Friday, September 4, 2026

Bầu cử California

Vài lời cho bạn bè tôi, những người Mỹ gốc Việt, đang sống ở Westminster — trung tâm Little Saigon, Garden Grove, Fountain Valley, Cypress, Buena Park, La Palma, Los Alamitos, Rossmoor, Placentia..

Chúng ta là những người Mỹ gốc Việt, chúng ta hãy thực hiện nhiệm vụ của một người công dân Mỹ "Vote".

It's OK If you vote for Democrate candidate Derek Tran Or Republic candidate Chương Võ - Không có vấn đề gì nếu bạn đi bầu cho ứng cữ viên cộng hoà Chương Võ hay ứng cử viên đảng dân chủ Derek Tran.

Tôi tôn trọng quyền tự do của các bạn khi bạn đi bầu cho Cộng Hoà hoặc Dân Chủ...

Nhưng sẽ thực sự có vấn đề nếu bạn bầu cho những ai "KHÔNG LÊN ÁN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI"

Tại sao???

Hầu hết chúng ta, những người Mỹ gốc Việt, đều đến Mỹ để tị nạn cộng sản - Chủ Nghĩa Xã Hội...

Rất nhiều người trong chúng ta, những người Mỹ gốc Việt, không sợ bỏ mạng trên biển, vượt đại dương để thoát khỏi cộng sản để đến Mỹ...

Có cái gì sai sai nếu anh tự cho mình là hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà, con em của cộng đồng Việt Nam tại Mỹ thế mà lại vote NO cho House Resolution 1490 là một nghị quyết do Hạ viện Mỹ thông qua vào ngày 1 tháng 9 năm 2026, nhằm lên án và chỉ trích chủ nghĩa xã hội dưới mọi hình thức.

Derek Tran, là đại diện cho các bạn ở khu vực mà lại vote NO ở hạ viện về dự luật này thì bạn thấy thế nào?

Phần lớn người Việt mình ở Bolsa đều ít khi theo dỏi những người đại diện của mình ở quốc hội làm gì, vì tôi bầu cho ông ta bởi vì ông ta là người Mỹ gốc Việt là đủ...

Tháng 11 tới đây thì cũng có hai người Mỹ gốc Việt ra ứng cử Hạ Viện Mỹ...

Derek Tran - Người vote NO trong dự luật lên án xã hộ chủ nghĩa ở Mỹ - có nghĩa là anh ủng hộ xhcn...

Các bạn của tôi ở Bolsa nên giải thích cho bạn bè bà con ở Orange County hiểu rỏ điều đó....

Các bạn hãy xử dụng lá phiếu của mình để bầu ra người mà thực sự đại diện cho cộng đồng người Việt ở Mỹ...

Đừng để Bolsa - Little Saigon trở một thành phố giống như New York đang xây dựng xhcn ở đó....

Quy Cong Le

HAI MỐI TÌNH "VÒNG TAY HỌC TRÒ"

Vương Trùng Dương

Nguyễn Thị Hoàng sinh năm 1939, tại Huế. Học trung học Đệ Nhất Cấp ở trường Ðồng Khánh, Huế. Năm 1957 gia đình chuyển vào Nha Trang, học trường trung học Võ Tánh Nha Trang. Năm học lớp Đệ Nhị xảy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên, lớn hơn ba mươi tuổi. Hậu quả sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, chuyển cho bà Nguyên nuôi vì bà không có con.

Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, Nguyễn Thị Hoàng đứng ra nhận trách nhiệm: “không hề bị dụ dỗ”, vị giáo sư được trắng án. Vụ án nầy xôn xao dư luận ở Nha Trang và báo chí ở Sài Gòn khai thác tối đa mối tình thầy trò, tuổi tác so le!

Mối tình của Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành xảy ra khi cô giáo Nguyễn Thị Hoàng ở Đà Lạt. Bà sống cô đơn trong ngôi nhà lớn (trên lầu), thuê của Linh Mục người Pháp gần như hoang phế và cậu học trò (nhỏ hơn khoảng sáu tuổi) ở trọ tấng dưới, kết quả, theo nhà văn Thụy Khê: "Sanh con gái Mai Quỳnh Chi (giao cho mẹ của Thành nuôi)” nhưng sau Thành mang về cho chị Điệp nuôi.

Và từ Vòng Tay Học Trò, Mai Tiến Thành cũng viết cuốn Tiếng Nói Học Trò. (Mai Tiến Thành nhập ngũ và phục vụ ở Quân Đoàn II, qua đời tháng 10 năm 2008 tại Little Saigon)

Thực tế trải nghiệm từ hai mối tình học trò vụng trộm, nên Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng lần đầu ra mắt năm 1966, trở thành "quả bom" chấn động văn đàn miền Nam. Nhiều tờ báo lúc ấy nhận xét sách về mối tình cô giáo - học trò là "đồi trụy", khiến tác giả lao đao thời gian dài.

Dù nhận các tác phẩm của bà phần lớn được sinh ra từ trải nghiệm và quá trình sống nhiều lúc đau khổ, nhiều lúc thăng hoa, Nguyễn Thị Hoàng khẳng định không viết văn để gửi gắm điều gì đó.

Trải qua hai mối tình “vụng trộm” lãng mạn, Nguyễn Thị Hoàng chính thức kết hôn với giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Sum (gốc Huế, cùng tuổi, qua đời năm 2022) đã có 5 người con. Năm 1967, hai người lập nhà xuất bản Hoàng Ðông Phương, nhưng ông trốn quân dịch về lục tỉnh trốn ẩn, ở Long Xuyên, nơi hẻo lánh, lập Trại Ðá Mềm…. bà ở Sài Gòn.

Trong quyển Vào Nơi Gió Cát của Nguyễn Thị Hoàng đề cập đến trường hợp nầy. Theo nhà văn Nguyễn Văn Lục “Thời VNCH, Bửu Sum trốn lính, rồi bị bắt, trở thành lao công đào binh, bị đầy ra Quảng Ngãi. (Nguyễn Thị Hoàng, ngoài việc nuôi chồng ẩn náu, còn phải chăm sóc đàn con 5 đứa, lo việc nhà, việc cơm nước. Đó là những giai đoạn vất vả và đầy nước mắt”.

Vào thời lập nhà xuất bản Nguyễn Thị Hoàng ấn hành rất nhiều tác phẩm và là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng như Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Lệ Hằng.

Trong giai đoạn vinh quang của người cầm bút thì Nguyễn Thị Hoàng chấp nhận thương đau “phận đàn bà” khi lập gia đình!

Theo nhà văn Vũ Ngọc Tiến “Sau năm 1975, chị cùng gia đình đi kinh tế mới rồi mưu sinh ở Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa ba năm”. Trở lại Đà Lạt, sống ẩn dật, theo người bạn cho biết, bà hút thuốc liên tục và thích uống rượu giải sầu.

Năm 1990 bà xuất hiện với tác phẩm Nhật Ký Của Im Lặng. Năm 2020, ấn hành tập thơ Mây Bay Qua Trời Xưa và văn với Trên Thiên Đường Ký Ức. Rồi từ đó, bà hiển hiện trong những lần trò chuyện ở Sài Gòn. Có dịp sang Pháp và lần nầy sang Mỹ. Mừng cho bà trong tuổi cuối đời tìm được niềm vui.

Vương Trùng Dương

YÊU NƯỚC THƯƠNG NÒI CŨNG CẦN CÓ TRÍ TUỆ

Tôi buồn cho Dân tộc của tôi nhiều hơn là tôi buồn cho tôi. Vì Thế hệ chúng tôi đã từng tham gia cuộc chiến vô nghĩa và đẫm máu giữa hai miền Nam-Bắc. Nhưng giờ đây đáng tiếc vẫn còn có rất nhiều người cùng quân ngũ với tôi ngày xưa ấy, họ vẫn cứ tự hào về cái thời mà họ cho là hào hùng ấy.

Vâng, thưa Quý vị, tôi từng là "anh giải phóng quân“, thuộc Sư đoàn 320, Quân đoàn I, đánh trận Đồng Xoài, Ngầm Sông Bé năm xưa, từng là Đảng viên CS. Thời tôi được kết nạp vào Đảng khó lắm, không hề dễ như sau này. Phấn đấu phải cực kỳ tốt mới được. Thời đó được đứng trong hàng ngũ Đảng là thiêng liêng cao quý lắm! Ngày ấy Đảng còn mang tên là "Đảng lao động VN“, sau này họ mới đổi sang là "Đảng CS VN“.

Sau năm 1975 tôi may mà còn sống và ra Bắc, sau này tôi sang Đức học rồi về VN làm việc và lại sang Đức trở lại. Tôi đã từng làm cán bộ quản lý khối lưu học sinh, Sinh viên và hợp tác lao động tại Đông Đức cũ. Đến năm 1989 thì bức thành Đông –Tây Berlin sụp đổ, chúng tôi được đi lại tự do. Tôi so sánh ngay được là con đường mình theo đuổi để tiến lên CNXH và theo Chủ nghĩa CS là sai lầm và ấu trĩ.

Thế nên tôi bỏ ngay sinh hoạt Đảng, bỏ cả ảnh Bác Hồ treo trong phòng cũng vào năm 1989 đó. Mặc dù tôi không bị Đảng kỷ luật, khai trừ hay bị bất mãn gì với Đảng ủy Đại sứ quán cả. Trái lại tôi đang được thăng tiến.

Và cũng từ khi tiếp xúc thực tế với Xã hội Tư bản qua mắt thấy, tai nghe, tay xờ và biết Chủ nghĩa Tư bản hay và văn minh như thế nào, nên tôi mới bắt đầu viết phản biện, với động cơ chỉ mong sao cho người VN mình không còn u minh tăm tối như tôi trước đây nữa. Hãy bắt chước họ, để Dân tộc mình cũng sẽ cường thịnh như họ. Động cơ của tôi ban đầu và cho đến tận giờ phút này cũng chỉ đơn giản thế thôi. Chứ danh và lợi tôi cảm thấy mình nếm mùi như thế cũng là đủ lắm rồi.

Hơn nữa lớn tuổi như tôi thì ngu gì mà đi mưu lật đổ với chống phá. Tô Lâm lại là thằng em đồng hương mới và cũng đồng thời là người đồng chí của tôi (tuy chú ấy vào Đảng còn sau tôi) thì việc đó càng không thể xảy ra được. Mới lại tôi nhát nữa, nên giường nhà tôi kê chân rất cao; Sư Tử mà gầm lên là tôi thủ nhanh chai bia trong tủ lạnh với nắm lạc rang chui tọt vào ngay. Nằm trong "hang Pác Bó" tôi vừa nhâm nhi vừa dũng cảm diệt được mấy chú nhện, rồi chờ thời cơ. Sư Tử đi làm là tôi hùng dũng và tự tin cầm vỏ chai như Chí Phèo chui ra.

Quanh đi quẩn lại thế là đã 36 năm tôi thầm lặng, lủi thủi túc tắc viết phản biện gửi về Ba Đình, chả được xu mẹ nào. Đã thế tôi mất hết bạn bè, người thân thì xa lánh. Vì họ cho tôi là phản động. Nhưng tôi không hề buồn, vì coi như mình đã mất thứ gì đó không có giá trị cao, mà trước đây mình tưởng là vô giá!

Ở Đức tôi không theo hay tham gia đảng phái hoặc vào hùa bầy đàn với bất kỳ ai cả. Không ai có thể dắt mũi tôi được. Ai có chung chính kiến thì gặp nhau cho vui thế thôi, chứ không kéo bè, kéo cánh thành một băng đảng. Sống ở nước dân chủ tôi rất sướng vì mình thực sự được làm người, được tự do viết, tự do bày tỏ chính kiến của mình. Tôi cũng có thể viết phản biện về Chính phủ Đức và phê bình Nguyên thủ của họ; mà không bị cấm đoán hay theo dõi.

Tôi chỉ buồn rằng bao nhiêu người Việt sang Đức như tôi và cùng trang lứa như tôi; mà sao họ không hiểu rằng chính nhờ Thể chế Dân chủ của nước Đức mới này mà mình mới được sung sướng và giàu có như vậy. Ai về phép sang cũng ca ngợi là ở VN bây giờ sướng lắm, bọn nó nhiều tiền lắm. Nhưng cuối cùng họ cứ ở lì lại đây, có ai chịu về đâu. Thế mới lạ!

Xem ra họ vẫn tôn sùng Lãnh tụ, tôn vinh Đảng, họ vẫn thích hát những bài đánh Mỹ, diệt ngụy v.v…Họ sống nhờ Thể chế Dân chủ ở Đức, nhưng lại chõ về ca ngợi độc tài. Như thế tôi thấy là họ không chỉ mắc tội "ăn cháo đá bát“ với nước Đức; mà họ còn mang tội với người Dân ở quê nhà - Những người không được may mắn chạy ra nước ngoài như họ được.

Họ ủng hộ độc tài, có nghĩa là họ mong cho nó tồn tại mãi để Dân ở nhà vẫn cứ khổ hoài, còn bên này họ không bị ảnh hưởng gì. Thế thì họ đâu có tốt? Họ là những kẻ ích kỷ và ăn hai mang!

Lẽ ra họ phải có cách nghĩ như tôi là mong cho Thể chế ở VN thay đổi như bên Đức, để người dân Việt ở nhà cũng sung sướng, được tự do hạnh phúc như chúng tôi ở bên này mới là phải đạo. Để người Việt mình không phải lang thang đi bán mình và kiếm ăn khắp Năm Châu.

Phần lớn người Việt ở bên Đức họ chỉ nghĩ đơn giản, thiển cận và ích kỷ là nhờ Đảng và Bác mà họ được sang đây. Tôi nói lại với họ là, sao không nghĩ cao lên một nấc là vì Đảng và Bác mà người Việt chúng ta phải sang đây. Người Nhật, Nam Hàn và Singaphore thì họ có thèm sang sống ở Đức đâu. Do Bác và Đảng của mình dốt nát, tăm tối, đi sai đường, nên mình mới phải xa quê, ăn nhờ, ở đậu, thì biết ơn sao được, lẽ ra phải oán mới phải chứ?

Tôi để ý những bài viết của tôi phần lớn Bạn đọc like vào là người ở trong nước. Tôi cho rằng những Bạn đọc này là thông minh và họ là những người có nhận thức và có lòng biết ơn. Vì họ hiểu được nỗi lòng của tôi là tại sao tôi viết, ngụ ý của tôi muốn gì và họ biết tôi không phải là kẻ ích kỷ, chỉ biết sung sướng một mình, như chuột sa chĩnh gạo, rồi "mũ ni che tai, sự ai không biết".

Tôi cho rằng những người ra nước ngoài mà viết phản biện mang tính xây dựng, không quá khích, không kích động, không đảng phái; động cơ lại lành mạnh, rõ ràng, trong sáng lại vô tư là những người có tinh thần trách nhiệm và bổn phận với Quê hương. Họ là những người yêu nước thực sự và có trí tuệ mang tính Chiến lược dành cho Quê hương.

Còn chỉ thích thể hiện màu cờ sắc áo thôi thì tôi thấy nó vẫn là hời hợt, phù phiếm, như gió thoảng mưa bay để tự sướng với nhau mà thôi; Chứ Dân tộc và Nhân dân VN chả gặt hái được cái gì cụ thể.

Bởi sự hào nhoáng ấy, cứ cho là không phải giả tạo, thì cũng chưa nói lên được gì nhiều là mình có chiều sâu về nội tâm đau đáu với Quê hương và Đất nước...

Trước đây tôi có sinh hoạt hội Cựu chiến binh ở Berlin, tôi nằm trong BCH, nhưng sau tôi bỏ, vì tôi thấy không ổn. Các vị đi sinh hoạt vẫn cứ thích mặc quân phục, đeo phù hiệu, Huân huy chương đầy người, đứng lên nhẩy múa phất cờ hát vang lên những bài máu lửa.

Thực tình tôi chỉ muốn anh em ăn vận bình thường. Đến ngồi với nhau cùng ôn lại một thời ác liệt kinh hoàng và có thể mời cả những người lính "bên thua cuộc" họ cùng tham gia để bắt tay nhau hòa đồng, cùng chia sẻ về thời dĩ vãng đầy buồn thương ấy mà không đả động gì đến trái phải, quan điểm về Chính trị, thì nhân văn, nhân bản biết bao.

Vì thực ra lính tráng cả hai bên đều vô tội. Họ và chúng tôi đều là những người nghe lệnh trên mà thôi.

Cái trò tổ chức của hội CCB hay đánh trống thổi kèn, mũ cối, tai bèo, khăn rằn kẻ ô; quân trang, quân phục lòe loẹt tùm lum tự sướng như thế thì lũ trẻ trâu cũng làm được.

Họ không biết rằng, chúng ta đang hô hào hòa giải và hòa hợp, để Dân tộc ta Nam-Bắc đoàn kết trở lại, trải qua một cuộc chiến ngu ngốc "nồi da xáo thịt“ đầy những thương đau; mà giờ đây hòa bình rồi, vẫn cứ thích hoài cổ. Làm như thế thì đâu có phải là thông minh, trái lại nó càng khoét sâu thêm vết thương hằn thù mà thôi. Kiểu tự hào ăn mày dĩ vãng như vậy là đâu có phải yêu nước thương nòi.

Vô tình nó còn phản Dân hại Nước, vì các vị không chịu tư duy và nghĩ xa ra, nên không thấy cái sự hại âm thầm, len lỏi và sâu xa đó thôi.

Người yêu nước, thương nòi có trí tuệ uyên thâm cao cả không hành xử tối tăm, bồng bột, hời hợt, nông nổi và mù quáng như thế các vị ạ!!!

Khác gì ở VN gần đây dựng bộ phim "Mưa đỏ“ là sai lầm. Tôi cho rằng cách nghĩ, cách làm đó là ngu xuẩn. Tốn tiền và tác hại nếu phân tích ra là rất lớn. Đó là tôi chưa đề cập đến trình độ dựng phim kém cỏi, trò hề và xa rời thực tế. Tôi tự hỏi, sao họ không làm phim về Chiến tranh Biên giới chống kẻ thù phương Bắc nó thực tế, cụ thể và dễ dàng hơn rất nhiều; mà lại cứ thích "vạch áo cho người xem lưng" cái quá khứ ấu trĩ, mọi rợ và ngu xuẩn của Dân tộc mình là anh em huynh đệ tương tàn tự chém giết lẫn nhau, để khơi thêm mãi lòng thù hận cho đến bao giờ?

Lẽ ra phải để phía "bên thua cuộc" người ta phơi ra để giáo dục "bên thắng cuộc" mới là phải. Vì Miền Bắc đã xâm lược Miền Nam. Đã đi giải phóng nơi sung sướng hơn mình để họ "được" khổ như mình. Nghĩa là thời tôi vào Nam là đi giải phóng ngược các vị ạ! Chúng tôi sai lầm là đã cầm súng bảo vệ độc tài và tiêu diệt Dân chủ. khác hẳn với Dân tộc Ukraine bây giờ!!!

Nhân đây tôi cũng cúi đầu xin lỗi Đồng bào Miền Nam, rằng tôi đã từng cùng đồng đội của tôi phải "xẻ dọc Trường Sơn" không phải là để đi "cứu nước dậy tương lai" như người ta ngồi ở ATK (An toàn khu) to loa tuyên truyền; mà là để đi làm việc tàn ác, thất đức, do người ta ra lệnh ngược đời với sự phát sinh và phát triển của Nhân loại !

Berlin, 17.09.2025
Nguyễn Doãn Đôn
PHỤ NỮ OAKLAND MẤT SẠCH $12,145 SAU CUỘC GỌI GIẢ MẠO CHARLES SCHWAB

Một phụ nữ tại Oakland, California cho biết toàn bộ số tiền tiết kiệm $12,145 Mỹ kim trong tài khoản của bà đã bị chuyển đi sau một cuộc gọi từ kẻ gian giả danh nhân viên Charles Schwab.

Jazz Powell-Loggins nói với ABC 7 rằng sự việc bắt đầu khi bà trả lời một cuộc gọi từ số lạ. Người ở đầu dây bên kia lập tức la lớn, nói rằng có người đang tìm cách “bán” tiền ra khỏi tài khoản của bà và tự xưng là đại diện Charles Schwab.

Powell-Loggins cho biết người gọi liên tục nói lớn và làm bà hoảng loạn. Bà nói mình không hiểu chuyện gì đang xảy ra và yêu cầu người này bình tĩnh lại. Sau đó bà cúp máy để nhận cuộc gọi từ bác sĩ.

Khoảng 2 phút sau, Powell-Loggins nhận được thông báo cho thấy $12,145 Mỹ kim trong tài khoản đã bị chuyển bằng wire transfer ra ngoài. Bà nói mình không cung cấp bất kỳ tin tức nào cho kẻ gian.

Charles Schwab từ chối bồi hoàn sau khi Powell-Loggins khiếu nại. Công ty cho rằng bà đã cung cấp “mã xác minh cho một bên thứ ba, cho phép họ hoàn tất wire transfer.”

Powell-Loggins bác bỏ điều này và nói với ABC 7 rằng bà không đưa cho kẻ gian bất kỳ tin tức nào. Bà cũng không hiểu vì sao Charles Schwab không hoàn trả số tiền bị mất.

Bà cho biết số tiền này rất quan trọng đối với gia đình vì bà muốn giúp con trai học xong đại học mà không mang nợ và hỗ trợ con thực hiện những dự định tương lai. Bà cũng đang phải đối diện với bệnh ung thư của chồng, trong khi bản thân không đi làm vì đang nhận trợ cấp thương tật sau một tai nạn tại nơi làm việc.

Charles Schwab cho biết công ty thông cảm với Powell-Loggins và gọi đây là một trường hợp đáng tiếc trong số các vụ gian lận giả mạo đang gia tăng. Công ty khuyến cáo khách hàng phải thận trọng, cảnh giác và bảo vệ tin tức cá nhân.

Jasika Bawa, người phụ trách một dự án thuộc Google Chrome Security, nói với ABC 7 rằng cuộc gọi có thể đã được sử dụng như một thủ thuật đánh lạc hướng trong lúc tài khoản của Powell-Loggins bị rút tiền.

Bawa cho biết ngân hàng có thể gửi các thông báo về việc tiền đang được di chuyển, nhưng một nạn nhân đang bị kẻ gian gây áp lực và làm hoảng loạn qua điện thoại có thể bỏ lỡ những cảnh báo đó.

Bawa cũng cho biết kẻ tấn công có thể đã dùng phương pháp thử liên tục các mã PIN để xâm nhập tài khoản. Bà nói nhiều mã PIN chỉ có 4 chữ số nên có thể bị đoán liên tiếp nếu hệ thống không ngăn chặn kịp thời.

Powell-Loggins dự định đưa vụ việc ra trọng tài và đã liên lạc với cảnh sát cùng FBI. ABC 7 cho biết số tiền bị chuyển đến một ngân hàng tại Ohio.

Nguồn: New York Post và ABC 7
Phân tích và biên tập: Luan Vo
Tin Hoa Kỳ by VLKT News
DALAT – LA PLUS BELLE POUR ALLER DANSER, TIẾNG HÁT CỦA MỘT THỜI TUỔI TRẺ

Tháng Chín lại về.
Dalat lại mưa.
Mưa từ đêm qua, sáng nay vẫn còn rơi lất phất ngoài hiên. Những giọt mưa mỏng như sương đậu trên cành lá, trên mái nhà, trên những con đường dốc đã đi qua gần hết một đời người của tôi.
Có những buổi chiều, chẳng hiểu vì sao, chỉ cần nghe lại một bản nhạc cũ, lòng người bỗng chùng xuống.
Không phải vì buồn.
Mà bởi trong tiếng hát ấy có một cánh cửa vừa mở ra.
Bên kia cánh cửa là tuổi thanh xuân.
Và chiều nay, từ một nơi rất xa của ký ức, tôi lại nghe tiếng hát Sylvie Vartan.
La plus belle pour aller danser.
Thế là Dalat của đầu thập niên 60 trở về.

Ngày ấy chúng tôi còn trẻ lắm.
Tuổi trẻ của những chàng trai Dalat ngoài chuyện học hành, sách vở, trường lớp, thi cử, còn có một thế giới khác rất riêng: thế giới của mộng mơ.
Chúng tôi lãng mạn một cách tự nhiên.
Có lẽ bởi Dalat đã dạy cho người ta biết mơ mộng từ khi còn rất trẻ.
Sống giữa một thành phố có sương mù, có những con đường quanh co dưới hàng thông, có những buổi sáng lạnh đến mức phải kéo cao cổ áo, có những chiều mưa rả rích nhìn qua cửa kính, làm sao lòng người không lãng mạn cho được?
Thời ấy chưa có điện thoại cầm tay, chưa có Internet, càng không có những kho âm nhạc chỉ cần chạm nhẹ đầu ngón tay là cả thế giới vang lên.
Muốn nghe một bản nhạc mình yêu thích, đôi khi phải chờ.
Mà cái chờ đợi của tuổi trẻ ngày ấy cũng đẹp.
Một trong những nơi chúng tôi thường tìm đến là Café Tùng.

Quán cà phê ấy đối với nhiều người Dalat không chỉ là nơi uống cà phê.
Nó còn là một khoảng trời văn nghệ.
Bước vào quán, trước tiên là mùi cà phê.
Mùi cà phê rang thơm nồng quyện trong cái lạnh của phố núi, trong ánh đèn vàng và trong khói thuốc của một thời xa lắc. Chỉ cần gọi một ly cà phê, tìm một chỗ ngồi, là có thể ở đó rất lâu.
Trên những bức tường là tranh.
Những bức tranh sơn dầu của một thời mà chúng tôi say mê hội họa: Thái Tuấn, Đinh Cường, Trịnh Cung, Cù Nguyễn...
Tôi thường vừa uống cà phê vừa nhìn tranh.
Có những bức tranh chẳng hiểu hết.
Nhưng tuổi trẻ đâu nhất thiết phải hiểu hết cái đẹp mới có thể yêu cái đẹp.
Một khuôn mặt thiếu nữ.
Một đôi mắt sâu.
Một gam màu nâu, vàng, đỏ thẫm.
Một dáng người lặng lẽ.
Tất cả hòa vào tiếng nhạc phát ra từ chiếc máy hát trong quán, làm cho không gian Café Tùng ngày ấy như nằm đâu đó ngoài cuộc đời bình thường.

Ngoài cửa, khu Hòa Bình đang mưa.
Mưa tháng Chín Dalat.
Mưa mùa Thu.
Mưa rỉ rả từ sáng đến chiều, rồi đôi khi kéo dài sang cả đêm. Những chiếc áo mưa đi qua trên đường phố, bóng người nhòe trong màn nước. Trời mau tối. Ánh đèn từ những cửa hiệu hắt xuống mặt đường ướt, kéo thành những vệt sáng dài.
Trong quán thì ấm.
Và rồi tiếng hát Sylvie Vartan vang lên.
La plus belle pour aller danser...
Một giọng hát trẻ trung, quyến rũ, mang theo cả một thế giới rất xa mà những chàng trai Dalat ngày ấy chỉ có thể hình dung qua sách báo, phim ảnh và âm nhạc.
Paris ở đâu xa lắm.
Nước Pháp cũng xa lắm.
Nhưng qua tiếng hát, dường như khoảng cách ấy không còn nữa.
Chúng tôi ngồi giữa Dalat mà tưởng tượng những đại lộ Paris, những quán cà phê bên hè phố, những cô gái trẻ trong chiếc váy đẹp bước vào một buổi dạ vũ.
Và câu hát mở đầu ấy cứ ngân nga:
Ce soir, je serai la plus belle pour aller danser…
Đêm nay, em sẽ là người đẹp nhất để đi khiêu vũ.
Chỉ vậy thôi mà trái tim tuổi trẻ đã xao động.

Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thế hệ chúng tôi ngày ấy yêu cũng khác.
Tình yêu nhiều khi bắt đầu bằng một ánh mắt.
Một cô gái đi ngang qua.
Một tà áo.
Một mái tóc.
Một nụ cười.
Rồi người con trai đem hình bóng ấy về nhà, cất vào lòng, chẳng dám nói gì.
Có khi yêu một người rất lâu mà người ấy chẳng hề hay biết.
Chúng tôi không có những lời tỏ tình nhanh chóng như bây giờ.
Tình yêu ngày ấy đi chậm.
Nhưng có lẽ vì đi chậm nên kỷ niệm ở lại rất lâu.

Có những buổi chiều mưa, ngồi trong Café Tùng nghe Sylvie Vartan hát, tôi từng nhìn qua cửa kính và chờ một bóng dáng nào đó đi ngang.
Chẳng biết có thật sự chờ ai không.
Hay chỉ là tuổi trẻ muốn có một người để chờ.
Ngoài kia, mưa cứ rơi.
Trong này, cà phê nguội dần.
Tiếng hát vẫn vang lên.
Và trái tim của một chàng trai trẻ cũng mơ hồ rung động theo một nỗi niềm chẳng gọi thành tên.
Tuổi thanh xuân kỳ lạ như vậy.
Chẳng cần có một chuyện tình lớn.
Chỉ một chiều mưa cũng đủ nhớ.
Chẳng cần một lời hẹn thề.
Chỉ một ánh mắt cũng đủ mang theo suốt một đoạn đời.
Chẳng cần nắm được bàn tay người mình thương.
Đôi khi chỉ cần biết người ấy đang tồn tại đâu đó trong thành phố này cũng đã thấy lòng vui.

Rồi năm tháng đi qua.
Những người trẻ trong quán cà phê năm nào mỗi người đi về một hướng.
Người ở lại Dalat.
Người xuống Sài Gòn.
Người đi xa khỏi quê hương.
Có người từ đó không bao giờ gặp lại.
Có những khuôn mặt tôi từng quen mà hôm nay chỉ còn nhớ lờ mờ.
Có những cái tên đã quên.
Nhưng lạ thay, tiếng hát thì vẫn nhớ.
Âm nhạc có một đời sống riêng mà thời gian dường như bất lực trước nó.
Một con đường có thể đổi tên.
Một căn nhà có thể bị phá bỏ.
Một hàng thông có thể không còn.
Một người có thể già.
Nhưng chỉ cần vài nốt nhạc đầu tiên vang lên, tất cả bỗng nguyên vẹn trở về.
Tôi lại thấy mình trẻ.
Lại thấy khu Hòa Bình trong một chiều mưa tháng Chín.
Lại thấy ánh đèn Café Tùng.
Lại thấy những bức tranh sơn dầu im lặng trên tường.
Lại ngửi thấy mùi cà phê thơm nồng.
Và đâu đó, Sylvie Vartan vẫn còn trẻ mãi.
Nàng vẫn đang chuẩn bị cho một đêm khiêu vũ.
Vẫn muốn mình là người con gái đẹp nhất trong mắt người mình yêu.
Còn chúng tôi — những chàng trai Dalat của hơn sáu mươi năm trước — vẫn ngồi đó, lặng lẽ nghe.
Chỉ có điều, bên ngoài bản nhạc, thời gian đã đi quá xa.
Có đôi khi tôi tự hỏi:
Tuổi thanh xuân thật sự đã mất chưa?
Nếu nói mất rồi, tại sao một tiếng hát lại có thể đưa ta trở về?
Nếu nói còn, tại sao soi gương chỉ thấy mái tóc đã bạc và khuôn mặt đã in dấu tháng năm?
Có lẽ thanh xuân không mất.
Nó chỉ đổi chỗ ở.
Ngày trẻ, thanh xuân ở trên khuôn mặt, trong bước chân, trong đôi mắt nhìn cuộc đời.
Khi già, thanh xuân dọn vào ký ức.
Nằm yên ở đó.
Chờ một ngày mưa.
Chờ một mùi cà phê.
Chờ một tiếng hát quen.
Rồi bất chợt thức dậy.

Chiều nay Dalat tháng Chín lại mưa.
Tôi ngồi bên ly cà phê, nhìn mưa bay ngoài cửa. Thành phố bây giờ đã khác rất nhiều Dalat của chúng tôi ngày ấy. Phố đông hơn, xe nhiều hơn, những ngọn đèn sáng hơn.
Nhưng mưa hình như vẫn là cơn mưa cũ.
Mưa vẫn rơi trên những mái nhà.
Vẫn phủ mờ những con dốc.
Vẫn làm lòng người se lại khi mùa Thu trở về.
Tôi mở lại bản nhạc năm xưa.
Tiếng hát Sylvie Vartan cất lên.
La plus belle pour aller danser...
Tôi nhắm mắt.
Và bỗng nhiên không còn biết mình đang ở năm 2026 hay một chiều nào đó của đầu thập niên 60.
Chỉ thấy một chàng trai trẻ đang ngồi trong Café Tùng.
Trước mặt là ly cà phê còn bốc khói.
Trên tường là những bức tranh sơn dầu.
Ngoài kia khu Hòa Bình mưa trắng trời.
Và trên con đường ướt lạnh ấy, hình như có một cô gái vừa đi ngang qua.
Chàng trai nhìn theo.
Muốn gọi.
Nhưng không gọi.
Bởi đôi khi cái đẹp nhất của một đời người chính là những điều chưa kịp nói.
Để rồi hơn sáu mươi năm sau, giữa một chiều mưa Dalat, vẫn còn một người ngồi nhớ.
Nhớ tiếng hát.
Nhớ ly cà phê.
Nhớ những bức tranh.
Nhớ một bóng người.
Nhớ cả chính mình của ngày xưa.
Ôi tuổi thanh xuân!
Ta cứ tưởng đã để nó lại rất xa trên một con đường nào đó của Dalat.
Nào ngờ nó vẫn theo ta suốt cuộc đời.
Chỉ cần tháng Chín trở về, mưa Thu rơi xuống và một bản nhạc Pháp năm xưa bất chợt vang lên…
Ta lại thấy mình trẻ.
Và trong một khoảnh khắc rất ngắn, ta hiểu rằng:
Có những ngày tháng đã đi qua đời ta nhưng chưa bao giờ đi khỏi trái tim.
Dalat vẫn mưa.
Café Tùng vẫn còn trong ký ức.
Và tiếng hát năm nào vẫn ru đời tôi, từ thuở thanh xuân cho đến tận một chiều tóc bạc.
La plus belle pour aller danser…
Tiếng hát xa dần.
Mưa vẫn rơi ngoài cửa.
Còn tôi ngồi lại với tháng Chín Dalat — và một đời thương nhớ.

Binh Phamvan

DĨA CƠM CHIÊN

Hồi nhỏ, mỗi sáng trước khi ra chợ bán, má tôi dậy sớm chiên cho anh chị em tôi sẵn một chảo cơm chiên. Chúng tôi ăn sáng trước khi đi học, mỗi người một chén, cơm chiên chỉ là cơm nguội với nước tương xào lên mà sao chúng tôi ăn rất ngon.

Lớn lên tôi đi học ở Sài Gòn, thỉnh thoảng ghé qua nhà bác sui gia của ba má tôi ở Quận 1, thăm cháu vì chị tôi còn sống chung với gia đình chồng, gặp một người bưng tô cơm chiên giống hệt tô cơm chiên má tui cho chúng tôi ăn, tôi chạnh lòng nhớ nhà và thấy anh ấy thật thân quen, gần gũi. Người ấy là anh của anh rể tôi, đi học tập cải tạo mới về, anh thứ hai trong gia đình nên tôi gọi là anh hai theo cách người miền Tây của tôi, còn cả nhà anh thì gọi anh bằng tên, gia đình anh người Bắc di cư. 

Anh làm đồn trưởng đồn Cây Mai hay Cây Điệp gì đó tôi không để ý chỉ biết là anh đi cải tạo 12 năm, bây giờ được thả về, trong thời gian chờ hoàn tất hồ sơ đi diện HO thì vợ anh sinh thêm một con gái, anh tạm thời ở nhà cha mẹ để bổ túc hồ sơ và sống bằng nghề bán báo. Anh có sạp báo ở góc Lê Công Kiều ngay sát tường Bảo Tàng Mỹ Thuật.

Dù biết là chỉ tạm sống với nghề chờ xong hồ sơ thì xuất cảnh nhưng anh vẫn thức khuya dậy sớm lăn lộn với đống giấy báo mỗi ngày. Ngay thời điểm xã hội gọi là “mở cửa” thay cho thời bao cấp bằng tên mới là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”!. Công cuộc làm ăn của anh ngày càng đi lên và đời sống của gia đình anh khấm khá hơn.

Nhưng mỗi lần qua nhà anh tôi vẫn thấy anh ngồi với tô cơm chiên. Anh rể tôi, là em ruột của anh ấy kể, anh Hai ngày xưa gánh vác gia đình cả 7 em trai và cô em gái. Chịu cực quen rồi, nhưng chuyện anh thích ăn cơm chiên thì mới sau này và anh rể tôi không biết. Có một dịp tôi ngồi chơi với anh tới khuya tôi mới được nghe anh kể một câu chuyện, chuyện có liên quan đến món cơm chiên.

“Ngày anh nhập ngũ, ra trường về đóng quân ở Long An! Ồ, gần nhà quá! Anh có một mối tình với cô gái nơi anh đóng quân, khi hai người sắp có với nhau đứa con. Anh định về nói với ba má xuống rước cô ấy về nhưng chưa có dịp vì chiến tranh bắt đầu ngày càng ác liệt. Bỗng một hôm gia đình nhắn anh xin phép đơn vị về cưới vợ. Anh không nghĩ chuyện này xảy ra vì anh đâu có nói với gia đình là đã thương ai, hỏi kỷ ra thì má anh ở nhà đã đi hỏi cưới cô gái xóm trên cho anh, cô gái mà hồi trước khi đi lính anh và cô hay hò hẹn và má anh đã chọn ngày lành tháng tốt rước dâu. Má anh nói vì thấy anh hay lân la chơi ở xóm trên và nghe mấy người bạn anh nói trên đó có cô gái mà anh thích, trong khi cô kia đánh tiếng “bên nhà anh làm gì cưới nổi” bà mẹ tự ái và thấy thương con mình nên cố gắng chạy lo sính lễ mà qua hỏi cưới cô gái.

Anh nghe ra chỉ biết kêu trời, bà mẹ đã sắp đặt hết cho con vì sợ nó ngại gia cảnh mà không đồng ý. Ngày cưới của anh đến giờ chót mới có chú rể, anh từ đơn vị mặc nguyên bộ đồ lính lái xe jeep về dừng ngay cửa, bước vào nhà làm lễ bái đường xong anh trở ra xe về đơn vị, tình tiết như trong tiểu thuyết. Còn cô gái lỡ dại với anh thì bỏ đi biệt xứ để sinh con rồi không về lại Long An nữa, có lẽ vì thất vọng tủi buồn khi nghe tin anh cưới vợ.

Anh ôm mối tình đầu trong tim với nổi đau đáu trong lòng khi nghĩ đến hai mẹ con cô không biết đang ở phương trời nào(?) Anh nhớ cô, nhớ ngày mới quen, sáng sáng cô hay mang qua cho anh dĩa cơm chiên. Anh ăn mãi món cơm chiên buổi sáng hết thời kỳ trong quân đội mà không thấy ngán.

Đến ngày mẹ con cô rời xa anh và mãi về sau, anh luôn ăn món cơm chiên vì nhớ mãi mối tình dang dỡ.

Cách đây ba năm vào ngày Tết anh ghé nhà tôi vì hay tin ông xã tôi mới mất. Từ ngày anh xuất cảnh theo diện HO, hôm nay anh mới về nước. Tôi ngồi nói chuyện với anh tới trưa, tôi hỏi anh ăn gì, anh cười nói: Cơm Chiên.

NGUYỄN KIỀU PHƯƠNG

CHIẾC CHÉN THỨ BA

Mười chín năm trước tôi viết truyện Người Mà Ba Mang Ơn. Mười chín năm sau, họ vẫn đứng ở hai đầu đời, chưa một lần tôi đưa họ trở lại bên nhau. Thời gian cuốn đi nhiều thứ, nhưng để lại trong tôi một nỗi day dứt: chung nguồn cội mà vẫn lạc mất nhau. Giờ tôi phải dìu họ về, trước khi dòng đời cuối cùng khép lại. T.N.

*****
Năm năm đã trôi qua kể từ ngày tôi đứng trước cánh cửa gỗ cũ kỹ ở cuối một hành lang chật hẹp của khu tái định cư, mang theo lời nhắn cuối cùng của ba và trở về Canada với hai bàn tay gần như trống rỗng.

Ngày ấy, tôi từng nghĩ câu chuyện của chúng tôi rồi sẽ khép lại ở đó. Một người anh, sau hơn hai mươi năm, tìm được cô em gái cùng cha khác mẹ mà mình chưa từng biết đến. Chúng tôi đứng trước nhau, nhìn nhau, mang trong lòng biết bao điều muốn nói nhưng lại chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Rồi có lẽ, mỗi người sẽ lại quay về một phía của cuộc đời, mang theo cuộc gặp gỡ muộn màng ấy như một kỷ niệm buồn.

Nhưng có lẽ trên đời này, những gì thuộc về máu mủ không dễ dàng mất đi như người ta vẫn tưởng. Có những sợi dây, dù bị thời gian kéo căng đến gần như đứt đoạn, vẫn âm thầm tồn tại ở một nơi nào đó trong lòng người. Chỉ cần một lần quay về, một lần nhận ra nhau, nó lại có thể nối liền.

Sau lần gặp ấy, tôi và em bắt đầu liên lạc. Ban đầu chỉ là những cuộc gọi ngắn ngủi, thưa thớt và đầy vụng về, giống như hai người xa lạ đang cố gắng tìm một điểm bắt đầu cho thứ tình thân đã bị bỏ quên hơn hai mươi năm.

Em hỏi tôi bên Canada có lạnh lắm không. Tôi hỏi mẹ em hôm nay có khỏe không. Tôi hỏi công việc của em thế nào, cuộc sống có đủ đầy không. Em thường trả lời rằng mọi thứ đều ổn.

Nhưng tôi hiểu, có những cái “ổn” của người nghèo không có nghĩa là cuộc sống thật sự bình yên. Nó chỉ có nghĩa là hôm nay vẫn còn đủ sức để bước qua ngày hôm nay, và ngày mai thì chưa biết sẽ ra sao.

Rồi những cuộc gọi dần dài hơn.
Có những buổi tối ở Canada, tuyết phủ trắng ngoài khung cửa sổ. Tôi ngồi một mình trong căn phòng yên tĩnh, nghe giọng em từ Sài Gòn vọng qua chiếc điện thoại nhỏ. Giữa hai chúng tôi là nửa vòng trái đất, là những năm tháng đã mất, là một tuổi thơ chưa từng có chung với nhau. Vậy mà đôi khi, chỉ cần nghe em nói vài câu bình thường, tôi lại cảm thấy khoảng cách ấy dường như ngắn đi rất nhiều.

Có khi em chẳng kể chuyện gì quan trọng. Em chỉ nói hôm nay trời mưa, mẹ ho nhiều hơn mọi ngày, ngoài đường kẹt xe, bà hàng xóm mới có cháu ngoại, hay em vừa mua được một đôi dép đang giảm giá.

Những chuyện nhỏ bé ấy, không hiểu vì sao, lại dần trở thành điều tôi mong chờ nhất trong ngày. Tôi bắt đầu hiểu rằng tình thân không phải lúc nào cũng được sinh ra từ những ký ức chung. Có khi, tình thân được tạo nên từ những điều rất nhỏ, lặp đi lặp lại qua năm tháng: một cuộc điện thoại, một lời hỏi thăm, một tiếng thở dài nghe qua đầu dây bên kia, hay chỉ đơn giản là biết rằng ở một nơi rất xa trên thế giới này vẫn có một người đang nhớ đến mình.

Một lần, tôi gọi em là: “Em gái của anh.” Đó là lần đầu tiên tôi gọi em như thế.
Bên kia đầu dây, em im lặng rất lâu. Sau đó, tôi nghe giọng em nghẹn lại. Tôi cũng nghẹn. Hai tiếng ấy đáng lẽ phải được gọi từ hơn hai mươi năm trước, trong những ngày em còn bé, khi một đứa trẻ cần biết rằng trên đời này mình còn có một người anh.

Nhưng thôi. Đời người có những điều đến muộn vẫn còn quý hơn những điều không bao giờ đến.

Rồi mẹ em mất. Bà ra đi vào một buổi sáng mưa dầm dề của miền nhiệt đới.
Em gọi cho tôi khi trời bên Canada vẫn chưa sáng. Giọng em nhỏ đến mức tôi phải hỏi lại mấy lần mới nghe rõ. “Mẹ mất rồi, anh.”

Tôi ngồi rất lâu trên mép giường, bàn tay vẫn cầm chiếc điện thoại mà không biết phải nói gì.

Người phụ nữ mà ba tôi đã mang theo trong ký ức suốt hơn hai mươi năm. Người đàn bà đã âm thầm chịu đựng biết bao cay đắng để nuôi con một mình. Người phụ nữ mà cả cuộc đời có lẽ chưa bao giờ được sống trọn vẹn cho riêng mình. Cuối cùng, bà cũng rời khỏi cuộc đời này.

Tôi nhớ khuôn mặt gầy gò của bà trong lần gặp đầu tiên. Nhớ bàn tay bà từng đặt lên môi em, bảo em đừng nói nữa. Nhớ câu bà kể về những đêm con gái bị sốt, bà một mình bồng con trong căn phòng nhỏ, chỉ ước gì trong nhà có một người đàn ông để có thể dựa vào một chút.

Chỉ một chút thôi. Nhưng điều nhỏ bé ấy, bà đã không có được. Và bây giờ, bà đã đi. Đi luôn cả cơ hội cuối cùng để được nhìn thấy những điều mà có lẽ suốt cuộc đời bà từng âm thầm mong mỏi.

Tôi nghe em khóc trong điện thoại. Đó không phải là tiếng khóc của một cô gái yếu đuối. Đó là tiếng khóc của một người vừa mất đi người cuối cùng trên đời từng biết mình từ thuở bé thơ, người cuối cùng còn nhớ khuôn mặt của mình khi còn là một đứa trẻ.

Tôi chỉ biết khẽ nói: “Em còn anh.”

Bên kia đầu dây bỗng im lặng. Rồi em khóc lớn hơn. Có lẽ từ giây phút ấy, em mới thật sự tin rằng mình có một người anh. Và từ ngày hôm đó, em thật sự trở thành em gái của tôi.

Một năm sau, em gọi báo tin em sắp lấy chồng.
Lúc ấy tôi đang đứng bên cửa sổ, nhìn tuyết rơi ngoài sân. Nghe tin ấy, tôi bỗng muốn khóc. Nhưng lần này, đó là những giọt nước mắt của niềm vui. Tôi mừng vì từ nay, dù tôi không thể ở bên cạnh em mỗi ngày, em cũng sẽ có một bờ vai để dựa vào trong những năm tháng sau này.

Tôi chợt nhớ đến cô bé trong tấm hình cũ, đứng một mình trước cổng trường, không có bàn tay người cha đặt lên vai, không có ai đứng phía sau để bảo vệ. Vậy mà giờ đây, cô bé ấy đã trở thành một người phụ nữ và sắp có một người đàn ông đi bên cạnh mình trong suốt phần đời còn lại.

Tôi hỏi: “Em có hạnh phúc không?”
Em im lặng một lúc rồi nói rằng em cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng người đàn ông ấy thương em và em cũng rất thương anh ấy. Anh thương cả những điều đã xảy ra trong cuộc đời em, thương cả những vết thương mà em mang theo, nhưng chưa bao giờ bắt em phải quên chúng đi.
Nghe vậy, tôi thấy lòng mình nhẹ đi. Như thế là đủ.

*****
Tôi đặt vé máy bay trở lại Sài Gòn. Lần này, tôi trở về không phải để tìm kiếm một người thân thất lạc, không phải mang theo một mảnh giấy cũ và nỗi tuyệt vọng của ba. Tôi trở về để dự đám cưới của em gái mình.

Sài Gòn đón tôi bằng cái nóng quen thuộc. Năm năm trước, tôi từng đứng giữa thành phố này với một mảnh giấy cũ trong tay và một nỗi tuyệt vọng không biết phải bắt đầu từ đâu. Lần này, khi bước xuống sân bay, lòng tôi lại đầy một niềm vui rất lạ, thứ niềm vui mà nhiều năm trước tôi chưa bao giờ nghĩ mình có thể có được.

Tôi nhìn thấy em đứng bên ngoài khu đón khách. Em mặc một chiếc áo dài giản dị, mái tóc buông nhẹ trên vai. Khi nhìn thấy tôi, em bước nhanh về phía trước. Trong ánh mắt ấy có một sự bình yên mà năm năm trước tôi chưa từng nhìn thấy.

Chúng tôi đứng trước nhau vài giây rồi cùng dang tay ôm lấy nhau. Cái ôm kéo dài rất lâu giữa dòng người đang hối hả đi qua. Em khóc. Tôi cũng khóc.

Tôi không biết lúc ấy mình đang ôm người em gái vừa tìm thấy, hay đang ôm lấy cả phần tuổi thơ của em mà hơn hai mươi năm qua tôi chưa từng có mặt để bảo vệ.

Hai mươi năm trước, tôi không thể đứng bên em khi em bị sốt. Tôi không thể đưa em đến trường, không thể mua cho em một đôi giày mới, cũng không thể có mặt trong những ngày em cần một người thân bên cạnh.

Nhưng từ giây phút ấy, tôi biết mình sẽ cố gắng có mặt trong phần đời còn lại của em. Không phải để bù lại thời gian. Bởi không ai trên đời có thể bù lại những ngày tháng đã mất. Tôi chỉ mong những năm tháng còn lại của em sẽ không còn hoàn toàn đơn độc.

Tối hôm đó, hai anh em trở về căn phòng cũ. Căn phòng nhỏ đã được sửa sang đôi chút nhưng dường như vẫn còn giữ lại mùi của những năm tháng nghèo khó. Chiếc giường nơi mẹ em từng nằm đã không còn nữa. Nhưng trên bức tường cũ vẫn còn một vài tấm hình đã ngả màu theo thời gian.

Chúng tôi ngồi bên nhau rất lâu. Không có rượu mừng, cũng không có những lời nói lớn lao. Chỉ có hai ly trà nóng đặt trên bàn và tiếng xe cộ ngoài phố vọng vào từ khung cửa.

Em bắt đầu kể cho tôi nghe về tuổi thơ của mình. Những ngày đi học, em thường tránh nhìn những đứa trẻ được cha đưa đón. Những buổi họp phụ huynh chỉ có mẹ xuất hiện. Những lần nhìn bạn bè có cha mua cho quần áo mới mà em không dám đòi hỏi gì. Có những ngày, hai mẹ con chỉ ăn cơm với trứng chiên và nước tương để qua bữa.

Em kể rất bình thản. Và chính sự bình thản ấy lại làm tôi đau hơn bất cứ tiếng khóc nào. Có những nỗi đau, khi đã ở quá lâu trong đời người, cuối cùng không còn đủ sức để khóc nữa. Người ta chỉ kể lại bằng một giọng bình thường, như thể đó là chuyện của một ai khác.

Tôi kể cho em nghe về ba. Tôi kể về những năm tháng cuối đời của ông bên giường bệnh. Về sự hối hận mà ông mang theo. Về lòng biết ơn sâu sắc ông dành cho mẹ em.

Tôi nói với em rằng ba chưa bao giờ dám nghĩ mình có quyền xin em tha thứ. Điều cuối cùng ông mong muốn chỉ là biết em còn sống, biết em đã trưởng thành như thế nào và cuộc đời đã đối xử với em ra sao.

Em cúi đầu rất lâu. Nước mắt rơi xuống mặt bàn. Em nói rằng ngày trước, em từng giận ba rất nhiều. Có những lúc em nghĩ nếu một ngày nào đó gặp ông, có lẽ em sẽ hỏi tại sao ông lại có thể bỏ mặc mẹ con em như thế.

Nhưng bây giờ, khi đã trưởng thành, khi đã trải qua đủ những mất mát của đời người, em bắt đầu nhìn ba như một con người đã từng sai lầm, đã từng yếu đuối và cũng đã sống những năm cuối đời trong sự hối hận.

Em không thể quay trở lại làm cô bé ngày xưa để gọi một tiếng “ba” như chưa từng có hơn hai mươi năm mất mát. Nhưng em cũng không muốn mang theo sự giận dữ ấy cho đến cuối đời.

Em nhắc lại lời mẹ: “Người chết rồi thì thôi. Người sống còn phải sống.”
Tôi ngồi im. Có lẽ cả hai chúng tôi đều hiểu rằng cuộc đời này vốn đã quá ngắn. Nếu cứ mãi ôm lấy những điều đau đớn đã qua, có khi đến lúc ngoảnh lại, người ta sẽ nhận ra mình đã dành gần hết cuộc đời chỉ để sống cùng oán hận.

Ngày hôm sau, tôi gặp người chồng sắp cưới của em. Anh là một người đàn ông điềm đạm, sống giản dị. Anh không nói những lời hoa mỹ, cũng không hứa sẽ cho em cả thế giới.

Anh chỉ nhìn tôi rồi nói: “Em chỉ mong mỗi khi cô ấy buồn, cô ấy biết rằng mình luôn có một người ở bên yêu thương và bảo vệ em.” Tôi nghe vậy mà lòng bỗng nhẹ đi.

Có lẽ một người đàn ông thật sự thương một người phụ nữ không nhất thiết phải hứa cho cô ấy tất cả mọi thứ trên đời. Đôi khi, điều một người phụ nữ cần chỉ là biết rằng căn nhà mình bước vào là nơi mình không còn phải sợ hãi, không còn phải một mình chống chọi với những ngày giông bão.

Sau đó, tôi đưa hai vợ chồng sắp cưới đến một khu chung cư mới, khang trang, sạch sẽ và an ninh, nằm không quá xa khu nhà cũ của em.

Khi cánh cửa căn condo mở ra, em đứng lặng.
Căn hộ không phải là một nơi xa hoa. Nhưng nó rộng rãi, sáng sủa, có một ban công nhìn xuống hàng cây xanh bên dưới. Đó là một nơi đủ bình yên để một gia đình nhỏ bắt đầu cuộc sống mới.

Tôi trao cho em chiếc chìa khóa. Rồi nắm lấy tay em, chậm rãi nói: “Đây là món quà của ba dành cho em.” Tôi nói tiếp rằng trước khi nhắm mắt, ba đã để lại số tiền này cùng tâm nguyện cuối cùng là gửi lại cho em. Ba từng nợ em một mái nhà.

Ông nợ em những năm tháng tuổi thơ thiếu vắng một người cha. Nợ em những lần em đau mà ông không biết. Nợ em những buổi đến trường mà ông không có mặt. Nợ em cả một quãng đời mà lẽ ra ông phải có trách nhiệm.

Tôi chỉ là người thay ông thực hiện tâm nguyện cuối cùng ấy. Tôi muốn em có một nơi đàng hoàng để bắt đầu cuộc sống mới.

Tôi muốn cô gái từng sống trong căn phòng chật hẹp, từng một mình chống chọi với nghèo khó, trong ngày cưới của mình có thể bước vào một căn nhà tử tế mà không phải cúi mặt vì bất cứ mặc cảm nào.

Em đứng giữa phòng khách. Nước mắt bắt đầu trào ra. Rồi em bước tới ôm chặt lấy tôi.

Em nói: “Mẹ mất rồi. Ba cũng mất rồi. Giờ em chỉ còn anh.”

Tôi ôm em và bảo: “Đừng nói là chỉ còn anh. Em còn chồng, còn một cuộc đời phía trước, còn một mái ấm của riêng mình. Nhưng nếu em cần, anh vẫn luôn là anh của em và luôn bên cạnh em dù có xa ngàn dặm.”

Em khóc. Tôi biết những giọt nước mắt ấy không chỉ vì căn hộ. Có những món quà không nằm ở giá trị của nó. Điều làm em xúc động có lẽ là sau bao nhiêu năm, cuối cùng cũng có người nói với em rằng: em không bị bỏ quên.

Trước ngày cưới, em đưa tôi về thăm mộ mẹ. Em đặt xuống ngôi mộ nhỏ một bó hoa trắng. Tôi đứng bên cạnh, nhìn tấm bia đã lặng im dưới bóng cây và chợt hiểu rằng sự tha thứ lớn nhất đôi khi không phải là câu nói: “Tôi tha thứ.” Mà là sau tất cả những gì đã xảy ra, người ta vẫn có thể mong cho người từng làm mình đau được bình yên.

Tôi khẽ thầm thì trong lòng: “Bác Lan Hương à, con gái bác bây giờ không còn một mình nữa.”

Ngày cưới, em mặc chiếc áo dài trắng muốt. Trên đầu em là chiếc khăn voan nhẹ. Trong tay là bó hoa lay ơn truyền thống. Suốt buổi lễ, đôi mắt em nhiều lần nhìn về phía tôi mà mỉm cười. Đó là nụ cười mãn nguyện mà tôi chưa từng thấy ở em trong lần gặp đầu tiên năm năm trước.

Đứng phía sau nhìn em sánh đôi bên người chồng điềm đạm, tôi bỗng quay mặt đi. Nước mắt tự nhiên chảy xuống. Tôi nhớ ba. Nếu ông còn sống, có lẽ ông sẽ đứng ở một góc nào đó, lặng lẽ nhìn con gái mình mặc áo cưới. Có lẽ ông sẽ khóc. Khóc vì biết rằng đứa trẻ ông từng bỏ lại đã lớn lên thành một người phụ nữ tốt. Khóc vì hiểu rằng cuộc đời đã cho ông quá ít thời gian để sửa chữa những điều mình từng làm sai.

Nhưng có lẽ, ở một nơi nào đó, ông cũng sẽ nhẹ lòng. Bởi cô con gái mà ông mang nợ suốt hơn hai mươi năm cuối cùng đã tìm được một mái ấm của riêng mình.

Riêng mẹ em, người đã đi qua cuộc đời rất lặng lẽ. Bà một mình chống chọi với mưa gió để nuôi con. Bà đã chịu đựng những thiếu thốn, những tủi thân mà không biết bao nhiêu lần phải giấu nước mắt để con gái mình không nhìn thấy.

Và đến khi nhắm mắt, bà vẫn để lại cho con một trái tim không đầy thù hận. Đó có lẽ là sự vĩ đại mà không phải lúc nào người đời cũng nhìn thấy.

Sau đám cưới, tôi ở lại Sài Gòn thêm vài tuần.
Căn hộ mới dần có hơi người. Có tiếng cười. Có tiếng chén đũa va vào nhau trong bữa cơm. Có mùi thức ăn từ căn bếp nhỏ lan ra phòng khách.

Một buổi chiều, tôi ghé qua. Trên bàn đã dọn sẵn ba chiếc chén. Em nói rất tự nhiên: “Chiếc chén thứ ba là dành cho anh. Để bất cứ khi nào anh về, anh cũng có một chỗ ngồi.” Tôi nhìn chiếc chén thứ ba ấy mà lòng bỗng ấm lên.

Nó chỉ là một chiếc chén nhỏ. Nhưng trong chiếc chén ấy, tôi nhìn thấy cả một gia đình đã từng thất lạc, từng tưởng như không còn cơ hội tìm lại nhau, cuối cùng cũng có thể ngồi chung quanh một mâm cơm.

Ngày tôi trở về Canada, em tiễn tôi ra sân bay. Chúng tôi ôm nhau. Lần này, chúng tôi không khóc nhiều. Có lẽ vì cả hai đều biết đây không còn là một cuộc chia tay không biết ngày gặp lại.

Bước qua cửa an ninh, tôi quay đầu nhìn em. Em đứng đó, giơ tay vẫy. Khoảng cách giữa chúng tôi mỗi lúc một xa. Nhưng lần đầu tiên trong đời, tôi không còn thấy khoảng cách ấy đáng sợ. Bởi tôi biết ở cuối một thành phố xa xôi có một người em gái đang chờ cuộc điện thoại của tôi. Và ở đất nước lạnh giá này, cũng có một người anh luôn hướng lòng mình về phía em.

Máy bay cất cánh. Sài Gòn nhỏ dần dưới những tầng mây. Tôi nhắm mắt, tưởng như nghe giọng ba vọng về rất nhẹ từ một khoảng không xa thẳm. Con người ta không thể sửa lại quá khứ. Không thể sống lại những ngày đã mất. Không thể trở về để ôm lấy một đứa trẻ từng cô đơn, không thể trả lại cho ai một tuổi thơ mà mình đã đánh mất. Nhưng tình yêu thương, nếu vẫn còn, luôn biết cách tìm một con đường để nối liền những gì đã vỡ tan.

Ba tôi đã mang món nợ ấy trong lòng hơn hai mươi năm. Và cuối cùng, món nợ ấy không được trả chỉ bằng một lời xin lỗi. Nó được trả bằng sự chở che. Bằng một mái nhà. Bằng những cuộc điện thoại vượt qua nửa vòng trái đất. Và bằng tình anh em còn ở lại sau tất cả những mất mát và bao năm xa cách.

Tôi nhìn ra cửa sổ máy bay. Trong trí tưởng tượng của tôi, ở một căn hộ sáng đèn nơi Sài Gòn, trên chiếc bàn ăn nhỏ vẫn luôn có một chiếc chén thứ ba đang chờ. Chờ một người anh từ phương xa trở về. Thế cũng đã đủ để hiểu rằng mình chưa bao giờ thật sự cô độc.

Tim Nguyễn
London, cuối hè 2026

Blog Archive