Showing posts with label Liên Thành. Show all posts
Showing posts with label Liên Thành. Show all posts

Tuesday, November 26, 2019

Thư mời Hội Luận của Ông Liên Thành gửỉ ông Hoàng Long Hải, tác giả bài "Chó Đẻ Liên Thành"

Nguyễn Phúc Liên Thành Kính gởi:
- Đồng bào Quốc nội và Hải ngoại.
- Quý chiến Hữu QLVNCH/CSQG Việt Nam Cộng Hòa
Ông Hoàng Long Hải tác giả bài: CHÓ ĐẺ LIÊN THÀNH
Thưa Đồng bào, Thưa quý Chiến hữu,
Như chúng ta đã biết, Ông Phạm văn Bồng tức Trí Quang qua đời vào ngày 8/11/ 2019.
Ngày 18/11/2019 tôi có gởi thư cho Tiến Sĩ Cao Huy Thuần tại Paris, Pháp Quốc, và Tiến sĩ Thái Kim Lan tại Tây Đức mời hai vị Tiến sĩ hội luận cùng tôi trên đài Việt Nam Tự Do có trụ sở tại New Orleans, Louisana. Ngày 21/11/2019 lúc 10 tối, giờ Paris, Về đề tài: “Thích Trí Quang, Thần Tượng Hay Tội Đồ Của Dân Tộc” Thế nhưng cả hai vị đều không hồi đáp.
Cũng trong khoảng thời gian đó, có một số người vì cuồng tín tăng lữ đã bênh vực cho Thích Trí Quang và đã viết không đúng bằng cách bịa đặt một số sự kiện với mục đích mạ lị phụ thân tôi và cá nhân tôi, rồi phổ biến rộng rãi trên các trang mạng điện tử. Điển hình là người có địa chỉ điện thư với cái tên Hoàng Long Hải.
Mười năm qua, tôi cũng đã từng quen với những lời vu khống, chửi bới thô lỗ vì họ cho tôi là người thường xuyên “đánh phá Phật Giáo.” Đã quá nhiều lần họ làm những việc vô căn cứ như vậy và tôi nhận thấy không cần tranh cãi với những người mà sự chỉ trích không có căn bản lý luận. Nhưng nay họ đã xúc phạm đến phụ thân tôi, một điều tối kỵ vì đã thoá mạ cả nền văn hoá mà dân tộc chúng ta trân quý. Vì vậy tôi phải lên tiếng sửa lại những gì họ đã đặt điều về phụ thân tôi và cá nhân tôi.
Trong số những người nầy có Ông có tên là Hoàng Long Hải đã viết quá sai sự thật để mạ lị phụ thân tôi và cá nhân tôi. Suốt cả nội dung rất dài trong điện thư của Ông Hoàng Long Hải, chỉ có đúng 3 điều đó là: Tên của Ông Nội tôi là Đức Kỳ Ngoài Hầu Cường Để, tên của phụ thân tôi là Tráng Cử và của tôi là Liên Thành.
Tôi không nhắc lại nội dung điện thư vì quá dài mất thì giờ quý báu của quý vị độc giả mà chỉ muốn nói cho Ông Hoàng Long Hải hiểu rõ rằng:
1/ Về phương diện luật pháp:
Luật pháp Hoa Kỳ không cho phép bất kỳ ai “Ngụy tạo, bôi nhọ lý lịch của kẻ khác và công khai phổ biến lên báo chí v.v...” Đó là một trọng tội. Xin ông hỏi bất cứ một luật sư Việt/ Mỹ nào thì ông sẽ biết ngay.
2/ Về phương diện lịch sự trong phép xã giao, trong giáo dục căn bản của gia đình:
Ông mở đầu bài viết bằng một câu minh chứng rõ ràng sự thiếu sót quá lớn trong công việc giáo dục giáo dục gia đình của ông, khi ông viết: “Tên Chó đẻ Liên Thành”. Thưa Ông, khi ông gọi tôi là “Tên…”, dù không mấy lịch sự, nhưng theo lý luận thì ông đã xác nhận tôi là người. Mà đã là người thì ai cũng do Cha, Mẹ sinh ra. Ông cũng vậy. Lẽ nào ông lại không phải là người? Hay là ông có niềm tin khoa học rất chuẩn xác là “người” như ông lại có xác suất được loài vật sinh ra?
Bây giờ xin nói với Ông về Phụ Thân tôi:
Điều duy nhất ông nói đúng, là tên của phụ thân tôi.
Phụ thân tôi tên là Tráng Cử, và tên Ông Nội tôi là Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để.
Ông Nội tôi từ bỏ ngôi vua, để Vua Thành Thái nhận lãnh ngôi vị hoàng đế. Khuya mồng hai rạng ngày mồng ba Tết năm Bính Ngọ 1906, ông trốn khỏi kinh thành Huế, dấn thân vào cuộc đời cách mạng, chống lại sự đô hộ hà khắc của người Pháp, mưu cầu Độc Lập, Tự Do cho trăm họ, cho quê hương Việt Nam. Đại nghiệp tuy không thành, thân xác để lại xứ người, nhưng ít nhất ngài cũng lưu lại tấm giương sáng cho thế hệ con cháu noi theo.
Khi ông nội tôi ra đi đến xứ người, cha tôi còn ở trong bụng mẹ được 4 tháng. Chính phủ bảo hộ Pháp đã bắt nhốt bà nội tôi, bác tôi, và cô tôi vào nhà lao Hộ Thành [Nay là trường Nữ Trung Học Thành Nôi Huế] và cha tôi được Bà nội sinh trong nhà lao. Bốn mẹ con bị Chính phủ bảo hộ Pháp cầm tù trong lao Hộ Thành suốt 20 năm. Bác tôi, cha tôi được mật thám Pháp ban ngày cho đi học, tối về nhà lao ở tù với mẹ.
Sau khi đậu bằng Thành Chung xong, ông được Toàn Quyền Pháp cho ra Hà Nội học khóa Y Sĩ Đông Dương. Cùng đi với ông ra Hà Nội có Ông Bửu Du, sau nầy là Bác Sĩ Bửu Du [ở Huế ai cũng biết bác sĩ Bửu Du]. Khóa học 3 năm tại Trường Đại Hoc Y Khoa Hà Nội, nhưng mới năm đầu ông phải nghỉ học vì ông thấy máu là xỉu. Sau đó ông thi đậu vào Trường Sư Phạm tại Hà nội. Tốt nghiệp xong, ông về lại Huế. Suốt đời là ông thầy giáo. Tại Huế ông làm Hiệu trưởng rất nhiều trường như: Thượng Tứ, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt. Trần Quốc Toản, Sư Phạm Huế...
Thời Đệ I VNCH ông vừa Là Hiệu Trưởng Trường Trần Quốc Toản, vừa là Hiệu Trưởng trường Sư Phạm Huế dành cho bậc tiểu học [Bà Chủ Tiệm ăn Hương Giang tại Bolsa, Westminster, California, là học trò học trường sư phạm Huế của Cha tôi].
Sau khi hồi hưu, ông được một vị Linh Mục người Pháp tại trường Trung Học Thiên Hựu Huế đã mời cha tôi dạy Pháp văn cho đến khi ông nghỉ hưu [Vị linh mục nầy là bạn Hướng Đạo của cha tôi]
Học trò cũ của cha tôi:
- Về phía VNCH có Trung Tướng Lê Văn Nghiêm, Trung Tướng Tôn Thất Đính, Trung Tướng Tôn Thất Xứng, Chuẩn Tướng Lam Sơn, và một ông dân sự sau nầy làm Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục thời Đệ I VNCH.
- Về phía Việt Cộng có: Trung Tướng Lê Trung Tín, Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên VC vào 1967.
- Thuở còn trẻ cha tôi cùng với ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Cung Dũ Nguyên, Võ Thành Minh, Trần Điền và nhiều người nữa thành lập Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam.
- Trước 1945, Ông hoạt động chống Pháp trong Phong Trào Cường Để do cựu Thượng Thư Ngô Đình Diệm lãnh đạo.
- Năm 1945 cha tôi, cùng với Cụ Ngô Đình Diệm và bác ruột tôi là Hoàng Thân Tráng Liệt, ba người cùng đi xe hơi từ Sài Gòn ra Huế, đến Tuy Hòa thì cả ba bị Việt Minh bắt. Sau đó chúng giải Cụ Ngô Đình Diệm ra Bắc, theo lệnh của Hồ Chí Minh. Còn bác tôi và cha tôi do ông Hồ Tùng Mậu trước kia là một thành viên trong tổ chức của ông Nội tôi, về sau ông Hồ Tùng Mậu theo Hồ Chí Minh. Ông Hồ Tùng Mậu trình với Hồ Chí Minh rằng 2 người con trai của Đức Kỳ Ngoại Hầu bị Công An bắt giữ tại Tuy Hòa, Hồ Chí Minh ra lệnh cho thả cho cha tôi và bác tôi về Huế.
Về Cá Nhân Liên Thành:
1/ Học Lực
- 1955 thi đậu Đệ Thất vào trường Quốc Học. Năm lên lớp Đệ III tôi chọn ban B [Toán]
- Đậu Tú tài phần I Ban B, và niên khóa sau chuyển lên học lớp Đệ I B5.
Tôi có những người bạn thân của năm Đệ I B5 là:
1/ Đại Úy Văn Đình Tùng, Khóa 18 Võ Bị. Đại Độ Trưởng, Đại Dội Trinh Sát Sư Đoàn 2/BB. Vị Quốc Vong Thân vào 4/5/ 1966.
2/ Đại Tá Lê Huấn, Khóa 18 Võ Bị. Trung Đoàn Trưởng, Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Vị Quốc Vong Thân tại Hạ Lào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
3/ Trung Tá Lê Văn Mể, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù. Hiện đang trú ngụ tại San Jose, California.
Quý vị có thể gọi cho Trung Tá Lê Văn Mể là bạn học với tôi tại lớp Đệ I B5 ở Trường Quốc Học để phối kiễm
Tùng, Huấn, Mễ và tôi trong lớp Đệ IB5 ngồi cùng bàn. Cùng thi vào khóa 18 Võ Bị. Cùng đậu, nhưng sau đó cha tôi không cho tôi đi. Ông nói: “Con chỉ còn mấy tháng nữa là thi toàn phần, đậu xong rồi con muốn đi lính thì con đi”. Tôi vâng lời cha ở lại học tiếp. Tùng, Huấn, Mễ lên đường vào học Võ Bị Khóa 18.
4/ Thiếu Tá Nhảy Dù Nguyễn Mậu Trinh, Dược sĩ. Trưởng Phòng Y Dược, Sư Đoàn Nhảy Dù. Bạn cùng học lớp Đệ I B5 Quốc Học với tôi. Hiện Nguyễn Mậu Trinh là Hội Trưởng Hội Cao Niên tại Washington DC, Hoa kỳ. Quý vị có thể gọi cho Nguyễn Mậu Trinh để phối kiểm.
5/ Sau này tôi học Đại Học Văn Khoa, phân khoa Sử Địa “Ông thầy” của tôi cũng là “bạn thân” của tôi là Giáo Sư Đại Học Huế Lê Đình Cai. Giáo sư Lê Đình Cai hiện định cư tại San Jose, California. Hoa Kỳ. Quý vị gọi ông ta để kiểm chứng.
Về việc tôi là lính Bảo An.
Ông Hải đã tự phịa ra tôi là sĩ quan Bảo An và đi Học Thủ Đức có 3 tháng rồi ra Thiếu Úy.
Tôi không hiểu tại sao ông lại có khả năng sáng tạo u mê như vậy. Ông có hiểu ý nghĩa của từ “nhục” trong văn hoá Việt không? Ông có bao giờ giáo huấn con cái ông những điều hay lẽ phải để chúng thành người tốt sau này không? Mà giáo huấn làm sao được khi giáo dục gia đình của ông chưa bao giờ biết đến tứ duy: Lễ, nghĩa, liêm, sỉ cho nên ông đã biến thành kẻ bất lương, bịa chuyện, nói láo mất rồi.
Thưa Ông,
Tôi là lính tình nguyện, nhập ngũ khóa 16 trường sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức [tên của Trường vào 1961-1962]. Khóa 16 của chúng tôi gồm đa số là động viên, một số ít tình nguyện, có 5 đại đội Chủ Lực Quân là đại đội 1,2,3,4,5, và 2 đại đội Sĩ Quan Bảo An [Danh từ Đệ I VNCH sau nầy cải danh là Địa Phương Quân]. Tôi thuộc Đại đội 2 Chủ lực Quân. Tôi còn nhớ Đại Đội Trưởng của tôi là Trung Úy Nhạc. Chủ Lực cũng như Bảo An cùng học và ra trường cùng một thời hạn, chứ không như ông nói Bảo An chỉ học 3 tháng rồi ra trường. Chủ lực mang cấp bậc Chuẩn Úy, Bảo An mang cấp Thiếu Úy.
Khóa 16 chúng tôi ra trường sau khi cuộc phản loạn 1/11/1963. Thời Thủ Tướng Phan Huy Quát có chương Trình Binh Định Nông Thôn và toàn khoá 16 sĩ quan Chủ Lực Quân sau khi mãn khóa phải ở lại học một khóa căn bản hành chánh và sau đó tất cả được biệt phái sang bộ Nôi Vụ, từ đó bộ đưa về các Tỉnh. Tỉnh đưa xuống Quận. Mỗi Quận 2 Sĩ quan gọi là Phụ Tá Quận Trưởng.
Một Sĩ quan phụ trách chương Trình Bình Định ấp, xã. Một phụ trách Lực Lượng Dân Vệ [Sau nầy Cải Danh là Nghĩa Quân].
Tôi và Chuẩn Úy Nguyễn Văn Miên trình diện Trung Úy Phạm Khắc Đạt Quận Nam Hòa, Tỉnh Thừa Thiên. Chuẩn Úy Nguyễn Văn Miên phụ trách chương trình bình định xã ấp; còn tôi, Chuẩn Úy Liên Thành, đảm nhiệm chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội Nghĩa Quân Quận Nam Hòa. Từ đó tôi thuộc quân số của Tiểu Khu Thừa Thiên thuộc Chi Khu Nam Hòa, tức Bộ Chỉ Huy Nghĩa Quân, Địa Phương Quân.
- Sau 1975 tại Hoa Kỳ
Tôi vào học Trường California Polytechnique University Pomona, California, ngành kỷ sư điện tử, tốt nghiệp kỷ sư điện tử ngành Test Engineer. Ra trường tôi làm cho hãng Hughes AirCraft tại Thanh Phố Santa Margarita California, CA. Bốn (4) năm sau đó, tôi bỏ việc đi giúp cho đồng bào và các chiến hữu của tôi tại các trại tỵ nạn Hồng Kong, Thái Lan.
Năm 1986 tôi trở lại nghề nghiệp cũ của tôi và đi cùng với ông Elwood Mc Kee [nguyên Cố vấn trưởng trong ngành Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi tại Huế] đến Cộng Hòa Vanuatu ở nam Thái Bình Dương. Ba năm sau chính phủ và Thủ Tướng Watta Lini thân Trung Cộng sụp đổ. Tân Thủ Tướng Maxime Carlot Koman và tân chính phủ Vanuatu ra mắt quốc dân đồng bào Vanuatu.
Ngày tân Chính Phủ Cộng Hòa Vanuatu ra mắt, có Đại Sứ Mỹ tại Vanuatu, Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Dana Rohrabacher, Trưởng Ban Tình Báo Hạ Viện Hoa Kỳ, Ông ElWood Mc Kee , và tôi. Tôi được Bộ Ngoại Giao Chính Phủ Hòa Kỳ bổ nhiệm làm Tổng Lãnh Sự cho nước cộng Hòa Vanuatu tại các nước Á Châu [Ngoại trừ VN] theo yêu cầu của chính phủ Cộng Hòa Vanuatu, và Thủ Tướng nước Cộng Hòa Vanuatu bổ nhiệm tôi kiêm chức Đại Diện cho Thủ Tướng tại Hoa Kỳ. Năm 2002, sau hơn 10 năm, tôi xin nghỉ hưu vì sức khỏe.
Tất cả những gì tôi trình bày trên ai muốn phối kiểm cũng đuợc. Ngoài ra,
Điều thứ nhất tôi muốn nói với Ông Hoàng Long Hải và những ai thường hay ngụy tạo hồ sơ cá nhân của người khác và phổ biến công khai lên mạng là một điều tối kỵ. Việc làm này vừa chứng tỏ mình là một người thiếu đạo đức, láo lường, và rất nguy hiểm cho bản thân, vì luật Pháp Hoa Kỳ không cho phép, có ngày sẽ gặp rắc rối với luật pháp Hoa Kỳ.
Điều thứ hai là ông Hoàng Long Hải đã mạ lị Lực Lượng Địa Phương Quân và các Sĩ Quan Địa Phương Quân là thành phần ngu dốt khi ông cho tôi là kẻ ngu dốt chưa có bằng Tú Tài I, đi vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức học 3 tháng là ra trường với cấp bậc Thiếu Úy Bảo An [Địa Phương Quân]. Ông Hoàng Long Hải đã có vần đề trầm trọng với luật pháp Hoa Kỳ khi ông có bịa đặt chuyên để mạ lị tôi, nhưng mạ lị toàn bộ tập thể sĩ quan mà ông gọi là Sĩ quan Bảo An [ Địa Phương Quân] thì vấn đề về pháp lý còn trầm trọng hơn nhiều.
Hơn nữa, Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Chủ lực Quân, tất cả chúng tôi là những người lính Việt Nam Cộng Hòa, cầm súng chiến đấu chống lại quân xâm lăng Bắc Việt, bảo vệ miền Nam Việt Nam, bảo vệ đồng bào, trong đó có ông và gia đình ông. Việc ông vu khống, sỉ nhục cá nhân tôi, đồng đội tôi là lính Bảo An, là thành phần ngu dốt, là một hành động vong ơn bội nghĩa đối với những người lính Nghĩa Quân, Địa Phương Quân chúng tôi. Ông đã khiêu khích, thách đố, và thoá mạ niềm kiêu hãnh của tập thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Tôi đã từng mời ông Tiến sĩ Trần Kim Đoàn tại Bắc California hội luận với tôi; tuần rồi, tôi lại mời Tiến sĩ Cao Huy Thuần, Tiến sĩ Thái Kim Lan hội luận với tôi,về đề tài “Thích Trí Quang,Thần Tượng Hay tội Đồ Dân Tộc”. Tôi phải nói rõ ràng là có lẽ cả ba vị đều sợ sự thật nên đều từ chối lời mời của tôi.
Món nợ lịch sử nầy phải trả cho xong, cho minh bạch, vì thế một lần chót tôi, Nguyễn Phúc Liên Thành, Cựu Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế, chứng nhân sống của những diễn biến lịch sử trong khoảng thời gian 1963-1975, tha thiết và trân trọng mời ông Hoàng Long Hải, Tiến sĩ Cao Huy Thuần, Tiến sĩ Thái Kim Lan, Tiến sĩ Trần Kim Đoàn, Tiến sĩ Tạ văn Tài, Tiến sĩ Huỳnh Tấn Lê, Tiến sĩ Cao Văn Hở cùng hội luận với tôi về đề tài “Thích Trí Quang, Thần Tượng Hay tội Đồ Dân Tộc.”
Trân trọng kính Nhờ ông Hoàng Long Hải chuyển lời mời của tôi đến với các quý vị nêu trên. Và Nếu ông và các quý vị đó đồng ý, xin cho tôi thời gian 2 tuần lễ để sắp xếp nơi trực diện hội luận tại Little Saigon, Westminster, California.
Tôi sẽ mời đồng bào, báo Chí, các đài truyền thanh, truyền hình cùng tham dự hội luận.
Tôi chân thành mong ông cùng quý vị học giả nói trên có đủ sĩ khí chấp nhận lời mời của tôi.
Cuối cùng, tôi trân trọng xin nhắc lại lời nói của Đức Phật:
“Những gì mà người cho ta, ta không nhận, tất sẽ trở lại với người”
Liên Thành
Nam Cali,USA
Ngày 26/11/2019
Một số copy giấy tờ và hình anh của tôi chứng minh những gì tôi đã trình bày ở phần trên:


Thẻ sinh viên Đại Học Huế


Thẻ sinh viên Đại Học Kỷ Thuật Hoa Kỳ


Ra trường tại Đại Học Kỷ Thuật Hoa Kỳ


Diplomatic Passport


Tổng lãnh Sự Cho Cộng Hòa Vanuatu tại các quốc Gia Á Châu




Đại Diện Thủ Tướng Vanuatu tai Hoa Kỳ


Từ trái sang: Dân biểu Liên Bang Dana Rohrabacher, Co- Chairman (Đội mũ lưỡi trai màu xanh đậm), Elwood McKee (Mang kính trắng), Mr. Paul Behrends (tay trái đang sờ má), Mr Ron Phillips, Liên Thành tại Port Vila , Vanuatu<
----------------

Tuesday, November 19, 2019

THƯ MỜI HỘI LUẬN
Cựu Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế Ông Nguyễn Phúc Liên Thành Mời :
Tiến Sĩ Cao HuyThuần và Bà Tiến Sĩ Thái Thị Kim Loan hội luận trên Đài Phát Thanh TIẾNG NÓI TỰDO.
Với đề tài: Thích Trí Quang Thần Tượng Hay Tội Đồ Dân Tộc.
Nam California , USA
Ngày 18/11/2019
Nơi gởi:
Nguyễn Phúc Liên Thành
Nơi Nhận :
- Tiến sĩ Cao Huy Thuần. Paris Pháp Quốc
  - Bà Tiến Sĩ Thái Thị Kim Lan. Đức Quốc? Việt Nam?
V/V: Mời Tiến sĩ Cao Huy Thuần và Bà Tiến Sĩ Thái Thị Kim Lan Hội luận cùng Cựu Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thưa Thiên –Huế ÔngNguyễn Phúc Liên Thành.
Đề tài Tranh Luận: THÍCH TRÍ QUANG THẦN TƯỢNG HAY TỘI ĐỒ DÂN TỘC.
Thưa Tiến Sĩ Cao Huy Thuần
Kính Thưa Tiến Sĩ Thái Thị Kim Lan,
Như Ông Bà đã biết, Ông Trí Quang đã chết vào ngày 8 tháng 11 năm 2019 tại Chùa Từ Đàm Huế.
Ngaysau đó, có nhiều cuộc tranh luận, và bài viết trong đó có bài của Bà Thái Thị Kim Lan và ông Cao Huy Thuần. Cả hai Ông Bà đã hết lời ca tụng ông Trí Quang như là một bậc thánh nhân, một người có công rất lớn trong việc “Lật đổ chế độ độc tài, kỳ thị tôn giáo, gia đình trị, của Đệ I Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm” trong cuộc phản loạn của một số tướng lãnh VIệt Nam Cộng Hòa vào ngày 1/11/1963, và cuộc Biến Động Miền Trung năm 1966.
Tôi Nguyễn Phúc Liên Thành, một Phật Tử có Pháp danh Nguyên Tịnh, là tác giả của Tác phẩm Thích Trí Quang Thần Tượng Hay Tội Đồ Dân Tộc. Là một chứng nhân trong thời đại nhiễu nhương từ 1963 và đặc biệt là thời gian vào tháng 2/1966-6/1966, khi mà ôngThích Trí Quang phát động phong trào tranh đấu cướp 6 tỉnh miền Trung với mưu đồ biến 6 tỉnh nầy thành khu tự trị dưới quyền Thích Trí Quang.
Mấy ngày trước đây khi đọc bài của Tiến Sĩ Cao Huy Thuần với đề tài:
Thầy Thích Trí Quang: Một Trang Lịch Sử
Tôi rất buồn, vì không ngờ ông Cao Huy Thuần một nhà trí thức một người đã lớn tuổi [85?] đã là giáo sư Đại học Huế 1962-1964. Người cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Giáo sư Lê Tuyên, Giáo sư Lê Văn Hảo, Giáo sư Ngô Kha sáng lập tờ Báo Lập Trường chống Chính Phủ Miền Nam, rồi thời gian sau đó là giáo sư Đại Học Picardie Pháp Quốc.
Một người với tuổi đời đã lớn, có học vị cao, đã bóp béo sự thật, bóp méo lịch sử, khi ca tụng những hành động của ông Trí Quang trong cuộc phản loạn 1963 và đặc biệt là vụ biến Động Miền Trung vào mùa hè 1966.
Giáo sư Cao Huy Thuần đã trắng trợn đổi trắng thay đen cuộc tranh đấu 1966 tại Miền Trung nhất là tại Huế do ông Trí Quang trực tiếp chỉ huy.
Là một chứng nhân, trong chức vụ Phó Trưởng Ty Ngành Cảnh Sát Đặc Biệt [Tình báo]. Ngoài Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan Từ Sài-Gòn ra Huế với Biệt Đoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến, Chiến Đoàn Thủy Quân Lục Chiến trong nhiệm vụ dẹp cuộc phản loạn miền Trung do ông Trí Quang lãnh đạo. Tôi với 1200 nhân viên tình báo, cũng là người trực tiếp đối đầu với ông Trí Quang và toàn thể lực lượng tranh đấu của ông ta.
Còn nhớ:
- Vào đêm ngày 5/6/1966 tôi nhận lệnh thượng cấp chỉ huy 2 đại đội Địa Phương Quân Từ Chi Khu Nam Hòa tiến chiếm Ty Cảnh Sát Thị Xã Huế tại trung tâm thành phố Huế để làm đầu cầu an ninh cho những ngày kế tiếp lực lượng của Chính Phủ Trung Ương Sài Gòn đổ quân tái chiếm Huế. Tôi đã hoàn tất nhiệm vụ và rất may mắn là không có đổ máu.
- Sáng ngày hôm sau, ngày 6/6/1966 vào đúng 10 giờ sáng, Trung Tá Phan Văn Khoa Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Thừa Thiên Huế, và Thiếu Tá Phạm Khắc Đạt đến tai Ty Cảnh Sát Thị Xã Huế, nơi tôi đóng quân, sau khi thăm hỏi anh em binh sĩ, Trung Tá Tỉnh Trưởng ký sứ Vụ Lệnh bổ nhiệm Thiếu Tá Phạm Khắc Đạt làm Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế. Thiếu Úy Liên Thành làm Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt
- Vào 12 giờ trưa cùng ngày [6/6/1966] Trên Đài Phát Thanh Huế, khi ấy là “Đài Phát Thanh Cứu Nguy Phật Giáo” phát lời kêu gọi của Ông Trí Quang, liên tục 3 lần, với nội dung:
“Tôi là Trí Quang đây! Yêu Cầu đồng bào Huế đem bàn Thờ Phật ra đường ngăn chận quân đội Thiệu. Kỳ đổ quân chiếm Huế.”
Chỉ khoảng 2 giờ sau Bàn thờ phật xuống đường khắp mọi nẻo đường thành phố Huế [QuậnI, II, III] , và sau đó là xuống đến 10 quận nông thôn [Quận Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Nam Hòa, Phú Thứ, Vinh Lộc, và Quận Phú Lộc]
- Ngày hôm sau 7/6/1966, Biệt Đoàn 222 của Trung Tá Phan Huy Sảnh đổ quân ngay tại Ty Cảnh Sát Thị Xã Huế. Tôi bàn giao địa điểm nầy cho Trung Tá Sảnh và di chuyển Bộ Chỉ Huy của tôi sang địa điểm khác.
-Ngày 8 tháng 6/1966 Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát cùng Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Ông ta đến Huế.
- Ngày 9/6/1966 Đại Tá Loan cho lệnh tấn công chiếm lại đài Phát Thanh Huế tức “Đài Cứu Nguy Phật Giáo” của ông Trí Quang. Đám sinh Viên Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân bỏ chạy.
- Đêm ngày 9/6/1966 Đại Tá Loan tung Biệt Đoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến, và 500 nhân viên cảnh Sát Đặt Biệt của tôi hành quân dẹp bàn thờ vào 12 giờ khuya tại thành phố Huế.
- Tôi đi cạnh Đại Tá Loan, và chiếc bàn thờ Phật đầu tiên được dẹp vào lề đường là do Đại Tá Loan và tôi, mỗi người 1 bên bưng vào, sau đó chỉ một cái ngoắc tay của Đại Tá Loan, Biệt Đoàn 222 tràn ngập đường phố, và chỉ 1 giờ sau không còn 1 bàn thờ Phật nào tại đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Hàng Bè, Bạch Đằng, Chi Lăng, thuộc Quận II Thành phố Huế.
Sau đó ông ra lệnh bung dây kẽm gai ngăn chận các đường đã giải tỏa xong và quay lại nói với tôi:
“Giao lại cho mầy, tao về ngủ”.
Hai ngày kế tiếp, trên làn sóng Đài Phát Thanh Huế, Đại Tá Loan kêu gọi các thành phần tranh đấu học sinh, sinh viên, công chức, tiểu thương chợ Đông Ba, Cảnh Sát, Quân Nhân Sư Đoàn I Bộ Binh phải trình diện ngay Bộ Chỉ Huy Hành Quân của ông đặt tại Phú Văn Lâu.
Lực lượng tranh đấu của ông Trí Quang tan rã. Hằng trăm, hằng ngàn thành phần tranh đấu trình diện tại Phú văn Lâu, và được gần 600 nhân viên Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi phối hợp cùng Nha An Ninh Quân Đội thanh lọc và phân loại.
Số nhẹ tội cho trả tự do, số nặng tội Đại Tá Loan cho lệnh giải vào Sài Gòn.
- Một số chỉ huy trong Phong trào tranh đấu chạy trốn lên Mật Khu Việt Cộng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngoc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, để rồi Mậu Thân 1968 bọn chúng trở lại thành phố Huế thẳng tay tàn sát 5327 nạn nhân vô tội Huế bị chết oan.
- Số lớn khác chạy trốn vào các chùa ven thành phố Huế đã bị tôi mở cuộc hành quân lục soát các chùa bắt giữ, giao lại cho Trung Tâm Hành Quân để Đại Tá Loan giải vào Sai Gòn.
Ông Trí Quang, bây giờ đã cùng đường, mặt mày tái xanh tuyên bố tuyệt thực 100 ngày, và từ chùa Từ Đàm về sân Tòa Hành Chánh Tỉnh ngồi lì, nhưng sau đó hoảng hốt sợ bị Đại Tá Loan bắt, nên ông lại kéo những người theo ông lên lại Chù Từ Đàm, tuyệt thực, với 2 lý do:
1/ Ông Trí Quang nghĩ rằng, chắc hẳn lực lượng an ninh không giám xông vào chùa để bắt ông ta.
2/ Tuyệt thực 10 ngày đã chết ngắt, huống gì đã lỡ tuyên bố tuyên thực 100 ngày thì phải trở lại chùa để đêm hôm thanh vắng ăn uống no say rồi ngày mai lại ngồi tuyệt thực, ban ngày uống nước sâm Đại Hàn thì cũng không sao. Chứ ngồi tuyệt thực tại sân Tòa Hành Chánh Tỉnh thì lấy cái chi mà ăn, thì 10 ngày sau là chết nhăn răng.
Thế nhưng ông Trí Quang chỉ đúng ở câu số 2. Câu số 1 ông đã sai, vì:
Chỉ 1 ngày sau khi ông Trí Quang lên lại chùa Từ Đàm thì Đại Tá Loan hỏi tôi:
- Nó đâu rồi?
- Lên lại chùa Từ Đàm rồi Đại Tá.
- Mầy lên bắt nó đem về đây.
Tôi đã đem 2 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến và 50 Cảnh Sát Đặc Biệt lên bao vây chùa Từ Đàm. Cá nhân tôi và 20 Cảnh Sát Dặt biệt xông thẳng vào phòng ngủ của ông lục soát và bắt giữ ông đem ra xe về Tòa Đại Biểu nơi Đại Tá Loan Đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân, giao Trí Quang cho Đại Tá Loan.
- Ngày hôm sau trí Quang cùng đáp trực thăng với Đại tá Loan vào Đà Nẵng và sau đó bay đi Sài Gòn.
Vậy là xong, Phong trào Phật Giáo Tranh Đấu của Thích Trí Quang tại miền Trung tan rã. Từ đó cho đến trước 1975 Trí Quang không một lần nào ông ta trở lại Huế.
Thưa Tiến sĩ Cao Huy Thuần và Bà Tiến Sĩ Thái Thị Kim Lan,
Tôi Nguyễn Phúc Liên Thành trân trọng kính mời Ông/Bà tham dự buổi hội luận, tranh lận với đề tài “Thích Trí Quang là Thần Tượng Hay Tội Đồ Dân Tộc” cùng tôi tranh luận trên Đài PhátThanh Tiếng Nói Tự Do tại New Orleans. Louisana.
Người điều khiển chương trình hội luận là Ông Vương Kỳ Sơn, Giám Đốc Đài Phát Thanh Tiếng Nói Tự Do.
Đài Phát Thanh Tiếng Nói Tự Do Phát sóng khắp 50 Tiểu Ban tại Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu , Úc Châu và Việt Nam từ Hà Nội đến Cà Mâu.
Bao nhiêu năm qua, giới trí thức trong PGVNTN của các ông vẫn tôn sùng ông Trí Quang là Thần là Thánh là nhân vật làm rung rinh nước Mỹ. Thế nhưng các ông không nhìn thấy mặt thật của ông vì ông ta che đây rất khéo léo. Và đây là những đề tài mà tôi sẽ đưa ra trong cuộc hội luận với Tiến sĩ Cao Huy Thuần và Tiến Sĩ Thái Thị Kim Lan.
Vào thời điểm tháng 6/1966, nếu Đại Tá Loan giao ông Trí Quang cho tôi chứ không đem ông ta vào giam tại Sài Gòn thì về sau tôi sẽ đưa ông ta ra tòa và truy tố với những tội danh sau đây:
1) Phản Quốc:
Hoạt động cho địch: Đảng viên Cộng sản, Tình Báo Viên của Cộng sản Bắc Việt. Hoạt động cho cơ quan tình báo nước ngoài (C.I.A.) không có sự cho phép của chính phủ.
2) Sát nhân:
-Vụ Tàn sát Giáo dân Thanh Bồ Đức Lợi ở Đà Nẵng.
-Vụ tàn sát 5327 thường dân Huế vô tội vào Tết Mậu Thân 1968
-Các vụ tự thiêu từ 1963-1966 đều do y là chánh phạm nhúng tay chủ động. Điển hình như vụ Thích Quảng Đức, Thích Thanh Tuệ, và Thích Tiêu Diêu.
3) Phá rối trị an:
153 cuộc biểu tình bạo động từ tháng 8/1964 đến tháng 6/1966.
4) Khởi loạn chống chính phủ với trường hợp có binh lực và vũ khí.
Vụ biến động miền Trung.
5) Đốt phá tài sản của Ngoại Giao Đoàn:
Đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ và Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kỳ tại Huế, đốt xe Quân Cảnh Mỹ.
6) Chiếm giữ cơ sở công quyền:
Chiếm Đài Phát Thanh Huế làm Đài Phát Thanh “Cứu Nguy Phật Giáo”.
7) Chiếm đoạt tài sản Quốc gia:
Cướp kho súng, máy móc truyền tin, và 8 xe Jeep của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên -Huế trong cuộc phản loạn miền trung 6/1966.
8) Hiếp dâm gái vị thành niên:
Cô bé bị Thích Trí Quang hiếp dâm tên là Trần Thị Tuyết. Nội vụ được biết như sau:
Thích Trí Quang đã lên chùa Kim Sơn, gần chùa Linh Mụ, nhận cô bé Trần Thị Tuyết làm con nuôi. Nhưng thực chất là đầy tớ gái để sai vặt trà nước, giặt áo quần v.v… Khi ấy cô bé Trần Thị Tuyết mới có 12 tuổi. Tại sát cạnh chùa Từ Đàm có một ngôi nhà do ông Thích Thiện Siêu trụ trì mà chùa Từ Đàm đã mua cho cha mẹ ông ta trú ngụ. Thích Trí Quang đã thương lượng với Thích Thiện Siêu làm thêm một phòng nhỏ cho cô bé Trần Thị Tuyết ở.
Cô bé Trần Thị Tuyết ngày qua chùa Từ Đàm phục dịch cho thầy và đêm về nghỉ ngơi tại phòng đó. Theo lời kể của cô ta với 2 nhân chứng, thì 3 năm sau khi ấy cô ta 15 tuổi, thì cô ta dã bị Thầy Trí Quang hãm hiếp cô ta trong phòng ngủ của thầy và cứ thế kéo dài cho đến nhiều năm sau cho đến khi cô trưởng thành. Ngôi nhà mà cô Trần Thị Tuyết ở còn có một gia đình khác trú ngụ. Đó là gia đình của Đại Úy Pháo Binh Hoàng Trọng Bôi. Hai trong số những người biết rõ hành động tồi bại của Thích Trí Quang đối với bé Trần Thị Tuyết không ai khác hơn là vợ chồng Đại Úy Pháo Binh Hoàng Trọng Bôi.
Qua 8 tội trạng của tên Việt cộng Thích Trí Quang mà tôi vừa nêu trên, chiếu theo luật pháp Việt Nam Cộng Hòa, thì bản án mà Tòa Quân Sự Mặt Trận phải dành cho Thích Trí Quang ít nhất cũng là: Tử hình
HẮN KHÔNG PHẢI LÀ THẦN TƯỢNG, MÀ HẮN LÀ TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC.
Trong trường hợp Ông/Bà chấp thuận lời mời thì ngày giờ hội luận sẽ là:
Ngày 21 tháng 11 năm 2019
3 giờ chiều tại Louisana LA.
10 giờ đêm tại Paris
7 giờ tối tại Cali.
Số điên thoại để vào Hội Luận :504-322-3492
Số điện thoại để vào dự thính :712-432-7868
Nếu Ông/Bà chấp nhận hội luận, xin ông bà vui lòng thông báo cho chúng tôi trước ngày 21/11/ 2019 được biết để chúng tôi tiện việc sắp xếp. Chúng tôi xin Ông/Bà cho chúng tôi số điện thoại của ông/Bà để đúng giờ hội luận chúng tôi sẽ gọi Ông /Bà mời vào hội luận.
Trân trọng,
Nguyễn Phúc Liên Thành
Cell Phone: 626-257-1057
Email: ubtttadcsvn68@gmail.com
--------------
LIÊN THÀNH: THƯ MỜI CAO HUY THUẦN VÀ THÁI KIM LAN HỘI LUẬN
Tác giả Bác sĩ Tôn Thất SơnNgày đăng: 2019-11-19
Thưa Ông Liên Thành,
Cùng TS Cao Huy Thuần và TS Thái Kim Lan,
1. Trong thể chế dân chủ tự do, khi có vấn đề nào đó làm xã hội trăn trở, người ta tổ chức các cuộc thảo luận để làm sáng tỏ sự việc.
Cá nhân tôi rất hoan nghênh hành động Ông Liên Thành, là Người Trong Cuộc qua các cuộc Biến Động Miền Trung 1963-1966, có nhã ý mời hai tiến sĩ VN từng sinh sống tại Huế trong thời gian đó, là người từng ở trong nhóm khoa bảng ủng hộ Trí Quang chống lại chế độ VNCH I, là Cao Huy Thuần và Thái Kim Lan. Cho đến nay hơn nửa thế kỷ đã đi qua, hai kẻ đó tiếp tục vinh danh Trí Quang.
2. Để cho Vấn Đề được soi sáng trước mắt quần chúng Người Việt trong và ngoài nước, tôi khuyến khích Cao Huy Thuần và Thái Kim Lan hãy anh dũng và can đảm tham gia buổi hội luận với Liên Thành qua lời mời trên các liên mạng xã hội. Nếu hai tiến sĩ này mà từ chối tức là chấp nhận mình dối trá.
Hội luận sẽ diễn ra vào
Ngày : 21.11.2019,
Giờ : Paris 22:00 giờ, California 19:00 giờ
Phương tiện hội luận :
Điện thoại hội luận : 504-322-3492
Điện thoại dự thính: 712-432-7868
Tôn-thất Sơn

Thursday, November 14, 2019


ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN BỊ XỬ BẮN

ỦY BAN TRUY TỐ TỘI ÁC ĐẢNG CỌNG SẢN VIỆT NAM
TRUNG TÂM ĐIỀU HỢP TRUNG ƯƠNG
P.O.BOX 6147
FULLERTON,CA. 92834. USA

Kính gởi:

Đồng Bào Quốc Nội, Hải Ngoại
Quý Chiến Hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Quý Chiến Hữu Cảnh sát Quốc Gia VNCH

XIN PHỔ BIẾN RỘNG RÃI
Orange county, Ca.14/11/2019

BA THẾ LỰC, MỘT NỖI OAN TÌNH , ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN BỊ XỬ BẮN

Ông Ngô Đình Cẩn (1912 - 9/5/1964)

Ông Ngô Đình Cẩn là con áp út trong đại gia tộc Ngô Đình. Độc thân với hơn nửa cuộc đời sống âm thầm lo chăm sóc mẹ già, ông còn lo tổ chức cơ sở kết nạp những người có lòng với đất nước để hỗ trợ cho các anh hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp và chống Cộng sản. Tuy ít học, nhưng ông lại hết sức thông minh và là một người rất có năng khiếu về tình báo và chiến tranh du kích. Khi Chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh thì tình hình chính trị tại miền Trung rất khó khăn. Dân tình thì ly tán, đảng phái quốc gia thì chia rẽ, và Việt cộng thì thừa lúc tranh tối tranh sáng hoạt động mạnh mẽ. Trong cơn nguy biến đó, ông Ngô Đình Cẩn đã tận sức giúp đỡ cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tái lập lại niềm tin của đồng bào miền Trung, đặc biệt là Huế. Đảng Đại Việt Cách mạng của ông Hà Thúc Ký thiết lập chiến khu Ba Lòng Vùng Quảng Trị chống lại chính phủ. Sau khi diệt được chiến khu Ba Lòng một số lãnh tụ Đại Việt bị bắt. Điển hình là ông Tỉnh Trưởng Tỉnh Quảng Trị Trần Điền phải ra tòa và bị kết án 7 năm tù giam. Vậy mà ông Ngô Đình Cẩn đã vận động với chính phủ giảm án cho ông không ở tù ngày nào. Sau đó ông Ngô Đình Cẩn dùng tình thân xóa bỏ lỗi lầm, bằng cách mở trường trung học tư lấy tên là Trường Trung Học Bình Minh tại Quận III Thị xã Huế và giao cho ông Trần Điền làm Giám Học.

Một số lớn khó khăn giữa chính quyền, đảng phái, và tôn giáo tại Huế và các tỉnh miền trung đều đã được ông Ngô Đình Cẩn dàn xếp dùm chánh phủ. Vì lẽ đó mà một văn phòng ra đời tại Huế gọi là Văn Phòng Cố vấn Miền Trung và người ta gọi ông là Ông Cố vấn Miền Trung.

Ưu điểm của ông Ngô Đình Cẩn mà ít người biết đến là lòng yêu nước, tinh thần chống Cộng sản, và khả năng tình báo. Khả năng tình báo thiên phú của ông được biểu hiện cụ thể qua thành quả mà Đoàn Công Tác Đặc Biệt (DCTĐB) Miền Trung do ông thành lập, và giao cho ông Dương Văn Hiếu chỉ huy, đạt được. Điểm lại thành quả của tất cả các cơ quan tình báo VNCH thì DCTĐB Miền Trung là một trong những cơ quan tình báo hữu hiệu nhất. Cụ thể, DCTĐB Miền Trung đã làm cho Cụm Tình Báo Chiến Lược của Cộng sản Hà Nội xấc bấc xang bang, dở sống dở chết với 95% cơ sở đã bị tận diệt, và một số phải di tản ngược ra Bắc vì không còn đất sống.

Đáng chú ý là 80% điệp viên của bọn chúng bị đoàn Công Tác Miền Trung bắt giữ. Trong đó có Thiếu Tướng tình báo Việt cộng Mười Hương là Ủy Viên Dự Khuyết BCT/TƯĐ và chỉ huy màng lưới Tình Báo Gián Điệp Việt-Miên-Lào, Đại Tá tình báo Việt cộng Lê Câu, và hằng trăm tên tình báo chiến lược và phái khiển tình báo khác. Ông Ngô Đình Cẩn cũng là một chuyên viên lão luyện về chống du kích Cộng sản.

Có thể nói chưa có một nhà giam tù nhân nào lạ lùng như nhà giam các tù nhân Cộng sản của DCTĐB đặt tại Huế. Nhà giam không có lính gác và mở cửa. Tù nhân sinh hoạt và ăn ngủ tự nhiên tùy thích. Họ không bị ràng buộc một giờ giấc kỷ luật nào cả. Nơi đây không có thẩm vấn mà chỉ có đối thoại và hội thảo. Nên một số tù nhân đã nhận được rõ ràng đâu là chính nghĩa quốc gia và được bổ nhiệm làm việc cho chính phủ VNCH.

Cán bộ bị bắt và hồi chánh đầu tiên, hợp tác với DCTĐB khai báo và chỉ dẫn nhiều cơ sở từ Huế đến Đà Nẵng là Nguyễn Đình Chơn, Thành ủy viên Thành ủy Huế. Rồi từ đó lần ra các tỉnh Miền Trung, vào Sài gòn và cả Miền Nam. Chơn được trả cấp bậc Thiếu Tá. Trưởng Ty Cảnh Sát ĐB Gia Định đến 1-11-63. Một ví dụ điển hình nữa là tù nhân Lê Đình Khôi thuộc Tổ Quân Báo của Cục Quân Báo Hà Nội. Ông Lê Đình Khôi, bị bắt và sau một thời gian ở trại tù nầy, đã được bổ nhiệm làm Trưởng Phòng Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Nha Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I. Cũng như một cán bộ khác thuộc Phái Khiển Tình Báo của Cục Tình Báo Hà Nội, bị bắt và sau thời gian ở trại tù nầy, cũng đã được bổ nhiệm đi làm Huấn Luyện Viên trường Tình Báo Cảnh Sát Quốc Gia của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I. [Tôi không nêu tên vì không rõ ông ta có còn ở Việt Nam hay không.] Tất cả những việc nầy đều do chương trình và kế hoạch của ông Ngô Đình Cẩn và, lạ lùng thay, kế hoạch nầy lại có kết quả tốt. Đây cũng là một hình thức quốc sách Chiêu Hồi cán binh Cộng sản về với Chính Nghĩa Quốc Gia của Chính phủ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa.

Tại Thừa Thiên ông Ngô Đình Cẩn đã tổ chức Đoàn Nhân Dân Võ Trang và giao cho ông Hoàng Trọng Bá chỉ huy để hoạt động tại nông thôn trong công tác dân vận giúp đỡ dân chúng. Đồng thời đây cũng là lực lượng ngăn chận các hoạt động khủng bố hoặc xâm nhập của Cộng sản vào dân chúng và xóm làng ở nông thôn. Chương trình Bình Định Nông Thôn, do Hoa Kỳ và chính phủ Đệ II Việt Nam Cộng Hòa thành lập, có cách thức hoạt động cũng rập khuôn theo cách thức của Đoàn Nhân Dân Võ Trang của Ngô Đình Cẩn và Hoàng Trọng Bá.

Ngoài ra cũng cần phải nói đến vai trò của ông Ngô Đình Cẩn trong vấn đề chiêu hồi Thích Trí Quang về với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Để cảm hóa Thích Trí Quang, ông Ngô Đình Cẩn đã can thiệp với cơ quan an ninh để Trí Quang khỏi bị bắt trong vụ Phong Trào Hòa Bình của Cộng sản tại Huế mà Thích Trí Quang là một thành phần quan trọng của phong trào nầy. Ngoài ra ông Ngô Đình Cẩn cũng giúp đỡ tài chánh cho Hội Phật giáo tại Huế để trùng tu lại chùa Từ đàm cũng như các ngôi chùa khác.

Tất cả những công việc trên mà ông Ngô Đình Cẩn đã làm hoàn toàn có tính cách tự nguyện, không chức vụ gì do chính phủ bổ nhiệm và không lãnh lương tiền của chính phủ. Tất cả chỉ phát xuất từ lòng yêu nước, chống Cộng sản, và phụ giúp cho Tổng Thống trong một số công việc.

ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN TỴ NẠN CHÍNH TRỊ Ở TÒA LÃNH SỰ HOA KỲ TẠI HUẾ BỊ ĐẠI SỨ CABOT LODGE GIẢI GIAO CHO "HỘI ĐỒNG QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG”

Trong khi tại Sài Gòn Thích Trí Quang được chính phủ Hoa Kỳ che chở qua việc Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge tại Sài Gòn chứa chấp y và viên thông ngôn của y là Thích Nhật Thiện tỵ nạn chính trị tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ từ đêm 20/8/1963 đến ngày 4/11/1963 thì trở về chùa Xá Lợi, thì tại Huế ông Ngô Đình Cẩn, người em thứ hai của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị ông Cabot Lodge giao trả cho “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng”.

Nội vụ xảy ra như sau: Vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963 sau khi nhận được tin Tổng Thống và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, ông Ngô Đình Cẩn bí mật rời khỏi tư dinh trên đường Nguyễn Trường Tộ thuộc quận Hương Thủy, gần nhà thờ Phủ Cam. Ông xuống trú ẩn tại Dòng Chúa Cứu Thế tại đường Nguyễn Huệ thuộc Quận 3 Thị xã Huế. Nhà dòng đã sắp xếp cho ông một căn phòng nhỏ kín đáo trên lầu 2 để trú ẩn.

Vào sáng ngày 3/11/1963 Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn I, từ Đà Nẵng bay ra Huế liên lạc với Đại Úy Nguyễn Văn Minh và nhờ Đại Úy Minh nhắn với ông Ngô Đình Cẩn rằng: Thế nào cũng lục soát tư thất tại Phủ Cam. Có tài sản thì giao cho Thiếu Tướng giữ sau này tình hình yên ổn sẽ trả lại. Đừng lo lắng gì cả. Thiếu Tướng sẽ bảo đảm sinh mạng cho.

Biết được ông Ngô Đình Cẩn đang ẩn trốn tại Dòng Chúa Cứu Thế, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Helble tại Huế liền đề nghị ông Cẩn vào tỵ nạn tại Tòa Lãnh Sự Mỹ cho an toàn. Ông Ngô Đình Cẩn đã được ông Helble Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế chấp nhận cho vào trốn tại Tòa Lãnh Sự Huế với tư cách là tỵ nạn chính trị. Ông Cẩn xin cho mẹ đi theo nhưng Tòa Tổng Lãnh Sự từ chối. Trong khi đó thì Cabot Lodge lại buộc Tòa Lãnh Sự tại Huế phải báo cáo rằng đã có hằng ngàn đồng bào bao vây tư gia của ông Cẩn tại Làng Phủ Cam và phải phao vu ông Cẩn có chứa vũ khí và tài liệu Việt cộng trong nhà ông ta. Thật ra chẳng có gì cả mà là chuyện bịa đặt của ông Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge mà thôi. Tuy nhiên nhận được tin trên, Ngoại Trưởng Dean Rusk gởi một công điện với nội dung: "Nếu ông Cẩn yêu cầu được trú ẩn, trong tình trạng sinh mạng bị nguy hiểm, tiếp xúc với Tướng Trí, yêu cầu bảo vệ thích nghi và đưa ông ta đi”.

Ngày 5 tháng 11 năm 1963 ông Ngô Đình Cẩn rời Dòng Chúa Cứu Thế đến Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Đống Đa thuộc Quận 3 Thị xã Huế. Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Helble nói với ông Cẩn rằng ông sẽ được đi tỵ nạn tại Hồng Kông.

Sau đó ông Ngô Đình Cẩn rời Huế vào Sài Gòn bằng phi cơ của Hoa Kỳ cùng với những người đi theo như sau: Phó Lãnh Sự Hoa Kỳ ông Mullen, 1 Trung Tá và 2 nhân viên an ninh Mỹ. Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhất thay vì đổi chuyển máy bay, bay đi Hồng Kông như đã hứa thì phái đoàn Mỹ lại giao ông Cẩn cho “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” tống giam ông ta vào Khám Chí Hòa chờ ngày mở phiên tòa. Như vậy, chính Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế đã âm mưu bán đứng ông Ngô Đình Cẩn giao cho “Hội Đồng Tướng Lãnh VNCH".

HOA KỲ, NHÓM TƯỚNG PHẢN LOẠN, THÍCH TRÍ QUANG - BA THẾ LỰC XỬ TỬ HÌNH ÔNG NGÔ ĐÌNH CẦN

1)- Thế lực thứ 1
Đó là Hoa Kỳ mà đại diện là Đại sứ Cabot Lodge nghĩ rằng ông Ngô Đình Cẩn có khả năng tổ chức một cuộc phản đảo chánh. Vì vậy nếu chấp nhận để cho ông Ngô Đình Cẩn rời khỏi Việt Nam đi tỵ nạn chính trị tại một quốc gia nào đó sẽ là một hành động “Thả cọp về rừng”.

2)- Thế lực thứ 2
Đó là nhóm Tướng Phản Loạn mà hầu như tất cả họ đều sợ một cuộc phản đảo chánh. Vì thế họ dứt khoát “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Nên khi Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge trao kẻ tỵ nạn chính trị của tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế cho nhóm Tướng Phản Loạn, thì Loạn Tướng Trần Văn Đôn chẳng cần úp mở mà tuyên bố thẳng thừng rằng: “Ông Ngô Đình Cẩn phải bị giam và bị xét xử”.

Đám tướng phản loạn vẫn tưởng rằng ông Ngô Đình Cẩn hiện đang giữ một gia tài ít nhất vài trăm triệu Mỹ kim, nên ngay từ giờ đầu khi ông Ngô Đình Cẩn trốn trong Dòng Chúa Cứu Thế tại đường Nguyễn Huệ, thuộc Quận III Thị xã Huế, thì chính Loạn Tướng Đỗ Cao Trí đã nhắn gởi với ông Cẩn rằng ông Trí sẽ bảo vệ cho ông Cẩn và có tiền bạc tài sản bao nhiêu thì giao cho ông ta giữ cho không sao cả. Sau nầy tình hình yên ổn ông sẽ trả lại. Trong những lần hỏi cung ông Ngô Đình Cẩn tại khám Chí Hòa, thẩm vấn viên theo lệnh các loạn tướng đều tra hỏi rất kỹ về tiền bạc và tài sản mà ông Ngô Đình Cẩn cất giữ. Ông Ngô Đình Cẩn đã khai với thẩm vấn viên rất rõ ràng: “Gia tài chỉ có ngôi nhà từ đường tại làng Phủ Cam do cha mẹ để lại cho mấy anh em của ông, và ngoài ra có ngôi nhà tranh nhỏ ở cửa Thuận An mà thôi”.

3)- Thế lực thứ 3
Đó là thế lực của tên Việt cộng Thích Trí Quang thuộc cơ quan tình báo chiến lược Cộng sản Hà Nội và nhóm Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Tên Việt cộng đại ma đầu Thích Trí Quang nằm vùng trong Phật giáo nầy đã dùng thế lực của Phật giáo Ấn Quang và quần chúng Phật tử đặt điều kiện với đám loạn tướng, chẳng hạn với Nguyễn Khánh rằng: Nếu muốn được sự hỗ trợ của y tức là của Phật giáo thì phải thẳng tay với Ngô Đình Cẩn, với "đám Cần Lao", và với "tổ chức mật vụ Nhu Diệm" tức là Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung Dương Văn Hiếu, Tổ chức Mật Vụ Trần Kim Tuyến, Phan Quang Đông, và Lê Văn Dư.

Do sợ hãi thế lực của Trí Quang có thể làm lung lay đến địa vị, mất chức và mất quyền lợi cá nhân, đám loạn tướng đầu lãnh như Khánh, Đôn, và Minh đã phải cúi đầu vâng lệnh của Trí Quang. Thế nhưng họ đâu biết rằng những đòi hỏi của Trí Quang chính là những nhu cầu và chỉ thị của Tổng Cục Tình Báo Bắc Việt (Hà Nội). Thích Trí Quang có nhiệm vụ phải thi hành nhằm mục đích đánh sập và vô hiệu hóa các cơ quan tình báo bậc nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Thời gian ông Ngô Đình Cẩn bị giam giữ tại Khám Chí Hòa, Tướng Nguyễn Khánh nói rằng ông ta bị áp lực nên ra lệnh ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu phải nghiên cứu cách nào để có thể xét xử và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn và những người chỉ huy cùng những nhân viên của các tổ chức tình báo Việt Nam Cộng Hoa như: Ông Phan Quang Đông, Bác sĩ Trần Kim Tuyến, và Trưởng Ty Công An Thừa Thiên Huế Lê Văn Dư.

Ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu thấy nếu áp dụng bộ Hoàng Việt Hình Luật thì không thể tuyên án tử hình những tội danh vu vơ như chịu trách nhiệm vì thuộc cấp bắt người trái phép, hay đả thương v.v… được. Bởi bằng mọi cách phải tử hình ông Ngô Đình Cẩn cho danh chánh ngôn thuận và hợp pháp, nên Tướng Khánh chỉ còn một lựa chọn duy nhất là chỉ thị ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu lập ra một bộ luật mới, gọi là Sắc Luật số 4/64 ban hành ngày 28/2/1964. Sắc Luật số 4/64 này thiết lập Tòa Án Cách mạng để quy một số hành động của các nhân vật cộng tác đắc lực cho chế độ Tổng Thống Diệm vào các tội cố sát, lũng đoạn kinh tế quốc gia v.v… và Sắc luật này còn được quy định có hiệu lực hồi tố. Trên căn bản thì hình luật chỉ áp dụng cho những hành vi trọng tội xảy ra sau ngày ban hành luật đó mà thôi, vì vậy việc hồi tố là không đúng và hoàn toàn sai nguyên tắc. Vào ngày 24/4/1964 ông Ngô Đình Cẩn đã bị tòa án tuyên xử tử hình một cách vô luật pháp.

Để đạt mục đích giết người một cách hợp pháp, việc đầu tiên của Tướng Khánh là đưa một tay đàn em làm Bộ Trưởng Tư Pháp nhằm dễ bề sai khiến. Bộ Trưởng Tư Pháp trong chính phủ của Tướng Khánh là Đại Tá Nguyễn Văn Mầu, nguyên Giám Đốc Nha Quân Pháp. Theo Thẩm Phán Nguyễn Cần (tức Lữ Giang), tại Việt Nam, Bộ Trưởng Tư Pháp được chọn trong các Thẩm Phán cao cấp hay các luật sư lão thành vì lý do: Thứ nhất, người giữ chức vụ nầy phải được mọi người kính nể, nhất là giới luật gia. Thứ hai, người đó phải am tường luật pháp và ngành tư pháp.

Đằng này Đại Tá Nguyễn Văn Mầu chỉ chuyên về quân pháp nên không nắm vững tình trạng luật pháp rất phức tạp của luật pháp Việt Nam. Tướng Khánh chọn Đại Tá Nguyễn Văn Mầu, như trên đã nói, không ngoài mục đích chỉ để sai khiến ông này thi hành lệnh của Tướng Khánh mà thôi.

Ông Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Mầu đã cử một số luật gia soạn thảo và đưa ra dự thảo luật về một số tội phạm mà theo họ ông Ngô Đình Cẩn và "dư đảng Cần Lao" đã vi phạm và ấn định những tội nầy vào tội bị tử hình. Đây là việc làm hoàn toàn trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật, tức hình luật không áp dụng cho những trường hợp xảy ra trước ngày luật ban hành. Mọi quốc gia trên thế giới và ngay cả Hoàng Việt Hình Luật cũng đã công nhận và áp dụng nguyên tắc căn bản của hình luật nầy, và nguyên tắc nầy cũng đã được ghi vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.

Điều 11, đoạn 2, của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ghi rằng: “Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành, mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian Phạm Pháp.”

Điều 15 của Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị quy định: “Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay quốc tế áp dụng trong thời gian khi tội phạm xảy ra. Cũng không thể bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian sự phạm pháp xảy ra. Tuy nhiên, người vi phạm được hưởng sự khoan hồng hơn nếu luật mới ban hành sau ngày phạm pháp ấn định hình phạt nhẹ hơn.”

Như đã biết, dự thảo Sắc Luật số 4/64 thiết lập Tòa Án Cách mạng nhằm mục đích xử tử hình ông Ngô Đình Cẩn, ông Phan Quang Đông, và Thiếu Tá Đặng Sĩ. Cho nên mặc dù dự thảo Sắc Luật số 4/64 có rất nhiều tranh cãi, Tướng Nguyễn Khánh vẫn bất chấp những sai trái và những nguyên tắc căn bản của hình luật. Ngày 28/2/1964 Tướng Khánh đã ký ban hành Sắc Luật 4/64.

17/4/1964 tại Sài Gòn, ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn, 53 tuổi, bị bệnh rất nặng, đang được đưa ra phiên tòa.

24/4/1964 tại Sài Gòn, ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn bị tòa án tại Sài Gòn tuyên xử tử hình.

Xin hãy xét qua một số điều luật trong Sắc Luật 4/64: 

Điều 1 quy định: “Nay thiết lập một Tòa Án Cách mạng có thẩm quyền xét xử trên toàn quốc những tội ác gây ra trong thời gian từ 26 tháng Mười năm 1955 đến 1 tháng Mười Một năm 1963 bởi những bọn mật vụ, đại kinh tài, viên chức chính quyền cao cấp cùng nhân vật quan trọng dưới thời Ngô Đình Diệm.”

Điều 2 quy định: “Tòa Án Cách mạng sẽ mở phiên xử đầu tiên trong tháng 3 năm 1964 và hoạt động trong thời gian 3 tháng.”

Điều 3 quy định: 12 tội sẽ bị truy tố trước tòa án Cách mạng:

1)- Gian nhân hiệp đảng.
2)- Cố sát với trường hợp gia trọng.
3)- Giết người bằng thuốc độc.
4)- Tra tấn và phạm trọng tội.
5)- Cố ý đã thương với mọi trường hợp gia trọng.
6)- Hiếp dâm với mọi trường hợp gia trọng.
7)- Bắt giam trái phép.
8)- Cướp với trường hợp gia trọng.
9)- Sách thủ tiền tài.
10)- Đốt hủy sổ bộ, chứng thư, chứng khoán, thương phiếu.
11)- Hối lộ và hối mại quyền thế.
12)- Lũng đoạn kinh tế quốc gia.

Điều 4 định nghĩa lại các yếu tố phạm tội, phần lớn khác với định nghĩa của các điều luật đã áp dụng trước đó.

1)- Gian dâm hiệp đảng: Những tổ chức khủng bố bí mật hay công khai.

2)- Đầu độc giết người: Tội bắt giam người trong hầm có hơi độc, hay có chất độc, hay thiếu không khí, để gây thiệt mạng.

3)- Mưu sát: Tội giết người về đối lập về chính trị, việc tra tấn cho đến chết.

4)- Bắt giam trái phép: Việc lưu đày một người mà không có án tòa và ngoại trừ trường hợp dự liệu bởi Dụ 6 ngày 11/1/1956.

5)- Cướp: Các việc tịch thu bất hợp pháp.

6)- Lũng đoạn kinh tế quốc gia: Việc mang đi hay cho mang ra khỏi xứ, bất cứ bằng cách nào, các giá khoán động sản, giấy bạc Việt Nam, vàng, bạc, ngoại tệ, trái khoán và bằng khoán. Tổ chức kinh tài bất hợp pháp.

Điều 5: Cấm Tòa Án Cách mạng không được quyền giảm khinh, cũng như không có quyền phạt án treo.

Điều 15: Quy định rằng Tòa Án Cách mạng tuyên án liền sau phiên họp nghị án, không đình hoãn. Những án khuyết tịch coi như đương tịch.

Điều 16: Cấm các bị cáo không được kháng cáo hoặc thương tố.

Những quy định ở các điều khoản trên hoàn toàn trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật và, như vậy, cho ta thấy rõ một sự thật thâm độc của Tướng Nguyễn Khánh, Cabot Lodge, và tên Việt cộng Thích Trí Quang trong quyết tâm phải giết cho bằng được ông Ngô Đình Cẩn và một số người liên liên hệ, và giới chức của Đệ I Việt Nam Cộng Hòa.

Tướng Nguyễn Khánh sau ngày 28/2/1964 cũng đã ký một Sắc Lệnh Số 120-PT để cử các tay chân bộ hạ của ông ta vào thành phần ngồi xử án để thi hành các chỉ thị và quyết dịnh của ông ta. Đó là:

Chánh Thẩm:
Ông Lê Văn Thu.

Phụ Thẩm gồm có:
Đại Tá Trần Văn Chương
Đại Tá Nguyễn Văn Chuân
Đại Tá Đặng Văn Quang
Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa

Phụ Thẩm nhân dân gồm có:
Nguyễn Văn Phước
Nguyễn Văn Yến
Nguyễn Văn Sửu
Bùi Văn Nhu

Chưởng Lý:
Nguyễn Văn Đức

Lục Sự:
Nguyễn Văn Tâm

Luật Sư bào chữa cho ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn là Luật Sư Võ Văn Quan.

9/5/1964 tại Sài Gòn, Luật Sư Võ Văn Quan thăm ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn và Linh Mục đang làm lễ trước giờ bị xử tử.

Chiều ngày 9/5/1964 trong tình trạng đang mang bệnh trầm trọng, tiểu đường và cao máu, không ngồi dậy được, ông Ngô Đình Cẩn được để nằm trên băng ca với 6 người khiêng từ phòng giam của khám Chí Hòa ra một bãi đất trống trong khuôn viên của khám giam. Một Linh Mục đến bên ông Ngô Đình Cẩn làm phép xức dầu, sau đó ông bị trói vào cây cột. Khi được hỏi nguyện vọng cuối cùng của ông, ông yêu cầu đừng bịt mắt khi bắn ông nhưng yêu cầu không được chấp thuận.

Lời nói cuối cùng của ông Ngô Đình Cẩn mà giám thị trại giam, và một số người quanh vụ xử bắn nghe được: "Xin Chúa tha thứ cho kẻ giết mình”, rồi ông bị bắn bởi một tiểu đội hành quyết.

Có lẽ ông Ngô Đình Cẩn đã tha thứ cho tiểu đội hành quyết và tha thứ cho thủ phạm chính là Nguyễn Khánh, Cabot Lodge, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Mầu và nguyên một băng đảng sư phản loạn như Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu, Thích Tâm Châu, Thích Hộ Giác, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Chánh Lạc, Thích Giác Đức,... đã bịa ra những "tội ác mật vụ Nhu Diệm đàn áp Phật giáo" cho ông. Nhưng lịch sử không thể tha thứ cho những tên đao phủ thủ vô lương tri vô đạo đức này và một thủ phạm nữa là Cộng sản Hà Nội. Đây là thủ phạm điều khiển giựt dây cho Phong Trào Phật giáo Tranh Đấu qua Thích Trí Quang, giết cho sạch dòng họ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và phá cho tan tành đất nước.

Đã năm mươi lăm năm đã trôi qua, người mất thì đã mất, nhưng nỗi oan khiên vẫn còn đó. Xin một nén hương cúi đầu trước vong linh người ái quốc Ngô Đình Cẩn đã Vị Quốc Vong Thân.

Nguyễn Phúc Liên Thành
Nam Cali, USA, ngày 14/11/2019


Monday, February 12, 2018

Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp chết vẫn nói dối
 BS Trần Văn Tích/Sourcenhayduwdc

Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường. (Hình: báo điện tử Dân Việt)

Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan vốn bà con gần với tôi vì chúng tôi cùng có chung một ông cố, đó là Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng. Năm 1882, khi Henri Rivière đánh thành Hà Nội thì Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết còn Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng thì tuyệt thực. Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng là cố nội của Hoàng Phủ Ngọc Tường-Hoàng Phủ Ngọc Phan còn tôi thì gọi Ông là cố ngoại. Thân phụ cặp bài trùng Việt cộng ác ôn vì là con quan lớn nên được tập ấm, tôi gọi là cậu Ấm Hoàng Hữu Dực. Thời Pháp thuộc, cậu Ấm Dực làm xếp ga An cựu, Huế.
Bài viết hôm nay tập trung vào một chi tiết duy nhất gạn lọc ra từ đoạn văn sau đây, mới được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới vào ngày đầu tháng hai này. Trích“Để chứng tỏ mình là người trong cuộc, tôi đã dùng ngôi thứ nhất- ‘tôi’, ‘chúng tôi’ khi kể một vài chuyện ở Huế mậu thân 68. Đó là những chuyện anh em tham gia chiến dịch kể lại cho tôi, tôi đã vơ vào làm như là chuyện do tôi chứng kiến. Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viện nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: ‘Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu... Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra’. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.” Hết trích. (Tôi tôn trọng cách trình bày về hình thức của tài liệu, nhất là những dòng chữ tô đậm trong nguyên văn.)
Theo các chi tiết phổ biến trên internet thì Hoàng Phủ Ngọc Tường, 81 tuổi, hiện lâm bệnh nặng, đã đọc cho con gái chép lại lời y thành bài viết xuất hiện dưới đầu đề “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn”. Như đã báo trước, cá nhân tôi không đếm xỉa đến những lời thanh minh trần tình của tên Việt cộng sắp chết mà chỉ chú trọng vào lời kể của y, theo đó ở Đông Ba có một bệnh viện nhỏ bị máy bay Mỹ thả bom giết chết hai trăm người. Người viết đặt tiền đề như vậy làm giả thuyết – nghĩa là nêu vấn đề ra theo tinh thần khoa học để giải thích một hiện tượng ngoài đời hay trong tự nhiên nào đó (trong trường hợp này là vụ gọi là Mỹ thả bom giết hai trăm người ở một bệnh viện toạ lạc tại Đông Ba, Huế) – và tạm chấp nhận sự kiện liên hệ tuy chưa thể kiểm nghiệm, chứng minh hầu căn cứ vào đó mà phân tích, suy luận.
***
Những ai ở Huế lâu ngày đều biết đến các cơ sở điều trị quân dân y: Bệnh viện Trung ương Huế trên đường Lê Lợi cạnh dòng Hương giang, Quân y viện Nguyễn Tri Phương trong Mang Cá, nhà Hộ sinh ở Tây Lộc. Các khu vực Đông Ba, Gia Hội là những vùng buôn bán sầm uất, có nhiều phố xá nhộn nhịp, có nhiều nhà cửa dân chúng đông đúc. Không có khoảnh đất trống nào đủ rộng lớn để xây một bệnh xá hay bệnh viện nhỏ. Nếu Mỹ thả bom trúng bệnh viện mà chết ngay một lúc đến hai trăm người thì cơ sở khám bệnh và nhận người ốm đau nằm điều trị phải được trang bị ít nhất cũng năm mươi giường bệnh. Thế nhưng không người dân Huế nào biết đến hay nhận được công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định về y khoa phòng ngừa, y khoa chẩn đoán, y khoa điều trị dành cho số đông, có tổ chức thành nề nếp và có tiếng vang trong vùng; chỉ có bọn Vẹm từ trên rừng về là sưng sưng bảo rằng có một cơ sở y khoa như vậy! Vạn nhất nếu bom “đế quốc” vô tình đánh sập bệnh viện, giết một loạt hai trăm người thì đám truyền thông cộng sản hay thân cộng tại sao đều câm như hến và mù tịt cả lũ ? Chúng luôn luôn theo dõi rất kỹ các tội ác do “đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân thế giới” gây ra cơ mà, đời nào chúng chịu ngậm câm nhắm mắt trước một vụ thảm sát lớn lao như vậy? Chúng chả rêu rao ầm ỹ vụ được chúng tuyên truyền là “giặc lái Mỹ” ném bom xuống khu Khâm Thiên, Hà Nội gây tổn hại cho bệnh viện cận kề là gì? Chúng thổi phồng vụ chuồng cọp ở các trại giam Việt cộng tại Côn Đảo, Phú Quốc một cách vô liêm sỉ. Chúng láo khoét bảo phe quốc gia đã đầu độc hàng loạt tù hàng binh; sau ngày 30-04, lại cũng chính chúng trơ tráo sượng sùng công nhận là không hề có chuyện đó. Cái lối mô tả Mỹ ném bom giết hai trăm người ở Bệnh viện Đông Ba cũng cùng bài bản với lời tố cáo của nhà sư Thích Nhất Hạnh theo đó Mỹ thả bom giết ba trăm ngàn dân Bến Tre trong khi thực ra dân số toàn tỉnh Bến Tre chỉ có chưa đến một trăm ngàn người. Vả lại miệng lưỡi điêu ngoa của Việt cộng chuyên môn đưa ra những con số nạn nhân phóng đại một cách nham hiểm và tròn trịa một cách ngu ngốc. Lê Duẩn đã từng tuyên bố là “Mỹ Diệm” lê máy chém đi khắp nơi chặt đầu năm trăm đảng viên cộng sản. Toàn là những con số tròn trặn tròn vo. Năm trăm của Lê Duẩn, hai trăm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ba trăm ngàn của Thích Nhất Hạnh!
Tuy nhiên Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ biết ăn gian nói dối mà ăn gian nói dối một cách ngu xuẩn, u mê. Thoạt tiên cặp bài trùng đội lốt quỷ sứ họ Hoàng Phủ trút tội lên đầu Mỹ, chúng bù lu bù loa bảo pháo và bom của Mỹ giết đồng bào Huế nhưng đến khi đồng bào Huế và chứng nhân nước ngoài quan sát thấy các thi hài khai quật từ những hố chôn tập thể chỉ mang những vết thương bằng vũ khí đạn dược của bộ binh, thậm chí bị đánh vỡ sọ gãy tay, bị trói cánh khủy nằm chồng lên nhau, chứ không hề có mảnh bom hay viên đạn nào của Mỹ trong thi thể thì chúng thấy mình bị hố nặng. Thế nhưng biết bị hố thì trễ quá rồi, mặt nạ Satan Mephisto đã hiện nguyên hình quá rõ. Ăn gian mà ngu, nói dối mà đần, phải chăng vì vậy mà cả Hoàng Phủ Ngọc Tường lẫn Hoàng Phủ Ngọc Phan đều coi như hoàn toàn thất sủng sau ngày 30-04 mặc dầu cả hai tên đều đã mang trên hình hài một thành án, một thiết án muôn đời không cởi bỏ được.
***
Mỗi con người đều là một thành viên của lịch sử. Quyết đoán về một nhân vật lịch sử là việc không phải dễ và càng lên tiếng mạnh mẽ càng hay rơi vào sai lầm. Mục đích nên nhằm khi nhìn lại quá khứ lịch sử là tìm hiểu một cách tương đối vô tư để nhận định cho chính xác, may ra sẽ rút được phần nào kinh nghiệm cho cuộc sống vốn rất dễ bị xáo trộn khuấy động do những sự bồng bột nhất thời có thể che khuất lương tri. Dẫu sao đi nữa thì với kẻ thành tâm tìm hiểu việc nước, thái độ bình tĩnh nhận xét, tinh thần phân tích khoa học là những điều kiện thuận lợi để tới gần sự thật.
Trước khi chết, Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn gột rửa phần nào tội ác tày trời đối với đồng bào nhất là đồng bào Huế. Huế là nơi y chào đời, lớn lên, ăn học và giảng dạy. Cộng sản mà đứng trước ngưỡng cửa tử sinh thì cũng phải thấy là việc trọng đại. Biện pháp duy nhất để chạy tội chỉ có thể là đổ tội cho tha nhân, và dễ dàng hơn nữa, cho ngoại nhân. Bom Mỹ đã giết hai trăm đồng bào vô tội ở Đông Ba, Hoàng Phủ Ngọc Tường quả quyết một cách rất đần độn như vậy. Nhưng dữ kiện này, vẫn theo chính mồm miệng điêu ngoa của y, vốn xuất phát từ một tên Việt cộng khác; y chỉ nhập nhằng, lưu manh quơ vào cho mình. Làm sao y dám nhận xằng như vậy một khi chẳng có bằng chứng cụ thể, khách quan nào hết cả?
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gian mà lại ngu. Sống thì gian và ngu, gần chết lại càng gian và ngu hơn.
11-02-2018

Trần Văn Tích

--------
.
DIỄN TIẾN CUỘC THẢM SÁT Ở GIAI ĐOẠN II TẠI HUẾ VÀO MẬU THÂN 1968
Liên Thành
Diễn tiến cuộc thảm sát đồng bào Huế ở Giai Đoạn II này được chia làm ba khoảng thời gian:
- Phối trí lực lượng
Đại lực lượng an ninh của cộng quân thi hành cuộc tắm máu đồng bào vô tội Huế gồm:
1. An Ninh Khu ủy Trị-Thiên do Tống Hoàng Nguyên chỉ huy. 2. Lực lượng của Công An Trị-Thiên-Huế do Đại tá VC Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh chỉ huy.
3. Lực lượng An ninh và Bảo vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy.
Ước lượng quân số khoảng trên hai ngàn người của Quân Khu Trị-Thiên tung vào cuộc hành quân để lùng diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh “ngụy”, Công An Cảnh Sát “ngụy”, các thành phần làm tay sai cho tình báo CIA.
Trong hai ngàn người trên, lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân có khoảng từ 700 đến gần một ngàn người. Đây là một lực luợng nguy hiểm nhất đối với dân chúng Huế và cũng sắt máu tàn bạo như lực lượng Công An Khu ủy Trị-Thiên của Tống Hoàng Nguyên, và Công An Thừa Thiên-Huế của Nguyễn Đình Bảy. Tại sao lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu phố của Nguyễn Đắc Xuân lại nguy hiểm nhất? Vì bọn chúng là đám cơ sở nằm vùng đã bám rễ lâu đời trong thành phố Huế, dưới dạng là những tên thầy bói như tên thầy bói Diệu Linh, những tên làm việc lao động như tên thợ nề Nguyễn Bé, đặc biệt là những tên núp lén kín đáo dưới dạng các Phật tử, các khuôn hội gia đình Phật tử như các tên: Lê Hữu Tý, tên Nguyễn Xin chủ nhà máy cưa, tên Nguyễn Hải chủ khách sạn Hương Bình, chủ tiệm thuốc Bắc Thiên Tường. Và quan trọng nhất là đám phản loạn Học Sinh Sinh Viên Phật tử, lực lượng trực thuộc của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu đã tích cực tham gia cuộc phản loạn vào năm 1966. Sau khi thất bại bọn chúng đuợc Khu ủy, Thành ủy, Thị ủy Việt Cộng đưa lên mật khu để bảo toàn lực lượng nay trở về lại thành phố tha hồ chém giết dân lành trả mối hận xưa.
Kế hoạch của cuộc bạo lực cách mạng hay bạo lực đỏ được cộng quân phân chia làm 3 giai đoạn:
1. Gọi trình diện đợt 1.
Đại lực lượng sát thủ này được chia thành nhiều toán nhỏ, rải đều mọi khu gia cư thuộc 3 quận trong thành phố Huế đó là Quận I, Quận II, và Quận III.
Mỗi toán nhỏ của bọn chúng đi lục soát từng nhà một, từng gia đình một, kêu gọi tàn binh “Ngụy” quân, “Ngụy” quyền, Cảnh Sát Công An “Ngụy” ra trình diện và giao nạp vũ khí để được khoan hồng. Ngoài ra trong khi lục soát các tư gia bọn chúng cũng tìm bắt những người đã có trong sổ đen của bọn chúng. Một số trong những người này bị bọn chúng đem ra bắn tại chỗ trước sự đau đớn tột cùng của vợ con thân nhân nạn nhân, như trường hợp của Thiếu tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh Thừa Thiên.
Trường hợp của ông Trần Ngọc Lộ ở tại Cồn Hến, Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn còn có hành động dã man và tàn bạo không còn tính người. Nguyễn Đắc Xuân không những xử bắn chồng là ông Trần Ngọc Lộ trước mặt vợ và 4 con dại của ông ta, đứa lớn nhất không quá 6 tuổi, đứa nhỏ nhất không quá 4 tháng tuổi, mà ngay khi ông Lộ gục ngã dưới những loạt đạn AK của Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn, thì Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn lập tức quay súng nổ súng xối xả vào bà vợ ông Lộ. Thi thể bà Lộ bị bắn nát như chồng, để lại những đứa trẻ thơ dại, bé nhất chỉ 4 tháng tuổi, lớn nhất chưa quá 6 tuổi. Vợ chồng ông Trần Ngọc Lộ đã bị Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn sát hại chỉ vì nghi họ là đảng viên đảng Đại Việt Cách Mạng.
Còn bốn cháu bé, đứa lớn nhất chưa quá 6 tuổi các cháu cuộc đời lớn lên bơ vơ không cha không mẹ, ai người bảo bọc dạy dỗ chăm sóc? Nguyễn Đắc Xuân mi lớn lên trên mảnh đất xứ Huế của VNCH, mi có cha có mẹ đầy đủ, những người quốc gia có ai giết cả cha lẫn mẹ mi đâu Xuân? Cớ sao mi nỡ giết đi cả cha lẫn mẹ của những trẻ thơ kia hả Xuân?
Mi có còn là người nữa không Nguyễn Đắc Xuân?
Câu chuyện thương tâm này dân cư trong vùng Cồn Hến ai cũng biết và ngậm ngùi xót thương cho 4 em bé bất hạnh con ông bà Trần Ngọc Lộ. Đã bốn mươi hai năm trôi qua rồi nhưng cứ mỗi độ Tết đến Xuân về thì những nhân chứng vụ thảm sát gia đình ông Trần Ngọc Lộ tại Cồn Hến vẫn còn nhắc đến câu chuyện bi thảm này. Vụ thảm sát này là một chứng minh cụ thể cho lịch sử thấy bản chất những kẻ chạy theo cộng sản, những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, chúng đã xây dựng thiên đường cộng sản bằng cách như thế này đây.
Thảm kịch này cũng là một sự nguyền rủa đến những kẻ đến nay đã hơn 35 năm rồi, chúng ác như thế đó thế mà có kẻ vẫn còn bênh vực, đi đêm, trở cờ nối giáo cho bọn cộng sản.
“Bốn đứa trẻ thơ con ông bà Trần Ngọc Lộ bây giờ ra sao?”
Câu hỏi đó đến nay vẫn còn đeo đuổi trong lòng tôi và trong lòng những người dân Cồn Hến.
Nguyễn Đắc Xuân quả thực là con quỷ khát máu xứ Huế.
Điều nghịch lý là kẻ sát nhân Nguyễn Đắc Xuân vẫn còn sống nhởn nhơ tại thành phố Huế mà lại còn tự phong cho mình là “Nhà Huế Học”. Nên chăng phải gọi tên tội đồ của dân Huế Nguyễn Đắc Xuân là “Nhà Tắm Máu Mậu Thân Học”, “Nhà Đồ Tể Học”?
Một thời gian nữa chúng tôi hoàn tất thủ tục tố tụng trước tòa án quốc tế truy tố Nguyễn Đắc Xuân về Tội Ác Chiến Tranh, xin cho tôi gởi lời nhắn đến bốn người con của Ông Bà Trần Ngọc Lộ: Ở phương trời nào, nếu có dịp đọc được những dòng chữ này, xin hãy liên lạc với tôi: Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng cộng sản Việt Nam để bổ túc thêm hồ sơ truy tố tên tội phạm Nguyễn Đắc Xuân, kẻ đã hạ sát cha mẹ các em.
Trở lại trường hợp đợt gọi trình diện lần thứ nhất:
Tất cả Ngụy Quân, Ngụy Quyền, tàn binh, Cảnh Sát Công An 'Ngụy ác ôn', nhân viên tình báo CIA đến trình diện Chính Quyền Cách Mạng đều được Chính Quyền Cách Mạng đặc biệt khoan hồng. Mỗi người đều được chính quyền cách mạng cấp cho một giấy chứng nhận có giá trị như giấy thông hành hay căn cước, có quyền đi lại tự do trong vùng không bị lực lượng an ninh của chính quyền cách mạng làm khó dễ gì cả. Cũng cần nói thêm rằng, trong thời gian này còn có hai loại giấy tờ có giá trị đi lại không bị bọn chúng làm khó dễ đó là:
1. Thẻ Sinh Viên Đại Học Huế.
2. Giấy chứng nhận do Ôn Đôn Hậu ấn ký.
Màn kịch trình diện khoan hồng được sắp xếp như sau: Đầu tiên bọn chúng kêu gọi những Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia bị kẹt trong vùng bọn chúng kiểm soát ra trình diện giao nạp vũ khí. Những người cả tin này được bọn chúng cấp cho mỗi người một giấy chứng nhận đã trình diện và được tự do đi lại. Những người ra trình diện với cách mạng này được tự do ra về với gia đình, tin rằng đây là chính sách khoan hồng của “cách mạng” cũng giống như chính sách Chiêu Hồi của VNCH.
Thật ra là chiếc lưới rộng đang được giăng để hốt trọn ổ đàn cá.
2. Gọi trình diện đợt 2.
Lời kêu gọi tàn binh, Ngụy Quân, Ngụy Quyền, Cảnh Sát Công An Ngụy, nhân viên tình báo CIA trình diện và giao nạp vũ khí cho chính quyền Cách Mạng của Cộng Quân vẫn tiếp tục.
Một số lớn anh em quân nhân, Cảnh Sát Quốc Gia, Công Chức, cán bộ chính quyền VNCH còn trốn tránh chưa ra trình diện ở đợt I thấy những người ra trình diện đợt I được bình yên trở về nhà, không những thế mà lại còn được “Ủy Ban An Ninh chính quyền cách mạng” cấp giấy thông hành cho tự do đi lại, cho nên khi nghe cộng quân kêu gọi trình diện đợt II giao nộp vũ khí để được cách mạng khoan hồng tiếp, một số người còn chưa tin cộng sản ở đợt I và đang lẩn trốn liền ra trình diện. Rồi cũng như những người đã trình diện đợt I, họ được cấp giấy và cho về.
3. Gọi trình diện đợt 3.
Những người cẩn thận còn nghi ngờ chưa ra trình diện hai đợt trước nay nghe lời kêu gọi đợi III này thì tất cả lũ lượt ra trình diện giao nộp vũ khí, và rồi họ cũng được cấp giấy thông hành và cho về với gia đình, thầm nghĩ “quả là ‘cách mạng’ thật sự khoan hồng”!
4. Gọi trình diện đợt 4: Ra đi không bao giờ trở lại.
Sau 3 lần tung lưới giả, mẻ lưới thật sự mới là đây: Đợt IV. Chỉ vài ngày sau, cơ quan an ninh của chính quyền Cách Mạng kêu gọi tất cả những ai đã trình diện trong 3 đợt vừa qua, và những ai chưa ra trình diện, hãy ra trình diện tại những địa điểm mà bọn chính quyền Cách Mạng ấn định để học tập.
Ngoài ra bọn chúng sử dụng lực lượng Công An, đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân và một số nằm vùng mở cuộc hành quân lùng xét từng nhà thúc đẩy mọi người trình diện học tập.
Tin tưởng như ba lần trình diện trước, đi rồi lại về có sao đâu (?), mọi người yên tâm kéo nhau đi trình diện cách mạng...
Nhưng rồi... vợ con mong đợi, cha mẹ trông chờ... Đêm qua đêm, ngày qua ngày, tháng qua tháng, sao đi mà không trở lại?
Quả thật, những người thân đi trình diện học tập đã không bao giờ trở lại... vĩnh viễn không trở lại. Tất cả đã đến cõi chết. Thân xác đã bị vùi lấp chồng chất trong những nấm mồ tập thể.
Hãy nhìn các hoạt động tàn sát man rợ của các tên Việt Cộng nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, v.v. thành viên trong hệ thống Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê Văn Hảo và Thích Đôn Hậu thì sẽ có câu trả lời là các ông Đôn Hậu, Lê Văn Hảo, có chịu trách nhiệm vụ Mậu Thân Huế hay không?
Ông Đôn Hậu, Lê Văn Hảo, chủ tịch LMDTDCHB và các thành viên có chịu trách nhiệm vụ tàn sát này không? .
Điều đau lòng nhất không phải chỉ lực lượng cán binh Bắc Việt giết đồng bào Huế, mà còn là người Huế nằm vùng giết người Huế, giết rất dã man, chẳng hạn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, và Nguyễn Đắc Xuân.
Đơn vị Công An của Tống Hoàng Nguyên thuộc Khu ủy Trị-Thiên, đơn vị đặc công của Đại tá Nguyễn Đình Bảy, Đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân đã xử bắn hoặc chôn sống, trói họ từng chùm bằng dây điện thoại, dây kẽm gai, rồi hoặc dùng cuốc xẻng đập vào đầu họ cho ngất xỉu rồi xô sống xuống hố đã được đào sẵn, kết thúc bằng cách vùi lấp thân thể họ, dù còn sống hay đã chết. Các nấm mồ tập thể rải rác cùng khắp tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, con số nhỏ thì vài chục, con số lớn thì vài trăm nhân mạng trong một nấm mồ.
Sau này ty CSQG Thừa Thiên Huế tìm được thân xác họ trong những hầm sâu hố cạn, một số tại các địa điểm trong thành phố, số còn lại tại các hầm chôn tập thể ở các quận Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Nam Hòa. Các bác sĩ pháp y khám nghiệm thấy rằng đại đa số bị chết ngộp vì bị chôn sống vì thân hình không bị trúng đạn, một số khác xương sọ xương đầu bị vật cứng đập vỡ. 5327 nạn nhân này đã chết không như tên Việt Cộng nằm vùng Trịnh Công Sơn đã viết “nằm chết như mơ” mà họ chết trong tư thế nằm nghiêng, nằm ngửa hai tay bị trói bằng dây điện thoại, bằng dây kẽm gai, họ chết trong kinh hoàng trong nỗi sợ hãi tột cùng.
Tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu thuộc Quận II Thành phố Huế: phiên tòa man rợ ở cõi âm ty địa ngục
Song song với những đợt gọi trình diện trong ba quận tại Thị xã Huế, độc nhất tại Quận II (Tả Ngạn) bộ chỉ huy cuộc tổng nổi dậy của cộng quân quyết định mở Tòa Án Nhân Dân.
Trong thời gian Mậu Thân, Hoàng Kim Loan là người được phân công chịu trách nhiệm phát động cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Huế. Xin viết lại đoạn thẩm cung của tôi với tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan, kẻ đã bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972.
Liên Thành: - Có bao nhiêu tòa án Nhân dân đã được thiết lập tại thành phố Huế trong thời gian trên?
Hoàng Kim Loan : - Chỉ độc nhất một Tòa Án Nhân Dân được thành lập tại quân II mà thôi.
Liên Thành: - Tại sao không thành lập tại Quận I và Quận III?
Hoàng Kim Loan: - Tại Quận I và Quận III, lực lượng đoàn Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân phối hợp cùng các toán Công An của Khu ủy và Tỉnh Thị ủy đã thanh toán hầu hết các đối tượng chống đối phản cách mạng các mục tiêu nguy hiểm rồi, nên không cần thiết. Hơn nữa tình hình tác chiến ở hai Quận này rất căng nên không thể thiết lập Tòa Án Nhân Dân.
Liên Thành: - Tại Tòa Án Nhân Dân, ai là người ngồi ghế chánh án?
Hoàng Kim Loan : - Tống Hoàng Nguyên, Hoàng Lanh, và tôi, chúng tôi hội ý nhau. Lúc đầu chúng tôi định đưa Nguyễn Đắc Xuân ngồi ghế chánh án, nhưng sau đó chúng tôi chọn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bởi lẽ vào thời điểm đó Hoàng Phủ Ngọc Tường đang giữ chức Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, kết hợp những lực lượng và cá nhân các nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu-Kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, vậy tòa án Nhân dân giao cho Tổng Thư Ký của lực lượng này đại diện dân chúng Huế ngồi xử án các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ và của đế quốc Mỹ xâm lược là thích hợp nhất.
Liên Thành: - Những ai có mặt và chứng kiến những phiên tòa do Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chánh án xét xử?
Hoàng Kim Loan: 
1. Tôi, Trưởng Ban Tổ Chức Tổng Nổi Dậy tại Huế, Thành ủy Viên. 
2. Tống Hoàng Nguyên Trưởng Ban An Ninh Khu ủy Trị-Thiên. 
3. Hoàng Lan: Thành ủy Viên. 
4. Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II, Nguyễn
Thiết. 5. Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I, Nguyễn Hữu Vấn. 
6. Nguyễn Đắc Xuân Trưởng Đoàn Vũ Trang Thanh Niên, các phụ tá của Nguyễn Đắc Xuân như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Thị Đoan Trinh. 
7. Nguyễn Bé, Chủ tịch Khu phố. 
8. Trần Văn Linh tức thầy bói Diệu Linh, an ninh khu phố.
Ngoài ra còn một số người tham dự nữa mà tôi không nhớ hết.
Liên Thành: - Có bao nhiêu “tội nhân” bị giết, bị chôn sống trong phiên tòa đó?
Hoàng Kim Loan: - Tất cả có trên 200 “thành phần ác ôn” tay sai Thiệu-Kỳ, Mỹ.
Liên Thành: - Anh có nghĩ như vậy là quá dã man và tàn bạo không?
Hoàng Kim Loan: - Hành động đó hơi quá đà, nhưng cần thiết để răn đe quần chúng, bắt buộc họ phải thuần phục chính quyền cách mạng mới thành lập tại Huế.
Lời nói này của Hoàng Kim Loan làm tôi rợn người nhớ lại các phiên tòa cũng gọi là tòa án nhân dân của cuộc cải cách ruộng đất giai đoạn 1955 đến 1956, 1957. Cũng mục đích răn đe quần chúng bắt phải thuần phục chính quyền cách mạng mà khoảng 200 ngàn người dân vô tội Miền Bắc đã bị thảm sát, đạo đức xã hội bị đảo ngược và chà đạp, con đấu tố cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bằng hữu, thầy trò chủ tớ đấu tố lẫn nhau. Qua bao dâu bể, nhưng bản chất này của cộng sản không bao giờ thay đổi. Mậu Thân 1968 chúng diễn lại tòa án nhân dân man rợ tại Quận II Huế. Sau 1975 thì các phiên tòa án nhân dân tại các trụ sở phường, trụ sở quận trên toàn Miền Nam để đấu tố bè lũ Mỹ-Ngụy rồi đưa đi lao cải trong các trại tù cải tạo, hoặc lên vùng kinh tế mới mà tổng số thiệt mạng cũng lên đến khoảng hơn 200 ngàn người, gần bằng con số mà Quân Cán Chính Miền Nam đã bỏ mình trong cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng bảo vệ lý tưởng VNCH.
Sau Mậu Thân, công việc đầu tiên của Bộ Chỉ Huy CSQG Thừa Thiên-Huế là chúng tôi bắt đầu mở cuộc điều tra sâu rộng về tất cả các vụ giết người của bọn chúng. Trưởng ban Cảnh Sát Đặc Biệt Quận II Thị xã Huế, Trung úy Cảnh Sát Nguyễn Trọng, cho mời một số nhân chứng trong vụ tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu để lấy lời khai của của họ hầu bổ túc vào hồ sơ vụ thảm sát tại Bãi Dâu. Tất cả đều tường thuật giống nhau:
Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là người ngồi ghế chánh án để xét tội.
Đại đa số nạn nhân là anh em Quân Đội, Công Chức, Cảnh Sát Quốc Gia trốn tại nhà bị bắt. Những người này Ông Tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường xếp họ vào loại ác ôn. Một số khác là cô nhi quả phụ vợ con của anh em Quân Nhân, Cảnh Sát, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn đã tử trận. Tất cả những người nghèo khổ này đi làm tạp dịch như dọn dẹp phòng ngủ, giặt quần áo cho binh lính Mỹ tại các căn cứ quân sự của Mỹ tại Dạ Lê hay Phú Bài, hoặc tại cơ quan MACV để kiếm sống nuôi con, nuôi cháu. Số người này được ông tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường xếp vào loại làm việc cho tình báo Mỹ, CIA.
Với những tội danh trên, tất cả thành phần trên phải bị nhân dân anh hùng Thừa Thiên-Huế và Chính Quyền Cách Mạng trừng phạt đích đáng, loại trừ như loài rắn độc để làm gương bằng bản án tử hình. Và án lệnh đã được thi hành ngay tức khắc tại hiện trường của phiên tòa mà không cần có kháng án.
Kết quả có 204 nạn nhân bị ông Quan Tòa Hoàng Phủ Ngọc Tường ban lệnh chôn sống hoặc đập chết bằng cách dùng vật cứng đập vào đầu nạn nhân trước khi xô nạn nhân xuống hố mà đã được đào sẵn tại ngay khuôn viên Tòa Án.
Sáng ngày 26 tháng 2 năm 1968 thân nhân những nạn nhân đó đi tìm kiếm mới phát giác mồ chôn tập thể có 204 xác người tại chính ngay khuôn viên trường trung học Gia Hội nơi mà phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân đã mở tại đó trong những ngày trước. Xin nhắc lại, sau này các đài truyền thanh, truyền hình và báo chí quốc tế nhiều lần phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường tất cả đều nêu câu hỏi:
- “Tại sao lại giết người tàn bạo như vậy?”
Thì tên quỷ đội lốt người này hiên ngang xác nhận rằng:
- “Giết bọn chúng thì cũng chẳng khác gì giết những con rắn độc”.
Đã từng rất hãnh diện về hành động giết người hăng say thực hiện cách mạng “đấu tranh giai cấp”, nhưng trong một vài năm gần đây, khi tuổi đời đã cao, có lẽ một góc nhỏ nào đó trong lương tâm cảm thấy có gì không ổn nên Hoàng Phủ Hoàng Tường, và cũng như các đồng bọn của hắn, đã không còn hãnh diện như xưa, mà ngược lại, lại chối bỏ hành động giết người dã man của y tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Biện minh cho chuyện này Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nói:
Tôi không hề nhúng tay vào những vụ tàn sát trên, vì thời gian đó tôi đang nằm trong hầm trú ẩn tại Khe Trái phía tây nam quận Hương Trà.” Khe Trái nằm gần khe Điêng thuộc vùng rừng núi quận Hương Trà, cách thành phố Huế gần cả năm sáu chục cây số đường bộ, nơi đây là vùng tập trung các đại đơn vị của cộng quân trước khi tấn công Huế. Đây là tuyến xuất phát của Cộng quân, cho nên suốt thời gian tấn công và chiếm Huế không còn một đơn vị nào của Cộng quân trú đóng tại vùng này nữa. Như vậy lời chối tội của Hoàng Phủ Ngọc Tường hoàn toàn không hợp lý.
Tôi xin trích một đoạn hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để quý độc giả suy nghĩ, xin trích:
“Những năm kháng chiến ở Trường Sơn, trong mỗi người đều nung nấu một ngọn lửa không gì dập tắt nổi của khát vọng chiến thắng, khát vọng ấy trong từng phút từng giờ được ném tung vào một hoàn cảnh chiến đấu đầy những yếu tố khốc liệt, bất ngờ.
Chuẩn bị vào chiến dịch xuân Mậu Thân, cán bộ các cơ quan đều được điều về phía trước, đi từng đợt cách nhau một hai hôm. Đợt sau cùng ở cơ quan tôi đến lượt Văn và Tứ. Chúng tôi đang làm việc suốt ngày và đêm cố in rô-ne-ô cho xong năm trăm bản tập thơ “Nổi Lửa” mang về Huế theo chiến dịch. Mỗi người đều sẵn sàn gùi và súng ở đầu giường hồi hộp chờ đến lượt mình.
Tôi chưa được gọi nhưng chắc mẩm thế nào cũng sẽ đi...
Sáng sớm hôm sau tôi được lệnh rời cơ quan đến Sở Chỉ Huy Tiền Phương Mặt Trận Cánh Bắc.” (Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 3. Trang 346-347-348)
Xin nhắc lại để độc giả rõ hơn:
Theo chiến thuật điều quân của cộng quân khi tấn cống Huế, bọn chúng chia đại đơn vị ra làm hai cánh, cánh Bắc và cánh Nam, lấy sông Hương làm giới hạn hai cánh.
Cánh Nam là Quận III (Quận Hữu Ngạn). Nỗ lực chính là Trung Đoàn 5 Đặc Công của Đại tá Thân Trọng Một.
Cánh Bắc là Quận I (Quận Thành Nội) và Quận II (Tả Ngạn). Nỗ lực chính là Trung Đoàn 6 của Trung tá Nguyễn Trọng Đấu.
Trong suốt thời gian 26 ngày tấn công và chiếm Huế, Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Trung Đoàn 6 Cánh Bắc (hay sở chỉ huy tiền phương mặt Trận Cánh Bắc) lưu động tại Quận I và Quận II Thị xã Huế.
Những ngày cuối cùng trước khi tháo chạy, bộ chỉ huy Mặt Trận Cánh Bắc của Việt Cộng đóng tại Chùa Áo Vàng Theravada thuộc Quận II (Quận Tả Ngạn) Thị xã Huế đã bị 2 Tiểu Đoàn 21 và 39 Biệt Động Quân, Quân Lực VNCH vây đánh tan tành, xóa tên Bộ Chỉ Huy Hành Quân Trung Đoàn 6 của Cộng Quân.
Tóm lại, bộ chỉ huy Mặt Trận Cánh Bắc lưu động tại Quận I và Quận II Thị xã Huế hoàn toàn không đóng ở Khe Trái trong 26 ngày tấn công và chiếm Huế, mà đóng tại Quận II thì làm sao Hoàng Phủ Ngọc Tường lại núp dưới hầm tại Khe Trái như ông ta nói? Hơn nữa trên 100 nhân chứng nhận diện Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tại Bãi Dâu là không xác thực hay sao?
Và đây chúng tôi xin ghi lại nguyên văn lời nói của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một buổi phỏng vấn thì chính y đã trả lời một đài truyền hình London trong trang web http://openvault.wgbh.org khi được hỏi về những nấm mồ của vụ Tàn Sát Mậu Thân như sau:
“... Thế nhưng mà có những sự chết chóc đã xảy ra. Sự chết đó là một cái khối lớn. Cái khối lớn đã làm nên những nấm mồ đầy dẫy ở trong thành phố này và được địch Mỹ và Ngụy đưa ra quay phim và đưa đi thì những nấm mồ đó là ở đâu? Những cái xác chết nằm ở dưới đó là ai? Cái thứ nhất là chính nhân dân đã bị bom của Mỹ thả xuống và chết không biết bao nhiêu ở trong các đợt mà chúng nó phản kích. Thí dụ là như ở một bệnh viện nhỏ ở bên phố Đông Ba thì nó đã thả 1 trái bom và đúng 200 người vừa chết vừa bị thương ở tại chỗ đó. Tôi đã đi trên những cái đường hẻm, mà ban đêm tôi tưởng là bùn thì tôi mở ra, bấm đèn lên, thì thấy toàn là máu lầy lội như vậy. Và đó là cả khu phố bị bom Mỹ đã giết thì cái số đó nhất là trong những ngày cuối cùng thì chúng tôi rút ra và nó đã thâu lại và đem đi chôn...”
Câu hỏi dành cho lời phát biểu trên của Hoàng Phủ Ngọc Tường:
- Ai đã đi trên những con đường máu lầy lội ở phố Đông Ba?
- Ai đã rút ra trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến?
- Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm gì trong những ngày chiến cuộc đó?
Với những bằng chứng như vậy, thì câu hỏi mà chúng ta đặt ngược lại cho Hoàng Phủ Ngọc Tường và những kẻ tin vào luận điệu của hắn như sau:
- Hắn có thể chối không có mặt ở Thị xã Huế và tham gia tích cực vụ thảm sát Tết Mậu Thân Huế hay không?
- Hắn có thể chối tội đã là thủ phạm thảm sát Tết Mậu Thân Huế hay không?
Câu trả lời: chắc chắn là hắn không thể chối cãi tội ác Giết Người Mậu Thân của hắn được.
Liên Thành
--------

Blog Archive