Showing posts with label Chu Thập. Show all posts
Showing posts with label Chu Thập. Show all posts

Saturday, October 24, 2020

Đất nứt con bọ hung

- Chu Thập -

Trong các giai thoại về Trạng Quỳnh (1677-1748), tôi thích nhứt chuyện ông Tú Cát. Tú Cát thuộc loại “đỉnh cao trí tuệ loài người”, xem trời bằng vung, đi đâu cũng khoe chữ và chẳng xem ai ra gì. Một hôm Quỳnh đang đứng xem một lũ heo ăn cám thì Tú Cát tình cờ đi qua. Nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, lại không chấp nhận có người giỏi hơn mình, cho nên Tú Cát mới gọi cậu bé lại và nói: 

“Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mày không đối được thì sẽ biết tay ta. Nhứt định ta sẽ đánh đòn cho chừa cái tật láo khoét, nghe chưa”. 

Nói xong, ông Tú Cát liền gật gù đọc: “Lợn cấn ăn cám tốn”. Đây là một câu đối rất hóc búa, bởi vì chữ “Cấn” và “Cám” vừa chỉ con heo lại cũng vừa chỉ thức ăn của heo, lại vừa là hai quẻ trong Kinh Dịch. Người có học chưa chắc đã đối được. Nhưng nhanh như chớp, cậu bé Quỳnh nói ngay: “Chó khôn chớ cắn càn”. “Khôn” và “Càn” cũng là hai quẻ trong Kinh Dịch. Quỳnh có ý chửi xiên ông Tú Cát đừng cậy tài mà “sủa như chó” hay bắt nạt người khác. Bị thằng nhỏ chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm liền dọa: “Được, để coi mày thông minh đến cỡ nào. Tao còn một câu nữa.” Nói xong Tú Cát liền ngạo nghễ ra câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát”. Lần này, cũng chẳng cần phải suy nghĩ lâu, Quỳnh chỉ vào lớp phân heo có đùn lên những ụ nhỏ và đáp: “Đất nứt con bọ hung”.

So sánh kẻ kiêu căng với một con bọ hung thì chẳng có hình ảnh nào chính xác hơn. Lúc nhỏ tôi thường đi đào dế cơm về nuôi sáo cưỡng và chích chòe. Mấy loại chim này chỉ thích ăn côn trùng. Dế cơm là món chúng hảo nhứt. Trong vườn nhà hay hàng xóm, hễ chỗ nào có hang dế cơm là tôi xách cuốc tới ngay. Cũng may thời đó, dế cơm chưa bị “phát hiện” là một món ăn khoái khẩu và đặc sản của dân nhậu, cho nên tìm được dế cơm cho chim ăn mỗi ngày không có gì là khó khăn và nhọc nhằn cho lũ nhóc chúng tôi lắm. 

Nhưng cũng có những ngày thay vì tìm được dế cơm, tôi chỉ muốn nôn ọe khi đào lộn hang của một con bọ hung. Bất kể là phân người hay phân heo, phân trâu bò, hễ là phân thì bọ hung làm tổ và sống chui rúc dưới đó. Với tôi, bọ hung là giống côn trùng dơ bẩn, “gớm ghiếc” nhứt. Tôi không biết hiện nay bọ hung đã có vinh dự được nằm trên thực đơn của dân nhậu ở Việt nam chưa. Hồi đó, cứ mỗi lần có người Thượng từ trên núi xuống đồng bằng để đổi gạo lấy muối, lũ nhóc chúng tôi cũng thường gạ gẫm đến gần để nghe kể chuyện “Ó ma lai”. Tôi chưa hình dung được con “ó ma lai” ra làm sao, chỉ biết rằng người Thượng tin rằng đây là một loại ó sống về đêm; cứ đêm đến là đầu lìa khỏi thân để đi tìm phân người mà “xơi”. Người nào vô tình “đi đồng” mà không lấp phân lại, lỡ bị con ó ma lai chiếu cố thì coi như tiêu đời: bệnh lên bệnh xuống cho đến chết mà thôi. Nghe câu chuyện rùng rợn này, tôi không thể không liên tưởng đến loài bọ hung. Đúng là một thứ sâu bọ gớm ghiếc!

Từ ngày rời khỏi Việt nam, tôi tưởng hình ảnh của con bọ hung đã được hoàn toàn xóa khỏi bộ nhớ của tôi. Nhưng mới đây, nó lại xuất hiện và xuất hiện với một “dung nhan” hoàn toàn mới mẻ: nó không còn là một con vật “gớm ghiếc” nữa, mà là một “nhân công” cần mẫn rất cần thiết cho việc bảo vệ sinh thái. Tôi đã bắt đầu thay đổi cái nhìn về con bọ hung sau khi xem một số chương trình “Bite Me with Dr. Mike Leahy” được chiếu trên Đài Truyền Hình SBS. 

Đầu tiên, tôi thấy lại con bọ hung trong một vùng sa mạc bên Phi Châu. Bác sĩ Leahy theo dõi một con bọ hung đang dùng hai chân sau của nó để đẩy một cục phân nặng gấp hai lần trọng lượng của nó. Bác sĩ Leahy đã thi vị hóa cử chỉ của con bọ hung đực này khi nói rằng nó đang mang quà về tặng cho “bồ” của nó; với “kho tàng” này, đôi uyên ương sẽ làm tổ và chuẩn bị cho những đứa con sẽ chào đời. Nhưng quan trọng hơn, cục phân này sẽ được “chế biến” không những để làm ra thức ăn mà còn để góp phần cải tạo vùng đất khô cằn giữa sa mạc.

Trong một chương trình khác, bác sĩ Leahy đưa khán thính giả vào tận vùng “nội địa” (outback) của Úc đại lợi. Tại đây, các nông gia đã hướng dẫn ông đi xem một trong những căn bệnh rất thường thấy nơi gia súc, đặc biệt là bò và cừu. Trong đường ruột của chúng thường có một loại ký sinh trùng mà thủ phạm không ai khác hơn là chó. Thật vậy, trứng của loại ký sinh trùng này lẫn trong phân chó và được truyền sang cừu bò qua cỏ. Để giải quyết vấn đề, các nông gia đã đưa bọ hung tới. Các “công nhân” này sẽ làm sạch phân và như vậy cũng diệt trừ được ký sinh trùng.

Tôi đọc được trên Wikipedia, tiếng Việt, rằng vào “thế kỷ 18, dân Châu Âu di cư đến lục địa này (Úc đại lợi) phải kinh ngạc, thấy nơi đây có một thảo nguyên mầu mỡ nhưng động vật ăn cỏ rất ít, họ bèn chở gia súc đến. Mấy chục triệu trâu bò một ngày thải ra mấy chục triệu đống phân. Phân nhiều quá không có cách nào dọn sạch, làm cho môi trường thảo nguyên ô uế, ruồi nhặng sinh sôi nảy nở quá nhiều, ảnh hưởng đến đàn súc vật. Các nhà khoa học đem loài bọ hung từ khắp nơi đến. Số bọ hung này giải quyết được nạn phân tai hại ấy cho nước Úc.

Có người đã tính rằng một đôi bọ hung chỉ cần 30 giờ đã có thể vần đi được 1000 milimet khối phân tươi vùi xuống.”

Từ sự biến chuyến trong hình ảnh tôi có về con bọ hung, tôi học được một số bài học. Trước hết, tôi nhận thấy rằng trong cái vũ trụ bao la kỳ bí này, dường như mọi loài đều hiện hữu theo một mục đích và trật tự nào đó. Có tin một Đấng Thượng Đế đã tạo dựng mọi sự hay dựa trên thuyết tiến hóa để chối bỏ bàn tay tạo dựng của Ngài, ai cũng phải chấp nhận rằng vũ trụ này hiện hữu theo một trật tự, chứ không hoàn toàn rơi vào hỗn mang vô tận. Trong vòng trật tự ấy, muôn loài muôn vật đều hiện hữu theo một mục đích nào đó. Có những loài như con bọ hung chẳng hạn, hiện hữu là để không ngừng góp phần cải tạo và tái sinh những thứ bị xem là thừa thãi. Có biết bao nhiêu cây cỏ mà dược tính hữu ích đã được loài người khám phá. Có biết bao nhiêu động vật mà sự hiện hữu góp phần giữ cho sinh thái được cân bằng. Như con cá mập chẳng hạn. 

Mới đây, tôi có theo dõi một chương trình truyền hình về những bãi biển đẹp tại thành phố Durban, Nam Phi. Mỗi năm các bãi biển này thu hút không biết bao nhiêu du khách từ khắp thế giới. Để bảo đảm an toàn cho người tắm biển, dĩ nhiên với mục đích khai thác du lịch, chính quyền địa phương đã ra lệnh bằng mọi cách triệt hạ cá mập. Kết quả, theo các nhà bảo vệ thiên nhiên, sự vắng mặt của cá mập trong vùng biển này đã khiến cho sinh thái mất cân bằng. Do đó, vấn đề không phải là loại trừ một giống thú nào đó, mà chính là biết cách sống chung “hòa bình” với chúng để bảo tồn thiên nhiên. Trong vũ trụ này chẳng có một loài vật nào là vô tích sự cả. Nó không ích lợi về chuyện này thì cũng hữu dụng về chuyện khác.

Muôn loài muôn vật đều hiện hữu vì một mục đích nào đó. Duy chỉ có con người mới hiện hữu như một cứu cánh mà thôi. Phải trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh, tốn bao nhiêu xương máu nhân loại mới nhận ra được cái “cứu cánh nội tại” và phẩm giá cao trọng của mỗi một con người. Đẹp hay xấu, thông minh hay đần độn, khỏe mạnh hay bệnh tật, lành mạnh hay tàn tật, giàu sang hay nghèo hèn, quyền thế hay cô thế...mọi người đều bình đẳng. Bình đẳng như nhau chớ không “có những người bình đẳng hơn và những ngưới ít bình đẳng hơn” như ông chủ tịch Heo đã tuyên bố trong truyện “Trại thú vật” (Animal Farm, xuất bản 1945, chuyện ngắn mô tả một cách chính xác về thiên đường cộng sản) của nhà văn George Orwell. Chính vì sự bình đẳng ấy mà không một ai có quyền xử dụng người khác như một phương tiện cho bất cứ một mục đích nào. Tựu trung, con người không thể bị xem như một thứ tài sản, tư bản, hay văn hoa hơn, như một “vốn quý” của bất cứ một tổ chức nào, dù tổ chức ấy có cao quý như tổ quốc đi nữa.

Nhưng khi chiêm ngắm hình ảnh của con bọ hung, tôi lại nghĩ đến một nghịch lý lớn đối với con người: là một cứu cánh, con người lại chỉ có thể đạt được cứu cánh ấy bằng sự hiến thân cho người khác mà thôi. Tư tưởng này được gợi lên cho tôi từ truyện ngắn “Rừng Mắm” của nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987). Cuộc đối thoại giữa ông cháu thằng Cộc nghe thật dễ thương và có một ý nghĩa thật thâm sâu.

Chỉ vào thứ cây mọc đầy trong nước mặn, nó hỏi ông nội:

“- Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc?

- Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà nguời ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Đây là rừng mắm đây.

- Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây mắm bao giờ?

- Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm cũng không được.

- Vậy chớ trời sanh ra nó làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy?

- Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lún và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được”

Thấy thắng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

- Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẩm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.

Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng.

Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi? Vả lại con không thích hi sinh chút ít cho con cháu của con hưởng hay sao”.

Với truyện ngắn này, nhà văn Bình Nguyên Lộc hẳn muốn gói ghém một chân lý nền tảng của cuộc sống: sống là hy sinh và có hy sinh con người mới tìm được cứu cánh và ý nghĩa cho cuộc sống của mình. Mà hy sinh thì chẳng có ai mà không làm được. Như cây tràm, tưởng là vô tích sự và vô ích, nhưng nếu không có cây tràm thì làm gì có nền đất chắc để cho các loại cây khác có thể đua nhau mà mọc lên. Chẳng có con người nào có mặt trên trái đất này là vô tích sự và vô ích cho người khác cả.

Albert Einstein sẽ vẫn mãi mãi là nhà bác học vĩ đại nhứt trong lịch sử nhân loại. Nhưng có lẽ ông còn vĩ đại hơn nữa khi tuyên bố như sau:

 “Vị trí của chúng ta trên trái đất này thật là kỳ lạ. Mỗi người chúng ta đến để làm một chuyến viếng thăm ngắn ngủi, không biết tại sao, nhưng đôi khi xem ra cũng đoán được một mục đích. Tuy nhiên, từ cái nhìn của cuộc sống hằng ngày, chúng ta biết một điều: con người có mặt ở đây là vì người khác, nhứt là tất cả những ai mà nụ cười và niềm vui sống mang lại hạnh phúc cho chúng ta” (trích trong Richard Dawkins, The God Delusion, Random House Australia, 2006, trg 209).

Ngày nhỏ tôi ghét con bọ hung bao nhiêu, bây giờ tôi khâm phục nó bấy nhiêu. Ít ra nó hơn tôi ở chỗ không thấy điều gì là “gớm ghiếc”. Từ con ong, con bọ hung, cho đến cây mắm cây tràm, tôi thấy mình học được những bài học “làm người” vô giá, nhứt là về lòng vị tha. Đối với tôi, thiên nhiên huyền diệu trước mắt chúng ta là vị thày tuyệt hảo nhứt.

Chu Thập

Wednesday, February 20, 2019

Thuyền to sóng lớn


Image result for fishing boat images
Mới đây một số người quen rủ tôi đi câu tàu. Lâu nay tôi chỉ biết quăng câu từ trong bờ. Bờ là bờ hồ hay bờ sông. Tìm một góc yên tĩnh, quăng câu, ngồi chờ, ngắm cảnh…không gì yên bình và thanh thản bằng! Đã có nhiều người chết vì đứng câu trên những gềnh đá: biển Úc “tính khí” bất thường, sóng lớn bất thần ập phủ xuống, kéo người đứng câu ở ghềnh ra xa rồi đập vào bờ đá là chuyện thường xảy ra. Thành ra tôi không bao giờ chỉ vì mấy con cá mà liều mạng đứng câu ở những gềnh đá. Đi tàu ra biển khơi lại còn là điều tối kỵ hơn đối với tôi. Nhớ lại cuộc vượt biên, cứ mỗi lần lên tàu là tôi thấy run. Thỉnh thoảng nghe tin có người đi câu bị đắm tàu, bỏ mạng giữa biển khơi, tôi lại càng thấy có đủ lý do để không ra khơi đùa giỡn với tử thần.
Tuy nhiên lần này, tôi thấy không thể từ chối được lời mời mọc của mấy người bạn trẻ. Họ cho biết chiếc tàu họ mới mua rất lớn, còn mới toanh, lại được trang bị đầy đủ và rất an toàn. Nhưng chuyến “ra khơi” đã không diễn ra như ý muốn. Khi tàu thả neo, giây neo vướng vào một sợi giây thừng. Phải mất hơn cả tiếng đồng hồ để tháo gỡ sợi giây thừng. Ai cũng phải góp một tay để giải quyết vấn đề. Hơi nước biển không đủ thấm vào đâu dưới cái nắng hừng hực của mùa hè “đỏ lửa” của Úc. Sau khi kéo được neo lên, tưởng sẽ tìm được một chỗ để quăng câu. Nào ngờ, anh bạn chủ tàu lại là người say sóng. Ra khỏi bờ không bao xa, nhưng gặp sóng lớn, cảm thấy sắp cho chó ăn chè, anh đành phải cho tàu quay đầu vào bờ. Tìm được một chỗ an toàn thì cái máy rà cá (fishfinder) lại chẳng tìm thấy một mống cá nào cả. Mọi người đành tự an ủi: cứ coi  lần ra khơi này như một chuyến đi hóng gió biển hơn là câu cá!
Nhưng vận xui không dừng lại ở đó. Chiều về, do không rành đường cho nên anh lái tàu lại đưa tàu vào chỗ mắc cạn. Rong biển quấn vào chân vịt dầy đặc khiến chiếc tàu không di chuyển được. Đến khi thoát được chỗ mắc cạn thì cần lái lại có vấn đề: tàu cứ quay mòng mòng một chỗ. Chỉ còn một cách là liên lạc với tàu cứu hộ (Marine Rescue) để xin được kéo vào bờ. Nhưng không rõ do một phép lạ nào đó, cuối cùng cần lái hoạt động bình thường trở lại. Mọi người thở ra nhẹ nhõm. Tàu về tới bến an toàn.
Trên đường về, tôi giở giọng triết lý với mấy người bạn trẻ: thuyền to thì sóng lớn! Nghĩ mình là một người có tuổi đã trải qua nhiều sóng gió trong cuộc đời cho nên tôi mới nói xa nói gần với những người bạn câu của tôi điều mà lúc nhỏ mẹ tôi thường mang ra  dạy anh em tôi: trèo cao thì té nặng, càng cao danh vọng càng đầy gian nan!
Ở những dịp cuối năm và đầu năm, tôi cũng thường nhớ lại lời mẹ dặn để tự vấn lương tâm: đâu là những giá trị cần đeo đuổi để có được cuộc sống an bình và hạnh phúc thực sự?
Năm 1962 không riêng nước Anh mà toàn thế giới chứng kiến một hiện tượng âm nhạc chưa từng có trong lịch sử: 4 người thanh niên tại thành phố Liverpool đã họp nhau lại để thành lập một ban nhạc lấy tên là The Beatles, được dịch sang tiếng Việt một cách chính xác là “Ban Tứ Quái”. Từ tóc tai đến cách ăn mặc, trông 4 chàng thanh niên thật là “quái”. Nhưng nhạc của họ, từ ca từ đến giai điệu thật là tuyệt vời.
4 chàng trai này là: John, ca sĩ và là người viết nhạc chính của ban; Paul, tay chơi guitar bass có khuôn mặt búng ra sữa; George, người chơi guitar chính của ban nhạc.
Người thứ tư là tay trống của ban nhạc. Trong đám “Tứ Quái”, anh là người trông đẹp trai nhứt. Các cô nàng mê anh như điếu đổ. Khuôn mặt của anh thường xuất hiện trên các tạp chí. Xét về tài nghệ, có lẽ anh là người chuyên nghiệp nhứt trong ban. Anh lại không uống rượu và cũng không đụng tới  ma túy. Nghiêm trang đứng đắn cho nên anh chỉ có độc một người bạn gái. Nhiều nhà phê bình âm nhạc cho rằng anh mới thực sự là “gương mặt” của ban “Tứ Quái” chớ không phải John hay Paul.
Tên của tay trống này là Pete Best. Ai cũng tưởng mọi sự sẽ diễn ra một cách tốt đẹp cho Pete Best. Vậy mà năm 1962, chỉ sau một thời gian ngắn nổi danh, 3 thành viên khác của ban đã lặng lẽ đi gặp ông bầu của họ là Brian Epstein để yêu cầu sa thải Pete Best. Ông bầu như muốn chết lặng trước đề nghị này. Ông thích tay trống của ban nhạc cho nên không chìu theo ý muốn của họ. Ông hy vọng họ sẽ thay đổi ý kiến.
Tuy nhiên, vài tháng sau đó, chỉ vài ngày  trước khi hợp đồng thu băng bắt đầu, ông Epstein đã gọi Pete Best đến văn phòng và bảo anh phải “ra đi” để ban nhạc tìm một tay trống khác. Ông không đưa ra một lý do hay một lời giải thích nào và cũng chẳng nói một lời “chia buồn” nào với người bị sa thải. Ông chỉ nói rằng 3 thành viên khác của ban không muốn thấy mặt anh trong ban nữa!
Ringo Starr được mời thế chỗ cho Pete Best. So với các bạn trẻ kia, Ringo là người lớn tuổi hơn cả, lại có cái mũi lớn trông rất buồn cười. Ringo chấp nhận để tóc dài ra cho giống John, Paul và George.
Chỉ trong 6 tháng sau khi Pete Best ra đi, ban “Tứ Quái” đã trở thành những khuôn mặt nổi tiếng nhứt trên trái đất. Về phần mình, dĩ nhiên Pete Best vừa chìm trong quên lãng vừa rơi vào trầm cảm. Năm 1965, anh đâm đơn kiện ban “Tứ Quái”. Mọi hoạt động âm nhạc của anh đều thất bại thê thảm. Năm 1968, anh toan tự tử, nhưng được mẹ anh kịp thời cứu thoát.
Không giàu có, không tiếng tăm, nhưng sau đó Pete Best lại có được một cuộc sống hạnh phúc hơn các thành viên của ban “Tứ Quái”. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1994, anh nói: “Nếu còn ở lại trong ban “Tứ Quái” có lẽ tôi sẽ không được hạnh phúc như ngày nay”. Anh giải thích rằng sau khi bị sa thải khỏi ban nhạc, hoàn cảnh đã đưa đẩy anh gặp được người bạn đời của mình. Anh đã lập gia đình, sinh con đẻ cái. Anh đã có được một cuộc sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc.
Sau khi vượt qua cuộc khủng hoảng, anh bắt đầu đo lường cuộc sống của mình bằng những giá trị mới. Ai mà chẳng muốn giàu có, danh vọng và tiếng tăm. Nhưng Pete Best khẳng định rằng những gì anh đang có, một cách cụ thể, một người vợ hiền, những đứa con ngoan, một cuộc hôn nhân bền vững, một cuộc sống đơn giản…đó chẳng phải là những điều quan trọng hơn tiền của, danh vọng và tiếng tăm sao? Thật ra, mãi cho đến thập niên 2000, Pete Best vẫn còn tiếp tục chơi trống, đi lưu diễn tại Âu Châu và thu băng. Có thể anh không được thế giới biết đến như John, Paul và George. Nhưng điều anh có được quan trọng hơn nhiều: anh đã có được một cuộc sống hạnh phúc! (x. Mark Manson, The Art of Not Giving a f*ck, Pan MacMillan Australia Pty Ltd, 2016, trg 89-91)
Câu chuyện của Pete Best cho tôi thấy rằng trong cuộc sống có những giá trị và thước đo mang lại hạnh phúc cho con người hơn những giá trị và thước đo khác.
Trước hết phải nói đến tiền bạc. Tôi thuộc loại không giàu có cũng chẳng dư dả. Nhưng với tôi, tiền bạc vẫn là một trong những  điều kiện cần thiết để có được hạnh phúc. Bần cùng sinh đạo tặc là chuyện thường xảy ra trong xã hội. Khi túng quẫn, con người dễ bị cám dỗ làm điều bất chính. Tuy nhiên, như đề tài của bài nghị luận luân lý mà các giáo sư thời trung học trước năm 1975 thường cho học sinh làm đã nhắc nhở tôi: “Tiền bạc là tên đày tớ tốt mà cũng có thể là một ông chủ xấu”. Thời nào cũng vậy, con người dễ bị tiền bạc bắt làm nô lệ. Không nói tới chuyện làm giàu bằng cướp của giết người, lường gạt người khác, buôn gian bán lận hay trốn xâu lậu thuế. Giàu có nhưng “dửng dưng trước nỗi khổ của người đồng loại để chỉ chăm sóc cho bộ da riêng của mình” cũng đủ là một thái độ bất lương và ác đức rồi!
Nói cho cùng, tiền bạc không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho con người. Tiền có thể mua “Tiên”, nhưng lại không mua được rất nhiều thứ. Tôi có một người bạn thời tỵ nạn hiện rất thành công. Tiền bạc vô như nước, nhà cao cửa rộng. Nhưng mới đây, cả hai vợ chồng đều lâm bệnh một lúc. Bạn tôi than thở: trước kia anh lấy sức khỏe mua tiền bạc, ngày nay anh lấy tiền bạc để mua sức khỏe. Nhưng liệu tiền bạc có mua lại được sức khỏe ở tuổi già hay không?
Trong vùng tôi ở cũng có một cặp vợ chồng Việt Nam khác hiện đang làm ăn rất phát đạt. Họ làm việc mỗi ngày 8 tiếng, mỗi tuần 7 ngày, mỗi năm chỉ nghỉ được một hai ngày. Cứ gặp tôi là họ than thở: không còn giờ để đi đây đi đó hay nghỉ ngơi nữa! Họ luôn tự nhủ rằng bây giờ tiền đang vô nên rán làm, mai sau chắc chắn sẽ bỏ giờ đi chơi. Nhưng mỗi buổi chiều sau một ngày làm việc, họ lê chân lên căn biệt thự của họ một cách khó nhọc và đêm thì không ngủ được vì đau nhức khắp người. Tôi không biết với sức khỏe đó làm sao mà đi chơi. Có thể họ đặt niềm vui đếm tiền lên trên sức khỏe và những thú vui khác trong cuộc đời.
Tôi phục một ông bạn của tôi. Ở tuổi 53, đang phất lên trên thương trường, nhưng nhìn thấy một số người quen, người thì lăn ra chết trong một đêm, người phải chiến đấu với đủ thứ bệnh tật…bạn tôi quyết định bán cơ sở làm ăn để “về vườn” và thụ hưởng cuộc sống. Tính đến nay cũng đã hơn 20 năm. Bạn tôi đúng là một người biết sống.
Song song với tiền bạc là quyền lực và danh vọng. Tôi chưa từng có quyền lực trong tay, nhưng nhan nhản trên thế giới, tôi thấy vô số những người bị quyền lực hủ hóa. Chính trị gia kiêm nhà văn Anh Lord Acton (1834-1902) đã từng cảnh cáo: “Quyền lực hủ hóa (người ta). Quyền lực tuyệt đối thì hủ hóa một cách tuyệt đối”. Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (1809-1865) cũng đã đưa ra một nhận xét chí lý: “Hầu như tất cả mọi người đều có thể đứng vững trước nghịch cảnh. Nhưng nếu bạn muốn trắc nghiệm tính tình của một người nào đó, hãy trao cho họ quyền lực”.
Quyền lực dễ làm cho con người tha hóa đã đành, mà danh vọng cũng trói buộc con người trong vòng nô lệ không kém. Sự kiện rất nhiều người có tiếng tăm trên thế giới, đặc biệt trong giới văn nghệ sĩ, tìm đến cái chết cho thấy danh vọng không đương nhiên mang lại hạnh phúc và an bình cho con người.
Nhưng khoái lạc thì sao? Khoái cảm, trên nguyên tắc, là điều cần thiết cho cuộc sống. Ngày nay, khi nói đến khoái lạc, người ta thường liên tưởng đến những khoái lạc giả trá không mang lại lợi ích cho sức khỏe như bia rượu, dược chất hay những hoạt động tính dục, cờ bạc vô độ. Bất cứ cuộc nghiên cứu nào cũng đều cho thấy rằng những người chỉ biết dồn mọi năng lực vào việc săn tìm những khoái lạc trên đều là những người bất ổn về tâm lý và dễ rơi vào trầm cảm. Ngược lại, những khoái lạc chính đáng của con người như ăn ngon ngủ ngon thường là kết quả tự nhiên của một cơ thể lành mạnh và một tinh thần an lạc. Khi chăm lo cho bản thân có thói quen tốt trong việc ăn ngủ và thể dục và quân bằng giữa làm việc, nghỉ ngơi và vui chơi, vô hình chung, người ta cũng mang lại những khoái lạc và hạnh phúc cho bản thân.
Nhìn xung quanh và ôn lại kinh nghiệm bản thân, tôi tin rằng những giá trị đạo đức, tinh thần và nhân bản là những yếu tố chính mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Tôi có thể kỷ luật với bản thân để có một sức khỏe thể lý nhưng chính những giá trị tinh thần và nhân bản như biết sống, quan tâm và chia sẻ với người khác…mới là điều tạo ra hạnh phúc cho tôi. Xét cho cùng, khi quan hệ của tôi với mọi người, nhứt là người thân trong gia đình, luôn được xây dựng trên sự biết ơn, lòng khiêm tốn và thái độ cảm thông, tôi không thể không cảm thấy hạnh phúc.
Chu Thập

Thursday, January 31, 2019

Thông điệp đầu năm

Chu Thập
Tennis không phải là một môn thể thao tôi ưa thích. Lũ trẻ nghèo chuyên đá banh bưởi trên những gò đất khô cằn nứt nẻ như tôi nhìn vào những sân “quần vợt” như một thế giới hoàn toàn xa lạ. Có ngủ cũng không dám mơ được làm người trưởng giả, mặc quần sọt trắng, áo thun trắng, mang giày ba ta trắng để gọi là đi đánh Tennis. Cho tới ngày nay, tôi cũng chưa một lần bước vào một sân quần vợt nào. Vậy mà bất cứ trận thi đấu nào có mặt danh thủ Roger Federer, tôi luôn thấy mình bị thôi thúc phải xem cho bằng được. Tôi say mê danh thủ này vì lối chơi điệu nghệ của anh. Nhưng chính tư cách của anh mới là điều thu hút tôi nhiều nhứt. Dù chỉ đáng tuổi con của tôi, anh vẫn xứng đáng để tôi tôn lên bậc thày trong trường học làm người. Anh đã dạy tôi nhiều điều. Năm nay anh nhắc lại cho tôi về tầm quan trọng của lòng biết ơn.
Mới đây, nhân dịp đến Melbourne để tham dự Giải Australian Open, danh thủ người Thụy Sĩ này đã dành cho Đài truyền hình CNN của Mỹ một cuộc phỏng vấn qua đó anh đã không cầm được nước mắt khi nhắc đến tên của ông Peter Carter, một huấn luyện viên người Úc đã dẫn dắt anh khi anh mới chập chững bước vào sân đấu.
Ông Carter đã khám phá ra tiềm năng của Federer khi ông đến chơi tại câu lạc bộ Tennis ở Basel, Thụy Sĩ. Federer cho biết chính người thày này đã dạy cho anh kỹ thuật mà dần dần anh đã phát huy thành ngón nghề riêng của anh. Rất tiếc là năm 2002, khi Federer được đưa lên đỉnh cao của nghệ thuật chơi tennis và danh vọng, Carter đã qua đời trong một tai nạn giao thông tại Nam Phi.
Nói chuyện với phóng viên của đài CNN, Federer đã không cầm được nước mắt khi nhớ lại người huấn luyện viên đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời và sự nghiệp của anh. Anh nói: “Peter (Carter) thực sự là một người quan trọng trong cuộc đời của tôi. Nếu tôi phải nói lên lòng biết ơn vì kỹ thuật mà tôi có được ngày hôm nay, thì người tôi mang ơn chính là Peter”. Federer cho biết khi hay tin thày mình qua đời, anh xem đó như một “tiếng gọi” thôi thúc anh phải gia tăng tập luyện. Cứ có dịp là anh nhắc lại công ơn của người thày của mình.
Khi đến Úc tham gia Giải Australian Open hồi năm 2017, Federer đã khẳng định: “Về kỹ thuật của tôi, Peter Carter là người có ảnh hưởng lớn nhứt.” Anh giải thích rằng chính anh là người đã kiện toàn kỹ thuật và lối chơi nhẹ nhàng uyển chuyển của anh. Nhưng theo anh, Peter Carter mới là người đặt nền móng cho kỹ thuật ấy.
Để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với người đã từng dẫn dắt mình ở bước đầu, cứ mỗi lần đến Úc để thi đấu, Federer đều mời cha mẹ của người quá cố đến tham dự. Anh nói rằng cha mẹ của Peter Carter là những người rất quan trọng đối với anh.
Trên sân đấu cũng như trong đời thường, Federer lúc nào cũng cư xử đẹp. Khi bày tỏ lòng biết ơn, anh cũng thể hiện một nét cao đẹp khác trong nhân cách là sự khiêm tốn. Thật vậy, biết ơn không chỉ có nghĩa là biết mình mắc nợ với người khác, mà chính là nhận biết những giới hạn của mình. Ngày xưa khi chập chững cắp sách đến trường, có học sinh nào mà không học thuộc lòng câu “không thày đố mày làm nên”. Dù có là thiên tài đi nữa, có ai mà không cần một hay nhiều người thày trong cuộc đời. Biết ơn và khiêm tốn là đôi cánh giúp con người bay lên trong sự trưởng thành nhân cách. Tôi học được điều đó qua cách cư xử của danh thủ Federer.
Vào khoảng thập niên 1960, tại Hoa Kỳ, người ta thấy rộ lên trong tâm lý học một trào lưu kêu gọi nuôi dưỡng và phát huy lòng tự tin. Các cuộc nghiên cứu trước đó đã khám phá ra rằng những người có lòng tự tin, nghĩa là nghĩ “cao” và nghĩ “tốt” về mình thường thành công trong cuộc sống và ít gặp vấn đề hơn người khác. Thời đó, nhiều nhà nghiên cứu và hoạch thảo chính sách tin rằng nâng cao lòng tự tin của dân chúng sẽ giúp tạo ra được nhiều lợi ích về mặt xã hội như giảm bớt tội ác, kết quả học tập tốt, có việc làm tốt, ít thiếu hụt tài chính v.v…
10 năm sau, tức thập niên 1970, trào lưu thúc đẩy và nuôi dưỡng lòng tự tin được dạy cho các bậc phụ huynh, được các nhà tâm lý trị liệu, các chính trị gia và các nhà giáo dục nhìn nhận và biến thành một chính sách giáo dục. Người ta khuyến khích các nhà giáo dục bằng mọi cách phải xiển dương lòng tự tin nơi học sinh. Nếu học sinh do lười biếng hoặc vì những lý do nào đó mà không đạt được điểm cao, hãy nâng điểm của các em lên. Làm như thế sẽ giúp cho các học sinh dở cảm thấy ít mặc cảm hơn. Học sinh cũng được khuyến khích để nêu lên những lý do tại sao các em cảm thấy mình là người đặc biệt. Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo tinh thần cũng không ngừng rao giảng cho các tín hữu rằng trong con mắt của Thiên Chúa, họ là những con người độc nhứt vô nhị, được mời gọi để trở thành những con người xuất chúng phi thường, chứ không chỉ là hạng trung bình. Người ta đua nhau tổ chức các cuộc hội thảo để rêu rao câu “thần chú”: bất cứ ai cũng đều có thể là một người ngoại hạng và thành công vượt bực!
Phát huy và nuôi dưỡng lòng tự tin đã trở thành một phong trào trong xã hội Mỹ. Nó đã trở thành gần như một niềm tin tôn giáo và một phần của văn hóa Mỹ: ai cũng phải tin rằng mình có thể là một người ngoại hạng xuất chúng. Những người có tiếng tăm trong xã hội đều kêu gọi như thế. Những nhà tài phiệt cũng nhắn nhủ như thế. Các chính trị gia cũng không ngừng rêu rao điều đó. Ngay cả nữ hoàng hội thoại Oprah cũng lập lại điều đó: mỗi người đều có thể là một người phi thường. Tất cả mọi người đều xứng đáng để trở thành vĩ đại (x. Mark Manson, The Subtle Art of Not Giving a F*CK, Pan Macmillan Australia Pty Ltd 2016, trg 41-60).
Khẩu hiệu “Make America Great Again” (Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại) cũng gợi lên cho tôi trào lưu ấy. Tự nhận mình là người bị bắt nạt nhiều nhứt trên thế giới, đệ nhứt phu nhân Melania Trump cũng đã tung ra một chiến dịch lấy tên là “Be Best” với mục đích khuyến khích trẻ em Mỹ hãy xem mình là “nhứt”, là ngoại hạng trong con đường riêng của mình.
Quả thật, Hoa Kỳ là một quốc gia vĩ đại. Nước này có rất nhiều người vĩ đại. Nhưng kể từ thập niên 60 đến nay, đâu phải mọi người Mỹ đều là những Bill Gates, những Martin Luther King…Thật ra nếu ai cũng đều là ngoại hạng, phi thường và “nhứt” (best) hết thì  ai sẽ là hạng “trung bình”.
Thời trai trẻ, tôi cứ tưởng mình “phải có công gì với núi sông”. Thế rồi, tuổi đời càng chồng chất, thất bại muôn mặt trong cuộc sống ập phủ xuống…tôi càng hiểu và chấp nhận những giới hạn và bất toàn của mình. Sức khỏe của tôi ngày càng giảm sút. Não bộ của tôi là một bộ máy kém hữu hiệu nhứt. Nhớ trước quên sau. Lý luận không tới nơi tới chốn. Làm những quyết định hời hợt thiếu suy nghĩ. Nhìn người và nhận định về cuộc sống một cách chủ quan hoặc đầy thành kiến. Ngày nay, ngay cả khi thế giới đang cung cấp cho tôi tất cả mọi phương tiện để trở thành phi thường hay ngoại hạng, tôi vẫn thấy mình hoàn toàn bất lực. Mạng lưới Thông tin Toàn cầu, Google, Facebook, YouTube và hàng trăm hệ thống truyền thông hiện đại trước mắt có vẻ dễ như trở bàn tay với ngay cả những đứa bé chưa thực sự cắp sách đến trường lại là những vũ trụ bí hiểm của tôi. Sự tập trung và chú ý của tôi cũng có giới hạn. Tôi không thể tiêu thụ hay tiêu hóa tất cả mọi thức ăn được bày ra trước mặt. Nói chung, kỹ thuật của thời đại chỉ làm cho tôi cảm thấy choáng ngợp và ý thức hơn về những giới hạn và bất toàn của mình. Tôi biết rằng dù cho có sống thêm nhiều năm nữa thì tôi cũng không thể nào bắt kịp những tri thức được coi như thông thường của thời đại này. Mỗi lần cái máy vi tính tôi dùng để viết bài hay cái băng tầng “internet” trở chứng là những lúc tôi “thấm thía” cái giới hạn của mình. Xét cho cùng, tôi chỉ là một thứ ốc đảo bơ vơ ngày càng lùi vô quá khứ. Không nói đến nỗi cô đơn hiện sinh mà ai cũng đang gậm nhấm trong sâu thẳm của cõi lòng, có lúc nào mà tôi không cảm thấy mình cần có người khác. Có ai mà một cách nào đó không là thày của tôi. Tôi mang ơn biết bao nhiêu người.
Mỗi dịp đầu năm, tôi thường lắng nghe các thông điệp của các nhà lãnh đạo chính trị và nhứt là tôn giáo. Thường họ cũng chỉ lập lại những lời sáo rỗng. Năm nay, tôi đón nhận việc danh thủ Federer bày tỏ lòng biết ơn với người huấn luyện viên cũ của mình như một thông điệp đầu năm.
Ở khởi đầu một năm mới, người ta thường làm một số quyết tâm. Hơn ai hết có lẽ hầu như nhà lãnh đạo quốc gia nào cũng có những quyết tâm đầu năm. Chính vì vậy mà nhà viết bỉnh bút nổi tiếng của tạp chí Time là ký giả Ian Bremmer mới ngồi nghĩ ra một số quyết tâm của các nhà lãnh đạo thế giới. Chẳng hạn, trong số ra ngày 14 tháng Giêng vừa qua, Ian Bremmer đã viết giùm cho Tổng thống Donald Trump những lời quyết tâm như: “Tôi quyết tâm phải thắng trong cuộc chiến thương mại với Trung Cộng là nước đang giở trò gian lận với chúng ta, sẽ xóa bỏ chính sách y tế Obamacare, sẽ xây một bức tường biên giới lớn và đẹp, sẽ cắt giảm thuế cho mọi người….sẽ ký sắc lệnh hoàn toàn ngăn cấm không cho người Hồi giáo được vào Hoa Kỳ…sẽ không đi nghỉ, sẽ không chơi golf, sẽ nói với mọi người rằng không hề có Toa rập (Collusion với Nga), sẽ làm cho Nước Mỹ vĩ đại trở lại và sẽ xuống 3 cân Anh. Cũng như năm ngoái thôi”.
Cũng như mọi người, năm nào tôi cũng làm một số quyết tâm và cũng như mọi năm, lần nào tôi cũng lập lại câu “cũng như năm ngoái thôi”.
Không biết năm nay tôi có nên lập lại danh sách những quyết tâm đầu năm của những năm trước không. Nhưng ngẫm nghĩ về “thông điệp đầu năm” của  “ông thày” Federer, năm nay có lẽ tôi chỉ xin quyết tâm một điều: cố gắng mỗi ngày nuôi dưỡng và nói lên lòng biết ơn với mọi người. Biết ơn mọi người để ý thức hơn về những giới hạn, bất toàn và khuyết điểm của mình. Biết mình hơn để khiêm tốn hơn và khiêm tốn hơn để dễ dàng cảm thông hơn với người khác. Và cảm thông hầu mới mong có được cuộc sống an bình và hài hòa với mọi người như nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng là Đức Đạt Lai Lạt Mã từng dạy: 
Cảm thông là yêu thương. Cảm thông mang lại an bình và cùng với an bình là sức khỏe. Hãy trân quý sự cảm thông”.

Sunday, December 17, 2017

Thiên nhiên: toa thuốc kỳ diệu!



Một ông bạn từ Gia Nã Đại ghé thăm. Sau gần 50 năm, chúng tôi mới gặp lại nhau. Bên cạnh tình bạn, còn có tình đồng hương: nhà tôi ở xóm trên, bạn tôi ở xóm dưới, cách nhau không quá nửa cây số. Thời trung học, chúng tôi học chung với nhau dưới cùng một mái trường. Ngoài tình đồng hương, tình bạn, tình đồng môn, chúng tôi còn liên kết với nhau bằng sợi giây thông gia: anh trai kề tôi lấy chị Hai của bạn tôi, cháu của bạn tôi cũng là cháu của tôi.

Tha phương ngộ cố tri, lâu ngày gặp nhau, chúng tôi ôn lại chuyện cũ, nhắc nhớ người xưa và nhất là đi lại từng ngõ ngách trong xóm làng. Thời gian gặp lại nhau không bao nhiêu, nhưng sáng nào, chiều nào chúng tôi cũng thả bộ dọc theo bờ hồ gần nhà. Cuộc tản bộ có khi kéo dài đến cả 2 tiếng đồng hồ. Đi hoài mà không thấy chán. Là dân thành phố biển, lại là cựu sĩ quan hải quân, nhưng  sống ở Tỉnh bang Alberta, quanh năm ngày tháng chỉ thấy rừng, sông hồ và núi,  nên bạn tôi thèm biển. Bạn tôi lúc nào cũng tấm tắc khen cảnh biển đẹp của vùng tôi. Tôi thì lại mê cảnh sông, hồ và rừng núi của Gia Nã Đại. Nhớ mãi lần đầu tiên đến thác Niagara và nhìn cảnh rừng phong (maples) của Gia Nã Đại vào mùa thu, tôi thấy ngây ngất. Đẹp hơn tranh!
Thì ra, bạn tôi và tôi, ở tuổi già, “gần đất xa trời”, sau bao nhiêu năm xa cách, chúng tôi gặp lại nhau trong cùng một niềm mê thích đối với thiên nhiên. Với riêng tôi, thiên nhiên lúc nào cũng là một toa thuốc kỳ diệu. Gặp bực bội, căng thẳng hay bế tắc trong suy nghĩ, tôi chỉ cần xách cần câu ra một bờ hồ. Chỗ tôi ở có nhiều hồ nước mặn thông với biển. Đó là một phúc lành. Cá cắn câu mang lại cái cảm giác mạnh chẳng khác nào đi “kéo máy”. Nhưng câu cá không chỉ là để kiếm cá ăn mà chính là để thư giãn. Nhứt chạng vạng nhì rạng đông. Châm ngôn của dân câu cá ở quê tôi không chỉ đúng cho nghệ thuật câu cá, mà còn có giá trị cả về mặt tinh thần: không gì đẹp cho bằng cảnh vật khi mặt trời xuống hay ló lên ở chân trời. Đó là những giây phút tôi cảm thấy sảng khoái nhứt! Đầu óc thông suốt hẳn ra. Tâm hồn thanh thản hơn bao giờ hết.
Thiên nhiên quả là một toa thuốc kỳ diệu. Tôi đã đọc được tư tưởng này trong một bài đăng trong tạp chí Reader’s Digest, số ra tháng Mười Hai năm 2017 này. Đây là kết quả của một cuộc thí nghiệm do Giáo sư David Strayer, một chuyên gia tâm lý thuộc trường Đại học Utah, Hoa Kỳ thực hiện. Giáo sư Strayer đưa 22 sinh viên thuộc phân hoa tâm lý học đi cắm trại 3 ngày tại một vùng có nhiều đại vực (canyon) gần Thành phố Bluff, Tiểu bang Utah. Sau 3 ngày cắm trại giữa thiên nhiên, đầu óc của nhóm sinh viên tham gia cuộc thí nghiệm minh mẫn hẳn ra. Theo Giáo sư Strayer, đầu óc của chúng ta không phải là những chiếc máy nặng 1.3 ký làm việc không biết mỏi mệt . Trái lại, chúng ta dễ dàng mệt mỏi vì cuộc sống ngày càng bị điều kiện hóa bởi thời đại kỹ thuật số. Nhưng khi chúng ta dừng lại và tìm đến với thiên nhiên, không những năng lực của chúng ta được bồi bổ mà khả năng suy tư của chúng ta cũng được cải thiện.
Kết quả cuộc thí nghiệm của giáo sư Strayer cho thấy đầu óc của nhóm sinh viên tham gia cuộc thí nghiệm bén nhậy hơn, óc sáng tạo gia tăng, khả năng giải quyết vấn đề cũng linh động hơn.
Theo giải thích của Giáo sư Strayer, khi sống gần với thiên nhiên, vỏ não gần trán của chúng ta, tức “tổng hành dinh” của não bộ, được nghỉ ngơi và hồi phục. Nhờ vậy, đầu óc của chúng ta sẽ sáng suốt và bén nhậy hơn.
Theo bài viết trên tạp chí Reader’ s Digest, vào năm 1865, một kiến trúc sư chuyên về thiết kế cảnh vườn là ông Frederic Law Olmster đã đứng ngắm nhìn thung lũng Yosemite Valley, thuộc vùng núi Sierra Nevada, miền trung Tiểu bang California. Cảnh vật làm cho ông ngây ngất đến độ ông đã yêu cầu chính quyền Tiểu bang California không nên đề ra bất cứ dự án phát triển nào trong vùng, mà hãy giữ nguyên cảnh thiên nhiên trong thung lũng. Ông Olmster ghi lại: “Đây là một sự kiện khoa học: việc chiêm ngắm cảnh vật thiên nhiên…góp phần gia tăng sức khỏe và năng lực cho con người”.
Thật ra, Kiến trúc sư Olmster không phải là người đầu tiên khám phá ra ảnh hưởng của cảnh vật thiên nhiên đối với sức khỏe và năng lực của con người. Cách đây khoảng 2500 năm, Đại đế Cyrus (576- 530 trước Công nguyên) của Đế quốc Ba Tư đã cho thiết lập những khu vườn để giải trí ngay giữa thủ đô của đế quốc.Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ, được nhắc tới nhiều nhứt là những khu vườn treo ở Babylon, nay thuộc Tỉnh Babil, Iraq. Không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật, mục đích của những khu vườn treo như thế là để giúp cho con người thư giãn, nghĩa là để giúp bồi bổ cho sức khỏe tinh thần và tâm linh của con người.
Ngay từ thế kỷ 16, một y sĩ nổi tiếng người Thụy Sĩ là ông Paracelsus cũng đã khẳng định: “Nghệ thuật chữa bệnh đến từ thiên nhiên chớ không từ các y sĩ”. Ba thế kỷ sau, nhờ hai thi sĩ Mỹ Ralph Waldo Emerson và John Muir biện hộ và tranh đấu, Hoa Kỳ đã cho  thành lập  những lâm viên quốc gia  đầu tiên trên thế giới. Theo hai tác giả này, thiên nhiên có sức chữa bệnh cả tâm linh lẫn thể lý.
Ngày nay, khả năng chữa trị của thiên nhiên đã được các nhà nghiên cứu kiểm chứng. Các nhà nghiên cứu thuộc trường y khoa của Đại học Exeter, Anh Quốc, đã phân tách dữ kiện từ 10.000 cư dân trong các đô thị và đưa ra kết luận rằng những người sống gần những nơi có nhiều cây xanh ít bị bệnh tâm thần hơn. Năm 2009, các nhà nghiên cứu ở Hòa Lan cũng đưa ra một nhận xét tương tự: những người sống gần các công viên hoặc không gian có nhiều cây xanh ít mắc phải 15 chứng bệnh thông thường như trầm cảm, lo lắng và nhức đầu.
Một chuyên gia về bệnh dịch học thuộc trường Đại học Glasgow, Scotland là giáo sư Richard Mitchell cũng tìm thấy một kết quả tương tự: những người sống gần những không gian có nhiều cây xanh, cho dẫu không sử dụng chúng, cũng ít chết và ít bị bệnh tật hơn. Những cuộc nghiên cứu của Giáo sư Mitchell cũng cho thấy một chi tiết lý thú: trong các bệnh viện, bệnh nhân nào thường nhìn ngắm cây cỏ xuyên qua cửa sổ hồi phục sớm; học sinh nào có điều kiện nhìn thấy thiên nhiên xuyên qua cửa sổ cũng học hành tiến bộ hơn và ít có thái độ bạo động hơn.
Các nhà nghiên cứu Nhựt Bổn thuộc trường Đại học Chiba còn làm một cuộc nghiên cứu thú vị hơn. Họ mời 560 người tham gia cuộc thí nghiệm. Những người tình nguyện tham gia cuộc thí nghiệm được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 280 người. Một nhóm được đề nghị đi bộ trong 24 khu rừng khác nhau; nhóm khác đi bộ trong các trung tâm thành phố. Kết quả cuộc thí nghiệm cho thấy với  nhóm người đi bộ trong rừng, kích thích tố Cortisol, tác nhân tạo sự căng thẳng và lo âu, giảm đến 16 phần trăm.
Từ Nam Hàn, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng trong những người nhìn ngắm cảnh thành phố, lượng máu chạy về hạch hạnh nhân (amygdala) gia tăng dẫn đến sợ hãi và lo lắng. Trái lại, nơi những người thích ngắm nhìn cảnh thiên nhiên, trung khu não bộ được kích thích: đây là vùng não tạo ra sự cảm thông và lòng vị tha.
Nhận ra tác động của thiên nhiên đối với sức khỏe của con người cho nên tại một số quốc gia, chính phủ dành cho thiên nhiên một chỗ đứng quan trọng trong các chính sách y tế. Như tại Viện Tài nguyên Thiên nhiên của Phần Lan chẳng hạn, một toán chuyên gia đã đề nghị dân chúng nên dành ra ít nhứt mỗi tháng 5 giờ để chiêm ngắm thiên nhiên. Theo các chuyên gia, 40 hoặc 50 phút đi bộ giữa thiên nhiên gia tăng sự tập trung và giúp thay đổi tính khí con người.
Nam Hàn là một trong những quốc gia đi tiên phong trong việc phát triển lâm viên để góp phần cải thiện sức khỏe của dân chúng. Bộ trưởng Lâm nghiệp của Ham Hàn là ông Shin Won Sop tin rằng cảnh rừng có sức chữa trị những người nghiện rượu. Ông nói rằng phúc lợi của dân chúng hiện đang là một trong những mục tiêu chính của kế hoạch phát triển lâm nghiệp tại Nam Hàn. Nhờ những chính sách mới của chính phủ nước này, con số du khách viếng thắng cảnh trong rừng từ 9.4 triệu người trong năm 2010 đã tăng lên 12.8 trong năm 2013. Bộ trưởng Lâm nghiệp Nam Hàn giải thích rằng dĩ nhiên rừng vẫn còn được khai thác để lấy gỗ, nhưng hiện nay sức khỏe của dân chúng vẫn là kết quả chính của việc phát triển rừng. Những số liệu của Bộ lâm nghiệp cho thấy cảnh rừng đã giảm chi phí y tế của Nam hàn, đồng thời gia tăng kinh tế cho các địa phương.
Những kết quả của việc chữa bệnh mà thiên nhiên có thể mang lại cho con người như được các cuộc nghiên cứu trưng dẫn vẫn chưa đủ sức thuyết phục lắm. Cho tới nay vẫn chưa có cuộc nghiên cứu nào mang lại một giải thích đầy đủ về sức chữa bệnh của thiên nhiên. Giáo sư Strayer nhìn nhận rằng vẫn còn nhiều bí ẩn đàng sau các cuộc nghiên cứu. Nhưng như ông nói, “cuối cùng, chúng ta đến với thiên nhiên không phải vì khoa học nói rằng thiên nhiên mang lại cho chúng ta điều gì đó cho bằng nó làm cho chúng ta cảm thấy điều gì đó”.
Đây chính là cảm nghiệm của riêng tôi. Hầu như ngày nào tôi cũng có đủ thì giờ để chiêm ngắm thiên nhiên xung quanh và đàng sau nhà tôi: một ngôi vườn với đủ mọi loại cây nhiệt đới và ôn đới, một lâm viên quốc gia trải rộng phía sau nhà. Ngoài ra, mỗi sáng tôi cũng có điều kiện để chạy bộ xung quanh bờ hồ gần nhà. Đó là chưa kể những buổi chiều dắt cậu chó đi dạo và dĩ nhiên ít nhứt 2 lần một tuần ngồi thiền với cần câu giữa cảnh hồ nước mênh mông.
Gần đây, do nhiều thứ bệnh tật không mời mà đến, tôi gia tăng việc tập thể dục hàng ngày và nhứt là ghép mình vào kỷ luật ăn uống. Ai mà chẳng mong được sống khỏe mạnh và thọ. Nhưng như một chuyên gia nào đó đã giải thích, tuổi thọ của con người không chỉ tùy thuộc vào việc tập thể dục và cách dinh dưỡng, mà còn do cái tâm có được thanh thản và bình an không. Thiếu gì những ông bà  lực sĩ, võ sĩ  hay danh thủ thể thao…chết yểu hoặc rước vào người đủ thứ bệnh tật.
Tựu trung, với tôi có được cái tâm an bình là điều quan trọng nhứt trong cuộc sống. Tôi không biết thiên nhiên tác động như thế nào đối với sức khỏe của tôi. Nhưng ít ra, như ai đó đã nói, con người không thể cô đơn khi ở gần thiên nhiên. Tôi tin như thế.  Bạn tôi từ Gia Nã Đại sang, không những đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui bất ngờ, mà còn củng cố niềm xác tín của tôi: thiên nhiên lúc nào cũng mang lại thư giãn và thanh thản cho tâm hồn!
 Chu Thập

Tuesday, October 10, 2017

Bình đẳng và huynh đệ



Image result for hugh hefner photos

Hugh Hefner, người sáng lập tạp chí Playboy nổi tiếng của Mỹ, đã qua đời hôm 27 tháng Chín 2017 vừa qua, hưởng thọ 91 tuổi, để lại người vợ thứ ba chỉ mới 31 tuổi.

Tôi chỉ bắt đầu nghe nói tới tạp chí Playboy kể từ khi quân đội Mỹ ào ạt đổ vào Việt Nam. Chỉ nghe thôi, chớ đọc hay nhìn hoặc ngay cả cầm trên tay nguyên một tờ báo thì không bao giờ. Thời đó, tức giữa thập niên 1960, nói đến văn hóa Mỹ là phải nói đến Playboy. Văn hóa Mỹ xâm nhập vào Việt Nam, Playboy cũng len lỏi vào Việt Nam. Thật ra, được bày bán trong các tiệm sách hoặc ngay cả trên các vỉa hè, có lẽ Playboy chưa có được vinh dự ấy trong xã hội truyền thống của Việt Nam. Nhưng xuyên qua dân “làm sở Mỹ” và nhứt là những người làm “bồi phòng”, Playboy được chuyền đến tay người Việt Nam và được xem như một sản phẩm văn hóa quý hiếm.
Thời đó, được nhào nặn theo truyền thống “nhà đạo” vốn xem tính dục như “chỗ dơ dáy” hay thứ hang hùm chớ mó tới, tôi xem tất cả những gì có liên quan đến cơ phận thầm kín của con người là “đồ xấu xa”. Lúc bấy giờ, tôi chưa biết đến kiểu nói “văn hóa đồi trụy” của mấy ông Việt Cộng. Tình cờ hoặc do xúi bẫy của bạn bè, lỡ liếc nhìn vào một vài trang của Playboy, mặt mày của người thanh niên như tôi đỏ lên như thể bị bắt quả tang ăn vụng hay làm điều “tội lỗi”. Ngay cả vào những năm gần cuối thập niên 1960, khi nhà trí thức công giáo Nguyễn Văn Trung tung ra hai quả bom là hai cuốn sách có tựa đề “Ca tụng thân xác” và “Ngôn ngữ và Thân xác”, cái đầu “trong trắng” của tôi cũng vẫn chưa làm quen được với ý nghĩa đích thực của tính dục. Với tôi lúc đó, tính dục vẫn mãi mãi là “đồ dơ dáy”. 
Mãi cho đến khi đi tỵ nạn ở Pháp vào đầu thập niên 1980, được một số bạn thanh niên dắt đến các hồ tắm công cộng hay ra các bãi biển để “rửa mắt”, tôi mới được “rửa tội” lại để không còn phải đỏ mặt hay lúng túng khi phải chiêm ngắm những tấm thân “tươi mát” xuất hiện trước mặt mình một cách đầy thách thức. Mắt của tôi đã bắt đầu được miễn nhiễm khi bước vào các tiệm sách hay sạp báo ở các vỉa hè hoặc ngay cả khi phải đi ngang những khu phố dành riêng cho “người lớn”, nơi đó bên cạnh Playboy là vô số những tờ báo của mẫu quốc đầy dẫy hình ảnh của những “người nghèo mới” không có đủ vải để che thân!
Tôi là dân của một nước chậm tiến cho nên đầu óc tôi cũng chậm tiến, nhứt là về vấn đề tính dục. Phong trào thường được gọi là “cuộc cách mạng tình dục” hay “giải phóng tình dục” đã phát sinh tại Hoa Kỳ và lan rộng đến cả thế giới từ thập niên 1960. Với sự bùng nổ các phương tiện ngừa thai, phong trào này đã thách thức những chuẩn mực truyền thống về tính dục và dĩ nhiên cũng đã ít hay nhiều góp phần “giải phóng” phụ nữ. Một cách nào đó, người phụ nữ đã được giải phóng khỏi rất nhiều ràng buộc gắn liền với tính dục và từ cuộc giải phóng tình dục, người phụ nữ cũng hưởng được nhiều quyền tự do hơn mà trước đó họ không bao giờ biết đến.
Tôi không biết người sáng lập tạp chí Playboy có thật sự đóng góp cho cuộc “cách mạng tình dục”và nhứt là giải phóng phụ nữ không. Mới đây, khi ông vừa nằm xuống, nhiều người đã không tiếc lời để đưa ông lên hàng “thần tượng” (icon) và gọi ông là người đã khởi xướng cuộc cách mạng tình dục và giải phóng phụ nữ. Nhưng nhìn vào hình tượng của một người đàn ông lúc nào cũng có các kiều nữ “tươi mát” bao quanh, tôi thấy mình không cách nào bị thuyết phục về danh dự người ta dành cho ông.
Nữ ký giả Shelly Horton, chủ biên của mục “Life & Style” của báo The Sydney Morning Herald đã có một cái nhìn hoàn toàn khác về người sáng lập tạp chí Playboy. Nữ ký giả này nhận định: “Nếu hôm qua (tức ngày 27 tháng Chín vừa qua) các bạn hỏi tôi nghĩ gì về ông (Hugh Hefner), tôi sẽ nói một cách đơn giản điều tôi nghĩ là: ông ta là một kẻ miệt thị đàn bà; ông đã kiếm lợi bằng cách khai thác phụ nữ một cách chuyên nghiệp và cho cá nhân ông.”
Theo Horton, Hefner là người đã làm giàu và đạt được tiếng tăm khắp thế giới bằng cách đưa những người đàn bà đẹp ăn mặc hở hang hay ngay cả trần truồng lên thị trường như những sản phẩm để mua bán. Ký giả Horton trích dẫn một cuộc phỏng vấn hồi năm 1967 qua đó người sáng lập tạp chí Playboy tuyên bố rằng phụ nữ đẹp cũng giống như một con thỏ: vừa nhút nhát, vừa linh động, vừa gợi dục. Tựu trung, với ông, phụ nữ đẹp chẳng khác nào một món đồ chơi.
Theo ký giả Horton, chính Hefner đã từng huênh hoang rằng ông đã ăn nằm với “hàng ngàn phụ nữ”.
Chuyện xảy ra trong biệt thự Playboy Mansion của ông thì vô số kể. Hai người phụ nữ song sinh người Anh là Carla và Melissa Howe là những người đã từng hẹn hò với ông cách đây vài năm. Hai người phụ nữ này cho biết họ đã nghe kể rằng ông đã từng giữ một lúc đến 16 cô gái trong biệt thự của ông và một khi đã chán chê, ông đã chuyền tay cho một người đàn ông khác.
Biệt thự Playboy của ông Hefner chẳng khác nào một hang động kín đáo: máy quay phim được cài đặt khắp nơi, tất cả mọi điện thoại đều được nghe lén. Theo ông Stefen Tetenbaum, người đã từng làm “bồi phòng” cho ông Hefner trong 2 năm 1978 và 1979, khách mời đến biệt thự không được phép tiếp xúc với các kiều nữ trong biệt thự. Không có bất cứ phó nhòm săn ảnh nào hoặc thám tử tư nào được lọt vào biệt thự. Người sáng lập Playboy luôn luôn thu hình các cuộc gặp gỡ của ông với người khác. Ông có 2 máy quay phim đặt ở đầu giường và những màn ảnh rộng trong phòng ngủ. Tất cả những cuộc “ăn chơi” đều được thu hình. Người có nhiệm vụ cất giữ những băng hình này cho biết ông Hefner dùng chúng để chống lại bất cứ cộng sự viên hay khách mời nào dám đe dọa viết hồi ký về ông hay biệt thự của ông.
Theo ông Tetenbaun, những cuộc “ăn chơi” trác táng của ông Hefner thường được gọi là những “Đêm con heo” (Pig Nights). Đó là những cuộc truy hoan về đêm mà một người như tôi nghe đến chỉ muốn nôn mửa mà thôi.
Riêng về quan hệ của ông Hefner với một người “bồi phòng” như ông Tetenbaun, ông này nói rằng ông chủ của Playboy “không phải là một người tử tế. Nếu ông nếm nước ngọt Pepsi mà thấy nó không đủ lạnh, ông ném đi và bảo tôi phải thay thế bằng một ly khác. Tôi không biết ông ta có bao giờ biết tôi tên gì không. Ông chỉ gọi tôi là tên “bồi phòng”. Theo ông Tetenbaun, ông Hefner tỏ ra rất vũ phu đối với các bạn gái và bạn tình của ông… Ông không chấp nhận những người phụ nữ không có ngực lớn. Nếu các phụ nữ không chịu bơm ngực cho vừa ý ông, ông liền tống cổ họ vào bệnh viện và sa thải họ. Ông Tetenbaun nói rằng đối với ông Hefner, phụ nữ chỉ là những món đồ chơi, không xài được nữa thì ném đi (x. http://www. news. com. au/entertainment/celebrity-life/celebrities-gone-bad/hefners-former-valet-reflects-on-pig-nights-with-hookers-and-hef/news).
Với những thâm cung bí sử từ ngôi biệt thự Playboy của ông Hefner vừa được tiết lộ, tôi cho rằng có thể ông đã góp phần đẩy mạnh cuộc “cách mạng tình dục”, nhưng không hề là một người giải phóng phụ nữ. Thật ra, “giải phóng” lúc nào cũng là một từ hàm hồ. Chả có nơi nào từ này được sử dụng nhiều cho bằng trong các nước cộng sản. Mấy ông cộng sản Việt Nam lúc nào mà chẳng tự hào về cuộc giải phóng mà họ đã thực hiện bằng bạo lực và hệ quả chỉ là nô lệ, áp bức và nghèo nàn lạc hậu. Khi hậu quả của một cuộc giải phóng là phẩm giá của con người bị khinh miệt và chà đạp thì không thể xem đó là một cuộc giải phóng.
Khi tôi viết đến đây thì Hoa Kỳ lại trải qua một thảm kịch khủng khiếp nữa. Vẫn là nan đề của chuyện súng ống. 59 người chết, trên 500 người bị thương. Kể từ năm 1949, đây là cuộc thảm sát gây nhiều tử vong nhứt trong lịch sử Mỹ. Các cơ quan điều tra vẫn chưa cho biết động lực nào đã thúc đẩy kẻ sát nhân, một người da trắng giàu có, đã hành động như thế. Chỉ biết rằng kẻ giết người hàng loạt này đã có cả một kho vũ khí đủ loại và đã chuẩn bị rất kỹ trước khi ra tay hành động. Vào thập niên 1960, tôi đã đồng hóa văn hóa Mỹ với Playboy. Nay cứ nói đến Mỹ thì tôi lại liên tưởng đến súng đạn. Nghĩ như thế cũng phải thôi, bởi vì tính đổ đồng, mỗi công dân Mỹ có ít nhứt một khẩu súng. Ai muốn có súng cũng được.
Cuộc thảm sát tại trường tiểu học Sandy Hook, thành phố Newtown, Tiểu bang Connecticut tháng 12 năm 2012 khiến cho 20 trẻ em và 6 giáo viên bị thiệt mạng đã không đánh động lương tâm của các chính trị gia đủ để thông qua luật kiểm soát súng ống. Kế đó, Quốc hội cũng chẳng làm gì sau khi một người thanh niên da trắng đã xông vào một giáo đường để sát hại một số tín đồ da đen đang thờ phượng tại Charleston, Tiểu bang South Carolina. Những giọt nước mắt của Tổng thống Barack Obama cũng chẳng thấm vào đâu để thúc đẩy Quốc hội thông qua luật kiểm soát khí giới cá nhân. Cũng chẳng có chút thay đổi nào ngay cả sau khi có đến 2 dân biểu bị bắn trọng thương. Dĩ nhiên, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đa số người Mỹ muốn có những luật kiểm soát súng đạn chặt chẽ hơn. Nhưng cho tới nay đương kim Tổng thống Donald Trump vẫn cứ giữ vững lập trường duy trì Tu chính án thứ 2 cho phép và khuyến khích quyền được mang súng của công dân Mỹ. Dạo tháng Tư vừa qua, khi nói chuyện với các thành viên của Hội có súng (National Rifle Association), ông đã cam kết sẽ bảo vệ cho đến cùng quyền được cầm súng của cá nhân.
Trong 2 nhiệm kỳ 8 năm của ông, Tổng thống Obama đã phải đối diện với không biết bao nhiêu cuộc thảm sát bằng võ khí cá nhân. Lần nào ông cũng gọi đó là một thứ “thông lệ” (routine). Chuyện bắn giết bằng súng đạn trong xã hội Mỹ ngày nay xem ra chẳng khác nào chuyện xảy ra trong các phim cao bồi một thời ở miền Viễn Tây: cứ có xích mích một chút là rút súng ra giải quyết; buồn tình chẳng biết làm gì, người ta cũng rút súng ra giải sầu. Chuyện bắn giết nhau diễn ra chẳng khác nào một trò chơi và dĩ nhiên trong trò chơi, mạng người và phẩm giá con người cũng chỉ còn là một món đồ chơi và đồ chơi rẻ mạt!
Tuần qua, tôi có xem chương trình “48 hours” (48 tiếng đồng hồ) trên đài số 10. Câu chuyện có thật xảy ra cách đây 2 năm tại Tiểu bang California được ghi lại trong chương trình là một vụ thảm sát trong đó một thanh niên 19 tuổi đã dùng súng sát hại cha mẹ và làm thương tích một đứa em nhỏ. Người mẹ là một triệu phú. Nhưng giết cha mẹ để chiếm đoạt tài sản không phải là động lực thúc đẩy người thanh niên ra tay. Căm thù cũng chẳng phải là nguyên nhân khiến cậu phạm tội ác. Cuộc điều tra cho thấy trước đó người thiếu niên đã say mê và bị ám ảnh bởi một vụ bắn giết tương tự. Cậu đã làm một bài luận văn xuất sắc về vụ thảm sát này. Người thanh niên có lẽ đã muốn dàn dựng lại câu chuyện như thể một trò chơi và cha mẹ cậu đã được chọn làm vật tế thần trong trò chơi ấy.
Từ chuyện của người sáng lập tạp chí Playboy đến vụ thảm sát mới đây tại Las Vegas, tôi nghĩ đến phẩm giá con người và sự bình đẳng. Một sự bình đẳng đích thực chỉ có được thể xây dựng trên ý thức về phẩm giá con người. Nhưng phẩm giá con người và bình đẳng sẽ chỉ là những ý niệm mơ hồ và trống rỗng, nếu không có tình huynh đệ. 
Những nhà cách mạng Pháp hồi năm 1789 đã có lý để thêm hai chữ “huynh đệ” vào khẩu hiệu “Tự do và Bình đẳng”. Nghĩ cho cùng, nếu tôi nhìn người khác như người anh em của tôi thì liệu tôi có xem họ như một món đồ chơi hay một sự vật để sử dụng, miệt thị và vứt bỏ không tiếc thương không?
Chu Thập

Friday, September 22, 2017

“Con” và “Người”


Cuộc khủng hoảng ở bán đảo Triều Tiên ngày càng trầm trọng, nhứt là sau khi Bắc Hàn đã cho thử nghiệm một trái bom khinh khí. Không riêng Nam Hàn, Nhựt Bổn, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, mà cả thế giới đều lo sợ. Với kho vũ khí hạt nhân hiện nay của cả thế giới, nếu một cuộc chiến tranh nguyên tử xảy ra, “tận thế” xem ra khó tránh khỏi. Bầu khí sợ hãi mà cuộc khủng hoảng ở bán đảo Triều Tiên đang tạo ra không khỏi làm cho tôi nhớ lại một cuộc khủng hoảng tương tự cũng đã từng xảy ra tại Cuba hồi năm 1962.
Năm 1962, tôi đã được 16 tuổi. Ở quê tôi, bước vào tuổi này,  con gái đã gần “bẽ gảy sừng trâu” và chuẩn bị lập gia đình.  Còn tôi thì vẫn cứ vô tư nhìn đời bằng đôi mắt lúc nào cũng lạc quan. Cuộc chiến Việt Nam chưa tới hồi ác liệt. Đêm vẫn ngủ yên như “thời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”. Đại bác vẫn chưa “đêm đêm dội vào thành phố” và quân đội Mỹ cũng  chưa ào ạt đổ vào Việt Nam. Tuy vậy, dù có sống vô tư cách mấy, một học sinh chuẩn bị thi trung học đệ nhứt cấp như tôi cũng bị bắt buộc phải lo âu và suy nghĩ về một số biến cố xảy ra trong nước cũng như trên thế giới. Tại Việt Nam, đầu tháng 11 năm 1963, đã xảy ra cuộc đảo chính trong đó tổng thống tiên khởi của Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm bị sát hại. 21 ngày sau đó, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy bị bắn  chết trong một vụ mưu sát mà cho tới nay lịch sử vẫn chưa giải mã được.
Nhưng trong khoảng thời gian đó,  biến cố đã khiến cho cả thế giới gần như nín thở vẫn là cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Cuba. Ngày chúa nhựt 13 tháng Mười năm 1962, máy bay thám thính U-2 của Hoa Kỳ đã chụp được một không ảnh cho thấy Liên Xô đang cho xây dựng tại Cuba  một khu có đặt một dàn hỏa tiễn có gắn đầu đạn hạt nhân nhắm vào Hoa Kỳ.

Ngày thứ Hai 22 tháng Mười, sau một tuần lễ họp mật với các cố vấn và ban tham mưu, Tổng thống Kennedy đã lên đài truyền hình để loan báo cho dân chúng Mỹ biết rằng ông đã ra lệnh phong tỏa không cho bất cứ tàu bè nào có chở quân cụ được cập bến vào Cuba. Và cũng như đương kim Tổng thống Donald Trump đã từng đe dọa sẽ cho Bắc Hàn nếm “nộ khí và khói lửa”, Tổng thống Kennedy đã cảnh cáo rằng bất cứ một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn nào của Liên Xô nhắm vào Hoa Kỳ từ Cuba cũng sẽ được đáp trả lại một cách “toàn diện”.

Tổng thống Kennedy tóm gọn phản ứng của Hoa Kỳ bằng một câu: “Chúng tôi sẽ không nhất thiết phải liều lĩnh gây ra một cuộc chiến tranh nguyên tử trên toàn thế giới với những tổn thất mà chiến thắng chỉ là tro bụi trong miệng lưỡi chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ không lùi bước bất cứ lúc nào nếu phải đương đầu với một sự liều lĩnh như thế”.
Sự thách thức của Liên Xô và những lời lẽ cứng rắn của Tổng thống Kennedy đương nhiên làm cho cả thế giới run sợ. Hai đám mây khổng lồ hình nấm trên bầu trời Hiroshima và Nagasaki  do hai trái bom nguyên tử của Hoa Kỳ tạo ra hồi năm 1945 và bóng ma của hàng trăm ngàn nạn nhân lại trở về ám ảnh toàn thế giới. Một cuộc chiến tranh nguyên tử chắc chắn sẽ dẫn đến sự diệt vong của toàn thể nhân loại. Chưa bao giờ thế giới nghiệm được câu nói của người Á Đông: “thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”.

Đầu năm 1952, trong bài diễn văn đọc trước khi rời Tòa Bạch Ốc,  cố Tổng thống Harry Truman, người đã ra lệnh thả bom nguyên tử xuống Nhựt Bổn để kết thúc Đệ nhị Thế Chiến, đã nói vừa như một lời tự thú vừa như một lời cảnh cáo: “Gây ra một cuộc chiến tranh nguyên tử là một điều hoàn toàn không thể tưởng tượng được đối  với những con người có lý trí”.
Có lẽ đã lắng nghe và chiêm nghiệm lời nhắn nhủ của cố Tổng thống Truman cho nên trong một lá thư gởi cho Tổng thống Kennedy khi cuộc khủng hoảng Cuba đã bước vào giai đoạn nguy kịch nhứt, Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là ông Nikita S. Khrushchev đã viết rằng chỉ có “những tên điên khùng hay quẫn trí tự tử muốn chết và tiêu diệt  toàn thế giới trước khi chết” mới gây ra một cuộc chiến tranh nguyên tử.
Mà quả thật, chiến tranh nguyên tử giữa hai cường quốc đã không xảy ra. Lý trí đã chiến thắng trên sự ngông cuồng. Liên Xô đã bất thần cho rút hết dàn hỏa tiễn về nước. Bầu khí quyển bỗng hạ nhiệt. Thế giới đã thở ra nhẹ nhõm.
Khi xảy ra cuộc khủng hoảng, các nhà lãnh đạo của thế giới Kitô Giáo đã kêu gọi các tín hữu gia tăng cầu nguyện. Cuộc khủng hoảng Cuba đã chấm dứt một cách êm thắm. Lúc đó, nhiều tín hữu như tôi đã tin đó là một phép lạ: Thượng Đế đã can thiệp để chiến tranh nguyên tử không xảy ra và nhân loại đã không bị tiêu diệt!
Tôi không biết Thượng Đế đã “can thiệp” như thế nào. Nhưng ngày nay khi nhìn lại biến cố, tôi nhận thấy Tổng thống Truman và Tổng bí thư Khrushchev đã có lý khi đề cao vai trò của lý trí: những con người có lý trí không thể gây ra chiến tranh nguyên tử!
Ngày nay, khi nhìn lại biến cố, tôi tin rằng  Tổng bí thư Khruschchev đã tỏ ra là một con người “có lý trí” và đã hành động theo sự hướng dẫn của lý trí hơn là cuồng vọng mù quáng. Hầu hết các sử gia đều tin như thế. Chính vì vậy mà một cuộc chiến tranh nguyên tử đã không xảy ra.
Theo các sử gia, sở dĩ lãnh tụ cộng sản Liên Xô cho bố trí hỏa tiễn tại Cuba là để bảo vệ nước đàn em cộng sản này khỏi một cuộc tấn công khác của Hoa Kỳ. Thật vậy, năm 1961, Hoa Kỳ đã mở một cuộc tấn công vào một địa điểm có tên là Vịnh Con Heo của Cuba để lật đổ chính phủ cộng sản của lãnh tụ Fidel Castro. Cuộc tấn công đã thất bại, nhưng cũng đã đặt Cuba vào tình trạng báo động liên tục và khiến cho các nước cộng sản đàn anh lo sợ.
Một lý do khác khiến lãnh tụ Khrushchev cho đặt dàn hỏa tiễn tại Cuba để nhắm vào Hoa Kỳ là vì muốn tìm cách cân bằng cán cân quyền lực nguyên tử giữa Liên Xô và Hoa Kỳ. Vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, xét về sức mạnh nguyên tử, Hoa Kỳ là nước đang làm mưa làm gió trên thế giới. Vào thời điểm đó, với 6.000 đầu đạn nguyên tử, Hoa Kỳ đã bỏ xa Liên Xô về kho vũ khí nguyên tử. Liên xô chỉ mới có khoảng 300 đầu đạn nguyên tử và cũng chỉ có khoảng trên dưới 35 hỏa tiễn có khả năng bắn tới Hoa Kỳ.

Biết mình đang ở trong thế yếu cho nên theo truyền thống khoác lác, các cơ quan truyền thông công cụ của Liên Xô lúc nào cũng ra rả đề cao sức mạnh nguyên tử vượt bực của nước mình. Cũng với mục đích tuyên truyền đó, lãnh tụ Khrushchev cũng lên tiếng đe dọa không cho Tây Phương đặt chân đến Đông Bá Linh và sẽ tiêu diệt các đồng minh Âu Châu của Hoa Kỳ nếu nước này chống lại Liên Xô. Ông đã có lần tuyên bố rằng chỉ cần 6 trái bom khinh khí của Liên Xô cũng đủ để xóa tên Anh Quốc trên bản đồ thế giới và 9 trái khác cũng đủ để san bằng nước Pháp.
Dĩ nhiên, đó chỉ là một cuộc khẩu chiến. Bên kia những lời đe dọa ấy, nhà lãnh đạo cộng sản Liên Xô lúc nào cũng  bị dằn vặt bởi câu hỏi: “Tại sao phải hy sinh mạng sống của trên 200 triệu con người chỉ để bảo vệ 2 triệu người dân Đông Bá Linh?”

Trong hồi ký của mình, ông Khrushchev có ghi lại rằng khi cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Cuba đã lên đến cao điểm, ông có tham khảo  ý kiến của các tướng lãnh: liệu có nên duy trì dàn hỏa tiễn của Liên Xô ở Cuba và tấn công vào Hoa Kỳ không, nếu một cuộc tấn công như thế có thể khiến cho 500 triệu người thiệt mạng? 

Khrushchev viết rằng khi ông đặt một câu hỏi như thế, các tướng lãnh đã nhìn ông như thể ông là một người điên hay tệ hơn, một tên phản bội. Theo ông, đối với các tướng lãnh này, thảm họa lớn nhứt không phải là Liên Xô bị tàn phá và mất tất cả, mà là bị Trung Cộng và các nước cộng sản đàn em lên án là yếu đuối và hèn nhát.

Nhưng với sự mách bảo và cảnh cáo của lý trí, nhà lãnh đạo Liên Xô tự hỏi: “Nếu trong những giây phút cuối đời của tôi mà biết được rằng, mặc cho quốc gia vĩ đại của chúng ta và Hoa Kỳ có bị tiêu diệt hoàn toàn, danh dự quốc gia Liên Xô vẫn còn nguyên vẹn, thì ích gì?”
Bảo toàn danh dự quốc gia bằng sự phá sản toàn diện, gây đau thương tang tóc cho hàng triệu triệu con người và ngay cả tiêu diệt cả thế giới…được ích gì? Đó hẳn là một câu hỏi mà các nhà lãnh đạo quốc gia, nhứt là các cường quốc, cần phải đặt ra hơn cả, bởi vì đó chính là một câu hỏi mà chỉ có lý trí và lương tri mới có thể đặt ra.

Tôi không biết kết thúc của cuộc khủng hoảng ở Bán đảo Triều Tiên sẽ như thế nào. Nhưng qua phân tách của một số chuyên gia, tôi cho rằng mục đích của cuộc diễu võ giương oai hiện nay của Bắc Hàn có lẽ cũng chỉ là để bảo toàn danh dự quốc gia; cụ thể là để đòi hỏi thế giới phải nhìn nhận “địa vị” của một cường quốc nguyên tử không chịu khuất phục và bị xóa sổ như một số chế độ độc tài, bất kể sự bảo toàn danh dự ấy có dẫn đến chỗ bị cô lập, nghèo đói của cả một dân tộc.
Danh dự và thể diện quốc gia…như các tướng lãnh Liên Xô đã từng yêu cầu Tổng bí thư Krushchev bảo tồn hoặc như chủ tịch Kim Jong Un của Bắc Hàn dùng võ khí nguyên tử để bảo vệ,  có khi cũng chỉ là một thứ bùa chú mê hoặc và đưa đẩy nhiều người vào những cái chết vô nghĩa. Thứ danh dự và thể diện quốc gia này thường gợi lại cho tôi những khẩu hiệu như “lương tâm nhân loại”, “đỉnh cao trí tuệ của loài người”. Chính những khẩu hiệu ấy đã gây ra đau thương tang tóc cho cả dân tộc và một thời khiến cho cả đất nước rơi vào nghèo đói, lạc hậu.
Thứ danh dự và thể diện quốc gia ấy cũng thường khiến tôi nghĩ đến hình ảnh của hai chú gà trống đang gân cổ gáy. Chỉ có gà mới tìm cách “hơn nhau tiếng gáy” và có khi chỉ vì tiếng gáy mà xung trận để ăn thua đủ với nhau. Hình ảnh này lại gợi lên cho tôi ý nghĩ: chỉ có loài thú vật mới ăn thua đủ với nhau vì một chút “danh dự hão huyền”.
Theo  hầu hết các quyển tự điển của các nước Tây Phương mà tôi thường tham khảo, “người”, dựa theo câu nói của triết gia Hy Lạp Aristote (384-322 trước công nguyện), được định nghĩa như “một con vật có lý trí”. Tiếng Việt Nam thâm thúy, nhưng cũng rõ ràng hơn. “Con vật có lý trí” này được gọi là “con người”. “Con” và “người” chung sống với nhau. Nếu phần “con” lấn lướt, thì phần “người” bị thui chột. Điều ấy thường xảy ra khi cái lý trí, vốn là phần cốt lõi làm cho con người là “người” phải nhường chỗ cho những khuynh hướng thấp hèn và nhứt là các thứ “danh dự hão huyền”.
 Chu Thập

Blog Archive