Showing posts with label Ngọc Hạnh. Show all posts
Showing posts with label Ngọc Hạnh. Show all posts

Tuesday, January 27, 2026

Cậu Bé Cắt Cỏ Và Người Dược Sĩ Trung Niên

Hai ngày nay, thành phố FairFax vùng Hoa Thịnh Đốn tuyết rơi dày đặc, phủ trắng xóa từ mái nhà đến cây cối lẫn vỉa hè. Từng cơn gió buốt, cuốn theo những bông tuyết nhỏ li ti quất vào mặt rát lạnh những ai “gan dạ” dám bước ra khỏi nhà. Hơi thở của con người sẽ bốc khói trong không gian xám chì, bàn tay vừa đưa ra đã tê cứng, chóp mũi cũng đỏ ửng vì lạnh. Đường phố im lìm, xe cộ chạy thật chậm, bánh xe nghiến lên lớp tuyết phát ra âm thanh rào rào khô khốc. Giữa cái rét cắt da ấy, cả thành phố như co mình lại, lặng lẽ chịu đựng mùa đông khắc nghiệt. Bởi vì “Nắng mưa là việc của trời” con người dù văn minh cỡ nào cũng làm sao tránh khỏi.

Lạnh quá không ngủ nán được, tôi dậy ra phòng khách pha ly cà phê bưng đến ngồi bên lò sưởi. Hớp vài ngụm cà phê nóng cho ấm lòng, tôi nhìn từng cụm bông tuyết rơi rơi lung linh qua cửa sổ. Trong cái không gian mờ mịt ấy, đột nhiên tôi nhớ lại thời kỳ mới đặt chân đến Mỹ. Vậy mà thấm thoát đã bốn mươi mấy năm, và những gì tôi từng chứng kiến và trải qua bỗng hiện về tràn ngập tâm hồn.

Nhớ lại lúc chúng tôi mới đến định cư vùng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, cũng vào mùa tuyết rơi, khoảng đầu tháng 12. Thiên hạ chuẩn bị đón Giáng Sinh, khắp nơi đường phố, siêu thị, nhà riêng, phi trường… trang hoàng rực rỡ hình ảnh, đèn màu lấp lánh vui mắt. Phi trường Dulles Hoa Thịnh Đốn nhộn nhịp, xe lớn xe bé ngoài bãi đậu đầy. Trong nhà ga hành khách kẻ đến người đi rộn ràng. Gia đình chúng tôi được cô em gái bảo trợ, đón về nhà riêng. Trời lúc ấy rất lạnh. Ngoài bãi đậu xe mấy đống tuyết gom lại cao nghệu vì tuyết rơi từ mấy hôm trước chưa tan, làm chúng tôi vô cùng ngạc nhiên lẫn thích thú vì chưa bao giờ thấy tuyết bên Việt Nam.

Em gái chúng tôi đến Mỹ định cư vùng Hoa Thinh Đốn từ năm 1975. Gia đình em gồm 4 người con và bà Bác, thân mẫu người em rể, khoảng 70 tuổi. Người con gái út cô chú sinh ra ở Hoa Kỳ, được 3 tuổi. Các con cô em từ lớn tới nhỏ đều líu lo tiếng Mỹ khi đi học như lúc về nhà. Cô chú đi làm cả ngày, tối về cơm nước, tắm rửa các cháu, không có thì giờ dạy cháu Việt Ngữ nên các cháu nghe được nhưng nói không thạo.

Chúng tôi ở chung với gia đình cô em một thời gian và sau đó thuê nhà cách cô chú khoảng 15-20 phút. Cả gia đình cùng nhau làm việc tối đa và tiết kiệm tối đa. Ơn trời, năm sau chúng tôi mua được ngôi nhà nhỏ cũng gần đó. Bà Bác và tôi hợp nhau nên lúc dọn ra riêng 2 Bác cháu quyến luyến lắm. Các cháu nội cụ lúc ấy đi học bài vở nhiều nên ít trò chuyện với bà trừ cháu nội ba tuổi. Nhờ cơ hội được ở nhà với bà Nội suốt ngày nên út nói tiếng Việt giỏi như các trẻ em Việt Nam. Quan sát chuyện hai bà cháu của út, tôi mới học được kinh nghiệm sau này khi dạy tiếng Việt cho con cháu mình, nếu phụ huynh ở nhà luôn nói tiếng Việt cùng con cháu thì chúng sẽ dễ dàng học và nói giỏi tiếng Việt.

Sau khi chúng tôi mua nhà ít lâu, Tân, em một người bạn tôi đang định cư Ohio đến thăm chơi và tỏ ý muốn dọn về vùng Hoa Thịnh Đốn để các con chú có cơ hội tiếp xúc với người Việt. Theo chú, Ohio phần lớn là người Mỹ bản địa, ít người Việt và không có chợ Viêt Nam. Chú ấy là người Bắc di cư, gồm 2 vợ chồng, 6 đưá con và bà mẹ già. Cháu bé nhất chỉ mới khoảng 6 tháng. Ở Việt Nam trước kia chú có trường dạy đánh máy. Gia đình chú không có người quen ở Mỹ nên nhà thờ Ohio bảo lãnh. Chú cho biết Ohio rất lạnh, không hợp cho người Mẹ già.

Nhà chú đông người, chú có việc làm nhưng vợ chú chỉ đi làm bán thời gian nên cần người “co-sign” mới thuê được nhà. Chúng tôi khi đó có việc làm ổn định nên sẵn sàng giúp chú, cùng ký tên trong hợp đồng để chú thuê nhà. Chỉ có thế, chú thím đóng tiền nhà đầy đủ, chẳng phiền đến chúng tôi chút nào. Tuy nhiên chú rất biết điều nên năm nào vào dip lễ Tết chú thím cũng biếu quà nọ kia hậu hĩ cho chúng tôi và chúng tôi cũng mua quà đáp lễ cho vui. Thật là chẳng phải họ hàng nhưng cư xử thân tình như người trong gia đình, ấm áp như bà con…

Nhà chúng tôi phía trước và sau có sân cỏ nhỏ nên phải thuê người cắt cỏ vào mùa hè và hốt lá vào mùa đông. Tâm, con trai út chú Tân học lớp 9 nhưng cao to, phụ trách cắt cỏ nhà chú hằng tuần. Chú bảo Tâm đến cắt cỏ nhà tôi luôn, cũng gần nhà chú và không cho cháu lấy tiền. Cháu làm cẩn thận, sạch sẽ. Nhà tôi rất hài lòng và trả tiền cho cháu Tâm sòng phẳng nhưng dặn đừng cho bố cháu biết. Mùa Đông có tuyết chú Tân lại chở út đến cào tuyết giúp vì các con trai tôi đều đi học xa.

Tuy vất vả là thế, nhưng Tâm học rất giỏi, được điểm tối đa mỗi học kỳ. Sau khi tốt nghiệp Trung Học, Tâm được nhận vào Đại học gần nhà với học bổng toàn phần. Chú Tân vui mừng cho chúng tôi biết gia đình không phải bận tâm về tiền trường cho cháu. Là một cậu bé siêng năng chăm chỉ, Tâm cũng lại vừa học vừa làm, nhờ kinh nghiệm đi cắt cỏ, cào tuyết, khi còn học cấp Hai, để trả tiền nhà, tiền ăn, và xăng nhớt. Vợ chồng chú Tân cố khuyên cháu hãy nghỉ làm, chỉ chăm chú vào việc học, để ba mẹ phụ lo việc này, nhưng cháu vẫn không nghe mà giữ vững ý chí tự lập. Bạn bè của chú Tân và bà con cộng đồng Việt quen ai cũng yêu quý ngợi khen cậu bé.

Mùa lễ tốt nghiệp bốn năm sau, chú Tân đến báo tin vui út Tâm được nhận vào trường Đại Học Y Khoa tiếng tăm ở Thủ Đô. Chỉ riêng tiền học phí cũng gần $100,000/năm. Chú thím nói cháu Tâm tự lo lấy tất cả nhờ được học bổng và tiền cháu đi làm thêm job cắt cỏ vào cuối tuần.

Sau mười năm ròng rã miệt mài, Tâm phải đối diện không biết bao nhiêu là thử thách, gian nan khổ nhọc, theo lời kể của chú Tân. Ngành giải phẫu xin vào được đã khó, khi học càng khó hơn các ngành khác, và phải có sức khỏe thật tốt để hoàn thành các cuộc giãi phẫu căng thẳng, cần nhiều thời gian. Nhiều lần Tâm tưởng như sắp bỏ cuộc, nhưng rồi lòng ham học và sự đam mê làm bác sĩ để cứu người của cậu đã chiến thắng.

Và rồi cuối cùng cái ngày hạnh phúc cũng đã đến. Tâm lấy được mảnh bằng Bác sĩ và ra đi làm. Hiện tại Tâm là Bác sĩ giải phẫu ở một nhà thương cách thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ khoảng 4 giờ bay.

Tôi mừng cho cậu bé Tâm cắt cỏ sân nhà tôi năm xưa, cho gia đình chú thím Tân, và cho đồng hương Viêt Nam, nói chung. Khi vợ chồng chú Tân đi thăm cháu nội mới sanh, con cậu bé Tâm, chú về gửi cho tôi cho xem hình cái biệt thự to đẹp, nhiều hoa lá, có hàng rào, và sân cỏ xanh mướt bao quanh, cùng những chiếc xe hơi bóng loáng đậu trước sân nhà.

Gia đình chú Tân được đồng hương khen ngợi là gia đình gốc Việt thành công nhất và là một gia đình tị nạn gương mẫu. Ngoài cậu bé Tâm cắt cỏ giờ thành bác sĩ, chú Tân còn có hai người con gái làm trong ngành ngoại giao của Hoa Kỳ. Và tất cả 6 người con chú thím Tân đều tốt nghiệp Đại Học có việc làm thật tốt. Nhưng chú Tân người cha cần mẫn vẫn mãi là người quản lý bình thường của tiệm Seven-Eleven cho đến ngày chú hưu trí.

Tuy nhiên không phải chỉ có mỗi gia đình gốc Việt của chú Tân thành công trên đất Mỹ. Tôi quen biết mấy gia đình Việt Nam có con đi bỏ báo, sơn nhà, lúc đi học Trung Học vào mùa Hè và những ngày cuối tuần và lớn lên đã thành công, nhà cao cửa rộng, có gia đình tốt đẹp sau khi tốt nghiệp Đại Học có việc làm tử tế. Đó cũng nhờ sự chăm học, óc cầu tiến của sinh viên và quan trọng hơn nữa là sự khuyến khích của gia đình. Ngoài ra những người nhập cư cũng đều tỏ lòng biết ơn chính phủ Hoa Kỳ tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh viên nghèo hiếu học cơ hội để tiến tới thành công. Những xuất học bổng toàn phần cho các sinh viên nghèo hiếu học có thành tích giỏi giang đã giúp họ cơ hội cạnh tranh cùng với các con nhà giàu mà cha mẹ phải trả hàng khối tiền rất tốn kém.

Từng là một nhà giáo, ngày xưa ở Việt Nam đi dạy học tôi thường khuyến khích học trò tôi cố gắng học hành, đừng hoang phí tuổi trẻ vì thời gian qua đi không lấy lại được. Một người giàu có ít học, thiên hạ sẽ xem thường, gọi là trọc phú. Nếu có học mà nghèo vẫn được thiên hạ quý nể. Như thuở trước Cụ Tú Xương nghèo nhưng có học vẫn được thiên hạ nể trọng.

Phải nói tinh thần hiếu học của người Việt rất là cao, rất đáng nể. Tôi có người bạn tên Hương là dược sĩ ở Việt Nam. Gần năm mươi tuổi, chị theo gia đình sang Mỹ định cư, bắt đầu lại cuộc sống từ con số không. Ở cái tuổi mà bên quê nhà nhiều người nghĩ đến nghỉ ngơi, chị Hương lại phải học lại tiếng Anh, làm quen với một hệ thống hoàn toàn xa lạ.

Người thân, bạn bè đều khuyên can: “Lớn tuổi rồi, học lại làm gì cho cực? Học ra hơn 50 tuổi rồi ai thuê?” Tính tình cương quyết và rất mạnh mẽ, chị Hương mặc kệ, bỏ qua những lời khuyên, chị ghi danh vừa học Sinh Ngữ, vừa học chuyên khoa. Vì chị biết đất nước Hoa Kỳ cho nhiều cơ hội, nếu không học thì suốt đời sẽ hối tiếc. Chị học lại từ đầu, rất vất vả cho người mẹ sáu đứa con. Dù gia đình bận rộn đông con, chị huấn luyện các con đứa lớn trông đứa bé, nhắc nhở nhau cùng học.

Những đêm dài vật lộn với sách vở, những kỳ thi căng thẳng, những lúc tưởng như không theo kịp lớp sinh viên trẻ, chị đều vượt qua. Không nhanh, không dễ chút nào, nhưng chị không nản chí mà cứ tiến bước.

Cuối cùng, sau bốn năm vật lộn với trường lớp và con cái, chị Hương tốt nghiệp dược sĩ. Câu chuyện của chị cho tôi thấy rằng tuổi tác không giới hạn ước mơ, chỉ có sự tiêu cực mới đành cam nhận lấy thất bại mà thôi.

Chị Hương làm Dược Sĩ cho các nhà thuốc đến năm 80 tuổi, khi các con ép chị nghỉ việc chị mới chịu về hưu. Thật ra lúc ấy các con chị đều tốt nghiệp Đại Học và có gia đình. Chị cho tôi biết, khi đến tuổi về hưu tài chánh không là vấn đề chị bận tâm, nhưng chị thích đi làm có người ra người vào, vui hơn ở nhà một mình vì chồng chị đã qua đời.

Hiện tại chị Hương đã về hưu và đang hưởng thụ tuổi vàng. Chị đi du lịch, thăm viếng các thắng cảnh danh lam, và bà con gần xa. Cậu con trai lớn của chị năm xưa đi bỏ báo vào mùa Hè nay là Bác sĩ chuyên khoa gây mê ở nhà thương lớn California. Và hãnh diện thay, mấy đứa con của chị đều tốt nghiệp ngành Y Dược theo nghề Bố, Mẹ. Chị Hương có sáu người con thì năm người là bác sĩ, một người là dược sĩ, không kể nhiều dâu rể đều học cao. Đó là nhờ vợ chồng chị làm gương tốt cho các cháu. Tôi thật ngưỡng mộ những thành công tuyệt vời của chị Hương nói riêng và người Việt Nam mình nói chung.

Nhân Năm Mới (Tết Ta) Bính Ngọ sắp đến, tôi viết về những chuyện ngày xưa khi mới bắt đầu hội nhập của bà con gốc Việt, để các thế hệ trẻ sau này biết sự khó khăn nhọc nhằn của ông bà, bố mẹ lúc mới định cư nơi vùng đất mới Hoa Kỳ.

Kính xin chúc mừng chương trình Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo ngày càng tiến bước trong Năm Mới. Kính chúc đồng bào hải ngoại cũng như người trong nước luôn được ấm no, đức dục, trí dục mở mang, người lớn có việc làm, trẻ em được đến trường, mọi người bình an khỏe mạnh.

Tôi cũng xin nguyện cầu cho đất nước Việt Nam của tôi được mưa thuận gió hòa, mong đường xá, phố phường Việt Nam tốt đẹp, giao thông an toàn và miền Trung nước Việt Nam không còn bị ngập lụt, hoa màu thuận lợi, bà con chăn nuôi phát triển hơn năm cũ 2025.

Sau cùng, nhân dịp Xuân về, người viết xin có mấy câu thơ mộc mạc kính tặng Việt Báo và quý độc giả VVNM xem cho quên đi cái lạnh, vì vùng Hoa Thịnh Đốn tuyết đầu mùa vẫn chưa tan hết, trời đất còn rất lạnh, giá buốt thâm nhập khắp nơi, ra ngoài mặc áo khoác dày mà vẫn co ro.


CHÚC XUÂN VIỆT BÁO & VIẾT VỀ NƯỚC MỸ

Trận tuyết đầu mùa lạnh cắt da
Trắng ngời lấp lánh đẹp như hoa
Cung đường bạc phủ quanh đầu hẻm
Góc ngõ đá vun tận vách nhà
Cầu suốt Tân Niên duyên phước đẫm
Chúc toàn Năm Mới lộc tài đa
Viết Về Nước Mỹ luôn tồn tại
VIỆT BÁO cùng nhau tiến vượt đà.

Ngày 10 tháng 1 năm 2026.
Ngọc Hạnh.


Thursday, March 9, 2023

Thăm Viếng Caribbean

Năm nay vùng Hoa thinh Đôn thời tiết khác với các năm trước. Mọi năm tháng 11 đã có tuyết và lai rai đên tháng 3. Nay đã tháng hai chưa có trận tuyết nào. Phần lớn trời nắng đẹp nhưng rất lạnh. Cũng có đôi khi mưa, ẩm ướt và lạnh. Tháng giêng tàu Royal Caribbean giá hạ đến 30% nên một nhóm bạn rủ nhau đi Caribbean sau mấy ngày Tết Nguyên Đán. It ra trốn lạnh được 8 ngày. 

Chúng tôi khởi hành từ bến cảng Baltimore, Maryland. Người nhà lái xe khoảng hơn tiếng, đưa chúng tôi đến bến cảng, thả chúng tôi xuống rồi về nhà. Mọi người chỉ chờ đến lượt mình làm thủ tục lên tàu, không phải ngồi máy bay cả mấy tiêng mới đến bên cảng. Nếu đi bến cảng xa phải đáp máy bay, chờ đợi ở phi cảng, qua hệ thống an ninh phiền phức trước khi lên phi cơ. Tàu rời bến lúc 17 giờ, chạy 2 ngày 3 đêm mới đến bến cảng Canaveral, Florida.Tàu Enchantment of the Seas chở 2446 du khách, không kể thủy thủ đoàn. Tàu nhỏ so với chiếc Oasis of the Seas chở 6500 du khách, chỉ đậu ở các bến cảng lớn như New York hay Miami, Florida.

Bến cảng Canaveral, Florida:
Rộng lăm, cầu cảng dài, 5 chiếc du thuyền to đâu cùng 1 bến cảng. Chiếc du thuyền mới của hảng Royal Caribbean, tàu Wonder of the Seas đẹp và to gấp đôi du thuyền chúng tôi đi, bệ vệ chiếm khoảng lớn bến cảng. Khách lố nhố trên du thuyền, đông lắm.

Tàu Enchantment sẽ đậu nơi đây từ 8 giờ sáng đến 17 giờ tàu sẽ rời bến đi COCO CAY. Du khách lên bờ viếng cảnh tự túc hay mua tua của tàu, thăm Disneyland và các thắng cảnh Florida. Chúng tôi đã viếng Florida, thăm Disneyland mấy lần nên không ai lên bờ. Người đọc sách, người chơi cờ hay xem phim chiếu ở rảp hát trên tàu nên thì giờ cũng qua mau. Rất nhiều người lên bờ nên tàu vắng hoe, hồ bơi, phòng ăn cũng vắng.

Florida ấm, 79-80 độ F,nắng nhẹ nhàng ấm áp ai cũng thích và phần lớn du khách lên bờ. Trên tàu như các du thuyền khác, thức ăn, trái cây ê hề ở phòng ăn tự dọn (buffet) nhưng phòng ăn chính thì đóng cửa buổi sáng và trưa khi tàu đậu. Cafe mở cửa 24/24. Trên tàu có những trò giải trí như dạy xếp khăn ăn, xếp các con thú, dạy làm bánh, dạy khiêu vũ... hay trò chuyện với nhau nên thì giờ qua mau. Nhất là những bạn bè đến từ các tiểu bang khác, lâu ngày mới gặp nhau trò chuyên hết ngày cũng chưa hết chuyện.

Tàu Enchantment nhỏ nên không có các sô đăt tiền như trượt tuyết, nhào lộn dưới nước (AquaShow), đu dây, trượt nước hay vườn cây cảnh như các tàu lớn Allure hay tàu Oasis of the Seas.

COCO CAY, Bahamas:
Tàu chạy cả đêm, sáng hôm sau đến Bahamas, đậu ở bến cảng COCO CAY Island. Thuyết trình viên cho biết Coco Cay là hòn đảo nhỏ gần Nassau do hảng tàu Royal Caribbean làm chủ (private Island). Hảng tốn 250 triệu mỹ kim để sửa sang, xây cất, trồng trọt cây cảnh thành nơi tiện nghi xinh đẹp cho du khách thưởng ngoạn như ngày nay. Từ trên tàu du khách đã thấy hàng chữ thật to "Perfect Day at Coco Cay" màu mè nổi bật cao hơn những ngọn cây trên đảo. Cầu tàu dài bề ngang rộng rãi. Có xe con thoi của du thuyền đưa khách lên bờ đến trạm xe bus. Xe bus sẽ đưa khách một vòng trên đảo, ra bãi biển nếu khách muốn. Ai không đi thì rẽ vào nhà ăn. Hôm ây phần lớn du khách ăn trưa trên đảo, hưởng gió mát, tắm biển, mua quà lưu niệm ở các lều nhỏ gần nhà ăn. Nhà ăn rộng, chung quanh có nhiều bàn ăn, băng gỗ có dù che cho cả ngàn thưc khách. Thức ăn từ tàu mang lên bờ, đủ các món ăn nước uống như trên tàu. Gần nhà ăn là hồ bơi rộng lắm, xa hơn nữa có bãi biễn nước xanh cát trắng. Môt khu vực dù màu xanh, khu vực khác dù màu hồng. Ai muốn tắm phải mang khăn tắm từ trên tàu.
Khi xe chạy vòng quanh đảo thấy hoa lá xanh tốt, những cây dừa cao đầy trái như thôn quê Viêt Nam trong khi vùng Hoa Thinh Đốn cây trụi lá trơ cành buồn hiu. Theo tôi những hàng hóa trên đảo mắc hơn trên tàu thí dụ T Shirt trên tàu bán 15$ 1 cái thì trên đảo bán 25$, cái túi sách trên tàu bán 10$, trên đảo bán 15$ hay hơn... Những đồ thủ công, nữ trang bằng vỏ sò, vỏ ốc, quần áo mùa hè nhiều lắm. Khách xem cũng đông. Chúng tôi trở về tàu sau khi ăn trưa nhưng phần lớn du khách ở lại tắm biển hay dự các trò chơi trên đảo đến gần tới giờ tâp trung mới trở về tàu. Xe con thoi chay liên tục đưa khách đi và đón khách trở về du thuyền.

Paradise Island, Nassau:
Sáng hôm sau tàu đến bến cảng Nassau, Bahamas. Trên bến cảng có chừng 6 du thuyền khác của các hãng như Carnival, Norvegian, Royal Caribbean.... Trời ấm, nắng đẹp. Du khách mặc y phục mùa hè đi lại tấp nập trên cầu cảng. Họ từ các tàu khác lên bờ, người đi bộ, người dùng xe con thoi. Con đường từ cầu cảng lên bờ có khoảng dài có mái che và nhiều băng bằng xi măng đặt rải rác cho du khách nghỉ chân, hưởng gió biển. Gió mát lắm. Nhìn người đi lại, ngắm biển xanh và các hải điểu bay lượn quanh các con tàu cũng vui. Những người đi bộ và đi xe con thoi là những người lên bờ tự túc. Ai theo tua du thuyền đã có xe riêng đưa đi theo giờ giấc ấn đinh trong chương trình. Họ có thể du ngoạn bằng tàu nhỏ hay theo các xe van chở khoảng 8 hay vài chục người.
Từ trên tàu chúng tôi thấy lâu đài xinh đẹp và chòm cây xanh ở Paradise Island. Muốn đến đảo hoặc đi bằng các tàu nhỏ hay đi bằng xe và qua cầu. Từ du thuyền đến đảo mất khoảng 15-20 phút. Chúng tôi đi xe van chung với những người trên tàu. Qua khỏi cầu đến đảo thấy các tiêm buôn nhỏ, tiêm thuốc tây, tiêm bán thức ăn, nước giải khát... trước khi đến các kiên trúc to và tráng lệ, xinh đẹp. Cây trên đảo xanh tốt. Trước nhà họ trồng nhiều hoa nhưng hoa dâm bụt nhà nào cũng có, làm hàng rào. Hoa to và nhiều màu khác nhau: hồng, trắng, đỏ... xen lẫn nhau rất đẹp. Đường tráng nhựa rộng, sạch sẽ. Có những kiosque bán quà lưu niêm ở vệ đường dưới bóng cây to hay cây dù rộng màu mè. Họ bán kính mát, nón, khăn áo tắm, áo sun-dress,váy, áo ngắn tay cho nam nữ... Người bán hàng là cô gái hay người nam trẻ tuổi đều tươi cười, vui vẻ, ân cần dù khách hàng chỉ xem mà không mua.

Chúng tôi vào resort nơi có khách sạn, các tiêm buôn sang trọng, các hàng hiêu, nữ trang, quần áo, giày, ví hay đồ điên tử loại mắc tiền. Cũng có nhà hàng ăn uống nơi đây. Nơi nào cũng đẹp, sang trọng. Casino rông lớn có nhiều khách. Chúng tôi không ai vào Casino nhưng khách trên tàu có người ở lại thử thời vận may rủi đến gần đến giờ tâp trung mới trở về du thuyền. Cách đây khoảng gần 10 năm, tôi và các con đến đây và đi xem hồ cá rộng dưới hầm khu nghỉ mát. Mọi người đi trong đường hầm, trên đầu và 2 bên đường là nước và cá đẹp lội nhởn nhơ, nhiều lắm. Ngoài ra còn có hồ cá lộ thiên rất rộng nuôi cá để bi biểu diễn. Lúc ấy đi xem hồ cá hay tắm trong khu nghỉ mát đều miễn phí. Sau này muốn xem cá phải mua vé, 150$ mỹ kim/ người.

Khu nghỉ mát này nếu tôi không lầm có tên là Atlantis Resort hay Atlantis Paradise, có 2 kiến kiến trúc to, đẹp, rộng như lâu đài nằm gần nhau. Đảo rộng 2.8 cây số vuông gồm bãi biển, hồ bơi, sân golf, hồ nuôi cá, sòng bạc, tiêm buôn và khách sạn.Paradise Island là hòn đảo tư nhân qua 3 đời chủ. Người chủ hiên nay là Sol Kerzner mua đảo vào tháng 3 năm 2020 với giá 25 triêu mỹ kim (Vikipedia). Khách sạn Royal Tower ở Paradise Island là môt trong những khách sạn đắt tiền trên thê giới.
Vị nào không muốn đến Paradise Island cũng có thể lên bờ qua khỏi cầu cảng quảng ngắn có những tiệm quần áo, nữ trang, cửa hàng ăn uống, nơi bán quà lưu niệm... để mua sắm hay viếng cảnh.

Thưa quý độc giả theo tôi, người cao niên muốn thư giãn nghỉ ngơi đi du thuyền tiện và rẻ hơ đi đường bộ.Du khách không phải tìm khách sạn hay tiệm ăn mỗi ngày sau khi ngồi bó gối trên máy bay xe hơi mấy tiếng hay cả buổi. Sau đó còn thuê xe và mỗi ngày phải đổ xăng để đi viếng các thắng cảnh. Nhưng mỗi người mỗi ý. Xin ghi lại những điều nghe thấy. Dĩ nhiên là còn thiếu sót để quý vị chưa đi có chút khái niêm mà thôi

Tôi cầu mong dich cúm Covid bị diêt trừ vì cho đến nay vẫn có người bị Covid sau khi đến nơi đông người, và kinh tế khắp nơi được phục hồi, ai cũng có việc làm, ấm no hạnh phúc.

Xin có bài thơ tặng quý độc giả:

Thăm Paradise Island
Đầu năm một nhóm bạn thân thương
Rủ nhau đi viếng đảo Thiên Đường (Paradise Island)
Du thuyền chở khoảng vài ngàn khách
Họp mặt trên tàu từ bốn phương

Măc nắng mặc mưa hay gió sương
Con tàu lướt sóng giữa trùng dương
Cầu mong dân chúng được an lạc
Hạnh phúc, ấm no và thiện lương

Tháng 2 năm 2023
Ngọc Hạnh

Thursday, October 8, 2020

Duyên Số

Ngọc Hạnh
Mùa Hè nóng nực rồi cũng qua. Mùa Thu mát mẻ đã chính thức trở về vùng Hoa-Thịnh-Đốn với nắng nhẹ quanh nhà. Mặt trời thức muộn, lá bắt đầu đổi màu. Từ màu xanh, lá chuyễn thành màu vàng cam hay ráng đỏ như vầng thái dương vừa nhô lên khỏi chân trời. Các loại cúc vàng tím, đỏ, và hoa hồng đua nhau nở khắp phố phường. Mùa Thu thật dễ thương, lý tưởng cho người đi dạo, trời không nóng, không lạnh, gió Thu nhẹ nhàng. Đó đây trên sân cỏ, lối đi lác đác lá vàng rơi như họa sĩ tài hoa điểm tô màu sắc cho bức tranh thêm xinh đẹp. Mùa Thu từ ngàn xưa là đề tài sáng tác của các văn, thi, và nhạc sĩ, những người vốn nhạy cảm, dễ xúc động với cảnh đẹp thiên nhiên. Trong văn chương, âm nhạc mùa thu được nhắc nhở ca tụng. Cụ Nguyễn Khuyến nói về mùa thu:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo…

Mùa Thu còn là mùa yêu thương, mơ mộng cho những người trẻ tuổi, là mùa học sinh , sinh viên đi dã ngoại, học tập ngoài trời. Bài hát của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Từ Linh đươc người miền Nam yêu chuộng dù miền Nam Viêt Nam như Saigon hai mùa mưa nắng, dân chúng chỉ biết mùa Thu qua sách báo:

… Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân vào chốn thiên thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ anh rồi…

Bài hát “Mùa Thu cho em” của nhạc sĩ Ngô thụy Miên nhẹ nhàng, lời đẹp như mơ đưa người vào cỏi mộng. Tôi nhớ lõm bõm vài câu:

Em có nghe mùa Thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa Thu tới,
Mang ái ân mang tình yêu tới …

Mùa Thu Hoa thịnh đốn tươi đẹp, cảnh vật quyến rũ như thế nhưng tôi không đi dạo mà vào Viện An Dưỡng thăm người bạn, chị Cúc. Chị vào đấy gần một năm sau khi tai biến mạch máu não quái ác viếng thăm, thật là khách không mời mà đến. Gia đình đưa chị vào bệnh viện lúc đầu và khi sức khỏe tốt hơn, các cháu chị đưa chị đến viện hồi phục ít lâu để tập đi, tập đứng, tập nói, tập rửa mặt, chải tóc…v…v. Khi chị được xuất viện tuy sức khỏe ổn định nhưng chị vẫn cần người trông nom nên gia đình mang chị vào nhà An dưỡng, nơi lúc nào cũng có người ra vào, giúp đở ngày đêm nếu cần. Viện rộng rãi xinh đẹp, có cỏ hoa cây cảnh, ở trung tâm thành phố nên khá đắt.

Lúc mới nhập viện chị Cúc khi nhớ khi quên nhưng có vài người bạn thân chi không quên, bao giờ cũng nhắc các vị ấy. Giờ trí nhớ chị trở lại bình thường. Chị có thể đọc sách, chuyện trò qua điện thoại nhưng vẫn phải dùng xe lăn để di chuyển. Lâu lâu bạn bè đến thăm, chị vui lắm. Viện có 8, 9 tầng lầu, phòng ăn cả trăm người nhưng hình như chỉ có chị Cúc là người Việt duy nhất. Có vài ba ông Đại Hàn, vài người da đen còn lại là người da trắng. Chị Cúc cho biết họ nói năng lịch sự tử tế nhưng lạnh lùng, không thể trò chuyện, tâm tình. Trước phòng ăn có vườn hoa nho nhỏ nhưng phải có người đẩy xe đưa chị ra và ở đó với chị. Có lẻ họ sợ chị té thình lình. Nhân viên viện bận nên chẳng mấy khi đưa chị ra vườn trừ khi gia đình đến thăm. Chị không con, các cháu bận đi làm chỉ đến thăm chị vào cuối tuần hay ngày lễ. Trông chị có vẻ an phận, chẳng than phiền, mong chờ ai. Trên sofa phòng chị, xe lăn, giường ngủ… đâu đâu cũng thấy sách Anh, Pháp, vài tờ báo Việt ngữ. Chúng là bạn bè của chị.

Được biết Ba chị Cúc trước kia là công chức cao cấp trong chánh phủ miền Nam. Lúc nhỏ chị học chương trình Pháp nên giỏi sinh ngữ. Lên Đại học chị chọn Anh Văn và đâu thủ khoa khi tốt nghiệp. Xinh đẹp, dịu dàng, hòa nhã với mọi người chị được bạn bè thương mến. Một người bạn đồng môn yêu chị lắm, muốn kết hôn với chị. Chị cảm động, quý mến anh như người bạn tốt chứ không yêu thương rung động của tình yêu nam nữ. Chị năn nỉ anh cưới vợ cho chị an tâm. Hai người thân nhau, chi nhớ hoài tình cảm tốt đẹp anh dành cho chị.

Chị được học bổng xuất ngoại du học Hoa kỳ. Xa gia đình, một mình nơi quê người, ai tử tế giúp đở, chị mừng và biết ơn. Duyên đưa đẩy chị gặp một sĩ quan Hải quân câp tá Hoa kỳ đẹp người, khéo nói. Hợp tình hợp ý hai người chính thức kết hôn sau thời gian quen biết. Sau ngày cưới khoảng 1 năm, “hương lửa” đang nồng chị thấy anh như có điều gì bận tâm, lo âu. Hóa ra ông đã có vợ có con. Chị như sét đánh ngang tai,hết hồn, chới với, lòng dạ tan nát, như trời long đất lỡ. Người chồng chị yêu thương, “cưng” của chị thuộc về người khác. Buồn đứt ruột, tức cành hông nhưng chuyện đã rồi, nặng lời với anh đâu có cứu vãn tình được tình thế. Lúc mới yêu nhau anh thường nói chỉ muốn sống với chị mà thôi, ngoài ra anh không cần chi hết. Yêu chị lắm lắm. Buồn và giận anh rất nhiều nhưng cố nén đau thương chị nhẹ nhàng nói “anh an tâm, mọi việc để em lo”. Chỉ vì muốn sống chung với chi, yêu thương chị mà anh bất chấp hậu quả. Ở Mỹ song hôn là tù tội, mất việc, mất chức…

Tương lai, sự nghiệp anh trong tay chị. Chị nhớ lại mãnh lực tình yêu đã có từ ngàn xưa, vì tình mà hy sinh công danh sự nghiệp. “Thân còn chẳng kể, kể chi danh”. Trong lịch sữ hôn nhân ngang trái vẫn xảy ra. Vua Anh Edward VIII từ chối ngai vàng để cưới bà Wallis Simpson, phụ nữ người Mỹ một lần ly dị chồng (1911 ),tướng lừng danh La mã Mark Antony bỏ vợ theo nữ hoàng Cleopatra ( năm 30 trước công nguyên ) và cách đây dưới 10 năm, tướng David Petraeus, có gia đình, từng đứng đầu cơ quan tình báo Mỹ phải từ nhiệm (2012) vì quan hệ yêu thương với cọng tác viên Paula Broadwell. “Honey” chị đâu phải người duy nhất vượt rào. Thôi thì đưa cao đánh khẽ, chị ra tòa xin ly dị với tội danh anh bỏ bê gia đình, không đòi thường cấp dưỡng chi cả. Dĩ nhiên là anh vắng mặt. Theo chị có 3 trường hợp xin ly dị: 1/ song hôn, nặng nhất, có thể bị tù 2/ bỏ bê gia đình 3/ ngoại tình

Từ đó chị không gặp anh nữa. Chị mất bờ vai để nương tựa, không ai chia sẻ, an ủi lúc đau lòng. Buồn muốn chết nhưng cũng phải chia tay. Thật là “trời đất nổi cơn gió bụi” và “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nên hôn nhân chị dở dang, không giống ai. Bơ vơ, phiền muộn. Có ai tin cô gái xinh đẹp, con nhà giàu, học giỏi lại long đong việc lứa đôi như chị lúc bấy giờ? Có lẽ nhờ sự chia tay trong hòa bình êm đẹp nên tháng 4 năm 1975, từ nơi xa xôi nào anh điên thoại về kêu chị Cúc đem gia đình sang Mỹ vì sắp mất nước, miền Nam sẽ bị nhuộm đỏ. Gia đình hãy chuẩn bị sẵn sàng và sẽ nhờ bạn làm ở tòa Lãnh sư Viêt nam lo giấy tờ, đến nhà đón Ba má và các em chị Cúc ra phi trường để di tản, hơn 20 người. 

Chị ngạc nhiên và cảm động vì chị không ngờ anh quan tâm và lo cho gia đinh trong lúc khó khăn nhất. Nếu không nhờ anh, có lẽ gia đình phải tốn nhiều tiền và thời gian mới được đến xứ tự do. Tuy vậy cũng còn sót vài người em ở xa không về Saigon kịp. Chị Cúc lại tốn kém rất nhiều hiện kim lo cho các em đến Hoa kỳ. Một mình chị gánh vác, xin giấy tờ, tìm trường cho các em cháu thời gian đầu khi Ba Má mới đinh cư Hoa kỳ. Chị là con đầu, chị Hai của các em mà. Chị nói mình làm tốt không mong đươc đền đáp nhưng bất ngờ đươc phước lành. Ba chị nếu kẹt trong nước có lẻ sẽ bị tù đến chục năm, Má chị làm sao nuôi nổi gần 10 đứa em

Chị làm việc nhiều giờ hơn, dũng cảm, không phàn nàn, cẩn thận hơn nhất là về tình cảm. Sau này chị kết hôn người khác, hạnh phúc, hơn 30 năm không 1 ngày chia cách cho đến khi anh mất. Giờ cha mẹ không còn, chồng qua đời, chị ở viện An dưỡng không một người đồng hương. Ngoài các cháu con của mấy người em, lâu lâu bạn bè đến thăm. Theo chị luật tạo hóa có hợp thì có tan, cuộc đời như phù vân. Có mấy ai mãi mãi giàu sang, hạnh phúc? Thôi thì cư xử tốt lành với nhau, sống trong trong yêu thương, tha thứ cho nhau, đừng làm điều gì tạo nghiệp, có hại cho người khác.

Theo chị nước Mỹ thật giàu có và nhân đạo. Chính phủ đã cấp học bổng cho rất nhiều học sinh ngoại quốc, đào tạo nhân tài cho thiên hạ. Lúc trẻ chị được hoc bổng mấy năm liền, không tốn tiền học phí và ăn ở. Có gia đinh Mỹ còn nhận nuôi sinh viên trong nhà. Đó là thời bình. Sau 1975 họ cưu mang gần cả triêu người, dạy nghề, cho đi học, giúp nơi chốn ăn ở cho họ buổi đầu. Riêng các em, cháu chị nếu không có sự trợ giúp chinh phủ Mỹ sẽ vất vả cực nhọc mới thành đạt như ngày nay. Hầu như mọi người đều tốt nghiệp Đại học và Hậu Đại học, nhà cao cửa rộng…

Chị nói vợ chồng là duyên số, còn bịnh tật, cô đơn là cái nghiệp mỗi người. Chi khuyên tôi giữ gin sức khỏe. Theo chị sức khoe quý nhất trên đời. Nhà cao cửa rông, tiền bạc rủng rỉnh, hoc cao bằng cấp nhiều nhưng đau ốm bệnh tật những thứ kể trên cũng chẳng giúp minh được vui vẻ hạnh phúc mà còn làm phiền người thân, con cháu. Tôi thấy cách chị nói giống người tu hành, quên hỏi chị theo tôn giáo nào mà lòng chị thanh thản bình an dù phải ngôi xe lăn, phát âm khó khăn tuy khỏi bệnh đã lâu.

Ngoài sân các loại hoa mùa Thu đang nở rộ đẹp rực rỡ. Trong nhà An dưỡng những quả bí màu vàng được xếp đặt mỹ thuật, khéo léo trên các bó rơm khô bên cạnh tên người nộm giống như cảnh đồng quê. Hình ảnh này làm tôi nhớ thôn quê Việt Nam vào mùa gặt. Ước ao mọi người có gia đình hạnh phúc, thân tâm an lạc, nông dân Viêt nam được mùa để “gánh thóc về, gánh thóc về” mỗi chiều như bài hát của nhạc sĩ lão thành Phạm Duy sáng tác năm nào…

Ngọc Hạnh

Friday, April 24, 2020

Tháng Tư Đen

Ngọc Hạnh

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Thành Phố Westminster, California.(Photo VB)

***
Mùa Đông lạnh lẽo đã qua, cây cỏ hồi sinh đâm chồi nảy lộc sau mấy tháng ngủ yên, trơ cành trụi lá.

Nắng sáng vàng tươi khắp đó đây phủ lên vạn vật, chim hót líu lo. Trên trời xanh vài đám mây trắng bay lửng lơ. Nhà nhà sân cỏ non xanh mướt, cắt tỉa gọn gàng xinh xắn. Hoa đỗ quyên tím, hồng, đỏ, trắng đang nở rộ, toàn là hoa, chẳng thấy lá, trông thật vui mắt…

Vân đi bộ trong xóm khá rộng và yên tịnh, ít xe, có lối đi dành riêng cho nguời đi bộ. Xóm này có vài gia đình Á Đông còn lại là người da trắng. Cô Cindy nhà đối diện là Mỹ trắng, tuổi trung niên gầy gò lúc nào cũng vội vàng. Sân nhà cô rộng ngoài mấy bụi đỗ quyên lâu đời dọc theo lối đi rực rỡ màu sắc, còn có cây dogwood đang ra hoa trắng kín hết các cành. Ong người Nhật xéo xéo nhà Vân có khu vườn cây cảnh nho nhỏ theo cách thức người Nhật trong nhà kiếng rất xinh.

Thật là:

Mùa Đông lạnh lẽo đến ngày tàn
Đàn chim vui hót đón Xuân sang
Cỏ hoa rực rỡ khoe hương sắc
Cây lá xanh tươi dưới nắng vàng

Tháng tư vùng Hoa Thịnh Đốn cỏ hoa, khí hậu tuyệt vời, cuộc sống vật chất đầy đủ tiện nghi làm Vân bùi ngùi nhớ lại tháng 4 hãi hùng, đau thương cách đây 45 năm, nhớ họ hàng bà con ở quê hương VN xa xôi mà Vân không có cơ hội găp lại.

Sau tháng 4 /75 nhiều gia đinh ly tán, trẻ con nheo nhóc, vợ trẻ xa chồng, mẹ già mòn mõi ngóng tin con. Nhiều người đang nhà cao cửa rộng phải đi ở nhờ ở đậu. Có người liều vượt biên, làm mồi cho cá nơi biển cả hay nạn nhân bọn cướp biển, phụ nữ bi hãm hiếp… Gia đình bạn Vân gồm 2 vợ chồng và 3 con vượt biên cùng 28 người họ hàng bị bão chìm tàu. Chỉ 8 người sống sót. Người bạn sống nhưng vợ và 3 con chìm trong lòng biển cả mênh mông. Nhắc mà đau lòng, xót xa cho cảnh chia ly tang tóc. Sau cuộc đổi đời vào tháng 4/ 1975, miền Nam trước kia sung túc lúa gạo dư thừa còn xuất cảng nước khác mà năm ấy một số dân Saigon phải ăn độn bo bo. Một hoc trò Vân cho biết sau khi cha em đi tù cải tạo ít lâu gia đình em “khoái ăn sang”. Sáng trước khi đi bán mẹ em chừa mấy củ khoai cho các con ăn sáng và ăn trưa. May mắn em có người anh du học từ trước bảo lãnh sang Hoa Kỳ và thành công nơi xứ người.

Thời gian đó gia đình quân nhân, công chức tinh thần căng thẳng, vật chất thiếu thốn vì chồng đi tù cải tao. Ong Xã yêu quý Vân nằm trong số những người tù này. Mấy năm sau anh đươc thả nhưng phải về thôn quê cư ngụ, không được ở thành phố. Cứ mỗi 2 tuần hay 1 tháng Vân đến phường xin phép đi về quê thăm anh xã. Từ Saigon xe đò về tỉnh nhỏ chật như nêm. Về đến tỉnh còn đi thêm ½ tiếng mới đến nhà anh Xã ở nhờ. Đường xa có khi xe bi hư nằm ụ, sửa xong xe cà rịch cà tàng tới tỉnh trời đã tối. Vân phải ngủ nhờ nhà bà con ngoài chợ, sáng hôm sau mới vào làng.Tình trạng kéo dài cả năm anh Xã mới được về Saigon tiếp tục dạy học.

Anh Xã có ý đinh vượt biên từ ngày mới ra khỏi trại tù, mặc kệ nguy hiểm như bị hải tặc, bão tố chìm tàu Phường khóm công an thường mang súng đến khám nhà vào lúc giữa đêm lúc mọi người ngon giấc.Họ đánh thức dây, gom cả nhà vào môt chỗ, bắt tất cả đứng yên để xét nhà. Ai bảo đảm anh Xã không bị tù lần nữa. Thôi thì liều tìm đường vượt biên. Đi hụt 2 lần, mất tiền nhưng may không bị bắt. Lúc anh Xã đi tù, bà Nội các cháu buồn và lo lắm. Tưởng là đi 10 ngày nhưng rồi đi biệt mấy năm mới về may mà còn sống.

Tình Bằng Hữu

Vân muốn đi nhưng không còn tiền. Có chút ít thì đã mất trong 2 lần vượt biên hụt. Xé lẻ để anh Xã và con trai đi trước anh Xã không đồng ý, đi cùng để rủi ro chìm tàu thì chết cả nhà cho gọn. Môt hôm người bạn anh Cả nghe tin anh Xã được về Saigon đến thăm. Trước anh chị có tiêm buôn. Khi cờ đỏ phất phới các công sở, anh chị hiến cửa tiệm cho nhà nước để mong sớm có giấy tờ đi nước ngoài do bà con bảo lãnh. Anh còn căn nhà 3 tầng nhưng đồ đạc lớp bán lớp cho nên cũng gần như trống trơn. Tuy thế cũng bị công an đến đuổi mọi người đi ra và tịch thu nhà, chỉ được mang theo cái túi sách nhỏ đưng quần áo. Anh chị đến ở nhờ nhà người thư ký cũ. Khi biết anh Xã và Vân muốn vượt biên chiều hôm ấy anh chị trở lại và mang vàng cho Vân mượn, đủ cho 2 cha con đóng tiền tàu. Anh khuyên anh Xã và con trai đi trước để trường hơp thất bại quay về còn nhà để ở. Nếu đi cùng một lúc công an sẽ tich thu nhà, rũi bị bắt trở về thì thành người vô gia cư. Vàng thì đến xứ tự do đi làm có tiền trả lại anh chị, bao giờ cũng được, nếu không có kể như quà tặng. Lòng hảo tâm của anh chị làm Vân thật sự cảm động .

Vài ngày sau có chủ tiệm vàng quen gia đình ở Mỹ Tho lên Saigon rủ anh Xã đi bán chánh thức, do nhà nước tổ chức nên không lo bị gạt. Ông bà sẽ ứng trước, đến nơi trả lại sau như là cất giùm vì ông bà không thể đem theo một số vàng lớn theo được. Anh Xã và Vân bằng lòng ngay và mời anh chi bạn đến nhà gởi trả lại số vàng đã mượn. Anh tặng anh Xã cái đồng hồ anh đang cất trong túi, phòng khi cơ nhở. Thật vậy, đến đảo Hải Nam, Vân bán đồng hồ ấy lấy tiền mua thêm mua thức ăn.

Vàng ròng trả lại, nghĩa nằm lòng,
Tay trắng không nhà vẫn hảo tâm.
Chẳng phải họ hàng là bạn hữu,
Miếng khi đói bằng gói khi no…

Vượt Biên

Cả nhà lên Biên Hòa từ đêm trước để sáng hôm sau xuống tàu rời quê hương. Gia đình ngủ trong ngôi nhà xưa nơi chuồng heo cũ tuy trải chiếu nhưng mùi phân heo còn nồng. Con trai 11 tuổi đòi về nhà. Cháu vừa đói vừa lạ chỗ không ngũ được. Lúc trưa đang ăn dở dang thì người dẫn mối đến gọi đi, phải bỏ ăn theo nhóm. Hành lý gọn nhẹ chuẩn bị sẵn sàng từ lâu. Trước khi đi Vân đưa các con đến thăm bà Nôi vì không biết bao giờ mới gặp lại. Các cháu quyến luyến không muốn rời Bà. Vân dặn trước các con không được khóc, không cho bà biết đi vượt biên. Nhìn bà nội tóc bạc phơ, thương lắm nhưng anh Xã quyết định rời quê hương. Năm 1975 gia đinh Vân có thể đi nước ngoài với mấy người bà con nhưng thương mẹ già yếu, anh Xã ở lại và bị đi tù.

Gia đình Vân đi bằng chiếc tàu sắt cũ lẻ ra chở 1200 người nhưng nhét hơn 1300 nhân mạng, chật cứng không còn lối đi.

Lên tàu gia đình nào may mắn đến trước được ở trên boong thì ngày nắng đêm lạnh. Tuy thế còn khá hơn người đến sau phải xuống dưới hầm rất ngột ngạt. Tàu chật như nêm không đủ chỗ nằm, gia đình phải thay nhau kẻ ngủ nằm, người ngủ ngồi. Thức ăn, nước uống hạn chế. Có người say sóng nôn mửa bẩn thỉu. Trẻ con, người già bị ốm. Có 1 người té xuống biển mất tich. Ban đêm, biển rộng biết đâu mà tìm. Vài ngày lại thấy tàu chạy vòng tròn, vòng tròn mấy vòng. Họ làm lễ “thủy táng”người chết, bà lão, em bé chết vì say sóng, bệnh tật… Đi vài hôm gặp sóng chủ tàu dùng phóng thanh cho biết phải vứt bớt hành lý nếu không tàu sẽ chìm. Nhân viên tàu sẽ đến từng gia đình nhặt bớt hành lý và vứt xuống biển. Vật dụng đem theo đã chọn thứ cần thiết gọn nhẹ nay phải vứt bớt đi, tiếc lắm nhưng phải chịu thôi.

Đảo HẢI NAM:

Theo lời hứa chủ tàu người Trung Hoa sẽ đưa người vượt biên đến Hong Kong

Mọi người không biết lúc ấy các trại ty nạn Hong Kong đã đầy nên họ không nhận thêm người ty nạn nữa. Tàu đến không được lên bờ và có thể bị kéo trở ra biển, chủ tàu bị bắt bi phạt. Tàu đi độ 1 tuần đến gần bờ đảo Hải Nam, nơi có nhiều san hô. Tối hôm ấy lúc thấy ánh đèn dân cư thấp thoáng trên đảo tàu đang chạy châm chậm bổng nghe tiếng động mạnh và ngừng hẳn lại. Mọi người ồn ào cho đến khi có tiếng loa trên cho biết tàu hỏng vì vương san hô và sẽ chìm, mọi người chuẩn bi hành lý gọn nhẹ để lên bờ …Thanh niên, nam giới tự bơi vào bờ, phụ nữ, trẻ em sẽ có thuyền ra đón…Hóa ra chủ tàu và gia đình đã mang tài sản xuống tàu nhỏ bỏ trốn vì đến Hong Kong họ sẽ bi bắt. Trước khi trốn có lẻ họ đã điện cho chánh quyền địa phương biết có chiếc tàu sắt bị nạn ở đia điểm…nên khi khi tàu bị kẹt ở san hô một lúc thì có chánh quyền địa phương đứng lố nhố trên bờ đèn đuốc sáng trưng.Trẻ em, phụ nữ một số vào bờ bằng thuyền cứu trợ, một số được thuyền đia phương đón. Hành lý một mớ đã vứt bớt từ mấy hôm trước giờ phải bỏ lại một mớ nữa…

Chiếc tàu sắt đươc kéo vào ụ tàu sửa cả tháng mới xong. Từ tàu sắt lên bờ chúng tôi được chính quyền Hải Nam cho tạm trú ở rừng dương sát bờ biển trong lúc chờ sửa tàu. Rừng dương liễu do nhà nước trồng chạy dài theo bờ biển cát trắng để ngăn bớt gió và cát cho cư dân trong xóm. Trong rừng dương mát mẻ, it nắng, gió. Mỗi gia đình được phát tấm nylon trải lên cát, dưới bóng cây, hằng ngày sắp hàng đến nơi phát thực phẩm lấy thức ăn cho cả nhà. Buổi sáng phát cháo, buổi chiều phát bánh bao toàn bột, không nhân.

Phía sau rừng dương đi chừng 10, 15 phút có nhà dân chúng, họ sống về nghề đánh cá. Gần bờ biển toàn đất cát, không trồng lúa và rau cải được nên gạo và rau rất quý và đắt. Nhiều gia đinh ăn cá thay cơm. Dân ty nạn đươc chánh quyền cho ăn cháo là quý rồi. Họ trồng được khoai lang tuy cũ nhỏ nhưng rất ngon.

Chúng tôi đi loanh quanh các xóm nhà dọc bờ biển thấy người ta nuôi heo, nuôi gà. Những con heo cỏ bụng ỏng, nhỏ con lâu lớn, những con gà nhiều màu nhưng bé nhỏ như gà tre... Loài gà và heo ấy từ lâu Việt Nam không ai nuôi chúng nữa. Người ta nuôi loại heo to con, chóng lớn, gà cũng vậy. Dân đảo Hải Nam thời bấy giờ nhà không có cửa. Họ uống nước mưa, không có nước máy.

Vì ăn cháo nên bà con đói. Ai có tiền hay quần áo vật dụng đem đổi hay bán lấy tiền mua thức ăn. Đồng hồ, bút máy, bút bi, quần jean đều đươc ưa thích. Họ đổi hay mua gạo, cá, khoai nhưng phải đi xa hơn khu đánh cá….

Thời gian này anh xã bán cái đồng hồ người bạn tặng trước khi lên đường để mua thức ăn. Trong lúc chờ sửa tàu người lớn lo lắng tới lui ban đại diện thăm hỏi tin tức, trẻ em vô tư đi tắm biển, nhặt san hô nên khỏe và đen thui lui.

Cả tháng sau tàu sửa xong. Mọi người lại dắt díu đi bộ gần cả tiếng ra nơi tàu đậu đi Hong Kong. Tàu ghé đảo LanTau (không nhớ ghé Lantau để làm gì) mấy hôm mới được vào Hong Kong. Thời kỳ ấy Lantau hoang sơ. Ngày nay nghe Lantau là khu nghỉ mát rất đep và đắt tiền. Một số chị em đã đến thăm nhưng Vân chưa bao giờ trở lại.

Trại Ty Nạn HONG KONG:

Gia đinh Vân ở trại ty nạn Hong kong 6 tháng trước khi đinh cư Hoa kỳ vì có người bảo trợ. Trại ty nạn gồm nhiều gian nhà rộng, không bàn ghế chi hết, chứa hơn trăm người mỗi nhà Mỗi gia đinh gom lại trong tấm nylon lớn trải trên nền xi măng. Ăn, ngủ cùng một chỗ mà thôi. Ban ngày người ty nạn có thể giúp văn phòng làm giấy cho người mới đến, học Anh văn, trò chuyên hay ra ngoài đi làm thợ vịn, đi phố nhưng không đươc ngủ trưa. Cảnh sát Hong kong vào trại thấy ai ngủ trưa là dùng roi đánh thức dậy hết. Đối với người vượt biên giam hảm cả tuần trên con tàu chật chội phải ngủ ngồi, Hông kong quá tốt. Người ty nạn ra vào trại thoải mái nhưng không được vắng măt ban đêm. Anh Xã yêu quý của Vân hàng ngày dạy Anh Văn cho trẻ em trong trại, điền đơn, thông dịch cho bà con kém Anh ngữ.

Định Cư HOA KỲ:

Gia đình Vân đến Hoa kỳ vào mùa Đông lạnh lẽo với tay trắng và tiền nợ vượt biên. Virginia lúc ấy rất lạnh, tuyết trắng đọng trên mái nhà, sân cỏ. Người đi đón măc áo khoác dày, đội mủ che kín mang tai. Đường vắng, trời lạnh nhưng tình nồng. Vân ở chung với vợ chồng nguời bảo trợ cho đến khi có việc làm mới dọn ra riêng. Anh Xã và Vân đi làm lu bù để trả món nợ ân tình. Các con Vân chăm học và hiếu thảo Có lẻ các cháu thấy được đến Hoa kỳ là thật sư may mắn so với cả ngàn người khác. Mỗi năm đến tháng tư Vân nhớ lòng tốt anh chi bạn năm xưa và sự hảo tâm người bảo trợ, cho đi mà không cần nhận lại…” Nợ tiền trả hết, nghĩa cũ còn mang “ Những người cùng vượt biên với Vân ai cũng ổn đinh và sống rải rác các tiểu bang Hoa kỳ, nhiều nhất là Cali.

Tóm lại với Vân nước Mỹ thật vĩ đại, tuyệt vời, nhất là tình người và an sinh xã hội. Người ty nạn buổi đầu được đi học miễn phí. Người già yếu bệnh tật sở xã hội mướn người chăm nuôi, ốm đau đi bệnh viện không mất tiền. Các phụ nữ độc thân, nghèo có con mọn được chánh phủ cho tiền nuôi con và gửi trẻ để người Mẹ trẻ tiếp tục đến trường học nghề, học chữ... Giáo chức Mỹ ân cân, tân tâm. Vân chưa thấy người Mỹ nào làm việc bôi bác, dối trá dù là người lao động như thợ điện, thợ sửa ống nước ... Nước Mỹ là thiên đường, mùa Xuân của những ai hiếu học, cầu tiến.

Vân chân thành cám ơn chánh phủ và người Hoa kỳ giàu lòng nhân áí,mở rộng vòng tay cưu mang giúp đỡ đồng bào Việt Nam lúc khó khăn nhất có nơi nương tựa, có cơ hội vươn lên làm lại cuộc đời, sống an lành, vui vẻ nơi xứ tự do đất lành chim đậu.

Ước mong rất nhiều và cầu chúc con em người Việt ty nạn học thật giỏi để tương lai tốt đẹp, góp phần xây dựng đất nước Hoa Kỳ và quê hương VN. Xin chúc đồng bào hải ngoại và quê nhà có công việc làm ăn tử tế, ấm no, hạnh phúc...

Mặt trời từ từ lên cao, nắng ấm reo vui. Gió ban mai nhẹ nhàng ve vuốt những bụi hoa tươi thắm, các cành lá xanh non mươt mà… Vân có mấy câu văn vần xin tặng quý độc giả:

Mùa Xuân xin chúc đồng bào ta,
Bà con bạn hữu gần cùng xa.
Dồi dào sức khỏe, tâm an lạc,
Dâu rể, cháu con luôn thuận hòa.
Các em cư ngụ xứ Cờ Hoa,
Đất nước văn minh cùng vị tha.
Cầu chúc các em học thật giỏi,
Vui lòng cha mẹ và ông bà.

Virginia, Mùa Xuân

Friday, February 28, 2020

Vợ Tù Cải Tạo



Ngọc Hạnh

***
Năm nay vùng thủ đô Hoa Kỳ ít tuyết hơn mọi năm. Đã tháng giêng nhưng chỉ có 2 trận tuyết nhỏ. Trời trong, mây xanh, nắng vàng phủ lên vạn vật dù vẫn lạnh tái tê. Cũng có đôi ngày “mây xám phủ ngang lưng trời” nhưng phần lớn là nắng rực rỡ trái với Luân đôn, Anh quốc mùa Đông nhiều sương mù, bầu trời xám xịt, u ám.

Môt hôm các chi bạn thấy trời đẹp rủ tôi đi mua hàng giảm giá. Sau ngày Thanksgiving các thương xá mắc tiền hay bình dân đều có hàng hóa bán giảm giá có khi hơn 50%. Chị bạn còn tỉ tê là có tiệm buôn lớn trong thương xá đóng cửa nên có nhiều hàng đẹp bán giá hạ. Thật ra tôi chỉ muốn xem các tiêm buôn và thương xá trang hoàng cho ngày lễ lớn xinh đẹp ra sao mà thôi.

Khoảng 10 giờ sáng các chị em đến nơi thấy bãi đậu đã đầy xe, có nhân viên an ninh đứng chỉ đường. Khu nào đầy họ không cho xe vào nữa. Đậu xe chờ khoảng 10 phút sau có xe lui ra về, chúng tôi vào thế chỗ tức thì. Năm nào cũng vậy, khi tiệm buôn bán giảm giá các hàng hóa nhất là hàng điện tử, computer, TV, điên thoại di động... là bãi dậu xe đầy kín nhất là ngày thứ sáu sau ngày lễ Tạ Ơn (Blach Friday). Dù trời lạnh lẽo khách vẫn đến sắp hàng ngoài cửa từ 4, 5 giờ sáng dù 8 giờ tiệm mới mở cửa. Ai cũng sợ đến muộn hết hàng vì tiệm buôn chỉ bán ra một số nhất đinh. Có khi một món hàng tiết kiêm được mấy trăm mỹ kim. Quần áo khách hàng không tha thiết lắm vì thường được bán hạ giá vào các dip lễ.

Năm nay khách trong thương xá có vẻ đông hơn mọi năm, kẻ ra người vào tấp nập như ngày hội, trong tiệm như ngoài hành lang. Có thể do các cô câu sinh viên nghỉ lễ, các bà mẹ cũng được nghỉ nên đi mua sắm làm thương xá thêm đông người đi lại, vui vẻ rộn ràng. Các tiêm buôn rực rỡ ánh đèn và các trang trí xinh đẹp, bắt mắt …

Khi đi thương xá với các bạn tôi chơt nhớ Lan, người bạn trẻ làm chung một sở với tôi trước kia.

Lan còn ba má đã già và các em ở tỉnh nhỏ quê nhà nên hầu như mỗi năm hay mỗi 2 năm chị cố gắng thu xếp công việc về thăm ba mẹ và các em. Chị chuẩn bị mua quà từ 5, 7 tháng trước khi về Việt Nam. Lan bảo con cháu thôn quê thấy thương lắm. Chúng chưa từng thấy chocolat nội địa nói chi là kẹo ngoại quốc nên được thỏi kẹo Mỹ chúng ăn nhín nhín từ chút một, để dành thưởng thức từ từ. Một cái áo thun ngoại quốc ngoài ước mơ nên khi có được chúng rất vui. Vì thế dù tốn kém và nặng nề chị cũng ky cóp mua quà mỗi khi có giá hạ. Lan cho biết Việt Nam các thành phố lớn nhà cao cửa rộng rất khang trang xinh đẹp nhưng thôn quê vẫn có gia đình gặp khó khăn, trẻ con bỏ học sớm vì không có tiền đóng học phí …Không những mua quà cho em cháu Lan còn mua quà bạn bè thân thiết từng chia sẻ ngọt bùi trong thời kỳ khó khăn, hoạn nạn những năm sau 1975. Chị kể lần nào chị về cũng phải trả thêm tiền hành lý vì nặng hơn quy đinh của hảng máy bay. Người chồng tuy thương vợ mang hành lý nặng nề nhưng lâu lâu mới về cùng vợ vì còn phải “đi cày” trả nợ áo cơm.

Gia đình Lan định cư Hoa Kỳ muộn màng theo diện H.O, phải làm lại từ đầu trong khi các bạn cựu tù đi trước đời sống đã ổn định. Mỗi người mỗi phận, than thở có ích lợi gì. Lan tự an ủi là tuy muộn nhưng được đi phi cơ an toàn trong khi có người vượt biên leo núi lội rừng chết mất xác vì đói lạnh hay làm mồi cho thú dữ hoặc vùi thân trong biển cả, gặp hải tặc cướp của giết người…

Chồng Lan sĩ quan VNCH bị tù cải tạo hơn 10 năm, lúc đầu ở tù trong Nam sau chuyển ra miền Bắc. Cưới nhau mấy tháng, Lan có mang thì đổi đời, chồng bị tù. Lan có chút vốn và tiền bà con mừng cưới thì 2 đợt đổi tiền, Lan gần như trắng tay. Lương bị điều chỉnh ít đi chỉ đủ chi tiêu tiên tặn trong gia đình. Lan cố gắng dành dụm để khi vào nhà sanh và nuôi chồng bị tù không biết ngày nào về.

Lan thăm chồng lần đầu khi anh còn ở trại cải tạo trong Nam, tuy cũng vất vả nhưng chẳng thấm vào đâu so với lúc thăm anh ở miền Bắc xa xôi. Lúc anh bị chuyển trại ra Bắc, cả ½ năm sau Lan mới được thư cho phép thăm nuôi. Đến phường khóm xin giấy đi đường xong mua vé xe lửa ra Bắc. Mất cả ngày. Đến nơi phải đi xe thồ vào khu vực có trại giam. Nơi đây có mấy gian nhà cất tạm của người làm rừng, trống trước trống sau, gió lùa lồng lộng. Lan và nhóm người đi thăm chồng xin ngụ qua đêm vì đã muộn, quá giờ thăm nuôi. Hôm sau đến cổng trình giấy tờ và chờ cho tới lúc gặp chồng cũng mất 30 phút. Trò chuyện khoảng hơn 3 tiêng là hết giờ…. Các bà vợ tù lại cùng nhau lủi thủi đón xe thồ ra đường cái, xong lại đón xe ra trạm xe lửa vào Nam. Có lần dẫn con đi thăm bố, lúc con gái Lan được 6 tuổi, đến nơi cháu bị nóng sốt Lan lo quá, may có bà bác sĩ cùng đi thăm chồng có mang thuốc theo. Từ đó về sau Lan khi thăm anh Xã, Lan gởi con cho ngoại, không dẫn đi nữa. Những việc này đã xảy ra hơn 20 năm nhưng khi nhớ lại Lan vẫn còn hãi hùng như cơn ác mộng, phục mình và các bà vợ tù quá, đã vượt qua khó khăn, cám dổ để nuôi con thơ và chờ chồng…

Có lần thấy Lan đi thăm nuôi vất vả anh Xã bảo Lan đừng thăm nuôi anh nữa, hãy theo chị anh đi kinh tế mới và lao động cho tốt ( Chị anh đinh cư Hoa Kỳ…) nhưng Lan không đành lòng, phần sợ nguy hiểm nơi biển cả, mưa bảo, hải tặc, phần con còn nhỏ nên quyết định chờ anh ra tù đi cùng. Lan không ngờ anh bị tù lâu như vậy vì lúc đầu cả nhà yên trí anh đi học tập 3 tháng rồi về. Lúc anh đi tập trung con còn trong bụng mẹ, nay con học Tiểu học bố vẫn chưa về…

Về sau lúc các cựu tù nhân cải tạo rầm rộ xuất ngoại theo chương trình HO, chồng Lan vẫn biệt tăm, lao động” đốn tre đẳng gỗ trên ngàn “chẳng biết có khỏe hay gầy ốm bệnh tật như lần thăm nuôi năm nào thì làm sao đủ sức đốn cây vác gỗ…

Sau cùng chồng Lan cũng được tha về với thân thể gầy gò xanh xao ... Hai vợ chồng tới lui phường khóm nhiều lần, bổ túc các giấy tờ như quy đinh. Anh hiền khô, chẳng nhắc nhở chi những năm bị tù cực khổ ra sao. Lúc vơ chồng Lan đến Mỹ, người bảo trợ tốt bụng cho tạm trú thời gian ngắn, đưa đi làm giấy tờ, tìm trường cho con gái Lan học, đưa chồng Lan thi lấy bằng lái xe...Vợ chồng Lan đi làm bán thời gian lúc đầu. Lan học trường Cộng đồng địa phương trước khi học ngành chuyên môn. Con gái có xe nhà trường đưa đón. Dĩ nhiên hai người cũng có những khó khăn lúc đầu như trở ngại sinh ngữ, văn hóa... Hai vợ chồng được nhà thờ, các bạn tù đi trước thăm viếng, nâng đở tinh thần, và đôi khi vật chất…

Chồng Lan ra khỏi tù Lan mừng như trúng số vì có người vợ lặn lội ra Bắc thăm chồng thì chồng đã qua đời 1 tuần trước đó sau nhiều ngày đau ốm. Đọc hồi ký “Bốc Mộ Chồng” của chị ấy mà rơi nước mắt. Còn Lan tuy vợ chồng hơn 10 năm mới được chung sống nhưng chị vẫn cho là may mắn hơn các tù nhân khác còn bị giam giữ trong rừng sâu. Đoàn tụ gia đình là niềm vui nhưng đinh cư Hoa kỳ mới thật như người được lên thiên đàng, Lan tâm sự. Đến Mỹ không phải xin phép ai nếu đi từ tiểu bang này đến tiểu bang khác, khỏi họp tổ dân phố hàng tuần, được ăn uống no đủ, không phải lao đông nặng nhọc và bị cái rét khủng khiếp của núi rừng hành hạ. Ban đêm không ai đến xét nhà thình lình và chồng khỏi phải trình diện công an hàng tuần hay hàng tháng. Gia đình Lan đi học miễn phí và còn được trợ cấp lúc đầu cho đến khi có lợi tức nhất định.

Lúc đầu hai vợ chồng dành dụm mua chiếc xe cũ làm phương tiện di chuyển, đưa đón vợ đi làm, con đi học ngoại khóa. Nhờ chăm chỉ, chiu khó con gái Lan 14 tuổi chuyện trò Anh Ngữ trôi chảy, làm thu ngân viên cho tiệm bán thức ăn nhanh gần nhà những ngày cuối tuần.

Sau thời gian đi học 2 vợ chồng tốt nghiêp, có việc làm lương tốt. Lan đã mua nhà, mua xe, mỗi người một chiếc. Lan tham gia các sinh hoạt công đồng và lái xe xa lộ ngon lành. Những ngày nghỉ bà con cần phương tiện di chuyển, 2 vơ chồng sẵn sàng đưa đón nhất là với các cụ cao niên.

Khi đến Hoa Kỳ it lâu, Lan sinh thêm cháu gái. Cô bé khỏe mạnh chóng lớn, hoạt bát, là học trò giỏi trong những năm Trung Học. Thời gian qua nhanh nay cháu là sinh viên y khoa năm thứ II. Nhìn ảnh 2 vợ chồng Lan tươi cười trong buổi lễ khoác “Áo Trắng” của cháu mà mừng cho Lan và cho công đồng người Việt. Nếu con em người tị nạn đều có tương lai tốt đẹp, thành đạt thì quý biêt bao nhưng mỗi người cảnh, ai chẳng mong ước có đời sống an lành.

Con gái nhỏ Lan từ khi còn ở Tiểu học đã mơ ước làm bác sĩ. Lan hỏi tại sao? Cô bé trả lời tỉnh queo” để giúp người: to help people” Có lẻ cô được mẹ kể lại chị cô suýt chêt trong rừng khi thăm bố cô. Cô đã theo đoàn Y Tế thiện nguyện về Viêt Nam giúp đồng nghèo bệnh tật từ năm thứ 1. Con gái lớn Lan đã có gia đình, Lan có 2 cháu ngoại khôi ngô không nhỏ tuổi hơn dì Út là bao, một trong 2 cháu có khiếu về âm nhạc.

Hai vơ chồng Lan không ngại khó, chăm chỉ làm việc, có khi làm thêm giờ phụ trội để đóng tiền trường cho con gái và giúp bà con còn khó khăn nơi quê nhà. Học phí trường Y khá mắc. Lan và chồng rất vui khi giúp được ai điều gì.

Nay sau hơn 40 năm đổi đời, quý vị cựu tù cải tạo và quý vị quân nhân có người tuổi đã cao. Ai may mắn đinh cư các nước tư do sớm đời sống ổn đinh, con, cháu trưởng thành. Tôi xin chúc sức khỏe quý vị ấy và cầu mong các bạn trẻ trong nước và hải ngoại có nghề nghiệp vững vàng, có kiến thức, có gia đình tốt đẹp, thành công trong mọi việc. Xin vinh danh quý bà vợ tù chịu khó nuôi con nuôi chồng trong thời kỳ khó khăn. Xin chúc người Việt khắp nơi được an vui hạnh phúc. Xin cám ơn nước Mỹ, người Mỹ đã giúp người ty nạn có cuộc sống an bình tốt đẹp.

Ngoài trời nắng vẫn đẹp. Nơi sân sau còn chút ít cỏ xanh nhưng cây đã trụi lá. Nhìn nai mẹ ngơ ngác, rón rén dẫn con tìm thức ăn dù trời lạnh lẽo mà thương các bà mẹ vô cùng, nhất là quý bà vợ tù cải tạo… 

Ngọc Hạnh

Monday, November 25, 2019

Thăm Viếng Bắc Mỹ Và Canada

Ngọc Hạnh 

Hình ảnh của Pham Xuân Thái 

Hình ảnh của Pham Xuân Thái 

Hình ảnh của Pham Xuân Thái 

Vào sáng sớm ngày đầu Thu khi sương còn đọng trên ngọn cỏ lá cây con gái đưa tôi đến Eden Center, Virginia để viếng Bắc Mỹ và Canada. Xe rời bến lúc 7giờ nhưng ban tổ chức yêu cầu có mặt lúc 6g30. Hôm ấy trời hơi lạnh nên các anh chị mặc áo khoác nhẹ, có người đội mũ. Con gái cẩn thận nhét đôi bao tay vào túi áo khoác tôi vì” biết đâu có lúc cần đến “. Xe bus dài ngoằn đến và khởi hành đúng giờ, đi về hướng Maryland đón nhóm du khách đang chờ ở New Fortune Restaurant, Maryland.

Trên xe ngoài hướng dẫn viên và tài xế, cả hai còn trẻ, có 3 vị trong ban tổ chức, 4 trưởng nhóm. Bốn người mỗi vị chịu trách nhiệm trông nom, nhắc nhở các thành viên nhóm mình gồm 12 người, để không ai bi lạc, về muộn làm phiền cả nhóm chờ đợi. Nhóm có 48 người tất cả. Có lẻ quý độc giả cho ban tổ chức quá cẩn thận. Thật ra thỉnh thoảng vẫn có du khách bị đi lạc, không tìm ra nhóm hay xe bus của mình. Sáng kiến chia ra từng nhóm nhỏ rất hữu ích với đoàn du khách có nhiều vị cao niên. Ba người trong ban tổ chức gồm quý ông Đinh hùng Cường, Vũ an Thanh, Phạm xuân Thái là những người ân cần, hoạt bát, quen biết nhiều trong cộng đồng. Riêng ông Thanh “ Trưởng ban Văn Nghệ” sẽ giúp cho cuộc hành trình thêm vui tươi, thú vị, quên đi đoạn đường dài với các ca sĩ tài tử, hát cho vui, các vị kể chuyện tiếu lâm, khôi hài làm cho người nghe cười vui... Ban tổ chức nhân mùa Thu mát mẻ đứng ra “vác ngà voi”, tổ chức cuộc du ngoạn cho thân hữu, bạn bè quen biết đi viếng quốc gia lân cận xem thác nuớc, lá vàng, phong cảnh các thành phố nổi tiếng, các kiến trúc xinh đẹp… Các thân hữu lại mời thêm bạn bè của mình nên số nguời tham dự lên đến 46 người…

Trưởng nhóm tình nguyện làm bảng tên cho mổi du khách để dễ dàng nhận ra nhau buổi đầu,người mang theo nơ lụa màu sắc khác nhau : vàng , tím, xanh… để buộc vào hành lý và chỗ ngồi du khách. Trưởng nhóm sẽ bắt thăm chọn chỗ ngồi ngày đầu tiên và sau đó tuần tự thay đổi, không nhóm nào ngồi mãi ở đầu hay cuối xe. Vào khách sạn check in các trưởng nhóm sẽ nhận chìa khóa phòng và trao lại cho thành viên. Nhóm 1 đi trước kế đến nhóm 2… Vào nhà hàng cũng thế nên tránh được ồn ào, mất trật tự. Trên xe toàn người Việt nên cách vài tiếng xe ghé vào rest area cho khách giải lao, rửa tay rửa mặt xong lên đường đi tiếp. Các đoạn đường dài ông trưởng ban văn nghệ mời các ca sĩ hát giúp vui. Có khi cả xe cùng hát trừ tài xế và hướng dẫn viên. Ông phát mổi 2 người môt phong bì to có 12 bài hát xưa hầu như ai cũng biết từ thời Tiểu Học như bài Khỏe Vì Nước, Bạch Đằng Giang…

Bài hát “Nhà Viêt Nam “của cụ Thẩm Oánh có những câu:

Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông
Bốn ngàn năm đó văn hóa xây đắp bao kỳ công…

Nghe mà thương nước VN biết bao. Ước chi trẻ em Việt Nam được dạy những bài hát xưa để biết Hưng đạo vương,hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là ai thì thật quý lắm .

NIAGARA FALLS, New York Thác Niagara là môt trong 10 thác lớn và đẹp trên thế giới, nhỏ hơn Iguazu Falls ở Brasil và Victoria Falls ở Phi Châu. Thác Niagara không cao nhưng rộng, nằm ở tiểu bang Nữu Ươc Hoa kỳ và tỉnh Ontario, Canada.

Chúng tôi thăm Thác Niagara phía Hoa Kỳ trước. Từ Falls Church, Virginia đến thác Niagara cách nhau 400 dặm. Xe đi ngang tiểu bang Pennsylvania. Hai bên đường đi phần lớn đồi núi chập chùng, rừng cây xanh um, lá chưa đổi màu. Cảnh đẹp như tranh. Thỉnh thỏang xe chạy qua thửa ruộng bằng phẳng, cỏ úa vàng có lẻ mùa thu hoạch đã xong. Xe chạy đến Niagara Falls State Park ngừng lại, du khách xuống đi bộ ra bờ sông xem thác nước. Cảnh thiên nhiên đẹp ơi là đẹp. Cả vùng bao la nước trắng xóa, ào ào chảy từ trên cao xuống thấp không ngừng nghỉ. Thiên hạ đứng xem, chup ảnh đủ quốc tich: da đen, da vàng, da trắng, người Ấn, người Tàu … Họ chụp cá nhân, vài người chụp chung hay nguyên cả nhóm đông đúc. Có nhóm còn đứng trong công viên xinh xinh chụp ảnh.

Công viên nhiều cây to bóng mát, lối đi sạch sẽ, cỏ được chăm sóc xanh tươi. Cạnh công viên có ngôi nhà to bán nhiều quà lưu niệm: áo T shirt, nón, áo ấm, áo mưa, rượu Canada, kẹo bánh, máy ảnh…

Thác Niagara nằm ở sông Niagara gồm 3 thác: America Falls, Bridal Weil Falls hoàn toàn thuộc phía Hoa kỳ.Thác Horseshoe lớn nhất, nằm ở biên giới Hoa kỳ và Canada. Đứng ở Niagara Falls State Park cũng có thể nhìn thấy thác nước. Hai bên bờ sông là cao ốc, thấy cả tháp Skylon cao nghều bên Canada.

Được biết thác Niagara là một trong các nơi hấp dẫn du khách, hàng năm có cả triệu người thăm viếng ( có tài liệu ghi 10 triệu?). Nơi đây có khách sạn, nhà hàng ăn uống, nơi đánh bạc tuy nhiên vẫn kém đông đúc so với bên kia bờ sông phía Canada.

Niagara Falls, Canada

Sáng sớm hôm sau cả đoàn du lich lên xe viếng thác Niagara phía Canada. Xe rời khách sạn đúng giờ. Hai bên đường xe chạy có nơi lá cây bắt đầu đổi màu. Mọi người xuống xe trình passport khi qua biên giới. Chỉ cầm thẻ thông hành mà thôi, các vật dụng khác để lại trên xe. Hướng dẫn viên nhắc nhở ai còn trái cây nên thanh toán cho hết, còn lại thì cho vào…thùng rác vì Canada cấm mang trái cây vào nuớc họ. Cả nhóm qua trạm kiểm soát nhanh chóng và được khen là có trật tự, không ồn ào như những nhóm người Á Châu khác.

MAID of The Mist 

Du khách phía Niagara Canada nhiều lắm. Có tài liệu ghi khoảng 30 triệu người thăm viếng hằng năm. Thác Horseshoe lớn nhất, cao khoảng 53 mét, rộng 792m, nước chảy ầm ầm, liên tục và tôi chơt nhớ người xưa so sánh sức tiến của đoàn quân tinh nhuệ nhanh và hùng mạnh như “thác đổ”?

Cao ốc, phố phường phía Canada có vẻ phồn thinh hơn bên Hoa Kỳ. Nhóm du khách chúng tôi sắp hàng tuần tự xuống tàu đi trên sông Niagara để đến gần các thác nước hơn. Vé tàu tour guide mua cho mọi người. Nơi soát vé phát cho mỗi người cái áo mưa màu xanh, có mũ trùm đầu. Cầu tàu có 2 lối đi, 1 cho người xuống tàu, một cho người từ tàu trở lên bờ. Lối đi nào cũng đầy người. Tàu chứa vài trăm du khách, lớp ở trong tàu, lớp trên sân thượng . Dù mặc áo poncho nhưng trên sân thương hay trong tàu đều bị ướt, nhiều hay ít mà thôi. Càng gần thác nước, gió càng mạnh. Bụi nước tung tóe khắp nơi làm mọi người, sàn tàu cũng bị ướt chút it. Tuy thế phần lớn có vẻ thích thú trước cảnh đẹp hùng vĩ và mầu nhiêm của tạo hóa, dữ dội, ngang tàng nhưng hữu ích. Lượng nước đổ xuống mỗi phút hàng ngàn thước khối liên tục , không ngừng nghỉ dù mùa đông hay mùa hay mùa hè. Tuy hùng hổ, dữ dội nhưng thác Niagara là nguồn cung cấp thủy điên cho thành phố.

Sau khi đi một vòng gần bên các thác nước,tàu trở về bến cũ. Mọi người lên bờ vào nhà sau khi vứt bỏ poncho vào mấy thùng rác to nơi c cầu tàu. Nơi đây có nhà bán quà lưu niệm khá đông khách. Một số khách bận rộn chọn quà lưu niệm, một số anh chị tiếp tục ghi cảnh đẹp vào máy ảnh. Mấy khi có dịp trở lại nơi này.

Skylon Tower:

Xe đưa chúng tôi đến nhà bán vé viếng tháp Skylon. Khu vực này rộng rãi và nhôn nhịp, đông người đi lại. Có nhà hàng ăn uống, nơi giải khát, bán cà phê bánh ngọt,có người chụp ảnh chuyên nghiệp cho du khách. Nhà bán quà lưu niêm bán rất nhiều hàng hóa và có cả… casino. Người sắp hàng lên tháp cũng đông. Tháp cao 160 mét tính từ mặt đường, khởi công tháng 5 /1964, hoàn thành tháng 10/1965 , tốn 7 triệu mỹ kim. Tuy cao nhưng từ mặt đất lên đỉnh chỉ mất 52 giây. Thang máy có một mặt toàn là kiếng, có thể nhìn bên ngoài khi thang máy lên xuống. Đỉnh hình tròn. Đứng nơi đây du khách nhìn bao quát cả 3 thác nước, dòng sông Niagara và thành phố bên dưới qua lớp kính dày. 

Bên trong đỉnh tháp có nơi bán quà lưu niệm, các loại rượu to bé, bánh kẹo, các loại nước giải khát, quần áo mùa đông, mùa hè, khăn quàng nam nữ, kính mát…Tuy không lớn bằng các cửa hàng dưới đất cũng đông khách. Nếu chưa đến giờ tập trung cô bạn tôi có lẻ còn mua thêm một mớ nữa. Trong số khách trên xe có người mới viếng Canada lần đầu, có người đi lần thứ hai hay thứ ba. Họ trở lại thăm viếng thác Niagara do cảnh đẹp thiên nhiên hay bị tiếng thác đổ ầm ì quyến rũ?

TORONTO, Canada:

Chúng tôi lên xe đi thăm Toronto. Từ thác Niagara đến Toronto cách nhau 83 dặm.Đây là một trong những thành phố đông dân ở Canada. Xe ngừng cho khách xuống City Hall, nơi có vòi nước phun và bồn nứơc rộng. Chữ TORONTO to tướng, ngạo nghễ ở quảng trường như chào đón du khách phương xa. Quảng trường Toronto rộng nhất nước và hầu như du khách đến đây đều chụp ảnh kỹ niệm. Trẻ em chỉ nhìn các vòi nước phun lên cao và rơi trở lại mặt hồ. Quảng trường cũng là nơi trình diễn các bộ môn nghệ thuật, ca hát, triển lãm tranh ảnh. Mùa đông hồ nước đóng băng sẽ là nơi trượt băng lý tưởng?

Con đường trước mặt và sau lưng hồ nước toàn cao ốc, kiến trúc kiểu cọ, cao nghều nhìn mỏi cổ. Có hai cao ốc kiến trúc đăc biệt hơn các cao ốc khác, có dáng cong cong như hình bán nguyệt hay hai bàn tay để đứng và khum khum như sắp chắp lại. Tôi cũng thấy tháp CN ( Canadian National Tower ) xa xa, biểu tuợng Toronto. Chị bạn tôi người đia phương cho biết tháp xây năm 1976, cao nhất thế giới thời bấy giờ.

Chúng tôi cùng nhau sang bên kia đường, nơi có các tiệm buôn, đi dọc theo vỉa hè rộng rãi, thấy nhà thờ xưa nhưng lớn và đẹp.Thỉnh thoảng có xe bán kem hay hot dog hoặc bán T- shirt, kiếng mát…ở vệ đường giống các xe ở bán hàng ở lề đường Washington, DC. Hôm ấy gần 80 độ F nên xe kem đắt hàng, trẻ con người lớn sắp hàng chờ đến lượt mình.

Tour guide cho chúng tôi đến khu China Town, nơi có nhiều nhà hàng ăn uống, tiệm buôn Trung Hoa. Họ bày hàng hóa ra cả lề đường, bán nhiều loại trái cây Viêt Nam: nhãn, chôm chôm, trái na…Mỗi chị mua môt ít trái cây để nhớ hương vị trái cây quê nhà…

Thưa quý vị đây là lần thứ hai tôi trở lại Toronto nhưng đia điểm thăm viếng không giống nhau. Lần trước chi Sơn, bạn học nhà tôi cho đi viếng Underground of Business District dài từ Union Station đến City Hall, gần 2 cây số. Khu phố “DƯỚI MĂT ĐẤT” cũng có các cửa hiêu bày biên sáng sủa bắt mắt, ngân hàng, nhà hàng ăn uống... Người đi lại ăn mặc lịch sự, đường đi rộng rãi và mát mẻ “không nóng nưc và chen chúc”.Chúng tôi cũng được chị đưa đi ăn tỉm sấm, mua vé cho đi xem Toronto Island làm tôi càng nhớ quê hương, vịnh Ha Long.

Theo tôi chuyến đi viếng thăm Canada thật vui. Ban tổ chức ân cần,bạn bè biết nhau và thân tình hơn. Quý anh trưởng nhóm Cường, Thanh, Sang,Thảo còn tặng cho đoàn các chuyện vui, bài thơ, bài hát dù không có nhạc…Ngày mai chúng tôi sẽ viếng Ngàn Đảo (Thousand Islands) và sau đó Montreal, Canada…

Thưa quý vị tôi nhớ đến đâu ghi đến đó, có thể không đầy đủ .Tóm lại Toronto sạch sẽ, văn minh, trù phú, nhiều kiến trúc đẹp, xứ lạnh tình nồng. Tuy nhiên tôi vẫn thích và cám ơn xứ Hoa kỳ, quốc gia giàu lòng nhân ái, tôn trọng nhân phẩm, đã cưu mang, giúp đỡ gia đình và đồng bào tôi 40 năm qua, tạo cơ hội, điều kiện dễ dàng cho mọi người đến trường học chữ, học nghề, tìm việc làm cho người Việt khi mới đinh cư ... Cầu mong quê hương Việt Nam mến yêu cũng giàu, đẹp và trật tự, sạch sẽ như xứ người

Hôm nay ngày thứ 3 trong cuộc hành trình 6 ngày. Chúng tôi rời khách sạn lên xe bus để viếng Ngàn Đảo. Nếu đi sớm (5g30-6giờ) được dùng điểm tâm trên tàu do tour guide đài thọ nhưng chẳng ai muốn thức sớm nên hướng dẫn viên cho điểm tâm ở... Mc Donald trên đường đi đến bến tàu. 

Xe rời khách sạn 7g30. Có lẽ hướng dẫn viên đặt trước nên khi đến Mc Donald chúng tôi không phải chờ lâu. Sau điểm tâm ai dùng cà phê nước ngọt tùy ý. Các trưởng đoàn lấy thức ăn cho nhóm mình. Nhân viên bận tíu tít may mà đủ chỗ ngồi cho cả đoàn.

Nơi bến tàu viếng Ngàn Đảo (Thousand Islands) có mấy tàu khác dưới bến. Tầng dưới của tàu bày biện như nhà hàng nhỏ, có bàn ghế cho thực khách. Phần lớn du khách ra ngoài sau đuôi hay ở đầu tàu, để nhìn và chụp hình cho dễ. 

Tàu chạy chậm chậm trên dòng sông Saint Lawrence nước xanh hiền hòa, mặt nước phẳng lặng. Nhiều đảo lớn nhỏ nhô lên trên mặt nước. Trên đảo có nhà to và đẹp như biệt thự, có nhà chứa thuyền tàu sơn mầu mè xanh đỏ vui mắt hơn các nhà xe trên đất liền. Cây xanh, nước xanh thật là thơ mông hữu tình. Một số nhà khác nho nhỏ ở gần gần nhà to. Có đảo chỉ có một cái nhà độc nhất giữa cây xanh và nước chung quanh. Nhà to thì có cầu tàu và vài tàu nhỏ dưới bến. Theo tôi nghĩ nơi đây là nhà nghỉ mát của nhà giàu, không thể là nơi định cư vĩnh viễn cho gia đình vì trẻ con phải đi học và cần giao du bạn. cùng trường cùng lớp. Lúc cả khi gia đinh chủ nhân về đất liền, người quản gia ở lại có thể chán lắm vì chỉ có nước và cỏ cây, hàng xóm xa xôi. Nhà trên bờ sông to và rất đẹp, có cầu tàu, thuyền tàu nhỏ vài chiếc dưới bến. Tôi liên tưởng mấy nhà giàu thôn quê miền Tây Việt Nam ngày xưa. Nhà giàu, nhà lớn thường có ghe hầu mui sơn màu xanh hay màu trắng dưới bến để đi đây đó như người thành phố di chuyển bẳng ô tô.

Ngàn Đảo nằm dọc theo sông Saint Lawrence biên giới Hoa kỳ và Canada gồm gần 2000 đảo lớn nhỏ. Đảo to có thể đến 40 cây sô vuông, nhỏ nhất gầân 1 mét vuông cũng gọi là đảo nếu quanh năm nhô lên khỏi mặt nước và có 2 cây sống tươi tốt. Có khi trên đảo có người, có khi không ai ở. Các đảo to có công viên, cây cảnh đẹp mắt, có nơi câu cá. Thức ăn mang ra từ đất liền, có điện... Trên các đảo to có lâu đài như lâu đài Rest, lâu đài Singer và lầu đài Tình Yêu (Love Castle) nhiều người biết tiếng, xin kể chuyện Lâu Đài Tinh Yêu sau.

MONTREAL:

Chúng tôi đến Montreal vào buổi chiều. Đoạn đường từ Toronto qua Ngàn Đđảo đến Montreal dài 411 dặm. Sau khi rời Ngàn Đảo, ăn trưa chúng tôi đến nhà thờ St. Joseph lúc 6 giờ chiều thay vì 5 giờ như dư định. Trời mưa, xe chạy chậm và bị kẹt nên đến nhà thờ Montreal muộn cả tiếng. Thành phố đẹp duới ánh đèn. Cao ốc khắp nơi. Trời hơi lạnh, lá cây đổi màu đó đây. Chị Ngọc Thanh và tôi có hẹn gặp mấy chị bạn ở nhà thờ St.T Joseph nhưng thấy muộn và trời mưa nên không hy vong mấy chị còn chờ. Không liên lạc được qua điện thoại. Thế mà gặp nhau, mừng ơi là mừng. Người nào cũng khoác áo mưa. Mấy chị chờ vì biết thế nào chúng tôi cũng đến. Các chị đưa Ngọc Thanh và tôi viếng nhà thờ, chỗ này, chỗ nọ như tour guide chuyên nghiệp: phòng nguyện, nhà ăn, mộ thánh Joseph, thánh đường chính, lên lầu, xuống lầu, quẹo trái, quẹo phải... không sợ lạc đoàn vì chỉ có một lối mà thôi. Nhà thờ đang sửa lối đi khác. Chị đưa đến nơi toàn là nạng, gậy của người bệnh bỏ lại sau khi lành bệnh. Chị cho biết thường đến nhà thờ cầu nguyện nên rất rành đường lối trong nhà thờ. Nhà thờ St.T Joseph xây từ năm 1904, lớn nhất Canada, nổi tiếng về kiến trúc, lớn rộng và linh thiêng liêng.

Tôi còn hai cô bạn thân mến Sao Khuê và Tiểu Thu cư ngụ tại đia phương mời ăn tối nhưng chúng tôi phải lên đường về khách sạn Gouverneur, cách nhà thờ chừng 3 tiếng, đành từ chối mà... tiếc lắm vì đã lâu không gặp nhau.

Được biết Montreal ngôn ngữ chính tiếng Pháp nhưng 50% nói được tiếng Anh cả tiếng Pháp, là thành phố lớn nhất bang Quebec, đông dân cư thứ nhì Canada. Montreal có nhiều trường Đại học nhất nước, có nhiều người Việt và du học sinh

Theo lời người bạn sống lâu năm Canada cho biết Canada có 4 mùa, đẹp nhất mùa Thu và lạnh nhất mùa Đông. Chị gởi hình ảnh mùa tThu cho tôi xem với lá vàng, vàng cam, hồng hồng, đỏ như mặt trời lúc bình minh, đẹp tuyệt đẹp ơi là đẹp. Mùa Đông Montreal lạnh và có tuyết từ tháng 12 đến tháng 3, tuyết cao khỏi đầu gối và không tan. Mặt hồ nước đông thành đá. Tuy nhiên bảo hiểm sức khỏe tốt và dễ tìm việc làm nên vẫn đông dân cư ngụ.

Nhớ có lần chị bạn và tôi đi Montreal thăm 2 vợ chồng người bạn học cũ, được anh chị đưa đi xem thịi xã thấy cao ốc san sát nhau. Anh chị cho xem Tòa án, sở Tài Chánh, City Hall và nhà thờ St.T Jpseph nhưng không vào bên trong nhà thờ. Down Town Montreal người qua lại đông đúc, vỉa hè rộng nhưng không bầy hàng bán hàng hóa ngoài lề đường như Toronto. Có nghệ sĩ đánh đàn cho người khác nhún nhảy theo điệu nhạc hay người y phục chỉnh tề, đứng yên như pho tương với cái nón lật ngửa trước mặt. Ai muốn chụp hình chung thì bỏ tiền vào nón. Anh chị cũng đưa chúng tôi ra bến tàu. Nhiều tàu lớn nhỏ xinh xắn đậu dưới bến. Hai bên cầu tàu toàn cửa hiệu bán quà lưu niệm hay thức ăn. Nghe đồn vườn hoa Montreal có nhiều hoa lạ và đẹp nhưng chúng tôi không có thì giờ để thăm viếng.

Tuy thời gian qua đã lâu nhưng sự ân cần và tình cảm ngọt ngào anh chị Song An, anh chi Thuần, Ray bạn đồng môn với nhà tôi vẫn là kỹ niệm đẹp với tôi.

BOLDT CASTLE or Love Castle: 

Buổi sáng chúng tôi đươc tàu chở lòng vòng dọc theo sông St. Lawrence xem phong cảnh và các nhà lớn nhỏ trên Ngàn Đảo nhưng không lên bờ.

Cách đây ít lâu tôi có dịp thăm đảo Heart Island do vợ chồng bạn ở Ottawa đưa đi. Tôi xin ghi lại để quý vi chưa đi có chút khái niệm. Từ Ottawa đến bến tàu đi Ngàn Đảo mất khoảng 90 phút lái xe. Vé mua thăm đảo, giá khác nhau tùy loại 2 hay 3 tiếng .

Boldt Castle nằm ở Heart Island, một trong các đảo lớn nhất ở Ngàn Đảo. Cách kiến trúc như thời Trung cổ xa xưa: tường đá, lầu tháp hình tròn nóc nhọn cao nghều. Sân trước, sân sau lâu đài rất rộng, cây cảnh cỏ hoa xinh đẹp. Gần lâu đài có khu picnic rộng rãi, cây to bóng mát, cỏ xanh. Nơi nào có bàn và băng gỗ được lót gạch sạch sẽ... Từ nơi picnic có thể hình thấy The Boldt Yacht House màu đỏ thẫm nổi bậc trên mặt nước xanh. Nơi đó ngày xưa chứa những chiếc Yacht và tàu, thuyền chủ nhân. Gian chính nhà này cao 64 feet, chứa được thuyền có cột buồm cao. Cạnh house boat có nhà cho nhân viên sửa chữa lâu đài cư ngụ. Từ cầu nhìn lên có kiến trúc khác nhỏ hơn lâu đài, tường đá, tháp tròn, nóc nhọn có tên "Mini Castle" hay "Clock Tower". Chung quanh Mini Castle toàn nước, nối với đất liền có cầu đá hình vòng cung xinh xắn. Tàu chạy trên sông ngang qua cũng thấy Mini Castle. Có người cho nơi đó chủ nhân nghỉ ngơi hay đọc sách. Năm ấy hai chị bạn tôi vào thăm bên trong Mini Castle, tôi chờ ở đất liền với người bạn khác.

Lâu đài Boldt có 5 kiến trúc tất cả: Power House, The Henry, The Arch, The Alter House và The Stone Gazebo. Mỗi kiến trúc diện tích to bé và kiểu xây cất khác nhau. Chúng tôi vào thăm lâu đài chính. Xinh đẹp tỉ mỉ nhưng tầng lầu chót chưa xong. Có 6 tầng tính từ tầng trệt đến các tháp hình tròn. Có hồ bơi trong nhà (indoor swimming pool), có thang máy, 120 phòng, 365 cửa sổ. Đứng phòng nào nhìn qua cửa sổ cũng thấy trời, nước, cỏ hoa dưới sân. Vào lâu đài như lạc vào thời Trung cổ với phòng ăn thật rộng rãi, màn cửa xinh đẹp, trang trí huy hoàng có thể chứa hàng trăm thực khách khi yến tiệc và cả trăm gia nhân, người giúp việc.

Ông Boldt người Prussia đến Hoa Kỳ lập nghiệp khi còn rất trẻ, thành công trong kinh doanh, làm chủ tịch các công ty và giám đốc ngân hàng, có nhiều khách sạn ở New York và Philadelphia. Ông mua đảo Hart Island đổi tên là Heart Island để tặng bà Louise Boldt, người vợ ông cưới khi 26 tuổi và bà 15 tuổi. Lâu đài sắp hoàn thành năm 1904, bà Louise qua đời vì bệnh tim khi bà 41 tuổi. Ong Boldt đau lòng điện ra đảo cho công nhân ngừng việc xây cất và mọi người thu dọn hành trang, dụng cụ trở về đất liền. Bao nhiêu đồ dùng trang trí đắt tiền mua từ Pháp, Ý như tranh, thảm, bồn tắm, gạch... bỏ mặc gió mưa làm hư hỏng. Lâu đài bỏ hoang đến 73 năm sau, 1977 hãng THOUSAND ISLAND BRIDGE mua lại, tiếp tục công trình, tân trang, trồng cây cỏ, hoa lạ, làm lâu đài thêm phần sinh động tươi vui, thành địa điểm du lịch với mọi tiên nghi, thu hút du khách ngày thêm đông đảo. Hãng dự định dùng tiền bán vé để bảo trì, giữ gìn lâu đài mãi xinh đẹp như một di tích lịch sử cho thế hệ mai sau.

Ngày nay tầng một lâu đài như bảo tàng viện, trưng bày hình ảnh từ lúc ông mới mua đảo và lúc ông bắt đầu xây cất. C, các quyển sách nhỏ nói về sư nghiệp và tình yêu vô cùng của ông với người vợ đảm đang xinh đẹpp, là nguồn cảm hứng của ông trong việc kinh doanh khách sạn và ngân hàng... Trong lâu đài có lối đi dành cho người tàn tật, có nhà vệ sinh... Con đường từ bến tàu vào lâu đài, các nơi picnic được lót gạch sạch sẽ, có nơi bán quà lưu niệm, thức ăn dọc theo lối đi. Du khách có thể nghỉ ngơi thoải mái chờ tàu ra đón về đất liền. Phương tiện thăm viếng đảo dễ dàng bằng thuyền máy hay tàu lớn nhỏ hoặc water taxi. Lâu đài mở cửa cho du khách thăm viếng vào tháng 5 đến giữa tháng 11 khi khí hậu ôn hòa, cỏ hoa xinh đẹp.

Khi thăm viếng lâu đài Boldt tôi lẩn thẩn nghĩ đến sức mạnh tình yêu, sự quan trọng của người vợ với chồng từ xưa đến nay, từ vua đến thường dân. Ngày xưa vua Tự Đức trong bài " Khóc Bằng Phi" viết:"

Đập cổ kinh ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi.

Ông Boldt người thông minh tài giỏi nhưng khi người vợ yêu thương qua đời, ông chẳng màng đến công danh sự nghiệp. Lâu Đài Tình Yêu ( Love Castle ) huy hoàng, tráng lệ có thể tồn tại hàng thế kỷ như chứng tich cho mối tình chung thủy, lãng mạn sẽ lưu lại cho thế hệ mai sau. Khi tàu chạy ngang qua lâu đài Boldt thấy Mini Castle, hoa cỏ tươi tốt trên bờ trong khu vực lâu đài tôi lại nhớ chuyến thăm viếng lâu đài mấy năm trước và sự hiếu khách của anh chị TH & và Ray, chị Sơn, anh Châu, anh chị Song An khi chúng tôi đến Canada. Tuy không gặp gỡ nhưng tôi vẫn nhớ sự tử tế các lòng tốt anh chị trước kia cũng như, sự chu đáo ân cần của ban tổ chức, các trưởng nhóm và quý anh chị trên xe trong chuyến thăm viếng Bắc Mỹ và Canada vừa qua.

Tôi chợt nhớ lời nhắn nhủ trước khi hát của một thành viên trẻ trên xe, đại ý " hãy nói lời yêu thương để cuộc đời tươi đẹp hơn...". Riêng tôi ước mong người Việt Nam ở quê hương trong nước hay như Hoa Kỳ đều được an vui hạnh phúc trong tình yêu thương của gia đình, bằng hữu, đồng nghiệp, đồng môn, đồng bào...

Bên ngoài trời trong nắng đẹp, chim hót líu lo, hoa cúc rực rỡ đón chào mùa Thu an lành, tươi vui. Ngày hôm sau cả đoàn sẽ viếng Quebec, Canada và Boston, Hoa kỳ.

Thăm Bắc Mỹ
Ngơ ngác đàn nai giẫm lá vàng
Viếng thăm Bắc Mỹ lúc Thu sang.
Đường xa trăm dặm vui ca hát,
Qua đồi lên núi chẳng phàn nàn.
Ngàn Đảo, lâu đài thật quá sang,
Toronto, Mộng Lệ An đẹp, khang trang.
Nhà thờ St.T Joseph hơn trăm tuổi
Cầu mong dân Viêt được an nhàn.

Ngọc Hạnh

Blog Archive