương và nhận được sự chấp thuận của cơ quan quản lý.

+ Bên cạnh đó, việc truyền dữ liệu trực tiếp từ điện thoại lên vệ tinh đòi hỏi công nghệ xử lý tín hiệu rất phức tạp. Công suất phát của điện thoại nhỏ hơn rất nhiều so với các thiết bị thu phát chuyên dụng.

+ Đến nay, SpaceX vẫn chưa công bố thời điểm xuất hiện một chiếc điện thoại hoạt động hoàn toàn trên mạng Starlink.

+ Cũng chưa có thông báo chính thức về một dịch vụ di động toàn cầu do Starlink vận hành độc lập.

+ Những dự đoán cho rằng sản phẩm như vậy sẽ xuất hiện trong khoảng 2 năm tới mới dừng ở mức nhận định của một số nhà quan sát, chưa phải thông tin được SpaceX xác nhận.

+ Tuy vậy, hướng đi đã được xác định. Giống như cách Starlink từng đưa Internet tốc độ cao đến những vùng xa xôi, bước tiếp theo là đưa khả năng gọi điện và truyền dữ liệu lên quỹ đạo.

+ Lịch sử viễn thông từng chứng kiến điện thoại bàn nhường chỗ cho điện thoại di động. Sau đó là sự bùng nổ của điện thoại thông minh.

+ Khi mạng vệ tinh và mạng mặt đất hòa làm một, cuộc cách mạng tiếp theo có thể sẽ diễn ra trên bầu trời.

+ Ngày ấy, người đứng trên đỉnh núi Himalaya, giữa Thái Bình Dương hay ở một hòn đảo nhỏ giữa đại dương vẫn có thể gọi về cho gia đình bằng chính chiếc điện thoại trong túi, với số điện thoại quen thuộc.

+ Đó là cách mà Elon Musk đang theo đuổi. Nó còn cần thời gian, cần thêm vệ tinh, thêm các thỏa thuận với nhà mạng và sự chấp thuận của nhiều quốc gia. Khi thành công, bản đồ phủ sóng của nhân loại sẽ được vẽ lại, bằng những điểm sáng chuyển động quanh Trái Đất thay vì những cột phát sóng cắm trên mặt đất.

Cu Làng Cát
Chuyện bầu cử năm 2020

Trong một tiết lộ chấn động làm lung lay những trụ cột cuối cùng còn sót lại của câu chuyện bầu cử năm 2020, cuộc kiểm toán của Thượng viện Arizona đã đưa ra bằng chứng không thể chối cãi rằng Donald J. Trump là Tổng thống hợp pháp và chính đáng của Hoa Kỳ.

Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng các lá phiếu, hồ sơ chuỗi giám sát và nhật ký hệ thống bỏ phiếu của Quận Maricopa, các kiểm toán viên đã tuyên bố không còn nghi ngờ gì nữa rằng kết quả chính thức đã bị làm sai lệch một cách có hệ thống. Những phát hiện này không để lại chỗ cho tranh luận: người dân Mỹ đã bầu Trump, và bộ máy của "nhà nước ngầm", các nhân viên đảng Dân chủ và các nhà cung cấp bầu cử bị mua chuộc đã làm việc hết sức để đánh cắp chiến thắng này.

Trung tâm của vụ bê bối là bà Katie Hobbs, khi đó là B trưng ni vu, người mà cuộc kiểm toán trực tiếp cáo buộc liên quan đến việc đưa vào 74.243 lá phiếu bầu qua thư chưa từng được yêu cầu, chưa từng được gửi đi và chưa từng được gửi hợp pháp đến bất kỳ cử tri đã đăng ký nào. Những lá phiếu này đột nhiên xuất hiện đầy đủ và được bỏ vào ngày 3 tháng 11 năm 2020, mỗi lá phiếu đều được liên kết với những cá nhân có thật nhưng lại thiếu bất kỳ hồ sơ gửi thư hoặc dấu vết xác minh chữ ký nào. Các nhà điều tra xác định rằng những lá phiếu này đã được làm giả và đưa vào hệ thống sau đó, một hành vi gian lận phiếu bầu trắng trợn, chính hành vi này đã giải thích một phần quyết định cho tỷ lệ chiến thắng áp đảo của Biden ở Arizona.

Kế hoạch này được thực hiện nhờ những lỗ hổng đã được ghi nhận của Dominion Voting Systems, với kiến ​​trúc phần mềm cho phép người điều hành dễ dàng gán bất kỳ tên và mã số cử tri nào cho một lá phiếu gửi thư giả mạo chỉ bằng vài thao tác bàn phím. Sau khi những lá phiếu ma được "đối khớp" kỹ thuật số với những người dân Arizona có thật, chúng đã được kiểm đếm mà không bị phát hiện. 

Báo cáo cuối cùng của cuộc kiểm toán nêu rõ rằng đây không phải là một sự cố do lỗi hành chính, mà là một hoạt động có chủ đích và được phối hợp. Với bằng chứng hiện đã được công khai và không thể chối cãi, lời kêu gọi ngày càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết: cuộc bầu cử bị đánh cắp năm 2020 phải được phơi bày hoàn toàn, những kẻ gây ra tội ác phải chịu trách nhiệm và ý chí của người dân Mỹ phải được khôi phục.

Nguồn : TrumpNews -
Cre: Nghai Do


Cô gái mới mười lăm tuổi bị một tên sát nhân hàng loạt bắt cóc giữa ban ngày

Trong mười tám giờ tiếp theo, cô đã ghi nhớ mọi thứ.
Rồi cô thoát được và dẫn cảnh sát thẳng đến tận nơi hắn.

Ngày 24 tháng 6 năm 2002, Kara Robinson đang giúp bạn làm việc vặt bên ngoài một ngôi nhà ở South Carolina. Kế hoạch của cô rất bình thường: tưới hoa, đợi bạn, rồi cả ngày sẽ đi hồ.

Bỗng một chiếc Pontiac Trans Am màu xanh đậm chạy vòng quanh phố rồi tấp vào đường lái.
Một người lạ tiến đến.
Hắn bình tĩnh, lịch sự. Hắn đưa tờ rơi, trò chuyện xã giao, rồi hỏi xem trong nhà có người lớn nào không.
Cuộc nói chuyện chưa đầy một phút.

Sau đó hắn đe dọa Kara, ép cô vào một thùng nhựa ở ghế sau rồi lái xe đi.
Khi nắp thùng khép lại, cô đưa ra một quyết định duy nhất.
Giữ bình tĩnh.
Tên bắt cóc là Richard Evonitz, kẻ đã lặng lẽ di chuyển qua nhiều tiểu bang và trước đó đã sát hại ba thiếu nữ ở Virginia.
Hắn tin rằng mình có thể kiểm soát tình huống.
Nhưng hắn đã chọn nhầm cô gái.
Bên trong căn hộ của hắn, Kara hiểu rằng hoảng loạn chỉ khiến hắn nguy hiểm hơn. Cô cần hắn thư giãn.
Vì vậy cô quan sát.
Cô lắng nghe.
Cô ghi nhớ.
Cô nghiên cứu bố cục từng căn phòng.
Cô đếm những con thú trang trí nhỏ trên giá sách.
Cô nhớ số sê-ri được đóng bên trong thùng nhựa.
Cô để ý những nam châm trên tủ lạnh ghi thông tin nha sĩ và bác sĩ của hắn, rồi khắc sâu những cái tên ấy vào trí nhớ.
Khi hắn bảo cô quét bếp, cô làm.
Khi hắn nói, cô đáp.
Cô tỏ ra hợp tác để hắn cảm thấy an tâm và không còn để ý đến cô sát sao nữa.
Mỗi chi tiết đều là bằng chứng.
Mỗi câu trả lời bình tĩnh đều mua thêm thời gian.

Cô đợi đến lúc hắn ngủ thiếp đi.
Sáng sớm hôm sau, Kara lẻn ra khỏi căn hộ và chạy.
Cô vẫy một chiếc xe đang đi ngang và được đưa đến đồn cảnh sát.
Các nhà điều tra tưởng sẽ gặp một thiếu nữ sợ hãi, lắp bắp kể lại chuyện gì đã xảy ra.
Thay vào đó, Kara mang đến cho họ cả một bản đồ.
Cô mô tả căn hộ, những cái giá, đồ trang trí, chiếc xe, cái thùng, và những cái tên cô thấy trên tủ lạnh.
Cô đã biến mười tám giờ bị giam cầm thành một cuộc điều tra hoàn chỉnh.

Cảnh sát xác định được danh tính Evonitz chỉ trong vài giờ.
Hắn bỏ trốn về phía nam, nhưng Kara đã cung cấp quá nhiều chi tiết khiến hắn không thể biến mất.
Hai ngày sau, cảnh sát truy đuổi hắn xuyên qua Florida. Xe của hắn cán phải đinh gai, cuộc rượt đuổi kết thúc không lâu sau đó khi hắn tự sát.
Hắn không bao giờ phải ra hầu tòa.
Nhưng Kara đã đảm bảo rằng những tội ác của hắn không còn bị che giấu nữa.

Sau này cô đến Virginia gặp gia đình ba thiếu nữ bị hắn sát hại.
Trong nhiều năm, những gia đình ấy sống trong bóng tối không lời giải đáp.
Kara ngồi cùng họ và kể những gì cô biết.
Cô vẫn mang trong mình vết thương riêng, vậy mà vẫn chọn giúp người khác hiểu được điều đã xảy ra với con gái họ.
Và cô không rút lui khỏi thế giới.

Năm 2010, Kara tốt nghiệp Học viện Tư pháp Hình sự South Carolina và gia nhập Sở Cảnh sát Quận Richland với tư cách sĩ quan phụ trách an ninh trường học.
Cô bước vào ngành thực thi pháp luật một cách có chủ đích.
Cô hiểu nạn nhân nghĩ gì, nỗi sợ ảnh hưởng đến trí nhớ ra sao, và cần bao nhiêu can đảm chỉ để mở miệng nói ra.

Hôm nay, Kara Robinson Chamberlain là một người mẹ, người vận động bảo vệ nạn nhân, và diễn giả công chúng.
Cô kể lại câu chuyện của mình vì sự im lặng chỉ bảo vệ những kẻ săn mồi.
Cô từng nói rằng việc hắn chọn cô chính là sai lầm lớn nhất của hắn.
Cô không có vũ khí.
Không có điện thoại.
Không có lối thoát rõ ràng.
Vậy nên cô dùng những gì mình có.
Cô giữ bình tĩnh.
Cô quan sát.
Cô nhớ.

Và một tên sát nhân đã thoát được công lý trong nhiều năm cuối cùng bị hạ gục vì một cô gái mười lăm tuổi đã từ chối ngừng suy nghĩ, ngay cả trong những giờ đen tối nhất của đời mình.

Son Bui



Tư tưởng "trọng nam khinh nữ"

Những tưởng chỉ ở Việt Nam mới gia trưởng, trọng nam khinh nữ nặng nề. Không, bạn sai rồi.

Hôm nay mình được một chị người Hồng Kông– sinh áp chót những năm 60 – kể chuyện gia đình. Hồi bé, chị luôn phải nghe bố mẹ nhắc đi nhắc lại một câu: "Giá mà em trai mày ra đời trước thì bố mẹ đã chẳng sinh ra mày."

Những lời nói ấy như những vết dao cứa vào tâm hồn một đứa trẻ, làm chị đau đớn vô cùng. Chị lao vào học hành, nỗ lực không ngừng nghỉ chỉ để chứng minh cho cha mẹ thấy con gái cũng có giá trị, nhưng tất cả vẫn như dã tràng xe cát.

Sự nỗ lực ấy đưa chị tốt nghiệp Thạc sĩ tại ngôi trường tài chính danh giá top đầu nước Pháp. Cũng chính tại đây, chị gặp chồng mình – một anh người Ý kém chị 2 tuổi. Sau này, cả hai anh chị đều làm CFO cho các công ty đa quốc gia tại Geneva (Thụy Sĩ) và cùng nhau sinh được 3 cô con gái.

Hai vợ chồng có sự nghiệp thành công rực rỡ. Mới đây, anh lại được hưởng một khối tài sản rất lớn do gia đình để lại. Anh chủ động tìm gặp chồng mình để lập di chúc: nếu anh có mệnh hệ gì, toàn bộ tài sản hai vợ chồng tự gây dựng cùng khối tài sản thừa kế – tổng cộng lên tới trăm triệu Euro – sẽ thuộc về chị và 3 cô con gái, đảm bảo tuyệt đối không ai trong họ hàng nhà anh có thể tranh chấp. Vì tài sản quá lớn và nằm ở nhiều quốc gia, chồng mình cùng 2 luật sư khác đã được ủy quyền làm executor (người thực thi) cho bản di chúc này.

Thế nhưng, ở tuổi 60, chị vẫn buồn.

Chị có địa vị xã hội, có sự nghiệp đỉnh cao, có gia đình hạnh phúc cùng khối tài sản khổng lồ trong tay. Chị cũng là người bền bỉ gửi tiền chu cấp cho bố mẹ suốt 40 năm qua không sót tháng nào — bởi ở Hồng Kông hệ thống phúc lợi xã hội và lương hưu chưa thật sự tốt, mọi chi phí chăm sóc đấng sinh thành một tay chị gánh vác. Vậy mà chị vẫn không hề có một tiếng nói nào trong gia đình. Ngay cả trong đám tang của bố mẹ năm ngoái, chị vẫn bị gạt ra bên lề. Chị trải lòng rằng, trong lòng chị luôn có một khoảng trống rất lớn, sâu hun hút và chẳng bao giờ có thể lấp đầy.

Tiếp xúc và nói chuyện với chị, mình thấy đây là một người phụ nữ cực kỳ thông minh, tài năng và bản lĩnh. Vậy mà trong sâu thẳm tâm hồn, cô bé bị tổn thương vì tư tưởng "trọng nam khinh nữ" năm nào dường như vẫn chưa một ngày được chữa lành...

Nếu bạn rơi vào hoàn cảnh ấy bạn làm gì?

Nếu đóng vai trò là người bố người mẹ đọc được câu chuyện này các bác nghĩ sao?

Minh Mai

Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Ô. Cao Xuân Vỹ

Như đã hứa, (1) ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.

10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. 

Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. 

Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. 

Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.

15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân. Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lước. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh… Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản? Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.

– Rồi cho dân qua lại tự do

– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn

– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.

– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.

– Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle. Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phần nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến. Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…/-

Minh Võ, San Diego

(1) Như đã trình bày trong bài “Ba giờ nghe một nhân chứng”.


Tuesday, August 4, 2026

Cửa Hàng Mậu Dịch Trở Lại, Lần Này Ở Ngay Giữa Manhattan

Với những ai từng sống qua thời bao cấp ở Việt Nam, có một cụm từ mà chỉ cần nghe thôi là cả một ký ức ùa về: cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Nơi mà nhà nước đứng ra bán gạo, bán thịt, bán đường cho dân với giá "ưu đãi." Nơi mà tem phiếu quý hơn tiền mặt, nơi mà xếp hàng từ bốn giờ sáng là chuyện thường, và nơi mà câu cửa miệng của nhân viên bán hàng luôn là "hết hàng rồi." Ai đã đi qua thời đó hẳn không bao giờ quên được cái cảm giác cầm cuốn sổ gạo trên tay, đứng trong hàng người dài dằng dặc, nhìn lên tấm bảng giá do nhà nước ấn định, và tự hỏi hôm nay liệu có mua được gì hay lại ra về tay không.

Bây giờ, cái mô hình tưởng chừng đã bị lịch sử cho vào viện bảo tàng ấy đang được đề xuất trở lại. Không phải ở Hà Nội hay Sài Gòn của những năm tám mươi, mà ở ngay giữa trung tâm tài chính của thế giới tư bản: thành phố New York.

Tân thị trưởng của New York, ông Zohran Mamdani, một người công khai theo đường lối xã hội chủ nghĩa dân chủ, vừa công bố kế hoạch mở năm cửa hàng tạp hóa do chính quyền thành phố sở hữu, mỗi quận một cửa hàng. Ý tưởng cốt lõi nghe qua rất đẹp: nhà nước sẽ đứng ra sở hữu mặt bằng, miễn tiền thuê, miễn thuế bất động sản, và nhờ vậy có thể bán một "giỏ hàng thiết yếu" — rau củ, thịt, cá, trứng, sữa, bánh mì — rẻ hơn giá thị trường khoảng ba mươi phần trăm. Giá của giỏ hàng đó sẽ được ấn định cố định theo từng tháng, không lên xuống theo thị trường như ở các siêu thị tư nhân. Một gia đình trung bình, theo tính toán của chính quyền, có thể tiết kiệm khoảng chín mươi đô la mỗi tháng.

Ai từng nghe qua cụm từ "giá nhà nước ấn định" và "giỏ hàng thiết yếu do nhà nước phân phối" mà không thấy sống lưng gợn lên một chút, có lẽ là người chưa từng đọc lịch sử của thế kỷ hai mươi. Bởi vì đây không phải là một ý tưởng mới. Đây là một trong những ý tưởng cũ nhất, đã được thử nghiệm nhiều lần nhất, và thất bại nhiều lần nhất trong lịch sử kinh tế nhân loại. Chỉ có điều, mỗi thế hệ dường như đều tin rằng lần này sẽ khác, rằng những người đi trước thất bại chỉ vì họ làm chưa đủ đúng, chưa đủ thông minh, chưa đủ tử tế.

Có một câu ngạn ngữ mà mình rất thích, thường được cho là của triết gia Santayana: "Những ai không nhớ được quá khứ sẽ bị kết án phải lặp lại nó." Câu này hợp với câu chuyện đang diễn ra ở New York đến mức gần như đau lòng. Bởi vì cái mô hình cửa hàng nhà nước bán giá rẻ này đã được thử ngay trên chính đất Mỹ, chỉ mới gần đây thôi, và kết quả không cần phải tưởng tượng.

Ở thành phố Kansas City, một cửa hàng tạp hóa do chính quyền sở hữu vừa phải đóng cửa sau nhiều năm trở thành một cái hố đen ngốn tiền thuế của dân. Thành phố đã đổ vào đó khoảng mười tám triệu đô la trong suốt một thập nien để cố giữ nó sống, nhưng cuối cùng vẫn phải buông tay, giữa cảnh kệ hàng trống rỗng và nạn trộm cắp tràn lan. Kệ hàng trống rỗng. Nghe quen không? Đó chính xác là hình ảnh của các cửa hàng mậu dịch quốc doanh mà thế hệ cha ông chúng ta đã quá quen thuộc — cái nơi mà tấm bảng giá thì đẹp, nhưng đằng sau quầy thì chẳng còn gì để bán.

Điều trớ trêu nằm ở chỗ, những người ủng hộ mô hình này luôn tập trung vào vế đầu tiên của câu chuyện — giá rẻ — mà lờ đi vế thứ hai, cái vế mà lịch sử đã chứng minh là không thể tách rời: khi bạn ấn định giá thấp hơn giá thị trường một cách nhân tạo, bạn không xóa bỏ được chi phí, bạn chỉ chuyển nó đi chỗ khác. Cái phần chênh lệch ba mươi phần trăm đó không tự bốc hơi. Nó được trả bằng tiền thuế của chính những người dân đang mua hàng, cộng thêm cả những người dân không bao giờ bước chân vào cửa hàng đó. Nói cách khác, người ta không thực sự mua rẻ hơn. Người ta chỉ trả tiền theo một cách khác, kín đáo hơn, qua hóa đơn thuế thay vì qua quầy tính tiền — và thường thì trả nhiều hơn, vì phải gánh thêm cả sự kém hiệu quả của một bộ máy nhà nước làm kinh doanh.

Rồi còn những người bán hàng nhỏ. Ở New York, các chủ tiệm tạp hóa nhỏ — những bodega mà người nhập cư đủ mọi sắc dân đã đổ mồ hôi gây dựng qua nhiều thế hệ — đang lo lắng thực sự. Làm sao một tiệm tạp hóa gia đình, phải trả tiền thuê mặt bằng, phải đóng thuế, phải tự xoay xở từng đồng, có thể cạnh tranh nổi với một cửa hàng được nhà nước miễn thuê, miễn thuế, và bù lỗ bằng ngân sách công? Đây không phải là cạnh tranh công bằng. Đây là một đấu thủ được trọng tài cho phép chơi theo luật riêng, đối đầu với những đấu thủ phải tuân theo mọi luật lệ. Và khi những tiệm nhỏ đó phá sản, những việc làm mà chúng tạo ra cũng biến mất theo — để đổi lấy một cửa hàng nhà nước mà lịch sử cho thấy nhiều khả năng sẽ có kệ hàng trống và một hóa đơn dài gửi cho người đóng thuế.

Có một chi tiết mang tính biểu tượng sâu sắc trong toàn bộ kế hoạch này. Chính quyền tuyên bố các cửa hàng nhà nước sẽ không bán đồ ăn nóng, không bán vé số, không bán rượu, không bán thuốc lá — để "không cạnh tranh" với các tiệm nhỏ ở những mặt hàng đó. Nghĩa là ngay từ trong thiết kế, người ta đã ngầm thừa nhận rằng cửa hàng nhà nước sẽ lấn át các tiệm tư nhân ở những mặt hàng nó có bán, đến mức phải chừa ra vài mặt hàng cho tư nhân sống sót. Đây là một sự thừa nhận vô tình nhưng rất thành thật: chúng tôi biết mô hình này sẽ bóp nghẹt cạnh tranh, nên chúng tôi chủ động chừa lại vài khoảng trống cho các anh thở.

Điều đáng nói nhất, và cũng buồn cười nhất theo một cách chua chát, là bối cảnh của toàn bộ câu chuyện. Giá thực phẩm ở New York đã tăng gần sáu mươi sáu phần trăm trong một thập nien qua. Đó là một vấn đề thật, một nỗi khổ thật của người dân. Nhưng giải pháp được đưa ra cho một vấn đề do chi phí quá cao gây ra, lại là tạo thêm một tầng chi phí mới — bộ máy vận hành cửa hàng nhà nước — rồi giấu cái chi phí đó vào ngân sách thuế, và gọi đó là "tiết kiệm." Nó giống như một người thấy nhà mình dột, bèn quyết định giải quyết bằng cách hứng nước mưa vào một cái xô, rồi tuyên bố mình đã sửa xong mái nhà.

Không ai phủ nhận rằng giá cả đắt đỏ là một nỗi khổ có thật, và mong muốn giúp người nghèo có cái ăn là một mong muốn đáng trân trọng. Vấn đề chưa bao giờ nằm ở lòng tốt của ý định. Vấn đề nằm ở chỗ lòng tốt mà không đi kèm với sự hiểu biết về cách vận hành của kinh tế, thì thường tạo ra nhiều đau khổ hơn là nó xoa dịu. Con đường xuống địa ngục, như người ta vẫn nói, được lát bằng những ý định tốt đẹp. Và ít có con đường nào được lát cẩn thận bằng những ý định tốt đẹp hơn con đường dẫn tới một cửa hàng mậu dịch với kệ hàng trống rỗng.

Những người cha, người mẹ, người ông, người bà trong cộng đồng chúng ta đã từng đi tìm một vùng đất nơi người ta được tự do mua bán, tự do cạnh tranh, tự do làm giàu bằng chính đôi tay mình. Thật là một điều kỳ lạ của lịch sử, khi cái mô hình đúng ra phải đưa vô viện bảo tàng, nay lại được một thế hệ mới ở chính vùng đất tự do đó chào đón như một ý tưởng mới mẻ và tiến bộ.

Còn bạn, bạn nghĩ khi nhà nước hứa bán cho bạn thứ gì đó "rẻ hơn thị trường," thì phần chênh lệch đó thực sự biến mất, hay chỉ đơn giản là được lấy ra từ một túi khác của chính bạn?

Ryan Phan

ĐỨA CON MƯỜI HAI TUỔI DỊCH CẢ MỘT ĐỜI BA MẸ

Nó mới mười hai tuổi.
Cái tuổi đáng lẽ chỉ biết lo bài vở từ trường học, tập đàn, đá banh với bạn bè và mong cuối tuần được ba mẹ chở đi ăn kem.
Nhưng mỗi lần điện thoại trong nhà reo lên, ba lại gọi:
– Con ơi… nói chuyện với người ta giùm ba.
Mỗi lần có thư gửi đến, mẹ lại cầm phong bì bước tới:
– Con đọc thử coi họ viết gì.
Thế là một đứa trẻ lớp bảy bỗng trở thành người lớn.
Nó không được ai đào tạo.
Không ai cấp bằng. Nhưng ngày nào cũng làm nghề phiên dịch.
Phiên dịch ở bệnh viện.
Phiên dịch ở trường học.
Phiên dịch với hãng bảo hiểm.
Phiên dịch khi mua xe.
Phiên dịch khi thuê nhà.
Phiên dịch cả khi ba bị cảnh sát chặn xe vì quên bật đèn xi nhan.
Có lần, bác sĩ nhìn nó rồi hỏi:
– Con có hiểu hết những gì bác sĩ nói không?
Nó gật đầu.
Thật ra… không. Có những từ y khoa nó chưa từng nghe.
Có những câu quá dài.
Có những quyết định liên quan đến sức khỏe của ba mà một đứa trẻ mười hai tuổi không nên là người phải giải thích.
Nhưng nó vẫn cố. Nó nhìn ba.
Ba nhìn nó. Trong ánh mắt người đàn ông từng vượt biển, từng làm lại cuộc đời nơi đất khách, có một niềm tin tuyệt đối.
“Con nói sao… ba tin vậy.”

Niềm tin ấy làm vai nó nặng hơn cả cái cặp sách.
Rồi đến những lá thư. Những phong bì dày cộm từ ngân hàng.
Từ bảo hiểm.
Từ trường học.
Nó đọc từng dòng.
Dịch từng chữ. Có những chữ tiếng Anh nó hiểu. Nhưng tiếng Việt thì không biết phải diễn tả thế nào. Có những khái niệm tiếng Việt cha mẹ hiểu rất rõ. Nhưng tiếng Anh lại không có từ nào thật giống.
Nó đứng giữa hai ngôn ngữ.
Giữa hai thế hệ. Giữa hai thế giới. Đôi khi chỉ muốn khóc.
Nhưng khó nhất… Không phải là dịch giấy tờ. Khó nhất là dịch những điều không có trong từ điển.

Một buổi tối. Ba ngồi trước hiên nhà. Nhìn cơn mưa Cali.
Khẽ nói:
– Mưa này… không giống mưa quê mình.
Nó biết chữ “rain”. Biết chữ “weather”.
Nhưng không biết phải hiểu thế nào về một cơn mưa có thể làm người ta nhớ cả một tuổi trẻ.
Một lần khác. Mẹ mở chiếc hộp cũ. Lấy ra tấm ảnh đen trắng. Có một người lính đứng rất trẻ. Mẹ vuốt nhẹ bức ảnh. Nước mắt rơi.
– Hồi đó… Mẹ dừng lại. Không nói nữa.
Nó nhìn mẹ. Muốn hỏi. Nhưng vốn tiếng Việt không đủ.
Mẹ muốn kể. Nhưng tiếng Anh không đủ để nói hết những năm tháng chiến tranh, ly tán, vượt biển và mất mát.
Hai mẹ con ngồi cạnh nhau.
Thương nhau vô cùng. Mà im lặng.

Năm tháng trôi qua. Đứa bé phiên dịch ngày nào lớn lên.
Thành kỹ sư. Bác sĩ. Luật sư.
Hay chỉ là một người lao động bình thường.
Tiếng Anh của nó ngày càng hoàn hảo. Tiếng Việt thì vơi dần. Có hôm nó định nói với ba:
“Con xin lỗi vì hôm đó con dịch chưa đúng.”
Nhưng ba chỉ cười.
– Con làm tốt lắm rồi.
Ba biết hồi đó con còn nhỏ.
Nó chết lặng. Thì ra… Ba biết.
Ba biết có những lần con dịch thiếu.
Ba biết có những câu con không hiểu.
Ba biết có những lúc con chỉ đoán.
Nhưng ba vẫn chọn tin. Không phải vì bản dịch đúng.
Mà vì người đang dịch là con của mình.

Đến một ngày. Ba già. Đi lại chậm. Không còn đủ sức đến bệnh viện một mình. Nó lại nắm tay ba. Lại ngồi trước mặt bác sĩ. Nhưng lần này, mọi câu tiếng Anh đều rất dễ.
Điều khó nhất lại là câu tiếng Việt sau khi bước ra khỏi phòng khám.
Ba hỏi nhỏ:
– Ba còn sống được bao lâu hả con?
Nó đứng rất lâu. Lần đầu tiên trong đời… Nó không biết phải dịch thế nào. Không phải vì không hiểu tiếng Anh.
Mà vì trái tim của một đứa con không có ngôn ngữ nào đủ dịu dàng để nói với cha về sự chia ly.

Nếu bạn từng là đứa trẻ mười hai tuổi ấy, bạn sẽ hiểu.
Chúng ta không chỉ dịch ngôn ngữ.
Chúng ta dịch cả hy vọng.
Dịch cả nỗi sợ.
Dịch những giấc mơ của cha mẹ.
Dịch những ngày đầu lạc lõng trên đất Mỹ. Và nhiều khi…
Chúng ta cố dịch cả nỗi buồn của ba mẹ.
Một nỗi buồn quá lớn. Đến mức không một thứ tiếng nào trên thế giới có thể diễn tả trọn vẹn.
Xin cảm ơn những đứa trẻ đã lớn lên quá sớm.
Các em không chỉ là người phiên dịch.
Các em chính là chiếc cầu nối để cha mẹ bước qua những năm tháng chông chênh nhất nơi xứ người. Và trong lòng cha mẹ, dù hôm nay các em đã năm mươi hay sáu mươi tuổi…
Các em vẫn mãi là đứa con nhỏ năm nào, tay cầm cuốn từ điển, mắt còn ngơ ngác, nhưng trái tim thì đã đủ lớn để gánh cả một gia đình.

Phạm Sơn Liêm.



Blog Archive