Wednesday, September 2, 2026

KỶ NIỆM VỀ MỘT NGƯỜI BẠN

Tôi ra làm việc tại Côn Đảo vào cuối năm 1970 thì Nguyễn Minh Nhựt đã có mặt ở đảo rồi. Anh là giáo sư trung học đệ nhị cấp, đang giữ chức vụ Hiệu trưởng trường trung học trên đảo.

Chúng tôi cùng tuổi nhau, khi ấy còn rất trẻ (26-27 tuổi), nên tuy về mặt hệ cấp hành chánh, Nhựt là cấp dưới của tôi, song trong quan hệ ngoài công vụ, chúng tôi sớm trở thành hai người bạn thân thiết. Trong thời gian này, tôi say mê đọc, ghi chép lại nhiều tư liệu của gần 50 năm công báo Pháp (Bulletin officiel de la Cochinchine française), từ năm 1862 đến năm 1910, do chính quyền Pháp lưu trữ và để lại cho chính quyền Việt Nam trên đảo, còn Nhựt thì miệt mài viết luận văn Cao học sử (thuộc trường Đại học Văn khoa Sài Gòn) với đề tài “Lịch sử chế độ lao tù tại Côn Đảo”. Người hướng dẫn anh trong luận văn này là giáo sư Nguyễn Thế Anh, một cây “cổ thụ” về sử học tại miền Nam trước 1975, về sau làm giám đốc tại Trung tâm Khảo cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), một cơ sở khoa học lừng danh chẳng những của Pháp, mà còn của cả châu Âu.

Ngày ấy tuy là Hiệu trưởng trung học, nhưng tánh Nhựt rất trẻ trung, đôi khi có phần … bạt mạng. Anh đeo một tay chiếc lắc bạc, tay kia chiếc đồng hồ, áo sơ mi dài tay xắn lên, phủ ngoài quần, cặp kính cận khá nặng, thường ghé lại văn phòng của tôi trên chiếc xe “cuộc” (course, xe đạp đua), trông như một anh sinh viên trên đường phố Sài Gòn. Gặp nhau, chúng tôi nói với nhau về những tờ công báo Pháp, về luận văn cao học của anh, và nhiều chuyện trên trời dưới đất khác.

Có lần Nhựt kể với tôi về sự “khó tính” của giáo sư Anh, “soi” từng chi tiết trong bản thảo luận văn của anh. Tất nhiên Nhựt và tôi cùng đồng ý rằng sự “khó tính” đó là đức tính cần thiết của nhà khoa học. Vì thế, nhiều năm trước khi được Nhựt tặng quyển luận văn này sau 45 năm chia cách, tôi vẫn tin rằng đây là tài liệu viết về chế độ lao tù Côn Đảo khoa học và khả tín nhất.

Khoảng giữa năm 1971, hãng thầu Mỹ RMK vừa làm xong con đường lên núi Chúa ở Côn Đảo thì cũng hết hạn hợp đồng với chính phủ Mỹ và chuẩn bị rút khỏi đảo. Theo thỏa thuận giữa hai bên Việt-Mỹ lúc bấy giờ, phần lớn vật tư xây dựng của RMK trên toàn miền Nam được bàn giao lại cho Bộ Công chánh VNCH. Chúng tôi nhân cơ hội này, xin với chính quyền trung ương (Phủ Thủ tướng, Bộ Công chánh, Bộ Nội vụ) được giữ lại số tài sản của RMK để đáp ứng các nhu cầu xây dựng trên đảo. Về phần hãng RMK, họ cũng muốn thế, để khỏi kéo hàng trăm tấn thiết bị về giao tại Sài Gòn.

Đề nghị của đảo được chấp thuận, ngoài số xe cộ, máy xúc, máy ủi, máy xay đá, chúng tôi bất ngờ với số vật liệu xây dựng (xi-măng, cát, đá, gạch, cây gỗ) còn rất nhiều. Thế là trong một buổi nói chuyện khào, cả ông chúa đảo (Đặc phái viên hành chánh) Cao Minh Tiếp và người phụ tá của ông là tôi có chung một ý nghĩ: sử dụng số vật liệu “chùa” này xây thêm cho trường trung học Côn Sơn 2 phòng học mới.

Mọi phương tiện đều sẵn có, nói là làm ngay. Chỉ sau mấy tháng, hai phòng học khang trang đã hoàn thành. Tất nhiên, một trong những người vui nhất là Nhựt, hiệu trưởng của trường. Và anh đã âm thầm làm một việc mà cả ông chúa đảo Cao Minh Tiếp và tôi đều không hay biết. Đó là anh gửi công văn về Bộ Văn hóa-Giáo dục và Thanh niên đề nghị ân thưởng cho hai chúng tôi huy chương Văn hóa –Giáo dục bội tinh và xin tổ chức lễ khánh thành hai phòng học dưới sự chủ tọa của ông Tổng trưởng Ngô Khắc Tỉnh!

Buổi lễ khánh thành và trao gắn huy chương đã diễn ra đơn sơ nhưng đậm nghĩa tình. Chúng tôi vui không phải vì tấm huy chương, mà vì mình đã làm được một việc thiết thực cho đảo.

Giữa năm 1972, cả ông Tiếp và tôi, người trước người sau, chỉ cách nhau 15 ngày, rời Côn Đảo. Ông Tiếp được thăng Đại tá, về làm Giám đốc Nha Cải Huấn Bộ Nội vụ, tôi về tỉnh Bình Dương theo nguyện vọng.

Sau năm 1975, tôi đi xa nhà 7 năm, khi trở về thì vật đổi sao dời, bạn bè tứ tán khắp nơi, có người đang xây dựng cuộc sống mới trên xứ người, có người đã làm mồi cho cá biển, người còn ở lại đất nước thì vất vưởng bên lề cuộc sống. Nhớ đến Nhựt, tôi cũng không biết tìm bạn ở đâu.

Mãi đến tháng 10.2017, tình cờ qua vài người bạn Facebook từng là học trò của Nhựt, tôi nối lại liên lạc với anh sau 45 năm bặt tin nhau. Lúc ấy (và cho đến bây giờ), anh sống trong một căn nhà cho thuê ở Long Hải (Vũng Tàu), bản thân anh không có smartphone, không có internet. Chúng tôi nói chuyện với nhau qua đường điện thoại liên tỉnh vào một đêm nọ, câu chuyện dông dài giúp tôi nắm được nhiều điều về bạn mình sau bao nhiêu thăng trầm dâu biển.

Theo lời kể của Nhựt, điều đáng tiếc nhất của anh là đầu năm 1975, anh được một học bổng nghiên cứu tại Pháp, trong lúc các thủ tục chưa hoàn tất thì xảy ra sự kiện ngày 30.4.1975, chương trình bị gãy đổ, tổ chức ở Pháp không chờ được, đã chuyển học bổng của anh cho người khác.

Nhựt cũng kể rằng trong thời gian anh làm hiệu trưởng ở Côn Đảo, cũng như nhiều cơ quan chính quyền khác, trường anh sử dụng một số phạm nhân có trình độ văn hóa làm công tác văn phòng. Trong số này, có một anh phạm nhân chính trị, tạm gọi là anh X, được Nhựt tin dùng.

Khoảng tháng 9-10 năm 1972, tức khoảng 3-4 tháng sau khi tôi rời Côn Đảo, Nhựt cũng xin đổi về đất liền, dạy tại trường trung học PK. Một vài người bạn FB của tôi học anh trong thời gian này.

Sau ngày 30.4.1975, anh phạm nhân X làm việc ngày nào với Nhựt tại trường trung học Côn Sơn - tất nhiên - không còn là phạm nhân nữa. Song điều oái oăm là X lại được cử làm hiệu trưởng trường PK, nơi Nhựt đang dạy. Mối quan hệ đảo ngược không còn được êm đẹp như ngày nào, Nhựt xin chuyển trường, về dạy tại trường TKN. Định mệnh trêu ngươi, không lâu sau, ông X lại chuyển sang làm hiệu trưởng trường TKN!

Không rõ bao lâu sau những tình huống cười ra nước mắt ấy, Nhựt chạy khỏi trường TKN, không tìm thêm trường khác mà tìm đường vượt biên nhiều lần và sự thất bại trong những toan tính này khiến anh tán gia bại sản.

Những chuyện trên tôi nghe Nhựt kể chỉ một lần, lại qua đường điện thoại, nếu có sai sót, mong chị Nhựt và các học trò cũ của anh bổ sung, đính chánh cho.

Những năm gần đây, anh và gia đình ở nhà thuê, sống heo hút ở miền đất Long Hải (Vũng Tàu) và đôi khi đắp đổi phần nào cuộc sống vật chất bằng hảo tâm của những người học trò cũ, nay cũng đã trên 60, vẫn còn giữ vững trong tâm khảm tình nghĩa thầy trò. Một thứ tình sư đệ quý hiếm trong cuộc sống lắm lọc lừa này.

Chính một người học trò của anh báo cho tôi hay tin anh qua đời đột ngột vào sáng sớm ngày 30.3.2020. Bốn giờ rưởi sáng, anh đạp xe ra Dinh Cô tập thể dục, 5 giờ sáng, anh bị đột quỵ tại nơi tập và vĩnh viễn ra đi.

Nghe kể rằng chủ nhà trọ không cho mang xác anh về nhà, có lẽ do mùa đại dịch, gia đình phải đưa thi thể anh đi hỏa táng ngay trong ngày. Chiều ngày 30.3, giờ VN, người học trò cũ của Nhựt gửi cho tôi mấy dòng tin nhắn:

“Em có ra đến Nhà Hỏa Táng Bà Rịa lúc 2h chiều thì việc hoả táng đã xong. Có gặp được cô và 2 người con trai của thầy tại nơi hoả táng! Tro cốt được rãi tại đúng Dinh Cô là nơi thầy mới tập thể dục 12 tiếng trước! Tất cả đều hết sức bất ngờ”

Cuộc đời Nhựt đã kết thúc gọn gàng như thế!
Có lẽ tài sản Nhựt để lại cho đời chỉ duy nhất tập luận văn cao học sử về chế độ lao tù ở Côn Đảo, dưới bàn tay hướng dẫn của nhà sử học Nguyễn Thế Anh. Tất nhiên, đó không phải là một tài liệu tuyên truyền, mà là một tư liệu học thuật nghiêm túc rất cần cho những ai muốn tìm hiểu một cách khách quan những gì đã diễn ra trên hòn đảo lịch sử này.

Trong danh sách bạn bè của tôi trên trang FB, có nhiều bạn sinh ra và lớn lên tại Côn Đảo vào những năm 1971-1972, hẳn có bạn từng là học trò của Nhựt. Xin hãy thắp cho người thầy cũ của mình một nén hương, tiếc nhớ một kẻ có tài nhưng số phận nhiều cay đắng.

Riêng với tôi, bài viết này cũng là nén tâm hương thắp cho bạn như một lời vĩnh biệt.

Luôn thanh thản ở cõi trời hạnh phúc bên kia Nhựt nhé!

Lê Nguyễn

Ảnh: Nguyễn Minh Nhựt là người ngồi giữa

JOHN BOLTON CHÍNH THỨC TRỞ THÀNH TỘI PHẠM TRỌNG TỘI — PHẠT 2,25 TRIỆU ĐÔ-LA, MẤT LƯƠNG HƯU VÀ 60 THÁNG TÙ NÊN LÀ MỨC KHỞI ĐIỂM

Tác giả Jonathan Gregory
Washington, D.C. - Ngày 31 tháng 8, 2026

John Bolton, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia với bộ ria mép rậm rạp, người đã dành nhiều năm công kích Tổng thống Trump sau khi bị sa thải, giờ đây đã trở thành một tội phạm trọng tội bị kết án. 

Tại tòa án liên bang, ông đã nhận tội lưu giữ trái phép thông tin quốc phòng sau khi gửi tài liệu mật, bao gồm cả những bí mật ở cấp Tối Mật (Top Secret) và Thông tin Mật Đặc biệt (SCI), qua email cá nhân và các ứng dụng nhắn tin cho những người không có thẩm quyền tiếp cận, rồi tiếp tục giữ các bản sao tại nhà. Các công tố viên cho biết tài khoản cá nhân được bảo mật sơ sài của ông sau đó đã bị một tác nhân có liên hệ với Ba Tư xâm nhập. 

Bộ Tư pháp tuyên bố: “Như ông Bolton vừa thừa nhận, ông đã đặt an ninh quốc gia của chúng ta vào tình trạng nguy hiểm nghiêm trọng và vi phạm pháp luật.” Ông cùng bộ ria mép nổi tiếng ấy đã đồng ý chịu khoản tiền phạt 2,25 triệu đô-la và từ bỏ lương hưu liên bang. Khi một người được trao chìa khóa để bước vào những căn phòng bí mật nhất của quốc gia, trách nhiệm đi cùng chiếc chìa khóa ấy phải lớn hơn quyền lực, bởi Ánh Sáng của công lý không thể có hai thước đo cho hai tầng lớp con người.

Đây cũng chính là Bolton, người đã kiếm tiền từ một cuốn sách tiết lộ hậu trường nhằm công kích Tổng thống, trong khi, theo Gregory, lại đối xử với những bí mật nhạy cảm nhất của Hoa Kỳ chẳng khác nào những trang nhật ký để chia sẻ với gia đình. Ông từng đối mặt với 18 cáo buộc; cuối cùng ông nhận tội đối với một trọng tội vẫn có thể mang mức án lên đến 60 tháng tù. Việc tuyên án được ấn định vào tháng Mười. 

Những người yêu nước đang theo dõi vụ việc này có một yêu cầu: hãy tuyên đủ 60 tháng. Không thỏa thuận ưu ái, không giảm nhẹ kiểu “bây giờ ông ấy đã hối lỗi,” và không có chuyện nghỉ hưu bằng tiền thuế của dân sau khi ông đã đặt các nguồn tin, phương pháp tình báo và những chương trình bí mật vào vòng nguy hiểm. Công lý chỉ giữ được sự thiêng liêng của nó khi chức vụ, danh tiếng và quan hệ không thể biến thành tấm khiên che chắn một người khỏi hậu quả của chính hành động mình.

Những người chỉ trích Tổng thống Trump đã dành nhiều năm hành xử như thể các vụ án liên quan đến tài liệu chỉ quan trọng khi chúng có thể được sử dụng để chống lại ông. 

Theo Gregory, lời nhận tội của Bolton đã xé toạc chiếc mặt nạ ấy. Một người từng được giao phó những thông tin được bảo vệ nghiêm ngặt nhất của đất nước đã đối xử với chúng như tài sản cá nhân, bị phát hiện và giờ đây phải đối mặt với những hậu quả thực sự: tiền bạc, lương hưu và khả năng bước vào phòng giam. 

Tháng Mười đang đến gần. Tác giả cho rằng vị thẩm phán nên gửi đi thông điệp mà Washington chưa bao giờ muốn nghe: nếu anh gây nguy hiểm cho quốc gia rồi quay sang chống lại vị Tổng thống từng bổ nhiệm mình, anh không thể cứ thế bước đi mà không chịu hậu quả. Luật pháp chỉ thực sự đứng trong Ánh Sáng khi cùng một sự thật được áp dụng cho cả người quyền thế lẫn người bình thường. Hãy tuyên đủ từng tháng.

Một bài thơ haiku

"Be happy for this moment, for this moment is your life." - Omar Khayyam

Bà ấy nhắn: "Thầy ơi, em sắp về."
Chỉ vậy thôi. Không ngày giờ, không chuyến bay.
Ông trả lời: "Ừ. Sài Gòn mưa nhiều lắm."
Họ quen nhau như vậy, trên Facebook, đã gần mười năm. Bà định cư ở Oregon, vừa nghỉ hưu. Thỉnh thoảng về Cần Thơ dạy lớp kỹ năng điều dưỡng. Ông là bác sĩ, từng có thời dạy ở trường Y, lớn hơn bà gần hai mươi tuổi, ở quận 3. Tóc ông đã bạc trắng, thích đi xe gắn máy kiểu cũ.
Họ kết bạn qua facebook, vì cùng thích thơ hai-ku và cùng làm trong ngành Y.
Bà đăng:
"lá rụng
chổi để đó thôi
trời xanh"
Ông bình luận: Ừ, để đó thôi. Không ai thả tim bài của bà. Chỉ có ông.
Rồi họ nói chuyện thiền. Chuyện sống giản đơn. Chuyện về một người trẻ mất ở khoa cấp cứu năm 1998 về báo mộng cho người yêu, mà cả hai đã đọc, và cùng thấy ấn tượng.

Một lần bà về, họ hẹn gặp nhau. Quán chay ở đường Trần Huy Liệu. Bà đi cùng đứa cháu gái. Ông đi cùng con trai út. Bốn người ăn cơm, nói chuyện rau củ, chuyện sức khỏe, chuyện huyết áp. Không có gì lãng mạn cả.
Lúc về, con trai ông nói: "Cô đó hiền ha, ba." Đứa cháu bà nói: "Ông đó nói ít mà vui tánh, dì Sáu ha."
Từ đó thành lệ. Mỗi năm một, hai lần. Bà về, lại nhắn ông một câu. Ông đến, cùng đi ăn một bữa. Có khi có gia đình, có khi chỉ hai người, có khi chỉ uống cà phê đá.
Năm nay bà về lâu hơn, một tháng. Bà ở nhà em gái bên Phú Nhuận. Chiều nào cũng đi bộ ra công viên Lê Văn Tám.
Chiều thứ ba, ông ra công viên. Hai người ngồi ghế đá, nhìn mấy đứa nhỏ đá banh.
"Ở bển, em trồng được cây hồng rồi đó thầy," bà khoe.
"Ừ. Hồng cũng khó trồng."
"Trồng ba năm mới ra một bông ... Em cứ nghĩ nó chết rồi."
Ông gật đầu. Ông hiểu. Ông nhớ đã từng mổ một ca ung thư, bệnh nhân sống được thêm ba năm, chỉ để thấy đứa cháu ngoại chào đời. Ba năm đó là một bông hồng.
Họ im lặng một lúc lâu. Tiếng con nít đá banh bịch bịch...
"Em còn làm thơ không?" ông hỏi.
"Còn. Nhưng em chỉ viết được một bài."
Ông cười. Nụ cười làm nếp nhăn ở đuôi mắt ông sâu hơn.
"Một bài cũng được. Hai-ku của mình thì cần gì nhiều."
Bà lấy trong túi xách ra một tờ giấy gấp tư, đưa cho ông. Nét chữ bà tròn, đẹp. Chữ phụ nữ.
"già rồi
vẫn còn kịp
rót trà cho nhau"
Ông đọc xong, gật gù, gấp lại, bỏ vào túi áo sơ mi. Cẩn thận như bỏ một viên thuốc quý.
"Thơ hay," ông nói.
"Thầy không chê dài hả?."
"Ba câu mới đủ. Không dài đâu."
Bà bật cười. Tiếng cười của người đàn bà sắp bước qua tuổi sáu mươi, bình thản và nhẹ nhàng như hơi thở.
Họ ngồi thêm nửa tiếng nữa, không nói gì.
Một người bán bong bóng đi qua.
Một cặp tình nhân trẻ cãi nhau rồi làm lành.
Nắng chiều xiên qua tán lá lung linh, lung linh trong gió.
Trước khi về, bà hỏi: "thầy ơi, theo thầy, mình là gì của nhau nhỉ?"
Ông không trả lời ngay. Ông nhìn lên trời. Trời chiều Sài Gòn tháng này xanh ngắt, cao vời vợi. Đẹp tuyệt.
"Mình là hai người gác hai ngọn đèn hải đăng," ông nói.
"Là sao, thầy?"
"Ngày xưa mỗi người gác một ngọn hải đăng, cách nhau một eo biển. Tối tối, họ cùng bật đèn lên. Không phải để soi cho nhau. Mà để biết, à... bên kia vẫn còn sáng. Vậy là yên tâm. Vậy là không ai bỏ gác."
Bà im lặng. Mắt bà hơi đỏ. Rồi bà gật đầu.
"Ừ. Vậy đi... mình cứ gác vậy ha thầy. Em gác bên kia, thầy gác bên này."
Họ đứng dậy. Ông chở bà về bằng chiếc Cub 81. Bà ngồi sau, vịn nhẹ vào yên, không vịn vào ông. Gió thổi tóc bà bay bay.
Tới đầu hẻm, bà xuống xe.
"Tháng sau em về lại bển rồi," bà nói.
"Ừ. Em nhớ tưới cây hồng."
Bà đi vào hẻm. Ông chần chừ vài giây rồi nổ máy, chạy đi. Bà ngoái lại nhìn đến khi ông đi khuất.

Tối đó, bà đăng một bài mới. Không phải thơ haiku.
"Bữa nay trời trở gió. Đèn vẫn sáng."
Và cũng chỉ có một người thả tim

Thi Anh

" Quán cơm hai ngàn "

Đầu đuôi là con Nhi. Nó đăng ký cho cả nhóm phụ bếp thứ bảy hằng tuần ở một quán cơm hai ngàn gần bệnh viện, đăng ký xong mới thông báo, đúng phong cách nó. Thằng Phát cản không kịp, nhưng nó tự an ủi bằng cách vác theo điện thoại, tính làm nội dung "một ngày làm tình nguyện". Cái ý đó chết sau đúng mười lăm phút, tui kể sau.

Quán cơm hai ngàn thì bà con chắc nghe rồi. Sài Gòn có mấy chỗ như vậy: cơm canh đàng hoàng, có thịt có rau, mà tính đúng hai ngàn đồng một phần. Quán tui phụ là của chú Mười, mở cửa từ mười giờ rưỡi tới mười hai giờ trưa, sáu ngày một tuần. Khách là thân nhân nuôi bệnh bên kia đường, công nhân, sinh viên, mấy cô chú chạy xe ôm, ve chai.

Buổi đầu tiên, chú Mười phổ biến nội quy cho tình nguyện viên mới, đúng ba điều, ngắn gọn hơn nội quy cô Năm nhiều.

Điều một: gọi người ta là khách. Cấm gọi "bà con nghèo", cấm gọi "hoàn cảnh".

Điều hai: không chụp hình khách. Thằng Phát nghe tới đây thì cất điện thoại, mặt tiu nghỉu như bị tịch thu vũ khí.

Điều ba: khách trả tiền thì mình nhận bằng hai tay, nói cảm ơn. Điều này tui thấy lạ nhất. Người ta trả có hai ngàn, mình nấu cả tô cơm mấy chục ngàn, mà mình phải cảm ơn.

Chín giờ rưỡi sáng thứ bảy nào tụi tui cũng có mặt, ngồi nhặt rau với lặt hành. Mười giờ mười lăm chia phần. Mười giờ rưỡi mở cửa, khách vô, ai cũng ghé cái hộp nhựa để trên bàn, bỏ vô đó tờ hai ngàn, rồi bưng khay đi kiếm chỗ ngồi. Mười một giờ là cao điểm, hàng dài ra tới cửa. Mười hai giờ đóng cửa, rửa chén, dọn dẹp, về.

Tới tuần thứ ba thì cái đầu dev của tui bắt đầu ngứa. Bà con biết tánh tụi tui rồi: thấy quy trình nào chậm là muốn tối ưu.

Đề xuất thứ nhất của tui: bỏ khâu thu tiền. Hai ngàn đồng thì gom cả tháng cũng không đủ tiền gas, mà cái hộp đó làm hàng bị nghẽn, có bữa một bà cụ móc túi kiếm tờ tiền lâu tới mức phía sau phải đứng chờ. Bỏ đi cho nhanh, coi như phát cơm miễn phí.

Chú Mười nghe xong, lắc đầu, trả lời gọn:
- Cho không thì người ta ăn một lần rồi thôi. Tính tiền thì bữa sau người ta dám vô nữa.

Tui chưa chịu. Tui đề xuất tiếp: vậy để con dán cái mã chuyển khoản, quẹt điện thoại cái là xong, khỏi lục túi. Chú Mười lần này còn không thèm nghĩ:
- Hai ngàn phải là tờ tiền, phải đưa bằng tay. Đưa bằng tay thì người ta mới thấy mình đi ăn cơm, chớ không phải đi xin.

Tui dạ, mà trong bụng nghĩ ông già này bảo thủ dễ sợ.
Rồi tui để ý một chuyện kỳ hơn nữa. Mỗi bữa, lúc chia phần, chú Mười luôn để riêng ra một khay cơm, đậy nắp, đặt trên cái kệ gỗ sát vách, cạnh một cái ghế nhựa trống. Khay đó không bán, không ai được đụng. Tới mười hai giờ, nếu không ai lấy, chú đem đổ.

Thằng Phát ghé tai tui: "Chắc cúng ông địa." Con Nhi đoán chú để dành cho chú ăn trưa. Tui thì nghĩ đơn giản hơn: dư thì để đó, kiểu vậy.

Tới tuần thứ mười, tui làm cái việc mà một thằng dev sẽ làm: tui lật cuốn sổ ghi số phần cơm mỗi ngày của quán, ngồi cộng. Cuốn sổ ghi tay, chú Mười ghi từ hồi mở quán, cột cuối cùng đề đúng hai chữ: "để dành". Bữa nào có người tới lấy thì chú đánh dấu.

Tui cộng hai tháng gần nhất. Bốn mươi bảy bữa cái khay đó không ai đụng tới, đem đổ. Sáu bữa có người tới lấy.

Bà con hiểu tui lúc đó chớ. Bốn mươi bảy phần cơm đổ đi. Tui ngồi tính ra tiền gạo tiền thịt, ra một con số mà tui thấy xót thiệt tình, tại quán này sống bằng tiền quyên góp, tháng nào cũng chật vật. Tui soạn hẳn một đề xuất thứ ba, đàng hoàng, có số liệu: bỏ cái khay để dành đi, lấy phần đó nấu thêm cho khách thật.

Trưa thứ bảy đó, dọn dẹp xong, tui đưa chú Mười coi. Chú cầm tờ giấy, đọc chậm, đọc kỹ. Rồi chú hỏi tui một câu:
- Bây đếm bốn mươi bảy bữa bị đổ. Sao bây không đếm sáu bữa kia?

Tui nói dạ, sáu bữa thì ít quá chú.
Chú Mười gấp tờ giấy lại, kéo cái ghế nhựa trống bên cạnh cái kệ, ngồi xuống. Lần đầu tiên trong ba tháng tui thấy chú ngồi cái ghế đó.

- Hồi đó vợ chú nằm bên kia đường. Nằm bốn tháng.
Chú kể chậm, giọng đều đều, như kể chuyện người khác. Hồi đó chú làm thợ hồ, ngày nào cũng tranh thủ làm cho xong phần của mình rồi chạy về bệnh viện. Cơm nước thì trông vô mấy chỗ phát cơm từ thiện quanh đó. Có một bữa, chủ thầu giữ lại đổ cho hết mẻ hồ, chú tới nơi thì đồng hồ chỉ mười hai giờ mười.
Người ta dọn xong rồi. Nồi rửa sạch, úp ngược, nước còn chảy thành dòng dưới chân.

- Chú không giận ai hết. Người ta phát cơm miễn phí, người ta có lỗi chi đâu. Mà chú nhớ hoài cái cảm giác đứng đó, tay còn cầm cái cà mèn.
Chú im một lát, rồi nói tiếp, vẫn cái giọng đều đều đó:
- Bữa đó chú với bả nhịn. Bả biết chú nhịn, bả không ăn nữa, đòi chia. Hai vợ chồng ngồi trên giường bệnh cãi nhau vì một hộp cơm. Bây hiểu hông. Chú không sợ đói. Chú sợ cái mặt của bả lúc bả biết chú nhịn.
Cả cái quán im re. Con Nhi bỏ cái giẻ xuống. Thằng Phát đứng như trời trồng, và tui biết chắc lúc đó nó không hề nghĩ tới chuyện quay cái gì hết.
Chú Mười gõ gõ lên cái kệ gỗ:
- Cho nên chú để một khay ở đây. Chú không biết bữa nào có người tới trễ. Bốn mươi bảy bữa không ai tới là bốn mươi bảy bữa mừng, con. Còn sáu bữa kia - sáu bữa đó là sáu người không phải đứng ngoài cửa nhìn cái nồi úp ngược.

Tui đứng đó, cầm cái đề xuất tối ưu của mình, và tự nhiên thấy nó nặng như cục gạch.

Nghề tui người ta dạy: cái gì ba tháng không ai đụng tới thì gọi là dư thừa, cắt đi cho nhẹ hệ thống. Tui quen tính hiệu suất tới mức quên mất một chuyện: có những thứ tồn tại không phải để được dùng, mà để lỡ có ai cần thì nó có sẵn ở đó. Cái ghế trống cạnh cái kệ cũng vậy - chú Mười để đó để người tới trễ có chỗ ngồi ăn đàng hoàng, chớ không phải đứng ăn vội ngoài cửa.

Bốn mươi bảy phần cơm đó, hóa ra không phải rác. Nó là chi phí để giữ một lời hứa: giờ này, chỗ này, còn cơm.

Tuần cuối cùng tui phụ quán, mười một giờ năm mươi, khách vãn gần hết. Tui đang lau bàn thì cửa mở. Một chị bước vô, đồng phục công ty may còn nguyên, tóc bết mồ hôi, tay xách cái cà mèn, mặt đầy vẻ tính quay lưng đi ra.
Chị nhìn cái nồi. Nồi cạn thiệt.
Tui làm cái việc mà ba tháng nay tui coi là dư thừa: bước tới cái kệ, bưng cái khay đậy nắp xuống. Cơm còn ấm.
- Chị ngồi đây ăn cho khỏe. Còn cơm mà chị.
Chị đó đứng khựng mấy giây. Rồi chị làm đúng một chuyện trước khi ngồi: mở bóp, lấy tờ hai ngàn, bỏ vô cái hộp nhựa trên bàn.
Tui nhận bằng hai tay, nói cảm ơn chị, đúng điều ba trong nội quy. Và tới lúc đó tui mới hiểu tại sao cái điều ba nó phải nằm trong nội quy.

Bữa đó về hẻm, tui ngồi ăn hủ tiếu, kể lại cho cô Út nghe. Cô nghe xong, trụng bún, không bình luận gì hết, chỉ nói đúng một câu:
- Rứa là ông đó với cô làm chung một nghề đó con.
Tui nghĩ hoài về câu đó. Cô Út bán hủ tiếu hai chục năm, có cuốn sổ cho ghi nợ. Chú Mười bán cơm hai ngàn, có một khay để dành. Hai người không quen nhau, cách nhau bốn cây số, mà làm y chang một việc: bịa ra một cái giá nhỏ xíu, để người ta bước vô cửa với tư cách khách, chớ không phải với tư cách người được thương hại.

Hai ngàn đồng, ở Sài Gòn, mua không được gì hết. Chỉ mua được đúng một thứ: một chỗ ngồi mà người ta không phải mang ơn ai.

Code toan bug
NGƯỜI MÀ BA MANG ƠN

(Trích từ tập truyện ngắn HAI ĐẦU NỖI NHỚ - nhà xuất bản Lao Động 2026)

Ba tôi biết mình sắp đi xa.
Ông bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi xa nhất của đời mình bằng những quãng lặng dài trên giường bệnh. Ông không nói ra, nhưng tôi nhận điều đó trong cách ông thở dài nhiều hơn, trong những buổi chiều ông nhìn cửa sổ mà thần sắc không còn gì cả. Có những cái nhìn như đã bước ra khỏi đời sống này một chút, đứng ở ranh giới mong manh giữa ở lại và rời xa.

Mùa đông Canada năm nay lạnh hơn mọi năm. Ba tôi ho nhiều. Tiếng ho khô khốc như một nhát cắt vào khoảng không. Tôi chở ông đi khám, rồi chở ông về. Những đoạn đường quen thuộc bỗng dài ra, như thể thời gian cố tình kéo chậm lại.

Một buổi tối, ông gọi tôi vào phòng. “Con… ngồi đây với ba chút.” Giọng ông nhỏ, rất nhỏ, như sợ đánh thức ai đó trong căn nhà yên ả này. Tôi ngồi xuống cạnh giường. Ánh đèn vàng làm khuôn mặt ông càng thêm gầy. Đôi mắt ông vẫn hiền, nhưng có một điều gì đó nặng trĩu trong đáy mắt, như một bí mật đã nằm quá lâu trong tim. Ông im lặng rất lâu. Tôi tưởng ông sẽ nói về bệnh, về thuốc, về những ngày còn lại.

Nhưng không. Ông nói chậm rãi: “Ba có một chuyện… ba giấu gần hai mươi năm rồi.” Tôi nghe tim mình đập mạnh. Có những câu mở đầu như thế luôn mang theo một cánh cửa cũ kỹ, mở ra một căn phòng mà người ta đã khóa chặt cả đời.

Ông cúi xuống, hai bàn tay gầy đan vào nhau. “Ba không phải người tốt như con nghĩ.” Tôi vội lắc đầu. “Ba…” Ông giơ tay ra, ngăn tôi lại. “Để ba nói hết. Rồi con hãy phán xét.” Trong căn phòng nhỏ, chỉ có tiếng thở của ông và tiếng im lặng của tôi.

Ba bắt đầu kể:
Ngày đó, đầu những năm 2000, ba về Việt Nam. Một chuyến về ngắn thôi, nói là thăm quê, nhưng thật ra là để chạy trốn. Chạy trốn khỏi những mâu thuẫn với mẹ trong căn nhà này. Chạy trốn khỏi cảm giác đời sống hôn nhân đã rạn nứt như một ly thủy tinh có vết nứt nhỏ: nhìn vẫn nguyên, nhưng chỉ cần một va chạm nhẹ là vỡ tan. Ba nói, lúc đó ông và mẹ gần như đứng bên bờ đổ vỡ. Tôi chỉ ngồi, nghe, và thấy trong lòng một thứ gì đó lạnh dần.

Rồi ông kể tiếp: Trong một buổi chiều ở Sài Gòn, ba gặp lại người yêu cũ. Người con gái năm xưa, thời giảng đường đại học. Một mối tình mà chiến tranh, nghèo khó, rồi đời sống xô đẩy đã làm lạc mất nhau. Rồi ông gặp lại bà như gặp lại một đoạn thanh xuân tưởng đã chết. “Ba không ngờ con ạ, tim con người nó ky` lắm, nó ngủ yên mấy chục năm, rồi chỉ cần một ánh mắt là nó thức dậy.” Giọng ông run. “Ba không kiểm soát được.”

Ông nói, khi đó ông như một kẻ khát nước lâu ngày, gặp lại dòng sông cũ. Một chút yếu mềm. Một chút hoang mang. Một chút sai lầm. Và năm tháng trôi qua nhanh như một cơn mê.

Ba ở Việt Nam vài tháng. Rồi ông trở lại Canada, mang theo một bí mật ông nghĩ sẽ chôn xuống cùng sự im lặng, không ai biết. Nhưng đời không để người ta chôn dễ như thế.

Năm tháng sau, bà điện từ Việt Nam. Chỉ một cú điện thoại ngắn, như tiếng chuông rơi xuống vực sâu: “Em có thai.” Ba chết lặng. Ông nói ông đã ngồi rất lâu, nhìn tuyết ngoài cửa sổ mà không biết mình đang ở đâu. Đứa trẻ đó là một sinh linh, là máu thịt, là hậu quả của một phút lạc đường. Nhưng dù sao cũng là một phần đời ông.

Ông cố liên lạc trong hoảng loạn. Ông muốn tìm nhưng bà đã biến mất. Bà rời khỏi chỗ cư trú khi biết mình mang thai như một cánh chim tự bay đi trong giông bão. Gần một năm sau, ba mới biết chắc chắn: Ông có một đứa con gái, một đứa con chưa từng được bồng, chưa từng được nghe tiếng “ba”.

Hai mươi năm. Ông mang điều đó như một vết thương không chảy máu, nhưng đau âm ỉ từng ngày. Ông sống tiếp. Ông làm tròn vai người chồng, người cha. Nhưng trong sâu thẳm, có một góc tối ông không bao giờ bước ra ánh sáng. Cho đến bây giờ.

Ông nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe. “Ba sắp đi rồi. Ba không mang theo được nữa. Ba không muốn chết mà trong lòng còn một món nợ như vậy.” Tôi nghẹn. “Ba muốn con…” Ông nắm tay tôi, bàn tay lạnh. “Ba muốn con tìm em con.” Câu nói rơi xuống như một giọt nước rơi vào lòng hồ tĩnh lặng. Tôi nghe trong đó cả một đời hối hận. “Nhưng ba có ít thông tin lắm, chỉ một cái tên, một địa chỉ cũ gần bến đò Thủ Thiêm…” Ông cười buồn. “Thành phố gần 9 triệu người… tìm sao nổi hả con…”

Tôi nhìn ông. Một người đàn ông cả đời gồng gánh, đến cuối đời chỉ xin một điều: Được chuộc lại một phần sai lầm. Tôi gật đầu “Con sẽ đi.” Ông nhắm mắt, nước mắt chảy ra. “Cảm ơn con…”

*****
Và rồi tôi đến Sài Gòn.
Máy bay mở cửa, hơi nóng ập vào như một bức tường lửa. +37°C trong khi ở London hôm qua -10°C. Chênh lệch gần 50 độ. Tôi choáng váng. Không chỉ vì thời tiết. Mà vì tôi đang bước vào một cuộc tìm kiếm mong manh như sợi chỉ.

Sài Gòn đông, ồn, rực rỡ. Nhưng lòng tôi thì trống rỗng. Tôi cầm mảnh giấy ba đưa, địa chỉ gần bến đò Thủ Thiêm. Ngày xưa là bến nước. Bây giờ… mọi thứ đã khác. Những con đường mới. Những tòa nhà mới. Những khu quy hoạch mới mọc lên như nấm.

Tôi đứng đó, giữa cái nóng như thiêu, mồ hôi chảy xuống lưng, mà cảm giác như mình đang đứng giữa một giấc mơ bị xóa mất dấu vết. Tôi hỏi một người bán nước. Họ lắc đầu. Tôi hỏi một bà cụ. Bà cũng lắc. “Tái định cư hết rồi chú ơi… giải tỏa lâu rồi…” Những người cũ không còn.

Tôi ngồi xuống vỉa hè, nhìn dòng xe như thác chảy và không biết mình phải làm gì tiếp. Lòng tôi đau và tinh thần bấn loạn vì đang lạc vào một thế giới mà mình chưa quen tiếp xúc.

Chiều xuống. Tôi gần như muốn bỏ cuộc thì một bác xe ôm già dừng lại. Ông nhìn tôi, giọng Nam bộ chậm rãi: “Cậu kiếm ai mà đứng đây hoài zậy?” Tôi thấy ông hiền hiền nên tôi kể. Ông nghe xong, thở dài. “Trời đất… chuyện dữ thần vậy sao.”

Ông gãi đầu. “Bến đò Thủ Thiêm hồi xưa khác lắm. Giờ giải tỏa hết trơn rồi.” Tôi cúi đầu. “Chắc con tìm không nổi…”

Ông nhìn tôi một lúc lâu, rồi nói: “Không hẳn. Người ta giải tỏa thì người ta dời đi khu tái định cư. Cậu cùng tôi qua qua đó thử coi, tận ngoài quận 9 ” Và thế là giữa cái nóng Sài Gòn, giữa dòng xe và bụi, tôi ngồi sau chiếc xe máy cũ của bác xe ôm già, đi về phía khu tái định cư.

Trên đường đi, bác xe ôm bỗng nói nhỏ: “Cậu biết không… hồi trước tôi cũng có thằng con trai.” Bác cười buồn, mắt vẫn nhìn thẳng: “Nó vượt biên năm 85. Đi rồi… mất luôn. Không tin tức. Không mồ mả. Tôi sống tới giờ, vẫn không biết nó nằm đâu.”

Tôi nghẹn lại. Bác nói tiếp: “Nên tôi nghe chuyện cậu, tôi thương. Đời người ta nhiều khi chỉ muốn biết một tiếng thôi: còn hay mất.” Gió nóng thổi qua mặt tôi. Tôi bỗng thấy chuyến đi này không còn là chuyện của riêng ba tôi nữa. Nó là chuyện của nhiều kiếp người thất lạc.

Cuối cùng, xe dừng lại trước một khu tái định cư. Những dãy nhà bê tông giống nhau, xám nhạt, đứng im dưới nắng. Bác xe ôm quay lại nhìn tôi: “Cậu tự hỏi đi. Tôi chờ.”

Tôi bước xuống, cầm mảnh giấy ba đưa, địa chỉ cũ đã mờ. Một người đàn bà ngồi bán rau dưới bóng râm ít ỏi.

Tôi hỏi nhỏ: “Con tìm một người phụ nữ hồi xưa ở Thủ Thiêm nay biết là đã dời về đây…”

Bà nhún vai: “Ở đây ai cũng từ Thủ Thiêm dời về. Cậu kiếm ai?”
Tôi nói tên của người phụ nữ năm xưa và tả dáng vóc theo trí nhớ của ba. Bà nhìn tôi lâu hơn. Rồi bà chỉ tay:
“Có một chị… cũng tên vậy, ở dãy trong nhưng nghèo lắm, mẹ con sống lủi thủi.”

Tim tôi đập mạnh. Một bước nữa thôi… hy vọng là tới. Tôi cảm giác như mình đang đứng trước ranh giới của hai mươi năm. Tôi đi chậm vào dãy nhà.

Những hành lang hẹp, mùi cá kho, mùi quần áo phơi nắng, tiếng vọng cổ nhà ai vang lên lẫn trong tiếng thở của thành phố. Căn phòng cuối hành lang có cánh cửa gỗ cũ. Tôi gõ cửa, im lặng.

Tôi gõ lần nữa. Một lúc sau, cánh cửa mở hé. Một cô gái gầy, da ngăm vì nắng áo thun cũ, tóc buộc vội. Cô có nhiều nét giống ba tôi làm tim tôi đập mạnh bất thường. Đôi gò má cao và cặp mắt sáng dấu của người thông minh quyết đoán. Cô nhìn tôi: “Ai vậy?” Câu hỏi điển hình của người Saigon.

Giọng cô khô, cảnh giác. Tôi nói nhanh. “Xin lỗi..tôi.. tôi tìm một người.” “Nhầm nhà rồi.” Cô định đóng cửa. Tôi vội đưa tay ra: “Khoan đã, tôi tìm bà Nguyễn Thị Lan Hương".

Cô khựng lại. Mắt cô mở to. “Sao anh biết tên mẹ tôi?” Tôi nói, chậm rãi: “Tôi đến từ Canada.” Cô cười nhạt, một nụ cười không vui: “Canada? Ở đây không ai liên quan Canada hết.” Rồi cô lại định đóng cửa.

Tôi biết nếu cánh cửa này khép lại, có thể nó sẽ không bao giờ mở ra nữa. Tôi nói vội, như một lời thú tội: “Tôi.. tôi là con của một người đàn ông đã từng quen mẹ cô.” Cánh cửa dừng lại. Cô nhìn tôi trân trân. Không phải ngạc nhiên mà là sợ. Sợ một trò đùa, sợ một cú lừa hay sợ một vết thương cũ bị đào lên.
Giọng cô lạnh: “Anh là ai? Anh tới đây làm gì?” Tôi thở ra: “muốn nói chuyện với mẹ cô một chuyện quan trọng.” Cô đóng cửa. Rầm.

Tôi đứng chết lặng ngoài hành lang. Tôi đã tìm thấy em. Nhưng em không muốn được tìm thấy. Tôi ngồi xuống bậc thềm, như một kẻ hành hương tới đúng thánh địa, nhưng bị từ chối bước vào. Tôi ngồi đó rất lâu. Bác tài xế vẫn kiên nhẫn chờ ngoài đầu hẻm cho đến khi cánh cửa lại mở ra. Không rộng. Chỉ hé. “Thôi anh vào đi.”

Cô mở cửa thêm một chút. Tôi bước vào. Căn phòng nhỏ đến mức chỉ cần vài bước là chạm tường. Một chiếc quạt cũ quay chậm, kêu cót két như tiếng thời gian mỏi mệt. Chiếc bàn ăn bằng gỗ. Không có gì ở đây giống như những gì người ta tưởng tượng về Sài Gòn hoa lệ. Chỉ có sự chật chội của đời sống nghèo. Chỉ có những ngày tháng người ta sống bằng cách nhẫn nại.

Trên cái bàn nhỏ cạnh góc tường tôi thấy một tấm hình cũ đặt trong khung nhựa rẻ tiền. Là hình em lúc còn nhỏ. Một đứa trẻ gầy đứng trước trường, mặc đồng phục cũ, mắt nhìn thẳng. Không có ai đứng cạnh. Không có bàn tay người cha đặt lên vai, chỉ có một mình em. Tôi đứng lặng. Cổ họng nghẹn như có gì mắc lại. Tôi chưa gặp em lâu nhưng đã thấy tuổi thơ em trước mặt.

Trong góc phòng, trên một chiếc giường thấp, có một người phụ nữ nằm nghiêng. Bà gầy, gò má cao, tóc đã lấm tấm bạc. Một chiếc khăn mỏng phủ ngang bụng. Hơi thở bà yếu. Cô gái nói khẽ: “Mẹ tôi… bệnh mấy năm nay rồi.”

Tôi đứng lặng, nhìn người phụ nữ ấy rồi trong lòng tôi bỗng hiện lên hình ảnh ba tôi cũng nằm trên giường, cũng thở dài, cũng mang theo một điều không nói được. Hai con người ở hai đầu thế giới. Hai cuộc đời bị một phút lạc đường nối lại bằng một sợi chỉ đau đớn.

Người phụ nữ mở mắt. Ánh mắt bà mờ, nhưng khi nhìn thấy tôi, bà vẫn giật mình. Bà chống tay ngồi dậy hỏi: “Ai.. ai vậy con?” Cô gái quay sang nhìn tôi: “Anh nói đi. Anh là ai?”

Tôi hít một hơi thật sâu rồi bắt đầu giới thiệu tôi là ai và tại sao tôi đến tìm bà, lời tôi nói rất nhẹ, chậm để lòng bà không bị bấn động vì bất ngờ. Người phụ nữ nằm im, không có cử chỉ chấn động. Tôi thấy đôi mắt bà chớp liên tục, đôi môi mấp máy như cố xua đi một hình ảnh cũ đang ùa về.

Bà Lan Hương quay mặt vào tường, đôi vai gầy run lên. Bà không khóc thành tiếng, chỉ có hơi thở là đứt quãng. Trong bóng tối của ký ức, bà nghĩ về những ngày tháng một mình vượt cạn, những buổi chiều nhìn con gái lớn lên thiếu vắng một bàn tay che chở.

Bà không trách ông. Bà hiểu rằng trong dòng đời đục trong, ai cũng có những phút giây lạc lối. Bà tha thứ cho ông từ lâu, không phải vì ông xứng đáng, mà vì bà muốn giải thoát cho chính trái tim mình. Với bà, tình yêu năm xưa như một cơn mưa rào, tưới mát thanh xuân nhưng cũng làm ướt sũng cả một đời người sau này.

Rồi bà chọn im lặng, bởi sự im lặng về quá khứ là món quà cuối cùng bà có thể tặng ông: Một sự giải thoát không lời. Bà thở dốc, rồi nói rất khẽ: “Tôi không giận nhưng cậu biết không có những đêm nó sốt, tôi bồng nó mà tôi chỉ ước có một người đàn ông trong nhà để tôi dựa vào một chút thôi..” Bà cười, nụ cười như gió tắt: “Chỉ một chút thôi.. cũng không có.” Tôi cúi đầu. Một câu nói nhẹ như vậy, mà đau như dao cắt.

Tôi đứng giữa họ, cảm giác mình như kẻ mang lửa tới một căn nhà đã khô nứt vì nắng hạn, sắp cháy. Người phụ nữ thở dốc, giọng yếu: “Mẹ xin lỗi..” Cô gái quay sang tôi, đôi mắt đỏ: “Anh nói ông ấy sắp chết?”

Tôi gật. “ Ba tôi đang bệnh nặng. Ba muốn tìm và muốn muốn biết bác và cô vẫn sống.” Cô gái nhìn tôi nói, giọng chậm, từng chữ như rơi xuống đất: “Anh có biết tuổi thơ của tôi thế nào không?”. “Tôi lớn lên… không có cha..” Bà đặt ngón tay trỏ trên miệng “Thôi đừng nói nữa con” Bà quay sang tôi, ánh mắt mờ đục nhưng sâu thẳm.“Cậu đừng trách nó..nó lớn lên cực lắm.”Bà ngừng lại, như nghẹn. “Tôi đã không cho nó một người cha.

Bà nói rất khẽ, như nói với chính mình: “Mọi chuyện qua rồi con à…” Giọng bà không có oán hờn. Bà kể lại ngày xưa..Một buổi chiều gặp lại người cũ. Một phút lòng mềm. Một cơn mưa của định mệnh.

Rồi sau đó là những tháng ngày mang thai trong im lặng. Bà không dám tìm ông. Không dám bước vào cuộc đời ông nữa. Bởi bà biết ông có gia đình, có một mái nhà bên kia đại dương. Và bà, chỉ là một người đàn bà nghèo. Bà chọn cách lùi lại, như một chiếc lá rụng xuống đất, không làm phiền ai, không đòi hỏi ai phải nhặt lên. Bà nghĩ, thôi thì đời đã an bài vậy rồi.

Có những kiếp người sinh ra để chịu phần thiệt. Chịu mà không nói. Chịu mà không van xin.

Cô gái đứng đó, lưng thẳng như một nhành cây dại vươn lên từ kẽ nứt bê tông. Em nhìn tôi, nhưng thực chất là đang nhìn vào một khoảng không vô định. Với em, người cha là một khái niệm trừu tượng, một khoảng trống đen ngòm trong những tờ giấy khai sinh và những câu hỏi của bạn bè thuở nhỏ.

Em không hận, vì hận thù đòi hỏi quá nhiều năng lượng, mà em thì đã quá mệt mỏi với cuộc mưu sinh. Em tha thứ, nhưng sự tha thứ của em mang hình hài của một ranh giới. Em không cần sự bù đắp muộn màng, không cần những đồng đô la hay sự thương hại. Em tự hào về đôi bàn tay thô ráp đã tự nuôi sống mình và mẹ.

Em nhìn mẹ, rồi nhìn tôi. Giọng em nhỏ, nhưng rắn như đá: ““Anh về đi. Bảo với ông ấy là mẹ con em vẫn sống. Thế là đủ rồi. Đừng nối lại làm gì, vì sợi dây đã đứt hai mươi năm, nối lại chỉ thấy toàn những nút thắt đau lòng. Có những cuộc gặp không phải để nối lại. Mà chỉ để khép lại.”

Tôi bước lên một bước. “Em.. ba anh…” Em lắc đầu, không phải lắc đầu vì căm hận mà vì em đã mệt. “Ông ấy có cuộc đời của ông ấy. Mẹ con em có cuộc đời của mẹ con em.”“Nối lại để làm gì hả anh?”“Để người ta thương hại? “Không cần đâu.”

Em quay mặt đi giấu nước mắt đang rơi. Em đứng im một lúc, rồi nói thêm, giọng rất khẽ:“Anh cũng đừng liên lạc nữa.” Em nhìn tôi, ánh mắt buồn nhưng dứt khoát: “Để mẹ con em sống bình yên. Để ông ấy cũng bình yên.” Tôi nghe câu đó như một lời triết lý lạnh lẽo của đời người.

Có những bí mật mở ra không phải để chữa lành, mà để người ta biết rằng vết thương ấy sẽ mang theo đến hết kiếp.

Tôi đứng giữa căn phòng nghèo, giữa hai người phụ nữ nghèo, và bỗng hiểu: Đời không phải lúc nào cũng có đoàn tụ. Không phải lúc nào cũng có tha thứ rực rỡ như phim ảnh. Đôi khi, điều cao thượng nhất của con người là không kéo nhau vào thêm một lần đau nữa.

Bà chọn im lặng để giữ phẩm giá. Em chọn quay đi để giữ bình yên. Còn tôi…Tôi chỉ là kẻ mang một ước nguyện muộn màng đến gõ cửa, để rồi nhận ra: Có những cánh cửa khép lại không phải vì hận,mà vì người ta đã quá mỏi để mở thêm lần nữa.

Trước khi rời đi tôi xin phép được ôm em vào lòng, dù được sự khuyến khích của mẹ nhưng em từ chối. Tôi cũng xin được để lại một số tiền ba gởi, em khéo léo từ chối. Và cuối cùng xin được trở lại thăm khi có dịp và muốn để lại địa chỉ và số phone để liên lạc khi cần sau này. Cả 2 im lặng..

Chiều buông xuống xóm nghèo. Em tiễn tôi ra nhẹ nhàng như khi em mời tôi vào nhà, không vội vã nhưng không nồng ấm cho khách phương xa. Tôi khẽ nắm tay em, em để yên, tim tôi đập mạnh vì 2 dòng máu cùng nguồn đang ôm lấy nhau trong thổn thức tình máu mủ anh em.

Tôi bước ra hành lang. Nắng vẫn chói. Tôi tưởng cánh cửa đã khép hẳn phía sau nhưng nghe tiếng em gọi: “Anh…” Tôi quay lại. Em đứng đó, tay nắm khung cửa, giọng nhỏ:
“Anh về nói với.. ba là mẹ em chưa từng ghét ông ấy.”

Tôi nghẹn: “Còn em?” Em im lặng rất lâu rồi em nói: “Em không ghét. Chỉ là em không biết phải đặt ông ấy ở đâu trong trái tim em”.

Cánh cửa khép lại nhè nhẹ như nhắn nhủ tôi lần thăm tới anh không cần gõ cửa nhiều lần..

Tôi rời khu tái định cư khi trời đã xế chiều. Nắng Sài Gòn vẫn rực rỡ, vẫn ồn ào, vẫn đông người như chưa từng có một câu chuyện nào vừa khép lại trong căn phòng nhỏ cuối hành lang.

Tôi đi mà lòng nặng như mang theo một tảng đá. Tôi không đưa được em về với ba. Không có một cái ôm kết nối, chỉ có một cánh cửa đóng lại. Nhẹ thôi. Nhưng đủ để hiểu: Có những mất mát không bao giờ sửa được nữa.

Đêm đó, tôi ra sân bay về lại Canada. Trong máy bay tôi ngồi im nhìn màn hình tối đen phía trước. Tôi nghĩ về ba. Tôi nghĩ về bà Lan Hương nằm nghiêng trên chiếc giường thấp, hơi thở nặng với tiếng khò khè của bệnh phổi. Tôi nghĩ về em, một cây xương rồng lớn lên trong sa mạc, không có những giọt nước tình thương, chỉ sống nhờ sương đêm của mẹ để vươn lên. Tôi nhắm mắt. Chuyến bay dài như một đoạn đời kéo ngược.

*****
Về tới Canada, trời đang rơi tuyết, mọi thứ trắng xóa.Những mái nhà im lìm, những con đường lạnh ngắt, và thế giới như được phủ lên một tấm khăn tang lặng lẽ.

Tôi về thẳng bệnh viện. Ba nằm đó,ông gầy hơn cả lúc tôi đi. Ngực ông nhấp nhô rất nhẹ, như một ngọn đèn chỉ còn chút dầu cuối. Khi tôi bước vào, đôi mắt ông mở ra, ông nhìn tôi không hỏi, chỉ nhìn như thể ông đã biết câu trả lời từ trước.

Tôi ngồi xuống cạnh giường, nắm tay ông, bàn tay lạnh nhưng cái siết rất nhẹ vẫn còn. Tôi cúi đầu, nói khẽ: “Ba… con đã tìm được bác và em.” Đôi mắt ông chớp một cái, một tia sáng thoáng qua, mong manh như tuyết tan trên mi.

Tôi nuốt nghẹn nói: “Bác ấy vẫn sống khỏe, bình an, cuộc sống khá đầy đủ.” Tôi nói dối mà lòng chua xót. Ba nhắm mắt, một giọt nước mắt chảy ra. Tôi tiếp: “Em cũng khỏe.” Tôi dừng lại rất lâu, rồi nói phần khó nhất: “Nhưng.. họ không muốn nối lại.”

Trong phòng im phăng phắc. Chỉ có tiếng máy đo nhịp tim đều đều như tiếng đồng hồ đếm ngược. Ba thở ra một hơi dài. Không phải thất vọng mà như trút xuống một gánh nặng đã mang suốt hai mươi năm.

Ông thì thào: “Vậy là đủ rồi…” Tôi cúi sát hơn: “Ba, em nói mẹ và em chưa từng ghét ba.” Ba mở mắt lần nữa. Ánh mắt hiền, rất hiền. Ông mấp máy môi: “Ba mang ơn…” Tôi nghẹn: “Ba có muốn con liên lạc nữa không?” Ba lắc đầu rất nhẹ. Ông nói, giọng gần như tan trong không khí: “Thôi đừng làm phiền họ nữa con, hãy để họ bình yên"

Ông im lặng một lúc lâu. Rồi ông nhìn tôi, như gom hết phần hơi thở cuối cùng để nói một câu: “Ba chỉ cần biết con bé đã lớn và khỏe mạnh” Ông cười. “Mẹ nó giỏi hơn ba. Một thân cò yếu đuối nuôi con trong mưa gió bão bùn của cuộc đời đơn độc” Tôi không kìm được nữa. Nước mắt rơi xuống bàn tay ông. Ba đưa tay lên, rất chậm, lau nước mắt tôi. Cử chỉ ấy yếu ớt, nhưng vẫn là ba. Ông thì thào: “Con đừng khóc…”

Ngoài cửa sổ, tuyết rơi dày hơn trắng xóa. Thế giới im lặng như một trang giấy. Tôi nắm tay ông thật chặt. Nhịp tim trên màn hình chậm lại, chậm lại như một bản nhạc sắp hết bài. Ba khẽ thở ra một hơi cuối cùng. Không đau đớn. Không giằng co. Chỉ như một người đã đi hết con đường dài, giờ được phép ngồi xuống.

Tôi vẫn nắm tay ông dù ông vừa bay đi về cõi vĩnh hằng. Ngoài trời tuyết rơi. Không ai biết trong căn phòng nhỏ này một món nợ đã được khép lại. Một bí mật hai mươi năm cuối cùng cũng được buông xuống.

Tim Nguyễn
Thủ Thiêm, tháng 3, 2007
Ở MỸ CÓ THỂ BUỒN, NHƯNG CÁI BUỒN CÓ TIỀN VẪN KHÁC CÁI VUI TRONG CẢNH TÚNG THIẾU

(Bài viết này chỉ những ai từng sống nghèo khó, túng thiếu thì mới hiểu và cảm nhận được )

Nhiều người nhìn cuộc sống mỹ rồi nói, ở Mỹ buồn quá đường phố vắng nhà cửa cách xa nhau, chiều tối ai về nhà nấy. ở Việt Nam vui hơn, bước ra đường là quán xá, cà phê bạn bè, hàng xóm đông vui, điều đó không sai.

Việt Nam có cái vui rất riêng mà những người sống xa quê lâu năm vẫn luôn nhớ : ly cà phê vỉa hè, tô phở buổi sáng, tiếng xe ngoài đường, bạn bè gọi nhau là gặp, hàng xóm qua lại, tối đi vài bước là có hàng quán. Nhưng cuộc sống đâu chỉ có chữ vui, có những người ở Việt Nam sáng mở mắt ra là phải nghĩ hôm nay kiếm được bao nhiêu tiền. Người buôn bán thì bữa đắt, bữa ế, hôm nay bán được nhưng ngày mai chưa chắc, người chạy xe ôm thì có khách mới có tiền, mưa gió hay bệnh 1 ngày là mất 1 ngày thu nhập, người làm công nhân thì còn phải lo công ty giảm giờ, giảm việc, thậm chí mất việc. Bình thường còn xoay xở được, nhưng chỉ cần trong nhà có chuyện là mới thấy đồng tiền quan trọng đến mức nào, con bệnh phải đi bác sĩ, cha mẹ lớn tuổi phải nhập viện, đến kỳ đóng tiền học phí cho con, tiền điện, tiền nhà, tiền ăn cùng lúc kéo tới. Có người túng quẫn quá phải đem chiếc xe máy, chính là cần câu cơm của mình đi cầm để lấy tiền lo thuốc cho cha mẹ, lo cho con đóng tiền học phí, rồi có tiền lại chuộc ra chạy tiếp. Vay tháng sau khó khăn lại đem cầm, 1 vong luẩn quẩn mà người ngoài nhìn vào chưa chắc hiểu hết.

Qua Mỹ thì có 1 cái buồn khác, buồn vì ít bạn, buồn vì nhớ quê, buồn vì không còn cảnh chiều chiều ngồi quán cà phê với bạn bè, buồn vì muốn gặp 1 người thân đôi khi phải lái xe cả tiếng. Nhưng với nhiều người chịu khó làm ăn, cái họ đổi lại được là sự ổn định hơn về kinh tế. Có việc thì cứ đi làm lãnh lương chi tiêu hợp lý rồi dành dụm, không phải ai ở Mỹ cũng giàu, và sống ở Mỹ cũng có tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm thuế và rất nhiều áp lực. Nhưng người có công việc ổn định thường dễ lập kế hoạch cho 1 cuộc sống hơn là sống trong cảnh thu nhập hôm có hôm không.

Va rồi người ta bắt đầu hiểu, có tiền thì mình có quyền lựa chọn, có tiền nhớ Việt Nam thì mua vé về thăm quê, có tiền cha mẹ đau bệnh, thì còn có khả năng gửi tiền về phụ thuốc men, có tiền con cái cần gì quan trọng mình còn xoay sở được, có tiền mình muốn về Việt Nam chơi 1 tháng 2 tháng rồi quay lại Mỹ tiếp tục làm công việc cũng được.

Còn không có tiền thì đôi khi ngay cả niềm vui cũng trở thành thứ xa xỉ, ngồi cà phê với bạn thì vui thật, nhưng trong đầu vẫn nghĩ ngày mai lấy tiền đâu ra tiền đóng đi học cho con, đường phố đông vui thật, nhưng cha mẹ đang nằm bệnh viện mà mình không đủ tiền lo thì lòng mình có vui nổi không? Cho nên tôi không nghĩ Mỹ hơn Việt Nam, cũng không nghĩ Việt Nam hơn Mỹ, mỗi nơi có 1 cái được và 1 cái mất. Việt Nam cho mình sự gần gũi náo nhiệt và ký ức quê hương, Mỹ cho nhiều người cơ hội làm việc tích lũy và tạo cho mình 1 nền tảng tài chính ổn định hơn.

ở Mỹ đôi lúc tôi cũng buồn nhưng tôi chọn cách đi làm, để dành tiền và tự tạo niềm vui cho mình, nhớ quê thì về quê, muốn giúp gia đình thì cố gắng kiếm tiền để có khả năng giúp, muốn đi chơi thì dành dụm rồi đi. Bởi cuối cùng tôi nhận ra 1 điều rất đơn giản: đông vui chưa chắc đã hết lo, vang vẻ chưa chắc đã hết buồn. Có công việc, có sức khỏe, có đồng tiền do chính mình làm ra và còn khả năng lo cho người thân, đó cũng là 1 kiểu bình yên.

Tôi chấp nhận cái buồn ở Mỹ để lấy sự ổn định cho mình và gia đình, có tiền thì nhớ quê còn mua vé về được, không có tiền ngay cả ở giữa quê nhà cũng chưa chắc vui.

Anthony Vu

CON MA TRÊN ĐƯỜNG RẦY XE LỬA

Tui nhớ năm đó là năm 1973, tui đang học lớp 7 còn anh Chín tui học lớp 10 ở Sài Gòn.

Hôm đó sau khi thi HK2 xong, được nghỉ 3 ngày, anh về nhà chơi còn anh Tám thì ở lại phụ buôn bán với chị Hai. Tui mừng quính, anh Chín đi đâu tui cũng lủi thủi đi theo nghe anh kể chuyện học hành ở cái xứ Sài Gòn hoa lệ.

Chiều, cha má tui qua nhà cậu Hai đám giỗ bà ngoại. Dưới quê làm đám giỗ 2 ngày, ngày đầu cúng mâm TIÊN vào buổi chiều chỉ có người nhà, ngày sau cúng mâm CHÁNH mời khách và bà con dòng tộc. Hôm nay có anh Chín ở nhà nên cha má tôi yên tâm ở lại chơi khuya một chút.

Chiều, anh em ăn cơm xong ra ngồi dưới gốc rơm cạnh hông nhà, anh hỏi tui:
- Mầy tin trên đời có ma không út?
Tui trả lời thật nhanh:
- Hông.
Ảnh liếc tui một cái bén ngót:
- Xời, không tin mà sợ?
- Sợ thì sợ thôi, tin thì không tin. Chết là hết cha nói hoài. Mà bộ anh tin hả?
- Trước đây thì tao không tin bây giờ thì tin.
- Xạo nữa.
Ảnh ngồi bật dậy làm tui hết hồn cũng ngồi theo:
- Hỏng tin? Tao chứng kiến rõ ràng nhen mậy?
Thấy ảnh nghiêm túc quá tui đâm ra hiếu kỳ. Ảnh quay sang nhìn tui:
- Để tao kể cho mầy nghe nhen, giờ nhớ tới tao còn thấy lạnh ót.

Hôm bữa tao đi học về, trưa nắng quá trớn mình mẫy tao toàn mồ hôi, đạp xe dọc theo đường rầy xe lửa tao tìm quán nước uống bậy ly đá chanh tránh nắng. Bình thường tao không có đi đường nầy nên lạ hoắc lạ huơ. Cuối cùng tao cũng thấy một cái quán. Giữa Sài Gòn mà cái quán coi nó nghèo nàn một cái nhen. Nhưng kệ, miễn có chỗ đục nắng là được. Tao vô quán kêu một ly đá chanh, bà chủ quán độ chừng 40 tuổi à, mặt nhìn hiền lành. Trong khi chờ đợi tao bắt chuyện:
- Ở đây vắng quá bán đươc không cô?
Bả lắc đầu, giọng nói ngao ngán:
- Ế ẩm lắm cháu ơi.
Tao hỏi có mấy câu tự nhiên bả khai ra cả nùi.
- Lẽ ra cô dọn đi lâu rồi nhưng vì con gái của cô nên cô phải ở lại.
- Con gái của cô sao ha cô?
- Tính tới năm nay nó cũng đã 16 tuổi rồi. Không biết nó buồn chuyện gì mà xe lửa vừa chạy tới nó phóng ra đường ray. Vậy là bánh xe nghiến nát mình con nhỏ hốt lại không còn được một bụm. (Tao rùn mình luôn mậy, con nhỏ đó tuổi với tao). Từ đó mỗi tuần nó đều về thăm cô.
- Sao thăm được cô?
- Nó nhập vô cô rồi lấy giấy viết viết cho cô.

Tao mắc cười quá xá, bả nói chuyện trên trời dưới đất. Chắc tại nhớ con quá nên sinh ra ngớ ngẩn. Bả bưng ly nước chanh để trước mặt tao rồi nói huyên thiên về con nhỏ đó, khen nó đẹp, nó thông minh còn tao thì mắc dị ứng nó rồi đó nhen, một mẹ một con mà đi tự tử bỏ mẹ mình lại là thứ đồ bất hiểu.

Tao quậy ly đá chanh, chưa kịp uống ngụm nào thì thấy bả lau mặt lia lịa mậy. Bả vắt cái khăn bàn ướt lên cổ lau thiếu điều muốn rách mặt, vừa lau vừa nói nhanh: "nó về, nó về" rồi bả ngáp áo áo nghe rùng rợn, nghe mắc nổi da gà liền. Tao dòm mặt bả lúc nầy y chang mụ phù thủy chứ không hiền hậu như hồi nãy. Bả dòm tao, cười kỳ mậy. Tao hồn phi phách tán xách cặp vọt ra xe cắm đầu cắm cổ đạp không kịp hớp một ngụm nước. Từ đó tao cạch con đường nầy luôn.

Ảnh kể xong, tui bán tin bán nghi, ngồi đờ người ra. Ảnh thúc cùi chỏ vô mình tui:
- Tin tao đi, tao nói thiệt đó.
- Sao hỏng ráng uống hết ly nước?
- Xời, mầy ngon vô đó uống, tao chạy thục mạng còn hồn vía đâu mà nước nôi.

Nói chuyện một hồi trời tối hu, hai anh em không dám vô nhà đốt đèn, tính nán chờ cha má về luôn nhưng ngồi ngoài gốc rơm muỗi cắn mà lại càng sợ ma hơn. Cuối cùng hai đứa bậm gan vô nhà, không thấy đường mò cái hộp quẹt (lúc đó chỗ tui chưa có điện), ảnh kêu tui qua nhà bà Ba xin lửa mồi đèn. Tui te te đi nhưng với điều kiện anh phải đi theo.

Sau khi đốt đèn, đốt nhang bàn thờ ông nội xong, chưa kịp làm gì thì bỗng dưng ảnh hai tay nắm lấy hai tay tui, nhìn tui lom lom, mắt long lên sòng sọc, giọng nói rin rít the thé như hồn ma bóng quế:
- Tao đâu phải là anh mầy đâu? Tao là con nhỏ 16 tuổi ở đường rầy xe lửa nè. Anh mầy còn thiếu mẹ tao tiền ly đá chanh đó.

Trời đất quỷ thần ơi, tui xém đái trong quần. Không biết ảnh giỡn hay là thiệt. Tui giật mạnh tay ra và quên mình sơ ma, vọt thật nhanh ra sân khóc hụ hụ rùm trời đất. Ảnh hoảng hồn chạy ra ôm vai tui:
- Trời ơi anh giỡn chơi, không có gì đâu. Thôi đi vô nhà.
Tui te te đi theo, vừa đi vừa khóc tức tửi:
- Làm anh gì kỳ, về méc cha nà,
- Đừng méc, hỏng chơi vậy nữa đâu.
- Hộc máu đi?
- Thề gì vậy mà thề? Mốt tao đi rồi có ở nhà đâu mà nhát ma?

Chiều tối hôm sau, má phát hiện ra hết dầu lửa bèn sai anh em đi tiệm. Nhà tui cách tiệm gần cả 700m nên trên đường đi anh em nói đủ thứ chuyện trên đời. Anh kêu ở nhà với cha má phải ngoan cho cha má vui, anh nói con đông nhưng cha thương tui nhất vì tui là con út và sẽ ở với cha má lâu hơn anh em khác. Đang vui vẻ cảm động vậy đó mà tới chuyến về, ai biết nhà tui cũng đều ngán con đường vô lúc đó, đoạn vạt mả có cây gội lớn chà bá, chung quanh cây cối rậm rạp và nhiều chuyện ma ly kỳ xuất phát từ đây. Vậy mà đi ngang chỗ đó, tui đang ôm cánh tay anh và đi thật sát vì sơ mà ảnh nỡ lòng nào:
- Tao đâu phải anh của mầy đâu, tao là.,.
Mới tới dó, tui buông tay anh ra, cắm đầu cắm cổ vừa chạy vừa khóc:
- Về méc cha nà.
Tui khóc rần rần làm ảnh đâm hoảng chạy đuổi theo:
- Nói nghe nè, nói nghe nè
- Hông!
Gần tới nhà, ảnh cũng dí theo kịp, kéo tay tui đứng lại:
- Nói nghe nè. Là tao tập cho mầy dạn dĩ thôi. Trên đời làm gì có ma. Tao muốn mầy có kỹ niệm đẹp về tuổi ấu thơ của mình ai dè nhát quá trời.
Tui thúc thích:
- Ngụy biện. Về méc cha đập cho tàn đời Thảnh khùng luôn.
- Cha đánh tao mầy vui lắm hả? Nhà có 2 anh em, tao đi rồi mầy nhớ, mà mầy méc cha tao còn ở nhà cũng không chơi với mầy, mầy cũng Tàn đời Thảnh khùng.
Tui làm thinh, suy nghĩ, anh nói cũng phải, nhưng mà:
- Làm anh mà chơi gì kỳ
- Hổng chơi vậy nữa đâu.
- Canh lúc trời tối hu nhát không hà.
- Ta nói không nhác nữa.
- Hộc máu đi?
- Hộc máu! Yên tâm rồi hén? Không méc cha hén?
Tui chúm chím cười. Hết giận...
Nghĩ lại, con nít dễ thương ghê.
Anh em của tui mấy năm trước đó

Le Nguyet

Blog Archive