Showing posts with label Orchid Thanh Le. Show all posts
Showing posts with label Orchid Thanh Le. Show all posts

Thursday, June 20, 2019

Xuân Mơ
 
Orchid Thanh Le

Image result for forsythia bush
Một hôm, người anh cả gọi ông đến nói chuyện:

- Này chú, con bé nhà anh chị và đứa con nó được bảo lãnh sắp sang đây. Anh chị lớn tuổi nên chẳng giúp được cho con cho cháu là bao. Anh tính thế này: con bé là mẹ đơn thân, tuổi còn trẻ, phần nó phải tự lo kiếm việc làm ổn định để may ra còn tìm hạnh phúc riêng. Còn thằng cháu ngoại, anh gửi nó đến ở với chú hòng còn học hành đến nơi đến chốn.

Do quen tuân thủ “quyền huynh thế phụ”, ông chỉ vâng dạ. Anh cả lại nói thêm:

- Chú sống một mình, có thằng nhóc hủ hỉ thêm vui. Còn khi chú nghĩ chuyện lập gia đình, anh lại tính tiếp.

Hôm chân ướt chân ráo mới sang, cô cháu gái và đứa con được đưa đến chào ông. Thằng nhóc mặt mũi sáng sủa, tuổi trạc mười hai, mười ba; cái tuổi mới lớn với tính cách nông nổi, ương bướng, thích tìm tòi, khám phá điều mới. Không đợi mẹ nhắc, nó đã khoanh tay thưa “Ông Trẻ”. Chạy tung tăng khắp nhà và mượn mẹ nó chiếc điện thoại di động, thằng nhóc nghiêng đầu lễ phép:

- Ông Trẻ nhích sang một bên! Cho con tự sướng một chút.

Ông hết hồn:

- Sướng cái gì?

- Dạ, con muốn tự chụp ảnh mình đó mà.

Khi nhìn vào màn hình vi tính trên chiếc bàn nhỏ của ông, thằng nhóc đề nghị ông Trẻ nên đổi “giao diện” cho khác lạ. Ông ậm ừ cho qua bởi mấy chữ tiếng Việt của thằng nhóc khiến ông lạ lẫm. Cô cháu gái đe nẹt con:

- Ở đây ông Trẻ dạy con học tiếng Mỹ nhưng về thăm mẹ thì phải nói tiếng Việt nghe chưa!

Cái thằng luôn dạ nhịp; còn nó có làm theo lời người lớn hay không thì trời biết. Ở được với ông vài tuần, thằng nhóc xem chừng quen nếp. Nó hỏi đủ chuyện nơi xứ người và rủ ông Trẻ đi ra ngoài xem thứ này thứ kia. 

Ông ngại! 

Cái điệp ngữ “ông ngại” được thốt ra thường xuyên, nhất là khi trời rét mướt. Hình như càng lớn tuổi thì con người ta lại càng muốn thu nhỏ thế giới sinh hoạt của mình lại. Đôi lúc ông thấy áy náy. Thằng nhóc sống thiếu cha từ bé, ngoài lúc học hành thì chỉ còn biết gọi điện thoại thăm mẹ. Dù không cố ý nghe, cuộc chuyện trò của mẹ con nó vẫn lọt vào tai ông bởi thằng nhóc quen mở loa điện thoại:

- Hôm nay con gặp một counsellor người Việt, mẹ à. Bà chỉ con nhiều thứ.

- Counsellor là gì, con?

- Là người cố vấn chuyện học cho con đó mẹ. Bà cũng dạy môn ESL cho con nữa.

Rồi thằng nhóc hạ thấp giọng:

- Bà đó là bà Trẻ, mẹ à.

- Bậy nà, ông Trẻ nghe được là rầy rà con đó.

- Thiệt mà, mẹ. Con nghe người ta gọi bà là Ms Young thì tức là bà Trẻ rồi.

Đầu điện thoại bên kia có tiếng mẹ thằng nhóc cười khúc khích. Hôm khác nó gọi:

- Mẹ, bà Trẻ nói sẽ gặp phụ huynh để thảo luận về chuyện học của con. 

- Con ở với ông Trẻ nên ông đi họp thay cho mẹ, hiểu chưa?

- Dạ, mà ông Trẻ có chịu đi không mẹ?

Mẹ con thằng nhóc nói chuyện vô thiên lủng. Bữa thì nó khoe cùng mấy trò Việt khác được bà Trẻ tập tiết mục văn nghệ để đón Tết. Lại có bữa nhóc ta khoái chí khoe với mẹ là nó “chỉnh” bà Trẻ vì chẳng hạn bà quen nói “ba chấm sáu phần trăm” mà lẽ ra phải là ““ba phẩy sáu phần trăm” mới ra tiếng Việt, vân vân và vân vân. 

Đến lạ! Câu chuyện vụn vặt về cái bà Young nào đó tiếp nối ngày qua ngày như thể “xin hẹn kỳ sau”. Chẳng thế mà cứ cuối tuần mẹ nó đón về chơi, ông lại ngóng nó trở qua. 

Một buổi chiều từ sở làm về nhà, ông chưa thấy thằng nhóc vì nó thường tan học về nhà trước ông. Thấy tờ giấy gấp đôi dằn dưới cái chặn giấy nơi góc bàn ông thường đọc sách, ông mở đọc: “Bà Trẻ bị mất mạng. Con chạy sang xem sao nha ông Trẻ.” 

Ông thất kinh rụng rời. Mới hôm qua đây thằng nhóc còn kể chuyện rôm rả cho mẹ nó nghe về bà Trẻ mà sao đến nông nỗi gì lại qua đời chóng vánh đến như vậy? Ôi cuộc đời vô thường quá! Ông bồn chồn với biết bao câu hỏi trong đầu. Thằng nhóc chưa được phép có điện thoại riêng nên ông chẳng sao liên lạc với nó. Chỉ còn biết chờ. Mà chờ cũng chẳng xong vì biết chờ bao lâu. Ông vùng dậy lấy chìa khóa xe đi tìm. 

Nhớ mang máng thằng nhóc nói ông Trẻ chỉ cần biết (quẹo) “phải, trái” là đến nhà bà Trẻ, cái nhà duy nhất có bụi cây hoa vàng nở rộ mùa này. Hoa vàng lại trông giống hoa mai Việt nên thằng nhóc gọi là mai Mỹ. 

Bước ra khỏi xe, ông đứng tần ngần nhìn bụi cây hoa vàng của căn nhà nhỏ có hàng rào trắng bao quanh thì nghe giọng nói Việt đâu đó cất lên:

- Con đổi mạng cho bà được rồi, ông Trẻ!

Ông chết trân, ú ớ không thằng tiếng. Cái thằng bé nhe răng cười xuất hiện trước mặt ông có phải là thằng nhóc cháu của ông không vậy hay hồn của nó mượn xác phàm nào nhập vào sau khi nó đã đổi mạng? 

- Mạng là cái quái gì, nói ngay! 

Thằng nhóc chưa lúc nào thấy ông lên giọng bực bội như vậy. Đang từ vẻ tơn hớn nó đâm ra tiu nghỉu:

- Dạ, internet bên bà Trẻ bị mất chắc do mưa gió lớn…

Hóa ra là vậy! Thằng chết tiệt, mày có tin là tao có thể véo tai mày đến đỏ bừng mặt, chảy nước mắt như lão ngoại mày đã làm khi tao hồi nhỏ không thuộc bài không hả nhóc? Quỷ tha ma bắt mày đi! Ông Trẻ ắt đứng tim với tiếng Việt của mày mất thôi. 

- Chắc đây là ông Trẻ? Xin lỗi ông anh phải lo lắng khi cháu chạy sang giúp tôi.

Một thiếu phụ Á Đông đang bước vội từ bên trong nhà ra với nụ cười và cái gật đầu nhẹ. Chưa kịp xóa đi nét mặt bực dọc nên ông đâm lúng túng:

- Chào bà Young. Cháu mới sang Mỹ, tôi sợ nó đi lạc.

Đã nóng ruột lại thêm phần quýnh quáng nên một bên mắt cá chân của ông va đau điếng vào cái chân bàn lúc ở nhà khiến ông bước đi có phần khập khiễng. Bà lo lắng, chuyển ánh nhìn xuống chân ông như muốn hỏi. Ông vội trấn an:

- Tôi mới bị bong gân. 

- Ủa vậy chớ ông anh còn gân mà bong sao?

Lời trêu chọc duyên dáng từ người mới gặp đã không làm ông giận mà trái lại còn phì cười trong lúc nhăn nhó. Ông đánh trống lảng:

- Thằng nhóc nói ở đây chỉ có nhà bà trồng mai Mỹ nên tôi đoán chừng là nhà này, thì ra đó là Forsythia. 

- Vậy ông anh có biết Forsythia trong tiếng Việt được gọi là Nghinh Xuân? 

Ông ngẩn ngơ. Cái tên Nghinh Xuân mang ý nghĩa hy vọng. Loài cây mọc thành cụm đã trút hết lá trong khí trời giá lạnh, thay vào đó bằng những bông hoa bốn cánh duỗi mỏng khoe tâm nhụy. Trời cuối đông khi mây còn lấn lướt nắng, khi mưa tuyết còn dùng dằng, lòng người thấy hân hoan trước cụm hoa bền màu nở vàng dọc suốt những nhánh cây màu nâu non để đón chào tiết lập xuân. 

Nghe đâu những cành mai Mỹ suông đuột này được đảo ngược nhập về Việt Nam với giá ngất ngưởng để phục vụ thú chơi hoa Tết của giới hám của lạ ở Sài Gòn, Hà Nội. Ông chạnh lòng nhớ thời xưa dân miền Nam chơi Tết sàn sàn như nhau: một cành mai hoặc một cặp chậu cây cảnh khắp nhà nhà là dấu hiệu của điềm lành cho một năm mới an khang và thịnh vượng. Mức sang, nghèo có thể nhỉnh hơn ở chỗ người khá giả thì mua sớm từ hăm ba tháng Chạp trở đi để chọn được cây, cành vừa ý trong khi người chật vật đợi đến chợ chiều ba mươi với hy vọng mua được giá hời. Có đâu những cảnh săn lùng “hàng độc” đem về chưng Tết như một sự khoe mẽ của giới giàu có như bây giờ.

Tiếng thằng nhóc reo lên hớn hở: 

- Bà Trẻ có biết tên Việt của ông con là Xuân không? Bà trồng bụi Nghinh Xuân đón ông con là đúng rồi.

Cái thằng sao mà hóng hớt. Sự bạo miệng của nó khiến ông đâm ngượng nghịu. Cái tên tươi trẻ bố mẹ đặt cho ông như vận vào số phận. Cái tên chùng chình không chịu già khi tuổi ông càng lớn. Nhân gian ngắm xuân đất trời mà lòng lại băn khoăn nghĩ đến xuân đời người. Nhưng mỗi năm xuân lại đến thì lo gì mà tàn xuân!

Bà nghe thì chỉ tủm tỉm cười, chỉ thấy sự láu táu của thằng nhóc phá tan sự ngượng ngập giữa hai người lớn. 

- Bà Trẻ đừng nói với con tên Việt của bà là Nghinh đó nghen. 

- Tên của bà không là Nghinh, mà là Mai.

- Ý a, bà Trẻ nói giỡn hay nói chơi đó? 

Đưa thằng nhóc trở về nhà, ông thấy lòng vui vui, kịp nhớ nụ cười của bà rạng rỡ tựa hoa mai. Ngó bộ ông không còn giận, thằng nhóc nhắc ông đừng quên gọi điện thoại đến trường xin phép cho nó nghỉ một ngày học kết hợp với cuối tuần để về đón Tết với mẹ. Ông bảo với nó làm gì mà có chuyện quên vì năm nào ông cũng nghỉ phép vào dịp này. Ông còn hứa sẽ tập dần cho nó đi xe điện một mình để sau này tự về thăm mẹ. 

Chuyến xe điện ngầm sớm nhất trong ngày chưa đến nỗi đông nghẹt. Ông nhắc thằng cháu phải xuống trước ông hai trạm để ghé về mẹ nó. Thằng nhóc châm bẩm đứng lên, chào ông rồi bước ra khỏi hàng ghế khi xe đến trạm ngừng. Nhanh nhẩu quá thành ra đoảng, thằng nhóc vô tình đụng vào ống quần của một người khách ngồi gác chân lên hàng ghế trống phía trước. Ông khách làu bàu:

- Đụng chân tao rồi im re hả?

Thằng bé dường như chưa kịp hiểu câu ông khách Mỹ nói, chỉ mỉm cười đáp lại. Ông ta gầm lên:

- Không biết xin lỗi nữa sao?

Đang ngồi, ông vội đứng chồm lên nhắc thằng nhóc:

- Nói câu xin lỗi tiếng Mỹ cho yên chuyện đi!

Thằng bé ấp úng nói lời xin lỗi ông khách rồi bước vội ra phía đầu toa để bước xuống. Ông thở phào nhẹ nhõm, thầm nhủ: “Có gì đâu mà khó dễ vậy chớ? Người gì mà cứ như chưa tỉnh rượu của đêm hôm trước.” 

Xe điện ngầm sắp dừng tại trạm ông muốn xuống. Lần này ông chuẩn bị bước ra và tự dặn mình phải hết sức cẩn thận kẻo phiền hà. Ấy vậy mà khi bước lách ra cái chân ghếch lên gây sự của ông khách khó tính, ông vẫn nghe lời to tiếng:

- Ê, cái túi của anh bạn đụng vào chân tôi!

Tức thôi là tức, muốn sinh sự thì có sự sinh:

- Cái ông nói không phải là cái túi, mà là cái ba-lô.

- Cái gì thì cái nhưng nó đã đụng vào chân tôi. Có xin lỗi không thì bảo.

- Được, thế thì cho tôi xin lỗi vì đã trót đụng vào chân ông. Nhưng ông có xin lỗi tôi không vì ông nói nhầm đó là cái túi trong khi nó là cái ba-lô?

Nói xong là ông quay ngoắt người giấu nhanh nụ cười, đoạn lách qua hàng người để bước xuống xe điện ngầm trong khi tai vẫn còn nghe loáng thoáng tiếng hầm hè bực tức của ông khách gây sự. Ông lẩm bẩm: “Tết cận kề, tiếc gì nụ cười chào nhau.” Bất chợt nhớ ra mình đang ở xứ người, Tết trong lòng đã khó huống hồ gì!

Tiếng chân ai rảo theo sau ông và một giọng nói Việt cất lên:

- Ông anh đối đáp thiệt hay!

Cái chữ “ông anh” nghe quen quen. Ông quay ngoắt người, bất ngờ trước sự xuất hiện của bà. Trong chiếc áo choàng dầy tím sẫm cùng màu với đôi găng tay và mái tóc hơi xoăn nhuộm màu hạt dẻ thả lơi trên vai, bà trông đằm thắm. 

Như biết được điều ông đang thắc mắc, bà cho biết đã đáp chuyến xe điện từ ga phố chợ nên nhìn thấy hai ông cháu bước lên sau bà vài trạm. Cũng đoán bà sẽ hỏi tại sao hai ông cháu xuống hai trạm khác nhau nên ông giải thích luôn:

- Thằng nhóc về ăn Tết với mẹ nó. Còn tôi nghe nói có ngôi chùa Việt gần đây nên ghé thăm cho biết.

Bà hơi khựng lại khi nghe ông nói nhưng mỉm cười ngay rồi đều bước đi bên ông:

- Vậy là ta đến cùng một nơi. Chùa đang thiếu người giúp dựng sân khấu thì ông anh đến đúng lúc. Riêng tôi được sư cô dặn ghé sớm phụ nấu bữa cơm chay tất niên rồi chờ đón giao thừa luôn thể.

Vui lây với lối trò chuyện của bà như thể hai người đã biết nhau từ lâu, ông nói trêu:

- Bà đi có một mình, tôi tưởng phải đi một rưỡi chứ!

- Vậy là sao ha, ông anh nói hơi khó hiểu?

- Khó hiểu gì đâu, há chẳng phải người mình thương là một nửa của mình đó sao?

- Ra là vậy. Ông chồng Mỹ của tôi mất ba năm rồi. Lúc xưa chúng tôi ở Lũng Sầu. Khi xin được việc ở trường của cháu là tôi chuyển về đây. 

Ông thi thoảng lái xe ngang Lũng Sầu nhưng chưa lần nào dừng chân. Cái tên đặt cho địa danh xứ người chẳng qua là do người Việt cảm tác mà gọi. Mưa kia gió kia nơi Lũng Sầu đồng điệu với sự cô quạnh. Lũng Sầu quanh năm mây mù và sương quàng khói quyện, buồn vô thời hạn. Chỉ đến khi xuất hiện những dải hoa nhuộm tím Lũng Sầu thì mới nhận ra mùa xuân. Không biết bà là người thứ bao nhiêu bỏ Lũng Sầu mà đi. 

Có khoảng im lặng giữa hai người. Ông thầm trách mình nói đùa vô ý. Nhưng hình như bà cũng chẳng để tâm mà hờn. Đến chùa, ông và bà chào tạm biệt mà lo phần việc mình. Khoảng gần giờ ngọ, ông gặp lại bà trong chiếc áo lam, tóc bới gọn ghẽ. Bà tặng ông nụ cười hóm hỉnh: 

Các cụ cao niên được sắp ngồi hàng gần sân khấu để dễ xem nhưng sao thấy ông anh cứ đi vòng vòng.

Bà muốn hỏi tuổi tôi thì hỏi đại đi chớ nói quanh co là tôi không biết đối đáp.

- Nghe cháu gọi ông anh là “ông Trẻ”, vậy chắc còn trẻ lắm.

- Tôi trẻ gì đâu! Chẳng qua tôi là em của ông ngoại nó mà còn độc thân nên được gọi là “ông Trẻ”.

Nói đến đó ông vụt ngưng. Chẳng ai khảo mà tự xưng với người dưng khác họ! Rồi ông lại buột miệng:

- Tôi sáu mấy rồi chứ ít gì…

- Sáu mấy là sáu mốt hay sáu chín, ông anh?

Bà đoán non đoán già gì cũng bù trất hết. 

- Tuổi Mỹ thì sáu hai. Tuổi Tây thì sáu ba. Còn tuổi Ta thì sắp sáu tư.

Phức tạp dữ vậy ta! Còn tôi cũng chưa đến nỗi cao niên để được sắp ngồi với các cụ.

- Nếu bà không muốn tôi gọi là “cô thêm dấu sắc” thì cho tôi gọi bằng “cô” nhé!

Xem ra hai người biết ghẹo nhau mà. Họ tự điều chỉnh cách xưng hô “anh” và “cô” thay vì “ông anh” và “bà” như lúc mới quen.

Mặc cho trời lúc mưa lúc gió, người Việt vẫn đổ đến ngôi chùa sư nữ để dự tất niên. Mọi người chen chúc bước vào chánh điện lễ Phật. Ngoài sự ấm áp hơn bên ngoài, ai nấy còn cảm được thời khắc năm mới đang đến gần hơn, từ mùi nhang trầm đến chiếc độc bình chưng cành mai đang khoe nụ đơm dày đặc, cái thì chúm chím, cái thì hớn hở bung hoa hứa hẹn duyên lành. Trong lần mới nhất đi Phật sự tại một tiểu bang nắng ấm, sư cô đã gắng sức đem về chùa nơi bờ đông một cành mai vàng với hoa năm cánh truyền thống. Cành mềm, lá biếc, hoa vàng tươi rực rỡ. Hoa mai là biểu tượng của nắng đẹp miền Nam nước Việt. Vượt hàng ngàn dặm đến đây để khoe sắc, cành mai len lỏi niềm hoài cựu vào lòng người xa xứ. Nghe nói ông có thú chơi mai, bà hỏi:

- Cành mà có nhiều lộc non sẽ hứa hẹn đơm hoa, phải không anh?

Ông gật gù:

- Đúng một phần. Chọn được cành mà có nhiều nụ là tốt nhưng phải biết đó là những nụ chờ thì chúng mới hứa hẹn nở hoa.

- Còn những nụ khác thì sao? 

- Chúng chỉ là những nụ non. Tuy cùng kích cỡ và màu sắc như nụ chờ nhưng các nụ non ấy vẫn khép, không thể nở nổi dù có làm đủ mọi cách đi chăng nữa. 

Ông giải thích cho bà rằng thú chơi mai thanh tao nhưng khá tỉ mỉ bởi mai thuộc loại khó trồng và cũng khó chăm sóc. Loại cây này hợp đất ẩm và ánh sáng nhưng lại không chịu được úng. Ngoài việc chăm tưới cũng như bón phân và thay đất hàng năm, còn phải chú ý cắt nhánh, uốn cành, tạo dáng để chậu mai trở nên độc đáo, mang đậm triết lý đông phương. Ấy là chưa kể phải canh thời tiết mà tuốt lá sao cho hoa có thể nở thêm nhiều vào lúc đón giao thừa hoặc sáng sớm ngày mùng một Tết thì mới là điềm may. Và may mắn hơn nữa khi trên cành mai có được một hoặc vài bông hoa sáu cánh. 

Tuy nhiên, các Phật tử được nhắc rằng họ không cần chờ tìm sự may mắn mà hãy tận hưởng sự an lạc, hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại dù chỉ là qua bữa cơm chay tất niên. Phải chăng những món ăn đời thường đã quá quen thuộc nhưng đối với người xa xứ trong những dịp này mới may ra tìm được cái hồn Tết lưu luyến đọng lại. Lần đầu tiên ăn món canh khổ qua, ông nếm thấy nhân nhẫn đăng đắng. 

Anh cứ ăn để rồi ngẫm xem nếu cứ than thở nỗi khổ đau của mình thì cũng chẳng ai chia sẻ được; chi bằng biến khổ đau bằng sự chấp nhận ngọt ngào thì xem ra dễ vượt qua hơn. 

Trước lời lẽ giản dị của bà, ông nhìn ra một con người biết đặt mình vào người khác mà suy nghĩ. Từ món canh khổ qua truyền thống, bà gửi gắm một nhắc nhớ rằng cuộc sống luôn có những khổ đau như trong Tứ diệu đế Phật đã dạy chúng sinh từ nghìn năm trước. Cái khổ đến và ai cũng mong mình vượt qua được. Còn vượt bằng cách nào thì tự thân mỗi người. Dễ mấy ai nghiệm được bài học cuộc sống của canh khổ qua!

Trong lúc chờ đón giao thừa, ông và bà kể về Tết xưa cho nhau nghe. Vẫn là ký ức Tết của những đứa trẻ được mẹ sắm cho bộ quần áo mới xúng xính với bạn bè cùng lứa và được ăn bữa cơm ngon hơn ngày thường. Quanh năm vất vả kiếm sống nên người xưa chỉ ăn uống dư thừa trong ba ngày Tết. Giò thủ hay thịt đông, lúc xưa chỉ có mặt trên các mâm cỗ Tết nhưng bây giờ nếu thích, thèm lúc nào thì tự gói, tự làm chứ không phải đợi đến Tết mới có mà ăn. Chính vì những thứ mong đợi không còn là quí hiếm nữa nên sự háo hức trở thành tẻ nhạt. Những món ăn truyền thống của ngày Tết dần dần phôi pha ý nghĩa. Vả lại, khẩu vị cũng thay đổi theo thời gian. Bây giờ ít người ăn ngọt nên bánh mứt làm ra cũng để đem biếu theo tục lệ chứ thực tình có ăn là bao. “Hồi xưa” và “bây giờ” liên tục được đem ra đối sánh. “Hồi xưa” trở thành huyền thoại còn “bây giờ” là thực tế. Biết rằng không thể nào quay lại những Tết xưa thiếu thốn mà ấm cúng được nữa nên lòng người cứ vấn vương! Đôi mắt của người đàn bà xa xứ chỉ thoáng ngấn ánh nước đủ để ai đó mềm lòng. 

Đón giao thừa xong, người Việt có tục hái lộc. Thường thì họ bẻ lấy một cành nhỏ thuộc những loại cây quanh năm tươi tốt mang về cắm ở bàn thờ lấy may, lấy phước. 

Tôi mong sẽ không còn tục hái lộc đầu năm nữa để cây cối trong chùa vẫn giữ nguyên vẻ xanh tươi. Ai đời lại vặt trụi cành lá để đón xuân đâu? 

Ông ngẫm bà nói phải. Con người ta mải mê giành giật lợi lộc cho bản thân nên đâm ra ngược đãi những gì thiên nhiên ban tặng. Nhân đứng xem những người lễ chùa lầm thầm khấn bái, ông cao hứng rủ bà xin thần linh một quẻ thẻ đầu năm để biết “kiết, hung”. 

Không ai đi xem đoán số mạng khi mà mình có cuộc sống tương đối đủ đầy.

Ông chặc lưỡi:

- Chẳng sai, nhưng phàm khi một nét văn hóa nào đó tồn tại hằng bao năm mà không mai một, tức là nó vẫn có giá trị ít nhất về mặt tinh thần. 

Xem ra ông vẫn thích bói quẻ, nên bà dặn:

- Nếu muốn xin xăm, anh phải thành tâm khấn nguyện còn không thì xăm không linh đâu. Khi anh trúng quẻ xăm nào thì nên nhận quẻ đó chớ đừng lắc đi lắc lại cho đến khi được quẻ xăm tốt mới thôi là không được.

Thì ra nãy giờ đứng xem, bà quan sát thấy không ít người kỳ nài với thần linh xin xóc xăm lại nếu chẳng may bắt phải quẻ hạ hạ. Hên hay xui tùy thuộc chuyện làm điều lành hay dữ trong cuộc sống chứ nào phải tùy thuộc nơi quẻ xăm. Thế mới biết chỉ vì một mảnh giấy vỏn vẹn bằng bàn tay, một câu nói, một nụ cười, một cái chau mày của ông thầy đoán quẻ mà có thể tạo quá nhiều cảm giác vui, buồn, may, rủi trong suốt một năm cho con người ta. 

Quẻ chữ Nôm khó hiểu hết ý nghĩa, cô ạ.

Mặt sau tờ giấy có lời bàn tiếng Việt. Nhưng lời bàn chẳng qua cũng chỉ mang tính tương đối, ý chừng muốn ngăn ngừa sự ỷ lại vào người xin được quẻ xăm tốt và khích lệ những người xin quẻ xăm xấu phải bình tâm, kiên trì vượt qua khổ nạn. Đối với tôi, quẻ xăm nào cũng mang một triết lý nhân sinh mà người xưa gửi gắm để mình suy gẫm.

Bà nhận được quẻ “Tích thụ sinh hoa”. Cây xưa nay lại trổ hoa, chắc hẳn một niềm vui từ bao lâu nay trở về với bà, đúng là đại cát. Riêng ông, quẻ xăm trung bình “Ma chứ thành kim” đã khiến ông mơ màng liên tưởng đến duyên phần nếu cất công mài sắt thành kim. 

Đưa bà về nhà rồi quay lại nhà mình, ông vẩn vơ nghĩ đến hai câu thơ của Lô Đồng trong Sở Hữu Tư:

Tương tư nhất dạ mai hoa phát
Hốt đáo song tiền nghi thị quân

Một đêm nhớ nhau, mai nở hoa. Trông thấy hoa trước cửa sổ, ngỡ bóng nàng. Ừ thì nhớ! Nỗi nhớ chỉ nhẹ nhàng, song quấn quýt. Có gì mà lạ? Con người ta đi đến ga cuối của cuộc đời thì ngoảnh lại thấy tâm hồn họ cần thanh lọc để được hòa mình trong những tình cảm chân thành. Sống trên đời, ai cũng mong tìm cho mình một tri âm, tri kỷ. Được gặp một người có thể chia sẻ, ôn lại bao chuyện cũ của mình cho người ấy nghe hoặc nhắc lại những hoài bão, ngần đó thứ đủ giúp tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. 

Nhấc ngay điện thoại gọi đến bà, ông nhỏ nhẹ hỏi rằng ngày mùng một Tết bà vẫn thích đi chùa đấy chứ. Dường như từ đầu điện thoại bên kia bà đang giấu nụ cười mùa xuân trong lời thầm thì:

- Mai, mai nhé!

Ông nhắm mắt mường tượng một sớm ngày đầu năm. Lúc đó sẽ chỉ có một ít hoa tuyết lắc rắc như hôn vào môi, vào má ai đó. Lại như thấy trên trời có đám mây trôi bồng bềnh xếp thành những cánh hoa mai thật ngộ nghĩnh. 

Bà tặng ông một nụ chờ. Nụ chờ mai này sẽ nở hoa, ông thầm mơ!

Orchid Thanh Le

Monday, February 12, 2018

Hương Xuân Gợi Nhớ




Image result for lan tran mong
Chuyện cũ rích những tưởng đã lên men theo thời gian. Đôi điều bâng quơ về bụi cây ngọn cỏ. Mấy chuyện đất trời nghe đi nghe lại. Bà hàng xóm kể hoài vậy mà ông nghe không chán. Mọi thứ đã không chênh vênh, lạc điệu trong hồn ông nếu bà đã không ngập ngừng ướm lời:
- Năm nay tôi về Việt Nam ăn Tết, ông ạ!
Ông nghe chút gì ngỡ ngàng. Hụt hẫng.
- Bà “về” hay bà “đi” Việt Nam ăn Tết? Nói lại tôi nghe xem.
Cảm thấy giọng nói ông nhuốm vẻ căn vặn, bà hàng xóm đấu dịu:
- Ừ thì “đi”! Gớm ông sao mà...
Bà bỏ lửng câu nói. Giây lâu, bà tiếp:
- Tôi chỉ muốn một lần ăn Tết dối già ở Việt Nam, thế thôi!

Ông ngó lung ra khung cửa sổ, lặng yên. Tết ở ngay trước mắt đây mà, sao ai đó cứ nghĩ xa xôi mà không biết trân quý những gì gần gũi nhất. Chẳng thà như ông, không vợ không con là một lẽ, đằng này nơi đây bà có hai đứa con lập gia đình ra riêng mà lại chọn ăn Tết ở Việt Nam với gia đình đứa cháu gọi bằng cô. Thế mới lạ!

Nhớ hồi lâu bà kể thoáng ông nghe, có con mà như không có. Gia đình các con năm nào cũng đi du lịch mùa Giáng Sinh nên không còn thì giờ ăn Tết Nguyên Đán với mẹ và cũng chẳng có ý định đón mẹ về nhà chúng dịp này trong khi chúng bận đi làm đi học; chi bằng khi đôi chân bà còn khỏe thì làm một chuyến ăn Tết ở Việt Nam sau bao năm xa cách, may ra còn ý nghĩa.

Thì ra Tết thầm lặng tố cáo thói vô tâm hời hợt mà ngày thường người đối đãi với người. Nếu không ở trong tâm thế đón Tết thì con người ta sẽ không nhận ra là Tết đang về nữa. Nhưng còn bà không muốn ở đây vui Tết với ông sao? Mối giao hảo hàng xóm giữa người lớn tuổi đậm đà theo thời gian. Giúp đỡ nhau chuyện lặt vặt. Thắc thỏm chiều hôm. Nói lời quan tâm nhau. Cái tình già là vậy.

Lần này câu ông hỏi đã không được bà hàng xóm trả lời, bởi bà e ông chạnh lòng. Các con thỉnh thoảng đến thăm mẹ, thấy ông có phần chăm chút mẹ chúng nên nói xa nói gần: “Không lẽ bao nhiêu năm qua bố mất sớm, mẹ giữ được tiếng thơm mà giờ lại không đủ bản lĩnh để sống
một mình?” Bọn trẻ chưa nhận ra rằng ở tuổi xế chiều, con người ta cần có một người bạn chia sẻ những vui buồn, cùng chăm sóc nhau và dắt nhau qua phần đời còn lại vốn đã không còn nhiều ở phía trước. Đó cũng là lúc tuổi già phải đối diện với nhiều vấn đề sức khỏe cùng với sự cô đơn khi con cái đã trưởng thành, bước ra khỏi nhà cha mẹ để hội nhập xã hội. Bọn trẻ bây giờ yêu nhau cuồng nhiệt nhưng chắc gì chúng sẽ song hành với nhau đến tận cùng trời đất? Cái tình cái nghĩa người già đối với nhau không sôi nổi nóng vội như bọn trẻ nhưng vẫn cần thiết và quan trọng. Nhưng nếu chẳng may người mẹ ốm đau lâu ngày, thì liệu những đứa con đang ngụy biện cho thói ích kỷ và vô tâm đó sẽ là người chăm sóc mẹ chúng chăng? Gạt bỏ mọi tư lự, bà xem đó là cái nợ đồng lần, trước sau rồi các con bà cũng phải trải qua. 

Cảm giác như Tết ở xứ người đang phai nhạt trong suy nghĩ của bà hàng xóm, ông hỏi dỗi:
- Bà đã chuẩn bị tinh thần đối phó với “hải quan sân bay” bằng cách ép tờ mười, hai mươi Mỹ kim vào sổ thông hành để qua truông chưa?
- Ông nói quá. Tôi mang tiền bạc nhiều nhặn gì cho cam nên chúng nó muốn lấy cũng chẳng được.
- Vậy bà đã bỏ vào va-ly thuốc tiêu chảy để giải quyết nạn thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm?
- Vẫn phải dự phòng các thứ, ông ạ!
- Ấy là chưa nói đến bị ăn cắp, giật đồ mà bà lại hay lóng nga lóng ngóng...

Dù ông có nói ra cách mấy đi nữa thì bà hàng xóm vẫn chọn ăn Tết ở Việt Nam. Dĩ nhiên đối với mỗi người Việt tha hương, ai cũng có lý do rất riêng để ăn Tết ngay tại xứ người hay bằng mọi cách phải trở lại quê nhà đón giao thừa. Cứ nơi nào cho họ cảm giác ấm áp, tình gia đình, thì Tết ở nơi đó có ý nghĩa. Còn riêng với ông, ngày nào bình an, ngày đó là Tết.
Trước ngày đi, bà hàng xóm khệ nệ đem qua ông chậu lan kiếm Trần Mộng nhờ chăm sóc. Đưa tay đón chậu lan, ông lẩm bẩm nhắc lại cái tên độc đáo của chậu lan kiếm.
- Thường thì lan được đặt tên theo hình dáng của hoa, lá, hương thơm, mầu sắc, hay điển tích, ông ạ!
- Ắt hẳn lan kiếm Trần Mộng bắt nguồn từ một huyền thoại ly kỳ nào đó?
- Đích thực là vậy. Vua Trần Anh Tông, người chủ xướng “Ngũ Bách Lan Viên” (vườn 500 loại lan) của ngự uyển, một đêm nằm mộng thấy ngài đang chiêm ngưỡng một loài địa lan kiếm: hoa màu hồng tía, đẹp và thơm dịu. Tỉnh giấc, nhà vua ngẩn ngơ, bần thần. Kỳ diệu thay, trong ngày hôm đó, có người mang tiến vua một chậu địa lan kiếm như ngài đã từng gặp trong giấc mộng. Chính cái ảo ảo thực thực đan xen trong sự kết hợp hài hoà giữa cái đẹp tự nhiên của lan với “cái thần” thấm sâu vào hồn làm cho loài lan kiếm đó được mang tên giấc mộng của vua Trần.

Lắng nghe câu chuyện bà kể, ông mơ màng ngắm chậu địa lan kiếm Trần Mộng, như tên đặt huyền thoại, mang đậm hơi thở của sự cao quý, vương giả cùng với cốt cách bồng lai tiên cảnh: hương thanh khi gần khi xa, man mác huyền hoặc, tạo cho người thưởng ngoạn cảm giác bay bổng theo mây trời non nước. Lòng ông ngây ngất với mùi hương thiên nhiên ban tặng, mùi hương đã từng rón rén len trong giấc ngủ hoàng cung.

Tiếng bà vang lên khiến ông quay về thực tại:
- Ơ hay! Ông thưởng thức hương lan thế sao? Ai lại kê sát mũi vào hoa mà hít thật sâu, thật mạnh thế kia!

Ra là vậy. Chiêm ngưỡng lan cần có tâm hồn thư thái, ngồi lâu để thấm thía: sắc nhã, hương dịu, dáng thanh. Ông còn được nhắc rằng người Á Đông không bao giờ cắt cành địa lan kiếm để cắm lọ. Tháng Chín phân lan. Tháng Chạp ngắm lan hàm tiếu. Tháng Giêng thưởng ngoạn lan mãn khai.

Nhớ lời bà dặn phải tránh các luồng gió mạnh, ông chọn đặt chậu lan ở góc khuất nơi chỉ nhận ánh nắng khiêm tốn. Bà còn nhắc ông rằng lan là loài cây “bán âm, bán dương” không thể chịu hạn hoặc chịu úng nên phải chịu khó tưới lan dưới dạng sương để có độ ẩm thiên nhiên.

Mới đó mà bà đi đã mươi ngày, để lại những ngày giáp Tết co ro trong hơi thở lạnh lẽo của đất trời. Gặp đợt rét, không gian chìm trong làn hơi nước đục mờ như khói giăng rồi biến thành những hạt mưa li ti ôm choàng vạn vật. Năm nay rét đậm. Ông ủ làn hơi rét giữa hai lòng bàn tay, đôi chân chậm bước đến phố xá nơi người người nói cười. Trời lạnh luôn mang đến cảm giác nhớ nhung đâu đó trong tâm hồn người xa xứ. Thực ra đó cũng là cảm giác của ký ức. Hoài niệm về bà cứ lai vãng chực hờ khuấy động điều ông gắng không nghĩ đến.

Vào những ngày này, chợ chồm hỗm được nhóm tạm dọc theo hành lang một trung tâm buôn bán của người Việt xa xứ. Đồng hương chở đến vài thứ trồng từ vườn nhà hoặc bánh, mứt tự làm đem bán góp vui. Có cô bán hàng đon đả mời ông mua lấy may một chậu sành nhỏ chèn chặt bó cây Thần Tài. Ông lắc đầu từ chối. Cô đành xin ông vỗ nhẹ vào vai cô gọi là lấy khước kháo nhằm xua đi cái không may của đầu ngày mở hàng. Ai lại làm thế với cô bắc kỳ không nhỏ, nhất là ở xứ Mỹ này khi cái chạm tay vô tình vào người phụ nữ xa lạ có thể gây khốn khổ cho cuộc đời người đàn ông. Ông đành chọn một chậu cây giả khóm:

- Để tôi mua mở hàng chậu cây này vậy.
- Vâng, ông quả tinh mắt nên đã chọn đúng. Loại địa lan vòi này sẽ nở những dải hoa trắng bé xinh, thưa ông!
Trả tiền cho cô bán hàng, ông ậm ừ:
- Đây chỉ là cây lược vàng mà dân gian thường sử dụng làm thuốc.

Lấy cớ mua cây lược vàng chẳng qua chạnh nhớ đến bà. Mới hôm nào bà tráng bánh cuốn mời ông ghé sang ăn, ông vội vàng dặn bà đừng mua tôm vì tủ lạnh bên ông đã có sẵn; còn mớ hẹ tươi xanh trong cái chậu con đặt trước bệ cửa sổ phòng ông cũng sẵn sàng cho bà cuốn bánh tráng. Bà nghe rồi cười tủm tỉm, nói từ trước đến giờ bà chỉ “tráng bánh cuốn” mời ông ăn vậy mà ông lại nói nhịu thành “cuốn bánh tráng” để rồi nhớ in trong đầu! Vả lại, răng của ông liệu còn khỏe để nhai cả cuốn bánh tráng chăng? Ông nghe rồi ngẩn người, đành cười chữa thẹn mà nói lảng sang chuyện khác:

- “Bộ nhá” mà có vấn đề thì mệt lắm, bà ạ. Mới hôm nọ, một chiếc răng hàm của tôi lung lay và đau nhức. Người bạn già cho tôi dăm lá cây lược vàng ngâm rượu, ngậm mỗi ngày. Tôi làm theo, thấy răng đã chắc lại, nghĩ tưởng thế là yên ổn, nhưng ai ngờ được là nó lại dở chứng. Sau khi khám răng cho tôi thì cô nha sĩ nói: “Các răng khác mà bác bảo nhổ đi thì cháu quyết giữ lại, riêng cái này mà bác bảo giữ lại thì cháu quyết nhổ. Nó không còn tác dụng gì nữa rồi!” Tôi cười: “Kể cả tôi bây giờ cũng đâu còn tác dụng. Thôi nhổ tôi luôn ra khỏi thế giới này cho rảnh!” Thế rồi cô nha sĩ tiêm thuốc tê, cho kìm vào, và “ngoéo một cái” rồi đưa ngay cho tôi xem chiếc răng mới nhổ. Giờ thì một chiếc răng khác cũng lại đang trong tình trạng như vậy. Có lẽ cũng phải cho “đi” thôi. Càng sống càng thấy thấm. Tuổi thất tuần, răng rụng vài ba chiếc. Sợi bạc rơi đầy hai vai. Mắt chuyển mờ, tai trở điếc. Biết còn gì ở ngày mai?

Nay đứng bâng khuâng giữa chợ Tết xứ người, ông như thấy mình như đang nợ một buổi chợ Tết để đỡ trên tay mẹ bó lá dong, con gà béo, mấy cân gạo nếp, cáng thay bố một buổi dọn bàn thờ, quét vôi nhà cửa đón năm mới. Ông đâm mâu thuẫn tự hỏi sao con người ta thời đại này mỗi ngày thường sống với cảm xúc của ngày hôm qua. Mới hôm nào đây ông còn cằn nhằn bà vương vấn Tết xưa chẳng qua cũng là hoài cổ về nét văn hóa của một thời mà thôi. Ấy thế mà chính ông có ngày nào quên được đâu?

Lãng đãng ngoài trời dẫn đến chơi vơi trong lòng. Nhớ gần. Nhớ xa. Hẳn giờ này bên đó đang sáng ngày đầu năm. Hẳn bà thức sớm pha trà bày bánh mứt đốt nhang thơm mời tổ tiên thưởng thức. Hẳn bà đang ngồi trước đám cháu chúc Tết ríu rít và mừng tuổi cho chúng với những phong bao.

Lững thững quay trở về dãy nhà người lớn tuổi khi ánh nắng muộn của buổi chiều cuối năm còn bịn rịn bên chậu lan kiếm Trần Mộng, ông đứng lặng bên chậu địa lan tán tròn có những đóa hoa vươn lả lướt vượt khỏi đám lá dài màu lục biếc. Nghe nỗi nhớ nhung rươn rướn trong từng búp lan, ông mường tượng đến dáng dấp bà lom khom chăm sóc tỉ mỉ từng nụ xuân hồng. Không gian trống vắng chỉ còn lại nỗi niềm ủ ê trong tâm tưởng của một người đã từng trải qua những quãng đường đời không bằng phẳng. Giá thời trẻ ông đã nghĩ riêng cho bản thân một mái ấm, giá ông không phải lận đận vì thời cuộc, và giá ông khởi sự cuộc sống mới nơi xứ người ở độ tuổi không quá trễ tràng thì giờ đây niềm cô quạnh đã không lấn chiếm hồn già. 

Bỗng man mác một thứ hương rất mộc mạc trong gió thoang thoảng. Ông bàng hoàng, ngơ ngác nhìn quanh. Đích thực là hương mùi già, dân gian thường gọi là ngò rí. Phải là loại đã trổ hoa, kết trái, thân cây đã chuyển từ màu xanh sang nâu tía để khi đun lên với nước thì hương mới giữ lâu. Mùi già thân thảo càng khô càng thơm. Mùi già ngày xưa chỉ bán trong những buổi chợ cuối năm và đầu năm mới. Bây giờ thì có ai bán thứ lá ấy trong chợ Tết quê người nữa đâu.  

Người xa quê lâu ngày như ông sững sờ như gặp lại một điều gì thân thuộc. Hương mùi già thì thầm nhắc nhớ ký ức Tết trỗi dậy: ngày cuối cùng của năm cũ, người chị cả thường nấu một nồi nước thật lớn, bỏ mấy bó mùi già đã rửa sạch vào để làm nước tắm cho cả nhà. Tục tắm tất niên bằng hương lá mùi già hàm ý tẩy trần những nhỏ nhen tầm thường trong năm cũ, bước vào năm mới với tâm hồn nhẹ bay sáng láng. Mọi cái vận hạn đen đủi của năm cũ dường như được gột bỏ mà chỉ còn giữ lại một cảm giác thanh sạch, khoan khoái. Khắp nhà còn phảng phất mùi hương dìu dịu trong những ngày đầu năm.

Chiều nay ai đã nấu nồi mùi già để lòng ông bồn chồn chi lạ. Bà về đấy ư? Có lẽ nào bà đã quá bước đến rẻo đất nhỏ bên hông nhà để nhổ đám mùi già mà ông vẫn nhớ tưới? Không thể nào là vậy.

Dưng không có tiếng gõ cửa. Rồi tiếng bà gọi ông. Rồi bà vẫn nói chuyện như mọi lần. Rằng ông ơi tôi đã về đây, nghe tiếng mở khóa cửa bên ông là tôi vội sang ngay. Rằng chắc ông nghĩ rằng tôi đang hưởng Tết bên đó. Rằng vợ chồng đứa cháu với hai đứa con chúng chẳng để tôi sên mứt, gói bánh, mua dưa hấu đón Tết. Chúng bảo nếu như khách đến chúc Tết thì đã có sẵn bánh bích-qui và kẹo sô-cô-la ngoại quốc để mời đãi. Mà sẽ chẳng có khách nào ghé thăm tôi được vì chúng muốn tôi theo chúng đi du lịch nước ngoài để tránh những ngày Tết nóng như thiêu và ồn ào xe cộ người đông. Tôi về cốt để ăn Tết chứ nào phải. Ngỡ ngàng quá. Thôi thì chẳng thà tôi tốn thêm tiền, đổi vé máy bay về lại đây càng sớm càng tốt để mà không tủi.

Bà nói không ngừng nghỉ. Ông yên lặng lắng nghe như mọi lần mà lòng dấy niềm rộn ràng. Vậy là hoài niệm Tết của bà về những chảo mứt rim đường, những chiếc bánh chưng hay quả dưa hấu da căng bóng lưỡng để bày biện xem như đã cúng dường quá khứ. Ông hỏi khẽ bà:
- Thế tôi bưng chậu lan kiếm Trần Mộng gửi lại bà trước giờ giao thừa nhé?
- Vậy thì hay quá! Phần tôi cũng sẽ đem nồi mùi già tất niên sang cho ông ngay.

Ngày cuối cùng của năm cũ đang được đếm ngược. Đêm nay có hai mái đầu bạc cùng thưởng thức hương xuân giao nhau một khắc để thừa cả năm.

Orchid Thanh Lê

Tuesday, November 21, 2017

Trả lại tên cho người Chiến sĩ bị mất tên

Orchid Thanh Lê
 


*  *  *
Từ nghìn xưa tráng sĩ ra đi có mấy khi trở về. Xác thân họ để lại nơi sa trường.

Thời chiến tranh hiện đại, thân nhân của các chiến sĩ hy sinh có nhiều cơ may nhận lại xác và kỷ vật liên quan.

Trong một cuộc phỏng vấn, tôi lắng nghe tâm tình từ thân nhân của một góa phụ có chồng là phi công Việt Nam Cộng Hòa mất tích trong một phi vụ tại chiến trường Buôn Mê Thuột. Người góa phụ ấy đã đến căn cứ của chồng để nhận lại vài kỷ vật của anh. Đối với người còn sống, kỷ vật là một phần hiện hữu của người ra đi. Chị choáng ngất: mọi thứ trong phòng anh nguyên vị như lúc anh còn sống và dường như anh chỉ mới bước ra khỏi phòng để nhận lệnh bay mà thôi. Tách cà phê còn dở dang cùng tấm ảnh người vợ yêu quý với mái tóc thề đặt trên chiếc bàn nhỏ tựa như đang ngóng anh trở về.

Ở nước Mỹ, dù cho những chiến sĩ chưa được xác định còn sống sót hay đã trở thành tro bụi, họ vẫn luôn được tri ân. Điều này thể hiện qua buổi lễ vinh danh chiến sĩ mà tôi được dịp tham dự trong những lần công tác hỗ trợ cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ.

Một trong các nghi thức vinh danh là chiếc bàn tưởng niệm, được xem là tâm điểm của buổi lễ, nhằm ghi nhớ các chiến sĩ bị mất tích trong lúc họ thi hành nhiệm vụ cho đất nước. Tùy vào chủ đề của buổi lễ mà cách trình bày chiếc bàn tưởng niệm có thay đổi ít nhiều nhưng cơ bản vẫn là duy trì quân cách truyền thống.

Trong không khí trang nghiêm, người tham dự được nghe lời thuyết trình đầy cảm xúc về các biểu tượng đặt trên chiếc bàn tưởng niệm. Những phút giây lắng lòng, tưởng nhớ đến các chiến sĩ vì đất nước mà không thể hiện hữu nơi này tưởng như có sự kết nối với từng biểu tượng. Mọi thứ đều tinh giản và ý nghĩa.

Chiếc bàn hình tròn biểu tượng sự quan tâm đời đời của chính phủ Hoa Kỳ.

Màu trắng tinh khôi của khăn phủ bàn nói lên động cơ thuần khiết của những người trai đứng lên đáp lời sông núi.

Sáu chiếc ghế trống dành cho những người con của tổ quốc chưa trở về. Năm chiếc ghế tượng trưng cho người mất tích thuộc Lục Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Hải Quân, Không Quân, Tuần Duyên và chiếc ghế thứ sáu là để tưởng nhớ đến thành phần Dân Sự cũng do thi hành sứ mệnh tổ quốc mà bị rơi vào tình trạng mất tích. Có khi chỉ duy nhất một chiếc ghế đặt với chiếc bàn, tượng trưng cho sự lẻ loi của một tù nhân bị cô lập.

Một cành hồng đỏ thắm cắm đơn độc trong chiếc lọ đặt giữa bàn, màu đỏ biểu tượng cho máu của nhiều người đã đổ xuống để bảo vệ chính nghĩa. Hoa hồng đỏ cũng để nhắc nhở những người thân trong gia đình, bạn bè nên giữ vững niềm tin trong khi chờ đợi người mất tích trở về.

Một dây ruy-băng đỏ thắt nơ quanh lọ hoa nói lên nỗ lực không ngừng nghỉ để tìm kiếm những người mất tích.

Một lát chanh khoanh tròn nằm lặng lẽ gợi lên số phận chua chát của những người bị cầm tù hoặc phải bỏ mình nơi miền đất xa lạ.

Những hạt muối rắc trên bàn tượng trưng cho vô vàn giọt nước mắt mặn môi tuôn trào từ người thân khóc người ra đi biền biệt. Đó là những giọt nước mắt chờ người về, hoặc ít nhất mong một lời giải đáp sau nhiều năm đợi tin mòn mỏi.

Một ngọn nến thắp lên tia hy vọng sự trở về nơi đang sẵn sàng vòng tay đón chào của tổ quốc cho người mất tích dù dưới bất cứ hình hài nào.

Một quyển kinh thánh tượng trưng cho sức mạnh của một quốc gia với đức tin được sáng lập và duy trì dưới sự che chở của Thượng Đế.

Những chiếc ly úp ngược tượng trưng cho các chiến sĩ chưa trở về để nâng ly rượu đoàn viên.

Tôi còn nhận thấy tại buổi vinh danh một số không nhỏ những người tham dự thường đeo một chiếc vòng tay tưởng niệm, một hình thức tri ân sự hy sinh của các chiến sĩ. Ý tưởng đeo chiếc vòng tưởng niệm được khơi mào từ thời chiến tranh Việt Nam nhằm thu hút sự chú ý của công chúng như một cách nhắc nhớ đến các tù binh Hoa Kỳ bị giam cầm hoặc mất tích tại Việt Nam. Đa số những chiếc vòng đeo tay được làm bằng vật liệu đơn giản như kim loại bạc, đồng, hoặc thép không rỉ. Khắc trên vòng là thông tin như tên, cấp bậc, thời điểm, và nơi bị cầm tù hoặc mất tích của một chiến sĩ.

Một cựu Trung tá phi công F4 có mặt tại buổi lễ cho tôi biết rằng đồng đội của ông đã mất tích trong một phi vụ tại không phận Bắc Việt năm 1972. Ông đang đeo một chiếc vòng khắc tên chiến hữu này. Ông chia sẻ:

- Tôi muốn đeo chiếc vòng tay này cho đến khi đồng đội của tôi được trở về nhà. Nói cách khác, tôi chỉ cởi nó ra khỏi tay khi nó được chôn chung với hài cốt người chiến hữu được tìm thấy.

Ông còn kể thêm cho tôi rằng trong thời gian học bay, các phi công chiến đấu đã phải trải qua các tập huấn giả định bị địch giam cầm dưới những điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Những cuộc tập huấn này nhằm mục đích rèn luyện tính kiên nhẫn chịu đựng, tạo sự đồng cảm và nâng cao tinh thần đồng đội. Quả là con người ta sau khi sống sót từ những giây phút cùng cực thì chẳng thể nào quên các chiến hữu của mình với số phận còn chưa biết rõ. Trong tâm tưởng của người còn sống, đeo chiếc vòng tay tưởng niệm như thể được kề cận một đồng đội đã từng vào sinh ra tử với mình.

Một cựu chiến binh khác đưa cao cánh tay có đeo chiếc vòng, nói với tôi trong niềm lạc quan:

- Tôi đeo chiếc vòng tưởng niệm với hy vọng rằng các chiến sĩ bị cầm tù hay mất tích sẽ trở về với gia đình.

Vợ của ông đứng kế bên, tiếp lời với ánh mắt ngời sáng:

- Chúng tôi biết có những gia đình đã chờ đợi từ rất lâu, vì vậy chúng tôi chờ đợi cùng với họ.

Tôi đồng cảm với những điều chia sẻ, ngậm ngùi nhìn từng chiếc vòng tưởng niệm trên tay các khách tham dự. Biểu tượng chiếc vòng tay tưởng niệm không phải là sự công nhận chính thức của chính phủ Hoa Kỳ nên nhiều công ty khác nhau có thể sản xuất loại vòng này. Vì vậy, khả năng một số người – có thể lên đến số trăm trên toàn quốc - đang đeo chiếc vòng tay tưởng niệm với thông tin tương tự về một chiến sĩ được khắc trên đó là điều có thể xảy ra. Những chiếc vòng thiết kế không hoàn toàn giống nhau, chúng có những tiểu tiết khác biệt. Có thể chúng mang một ý nghĩa nào đó mà nếu được giải thích tường tận, ắt hẳn rất thú vị. Tôi hỏi một binh sĩ trẻ:

- Anh có người thân bị mất tích hoặc là tù binh chăng?

Anh mỉm cười đáp:

- Không, cô ạ, nhưng tâm trí tôi luôn nhắc nhớ sự đóng góp cho đất nước của người chiến sĩ có tên trên chiếc vòng tay tôi đang đeo.

Thấy anh cởi mở, tôi hỏi thêm:

- Làm sao tôi có thể biết người có tên trên chiếc vòng tưởng niệm là một tù binh hay bị mất tích trong chiến tranh?

- Nếu cô chú ý sẽ phân biệt được ngay. Nếu chiếc vòng có hình tượng ngôi sao trắng trong vòng tròn màu xanh da trời thì sẽ khắc tên một tù binh; còn chiếc vòng có hình tượng ngôi sao màu xanh da trời trong vòng tròn trắng sẽ khắc tên người mất tích.

- Ra là vậy. Nhưng nếu chiếc vòng chỉ có tên khắc ở trên mà không thêm một hình tượng nào khác ?

- Thì có thể điều đó nói lên trường hợp chưa rõ thực trạng.

Điều giải thích làm tôi liên tưởng đến Bức Tường Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại Washington, D.C. mà tôi có dịp viếng thăm. Đối với những chiến sĩ tử trận, tên của họ có một biểu tượng quả trám; còn nếu bị mất tích thì tên được đi kèm với một dấu cộng. Một khi hài cốt người mất tích được tìm thấy và đem trở về nhà thì biểu tượng dấu cộng được chuyển thành biểu tượng quả trám.

Hồi ức chi cho xa. Một trong những việc làm của tôi là hỗ trợ tiếng Việt cho Văn Phòng Tìm Quân Nhân Mỹ Mất Tích Trong Chiến Tranh Việt Nam. Từ bao năm qua tôi vẫn thường thấy chiếc vòng tưởng niệm trên cổ tay của người sinh viên khi anh vẫy chào tạm biệt vào mỗi cuối buổi học. Chiếc vòng nhắc nhớ nhiệm vụ anh đang thực hiện, đó là giải quyết hồ sơ các chiến sĩ trong tình trạng bị mất tích.

Vài năm trước, chiếc vòng trên tay anh có khắc tên Trung sĩ George Brown trong sứ mệnh biệt kích ngày 28 tháng 3 năm 1968 tại Lào nhưng hồ sơ đã đóng lại khi một phần rất nhỏ hài cốt của người mất tích được tìm thấy và anh đã tháo chiếc vòng ra khỏi tay. Hiện tại, chiếc vòng tưởng niệm anh đang đeo trên tay có khắc tên Trung sĩ Al Boyer và Trung sĩ Greg Huston vẫn ở tình trạng mất tích trong sứ mệnh cùng ngày.

Những chiếc vòng tưởng niệm cho Trung sĩ Al Boyer, Trung sĩ Greg Huston, và Trung sĩ George Brown

Tưởng cũng nên ôn sơ qua về tình thế nước Lào thời chiến tranh Việt Nam.

Hiệp định Genèva cho phép thiết lập một nước Lào trung lập. Một trong những điều kiện cơ bản của hiệp định này là các nước phải rút hết quân ra khỏi Lào. Bắc Việt do ủng hộ quân Pathet Lào nên đạt được thoả thuận mượn một dải đất thuộc dãy Trường Sơn để hình thành nên đường mòn Hồ Chí Minh làm hành lang tiếp viện cho quân giải phóng miền Nam.

Trong lúc đó, Hoa Kỳ nỗ lực giành quyền kiểm soát dải đất hẹp này trên lãnh thổ Lào để khống chế sự xâm nhập của Bắc quân. Họ tuyển một số người làm việc cho nhóm Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam (Military Assistance Command Vietnams Studies and Observation Group - MACVSOG). Ngày ấy MACVSOG đã thực hiện một loạt các hoạt động bán quân sự chống phá Bắc quân trong suốt giai đoạn 1964-1972.

Một trong những hoạt động nói trên là thám báo chống phá đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào được thực hiện trong những năm từ 1965 đến 1969 khi tin tức tình báo cho thấy đường mòn Hồ Chí Minh được mở rộng để Bắc quân đáp ứng nhu cầu chi viện nhân lực và vũ khí cho chiến trường miền Nam. Các đơn vị thám thính được thành lập với tên gọi là các toán biệt kích “Mũi Nhọn” gồm từ sáu đến mười hai toán viên, trong đó có từ hai đến bốn toán viên Mỹ và từ bốn đến tám toán viên gốc bản địa (họ có thể là người Việt, Khmer, Hmong, vân vân).

Trong sứ mệnh ngày 28 tháng 3 năm 1968, toán biệt kích Mũi Nhọn ASP thuộc Tiền Doanh 4 được điều từ Nakhon Panom, Thái Lan, bao gồm tám toán viên Việt tham gia cùng với ba toán viên Mỹ là Trung sĩ Al Boyer, Trung sĩ George Brown, và Trung sĩ Greg Huston. Họ thực hiện nhiệm vụ gần mật khu sông Tchepone, Lào, triệt xuất sau khi đã đặt thiết bị nghe lén.

Chỉ bảy toán viên Việt chạy kịp đến chiếc trực thăng bốc toán. Những toán viên Việt thoát nạn đã có thể được bổ nhiệm từ Lực Lượng Hatchet tại Tiền Doanh 2. Trong khi một toán viên Việt còn lại và Trung sĩ Al Boyer đang leo bám thang dây của chiếc trực thăng thì thang dây bị đứt, không rõ do hỏa pháo từ phía đối phương hay sự cố kỹ thuật. Toán viên Việt leo bám thang dây bị đứt đã có thể là thông dịch viên cho toán này và làm việc cho cơ quan American Express tại Sài Gòn trong thời chiến. Hai toán viên Mỹ còn lại trên mặt đất chưa chạy kịp đến trực thăng là Trung sĩ George Brown và Trung sĩ Greg Huston. Số phận những người chưa thoát lên được trực thăng bốc toán xem như bị mất tích.

Nghĩ rồi nuốt lệ vào lòng nếu phải nhìn nhận thực tế có thể xảy ra cho gia đình người bị mất tích. Một khi chiến sĩ trở về nhà, thường là dưới hình thức hài cốt, còn thì họa hoằn lắm mới còn người sống sót. Không thể phủ nhận rằng nỗi tuyệt vọng từ năm này sang năm khác bào mòn ý chí cùng niềm tin của người thân. Mãi rồi gia đình chỉ mong nhận được hài cốt người mất tích, nói gì đến mơ người sống sót trở về.

Xác thân vùi lấp từ năm này sang năm khác, thậm chí vài thập niên sau mới được đào xới nhận dạng thì hình hài hẳn biến vào cát bụi còn xương cốt thì e cũng khó vẹn toàn. Ấy là nói đến khả năng biết chính xác nơi để đào xới; chứ còn đào xới phỏng theo ký ức nhạt nhoà của các chứng nhân lúc này tuổi đời đã cao, thì có chăng thu nhặt lại dăm mẩu xương khô, âu cũng là điều may mắn.

Đó là trường hợp của Trung sĩ George Brown. Nhiều năm trôi qua, sau bao thủ tục phức tạp để đạt sự đồng thuận từ phía chính phủ Lào cho công tác tìm hài cốt liên quan đến sứ mệnh ngày 28 tháng 3 năm 1968, kết quả đào xới mới nhất cho thấy đội tìm kiếm chỉ thu nhặt được một chiếc xương răng được nhận dạng DNA thuộc về ông.

Hồ sơ được khép lại, xem như Trung sĩ George Brown đã trở về nhà.

Con gái ông, cô Ronda Brown, đã không cam lòng. Cô giả định rằng có thể trong lúc chạy nước rút đến trực thăng, cha của cô đã vấp ngã nên bị gãy răng hoặc có khả năng ông đã bị đấm, bị đánh đến gãy răng trước khi giải đi. Chung quy, cô hy vọng mãnh liệt rằng cha của cô vẫn là tù binh và còn đang bị giam cầm ở đâu đó.

Chỉ tìm thấy duy nhất một chiếc xương răng. Không hơn không kém. Mẩu xương nhỏ nhoi lưu lại làm kỷ vật cho người thân. Phàm thì con người ta có quyền ươm hy vọng để mơ ước được thăng hoa. Rồi thì con người ta lại có khuynh hướng nhìn lên. Điều này không quá đáng vì nó làm cho cuộc sống bớt phần bi quan. Cô Ronda Brown không là trường hợp ngoại lệ.

Nếu một lúc nào đó khi tâm lắng lại, thử nhìn xuống mà xem, đã có không biết bao nhiêu chiến sĩ hy sinh mà không có ngày giỗ, không thu được mảnh xương tàn. Ngẫm mà an ủi để bằng lòng với hiện tại.

Bảy toán viên Việt sống sót trong sứ mệnh ngày đó hiện ra sao ? Họ ở đâu ? Họ còn tồn tại trên cõi đời này ? Nếu còn, biết đâu ký ức họ vẫn rõ nét về ngày định mệnh ấy để có thể cung cấp thêm thông tin nhằm giúp mang một đồng đội Việt và hai đồng đội Mỹ của họ bấy lâu nay ở lại nơi đất khách quê người được trở về nhà.

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, chúng ta cùng nhau thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến những người đã vị quốc vong thân để bảo vệ chính nghĩa cho đất nước.

Orchid Thanh Lê

Blog Archive