Saturday, September 12, 2026

Chữ của Nguyễn Ngọc Tư: Bắc Kỳ lai!

Trong bối cảnh hậu 1975, tiếng Việt ở miền Nam bị pha trộn, biến dạng, và đôi khi... mất gốc! Nhiều người viết – đặc biệt là những cây bút được tuyên dương bởi nhà nước CSBV– đã vô tình hay cố ý mang theo thói quen dùng chữ Bắc Kỳ vào trong văn chương miền Nam, khiến nhiều đoạn văn trở nên chỏi tai, gượng gạo, thậm chí…mắc cười!

Bài viết nầy xin góp vài ý nhỏ, từ một người con xa xứ, nhằm nhắc lại cho rõ đâu là cái giọng, cái hồn, cái văn phong đặc thù của người miền Nam – thứ ngôn ngữ đã từng nuôi lớn một nền văn học VNCH nhân bản và khai phóng.

Tôi xin mở đầu bằng một câu chuyện nhỏ, rất... Cần Thơ. Bà con quê tôi nói: “Kinh xáng Xà No” – không ai nói “kênh xáng” bao giờ. “Kinh xáng” là cách gọi riêng, đã trở thành danh từ riêng, là cái “hơi thở” của vùng đất phù sa, vậy mà có người viết văn hôm nay lại hồn nhiên dùng “kênh” thay “kinh”, nghe mà muốn...chửi thề, văng tục! Như vậy là họ đã không nắm được cái hồn ngữ âm địa phương, không hiểu văn hóa bản đất Hậu Giang.

Cũng giống như ai đó nói kép “Hữu Phước” mà viết thành “Hữu Phúc” – nghe mà... mắc nghẹn!

Chữ nghĩa đâu chỉ là âm thanh; nó là linh hồn, là truyền thống, là ký ức tập thể của một cộng đồng. Dùng sai chữ, hoặc tệ hơn, nhập nhằng với chữ Bắc Kỳ 75 một cách vô tội vạ, là chối bỏ di sản của ngôn ngữ miền Nam.

Lấy ví dụ từ truyện ngắn “Làm mẹ” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – người được nhà nước CSVN khen tặng là “nhà văn Nam Bộ”. Trong truyện, có đoạn: “Bây giờ chưa hết tháng ba nhưng mỗi tối từ chợ về, dì Diệu đã tranh thủ ngồi may đồ cho em bé...”*

Xin lỗi cô Tư – chữ “tranh thủ” là của cán bộ ngoài Bắc. Dân Nam mình xưa giờ nói rất giản dị: “rán làm cho kịp”.

Cái chất Nam Bộ nó nằm ở cái “rán”, cái “cho kịp”, cái tiếng bình dân mà tình cảm, chớ không phải cái giọng khô khốc, công chức như “tranh thủ”.

Ngôn ngữ là nhân dáng tinh thần của một vùng đất. Viết văn cho dân miền Nam đọc mà lại xài chữ của người Bắc sau 75, thì còn gì là “nhà văn Nam Bộ”?

Lại nữa, đoạn khác viết:
“Dì vừa làm vừa mủm mỉm cười một mình…”

Xin phép hỏi cô Tư: ai ở miền Nam mình nói “mủm mỉm”? Ở xứ mình, người ta nói “tủm tỉm” cười mới là đúng! “Mủm mỉm” là miêu tả con nít bụ bẫm, có khi còn... chảy nước miếng! Dì Diệu là một người phụ nữ trưởng thành, đang suy tư về chuyện đời – sao lại cười kiểu em bé lên ba?

Ngôn ngữ không phải là thứ bất biến, nhưng cũng không phải thứ muốn “pha chế” sao cũng được. Tiếng Việt là một sinh ngữ có chữ mới – đúng! Nhưng cái gì mới mà dở, lai căng, vô hồn thì không thể gọi là tiến bộ. Muốn sáng tạo, phải dựa trên nền tảng vững chắc của ngôn ngữ dân tộc, không thể tùy tiện “xào nấu” rồi bảo đó là cách tân.

Tôi nhớ lời của nhà văn Bình Nguyên Lộc – bậc thầy ngôn ngữ học miền Nam – trong tác phẩm "Đò Dọc", ông hay dùng chữ “cá nhân” theo một cách rất riêng, nhưng vẫn không chỏi tai vì văn mạch dẫn dắt tự nhiên. Tôi học theo cái khôn của ông – không dám bắt chước người dở. Tiếc thay, nhiều người viết hôm nay lại có thói quen “bắt chước cán bộ” mà quên rằng mỗi vùng miền có tiếng nói riêng, có linh hồn riêng.

Tôi không hề ghét cô Tư. Nhưng từ khi cô viết mà lạm dụng giọng Bắc 75, tôi thấy... buồn! Không buồn vì chữ nghĩa của cô kém, mà buồn vì cái tâm với ngôn ngữ miền Nam hình như đã phai. Cô làm văn, viết sách – tức là người giữ lửa ngôn ngữ – mà không gìn giữ tiếng nói của quê hương thì còn ai giữ đây?

Xin cô Tư – và các nhà văn Nam Bộ sau 75 – hãy nghĩ lại. Đừng để giọng văn miền Nam thành món “ngữ âm lai” nhạt nhẽo. Hãy trả lại cho tiếng Việt miền Nam cái mộc mạc, cái tình cảm, cái duyên thầm mà ông bà ta đã trao truyền. Viết văn không chỉ để “đăng báo”, để được khen thưởng, mà là để nối dài tiếng nói của một nền văn hóa.

Nếu lời bình của tôi có gì sơ suất, xin cô Tư đừng “cá nhân” tôi nhé! Tôi chỉ là một người yêu tiếng Việt miền Nam – cái tiếng từng ru tôi trong câu hò vọng cổ, từng dạy tôi biết yêu quê hương, từng cho tôi một giọng nói để đi giữa nhân gian.

Ối giời ơi là giời! He he!
Chữ nghĩa mà cẩu thả, thả chó chạy rong như vậy, thì văn học miền Nam biết nương vào ai?

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Hình: Nguyễn Ngọc Tư cột cổ mình bằng chiếc khăn rằn để tự xưng cô ta là Việt Cộng!


No comments:

Blog Archive