Friday, August 21, 2026

Hảy là nam chính....

Chuyện cô gái người Mỹ gốc Việt đi chơi với hội bạn, cùng nhau thuê 1 căn airbnb và rồi khi nằm ngủ 1 mình trong phòng không khoá cửa đã bị hd bởi 1 thằng oắt đi chung làm dấy lên nghi vấn có thể hội bạn đã thông đồng để chuyện đó xảy ra. Điều này có thể sẽ không bao giờ chứng minh được là có hay không nhưng từ kinh nghiệm cá nhân của mình, 1 cô gái đi chung với 1 nhóm bạn đông sẽ luôn an toàn nếu trong nhóm có những người bạn thật sự quan tâm và muốn bảo vệ cô gái đó.

Mình lúc nào cũng có nhiều bạn là con trai hơn con gái, nên rất nhiều lần mình đi chơi với 1 nhóm mà chỉ có mình là đứa con gái duy nhất. Thời ấy còn trẻ và ngây thơ, chơi với bạn, tin tưởng bạn nên không 1 lần mình mảy may lo lắng điều gì. Bây giờ có tuổi, đôi khi ngồi ngẫm lại, tự nhận thấy bản thân quả thật đã rất may mắn hơn người khác khi không 1 lần nào có chuyện xấu xảy ra với mình. Tại sao, vì luôn có người bảo vệ mình kế bên.

Khi gần hết năm lớp 10, 1 cậu bạn trong lớp làm party mời đám cúp học qua nhà chơi. Thời đó, dù mình làm lớp trưởng nhưng mình cúp tiết như điên nên tất nhiên mình chơi rất thân với nhóm đó. Trong nhóm có con trai mình (chơi thân đến mức nó gọi mình là má và nó là con) và vài người bạn nam khác mà mình cũng đặc biệt thân, hay qua nhà mình nấu nướng ăn uống. Cậu host thì từng được mình làm mai nhỏ bạn thân cho, nên quan hệ mình và cậu ấy gắn kết đặc biệt hơn những bạn khác 1 chút. Nói chung nguyên đám thân như vậy rủ mình qua chơi, dẫu có thêm vài bạn mình không thân lắm tham gia vẫn không hề làm mình lo lắng chút gì.

Lúc mình tới nơi, mọi người đã uống ngà ngà say rồi, nhưng phần đông vẫn tỉnh táo đủ để vẫn nói chuyện chọc nhau, khùng với nhau như mọi ngày. Mình là đứa con gái duy nhất ở đó, bọn nó tắt đèn, mở nhạc sàn giật đùng đùng, uống bia, giỡn với nhau. Mình ra ban công đứng uống chung, hùa vào giỡn với tụi nó, cảm thấy cực ky` vui vẻ. Được một lúc, 1 cậu bạn trong nhóm nắm tay mình, bảo có chuyện muốn nói với mình rồi dẫn mình vào 1 căn phòng trống, đóng cửa lại. 2 đứa ngồi bệt xuống sàn, cậu bạn có vẻ đã say hơn những người còn lại, mặt cúi xuống và nói cái gì đó. Mình chưa nghe ra được gì thì con trai mình và mấy bạn nữa mở cửa phòng xông vào lôi mình ra, bảo má đi ra đây, đừng ở 1 mình với thằng đó, nó say rồi. Thật tình lúc ấy mình khá tiếc rẻ vì muốn nghe điều bạn kia nói, nhưng vẫn nghe theo mọi người đi ra ngoài. Giờ nghĩ lại thì chắc bạn ấy chỉ muốn nói chuyện thôi, tuy vậy, dẫu bạn ấy có muốn làm gì xấu hơn cũng chắc chắn không có cơ hội vì mình đã có những bạn nam khác xung quanh bảo vệ mình.

Lần thứ hai, mình đi Vũng Tàu với hội bạn của 1 bạn nam mình khá thân trên moviesboom. Bạn nam đó thích mình nhưng mình chỉ coi như bạn thôi. Bạn ấy cũng đã chấp nhận rằng sẽ không bao giờ có gì xảy ra giữa 2 đứa và trở thành 1 người bạn thân của mình. Chuyến đi chỉ có mình là con gái. Ngoại trừ người bạn kia thì những người còn lại mình chỉ mới gặp 1 vài lần, nhưng vì mình tin tưởng bạn mình, mình cũng tin tưởng luôn bạn của bạn ấy. 

Bọn mình thuê 2 phòng khách sạn, mình ở chung phòng với bạn thân và 2 người nữa. Mình nằm giường riêng, mấy tên con trai nằm chung với nhau. Khi chuẩn bị đi ngủ, 1 tên kia chui qua giường mình và nắm cánh tay mình nói cái gì đó mà mình cũng không hiểu nó nói gì. Tất nhiên bạn thân mình và 1 bạn còn lại lập tức kêu người đó quay lại giường kiểu rất nghiêm túc, và thể hiện là mày mà làm gì bậy bạ là tụi tao không để yên. Mình đã ngủ 1 giấc ngon lành đến sáng. Quả thật giờ nghĩ lại mình thấy mình thật ngây thơ và gan và cũng quá may mắn nữa. Nếu lỡ mình bị 3 người đó cùng tấn công thì có chạy đằng trời. Sau đó có tố giác cũng sẽ bị cả xã hội chửi vào mặt rằng bị vậy là đáng, ai kêu con gái con đứa đi ngủ chung phòng với đàn ông con trai, mỡ dâng miệng mèo làm sao trách mèo được.

Đáng mừng thay cho mình, mình đã có những người bạn nam đáng tin cậy chứ không phải những con mèo.

Mọi người đọc hai câu chuyện của mình chắc cũng sẽ nghĩ con này ngây thơ dữ vậy, ngu dữ vậy. Thế nhưng sự thật là mình rất tin tưởng bạn bè mình. Mình là đứa không phải gặp ai cũng chơi, cũng kết bạn. Mình mất 1 khoảng thời gian đủ lâu để quan sát họ, nghiên cứu họ. Do đó một khi mình đã coi họ là bạn thì mình hoàn toàn tin tưởng, trong lòng không gợn 1 chút nghi ngờ, băn khoăn nào. Và cũng có thể lúc đó mình còn nhỏ nên đầu óc đơn giản, nghĩ rằng mình không nghĩ gì thì bên kia cũng vậy, nên cứ thế mà thoải mái ở cạnh các bạn nam không hề dè chừng.

Có bao nhiêu bạn nữ ngoài kia cũng may mắn như mình?
Và tại sao việc được thoải mái và an toàn ở cạnh những người bạn nam giới lại trở thành điều chỉ ai may mắn mới có được? Tại sao đó không phải là điều bình thường? Đã có điều gì sai trong việc chúng ta dạy dỗ những đứa trẻ sao?

Chúng ta luôn bảo nhau phải dạy con gái cẩn thận, nhưng thật ra điều quan trọng hơn cả là phải dạy những đứa con trai của chúng ta biết tôn trọng phụ nữ, biết bảo vệ những người bạn gái xung quanh mình, biết làm sao để trở thành 1 người đàn ông tử tế, tốt đẹp, chứ không phải những con mèo quái vật suốt ngày ngồi hửi kiếm mỡ.

Chúng ta xem phim Hàn, mê các nam chính đẹp trai, chính trực, không hề đụng vào các cô gái ngay cả khi các cô đã say quắc cần câu, không còn biết trời trăng mây nước. Đưa họ về nhà, để họ nằm trên giường còn mình ra ghế salon ngủ. Chúng ta xem hình mẫu đàn ông đó là đẹp đẽ, dĩ nhiên, đàn ông tốt phải thế, thì một khi có chuyện như em người Mỹ gốc Việt xảy ra, hãy lên án người đàn ông đã không là đàn ông, đã không đủ tử tế, chính trực để vạch ra giới hạn, đã chỉ là một thằng đực hám mồi vai phụ, vai quần chúng trong phim Hàn. Một khi tất cả chúng ta đồng lòng lên án các vai quần chúng như thế, các nam chính ắt sẽ xuất hiện nhiều hơn.

Mình tin là vậy.
Vì mình trong đời chỉ gặp toàn nam chính.

Duyen khanh Brandt

Natalie Harp không viết lịch sử!

Có những người mang trên vai cả thế giới mà không bao giờ để thế giới nhìn thấy vai họ nặng bao nhiêu. Natalie Harp là một trong số đó.

Người ta thường chỉ thấy hình ảnh cô ở hậu cảnh: mái tóc vàng gọn gàng, nụ cười rộng nhưng miệng hầu như không mở, đôi mắt luôn hướng về phía trước — về phía người đàn ông mà cô phục vụ. Trong tay phải, cô có thể cùng lúc giữ ba chiếc điện thoại đang rung liên tục và hai laptop mỏng như tờ giấy, các màn hình sáng lấp lánh những dòng tin, bài báo, tin nhắn từ khắp nơi trên thế giới. Tay trái thì kéo lê theo một chiếc “túi đi” — cái túi đỏ lớn, nặng trĩu, chứa đầy giấy in, pin dự phòng, máy in di động, và cả những thứ không tên mà chỉ cô biết là cần thiết. Chiếc túi ấy lăn theo từng bước chân cô như một người bạn trung thành, không bao giờ phàn nàn, cũng không bao giờ được nghỉ.

Ít ai biết rằng trước khi trở thành “máy in sống” của Bạch Ccung. Natalie đã từng gần như biến mất. Ở tuổi đôi mươi, bệnh ung thư xương giai đoạn 2 đến với cô như một bản án. Hóa trị thất bại. Các thử nghiệm lâm sàng đóng cửa. Thế giới y học lúc ấy chỉ còn lại những cái lắc đầu. Rồi một đạo luật — Right to Try — được ký, mở ra cánh cửa cho những liệu pháp thực nghiệm. Cô sống sót. Và từ khoảnh khắc ấy, lòng biết ơn đã trở thành ngọn lửa không bao giờ tắt.

Cô không hô khẩu hiệu. Cô không đứng trước micro để kể chuyện mình. Cô chỉ làm một việc: luôn có mặt. Khi máy bay phải đổi giữa đêm vì mối đe dọa, cô ở trong thùng chứa đồ ăn để không bị bỏ lại. Khi golf cart chạy trên sân cỏ, cô ngồi bên cạnh với laptop và máy in xách tay, sẵn sàng đưa ra bản in nóng hổi của một tin tốt. Khi đêm khuya, Tổng thống đọc dàn bài cho bài đăng Truth Social, ngón tay cô gõ theo nhịp điệu đặc trưng của ông — chữ hoa ngẫu nhiên, dấu chấm cảm xúc — như thể chính bà đã hóa thân thành giọng nói ấy.

Người ta gọi cô là “human printer”. Nhưng sâu hơn thế, Natalie là người giữ nhịp. Trong cỗ máy quyền lực khổng lồ, luôn có những tiếng ồn ào, những cuộc tranh chấp, những toan tính. Cô thì im lặng. Cô mang thông tin đến đúng lúc, lọc bớt những gì không cần thiết, và đặt trước mặt ông ấy những tờ giấy trắng vẫn còn ấm từ máy in. Không phải vì cô muốn kiểm soát. Mà vì cô tin rằng nhiệm vụ của mình là giúp người mình phục vụ nhìn rõ hơn, nhanh hơn, vững vàng hơn.

Có những đêm, khi hành lang Tây Cánh đã tắt đèn, Natalie vẫn ngồi ở chiếc bàn ngay ngoài Phòng Bầu Dục. Ba điện thoại nằm yên trong lòng bàn tay. Hai laptop đã gập lại. Chiếc túi đi nằm im dưới chân. Cô nhớ lại những ngày nằm trên giường bệnh, khi mỗi hơi thở đều là món quà. Và bây giờ, mỗi bước chân kéo theo chiếc túi ấy cũng là món quà — món quà của sự sống còn, của lòng trung thành không đòi hỏi, của việc được là bàn tay vô hình nâng đỡ một người khác.

Natalie Harp không viết lịch sử. Cô chỉ làm cho lịch sử chạy mượt hơn một chút. Trong thế giới đầy ồn ào và toan tính, sự hiện diện lặng lẽ của cô — ba điện thoại, hai laptop, và chiếc túi đi luôn theo sau — trở thành lời tri ân sâu sắc nhất: rằng có những người chọn dâng hiến không phải vì vinh quang, mà vì họ đã từng đứng trước vực thẳm và biết rằng mỗi ngày được sống là để phục vụ điều gì đó lớn hơn chính mình.

Và mỗi khi chiếc túi ấy lăn trên thảm đỏ, người ta có thể nghe thấy — nếu lắng đủ sâu — tiếng thì thầm của một linh hồn đã vượt qua cái chết để trở thành nhịp đập thầm lặng của quyền lực.

Đừng nghe những gì Những chính trị gia nói mà hãy nhìn vào một cô gái tội nghiệp đã và đang góp phần vươn lên từ bịnh tật và hướng đến mục tiêu cao cả là phục vụ đất nước trong bất kỳ mọi hoàn cảnh.

Natalie Harp không viết lịch sử, cô đang góp phần làm nên lịch sử!

Vả vào mặt bọn Jon Ossoff,
Jen Psaki...và cái đám vẹt tỵ nạn ở Little Sài Gòn đang dùng hình ảnh cô để tấn công TT.TRUMP.

Shame on you guys 

AECH

Văn Hóa Mỹ

A. Cách đây 10 năm, khi tôi đang múc mì ống Ý cho một chú Mỹ trắng ăn mặc rất tử tế, tóc râu gọn gàng, chú cảm ơn rồi cúi gần hỏi nhỏ:
- Cái chú đang rửa khay đó có phải tên Lentz không? Bạn tui đó.
- Chú cứ lấy dĩa ra bàn ngồi ăn, hàng đông quá, chốc nữa, cháu sẽ gặp chú sau.

Khi ngơi tay, tôi vừa sà đến máy rửa khay, chưa kịp mở mồm, thì chú Lentz, đã 77 tuổi, ôm vai tôi cùng quay mặt về hướng bếp rồi kể:
- Ông đó là bạn học với tao ở UW khóa 1963-1965, cùng ra MBA, tao làm bên thượng viện, ông đó làm một bộ nào đó cũng hơn 20 năm. Bất đồng với sếp rồi bị đuổi, bị sếp ghìm toàn tiểu bang không chỗ nào trong chính phủ nhận nữa. Sau đó vợ ly dị, ông ra riêng, một thời gian sau thì ở ngoài xe. Tĩ sau giờ, tao sẽ gặp ổng.

B. Độ 6 năm trước, có một em zai khoảng 17 tuổi, to cao lắm, đến xin tôi đứng rửa bát và dọn rác từ 2 giờ đến 6 giờ. Cuối ngày, em đưa giấy cho tôi xác nhận em làm 4 tiếng để giảm bớt/thay thế thời gian "ủ tờ' của em. Tôi ký luôn 8 tiếng, để lại số điện thoại của tôi nếu quan tòa muốn gọi xác nhận.

C. Năm ngoái thôi, một chị gốc Đông Âu đến nhận dĩa cơm tối, chị nhìn thấy tôi thì muốn nán lại choàng tay ôm tôi. Tôi ngoắc tay và nói lớn tiếng để chị đi khỏi. Cách đó vài tháng, đi theo một ông luật sư bạn cũ, tôi vô tình gặp chị tại tòa án trong một vụ bạo hành gia đình, chị là người nhập cư. Sau đó, tôi kết nối chị với một hội trong nhà thờ để họ tìm chỗ ở, quần áo cho chị trong khi chờ phán quyết.
....

Theo quy định của nơi này, và tôi đã phải ký từ tháng 10 năm 2009, những điều khoản sau thì mới được làm mọi.

1. Không được phép quay phim, chụp hình những người đến ăn.
2. Không được phép hỏi danh tính những người đến ăn.
3. Không được phép chia sẻ danh tính của những người thiện nguyện với khách hàng đến ăn.
....

Vì.....họ có thể là nạn nhân của bạo hành gia đình, họ có thể đang bị truy nã, họ có thể là đối thủ của một băng đảng....và trên hết... nhân phẩm của họ cần được trân trọng dù họ đang ở trong bất cứ hoàn cảnh nào 

Đó là quy định của bọn đế quốc. Đế quốc luôn cần người làm thiện nguyện, không phải để "bố thí", "phát cơm" mà đứng/ngồi ăn chung với người dưng, hiểu cuộc sống của họ, bảo vệ họ bằng mọi giá, tôn trọng nhân phẩm của họ mà không cần biết họ là ai.

Anh chị em cô dì chú bác nào thích cái quy định này của bọn đế quốc thì đến xắn tay áo, đeo tạp dề và cùng đổ mồ hôi với chúng tôi.

Luu Hien Duc

Học Mấy Năm Đại Học Ra Trường Thất Nghiệp Nhiều Hơn Người Không Bằng Cấp: Chuyện Gì Đang Xảy Ra?

Có một con số vừa được công bố khiến nhiều bậc cha mẹ phải giật mình, nhất là những gia đình người Việt vốn luôn coi tấm bằng đại học là cánh cửa chắc chắn nhất dẫn tới một tương lai ổn định. Theo Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, tỷ lệ thất nghiệp của những sinh viên mới ra trường ở Mỹ, tức nhóm tuổi từ 22 đến 27 có bằng cử nhân trở lên, đang ở mức khoảng 5,6%, cao hơn hẳn tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn bộ người lao động là 4,1%.

Đọc kỹ lại câu đó một lần nữa cho thấm. Người vừa tốn bốn năm và một đống tiền học phí để lấy tấm bằng đại học, lại đang khó tìm việc hơn cả mặt bằng chung của những người lao động, trong đó có cả những người không có bằng cấp gì. Điều này, theo dữ liệu của Fed New York, gần như chưa từng xảy ra trong suốt lịch sử họ theo dõi từ năm 1990. Cái thang cuộc đời mà bao thế hệ vẫn tin tưởng, học giỏi rồi vào đại học rồi có việc tốt, dường như đang bị lung lay ngay ở cái bậc đầu tiên.

Và câu hỏi mà ai cũng đặt ra ngay lập tức là: có phải trí tuệ nhân tạo, cái AI mà dạo này đâu đâu cũng nhắc tới, chính là thủ phạm?

Câu trả lời, thành thật mà nói, phức tạp hơn một lời đổ tội đơn giản. Và chính cái sự phức tạp đó mới là điều đáng để chúng ta cùng ngồi xuống suy nghĩ.

Trước hết, phải công nhận rằng AI có phần trong câu chuyện này. Một cuộc khảo sát cho thấy gần một nửa số sinh viên mới ra trường tin rằng AI đã ảnh hưởng đến việc tuyển dụng trong lĩnh vực của họ. Có những công việc bàn giấy cấp thấp, những vị trí khởi điểm mà trước đây một sinh viên mới ra trường thường được giao để học việc, giờ đây có thể được làm nhanh gọn bởi một phần mềm. Một cô kỹ sư trẻ vừa tốt nghiệp kể rằng cô đã nộp khoảng 450 đơn xin việc, đi phỏng vấn 19 lần, mà vẫn chưa nhận được một lời mời làm việc nào. Cô nói một câu nghe rất buồn: những kỹ năng khởi điểm mà mình có, tuy quan trọng thật, nhưng cũng là thứ mà AI có thể làm rất hiệu quả. Khi cái bậc thang đầu tiên của sự nghiệp bị một cỗ máy chiếm mất, thì người trẻ biết bắt đầu leo từ đâu?

Nhưng, và đây là chỗ thú vị, các nhà kinh tế học lại không vội đổ hết tội cho AI. Bởi vì khi họ nhìn kỹ vào số liệu, họ phát hiện ra một thủ phạm khác, ít ai ngờ tới hơn: đó là làm việc từ xa.

Nghe hơi lạ, nhưng logic của nó lại rất đời. Sau đại dịch, số lượng công việc làm từ xa tăng vọt. Mà một công ty khi tuyển người làm từ xa thì họ có xu hướng ngại nhận người mới ra trường. Lý do đơn giản: một nhân viên mới cần được kèm cặp, chỉ dạy, uốn nắn trong thời gian đầu. Mà việc kèm cặp một người ngồi ngay trong văn phòng thì dễ, chứ kèm một người ngồi ở nhà cách xa hàng trăm cây số thì khó hơn nhiều. Thế là các công ty có khuynh hướng chọn người đã có kinh nghiệm cho các vị trí làm từ xa, và cánh cửa lại càng hẹp thêm với người trẻ mới bước vào đời.

Ngoài ra còn có mấy nguyên nhân khác nữa: nền kinh tế đang trong giai đoạn bất định, các công ty ngại tuyển dụng ồ ạt; rồi cái ngành công nghệ vốn là nơi hút nhiều sinh viên nhất thì đang bão hòa, ra trường quá nhiều mà chỗ làm không tăng theo kịp. Nói cách khác, cái khó của người trẻ hôm nay không phải do một nguyên nhân duy nhất, mà là do nhiều thứ cùng dồn lại một lúc. AI chỉ là một mảnh trong bức tranh, chứ không phải toàn bộ bức tranh.

Vậy chúng ta rút ra được điều gì từ tất cả những con số này, nhất là những gia đình đang có con em sắp hoặc đang học đại học?

Điều thứ nhất, và mình nghĩ là quan trọng nhất: tấm bằng đại học không còn là một tấm vé bảo đảm như thời cha mẹ chúng ta nữa. Ngày xưa, cứ có bằng là gần như chắc chắn có việc. Bây giờ thì khác rồi. Tấm bằng vẫn quan trọng, vẫn là một nền tảng tốt, nhưng nó không còn là điểm kết thúc của việc học, mà chỉ là điểm khởi đầu. Cái quyết định không còn là "anh có bằng gì," mà ngày càng nghiêng về "anh làm được gì, anh giải quyết được vấn đề gì mà người khác, và cái máy, không làm được."

Điều thứ hai, trong một thế giới mà máy móc ngày càng làm tốt những công việc lặp đi lặp lại, thì thứ giúp con người ta đứng vững lại chính là những gì máy móc khó thay thế nhất: khả năng tư duy sáng tạo, khả năng thấu hiểu con người, khả năng giao tiếp, xây dựng quan hệ, và cái mà người ta hay gọi là trí tuệ cảm xúc. Một cái máy có thể viết một báo cáo trong ba giây, nhưng nó khó lòng ngồi xuống lắng nghe một khách hàng đang bực bội, hay dẫn dắt một nhóm người cùng vượt qua khó khăn. Càng ngày, những kỹ năng rất "người" đó lại càng trở nên quý giá.

Điều thứ ba, và điều này thì đúng ở mọi thời đại, là khả năng thích nghi. Thế giới đang thay đổi nhanh hơn bao giờ hết, và những công việc hôm nay có thể biến mất sau mười năm, trong khi những công việc mười năm nữa thì hôm nay còn chưa tồn tại. Trong một thế giới như vậy, cái quan trọng nhất không phải là học một nghề rồi bám mãi vào nó, mà là giữ cho mình cái khả năng học hỏi liên tục, sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng học cái mới khi cái cũ không còn hợp thời. Người sống sót không phải là người mạnh nhất hay thông minh nhất, mà thường là người biết thích nghi nhanh nhất.

Nói vậy không phải để bi quan, hay để khuyên các bạn trẻ đừng học đại học nữa. Học vẫn rất đáng, kiến thức vẫn là vốn quý. Chỉ là cách chúng ta nhìn về con đường học vấn và sự nghiệp cần phải thực tế hơn, linh hoạt hơn. Thay vì coi tấm bằng là đích đến cuối cùng rồi yên tâm ngồi đó, hãy coi nó là một hành trang khởi đầu, và tiếp tục trang bị thêm cho mình những thứ mà không một cỗ máy nào sao chép được: một cái đầu biết suy nghĩ độc lập, một trái tim biết đồng cảm, và một tinh thần không ngừng học hỏi.

Có một câu nói xưa mà trong thời đại AI này nghe lại càng thấm: người ta không sợ máy móc biết suy nghĩ, người ta chỉ nên sợ con người ngừng suy nghĩ. Cái AI, xét cho cùng, chỉ là một công cụ. Nó có thể là mối đe dọa với những ai chỉ biết làm những việc máy móc, lặp lại; nhưng nó cũng có thể là một trợ thủ đắc lực cho những ai biết cách dùng nó, biết cách làm những điều mà nó không làm được. Tương lai không thuộc về những người giỏi cạnh tranh với máy móc, mà thuộc về những người biết làm những điều mà máy móc không thể.

Còn bạn, nếu con em bạn hôm nay hỏi rằng trong thời đại AI này nên học gì, nên chuẩn bị gì cho tương lai, thì bạn sẽ khuyên các cháu điều gì?




Thursday, August 20, 2026

Thác nước đỏ như máu chảy ra từ băng Taylor Glacier

Vũ trụ luôn rộng lớn hơn những điều ta nghĩ, và Trái Đất vẫn còn vô vàn bí mật chờ con người lật mở.

Ở nơi mà hầu như không một sinh vật nào có thể tồn tại — giữa vùng đất khô cằn nhất châu Nam Cực — lại tồn tại một cảnh tượng khiến cả giới khoa học lẫn những người yêu thiên nhiên phải kinh ngạc: Blood Falls — thác nước đỏ như máu chảy ra từ băng Taylor Glacier.

Nhìn từ xa, vệt đỏ ấy giống như một vết thương đang rỉ máu từ thân băng trắng lạnh. Nhưng thực tế, đó là câu chuyện kéo dài hơn 5 triệu năm, được viết bằng muối, sắt, băng giá và sự sống kiên trì đến mức khó tin.

Bên trong lớp băng dày là một hồ nước cổ đại bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Không ánh sáng mặt trời. Không oxy. Không nguồn thực phẩm quen thuộc. Thế nhưng — sự sống vẫn tồn tại.

Đó là một cộng đồng vi sinh vật sống nhờ vào những phản ứng hóa học mà không cần năng lượng mặt trời — điều mà con người từng cho là bất khả thi.

Khi nước giàu muối và sắt từ hồ ngầm thấm qua khe nứt băng rồi gặp không khí, sắt bị oxy hóa như kim loại rỉ — tạo nên màu đỏ đặc trưng. Chính vì có lượng muối khổng lồ, dòng nước này không đóng băng ngay cả khi nhiệt độ xuống dưới –10°C.

Một điều ít ai biết: Blood Falls đã từng khiến các nhà thám hiểm đầu thế kỷ 20 tin rằng có… tảo đỏ hoặc sinh vật máu thật sự bên trong băng.

Nhưng rồi, khi khoa học tiến bộ, sự thật hé mở: thác nước đỏ không chỉ là hiện tượng kỳ lạ — mà là một cánh cửa dẫn đến những câu hỏi lớn hơn:

Nếu sự sống có thể tồn tại ở một nơi khắc nghiệt đến vậy, thì liệu sự sống ngoài Trái Đất có phải chỉ là niềm tưởng tượng?Blood Falls không chỉ đẹp theo cách kỳ dị — nó là lời nhắc rằng vũ trụ luôn rộng lớn hơn những điều ta nghĩ, và Trái Đất vẫn còn vô vàn bí mật chờ con người lật mở.

VÌ SAO CĂNG THẲNG BẮC - NAM VẪN ÂM Ỉ TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM?

THỐNG NHẤT

Kể từ sau ngày 30/4/1975, không năm nào mà câu chuyện hoà hợp hoà giải, thống nhất lòng người không được mang ra thảo luận.

Đến tận 50 năm sau, vào dịp kỷ niệm A50, lập luận quen thuộc lại xuất hiện: nhìn dân chúng nô nức trên mạng lẫn ngoài đường xem diễu binh như vậy, chẳng phải lòng người đã thống nhất rồi sao, còn bàn cãi gì nữa?

Nếu đơn giản như vậy, hẳn Bắc Hàn đã là một quốc gia đoàn kết trên dưới một lòng. Vậy thì vì sao mỗi năm vẫn có người liều chết đào tẩu? Hay như Đông Đức năm 1989, đến tháng 10 dân Berlin vẫn tưng bừng đổ ra đường xem diễu binh kỷ niệm 40 năm Quốc khánh. Vậy mà chỉ vài tuần sau, chính những con người đó đã đập đổ bức tường ô nhục của thành phố, mở đầu cho sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Thái độ của công chúng là thứ rất khó nắm bắt, ngay cả ở những quốc gia dân chủ tự do, nơi thăm dò dư luận độc lập được tiến hành thường xuyên. Huống hồ là ở một nơi mà truyền thông dòng chính lẫn mạng xã hội đều bị kiểm soát và thao túng ở mức cao, nơi chỉ cần bày tỏ cảm xúc trái ý chính quyền cũng có thể kéo theo những hậu quả rất cụ thể.

CHIA RẼ

Nếu thống nhất lòng người là chuyện đơn giản và đã đạt được từ lâu, hẳn Tổng Bí thư Tô Lâm không cần phải tiếp tục kêu gọi hoà hợp hoà giải trong bài viết dịp 30/4 vừa rồi, khi chiến tranh đã kết thúc tròn 50 năm.[1]

Nhưng hãy tạm gác câu chuyện hoà giải với người Việt hải ngoại sang một bên.

Ngay trong lòng xã hội Việt Nam, chia rẽ Bắc – Nam vẫn là một thực tế âm ỉ. Nó hiếm khi được gọi tên công khai vì tính chất cấm kỵ, nhưng liên tục bùng lên qua vô số tranh cãi ngoài đời và trên mạng, từ đề tài vùng miền cho đến những so sánh kiểu Sài Gòn – Hà Nội.

Những người cầm quyền có biết điều này không?

Không những biết, họ còn rất nhạy cảm. Đến mức năm 2018, họ đình bản báo Tuổi Trẻ ba tháng chỉ vì tờ báo này đăng bình luận của độc giả cho bài viết “Sao trong quy hoạch chưa thấy cao tốc cho miền Tây?”, với lý do gây “mất đoàn kết dân tộc”.[2]

Họ hiểu rất rõ rằng, khác với những bất đồng gắn với quá khứ chiến tranh đã lùi xa, sự chia rẽ này gắn trực tiếp với cách phân bổ quyền lực và quyền lợi hiện tại. Những thứ đã kết tinh đủ lâu để trở thành căn cước chính trị của chính họ, và vì thế, không dễ gì thay đổi.

QUYỀN LỢI

Bất công trong phân bổ lợi tức quốc gia ở Việt Nam là điều không khó nhận ra. Suốt 15 năm qua, trong khi tỷ lệ ngân sách được giữ lại của Sài Gòn giảm dần từ khoảng một phần ba xuống 23%, rồi 18% và hiện nay là 21%, thì con số này của Hà Nội luôn ổn định quanh mức một phần ba, có thời điểm lên tới 35% [3]. Tuyệt đại đa số các tập đoàn nhà nước lớn đặt trụ sở tại Hà Nội, giúp khoản thu ngân sách từ khối doanh nghiệp trung ương quốc doanh của thủ đô gấp 4 lần Sài Gòn (24,000 tỷ so với 6,000 tỷ, năm 2025). [4]

Hệ quả là trong nhiều năm liền, nơi đông dân hơn, nhiều doanh nghiệp hơn, đóng góp nhiều hơn cho ngân sách quốc gia là Sài Gòn lại được chi ít hơn Hà Nội, nơi ít dân hơn, ít doanh nghiệp hơn và đóng góp kém hơn, nhưng lại có nhiều đảng viên hơn.

Kết quả thấy rất rõ ở sự chênh lệch hạ tầng. Đến mức một Thứ trưởng Giao thông vài năm trước đã thừa nhận thẳng thắn rằng hạ tầng giao thông đường bộ TPHCM kém xa Hà Nội. [5] Và không chỉ giao thông. Từ giáo dục, y tế cho đến văn hoá, thể thao, Hà Nội luôn được ưu ái hơn.

Bất công này càng trở nên trớ trêu khi trong vài năm gần đây, thu ngân sách của Hà Nội đã bắt kịp, thậm chí có lúc vượt Sài Gòn. [6] Nhưng không ai lấy đá ghè chân mình. Cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào cho thấy nhóm cầm quyền ở Hà Nội sẵn sàng điều chỉnh lại tỷ lệ phân chia này.

Bất công giữa hai thành phố phản ánh một phần bức tranh rộng hơn giữa hai miền mà chúng đại diện. Có đi về miền Tây mới thấy sự bần cùng hoá có tính hệ thống mà chính quyền trung ương ở Hà Nội áp đặt lên vùng đất này đang khiến một khu vực từng nổi tiếng về sự trù phú trong quá khứ trở thành một nơi không có hi vọng ra sao.

QUYỀN LỰC

Bất công về lợi tức chỉ có thể tồn tại nhờ sự mất cân bằng vùng miền trong bộ máy đảng và chính quyền. Một nghiên cứu cho thấy từ Đại hội VI đến nay, số Uỷ viên Trung ương Đảng xuất thân từ miền Bắc luôn chiếm đa số. [7]

Chưa kể những cơ cấu quyền lực then chốt như Bộ Chính trị, Chính phủ, Quân đội hay Công an, nơi đại diện miền Nam ngày càng thưa thớt.

Trong quá khứ, lãnh đạo cộng sản miền Bắc từng dè dặt trước căng thẳng vùng miền, nên chấp nhận những thoả hiệp bất thành văn để xoa dịu. Chẳng hạn như “tam đầu chế” - Tổng Bí thư miền Bắc, Chủ tịch nước miền Trung, Thủ tướng miền Nam, hoặc phân chia Bắc - Nam giữa vị trí Bộ trưởng Quốc phòng và Công an [8]. Họ cũng chấp nhận việc lãnh đạo tỉnh thành là người địa phương và giữ mức can thiệp trung ương ở giới hạn nhất định.

Nay thì họ đã đủ tự tin để gom hết quyền lực về mình. Chẳng những chiếm đoạt các cơ cấu quan trọng ở trung ương, thông qua cái gọi là luân chuyển cán bộ, quá trình “Bắc hoá” ban lãnh đạo các tỉnh thành miền Nam diễn ra ngày càng mạnh mẽ, trong khi ở chiều ngược lại rất ít ỏi.

Không chỉ ở cấp Bộ trưởng hay Thứ trưởng, xu hướng này còn lan xuống tận cấp cục, vụ, nơi trực tiếp soạn thảo chính sách. Bước vào các cơ quan trung ương, nơi lẽ ra phải phản ánh tiếng nói của cả quốc gia, người ta gần như chỉ còn nghe thấy duy nhất giọng Bắc. Một giọng nói vốn không có gì đáng chê, bỗng trở nên đơn điệu và áp đặt trong một khung cảnh cần sự đa dạng.

Ngay cả ngành ngoại giao cũng vậy. Đã bao lâu rồi người ta không còn nghe thấy một giọng miền Nam trong hàng ngũ đại sứ là những người đại diện quốc gia trên trường quốc tế? Người miền Nam kém cỏi về ngoại giao đến thế sao? Vậy thì vì sao đã từng có thời, giọng miền Nam của bà Bình lại được Hà Nội sử dụng như tiếng nói lương tri của dân tộc trước thế giới?

Họ đã làm điều đó bằng cách nào?

QUA CẦU RÚT VÁN

Câu trả lời nằm ở chính sách lý lịch hà khắc được áp dụng suốt nhiều thập nien trong nội bộ đảng cầm quyền.

Bằng cách loại bỏ gần như toàn bộ những người có liên hệ gia đình với chế độ cũ, người theo Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, người gốc Hoa khỏi con đường đảng viên, một bộ phận rất lớn người sinh ra ở miền Nam bị chặn đứng mọi cơ hội thăng tiến chính trị. Nhiều người trong số họ thậm chí không thể trở thành sĩ quan quân đội hay công an vì yêu cầu bắt buộc phải là đảng viên.

Đó là lý do vì sao đảng viên từ vĩ tuyến 17 trở ra chiếm tới khoảng 70% toàn Đảng, trong khi dân số khu vực này chưa đến một nửa, theo một thống kê của Bloomberg. Đầu vào như vậy thì việc Trung ương Đảng và Bộ Chính trị luôn áp đảo bởi người miền Bắc là điều tất yếu.

Ngay cả khi có những người cộng sản miền Nam vươn lên vị trí cao, họ cũng bị ngăn khỏi cơ hội trở thành Tổng Bí thư vì những lý do không liên quan đến năng lực. Võ Văn Kiệt kém Đỗ Mười điểm gì để không thể trở thành Tổng Bí thư, chưa kể phải nhường một khoá Thủ tướng cho chính nhân vật thủ cựu tai tiếng vì đánh tư sản này? Trường hợp Nguyễn Tấn Dũng cũng là một điển hình khác, khi mà những người cộng sản miền Bắc ưa lý luận đã “đánh dưới thắt lưng” một cách rất bẩn thỉu chuyện ông làm sui với người chế độ cũ trong nỗ lực ngăn ông đến vị trí A1.

Chính vì thế, dù Đảng luôn phủ nhận, nhưng giai thoại về câu nói của Nguyễn Phú Trọng rằng “Tổng Bí thư phải là người Bắc có lý luận” vẫn được đông đảo công chúng tin là có thật. Người ta tin vì nó phù hợp với những gì đã và đang diễn ra.

MIỀN NAM LÀM GÌ?

Không rõ những người cộng sản miền Nam nghĩ gì về vị thế đảng viên hạng hai mà các đồng chí miền Bắc đang áp đặt lên họ. Có vẻ họ chấp nhận tiếp tục vai phụ hoạ mà các tiền bối như Tôn Đức Thắng hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng từng vô tình hay cố ý đảm nhận cho vở kịch “đoàn kết quốc gia” của giới lãnh đạo cộng sản miền Bắc, để đổi lấy chút lợi ích theo đóm ăn tàn, thay vì lên tiếng trước những bất công rõ ràng về quyền lực và quyền lợi.

Làm như vậy, liệu họ có thấy hổ thẹn với những bậc tiền nhân Nam Kỳ? Những người khi bị Tây Sơn, một đạo quân từ phương Bắc, giày xéo đã dám đứng lên bảo vệ quyền sống và quyền tự do của mình, xây dựng một vương triều nơi họ có thể sống theo cách họ lựa chọn. Những quyền ấy là phải giành lấy, chứ không phải chờ được ban phát.

Bằng việc duy trì và củng cố các chính sách bất bình đẳng về quyền lực và quyền lợi, làm sâu thêm căng thẳng Nam – Bắc, chính giới lãnh đạo cộng sản miền Bắc mới là những người đẩy Việt Nam đứng trước rủi ro nhẹ thì lòng người chia rẽ, nặng thì lãnh thổ phân ly, giữa một thế giới đầy biến động trong tương lai, dù họ có thể không sẵn sàng thừa nhận điều đó. Trớ trêu thay, đây lại là kịch bản mà họ lo sợ nhất, bởi không gì bất lợi hơn đối với Hà Nội bằng việc phải đối mặt với Trung Quốc mà thiếu hậu cứ có chiều sâu chiến lược ở miền Nam, một phiên bản của Bắc Hàn.

Đó là chưa nói, trong bối cảnh hiện tại, một cuộc qua phân lãnh thổ chưa chắc mang lại lợi thế cho miền Bắc vì hai lý do. Thứ nhất, Bắc Kinh sẽ hoàn toàn thoải mái với một Việt Nam bị chia đôi, như họ từng cố gắng duy trì trong lịch sử, và khi đó Hà Nội sẽ không còn dễ dàng mượn đường hai quốc gia láng giềng thân Trung Quốc hiện nay là Lào và Campuchia để tiến vào miền Nam như trước. Thứ hai, nước Nga yếu kém đang kẹt trong chiến tranh không phải là một Liên Xô để miền Bắc có thể dựa lưng trước áp lực ngày càng trực diện từ Bắc Kinh.

Người miền Nam cũng là người Việt Nam, không ai mong muốn phân ly lãnh thổ, dù lịch sử gần đây từng chứng kiến nhiều thế kỷ chia cắt. Nhưng, cũng như đoàn kết thực sự chỉ có thể đến từ tôn trọng sự khác biệt, thống nhất chỉ có ý nghĩa khi đi kèm bình đẳng giữa hai miền, mà bình đẳng quan trọng nhất là bình đẳng về cơ hội, đặc biệt là cơ hội thăng tiến trong guồng máy quốc gia. Một sự thống nhất giả tạo, dựa trên phân hạng công dân và chiếm đoạt lợi quyền, là thứ mà người Việt không cần.

Khác với một đảng cộng sản mang căn cước chính trị phân biệt vùng miền, người Việt tương lai sẵn sàng chấp nhận sự lãnh đạo không phân biệt Bắc, Trung hay Nam, tôn giáo, sắc tộc hay lý lịch gia đình, miễn đó là người được lựa chọn thông qua một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do và công bằng, bằng năng lực và tư cách của họ.

Và cũng chỉ trong một thể chế như vậy, hoà giải dân tộc - bước đầu tiên cho một quốc gia đi đến phẩm giá và phú cường - mới có thể thực sự bắt đầu.

---
Hình: Từ Quảng Trị trở ra Bắc, dân số chưa đến một nửa nhưng đảng viên chiếm 70% cả nước. Hà Nội chiếm 22 trong tổng số 25 tập đoàn nhà nước lớn nhất. Các tỉnh màu càng đỏ thì càng có tỷ lệ đảng viên/dân số cao, càng xanh thì càng thấp. (Bloomberg, 2015)


"Cà phê Paris"

Ngồi quán cà phê Paris, người ta có thể một mình mà không cô độc.” – Jean-Paul Sartre. 

Có lẽ vì thế mà nhiều người rời Paris rồi vẫn nhớ những quán cà phê của thành phố này. Không phải vì ly “café noir” nhỏ trên bàn, mà vì cảm giác được ngồi thật lâu giữa đời sống đang trôi qua trước mắt mình. Một người ngồi xoay nhẹ tách cà phê trong tay. Một ông lão im lặng bên tờ báo sáng. Những chiếc ghế quay ra vỉa hè như thể điều quan trọng nhất không nằm trong quán, mà là thành phố ở phía trước mặt.

Và có lẽ, chính trong những khoảnh khắc rất bình thường ấy, người ta hiểu Paris nhiều hơn bất kỳ cuốn sách hướng dẫn du lịch nào.


Nếu tuổi trẻ của bạn từng thuộc về Paris, thì suốt phần đời còn lại, Paris sẽ luôn ở trong bạn”. Ernest Hemingway

Những chiếc ghế luôn quay ra đường

Buổi sáng ở Paris bắt đầu khá chậm. Khoảng tám giờ, các quán cà phê quanh boulevard Saint-Germain bắt đầu đông dần. Người phục vụ kéo ghế ra ngoài terrasse, lau những chiếc bàn tròn còn lạnh hơi sương đêm. Một ông lão mang theo cuốn tiểu thuyết còn gấp dở dưới cánh tay. Một cô sinh viên đặt máy tính xuống bàn rồi gọi café crème. Một người đàn ông mặc vest đứng uống nhanh ly espresso ở quầy rồi đi mất.

Cà phê Kléber – place Trocadéro

Nhưng cũng có những người ngồi lại rất lâu. Điều đặc biệt ở các quán cà phê Paris là cách người ta nhìn ra phố. Những hàng ghế ngoài terrasse gần như luôn hướng về phía dòng người qua lại, nơi tiếng xe buýt, tiếng giày trên vỉa hè và những cuộc trò chuyện nhỏ hòa lẫn vào nhau. Thành phố trở thành một phần của quán cà phê – hay có lẽ, quán cà phê chỉ là một cách khác để ngồi giữa thành phố.

Những chiếc ghế luôn quay ra đường…

Một tách cà phê kéo dài cả buổi sáng

Paris không hẳn có cà phê ngon nhất thế giới. Người Ý có thể phản đối. Người Việt Nam chắc cũng không đồng ý. Nhưng điều Paris có, là nghệ thuật ngồi với ly cà phê của mình. Một tách espresso nhỏ có thể nằm trên bàn suốt cả tiếng đồng hồ. Người phục vụ không thúc giục. Không ai nhìn người khác khó chịu vì ngồi quá lâu. Dường như ở đây, thời gian được kéo dài ra thêm một chút.

Café Central – 40 rue Cler – Paris 7

Có lần tôi ngồi gần hai tiếng ở một quán nhỏ gần Café de Flore. Bàn bên cạnh là một cô gái trẻ đang đọc tiểu thuyết. Cô gần như không gọi thêm gì ngoài một ly cappuccino đã nguội từ lâu. Thỉnh thoảng cô ngẩng đầu nhìn dòng người ngoài phố vài giây rồi lại cúi xuống đọc tiếp. Không ai làm phiền cô. Không ai hỏi vì sao cô ngồi lâu đến thế. Ở nhiều thành phố khác, việc ngồi lâu như vậy dễ khiến người ta cảm thấy áy náy. Nhưng ở Paris, đó gần như là chuyện bình thường.

“Paris lúc nào cũng là một ý tưởng đẹp” – Audrey Hepburn

Những quán cà phê và giới văn nghệ sĩ

Từ rất lâu, quán cà phê ở Paris không chỉ là nơi để uống cà phê, mà còn là nơi để viết, để tranh luận và trao đổi ý tưởng. Có những bài báo, bản thảo văn chương, thậm chí cả tư tưởng chính trị đã từng được bàn luận quanh những chiếc bàn nhỏ ngoài vỉa hè, giữa tiếng muỗng chạm vào thành tách và dòng người qua lại ngoài phố.

Cà phê Flore lúc 10g sáng

Café de Flore – nơi người ta ngồi để suy nghĩ: Café de Flore ra đời từ cuối thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là một quán cà phê nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés. Nhưng theo thời gian, quán dần trở thành điểm hẹn của giới văn nghệ sĩ và trí thức Pháp. Sau Thế chiến thứ hai, Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường ngồi ở đây hàng giờ để viết, tranh luận và nhìn dòng người qua lại ngoài phố.

Điều đặc biệt ở Café de Flore không chỉ nằm ở lịch sử hay những tên tuổi từng ngồi ở đó, mà ở cảm giác quán gần như không thay đổi giữa một Paris luôn chuyển động. Mái hiên đỏ, những hàng ghế sát boulevard Saint-Germain, ánh đèn vàng bên trong – tất cả vẫn giữ lại không khí của một Paris trí thức và văn chương xưa cũ.

Người ta đến Café de Flore không hẳn để tìm một ly cà phê ngon nhất Paris, mà để ngồi giữa một nơi từng chứng kiến biết bao cuộc trò chuyện, bản thảo và suy nghĩ đã đi qua thế kỷ XX.

Les Deux Magots là hiện thân của một Paris văn chương và quán cà phê. 

Mở cửa từ năm 1885

Les Deux Magots – quán cà phê của văn chương: Chỉ cách Café de Flore vài bước chân là Les Deux Magots. Tên quán nghe lạ. “Deux Magots” nghĩa là “Hai pho tượng Trung Hoa”, vì bên trong quán từng có hai pho tượng trang trí từ thời nơi này còn là một cửa hàng bán lụa phương Đông. Nhưng theo thời gian, cái tên kỳ lạ ấy lại trở thành một phần lịch sử văn học Pháp.

Trước chiến tranh, nhiều nhà văn và nghệ sĩ đã chọn nơi này làm điểm hẹn: Ernest Hemingway, Pablo Picasso, Albert Camus… Khác với Café de Flore có vẻ trí thức và chính trị hơn, Les Deux Magots mang không khí văn chương rõ hơn. Người ta đến đó để viết, để đọc, để ngồi nhìn mưa rơi trên Saint-Germain trong nhiều giờ liền.

Đến nay, quán vẫn trao giải văn học Prix des Deux Magots hằng năm – như một cách giữ lại mối liên hệ giữa quán cà phê và văn chương Paris.

Hai pho tượng Trung Hoa ở Les deux Margots

La Closerie des Lilas – nơi Ernest Hemingway từng viết: “Nếu Saint-Germain là khu của những triết gia và trí thức Pháp, thì La Closerie des Lilas lại thuộc về các nhà văn Mỹ lưu vong đầu thế kỷ XX”.

Nằm gần Montparnasse, quán từ lâu đã là điểm hẹn của nhiều nhà văn và nghệ sĩ thế giới. Người ta vẫn còn giữ nguyên chiếc bàn Hemingway từng ngồi viết, với một tấm bảng đồng nhỏ khắc tên ông trên mặt gỗ sẫm màu.

Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở chiếc bàn ấy, mà ở ý nghĩ rằng giữa một quán cà phê rất bình thường của Paris, một phần văn học thế kỷ XX đã từng được viết ra trong mùi cà phê nóng và khói thuốc lá.

Closerie des lilas 1900 và ngày nay

Le Procope – quán cà phê lâu đời nhất Paris: Ra đời từ năm 1686, Le Procope thường được xem là quán cà phê lâu đời nhất Paris. Vào thế kỷ XVIII, khi cà phê còn là một thức uống mới lạ ở châu Âu, Le Procope đã trở thành nơi gặp gỡ của giới triết gia thời Khai sáng.

Voltaire, Jean-Jacques Rousseau hay Denis Diderot từng ngồi ở đây tranh luận về tự do, lý trí và xã hội. Có một chi tiết rất Paris: nhiều ý tưởng về Cách mạng Pháp đã từng được nói ra trong các quán cà phê trước khi xuất hiện ngoài quảng trường. Ở Paris, quán cà phê không chỉ là nơi nghỉ chân. Nó từng là nơi người ta nghĩ về cách thay đổi thế giới.

Le procope đầu thế kỷ 19

Ở khu Montparnasse, Le Dôme Café từng là điểm hẹn quen thuộc của giới họa sĩ và nghệ sĩ nhập cư đầu thế kỷ XX. Amedeo Modigliani, Marc Chagall hay nhiều họa sĩ trẻ nghèo thời ấy thường ngồi ở đây suốt nhiều giờ với rất ít tiền trong túi. Paris khi ấy không chỉ là thành phố của ánh sáng, mà còn là nơi người ta mang theo giấc mơ nghệ thuật của mình để sống, dù nghèo đến đâu.

Còn La Rotonde, với những hàng ghế đỏ đặc trưng ở boulevard du Montparnasse, từ lâu đã gắn với không khí bohemian của Paris đầu thế kỷ XX. Người ta kể rằng chủ quán từng cho các họa sĩ nghèo ngồi lì hàng giờ chỉ với một ly café, thậm chí cho họ ký nợ bằng tranh vẽ. Nhiều bức tranh ngày ấy về sau lại trở thành tác phẩm có giá trị lớn.

Le Dome 1928

Dọc theo bờ Seine, những quán cà phê nhỏ nối tiếp nhau dưới hàng cây. Vào cuối buổi chiều, khi ánh sáng bắt đầu đổi màu trên mặt nước, người ta ngồi ở đó rất lâu – trước một ly vang, một tách espresso hay chỉ để nhìn những chiếc bateau-mouche chậm rãi đi qua.

Café La Rotonde – Paris 6

Ở khu Saint-Michel hay gần Ile de la Cité, nhiều terrasse mở thẳng ra phía sông. Từ đó có thể nhìn thấy những nhịp cầu đá, những quầy sách cũ màu xanh của các bouquinistes dọc bờ Seine, và phía xa là bóng Notre-Dame hiện lên giữa trời chiều.

Amedeo Modigliani, Pablo Picasso và André Salmon trước quán cà phê La Rotonde năm 1916

Paris có một từ rất đặc biệt: flâner. Khó tìm một từ tiếng Việt thật tương đương. Nó không hẳn là đi dạo, cũng không phải lang thang. Đó là cách bước chậm lại để nhìn, để quan sát, để thành phố tự hiện ra trước mắt mình mà không cần một mục đích rõ ràng. Những quán cà phê Paris dường như sinh ra cho điều đó. Người ta có thể flâner ngay cả khi chỉ ngồi yên trước một tách cà phê và nhìn phố xá trôi qua.

Bouquiniste paris 1900

Thành phố như một sân khấu nhỏ

Ngồi ở terrasse một quán cà phê Paris vào cuối buổi chiều, người ta bắt đầu hiểu vì sao thành phố này sinh ra nhiều nhà văn đến thế.

Ngoài kia, đời sống đi qua liên tục như một bộ phim không có kịch bản. Một người phụ nữ ôm baguette bước nhanh dưới hàng cây. Một ông lão dắt chó đi dạo. Một người kéo violin ở góc đường. Một đôi tình nhân cãi nhau rất khẽ rồi im lặng nhìn nhau.

Bouquinistes paris 1934

Người ngồi ở quán không cần tham gia vào tất cả những điều đó. Chỉ cần nhìn. Có lẽ chính từ những khoảnh khắc rất nhỏ ấy mà văn chương Paris được tạo ra.

Nghệ thuật ở một mình giữa đám đông

Có một điều rất Paris: người ta có thể một mình mà không cô độc. Trong những quán cà phê ngoài vỉa hè, giữa dòng người đi ngang và tiếng phố chậm rãi trôi qua, mỗi người dường như vẫn giữ được cho mình một khoảng riêng rất yên tĩnh.


“Cà phê làm thơm mọi khoảnh khắc của cuộc đời” – Honoré de Balzac

Ở nhiều thành phố hiện đại, con người luôn bị thúc phải bận rộn và đi nhanh hơn. Nhưng ở Paris, người ta vẫn cho phép mình có một khoảng thời gian “vô ích” – chỉ để ngồi xuống, nhìn thời gian trôi qua và nghe thành phố thở quanh mình.

Có lẽ đó chính là điều làm nên vẻ lãng mạn thật sự của Paris. Có những thành phố khiến người ta muốn đi nhanh hơn. Paris, đôi khi, chỉ khiến người ta muốn ngồi xuống.

La Javelle nằm cách công viên Parc André Citroen chỉ vài bước chân, Paris 15.

Trúc Tiên
Paris, ngày 26 tháng 5 năm 2026

Blog Archive