TANG LỄ THẬT RA LÀ DÀNH CHO AI?
Bố tôi mất lúc 7 giờ 15 phút sáng ngày 10 tháng 8 năm 2026, sau những ngày cuối cùng chống chọi với bệnh tật bằng một sức chịu đựng mà đến giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy đúng với tính cách của một người từng là lính: lặng lẽ, bền bỉ, không than thở, còn một chút sức lực thì còn chiến đấu;
Sau khi bố mất, gia đình làm các thủ tục cần thiết rồi gửi thi hài bố vào khay lạnh của nhà tang lễ để bảo quản, bởi phải đến sáng ngày 12 tháng 8 gia đình mới làm lễ khâm liệm, phát tang, đón họ hàng, bạn bè và con cháu đến tiễn bố, như vậy bố sẽ nằm ở đó đêm nay, ngày mai và thêm một đêm mai nữa, mà đêm nay lại là đêm đầu tiên, cho nên khi mọi việc trong ngày đã tạm xong, mọi người đã mệt mỏi đi ngủ, tôi nằm xuống mà không sao ngủ được, trong đầu cứ hiện lên một hình ảnh khiến lòng mình quặn lại: bố đang nằm một mình trong căn phòng lạnh ấy, không có mẹ bên cạnh, không có các con, các cháu bên cạnh, không còn những tiếng nói quen thuộc của gia đình, chỉ có một thân thể đã đi cùng bố hơn bảy mươi năm đang nằm im lặng giữa cái lạnh của nhà tang lễ.
Tôi thương bố, và càng nghĩ càng thương, bởi một con người suốt đời sống giữa gia đình, từ thuở nhỏ đã có cha mẹ, anh em, rồi lớn lên có vợ, có con, có cháu, có đồng đội, đồng nghiệp, họ hàng, làng xóm, một người từng đi qua biết bao con đường, từng làm việc, dựng nhà, nuôi con, bế cháu, từng vui, từng buồn, từng khỏe mạnh, từng đau yếu, từng lo cho người này người khác, vậy mà cuối cùng thân thể ấy lại có một đêm nằm hoàn toàn một mình; nhưng rồi chính trong lúc không ngủ được ấy, tôi chợt tự hỏi một câu mà gần năm mươi năm sống trên đời tôi chưa từng hỏi mình một cách nghiêm túc: người đang nằm trong khay lạnh của nhà tang lễ kia có thực sự còn là bố tôi nữa không?
Tôi nghĩ rất lâu, và rồi thấy rằng dù nhìn theo cách nào thì có lẽ tôi cũng không nên thương bố theo cách tưởng tượng rằng bố đang rét, đang cô đơn hay đang chờ con cháu đến với mình, bởi nếu con người chỉ có thân xác, nếu chết thực sự là sự chấm dứt hoàn toàn của ý thức, thì từ 6 giờ 46 phút sáng hôm qua, khi trái tim bố ngừng đập, mọi cảm giác nóng, lạnh, đau đớn, sợ hãi và cô đơn cũng đã chấm dứt; còn nếu ngoài thân xác này quả thực có một phần nào đó mà từ hàng nghìn năm nay con người vẫn gọi là linh hồn, thần thức hay phần tinh anh của một đời người, thì có lẽ bố càng không nằm trong chiếc khay lạnh ấy, bởi phần thuộc về bố đã rời khỏi một thân thể quá mỏi mệt, đã bước ra khỏi căn phòng bệnh, khỏi những mũi kim, những dây truyền, những chiếc máy lọc máu, những tiếng báo động của máy móc và những ngày dài đau đớn, để đi đến một miền nào đó mà người đang sống như tôi không nhìn thấy và cũng không thể biết chắc.
Tôi không biết có thiên đường hay tiên cảnh hay không, cũng không biết linh hồn sau khi rời khỏi thân xác sẽ đi đâu, bởi đó là những câu hỏi mà con người đã hỏi từ hàng nghìn năm nay nhưng chưa ai có thể đem về một câu trả lời khiến tất cả mọi người đều tin; tuy vậy, trong đêm đầu tiên sau khi mất bố, tôi muốn cho phép mình tin vào một điều đẹp đẽ rằng bố không còn nằm trong căn phòng lạnh ấy nữa, ở đó chỉ còn thân thể mà bố đã mang theo trong hơn bảy mươi năm của một kiếp người, còn bố thì đã nhẹ nhàng rời khỏi nó, giống như một người đi đường sau một hành trình quá dài cuối cùng được đặt chiếc ba lô nặng xuống, không còn đau, không còn bệnh, không còn những giới hạn của tuổi già, biết đâu đang phiêu du ở một miền thanh thản nào đó, gặp lại cha mẹ, anh em và những người thân đã đi trước, hoặc đơn giản chỉ là được nghỉ ngơi sau một đời đã sống đủ những nhọc nhằn của kiếp người.
Nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy thân xác của mỗi chúng ta có lẽ cũng giống như một ngôi nhà mà tạo hóa cho ta mượn để trú ngụ trong một quãng thời gian nhất định; có người được ở trong ngôi nhà ấy ba mươi năm, có người năm mươi năm, có người tám mươi, chín mươi hay một trăm năm, rồi đến một ngày người chủ phải rời đi, ngôi nhà vẫn còn đó nhưng người từng sống trong ngôi nhà, từng cười, từng khóc, từng yêu thương, từng giận dữ, từng hy sinh, từng mơ ước và từng trải qua cả một đời thăng trầm đã không còn ở trong đó nữa; và chính từ ý nghĩ rất giản dị ấy, tôi bỗng hiểu ra một điều mà trước đây đã nhiều lần dự đám tang của người khác nhưng chưa bao giờ hiểu đến tận cùng: tang lễ, xét cho cùng, không phải là nghi thức dành cho người đã chết, mà là nghi thức của những người đang sống để bày tỏ lòng biết ơn đối với một cuộc đời đã hoàn thành.
Nếu người đã chết thực sự không còn ở trong thân xác ấy nữa thì họ đâu cần một chiếc quan tài đẹp, đâu cần những vòng hoa, đâu cần một bài điếu văn thật hay, cũng đâu cần biết có bao nhiêu người đến viếng, ai khóc nhiều, ai khóc ít, đám tang được tổ chức lớn hay nhỏ, bởi tất cả những điều ấy chỉ còn có ý nghĩa đối với những người ở lại; chính chúng ta mới cần một đám tang để có một khoảng thời gian dừng lại giữa cuộc đời vốn lúc nào cũng vội vã, để được đứng trước người vừa đi khỏi thế giới này thêm một lần cuối cùng, được nhìn lại khuôn mặt quen thuộc ấy, được thắp một nén hương, cúi một cái đầu và nói những lời mà đôi khi suốt mấy chục năm sống cạnh nhau chúng ta vẫn ngại nói, hoặc cứ nghĩ rằng ngày mai, tháng sau, năm sau vẫn còn thời gian để nói.
Có lẽ lời đầu tiên mà một đám tang giúp chúng ta nói được chính là cảm ơn, cảm ơn một người cha đã đem phần khỏe mạnh nhất của cuộc đời mình ra làm việc để nuôi những đứa con, cảm ơn một người mẹ đã đem tuổi trẻ đổi lấy sự trưởng thành của chúng, cảm ơn một người vợ hay người chồng đã cùng ta đi qua những năm tháng nghèo khó, bệnh tật và thăng trầm, cảm ơn một người anh, một người em, một người bạn đã từng xuất hiện trong cuộc đời mình, bởi đến khi một người vĩnh viễn ra đi ta mới hiểu rằng giữa hàng tỷ con người trên thế gian này, việc hai con người được gặp nhau, sống cùng nhau một quãng đời, thương nhau, giận nhau, giúp đỡ nhau và để lại dấu vết trong đời nhau vốn đã là một điều rất đáng biết ơn.
Nhưng một đám tang còn cho người sống cơ hội nói một lời khác, đôi khi khó nói hơn cả lời cảm ơn, đó là xin lỗi, xin lỗi vì có những lần cha gọi mà con nói mình đang bận, có những lần mẹ kể một câu chuyện đã kể nhiều lần nên ta nghe một cách hờ hững, có những bữa cơm cha mẹ chờ mà ta nghĩ tuần sau về cũng được, có những lúc người thân cần một câu hỏi han nhưng ta lại dành hết sự kiên nhẫn và lịch thiệp cho những người ngoài xã hội rồi trở về nhà với những người thương mình nhất bằng một khuôn mặt mệt mỏi; con người chúng ta có một nhược điểm rất lạ là những gì luôn ở bên cạnh thì thường bị xem là đương nhiên, chỉ đến khi mất đi mới nhận ra rằng điều tưởng bình thường ấy hóa ra là thứ không thể mua lại bằng bất cứ giá nào.
Khi cha mẹ còn khỏe, ta nghĩ còn nhiều thời gian; khi cha mẹ bắt đầu già, ta vẫn nghĩ chắc còn vài năm nữa; khi cha mẹ nằm viện, ta bắt đầu sợ nhưng trong lòng vẫn hy vọng sẽ có một lần trở về nhà; đến khi bác sĩ nói không còn khả năng hồi phục, ta mới hiểu thời gian đang được tính bằng ngày, bằng giờ; và khi chiếc giường quen thuộc trong nhà thực sự trống đi, khi một số điện thoại từ nay sẽ không còn gọi cho mình nữa, khi một người sáng hôm qua còn nằm trước mặt ta mà sáng hôm nay chỉ còn lại di ảnh, ta mới hiểu rằng trên đời có những cuộc chia tay không còn một cuộc gặp nào phía sau để ta sửa chữa những điều mình từng bỏ lỡ.
Có lẽ vì vậy mà tang lễ không chỉ để tiễn người chết, tang lễ còn để đánh thức người sống, bởi một chiếc quan tài đặt trước mặt nhắc ta rằng đời người có giới hạn, một nén hương cháy dần nhắc ta rằng thời gian cũng có giới hạn, một người hôm qua còn hiện hữu mà hôm nay đã trở thành người thiên cổ nhắc ta rằng những chuyện hơn thua, những lời giận dỗi, những cuộc tranh giành, tiền bạc, địa vị và rất nhiều điều mà khi đang sống ta tưởng là ghê gớm, đến trước cái chết bỗng trở nên nhỏ bé đến lạ;
và lúc ấy câu hỏi quan trọng nhất không còn là một người đã kiếm được bao nhiêu tiền, từng ngồi ở vị trí nào hay có bao nhiêu người biết tên mình, mà chỉ còn là sau khi người ấy đi rồi, có bao nhiêu người nhớ đến họ bằng lòng biết ơn.
Nếu một người cha mất đi mà những đứa con vẫn nhớ những năm tháng cha từng vất vả vì mình, nếu một người anh mất đi mà những người em vẫn nhớ những lúc khó khăn anh từng chìa tay giúp đỡ, nếu một người ông mất đi mà nhiều năm sau những đứa cháu vẫn kể cho con của chúng nghe rằng ông mình từng sống tử tế ra sao, thì tôi nghĩ cuộc đời ấy dù không có một bức tượng nào cũng đã dựng được một tượng đài trong lòng những người ở lại; mà tượng đài trong lòng người đôi khi còn bền hơn tượng đài bằng đá, bởi đá rồi cũng mòn, tên tuổi rồi cũng phai, nhưng một điều tử tế được truyền từ người này sang người khác có thể tiếp tục sống qua nhiều thế hệ sau khi người làm ra nó đã trở về với cát bụi từ lâu.
Từ cái chết của bố, tôi cũng hiểu thêm một điều tưởng ai cũng biết nhưng không phải ai cũng kịp làm, rằng hiếu thảo không thể đợi đến đám tang mới bắt đầu, bởi một đám tang thật lớn không thể bù cho những ngày cha mẹ cô đơn khi còn sống, một chiếc quan tài đắt tiền không thể thay cho một bữa cơm mà ta từng có thể ngồi ăn cùng cha mẹ, một vòng hoa thật đẹp không thể thay cho một cuộc điện thoại đáng lẽ ta nên gọi khi người ấy còn nghe được, một bài điếu văn xúc động đến đâu cũng không thể thay cho một câu “con thương bố”, “con thương mẹ” mà ta đã có thể nói khi người ấy còn mở mắt nhìn mình.
Hoa rồi sẽ héo, hương rồi sẽ tàn, khách viếng rồi sẽ trở về, tang lễ rồi cũng kết thúc, ngôi mộ rồi một ngày cũng phủ màu thời gian, chỉ có cách chúng ta đã đối xử với nhau khi còn sống là không thể quay lại để sửa chữa, cho nên nếu cái chết của một người thân có thể để lại cho người sống một bài học thì có lẽ bài học lớn nhất không phải là phải chuẩn bị một đám tang như thế nào, mà là hãy sống với nhau sao cho đến ngày phải chia tay, những người ở lại ít phải nói hai chữ “giá như”;
giá như tôi về thăm bố nhiều hơn, giá như tôi ngồi với mẹ lâu thêm một chút, giá như hôm ấy tôi đừng nổi nóng, giá như tôi chịu nghe hết câu chuyện cũ ấy, giá như tôi nói một câu cảm ơn, giá như tôi nói rằng tôi thương họ, bởi nỗi đau lớn nhất trước cái chết đôi khi không phải là người thân đã chết, vì chết là quy luật mà cuối cùng không ai tránh được, mà là nhận ra rằng có những điều rất nhỏ ta hoàn toàn có thể làm khi họ còn sống, nhưng đến lúc muốn làm thì người cần nhận nó đã không còn nữa.
Đêm nay là đêm đầu tiên bố tôi nằm lại ở nhà tang lễ, ngày mai bố còn ở đó thêm một ngày và một đêm nữa, rồi sáng ngày 12 tháng 8 gia đình sẽ đón bố ra làm lễ khâm liệm, phát tang, để họ hàng, bạn bè và con cháu đến thắp hương, cúi đầu tiễn biệt trước khi đưa bố đi nốt đoạn đường cuối cùng của một kiếp người;
nhưng viết đến những dòng này, tôi bỗng không còn thấy bố đang cô độc trong căn phòng lạnh như lúc mới nằm xuống nữa, bởi tôi hiểu rằng ở đó chỉ là thân thể đã hoàn thành sứ mệnh của mình, một thân thể mà tôi vẫn biết ơn và kính trọng, bởi đôi chân ấy đã chở bố đi qua biết bao con đường, đôi tay ấy đã từng lao động để nuôi gia đình, đôi vai ấy đã từng gánh những trách nhiệm mà những đứa con khi còn nhỏ không bao giờ hiểu hết, và trái tim ấy đã bền bỉ đập hơn bảy mươi năm, trải qua cả một cuộc đời vui buồn, khỏe mạnh, bệnh tật, rồi đến 7 giờ 15 phút sáng ngày 10 tháng 8 năm 2026 mới chịu dừng lại.
Nhưng bố tôi không chỉ là thân thể đang nằm trong khay lạnh của nhà tang lễ, bởi bố còn ở trong ký ức của mẹ, trong cuộc đời của những người con, trong khuôn mặt và tính cách của những đứa cháu, trong những ngôi nhà bố từng dựng, trong những người bố từng giúp đỡ, trong những câu chuyện mà từ nay gia đình sẽ còn kể đi kể lại, và có lẽ nhiều năm sau, khi một đứa con hay đứa cháu đứng trước một lựa chọn khó khăn rồi bất giác tự hỏi “nếu bố còn sống”, “nếu ông còn sống thì ông sẽ làm thế nào”, thì ngay trong khoảnh khắc ấy một phần của người đã mất vẫn đang hiện diện trong cuộc đời của người còn sống; một con người có thể chết về mặt sinh học khi trái tim ngừng đập, nhưng ảnh hưởng của họ chưa hẳn đã chết, bởi những gì tốt đẹp mà họ gieo vào người khác vẫn có thể tiếp tục sống, tiếp tục sinh sôi và đi xa hơn cả tuổi thọ của chính họ.
Tôi không biết có thiên đường hay không, không biết linh hồn sau khi rời khỏi thân xác sẽ đi đâu, và tôi cũng không muốn lấy niềm tin của mình để khẳng định một điều mà con người chưa thể biết chắc; nhưng trong đêm đầu tiên không ngủ này, tôi muốn tin rằng ở một miền nào đó ngoài giới hạn của đôi mắt, bố đã nhẹ nhàng hơn rất nhiều, người lính già sau trận đánh cuối cùng đã đặt chiếc ba lô nặng xuống, rời khỏi thân thể đã quá mỏi mệt, phủi bụi trên vai rồi thong thả bước tiếp trên một con đường khác, không còn máy móc, không còn kim truyền, không còn lọc máu, không còn bệnh tật và cũng không còn đau đớn.
Còn sáng ngày 12 tháng 8, chúng tôi làm tang lễ cho bố không phải vì bố cần một đám tang, mà chính những người còn sống như chúng tôi cần đám tang ấy, cần một ngày để con cháu trở về, để anh em đứng cạnh nhau, để họ hàng và những người từng quen biết bố được thắp một nén hương, để mỗi người có một khoảnh khắc đứng trước linh cữu mà nhớ lại một kỷ niệm của riêng mình, và để cả gia đình được nói với một người vừa hoàn thành hành trình hơn bảy mươi năm trên cõi đời này những lời cuối cùng mà từ nay không còn cơ hội nói trực tiếp nữa: cảm ơn bố đã đến với cuộc đời này, cảm ơn bố đã làm cha của chúng con, cảm ơn bố vì những năm tháng đã sống, đã lao động, đã hy sinh và đã để lại cho những người ở lại nhiều hơn những gì có thể cân đong bằng tài sản.
Phần đường của bố đã đi xong, phần đường của chúng tôi vẫn còn ở phía trước, và nếu có một điều tôi muốn mang theo từ cái chết của bố để sống nốt phần đời còn lại thì đó là đừng đợi đến một đám tang mới biết quý một con người, hãy thương khi người ấy còn biết mình được thương, hãy về thăm khi cánh cửa ấy vẫn còn người mở, hãy ngồi xuống ăn một bữa cơm khi chiếc ghế ấy vẫn còn người ngồi, hãy lắng nghe một câu chuyện dù mình đã nghe nhiều lần khi người kể vẫn còn có thể kể, hãy nói lời cảm ơn khi người ấy còn nghe được và nói lời xin lỗi khi vẫn còn cơ hội được tha thứ, bởi một đám tang dù trang trọng đến đâu cũng chỉ kéo dài vài ngày, trong khi điều quyết định ý nghĩa của một mối quan hệ, và có lẽ của cả một đời người, đã diễn ra từ rất lâu trước đám tang ấy: đó là chúng ta đã sống với nhau như thế nào khi tất cả vẫn còn đang sống.
Bây giờ đã rất khuya mà tôi vẫn chưa ngủ được, nhưng sau khi viết ra những dòng này, tôi không còn muốn nghĩ bố đang nằm một mình trong cái lạnh nữa, bởi nếu chỉ có thân xác thì bố đã không còn cảm nhận cái lạnh ấy, còn nếu thực sự có linh hồn thì bố càng không ở trong chiếc khay lạnh kia; bố cứ đi chơi đi, bố nhé, nếu có một miền nào đó sau cuộc đời này thì bố cứ thong thả mà đi, đừng lo cho mẹ, đừng lo cho anh em, đừng lo cho con cháu, bởi những việc bố có thể làm cho gia đình trong hơn bảy mươi năm của đời mình bố đã làm rồi, còn sáng ngày 12 chúng con sẽ làm nốt những nghi lễ cuối cùng đối với thân thể mà bố gửi lại, không phải để giữ bố ở lại, cũng không phải vì người chết cần những nghi thức ấy, mà để những người còn sống được cúi đầu trước một cuộc đời đã hoàn thành và nói một lời tưởng đơn giản nhưng đôi khi con người phải đi đến tận một cuộc chia ly mới hiểu hết ý nghĩa của nó:
Cảm ơn bố.
Và có lẽ, suy cho cùng, một đời người cũng không cần một lời tổng kết nào lớn lao hơn thế, bởi nếu đến ngày ta rời khỏi thế gian này mà vẫn còn vài người nhớ đến ta bằng lòng biết ơn, vẫn còn một người thấy cuộc đời mình tốt đẹp hơn một chút vì ta từng có mặt, thì cuộc đời ấy đã không sống uổng; còn tang lễ, khi hiểu đến tận cùng, cũng không phải là một nghi thức dành cho cái chết, mà là lời cảm ơn của những người đang sống dành cho một cuộc đời đã hoàn thành.
— Tú Lê