Showing posts with label TRƯƠNG PHÚ THỨt. Show all posts
Showing posts with label TRƯƠNG PHÚ THỨt. Show all posts

Thursday, November 9, 2023

NHỚ ĐẾN BÀ NGÔ ĐÌNH NHU

Mùa Phục Sinh lại đến. Chúa sống lại trong niềm hoan lạc của con cái Chúa và vì Chúa sống lại cũng để cho chúng con được sống lại trong vinh quang. Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 2011, Bà Ngô Đình Nhu đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã trong khi mọi người đang rộn ràng mừng lễ Chúa Phục Sinh. Bà đã chết đi trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh. Bà đã âm thầm và lặng lẽ trên đường đi về Nhà Cha như mỗi buổi sáng bà lủi thủi đơn côi đi dâng thánh lễ bắt đầu cho một ngày mới. Bà đã sống lại trong niềm tin yêu vô cùng nơi Thiên Chúa là nơi bà đã ngày đêm cậy trông và nương tựa trong những tháng ngày đau khổ nơi trần gian.

Rất nhiều người đặt câu hỏi rằng trước khi lìa trần bà Ngô Đình Nhu có trăn trối qua tiếng nói hay bút tích không. Câu trả lời là có và đây là lời trăn trối ngắn gọn được bà viết bằng tiếng Pháp:

"Tôi Trần Lệ Xuân, Dân biểu lập Hiến Pháp, Dân biểu quốc Hội, Chủ tịch Phong trào Phụ Nữ Liên Đới, Vâng lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, với sự đồng ý của chồng tôi, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, rời Viêt Nam sang các nước Tây Phuơng tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước tôi, trong lúc tôi rời đất nước các thế lực Tây Phương đã dùng nhóm phản loạn, phản bội lại chính quyền Dân Chủ và Độc Lập Việt Nam Cộng Hoà, đã sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Gia tộc của Tổng Thống và chồng tôi, sứ mệnh của tôi càng trở nên khó khăn hơn, khi con gái của tôi Ngô Đình Lệ Thủy bị sát hại vì muốn nói lên tiếng nói sự thật, sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất, tôi vẫn là con dân Việt Nam Cộng Hoà, vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuối cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm... "

Bà Ngô Đình Nhu được Tổng Thống Ngô Đình Diệm trao phó một sứ vụ vô cùng khó khăn và nặng nề. Thân nhi nữ cô độc gánh vác sứ vụ đội đá vá trời chống đỡ lại những mưu mô và kế hoạch thâm độc của Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế được sự thông đồng của Mỹ để triệt hạ chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà. Bà đã vẫy vùng trong một vũng lầy của những gian manh xảo quyệt của các hệ thống truyền thông quốc tế và ác tâm của một đường lối vô nhân đạo mà chánh quyền Hoa Kỳ đương thời chỉ với một mục đích phục vụ quyền lợi của một nhóm tư bản đứng sau toà Bạch Cung đã tàn nhẫn xuống tay đưa cả dân tộc Việt Nam vào vòng điêu linh thống khổ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đặt quyền lợi và danh dự quốc gia hơn cả mạng sống mình đã bị thảm sát vô cùng dã man. Bà Ngô Đình Nhu cũng bị tắt tiếng sau cái chết đau thương của vị nguyên thủ quốc gia.

Bà Nhu được giao phó nhiệm vụ “tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước”. Bà lên đường với một sự vụ lệnh của Tổng thống và bà đã vô cùng dũng mãnh quyết liệt chống chọi với bọn truyền thông gian manh quốc tế và những xảo quyệt của chính quyền Hoa Kỳ. Mùa Thu năm 1963 cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát và lên án những người được gọi là bạn, là đồng minh Hoa Kỳ ngay tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Cung mấy con đường. Nhiều người cho đó là một hành vi thiếu khôn ngoan nhưng có ai thấu hiểu đó chỉ là những tiếng kêu tuyệt vọng của một người lương thiện trước khi bị bọn gian manh thổ phỉ hành quyết!

Đọc những dòng chữ trăn trối của bà Nhu thì không ai có thể phủ nhận được tâm huyết của bà với non sông đất nước. Năm trên giường bệnh trong giờ phút lâm chung nhưng bà không nghĩ đến những oan cừu khổ nạn mà bà và cả gia đình bà phải thống khổ chịu đựng. Bà không thù oán những người đã cầm súng bắn vào chồng bà bởi vì bà nói “đó là một bọn ngu dốt” không đáng đếm xỉa đến. Nhưng hơi thở cuối cùng của bà vẫn trông về quê hương yêu dấu mà bà đã can đảm dự phần trong công trình xây dựng một quốc gia thanh bình thịnh vượng, toàn dân sống trong tự do no ấm.

Bà tiếc nuối vì sứ mạng đã bị trù dập và không hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Bà vẫn tự gánh vác trọng trách đó cho đến hơi thở cuối cùng trong đơn côi lặng lẽ cho dù đó chỉ là những ước vọng của những giây phút tàn hơi. Một "lãnh tụ chánh trị" khoe đã gặp bà Nhu và nghe than thở "thời của tôi đã hết rồi". Đây cũng chỉ là một tưởng tượng nghèo nàn của vị "lãnh tụ" này mà thôi. Bởi vì những giây phút cuối đời thì bà Nhu khẳng định: vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuôi cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm...

Bài viết này đến tay độc gỉả nhân ngày giỗ thứ năm bà Ngô Đình Nhu. Từ sau ngày Đệ Nhất VNCH sụp đổ, bà Nhu sống đơn độc nơi đất khách quê người gần như hoàn toàn cách biệt với những sinh hoạt chộn rộn của một con người. Người yêu kẻ ghét với những lời khen tiếng chê đã không lọt qua bức tường căn phòng nhỏ hẹp của một người muốn rũ bỏ tất cả những oan cừu trần gian. Bà sống khổ hạnh như một nữ tu ngong ngóng trông chờ giây phút "đoàn tụ" với ông chồng mà bà hết lòng yêu thương và kính phục.

Gần đây có một quyển sách viết về bà Nhu bằng tiếng Anh với tựa đề FINDING THE DRAGON LADY của tác giả Monique Demery và vừa được dịch sang tiếng Việt Nam với một loại chữ nghĩa văn thể rất kệch cỡm: MADAM NHU TRẦN LỆ XUÂN QUYỀN LỰC BÀ RỒNG. Tác giả Demery đã có một thời gian "học tập" ở Hà Nội, nói tiếng Việt thành thạo giọng đặc Hà Nội.

Tôi có xem qua quyển sách này, không có gì gọi là tư liệu hay lịch sử. Từ đầu đến cuối chỉ là những sao chép vụng về chẳng có một giá trị nào dù rất nhỏ nhoi. Vào Google đánh chữ Bà Ngô Đình Nhu thì có đến gần 4 triệu tài liệu và bài viết nói về bà Nhu được đăng tải rải rác trên nhiều mạng lưới vi tính từ nhiều quan điểm khác nhau đã được bà Demery vơ vét làm của riêng mình rồi nặn óc sáng chế ra một cái tựa sách nghe ra cũng độc mồm độc miệng.

Bà Demery viết và đọc tiếng Việt Nam thành thạo nên đa số những cái gọi là "tài liệu hiếm qúy" trong quyển sách này đã từ lâu xuất hiện trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ. Tựa đề của cuốn sách trong bản dịch tiếng Việt với mấy chữ QUYỀN LỰC BÀ RỒNG có thể làm người đọc hình dung ra hình ảnh của một "bà rồng" mặt sắt đen xì dữ tợn hung ác nhưng trong cả cuốn sách chỉ toàn là những nhai đi nhai lại nhàm chán trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ chứ chẳng thấy “bà rồng” đâu.

Tác giả Demery sẽ biện minh như thế nào khi gán ghép cho “bà rồng” một giai thoại như sau:

When her brother-in-law, President Ngo Dinh Diem, had once questioned the modesty of Madame Nhu’s slim-fitting tunics, referring to their décolletage, she is said to have silenced him with a withering reply: “It’s not your neck that sticks out, it’s mine. So shut up” (P.18)

Một dịch giả dễ tính có thể chuyển dịch những dòng chữ này một cách giản lược như sau:

Tổng Thống Ngô Đình Diệm tỏ vẻ không được hài lòng vì cái áo dài hở cổ của bà Nhu. Nhưng bà em dâu đã xấc xược trả lời ông anh chồng: “Cái cổ tôi hở ra chứ không phải cổ của ông. Vậy thì ông câm mồm đi.”

Đọc những dòng chữ bặm trợn này thì ai cũng có thể lượng giá được khả năng viết lách của tác giả và giá trị của quyển sách.

Đã rất lâu tôi có xem một phim tài liệu của hai nhà nữ nhân chủng học người Mỹ làm công việc khám phá một bộ lạc gần như tuyệt chủng ở trong rừng rậm Phi châu và chưa hề có bất cứ một tiếp xúc dưới bất cứ hình thức nào với thế giới bên ngoài. Hai nhà nữ nhân chủng học này đã lặn lội trong những điều kiện vô cùng gian khổ và đã đến được nơi muốn đến. Hai cô gái xinh đẹp này đã sống với hai người đàn ông hiếm hoi còn lại của bộ tộc này như vợ chồng trong thời gian một năm.

Họ học tiếng nói cũng như ăn uống sinh hoạt như một thành viên của bộ tộc và như là những người vợ của hai người đàn ông còn lại của bộ tộc trước ngày bị hoàn toàn diệt chủng. Hai cô gái trở về Mỹ đã cống hiến cho thế giới một tài liệu phong phú và những thước phim chân thực sống động vô cùng qúy giá. Họ đã tự mang cả thân mình ra để làm một công việc mà họ say mê và bằng mọi cách phải đạt đến mục tiêu tuy rằng phương cách làm việc của họ không đáng được khuyến khích và đề cao.

Tác giả Demery cũng chỉ nghe và biết đến bà Nhu qua báo chí và những bài viết trên các mạng lươí vi tính mà thôi. Trong cuốn sách, bà Demery xác nhận có hẹn gặp bà Nhu hai lần nhưng cả hai lần bà Nhu đều thất hẹn. Mặc dù bà Nhu sống đời ẩn dật tự giam hãm mình trong một căn phòng nhỏ nhưng bà Nhu cũng có những chọn lựa và suy tính trong các giao tiếp rất hiếm hoi. Bà Demery hẹn gặp bà Nhu ở nhà thờ Saint Leon là nơi bà Nhu đi lễ hàng ngày. Thế nhưng đến ngày giờ hẹn thì bà Nhu lại không đến. Lần sau thì bà Nhu hẹn gặp tại nhà, bà Demery đến đúng hẹn nhưng bà Nhu lại không mở cửa. Bà Nhu cũng chẳng mặn mà gì với những gặp gỡ này và cố tình hủy bỏ cuộc hẹn.

Vậy thì ngoài những sao chép trên các mạng lưới vi tính và chưa một lần được gặp bà Nhu thì bà Demery lấy gì và biết gì để viết về cả một cuộc đời cay đắng nghiệt ngã của bà Nhu.

Rất nhiều người có chung một quan điểm là nếu bà Nhu có mặt tại dinh Gia Long vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 thì cục diện của vụ phản loạn chắc chắn đã không xẩy ra như vậy. Là thân nữ nhi nhưng bà Nhu lại có một dũng chí và rất quyết liệt trong những tình huống dầu sôi lửa bỏng. Thưở sinh thời, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ nhiều lần tiếc nuối nói nếu như bà Nhu không đi ra nước ngoài thì chắc là vụ phản loạn đã bị dẹp tắt ngay từ những tiếng súng lạch cạch của mấy chú tân binh quân dịch từ trung tâm huấn luyện Quang Trung.

Ông Duệ nói rằng bà Nhu rất kính trọng và phải nói là rất sợ ông anh chồng Tổng Thống nhưng lúc cần phải lên tiếng thì bà cũng rất mạnh bạo. Nhiều người truyền miệng câu chuyện bà Nhu bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm giận dữ ném cái gạt tàn thuốc lá vào người thì đó cũng chỉ là một bịa đặt nhảm nhí. Nghị sĩ Lê Châu Lộc nguyên là tùy viên của Tổng Thống Diệm xác nhận là bà Nhu cũng như tất cả những người khác muốn gặp Tổng Thống thì đều phải đi qua một lịch trình xếp đặt của Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống.

Rất ít khi bà Nhu xin gặp Tổng Thống và những lần diện kiến ngắn ngủi dăm ba phút đó thì bà Nhu ăn mặc rất chỉnh tề, cánh cửa văn phòng Tổng Thống mở rộng và bên ngoài là các sĩ quan tùy viên và nhân viên văn phòng. Nếu bà Nhu là một loại đàn bà đanh quánh hỗn láo thì chắc hẳn là thiên hạ sẽ được nghe và nhìn thấy những hoạt cảnh ồn ào chợ búa trong những ngày tháng nơi xứ lạ quê người.

Tổng Thống Diệm đặc biệt qúy mến bà Nhu vì đã mạnh bạo hoàn thành bộ luật gia đình và nhất là bà Nhu đã sinh ra hai người con trai để nối tiếp dòng họ Ngô Đình. Ông Ngô Đình Luyện có hai đời vợ nhưng cũng chỉ có một binh đội đến mười cô con gái, mãi đến người con út mới được một mống con trai.

Con trai lớn của bà Nhu là Ngô Đình Trác lấy vợ người Ý và bây giờ cũng có cháu gọi là ông nội rồi. Người con trai nhỏ là Ngô Đình Quỳnh làm việc ở nước Bỉ và không lập gia đình cũng đã trên sáu mươi tuổi. Từ sau năm 1963, ông Ngô Đình Trác sống ở Roma và chưa một lần đi ra khỏi nước Ý. Câu chuyện đồn thổi "bà Nhu cho ông Trác sang Mỹ để xin lỗi" người này người kia cũng chỉ là một bịa đặt láo khoét mà thôi.

Các tài liệu về vụ phản loạn 1 tháng 11 năm 1963 do Hoa Kỳ điều động đã được hoàn toàn giải mã. Đám quân nhân và các tổ chức liên hệ chỉ thi hành những mệnh lệnh từ một bọn kiêu binh tác oai tác quái lợi dụng sự nhu nhược của một ông tổng thống tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Bà Nhu biết và hiểu rõ phương cách điều hành của các cơ chế chánh trị Mỹ. Tất cả đều bị sai khiến bởi các thế lực đứng sau toà Bạch Cung. Nói một cách rõ ràng là những thế lực đó được điều hành và nhận chỉ thị từ những nhóm Do Thái có thực lực nắm giữ huyết mạch chánh trị và tài chánh của nước Mỹ. Cũng chính những thế lực này, qua bàn tay của Henry Kissinger đã dâng hiến nước Việt Nam Cộng Hoà cho khối cộng sản quốc tế...

Khi nói về cái chết thảm thương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm lvà ông Cố Vấn thì bà Nhu cũng chỉ nhỏ nhẹ nói: "Tổng thống của nó mà nó còn giết thì tổng thống của mình nó coi ra gì". Chữ "nó" đây bà Nhu cố ý nói về các thế lực Do Thái trong chính trường Hoa Kỳ. Tổng Thống Kennedy đã bị bắn chết trước mắt hàng triệu dân Mỹ mà cho đến nay hơn một nửa thế kỷ sau vẫn không một cá nhân hay tổ chức nào dám phanh phui ra tên tuổi của đứa đã cầm súng bắn vào đầu Tổng Thống Kennedy. Những thế lực này mạnh đến nỗi ngay khi ông Obama được đảng Dân Chủ đề cử cũng đã vội vàng bay sang Do Thái "trình diện".

Trong suốt gần hai nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama chưa hề có một lời nói hay hành động nào làm mích lòng Do Thái.

Đôi khi cũng có tiếng bấc tiếng chì nhưng đó chỉ là những trình diễn có xếp đặt mà thôi. Bà Nhu rất căm thù những nhóm quyền lực Do Thái đứng sau toà Bạch Ốc. Cũng chính bọn này đã mua chuộc được hầu như tất cả giới truyền thông quốc tế để cùng toa rập với nhau triệt hạ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà rồi sau đó dâng hiến cho cộng sản quốc tế. Khi nói về cái chết của cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy, bà Nhu vẫn có những câu hỏi về vai trò của tổ chức tình báo Do Thái trong tai nạn giao thông thảm khốc này.

Ai cũng biết là từ ngày tủi nhục vất vưởng nơi quê người, bà Nhu sống rất nghèo khổ, nhiều năm sống trong cơ hàn.

Trong một bài viết, tôi có đề cập đến nhà bà Nhu là một đơn vị gia cư trong một chung cư bề thế ở thủ đô Paris. Địa chỉ của chung cư đó là số 24 Rue du Suffrene, Paris 15. Tôi viết một cách lập lững rằng một tỷ phú người Ý vì thương cảm nên đã cho bà Nhu một số tiền kếch xù để mua một lúc hai đơn vị gia cư, một để ở và cái khác cho thuê lấy tiền sinh sống. Sự thật không phải như vậy. Vị tỷ phú này có lòng từ tâm và rất thương cảm hoàn cảnh của bà Nhu. Tuy nhiên vị tỷ phú này biết sử dụng và đầu tư đồng tiền một cách rất khôn ngoan bên cạnh lòng nhân ái cứu giúp người hoạn nạn.

Bà Nhu được vị tỷ phú này nhờ mua một lúc hai đơn vị gia cư của một chung cư ở vị trí rất đẹp ở thủ đô Paris bởi vì bà Nhu vẫn còn những liên lạc với một số chính khách Pháp và có thể nhờ cậy các vị này trong việc thương thảo mua bán. Bà Nhu đã nhờ một vị cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua hai đơn vị gia cư. Không ai biết những cam kết và hợp đồng giữa bà Nhu và vị tỷ phú người Ý như thế nào nhưng ai cũng biết là lúc còn sống thì bà Nhu sinh sống ở một đơn vị và cái khác cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn để có tiền chi tiêu.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi bà Nhu từ trần thì các con của vị tỷ phú này đã tiến hành thủ tục pháp lý lấy lại hai đơn vị gia cư này. Việc chuyển giao đã tiến hành một cách âm thầm và êm đẹp. Tất nhiên trị giá của hai đơn vị gia cư này đã cao hơn nhiều lần lúc mua.

Trong một lần tôi đang nói chuyện với bà Nhu thì chuông điện thoại reo, bà Nhu đứng lên cầm ống điện thoại nhờ người gọi lấy dùm cái chụp đèn ở ngoài tiệm về. Bà Nhu nói với tôi là rất thích cái chụp đèn bằng vải này nhưng vì quá cũ nên có chỗ bị rách. Bà nhờ người mang ra tiệm sửa lại nhưng tiền công sửa quá đắt, đến cả gần một trăm euros nên thôi không sửa nữa. Nếu bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim như một vài "sử liệu" tiết lộ thì đâu có phải tính toán đắn đo gì với số tiền công sửa cái chụp đèn này.

Sau ngày phản loạn 1-11-1963, để lấy điểm với một vài phe nhóm và bọn tay sai nằm vùng của cộng sản Bắc Việt thì những người nắm quyền đương thời cũng trình diễn ra những cái gọi là "ủy ban điều tra tội ác và tài sản nhà Ngô". Cuối cùng thì những ủy ban này với bao nhiêu hận thù và điêu ngoa gian dối sau khi vắt cạn kiệt ác tâm cũng đã chế tạo ra được hai cái "sử liệu" rất "hoành tráng" để đưa vào "chính sử". Thứ nhất là "bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim, hai thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây". Thứ nhì là "Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tàn sát ba trăm ngàn Phật tử ở miền Trung". Các "sử gia chân chính" đã xác nhận như vậy thì chắc hẳn phải là "chính sử "!!!

Nói và viết về bà Ngô Đình Nhu thì toàn là những chuyện buồn phiền đau khổ. Vậy xin kể một chuyện vui vui. Một thanh niên người Ý bảnh trai con nhà gia thế cùng cha mẹ thưa chuyện với bà Nhu xin cưới cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Khoa Roma. Trong lúc vui vẻ chuyện trò thì bà Nhu nói với chàng rể tương lai rằng mỗi tuần lễ bà chỉ ăn hai hay ba lần thôi, nếu anh có thể ăn uống được như vậy thì tôi sẽ gả út cưng cho. Anh chàng này vẫn có lòng kính phục bà mẹ vợ tương lai nên xin hai tháng để thử thách. Sau hai tháng nhịn ăn nhịn uống, rồi cũng quen dần. Bởi vậy anh chàng gầy đét như con mắm khô, chỉ thấy da bọc xương. Cho đến bây giờ, mặc dầu cô vợ yêu qúy đã chết vì một tai nạn xe cộ nhưng anh này vẫn giữ thói quen ăn uống như vậy.

Con người ta ai rồi cũng sẽ trở về cát bụi. Nhớ bà Ngô Đình Nhu với hình ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi, đức hạnh và hết lòng vì quê hương đất nước. Nguyện cầu hương hồn bà an vui nơi cõi Hằng Sống...

25/02/2016
Luật sư Trương Phú Thứ

Wednesday, May 6, 2015


TÔI GIẢI PHÓNG TÔI
 
TRƯƠNG PHÚ THỨ
 
Tin nhắn từ một người quen về vợ chồng chú em họ ở ngoài Bắc sẽ đến  thăm làm ông bà Thịnh vừa mừng vừa lo.  Mừng vì gặp lại người thân sau hơn hai chục năm trời xa cách.  Nghe nói chú em là là cán bộ trong ngành công an.  Chỗ người nhà, có gì cần nhờ cậy cũng yên lòng. Lo vì chẳng biết lòng dạ của người đã thấm nhuần chủ nghĩa cộng sản như thế nào.  Người em họ mà tuổi còn chạy nhẩy lúc nào cũng quanh quẩn bên ông chẳng biết có còn chút tình nghĩa gia đình hay lại khô cằn hơn một hòn đá vô sản.   
 
Ông bà Thịnh cùng là giáo chức của một trường trung học rất nổi tiếng ở Sài Gòn.  Ba người con được ông bà thu xếp đi ra khỏi nước trên một tầu buôn sang Hồng Kông mấy ngày trước khi những chiếc mũ cối của bộ đội cộng sản nhởn nhơ trên đường phố Sài Gòn.  Ông Thịnh lý luận với vợ dù cho cộng sản có khát máu đến đâu thì chắc cũng chẳng đụng chạm gì đến những người chỉ biết dậy dỗ bọn trẻ nên người.  Ông lẩm bẩm  “có chính chị chính em gì đâu”.  Bà Thịnh, trái lại, sợ đến tắt thở.  Qua báo chí, bà đọc tin tức bọn Khmer Đỏ giết đến gần một nửa dân số Miên mà đa số những người này chỉ phạm một cái tội là biết đọc biết viết.  Đã đến nửa tháng sau ngày Sài Gòn rơi vào tay những người cộng sản miền Bắc mà chẳng thấy máu lửa gì nên ông bà Thịnh cũng bớt lo.  Mấy “thằng 30 tháng 4” chạy lăng xăng như gà mắc đẻ trước cửa nhà nhưng đứa nào cũng còn chút lễ giáo của người Sài Gòn nên vai trò nghiêm nghị của nhà giáo vẫn được kiêng nể.  Vài lần chúng cũng gõ cửa hoạnh hoẹ về mấy người con.  Bà Thịnh cười xuề xoà nhỏ nhẹ:
 
“Chúng nó dại dột đi theo bọn Mỹ, bây giờ chẳng biết sống chết ra sao.”
 
Bà nói với giọng buồn rầu nhưng vẫn không giấu diếm được niềm vui trong lòng vì được tin chắc chắn chuyến tầu đã đưa các con đến bến bờ bình yên.  Ông bà Thịnh quyết định không ra đi vì phải “tử thủ”, nếu chuyến đi của các con không thành mà trở về thì cũng có nơi ăn chốn ở.  Ông Thịnh mang những bài học binh pháp của cụ cố Tôn Từ  bên Tầu giải thích cho quyết định ở lại.  Phàm bất cứ việc gì có thế công thì cũng phải có đường thủ.  Dắt díu nhau đi hết mà phải quay trở về thì chẳng thà ra ngoài biển “làm mồi câu cá mập” còn hơn.  Bà Thịnh nghe có vẻ hợp lý nên cũng chẳng thiết tha gì với chuyện ra đi.  Hơn nữa họ hàng bà con, mồ mả tổ tiên tất cả còn ở miền đất Mỹ Tho trái ngọt cây lành.  Rứt ruột bỏ đi sao đặng.   Hình ảnh của những cuộc đấu tố ở miền Bắc làm cho nhiều người phải rùng mình khiếp sợ.  Cộng sản là máu và nước mắt, là chết chóc và thù hận.  Đằng sau của những vụ cướp chính quyền bằng bạo lực của các đảng cộng sản trên thế giới luôn luôn là những cuộc tàn sát tập thể, những trại tù khổ sai và cùng cực của đói khát bệnh tật.  Bà Thịnh biết vậy nhưng cũng không thể nào đành lòng ra đi.
 
Hai tuần lễ sau khi những đôi dép râu dẫm nát đường phố Sài Gòn, người dân của miền đất mưa nắng hai mùa vẫn chưa thấy được cái đòn thù của những người cộng sản phương bắc. Hôm nay ông bà Thịnh ăn mặc tươm tất, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ đón vợ chồng chú em họ mà nghe đâu chú ấy cũng có vai vế trong ngành công an xã.  Ông bà Thịnh cũng không biết rõ người em họ làm to đến cỡ nào nhưng có tí hơi hướm vẫn hơn.  Bây giờ quyền hành trong tay những người có súng đạn.  Luật pháp là một sản phẩm nhiều khi có tiếng khóc nhưng cũng có lúc không nhịn được những trận cười đến đứt ruột.  Bà Thịnh sửa sọan những món đặc biệt miền Nam chỉ mong vừa lòng người em họ mà bà chưa một lần gặp mặt.  Bà là dân Mỹ Tho và lớn lên ở Sài Gòn.  Hầu hết dân thành phố chỉ nghe và hiểu lờ mờ về chủ nghĩa và những người cộng sản. Người miền Nam tính tình xuề xoà, chuyện gì xong rồi bỏ qua, ăn nhậu hôm nay không nghĩ đến ngày mai.  Bây giờ phải đối mặt với những người cộng sản cũng trở nên loạng quạng.   
 
Bà Thịnh đang nêm lại nồi nước lèo.  Món hủ tíu Mỹ Tho là món “ruột” của bà.  Nhiều người ăn xong chùi mép chưa sạch nhưng đã hẹn ngày tái ngộ.  Nghe tiếng gọi ngoài cửa đặc giọng miền Bắc, bà Thịnh chắc là khách đã đến.  Bà bật cười nghĩ đến ngày cưới, họ hàng bên ông Thịnh nói đặc một giọng “bắc chay”.  Nhiều chữ chẳng hiểu gì nhưng vẫn cứ phải vâng dạ cho qua chuyện.
 
Ông Thịnh mở cửa nhìn người đàn ông mặc bộ quần áo lính đã ngả mầu đang dướn người nhìn lên tầng ba nhà ông.  Người phụ nữ đứng bên cạnh dáng dấp quê mùa tay xách cái bị cói có vẻ nặng nề.  Ông Thịnh nói to, giọng mừng rỡ:
 
“Hướng con chú An đây phải không?”
 
Người đàn ông không trả lời, chạy đến nắm tay ông khóc mếu máo:
 
“Anh ơi, đến bây giờ anh em mình mới được gặp nhau.”
 
Ông Thịnh cầm áo kéo người em con ông chú vào nhà.  Người đàn bà đi sau có vẻ lấm lét.  Ông Thịnh nói to như để báo tin cho bà vợ dưới bếp:
 
“Anh Hướng đây là con chú An.  Mới ngày nào anh em quấn quýt bên nhau.  Thế mà đã hơn hai mươi năm rồi.”
 
Vợ chồng Hướng nhìn bộ ghế bọc nhung đỏ thẫm, những đồ đạc trưng bầy trong phòng khách toàn là những hình ảnh xa lạ. Đã vài lần ông Thịnh mời khách ngồi, xem chừng như vợ chồng Hướng lại không dám nhưng rồi cũng rụt rè ngồi mấp mé trên làn vải nhung mịn màng.  Bà Thịnh từ dưới nhà bếp đi lên, tay bưng khay nước, cười tươi:
 
“Anh chị Hướng dzô hồi nào dzậy?”
 
Không nghe ai trả lời.  Vợ chồng Hướng chắc không hiểu câu hỏi của bà chị người miền Nam .  Ông Thịnh nói:
 
“Nhà tôi hỏi chú thím vào đây bao giờ đấy.”
 
Vợ Hướng vội vã:
 
“Thưa chị, chúng em vào đây cũng được ba ngày rồi ạ.  Lần mò hỏi thăm đủ chỗ mới tìm được nhà anh chị.”
 
Vợ Hướng nhìn bà Thịnh với nét sang cả của một giáo chức trung học như là ở một thế giới khác.  Bộ quần áo lụa mầu nâu đậm may thật khéo ôm gọn thân hình vừa bước qua tuổi trung niên cũng là một hình ảnh xa vời mà người phụ nữ cán bộ nông nghiệp chưa bao giờ mơ với tay tới.
 
Bà Thịnh nói như lấy lòng:
 
“Mừng quá, anh em xa cách đã hai mươi năm mà còn được gặp nhau như thế này thì còn biết nói gì hơn.”
 
Hướng đứng bật dậy, hai tay đan chéo vào nhau thưa gửi thật cung kính:
 
“Báo cáo anh chị, chúng em chỉ mơ có ngày được vào Nam .  Vào đây được gặp anh chị với cơ ngơi hoành tráng sang trọng như thế này thì chúng em mừng quá.  Thật phúc đức các cụ nhà mình để lại.”
 
Bà Thịnh rót chai Coca Cola vào hai cái ly sáng bóng mời khách:
 
“Mời chú thím uống nước.”
 
Vợ chồng Hướng cũng đã nhìn thấy chai Coca Cola trên phố xá Sài Gòn nhưng vẫn chưa biết mùi vị chua ngọt ra sao.  Vợ Hướng uống một hớp to, ra chiều thích thú:
 
“Gớm, của Mỹ có khác, mát mà lại thơm quá.  Ở đây cái gì cũng đẹp cũng thơm cả”
 
Bà Thịnh bật cười nhìn người phụ nữ  như đang lạc lõng ở một thế giới khác.  Ông Thịnh kéo Hướng sang ngồi bên cạnh hỏi han bà con ruột thịt và những người trong làng.  Hướng kê khai rành mạch người sống người chết, từng chi tộc, mỗi gia đình.  Ông Thịnh chăm chú nghe, thỉnh thoảng hỏi về những người mà ông còn nhớ được.  Nghe Hướng trả lời, nước mắt ông dàn dụa.  Ông xót xa nói như đứt hơi “khốn nạn quá”, “tội nghiệp quá”.  Giọng Hướng rầm rì như sợ tai vách mạch rừng, những người chết vì già yếu bệnh tật thì không nói làm gì nhưng cũng đã có người chết vì đói.
 
Vợ Hướng chỉ trỏ những đồ đạc bầy biện trong phòng khách, hỏi nhiều câu làm bà Thịnh phải lựa lời mà nói cho hợp tình hợp cảnh, đôi khi cũng không nhịn được cười.  Ánh mắt vợ Hướng như lạc lõng trước những vật dụng thường ngày của người dân miền Nam .  Cái đồng hồ chạy pin có con chim bay đi lượn lại “nhìn thích quá”.  Cái dàn máy âm thanh “cực hiện đại, cả tỉnh nhà mình chắc đã có ai nhìn thấy”.  Vợ Hướng xúm xít với nhiều câu hỏi.  Bà Thịnh mở máy, một bản “nhạc vàng” ca tụng vẻ đẹp của các cô gái đất Thần Kinh và cảnh mộng mơ của xứ Huế, “Một chiều lang thang bên dòng Hương giang, tôi gặp một tà áo tím…”.  Người phụ nữ cán bộ nông nghiệp cả đời chỉ đối mặt với “phân xanh phân bắc” thực sự rung động đã không kìm hãm được tư tưởng:
 
“Bài hát của Ngụy hay thế cơ mà.  Bài hát của ta bên ấy thì chỉ toàn là hò với hét.”
 
Nói xong, vợ Hướng biết lỡ lời nhìn bà Thịnh thẹn thùng.  Hướng như ngồi phải lửa, vội chữa cháy cho vợ:
 
“Thưa chị, ngày còn chiến tranh chúng em vẫn lén lút nghe nhạc vàng đấy.  Bài nào cũng tình tứ lãng mạn quá.”
 
Ông Thịnh nhìn vẻ mặt thèm thuồng của vợ Hướng, nói như vừa đủ nghe:

“Có một cái máy nhỏ bằng hai bàn tay để trên nhà của các cháu.  Để rồi tôi sẽ biếu chú thím.”
 
Vợ Hướng có vẻ kinh ngạc chỉ lên trần nhà:
 
“Thế mấy cái tầng trên này cũng là nhà của hai bác cả đấy ạ.”
 
Bà Thịnh mau mắn nói:

“Nhà này có ba tầng.  Chúng tôi xây cũng hơn chục năm nay rồi.”
 
Vợ Hướng như không tin ở tai mình nhưng cũng biết nói khéo:
 
“Cơ ngơi của hai bác còn to hơn cả cái dinh ngoài đấy.”
 
Nói xong, vợ Hướng kính cẩn hai tay bưng một gói to bằng cái bánh chưng ngày Tết được buộc lạt kỹ lưỡng ngoài cái vỏ lá chuối khô, nói rất nhỏ nhẹ:
 
“Chúng em có cân gạo nếp biếu hai bác.  Quà bánh nhà quê.  Xin hai bác nhận cho.”
 
Bà Thịnh nhìn cân gạo nếp trên bàn mà thương cảm cho cảnh nghèo của vợ chồng Hướng.  Chồng là công an xã, vợ là cán bộ nông nghiệp mà nghèo túng như vậy thì dân quê còn khổ sở đến thế nào.  Bà quay sang nói với chồng rằng cơm nước đãi đằng khách đã sẵn sàng.  Ông Thịnh nói trong nước mắt:
         
“Mời chú thím qua phòng ăn.  Cũng đến bữa rồi.”
 
Bà Thịnh cầm tay vợ Hướng kéo xuống nhà dưới.  Nhìn nhà bếp, từ cái nồi cái chảo cho đến những chai lọ xếp đặt đâu ra đó thật ngăn nắp và sạch sẽ, vợ Hướng như hoa mắt chẳng còn biết hỏi han thế nào cho ra đầu đuôi câu chuyện.  Bà Thịnh cũng biết người miền Bắc đói rách nghèo khổ nhưng lại chưa bao giờ có được những hình ảnh mà qua lời kể của Hướng thì cũng đã có những người họ hàng bên ông Thịnh đã chết vì đói.  Vợ Hướng đứng nhìn bà Thịnh sắp xếp những món ăn vào bát đĩa, muốn giúp một tay mà cũng chẳng biết phải làm gì.  Nhà bếp mà chỗ nào cũng sạch sẽ trắng bóng như lau như ly chứ chẳng thấy cái kiềng ba chân với nắm rơm nắm rạ chỗ nào. 
 
Món ăn thức uống đã được bà Thịnh bầy biện trên bàn.  Ông Thịnh đi vội lên trên lầu lấy chai rượu Johny Walker chẳng nhớ ai cho để dưới gầm bàn viết đã nhiều năm rồi.  Ông nhìn Hướng có vẻ ân cần:
 
“Chú Hướng uống chút rượu cho vui.”
 
Hướng thấy chai “rượu ngoại” mắt sáng lên, vui ra mặt.  Anh công an xã cũng đã nhiều lần được mời mọc tiệc tùng đình đám nhưng cũng chỉ đến rượu trắng ngâm mấy cái rễ cây là cao nhất.  Nghe nói “rượu ngoại” thơm ngon lắm, hôm nay mới được đụng môi thì còn phải nói. 
 
Bà Thịnh bắt đầu giới thiệu các món ăn của người Sài Gòn.   Món gà xé phay với những đọt rau răm xanh mơn mởn.  Con cá lóc nướng trui vàng rộm xối mỡ hành thơm phức.  Ông Thịnh mời mọi người ăn.  Cũng bát cũng đũa mà sao vợ chồng Hướng có vẻ ngập ngừng.  Ông Thịnh mở chai rượu rót cho Hướng một ly.  Ông cũng rót cho mình một chút để Hướng có bạn rượu.  Ông gắp cho Hướng đầy bát thì bà Thịnh cũng vun đầy cho vợ Hướng.  Nhìn vẻ thèm khát của vợ chồng Hướng, ông bà Thịnh quá thương cảm nhưng cũng thấy vui vui.  Hướng nhắp một ngụm rượu, hai tay cầm cái ly trịnh trọng:
 
“Đúng là rượu ngoại, thơm ngon quá sức.”
 
Ông Thịnh xởi lởi:
 
“Chú uống đi.  Ở lại chơi với chúng tôi mấy ngày rồi đi đâu hãy đi.”
 
Vợ chồng Hướng như mở cờ trong bụng.  Ông bà Thịnh không cho ở lại thì cũng chẳng biết đi đâu.  Vài người làng gặp ngày hôm qua cũng chẳng ai mặn mà gì.  Ông Thịnh là chỗ máu mủ nên cũng hơn.  Vợ Hướng gắp một miếng cá to bỏ vào bát cho chồng cười nói:
 
“Bộ đội ta không giải phóng được Sài Gòn thì đến bao giờ chúng em mới được gặp các bác.”
 
Bà Thịnh nhìn vợ Hướng như muốn đuổi ra khỏi nhà.  Giải phóng cái gì?  Người ta đang sống vui sống khỏe mà nay đặt mìn, mai pháo kích, từ ngoài Bắc mang súng đạn vào cướp của giết người mà giải phóng cái nỗi gì.  Vợ Hướng cũng không biết mình lỡ lời.  Người phụ nữ quê mùa làm cán bộ nông nghiệp suốt ngày cãi nhau vì bát lúa nắm phân được học tập phải hiến ngay cả thân xác mình cho Bác cho Đảng cũng không nghĩ và nhìn ra ngoài được những giáo điều được tôi luyện.  Đảng cho sống thì sống.  Đảng bảo chết thì cũng “hạ quyết tâm” tuân lệnh.
 
Trái lại, Hướng tuy chỉ là một anh công an xã cấp dưới nhưng lại giỏi lý luận.  Bất cứ chuyện gì lớn nhỏ, phải trái Hướng luôn phân giải nguyên do và kết cục của sự việc.  Vừa vào đến Sài Gòn, nhìn nhà cửa tầng cao tầng thấp xe cộ chạy đầy đường, dân chúng người nào cũng quần áo bảnh bao là Hướng đã biết ngay cả miền Bắc đã bị cái bộ máy tuyên truyền khắc nghiệt của chế độ cộng sản lừa bịp.  Nghe vợ nói đến hai chữ “giải phóng” mà anh chồng muốn lộn ruột.  Hướng tự tay rót rượu vào cái ly pha lê sáng bóng, nhấp một ngụm to rồi đủng đỉnh nói:
 
“Chẳng biết ai giải phóng ai đây.  Mình chui ra chui vào cái nhà gianh vách đất, ăn uống thì quanh năm chỉ có dưa khú với cà thâm, quần áo thì vá chằng vá chịt.  Nhìn cơ ngơi của các bác, thức ăn thức uống ê hề như thế này.  Cả miền Bắc bị lừa bịp bao nhiêu năm rồi.”
 
Hướng bắt đầu kể lể những oan khiên của người dân miền Bắc.  Nghèo túng, bệnh họan mà từ đứa trẻ con cho đến những cụ già ai ai cũng phải vác trên vai mình đủ loại bổn phận và nghĩa vụ.  Có vài cân gạo nếp giấm dúi ở xó bếp cũng phải lôi ra ủng hộ bộ đội đi B.  Không ủng hộ thì bị hành hạ đủ điều cơ khổ.  Mười người thì đến chín người bữa no bữa đói.  Đã có biết bao người chết vì đói nhưng nào có ai dám mở miệng kêu than.  Hướng say sưa kể chuyện với giọng điệu tức tối đến căm phẫn.  Mồm ngồm ngoàm thức ăn, ly rượu mới vơi quá nửa đã tự tay rót đầy nhưng vẫn say sưa nói như để trút đi những uất hận bị đè nén trong lòng từ nhiều năm qua.
 
“Bác Phán nhà mình tháo cả cửa nhà làm hòm chôn cất những người chết đói ngoài đường hồi năm Ất Dậu thế mà cũng bị đội Cải Cách Ruộng Đất bắt ra ngoài đình làng đấu tố rồi mang đi chẳng biết chết mất xác ở đâu.”
 
Hướng nói huyên thuyên, không mạch lạc mà cũng chẳng có đầu đề, nhớ đến ai thì nói, chuyện vui chuyện buồn gì cũng nói cho hả hơi rượu.  Đột nhiên Hướng lắc đầu xuống giọng nói như tiếc rẻ:
 
“Ông Tổng Thống Mỹ chẳng biết gì cả.”
 
Ông Thịnh giật mình, một anh công an xã mà tự nhiên lại có lời bình phẩm ông Tổng Thống Mỹ thì chắc là phải có chuyện để nói.
 
“Chú Hướng nói sao?”
 
Hướng vội vã:
 
 “Thưa anh, ý là em nói cái hồi Mỹ bỏ bom ngoài ta đấy ạ.  Thay vì bỏ bom thì cứ mang đồ hộp, thuốc lá với lại quần bò áo phông mà đổ xuống thì bất chiến tự nhiên thành.  Dân mình đói khát quá.  Công an bộ đội cũng bữa có bữa không, quần áo rách rưới tả tơi.  Người nào cũng như con ma đói mà vớ được hộp thịt bò, điếu thuốc thơm của Mỹ thì chỉ quay ra giành giật bắn giết nhau thôi.  Quân ta mà đánh quân mình thì hai bác nghĩ xem còn có binh pháp nào hơn.”
 
Ông Thịnh cười tủm tỉm:
 
“Sao hồi đó chú không viết cho ông Tổng Thống Mỹ cái thư.  Hiến cho ông ta cái kế ấy thì còn hơn cả Khổng Minh bên Tầu nữa đấy.”
 
Hướng nhắp vội ngụm rượu nói to:
 
“Thưa anh, em không biết nhà ông ấy ở chỗ nào đấy chứ.  Em mà biết nhà cửa ông ấy thì đi mấy ngày đường em cũng đi.”
 
Ông Thịnh cười ngặt nghẽo về cái ý tưởng ngộ nghĩnh mà nghe ra lại rất có lý.  Đám bộ đội thèm khát đến nỗi giết nhau chỉ vì một bi thuốc lào.  Nhìn lên trời những cây thuốc lá Philip sợi vàng lơ lửng trên không thì chắc sự nghiệp giải phóng hay di chúc của ông Hồ cũng bay theo mây khói.  Bỏ súng, rã ngũ đạp lên nhau, chém giết nhau mà vồ vập hộp thịt bao thuốc.  Dân đánh với quân, bộ đội đánh với công an.  Thế là hết.  Có vậy mà ông Tổng Thống Mỹ nghĩ không ra!. 
 
Chai rượu vẫn còn quá nửa, Hướng với tay để ngay trước mặt như sợ ai giành giật mất.  Ông Thịnh nhìn, vẻ thương hại:
 
“ Chú Hướng cũng uống rượu được đấy chứ.  Nhưng mà vậy đủ rồi.  Ngày mai ta lại tiếp tục.”
 
Hướng đã hơi ngà ngà say nhưng vẫn nghe rõ tiếng nói của ông anh họ là cái phao duy nhất cho vợ chồng Hướng bám víu nơi đất lạ.  Đĩa gà xé phay chỉ còn lại một gắp rau.  Con cá lóc nướng trui trơ bộ xương trên cái đĩa viền vàng choé.  Hướng lại khề khà về cái chiến lược “thịt hộp thuốc lá thơm” nghe ra như chuyện đùa mà nếu những hộp thịt bò thịt gà, những bao thuốc lá Philip của Mỹ cứ ùn ùn túa ra như mưa từ những cái máy bay B52 thay vì những quả bom ngàn cân thì cuộc chiến đã kết thúc không có máu đổ thịt rơi mà lại đỡ tốn phí biết bao.  Bộ đội hay công an, anh chị nào cũng đói lên đói xuống.  Mang cái chủ nghĩa Mác Lê ra mà gặm vừa đau răng mà bụng lại vẫn đói cồn cào.  Dân chúng thì đa số phải ăn độn khoai sắn, nhiều người phải ăn củ chuối cầm hơi.  Đám thương binh từ chiến trường miền Nam trở về uốn lưỡi kể lại cái vị ngon ngọt của hộp thịt hộp bánh và mùi thơm huyền hoặc của điếu thuốc lá Mỹ càng làm cho những con ma đói từ quân đến dân thèm thuồng và có một giấc mơ.  Đến ngày nào mới được cầm trong tay điếu thuốc lá sợi vàng như ông Hồ vẫn hút mỗi ngày?!
 
Ăn xong tô hủ tíu, húp cạn chút nước lèo ngon ngọt còn đọng lại trong đáy bát, vợ chồng Hướng lại còn được bà Thịnh mời ăn bát chè đậu đen.  Hướng thích chí hỏi bà Thịnh:
 
“Thưa chị, nhà ta ngày nào cũng ăn uống như thế này sao”
 
Bà Thịnh nhỏ nhẹ:
 
“Hôm nay có chú thím thì cũng bầy biện hơn ngày thường nhưng ở đây thịt cá khi nào cũng ê hề.”
 
Hướng nắm tay vung lên cao:
 
“Thế mà cái loa phóng thanh ở làng cứ ông ổng suốt ngày đêm là dân miền Nam chết đói như rạ.  Cả miền Bắc bị lừa bịp.  Nói thật với anh chị chứ mà quân miền Nam ra giải phóng miền Bắc thì dân tình ngoài ấy chắc đỡ khổ hơn.”
 
Vợ Hướng mạnh dạn chen vào câu chuyện:
 
“Người đói khát rách rưới lại đi giải phóng người ấm no dư dật như thế này.  Ngoài ấy ai cũng chộn rộn dành dụm mấy cái bát mẻ, vài cái giẻ rách mang vào Nam tiếp tế cho bà con họ hàng.  Những cái thứ đấy mang vào đây không có chỗ mà vất đi.  Rõ nỡm, tai quái ngược ngạo quá sức.”
  
Trời cũng đã sẩm tối, ông Thịnh dẫn vợ chồng Hướng lên tầng ba nơi phòng ngủ của cô con gái cả.  Vợ chồng Hướng loá mắt với đồ đạc và cách bầy biện phòng ngủ của cô gái đang độ tuổi xuân thì.  Những bình hoa lụa đủ mầu khoe sắc trong hương thơm của một loại nước hoa đắt tiền vẫn còn phảng phất đâu đây.  Ông Thịnh cầm tay Hướng chỉ vào phòng tắm:
 
“Tắm rửa tất cả ở đây.”
 
Hướng nhìn chầm chầm vào cái bàn cầu trắng tinh chứa nước trong vắt ra vẻ xuýt xoa:
 
“Đi nắng về mà sẵn cái chậu nước rửa mặt như thế này thì tha hồ mát.”
 
Ông Thịnh cắn môi không dám cười thành tiếng:
 
 “Ấy chết, cái đó là chỗ để ngồi lên thôi.”
 
Hướng ngạc nhiên cao giọng:
 
“Thưa anh, ngồi lên để làm gì ạ”
 
Ông Thịnh nói khẽ như thì thầm bên tai Hướng:
 
“Ngồi lên mà đi đồng như ở ngoài mình đấy.”
 
Nói rồi ông giảng giải “cứ việc đi vào đây, dùng cái cuộn giấy trắng này cho sạch sẽ rồi kéo cái nút này xuống là tất cả sẽ trôi đi”.  Ông vừa nói vừa làm những động tác cần thiết.  Vợ Hướng há hốc mồm, nói không ra tiếng:
 
 “Giời ạ, thế mà em lại cứ ngỡ là cái chậu rửa mặt đấy.”
 
Ông Thịnh không thể cười được nữa.  Ông cắn môi nhớ lại ngày xưa dân làng mình cũng chỉ có tầu lá chuối khô chứ nào ai mơ tưởng đến cuộn giấy trắng.  Ông thương hại cho những người họ hàng làng nước lúc nào cũng đói rách mà lại còn bị chủ nghĩa cộng sản kìm kẹp đủ điều.  Những con lật đật da bọc xương cả đời chỉ mơ đến bát cơm không độn khoai sắn đang khóc than cho thân phận nhục nhằn đau thương trước cảnh phồn vinh của thành phố vừa bị cưỡng chiếm.  Ông Thịnh dặn dò chỉ dẫn cho vợ chồng Hướng chăn màn rồi ngồi nán lại hỏi Hướng mấy câu về một người trong họ nghe đâu làm to lắm ở Hà Nội.  Vợ chồng Hướng cũng mù tịt chẳng biết đâu mà trả lời vì những người chóp bu trong đảng ông bà nào cũng dăm bẩy cái tên nên ai biết đâu mà mò.
 
Ông Thịnh khẽ đóng cửa đi xuống dưới nhà sau khi chỉ cho Hướng cách tắt bóng đèn trên trần nhà.  Vợ chồng Hướng thẫn thờ ngồi trên chiếc giường nệm nhìn quanh quẩn những đồ đạc quần áo của cô con gái đang thời chưng diện.  Mấy lọ nước hoa và những hộp son phấn trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường ngủ là những gì quá xa lạ đối với vợ Hướng nhưng cái “đài” có hát cả băng to hơn hai bàn tay là nỗi thèm khát mong chờ của Hướng từ nhiều năm rồi.    Hướng nuốt nước bọt nói thầm vào tai vợ:
 
“Lúc chiều bác Thịnh nói cho mình cái đài, chắc là cái này đây.”
 
Vợ Hướng nhìn cái “đài” nói như vừa ra ngõ vớ được vàng:
 
“Mang cái này về thì cả làng đến mà ngó.  Gớm, người trong này sao họ lắm của thế.”
 
Hướng nhìn quanh quẩn trong phòng ngủ xem có gì “văn minh và hiện đại” hơn cái “đài” không phải là muốn khám phá những mới lạ nhưng để sắp đặt một toan tính ngay lúc ông Thịnh khép cửa đi xuống nhà dưới.  Vợ Hướng mở tủ nhìn mấy chiếc áo dài cười  nhẹ:
 
“ Toàn những lụa là sang trọng, các chị lãnh đạo bên ta có mơ cũng không thấy.”
 
Nói xong, vợ Hướng lấy chiếc áo dài ướm thử vào mình như tắm gội trong hạnh phúc.  Chiếc áo cũng hơi dài nhưng cắt ngắn đi khâu lại mấy mũi là vừa thôi.  Vợ Hướng tuy hơi thiếu thước tấc nhưng được cái có làn da đẹp, mặc dù gần như ngày nào cũng phải phơi nắng đội mưa ngoài ruộng.  Nhìn chiếc áo dài hoa lá sặc sỡ     buông lơi bên người vợ quê mùa, Hướng cắn răng nhớ lại hình ảnh chỉ mới mâý ngày trước đây người đàn bà này còn gang mồm lên chửi “bọn đế quốc Mỹ” đã bòn rút đến tận xương tủy của người dân miền Nam để đồng bào ta ở miền Nam phải rách rưới đói khát chết đầy đường đầy chợ.  Hướng nuốt nước bọt thèm bi thuốc lào nói chậm rãi như đang phà nạm khói ra khỏi họng:
 
“Xem có cái nào thích thì nhét vào bị nhanh đi. Lấy vài cái thôi, không khéo các bác ấy biết đấy.”
 
Vợ Hướng cầm lọ nước hoa nhỏ bằng ngón tay cái ngửi hít hà. Hướng như ngồi phải lửa:
 
“Ngu thế, các bác ấy ngửi thấy mùi nước hoa thì có mà mặt mo.”
 
Vợ Hướng nghe chồng, thấy có lý nên để lại chỗ cũ. Hướng nhỏ nhẹ như an ủi vợ:
 
“Thích thì sáng mai xin bác gái.”
 
Sau gần hai giờ đồng hồ lục lọi từ cái gương cái lược trên bàn đến những đôi giầy xếp hàng dưới gầm giường, vợ chồng Hướng thầm thì ra chiều tương đắc, vui ra mặt.
 
Hướng tắt đèn giục vợ đi ngủ.  Vợ Hướng vừa ngả lưng trên tấm nện trải khăn giường trắng tinh đã thảng thốt kêu:

“Ối giời ơi, êm ái mà lại thơm lừng.  Long sàng của vua cũng đến như thế này thôi chứ chẳng hơn.”
 
Hai vợ chồng để nguyên quần áo bụi bặm nằm dài trên giường. Hướng khẽ đập vào lưng vợ, thở dài.  Chỉ mới vừa bước một chân vào đời sống của người dân miền Nam mà đã như thế này rồi.  Nhiều lần một mình ở trụ sở công an xã, Hướng đã  mở đài “ngụy” nghe những chương trình ca nhạc, văn học một cách say mê và nhen nhúm lên một khung cảnh tự do ấm no của người dân miền Nam .  Con người ta đói rách ốm đau mà lại bị kìm kẹp trong cái nanh vuốt của một thể chế độc tài đảng trị thì không thể nào có những suy tư khai phá về tình yêu người, yêu đời như vậy.  Thân mình đang nằm dưới cái đe ngàn cân của chủ nghĩa cộng sản mà không biết cựa quậy để đứng lên.
 
Buổi sáng nghe tiếng gõ cửa của ông Thịnh thì Hướng vẫn còn đang vật lộn với cơn thèm thuốc lào.  Sau cả một lúc lâu tập tành cách sử dụng phòng tắm với những vật dụng hoàn toàn xa lạ, Hướng có cảm tưởng như đã đổi đời nhưng cái mùi huyền hoặc của khói thuốc lào vẫn vất vưởng đâu đây.  Ông Thịnh ân cần hỏi han:
 
“Sao , lạ giường lạ chiếu có ngủ được không?”
 
Hướng chưa kịp trả lời thì vợ đã nhanh nhẩu:
 
“Chúng em cứ như lên tiên đấy bác ạ.”
 
Hướng lườm vợ vì câu nói hớ hênh, vội làm mặt nghiêm:
 
“Thưa anh, em vẫn không thể nào lý giải được tại sao người miền Nam lại không ra giải phóng chúng em ngoài ấy.”
 
Ông Thịnh không có câu trả lời.  Chuyện “chính chị chính em” là những cái gì dã man tàn bạo và rất nhiều khi ngu đần, mình chỉ là một người mù qườ quạng trong đêm tối.  Ông nhỏ nhẹ mời vợ chồng Hướng xuống nhà dưới ăn sáng.  Vợ Hướng vai đeo cái bị cói, tay phải nắm chặt hai cái quai bị như sợ trộm mất của.  Hướng khoác chiếc ba lô có vẻ như còn mới đựng vài bộ quần áo lính cũ mèm và mấy vật dụng lỉnh kỉnh, tưởng rằng là những thứ hiếm qúy nhưng ở đây vứt ra đường không ai nhặt.  

Ông Thịnh nhìn hai vợ chồng Hướng như sắp sửa lên đường tiếp tục chuyến đi thăm họ hàng nội ngoại trong Nam .  Ông đi vào góc phòng lấy cái “đài có hát băng” đưa cho Hướng bảo mang về mà nghe cho đỡ buồn.  Hướng run run cầm trong tay chẳng biết nói lời cám ơn mà chỉ sợ giấc mơ bay đi mất.  Vợ Hướng vui ra mặt, chỉ mấy ngày nữa là cả làng sẽ kéo đến đầy nhà nghe nhạc vàng của miền Nam .  Người nào nghe nhạc vàng thì còn sợ chứ Hướng là công an xã thì ai đụng đến.  Vợ Hướng muốn xin mấy cái quần áo nhưng lại sợ nhỡ mà mấy cái áo “tự biên tự diễn” trong bị cói lòi ra thì còn mặt mũi nào.     

Tại sao cái loa phóng thanh của Nhà Nước ngày đêm ra rả bên tai là người dân miền Nam bị Mỹ Ngụy bóc lột đến xương tủy mà nay đất nước thống nhất chẳng thấy có đến một người chạy ra ngoài miền Bắc đề tìm cơm no áo ấm.  Nhưng xó xỉnh nào của Sài Gòn cũng có người miền Bắc lê la bòn nhặt từ cái áo rách cho đến cái nồi méo mó. 
 
Bữa ăn sáng không có những tiếng nói lanh chanh của vợ Hướng và ông chồng thì lại trầm tư ra chiều suy nghĩ, vẻ mặt coi bộ nghiêm nghị.  Chân phải Hướng đè lên chiếc ba lô để dưới gầm bàn ăn, tay cầm đũa ngập ngừng gắp những lát lạp xưởng đỏ au.  Hướng cầm ly cà phê sữa trong lòng hai bàn tay nói như vừa đủ nghe:
 
“Thưa anh chị, chúng em từ làng mình vào đây kính thăm anh chị mà lại được anh chị thương thế này thì thật quả là một đại phúc.  Chúng em mừng rỡ nhìn thấy anh chị sung túc giầu có nhưng vẫn ân cần với họ hàng nghèo khó.  Thật chúng em chẳng còn biết nói gì hơn.”
 
Hướng chưa dứt lời thì bà Thịnh đã cầm chiếc nhẫn vàng dúi vào tay vợ Hướng:
 
“Thím cầm lấy chút đỉnh về mua quà cho các cháu.”
 
Vợ Hướng gần như tắt thở.  Cái nhẫn vàng đeo ở ngón tay áp út là nỗi mộng mơ của người cán bộ nông nghiệp đã nhiều năm ăn độn khoai sắn nhưng lại biết cân đo đến từng hột thóc ủng hộ chiến sĩ đi B.  Hướng nhìn chiếc nhẫn vàng, chân phải vẫn đè chặt trên chiếc ba lô nóí thay vợ:
 
“Anh chị cho chúng em nhiều quá.”
 
Bà Thịnh nhanh nhẩu:
 
“Để tôi đưa thím lên lấy một ít quần áo của con Hai.  Cháu nó cũng không cần đến nữa.”
 
Đến bây giờ vợ chồng Hướng mới nhớ đến mấy người con của ông bà Thịnh đã “trót dại đi theo bọn Mỹ Ngụy”.  Vợ Hướng đi theo bà Thịnh lên trên lầu.  Một lúc sau ôm xuống một mớ quần áo đủ mầu sặc sỡ.  Ông Thịnh cũng cho Hướng đôi giầy và mấy bộ quần áo của anh con trai lớn.  Vợ Hướng mân mê chiếc nhẫn vàng nói cười rộn ràng.
 
Sau một lúc lâu chuyện trò, Hướng đứng lên tay nắm chặt quai chiếc ba lô nói ra vẻ nghẹn ngào:
 
“Thưa anh chị, chúng em từ làng mình lặn lội vào đây thăm anh chị.  Nhờ hồng phúc tổ tiên, anh chị mạnh khoẻ mà lại còn giầu sang như thế này thì chúng em rất lấy làm mừng và hãnh diện.  Anh chị lại còn cho chúng em và các cháu đủ thứ.  Nhờ ơn anh chị mà chúng em thật sự đổi đời.  Chúng em xin phép anh chị về lo cho các cháu vài việc rồi lần sau chúng em vào sẽ quấy quả anh chị.”
 
Bà Thịnh muốn giữ khách chỉ vì chút máu mủ bên chồng nhưng sao mà chuyện trò với mấy người bên kia nhiều khi cũng thấy tắc họng.  Bà nói ra vẻ ân cần:
 
“Chắc chú thím cũng còn nhiều nơi phải đi thăm nom, thôi vậy lần sau thì ở chơi với chúng tôi lâu hơn.”
 
Vợ Hướng nhanh nhẩu:  
 
“Thưa chị, bên họ ngoại các cháu có mấy người ở thành phố Biên Hoà cũng là ông bác bà cô cả.  Chúng em tranh thủ đến chào hỏi cho phải đạo.”
 
Ông Thịnh kéo Hướng ra ngoài phòng khách thầm thì dặn dò việc hương khói mồ mả tổ tiên.  Ông móc túi đưa cho Hướng cái đồng hồ mầu vàng chói chang như để trả công.  Ông nắm tay Hướng giọng sụt sùi:
 
“ Thôi thì mồ mả tổ tiên ngoài đấy nhờ chú thím chăm nom chứ còn biết trông cậy ai.”
 
Ông bà Thịnh đưa vợ chồng Hướng ra trước cửa nhà gọi một chiếc xích lô đạp đón xe đi Biên Hoà.  Sau khi trả tiền cho người đạp xe, ông nói như khóc:
 
“Thế nào cũng có ngày tôi ra ngoài ấy thăm bà con họ hàng mình, mồ mả tổ tiên còn cả đấy.”
 
Chiếc xe từ từ lăn bánh một cách nặng nhọc.  Ông bà Thịnh đứng trông theo cho đến lúc quá tầm mắt.  Ngồi trên xe, Hướng nắm chặt bàn tay vợ đeo chiếc nhẫn vàng, mắt nhìn lên những toà nhà cao tầng hai bên phố.  Hướng nghĩ đến mấy bộ quần áo chắc là “hàng ngoại”, đôi giầy đen bóng và nhất là chiếc đồng hồ mầu vàng chói chang đang nằm trong chiếc ba lô.  Vợ chồng Hướng đã thực sự đổi đời.  Bất chợt anh công an xã lẩm bẩm:
 
“Giá mà người trong này ra giải phóng ngoài ấy mới đúng. Thôi thì… tôi giải phóng tôi.”

Blog Archive