Showing posts with label Dien Anh. Show all posts
Showing posts with label Dien Anh. Show all posts

Wednesday, September 23, 2026

Điện ảnh Việt Nam 22 tháng 9

Nhà văn Đỗ tiến Đức giám đốc Nha Điện ảnh năm 1969, là người đề xướng ra ngày Điện ảnh Việt nam, và chọn ngày 22 tháng 9 năm 1969 là ngày Điện ảnh đầu tiên của Ngành Điện ảnh Việt nam.

Sở dĩ có ngày Điện ảnh VN xuất phát từ buổi họp của Nha Điện ảnh và Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá của cụ Mai Thọ Truyền. Trong phiên họp Cụ Mai thọ Truyền - cho biết Phủ Quốc Vụ Khanh Văn hoá sẽ tổ chức 1 tuần lễ Văn hoá. Trong tuần lễ Văn hoá sẽ trình diễn Cải lương, Kịch, Hát bội và Ciné.

Sau khi tham dự phiên họp xong, nhà văn Đỗ tiến Đức trở về Nha Điện ảnh đã bàn bạc với tất cả các nhân viên của Nha Điện ảnh làm cách nào để giới thiệu đến mọi người về Ngành Điện ảnh trong tuần lễ Văn hoá, không chỉ giới hạn trong các phim tài liệu hay phóng sự mà có các phim Truyện. Do đó nha Điện ảnh đã mời một số đạo diễn có tiếng tăm để thực hiện các bộ phim Truyện như “Xin nhận nơi này làm Quê Hương, Con búp bê nhồi bông, Ba cô gái suối châu ……

Đặc biệt trong tuần lễ Văn hoá, nha Điện ảnh đã khuyến khích Người Việt phải xem phim Việt, và trong ngày Điện ảnh tất cả các rạp Cine ở thành phố Sàigon sẽ đồng loạt chiếu phim Việt.

Trong ngày Điện ảnh 22 tháng 9 đầu tiên bộ phim “ Xin nhận nơi này làm Quê hương “ của cố đạo diễn Hoàng vĩnh Lộc được trình chiếu tại Rạp Rex với sự tham dự đông đảo các quan khách, các nam nữ tài tử, các đạo diễn, chuyên viên kỹ thuật, báo chí dưới chủ tọa của ông Nguyễn ngọc An Bộ trưởng thông Tin - Và trong Ngày Điện ảnh VN - ông Bộ trưởng bộ Thông tin Nguyễn ngọc An đã tuyên bố khai mạc ngày Điên ảnh Việt nam và ban hành chính sách phát triển Điện ảnh Việt nam cùng vạch một hướng đi cho nền Điện ảnh.

Sau sự thành công của ngày Điện ảnh Việt nam đầu tiên, các năm kế tiếp đúng ngày 22 tháng 9 là Ngày Điện ảnh Việt Nam - Ban Ngày chiếu phim Việt nam mới của các hãng phim được tuyển chọn trình chiếu ở Rạp Rex - buổi tối cùng ngày có buổi tiếp tân tại Khách sạn Caravelle.

Thành phần ban tổ chức Ngày Điện ảnh Việt nam được luân phiên thay đổi giữa Nha Điện ảnh, các chủ hãng phim, đạo diễn hay chuyên viên kỹ thuật v.v..

Ngày Điện ảnh Việt nam kỳ 5- 1973 là ngày Điện ảnh đặc biệt nhất vì ban tổ chức đã can đảm mời 10 phái đoàn Điện ảnh Á châu tham dự “ Mã Lai, Hongkong, Lào, Miến Điện, Tân Gia Ba, Nhật bản, Đại Hàn và Thái Lan – Sau ngày Điện ảnh, ban tổ chức đã đưa tất cả các nam nữ tài tử của 10 quốc gia và VN đi du lịch thăm Huế, Cổ thành Quảng Trị, Bờ sông Thạch Hãn, Vĩ Tuyến 17.

Khi đến phi trường Phú Bài Huế - phái đoàn Điện ảnh đã được đại tá tỉnh trường tỉnh Thừa Thiên chào đón và tặng các thành viên trong phái đoàn mỗi người 1 cái Nón Lá bài thơ - làm qùa kỷ niệm - Sau đó phái đoàn Điện ảnh đã đi thăm Hoàng Cung, lăng Tự Đức, dùng cơm trưa tại nhà thủy tạ với những món ăn Huế rất ngon. Khi hay tin có phái đoàn Điện ảnh ra thăm Huế, chuẩn tướng Bùi thế Lân tư lệnh Sư Đoàn Thủy Quân lục chiến cũng đã đáp trực thăng xuống dự bữa cơm trưa cùng phái đoàn trong vòng 30 phút sau đó lại bay ra chiến trường ngay, thật là vinh hạnh cho phái đoàn Điện ảnh.

Ngày hôm sau đến thăm Bờ Sông Thạch Hãn - mặc dù rất bộn rộn chuẩn tướng Bùi thế Lân Tư lệnh Thủy Quân lục chiến một lần nữa đã đáp trực thắng xuống thăm phái đòan kể cả Trung tướng Lâm quang Thi tư lệnh tiền phương của Quân đoàn 1.

Sau 4 ngày thăm viếng Huế, phái đoàn rời Huế về Sàigon trên máy bay của hãng hàng không Việt nam và đã được chiêu đãi tiệc “Champagne on air “, mặc dù máy bay ở độ cao vẫn êm ru, các diễn viên cùng nhau cụng ly với nhau, hàng ghế sau chồm lên ghế trước –hàng ghế ngang rất vui vẻ, thậm chí có nam diễn viên chạy dọc thân tàu lên xuống chạm ly hoặc hôn với các nữ diễn viên khách.

Cần được biết thêm trong chuyến ra thăm Huế có nam nữ tài tử Hongkong như Nhân Trân, Lý Thanh, Tạ Hiền, các nam nữ tài tử Thái Lan, Mã Lai, Nhật, Đại hàn, Việt nam như Thẩm thúy Hằng, Mộng Tuyền, Ngọc Tuyết, Băng Châu, các đạo diễn Bùi sơn Dzuân, Lê Dân, nam tài tử Trần Quang, Huy Cường, La thoại Tân v.v

Ghi chú thêm - trước khi phái đòan Điện ảnh ra Thăm Huế - ban tổ chức đã viết thư xin ý kiến của Đại tá tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên -Huế về vấn đề An ninh cho đoàn Điện ảnh trong lúc cuộc chiến đang xẩy ra, vì nhận thấy không có gì nguy hiểm, nên Đại tá Tỉnh trưởng Thừa Thiên chấp nhận để phái đoàn Điện ảnh du lịch Huế, Bờ Sông Thạch Hãn.

Tổng kết Ngày Điện Ảnh Việt nam đã tổ chức được 9 lần - 6 lần trong nước 1969 -1974 và 3 lần ở Hải Ngoại 1993 -1994 và 2000 - Tôi đã tham dự 5 lần trong nước và 1 lần ở Hải Ngoại năm 2000.

Một số chi tiết trong bài viết theo tài liệu trong đặc san Ngày Điện ảnh VN Hải ngoại 1994.

Nguyễn Toàn nhóm thân hữu ký gỉa Tân nhạc - Điện ảnh

Monday, September 14, 2026

MÃI NỢ MỘT LỜI TẠM BIỆT

Với … Mãi Nợ Một Lời Tạm Biệt …

Ròm có cảm giác nhà làm phim đã chọn một con đường rất khôn ngoan, đó là nhìn biến cố 30/4/1975 qua đôi mắt của một đứa trẻ.

Cu Đen không biết cộng sản hay quốc gia, không hiểu thắng hay thua, cũng chẳng biết thế nào là ý thức hệ. Nó chỉ biết thương bà nội, thương mái nhà của mình và rồi một ngày bị cuốn khỏi quê hương mà chưa kịp nói một lời từ biệt.

Chọn đôi mắt trẻ thơ làm lăng kính như thế có một hiệu quả rất lớn, những góc cạnh chính trị của cuộc chiến được làm mềm đi, còn lại tình bà cháu, gia đình, quê hương, mất mát và ký ức. Chính cách kể ấy khiến câu chuyện có thể đi vào lòng người Việt thuộc nhiều thế hệ và ở cả hai phía của một lịch sử vẫn còn nhiều tranh cãi. Các bài giới thiệu và phê bình phim tại Việt Nam cũng mô tả rất rõ cách bộ phim biến biến cố lịch sử thành câu chuyện về một gia đình bị chia lìa, thay vì đặt trọng tâm vào cuộc đối đầu chính trị…

Vì vậy, Ròm nghĩ sẽ không quá đáng nếu hiểu Mãi Nợ Một Lời Tạm Biệt như một lời mời gọi hòa hợp, hòa giải, đặc biệt hướng đến cộng đồng người Việt hải ngoại — từ thế hệ đã trực tiếp trải qua biến cố 30/4/1975 cho tới những người trẻ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài.

Nhưng ở đây có một câu hỏi đáng suy nghĩ:
“Hòa giải có đồng nghĩa với việc phải làm nhạt đi nguyên nhân lịch sử đã tạo ra cuộc chia lìa hay không?”

Mãi Nợ Một Lời Tạm Biệt đã được phát hành rộng rãi tại Việt Nam từ ngày 11/9/2026. Điều đó tự nó không chứng minh rằng phim được cho chiếu vì mang thông điệp hòa giải. Nhưng ít nhất nó cho thấy cách kể của bộ phim — tình thân, nguồn cội, ký ức và nỗi đau của một đứa trẻ sau ngày 30/4/1975 — là một cách kể có thể xuất hiện chính thức trên màn ảnh Việt Nam hôm nay…

Muốn biết giới hạn của cái gọi là “hòa hợp hòa giải” nằm ở đâu, Ròm lại nghĩ đến một phép thử rất đơn giản:

“Thử đem Từ Tro Tàn Chiến Tranh của đạo diễn Thanh Tâm về Việt Nam xin trình chiếu rộng rãi xem sao.”

Bộ phim ấy cũng nói về chiến tranh, mất mát và những người Việt phải rời quê hương. Nhưng nó không nhìn lịch sử bằng đôi mắt ngây thơ của một đứa trẻ. Nó chủ động ghi lại ký ức của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, những hệ quả sau biến cố 30/4/1975 và đưa ra những phán xét chính trị trực diện hơn rất nhiều. Chính những người thực hiện và giới thiệu phim cũng không che giấu mục tiêu ấy…

Nếu một ngày Từ Tro Tàn Chiến Tranh cũng có thể đường đường chính chính được trình chiếu tại Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng … nếu người trong nước được quyền nghe một ký ức khác về cùng một cuộc chiến rồi tự mình suy nghĩ và phán xét, thì lúc ấy hai chữ “hòa giải” mới thật sự đáng để chúng ta bàn tới.

Bởi hòa giải không nên có nghĩa là một bên được kể câu chuyện của mình với điều kiện phải kể sao cho bên kia cảm thấy dễ nghe.

Hòa giải thực sự phải bắt đầu từ khả năng chấp nhận rằng cùng một lịch sử có thể tồn tại những ký ức khác nhau.

Mãi Nợ Một Lời Tạm Biệt có thể là một bước đi đẹp về tình người. Nhưng muốn biết chúng ta đã đi được bao xa trên con đường hòa hợp hòa giải, cứ thử đặt bên cạnh nó Từ Tro Tàn Chiến Tranh của cô đạo diễn Thanh Tâm.

“Lúc đó mới biết đá, biết vàng.”

Ròm - 14/9/2026
Toronto, ON


Saturday, September 12, 2026

PHIM “BROKEN COUNTRY” CẢNH CÁO NHỮNG VẤN ĐỀ TẠI CANADA CÓ THỂ LÀ BÀI HỌC CHO NGƯỜI MỸ

Một phim tài liệu mới mang tên “Broken Country” đang đặt lại câu hỏi về hình ảnh Canada như một mô hình cấp tiến mà Hoa Kỳ nên noi theo. Đạo diễn người Canada Mira Metter và chồng bà, Mike Werry, đã đi khắp Canada, phỏng vấn hơn 4,500 người dân cùng hơn 70 chuyên gia chính sách để tìm hiểu các vấn đề về y tế, giá sinh hoạt, ma túy, di dân, tội phạm và chi tiêu chính phủ.

Một trong những trường hợp được đưa vào phim là một người đàn ông bị chấn thương cột sống sau khi té trên băng. Theo tài liệu của đoàn làm phim, ông phải chờ hơn 15 giờ mới gặp được bác sĩ giải phẫu. Bác sĩ sau đó nói nếu được giải phẫu trong vòng khoảng 1 giờ, ông có thể đã hồi phục hoàn toàn.

Ba năm sau, người này vẫn sống với đau đớn kinh niên và chỉ có thể đi một quãng ngắn nếu không dùng khung tập đi. Metter nói ông mất hơn 10 tháng mới được gặp chuyên viên tại một phòng khám giảm đau. Khi ông nói mức đau là 10 trên 10, ông được đề nghị Medical Assistance in Dying, gọi tắt là MAID, trong lúc ông chỉ muốn được điều trị để giảm đau.

Metter nói người đàn ông cảm thấy bị hệ thống phản bội vì ông không xem mình là một trường hợp vô vọng. Canada hợp pháp hóa MAID vào năm 2016 và chương trình này hiện chiếm một phần đáng kể trong tổng số ca tử vong tại quốc gia này.

Phim cũng đề cập đến tình trạng chờ đợi trong hệ thống y tế Canada. Một phúc trình của SecondStreet.org dựa trên dữ kiện thu thập qua luật tự do thông tin cho biết có ít nhất 23,746 trường hợp bệnh nhân chết trong lúc đang nằm trên danh sách chờ giải phẫu hoặc chẩn đoán từ ngày 1 tháng 4 năm 2024 đến ngày 31 tháng 3 năm 2025. Tổ chức này cũng lưu ý số liệu còn thiếu tại một số tỉnh bang nên con số thực tế có thể cao hơn.

Metter còn cho rằng mức gia tăng di dân tạm thời quá nhanh đã tạo áp lực lớn lên hạ tầng Canada. Bà nói trong khoảng 1 đến 2 năm, Canada tiếp nhận khoảng 2.3 triệu người trong khi dân số toàn quốc khoảng 40 triệu. Theo bà, những thành phố như Toronto không được chuẩn bị để tiếp nhận số người lớn như vậy trong thời gian ngắn.

Phim cũng xem xét chính sách ma túy của Canada, kể cả các địa điểm sử dụng ma túy có giám sát và chương trình cung cấp dụng cụ an toàn. Metter nói những chính sách này đang gây tranh luận, đặc biệt khi có những trường hợp liên quan đến thanh thiếu niên.

Sau khi phỏng vấn người dân từ nhiều vùng khác nhau, Metter nói điều nổi bật nhất là những khó khăn không giới hạn ở một khuynh hướng chính trị nào. Theo bà, nhiều người cùng than phiền về khả năng mua nhà, chi phí sinh hoạt, việc sống từ kỳ lương này đến kỳ lương kế tiếp và khó tiếp cận bác sĩ hoặc dịch vụ y tế khi cần.

“Broken Country” dự trù được chiếu giới hạn tại các rạp ở Canada và Hoa Kỳ từ ngày 18 tháng 9 năm 2026. Phim sau đó dự trù xuất hiện trên Amazon Prime vào ngày 26 tháng 10.

Nguồn: Fox News, SecondStreet.org
Phân tích và biên tập: Luan Vo
Tin Hoa Kỳ by VLKT News

Thursday, September 10, 2026

Những ngày cuối cùng của Marlon Brando

Marlon Brando đã sống những tháng ngày cuối đời trong sự cô đơn, khép kín trong căn nhà ở Beverly Hills, trên con đường Mulholland Drive. Cánh cổng nhà luôn đóng, rất ít người được bước vào. Bên trong, ông chỉ quanh quẩn với vài người thân cận: cô quản gia Maria Ruiz, một y tá riêng tên Carmen, và thỉnh thoảng có Tuki – đứa cháu ngoại, con trai của Cheyenne – người ông hết mực thương yêu.

Dù sức khỏe sa sút, trí óc Brando vẫn minh mẫn. Ông dành hàng giờ để đọc lại những cuốn Dostoïevski đã được chính tay ông ghi chú, nghe những đĩa nhạc jazz cũ, và xem lại những bộ phim của chính mình như Sur les quais (Trên bến cảng) hay Le Parrain (Bố già). Không phải vì tự mãn, mà như một cách để tìm lại những cảm xúc đã từng chôn giấu.

Từ đầu những năm 2000, cơ thể ông ngày càng yếu. Brando mắc tiểu đường, suy tim, xơ phổi. Mỗi hơi thở đều trở thành một nỗ lực mệt nhoài. Ông chủ yếu ngồi trên chiếc ghế tựa đặt cạnh cửa sổ lớn phòng khách. Buổi sáng bắt đầu tầm 10 giờ, với một tách trà nóng và liệu trình hỗ trợ hô hấp. Bữa trưa thường chỉ là chút trái cây hoặc bát súp miso, rồi là những khoảng lặng kéo dài, nửa tỉnh nửa mê. Ông ghét bệnh viện, và luôn muốn được điều trị ở nhà. “Tôi đã diễn đủ trên các sân khấu rồi,” ông thì thầm với y tá. “Hãy để tôi rời khỏi khi đến lúc.”

Vai diễn cuối cùng của ông trên màn ảnh là trong The Score (2001), đóng cùng Robert De Niro và Edward Norton. Ông vào vai Max, một ông trùm tội phạm. Trên phim trường, Brando từng gây khó cho đạo diễn Frank Oz – thậm chí gọi ông bằng biệt danh “Miss Piggy”, gắn với quá khứ của Oz với loạt phim The Muppets. Tuy gây căng thẳng, nhưng màn trình diễn của Brando vẫn được ca ngợi, bởi thần thái tự nhiên không lẫn vào đâu. Sau bộ phim này, ông vĩnh viễn rời xa nghiệp diễn.

Trong một buổi phỏng vấn riêng năm 2003, Brando chia sẻ:
“Tôi không sợ chết. Tôi chỉ sợ người ta sẽ nhớ sai về tôi.”

Ông ngẫm nghĩ về một đời đầy mâu thuẫn: “Họ biến tôi thành vừa thần thánh vừa hề hước trong cùng một câu. Nhưng tôi chưa bao giờ muốn gì hơn ngoài việc được làm một con người. Diễn xuất, rốt cuộc, chính là vừa che giấu, vừa nói sự thật.”

Đến giữa năm 2004, ông gần như không còn ăn uống được. Lời nói thưa dần. Một tối, khi nhìn hoàng hôn ngoài cửa sổ, ông nói với Carmen:
“Trước đây, tôi đi tìm ý nghĩa. Giờ, tôi chỉ muốn tìm sự bình yên.”

Ngày 1/7, khoảng 18 giờ 30, hơi thở ông ngắn lại. Y tá gọi cho bác sĩ riêng Ronald Korn. Người nhà đã được báo trước. Con trai ông, Miko, đến kịp trong vòng một giờ. Đêm hôm đó, khi huyết áp tụt, Brando ra hiệu tắt đèn. Lời cuối ông nói với Carmen là:
“Giờ thì tôi chỉ muốn ngủ.”

Ông ra đi lúc 23 giờ 45, hưởng thọ 80 tuổi, bàn tay vẫn được con trai nắm chặt. Không có ống kính, không có ánh đèn, chỉ còn tiếng máy lạnh khe khẽ và tiếng lá cây xào xạc bên ngoài.

Có một kỷ niệm ít người biết: một lần, Brando gọi điện cho người bạn thân Quincy Jones. Ông nói:
“Q, chúng ta đã cười nhiều hơn là khóc, đúng không?”

Cuộc gọi chỉ kéo dài 12 phút, nhưng Jones sau này kể lại: “Nó giống như một lời tạm biệt, được giấu trong nỗi hoài niệm.”

Brando đã rời khỏi thế gian trong sự lặng lẽ mà cả đời ông vẫn kiếm tìm – không phải như một huyền thoại điện ảnh, mà như một con người đang dần buông mình vào im lặng.


Wednesday, August 26, 2026

NGƯỜI PHỤ NỮ KHÔNG BIẾT ÔNG LÀ JAMES BOND

Ông từng giao sữa trước bình minh.

Từng xây tường, lái xe tải, lau hồ bơi và đánh bóng những chiếc quan tài trong một cửa hàng nội thất im lặng đến lạnh người.

Ông từng phải rời trường học năm 13 tuổi để kiếm tiền giúp gia đình.

Vậy mà rồi, người đàn ông ấy trở thành James Bond.

Và điều đẹp nhất trong cuộc đời ông lại không phải là danh tiếng.

Mà là một người phụ nữ đã yêu ông khi bà thậm chí chẳng biết ông là ai.

Sean Connery sinh năm 1930 tại Edinburgh, Scotland, trong một gia đình nghèo. Cha ông là tài xế xe tải, mẹ làm công việc lau dọn. Cả gia đình sống trong một căn hộ chật chội và phải ngủ chung một phòng.

Tuổi thơ của ông không có những điều xa hoa.
Có những buổi sáng trời còn chưa sáng, cậu bé Sean đã phải ra ngoài giao sữa trong cái lạnh buốt của Scotland.

Sau đó là đủ loại công việc để kiếm sống: phụ hồ, lái xe tải, lau hồ bơi.

Có thời gian ông làm việc trong một cửa hàng nội thất và đánh bóng quan tài. Mỗi ngày ông làm việc giữa những chiếc quan tài và sự im lặng nặng nề của những cuộc chia ly.

Để kiếm thêm tiền, ông còn làm người mẫu khỏa thân cho các sinh viên nghệ thuật ở Edinburgh.

Năm 16 tuổi, Sean gia nhập Hải quân Hoàng gia Anh.

Nhưng sức khỏe không cho phép ông tiếp tục. Ông được giải ngũ sau khi mắc các vấn đề nghiêm trọng về dạ dày.

Khi trở về, ông không có tiền bạc, không có danh tiếng và cũng chẳng có một tương lai rõ ràng.

Nhưng ông có một thứ mà rất nhiều người thành công sau này từng có.
Đó là quyết tâm không chịu đầu hàng.

Năm 1953, ông tình cờ tham gia cuộc thi Mister Universe và giành vị trí thứ ba.

Một thí sinh khác nói với ông về một buổi thử vai cho một vở nhạc kịch.
Sean chưa từng học diễn xuất.
Ông gần như không biết gì về nghề này.
Nhưng ông đi thử.
Và cuộc thử vai ấy đã mở ra một cánh cửa mà chính ông cũng không thể tưởng tượng được.

Suốt gần một thập nienỷ, Sean Connery chỉ nhận những vai nhỏ. Nhiều đạo diễn cho rằng ông quá thô, quá bình dân và đặc biệt là giọng Scotland của ông không phù hợp với hình tượng một quý ông Anh quốc.

Nhưng Sean vẫn tiếp tục.
Cho đến năm 1962.
Bộ phim Dr. No cần một nam diễn viên đóng vai điệp viên James Bond.
Sean Connery được cân nhắc.
Các nhà sản xuất vẫn còn do dự.
Nhưng vợ của đạo diễn đã nhìn thấy Connery bước đi trên đường qua cửa sổ và nói một câu gần như định đoạt số phận của ông:
“Người đàn ông này có một điều gì đó đặc biệt.”
Sean nhận vai.
Dr. No thành công vang dội.
Và cậu bé nghèo từng giao sữa trước bình minh đã trở thành James Bond, một trong những nhân vật điện ảnh nổi tiếng nhất lịch sử.

Nhưng câu chuyện đẹp nhất lại xảy ra nhiều năm sau đó.
Năm 1970, tại một giải golf ở Morocco, Sean Connery gặp Micheline Roquebrune, một nữ họa sĩ người Pháp gốc Morocco.
Bà nhìn thấy ở ông một người đàn ông lịch lãm, ấm áp và có đôi mắt dịu dàng.
Nhưng có một điều rất đặc biệt.
Micheline chưa từng xem phim James Bond.
Bà thậm chí không biết người đàn ông trước mặt mình chính là ngôi sao điện ảnh nổi tiếng khắp thế giới.
Với bà, ông không phải James Bond.
Không phải một huyền thoại.
Không phải một biểu tượng điện ảnh.
Ông chỉ đơn giản là Sean.
Và có lẽ đó chính là điều khiến tình yêu của họ trở nên đặc biệt.
Họ kết hôn năm 1975.
Họ ở bên nhau suốt 45 năm.

Đến năm 2020, Sean Connery qua đời ở tuổi 90.
Ông đã có tất cả những thứ mà một người đàn ông có thể mơ ước: danh tiếng, tiền bạc, những vai diễn bất tử và hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới.
Nhưng có lẽ điều quý giá nhất vẫn là một người phụ nữ có thể nhìn ông mà không nhìn thấy James Bond.
Bà chỉ nhìn thấy Sean.
Bởi vì đôi khi, sau cả một đời đi tìm ánh hào quang, điều một con người thực sự cần không phải là được cả thế giới biết đến.
Mà là có một người nhìn thấy con người thật của mình.
Không phải huyền thoại.
Không phải ngôi sao.
Chỉ là mình.

Sean Connery đã dành phần lớn cuộc đời để trở thành người mà cả thế giới ngưỡng mộ.

Nhưng trong tình yêu, ông may mắn gặp được một người không cần James Bond

Bà chỉ cần Sean.

My Lan Pham




Wednesday, August 19, 2026

CÂU CHUYỆN ĐIỆN ẢNH

Khi Val Kilmer lâm bệnh và cuộc sống của anh bắt đầu chìm trong bệnh viện, phẫu thuật và những khoảng lặng dài, có một người luôn trả lời mọi cuộc gọi: Cher.
Họ đã không còn là một cặp đôi trong nhiều thập nien.
Thế nhưng, cô ấy vẫn ở lại.

Họ gặp nhau lần đầu vào năm 1982 tại một bữa tiệc sinh nhật ở Hollywood.
Anh ấy hai mươi hai tuổi — gầy gò, hóm hỉnh và vẫn còn khá vô danh đối với công chúng. Cô ấy ba mươi sáu tuổi và đã là một siêu sao quốc tế, một người có sức hút có thể thu hút sự chú ý ngay khi bước vào phòng.
Họ được bạn bè chung giới thiệu, gần như là một trò đùa.
Nhưng chỉ cần một chút thời gian ngắn, họ đã bắt đầu trò chuyện và cười đùa với nhau một cách tự nhiên, điều thường chỉ có được sau nhiều năm, chứ không phải chỉ sau vài phút.

Ban đầu, đó là tình bạn.
Họ dành cả ngày để trò chuyện, chia sẻ những câu chuyện cá nhân, đùa giỡn không ngừng. Rồi nụ hôn đầu tiên đến.
Nhiều năm sau, Cher nói rằng khoảnh khắc đó đã khiến cô ấy choáng ngợp đến mức gần như mất kiểm soát. Cô ấy nói rằng có điều gì đó khác biệt ở Val — điều gì đó khó giải thích.
Mối quan hệ của họ trở nên mãnh liệt và đầy tình cảm sâu sắc. Hollywood chủ yếu tập trung vào khoảng cách tuổi tác 14 năm giữa hai người, nhưng dường như cả hai sống trong một thế giới hoàn toàn riêng biệt.
Họ tự đặt cho nhau những biệt danh riêng.
Anh ấy là “Sid”, cô ấy là “Ethel”. Sau này, họ còn đặt những biệt danh kỳ quặc và trìu mến hơn: “Valus Maximus” và “Cherus Reprimandus”.
Cher nhiều lần nói rằng Kilmer khác biệt với bất kỳ ai cô từng biết.
Khó đoán, phóng túng, đôi khi khó chịu — nhưng sống động theo một cách hiếm có và không thể nào quên.

Năm 1984, chính anh là người chấm dứt mối quan hệ.
Nhiều năm sau, Cher thừa nhận rằng anh là một trong số rất ít người đàn ông thực sự rời bỏ cô. Cô nói rằng cô đã yêu anh sâu sắc và chưa bao giờ thực sự quên anh.
Tuy nhiên, mối liên kết giữa họ chưa bao giờ hoàn toàn biến mất.
Ba mươi năm trôi qua.
Cuộc sống của họ thay đổi, sự nghiệp rẽ sang những con đường khác nhau, những mối tình khác đến rồi đi, và những khó khăn khác cũng vậy. Nhưng mối liên kết đó vẫn còn.

Từ năm 2014 đến năm 2015, Val Kilmer phải đối mặt với bệnh ung thư vòm họng. Căn bệnh đã dẫn đến những cuộc phẫu thuật lớn, những đợt nằm viện dài ngày và sự thay đổi sâu sắc cả về giọng nói lẫn sức khỏe của ông.
Trong suốt thời gian đó, chính Cher là người đã mở cửa nhà đón ông.
Không phải với tư cách một người bạn gái cũ nổi tiếng. Mà là người chưa bao giờ thực sự ngừng ở bên cạnh ông.
Một đêm nọ, Kilmer tỉnh dậy và nôn ra máu. Sau này ông nói rằng căn phòng trông giống như một cảnh trong phim. Ông gọi dịch vụ cấp cứu. Rồi ông gọi cho bà.
Và bà đã đến.

Trong cuốn hồi ký năm 2020, Val mô tả Cher là người phụ nữ hài hước nhất mà ông từng biết. Ông viết rằng có những người bước vào tâm trí và trái tim bạn và không bao giờ thực sự rời đi, ngay cả khi cuộc sống kéo bạn theo những hướng khác nhau.
Trong những năm cuối đời, khi việc nói trước công chúng trở nên khó khăn và mỗi lần xuất hiện đều đòi hỏi nỗ lực rất lớn, ông biết rằng chỉ cần một cuộc điện thoại là đủ.
Bà sẽ trả lời.

Val Kilmer qua đời vào ngày 1 tháng 4 năm 2025, ở tuổi 65, vì bệnh viêm phổi. Tin tức này đã được con gái ông, Mercedes Kilmer, xác nhận.
Vài ngày sau, Cher đã chia sẻ lời nhắn nhủ tạm biệt của mình. Cô ấy miêu tả anh ấy là người dũng cảm, thông minh, hài hước, và cũng vô cùng bướng bỉnh.
Nhưng trên hết, cô ấy nói lời tạm biệt bằng một cái tên chỉ thuộc về hai người họ.
Cô ấy không viết “Val.”
Cô ấy không viết “Kilmer.”
Cô ấy chỉ viết: “Valus.”
Cái tên cô ấy đặt cho anh khi họ còn trẻ, khi mà họ vẫn cảm thấy như thể thế giới sẽ không bao giờ kết thúc…

- Cang Huỳnh lược dịch từ Cinéma mondial.

Sunday, August 2, 2026

Diện ảnh Việt Nam

Thú thật là tôi rất ít khi ngồi viết tâm sự, nhưng có một điều làm tôi trăn trở khá lâu kể từ ngày phim Việt được xuất khẩu ra nước ngoài và trình chiếu ở vài rạp chọn lọc nơi có đông người Việt. Đó là tại sao điện ảnh Việt Nam vẫn chưa thể quảng bá được chính văn hóa của mình?

Những bộ phim Việt tôi có dịp xem ở Mỹ hầu như chưa từng có nổi một cảnh nhân vật ngồi ăn tô phở hay cầm ổ bánh mì gặm dở. Trong khi đó, đấy lại chính là hơi thở, là nét văn hóa ẩm thực cốt lõi của người Việt. Nhìn sang Hàn Quốc mà xem, họ thành công rực rỡ khi đưa kim chi, tteokbokki phủ sóng khắp thế giới. Còn điện ảnh Việt thì sao? Quá yếu kém trong khoản này.
\
Hôm nay đi xem bộ phim Spider-Man mới ra rạp, phải nói tôi thật sự bất ngờ với một phân cảnh: Bạn của Spider-Man nói rằng cậu ta vừa đặt bánh mì, mà đặt hẳn 5 ổ liền vì biết Nhện đang ở đây và cần ăn cho thật no.

Vừa vui mà cũng vừa buồn. Vui vì Hollywood đang vô tình quảng bá món ăn Việt cho cả thế giới biết đến. Nhưng buồn và chạnh lòng ở chỗ: Tại sao người Việt lại không thể tự quảng bá cho chính mình mà cứ phải chờ đến tay người ngoại quốc? Thiết nghĩ, điện ảnh Việt nên và phải là bên đầu tiên làm được điều này mới đúng.

Nhưng suy cho cùng, chuyện này lại một lần nữa phơi bày cái tính thói: Biết thừa mình yếu, nhưng ai lỡ lời chê một câu là nhảy dựng lên như nước đổ dầu sôi, vỗ ngực tự xưng mình là số một. Cái lạ đời của người Việt là thế đấy, chẳng bao giờ chịu nhận mình sai hay kém cỏi, lúc nào cũng phải là vô địch cơ, mới chịu!

ChanNhu

Monday, July 20, 2026

Tại sao phim đề tài Miền Nam nhưng tâm lý và văn hóa không phải kiểu Nam Kỳ?

Tui đọc được bài "Cậu 3 Nam Kỳ lộn xào" lên tiếng vụ bộ phim truyền hình "T-iếng s-ét trong m-ưa" có nhân vật Cậu Ba do Cao Minh Đ-ạt thủ diễn thô lỗ, đánh hầu gái tàn tệ, cục súc vô giáo dục, bất nhơn thất đức.

Cậu Ba do Cao Minh Đ-ạt là con nhà điền chủ Miền Nam đang ăn, không vừa lòng một món nào đó lập tức cầm dĩa đồ ăn đ-ập thẳng vô đầu hầu gái trước mặt cha mẹ.

Dân nhà giàu Miền Nam đâu có mất dạy như vậy.

"T-iếng s-ét trong m-ưa" còn có cảnh trong nhà điền chủ Miền Nam thời Pháp của ông bà Hội Đồng mà có chuyện qu-ăng người xuống giếng rất thô thiển. Bà Hội Đồng chống nạnh chỉ đạo quăng người xuống giếng, bà la lên "Vất nó xuống giếng cho bà!"

Qu-ăng người xuống giếng là chôm của phim Tàu, còn "vất nó" là từ ngữ của Miền Bắc.

Miền Nam hịch hạp hào sảng nên muốn nhét gì vô cũng được hen?

"T-iếng sét trong m-ưa" là phim mình Ngô Đầu Sở, kịch bản của Tàu và bên kịch cùng đạo diễn ráng đem nhét nó vô bối cảnh Nam Kỳ thời Pháp, vậy là thành đâm bang xuồng bể, thành sọc dưa, coi phim cứ ôm bụng cười, trình độ văn hoá tệ hại đến thế là cùng.

Có một dòng phim "cung đấu" của đài Vĩnh Long ráng nói về xã hội Nam Kỳ thời Pháp nhưng cho ông điền chủ hay ông Hội Đồng có nhiều vợ bé vợ nhỏ ở chung nhà kiểu "Lồng đèn đỏ cao cao" của Tàu, rồi bà lớn nhỏ đấu đá nhau hàng ngày, ăn cơm cũng nguýt hái cũng đá xéo nhau, đi qua đi lại cũng hạ bệ nhau tàn bạo, thuốc độc hạ thủ thuốc nhau như giỡn chơi.

Ăn mặc thì áo quần xanh đỏ tím vàng, đàn ông đàn ang cứ ẹo qua ẹo lại áo quần như xiếc khỉ. Nhà cửa thì màu sắc đậm lét, thất nhơn hơn là Miền Nam có "bà cả" và "cậu cả" kiểu Bắc Kỳ!

Người ta coi thường văn hoá Miền Nam, coi thường người Miền Nam đến tận cùng, ham mê tố cáo xã hội và điền chủ Miền Nam theo xu hướng sau 1975 là phải "ác tận cùng" nhưng quên rằng lớp nhà giàu Tây học hồi đó học cái tánh ga lăng với đàn bà nên tôn trọng phụ nữ.

Thói quen quăng người xuống giếng không có trong xã hội Miền Nam, cũng không có cạo đầu bôi vôi, không thả rọ heo, không thả bè chuối trôi sông.

Miền Nam chỉ có bà hai và cậu hai và ông Hội Đồng thì không bao giờ có vợ bé ở trong nhà công khai vì luật pháp bấy giờ cấm.

Người đàn ông Miền Nam xuất thân điền chủ xưa không tàn ác và không đánh phụ nữ tàn tệ như trong phim mô tả cậu Ba. Lịch sự Âu Tây không lục bóp đàn bà, lịch sự Âu Tây không thô bạo với phụ nữ.

Người Miền Nam chúng ta vẫn được giáo dục về tánh ga lăng đàn bà, đi đâu đàn ông Nam Kỳ cũng lịch sự chủ động mở cửa, kéo ghế cho phụ nữ khi đi ăn, nhường ghế ngồi, hoặc che chắn khi đi đường đông.

Chẳng phải có giai thoại công tử Mỹ Tho dùng tiền đốt sáng cho người đẹp kiếm cây son đó sao?

Ga lăng là từ tiếng Pháp galant, dùng để chỉ người đàn ông phóng khoáng, lịch lãm, biết quan tâm và chiều chuộng phụ nữ khéo léo từ những hành động nhỏ nhặt nhứt.

Nam Kỳ có chữ nịnh đầm. Nịnh đầm là ga lăng phụ nữ đó!

Đàn ông Miền Nam Việt Nam nổi tiếng với tính cách này nhờ sự ảnh hưởng của lối sống phóng khoáng, trọng tình nghĩa, tôn trọng nhơn quyền, quyền tự do ngôn luận và coi trọng giao kết tình thâm trong giao tiếp của người Nam Kỳ.

Phim "Người đẹp Tây Đô" tả cảnh ông chồng con điền chủ cưới hoa khôi Tây Đô là cô nữ sinh Bạch Cúc con một ông đốc học về nhà và hành hạ đánh đập chửi rủa kinh khủng, cả gia đình từ cha mẹ ông bà tới chồng thô bạo với con dâu.

Đôi lúc người coi phim sẽ tự thắc mắc và đặt câu hỏi, mắc cái giống gì mà giàu có bỏ tiền cưới vợ đẹp về để đánh đá và hành hạ nó chi vậy? Ông chồng không có tâm thần để hành động kiểu đó.

Có nguyên nhân đó!
Phim "cách mạng" sẽ có mô típ, vì bên chồng giàu mà ác quá nên con dâu mới có động lực đi làm cách mạng, vô rừng vô bưng theo "các chú các anh" để học lý luận, để kết nạp, để giải phóng.

Quả thiệt, trong "Người đẹp Tây Đô" có thông điệp nặc mùi vô sản lý luận, Bạch Cúc tuyên bố xanh dờn trước mặt chồng "Đã đến lúc tôi giải phóng thân phận của tôi!"

"Người đẹp Tây Đô" là một truyện dài và lên một bộ phim, nhưng tất cả thể hiện sự bất ổn tâm lý, trái khuất logic của người viết ra nó.

Phim Đất Phương Nam dù có nhà văn Sơn Nam cố vấn nhưng vẫn không thoát khỏi định hướng tuyện truyền về giới điền chủ Miền Nam, bà hội đồng dẫn người đi giũ nồi vét ống th-ắt cổ m-ổ họng tá điền từng hột lúa, thì ông hội đồng mang súng xông vô nhà tá điền giữa ban ngày h-ãm hiếp gái mới lớn, dẫn người bức tử tá điền tr-eo c-ổ chết.

Không ai dám nói điền chủ Miền Nam ác như quỷ, kiểu Tiếng Hò Sông Hậu tố cáo để tạo tiền đề cho "CM" phải nổi lên. Nhưng điền chủ Miền Nam cũng làm nhiều việc có ích cho đời mà địa danh Nam Kỳ còn ghi.

Gò Công xưa có ao Hộ Mưu, đường Hộ Mưu do ông Bá Hộ Trương Văn Mưu làm cho dân đi cho dân gánh nước uống.

Mang Thít Vĩnh Long có con kinh đào mang tên Thầy Cai dài 2 km giữa những lò gạch đỏ.

Thầy Cai có công đài kinh, bỏ tiền và công sức ra vận động đào kinh là ông Cai tổng Huỳnh Đình Ngộ (1876-1946). Ông Ngộ là cai tổng dưới thời Pháp thuộc nhưng lại có tấm lòng, hay bỏ tiền ra bốc thuốc chữa bịnh cho dân chúng trong làng.

Tân An còn cầu Tổng Huẩn, đó là cây cầu ngày xưa do cai tổng Huẩn bắt qua con kinh cũng mang tên ông, con đường cũng do cai tổng Huẩn vận động đắp để nối Tân Trụ và Tân An.

Vẫn còn đó cầu Bà Phủ, cầu Ông Huyện. Còn vô số Kinh Hội Đồng ở khắp Miền Nam, tại Đồng Tháp còn đó Kinh Hội Đồng Tường và Cầu Kinh Hội Đồng Tường.

Cái định hướng tuyên truyền sau 1975 như dây trói định kiến, hễ điền chủ Nam Kỳ là phải ác, phải là thứ bốc lột và tàn bạo, vì ác quá nên dân mới nổi lên, mới có "cách anh các chú" bà ba đen khoát khăn rằn xuất hiện như thánh thần cứu tinh, như đại ân nhân làm chuyện "giải phóng" con người.

Căn bịnh trầm kha của những cái đầu luôn tự ti về xuất thân thấp kém của họ.

Nhà chép sử Tạ Chí Đại Trường gọi những thứ sau 1975 trong văn hóa là thói tự ti của người xuất thân h-èn mọn.

Đời Cô Lựu là một tuồng cải lương giải trí vô thưởng vô phạt trước 1975 cho người bình dân coi cho vui, ai ngờ sau 1975 nó gánh nhiệm vụ "kết án" giới nhà giàu điền chủ Nam Kỳ.

Truy tìm lịch sử Miền Nam sẽ không bao giờ có trường hợp nào điền chủ lấy vợ tá điền, không có bà hội đồng nào gốc tá điền như cô Lựu.

Cũng không có trường hợp nào hội đồng lấy vợ tá điền với cách thức cải lương của ông Trần Hữu Trang viết ra.

Vợ tá điền đẹp cỡ nào mà hội đồng Thăng phải thủ đoạn như vậy? Nó chỉ là một tuồng cải lương tự suy diễn, tự nghĩ ra, coi cho vui.

Nhưng chúng ta vẫn ghi nhận vài câu thoại rất Nam Kỳ trong Đời Cô Lựu, thí dụ "Lịch sự Âu Tây không lục bóp đàn bà!", "Con tao có giấy khai sanh, vợ tao có hôn thú".

Điều này chứng tỏ cái gì? là xã hội thời Pháp vẫn có luật pháp.

Xã hội không phải kiểu luật rừng như người cộng sản mô tả trong những tuồng những phim tuyên truyền của họ.

Trong Vụ Án Đồng Nọc Nạn trạng sư tranh cãi giữa toà án mà anh em Mười Chức trắng án và được trả tự do mà!

Vào thời điểm đó, báo La Tribune Indochinoise, báo Đông Pháp thời báo đã vào cuộc mạnh mẽ, điều tra và phanh phui sự bất công này. Sự lên tiếng của dư luận và báo giới đã tạo ra làn sóng ủng hộ mạnh mẽ cho những người nông dân.

Báo chí nhựt trình thời Pháp cũng khá nhiều, ông hội đồng nào giữa ban ngày đi dí gái, bức tử người tá điền như trong Đất Phương Nam mà nhựt trình ky' giả biết là ông khỏi còn đường sống.

Hỏi, sau 1975 có vụ án nào luật sư tranh cãi thẳng mà tòa trả tự do giữa phiên tòa chưa?

Hơn ai hết giới điền chủ, hội đồng Nam Kỳ xưa phải tuân theo pháp luật trước tiên, họ không dám làm những thứ bại hoại đạo lý như phim ảnh đã tả.
Hội đồng quản hạt Nam Kỳ hay Hội đồng nghị viện Bắc Kỳ phải tuân thủ luật pháp.

Chúng ta coi truyện và phim Chị Dậu có thắc mắc không?
Chị Dậu bị bần cùng vì sưu thuế phải đem đứa con gái đầu lòng và cả ổ chó bán cho Nghị Quế chỉ được trả với giá rẻ mạt là hai đồng bạc.

Nghị Quế là chức gì? Ông Quế từ lý trưởng lên ghế nghị viên hội đồng Bắc Kỳ, dạng như ông Hội Đồng trong Nam Kỳ.

Thực tế, Nghị Quế sẽ không dám mua con gái chị Dậu.
Vì sao? Hình luật canh cải Bắc Kỳ cấm mua bán con người. Con người có tư cách pháp lý độc lập. Mọi hợp đồng, văn tự có nội dung mua bán, cầm cố, hoặc hoán đổi trẻ em (dù dưới danh nghĩa làm con nuôi, người hầu) đều bị coi là bất hợp pháp và vô hiệu ngay từ thời điểm lập ra.

Bộ dân luật Bắc Kỳ cũng cấm mua bán người. Điều thứ 9:
"Người và của là không xâm phạm được và thuộc quyền pháp luật bảo hộ. Tục nô lệ là nghiêm cấm. Không ai có quyền được dịch sử nhân thân kẻ khác trái với luật pháp."

Người Pháp xóa bỏ các tập tục mua bán nô tì. Thậm chí người Pháp còn cấm tiệt cái thói quen xá lạy người còn sống của dân Việt thời đó.

Thiệt rầu khi truyện, phim là tác phẩm văn học sau thời "cách mạng vô sản" làm ngược mọi thứ xã hội chỉ để phục vụ mưu đồ chánh trị.

Thành ra những "Chị Dậu" hay "Câu 3 Nam Kỳ lộn xào", "Bà Hội Đồng Nam Kỳ" quăng người xuống giếng" như phim Tàu cùng người đẹp Tây Đô sanh ra để chồng...đánh vẫn cứ xà quần nhỡn nhơ giữa xã hội này làm người ta thắc mắc cho vui.

"T-iếng s-ét trong mưa" là bộ phim cải biên phóng tác từ văn hoá Tàu, nhưng biên kịch và đạo diễn non tay, thành ra áp vô Nam Kỳ bị chênh bị niễng.

Nhớ nhà văn Phan Khôi từng viết rằng: “Ta mà còn đê hèn vậy, mong gì ai trọng ta!”

Truong Nhan Viet

CHUYỆN TÌNH CỦA “NGÔI SAO TỬ TẾ NHẤT THẾ GIỚI” - KEANU REEVES

Keanu Reeves (1964), 61 tuổi, là diễn viên nổi tiếng ở Hollywood được khán giả biết đến qua các tác phẩm hành động. Nổi bật là vai sát thủ John Wick ở loạt phim cùng tên và vai diễn Neo trong series phim Ma trận (The Matrix).

Đằng sau những tác phẩm điện ảnh đỉnh cao, công chúng và truyền thông vẫn nhắc đến Keanu Reeves là một ngôi sao tử tế bậc nhất Hollywood. Song cuộc đời anh lại chịu nhiều bất hạnh, trải qua đau thương mất mát tận cùng mới tìm đến được bến bờ của hạnh phúc.

Sau gần bốn thập nien tỏa sáng trên màn ảnh, tổng số tiền ngôi sao của loạt phim John Wick tích góp được đã vào khoảng 380 triệu USD. Tuy nhiên, Reeves không coi đây là thành tựu hay thước đo đẳng cấp.

Năm 2006, Keanu Reeves từng chia sẻ: "Tiền bạc chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Tôi kiếm được rất nhiều tiền, nhưng tôi đã cho đi không ít tiền bạc và sống đơn giản, chủ yếu là nay đây mai đó tại các khách sạn. Chúng ta đều biết sức khỏe tốt mới là điều quan trọng hơn cả".

Ở Hollywood, nơi hào quang thường đi cùng những bữa tiệc xa hoa, những chiếc siêu xe và các cuộc tình chớp nhoáng, Keanu luôn là một ngoại lệ. Anh không thích khoe khoang. Không thích nói về bản thân. Cũng chưa bao giờ cố chứng minh mình là ngôi sao.

Fan đã từng bắt gặp Keanu Reeves nhường ghế trên tàu điện cho phụ nữ hay thấy anh chạy lại giúp đỡ những người gặp tai nan trên đường.

Thậm chí có những ngày, người ta bắt gặp Keanu ngồi một mình trên băng ghế công viên, ăn chiếc bánh sandwich mua ở cửa hàng gần đó, không một chút dáng vẻ của người sở hữu khối tài sản hàng trăm triệu đô la.

Keanu Reeves cho biết khi ấy, anh chỉ đang vừa ngồi ăn vừa nghĩ ngợi một vài điều, nên hơi có vẻ trầm ngâm chủ yếu vì... đang đói.

Nhưng người ta đã gọi đó là bức hình "Sad Keanu" - Keanu buồn bã. Bởi đằng sau bức ảnh đó là một cuộc đời đã trải qua quá nhiều đau thương và mất mát.

Keanu Charles Reeves sinh năm 1964 tại Beirut, Liban. Cha anh mang trong mình nhiều dòng máu khác nhau. Mẹ là một nhà thiết kế trang phục người Anh.

Tuổi thơ của Keanu không hề giống những câu chuyện cổ tích. Cha mẹ ly hôn khi anh mới ba tuổi. Cha nghiện ma túy. Rồi rời bỏ vợ con từ khi Reeves mới 3 tuổi. Lần cuối cùng Reeves được gặp cha ruột là khi anh 13 tuổi.

Nhiều năm sau, Keanu gần như không còn liên lạc với cha. Anh lớn lên cùng mẹ và liên tục chuyển nhà giữa Liban, Australia, Mỹ rồi Canada. Có lẽ vì thế, Keanu chưa bao giờ cảm thấy mình thực sự thuộc về một nơi nào.

Anh từng nói: "Nhà... là nơi có những người mình yêu." Một câu nói rất ngắn. Nhưng sau này nhìn lại cuộc đời anh, người ta mới hiểu hết ý nghĩa của nó.

Keanu có một tuổi thơ khó khăn. Anh mắc chứng khó đọc. Việc đọc sách khó khăn hơn bạn bè rất nhiều. Anh thay đổi trường học liên tục. Có thời điểm, giáo viên từng nghĩ cậu bé ấy sẽ chẳng làm nên điều gì.

Nhưng Keanu lại tìm thấy niềm vui trên sân băng. Anh đam mê khúc côn cầu. Ước mơ thuở nhỏ không phải trở thành diễn viên mà là thủ môn chuyên nghiệp. Thế rồi một chấn thương khiến giấc mơ ấy khép lại.

Rồi cuộc đời anh rẽ hướng sang điện ảnh với những vai diễn để đời như Neo của The Matrix hay John Wick.

Những năm đầu ở Hollywood không dễ dàng. Keanu thường được giao các vai phụ. Anh không sở hữu vẻ đẹp kiểu cổ điển như các tài tử lúc bấy giờ. Cũng không phải người giỏi quảng bá bản thân.

Thế nhưng, càng đóng phim, người ta càng nhận ra ở Keanu có một sức hút rất lạ. Anh diễn bằng đôi mắt, bằng sự chân thành và cảm xúc rất thật.

Sau tác phẩm điện ảnh Speed và đặc biệt là The Matrix (Ma trận). Tên tuổi Keanu Reeves vụt sáng. Anh trở thành một trong những diễn viên nổi tiếng nhất thế giới.

Nhưng điều kỳ lạ là cuộc sống của anh gần như không thay đổi. Keanu vẫn đi tàu điện ngầm. Vẫn nhường ghế cho người già. Vẫn âm thầm quyên góp hàng chục triệu đô la cho các bệnh viện trẻ em mà không muốn công khai.

Nhiều đồng nghiệp kể rằng trong quá trình quay The Matrix, Keanu đã chia phần lớn tiền thưởng của mình cho đội ngũ kỹ xảo và hóa trang, vì anh tin chính họ mới là những người góp phần tạo nên thành công của bộ phim.

Ở Hollywood, nơi người ta thường tranh nhau ánh hào quang, Keanu lại chọn lùi về phía sau. Bởi với anh, danh tiếng chưa bao giờ là điều quan trọng nhất.

Năm 1998, Keanu Reeves gặp một cô gái trẻ tên là Jennifer Syme tại một bữa tiệc của ban nhạc Dogstar. Cô không tìm kiếm ánh đèn danh vọng - làm trợ lý cho đạo diễn David Lynch, Jennifer lặng lẽ sống giữa ranh giới của Hollywood với một vẻ dịu dàng, điềm đạm.

Keanu đã yêu Jennifer gần như ngay từ lần đầu gặp. Ở bên cô, anh bắt đầu nghĩ đến một điều mà trước đó anh chưa từng vội vàng. Đó là một gia đình.

Năm 1999, Jennifer mang thai. Hai người háo hức chuẩn bị đón con gái đầu lòng. Họ đã đặt tên cho em bé. Trang trí phòng trẻ. Mua những bộ quần áo bé xíu.

Keanu khi ấy gần như đếm từng ngày để được làm cha. Anh nói với bạn bè rằng mình chưa bao giờ hạnh phúc đến thế.

Cuối năm 1999, Keanu Reeves tưởng rằng mình đang đứng trước chương đẹp nhất của cuộc đời. Sau nhiều năm bận rộn với phim trường, ông sắp được trở thành cha. Jennifer cũng ngập tràn hạnh phúc.

Nhưng số phận đôi khi lại lạnh lùng đến khó tin. Chỉ khoảng một tháng trước ngày dự sinh, Jennifer nhận ra em bé không còn cử động.

Các bác sĩ sau đó xác nhận một điều khiến cả hai gần như sụp đổ. Bé Ava đã qua đời trong bụng mẹ.

Không ai biết Keanu đã vượt qua những ngày ấy như thế nào. Anh gần như không nhắc về chuyện này. Anh chỉ cố gắng trở thành chỗ dựa cho người phụ nữ mình yêu.

Nhưng có những mất mát quá lớn. Jennifer chìm trong đau buồn. Keanu cũng vậy. Hai người vẫn yêu nhau. Nhưng mỗi lần nhìn thấy căn phòng của con, ký ức lại ùa về.

Cuối cùng, cả hai quyết định chia tay. Không phải vì hết yêu. Mà vì họ đều hiểu rằng, đôi khi tình yêu cũng không đủ sức chữa lành những vết thương quá sâu.

Keanu từng nghĩ, có lẽ cuộc đời đã lấy đi của mình điều quý giá nhất. Nhưng không ngờ, đó mới chỉ là khởi đầu của chuỗi những nỗi đau kéo dài.

Tháng 4/2001, Jennifer lái xe về nhà sau một buổi tiệc. Trên đường đi, chiếc xe gặp tai nạn. Jennifer qua đời khi mới 28 tuổi. Tin dữ đến với Keanu như một nhát cắt nữa vào trái tim vốn chưa kịp lành.

Trong một khoảng thời gian rất dài sau đó, Keanu gần như khép kín. Anh vẫn đóng phim. Vẫn làm việc. Nhưng không còn nói nhiều về cuộc sống riêng.

Số phận luôn luôn thử thách anh tho cách đau thương nhất.
Trước đó, năm 1993, người bạn thân nhất của Keanu, River Phoenix, người mà ông từng xem như anh em, đã qua đời vì sốc thuốc.

Năm 1991, em gái Keanu, Kim Reeves, được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu. Keanu gần như gác lại nhiều kế hoạch để ở bên em. Anh đưa Kim đi điều trị, chăm sóc cô, động viên cô từng ngày.

Nhiều năm sau, khi sức khỏe của Kim dần ổn định, Keanu đã âm thầm quyên góp hàng triệu đô la cho các quỹ nghiên cứu bệnh bạch cầu và các bệnh viện dành cho trẻ em.

Anh không muốn gắn tên mình lên những khoản quyên góp ấy. Anh chỉ nói rằng, nếu có thể giúp một gia đình khác không phải trải qua những gì mình từng chứng kiến, thì đó đã là điều đáng làm.

Có một lần, trong một cuộc phỏng vấn, Keanu được hỏi: "Nỗi đau có bao giờ biến mất không?"

Anh im lặng vài giây rồi trả lời rất nhẹ: "Đau buồn sẽ thay đổi hình dạng, nhưng nó không bao giờ kết thúc."

Suốt gần hai mươi năm sau đó, Keanu không còn công khai bất kỳ mối quan hệ tình cảm nào.

Báo chí nhiều lần đồn đoán. Người hâm mộ cũng hy vọng. Nhưng anh luôn giữ cuộc sống riêng tư cho riêng mình.

Cho đến năm 2009, giữa một triển lãm nghệ thuật yên tĩnh ở Los Angeles, Keanu Reeves gặp một người phụ nữ với mái tóc bạc, nụ cười điềm tĩnh và ánh mắt đầy bao dung.

Tên cô là Alexandra Grant - một nữ họa sĩ, nghệ sĩ thành đạt, kém Keanu Reeves 9 tuổi. Cô được giới mộ điệu nể trọng, nổi tiếng ở phạm vi quốc tế và thường có tên trong danh sách khách VIP tại các sự kiện nghệ thuật. Những tác phẩm theo trường phái ấn tượng/siêu thực của cô được trưng bày tại nhiều phòng tranh. Nữ nghệ sĩ gây ấn tượng với vóc dáng mảnh mai, chiều cao vượt trội - 1,84m cùng gương mặt mang nét dịu dàng nổi bật với mái tóc màu bạc.

Cả hai đã có cơ hội trò chuyện một cách vui vẻ, thoải mái. Việc cùng thích một vài nghệ sĩ, tác phẩm văn học và phim ảnh đã đưa hai tâm hồn xa lạ trở nên gần gũi hơn.

Điều đầu tiên khiến Keanu chú ý không phải vẻ ngoài của Alexandra. Mà là cách cô lắng nghe. Trong một thế giới mà ai cũng muốn nói về mình, Alexandra lại thích lắng nghe người khác. Cô không cắt ngang câu chuyện. Không cố gây ấn tượng. Ánh mắt cô luôn chăm chú, như thể điều người đối diện nói là điều quan trọng nhất vào lúc ấy.

Keanu cảm thấy rất dễ chịu. Sau nhiều năm sống giữa ánh đèn sân khấu và những cuộc phỏng vấn lặp đi lặp lại, anh hiếm khi gặp một người khiến mình có thể nói chuyện hàng giờ mà không thấy mệt.

Ở bên Alexandra, Keanu không cần trở thành ngôi sao điện ảnh. Anh chỉ là một người đàn ông thích đọc sách, thích đi dạo, thích ngồi uống cà phê và trò chuyện.

Sau một thập niên, mối quan hệ của họ dần tiến triển từ cộng sự, bạn bè thân thiết thành người yêu. Truyền thông Hollywood tiết lộ quá trình này diễn ra một cách âm thầm và kín đáo đến nỗi khiến cả những cây bút nhạy bén nhất về đời tư nghệ sĩ hay tay săn ảnh kỳ cựu cảm thấy bối rối. Hai nguời nhiều lần xuất hiện cùng nhau tại các sự kiện nghệ thuật, dùng bữa thân mật song khó mà phân định được đó là buổi hẹn hò lãng mạn hay chỉ là cuộc gặp gỡ với tư cách bạn bè.

Alexandra Grant được nhắc đến như là người phụ nữ "cứu vớt" cuộc đời nhiều bi kịch của Keanu Reeves.

Có lần, khi được hỏi điều gì hấp dẫn nhất ở Keanu, Alexandra chỉ mỉm cười: "Anh ấy là một trong những người tử tế nhất mà tôi từng gặp."

Còn Keanu thì nói về Alexandra bằng một sự ngưỡng mộ rất chân thành. Anh yêu trí tuệ của cô. Yêu cách cô nhìn cuộc sống. Yêu sự bình yên mà cô mang lại. Càng ở gần cô, anh lại càng thấy dễ chịu.

Bạn bè thân thiết tiết lộ Keanu Reeves và Alexandra Grant duy trì mối quan hệ bền chặt nhờ tình yêu với nghệ thuật, văn hóa.

"Alexandra thích nấu những bữa ăn cho Keanu ở nhà và cả hai đều thích phim và sách. Họ có một câu lạc bộ đọc sách chỉ hai thành viên, nơi cặp đôi cùng 'gặm nhấm' những cuốn sách yêu thích của nhau",

Năm 2019, sau gần một thập nien đồng hành, công khai chuyện tình cảm. Keanu và Alexandra cùng xuất hiện trên thảm đỏ tại một sự kiện ở Los Angeles.

Đó là lần đầu tiên Keanu công khai nắm tay một người phụ nữ kể từ sau bi kịch với Jennifer. Chỉ một bức ảnh. Nhưng cả thế giới xôn xao.

Không phải vì Alexandra là minh tinh. Cũng không phải vì cô trẻ đẹp theo chuẩn Hollywood. Thậm chí, nhiều tờ báo lúc ấy còn bàn tán về mái tóc bạc tự nhiên của cô. Alexandra không nhuộm tóc. Không cố níu kéo tuổi trẻ. Cô bình thản bước đi với vẻ đẹp tự nhiên của chính mình.

Điều khiến công chúng xúc động lại chính là ánh mắt Keanu nhìn cô. Anh nắm tay Alexandra rất nhẹ. Sau gần hai mươi năm, người ta lại thấy Keanu mỉm cười một cách bình yên như thế. Không gượng gạo. Không giấu nỗi buồn. Mà là nụ cười của người cuối cùng cũng cho phép trái tim mình mở cửa một lần nữa.

Người ta nói: "Con người sẽ trở thành những gì cuộc đời đối xử với họ." Nếu điều ấy đúng, có lẽ Keanu Reeves đã có đủ lý do để trở nên lạnh lùng.

Nhưng điều kỳ lạ là. Keanu không để những mất mát ấy biến mình thành một người cay đắng. Anh vẫn chọn sống tử tế giữa cuộc đời đầy những vết xước.

Anh cảm ơn nhân viên phục vụ. Trò chuyện với người hâm mộ như những người bạn. Âm thầm giúp đỡ đồng nghiệp phía sau hậu trường. Không phải vì muốn được ca ngợi.

Có một lần, khi đang ngồi trên tàu điện ngầm ở New York, Keanu chủ động đứng dậy nhường chỗ cho một phụ nữ đang mang theo túi lớn. Một hành khách nhận ra ông, lặng lẽ quay lại khoảnh khắc ấy. Đoạn video nhanh chóng lan truyền khắp thế giới.

Người ta gọi đó là hành động đẹp của một ngôi sao. Có lẽ với Keanu, đó chỉ là điều nên làm.

Trong một cuộc phỏng vấn, Keanu được hỏi: "Khoảnh khắc hạnh phúc nhất của anh là gì?"

Anh suy nghĩ một lúc rồi trả lời bằng một câu rất ngắn: "Đó là một vài ngày trước khi tôi ở cùng tình yêu của mình. Chúng tôi ở trên giường, được kết nối với nhau, hết cười phá lên rồi lại khúc khích. Cảm giác thật tuyệt. Thật tuyệt khi được ở bên nhau"

Không có biệt thự. Không có siêu xe. Không có tượng vàng Oscar. Không có doanh thu hàng tỷ đô la. Chỉ có hai người nằm cạnh nhau. Và cảm thấy hạnh phúc. Có lẽ, sau tất cả những gì đã mất, Keanu hiểu rằng hạnh phúc thật ra chưa bao giờ quá phức tạp.

Câu nói của Keanu vẫn đúng: "Nỗi đau sẽ thay đổi hình dạng, nhưng nó không bao giờ kết thúc." Nhưng nỗi đau có thể ở lại. Và hạnh phúc cũng có thể đến.

Không phải để xóa đi những mất mát. Mà để nhắc chúng ta rằng, sau tất cả, cuộc đời vẫn luôn dành cho mỗi người một cơ hội để mỉm cười thêm một lần nữa.

Rồi sẽ có ngày, có người đến bên bạn, nắm lấy tay bạn và nhẹ nhàng nói: "Em không đến để thay thế quá khứ của anh. Em chỉ đến để cùng anh viết tiếp những trang còn lại."

Giữa một thế giới đầy hào nhoáng và số mệnh nhiều đau thương, Keanu Reeves vẫn giữ được sự tử tế rất hiếm gặp. Cuộc đời anh đã để lại một thông điệp sâu sắc cho rất nhiều người trên thế giới. Rằng sau những mất mát lớn nhất, con người vẫn có thể chọn yêu, chọn sống tử tế và chọn hy vọng.

Trang Nguyen



Blog Archive