Wednesday, August 19, 2026

CHUYỆN THỜI MỚI LỚN

Lên năm đệ tứ ( lớp 9 bây giờ) bỗng một hôm tôi phát giác ra trong tà áo dài trắng chị Tuyết giống như một nàng tiên nữ và không biết tự lúc nào trong tôi luôn có cảm giác luôn trông ngóng để được nhìn thấy chị mỗi ngày. Vào lớp, chị ngồi dãy bàn thứ tư bên phải còn tôi thì ngồi ngay bàn đầu tiên bên trái. Muốn nhìn được chị thì phải ngoáy cổ quay lại phía sau. Biết mình hãy còn là thằng nhóc nhưng hai con mắt không ngớt đòi làm người lớn. Mỗi lần ngoái cổ thật là bất lợi vì khi nhúc nhích chỉ sợ chị thấy được ý định của mình. Đó là chưa kể rủi ro ông thầy nào đang giảng bài trên bảng nhìn xuống bắt gặp một cái thì kể như lãnh con zero uổng mạng. Lãnh zero là chuyện nhỏ, bạn bè trong lớp chọc quê mới là chuyện lớn. Con nít đã bày đặt yêu đương.

Tôi ước gì chị Tuyết bỗng nhiên nhỏ xuống một chút và tôi lớn thêm một chút. Ước như thế cũng không biết để làm gì. Nghe đồn những lời ước nếu ước vào một đêm nào có sao băng thì sẽ linh nghiệm vô cùng. Tôi canh me vào những đêm tối trời hy vọng có ánh sao nào xẹt xuống trần gian để mà ước. Nhà tôi ở xóm đàng luồng Cây Thị kẹt trong một con hẽm. Ngó ra chỉ thấy mái tranh nhà cô chín Ẩn. Ngó vô thì thấy mái nhà của tôi. Hai mái nhà ở hai bên con đường mà con đường thì quá hẹp. Hai chóp mái vì thế gần như âu yếm ngã tựa vào nhau chỉ chừa một khoảng trống để hứng không khí rất khiêm cung. Dù tôi có nằm ngửa ra giữa đường lõ con mắt nhìn lên thì cũng có thể thấy được bầu trời to bằng lòng bàn tay. Khoảng trống bé tí tẹo như thế thì làm sao đếm được sao trời mà ký thác lời nguyện ước? 

Thế là tôi đành phải thả bộ ra thành cầu Dinh. Nơi đây có thể nhìn xuống hướng Hòn Hèo hay nhìn về hướng cầu Sắt, bầu trời thoáng rộng sao chi chít giăng đầy tha hồ mà đếm. Tôi bỏ cả ôn bài vở đêm nào cũng ra cầu Dinh chờ sao rụng. Mùa hè Ninh Hòa nóng oi ả, đám choai choai bên Vĩnh Phú cũng ra đứng đầy cầu. Mục đích của tụi nó khác tôi. Tụi nó đứng để hóng mát và chọc gái. Cô nào lỡ dại đạp xe đạp ngang vào giờ có tụi nó đứng thì thế nào cũng bị tiếng huýt gió ỏm tỏi đuổi theo rát mông. Tôi thấy tụi nó gan dạ như vậy không hề sợ bị chửi thì thật tình kính phục. Tụi nó đúng là những thiếu niên can đảm anh hùng chứ đâu nhút nhát như tôi.

Tôi đợi hoài đợi hủy cho đến một đêm quả nhiên có sao trời rụng thiệt. Giữa vòm trời đang tĩnh lặng đột nhiên một vệt sáng xẹt nhanh. Tôi vội vàng nhắm nghiền mắt và thành khẩn tức thì. Những gì muốn nói đã chuẩn bị sẳn được gửi nhanh vào hư vô. Thực hiện xong lòng tôi liền thơ thới nhẹ nhàng và tràn trề hồi hộp. Đó là lần đầu tiên tôi cầu xin ơn huệ của đấng vô hình. Lớn thêm một chút đọc thêm sách vở cái đầu của tôi cũng được mở mang, tôi hiểu sao băng chỉ là những hạt bụi của thái dương hệ rơi xuống địa cầu bị ma sát với bầu khí quyển của trái đất nên bốc cháy. Do đó cầu nguyện với sao băng chỉ là cầu nguyện với những hạt bụi mà thôi. Biết là vô lý nhưng tôi vẫn không hề suy xiển niềm tin. Nhất là những khi bí lối rơi vào cùng quẫn miệng tôi không ngớt lầm bầm cầu nguyện chỉ trừ những khi yên lành. Mỗi lần bị thất bại bủa vây Phật trời thế nào cũng bị tôi lôi đích danh ra mà réo. Giống như Phật trời mắc nợ tôi nhiều lắm đâu từ kiếp trước không bằng.

Lời ước xin của tôi ở thuở lông mép còn chưa biết mọc thật nhỏ nhoi bé bỏng. Tôi còn ước thêm được nắm tay chị Tuyết một lần để thử lắng nghe da thịt của người lớn khiến cho cảm giác của mình ra sao? Không biết có phải Phật trời hiển linh hay vì niềm ước của tôi bé tí tẹo cũng dễ dàng ban bố, trưa hôm sau vào lớp tôi đã thấy chị Tuyết ngồi sẳn hồi nào nơi bàn học nhìn tôi nhoẻn miệng cười. Vừa thấy chị Tuyết một mình, lớp học còn sớm đang vắng vẻ chồng sách vở trên tay cũng hốt hoảng theo nhịp tim thình thịch của tôi thiếu điều rơi xuống đất. Da chị Tuyết trắng. Khi chị cười hai con mắt cũng cười theo. Chị không thoa son nhưng môi chị đỏ vô cùng. Màu môi tương phản với màu da trắng càng tăng thêm phần hết sẫy. Tôi lùi lũi nhào vô chổ của mình đút lẹ chồng vở vô học bàn, cái đầu cũng chúi nhủi theo vô giả bộ kiếm một cái gì đó để che phần ngượng ngập. Đối với chị tôi chỉ là thằng nhãi con hà cớ gì phải lúng ta lúng túng giống như đi ăn trộm bị bắt quả tang? Hai gò má xương xẩu của tôi nóng bừng. Trong lúc tôi còn đang lui cui tìm dưới gầm ghế trái tim mình rớt rụng ở chỗ nào thì chị Tuyết đã đứng sát bên tôi. Đứng sát đến nổi tôi có thể ngửi được mùi thơm con gái nhẹ nhàng. Chị không nói lời nào nắm tay tôi và nhét vào một vật gì đó. Nhét xong chị lẳng lặng trở về chỗ ngồi. Tôi hé ra nhìn thì ra đó là tấm ảnh. Lật ra phía sau chị ghi "Tặng Quan. Nhớ chị mãi nhé". Tôi mừng rơn như lượm được vàng. Đúng là sao băng rất linh thiêng.

Ngày hôm đó ngồi trong lớp học nhưng tâm trí tôi bỏ đi lang thang ra phía ngoài khung cửa sổ. Tiếc rằng hai con mắt không mọc phía sau ót để tôi được ngắm nhìn chị dễ dàng. Cần cổ tôi hoạt động mệt nghĩ. Hễ có dịp là ngoái qua một cái rẹt. Lớp học có mười dãy bàn mỗi bên năm dãy, thầy đang giảng bài sùi cả bọt mép trên bục giảng, tay phải cầm cục phấn tay trái thỉnh thoảng kéo cái quần lên bụng (bụng thầy không được nhỏ nên không có vòng eo, vì thế dây nịt không có điểm nào tựa để bám vào). Hai con mắt thầy đảo qua đảo lại bao trùm cả lớp học nhưng tôi có cảm tưởng thầy đang chỉ chiếu tướng mình mình. Sợ thầy thì có sợ nhưng quay lại lén nhìn chị Tuyết thì cứ quay. Bóng nắng chao trên hàng phượng đang xanh lá vào hè bên ngoài khung cửa lớp rọi vào trên mái tóc của chị lung linh. Trông chị chập chờn giống như trong cõi liêu trai. Tan lớp, tôi ấp a ấp úng chỉ muốn nói lời cám ơn. Chỉ có vậy thôi mà không nói được. Khi chị đi ngang chỗ tôi ngồi chị nhoẽn miệng cười dịu dàng hai chuôi mắt cong cong lấp lánh. Ôi hai chuôi mắt giết người không cần phải dùng gươm dao.

Chuyện sao băng ứng nghiệm đến đây là đuối sức. Tôi chỉ ước được nắm tay chị Tuyết thì đã được nắm tay đã thế lại còn được kèm thêm tấm ảnh. Giá như tôi biết linh thiêng như vầy thì chắc tôi sẽ ước nhiều hơn ví dụ như được chị vò đầu hay béo má chẳng hạn. Hôm sau chị Tuyết không đến trường và những hôm sau nữa cũng thế. Chị đã bỏ lớp để chuẩn bị đi lấy chồng. Tôi đương nhiên buồn nhưng chẳng dám nói ra. Cái buồn của thời thơ dại không dở sống dở chết như những cái buồn tôi gặp sau này trên tình trường, nhưng nó cũng đủ ray ráy khó chịu hết một khoảng thời gian. Tôi biết, có thể đồng thời chị tặng ảnh cho tôi chị cũng tặng rất nhiều bạn khác. Tấm ảnh chỉ là một vật thể biểu trưng kỷ niệm. Thế thôi. Dưới mắt chị tôi chỉ là một thằng nhóc con đáng làm em út khờ khạo học cùng một lớp. Tặng ảnh cho tôi hay nhiều bạn khác chỉ là một cách bày tỏ cảm mến của một thời đi học trước phút chia xa. Ý nghĩa chỉ là như thế nhưng chị đâu biết mình vô tình đã khai phá cảm xúc dậy thì của một đứa con trai 16 tuổi. Tôi giữ tấm ảnh của chị bên mình mãi đến sau này cho dù trải qua biết bao nhiêu cuộc tình thành công cũng như thất bại. Chỉ mình tôi biết điều đó, còn chị thì không hề hay biết.

Nhà chị Tuyết quay mặt ra đường Trần Quí Cáp, nhà ngoại tôi quay mặt ra đường Võ Tánh. Phía sau hai nhà được ngăn cách bởi một bức tường cao bằng tôi để làm ranh giới. Hai tay tôi chỉ cần bám bờ thành nhón chân là cái đầu có thể ló lên nhìn qua nhà chị. Chị Tuyết không còn đi học. Riêng lòng tôi thì cũng đã bắt đầu biết nhớ. Mỗi khi học về thế nào tôi cũng lên nhà ngoại chờ mọi người không ai để ý chạy ngay ra phía sau nhìn qua bờ thành. Bên kia bờ thành là thềm giếng trong sân nhà chị. Chị thường ra giếng xách nước còn tôi tha hồ mà nhìn lén. Một hôm chị Tuyết ngồi giặt đồ, cái đầu tôi ló cao hơn. Chị mặc một cái áo trắng sát cánh có lấm tấm điểm những chùm hoa đỏ. Hai cánh tay tròn lẵng mịn màng theo thao tác vò đồ dịu dàng giống như đang tập tụi tôi múa. Thượng đế thật tinh xảo chỉ cần một miếng xương sườn khô cứng không giống ai của một người đàn ông có thể nhào nặn ra một sinh thể đàn bà toàn bích đến độ không thể chê vào đâu được. Tôi còn đang mơ màng nhìn ngắm chị đắm say thì một giọng nói không mấy êm tai vang lên :
- Ê cậu kia nhìn cái gì ?

Hết hồn giật mình nhìn lại thì ra má chị Tuyết đang đứng thù lù tự hồi nào. Lần này thì rõ ràng bị bắt quả tang hết đường chối cải. Tôi thụt xuống định hát bài chuồn đẹp thì chị Tuyết đã ngước nhìn lên. Thấy tôi chị ngạc nhiên nhưng mĩm cười thật tươi :
- Ủa Quan đó hả

Nụ cười của chị đúng là một sức mạnh. Thay vì thụt xuống, cái đầu tóc húi cua của tôi ló cao hơn. Nụ cười dể chết người như vậy sợ gì không nhìn? Chết là cùng chứ gì

- Nó là bạn con đó má
Tiếng NÓ của chị để ám chỉ tôi thiệt đúng là một phủ phàng của sự thất bại. Nhưng cũng nhờ tiếng Nó được cầu chứng tại tòa xác định vị thế quan hệ giữa chị và tôi. Má chị không nói thêm lời nào lẳng lặng bỏ đi. Sau này lớn lên tôi hiểu thêm một điều có những mục tiêu khi chiếm được chưa hẳn đã gọi là thành công và cũng có những mục tiêu không chiếm được chưa hẳn gọi là thất bại. Yêu nhiều thì đương nhiên thất bại cũng nhiều đó là lẽ thường tình trong thiên hạ. Nếu không muốn thất bại thì yêu ít lại hay chắc ăn nhất là đừng yêu. Khi bước vào tuổi lính đi trấn thủ những tiền đồn trên vùng cao nguyên đèo heo hút gió, những ngày chờ địch đánh không biết làm gì tôi thường thả bộ xuống làng tấp vào mấy quán cà phê lụp sụp gặp ai yêu đó. Yêu rất nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu thành thử bước tình trường của tôi gặp quá nhiều thất bại. Suy cho cùng thất tình cũng có cái thú riêng đặc biệt cho nên tôi không hề than thở. Đôi khi tình yêu giống như làm một bài luận văn. Không ai có thể làm một bài luận văn hay mà không làm nháp trước. Tình yêu cũng thế, yêu nháp trước để rút tỉa kinh nghiệm chuẩn bị một tình yêu thiệt sau này.

Theo nhà thơ Vũ Hữu Định thành phố Pleiku chỉ cần đi năm ba phút đã trở về chốn cũ thì Ninh Hòa của tôi chỉ cần năm ba giây mà thôi. Con đường chính của thị trấn là đường Trần Quí Cáp dài đến mức có thể đo bằng gang tay. Thị trấn bé tí tẹo như thế vậy mà tôi chưa hề gặp lại chị Tuyết sau khi chị nghĩ học. Dường như chị biến mất khỏi thế gian này. Tuổi niên thiếu của tôi bất chợt trôi qua hồi nào tôi không hề hay biết. Tôi trổ giò và bờ thành ranh giới của nhà ngoại tôi và nhà chị Tuyết không còn cao, tuy thế tôi cũng đã hết thói quen nhìn qua nhà chị. Tôi lớn lên trưởng thành đi vào cuộc chiến và trên con đường tôi đi sau này còn có nhiều câu chuyện khác nhưng cái thuở rung động đầu đời của một đứa con nít hỉ mũi chưa sạch thỉnh thoảng tìm về.

Những lúc đó tôi chỉ biết nhìn lên trời cao về phía xa …. rất xa

Quan Dương
* hình chụp từ thẻ học sinh cách đây đúng 60 năm mà tôi còn giữ tới bây giờ


CAO THỦ SÁT CÁ

Dù sao thì cũng phải cảm ơn bà hàng xóm… Tuy hay chĩa mũi vào chuyện người khác, nhưng nếu không có bà ấy thì…

Chồng tôi là một tay sát cá chính hiệu. Cứ cuối tuần nào rảnh rỗi là kiểu gì cũng phải đi đâu đó ngồi ôm cần bên bờ nước. Anh bảo làm vậy vừa để thư giãn, vừa có thời gian suy nghĩ thảnh thơi lại vừa được tụ tập với bạn bè.

Tôi thì chẳng phản đối gì! Chồng đi vắng thì mình được ngủ nướng đẫy mắt, lại khỏi phải nấu nướng vất vả. Tối đến anh mới về, người mệt bơ phờ nhưng mặt mũi thì hớn hở.

Được vài con cá nhỏ con con thôi nhưng khoe khoang thì như thể vừa bắt được cả con cá tầm khổng lồ. Thế nên tôi mới dễ tính cho qua. Cho đến một hôm.

Tôi gặp bà hàng xóm — cô Valya, một tay buôn chuyện có tiếng. Cô ta hỏi tôi với giọng mỉa mai:
– Này, thế ông chồng cưng nhà cô lại đi đâu từ sáng sớm chủ nhật thế hả?

– Anh ấy đi câu cá ạ – tôi đáp.

Cô Valya liền bĩu môi:
– Ôi dào! Bây giờ chúng nó toàn gọi thế đấy! Có bồ nhí trăm phần trăm rồi!! Còn cô thì đúng là đồ ngốc, chỉ biết ngồi nhà vểnh tai lên nghe!

Chẳng đời nào! Tôi tin chồng mình hơn cả tin bản thân!!!
Nhưng… hạt giống nghi ngờ đã được gieo xuống mất rồi.
Tóm lại, tôi quyết định bằng mọi giá phải bám đuôi theo chuyến câu cá tiếp theo để xem "con cá" mà chồng tôi "câu" mỗi cuối tuần thực chất là loại gì!!! Tôi không báo trước, đến sáng chủ nhật thì lù lù dậy cùng anh rồi đặt luôn vấn đề: em cũng đi câu. Chồng tôi giãy nảy tìm cách bàn lùi, điều đó lại càng làm tôi củng cố quyết tâm. Dù có phản đối thế nào thì cuối cùng anh cũng đành phải tha tôi đi cùng.

Chúng tôi quả thực đã đi câu cá, đi cùng hội bạn của anh. Mấy người đó kinh ngạc tột độ khi thấy chuyến đi tự nhiên lại có thêm sự góp mặt của tôi.

Đến nơi là một cái hồ tuyệt đẹp. Bình minh lên, sương giăng huyền ảo, chim cò, hoa súng — cảnh sắc đẹp không góc chết. Và câu chuyện chính thức bắt đầu từ đây.

Vì không có cần câu tử tế cho tôi, họ lục trong cốp xe ra một cây cần trúc gấp gọn cũ kỹ, buộc vào đó sợi dây cước to chảng rồi cười húc hích gài thêm cái lưỡi câu to đùng bằng ngón tay út. Họ bảo: "Lưỡi này để bắt cá lớn đấy". Rồi họ san bớt giun vào một cái hũ, hướng dẫn tôi cách giật cần. Xong xuôi, họ để tôi lại tự câu ở gần khu vực đậu xe, còn cả hội kéo nhau đi xa hơn, đến chỗ yên tĩnh của họ. Gần đó có ba ông chú địa phương cũng đang câu, có vẻ là quen cũ của chồng tôi nên anh nhờ họ ngó chừng tôi giúp.

Tóm lại, tôi mở hũ giun ra thấy chúng cứ ngoe ngoẩy nhìn phát gớm. Bộ móng tay vừa làm đẹp thế này sao mà nỡ chạm vào cái thứ bẩn thỉu đó. Tôi đành sang nhờ mấy ông chú cá kẹp giúp. Bạn phải thấy cái mặt của họ lúc tôi cầm hũ giun với cây cần câu "xịn xò" tiến lại gần. Nín cười muốn xỉu, một ông chọn con giun béo nhất móc vào lưỡi câu rồi giục tôi đi bắt cá. Họ đứng cười rúc rích mãi, tôi nghe thấy hết.

Tôi quăng dây, một lúc sau thấy động, liền giật mạnh — được một con cá bống bớp bé tẹo đúng bằng ngón tay út. Thế mà nó nuốt chửng cả con giun! Không hiểu chui vào bụng kiểu gì nữa. Nhưng tôi nhất quyết không mò sang nhờ mấy ông chú kia nữa, lại còn với cái "chiến lợi phẩm" thảm hại này nữa chứ!

Sực nhớ ra cá cũng ăn bánh mì, tôi lấy ổ bánh mì kẹp bơ chả ra, ngắt một miếng, vê thành viên tròn quay cỡ vừa cái lưỡi câu, móc vào rồi quăng xuống. Chỉ vài phút sau, cái phao của tôi từ từ chìm xuống rồi kéo dạt sang một bên. Hoảng quá, tôi giật mạnh một cái khiến con cá bay vèo khỏi mặt nước như tên lửa rời bệ phóng, vút qua đầu tôi, tuột lưỡi câu ngay trên không rồi rơi "bạch" xuống đống cỏ cách đó tầm 20 mét.

Không gian chìm vào khoảng lặng như tờ. Tôi đứng chết hửng, mấy ông chú há hốc miệng, còn con cá bị choáng cũng nằm im thin thít. Thế là tất cả cùng nhào vô tìm. Hóa ra là một con cá chép, về sau cân lên được 1,1 kg. Con cá được thả vào thùng, mấy ông chú chúc mừng tôi rồi xin ngay mấy viên bánh mì béo bở để chạy đi săn cá lớn.

Tôi lại vê tiếp một viên bánh mì khác rồi ngồi thả cần. Một lúc sau, phao lại bắt đầu dập dềnh. Tôi cố giật nhưng không nhúc nhích nổi. Cố gồng giữ lấy cái cần mà gãy luôn cả móng tay. Tôi đành kêu cứu, mấy ông chú lao sang, một ông chộp lấy cần tì lực kéo cá vào bờ, ông khác lội xuống nước dùng vợt xúc lên. Lại là một con cá chép nữa! Cân lên tới 5,6 kg, chiều dài còn vượt cả cái thùng. Tóm lại là tôi đơ người, mà mấy ông chú cũng sốc toàn tập. Họ bắt đầu hỏi dồn dập xem tôi dùng tuyệt chiêu gì. Thế là tôi đành phải chia bớt phần bánh mì kẹp…

Đến lúc chồng tôi và hội bạn quay lại, tôi đã bỏ túi thêm 2 con cá chép mỗi con cả ký và 4 con cá diếc to bự. Mấy ông chú nhờ bánh mì của tôi cũng trúng đậm toàn cá to. Trong khi đó, chồng tôi cùng nhóm bạn lững thững mang về vỏn vẹn 6 con cá diếc bé bằng lòng bàn tay.

Số cá tôi câu được thì đang giấu trong bụi cây. Mọi người cứ trêu chọc tôi, rồi thương xót cho cái móng tay bị gãy. Chồng tôi còn xỏ xiên bảo nếu tôi ở nhà thì đã không xảy ra "thảm họa" gãy móng như thế.

Và đến khi họ nhìn thấy mấy con cá chép của tôi… màn kịch câm chính thức bắt đầu, trong chớp mắt ai nấy đều thuỗn mặt tắt tiếng không thốt nên lời!!!

Tóm lại là, giờ đây tôi đã thành một tay săn cá khét tiếng. Chồng tôi thậm chí còn ghen tị với số cá tôi câu được và ghen cả với hội bạn của anh ấy nữa. Tôi đã biết tự móc giun, quay máy câu luồng, làm cá, nướng cá chép và còn biết nấu cả món cá giò nhồi thịt kiểu Do Thái nữa chứ.

Nói gì thì nói, vẫn phải cảm ơn cô Valya! Không có cô ấy thì làm sao tôi biết câu cá thú vị dường nào!

*
(LĐH* st & dịch)

ĐÔI GUỐC DƯỚI MÁI TRANH

(Theo yêu cầu, xin viết thêm phần nối tiếp truyện "Đôi Guốc Dưới Hiên Nhà". )

Mười tháng sau ngày anh rời khỏi căn nhà dưới mái hiên ấy, mùa nước nổi lại về. Bông điên điển vàng rực bờ kinh, nước lên sớm. Trong nhà ông Hội đồng Phước, người ta tất bật quét sân, lau trường kỷ, làm bánh bò, bánh da lợn. Ngày mai khách trên tỉnh về coi mắt cô Hai.

Cậu tú Nam nhà trai hơn cô gần mười tuổi, đã có một đời vợ, mất vì bệnh. Cậu có bằng tú tài Pháp, cũng thuộc người hiểu sâu học rộng. Ruộng đất, cửa hàng đều có, gia thế tương xứng.

Ông Phước tính toán đã lâu, con gái mình từng một lần lỡ dở, nay lấy được chỗ này coi như có chỗ dựa, chuyện cũ về cái thai và người chồng nghèo bỏ đi năm nào rồi sẽ chìm xuống.

Cô Hai đóng cửa phòng kín mít, ngồi bên cửa sổ, hai tay ôm lấy đôi guốc mộc cũ đã không ai nâng niu lau chùi nó suốt mười tháng. Người ta có thể quên một câu nói, quên một bữa cơm, quên cả một mùa mưa, nhưng có những việc nhỏ đến mức chẳng ai nghĩ nó đáng nhớ, vậy mà lại nằm sâu trong lòng người ta cả đời.

Cô áp đôi guốc vào ngực, nước mắt rơi xuống. Ngày mai người ta sẽ đến coi mắt cô, người ta muốn cô mặc áo đẹp, ngồi trước mặt một người đàn ông xa lạ, nghe họ nói về ruộng đất, gia sản, gia phong, rồi mỉm cười như thể không ai tốt hơn người đàn ông học thức và giàu có này. Cô sẽ không chịu nổi.

Nhớ lại ngày anh đi, cô nghĩ chỉ cần thời gian trôi qua, nỗi nhớ rồi sẽ nguôi. Nhưng mười tháng cô càng cố quên thì càng nhớ: nhớ tiếng chân anh ngoài sân, nhớ dáng anh cúi xuống bên lu nước, nhớ chiếc áo bà ba bạc màu phơi trên sào, nhớ cả cái cách anh ăn cơm rất chậm, vành chén lúc nào cũng sạch như thể anh sợ làm phiền người khác.

Có những đêm cô thức giấc giữa khuya, nhìn ra căn nhà sau nay đã trống từ lâu. Cô đã từng có một người chồng, một người chồng không phải vì cưới hỏi, một người chồng đến với cô bằng một lời hứa, rồi rời đi vì một lời hứa khác.

Cô lau nước mắt. Ngày mai cô không thể gặp người từ thành phố xuống. Cô mở chiếc rương nhỏ dưới giường, lấy ra mấy bộ quần áo đơn giản. Không mang nữ trang, không mang tiền nhiều, chỉ vài bộ đồ và ít đồ dùng của thằng nhỏ. Cô ẵm con nhìn quanh căn phòng một lần cuối rồi mở cửa.

Bà Năm đang đứng ngoài hành lang. Cô khựng lại.
“Má Năm…”

Bà nhìn cô, không hỏi gì, chỉ nhìn thật lâu như đã biết hết mọi điều trong lòng cô. Cô cúi đầu.
“Chiều nay con muốn về ngoại. Con dẫn thằng nhỏ theo. Mai con về.”

Bà Năm nghe vậy, mắt đỏ lên. Bà biết cô không về ngoại. Bà biết cô muốn đi đâu. Bà hiểu tánh cô từ lúc còn nhỏ, biết cái cách cô nhìn ra cổng mỗi chiều trong suốt mười tháng qua, biết những đêm cô khóc mà cứ nói với bà là đau đầu, biết chiếc áo cưới của người đàn ông ấy vẫn được cô gấp ngay ngắn trong đáy tủ như một thứ không ai được chạm vào.

Bà bước tới, nắm tay cô rồi nghiêm nghị nói. “Cô Hai…đi thì đi cho tới nơi. Cô đã thương người ta tới vậy mà để người ta đi mất mười tháng mới chịu đi tìm?”

Cô òa khóc, ngã vào lòng bà. Bà ôm cô như ôm một đứa con ruột. “Đi đi. Tôi lo được. Tôi sẽ nói cô về ngoại. Còn ông Hội đồng… để tôi nói.”

“Má Năm…”

“Đừng khóc. Người ta sống một đời, gặp được người mình thương đâu phải chuyện dễ.” Bà nhìn ra sân, nhìn thằng bé giọng chùng xuống. “Ừ đem nó theo. Nó cũng nhớ cha nó.”

Chiều xuống. Con đò nhỏ rời bến, mang theo hai người xuôi về con rạch nhỏ cuối làng bên.

***
Căn nhà lá của anh ở cuối rạch, mái thấp, có hàng chuối và cái lu nước bên hiên. Anh đang ngồi vá lưới cá. Nghe tiếng mái chèo, anh ngẩng lên. Tưởng người trong xóm nhưng sững lại.

Cô đứng trên mũi đò, áo bà ba tím nhạt, tóc xõa vai. Hai người nhìn nhau. Mười tháng xa cách. Anh ốm hơn. Cô cũng cũng vậy, mắt trũng sâu.

Không ai nói được gì. Rồi cô bước lên bờ, giọng vỡ ra:
"Em nhớ anh... Em đến với anh đây. Anh ơi…anh có còn nhớ mẹ con em không?"

Người đàn ông từng chịu được bao mùa nước nổi bỗng không đứng vững. Anh nhìn cô rồi chỉ thốt được trong một tiếng nghẹn: "Có."

Chỉ một tiếng đó, mười tháng chờ đợi vỡ òa. Cô lao tới ôm chầm lấy anh, mặt vùi vào ngực áo bạc màu mà khóc nức nở. Anh siết chặt lấy cô trong vòng tay run run như họ đến từ chiêm bao.

Đêm đó căn nhà lá sáng đèn. Anh nấu nồi cơm, cô xắn tay áo nhặt rau bên bếp. Không cần nói nhiều. Khuya, tiếng côn trùng rỉ rả ngoài đồng, trong nhà chỉ còn ngọn đèn dầu leo lét. Anh trải chiếu mới trên bộ ván.

Cô ngồi bên cửa, anh ngồi sau lưng, khẽ nắm lấy tay cô. Bàn tay anh thô ráp, tay cô lạnh ngắt.
"Anh có nghĩ em sẽ tới không?" cô hỏi.

"Anh luôn mơ ước có em bên cạnh, anh chỉ lo em phải chọn bên tình bên hiếu" anh nói khẽ.

Cô lắc đầu, áp tay anh lên má mình: "Em đã chọn rồi."

Anh nhìn vào mắt cô, không còn khoảng cách của hai người xa lạ từng giữ kẽ dưới một mái hiên. Anh run run vuốt tóc cô, cô ngước lên, nước mắt còn đọng trên mi.

Rồi anh cúi xuống. Nụ hôn sau mười tháng ngập ngừng rồi cháy bỏng, bao nhiêu nhớ thương dồn nén vỡ ra. Cô níu chặt lưng áo anh, đáp lại tình anh trong tiếng nức nở.

Đêm ấy, dưới ngọn đèn dầu chao nhẹ, không gian mộc mạc của căn nhà lá như ngừng trôi. Họ trao nhau những nụ hôn bắt đầu bằng e ấp, rồi lịm đi trong nồng nàn say đắm. Mười tháng đợi chờ dài đằng đẵng được bù đắp bằng tất cả sự dịu dàng và cuồng nhiệt nhất của tình nghĩa phu thê. Họ cho nhau trọn vẹn qua từng nhịp đập của hai con tim mà không cần đến danh nghĩa hay lễ nghi, bởi tâm hồn họ vốn dĩ đã hòa quyện từ rất lâu rồi.

Mờ sáng, sương trắng còn phủ mặt sông, tiếng chèo rẽ nước dồn dập vọng vào rạch. Mấy chiếc ghe lớn của nhà ông Hội đồng đã đến tìm cô.

Cô Hai giật mình tái mặt. Anh bước ra trước, che cho cô và cu Tý sau lưng, cúi đầu:
"Thưa ông Hội đồng."

Ông Hội đồng Phước đứng chết lặng trên bến khi nhìn hai đứa đứng bên nhau lo sợ. Anh dang tay che chở cô. Cô ôm con nấp sau anh lấm lét nhìn ông như 3 con nai đứng trước con cọp đói mồi.

Trên đường đi ông đã giận sôi gan. Ông định sẽ lôi con gái về. Nhưng đến nơi, ông chỉ thấy một căn nhà lá thấp lè tè, cái lu mẻ miệng. Và con gái ông, hòn ngọc ông nâng niu trong áo quần nhàu nát, tóc chưa kịp chải, lại đang nép sau lưng người đàn ông nghèo ấy, tay nắm chặt nhau không rời.

Ông nhìn người trai trước mặt. Năm xưa ông cho người đến thuê anh làm chồng một năm để giữ danh dự cho con, trả bằng ít tiền và mảnh đất cha mẹ để lại. Anh đã giữ trọn lời, giữ danh dự cho con ông. Anh làm tròn bổn phận mà không đòi hỏi, rồi khi hết hạn đã lặng lẽ rời đi, không lấy thêm gì.

Một người nghèo đến mức không dám quay lại vì sợ con gái ông khó xử. Lồng ngực người cha nghẹn lại. Bao nhiêu tính toán môn đăng hộ đối, gia phong, ruộng đất bỗng nhẹ tênh.

Mắt ông đỏ hoe, ông thở một tiếng rất dài, rồi bước tới vỗ mạnh lên vai anh: "Cậu Hai..."

Ông nhìn con gái đang khóc, giọng khàn đặc: "Ta chỉ có một mình nó là con. Cả cơ nghiệp này sau này cũng là của nó. Ta cứ tưởng cho nó chỗ giàu sang là thương nó, hóa ra người làm nó yên lòng nhất lại là cậu."

Ông ngừng lại, nhìn căn nhà lá: "Thôi ta cho hai đứa thành vợ chồng thật. Nhưng cậu phải về ở rể nhà ta. Đất của tía má cậu thì giữ lấy, đừng bán, khi nào nhớ thì về thăm."

Rồi ông hạ giọng, như dặn dò: "Còn chuyện làng xóm... cứ để người ta biết là cậu hối hận rồi trở lại với vợ, không ai thắc mắc đâu vì hai người là vợ chồng có cưới hỏi mà. Danh dự của nó, ta giữ. Còn hạnh phúc của nó... ta giao cho cậu."

Câu nói của ông Hội đồng vừa dứt, cô Hai quỳ xuống ôm chân cha, bật khóc. Bao nhiêu tủi hờn của mười tháng qua như được tháo khỏi lòng.
“Cha… con cảm ơn cha…”

Ông cúi xuống đỡ con gái, bàn tay run run vuốt mái tóc cô. Ông muốn nói nhiều lắm, nhưng cổ họng nghẹn lại. Ông chợt hiểu, tiền bạc có thể cho con một mái nhà lớn, nhưng không thể mua được một người thật lòng thương nó.

Ông nhìn sang anh đang ôm đứa bé. Anh vẫn cúi đầu, trong lòng vừa mừng vừa lo, bởi hạnh phúc đến quá bất ngờ. Anh khẽ nói:
“Dạ… con không dám hứa gì cho cô ấy. Con chỉ xin ông cho con được bên vợ con suốt đời.”

Ông Hội đồng im lặng hồi lâu rồi đáp:
“Ta không cần con hứa gì ngoài tình thương con dành cho nó suốt đời. Chỉ thế là đủ.”

Anh nghe mà mắt cay lên. Cô Hai bước tới nắm chặt tay anh. Cu Tý còn nhỏ, chẳng hiểu chuyện gì, chỉ thấy mẹ khóc nên rụt rè nắm lấy tay anh. Mười tháng trước anh ra đi một mình. Hôm nay trở về, bên cạnh đã có vợ và con.

Ông Hội đồng nhìn ba người, lòng nhẹ đi. Ông biết mình đã chọn đúng. Cả đời ông giữ được ruộng đất, nhà cửa, nhưng điều ông muốn giữ nhất vẫn là nụ cười của đứa con gái duy nhất.

Anh cúi xuống nhìn đôi guốc mộc dưới hiên. Anh nhặt lên, phủi nhẹ bụi rồi múc một gáo nước rửa sạch bùn đất dưới chân cô và đôi guốc cô ưa thích. Mười tháng trước, anh cũng từng làm như vậy. Nhưng ngày ấy là để chuẩn bị cho một cuộc chia ly. Còn hôm nay, vẫn đôi tay ấy,vẫn người đàn bà ấy… chỉ khác một điều: ngày mai không còn phải xa nhau.

Ngoài sông, sương đã tan tự bao giờ, nắng sớm đổ tràn vàng óng trên sóng nước chập trôi. Họ dìu nhau bước về phía những chiếc ghe đang chờ.

Ngoảnh nhìn lại căn nhà lá nhỏ nằm im lìm sau hàng chuối, lòng ai cũng dâng lên một nỗi bùi ngùi khó tả. Nơi ấy, đêm qua, đã ôm trọn một giấc ngủ mặn nồng, đêm đầu tiên họ thực sự thuộc về nhau bằng hai chữ "vợ chồng". Và cũng từ mảnh đất nghèo ấy, một gia đình thật đã bắt đầu ra hoa.

Tim Nguyễn
London 14/08/2026

Phiếm

Nhiều người bảo California đắt đỏ, kẹt xe, vô lý...Nhưng đó chỉ là một nữa của bức tranh…

Năm 2010, do duyên nợ, tôi trôi dạt về California sau khi lấy chồng. Lớn lên ở Georgia, chưa từng một lần tôi nghĩ mình sẽ rời xa gia đình, bạn bè, và những góc phố thân thương. Những ngày đầu, tôi chán ghét Cali vô cùng. Chưa xin được việc, mà nhìn người ta thong dong ngồi quán cà phê, quán nhậu giữa ban ngày, tôi vừa thấy chướng mắt, vừa áp lực đến nghẹt thở. Cuối cùng tôi cũng có việc làm, và dần quen lối sống nơi đây. Tôi đã làm việc quần quật 6-7 ngày một tuần để lo cuộc sống và gia đình nhỏ của mình.

Nhưng rồi COVID xuất hiện như một biến cố buộc tôi dừng lại.
Trước đó, tôi chỉ biết cắm đầu làm việc như một cỗ máy. Chính đại dịch COVID đã đưa tôi đến với thiên nhiên. Nhờ những người bạn trong nhóm hiking chỉ dẫn, nhờ AllTrails và Google, tôi dấn thân vào những cung đường rừng, những đỉnh núi lộng gió. Ngay cả những ngày độc hành, tôi vẫn thấy lòng bình yên lạ kỳ. Thiên nhiên nơi đây đã đánh thức tôi, dạy tôi biết sống trọn vẹn, chứ không chỉ là tồn tại.

Tôi muốn tranh thủ từng ngày để khám phá nơi này khi đôi chân còn khỏe, khi bản thân còn có thể dấn thân. Để rồi mai mốt khi đã già, tôi sẽ trở lại Georgia—về lại mái nhà xưa để an hưởng tuổi già, vui với cỏ cây, trồng rau nuôi cá.

Ở Georgia, tôi tích góp nhiều hơn, nhưng tâm hồn lại trống rỗng. Còn ở Cali, dù đắt đỏ, kẹt xe... tôi vẫn chấp nhận trả cái giá đó để đổi lấy những năm tháng tuổi trẻ rực rỡ, được đắm mình giữa nắng vàng, núi cao và một trái tim thực sự biết reo vui mỗi ngày.

Bạn có muốn dọn qua Cali sống thử?

Vì:
”California is for living" (California là để sống) là triết lý giải thích vì sao dù chi phí đắt đỏ, kẹt xe hay thuế cao, người ta vẫn chọn ở lại: để đổi lấy chất lượng sống mỗi ngày.
Nơi khác để tiết kiệm tiền, còn California là để trải nghiệm cuộc sống.
Thiên nhiên trong tầm tay: Biển, núi và khí hậu nắng ấm quanh năm giúp việc hiking, dạo biển hay ra ngoài trở thành thói quen hàng ngày chứ không chỉ theo mùa.
Sống trải nghiệm thay vì tích góp: Đề cao thực phẩm tươi ngon, sức khỏe tinh thần, sự tự do cá nhân và sự cân bằng giữa công việc với cuộc sống.

Mức chi phí cao không phải là gánh nặng, mà là cái giá xứng đáng để mua lại lối sống tận hưởng từng khoảnh khắc.

DALAT – NÀY CÔ EM CỦA MỘT THỜI THƯƠNG NHỚ

Chiều nay, Dalat sắp vào thu.
Mùa hạ dường như chưa muốn đi hẳn. Nắng vẫn còn vương trên những ngọn thông phía đồi Cù, nhưng đã nhạt màu, không còn cái óng ả của những ngày tháng Sáu, tháng Bảy. Trên cao, mây bảng lảng trôi, từng cụm trắng xám chậm chạp soi bóng xuống mặt hồ Xuân Hương. Gió từ phía hồ thổi lên, se se, mang theo chút hơi nước và mùi cỏ ẩm của một mùa mưa chưa dứt.

Tôi đi chậm bên công viên ven hồ.
Tuổi này rồi, chẳng còn việc gì phải vội. Một buổi chiều đẹp, chỉ cần còn đủ sức bước ra khỏi nhà, còn nhìn thấy mây bay, thấy mặt hồ yên, nghe tiếng thông reo đâu đó, đã là một niềm vui.
Và chính trong buổi chiều cuối hạ ấy, từ đâu đó trong công viên bỗng vang lên một giai điệu cũ.
Tôi đứng lại.
Không cần nghe hết câu hát, tôi đã nhận ra.
Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ…”
Chỉ mấy tiếng ấy thôi, hơn nửa thế kỷ bỗng quay về.

Có những bài hát lạ lắm. Ta tưởng mình đã quên từ lâu. Năm tháng phủ lên đời người biết bao nhiêu lớp bụi: công việc, gia đình, những cuộc gặp gỡ rồi chia xa, những vui buồn, được mất. Vậy mà chỉ cần vài nốt nhạc cất lên, lớp bụi thời gian bỗng được ai khẽ phủi đi. Phía dưới vẫn còn nguyên một khuôn mặt, một con đường, một quán cà phê và cả một chàng trai trẻ mà chính ta cũng ngỡ không còn gặp lại.

Tôi nhớ những năm đầu thập niên 1970.
Ngày ấy tôi còn trẻ.
Dalat cũng còn trẻ trong mắt tôi.
Phố chưa đông. Xe cộ chưa chen chúc. Những con đường dốc quanh co còn nhiều khoảng lặng. Buổi sáng có sương, chiều xuống rất nhanh và đêm về thường lạnh. Thanh niên chúng tôi thích tìm vào những quán cà phê nhỏ, gọi một ly cà phê rồi ngồi rất lâu.
Cà phê ngày ấy đâu chỉ để uống.
Người ta vào quán còn để nghe nhạc.
Có khi một bản nhạc vừa cất lên, cả câu chuyện quanh bàn tự nhiên nhỏ lại. Người đang khuấy cà phê cũng ngừng tay. Người đang nhìn ra cửa sổ cứ để ánh mắt mình trôi theo mưa. Chúng tôi nghe nhạc bằng tất cả sự say mê của tuổi trẻ, cái tuổi mà một câu hát cũng đủ làm lòng xao động suốt cả buổi chiều.
Và tôi đã nghe “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ” của Phạm Duy trong những buổi cà phê như thế.
Tôi thích nhất hình ảnh cô gái có mái tóc " À la garçonne".
Hai tiếng ấy nghe rất Pháp, rất thời chúng tôi.
À la garçonne – kiểu tóc ngắn, gọn, trẻ trung, có chút tinh nghịch, có chút mạnh mẽ. Giữa một thời mà hình ảnh người con gái thường gắn với mái tóc dài, tà áo mềm và vẻ dịu dàng kín đáo, cô gái tóc " À la garçonne " bước ra như một nét chấm phá khác thường.
Tôi vẫn thường hình dung cô gái trong bài hát đang đạp xe trên một con đường Dalat.
Có thể là một buổi chiều như chiều nay.
Chiếc xe đạp nhỏ lăn chầm chậm xuống con dốc. Cô mặc áo len mỏng, mái tóc ngắn lay nhẹ trong gió. Khuôn mặt trẻ, nụ cười ngây thơ, đôi mắt có chút gì vừa hồn nhiên vừa bao dung.
Và ở một góc đường nào đó, có một chàng trai đứng nhìn.
Chàng chẳng dám nói gì.
Tuổi trẻ ngày xưa nhiều khi yêu như thế.
Chỉ một ánh mắt cũng đủ nhớ. Một nụ cười cũng đủ mang về nhà. Một lần vô tình đi ngang nhau cũng đủ để chiều hôm ấy bỗng trở nên đẹp hơn những buổi chiều khác.
Tình yêu chưa cần phải gọi tên.
Chỉ cần biết rằng hôm nay cô ấy đã đi ngang con đường này.
Thế là vui.
Có lẽ vì vậy mà câu hát:
Cô có tình cờ, nhìn thấy anh không?”
nghe vừa ngây ngô, vừa dễ thương.
Chàng trai đâu hỏi: Cô có yêu anh không?
Chỉ hỏi: Có nhìn thấy anh không?
Nhưng đôi khi, với một người đang si tình, được người mình thương nhìn thấy đã là hạnh phúc rồi.
Tôi mỉm cười khi nghĩ như vậy.
Bởi chúng tôi ngày ấy cũng từng ngốc nghếch như thế.
Có khi đi vòng thêm một con đường chỉ mong gặp một người. Có khi vào đúng một quán cà phê vì biết chiều thứ Bảy người ấy thường ngồi đó. Có khi đang đi xe, thấy một tà áo quen quen phía trước liền đạp nhanh hơn, rồi khi đến gần lại giả vờ như chẳng có chuyện gì.
Tuổi trẻ có những điều buồn cười mà đẹp.
Bây giờ nghĩ lại, chính những điều ngốc nghếch ấy làm nên hương vị của một thời.

Nhưng bài hát không chỉ có sự tinh nghịch của một chàng trai si tình.
Ẩn sau nụ cười, mái tóc ngắn và chiếc xe đạp của cô gái là một nỗi niềm khác. Chàng trai trong ca khúc dường như mang trong lòng nhiều bất an, nhiều mặc cảm, nhiều giận hờn với cuộc đời. Anh tìm đến cửa chùa, rồi tìm qua giáo đường. Anh ví mình như kẻ còn mang “tội gốc”, như một sinh linh lạc bước mong được chở che.
Và cuối cùng, giữa những phức tạp ấy, điều anh cần dường như chỉ là một ánh mắt bao dung.
Ánh mắt của cô gái.
Một người có thể giận cả cuộc đời, nhưng đôi khi lại mềm lòng trước một nụ cười.
Một người có thể thấy mình lạc lõng giữa đám đông, nhưng chỉ cần một người nhìn mình bằng ánh mắt cảm thông, bỗng thấy cuộc đời vẫn còn nơi để trở về.
Tôi nghĩ đó là điều khiến bài hát ở lại lâu đến vậy.
Nó không chỉ kể một cuộc tình.
Nó kể nỗi cô đơn của tuổi trẻ.
Mà tuổi trẻ nào chẳng từng có đôi lần cô đơn?
Ngày ấy, chúng tôi ngồi trong quán cà phê Dalat, nghe câu hát ấy, có lẽ mỗi người đều âm thầm tìm cho mình một “cô em tóc À la garçonne”.
Có người đã gặp.
Có người chỉ tưởng tượng.
Có người thương mà không dám nói.
Có người nói rồi lại chẳng đi cùng nhau được hết con đường.
Sau đó, cuộc đời đưa mỗi người về một phía.
Người lập gia đình.
Người rời Dalat.
Người đi thật xa.
Có những người bạn thuở ấy đến hôm nay không còn nữa.
Những quán cà phê cũ cũng đổi thay. Một vài con đường vẫn còn tên đó nhưng cảnh vật đã khác. Những chiếc xe đạp của nữ sinh ngày nào đã thưa dần giữa phố đông xe máy, ô tô. Mái tóc À la garçonne từng khiến một thế hệ thanh niên xao xuyến nay đã trở thành một nét thời trang cũ nằm lại trong ký ức.
Chỉ có âm nhạc dường như không già.
Chiều nay, hơn nửa thế kỷ sau, bài hát ấy vẫn vang bên hồ Xuân Hương.
Tôi đứng đây, tóc đã bạc.
Còn chàng trai ngày trước?
Hình như vẫn đứng đâu đó trong tôi.
Chỉ cần âm nhạc gọi đúng tên ký ức, chàng trai ấy lại trở về. Vẫn đôi mắt ấy, vẫn ly cà phê ấy, vẫn biết xao xuyến khi nhìn một cô gái tóc ngắn đi ngang ngoài cửa kính.
Thời gian thật kỳ lạ.
Nó làm già một khuôn mặt nhưng không nhất thiết làm già một kỷ niệm.

Mặt hồ Xuân Hương chiều nay gần như không gợn sóng. Mây trên cao soi xuống mặt nước thành những vệt mơ hồ. Bên kia hồ, hàng thông đứng im trong nắng nhạt. Vài người trẻ đang đi bộ. Một đôi trai gái ngồi bên nhau trên ghế đá. Cô gái cúi nhìn điện thoại, chàng trai nói điều gì đó rồi cả hai cùng cười.
Tôi nhìn họ và chợt thấy vui.
Mỗi thời có một cách yêu.
Ngày trước chúng tôi chờ nhau bên góc phố, viết thư tay, nghe nhạc trong quán cà phê. Bây giờ người trẻ có điện thoại, có những cách gặp gỡ nhanh hơn. Nhưng có lẽ trái tim thì vẫn vậy.
Vẫn mong một người nhìn thấy mình.
Vẫn mong giữa đám đông có một ánh mắt dừng lại lâu hơn một chút.
Vẫn mong được thương.
Tôi bỗng hiểu vì sao cuối bài hát, điều chàng trai mong mỏi lại giản dị đến thế: hãy nhìn anh cho rõ trước khi nhìn theo đám đông.
Một lời nhắn nghe qua tưởng nhẹ nhàng mà nghĩ kỹ lại thấy buồn.
Con người thường dễ nhìn một người bằng con mắt của thiên hạ. Đám đông bảo người ấy thế nào, ta dễ tin như thế. Nhưng tình thương chân thật bắt đầu từ khi ta chịu nhìn một con người bằng chính đôi mắt của mình.
Có lẽ bởi vậy, trong bài hát, đôi mắt cô gái không chỉ đẹp.
Đó là “mắt trời bao dung.”
Hai chữ bao dung khiến bài hát vượt khỏi một câu chuyện si tình.
Ai sống đủ lâu rồi cũng hiểu:
-Trên đời, thông minh chưa chắc làm người ta gần nhau; đúng sai nhiều khi cũng chưa đủ để giữ một mối tình, một tình bạn. Cuối cùng, điều khiến người ta có thể ngồi lại với nhau thường chỉ là sự cảm thông và bao dung.
Tôi đã đi gần hết một đời người mới càng thấm điều ấy.
Tuổi trẻ thường muốn phân định đúng sai.
Tuổi già chỉ mong lòng mình được nhẹ.
Ngày trước nghe bài hát, tôi chú ý đến cô gái tóc À la garçonne.
Hôm nay nghe lại, tôi lại nhớ nhiều hơn đến ánh mắt bao dung của cô.
Thì ra cùng một bài hát, nhưng ở mỗi tuổi đời, ta nghe bằng một trái tim khác.
Giai điệu trong công viên đã gần hết.
Chiều cũng đang xuống.
Một lớp mây mỏng trôi qua phía đồi, ánh nắng cuối ngày rơi nghiêng trên mặt hồ thành một vệt vàng nhạt. Gió bắt đầu lạnh hơn. Tôi kéo nhẹ cổ áo rồi tiếp tục bước.
Bất chợt một cô gái trẻ đạp xe ngang qua.
Mái tóc cô cũng ngắn.
Tôi nhìn theo, rồi bật cười một mình.
Dĩ nhiên đó không phải “cô em Bắc Kỳ nho nhỏ” của hơn năm mươi năm trước.
Nhưng trong một khoảnh khắc, tôi lại thấy Dalat của tuổi hai mươi.
Thấy một con đường chiều đầy gió.
Thấy cửa quán cà phê mờ hơi sương.
Thấy chiếc máy hát đang quay.
Thấy những người bạn trẻ ngồi quanh chiếc bàn nhỏ.
Và thấy chính mình ,một chàng trai chưa biết cuộc đời phía trước sẽ dài đến đâu, chỉ biết rằng chiều hôm ấy có một bài hát rất hay, một cô gái có mái tóc À la garçonne rất đẹp, và trái tim mình còn đủ trẻ để bâng khuâng vì một ánh mắt.
Hơn nửa thế kỷ đã qua.
Mùa hạ năm nào đã đi rất xa.
Nhưng chiều nay, bên hồ Xuân Hương, mùa thu đang đến thật chậm. Mây vẫn bảng lảng trên trời Dalat. Gió vẫn lang thang qua những hàng thông. Và từ một nơi nào đó, câu hát cũ như còn theo tôi trên con đường về.
Tôi chợt nghĩ: đời người rồi cũng như một bản nhạc.
Có đoạn vui, đoạn buồn. Có những nốt tưởng đã chìm mất giữa năm tháng, nhưng một ngày nào đó lại bất ngờ ngân lên.
Khi ấy, ta mới biết ký ức chưa bao giờ mất.
Nó chỉ ngủ yên.
Chờ một buổi chiều cuối hạ.
Chờ một làn gió trên hồ Xuân Hương.
Chờ một mái tóc ngắn vô tình đi qua.
Và chờ một câu hát cũ khẽ gọi:
Này cô em…
Thế là cả một thời tuổi trẻ trở về.
Tôi bước chậm dưới những hàng cây ven hồ. Phía sau, giai điệu đã tắt từ lâu. Nhưng trong lòng tôi, dường như bài hát vẫn còn.
Và Dalat chiều nay bỗng trẻ lại.
Còn tôi, trong một khoảnh khắc rất ngắn của đời người, cũng thấy mình trẻ lại theo Dalat./.

Tuesday, August 18, 2026

VÌ SAO NGƯỜI Ý RẤT “KHÓ TÍNH” KHI NÓI VỀ ĐỒ ĂN?

Stanley Tucci đã đi qua nhiều vùng của nước Ý để làm Searching for Italy. Càng đi, ông càng thấy một chuyện rất rõ: người Ý ít khi nghĩ về đồ ăn theo kiểu chung chung là “ẩm thực Ý”. Họ thường nghĩ trước tiên đến món ăn của Roma, Napoli, Bologna, Firenze, Genova, Palermo, Calabria hay Sicilia. Mỗi nơi có nguyên liệu và cách nấu riêng, và người địa phương thường bảo vệ cách làm của quê mình rất quyết liệt.

Lý do nằm khá nhiều trong lịch sử. Nước Ý chỉ thống nhất vào năm 1861. Trước đó, bán đảo này trong nhiều thế kỷ được chia thành các vương quốc, công quốc, cộng hòa và lãnh địa khác nhau. Người dân nói những phương ngữ khác nhau, sống trong điều kiện khí hậu khác nhau và ăn những gì có sẵn quanh nơi mình sống. Giao thông chưa thuận tiện, thực phẩm không thể đi hàng trăm kilomet dễ dàng như ngày nay, nên mỗi vùng tự hình thành một căn bếp riêng.

Miền Bắc có nhiều bơ, gạo, polenta và phô mai. Xuống Tuscany, dầu ô liu, đậu, bánh mì, thịt và pecorino xuất hiện thường xuyên hơn. Roma có guanciale, pecorino romano và những món pasta rất rõ nguyên tắc. Miền Nam có durum wheat, cà chua, cà tím, olive, ớt và hải sản. Sicilia lại mang thêm ảnh hưởng của người Ả Rập, Norman và Tây Ban Nha, nên trong cùng một căn bếp có thể gặp cá mòi, fennel hoang, nho khô, hạt thông, hạnh nhân, pistachio và citrus.

Bởi vậy khoảng cách vài chục kilomet đôi khi đã đủ để một món thay đổi. Ở Bologna, ragù thường ăn với tagliatelle trứng chứ không phải spaghetti như phiên bản phổ biến ở nhiều nước. Đến Roma, carbonara truyền thống xoay quanh trứng, guanciale, pecorino romano và tiêu đen; cho kem vào là dễ gặp phản ứng ngay. Ở Genova, pesto gắn với basilico, pinoli, tỏi, phô mai và dầu ô liu. Đến Napoli, chuyện bột bánh, cà chua, mozzarella và cách nướng pizza cũng có những quy tắc riêng.

Có những cuộc tranh luận còn nhỏ hơn nữa. Sang Sicilia, chỉ riêng món cơm chiên nổi tiếng đã có chuyện gọi là arancina hay arancino. Palermo quen với arancina, trong khi phía Catania thường nói arancino. Hai thành phố cùng nằm trên một hòn đảo mà đã có thể tranh luận về tên của một món ăn.

Tucci nhận ra rằng sự “territorial” ấy không hẳn là chuyện người Ý ghét thay đổi công thức. Đầu bếp vẫn sáng tạo và người Ý vẫn ăn món mới. Điều khiến họ khó chịu thường là khi một phiên bản đã thay đổi khá nhiều lại được giới thiệu như công thức truyền thống của quê họ. Bạn có thể làm carbonara theo cách của mình, nhưng nếu gọi nó là “carbonara Roma chính thống”, một người Roma sẽ bắt đầu kiểm tra xem trong chảo của bạn có gì.

Và rồi còn một cấp độ nhỏ hơn vùng miền: gia đình. Người Bologna có thể thống nhất rằng ragù thuộc về Bologna nhưng hai gia đình sống cùng phố vẫn tranh luận xem cho bao nhiêu cà chua, dùng loại thịt nào hay phải nấu bao lâu. Công thức của mẹ, của bà ngoại thường trở thành chuẩn mực riêng. Khi một người nói “mẹ tôi không bao giờ nấu như vậy”, câu chuyện gần như đã đi ra khỏi sách dạy nấu ăn.

Stanley Tucci hiểu khá rõ cảm giác này. Ông sinh ra ở Mỹ trong một gia đình người Mỹ gốc Ý, với nguồn gốc gia đình từ Calabria. Qua những cuốn sách như Taste: My Life Through Food, What I Ate in One Year và các chuyến đi khắp nước Ý, ông thường nhìn đồ ăn qua mối liên hệ với gia đình và nơi chốn. Một món ăn có thể kéo theo câu chuyện về người đã nấu nó, căn bếp nơi nó được ăn lần đầu và vùng đất sản sinh ra nguyên liệu.

Vì thế câu “ẩm thực Ý” thực ra chỉ là một chiếc ô rất rộng. Bên dưới nó là hàng chục nền ẩm thực vùng miền và hàng nghìn cách nấu của từng địa phương, từng gia đình. Pizza Napoli không đại diện cho cả nước Ý, pesto Genovese cũng vậy, carbonara của Roma hay ragù của Bologna cũng vậy.

Có lẽ cách dễ nhất để hiểu chuyện này là khi ngồi ăn cùng một người Ý, thay vì hỏi “Người Ý nấu món này thế nào?”, hãy hỏi “Ở quê bạn người ta nấu món này thế nào?”

Khả năng cao bạn sẽ nhận được một câu trả lời rất dài. Và nếu trên bàn có thêm một người Ý đến từ vùng khác, cuộc tranh luận có thể kéo dài đến hết bữa.

Nguyen Khac Can

Starlink internet của Elon Musk chính thức triển khai ở Việt Nam

5 ngày trước, Starlink internet của Elon Musk chính thức khai triển ở Việt Nam, dù mới ở giai đoạn thí điểm có kiểm soát, kéo dài đến trước ngày 1/1/2031, như vậy người dân Việt đã có thể bắt đầu đặt mua dịch vụ này, dù giới hạn tối đa chỉ là 600.000 thuê bao.

Theo đó, SpaceX được phép sở hữu 100% (hiếm có ở ngành viễn thông Việt Nam), với cơ sở hạ tầng là 4 trạm gateway ban đầu đặt tại Phú Thọ, Đà Nẵng, Sài Gòn và dự kiến mở rộng thêm, nếu chính quyền chấp thuận.

Giá cả dịch vụ mà SpaceX công bố như sau: Thuê bao gia đình hiện có thể đặt qua trang web cho gói dịch vụ gia đình với giá khởi điểm từ 1,13 triệu VNĐ ($43 USD) mỗi tháng, cho tốc độ đến 100 Mbps, gói cước cao hơn sẽ là 1,71 triệu đồng/tháng (≈ $65–66) cho tốc độ trên 400 Mbps; cộng thêm chi phí thiết bị là 8,66 triệu VNĐ.

Như vậy, Việt Nam trở thành thị trường thứ sáu tại Đông Nam Á có dịch vụ Starlink, gia nhập danh sách cùng với Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Đông Timor, theo bản đồ vùng phủ sóng của Starlink.

Khi đọc thấy giá cước và chi phí thiết bị, nhiều người đã giẫy nẩy lên và so sánh với giá thuê bao cáp quang hay 4G/5G của Viettel, VNPT, MobiFone... Tuy nhiên, Starlink chủ yếu phục vụ vùng sâu, vùng xa, hải đảo, tàu biển, máy bay và là phương án dự phòng khi xảy ra thiên tai (bão, lũ) hết sức quan trọng, thậm chí thiết yếu đối với vị trí địa lý của Việt Nam.

Tôi mới đọc được một bài phân tích rất hay về vấn đề này, xin phép chia sẻ cùng quý vị:

"Starlink chính thức mở bán tại Việt Nam với mức giá hơn một triệu đồng mỗi tháng, chưa kể gần mười triệu tiền thiết bị ban đầu. Mà tốc độ thì thua cả gói cáp quang hai trăm nghìn.

Nhiều người đọc tin xong thấy khó hiểu. Vì sao họ bước vào thị trường Việt Nam với mức giá và chất lượng nghe qua có vẻ thiệt thòi đến thế, và liệu an ninh thông tin có được đảm bảo khi người dân nối internet qua vệ tinh của một tư nhân nước ngoài? Có điều Elon Musk là người giàu nhất hành tinh, còn Việt Nam thì nằm trong nhóm quốc gia kiểm soát an ninh chặt nhất thế giới, nên ở đây không có ai ngây thơ cả.

Phải bắt đầu từ chỗ quan trọng nhất, là nhu cầu.

Việt Nam hiện có hơn 1.400 tàu biển thương mại, gần 28.500 tàu cá xa bờ, cộng giàn khoan và tàu kiểm ngư, tính tròn là ba mươi nghìn điểm lênh đênh trên biển mỗi ngày. Một người đi tàu viễn dương ký hợp đồng sáu tháng, có khi chín tháng, mà suốt từng ấy thời gian, liên lạc với nhà chỉ là mấy dòng tin nhắn tính tiền theo ký tự. Khảo sát của Đại học Yale nói thẳng rằng tàu nào có mạng thì thuyền viên gắn bó với nghề lâu hơn.
Con số đó giải thích một chuyện ngành hàng hải trong nước than mãi mấy năm nay, là thiếu thuyền viên lành nghề, mà lương không phải lý do duy nhất. Một người trẻ nhìn vào sáu tháng mất liên lạc với vợ con rồi chùn tay, đó là chuyện thường tình. Cùng nhóm nhu cầu ấy còn có công trường giữa rừng và mấy xã đảo mà cáp ngầm chưa với tới.

Nhưng phải nói cho công bằng: những chỗ đó lâu nay không hề mù thông tin, họ vẫn có mạng vệ tinh, chỉ là loại cũ. Vệ tinh địa tĩnh đời cũ neo cách mặt đất 36.000 km, nhắn một tin xong phải thở một hơi bên kia mới nhận được, tốc độ chỉ 0,3 - 6 Mbps tức là chậm hơn cả 3G, mà giá thì từ 5 tới 20 triệu một tháng.

Vệ tinh đời mới bay ở 550 km, gần hơn tới sáu chục lần, nên độ trễ chỉ còn hai tới năm phần trăm giây, ngang đường mạng trong nhà, và tốc độ vượt 100 Mbps. Giá chia làm hai loại. Loại trên đất liền, gói hộ gia đình 1.131.990 đồng một tháng cho 100 Mbps không giới hạn dung lượng. So với công nghệ vệ tinh địa tĩnh hiện tại thì đúng là một trời một vực.

Đây không còn là cạnh tranh nữa mà là xoá sổ. Người ta không giành khách của hệ thống cũ, người ta làm cho hệ thống cũ hết lý do tồn tại.

Còn gói thứ hai cho thuyền đi biển là 7,2 triệu một tháng. Với tàu vận tải thì rẻ, nhưng với tàu cá của một gia đình thì có trả được không? Chỗ này lại phải hiểu cách người Việt đi biển. Tàu cá xa bờ không đi lẻ mà đi theo tổ đội, mỗi tổ có một tàu dịch vụ hậu cần đi kèm, chở dầu và đá lạnh ra tiếp rồi thu mua hải sản chở về bờ, và một tàu hậu cần như vậy phục vụ được từ 30 tới 35 tàu cá. Chỉ cần chiếc tàu ấy lắp thiết bị, chia đầu người ra thì tiền internet mỗi tàu cá còn khoảng hai trăm nghìn một tháng, bằng đúng gói cáp quang ở nhà.

Có sóng rồi thì bán cá xong quét mã chuyển khoản ngay trên biển, hết cảnh mang tiền mặt ra khơi hay ghi sổ nợ chờ về bờ mới thanh toán.

Nhưng đó mới là phần dễ thấy, vì phần lớn hơn nằm ở chỗ đường truyền mở ra cho máy móc chứ không riêng cho người. Một con tàu có kết nối thật là một con tàu biết nói. Cảm biến dưới nước báo nhiệt độ và độ mặn về bờ, máy chủ đối chiếu dữ liệu nhiều năm rồi chỉ ra vùng nào đang có cá, tàu chạy thẳng tới đó thay vì dò dẫm tốn dầu. Nhật ký khai thác ghi thẳng lên hệ thống theo thời gian thực, gỡ đúng chỗ khó nhất của câu chuyện thẻ vàng thuỷ sản mấy năm nay.

Sâu hơn nữa, hàng chục nghìn phương tiện hoạt động ngoài khơi mà có kết nối liên tục thì mỗi chiếc là một điểm quan sát, và cả vùng biển vốn trắng thông tin nay hiện lên thành dữ liệu chạy về bờ theo thời gian thực. Giữ đất, giữ biển, giữ trời trước hết là biết chuyện gì đang xảy ra ở đó.

Giờ quay lại câu hỏi lúc đầu, câu về an ninh. Chữ "vệ tinh" khiến nhiều người tưởng dữ liệu bay lơ lửng trên trời, ngoài tầm với của luật pháp, mà thật ra không phải vậy. Vệ tinh chỉ làm đúng việc của một tấm gương, nhận sóng từ cái chảo dưới đất rồi hắt xuống một trạm mặt đất khác, và muốn hoà vào internet thế giới thì mọi gói tin đều phải đáp xuống đất, chui vào một trạm cổng, rồi đi tiếp bằng cáp quang biển. Trạm ấy chính là chỗ thắt cổ chai, không có nó thì tín hiệu trên trời mãi chỉ là tín hiệu.

Việt Nam cấp phép cho đúng bốn trạm: một ở Phú Thọ, một ở Đà Nẵng, hai ở Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Reuters, phía SpaceX từng tính tới mạng lưới mười lăm trạm. Nhưng chỉ được duyệt thí điểm 4 trạm.

Kèm theo là một loạt điều kiện: phải lập công ty tại Việt Nam, thí điểm có thời hạn kết thúc trước năm 2031, trần 600.000 thiết bị, trạm phía Nam đặt trong một trung tâm dữ liệu do doanh nghiệp Việt Nam vận hành. Đọc hết bộ điều kiện ấy mới thấy nể người ngồi bàn đàm phán.

Ta không cấm, mà cũng không mở toang, cho họ vào để mình tiếp cận được công nghệ tốt nhất nhưng luôn giữ đoạn thắt cổ chai để khi cần thì siết lại ngay. Muốn phục vụ đông hơn, họ phải xin trạm thứ năm, mà xin trạm thứ năm thì lại phải ngồi vào bàn thêm một lần nữa.

Vũ trụ thì chưa nước nào kiểm soát được. Nhưng chỗ tín hiệu buộc phải đáp xuống thì kiểm soát được, và ta đã thiết kế xong từ trước khi đặt bút ký."

Tác giả: Trần Duy Hùng


Blog Archive