Monday, April 20, 2026

ĐÂY LÀ TẤM HÌNH THỜI TRẺ CỦA GIÁO HOÀNG LEO CHO THẤY ÔNG ẤY ỦNG HỘ ĐẢNG CỘNG SẢN


NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG.

"Thật không thể tin được. Giáo hoàng Leo đã cùng Đảng Cộng sản chống lại Mỹ khi nước này sử dụng vũ khí hạt nhân của riêng mình đặt tại Ý để đối phó với vũ khí hạt nhân của Liên Xô.

Cũng giống như việc ông muốn bảo vệ vũ khí hạt nhân của Liên Xô khi đó, giờ đây ông không có vấn đề gì với việc Iran sở hữu chúng.

Hoặc ít nhất, Mr. Bóp chưa từng yêu cầu cụ thể Iran từ bỏ chương trình hạt nhân của mình.

FACT: 1983: Gặp gỡ Robert Prevost trẻ tuổi, vị Giáo hoàng tương lai Leo XIV, cùng với các linh mục Công giáo khác phản đối việc Reagan lắp đặt tên lửa hành trình tại căn cứ Comiso, Sicily của Mỹ.

Prevost tham gia một cuộc tuần hành do Đảng Cộng sản Ý tổ chức."

( Từ FB TUAN NGUYEN )





NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRONG CUỘC SỐNG

Tôi đọc các trang thấy có chị hỏi ở đâu bán cacao và loại nào là tốt. Sẳn, tôi nói chút về món nước uống này để chúng ta cùng tìm hiểu.

Tôi nói nước uống vì thật ra uống cacao bằng nước thì tốt hơn là dùng chocolate làm từ cacao. Khi mua chocolate, nhớ phải nhìn vào thành phần và cacao phải trên 40% mới là đúng chuẩn. Lượng đường thì không quá 18%. Vì trung bình một ngày, 1 người theo tiêu chuẩn cơ thể Châu Á chỉ được dùng tối đa là 25 gram đường mà thôi. Chứ nhiều hơn thì không tốt. Còn người tây cao to, cơ thể lớn thì có thể dùng gấp đôi số lượng ấy.

Cây cacao được trồng ở các quốc gia nằm ở gần đường xích đạo. Nó thích hợp với đất tơi xốp, không tích nước và thông thoáng. Nên ở các quốc gia có rừng nhiệt đới ẩm, họ đứng đầu thế giới về cacao. Hai nước chiếm đến 50% tổng thu hoạch toàn thế giới là Ghana và Bờ Biển Ngà (trước 1975, người Việt ta hay gọi họ bằng tên tiếng Pháp là Cote d’voire). Các nước đi sau nó ta có Brazil, Nam Phi, Malaysia …và 1 số nước Trung Phi. Ở Việt Nam, ta cũng có trồng, nhưng chỉ 1 số lượng rất ít, không thành ngành nông nghiệp chính yếu như lúa gạo hay cà phê.

Cây cacao trồng từ hột hay chiết cành. Nếu từ hột, cây có quả từ năm thứ 2 (18 tháng), lâu thì 3 năm. Còn nếu chiết cành thì chỉ 12 - 16 tháng, cây đã sinh quả. Quả cây cacao to bằng 2 nắm tay. Khi được 17 tháng thì nó chín. Tùy theo loại cacao mà quả có màu xanh (khi chín), màu đỏ, hay màu đen.

Sau khi thu hoạch, người ta bổ ra lấy hạt, có bao quanh bởi 1 lớp màn. Gom hết lại, phủ lá chuối lên để ủ, còn vỏ ngoài thì làm phân tự nhiên. Khoảng 1 ngày sau, do hơi nóng, lớp màn rỉ ra nước và lên men. Ngâm vài ngày trong nước men này, họ phơi nắng, rồi thu gom để xuất khẩu.

Đó là làm thủ công. Còn các công xưởng lớn thì họ bỏ hết lớp hạt vào những bồn lớn. Cứ 1-2 ngày 1 lần, người ta đảo liên tục để hột cacao bên dưới trồi lên và thấm nước men. Quá trình này kéo dài 5-7 ngày. Rồi đem phơi dưới nắng tự nhiên. Bảo đảm không còn chút nước để tránh việc lên men lại.

Khi đến nơi sản xuất, chủ yếu là Châu Âu và Mỹ, các hạt lại được rửa sạch lại 1 lần nữa cho sạch các chất cặn bã, hay hạt lép, trước khi rang vàng và đập bể lớp cứng bên ngoài bằng máy. Lõi hạt cacao sau đó được cán nát thành bột.

Quá trình làm chocolate cacao là sự pha trộn giữa cacao +đường + bột sữa + và sữa tươi. Tùy theo giá thành của từng loại chocolate mà thành phần cacao chiếm bao nhiêu % trong ấy. Chocolate càng đắng thì thành phần cacao chiếm tỉ trọng càng nhiều. Còn nếu ngọt thì đường hay bột sữa nhiều.

Xưa nay, chocolate của Thụy Sĩ vẫn nổi tiếng trên thế giới về độ ngọt không nhiều. Đắng, nhưng đầm, không gắt, không nồng nặc như ta hay thấy nếu làm thủ công.

Chính vì cái yếu tố này mà mặc dù các nước sản xuất chocolate đều là các nước phương tây. Chứ các nước xuất khẩu cacao hạt thì tỉ trọng sản xuất chocolate thành phẩm rất ít. Như Ghana là nước đứng đầu về sản xuất hạt cacao, nhưng tỉ trọng sản xuất chocolate của họ chưa tới 0,1%. Vì thiết bị, hệ thống vận hành, và công thức được lưu truyền hàng trăm năm thì chỉ các nước tân tiến mới nắm vững.

Điều này không có chi là ngạc nhiên. Ví dụ như ta thấy có rất nhiều nước sản xuất và xuất khẩu bút bi, nhưng đầu bút bi (viên bi tròn quay để mực chảy ra khi viết) thì hiện nay trên thế giới chỉ có 4 nước. Đó là Thụy Sĩ, Đức, Nhật và Trung Quốc. 

Trung Quốc chỉ mới đầu tư sản xuất gần đây thôi, chứ trước đây họ phải nhập đầu bút bi từ Nhật. Cả 1 năm, Trung Quốc nhập chưa tới 18 triệu đô tiền đầu bút bi để sản xuất hàng tỉ cây bút bi, thì việc đầu tư hàng vài chục triệu cho 1 dây chuyền sản xuất được cho là 1 sự lãng phí. Thà vậy nhập khẩu tiết kiệm nhiều hơn.

Mỹ tuy không sản xuất bút bi thông thường, nhưng kỹ thuật sản xuất đầu bút bi cho các phi hành gia xài trong vũ trụ thì họ đứng đầu thế giới. Có người thắc mắc tại sao không dùng bút chì, khỏi tốn kém hàng chục triệu để sản xuất đầu bút bi chỉ để cho các phi hành gia viết? Xin thưa, là do đầu bút chì rất giòn trong không gian. Nếu gãy ra mà trôi nổi thì nó có thể làm hư hỏng những hệ thống của con tàu. Có khi còn gây nguy hiểm cho người nếu nuốt phải.

Nếu mua cacao bột để uống thì nên biết cách. Không được pha nhiều đường để giảm chất đắng vì như thế thì ta đang uống đường, uống sữa đặc, chứ không uống cacao. Tốt nhất là uống sau khi đã dùng cơm xong, bụng đã có thức ăn.

Chocolate có nhiều tác dụng. Các bạn để search google để tìm hiểu thêm. Nhưng xưa nay, nó luôn được xem là tốt cho những ai có bệnh tim mạch. Nhưng cũng không nên uống nhiều vì sẽ làm ta khó thở và mất ngủ ban đêm. Ban đêm khó ngủ, uống cacao giúp ngủ ngon nếu uống 4 tiếng trước khi lên giường và phải pha loãng. Không nên uống sau 7 giờ tối.

Tôi thấy có 1 chị y sĩ bày cách uống 1 loại nước chống đột quỵ mà tôi nghe nói đã lâu, giờ chị ấy nhắc thì tôi nói luôn. Lấy 1 nắm lá dâu tằm + 1 nắm lá tre nấu với 1 nắm đậu xanh, nấu lên. Nhớ nguyên tắc khi nấu thuốc là phải nấu cho vừa sôi tới thì để lửa nhỏ liu riu 15-20 phút cho ra hết các chất. Uống sau khi ăn xong. Nấu 1 lít nước, rút lại còn khoảng 2 ly nhỏ. Uống trưa và tối. Nhắc lại, không nên uống nước gì mang tính chữa trị sau 7 giờ tối. Vì lúc đó, mọi cơ quan trong cơ thể đã dần đi vào giai đoạn nghỉ ngơi.

Một nắm lá thì tương đương 15-20 lá, tùy lớn bé.

Lưu ý là trong giai đoạn đầu, chỉ uống loãng cho quen dần. Theo liệu trình, chứ không uống liên tục. Nam uống 7 ngày thì dùng, nữ uống 9 ngày thì ngắt. Sau đó coi cơ thể mình thế nào, rồi tháng tiếp theo mới uống tiếp. Chứ những loại lá cây không phải để nấu lên rồi thay nước lã vì nó bắt thận thanh lọc và kiệt sức.

Có người nói uống xong thì thấy mắt sáng và người khỏe ra dù đã chữa trị rất nhiều trước đây vẫn không có tác dụng. Khi mạch máu bị nghẹt thì sinh ra đột quỵ, say sẩm mặt mày, choáng váng khi ngồi xuống, đứng lên. Phương thức này giúp các mạch máu được thông thoáng và không bị huyết áp cao (do tim phải bơm mạnh để máu lưu thông qua những chỗ bị tắt nghẽn).

Ai cần lá tre hay lá dâu tằm thì qua nhà tôi mà lấy.
Còn đậu xanh thì … ra chợ.

FB Hao Duc Nguyen


HỒ SƠ GITMO BỊ LỘ: KẾ HOẠCH 7 TỶ ĐÔ LA CỦA OBAMA & BIDEN — VỤ CƯỚP TIỀN THUẾ LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ HOA KỲ

SỰ THẬT CHẤN ĐỘNG! 

Các đảng viên Dân chủ có liên hệ với Obama và Biden đã thực hiện vụ cướp tiền thuế lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Họ đã tạo ra một quỹ đen trị giá 7 tỷ đô la được ngụy trang dưới danh nghĩa một tổ chức phi lợi nhuận về khí hậu mà không có sự giám sát hay minh bạch nào. Hàng tỷ đô la được chuyển vào một tổ chức ma do những người thân cận của đảng Dân chủ điều hành.

Trong khi giới truyền thông vẫn im lặng, sự thật đang dần được phơi bày cho tất cả mọi người chứng kiến. Những người yêu nước phải đọc và chia sẻ điều này trước khi nó biến mất.

Quốc gia đang bị cướp bóc giữa ban ngày

Tham nhũng đã đạt đến mức độ cực đoan mới. Chính quyền Biden, được hậu thuẫn bởi các cộng sự của Obama, đã dàn dựng một vụ lừa đảo quy mô lớn, chuyển tiền thuế của người dân vào các tổ chức phi lợi nhuận tạm thời không chịu trách nhiệm.

Đây là hành vi trộm cắp có chủ đích. Quỹ Liên hợp Khí hậu là một ví dụ điển hình.
Được thành lập từ hư không vào tháng 11 năm 2024 chỉ với 547.000 đô la, tổ chức này đã chi 451.000 đô la trong hai tháng mà không có lời giải thích nào.

Vào tháng 4 năm 2025, chính quyền đã trao 7 tỷ đô la mà không có sự minh bạch hay kế hoạch bài bản nào.

Không giống như các tổ chức phi lợi nhuận thực sự phải đối mặt với các cuộc kiểm toán, nhóm này có liên hệ với đảng Dân chủ chỉ nộp 49 trang tài liệu và được phê duyệt ngay lập tức.

Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) dưới thời Biden đã phê duyệt bất chấp những dấu hiệu đáng ngờ: không có hồ sơ tài chính và hàng triệu đô la đã biến mất không rõ nguồn gốc.

Được dự định cho các dự án năng lượng mặt trời nhỏ ở một vài tiểu bang trị giá chỉ 50 triệu đô la, phần còn lại trong số 6,95 tỷ đô la đã biến mất không dấu vết một cách có chủ đích.

Tiền chảy về tổ chức Power Forward Communities có liên hệ với Stacey Abrams. Mạng lưới này rửa tiền cho các nhà hoạt động và dự án của đảng Dân chủ.

Vấn đề không phải là khí hậu mà là quyền lực và tiền bạc.

Được điều hành bởi những người nội bộ như CEO Beth Bafford, cựu trợ lý của Obama, cùng với Phil Angelides, Anthony Foxx, Dolores Huerta và Patrice Willoughby.

Họ cài cắm những người trung thành, tạo ra những vỏ bọc, và chuyển hàng tỷ đô la mà không cần chịu trách nhiệm.

Truyền thông im lặng. Trump sẽ phải đối mặt với những cuộc tấn công không ngừng, nhưng Biden và Obama lại được bỏ qua. Các phương tiện truyền thông phớt lờ hoặc bác bỏ điều đó.

Đây là về việc kiểm soát nước Mỹ khi giới tinh hoa che đậy một tội ác tài chính lịch sử.

Họ mong chờ sự đánh lạc hướng trong khi cướp bóc đất nước. Những người yêu nước sẽ không im lặng.

Hãy lan truyền thông tin này rộng rãi. Yêu cầu điều tra. Ủng hộ những tiếng nói độc lập.

Hãy chuẩn bị cho các cuộc bầu cử năm 2026 và 2028 khi đảng Dân chủ cướp phá ngân khố quốc gia.

Âm mưu tội phạm này được ngụy trang dưới danh nghĩa quản trị, công khai đánh cắp 7 tỷ đô la. Vụ cướp lớn nhất trong thời hiện đại diễn ra với sự đồng lõa của truyền thông. Những người Mỹ chân chính phải đứng lên chống lại nó ngay bây giờ.

JulianAssangeWiki





Tai sao Obama không bị bắt?

Nhiều bạn hỏi sao Obama không bị bắt. Thật không dễ dàng chút nào. Ông là cựu TT, có những đặc quyền, chưa nói đến việc ra toà thì toà không xử. Bởi vì trong 8 năm cầm quyền ông đã đưa người vào nắm chức vụ trong những toà quan trọng.

Nhìn chuyện ông Trump kiện các vụ gian lận bầu cử với chứng cớ ràng ràng, toà vẫn ném đơn ra.

Nhìn các vụ ông trục xuất những người bất hợp pháp, toà vẫn ném đơn ra dù Tối cao pháp viện đã ban lệnh vài ba lần.

Nhìn vụ bà bộ trưởng tư pháp New York, James Leatitia, gian lận thuế, nhà, gian lận ngân hàng khi bị truy tố thì toà vẫn ném đơn ra.

Nhìn chuyện thượng nghị si Adam Schiff sống ở Maryland nhưng khai thường trú ở California để ứng cử, khi bị kiện không đủ yếu tố để ứng cử ở California, toà vẫn ném đơn kiện ra.

Hiện nay những người dân chủ không dễ gì bị truy tố.
Ông Trump và bộ sậu của ông biết việc đó nhiều hơn chúng ta.
Chỉ có một cách đưa những người này ra toà mau lẹ là toà án quân sự.
Muốn đưa họ ra toà án quân sự phải chứng minh họ phạm tội phản quốc.

Một người mà phe dân chủ gờm nhất là bà Sidney Powell bà là công tố viên của toà án quân sự. Do đó phe dân chủ đã truy tố bà trong 3 năm qua vì bà kiện về việc gian lận bầu cử và luật sư đoàn Texas đã họp lại để rút bằng hành nghề của bà. Nhưng toà phúc thẩm tuần trước đã bác bỏ tất cả các cáo trạng và tuyên bố bà không phạm tội gì.

Trở về lại chỉ trong vài tuần trước, việc giải cứu một phi công bị bắn rơi ở Iran. Đến nay mấy tuần đã trôi qua bạn có nghe báo chí nào nói người phi công này là ai hay chưa? Bạn có nghĩ một đại tá lại đi phụ trách vũ khí trên một chiếc máy bay oanh tạc.

Tin tức hôm nay biết rõ thêm là Mỹ đã mất 2 chiếc C130 và đã đưa ít nhất 120 biệt kích thâm nhập vùng này. Có tất cả 124 máy bay tham gia vào chiến dịch giải cứu này. Nơi máy bay hạ cánh chỉ cách khu vực chứa Ukranium của Iran chỉ 1,5km..

Họ đổ bộ xuống đây để làm gì. Chắc chắn là nhắm vào lượng Ranium của Iran đang giữ. Tại sao không chờ lúc điều đình xong với Iran để lấy lượng nguyên tử này.

Nếu lấy được lượng nguyên tử của Iran mà nó có nguồn gốc xuất xứ từ Mỹ thì chắc chắn có những tay quyền hành rất lớn tuồng Uranium từ Mỹ cho Iran. Ai có thể ký lệnh tuồng Uranium cho Iran trước thời ông Trump. Nếu có bằng chứng quả tang thì những kẻ ra lệnh này sẽ phạm vào tội phản quốc và phải ra toà án quân sự.

Bạn nào còn nhớ John Kerry, Ngoại trưởng của Obama. Ông Kerry có một người con rể gốc Iran.

Con trai ngoại trưởng Mohammad Javad Zarif là phụ rể trong đám cưới. Dĩ nhiên là họ luôn dấu những tin tức thế này. Do đó không ai nói là chuyện trên có thật. Nhưng chuyện có thật con rễ ông Kerry là người Iran.

Sau cuộc đám cưới này ông John Kerry và ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif trở thành đôi bạn thân. Không có tin tức rõ ràng các cuộc gặp gở được gọi là "shadow diplomacy".

Đó là sơ lược về việc đem hàng trăm chiếc máy bay để giải cứu một người phi công.

Những chuyện trên chỉ là đoán mò đọc cho vui. Còn chuyện dự định đưa Obama ra toà quân sự phải hỏi ông Trump.

FB Le Hoang





HỒ VĂN LANG

Vào năm 1972, khi Chiến tranh Việt Nam đang ở đỉnh điểm, một quả bom rơi xuống làng của ông Hồ Văn Thanh.

Cú nổ xé toạc ngôi nhà của ông. Khi khói tan, vợ ông và hai người con đã thiệt mạng.

Bị nỗi kinh hoàng và chấn thương tâm lý bao trùm, Hồ Văn Thanh ôm lấy đứa con trai còn sống sót – một đứa trẻ sơ sinh tên Hồ Văn Lang – và chạy vào rừng.

Ông không ngừng chạy. Ông chạy qua những cánh đồng lúa đang cháy, qua những tiếng thét kinh hoàng, sâu vào khu rừng rậm dày đặc thuộc huyện Tây Trà, miền Trung Việt Nam.

Ông tin rằng thế giới đang tận cùng. Rằng mọi người đều đã chết. Rằng cách duy nhất để bảo vệ con trai ông là biến mất hoàn toàn.

Và họ đã làm vậy. Trong suốt 40 năm.

Hồ Văn Thanh và con trai đã xây dựng một cuộc sống trong rừng sâu, thách thức mọi hiểu biết của chúng ta về khả năng sinh tồn của con người.

Họ dựng một ngôi nhà trên cây cách mặt đất khoảng năm mét để tránh thú dữ – hổ, rắn, heo rừng. Họ làm quần áo từ vỏ cây, đập cho đến khi mềm mại đủ để mặc.

Họ săn chuột, khỉ và rắn bằng những mũi tên tự chế và dao làm từ mảnh bom đạn chiến tranh vương vãi khắp khu rừng – những tàn dư của cuộc chiến đã đẩy họ vào đây.

Họ không có đồng hồ, không có lịch, không có khái niệm về năm tháng trôi qua. Thời gian đã dừng lại ở năm 1972.

Với Hồ Văn Lang, khu rừng chính là toàn bộ vũ trụ. Cha ông là người duy nhất còn lại trong đó.

Lang lớn lên từ một đứa trẻ sơ sinh thành một người đàn ông 42 tuổi mà không biết gì về thế giới bên ngoài. Ông chưa từng nhìn thấy một người phụ nữ nào – kể từ khi mẹ ông qua đời khi ông còn là trẻ sơ sinh. Ông không có khái niệm về quốc gia, chính phủ, tiền bạc hay công nghệ.

Ngôn ngữ của ông là một thứ phương ngữ đơn giản, khàn khàn, chỉ hai cha con ông hiểu được. Ông sống trong một hiện tại vĩnh cửu, không lo lắng về tương lai cũng không day dứt về quá khứ.

Khu rừng là tất cả.

Năm 2013, những người hái lượm địa phương đang ở sâu trong rừng thì phát hiện ra điều không thể tin nổi: hai bóng người đang di chuyển giữa những tán cây.
Họ trông giống người, nhưng không hoàn toàn như vậy.

Người dân làng báo cho chính quyền. Một đội cứu hộ được cử đến điều tra.

Khi cuối cùng họ tìm thấy Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang, họ gặp một người cha và người con đã trở thành thứ gì đó ở giữa con người và linh hồn của rừng.

Lang lúc đó 42 tuổi nhưng mang đôi mắt ngạc nhiên rộng mở như một đứa trẻ. Ông mặc khố làm từ vỏ cây. Tóc ông dài và rối bù. Ông di chuyển với sự im lặng và uyển chuyển của một con thú rừng.

Ông không biết bóng đèn điện là gì. Hay ti vi. Hay gương soi.

Khi đội cứu hộ đưa hai cha con về làng, những hình ảnh đã lan truyền khắp thế giới. Đây là một người đàn ông đã sống cả cuộc đời mình ngoài nền văn minh – một “Tarzan” có thật.

Quá trình chuyển tiếp sang cuộc sống hiện đại là một cú sốc lớn.

Lang hiền lành, tính tình tốt bụng, thường hay mỉm cười. Nhưng ông luôn bối rối.
Tại sao mọi người lại làm việc để đổi lấy “những mảnh giấy” (tiền bạc) trong khi họ có thể vào rừng tìm thức ăn?

Tại sao mọi người lại vội vã đến vậy?

Tại sao có quá nhiều tiếng ồn – xe hơi, xe máy, ti vi, radio – liên tục?

Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Alvaro Cerezo đã sống một tuần với Lang trong rừng trước khi ông hoàn toàn chuyển sang cuộc sống làng mạc. Cerezo vô cùng kinh ngạc trước những gì ông chứng kiến.

“Lang là con người thuần khiết nhất mà tôi từng gặp,” Cerezo nói. “Ông ấy không biết cách nói dối. Ông ấy không biết tham lam. Ông ấy không biết hận thù.”

Lang đã sống cả cuộc đời trưởng thành của mình trong trạng thái ngây thơ tuyệt đối. Khu rừng đã bảo vệ tâm hồn ông khỏi mọi thứ khiến con người trở nên cứng rắn – phản bội, tham lam, hận thù, hoài nghi.

Các nhà khoa học và nhân chủng học vô cùng hứng thú. Đây là một “bảng trắng” – một con người không bị ảnh hưởng bởi xã hội hiện đại, chủ nghĩa tư bản hay công nghệ.

Nhưng thế giới muốn biết: ai thực sự tự do? Người đàn ông sống trong ngôi nhà trên cây với không gì cả, hay phần còn lại của chúng ta, bị xiềng xích bởi điện thoại và nợ nần?

Câu chuyện có một bước ngoặt bi thảm.

Khu rừng đã bảo vệ tâm hồn Lang, nhưng cơ thể ông không được chuẩn bị cho thế giới hiện đại.

Trong 40 năm, ông sống trong một môi trường vô trùng và cô lập. Hệ miễn dịch của ông chưa từng tiếp xúc với virus hiện đại, thực phẩm chế biến hay chất ô nhiễm.

Bỗng nhiên, ông ăn đường, cơm trắng, thực phẩm công nghiệp. Ông tiếp xúc với hóa chất công nghiệp, khói xe và khói thuốc lá từ người dân làng.

Cơ thể ông không chịu nổi.
Năm 2021, chỉ tám năm sau khi được “cứu thoát”, Hồ Văn Lang qua đời vì ung thư gan ở tuổi 49.

Nhiều người quen biết ông tin rằng thế giới hiện đại đã giết chết ông. Căng thẳng, chế độ ăn kém, mất đi ngôi nhà yên bình trong rừng – tất cả đã quá sức chịu đựng.

Người đàn ông đã sống sót 40 năm trong một trong những khu rừng thù địch nhất trên Trái Đất lại không thể sống sót tám năm trong nền văn minh.

Câu chuyện của Hồ Văn Lang buộc chúng ta phải đặt ra những câu hỏi khó chịu.
Việc đưa ông trở về với nền văn minh là một cuộc cứu hộ – hay chúng ta đã cướp mất thứ gì đó từ ông?

Trong rừng, ông tự do. Ông săn bắt khi đói. Ông ngủ khi mệt. Ông sống không lo lắng, không so sánh, không bị đè nặng bởi những kỳ vọng khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại.

Trong nền văn minh, ông bối rối, choáng ngợp và cuối cùng bị bệnh tật.

Alvaro Cerezo đã nói rất đúng: “Lang không biết căng thẳng là gì. Ông ấy không biết lo lắng cho ngày mai nghĩa là gì. Ông ấy sống hoàn toàn trong hiện tại.”

Chúng ta gọi đó là “nguyên thủy”. Nhưng có lẽ đó mới là cách sống tiến bộ nhất.
Chúng ta đã xây dựng những tòa nhà chọc trời và tàu vũ trụ. Chúng ta đã kết nối toàn bộ thế giới bằng công nghệ. Nhưng chúng ta lại lo âu, trầm cảm và cô đơn hơn bao giờ hết.

Lang chỉ kết nối với cha mình, thế mà ông dường như hiện diện hơn bất kỳ ai trong chúng ta.

Di sản của ông là một lời nhắc nhở ám ảnh: khi sở hữu cả thế giới, chúng ta có thể đã đánh mất sự kết nối với Trái Đất.

Ông đã chạy vào rừng cùng đứa con sơ sinh trong Chiến tranh Việt Nam. Họ sống trong ngôi nhà trên cây suốt 40 năm. Khi xuất hiện năm 2013, con trai ông chưa từng nhìn thấy một người phụ nữ nào. Tám năm sau, thế giới hiện đại đã giết chết ông.






ĐÀ NẴNG _ KÝ ỨC KHÔNG QUÊN



Những khi buồn, tôi thường thả tiềm thức bay về thành phố Đà Nẵng. Bởi nơi đây là nơi tôi sinh ra và có nhiều kỷ niệm của một "tuổi thơ dữ dội". Nhưng Đà Nẵng trong ký ức tôi không chỉ là những buổi chiều đá bóng trên sân Chi Lăng, những buổi trưa trốn ngủ đi coi phim ở rạp cinema Trưng Vương hay Chợ Cồn, những lần trốn nhà đi tắm biển ở cầu chữ Y bến Bạch đằng hay những đêm cùng lũ bạn trong xóm đạo Chính Trạch chơi đùa nghịch phá trên sân ga Hoàng Hoa Thám hay con dốc Cầu Vồng.., mà Đà Nẵng còn hiện về trong tôi những cơn ác mộng những ngày cuối tháng 3/1975 kinh hoàng.

Đà Nẵng những ngày cuối tháng 3 ấy không còn là một thành phố biển yên bình dưới con mắt chứng kiến của một đứa trẻ 12 tuổi, mà là một bức tranh loang lổ màu xám đặc quánh của khói súng, màu đỏ của máu và màu bụi mù hỗn loạn.

Khi cơn lốc thời cuộc ập đến Đà Nẵng trong những ngày cuối tháng 3, căn nhà tôi trên đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) không còn là chốn dung thân an toàn khi nhìn dãy phố với những căn nhà im lìm vì hầu hết đã đi tản cư. Lúc ấy, Đà Nẵng trở thành một cái phễu khổng lồ chứa đựng đầy lính rã ngũ và dân di tản từ Huế, Quảng Trị, Quảng Tín, Tam Kỳ, Hội An....đổ về. Khi những tuyến đường bộ bị cắt đứt, họ đổ dồn về phía các bến cảng với hy vọng tìm về phía Nam.

Và Ba tôi dắt díu Mẹ và 6 anh chị em tôi lao vào dòng người cuồn cuộn. Đó là cuộc đua sinh tử về phía Bến Bạch đằng và cảng Tiên Sa, nơi được coi là lối thoát duy nhất để kiếm được một chỗ ngồi trên tàu vào Nam.

Hành lý gia đình tôi chỉ mang theo những gì gọn nhẹ nhất. Ba thằng em tôi còn quá nhỏ, đứa còn ẵm trên tay và hai đứa bám áo mẹ. Hai Anh chị tôi mang những túi xách nhỏ, còn tôi cầm chiếc va li mới mang từ chủng viện về chưa kịp giở ra.

Chúng tôi đi giữa dòng người hỗn loạn. Đường phố như lên cơn động kinh. Tiếng động cơ GMC, xe Jeep gầm rú, tiếng còi tàu hú vang trời từ phía biển và tiếng chân chạy rầm rập của hàng vạn người. Ba tôi luôn miệng quát:" Đi sát vào nhau, lạc là chết đó!" Đường phố lúc ấy là một cảnh tượng không tưởng tượng nỗi đối với một đứa trẻ 12 tuổi như tôi. Những chiếc xe quân đội, xe hơi, xe gắn máy của dân bỏ lại giữa đường. Những bộ quân phục, mũ sắt giày lính, súng và đạn vương vãi như những mảnh đời vụn vỡ. Người ta không còn đi nữa, mà là bị cuốn trôi đi trong dòng người chen lấn, dẫm đạp nhau tìm đường sống.

Bước chân tôi run rẩy giữa những rác rưởi chiến tranh, đạp lên những vũng máu và trong tiếng khóc than của những đứa trẻ lạc gia đình.

Khi đến ngã ba Sơn Chà, ba tôi để gia đình ngồi nghỉ bên vệ đường vì họ đã quá đói và mệt. Ông vứt bỏ chiếc Honda bên lề và dắt tôi đi tìm đường.

Khi đến Bến Bạch đằng và rồi đến Cảng Tiên Sa, cảnh tượng càng kinh hoàng hơn. Bến cảng vốn yên bình trở thành chiến trường của sự tuyệt vọng.

Các tàu lớn và xà lan đậu ngoài xa xa vì không cập sát bờ được, nên lính và dân tìm cách tiếp cận. Họ thuê hoặc cưỡng đoạt những chiếc ghe thuyền nhỏ để ra tàu lớn. Nhưng những chiếc ghe này thường bị lật úp giữa dòng vì quá tải người đu đeo ngay khi kịp tới đích. Nhiều người liều mình bơi ra với những chiếc can nhựa làm phao. Tại mạn tàu lớn, họ bám vào lưới bện hoặc dây thừng để leo lên. Không ít người đã tuột tay rơi xuống biển từ độ cao hàng chục mét hoặc bị cuốn vào chân vịt của những con tàu đang nổ máy rời bến.

Các chiến hạm hải quân và các tàu buôn dân sự quá tải đến mức người bám đen kịt từ sàn tàu đến cột ăng ten. Các xà lan khổng lồ không mái che, không lan can nghẹt người như kiến. Không thức ăn, không nước uống, nhiều người đã chết vì kiệt sức hoặc bị đẩy xuống biển trong cuộc tranh giành không gian sống dưới cái nắng thiêu đốt miền Trung. Thêm nữa là kỷ luật quân đội tan rã dẫn đến những nhóm binh lính bắn nhau. Có những người lính bắn chỉ thiên, thậm chí bắn trực diện vào đám đông để mở đường lên tàu. Tôi nghe tiếng súng chát chúa hoà lẫn trong tiếng gào thét gọi người thân như một địa ngục trần gian.

Khi những chiếc tàu cuối cùng thoát dần ra khơi, hàng ngàn người trên bờ rơi vào trạng thái hoảng loạn và tuyệt vọng. Nhiều người còn ở dưới làn nước biển vẫn cố bơi theo trên những chiếc phao tự chế dù biết không thể đuổi kịp. Và trên bờ, những người lính trút bỏ quân phục và súng đạn trong sự chán nản tuyệt vọng, mặc những đồ thường dân để hoà vào dòng người tạo thành những đống rác quân dụng khổng lồ dọc theo bờ biển. Tôi đã thấy có một anh lính Dù tự sát bằng súng lục và một anh lính Biệt động quân tự sát bằng lựu đạn. Thịt và máu loang lổ trên cát biển. Nhiều gia đình đứng ôm mặt khóc ly tán vì có người thân được lên tàu, còn họ bị kẹt lại.

Tôi và ba tôi đứng đó giữa những người bị bỏ lại. Hai cha con đứng nhìn mặt biển sủi bọt hồng_ nước biển hoà với máu. Ông nắm tay tôi lặng lẽ quay về. Ông hiểu, nếu cố giành giựt đi tiếp, cái giá phải trả có lẽ là mạng sống của cả gia đình.

Đường về nhà còn kinh khủng hơn cả lúc đi. Thành phố như một cái xác đang phân rã. Tôi giẫm đạp lên rác và vũng máu khô. Người ta đã đi gần hết, khu phố vắng tanh người quen chỉ đầy rẫy những kẻ xa lạ. Những người tản cư từ nơi khác tràn đến, họ phá cửa vào ở tạm những ngôi nhà vắng chủ. Tiếng kính vỡ, tiếng phá cửa sắt từ những cửa hiệu bị đập phá hôi của vang lên khô khốc.

Về đến nhà trong đêm 29, việc đầu tiên Ba làm là đóng kín tất cả các cửa. Cánh cửa gỗ khép lại, ngăn cách gia đình tôi với thế giới đảo điên ngoài kia. Trong bóng tối lờ mờ, ba tôi làm một việc lặng lẽ nhưng đau đớn: Đốt! Những bộ quân phục, những huân chương huy chương, sách vở, tài liệu giấy tờ_ những thứ từng là danh dự, là niềm tự hào của cuộc đời binh nghiệp của ông_nay lần lượt tan thành tro bụi trong chiếc thau đồng. Ba vội vã đốt những kỷ vật cuối cùng, như muốn đốt đi một quá khứ vừa khép lại.

Đêm ấy, phố Thống Nhất vắng lặng đến rợn người, chỉ có tiếng gió lùa qua những căn nhà trống hoác và tiếng súng hôi của thi thoảng vọng về. Ngồi co ro nhìn qua khe cửa, đứa trẻ 12 tuổi là tôi đã sớm hiểu thế nào là sự mong manh của thân phận con người trước vận đổi sao dời trong sự sợ hãi về một chế độ mới và về một tương lai mịt mù.

51 năm đã trôi qua, những vết thương trên da thịt thành phố đã lành, nhưng những gì xảy ra vào những ngày cuối tháng 3 bi thương năm ấy vẫn luôn âm ỉ trong lòng tôi- một chứng nhân lịch sử dù chỉ mới lên 12.

Dynh Anh

NƯỚC MẤT, NHÀ TAN

Tuổi thơ vô tư và hồn nhiên, nhớ ngày nhỏ ba mình đi hành quân, mẹ ở nhà chăm sóc một bầy con.

Ba giáo dục con rất hay, đứa lớn phải phụ mẹ khi ba vắng nhà, tập cho chị tự đi vào trường xin học và đưa các em đi học. Và cứ 1 đứa lớn thì phải trông một đứa nhỏ.

Nhà thì đông con một đứa bịnh thì nhiều đứa bịnh theo, nhiều khi em nhỏ bị sốt cao và giật kinh, mắt trợn trắng, mẹ ôm em vào lòng khóc và la to "ai cứu con tôi", hàng xóm nghe mẹ la chạy qua phụ giúp mỗi người một tay, lấy muỗng cạy răng và vắt chanh vào miệng cho em hạ sốt. Nhớ lại những người hàng xóm xưa rất dễ thương, luôn đùm bọc nhau, tình làng nghĩa xóm rất đậm đà.

Còn nhớ, ngôi trường mẫu giáo mình học ngày đầu tiên chị dẫn mình đi học là trường dòng của quân đội nằm trong trại lính Tổng Tham Mưu, mình đã khóc suốt khi chị đưa mình tới và bỏ mình đi về. Trường vào học phải đọc kinh và làm tay thánh giá rồi mới bắt đầu học. Có lẽ vì thế nên tuy ba, mẹ đạo Phật mà mình lại cảm thấy rất gần gũi với những người Đạo Công giáo.

Nhờ chị em gái đông nên mấy chị em chơi với nhau cũng vui, gây lộn hoài mẹ phải xử, cũng phải nhức đầu với đám con. 

Rồi thì pháo kích liên miên vào nơi mình ở, ba không có nhà nên một mình mẹ phải bế bồng các con chạy trốn. Không chạy xuống hầm kịp thì chạy núp sau tủ. Rồi nghe hàng xóm la máy bay bị cháy, rớt, vì Tổng Tham Mưu nằm ngay phi trường Tân Sơn Nhất.

Ngày 30.4.75 ba vẫn còn phải đi khảo sát, mẹ ở nhà trông chờ hoài chẳng thấy rồi thì gia đình bị đuổi ra ngoài phải sống nhờ vào một gia đình người quen, ở nhờ được mấy tháng gia đình phải về vùng hoang dã Kinh Tế Mới.

Ngày ấy, nghĩ lại cũng tội nghiệp ba mình và một số quân nhân cán chính sĩ quan VNCH, họ biết ở lại sẽ không thể nào sống nổi với CS, nhưng vì không muốn bỏ vợ và đàn con nhỏ lại, nếu đem theo thì con đông quá, em út mình lúc đó mới 3 tháng tuổi, lúc đó đang loạn lac, nếu chạy thì cũng sẽ không tránh khỏi trúng đạn bom.

Và rồi có lệnh kêu gọi các sĩ quan ra trình diện, chỉ cần đi học tập 3 ngày sẽ được thả.

Ai ngờ nhiều người ra đi mút mùa, vào những trại tù gọi là" Trại Cải Tạo".

Vợ con thì bị đẩy về Kinh Tế Mới, nhà cửa bị tịch thu. Gia đình tứ tán, 2 chị em mình phải về ở với ông ngoại, anh về ở với cô, số còn lại theo mẹ về Kinh Tế Mới.

Dạo ấy, mẹ nói CS tuyên truyền dối trá rằng: nông thôn cũng như thành thị, nhà ngói cũng như nhà tranh nhưng về đó đất hoang, trồng cây không đơm bông kết trái, không có trường học cũng không có bác sĩ.

Mình ở lại Sài Gòn với ngoại được đi học tiếp ở trường Võ Tánh, Phú Nhuận. Bà mất trong tai nạn giao thông ông ở vậy lo cho dì và cậu. Cậu là phi công lái máy bay, được qua Mỹ du học. Rồi cậu cũng mất năm 74. Ông lại nuôi dì tiếp lấy bằng dược, và rồi phải vừa đi làm vừa nuôi hai đứa cháu nhỏ.

Ngày ngày, ông chở mình tới trước cổng trường và chờ cho cháu khuất bóng ông mới lái xe quay về, và tan trường ông lại đón.

Tuổi thơ vô tư, nhờ tình thương của ông lắp vào, ngày nào ông cũng chở 2 chị em đi chơi để cho cháu đừng nhớ nhà, đừng nhớ ba, mẹ nên dần dần mình cũng nguôi ngoai. Rồi thì sau hơn một năm mẹ lên bắt về Kinh Tế Mới. Cuộc sống nơi vùng đất hoang vu với nhà tranh, đèn dầu buồn gì đâu, mỗi tối nghe tiếng ếch nhái kêu thấy rùng rợn.

Cuộc sống thiếu thốn, những người mẹ đi làm miếng ăn không đủ để nuôi con, nhiều gia đình phải bỏ trốn về lại thành phố dù không được cấp hộ khẩu.

Bao nhiêu nổi khó khăn chồng chất cho những người phụ nữ, người mẹ thời ấy, nếu không giỏi thì đàn con bị đói.

Và rồi sống không nổi với chế độ mới, buôn bán thì bị tịch thu hàng, bị bắt lên bắt xuống, nhiều gia đình đánh liều cho con đi vượt biên để hy vọng có thể cứu được gia đình, cho dù biết rất là mong manh, con đi có thể không tới được bến bờ tự do. Cho con ra đi ở nhà mẹ hối hận, không biết nó còn sống hay đã chết.

Thế đó, đoàn quân giải phóng vào miền Nam cướp bóc, tuyên truyền dối trá rằng đem lại hạnh phúc, ấm no, nhưng lại dấu không kể hàng triệu người miền Nam vì sao lại bỏ nước ra đi và biết bao nhiêu người đã chết trên biển cả làm mồi cho cá mập và bao nhiêu người đã bị hải tặc hãm hiếp và bắt đi không có ngày về.

Vì thế, tháng 4 là tháng buồn, tháng đau thương, mất mát của người dân miền Nam, bị kèm kẹp, mất đất, mất nhà, gia đình tan nát nên hãy đừng ăn mừng khi tháng 4 về.

Trần Hoàng Yến



Blog Archive