Nhớ Ba
Tấm hình này cũ lắm rồi, màu đã ngả sang vàng, vậy mà hai người đàn ông trong đó thì vẫn còn ngồi nguyên chỗ cũ, chưa ai chịu đứng dậy. Người mặc áo trắng là ba tui. Người ngồi kế bên, tui kêu bằng dượng Ba. Chụp trước nhà bà Năm Lợi, ngay quán cà phê của ông Bảy Thép.
Ngộ một điều, cách kêu nhau giữa hai nhà này tréo ngoe hết biết. Vợ dượng Ba thì tui cứ tỉnh bơ kêu bằng chị Chung. Mấy đứa con chị Chung lại kêu ba tui bằng ông Ba, rồi quay qua kêu chị em tui bằng anh, bằng chị. Trật vai trật vế vậy mà có ai buồn sửa đâu. Hàng xóm với nhau chớ bà con ruột rà gì mà phải cho đúng phép. Sau này lớn lên tui mới hiểu, cái kiểu kêu lộn xộn đó không phải vì người ta ẩu, mà vì người ta thân quá, thân tới mức không cần một cái tên cho đúng chuẩn mới chịu thương nhau.
Dượng Ba không phải người gốc trong này. Dượng theo cha từ ngoài Bắc vô Sài Gòn, hồi đất nước còn chưa chia đôi hẳn. Rồi chiến tranh, rồi cha dượng mất, dượng còn lại một mình giữa cái thành phố lạ hoắc, không họ hàng, không chỗ dựa. Dượng học nghề may mui nệm, quen biết với ba của chị Chung. Ông thấy cái thằng nhỏ làm công này thiệt thà, tay chân lanh lẹ, chịu khó không than, nên mới ngỏ ý gả con gái. Vậy là dượng có vợ, có nhà, có một chỗ để gọi là của mình, sau bao nhiêu năm trơ trọi giữa Sài Gòn.
Nghề chính của dượng sau này là lái xe, nhiều chuyến phải đi dài ngày, có khi cả tuần không về. Những lúc đó, vợ chồng chú thím Hai - anh chị bên vợ - hay chạy qua chạy lại, ngó chừng ba đứa con gái ở nhà một mình. Cái xóm nhỏ hồi đó sống với nhau kiểu vậy, không ai nói ra thành lời, nhưng nhà này thiếu người là nhà kia tự động bù vô, không cần nhờ.
Cũng chính hai người đàn ông đó, những ngày ở nhà, lọt tọt đạp xe đạp chở hai đứa con gái - bé Ba nhà dượng với tui - qua bệnh viện Nhi Đồng 2 để cắt amidan. Có lần hai ông cha phải đi làm không xin nghỉ được. Tui lúc đó 14 tuổi dắt bé Ba 8 tuổi đi khám tiền phẫu. Khám xong, lội bộ ra đường Cường Để đón xe lam về Thị Nghè. Vừa băng qua đường thì cặp mắt cú vọ của bé Ba phát hiện chiếc xe tải của dượng đang trờ tới. Nó vặn hết volume, hét gọi ba. Giữa cái ồn ào phố xá, khói xe, tiếng còi - vậy mà dượng nghe được. Xe tấp vô lề. Bé Ba chạy tới, hai cha con nói với nhau cái gì đó, tui đứng xa không nghe rõ. Rồi dượng chạy xe đi tiếp, còn hai đứa tui leo lên xe lam về nhà.
Tui nhớ hoài cảnh đó mà hồi nhỏ đâu biết vì sao mình nhớ dai đến vậy. Giờ nghĩ lại mới hiểu - giữa trăm tiếng ồn của một buổi trưa Sài Gòn, chỉ có tiếng con mình kêu là người cha nghe lọt.
Gia đình dượng không phải lúc nào cũng êm. Có những năm tháng khó khăn, cực nhọc, chuyện nhà chuyện cửa dồn hết lên vai một người đàn ông ít nói. Dượng không than với ai, chỉ lặng lẽ gánh, lặng lẽ đi làm, lặng lẽ nuôi ba đứa con gái lớn lên. Rồi sức khỏe dượng yếu dần, bụng bắt đầu trướng, da bắt đầu đổi màu. Không ai nói ra bệnh gì, chỉ biết là bệnh gan, và bệnh gan thì không đợi ai.
Nhà tui ai cũng thương dượng. Một người đàn ông bộc trực, nói ít làm nhiều, thương con hết mực, sống cả đời không biết màu mè giả tạo là gì. Ba đứa con gái từ bữa đó phải tự lo cho nhau, thiếu cha từ quá sớm. Vậy mà đứa nào cũng nên người, cũng cơm no áo ấm. Chắc dượng ở đâu đó vẫn còn đưa tay ra hộ độ đám con côi cút.
Có một cái Tết nhà tui với nhà của dượng hùn nhau gói bánh tét. Ba tui với dượng làm thợ chính, tay trải lá, tay đong nếp, đòn bánh chặt cứng tròn vo không cần thước mà đòn nào cũng y đòn nấy. Bầy con nít tụi tui được giao cái việc nghe oai lắm: canh nồi bánh. Nói canh cho sang, chớ thiệt ra là ngồi chụm lửa, hít khói, mắt cay xè, nghe pháo nổ là chạy đi coi, sợ bỏ lỡ cái đêm vui nhứt năm.
Hai người đàn ông đó giờ chắc đã gặp lại nhau ở một nơi nào rất xa, tiếp tục ngồi kể cho nhau nghe chuyện vui buồn của một đời người. Còn bên này, tui ngồi soạn lại đống hình cũ, lật tới lật lui, rồi khựng lại ở tấm này.
Ba ơi, dượng Ba ơi, qua bên đó có còn gói bánh tét không vậy? Bên này con tìm mãi, mà đòn bánh tét ngày xưa không tìm ra
Hong Khuu