skip to main | skip to sidebar
Showing posts with label Tràm Cà Mau. Show all posts
Showing posts with label Tràm Cà Mau. Show all posts

Tuesday, March 17, 2026

Lang Vườn Bất Đắc Dĩ

Hồi còn nhỏ khi mũi nước chưa lau sạch, tôi đọc cuốn truyện nhan đề là "Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith ", viết về đời của một y sĩ tình nguyện làm việc thiện bên Phi Châu. Tôi quyết định sau nầy lớn lên sẽ đi học y khoa và theo bước chân giang hồ của người đi trước. Hai thằng bạn thân của tôi, cũng hẹn nhau sau nầy cùng học y khoa, và sẽ cùng đi Phi Châu phụng sự cho nhân loại còn đói, bệnh và khổ. Nhưng sau đó, tôi đổi ý, vì một lần tình cờ tôi về quê, chứng kiến một người đàn bà sinh con trên cánh đồng. Thấy tận mắt, đứa bé tím ngắt từ từ chui ra từ lòng mẹ, và thấy người đàn bà đau đớn quằn quại kêu la, tôi gần ngất xỉu. Dù thời đó, khi nào tôi cũng tự xem mình như một tráng sĩ tí hon, sẵn sàng làm những chuyện động trời như những anh chàng cướp núi Lương Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử. 

Thấy cảnh đau đớn của người mẹ sinh con, tôi nguyện hai điều, điều thứ nhất là sẽ không lấy vợ, vì lấy vợ thì sẽ phải sinh nở, và như vậy tức vô tình làm khổ đau cho người khác, điều thứ hai là bỏ ý định học ngành y khoa. Phi Châu có khổ đau thì để người khác lo, mình không việc gì mà dây vào. 

Sau khi học xong trung học, hai bạn tôi nhắc ước vọng cũ, rủ tôi học chứng chỉ dự bị y khoa ( PCB), tôi cười lắc đầu mà không giải thích. Hai bạn tôi sau nầy thành bác sĩ, và thỉnh thoảng chữa bệnh cho tôi. Dù không học y khoa, nhưng hình như tôi có mối liên hệ mật thiết với ngành nầy. Một số lớn bạn tôi là dược sĩ, nha sĩ, bác sĩ, và trong thời gian cư ngụ tại đại học xá Minh Mạng, tôi cũng ở chung phòng với hai anh học y-khoa. Ngoài ra, trong gia đình tôi, cũng có nhiều người học các ngành y dược. Thời đi làm tại Sài gòn, độc thân rảnh rang không biết làm gì, tôi nghe theo lời một anh bạn, cùng xin đi học nghề châm cứu do một vị danh sư thượng tọa dạy. Nhưng chưa học được bài nào, thì nghe vị danh sư kia có nhiều hành động sàm sỡ với các nữ bệnh nhân, tôi sợ mang tiếng lây, và chán ngán nên bỏ học.

Cho đến khi đi tù cải tạo cộng sản tại Long Thành, một lần tôi ngu xuẩn dùng răng mở cái nắp chai bằng kim khí, làm sứt men răng mà không biết. Sau đó mấy tháng, sinh ra đau răng khủng khiếp, đau lăn lộn cả tuần. Đau quá quên cả buồn, khổ và đói khát. Mỗi bữa ăn, gói cơm vào bao ni lông, rồi bao thêm lớp vải bên ngoài, dùng tay nghiền nát cơm như bánh, xong bỏ vào miệng mà nuốt, chứ nhai thì động đến răng đau thốn không chịu được. Nhà tù thì làm chi mà có thuốc, chúng tôi cũng đã được hưởng cái " văn minh tiên tiến " của nền y học xã hội chủ nghĩa qua cuộc chủng ngừa bệnh cảm cúm. Mỗi tù nhân ngữa mặt ra để " y sĩ cách mạng " nhỏ mấy giọt nước tỏi vào mũi, như ngày xưa ở nhà quê người ta chữa bệnh cho gà bị mắc toi. 

Đau răng, thì cũng phải lao động, họp tổ, họp nhà, học tập chính trị, nhưng cái đau nó đeo đẳng không tha. Một anh bạn bác sĩ nguyên làm giám đốc bệnh viện, cũng là tù nhân, bảo rằng ăn uống thiếu thốn không đủ chất vôi, răng hư là việc không tránh khỏi. Trong lúc đang nói chuyện, thì một anh khác đến hỏi anh bác sĩ rằng, làm sao mà biết mình bị phù thủng? Anh bác sĩ nói, dễ lắm, cứ bấm vào chân như thế nầy, vừa nói anh vừa kéo ống quần lên và bấm vào chân, và anh chợt la lớn lên: "Chết rồi, tôi cũng bị thủng mất rồi." Tôi thấy trên ống chân anh bác sĩ có một lỗ sâu, anh bấm thêm vài nơi nữa, thì da thịt cứ nằm yên, không đàn hồi trở lại.

Một anh bày cho tôi buộc cái răng hư vào đầu một sợi chỉ thật chắc, đầu kia buộc vào gốc cột nhà, rồi đứng mạnh dậy, thì dù có là răng cọp nữa, cũng văng ra ngoài. Túng quá, phải nghe theo. Hai người bạn tù giúp tôi buộc cái răng, nhưng răng mọc sát nhau quá, không cách nào buộc được, mà miệng mồm thì máu me chảy dầm dề. Cái răng thì còn chắc chắn lắm, và cũng không chắc chiếc răng nào là răng đau.

Mấy anh bạn khuyên tôi chờ thêm thời gian cho cái răng nó lung lay, thì khi đó dễ nhổ ra hơn. Ai mà chờ đợi được với cái đau đớn như cực hình. Lúc nầy tôi ước mơ gặp được cái anh chàng nhổ răng dạo trên chợ Sàigòn ngày trước thì đúng là trời thương. Không biết anh nầy làm sao mà chỉ thấm chút thuốc vào bông gòn, đắp lên răng. Chờ thuốc thấm chừng hai phút, rồi thò tay lấy cái răng ra nhẹ nhàng mà người bệnh cũng không hề biết là răng đã nhổ, chỉ khi đưa lưỡi rà hàm thì mới biết và toét miệng cười. Tôi đã tò mò thấy tận mắt hàng chục người được nhổ răng, với những cái răng cấm chân dài thòng, cũng lấy ra nhẹ nhàng, dễ dàng. Tôi thấy mấy anh chàng nhổ răng nầy có cái gì không thật, vì mấy anh chỉ cho đám đông xem những "con sâu răng " đang vùng vẫy loăng quăng trên tấm kiếng. Nhiều đêm lăn lộn, không ngủ dược, không dám kêu la. Ban đêm hình như vắng lặng cho nên đau hơn ban ngày. Nhiều đêm đau răng quá, tôi muốn chấm dứt cái đau bằng cách chạy xông vào vọng gác, vừa chạy vừa la " Xung phong, xung phong ", thì lính gác hoảng hồn, chúng nó lia cho vài tràng AK, khi đó, đau nào cũng hết, mà tù nào cũng xong .

Một buổi chiều, tay bưng cái mặt méo xẹo vì đau đớn đang hành, tôi qua nhà số 7 thăm bạn, thấy tôi nhăn nhó, một tù nhân lớn tuổi hỏi han. Bạn tôi cho ông biết rằng tôi đang đau răng. Ông cười, bảo ngồi xuống, ông thử chữa cho, may ra bớt đau chăng. Tôi dù không tin, nhưng cũng mừng vô cùng. Ông đốt nữa điếu thuốc, rồi xoa cù là nóng vào vài điểm trên mặt tôi, sau dùng điếu thốc hơ bên ngoài, xong đưa ngón tay trỏ ấn ấn, xoay xoay vào các nơi vừa cứu xong. Chỉ trong vòng mười phút, cái đau của tôi dịu dần, và sau đó thì bớt hẳn. Như là thuốc tiên. Tôi cảm ơn rối rít, và hỏi thăm, thì được biết ông nguyên là hội đồng thành phố tỉnh Bình Dương. Hai mươi mấy năm, tôi quên mất tên của vị ân nhân nầy. Chỉ có hai lần chữa thôi, mà tôi hết hẳn cái đau răng hành hạ .

Từ trước, tôi vẫn có thành kiến về đông y, vì thấy các vị lương y bốc thuốc bằng tay, nhúm nhúm đong lường, không khoa học chút nào, và cây rễ làm thuốc thì mốc meo, thiếu vệ sinh. Đồng thời tôi cũng được một anh bạn kể cho nghe chuyện thời nhỏ, thời anh đang ở một tỉnh lị nghèo, hay lang thang trên phố. Một ông bán thuốc dạo cho anh gói kẹo tổ bố, yêu cầu anh đập dập gạch vụn và cà nát ra cho ông ta để chế tiên đan. Ông trộn bột gạch với than cà vụn, tưới acit trong bình điện, trộn đều, đem phơi khô. Xong gói thành từng gói nhỏ. Đem ra chợ chỗ đông người qua lại, đứng hát vài câu tiếu lâm cho thiên hạ cười chơi. Xong yêu cầu đồng bào đứng lại, xem biểu diễn thuốc tiên, do "Tây Vương Mẫu" đặc ân ban cho, để cứu độ chúng sinh. Ông cười khà khà nói :

" Thanh niên thíu nữ, gặp ngừi iumà găng cỏ dàng như đất sét, đen điu như đất bùng, thì ai mà cho hung đặng ".. ( Thanh niên thiếu nữ, gặp người yêu mà răng cỏ vàng như đất sét, đen điu như đất bùn, thì ai mà cho hôn được) 

Ông kéo một bác đàn ông trong đám người đứng xem, bảo nhe răng ra cho đồng bào coi. Thấy hàm răng bợn bẩn, vàng và đen điu vì khói thuốc, vì trà, vì cà phê. Ông hỏi, :

" Răng cỏ đẹp như dầy thì liệu ngừi iu có cho hung hay không ? "

Đám đông cười ầm lên và la lớn :

" Không! Không !! "

Ông bảo rằng chỉ trong nháy mắt, phép lạ sẽ xẫy ra mà không cần lặn lội đi đâu xa . Ông lấy một ít " bột tiên " để lên ngón tay, và chà qua lại vài lần trên hàng răng đen bợn, xong lấy cái khăn tay đen điu như cái khăn lau bát của các chị bán hàng rong, chùi qua răng, rồi bảo người đàn ông kia súc miệng và nhăn răng cho đồng bào xem. Hai hàng răng thành trắng bóng, bao nhiêu bợn đen, bợn vàng đều tan biến. Những người đứng xem đều ồ lên ngạc nhiên. Ông nói tiếp rằng, chắc đồng bào chưa tin lắm, vì cái ông bạn đây có thể là cò mồi của tôi đưa ra, yêu cầu đồng bào chọn cho tôi vài người khác, trong chốc lát thôi, sẽ thấy tiên dược hiệu nghiệm. Ông biểu diễn thêm vài trường hợp nữa, quả thuốc công hiệu như thần. Đồng bào tranh nhau mua hết tức thì. Gói nhỏ mười đồng, gói lớn hai chục đồng. Thu về một nón tiền đầy nhóc tràn ra cả nền đường. Ông tuyên bố, thuốc cứu nhân độ thế, vừa bán vừa cho kẻo phụ lòng Tây Vương Mẫu. Nhiều người chậm tay mua không kịp, hỏi hôm nào có bán lại, ông nói chờ mùa trăng tròn tháng sau, ra lại chợ nầy. Thuốc tiên, không phải dễ bào chế. Ông nhét vào túi bạn tôi mười đồng để ăn kẹo. Bạn tôi xin một gói thuốc tiên để dùng, ông cười bảo rằng mầy còn nhỏ, dùng thuốc tiên không tốt.

Lại nữa, trước 1975, thời tôi còn làm việc tại trung tâm Sài gòn, mỗi ngày đi ăn trưa ngang qua đường Lê Lợi, thường bị mấy ông người Chàm đầu quấn khăn, mặc áo thụng trắng như đạo sĩ tả trong truyện Tàu, kêu lại. Các ông bảo :

" Nầy, nầy, cậu có bệnh gần chết rồi đó, nhìn cái sắc mặt thì biết, lại đây chúng tôi cứu cho. Phước lắm mới gặp được chúng tôi . Lại đây, lại đây ".

Tôi chỉ cười và cám ơn, ngày nào cũng như ngày nào, tôi bị những người nầy kêu réo, thế mà tôi vẫn sống nhăn từ năm nầy qua năm khác, không uống một viên thuốc. Chắc mấy ông Chàm nầy cũng làm ăn được khấm khá với những người yếu bóng vía, nên cả mười mấy năm dài, vẫn còn ngồi trên đường Lê Lợi, Hàm Nghi . Cũng trong những lần đi phất phơ trên phơ, chính mắt tôi thấy một người Thượng, lấy con dao nhọn đâm vào đầu một con gà, xuyên từ mồng xuống mỏ dưới, con gà nằm chết, lông lá rũ rượi, máu rỉ ra từ lưỡi dao. Một lúc sau, anh rút con dao ra, lấy mấy cái vỏ cây xơ xơ như dây tơ, rịt vào vết thương trên đầu con gà. Chừng vài phút sau, con gà đã chết quẩy quẩy một chân, rồi đứng dậy nhìn quanh ngơ ngác . Những trò ảo thuật tương tự như thế nầy, tôi vẫn thấy dài dài nhiều năm trên đường phố Sàigòn. Thành kiến về cái gọi là “thuốc ta" khó xóa nhòa trong tôi. Nhưng lần chữa đau răng trong tù nầy làm tôi nghĩ rằng đông y cũng có cái hay của nó mà mình không biết đó thôi. Tôi tạm giải thích cho trường hợp đau răng nầy là những huyệt mạch bị bấm, đã cắt đứt hiệu lệnh đau đớn của dây thần kinh từ cái răng đau lên não bộ. Nghĩa là cái răng vẫn đau, vẫn hư, nhưng não bộ không nhận được tín hiệu đau đớn. Dù sao đi nữa, tôi cũng đã được cứu ra khỏi những cơn đau kinh hồn nầy.

Sau khi đi tù về, thỉnh thoảng cái răng cũng rêm rêm chuyển đau lại, tôi cũng theo lối cũ, bôi cù là và hơ nóng huyệt mạch cùng bấm ấn các huyệt đó. Thế là cái răng êm trở lại trong thời gian rất lâu. Có vài người bà con đau răng, khi họ đã không chịu nỗi nữa, thì tôi cũng trổ tài lang băm làm phước. Cứ trong 10 người bệnh, thì tôi chữa được 6 đến 7 người.

Sau 1975, tất cả sách xuất bản tại miền Nam đều bị tịch thu và đem đốt bỏ, từ những sách khoa học kỹ thuật, sách ngoại quốc, sách nghiên cứu, đến tự điển, đến truyện, thơ, đều là sản phẩm đồi trụy . Không ai dại chi tranh luận với anh cán bộ phường, khóm hay công an về ý nghĩa của cuốn sách, khi mà trình độ văn hóa của họ, có người chỉ mới đánh vần chưa thông, và khi ký thì khoa nhanh bút mấy vòng trong không khí, rồi đè bút xuống gần rách giấy, mà khi ký xong thì mệt đến mồ hôi rướm lâm râm trên trán. Nhiều người chảy nước mắt thấy cuốn sách kỹ thuật quý báu bị xé gói xôi, gói khoai mì. Văn hóa triết học khác với hệ thống Mác Lê bị liệt vào thứ đồi trụy, thì không ai dám chối cãi, nhưng sách y khoa kỹ thuật cũng không thoát khỏi số phận. Tuy bị cấm, nhưng hè phố Sài gòn vẫn bày bán đủ thứ sách, mà chủ nhân muốn vớt vát một ít tiền còm, bán ra có lợi hơn là đem làm chất đốt nấu ăn.

Sau khi ra tù, thỉnh thoảng buồn tôi cũng lên phố tìm lại hương vị xa xưa, đi mà lòng trống vắng quặn thắt. Chỉ thấy những khuôn mặt lo âu, những đôi mắt thẳm thảm buồn, những nụ cười méo lệch trên đường phố Sài gòn xơ xác. Tôi cũng dừng chân nhìn những đề tựa các cuốn sách vung vãi trên vĩa hè. Tôi bắt gặp cuốn sách về trị bịnh theo phương pháp xoa bóp, cũ mèm, đã rách nát bìa, bên trong mất nhiều tran g.Tò mò mua về đọc chơi, biết đâu cũng giúp cho tôi trị cho mình vài bệnh nhỏ nhặt mà khỏi gặp bác sĩ, nha sĩ. Tôi biết trong nhiều năm nay, và nhiều năm sắp tới nữa, thuốc men là thứ hiếm quý trên con đường quá độ lên xã hội chủ nghĩa, sẽ có ít ai đủ khả năng mua thuốc tây, và thuốc tây, thành một thứ xa xỉ giữa xã hội nầy. Cuốn sách mỏng, tôi đọc một mạch thì hết, nhưng tôi để đầu giường, lâu lâu đọc vài trang, và ghi nhớ vài ba huyệt mạch chính yếu. Tôi chữa bệnh cho chính mình, đôi khi cũng chữa cầu may cho bà con, bạn bè thân thiết, khi thì hiệu nghiệm, khi thì không. Thế mà trong cái thời buổi "văn minh tiên tiến xã hội chủ nghĩa” đó, nhiều người nghe bạn bè đến nhờ tôi chữa bịnh. Tôi bất đắc dĩ, không từ chối được, cứ làm đại theo sách, xoa bóp các huyệt mạch, có chết ai đâu. Nhưng trước khi xoa bóp, lúc nào tôi cũng mào đầu bằng câu : " Tôi không chắc đâu, nhưng để tôi thử xem, may ra bớt bệnh ". Con bệnh thì thấy cũng không mất tiền, cũng không nguy hiểm chi, cầu may xem. Bệnh đau đầu chữa mau và hiệu nghiệm nhất, chữa cho đông đảo người nhất. Chỉ bôi cù là và xoa bóp các huyệt nằm ở chân tóc ngay giữa trán, giữa hai mí lông mày, bóp hổ khẩu, bấm các đầu ngón tay. Mười người lành cả mười, không cần xông, không cần thuốc thang chi cả.

Bà con, bạn bè đùa đặt tên cho tôi là "Lang Cầu Kinh". Vì nơi tôi ở có cây cầu bắc ngang qua con sông đào, gọi là cầu Kinh. Nhiều người vô ra nhà tôi, làm công an khu vực chú ý và đến thăm dằn mặt tôi, bảo rằng một cái kim dấu trong khăn cũng không qua mặt cách mạng. Có lẽ họ tưởng tôi toan tính, liên lạc bạn bè làm việc chống phá họ. Tôi cũng không thể nói là tôi chữa bệnh cầu may cho bà con, điều nầy cũng nguy hiểm. Sợ bị bắt đi tù lại, tôi tránh mặt bà con. Dặn họ đừng ai đến nhà tôi mà vạ lây, chỉ thế thôi, là bà con sợ lắm, đôi khi gặp tôi ngoài đường, họ cũng nhìn lén mà không chào. Thế nhưng khi đến chơi nhà bạn bè, bà con, thì họ cũng bắt tôi chữa bệnh, tôi cũng không tin vào cách chữa của mình chút nào cả, nhưng vì tính cả nể, không từ chối được. Không biết nhờ mát tay thế nào, mà bà con xem tôi như một ông lang. Trong khi kiến thức về y học của tôi cũng mù mờ dốt nát như kiến thức khoa học của một anh cán bộ. Tôi cố tránh nói và nghe chuyện bệnh hoạn để khỏi bị chèo kéo chuyện chữa trị .

Lần nọ, trong văn phòng có một cô đau bụng hành kinh hàng tháng, nằm lăn lộn, khóc lóc, không có thuốc cầm đau. Mấy anh chị trong sở kêu tôi đến chữa, tôi từ chối, họ năn nỉ hết lời. Tôi nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nghe bạn của chị tôi kể rằng, hôm đó chị đau nhức trong người, đến khám ông bác sĩ trong xóm. Ông bảo chị cỡi áo quần ra và nằm lên giường. Vừa nghe xong, chị đỏ mặt và chừi thẳng vào mặt ông :" Đồ súc vật, đồ khốn nạn. ". Dạo đó, mỗi lần chúng tôi thấy ông bác sĩ kia, là cười và cho rằng ông ta là một thứ dê cụ. Nhưng thời gian giữa 1963, khi mà sinh viên Đại Học Xá bị chính quyền vây bắt, càn quét, không cần biết ai có tham gia biểu tình bãi khóa hay không, có người cho là âm mưu của các ông tướng, cố gây thêm mâu thuẩn giữa chính quyền và sinh viên, tôi chạy đi tị nạn, lưu động tạm trú tại các phòng ngủ của sinh viên y khoa nội trú trong các bệnh viện Đô Thành, Bình Dân, Chợ Rẫy ...thì tôi thấy họ bắt bệnh nhân nằm trần truồng, tông ngồng, chỉ đắp tấm màn trắng, khi đó tôi chợt nhớ lại trường hợp người bạn của chị tôi với ông bác sĩ trong xóm, thì ra chúng tôi có thể đã hiểu lầm, gán tiếng dê cụ cho ông trong bao năm qua.

Trở lại trường hợp cô gái bị đau bụng hành kinh mà anh chị em trong sở kêu tôi chữa trị. Sách chỉ rằng, trong trường hợp đó, thì xoa bóp nhiều và mạnh trên xương nằm dưới rốn một gang tay, trên chổ đi tiểu. Có cho vàng tôi cũng không dám mạo hiểm. Dù có biết chắc chữa lành bịnh cũng không dám, chứ đừng nói, là mới thấy trong sách mà thôi. Tội chi mà mang tiếng oan vào thân. Khi bị cả sở thúc dục, và không còn từ chối được, tôi chọn một chị lớn tuổi có bàn tay gân guốc khỏe mạnh để phụ giúp tôi. Tôi cầm cây bút chì, vẽ lên giấy cái huyệt đạo cần xoa bóp và làm mặt nghiêm nói :

" Sách nó dạy như thế nầy, xoa bóp mạnh tại chỗ nầy chừng vài chục phút, tôi không biết có hiệu quả hay không, nhờ chị thay tôi chữa giúp” .

Chị nhìn tôi cười mĩm ranh mảnh hỏi :

“Gì mà kỳ thế nầy, anh có đùa giỡn hay không ? “Ø

Tôi nghiêm mặt hỏi rằng xưa nay chị thấy tôi đùa giỡn sàm sỡ với ai bao giờ chưa. Chị nữa tin nữa ngờ, vào nơi người bịnh đang khóc lóc, lăn lộn.  . Chừng hơn hai mươi phút sau, hai chị đi ra, hết đau đớn, và cám ơn tôi. Sau nầy, cái chị giúp tôi chữa bệnh, khoe rằng đã dùng cùng một phương pháp, chị đã chữa cho nhiều người đau bụng hành kinh rất hiệu nghiệm. Thế mà có lần, một người bạn gái đến thăm tôi, nàng cũng bị đau bụng hành kinh, tôi đành im lặng, và chạy quanh xin thuốc, chứ không dám nói ra cách chữa bệnh đó, sợ bị hiểu lầm. Và vợ tôi, trước khi thành hôn mấy tháng, cũng có lần tôi đánh bạo chữa cho nàng bằng cái lối xoa bóp nầy mà chẳng có công hiệu chút nào. Lần đó, tôi cứ ân hận mãi vì nàng có thể nghĩ rằng tôi thiếu đứng đắn, giả vờ chữa bịnh mà nham nhở.

Tôi nhớ sau nầy ở Mỹ, một lần tôi ghé Spokane, Washington State, thăm người bạn cũ, anh rủ tôi đi xem văn nghệ Tết do cộng đồng tổ chức, và bảo vợ anh không đi được vì đang đau bụng hàng tháng. Tôi chỉ cho anh cách trị bệnh. Anh vào buồng, và tôi nghe tiếng la ơi ới : "Kỳ quá, người ta đang đau thấu ruột gan, mà đùa giỡn tục tĩu thế nầy”. Một lúc sau, chị vợ anh êm cơn đau và dậy thay áo quần cùng đi xem văn nghệ. Chị cho biết, bệnh đau nầy chị bị cả chục năm nay, uống thuốc tây không công hiệu.

Năm 1978 tôi đi xe lửa ra Nha Trang vượt biên, đi bằng giấy tờ giả nên rất lo lắng. Trên tàu công an chìm đầy rẫy dò xét từng hành khách. Tôi có linh cảm đang bị theo dõi, vì lâu lâu bắt gặp cái nhìn lén của người hành khách ngồi xéo bên kia. Tôi đứng dậy, giả vờ đi qua toa xe khác, để xem có đúng là đang bị theo dõi hay không, thấy hắn đi theo qua hai toa. Tôi trở về ngồi vào ghế cũ và nhắm mắt quẹo đầu giả vờ ngủ để theo dõi lại gã công an chìm. Khi xe lửa đi qua rừng lá, thì một em bé ôm bụng kêu la, khóc vang cả toa xe, dù tiếng ầm ầm lắc lư của con tãu cũng không át nỗi. Nhiều người nạt nộ khó chịu, bảo chú bé câm mồm đi, đừng khóc nữa. Chú bé đau quá, lăn lộn ra sàn tàu nằm khóc la mãi đến cả khản giọng vẫn không thôi . Mọi người đều nóng ruột xót xa, vợ tôi ghé lại bảo nhờ tôi thử xoa bóp cho chú bé xem có hiệu nghiệm chi không. Tôi lắc đầu, vì mình phải lặn chìm tối đa, không để ai chú ý là tốt nhất, và tôi đang có trách nhiệm dẫn đường cho cả nhóm người tản mát đó đây. Nhưng tôi cũng thấy không yên lòng, chờ cho mọi người ngủ gà gật, tôi ngồi xuống sàn tàu, vạch chân thằng bé, xoa dầu vào huyệt túc tam lý, phía dưới đầu gối, bên hông chân, và xoa bóp một hồi, chuyển qua huyệt nằm dưới rốn. Chỉ thế thôi, mà thằng bé rên nhỏ dần và nằm yên.

Tên công an theo dõi tôi cũng nhắm mắt há mồm ngủ thiêm thiếp. Tôi vội vã cỡi áo ngoài, và cất cặp kiếng cận thị vào túi, nhảy lên kệ để hành lý trên cao nằm. Một lúc sau, tên công an giật mình tỉnh dậy, nhìn ngơ ngác tìm kiếm, hắn chạy qua toa khác, chạy lui chạy tới. Tôi biết hắn đang tìm kiếm tôi, nhưng không nhận ra, vì tôi đã mang áo màu khác, và không mang kiếng cận.

Cũng chuyện đau bụng, hồi mới đến Mỹ, một buổi sáng thứ bảy, bạn tôi định chở toàn gia đình đi chơi Seattle và cho tôi đi theo cho biết đó biết đây. Vừa nổ máy xe, thì bạn tôi cảm thấy đau bụng, càng lúc càng đau, anh ngồi dựa ngửa ra mặt mày nhăn nhó. Anh tắt máy xe, ngồi chờ xem tình trạng ra sao, nhưng cơn đau cứ dồn đến. Tôi ngồi bên cạnh, hỏi bạn có muốn để tôi thử xoa bóp không, may ra bớt đau được chút nào chăng. Bạn tôi đau quá, gật đầu. Tôi lật chân bạn ra, bôi dầu và xoa ấn mạnh vào huyệt túc tam lý, chưa kịp xoa huyệt ở dưới rốn, chỉ ba phút mà thôi, bạn tôi hết đau hẳn. Bạn tôi ngạc nhiên vô cùng, phần tôi thì nghĩ rằng, có thể là sự trùng hợp vô tình, chứ chưa tác động đủ vào các huyệt cần thiết .

Cũng vì đành hanh chữa bịnh mà đôi lần tôi bị nghi oan. Lần nọ tôi đến nhà một người bạn để bàn chuyện tổ chức vượt biên, cô em gái bạn tôi tóc tai rũ rượi, mặt mày nhăn nhó, tay ôm đầu, bảo rằng nhức đầu như búa bổ. Khi đó bạn tôi đi vắng, tôi đề nghị chữa bịnh cho cô em của bạn tôi. Trong lúc đang ngồi tại phòng khách, tay tôi xoa ấn các huyệt trên trán, thì mẹ bạn tôi về. Bà tế nhị đi thẳng lên lầu, chỉ nhìn liếc qua thật mau mà thôi, tôi vội vả chào. Khi bà đi xuống, thì miệng cười chúm chím, tôi phân trần là đang châm cứu chữa bệnh. Bà cười nói :

“ Ừ bác biết chữa bệnh mà.”

Nhưng trong ánh mắt bà có cái nhìn tinh nghịch, như bảo rằng, bác biết hết rồi, chối quanh làm chi. Rồi bà nói tiếp:

“Từ sáng đến giờ nó kêu đau nằm bẹp, mà bây giờ anh đến thì mặt mày tỉnh như sáo sậu”.

Tôi sượng sùng ngồi nhịp nhịp móng tay xuống mặt bàn. Em bạn tôi, cằn nhằn:

" Mẹ đừng hiểu lầm, kỳ lắm ".

Cũng có lần tôi bị hiểu lầm, vì chữa không công hiệu, trong khi xoa mặt, bóp tay cho một cô gái có đôi mắt ướt rượt, miêng cười chúm chím. Cô nói với bạn bè là anh chàng nầy giả vờ chữa bệnh để cầm tay cầm chân các cô gái, như là mấy người giả vờ coi chỉ tay mà thôi .

Một lần khác, chúng tôi đi công trường xây cất khu kinh tế mới Lê Minh Xuân, một chị kỹ sư trẻ, cán bộ miền bắc cùng đi trên xe, bị “ trúng gió " phèo bọt mép nằm bất tỉnh nhân sự, hai tròng mắt trợn trắng dã. Nhiều người vạch áo, vạch lưng ra cạo gió mà chẳng có ăn thua gì. Tôi vốn ghét con mụ nầy lắm, vì nó tác oai, tác quái, gán cho chúng tôi đủ thứ tội tình từ trên trời rơi xuống, mà chúng tôi phải cắn răng im lặng vì làm dân miền bại trận trong những năm đầu tai biến đó. Thấy con mụ bạc trắng nhợt nhạt nằm đó mà không cứu, thì trong lòng tôi bất nhẫn, bởi tôi cũng đã có kinh nghiệm cứu người ngất xỉu vài lần rồi. Tôi dùng đuôi cây bút bi thay ngón tay, để bôi cù là và ấn vào các huyệt đạo trên trán, hai bên cánh mũi, khớp cằm, và khi tôi vừa ấn vào nhân trung, thì con mụ ú ớ mở mắt được, nhìn tôi. Cái nhìn đó làm tôi nhớ lại những hằn học, những lời nói the thé chua lè, trong các buổi họp học tập chính trị. Một ý nghĩ tinh nghịch thoáng qua rất mau trong trí, mà tôi không đủ thì giờ để cầm giữ. Tôi đưa đuôi bút xuống ấn mạnh vào vùng cằm, nơi huyệt đạo dùng để chữa cho những người bí tiểu tiện, thì con mụ rùng mình và tiểu ra dầm dề lênh láng, loang cả mặt bàn, chảy xuống sàn nhà. Ngay khi đó, tôi cảm thấy xấu hổ với chính mình, vì tinh nghịch thiếu tử tế trong lúc người ta bệnh hoạn. Chuyện nầy làm cho tôi còn thấy buồn trong nhiều năm sau. Sau khi về sở, nhiều người hỏi tôi sao không để cho thứ ác ôn đó đi theo bác Hồ của nó cho yên chuyện? Thế mà về sau, con mụ nầy phê vào hồ sơ cá nhân tôi một câu độc địa: “Thiếu nhiệt tình cách mạng”. Con mụ phê trúng, vì làm sao nhân dân miền Nam lại có nhiệt tình với cái chế độ tự nhận là cách mạng được. Vì câu nầy, mà tôi bị phòng tổ chức của thành phố kêu lên hạch hỏi nhiều ngày, bắt làm kiểm điểm. Cũng may mắn cho tôi, tên bí thư đảng ủy của công ty tôi là một anh chàng người miền Nam tập kết, hắn có anh em ruột là sĩ quan miền Nam đi tù cải tạo, nên không sắt máu, và đôi khi tở ra thông cảm hiểu biết. Hắn nói với tôi :

“Bọn tôi mà bị phê là thiếu nhiệt tình cách mạng, thì bị hạ tầng công tác, các anh mà thiếu nhiệt tình cách mạng, thì chỉ có đi lao động cải tạo mà thôi”.

Tôi hiểu, lao động cải tạo là đi tù. May mắn thay, giữa anh bí thư đảng ủy nầy với con mụ kia có hiềm khích ngầm, nhờ đó mà tôi thoát vạ lớn. Nhưng tôi cũng bị đày đi công trường xa, xây cất một nhà máy gạch, nằm tận trong một xã quê mùa quận Hóc Môn, mỗi ngày đạp xe đi về khuya sớm, mà tiền lương thì cũng chưa đủ để ăn quà sáng. Việc xây cất tại công trường thì ì ạch vì thiếu vật liệu, cả thầy lẫn thợ đều rã rời, chơi cũng không ra chơi, mà làm cũng không ra làm.

Công trường tôi nằm bên cạnh phòng y tế của xã, trưởng phòng y-tế là một y sĩ cộng sản. Anh nầy nguyên là y công của một bệnh viện tại Sàigòn, bị liên lụy, vì người em vợ là đặc công cộng sản nằm vùng. Anh sợ bị bắt oan, nên chạy về quê tạm tránh mặt, nhưng rồi bị Việt Cọng đưa ra bưng, và được theo học khóa huấn luyện y tế dần dà lên chức y sĩ . Chữ nghĩa của anh cũng chẳng được bao nhiêu, không đọc nổi một cái tên thuốc, và khi ký cũng ngoai bút mấy vòng vẽ bùa rồi mới hạ xuống ký. Anh nầy muốn nhờ vả, và xin chúng tôi vật liệu xây cất nên lân la làm quen, thỉnh thoảng đem rượu qua mời chúng tôi nhậu chơi. Chúng tôi cũng không tội chi mà từ chối. Ăn uống của anh nhiều quá, chúng tôi mang nợ, phải cho anh mỗi lần ít ki-lô xi măng thừa. Vì nhà xa, những hôm mưa gió, đi về cực khổ quá, tôi ngủ lại công trường. Thỉnh thoảng anh trưởng phòng y tế nầy cũng ghé chơi và đánh cờ tướng.

Một lần anh bị bệnh vẹo cổ, cái đầu nghiêng nghiêng quay không được, mấy hôm liền. Tôi đề nghị, để tôi chữa thử xem. Rồi cứ theo sách chỉ, bôi dầu, ấn và hơ nóng vào các huyệt ở màng tang, đầu lông mày, khóe cánh mũi, chân đường chỉ từ mũi xuống miệng, mí cằm. Chỉ một lúc sau, anh quay cổ qua lại được. Anh nói đùa là núi thái sơn trước mắt mà không thấy. Chỉ chữa trong ba ngày là hết vẹo cổ. Từ đó, anh hay giới thiệu bệnh nhân qua công trường xây cất để nhờ tôi chữa bệnh. Ban đầu, cũng vì nhàn nhã, tôi cũng theo sách mà chữa trị, như một lối giải trí và thí nghiệm chơi. Về sau, dân làng cứ đến thẳng công trường đòi trị bệnh, mà không đi qua phòng y tế. Tôi cũng kẹt, vì không từ chối được và phải chữa bệnh trong giờ làm việc của công ty xây dựng. Có ngày, tiếp con bệnh từ sáng đến chiều. Để trả ơn, dân làng đem cho trái cây, tôm cá, rắn rùa, bánh trái, nhờ đó mà anh em tại công trường cũng đỡ đói, và có mồi nhậu giữa thời khó khăn.

Mãi cho đến khi có mấy tên công đoàn muốn lập công, báo cáo về công ty, thì tôi bị khiển trách và phải làm tờ kiểm điểm. Anh trưởng phòng y tế hứa lên quận, xin tuyển dụng tôi vào làm phòng y tế xã, và cho biết sẽ xin sở y-tế Thành Phố cấp cho tôi cái bằng y-sĩ. Nghe như chuyện khôi hài, nhưng thời đó đã có nhiều trường hợp xẫy ra. Tôi từ chối, vì không thể bỏ thành phố mà về vùng quê, những bà con tôi từ miền Bắc về bảo phải bám lấy thành thị bằng mọi giá, và không thể bỏ cái sở trường là nghề kỹ thuật mà lấy cái sở đoản là chữa bệnh đoán mò, làm một lang băm.

Trước khi tôi bị gọi về và thuyên chuyển qua một công trường xây cất khác, thì tôi chữa cho một anh bị "trúng phong" nói theo ngôn từ nhà quê. Người ta võng anh nầy đến công trường, anh bảo bị trúng gió. Lưng cong lại như con tôm đau đớn, không duỗi thẳng ra được, và không đi đứng được, bị đã hai hôm.Tôi lật sách tìm, không có bệnh nào tương tự. Tôi từ chối, nhưng bà cụ già mẹ anh níu tay tôi khóc lóc, làm tôi không biết làm sao mà giải thích. Khi nói thật với bà rằng tôi chữa bệnh theo lối đoán mò, nên có nhiều thứ tôi không biết. Nghe vậy, bà cụ càng không tin, và càng nắm chặt tay tôi, với cái nhìn cầu khẩn, làm lòng tôi đau nhói. Và chỉ trong thoáng chốc, tôi nhớ lại mấy chục năm trước, ông bác tôi đang đi xe gắn máy, ngã lăn ra, và lưng đau đứng dậy không được, người ta khiêng về tận nhà. Ông thầy thuốc nam bảo trong nhà rang muội hột với trà, hạ thổ, rôi đem chườm lên lưng, chà quanh lưng, vòng quanh nơi đau, khi muối còn nóng. Nhờ thế mà bác tôi khỏi bệnh. Vì không từ chối được, tôi bảo bà cụ rằng, tôi sẽ cố gắng thử xem, nhưng không chắc. Sẵn bếp lửa của "chị nuôi" tại công trường, tôi rang trà cùng muối hột, và làm y như ngày xưa tôi thấy. Chừng nửa giờ sau, người bệnh từ từ thẳng lưng ra được. Ngày hôm sau, tôi làm thêm một lần nữa, và anh chàng bệnh đã đứng dậy đi lại. Không biết có phải tôi “ mát tay" hay không, mà chỉ toàn gặp may mắn.

Sau nầy tại Mỹ, tôi cũng chỉ cho một người bị cong lưng cách chữa bệnh nầy, và cũng hiệu nghiệm. Nhờ anh chàng bị bịnh cong lưng nầy, mà về sau tôi làm quen được nhiều mối tổ chức đi vượt biên, vì anh nầy chuyên nghề đưa taxi (tiếng lóng chỉ người lái thuyền nhỏ đưa kẻ vượt biên ra thuyền lớn).

Tôi bị kêu về công ty và phải làm tờ kiểm điểm vì không lo làm việc mà lo chữa bệnh. Đúng lúc đó, thì gã thủ trưởng công ty tôi bị bệnh nấc cụt cả hơn hai tuần mà không làm sao dứt. Nhiều người dục gã nhờ tôi chữa thử xem. Gã ngõ lời, tôi từ chối, nói rằng tôi là kỹ sư chớ không phải là y sĩ, bằng chứng là đang làm tờ kiểm điểm sai trái, không lo làm việc kỹ thuật, mà lo chữa bệnh cho dân chúng. Tôi biết chắc, bệnh nấc cụt có thể chữa hết tức thì, bèn nữa đùa nữa thật nói :

" Tôi có thể chữa cho anh lành bệnh với một điều kiện, là đừng đày tôi đi các công trường xa xôi nữa . "

Gã bảo rằng, đối với cách mạng, thì công tác nào cũng là công tác cả, đưa đi công trường xa không phải là đày, nói như thế là mất lập trường. Rồi gã thuận theo điều kiện của tôi. Thật ra thì gã cũng chẳng mất gì cả. Buổi trưa tôi ra chợ Thanh Đa gần đó, mua một quả cam, vắt lấy nước, lọc kỹ cho gã đừng biết là thứ gì. Đem cho gã uống, và bảo gã đừng sợ bị đầu độc. Gã vừa uống xong, thì hết nấc cụt liền. Tôi đã chữa bệnh nấc cụt bằng cách ăn cam, mười người hết cả mười.

Mười năm trước, về miền Nam California chơi, ghé thăm một anh bạn, thấy anh cứ nấc mãi mà không hết, anh cho tôi biết đã bị cả hai tháng nay, uống đủ thứ thuốc mà không hết. Tôi cười hỏi :" Đúng là thầy khoe thầy cứu được người, đến khi thầy ốm biết ai cứu thầy! Anh là bác sĩ, nhưng có chịu để cho lang băm nầy chữa bệnh không?" Tôi mở tủ lạnh lấy trái cam để lên bàn, múa tay giả vờ làm bùa phép và đọc thần chú, tôi cắt ra và bảo bạn ăn. Vừa ăn xong hai múi cam thì bạn tôi hết nấc. Cả nhà mừng quá. Chị vợ nắm tay tôi hỏi anh học cái bùa phép nầy từ bao giờ, và học tại đâu? Tôi cười và bảo rằng, nấc cụt ăn cam thì hết, chẳng có bùa phép chi cả, tôi chỉ đùa chơi thôi, nhưng anh chị không tin .

Cũng một lần khác, đi dự dám cưới đứa cháu, cả nhà cho biết cô dâu cứ nấc cụt từ sáng đến chiều, khổ sở lắm. Tôi cho ăn một múi cam, hết ngay. Chú rể là thằng cháu ghé tai bảo tôi: " Cám ơn chú cứu con, tưởng đâu đêm tân hôn mà hai đứa phải ăn chay thì uổng lắm."

Khi đi làm việc tại Mỹ, tôi biết rõ rằng có nhiều người tính tình rất kỳ cục, hay thưa gởi để đòi bồi thường, không cần biết đến phải trái, ân nghĩa. Như trường hợp một ông đang lái xe trên xa lộ, thấy xe khác lật và sắp bùng cháy. Bèn dừng lại, liều đến mở cửa ẳm một bà mắc kẹt từ trong xe ra, để cứu cho bà khỏi chết cháy. Sau đó, người đàn bà được cứu sống đâm đơn kiện cái ông đã cứu bà ra khỏi xe, lý do là ông nầy không phải là bác sĩ, hay y tá, không biết cách ẵm người thương tích, làm cho bà đau lưng. Truyền hình chiếu vụ án và phỏng vấn bà nầy, thấy mặt mày nhơn nhơn và nói những lời bất nhân. Nhiều người dặn dò rằng, khi đi đường, thấy có người té, thì đừng có nổi máu hào hiệp mà đỡ họ dậy, họ kiện cho đổ nợ ra. Chứ không phải như bên nhà, thấy người té mà không đỡ dậy là bất nhân, thiếu lòng từ. Bởi vậy, tôi rất dè dặt để chỉ cho các bạn đồng nghiệp người Mỹ cách chữa bệnh theo lối lang vườn .

Nhưng có lần, một ông Mỹ già ngồi cạnh bàn tôi, bị dị ứng, cứ sụt sịt chảy mũi nước mãi, uống thuốc mà cũng không khỏi, ông xài cả hộp khăn giấy, hai mắt đỏ hoe, ông nói đùa với tôi là nếu tôi có cách gì làm ông hết sổ mũi sáng nay, thì ông sẽ đãi cả nhóm đi ăn trưa một tuần, tôi hứng chí, bắt mọi người làm chứng. Tôi bảo ông rằng tôi sẽ không bắt ông uống thuốc, cũng sẽ không động đến người ông, mà ông sẽ hết bịnh. Tôi yêu cầu ông rót một ly cà phê thật nóng, rối áp hai đường lằn ở cạnh bàn tay phía dưới ngón tay út vào thành cái ly, cứ áp vào dở ra một hồi, rồi chờ cho ly bớt nóng, áp ly vào các huyệt trên mặt, bảo ông tự ấn vào các huyệt đó, còn tôi thì giả vờ đọc thần chú úm ba la. Quả nhiên, nửa giờ sau ông hết sổ mũi. Cả sở ngạc nhiên.

Một lần khác, ông bạn kỹ sư gốc người Nga ngồi sau lưng tôi, ông nầy nguyên là "viện sĩ" bên Nga vào thời cọng sản, ông được di cư qua Mỹ vì có vợ gốc Do Thái. Ông thấy tôi dùng dầu " cù là" , ông rối rít hỏi tôi mua ở đâu, chỉ cho ông, vì vợ ông rất thích xài cái thứ dầu nầy. Tôi hỏi ông tại sao biết thứ nầy, ông cho nói rằng bên Nga, người ta bán dầu nầy trong hộp nhỏ' bằng đồng xu và trên nắp hộp có hình ngôi sao màu vàng. À thì ra Việt Cộng đem dầu cù là Sao Vàng xuất khẩu bán cho anh cả vĩ đại Liên Xô. Nhiều lần, chúng tôi bàn thảo chuyện chính trị, chuyện tư bản chủ nghĩa, cọng sản chủ nghĩa, và cũng xem như đồng hội đồng thuyền vì cùng la nạn nhân của chế độ Cộng sản. Lần khác, ông bị đau nhức, không nhúc nhích được cánh tay mặt, và phải viết bằng tay trái. Người ta cho ông uống thuốc giảm đau mà thôi, chứ không cho thuốc chữa bệnh, ông nhăn nhó và than vãn suốt ngày. Ông hỏi tôi, có biết thầy châm cứu nào giỏi không, chỉ giúp cho ông. Tôi trả lời là không biết, nhưng tôi biết vài huyệt đạo mà ông có thể dùng cù là bôi vào đó, rồi hơ ấm, sau đó ấn mạnh bằng đầu ngón tay, cứ thử xem. Tôi dùng bút chấm vào bốn huyệt trên mặt, hai huyệt trên lưng, và hai huyệt ở ống chân. Chiều về, vợ ông có thể giúp ông, và tiếp tục chữa, nếu thấy có hiệu nghiệm thì cứ làm tiếp. Sáng chủ nhật đó, ông gọi điện thoại cho tôi, báo là đã cử động được cánh tay rồi, và hỏi tôi có nên lái xe không ?

Có một lần chúng tôi họp nhau ăn uống, toàn cả bạn cũ thời ba mươi, bốn mươi năm về trước. Một anh bạn nguyên là thanh tra giám sát viện, bị đi tù tám năm, anh kể chuyện rằng, lần nọ vào rừng đốn cây vác về, trong vỏ cây có con bò cạp, nó cắn vào cổ một anh bạn tù. Anh nầy được bạn bè khiêng về trại, và mồ hôi đổ dầm dề, run lập cập. Không có thuốc thang chi cả, có người nói cứ chờ gà gáy sáng thì hết đau, có người nói nếu có chút nước miếng gà bôi vào, thì cũng cầm được cơn nhức nhối. Nhưng kiếm đâu ra gà trong trại tù. Anh bị bò cạp cắn run lập cập và nghiến răng, trợn mắt như sắp chết. Một anh bạn tù già thấy vậy, bảo rằng không cứu gấp thì có thể đứng tim mà đi thăm Các-Mác, Lê- Nin. Anh ấy bảo rằng, không chắc lắm, nhưng để anh thử. Anh ngối xuống sát người bệnh, kéo quần ra, và dùng dầu dương vật rà vào vết bọ cạp cắn, quét qua, quét lại. Anh em tù nhân, người thì cười, người thì chế nhạo. Có người la lên là thấy người ta bị nạn, lợi dụng làm càn. Nhưng lạ lùng thay, chỉ mấy phút sau thì khuôn mặt nạn nhân dãn ra, và nét đau đớn biến dần, một lúc sau thì hé mắt lờ đờ nhìn anh em. Đêm đó nạn nhân ngồi dậy được, và sáng hôm sau lại bị đi lao động như thường. Anh em thán phục anh bạn tù chữa bọ cạp cắn bằng lối kỳ dị . Anh cho biết rằng, chữa bằng bộ phận đàn bà thì còn hiệu nghiệm hơn nhiều, và có thể chữa bất cứ loại côn trùng độc nào, đây là cách chữa độc của đồng bào thiểu số. Anh bạn cựu thanh tra giám sát viện kể xong, chúng tôi cũng nghi ngờ câu chuyện khó có thật, nhưng anh bạn nầy ít khi đùa giỡn, anh đứng đắn đạo mạo từ thời còn học tiểu học. Tuy không tin, nhưng một lần vợ tôi bị ong cánh vàng chích, bị dị ứng nên cánh tay sưng to màu đỏ. Đau quá chịu không nỗi, nên dù đang ban đêm, cũng phải kêu đến bệnh viện hỏi. Y tá trực cho biết rằng, dù có đưa tới bệnh viện, cũng chẵng được gì, và yêu cầu đắp baking soda, và chườm nước đá. Chúng tôi làm theo, nhưng không bớt đau đớn. Thấy vợ đau đớn quá, tôi nhớ cách chữa bệnh khi bị bò cạp cắn. Tôi bảo vợ nhắm mắt lại, quay đầu về phía khác, và tôi cũng rà thử. Đang rà, thì vợ tôi quay đầu lại, kêu thét lên và đấm tôi thùm thụp, và khóc bảo :

" Trong lúc em đau đớn như thế nầy, mà anh còn nhẫn tâm đùa như thế được ? "

Tôi giải thích cách nào, vợ tôi cũng không nghe và không tin.

Một chị bà con xa, có chồng làm nghề châm cứu tại một thành phố miền nam Vịnh San Francisco, một thành phố nhỏ mà cư dân toàn những người giàu có. Đại đa số bệnh nhân của anh là người da trắng già cả. Các cụ nhức mỏi, đau đớn khớp xương, đau đớn bắp thịt liên miên, khách hàng của anh đông đảo, và tha hồ mà hốt tiền của các cụ. Anh vừa châm cứu, vừa kể chuyện khôi hài, vừa giảng giải thiền, nói về lẽ vô thường của kiếp nhân sinh, xin các cụ bỏ mọi chuyện âu lo ra ngoài, xem lẽ sống và cái chết cũng tương đồng. Với cái vốn liếng tiếng Anh ba rọi, và ăn nói ngọng nghịu, anh cứ chậm rãi mà nói, từ từ mà giải thích, không cần các cụ có nghe và hiểu hay không. Nhưng các cụ thích lắm, và cảm thấy bớt bệnh rõ ràng, bớt âu lo, bớt mất ngủ. Thế đó, nhưng vợ anh thì mang chứng nhức đầu kinh niên từ thuỡ nhỏ, không ai chữa trị khỏi, chị uống thuốc đau đầu hàng ngày, ba bữa như ăn cơm, từ mấy chục năm nay. Một lần chị nghe có ông thầy võ dùng nội công chữa được trăm bệnh, cả bệnh AIDS, bệnh ung thư, theo như quảng cáo trên báo. Chị kể rằng, chị đến xin chữa bệnh, ông thầy bắt viết cam kết là lỡ có chết cũng không kiện. Phải trả trước tiền khám bệnh, bằng tiền mặt, nữa giờ tám mươi đồng Mỹ kim. Sau đó định bệnh, và cho biết tổng cọng phải tốn kém bao nhiêu. Ông đưa chị vào phòng khám bệnh nhỏ, bảo nằm sấp xuống, ông cưỡi lên mông chị, nhún nhún mấy cái rồi hỏi bằng tiếng Anh :

" Are you feeling good ?". ( Tạm hiểu là chị có thấy sướng không?)

Chị vừa xấu hổ vừa giận, dùng tiếng Bắc đặc giọng chửi lớn, tru tréo lên rằng :

" Bố tiên sư nhà mầy, xuống ngay, đồ khốn nạn ".

Có người nghe chuyện, cho rằng có lẽ cách nói của ông thầy võ làm chị hiểu lầm mà thôi. Cũng hôm ấy, một chị khác kể về ông thầy võ đó rằng, chị đến khám bệnh vì thấy báo chí đăng quảng cáo là chữa bệnh cứu đời. Chị giả khám bệnh để làm quen, hỏi thăm cho một người bà con bị bệnh nan y. Cũng nạp tám mươi đồng khám bệnh, cũng làm giấy cam kết chết không kiện. Ông thầy võ trông tráng kiện đẹp trai lắm, ông bóp tay, nắn chân chị, và bảo tìm được bệnh rồi . Muốn chữa thì phải tốn bốn mươi lăm giờ, tổng cộng bảy ngàn hai trăm đồng đô-la Mỹ, phải đóng ba ngàn sáu trăm đồng tiền mặt trước mà không trả lại. Ông sẽ dạy chị những thế luyện công, chị sẽ về nhà tập. Chị hỏi thăm cho trường hợp người bạn không có lợi tức. Ông thầy từ tốn giải thích rằng :

" Mỗi người có một nhiệm vụ, tôi có nhiệm vụ chữa bệnh, người bệnh có nhiệm vụ trả tiền, không nên lẫn lộn việc nầy với việc kia. "

Theo chị nghĩ, thì ông thầy nầy chữa bệnh có hiệu quả cho nhiều người thật, nhất là những người già cả thiếu vận động. Vì ông lấy tiền công đắt tiền quá, con bệnh tiếc tiền, nên về nhà chuyên cần tập những động tác mà ông gọi là "luyện nội công ", vận động tay chân, cơ thể, và từ đó thân thể khỏe mạnh và bớt bệnh khác. Tôi đem áp dụng lối "luyện công” để chữa bệnh cho mẹ một người bạn thân. Bà đau lưng, nhạt miệng, tay chân bải hoải, mất ngủ, không muốn cử động. Bạn tôi năn nỉ mẹ tập thể dục, loại nhẹ nhất như phất tay mỗi ngày, nhưng bà làm được vài lần thì bỏ. Không thuyết phục mẹ được, anh bạn nhờ tôi . Bà vốn sẵn thương tôi như con từ thời còn nhỏ, tôi đi chợ trời mua được một tượng Phật khá nặng, đóng vào hộp, dán nhãn và ghi giá hai ngàn rưỡi đồng Mỹ kim. Nói dối là thỉnh từ Nepal về, đem đến để bác mượn chữa bệnh. Tôi nói là tượng nầy hấp thụ được khí âm dương của trời đất, ai ôm nó thì khí trời đất sẽ thấm vào người mà khoẻ mạnh, trưòng thọ. Mỗi ngày ôm tượng đi quanh sân bốn mươi chín vòng niệm chú, thì rất có công hiệu. Nếu muốn có công hiệu hơn, thì ngoài việc bế tượng đi quanh sân, để tượng lên bàn Phật, đánh chuông niệm Phật, cứ mỗi tiếng chuông, thì nằm sấp lạy một lạy và đọc một câu kinh. Khi nào làm được bốn mươi chín lạy là lúc tất cả bệnh hoạn được khai trừ. Bà vốn sẵn có niềm tin tôn giáo, cứ thế mà làm theo. Chỉ một thời gian ngắn, ăn được, ngủ được, thân thể khoẻ ra, có thể đi chơi xa được .

Từ ngày biết chửa một ít bệnh theo ngọai khoa, tôi cũng bớt được những bệnh nhức đầu, sổ mũi thông thường. Cứ thấy hơi mỏi mệt là xoa bóp các huyệt đạo chủ yếu cho máu huyết lưu thông, cho cơ thể thêm sức kháng bệnh, do đó mà qua được những cảm cúm hàng năm. Đồng thời, có thể tạm cầm đau trong vài trường hợp để được chữa trị tận gốc, nhưng nhiều lúc cũng gặp không ít rắc rối. Những trường hợp bất đắc dĩ chữa bệnh, và may mắn có hiệu quả, tôi chỉ tin là gặp may, hoặc trùng hợp tình cờ như trăm ngàn tình cờ khác. Nhưng những lối chữa bệnh ngoại khoa, thì tôi tin chắc là công hiệu, tuy vậy, không giải thích được. Tôi rất ít tin tưởng về những đường kinh mạch, âm dương, ngũ hành tương khắc, hàn nhiệt, vì nó mơ hồ chứ không rõ ràng mạch lạc như Tây y, có thí nghiệm, có chứng minh đàng hoàng, có thống kê, có giải thích .

Tuy vậy, nền y học dân gian đã có từ ngàn năm, và nhiều cách trị bệnh cũng rất hiệu quả mà chúng ta chưa giải thích được. Đôi khi vẫn tự chữa bệnh cho mình, nhưng trong lòng tôi không một tin tưởng nào, và làm với tính cách cầu may. Có ai mách bảo một cách chữa mẹo mới, thì tôi cũng thờ ơ bỏ ngoài tai, cho đến khi cần lắm, thì đem ra thí nghiệm, chứ không hề quan tâm. Ở nước Mỹ mà làm lang vườn, thì rất có nhiều cơ hội bán nhà đền tiền sạt nghiệp ./.

Tràm Cà Mau


Posted by Anges at 10:43 PM No comments:
Labels: Tràm Cà Mau

Friday, September 26, 2025

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng Sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô.

Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm:“Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ:

“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.

Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”

Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm.

Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!” Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.” Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?”

Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì? ” Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn?

Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy.

Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan.

Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan.

Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói : “Thà tự sướng hơn là tự khổ”

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau./.

Tràm Cà Mau
Posted by Anges at 1:17 AM No comments:
Labels: Tràm Cà Mau

Saturday, August 30, 2025

Hàng Thần lơ láo

Ngày 30/4/1975, dân Việt Nam Cộng Hòa mất nước. Một số người nhờ sáng suốt và may mắn bỏ chạy thoát ra đi. Một số lớn, hoặc vì rủi ro, hoặc vì ngây thơ, hoặc vì chậm chân phải ở lại. Làm thân chiến bại, hàng thần, hàng dân, để sống chung với những kẻ chiến thắng đang say men ngông cuồng tưởng họ là vĩ đại, là anh hùng.

Buồn và bi thảm. Có sống qua những ngày tháng đổi đời này, mới thấy thương những bậc cha anh. Họ đã trải qua những cuộc dâu bể trong đời, từ Pháp qua Nhật, từ Nhật qua Việt Minh, từ Việt Minh qua Pháp, rồi từ Pháp qua thời kỳ Ngô Đình Diệm, rồi từ Ngô Đình Diệm qua nhiều chính phủ khác. Nhưng chưa bao giờ người ta trải qua một thời kỳ vô cùng bi thảm như cuộc sống nô lệ tràn đầy tủi nhục của dân Miền Nam, do cộng sản Miền Bắc khắc nghiệt cai trị.

Sau đây, xin ghi lại vài nét tại nơi tôi làm việc sau ngày 30/4/1975 để những người may mắn thoát kịp tai họa trời sập đó, được biết về những sự kiện hài hước của những “hàng thần lơ láo” tại riêng Sài Gòn. Tình trạng của anh em ở các tỉnh còn bi thảm hơn nhiều.

Sáng 1/5/1975 đài phát thanh loan báo lệnh của Ủy ban Quân quản rằng: “Tất cả công chức, nhân viên phải đến trình diện tại nhiệm sở cũ.” Chúng tôi lục đục đến sở. Trong sở, có lính CS mang súng đứng canh tiền sảnh và đứng rải rác đó đây. Họ mang áo quần màu xanh phân ngựa, chân đi dép râu, đầu đội nón cối. Mặt mày xanh mét, bụng chì.Áo quần thì nhăn nhúm, lụng thụng. Chỉ có đôi mắt sâu, cái mõm vẩu, và khẩu súng đeo lòng thòng sau lưng làm cho dân miền Nam ngán.

Sau những giây phút đầu lấm lét nhìn nhau, một vài chị cười cầu tài đến hỏi chuyện các anh bộ đội. Mấy người khác xúm lại nghe chuyện. Những câu hỏi mà tôi được nghe đại khái như sau:

– Anh đã có vợ chưa?

– Ở miền Bắc có được yêu nhau không?

– Ở miền Bắc làm việc như thế nào, một ngày mấy tiếng?

– Ở miền Bắc có chợ không, có được mua bán không?

– Lương của anh bao nhiêu? Lương cao nhất bao nhiêu? Lương thấp nhất bao nhiêu?

– Ở miền Bắc có quán ăn không? Có quán cà phê không? Có xe hơi không? Nhà cửa có được mua bán trao đổi hay không?

– Đám cưới miền Bắc như thế nào?

– Các anh sẽ đối xử như thế nào với những người di cư 1954?

Chỉ hỏi những câu vớ vẩn. Được trả lời bằng những câu rất “ngon lành”. Nghĩa là miền Bắc cái gì cũng tốt, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng nhiều, và văn minh tiến bộ hơn miền Nam. Một anh bạn trẻ miền Nam nói với giọng điệu tiếc thương cho thân phận:

– Miền Bắc tiến bộ như vậy, nhìn lại miền Nam của mình, thật là tủi hổ và nhục nhã. Biết bao giờ mà theo kịp văn minh của miền Bắc, đã tiến quá xa như vậy!

Có một câu hỏi, ai cũng muốn biết nhưng không dám hỏi, là:

– Các anh sẽ làm gì chúng tôi?

Điều đó, họ sẽ biết dần dần qua ngày tháng dài sau này, mà cán bộ cấp cao cộng sản chắc cũng chưa biết rõ được.

Lúc 9 giờ 30, một đám cán bộ cao cấp đến. Họ tập họp tất cả công nhân viên cũ lại trong sảnh đường.Tài xế và lao công được sắp xếp đứng trước. Tất cả thành phần khác đứng sau. Thủ trưởng tiếp quản cơ quan này là một cán bộ có dáng người thấp, mặt bủng. Ông ta đứng sau một chiếc bàn, hai bên có 5, 6 cán bộ đeo súng ngắn, tất cả đều mặc áo quần lính màu phân ngựa. Ông ta dõng dạc kêu gọi tài xế và lao công tố cáo tội ác của cấp chỉ huy. Bây giờ là giai đoạn công nhân làm chủ.Tài xế và công nhân im thin thít. Đám chỉ huy cũ thì trầm lặng, có vẻ lo âu. Có lẽ ai cũng nghĩ họ chưa phạm tội nào được gọi là ác. Tất cả mọi người đều im re.

Vị thủ trưởng thúc giục mãi đám tài xế và lao công hãy mạnh dạn tố cáo tội ác. Dân miền Nam có lẽ chưa quen hành động hèn hạ buộc tội cho người khác. Cho nên dù có ghét cấp chỉ huy thì trong giờ phút chưa hoàn hồn này, các ông, các bà cũng không nỡ hèn hạ tố cáo ai.

Thấy không ai mở miệng, vị thủ trưởng bắt đầu nói thao thao bất tuyệt. Nói miền Nam xấu xa, đồi trụy. Miền Nam tội lỗi ngập đầu, miền Bắc tốt đẹp, miền Bắc tài giỏi anh hùng, miền Bắc có tên lửa bắn hạ được B52 của đế quốc. Nói dông dài nhiều lắm, nhưng một câu nói mà giờ này tôi chưa quên và cũng chưa hiểu: “Sự nghiệp của chúng tôi là sự nghiệp cách mạng.”

Sau đó, ông ta cho mọi người về lại chỗ ngồi cũ. Ông ta nói rằng, tất cả đều được nhà nước sử dụng. “Bởi con người là vốn quý của xã hội”.

Những cấp chỉ huy lớn nhỏ cũ, vội vàng soạn bàn, soạn hộc tủ, để nhường chỗ cho đám cán bộ mới tiếp thu. Người có chức vụ cũ, ra ngồi tạm tại các bàn trống của nhân viên bên ngoài. Bây giờ họ là “một lũ hàng thần lơ láo”. Không biết “cách mạng” sẽ làm gì mình và số phận của mình ra sao? Có một điều biết chắc là sẽ khổ, khổ lắm!

Tất cả hồ sơ bị kiểm kê và được niêm phong cẩn thận. Lập danh sách và nộp cho cán bộ. Không biết tại sao mà cứ bắt lặp đi, lặp lại, những bản danh sách hồ sơ. Rồi các cấp chỉ huy cũ được gọi lên gặp thủ trưởng để trình bày các công tác hiện tại của sở. Trình bày cẩn thận và trịnh trọng vì sợ nếu trình bày không rõ thì họ sẵn sàng ghép mình vào nhiều thứ tội. Những câu hỏi của các cán bộ kỹ thuật nghe có vẻ hơi ngớ ngẩn. Nhiều người ngờ ngợ, không biết họ có gài bẫy gì không! Về sau mới nghiệm ra là vì họ quá dốt nên hỏi ngớ ngẩn.

Suốt một ngày đầu tiên, các cán bộ miền Bắc phải trả lời các câu hỏi tới tấp về đời sống ở miền Bắc. Hỏi đủ thứ. Họ tha hồ ca ngợi chế độ miền Bắc: “Đời sống thần tiên, cơm gạo rẻ, thịt bán ra ăn không hết, mỗi năm đi nghỉ hè Sầm Sơn, Chapa, và các nơi khác. Mỗi người có xe, có súng săn và xem cố vấn Liên Xô chẳng ra gì. Đời sống thoải mái dễ chịu, khoa học kỹ thuật tân tiến, có những chiếc cầu bêt ông cốt thép làm trong tuần lễ là xe qua được, cà phê và bia miền Bắc uống ngon chứ không dở như ở miền Nam...”

Họ nói nhiều quá, nên người nghe đâm ra nghi ngờ sự thực.

Ngày hôm sau, mỗi người được phát một xấp giấy gọi là viết “Sơ yếu lý lịch”. Được hướng dẫn để khai báo. Khai từ cha mẹ, ông bà nội ngoại, chú bác, anh em, bà con, bạn bè. Khai đủ thứ. Thấy “sơ yếu” mà đã tùm lum như vậy thì bình thường phải dài đến thế nào đây! Cầm tờ “Sơ yếu lý lịch” đã được điền kín, kèm căn cước bọc nhựa và giấy tờ cũ vào trình diện cán bộ, từng người một, để lấy lời khai. Ai cũng sợ. Bị hỏi đủ thứ chi tiết về đời tư. Lo lắng và cẩn thận khi trả lời. Xong lời khai, thì thở dài khoan khoái vì trút được gánh nặng.

Trong vòng một tháng đến sở đúng giờ, ra về đúng giờ. Tha hồ ngồi chơi. Chúng tôi đánh cờ tướng ồn ào, cãi nhau chí chóe. Bên Nha Kỹ Thuật thì chơi Domino. Các anh kiến trúc sư dạy cho 2 cô bé cán bộ chơi. Các cô chơi rất say mê.Mấy cô bé cán bộ bằng đầu, bằng đuôi, thắt bím lủng lẳng, mặc bộ đồ màu đất chết nhăn nhúm, lụng thụng. Trông tội nghiệp. Để đám cán bộ khỏi ngứa mắt, anh em trong sở lục tìm những bộ áo quần nào cũ xấu nhất đem ra mặc. Nhưng xấu nhất cũng đã là quá sang trọng đối với đám cán bộ. Tất cả các nhà thầu xây cất có khế ước với cơ quan cũ đều được triệu tập đến.

Cho thời hạn trong một ngày, phải kê khai hết tất cả tài sản. Có bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu cây sắt, bao nhiêu bao xi măng, bao nhiêu kềm, búa, đinh phải khai không thiếu thứ gì. Tên cán bộ Phạm Công Tấn mặt đầy sát khí hét lớn với nhà thầu Nguyễn Văn Hạnh: “Dù kho tàng của anh lớn đến đâu, anh cũng phải kê khai cho kịp ngày mai. Chúng tôi vượt Trường Sơn được thì các anh phải làm được!”

Khi các nhà thầu đã nộp bản kê khai xong, bọn cán bộ cách mạng buộc anh em nhân viên cũ phải đến tận kho bãi, để kiểm soát lại. Cán bộ Tấn bảo với một giám thị: “Đêm phải đến nhà xem nó bàn tính gì trong gia đình.” Anh em trong sở cười ngất, bảo nhau đêm nay lẻn đến nhà, chui xuống giường nghe, xem vợ chồng nhà thầu bàn tính chuyên gì...

Một tháng ròng, đến sở chẳng có việc chi làm cả. Nhưng cũng ít ai dám đi trễ về sớm, vì còn sợ. Chơi dông dài. Các sĩ quan thường nằm nhà lấm lét nhìn ra đường. Chẳng ai làm gì họ cả giữa trung tâm Sài Gòn. Trong lúc đó, tin tức từ các tỉnh đưa về làm cho anh em lo ngại. Tin người này bị xử bắn, người kia bị bắt đi, tài sản bị tịch thu. Tuy lo sợ, nhưng đa số để tự trấn an và tự lừa dối họ, thường nghe họ nói: “Cách mạng trước sau như một, những chuyện rắc rối kia, chắc ở dưới thi hành sai đường lối.”

Bên ngoài sở, tin tức nhiều gia đình uống thuốc độc tự tử, nhiều gia đình tự tử bằng súng, hay bằng cách đổ xăng đốt luôn nhà. Bộ đội cộng sản thì có vẻ ngơ ngác, cái gì cũng làm họ ngạc nhiên.Chuyện rửa mặt, rửa rau trong bồn tiêu, bồn tiểu là chuyện xảy ra bình thường. Có cán bộ vào phòng tắm, mở vòi nước nóng đổ xuống bị rát phỏng lưng, nổi giận rút súng bắn vòi sen chửi thề: “Mỹ, Ngụy độc ác thâm hiểm”, đã bỏ chạy mà còn gài bẫy giết hại nhân dân ta... Những chuyện đại loại như vậy được bà con kể khắp nơi.

Tháng đầu tiên, “Cách mạng” trả lương đồng hạng 14 ngàn đồng cho toàn thể nhân viên. Trả một đống cao toàn bạc cắc giấy. Giấy 20 xu, giấy 50 xu. Tài xế và lao công được trả lương cũ. Nhiều người bàng hoàng thử hỏi: “Rồi không biết gia đình sống làm sao đây?” Vì sau khi đổi tiền mới, 500 đồng VNCH đổi được 1 đồng mới miền Bắc. Lương tháng chỉ lãnh 28 đồng mới. Đổi tiền là một siêu mưu thần sầu của nhà nước, như cướp tài sản miền Nam, chia cho miền Bắc nghèo đói.

Khoảng đầu tháng 6 năm 1975, đài phát thanh kêu gọi tất cả viên chức Ngụy quyền, từ trưởng ty trở lên, phải “đi học tập cải tạo một tháng” để thông suốt đường lối chính sách của nhà nước cách mạng. Ai cũng mong đi học cho xong, để yên tâm làm lại một cuộc đời mới. Báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng đăng đầy đủ chi tiết “đi học tập”.

Trong các chức vụ được liệt kê, không thấy có ghi chức chánh sự vụ. Một anh hỏi cán bộ, anh cán bộ nói: “Không ghi nhưng anh cứ đi đi. Tôi cũng mong được đi học như các anh mà không được”. Bởi thế cho nên nhiều anh chánh sự vụ các nơi “đi học tập cải tạo” đến năm bảy năm sau cũng chưa về, mà một số khác thì khỏi “đi cải tạo”, về sau vẫn còn làm việc. Sĩ quan cấp Tá “đi học tập 1 tháng”, sĩ quan cấp Úy “đi học tập 1 tuần”. Nhưng tất cả đều đã lầm to!

Ngày trình diện “đi học tập cải tạo” cho Ngụy quyền là 13, 14 và 15 tháng 6 năm 1975. Nơi tập trung là trường Gia Long và Trưng vương. Ngày đó, anh em chen nhau đi trình diện. Xếp hàng một, ôm khăn gói áo quần. Ra đi không một chút lo âu, và nghĩ rằng 1 tháng thì chẳng bao lâu. Rủ nhau cùng đi. Nhiều anh em cười đùa thích thú.

Ngày 13 nhiều người kiêng, ngày 14 đi trình diện đông đảo hơn. Đến ngày 15- ngày cuối cùng hết hạn- anh em đến trình diện đông quá, chen lấn, chúng nó hết chỗ chứa, phải đuổi về. Nhiều người toan leo hàng rào vào bên trong. Bởi không phải ham “đi cải tạo”, anh em biết rằng có về nhà cũng sẽ bị công an ruồng bố, xông vào nhà bắt đi. Công an phường toàn dân bất hảo cũ, thất học, lỗ mãng, và cuồng tín. Quả thật, nhiều người bị đuổi về, đêm đó bị công an vào nhà bắt đi và đem biệt giam ở Khám Chí Hòa. Nhiều người khác không biết bị giam ở đâu!

Tại trường Nữ Trung học Gia Long. Bàn ghế được dẹp lại. Anh em trải chiếu ra sàn phòng ngồi chuyện trò, nghỉ ngơi. Ngay chiều hôm đó, xe của nhà hàng Ngọc Lan Đình, là tiệm ăn Tàu nổi tiếng, mà nhiều người thường chọn làm tiệc đám cưới, họ đem cơm đến. Cơm tây, sang trọng, ngon lành, mỗi người một đĩa. Tắm thì thay phiên nhau. Tại đây, bạn bè cũ gặp nhau chuyện trò vui vầy, và gặp nhiều vị cao cấp trong chính quyền cũ: bộ trưởng, phó thủ tướng, tổng giám đốc, trưởng sở, trưởng ty.

Một vị Tổng Giám Đốc nguyên là thầy học cũ nói với một vị giám đốc rằng: “Anh ạ, có lẽ tụi mình sẽ được học đây. Ở đây học tiện, đi đâu cho xa.” Nhiều người lạc quan, cứ cho là sẽ học tập tại trường Gia Long trong 5 hay 7 ngày rồi được về. Hình như nhẹ dạ là cái tội chung của “dân Ngụy chúng ta”. Đa số tin là sẽ học ngay tại trường Gia Long này. Nhưng có vài anh khác không tin, vì trước khi đi trình diện, những người bà con từ rừng ra, cho thuốc bôi khi rắn cắn, cho thuốc trị sốt rét, và nhiều thứ thuốc lạ bằng bột chống vắt, muỗi, v....v....

2 ngày trôi qua trong trường Gia Long, anh em vẫn cười đùa, ngồi kể chuyện tiếu lâm, nói đủ thứ chuyện, chỉ có khó chịu là phải ngủ chật chội giữa sàn nhà. Nhiều tin loan ra là sẽ được trở về nhà trong vài hôm nữa, sẽ được học tập tại cơ quan.

Đêm 15/6/1975 tất cả mọi người được lệnh tập họp, xếp hàng theo toán, tổ, tập họp lúc 10 giờ đêm. Một số nhỏ được gọi riêng ra, người ta không biết tại sao. Những người được gọi riêng mặt tỏ vẻ lo lắng, sợ hãi, không biết chuyện gì rắc rối sẽ đến với họ. Những người này được lệnh ôm tất cả hành trang áo quần xếp riêng.

Có người bảo rằng: “Những người này có tội nặng với cách mạng, nên cho đi nơi khác, chịu chế độ khác”. Nhưng cuối cùng họ được cho về nhà tạm, vì quá đông không đủ xe chở đi. Họ ra về nhưng lòng đầy lo lắng, về lúc nửa đêm ôm áo quần hành trang, công an khu vực sẽ hỏi thăm kỹ càng, không chừng sẽ giam họ và đối xử với họ tàn tệ hơn. Quả thật, một số trở về bị bắt ngay trước cổng nhà đem đi nhốt ở khám Chí Hòa.

Một số khác thoát được nằm nhà. Nhưng lòng hồi hộp, lo lắng không nguôi. Bởi lẽ cho về mà không cho một mảnh giấy chứng nhận nào. Đám còn lại được gọi tên tuần tự lên xe đò,chật như nêm. Xe đậu thành hàng trước trường Trung học Gia Long trên đường Phan Thanh Giản. Ngồi trên xe chờ thật lâu, bâng khuâng nhìn ra đường có ánh đèn sáng trắng,lòng hoang mang không biết thân phận rồi về đâu. Có người đoán rằng sẽ đi lên rừng sâu, giữa mật khu cũ của Việt cộng. Có người đoán đem ra miền Bắc. Có người đoán đem đi chôn tập thể như năm Mậu Thân ở Huế.

Rồi xe lăn bánh lúc 2 giờ khuya. Thành phố đang yên ngủ. Đêm tháng 6, trời hơi mưa. Đoàn xe nối đuôi nhau chở những người đã một thời nắm các chức vụ then chốt tại miền Nam, đi về một nơi mà họ đang âu lo không biết số phận sẽ thế nào.Xe chạy thẳng về hướng xa lộ. Họ im lặng. Mỗi người một ý nghĩ.Lo âu trĩu nặng. Xe qua cầu Phan Thanh Giản. Nhiều người ngoái cổ nhìn lại thành phố Sài Gòn lần cuối cùng.

Không nói ra, nhưng nhiều người nghĩ rằng, không biết có lần trở lại Sài Gòn trong đời hay không. Xe chạy. Đêm đã khuya, nhưng chẳng ai buồn ngủ. Tâm trí đang căng thẳng. Rồi xe rẽ về hướng Long Khánh, Vũng Tàu. Lúc này không ai ước lượng được thời gian. Đoàn xe quành vào một con đường đất, xe nghiêng lắc, nhiều người va chạm mạnh vào nhau. Hai bên đường cỏ cao, rậm rạp. Một người kê miệng vào anh bạn mà thì thầm: “Đúng rồi, chúng đem đi chôn sống ông ạ... Thấy không?”

Xe dừng lại trong khu đất hoàn toàn tối tăm. Hình như có mấy dãy nhà liên tiếp nhau.Vừa mệt nhọc, vừa buồn ngủ, chúng tôi nắm tay nhau lần vào trong căn nhà. Đạp lên người đang nằm dưới sàn. Họ vùng dậy cự nự om sòm. Chúng tôi thả xách hành lý làm gối kê, nằm lăn ra sàn và thiếp đi cho đến sáng.

Buổi sáng thức dậy, ngơ ngác xôn xao. Mấy dãy nhà lợp tôn, không bàn ghế, không giường chiếu, cửa ngõ hư nát, xập xệ, không còn cánh cửa sổ nào. Một người định hướng và nhìn quanh. Nhiều người thì thầm: “Cô Nhi Viện Long Thành”. Họ nhìn nhau cười buồn. Anh em chạy đi kiếm nước đánh răng, kiếm mãi không có. Khát cháy cổ, mặt mày dơ dáy, miệng hôi. Một người khám phá ra cuối dãy nhà có một thùng nylông nước nóng.

Vục ca vào múc, nước đen nhờ nhờ như nước cống. Có tiếng thắc mắc: “Nước gì kỳ quá?” “Nước trà?” “Cà phê?” “Nước cống?”Một anh thử hớp, mặt nhăn lại, nheo mắt nói thì thầm: “Cà phê cách mạng”. Nhiều người quay mặt qua hướng khác để giấu nụ cười thích thú. Sau đó họ mới biết đó là trà nấu với nước phèn. Thùng nước được chiếu cố tức khắc. Sáng đó không có gì ăn. Buổi trưa cũng đến rất mau. Cũng chẳng có gì ăn cả. Ở khu hậu cần có mấy người đàn bà đi qua đi lại xoắn xít. Vài người khát quá đánh liều cầm ca đến nhà bếp xin nước lạnh uống.

Được vài ca nước, anh em xách ca chạy ùn ùn xuống. Mấy mụ đàn bà không cho. Đuổi xéo đi. La hét ỏm tỏi. Anh em khát cháy họng vì không quen nhịn đói, nhịn khát.Bởi vậy, đám đông đứng xa xa, tay cầm ca, mắt hau háu nhìn mấy thùng nước nhưng không dám đến gần.Một ông ngồi ở vỉa hè, nhận ra được mấy khuôn mặt quen,mấy ông thứ trưởng,tổng giám đốc, tay cầm ca nhựa giấu sau lưng, đầu nghiêng về phía mấy thùng nước, mắt hau háu. Bỗng nhiên nỗi buồn dâng tràn trong lòng như từng đợt sóng lớn.

Ngày đầu tiên được đưa đến “trại học tập cải tạo” Long Thành, anh em thuộc thành phần “Ngụy quyền” phải nhịn đói hơn 24 tiếng đồng hồ. Cơm chiều ngày hôm trước ăn lúc 5 giờ. Đến khoảng 8 hay 9 giờ đêm hôm sau, dãy nhà số 5 mới được phát cơm. Một giỏ cần xế cơm nhão như cháo được anh em mang về để bên hành lang. Do chưa tổ chức đàng hoàng, nên mạnh ai nấy xúc. Chen chúc hỗn loạn, mưa tạt ào ào, nhiều anh ướt như chuột lột, tay cầm cục cơm, vừa chạy vừa ăn ngon lành. Cơm chia không đủ, năm bảy chục anh chậm chân và không ưa chen lấn phải nhịn đói hôm đó.

Một anh bạn ngậm một cục kẹo cho đỡ đói. Rồi nằm dài theo lối Yoga để thân thể hoàn toàn nghỉ ngơi. Anh nói có nhiều đạo sĩ nằm theo lối này có thể nhịn đói được rất lâu. Bên cạnh đó, có ông nguyên là một vị cao cấp trong ngành Tư pháp, hỏi ông bạn nằm kề rằng tại sao người ta tổ chức dở thế, để cho nhiều người phải nhịn đói một cách vô lý. Bên ngoài mưa thét, gió gào. Cửa sổ không cánh, làm nước tạt lung tung.

Đám người thất thế bụng đói nằm sắp lớp trên nền nhà, nằm san sát nhau. Cay đắng trước cuộc biển dâu. Đa số im lặng, mắt thấm buồn, vầng trán ưu tư. Đám trẻ tuổi cũng đói quá, hết khôi hài đùa giỡn.

Bài học “lao động là vinh quang” đầu tiên là bài học không lời: Anh em được lệnh dỡ một căn nhà tôn, để lấy tôn, gỗ làm lại một căn nhà kho và nhà tắm, ở vị trí khác. Lệnh của cán bộ ban xuống cho trưởng dãy (trưởng dãy nhà cũng là “Ngụy cải tạo”). Không kềm, không búa, không xà beng, không một dụng cụ căn bản nào. Hỏi trưởng dãy, trưởng dãy cũng lắc đầu. Bàn tán mãi, anh em đi nhặt đá làm búa gõ cho tôn bung ra, gỡ được mấy cây đà gỗ dọc, dùng nó để đánh bung các mối nối khác. Chỉ một lúc sau căn nhà cũng biến mất, chỉ còn lại một đống gỗ, mấy đống tôn. Khó nhất là những mối nổi bằng bù lon.Anh em áp nhau bẻ, vặn hai cây gỗ cho đến bung bù lon.Phá thì dễ, làm lại mới khó. Gỗ, tôn được tha ABCD vị trí mới.

Anh em bàn cãi lung tung. Nhưng với hai bàn tay không, không kềm, không búa, không đinh, không cưa, làm sao mà dựng được nhà? Cuối cùng anh em phân chia phần việc. Một nhóm dùng tay bẻ tôn và xếp lại thành miếng mỏng, có mũi nhọn để đào lỗ chân móng chôn cột. Một số khác kiếm hai cây bù lon cột chéo lại thành hình chữ V để nạy và nhổ đinh. Nhóm khác dùng đá đập cho đinh thẳng lại. Mấy anh khác có sáng kiến bẻ tôn thành lá, dùng cây đinh đục một cạnh, thành răng cưa nhọn để cưa gỗ. Anh chán quá nên hết buồn, đâm ra tếu, chọc ghẹo nhau, đùa giỡn.

Rồi căn nhà mới cũng được dựng lên đàng hoàng. Khi làm xong, anh em tự khâm phục họ vô cùng.Tưởng đâu chuyện hoang đường, tay không, mà rồi cũng dỡ được căn nhà cũ, dựng được căn nhà mới ở một vị trí khác.

Hôm sau được lệnh khai đất để trồng trọt. Cũng với hai bàn tay không. Chẳng có cuốc xẻng gì cả. Nhiều anh bàn nhau dùng tay cào như mèo cào đất. Cỏ cao lút háng. Việc đầu tiên là nhổ cỏ. Nhổ đến nỗi những bàn tay bị cắt rướm máu. Nhổ xong, kẻ thì cầm cây gỗ nhọn, kẻ cầm cây đinh, kẻ cầm mảnh chai mà cào xới. Đất đồi sỏi đá cứng ngắt đào không lên, như làm chuyện khôi hài. Không hiệu quả. Cuối cùng lấy tôn lợp nhà, đập phẳng, bẻ cong làm lưỡi xuổng, tra cán gỗ bằng cách đóng đinh. Miếng đất hoang đuợc xới thành vồng và đất được đánh tơi ra. Cũng nhờ đó sau này anh em có thêm được vài ba miếng rau để ăn dặm thêm cho đỡ đói lòng.

Xã hội chủ nghĩa không để cho một cái gì lãng phí cả. Bởi vậy, làm hầm phân tự hoại là phá hoại tài sản của nhân dân. Phân người phải được dùng lại để bón cây. Những hầm phân lộ thiên, có hai cây gỗ nằm ngang bên trên, để ngồi mà thả thứ thừa hàng ngày xuống. Mỗi lần phân rớt xuống là ruồi xanh, ruồi đen bay lên tứ tán, tha hồ chúng đậu vào đầu, vào mông, vào mặt. Nếu có trận mưa thì còn khổ hơn, bên dưới nước lõng bõng, phân rớt xuống, làm nước văng lên lưng, lên đầu. Đi tiêu xong, cả giờ sau còn nghe mùi hôi hám trong quần áo, trên da thịt. Khi cả 3 ngàn “cải tạo viên” đã làm đầy các hầm tiêu bởi bổn phận hàng ngày đối với thân thể, thì đám cán bộ thấy các hầm phân đó là cả đống tài sản, quý lắm.

Một ngày trời rất đẹp, đám cải tạo được lệnh xuống xúc các chất cặn bã đó lên để bón rau. Lệnh ban ra. Anh em sởn da gà. Phân người đầy hầm ủ cả nhiều tháng được khơi lên, ai mà đủ can đảm vục tay xuống múc? Nhưng thân tù tội, thì phải làm. Anh em chia phần rất đều, mỗi người múc phân mấy chuyến, không ai thoát.Chỉ có anh trưởng ty Canh Nông Hậu Nghĩa cũ được bầu làm “chủ trì” và kiểm soát việc khai thác, nên thoát khỏi múc phân. Không hiểu sao phân xanh ngắt như “sương sa” và dẻo kẹo như hắc ín. Múc lên từng thùng, bỏ vào gánh khiêng đi.

Đem ủ để mấy ngày sau mới bới ra, đưa tay vọc hòa cùng đất đã được tơi vụn. Rồi trồng rau cải, rau muống. Phân người là một thứ quý báu của xã hội chủ nghĩa. Không biết, cộng sản nó muốn làm nhục anh em hay nó cho rằng đi hốt phân là quang vinh thực sự? Khi nhìn những bậc trưởng thượng quyền cao chức trọng ngày trước, tay vục vào trong hồ phân xanh rờn, mặt nhăn nhó, và khi gánh thùng phân mùi xú uế tỏa ra, đàn ruồi bay theo, thì bọn người chiến thắng có cảm thấy hả dạ hay không? Còn “anh em Ngụy” thì cam chịu, cắn răng chịu, không cần phải tủi thân hay uất hận.Nước đã mất, phận tù đày,đâu còn quản ngại.Bài học bốc phân này còn âm hưởng mãi trong thời gian còn lại. Anh em bảo nhau: “Bốc c... còn được thì làm việc gì mà chẳng được.”

Trong trại cải tạo, cán bộ dạy rằng, nhờ Đảng cộng sản lãnh đạo tài tình, nên toàn dân mới được ấm no hạnh phúc. Anh em tù nhân miễn cưỡng gật gù khen phải. Trong trại cải tạo,tất cả tù nhân cảm thấy đói triền miên. Cái đói nó ám ảnh ngày đêm. Thèm một cục đường, thèm kinh khủng. Một anh nguyên làm giám đốc ở Bộ Tài Chánh, trong một sáng chủ nhật đẹp trời, nói với các bạn bè: “Ước mơ sao bỗng nhiên trên trời rớt xuống cho mỗi đứa một chén chè, ăn xong, 5 phút sau trời sập đè chết cả lũ cũng mãn nguyện.”

Nói xong anh và bạn bè cùng hít hà hít hà. Nhiều anh tổ chức buổi “tiệc hàm thụ”. Bạn bè nằm quanh, nhắm mắt lại, nghe một anh kể các thức ăn, nào là mùi hành tiêu thơm ngát, mỡ béo ngậy, ngậm vào miệng ngon lịm. Kể từ món ăn này qua món khác. Anh em nằm tưởng tượng như đang ăn uống thực sự. Khi tỉnh giấc “Nam Kha” thì cũng xem mình như đã thực sự dự tiệc. Buổi sáng ngủ dậy, nhiều anh khoe là đêm qua được đi ăn tiệc, ngon quá, nhờ một giấc mộng mà có thể vui được cả ngày.

Một anh có cục đường tán, mỗi ngày đem ra gặm một chút rồi đem cất đi. Thỏi đường tán lớn bằng ba ngón tay mà ăn cả tuần chưa hết. Một lần, ngày lễ 2 tháng 9 của cộng sản, chúng hạ con heo cho anh em ăn mừng. Nghe mà khiếp! Buổi sáng tiếng heo kêu sau khu hậu cần, anh em mừng vui. Buổi trưa có thịt heo ăn. Mỗi anh tìm được một cọng nhỏ bằng cây tăm diêm quẹt, nấu lẫn trong canh bí ngô. Có anh bảo rằng, đừng nuốt, ngậm mà nghe mùi vị. Một người khác đề nghị kiếm sợi chỉ cột vào miếng thịt, nuốt vào rồi kéo ra, cứ nuốt, kéo, nuốt, kéo... mãi đến khi nào ớn thì thôi, xem như đã ăn một bữa thịt heo đã đời. Bên dãy nhà gần cổng, nhiều anh bắt cóc bỏ trong hồ, nuôi cho lớn để ăn.

Trên khoảng đất cỏ mọc um tùm phía bên hông, ngày ngày thấy vị dược sĩ già- một thời là đại phú Sài Gòn- đi tìm cây cỏ. Cây gì ăn được, ông hái về luộc ăn cho đỡ đói. Nhìn vị dược sĩ già, dáng tiều tụy, mặc xà lỏn bẩn ngầu, lụng thụng, áo lá rách lốm đốm ngả màu đất, trông như một vị tiên bị đọa xuống trần gian đang đi tìm thuốc trường sinh.

Một vị tỉ phú khác, một thời xa xưa từng là “Nhứt phẩm triều đình”, xin được một miếng cơm cháy, ăn ngon lành với đôi mắt sáng rực của một người được hưởng một hạnh phúc lớn. Một anh giám đốc, thấy một đám cơm đổ bên hè nhà bếp, vội vã hốt vào ca, đem rửa và gạn cho sạch đất. Chạy vào hớn hở khoe với bạn bè: “Này, ngon chưa? Được một phần tư chén chứ ít sao. Hi hi... Hi hi..

.” Một anh cho bạn mấy muỗng nước rau muống luộc, anh ưu ái bảo: “Uống đi. Bổ lắm. Uống cho có sức. Hồi này moa thấy toa gầy ốm lắm đó”. Một lần, mấy ông bác sĩ nguyên là giám đốc các bệnh viện cũ, rủ nhau đi chơi quanh hố rác, thấy đuôi củ cải và đuôi cà rốt, bèn nhặt về rửa, gọt, làm dưa chua ngâm trong mấy chai lọ nho nhỏ. Mấy tên cán bộ biết được, đem ra bêu rếu, chửi rủa om sòm, nghe đâu có anh phải làm tờ kiếm thảo. Chuyện ấm no thì viết chẳng bao giờ hết. Thê thảm lắm!

Những khi trải qua nhiều nỗi đắng cay, người ta muốn ghi lại để nhớ, để con cháu ngày sau đọc lấy làm kinh nghiệm. Trong tù, nhiều người bí mật viết nhật ký. Những kẻ khôn ngoan, thì biết rằng không điên gì làm công việc nguy hiểm đó. Tuy nhiên có nhiều người quyết viết. Cộng sản nó cũng biết. Lâu lâu chúng đi lục sách vở, khám hành lý, đọc từng câu, từng chữ mà tù nhân đã ghi lại. Một ông già, thân hình ốm yếu, hom hem. Đêm nào vào mùng cũng âm thầm khóc rấm rứt. Bạn tù đêm đêm nghe tiếng khóc nho nhỏ và tiếng khịt mũi. Có người đêm khuya dậy đi tiểu, thấy ông ngồi khóc bên vỉa hè.

Thấy có bóng người, ông sợ hãi quay về nơi nằm ngủ. Một lần cộng sản xét toàn dãy nhà, bắt được một cuốn tập ghi chi chít bài học của ông già, trong đó có câu “Đêm qua nằm mơ thấy ông bà về dẫn mình ra khỏi nơi tối tăm này, khi giật mình dậy, sờ lên mặt thấy lệ ướt đẫm má..

.” Cán bộ quản giáo bắt ông làm tờ kiểm thảo cả tuần, làm đi làm lại mãi. Ông già càng sợ khiếp. Trong lần lục xét này một cuốn nhật ký bị khám phá, cán bộ họp toàn thể tù nhân lại, chúng ngồi làm chủ tọa. Buộc anh lén viết nhật ký đó, phải đọc lớn lên từng trang, để toàn thể cải tạo viên phê bình, đánh giá từng điểm một. Tất nhiên nhật ký chỉ viết sự thực, và viết cảm nghĩ trung thực nhất. Trước 200 tù, cuốn nhật ký được đọc lên, tác giả cuốn nhật ký run rẩy, mặt xám như chì, mới đọc được một phần ba trang thì anh bật ngửa ra bất tỉnh nhân sự. Anh em vừa thương, vừa cảm, vừa sợ.

Ai cũng mong cho ngày chóng tắt, đêm mau sáng để được về. Đã 3 tuần trong trại. Mau thật. Còn 1 tuần nữa mới chẵn 1 tháng. 1 tuần nữa sao lâu quá! 7 ngày thật quá dài đối với tâm trạng chung của anh em. 7 ngày nữa, anh em đoán, chắc sẽ được học rút cho xong chương trình mà về với gia đình. 3 tuần đã qua chẳng thấy học hành gì, chỉ thấy đi lao động, đào đất, giăng hàng rào kẽm gai, đắp đường, cuốc đất, v...v... Anh em đoán rằng, cách mạng sẽ cho về sớm trước 1 tuần, còn bài học thì phát đem về nhà mà đọc bởi ai cũng có trình độ học vấn cao. Ngày qua ngày. Đúng đêm 13 tháng 7 là đã đúng 1 tháng.

Nhiều anh tin tưởng “Cách mạng trước sau như một”. Chắc chắn đêm nay xe đến chở về. Đêm đó, hầu như cả 3 ngàn người trong trại cải tạo đều không ngủ, cố thức để lắng tai nghe tiếng xe, tiếng nổ máy của đoàn xe đến chở anh em về với vợ, với con, về nơi căn nhà êm ấm, có giường nệm, có nước tắm, có cơm ăn, có tự do, có giấc ngủ thoải mái. Gần như toàn thể anh em đã thức, thức đến 12 giờ, 1 giờ, 2 giờ khuya, có người thức đến sáng.

Buổi sáng thấy mặt mũi anh em bơ phờ. Người ta bảo nhau rằng, chắc cách mạng chưa thuê được xe, thế nào chiều nay xe cũng đến. Đa số anh em đều cố tin như vậy. Rồi đêm 14 tháng 7 anh em cũng thức trắng để chờ. Nhiều người quả quyết rằng cách mạng trước sau như một, hôm nay thế nào cũng sẽ được tha về. Rồi đêm 15 tháng 7, một đêm im lặng, không một tiếng xe. Buổi sáng thức dậy, thấy mặt mũi anh em càng bơ phờ hơn. Nhiều người vẫn còn tin tưởng rằng, chắc còn một lý do nào đó bất khả kháng nào đó.

Có tin mới loan ra rằng, tuần sau anh em mới được về. Nhiều anh em cho rằng chờ thêm 1 tuần nữa thì lâu quá. Có anh buồn như muốn khóc. Một số anh em khác ra xem thiên văn, thấy các vì sao dang chếch ánh sáng về hướng tây (hướng Sài Gòn). Thế nào cũng được về nội trong 3 hôm mà thôi. Anh em lại phấn khởi và tin tưởng vô cùng. Nhóm thiên văn này ngày nào cũng đưa ra 1 tin đầy hứa hẹn. Đẩy ngày về lùi xa dần, xa dần. Nhưng tuyệt vọng quá, anh em cố tin tưởng, chỉ nhóm thiên văn là những tay kỳ tài biết được vận chuyển kỳ diệu của trời đất vạn vật.

Đêm đêm tiếng tắc kè vọng lại lúc 9 giờ, khi tắt điện. Tiếng kêu khàn khàn vọng rất rõ trên đồi cao: “Tắc kè. Ực ực ực. Tắc kè, tắc kè...” Anh em diễn âm là “Sắp về, ứ ừ ừ, sắp về...” Tiếng tắc kè làm anh em tràn đầy hy vọng. Sau lâu quá không thấy được về, anh em diễn âm lại là “Đếch về, ừ ừ, đếch về, đếch về...” Rồi ngày tháng trôi qua, những tin đồn cứ mãi tung ra là thứ Bảy tới sẽ đuợc về.

Dù đã mất niềm tin, nhưng nhiều anh cũng cố tự đánh lừa mình, đưa ra nhiều lý do rất chính đáng, nhiều lập luận rất vững chắc, để kết luận rằng sẽ được về trong tuần tới. Một lần, có anh nói với đám bạn bè cùng tổ cải tạo rằng, anh đã chuẩn bị cho gia đình trong 6 tháng. Anh ước chừng 6 tháng thì may ra mới được về.

Bạn cùng tổ nổi giận, mắng chửi anh như tát nước. Họ gằn giọng rằng: “Anh không tin tưởng vào chính sách đứng đắn của cách mạng sao? Cách mạng trước sau như một. Quá lắm thì ở đây chừng tháng rưỡi là cùng.” Anh bạn sợ quá, phải gượng cười giả lả, mà xin lỗi bạn bè, rằng anh chỉ nói đùa chơi mà thôi, xin anh em đừng sợ.

Sau đó, một tin mới khác loan ra, làm nhiều anh em rầu thúi ruột. Tin cho biết rằng, có một gã cán bộ, trong lúc vui miệng, tiết lộ với một chị bên nhà giam nữ rằng, có lẽ 1 tháng nữa mới được về. Nhiều chị ôm mặt khóc vùi: “Trời ơi, thế là chẵn 2 tháng học tập cải tạo ư? Sao lâu quá vậy? Làm sao chịu nổi! Các con tôi ở nhà ai lo?”

Các anh bên trại nam nghe tin đó cũng đã thất vọng não nề. Để trấn an, có anh bảo rằng đừng nghe lời của đàn bà, họ hay nói ẩu. Làm gì mà học tập đến 2 tháng! Phải chăng chúng ta mất nước một phần lớn là vì làm chính trị mà quá ngây thơ, trong khi kẻ thù của chúng ta gian manh lật lọng, quỷ khốc thần sầu.

Dù tù tội, đói khát, cực nhọc nhưng một số lớn các anh lúc nào cũng tếu, trêu chọc nhau cho khuây khỏa tháng ngày, đặt vè ngâm nga:

“Khi đi vợ mới mang bầu
Về nhà con đã bạc đầu như cha.”

Hoặc:

“Bao giờ cọc sắt nở hoa
Bà Đen hết đá thì ta mới về.”

Tràm Cà Mau








Posted by Anges at 9:20 PM No comments:
Labels: Tràm Cà Mau
Older Posts Home
Subscribe to: Posts (Atom)

Blog Archive

  • ▼  2026 (2380)
    • ▼  September (192)
      • “Vũ khí kiểm soát không gian"Hôm qua ngày 15/9, Bộ...
      • NASA mới phóng thành công Kính viễn vọng Không gia...
      • Trung Quốc đang kiểm duyệt người Cộng hòa trên Tik...
      • Nguyên Nhân Chính Mất Miền Nam | 15.09.26
      • MỘT SUY NGẪM CÁ NHÂN VỀ SỰ RIÊNG TƯ, CHUYỆN PHIẾM ...
      • HẠNH PHÚC TÌNH CỜNgày cô về Việt Nam sau ba mươi n...
      • Hở ra là chôm chỉa liềnSáu công ty AI đỉnh cao của...
      • HTV Network, một công ty ở Hà Nội, chuyên bơm tin ...
      • Đường dây lừa đảo tiền trợ cấp quỹ phúc lợi trẻ em...
      • Ngôi sao trẻ đảng Dân chủ Nam California tài tình ...
      • Chân dung của một trí thức hôm nayNicole Virzi...
      • Kinh xáng và kinh đào - Ngõ hồn đất phương Nam​Ở N...
      • Người hùngVào lúc 0 giờ 30 phút rạng sáng ngày 11 ...
      • Đi lối nàyBài viết của Jancee DunnTính đến thời đi...
      • GẶP GỠ BUỔI CHIỀU Ở BÙNG BINH NGÃ SÁUChiều âm u, g...
      • Nhân Bất Học Bất Tri Lý | 13.09.26
      • BẠN BIẾT TRỘM VÍA TỪ HỒI NÀO?Mấy năm gần đây, Toàn...
      • Đi chơiChị tên là Lài, 70 tuổi.Cả cái Bệnh viện Bệ...
      • ĐỂ NHỚ ĐẾN EM NGÔ ĐÌNH THẨM.MỘT BÀI VIẾT NHẬN THỨC...
      • MÃI NỢ MỘT LỜI TẠM BIỆTVới … Mãi Nợ Một Lời Tạm Bi...
      • ÔNG TRUMP SA LẦY VÀO TRẬN CHIẾN DÀI HƠI VỚI IRAN, ...
      • Sáng nay, New York mưa.Không phải cơn mưa ào xuống...
      • Thời khắc quyết định đã đếnElon Musk vừa đưa ra mộ...
      • Hoàng Ky`Dù bạn không thích thậm chí gh.é.t lá cờ ...
      • TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ VỚI UNG THƯCác nhà khoa học vừ...
      • Căn Nhà Đầu Tiên – Những Cái “Đầu Tiên” Ở Xứ Người...
      • “Dĩ mô”Viết đúng là vĩ mô. Vì có một fan hỏi tui v...
      • Tiến trình tách khỏi Vương quốc Anh
      • "WeWorm"Calif, một công ty an ninh mạng có trụ sở ...
      • Luật sư bào chữa cho hoạt động tôn giáo cũng bị vạ...
      • Sau khi AI nổi loạn ở Hugging Face thì con sâu WeW...
      • Một cựu sĩ quan tình báo cao cấp của nhà độc tài S...
      • Nàng đã sa lưới FBIFBI vừa chính thức thông báo đã...
      • John Brennan đã khuyên Giám đốc CIA Tenet không nê...
      • "Public Charge"Đảng Dân chủ đang vội vã kiện ông T...
      • PhiếmCó một người bạn trên Facebook hỏi tôi:“Anh s...
      • PHIM “BROKEN COUNTRY” CẢNH CÁO NHỮNG VẤN ĐỀ TẠI CA...
      • Ngày giỗ của BaBa rời xa tôi vào năm 1994. Đến hôm...
      • NGƯỜI ĐÀN BÀ TỒI TỆ(Mavridika de Monbazon)*Lina là...
      • Tin Việt NamSpaceX Starlink mới chính thức trao tặ...
      • Công trình khổng lồ trị giá trên $2.5 tỷ đô ở Siha...
      • Tin CanadaPhòng bào chế fentanyl lớn nhất Canada t...
      • Những nỗ lực nhân đạo của SpaceX/Starlink nhằm giú...
      • Từ gái quê Hoa Lục đến nữ trụ trì có biệt thự 40 t...
      • Lại thêm một vụ gián điệp Trung Quốc tại DetroitNg...
      • ĐI BỘ ...
      • BẢN TÌNH CA HẠNH PHÚC*Ban đầu là những lời "phải l...
      • THUẬN CẢNH CHƯA CHẮC LÀ PHƯỚC, NGHỊCH CẢNH CHƯA CH...
      • Quả báoQuả báo đôi khi đến muộn nên nhiều người lầ...
      • MỘT NĂM RỒI VẮNG ANH, CHARLIE KIRK"Hãy biết ơn vì ...
      • CẦU ÔNG ĐẠO - ĐÀ LẠT Ai tới Đà Lạt đều đã từng đi ...
      • Chữ của Nguyễn Ngọc Tư: Bắc Kỳ lai!Trong bối cảnh ...
      • Ứng dụng kết bạn TQ dùng AI sản xuất hàng loạt “ng...
      • HẾT DẦU ĐÈN TẮTỞ xã Tân An hồi cuối những năm 80, ...
      • TÊN BA TUITên cúng cơm của ba tui là "Lê Văn Chươn...
      • LAI RAI BA MÓN BÌNH DÂN Ở SÀI GÒN…Ăn để mà sống, n...
      • "Sưu cao thuế nặng"Một ngày đẹp trời mở hóa đơn, n...
      • Thấy báo chí thi nhau đăng TT Trump ngủ gụcDu...
      • VỀ VIỆT NAM HƯỞNG GIÀ, NGHE THÌ SƯỚNG, NHƯNG CÓ MỘ...
      • Tòa Tháp ĐôiCó những tác phẩm kinh điển chỉ thực s...
      • BÀI KHÔNG TÊN CUỐI CÙNG CỦA NGÀY 911Vào một buổi s...
      • Tôi làm ở tỉnh, sáng sớm, thằng bạn hàng xóm gọi đ...
      • Đài tưởng niệm 9/11Trong số gần 3 nghìn cái tên nạ...
      • Một Lần Ghé Đảo, Một Ngã Rẽ Cuộc ĐờiMột hôm, đang ...
      • Sự Thật chung quanh Hillary ClintonAuthor: Hoàng H...
      • Đi Mỹ: Vạn Dặm Tìm ChồngMười năm trước đây, mẹ chồ...
      • NGÀY CUỐI..!!!Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến g...
      • MÂM CƠM NGÀY CŨHộ khẩu ghi tám người, nhưng nội th...
      • CHIẾC NHẪN VÀ NGÔI MỘ Ở PHƯỚC ĐỒNGCó những ca bệnh...
      • Ủng hộ truyền thống, chỉ trích chủ nghĩa xã hội: 1...
      • Những ngày cuối cùng của Marlon BrandoMarlon Brand...
      • LÃNH ĐẠO MICROSOFT, STARBUCKS, COSTCO VÀ HÀNG LOẠT...
      • 5000Tui xem trực tiếp bài diễn văn của dượng. Định...
      • Tám Người, Một Căn Nhà Nhỏ Và Những Ngày Đầu Đời T...
      • Võ Lâm Ngũ Bá — Hoa Kỳ Sơn Luận KiếmHồi thứ 3Tây H...
      • Betty Ong – Người nữ tiếp viên bình tĩnh giữa buổi...
      • VỤ HỒ SƠ H-1B BỊ SIẾT CHẶT: BỘ LAO ĐỘNG HOA KỲ ĐÓN...
      • VUA TIỆM NAIL, HẢI SA PA… VÀ CÂU HỎI “TIỀN ĐÂU RA?...
      • Chả được miếng thịt, miếng xôi thì cũng được lời n...
      • Nàng có người yêu rồi các bác ạ. Đừng ai hỏi nàng ...
      • Vụ scandal của nhà sư Thái Lan pháp danh Luang Por...
      • 权色交易 - Quyền Sắc Giao DịchQuyền Sắc Giao Dịch, một...
      • Chiến dịch "Kẻ bị gạt ra ngoài lề kinh tế" (Operat...
      • CÁI GIÁ CỦA HAI CHỮ “VIỆT KIỀU”Nhiều người vừa đặt...
      • Võ Lâm Ngũ Bá — Hoa Kỳ Sơn Luận KiếmHồi thứ haiGhế...
      • Đi Bắt Gian Mà Bị Gian Bắt LạiCó những cái máy sin...
      • TƯỞNG NIỆM NGÀY 11 THÁNG 9 CỦA NƯỚC MỸNgày này 25 ...
      • “Đi chơi với anh đi. Đến năm 30 tuổi anh sẽ làm CE...
      • TẠM BIỆT ĐẢO KHARG: Ông Trump Cuối Cùng Đã Tấn Côn...
      • Drone RAVN X của công ty Aevum AerospacePhi trường...
      • Lực lượng đặc nhiệm phối hợp giữa FBI và IRS dưới ...
      • Gương mặt nhiều triển vọng của đảng Cộng hoà Brand...
      • Gian lận ở CaliĐây là Alexander Soofer, kẻ đã thàn...
      • Toà phúc thẩm đã huỷ bỏ bản án của toà q...
      • MỘT CUỘC ĐỜI ( Hồi ký ) Ngày xưa còn bé, gia đình ...
      • Obama, lợi bất cập hại…Theo dõi chính trị Mỹ là mộ...
      • Một bản yêu cầu hơn 100 ngàn chữ ký và những lời p...
      • SỨC MẠNH LUẬT NHÂN QUẢQuang TửCũng nhờ hai lần gặp...
      • CHUYỆN ANH RÔ BE VỀ LÀNGAnh Rô Be mà tui hay gọi l...
      • LỚN THUYỀN THÌ LỚN SÓNG(May mắn, tui đứng ngoài rà...
      • THỦA BAN ĐẦUSau khi vợ tôi có cái visa cầm trong t...
      • Ngày còn trẻ, hắn có một tiêu chuẩn rất rõ ràng về...
      • Chè Nước SôiCó những thứ mình tưởng đã gạt lại đượ...
      • CHUYỆN BUỒN XỨ ÚCÔng chủ tiệm tạp hoá Hồng Hưng kh...
      • Tiểu bang 51 (hết)Thấy bà con quan tâm đề tài này ...
      • GIẢI THÍCH THÊM VỀ QUÂN ĐỘI MỸ7/8/2026—-Những ngày...
      • HỦY CƯỚI(Valeria V.)*​Dọn dẹp tủ đồ, tôi tìm thấy ...
      • Nói tiếp chuyện chữ nghĩaBây giờ chỉ cần thấy lỗi ...
      • HAROLD HOLT – VỊ THỦ TƯỚNG BƯỚC XUỐNG BIỂN RỒI BIẾ...
      • CÀ PHÊ DINH ĐIỀN PLEIKU – KHÓI THUỐC BAY VỀ TỪ MỘT...
      • Một chiến lược trộm công nghệ cao của Trung Quốc: ...
      • CÔNG TỬ BỐThập niên sáu mươi, Sài Gòn tràn ngập nh...
      • HÒN CỔ TRONÔng Từ Thông ra hòn Cổ Tron cất chòi mà...
      • Hai công dân gốc Nigeria Lukman Owolabi Ganiyu và ...
      • Một Lời Xin Lỗi Thu năm 1990, nhóm tôi gồm sáu ngư...
      • Hồn Ma Xứ PhápChiều thứ bảy 26/3/2011Rời khỏi p...
      • ĐAN MẠCH VÀ 4 QUỐC GIA ÂU CHÂU THỐNG NHẤT LẬP “TRU...
      • YÊU XANgười ta nói mạng là ảo nhưng cái thời mà tô...
      • TẠP GHI : EM ƠI, SÀI GÒN XÓMNhư NguyễnĐừng quên ph...
      • Bài Ca Không TênCó những chuyện trong đời, người t...
      • Người tị nạn Việt Nam tai IsraelVào tháng 6 năm 19...
      • Viết Lách Vớ Vẩn... Rồi Thành Nhà VănTheo thủ tục ...
      • Từ Câu Nói Của Tổng Thống Mỹ Về Trường Học, Nghĩ V...
      • CÔNG DÂN TOÀN CẦUGlobal Citizen6/9/2026—-Cách đây ...
      • Chuyện Mỹ | 06.09.26
      • NHỮNG QUÁN CÀ PHÊ MỘT THUỞ SÀI GÒN..Sài Gòn những ...
      • Sài Gòn mưa bayCả đám tụ lại, đứa ăn kem, đứa uống...
      • TẠI SAO HÀN QUỐC PHÁT TRIỂN RỰC RỠ?Năm 2004, Việt ...
    • ►  August (351)
    • ►  July (326)
    • ►  June (313)
    • ►  May (305)
    • ►  April (348)
    • ►  March (245)
    • ►  February (169)
    • ►  January (131)
  • ►  2025 (1613)
    • ►  December (114)
    • ►  November (116)
    • ►  October (167)
    • ►  September (140)
    • ►  August (147)
    • ►  July (103)
    • ►  June (132)
    • ►  May (111)
    • ►  April (173)
    • ►  March (189)
    • ►  February (135)
    • ►  January (86)
  • ►  2024 (1387)
    • ►  December (79)
    • ►  November (129)
    • ►  October (145)
    • ►  September (110)
    • ►  August (121)
    • ►  July (99)
    • ►  June (116)
    • ►  May (94)
    • ►  April (120)
    • ►  March (131)
    • ►  February (114)
    • ►  January (129)
  • ►  2023 (1491)
    • ►  December (139)
    • ►  November (122)
    • ►  October (92)
    • ►  September (131)
    • ►  August (109)
    • ►  July (107)
    • ►  June (110)
    • ►  May (136)
    • ►  April (159)
    • ►  March (172)
    • ►  February (98)
    • ►  January (116)
  • ►  2022 (1345)
    • ►  December (103)
    • ►  November (143)
    • ►  October (156)
    • ►  September (173)
    • ►  August (149)
    • ►  July (130)
    • ►  June (79)
    • ►  May (90)
    • ►  April (72)
    • ►  March (64)
    • ►  February (90)
    • ►  January (96)
  • ►  2021 (1455)
    • ►  December (102)
    • ►  November (97)
    • ►  October (109)
    • ►  September (128)
    • ►  August (115)
    • ►  July (126)
    • ►  June (78)
    • ►  May (120)
    • ►  April (147)
    • ►  March (115)
    • ►  February (125)
    • ►  January (193)
  • ►  2020 (2703)
    • ►  December (246)
    • ►  November (225)
    • ►  October (214)
    • ►  September (207)
    • ►  August (242)
    • ►  July (222)
    • ►  June (265)
    • ►  May (233)
    • ►  April (254)
    • ►  March (230)
    • ►  February (166)
    • ►  January (199)
  • ►  2019 (2026)
    • ►  December (174)
    • ►  November (180)
    • ►  October (195)
    • ►  September (221)
    • ►  August (161)
    • ►  July (134)
    • ►  June (172)
    • ►  May (128)
    • ►  April (149)
    • ►  March (143)
    • ►  February (177)
    • ►  January (192)
  • ►  2018 (1940)
    • ►  December (174)
    • ►  November (214)
    • ►  October (187)
    • ►  September (158)
    • ►  August (169)
    • ►  July (178)
    • ►  June (199)
    • ►  May (162)
    • ►  April (124)
    • ►  March (147)
    • ►  February (85)
    • ►  January (143)
  • ►  2017 (1677)
    • ►  December (150)
    • ►  November (191)
    • ►  October (177)
    • ►  September (155)
    • ►  August (187)
    • ►  July (129)
    • ►  June (96)
    • ►  May (130)
    • ►  April (156)
    • ►  March (140)
    • ►  February (78)
    • ►  January (88)
  • ►  2016 (1423)
    • ►  December (100)
    • ►  November (118)
    • ►  October (131)
    • ►  September (123)
    • ►  August (151)
    • ►  July (128)
    • ►  June (105)
    • ►  May (100)
    • ►  April (167)
    • ►  March (107)
    • ►  February (106)
    • ►  January (87)
  • ►  2015 (1258)
    • ►  December (111)
    • ►  November (113)
    • ►  October (88)
    • ►  September (89)
    • ►  August (85)
    • ►  July (121)
    • ►  June (99)
    • ►  May (122)
    • ►  April (113)
    • ►  March (133)
    • ►  February (147)
    • ►  January (37)
  • ►  2014 (28)
    • ►  December (16)
    • ►  November (11)
    • ►  October (1)
  • ►  2012 (4)
    • ►  May (2)
    • ►  April (2)
  • ►  2011 (12)
    • ►  April (12)
  • ►  2010 (141)
    • ►  August (4)
    • ►  July (4)
    • ►  June (18)
    • ►  May (28)
    • ►  April (24)
    • ►  March (17)
    • ►  February (10)
    • ►  January (36)
  • ►  2009 (183)
    • ►  December (6)
    • ►  November (6)
    • ►  October (5)
    • ►  September (1)
    • ►  August (5)
    • ►  July (29)
    • ►  June (24)
    • ►  May (20)
    • ►  April (21)
    • ►  March (17)
    • ►  February (21)
    • ►  January (28)
  • ►  2008 (358)
    • ►  December (31)
    • ►  November (54)
    • ►  October (56)
    • ►  September (54)
    • ►  August (31)
    • ►  July (27)
    • ►  June (39)
    • ►  May (30)
    • ►  April (30)
    • ►  March (6)

About Me

Anges
View my complete profile
title

Followers

Labels

  • Phiem (3641)
  • News (3130)
  • Chính Trị (2303)
  • Vũ Linh (973)
  • Loi Hay Y Dep (888)
  • Y Hoc/Suc Khoe (763)
  • Video (693)
  • Van Hoa (517)
  • Quoc han 30/04 (472)
  • Am thuc (353)
  • Du Lich (279)
  • nhac (279)
  • Kinh Te (247)
  • Van chuong (232)
  • KHOA HỌC (224)
  • Ton Giao (210)
  • Danh Nha^n (199)
  • người lính Việt Nam Cộng Hoà (164)
  • Diem sach (147)
  • thiên nhiên (144)
  • HUONG XA (139)
  • Dien Anh (138)
  • Nguyễn Thị Thanh Dương (135)
  • Tôn Nữ Hoàng Hoa (125)
  • Tho (122)
  • Kim Loan (109)
  • Ðoàn Xuân Thu (109)
  • Vĩnh Tường (108)
  • ngôn ngữ (107)
  • ĐỖ DUY NGỌC (106)
  • BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU (91)
  • Vuot Bien (84)
  • Nguyễn thị Cỏ May (78)
  • Phan (75)
  • Nguyễn Tường Tuấn (74)
  • phạm tín an ninh (74)
  • US election 2016 (71)
  • Tuấn Khanh (65)
  • Tiểu Tử (58)
  • Household tips (57)
  • Từ Thức (56)
  • Tưởng Năng Tiến (53)
  • Viet Gian (53)
  • Kiêm Ái (50)
  • Nguyễn Văn Tới (49)
  • nguoiviettudo (48)
  • LÃO MÓC (46)
  • Tràm Cà Mau (43)
  • Tucker Carlson (42)
  • REDACTED (40)
  • Trần Hùng (40)
  • Đỗ Văn Phúc (39)
  • NGUYỄN VĨNH LONG HỒ (38)
  • Ngôn ngữ (38)
  • Nguyễn Thị Thêm (38)
  • BS Đỗ Hồng Ngọc (37)
  • Nguyễn Thanh Tú (37)
  • Văn Quang (37)
  • Người Phương Nam (35)
  • chinh tri (35)
  • Bùi Bảo Trúc (34)
  • Ký Thiệt (34)
  • Phương Hoa (33)
  • người lính già oregon (33)
  • Phạm Thành Châu (32)
  • Nguyễn Nhơn (31)
  • Vĩnh Chánh (31)
  • hoi hoa (31)
  • BS Hồ Ngọc Minh (30)
  • Huỳnh Quốc Bình (30)
  • Mậu Thân 68 (28)
  • Nguyễn Diệu Anh Trinh (28)
  • Nguyễn Ngọc Tư (27)
  • Trương Ngọc Bảo Xuân (27)
  • Trần C. Trí (27)
  • Trần Mộng Lâm (27)
  • Liên Thành (26)
  • Minh Thúy (25)
  • Phan Văn Song (25)
  • Vi Anh (25)
  • Đoàn Thị (25)
  • Phùng Annie Kim (24)
  • Khôi An (23)
  • Lại Thị Mơ (23)
  • Minh Nguyệt Graves (21)
  • Nguyễn Tài Ngọc (21)
  • Song Lam (21)
  • ThaiNC (21)
  • Trần Ngọc Ánh (21)
  • Dong Trinh (20)
  • Huy Phương (20)
  • Trần Thanh (20)
  • Chan Nhu channel (19)
  • Chú Chín Cali (19)
  • Năng Khiếu (19)
  • Trúc Giang MN (19)
  • Vũ Thế Thành (19)
  • Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích (18)
  • Phạm Sơn Liêm (18)
  • ĐOÀN DỰ (18)
  • 250th birthday (17)
  • Kim Thanh (17)
  • Nguyên Nhung (17)
  • Nguyễn Trần Diệu Hương (17)
  • Ngô Minh Hằng (17)
  • TRƯƠNG MINH HÒA (17)
  • Thanh Mai (17)
  • Tố Nguyễn (17)
  • ĐINH LÂM THANH (17)
  • Lê Nguyễn Hằng (16)
  • TINH HOA (16)
  • Trà Lũ (16)
  • Trường Sơn Lê Xuân Nhị (16)
  • Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh (15)
  • Hoàng Nguyên (15)
  • Huyền Thoại Thịnh Hương (15)
  • Nguyễn Viết Tân (15)
  • Sao Nam Trần Ngọc Bình (15)
  • Tran Maico (15)
  • Võ Phú (15)
  • Đào Văn Bình (15)
  • Hàn Giang Trần Lệ Tuyền (14)
  • Lê Duy San (14)
  • Nguyễn Trung Tây (14)
  • Pt. Nguyễn Mạnh San (14)
  • Thảo Lan (14)
  • Captovan (13)
  • Hoàng Nga (13)
  • Mường Giang (13)
  • Nguyễn Ngọc Chính (13)
  • Nguyễn Đại Thuật (13)
  • Phạm Hồng Ân (13)
  • Hữu Nguyên (12)
  • NGUYỄN THIẾU NHẪN (12)
  • Pha Lê (12)
  • Phan. (12)
  • Thạch Đạt Lang (12)
  • Trần Văn Tích (12)
  • Vương Mộng Long (12)
  • Ba Ngo Dinh Nhu (11)
  • GS Trần Thủy Tiên (11)
  • Lê Xuân Mỹ (11)
  • Mai Thanh Truyết (11)
  • Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn (11)
  • Nguyễn Bích Thủy (11)
  • Phương Lan (11)
  • Phước An Thy (11)
  • Song Chi (11)
  • Stephen Gardner (11)
  • hoang hai thuy (11)
  • Đại-Dương (11)
  • Bùi Anh Trinh (10)
  • DUY NHÂN (10)
  • Hoàng Lan Chi (10)
  • Lão Ngoan Đồng (10)
  • Lê Đức Luận (10)
  • Nguyễn Mạnh Trinh (10)
  • Nguyễn Văn Sâm (10)
  • Ngọc Hạnh (10)
  • Như Ý Crystal H. Vo (10)
  • Trần Du Sinh (10)
  • Uyên Sồ (10)
  • Anne Khánh Vân (9)
  • Bảo Trân (9)
  • Chính Vũ (9)
  • France election (9)
  • Hoàng Đình Minh Long (9)
  • Lê Như Đức (9)
  • Lệ Hoa Wilson (9)
  • Nguyễn Khắp Nơi (9)
  • Nguyệt Mị (9)
  • Orchid Thanh Le (9)
  • Philato (9)
  • Trương Ngọc Anh (9)
  • Trần Trung Đạo (9)
  • Trần Văn Giang (9)
  • Biển Cát (8)
  • Bình Nguyên Lộc (8)
  • Khuất Đẩu (8)
  • Nguyễn Vĩnh Long (8)
  • Phan Xuân Sinh (8)
  • Phạm Hoàng Chương (8)
  • Phạm Thị Kim Dung (8)
  • Triều Phong (TPN) (8)
  • Trần Thiện Phi Hùng (8)
  • Trần Trung Chính (8)
  • Vô Danh (8)
  • Võ Hương An (8)
  • Y Châu (8)
  • videos (8)
  • Ông Bút (8)
  • Đỗ Dung (8)
  • Cao Đắc Vinh (7)
  • Chu Thập (7)
  • Hoàng Thanh (7)
  • Hồ Nguyễn (7)
  • Lê Ngọc Châu (7)
  • Mai Hồng Thu (7)
  • Mimosa Phương Vinh (7)
  • Phạm Gia Đại (7)
  • The Road of Hope - Archbishop Nguyen Van Thuan (7)
  • Trương Tấn Thành (7)
  • Đỗ Hồng Ngọc. (7)
  • Bs Nguyễn Thượng Chánh (6)
  • Bùi Bích Hà (6)
  • Bồ Tùng Ma (6)
  • Kha Lăng Đa (6)
  • Kim Chi (6)
  • Lei's real talk (6)
  • Lê Dinh (6)
  • Nguyễn Duy An (6)
  • Nguyễn Thị Thu Hương (6)
  • Ngô Đình Châu (6)
  • Ngô Đình Diệm (6)
  • PHƯƠNG - LAN (6)
  • PHẠM PHONG DINH (6)
  • Recipe (6)
  • SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG (6)
  • Trịnh Thanh Thủy (6)
  • hoàng long hải (6)
  • lLỗ trí Thâm (6)
  • Bút Sử (5)
  • Candice Owens (5)
  • Chu Kim Long (5)
  • Chúc Thanh (5)
  • Cánh Chuồn Chuồn (5)
  • Cỏ Biển (5)
  • NGÔ THẾ VINH (5)
  • Nguyễn Ngọc Loan (5)
  • Nguyễn Thị Hữu Duyên (5)
  • Nguyễn Văn Lục (5)
  • Trần Nhật Phong (5)
  • Trần Văn Bá (5)
  • ĐIỆP MỸ LINH (5)
  • Alexander Solzhenitsyn (4)
  • BỨC TƯỢNG "TIẾC THƯƠNG" (4)
  • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất (4)
  • Long Tan (4)
  • Lê Phi Ô (4)
  • Michael Benge (4)
  • Nguyễn Cát Thịnh (4)
  • Nguyễn Kim Dục (4)
  • Nguyễn Kỳ Yên (4)
  • Nguyễn Tiến Hưng (4)
  • Nguyễn thị Bé Bảy (4)
  • Ngô Viết Trọng (4)
  • Phan Lạc Tiếp (4)
  • Phan Nhật Nam (4)
  • Phạm Quang Trình (4)
  • Project Veritas (4)
  • Song Nhi (4)
  • T. Thiên Thu (4)
  • Thiên Lý (4)
  • Thái Anh / QNA (4)
  • Thủy Như (4)
  • Tâm Thanh (4)
  • Tôn Nữ Thu Dung (4)
  • Tử vi (4)
  • Vũ Đoàn (4)
  • Xã Hội Học (4)
  • khoa hoc (4)
  • ĐÀO HIẾU (4)
  • BS Hoàng Thị Mỹ Lâm (3)
  • Bùi Hồng Thúy Anh (3)
  • Cao Xuân Thanh Ngọc (3)
  • China Unfltered (3)
  • Châu Hà (3)
  • Dư Thị Diễm Buồn (3)
  • Dương Nguyệt Ánh (3)
  • Dương Thiện Tâm (3)
  • Dương Thu Hương (3)
  • Epoch times (3)
  • Hai Quẹo (3)
  • Hoàng Chi Uyên (3)
  • Hải Triều (3)
  • HỒ ĐINH (3)
  • Hồ Thanh Nhã (3)
  • HỮU LOAN (3)
  • Iris Đinh (3)
  • JIMMY DORE (3)
  • Lâm Văn Bé (3)
  • Mai Ly (3)
  • Ngọc Ánh (3)
  • Nguyễn Cao Thăng (3)
  • Nguyễn Quang Lập. (3)
  • Nguyễn Thượng Chánh (3)
  • Nguyễn Trần Phương Dung (3)
  • Nguyễn Tường Thiết (3)
  • Nguyễn Ðạt Thịnh (3)
  • Ngô Văn Thu (3)
  • Phan Lạc Phúc (3)
  • Phi Nguyễn (3)
  • Phùng ngọc Sa (3)
  • Phùng văn Phụng (3)
  • Phương Toàn (3)
  • Phạm Lưu Vũ (3)
  • Phạm Đình Lân. (3)
  • Sơn Tùng (3)
  • Topa (3)
  • Trần Thế Đức (3)
  • Trọng Đạt (3)
  • Tình Hoài Hương (3)
  • Từ Sơn (3)
  • Vann Phan (3)
  • Võ Phu (3)
  • Võ Đại Tôn (3)
  • WYD2008 (3)
  • Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC (3)
  • Đinh Văn Tiến Hùng (3)
  • Đào Như (3)
  • Đào Nương (3)
  • Anthony Hưng Cao (2)
  • Be Ti (2)
  • Bùi Thanh Hiếu (2)
  • Bùi Đức Tính (2)
  • Bảo Giang (2)
  • Bửu Thức (2)
  • CHRIS PHAN (2)
  • Cao Đồng Phước (2)
  • China uncensored (2)
  • Christina N. Cao (2)
  • Chu Lynh (2)
  • Cánh cò (2)
  • Cẩm Thành Dân (2)
  • Dan Heaven (2)
  • Deborah Tường – Vân (2)
  • Diệu Anh (2)
  • GS Lê - Đại - Tường (2)
  • Gió Đồng Nộii (2)
  • HUY VĂN (2)
  • Hoàng Dược Thảo (2)
  • Hoàng Ngọc An (2)
  • Huyền Lam (2)
  • Huỳnh Mai Hoa (2)
  • Huỳnh Kim Quang (2)
  • Hương Lệ Oanh (2)
  • Hương Trần (2)
  • HỒ TRƯỜNG AN (2)
  • KIM ÂU (2)
  • Kho Quẹt (2)
  • Kông Li (2)
  • LHXung (2)
  • Little Saigon (2)
  • Lâm Lễ Trinh (2)
  • Lê Hiền (2)
  • Lê Nguyên Hằng (2)
  • Lê Quang Sinh (2)
  • Lữ Giangl (2)
  • Mai Thảo (2)
  • Mai Vĩnh Thăng (2)
  • Man in america (2)
  • Minh Karlsson (2)
  • Minh Tâm (2)
  • Mặc Bích (2)
  • NGUYỄN VĂN CHỨC (2)
  • Nguyễn Ngọc Hoa (2)
  • Nguyễn Ngọc Tu (2)
  • Nguyễn Cao Quyền (2)
  • Nguyễn Duy Nhiên (2)
  • Nguyễn Hữu Thời (2)
  • Nguyễn Khánh Vũ (2)
  • Nguyễn Ngọc Ngạn (2)
  • Nguyễn Sơ Đông (2)
  • Nguyễn Thế Thăng (2)
  • Nguyễn Thị Mão (2)
  • Nguyễn Thị Phi Phượng (2)
  • Nguyễn Thụy Long (2)
  • Nguyễn Trọng Dân (2)
  • Nguyễn Văn Thiệu (2)
  • Nguyễn Văn Ðông (2)
  • Ngô Kỷ (2)
  • Ngô Nhân Dụng (2)
  • Người Thương Binh VNCH (2)
  • Nhã Ca (2)
  • Nhất Chi Mai (2)
  • Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh (2)
  • OMG (2)
  • Phan Công Tôn (2)
  • Phương Lâm (2)
  • Phạm Đình Hưng (2)
  • QÚY THỂ (2)
  • Siêu Phong (2)
  • Song Châu (2)
  • Song Vũ (2)
  • Sáu Steve Brown (2)
  • TOPHER (2)
  • TRƯƠNG PHÚ THỨt (2)
  • TYKH (2)
  • Thang Chu (2)
  • Thuỷ-Triều (2)
  • Thành Lacey (2)
  • Thúy Messegee (2)
  • Thần Long (2)
  • Thụy Mân (2)
  • Thụy Nhã (2)
  • TiênSha- LêLuyến (2)
  • Trang Y Hạ (2)
  • Trương Sĩ Lương (2)
  • Trương Văn Út (2)
  • Trần Chí Phúc (2)
  • Trần Doãn Nho (2)
  • Trần Ngọc Huế (2)
  • Trần Ngọc Nguyên Vũ (2)
  • Trần Văn Hương (2)
  • Trần Xuân Thời (2)
  • Tê Hát I Cờ Rét (2)
  • Vi Vân (2)
  • Vietnamese Museum (2)
  • Việt Nhân (2)
  • Vuong Vu (2)
  • Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC (2)
  • Yukon (2)
  • letamanh (2)
  • Ái Khanh (2)
  • Đinh Công Bình (2)
  • Đào Anh Dũng (2)
  • Đặng Chí Hùng (2)
  • Đặng Hà Nội (2)
  • Đặng thiên Sơn (2)
  • Đỗ Xuân Tê (2)
  • Đức Tâm (2)
  • . (1)
  • ARTE TV (1)
  • America Uncovered (1)
  • Angie Lộc (1)
  • Anton Chekhov (1)
  • BS Hồ Hải (1)
  • Biển Đông (1)
  • Buu Nguyen (1)
  • BÙI LÝ HỒNG (1)
  • Bá Dương (1)
  • Bùi Giáng (1)
  • Bùi Thượng Phong (1)
  • Bùi Trọng Nghĩa (1)
  • Bảo Ngọc (1)
  • Bảo quốc Kiếm (1)
  • Bửu Uyển (1)
  • Cao Vị Khanh (1)
  • Carl Graves (1)
  • Chau Tran (1)
  • Chiêu Ấn (1)
  • Chu Việt (1)
  • Chung Mốc (1)
  • Cung Trầm Tưởng (1)
  • Cổ Tấn Tinh Châu (1)
  • DVM (1)
  • Deliver us from evil - by Thomas A Dooley (1)
  • Dinh Trần (1)
  • Diễm Vy (1)
  • Doãn Quốc Sỹ (1)
  • Dr Tien Manh Nguyen (1)
  • Dr. Nikonian (1)
  • Du Li (1)
  • Duy Trác (1)
  • Duyenky (1)
  • Duyên Anh (1)
  • Dân Việt (1)
  • Dương Hiếu Nghĩa (1)
  • Dạ Lý (1)
  • Elon Musk (1)
  • FinalWar (1)
  • Giang Phúc Đông Sơn (1)
  • Gman (1)
  • Greg Rushford (1)
  • HTD channel (1)
  • HUYNH NGOC NGA (1)
  • Helen Nguyễn (1)
  • Herb Meyer (1)
  • Hoa Hoàng Lan (1)
  • Hoàng Nguyên Linh (1)
  • Huy Lâm (1)
  • Huy Lực Bùi Tiên Khôi (1)
  • Huỳnh Anh Trần-Schroeder (1)
  • Huỳnh Bửu Sơn (1)
  • Huỳnh Kim Anh- (1)
  • Huỳnh Quốc Phú (1)
  • Huỳnh Thị Liên-Hoa (1)
  • Huỳnh Văn Của (1)
  • Hà Bắc (1)
  • Hà Mai Kim (1)
  • HƯƠNG THỦY (1)
  • Hải Vân (1)
  • Hồ Ngọc Cẩn (1)
  • Hồ Thị Đậm (1)
  • Hồ Đình Vũ. (1)
  • Hồ Đắc Túc (1)
  • Hứa vạng Thọ (1)
  • J.B Nguyễn Hữu Vinh (1)
  • Jenny Đỗ (1)
  • Joyce Anne Nguyen (1)
  • Khánh Doãn (1)
  • Khổng Thị Thanh Hương (1)
  • Kiều Mỹ Duyên (1)
  • Ls Đinh Thạch Bích (1)
  • Luu Vu (1)
  • Luật pháp (1)
  • LÊ QUỐC (1)
  • LÝ THỤY Ý (1)
  • Lâm Bình Duy Nhiên (1)
  • Lâm Chương (1)
  • Lâm Kim Loan (1)
  • Lâm Túy Mĩ (1)
  • Lê Bá Dũng (1)
  • Lê Hoàng (1)
  • Lê Hải Dương (1)
  • Lê Minh Khôi (1)
  • Lê Ngọc Hồ (1)
  • Lê Ngọc Anh (1)
  • Lê Phi Điểu (1)
  • Lê Phú Hải (1)
  • Lê Phạm Lê (1)
  • Lê Quốc Trinh (1)
  • Lê Sỹ Minh Tùng (1)
  • Lê Văn Lân (1)
  • Lê Văn Ân (1)
  • Lê phục Bình (1)
  • Lê thị Trinh (1)
  • Lưu Á Châu (1)
  • Lữ Anh Thư (1)
  • Lữ Giang (1)
  • Lữ Tuấn (1)
  • Mai Văn Tấn (1)
  • Minh Nguyễn (1)
  • Minh Tạo (1)
  • Mũ Xanh Hoa Biển (1)
  • Mạnh Nguyễn (1)
  • Mỹ Châu Phạm (1)
  • Mỹ Đức Phạm Nguyễn (1)
  • NGUYÊN SANG (1)
  • NGUYỄN ĐỨC NAM (1)
  • Nam Dao (1)
  • Nghiêm Hữu Hùng (1)
  • Nguyen Chi Thien (1)
  • Nguyên Chân (1)
  • Nguyên Giang (1)
  • Nguyên Lương (1)
  • Nguyên Phương (1)
  • Nguyên Đại (1)
  • Nguyễn Thị Thảo An (1)
  • Nguyễn Thị Từ Huy (1)
  • Nguyễn Anh Nguyên (1)
  • Nguyễn Duy Chinh (1)
  • Nguyễn Duy Cung (1)
  • Nguyễn Hoàng Phố (1)
  • Nguyễn Hữu (1)
  • Nguyễn Hữu Hiệu (1)
  • Nguyễn Khắc Anh Tâm (1)
  • Nguyễn Minh Phúc (1)
  • Nguyễn Mỹ Linh (1)
  • Nguyễn Ngọc Huy (1)
  • Nguyễn Phục Hưng (1)
  • Nguyễn Quốc Đống (1)
  • Nguyễn Qúy Đại (1)
  • Nguyễn Sỹ Thùy Ngân (1)
  • Nguyễn Thu Hương (1)
  • Nguyễn Thạch-Hãn (1)
  • Nguyễn Thị Hương Minh (1)
  • Nguyễn Thị Yến (1)
  • Nguyễn Thừa Bình (1)
  • Nguyễn Trọng Kha (1)
  • Nguyễn Việt Nữ (1)
  • Nguyễn Văn (1)
  • Nguyễn Văn Hoàng 333 (1)
  • Nguyễn Văn Học (1)
  • Nguyễn quang Thành (1)
  • Nguyễn thị Nhung (1)
  • Nguyễn Ðồng Danh (1)
  • Nguyễn Ý Thuần (1)
  • Nguyễn Đình Phùng (1)
  • Nguyễn Đức Lập (1)
  • Nguyễn Đức Trọng (1)
  • Nguyễn-Đại-Thuật (1)
  • Phan Cao Tri (1)
  • Phan Hạnh (1)
  • Phan Hữu Chí (1)
  • Phan Nam (1)
  • Phan Quốc Bảo (1)
  • Phan Văn Hưng (1)
  • Phạm Liễn (1)
  • Phi Trang (1)
  • Phùng Nhân (1)
  • Phạm Bá Hoa (1)
  • Phạm Duyên (1)
  • Phạm Lễ. (1)
  • Phạm Ngọc Lũy (1)
  • Phạm Sanh (1)
  • Phạm Thái (1)
  • Phạm Trần Hoàng Việt (1)
  • Phạm Văn Lưu (1)
  • Phạm quốc Thuần (1)
  • Phạm Đào Nguyên (1)
  • Phạm Đình Lân (1)
  • Promethean updates (1)
  • Quang Danh (1)
  • Quốc Việt (1)
  • Quỳnh Dao (1)
  • Quỳnh Thi (1)
  • Saigon Xua (1)
  • San San (1)
  • Sean Bảo (1)
  • Shawn Ryan (1)
  • Steven Dieu (1)
  • Susan Nguyễn (1)
  • TT Diệu Tâm (1)
  • TT Ngô Đình Diệm: (1)
  • Tam Giang Hoàng Đình Báu (1)
  • Tạ Quang Khôi (1)
  • Thanh Thương Hoàng (1)
  • Thái Ngọc (1)
  • Thu Hiền (1)
  • Thu Lê (1)
  • Thái Quốc Mưu (1)
  • Thùy Giang (1)
  • Thủy Nguyễn (1)
  • Tiến Sĩ Trần An Bài (1)
  • Tiểu Đĩnh (1)
  • Tom Tom (1)
  • Trung Đạo (1)
  • Trà Đóa (1)
  • Trần Hữu Thuần (1)
  • Trương Thế (1)
  • Trương Thị Thu Huyền (1)
  • Trần Mai cô (1)
  • Trần Nam (1)
  • Trần Nguyên Thắng (1)
  • Trần Ngọc Quang (1)
  • Trần Nhật Kim (1)
  • Trần Thanh Minh (1)
  • Trần Thân Yên (1)
  • Trần Thị Diệu Tâm (1)
  • Trần Thị Nhật Hưng (1)
  • Trần Văn Lương (1)
  • Trần Văn Ngà (1)
  • Trần Vũ (1)
  • Trần Đình Phước (1)
  • Trần Đình Đức (1)
  • Trần Đông Thành (1)
  • Trần Đức Hân (1)
  • Trần Đức Lợi (1)
  • Trịnh Vĩnh Bình! (1)
  • Tuệ Chương Hòang Long Hải (1)
  • Tín Thất Tôn (1)
  • Tôn Thất Phú Sĩ (1)
  • Tôn Thất Soạn (1)
  • Tôn-Thất Long (1)
  • Tôn-thất Sơn (1)
  • Túy Trước (1)
  • Tạ Cự Hải (1)
  • Tạ Phong Tần (1)
  • Tạo Ân (1)
  • Tịnh Tâm (1)
  • UNESCO (1)
  • Uyên Phương Minh Nguyệt (1)
  • Việt Hải (1)
  • Việt Thường (1)
  • Võ Như Y (1)
  • Võ Phiến (1)
  • Võ Quách Thị Tường Vi (1)
  • Võ Quân (1)
  • Võ Thị Hảo (1)
  • Võ Văn Ái (1)
  • Văn Ni (1)
  • Vĩnh Phúc (1)
  • Vũ Công Hiển (1)
  • Vũ Ngọc Văn (1)
  • Vũ thành An (1)
  • Vũ Đình Trường (1)
  • Warning to the west (1)
  • Wayne Nguyen (1)
  • XUÂN ĐỖ (1)
  • Xuân Hàn (1)
  • Xuân Vũ (1)
  • Y Hạ (1)
  • Y Vân (1)
  • Yên Hà (1)
  • Yên Sơn (1)
  • Z28 (1)
  • phong (1)
  • technology (1)
  • v (1)
  • vhp.Hạ Vũ (1)
  • Ðặng quang Chính (1)
  • Đinh Nguyên Thi (1)
  • Đằng Phương (1)
  • ĐẶNG VĂN NHÂM (1)
  • Đặng Chí Bình (1)
  • Đặng Văn Quang (1)
  • Đỉnh Sóng (1)
  • Đỗ Hồng Ngọc (1)
  • Đỗ Như Quyên (1)
  • Đỗ Tiến Bình Minh (1)
  • Đỗ Tiến Đức (1)
  • Đỗ Trường (1)
  • Đức H Vũ (1)