Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts
Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts

Tuesday, September 15, 2026

Kinh xáng và kinh đào - Ngõ hồn đất phương Nam

​Ở Nam Kỳ không có con kênh, chỉ có con kinh.

​Nói về nguồn cội, chữ Kinh (涇) vốn mang nghĩa là dòng nước chảy, ngòi, rạch. Cấu tạo chữ thật thâm thúy: bên trái là bộ Thủy (氵) tượng trưng cho nước, bên phải (巠) chỉ luồng chảy trên mặt đất.

Người ngoài Bắc và ngữ dụng phổ thông ngày nay quen nói là Kênh, nhưng ngặt nỗi, người miền Nam qua bao đời nay vẫn rạch ròi giữ chặt lấy âm Kinh.
Cách gọi đó vừa mang hơi hướng trang trọng của sách vở cổ thi, vừa lột tả chính xác cái cốt cách của những dòng nước thẳng tắp, đục ngầu phù sa đã cưu mang, nâng đỡ cả miền Lục Tỉnh.
​Nói chuyện kinh Nam Kỳ mà bỏ qua cái xáng thì coi như nó hổng phân nửa cái hồn sông nước.

Hồi những năm đầu thế kỷ 20, khi người Pháp đem những cỗ máy cơ giới khổng lồ chạy bằng hơi nước qua đây để đào tháo, khai hoang, dân ta như thể đã chứng kiến một sinh vật lạ lùng.

Nhà Nam Kỳ học Sơn Nam từng thuật lại "đó là những con quái vật bằng sắt, khổng lồ, vô địch, ngày đêm gào thét bốn năm ngàn thước còn nghe lồng lộng".
Nhưng ngẫm về nguồn gốc chữ xáng, mặc dù theo các bậc tiền bối như cụ Vương Hồng Sển hay nhà văn Sơn Nam, từ xáng xuất phát từ tiếng Pháp là chaland (xà lan).

Kẻ hậu sinh tui không dám qua mặt nhưng cứ thấy cấn cấn, nghe qua ngẫm lại thấy gượng gạo và khó phục: chữ chaland đã được người Việt ta quen miệng đọc thành sà lan từ lâu đời và mang một ý nghĩa định hình rõ ràng, cớ chi lại phải "Việt hóa" thêm một lần nữa thành "xáng" để làm gì?

Mặt khác, bây giờ người ta vẫn nói sà lan để chỉ mấy cái ghe đáy bằng rất lớn, không có buồm, chuyên để chở hàng hóa trên sông.
Thiển nghĩ, khi người Pháp đưa những cỗ máy cơ giới khổng lồ tới múc bùn đào kinh, người Nam dòm thấy giàn cẩu sắt lớn, hoạt động bằng cách múc bùn đất lên rồi quăng hoặc xáng/hất ra chỗ khác, nên đã lấy chính động tác mạnh mẽ và thanh âm bạt mạng đó để đặt tên máy móc. Từ đó, cỗ máy múc bùn mang danh cái xáng, và con kinh đào bằng máy lập tức thành kinh xáng.

Nó cũng giống như chiều chiều bà vợ quan Tây đi ra dạo mát, dân thấy bà mặc đầm nên kêu là bà đầm, tới hồi múc xong con kinh thì người ta đặt chết tên nó là Kinh Bà Đầm vậy.
​Nếu kinh xáng đầu thế kỷ 20 là biểu tượng cho kỹ thuật cơ giới phương Tây, thì dân Nam ta cũng rất chi tự hào về con kinh đào Vĩnh Tế - bức tượng đài sừng sững về kỳ tích trị thủy bằng sức người vĩ đại nhứt trong lịch sử phong kiến nước nhà.
Con kinh chạy dọc biên giới Tây Nam, nối liền Châu Đốc ra Hà Tiên là minh chứng cho tầm nhìn chiến lược và ý chí dời non lấp bể của triều đình nhà Nguyễn.

Công trình được chính vua Gia Long ban chiếu khởi công hồi cuối năm 1819 và tiếp tục được vua Minh Mạng đôn đốc hoàn thành năm 1824.

Dưới sự chỉ huy của Thoại Ngọc Hầu, hơn tám vạn dân binh đủ các sắc dân Việt Hoa Khmer ngày đêm xẻ dọc đất sỏi, vượt qua lam sơn chướng khí, dịch bệnh và mãnh thú để hoàn thành huyết mạch thủy lợi dài hơn 90 cây số.

Kinh Vĩnh Tế không chỉ đóng vai trò bảo vệ biên cương, điều phối nguồn nước mà còn là nhịp cầu giao thương huyết mạch, khẳng định chủ quyền đanh thép của cha ông trên vùng đất phương Nam trù phú.
Tới đầu thế kỷ 20, tiếp nối tầm khai mở đó, sự xuất hiện của các kinh xáng đã lột xác hoàn toàn bộ mặt miền Tây.

​Máy xáng xẻ dọc cánh đồng, tạo nên những dòng nước thẳng tắp như kẻ chỉ, rộng rãi và đủ sâu để giúp những chiếc ghe chài, tàu lớn chở lúa gạo thông thương dễ dàng quanh năm.
Từ đó, hàng loạt địa danh đậm chất Nam Kỳ ra đời từ hơi thở của cái xáng: Vàm Xáng, Hồ Xáng Thổi, ngã ba Búng Xáng, Xáng Cụt, hay điểm hội tụ của bảy dòng kinh đào tạo nên "kinh đô sông nước" Ngã Bảy nức tiếng một thời.

Nhắc tới kinh Ngã Bảy, lòng người phương Nam lại bâng quơ văng vẳng câu vọng cổ bất hủ Tình anh bán chiếu của soạn giả Viễn Châu, qua tiếng ca đục trầm ai oán của danh ca Út Trà Ôn.

Nơi ngã ba, ngã bảy sông nước giao hòa đó không chỉ là chốn giao thương sầm uất của Lục tỉnh, mà còn là sân khấu cuộc đời chát mặn nỗi niềm của anh chàng đan chiếu cặm cụi đợi chờ.

Dưới bóng trăng chếnh choáng trên vàm kinh xáng, tiếng sóng vỗ rì rập vô bụng ghe như nhịp đập của một mối tình lỡ làng, để lại phía sau chiếc chiếu hoa trải giữa đêm dài hắt hiu.
​Cái xáng và con kinh không chỉ thay đổi địa hình, mà còn hóa thân thành máu thịt trong ca dao, tục ngữ của người Lục tỉnh.

Cái sự múc đất lẹ làng của cái xáng đã sinh ra câu ví von rầy la mà hài hước:
​"Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi."
Nhưng cũng có khi, cái xáng lại hóa thành chuẩn mực của sự bền lâu, gắn liền với những lời thề non hẹn biển mộc mạc:

​"Chừng nào cái xáng nọ bung vành,
Tàu Tây liệt máy, em mới đành bỏ anh."
Để rồi văng vẳng đâu đó là nỗi niềm của chàng trai đi ghe chài, buôn bán ngược xuôi trên sóng nước:
"Ngồi trên mui ghe chài lớn,
Cầm lái về kinh xáng Thới Lai,
Ngó thấy khói đốt đồng mù mịt lên khơi..."
Hơn một thế kỷ trôi qua, những cỗ máy xáng gầm thét ngày nào đã lùi vô dĩ vãng, nó đã xong phận sự của mình, nhưng thứ nó tạo ra là hệ thống kinh xáng chằng chịt vẫn rần rật chảy, gánh trọn huyết mạch kinh tế, văn hóa của cả một vùng châu thổ.

Người đời sau đi qua những ngã ba, ngã bảy, nghe tiếng sóng vỗ vàm kinh, chợt nhận ra một chân lý mộc mạc: Người phương Nam đi qua bao đổi dời vẫn giữ trọn thói quen đặt tên con kinh, cái xáng - không chỉ để nhớ về thuở cha ông xắn quần lội sình đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, mà còn để giữ lấy cái hồn phách khoáng đạt mà gốc cội của chính mình.

Rốt cuộc, ngôn từ và cách kêu tên, chính là tờ khai sanh bền chắc nhứt, là căn cước ngàn đời của vùng Lục tỉnh hào sảng này.

_Mặc Nhiên Cư sĩ


Monday, September 14, 2026

BẠN BIẾT TRỘM VÍA TỪ HỒI NÀO?

Mấy năm gần đây, Toàn nghe câu này ngày càng nhiều ở Sài Gòn, rồi xuống tới miền Tây, lan qua miền Đông.

Trộm vía, em bé dễ thương quá!
Trộm vía, con chị ngoan ghê!
Trộm vía, bé ăn giỏi quá!

Dù cá nhân Toàn nghe thì bản thân hơi chướng khí âm binh một chút, nhưng thôi, miền Nam mình sính lạ xưa nay cũng đâu phải chuyện gì mới. Chỉ là Toàn tự hỏi, hồi nhỏ ở miền Nam xứ mình có nghe ông bà, cha mẹ nói trộm vía đâu?

Nghiên cứu chữ nghĩa thì thấy đây là cách nói quen thuộc ở miền Bắc. Người miền Bắc nói trộm vía thì không có gì lạ, ngôn ngữ vùng miền mà. Câu này gắn với quan niệm về hồn vía, thường được đặt trước lời khen, nhất là khen con nít, để tránh lời khen trở thành điều không may.

Người miền Nam trước giờ cũng kiêng quở, cũng tin hên xui, cũng có chuyện hồn vía chớ đâu phải không. Chỉ có điều là cách nói khác. Thấy một đứa nhỏ bụ bẫm, trắng trẻo, dễ thương, người Nam nhiều khi không khen thẳng.

Trời đất, thằng nhỏ gì coi thấy ghét!
Con nhỏ gì xấu dữ vậy trời!
Cái mặt coi ghét hông!

Người địa phương khác nghe không biết thì tưởng chê thiệt, nhưng thiệt ra là cưng muốn chớt. Đó là kiểu nói ngược rất quen trong lời ăn tiếng nói miền Nam. Thương thì nói ghét, đẹp thì giả bộ nói xấu, vừa là cách biểu lộ tình cảm, vừa có cái ý đừng khen thẳng quá, coi chừng quở.

Còn chuyện cầu may, vùng đất phương Nam này cũng có những chữ rất quen như lấy hên, lấy may.

Mua giùm tui một tờ lấy hên.
Bán mở hàng cho chị lấy hên.
Đầu năm làm chuyện này lấy hên.

Lấy hên, lấy may không hoàn toàn đồng nghĩa với trộm vía. Một bên thiên về cầu may, mong chuyện thuận lợi. Một bên thường đi với lời khen để tránh điều không lành.

Giờ thì bán được miếng đất cũng trộm vía, da đẹp cũng trộm vía, bán hết nồi nước lèo cũng trộm luôn vía.

Riết rồi Toàn cũng tự hỏi, ủa hồi trước người miền Nam mình mừng chuyện làm ăn thuận lợi thì nói gì?

Hên quá.
May quá.
Ơn trời.
Nhờ ông bà độ.

Nói để cùng hiểu rồi tự giác ngộ, không có kỳ thị hay ghét gì chữ nghĩa vùng miền. Chỉ là những cách nói vốn không quen với nhiều thế hệ người miền Nam đang xuất hiện ngày càng dày, trong khi những câu đậm chất miền Nam như coi thấy ghét chưa, xấu dữ hông, thương mà nói ngược, cưng mà làm bộ chê, lại nghe ít dần, tiếng nói mỗi vùng sẽ bớt đi một chút màu sắc riêng.

Tục ngữ phong dao Việt Nam có câu "để lâu cứt trâu hoá bùn".

Rồi biết đâu mai mốt bà ngoại nói:
Trời ơi, cái thằng nhỏ gì coi thấy ghét quá!
Nó lại tưởng bà ngoại đang ghét nó thiệt.

Toan Cao

Monday, September 7, 2026

Nói tiếp chuyện chữ nghĩa

Bây giờ chỉ cần thấy lỗi chính tả là đoán được người viết là người Nam hay Bắc. Người Bắc thì hay sai chữ tr-ch, d-gi. Còn người miền Nam thì sai chữ n-ng, t-c (phụ âm cuối).

Bởi vậy nên có nhiều người Bắc viết “bánh trưng” bởi vì khi đọc thì ch hay tr họ cũng đọc như nhau. Còn một lỗi nữa là chưng bày và trưng bày, chưng hoa đã bị nói thành trưng hoa.

Chữ chưng bày được dùng trong trường hợp trong phạm vi nhỏ với những vật dụng nhỏ. Thí dụ như chưng bày một bàn ăn. Còn trưng bày được dùng trong phạm vi lớn hơn với những đồ vật lớn hơn. Thí dụ trưng bày xe hơi, phòng trưng bày triển lãm. Nhưng có rất nhiều người nói là trưng hoa, trưng bình bông.

Hôm trước tôi có viết bài đăng lên Fb trong đó có chữ chập chùng thì tôi được một chị bạn nhắc là viết chập chùng không đúng mà phải là trập trùng mới đúng. Chị bạn ấy còn chụp hình cách giải thích chữ trập trùng trong tự điển trên mạng cho tôi xem. Tôi trả lời rằng đó là do cách phát âm sai nên dẫn đến viết sai. Trong suốt bao nhiêu năm đi học cho tới bây giờ chưa bao giờ tôi gặp chữ trập trùng.

Chưa kể đã có lần trong một game show có đố hai chữ cho thí sinh lựa chọn giữa “chậm chễ và trậm trễ”.

Rất tiếc là cả hai chữ đều sai. Là do cách phát âm không đúng nên mới ra cớ sự. (Có hình minh hoạ dưới phần bình luận)

Thật là không thể tưởng tượng rằng một chương trình nói về chữ nghĩa trên đài truyền hình quốc gia thì đương nhiên phải có các vị nghiên cứu ngôn ngữ học làm cố vấn mà còn có sự nhầm lẫn như vậy !!!

Đã từ lâu chúng ta coi rất nhiều chương trình giải trí hoặc chuyên đề, chúng ta thấy những người dẫn chương trình nói những câu sai về ý nghĩa cũng như sai về văn phạm. Thí dụ: “Xin mời lên sân khấu giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn A”.

Theo cấu trúc về văn phạm thì đáng lẽ ra phải là: Mời (là động từ+ai+làm gì/đi đâu?

Có nghĩa là đáng lẽ ra câu đúng cấu trúc phải là: Chúng tôi (trân trọng) kính mời (có thể kèm theo chức vụ) ông/bà ABC (bước lên sân khấu) bày tỏ ý kiến của mình/ hoặc cho chúng tôi những lời huấn từ.

Trong câu thí dụ trên tôi mở ngoặc cụm từ “bước lên sân khấu” vì có thể nói cụm từ nầy hoặc có thể không cần nói. Bởi vì không nói thì đương nhiên người được mời cũng biết là phải lên sân khấu chớ không đi đâu khác. Nói nhiều quá thành ra thừa và rối vì người nghe không tóm gọn lại ý chánh trong một mớ thông tin hỗn độn.

Còn tôi viết chữ “chúng tôi” mặc dù chỉ có một người dẫn chương trình, nhưng cái lịch sự và nguyên tắc phải nói là chúng tôi. Chuyện nầy cũng giống như trong những cuốn sách xuất bản ở thời trước, trong lời nói đầu mặc dù người giới thiệu cuốn sách chỉ có một người, nhưng bắt buộc phải viết là chúng tôi vì đó là phép lịch sự và là thể hiện sự khiêm tốn của người viết.

Tôi không hiểu nổi khi MC vừa mời một vị nào đó thì liền sau đó là câu hỏi “Xin (giáo sư tiến sĩ) có chia sẻ gì không ạ?” Trời đất ạ!

Tôi kêu trời bởi vì nghĩa của chữ chia sẻ là Cùng chia với nhau để cùng hưởng hoặc cùng chịu.

Ví dụ: Vợ chồng nên chia sẻ mọi gánh nặng trong cuộc sống.

Hoặc:

• Bạn Lan chia sẻ đồ chơi với bạn Hoa.
• Chúng em chia sẻ niềm vui khi được điểm tốt.
(Chú thích: định nghĩa và thí dụ trích từ trên mạng).

Trong các thí dụ trên thì chữ chia sẻ chỉ có nghĩa là “chia ngọt sẻ bùi” có nghĩa là chỉ trong phạm vi tinh thần hoặc chia sớt vật chất cho nhau chớ HOÀN TOÀN không có nghĩa là nói lên ý kiến của mình. Mặc dù sự chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn có thể thể hiện bằng lời nói. Vậy mà chữ chia sẻ lại được sử dụng sai bét bèn bẹt mà không ai hiểu ra.

Có nhiều người thắc mắc là không biết từ đâu lại có chữ chồng được viết là ck và vợ lại viết là vk???

Một chữ nữa là không biết từ đâu mà bây giờ phổ biến đơn vị tiền tệ của VN là đồng thì bây giờ lại viết chữ K để chỉ đơn vị ngàn đồng??? Thí dụ 20 ngàn hoặc 20.000 đồng thì ghi là 20K!!!

Một người nước ngoài đi tới một nước khác có lẽ một trong những điều cần biết là đơn vị tiền tệ của đất nước đó. Nhưng qua tới VN là họ chịu thua vì họ tưởng tiền của VN gọi là K. Tôi có nói chuyện nầy với một người bạn thì được giải thích rằng gọi là K bởi vì theo xu hướng gì đó từ nước ngoài. Tôi nghĩ mình là người VN thì cái gì đúng của người VN phải được giữ lại. Còn cái gì của nước ngoài nếu không hay thì đừng làm ảnh hưởng xấu tới chúng ta. Nhưng tiếc thay chữ K nầy đã được phổ biến khắp nơi, được thốt ra từ cửa miệng của người bình dân và cả người trí thức!!!

Tạm thời ngưng tại đây. Càng viết thấy càng rầu bởi vì không biết tương lai đất nươc đi về đâu khi ngôn ngữ của đất nước mình ngày càng lộn xộn.

Có một câu nói:”Đất nước còn thì văn hoá còn. Văn hoá mất thì đất nước mất”. Mà ngôn ngữ thể hiện văn hoá, tâm hồn, nét riêng của một dân tộc.

Ai có yêu đất nước thì sẽ yêu “tiếng nước tôi”. Và yêu tiếng nước tôi không chỉ là nói suông mà là qua những hành động cụ thể. Mong thay!

Chú thích: Hãy ngắm nhìn những hình ảnh giang sơn gấm vóc để yêu hơn quê hương nầy và yêu tiếng nói của người VN hơn nữa. Đừng làm tiếng Việt trở nên xấu xí vì không hiểu biết.

(Hình lấy trên mạng)

Sunday, August 30, 2026

KHI MIỀN TÂY KHÔNG CÒN NÓI TIẾNG MIỀN TÂY !!

“Nước dùng ở đây, ạ.”
“Chào buổi sáng, ạ!”
Tôi giật mình.
Trước đây, tôi đã từng nghe cách nói này ở Sài Gòn và đã thấy ngạc nhiên.
Nhưng lần này, nghe câu ấy thốt ra từ một cô tiếp viên ở một khách sạn tại vùng đất từng được mệnh danh là “Tây Đô”, tôi không còn ngạc nhiên nữa.
Tôi sốc.
Sốc, bởi trước mặt tôi là một cô gái trẻ, tuổi chỉ đáng con cháu mình, giọng nói rặt miền Tây, âm điệu miền Tây, dáng vẻ cũng rất miền Tây. Vậy mà cuối câu lại nó nhẹ nhàng buông một tiếng:
“ ạ “
Trời đất ơi!
Giữa miền Tây sông nước mà nghe một tiếng “ạ” sao thấy lạ lẫm đến vậy.
Không phải chữ “ạ” có gì sai.
Nó là một từ rất đẹp trong tiếng Việt, biểu thị sự lễ phép, kính trọng, và từ lâu đã là một phần tự nhiên trong cách nói của người miền Bắc.
Cái làm tôi chạnh lòng không nằm ở bản thân chữ “ạ”, mà ở chỗ nó xuất hiện trong một không gian ngôn ngữ vốn có những cách biểu đạt lễ phép rất riêng.

Người miền Tây ngày trước đâu cần chữ “ạ” mới lễ phép.
“ Dạ, con chào cô.”
“Dạ, chú mới tới hả?”
“Dạ, bác dùng cơm chưa?”
Chỉ một tiếng “dạ” thôi, nghe đã thấy cả bầu trời miền Nam trong đó.
Có sự kính trọng nhưng không kiểu cách; có lễ phép mà vẫn gần gũi.
Nó mềm, nó thiệt thà, nó có cái tình của một vùng đất.
Vậy mà bây giờ, tiếng nói miền Tây đang thay đổi nhanh đến mức đôi khi người đi xa lâu ngày trở về phải giật mình.

Miền Tây vẫn là miền Tây.
Sông vẫn chảy, ghe xuồng vẫn còn, những hàng dừa vẫn nghiêng xuống mé nước.
Người miền Tây vẫn hào sảng, vẫn hiếu khách, vẫn cái giọng ngân nga nghe một câu là nhận ra quê xứ.
Nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, một cái gì đó đang mất dần.
Có người gọi đó là sự giao thoa ngôn ngữ.
Có người phách lối nói đó là “chuẩn”. Có người nói đó là kết quả tự nhiên của truyền hình, Internet, mạng xã hội và sự đi lại giữa các vùng miền.
Tất cả đều đúng.
Nhưng tôi vẫn muốn dùng một chữ cũ, hơi nặng:
“Lai căng.”
Bởi giao thoa là khi mình tiếp nhận cái hay của người khác mà vẫn biết mình là ai.
Còn khi những từ ngữ vốn tự nhiên trên đầu môi của ba má, ông bà mình bị thay thế chỉ vì người ta tưởng một cách nói khác nghe “chuẩn” hơn, “văn minh” hơn hay “sang” hơn, thì đó không còn đơn thuần là giao thoa nữa.

Ngày trước ở miền Nam, người ta nói “gà chiên”.
Bây giờ không ít nơi ghi “gà rán”.
Người miền Nam nói “vỏ xe”.
Bây giờ nghe “lốp xe” ngày càng thường xuyên.
Người miền Tây nói “quẹo trái”, “quẹo phải”.
Bây giờ có người nói “rẽ trái”, “rẽ phải”.
Cái vòng tròn giữa ngã tư mà xe cộ chạy vòng quanh, bao nhiêu thế hệ miền Nam gọi là “bùng binh”.
Một chữ nghe vui tai, sanh động, gần như có thể hình dung được cảnh xe cộ chạy vòng vòng trong đó.
Bây giờ nó thành “vòng xuyến”.
Anh tài xế chở tôi về Cần Thơ hôm ấy nói rất tự nhiên:
“Chút nữa mình rẽ sang đường này, qua vòng xuyến kia…”
Anh nói bằng giọng miền Tây đặc sệt.
Tôi ngồi phía sau mà cứ thấy có gì đó không ổn.
Không phải “rẽ” sai.
Không phải “vòng xuyến” sai.
Chẳng có chữ nào sai cả.
Nhưng “quẹo” đâu rồi?
“Bùng binh” đâu rồi?
Những chữ ấy có tội tình gì mà phải biến mất?

Rồi có lần tôi nghe một người miền Tây đã ngoài 60 tuổi nhắc đến thân phụ mình bằng chữ “bố”.
Tôi thật sự sững người.
Bởi trong ky'í ức của tôi, hai tiếng “ba”, “má” gần như là hai tiếng căn cước của người miền Nam.
“Ba tui…”
“Má tui…”
Chỉ cần nghe vậy là quê nhà hiện ra.
Trong hai chữ ấy có căn bếp, có cái võng, có hàng ba, có mâm cơm chiều, có tiếng người lớn gọi con cháu vào ăn cơm. Có cả một đời sống nằm trong hai tiếng tưởng chừng rất bình thường ấy.
Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để truyền đạt thông tin.
Ngôn ngữ là ký ức.
Một chữ có thể mang theo cả một vùng đất.
“Má” không hoàn toàn giống “mẹ”.
“Ba” không hoàn toàn giống “bố”.
“Quẹo” không hoàn toàn giống “rẽ”.
“Bùng binh” không hoàn toàn giống “vòng xuyến”.
Về nghĩa, người ta có thể mở từ điển và bảo chúng tương đương. Nhưng ngôn ngữ của con người đâu chỉ có nghĩa từ điển.
Mỗi chữ còn có âm thanh, ky' ức, địa phương, gia đình, tuổi thơ và lịch sử.
Một người nói “má” và một người nói “mẹ” đều đang nói về người sanh ra mình.
Nhưng tiếng gọi bật lên khi đau đớn, hoảng sợ hay nhớ thương thường không phải là một lựa chọn trong từ điển.
Nó đến từ nơi sâu hơn thế.
Nó đến từ tuổi thơ.
Và vì vậy, điều đáng lo không phải là người miền Tây biết thêm những chữ như “ạ”, “rán”, “lốp”, “rẽ”, “vòng xuyến” hay “bố”.
Biết thêm một cách nói chưa bao giờ là điều xấu.
Một người càng biết nhiều cách sử dụng tiếng Việt càng giàu có về ngôn ngữ.
Điều đáng lo là họ biết thêm cái mới nhưng lại bỏ cái cũ.
Đáng lo hơn nữa là khi họ bỏ cái cũ vì nghĩ cái cũ là quê mùa.
Nếu một cô gái Cần Thơ nói “dạ” mà cảm thấy mình kém sang hơn khi nói “ạ”, đó mới là chuyện đáng buồn. Lai căng.
Nếu một đứa con nít miền Tây lớn lên biết “rẽ” nhưng không biết “quẹo”, biết “vòng xuyến” nhưng chưa từng nghe “bùng binh”, biết “bố mẹ” nhưng thấy “ba má” là quê mùa, thì chúng ta đã mất một thứ lớn hơn vài chữ địa phương.
Lai căng.
Chúng ta mất một phần ky' ức văn hóa.

Tất nhiên, ngôn ngữ luôn thay đổi. Đừng lên lớp tôi!
Không ai có thể dựng một hàng rào quanh miền Tây rồi ra lệnh rằng từ hôm nay người miền Tây chỉ được xài những chữ mà ông bà họ từng xài.
Làm như vậy vừa vô lý vừa trái với bản chất của ngôn ngữ.
Con người đi lại nhiều hơn.
Người Bắc vào Nam.
Người Nam ra Bắc.
Người miền Trung sống ở Sài Gòn.
Người Cần Thơ học ở Hà Nội.
Trẻ con xem cùng những chương trình, những video, những bộ phim trên cùng một chiếc điện thoại.
Tiếng nói tất nhiên sẽ hòa vào nhau.
Điều đó không hẳn là xấu.
Cái đáng suy nghĩ là trong sự hòa trộn ấy, tại sao có những cách nói địa phương cứ lặng lẽ rút lui?
Có phải vì truyền hình và sách báo lâu nay vô tình tạo cho người ta cảm giác rằng chỉ có một kiểu tiếng Việt mới là “chuẩn”?
Có phải vì nhà trường sửa những chữ địa phương của học sinh quá mạnh tay?
Có phải vì những người làm dịch vụ được huấn luyện theo những mẫu câu chung đến mức một cô gái miền Tây phải nói “Chào buổi sáng, ạ” thay vì một câu chào tự nhiên của chính quê mình?
Hay đơn giản hơn, có phải chúng ta đã bắt đầu xấu hổ về tiếng nói của ba má và ông bà mình?
Nếu là điều cuối cùng, thì đó mới thật sự đáng buồn.

Tôi không phản đối tiếng Bắc.
Tôi cũng không nghĩ tiếng Bắc hay hơn tiếng Nam, hay tiếng miền Tây hay hơn tiếng miền Trung.
Mỗi vùng đất Việt Nam đều đã góp vào tiếng Việt những âm thanh và từ ngữ tuyệt đẹp.
Chính sự phong phú đó mới làm nên một tiếng Việt sống động.
Tôi chỉ phản đối một thứ:
Tâm lý tự ti với tiếng nói của chính quê hương mình.
Học cách nói của người khác để hiểu nhau hơn là điều tốt.
Nhưng bắt chước người khác vì tưởng rằng nói giống họ thì mình “sang” hơn là một chuyện khác.
Không có gì sang trọng trong việc đánh mất mình.
Một người Hà Nội cứ việc nói “bố”, “mẹ”, “rẽ”, “rán”, “lốp xe”.
Đó là tiếng nói tự nhiên của họ.
Họ không cần đổi.
Một người Huế cứ giữ “mạ”.
Một người Quảng cứ giữ giọng Quảng.
Và người miền Tây cũng chẳng có lý do gì phải ngượng khi nói:
“Ba má.”
“Dạ.”
“Quẹo.”
“Bùng binh.”
“Gà chiên.”
“Vỏ xe.”
“Nước lèo.”
Đó không phải là những phiên bản “sai” của tiếng Việt.
Đó là tiếng Việt.
Một thứ tiếng Việt đã được phù sa, ruộng đồng, kinh rạch, ghe xuồng và bao thế hệ cư dân phương Nam nhào nặn nên.
Người ta thường nghĩ di sản phải là đình chùa, nhà cổ, áo quần, món ăn, câu hát.
Không.
Một chữ cũng là di sản.
Có những di sản không cần bảo tàng để cất giữ.
Chúng sống trên đầu môi của con người.
Và cũng chính vì thế, chúng có thể chết đi rất âm thầm.
Một ngôi nhà cổ bị đập, người ta nhìn thấy.
Một con rạch bị lấp, người ta nhìn thấy.
Nhưng một chữ biến mất thì chẳng ai nghe tiếng động.
Một thế hệ thôi không nói nữa, thế hệ sau sẽ không biết nó từng tồn tại.
Rồi một ngày nào đó, một đứa trẻ miền Tây sẽ phải mở từ điển để hỏi:
“Bùng binh là gì vậy?”
Và có lẽ đến lúc ấy chúng ta mới nhận ra rằng mình đã đánh mất một thứ mà tiền bạc không thể mua lại được.
Cho nên tôi không mong người miền Tây khép cửa với những cách nói khác.
Tôi chỉ mong họ đừng quên tiếng nói của mình.
Cứ học thêm.
Cứ đi xa.
Cứ giao lưu.
Cứ biết “rẽ” là gì, “vòng xuyến” là gì, “lốp xe” là gì.
Nhưng khi về đến miền Tây, nếu có thể, hãy cứ:
“Quẹo phải nghen anh.”
“Qua cái bùng binh đó rồi chạy thẳng.”
“Dạ, con biết rồi.”
Và khi trở về nhà, hãy cứ gọi:
“Ba ơi!”
“Má ơi!”
Bởi giữ một tiếng nói không phải là chống lại sự thay đổi.
Đó là nhớ mình từ đâu mà tới.
Và một vùng đất còn giữ được tiếng nói của mình là một vùng đất còn giữ được kí ức.
Miền Tây có thể thay đổi.
Nhưng xin đừng để một ngày nào đó, giữa chính miền Tây, chúng ta phải đi tìm lại tiếng miền Tây.

——
Đây là bài thơ do AI nó sáng tác, sau khi tôi kể cho nó nghe câu chuyện. Đọc cũng được 

Con gục đầu chua xót đắng cay
Nghe tiếng quê hương sụt sùi mỗi ngày
Cái thuở "nói nào ngay" chân chất
Giờ lạc lòng giữa phố thị lung lay.
Đâu rồi tiếng "dạ" thưa ngọt lịm?
Tiếng "bằng nay", "mần ruộng", "xuồng bơi"
Sông sấu lội, câu hò ai tím nghẹn
Nay nhạt nhòa theo bọt nước trôi xuôi.
Thương con cá chốt, bông bần rụng
Thương cả từ "mầy", "bây" thuở ấu thơ
Mai mốt này ai còn nhớ nữa
Tiếng miền Tây gói lại một giấc mơ.
Con gục đầu chua xót đắng cay!

Nguồn: Fb giáo sư Nguyễn Tuấn

Friday, August 28, 2026

NGƯỜI MIỂN NAM KÊU “QUÁN CÓC” LÀ KHÔNG ĐÚNG…

Người Nam Kỳ nào chẳng biết “quán”.
Bạn biết ăn và thích ăn phải biết quán. Đó là quán Cháo Vịt, quán Hủ tíu chay, quán Chè, quán Cafe, quán Sữa đậu nành, quán Bánh canh, quán Cháo lòng...
Nam Kỳ ta kêu đó là quán xá.
Bắc Kỳ có quán, nhưng thích kêu "hàng", thí dụ hàng cafe.
Nhất Linh có cuốn "gánh hàng hoa".

"Ở chợ Dầu có hàng cà phê
Có một cô nàng be bé xinh xinh
Cô hay cười hồn xuân phơi phới
Cứ xem dáng người mới chừng đôi mươi"

Quán xá Miền Nam xôm tụ vì đông khách có bà chủ mập ú chạy ì ạch thở không ra hơi, thì cũng có quán ế nhệ vắng ngắt, chủ tớ ngồi ngáp trẹo quai hàm, ruồi muỗi vo ve kêu là “quán tân liều” (tiêu lần).

Dân ca Bắc Kỳ nổi tiếng nhứt là bài “Lý cây đa” có câu:

“Trèo lên quán dốc, ngồi gốc ôi a cây đa
Rằng tôi lý ôi a cây đa, rằng tôi lới ôi a cây đa
Ai xui ôi a tính tang tình rằng”.

Có một cây đa ngay cái Quán Dốc, dốc này là cái lộ có cái dốc.
Không ai biết được đó là quán xá hay đạo quán của Lão giáo?
Ta cứ kêu đó là Quán Dốc ở xứ Kinh Bắc cũng như Quán Gió một thời nổi tiếng ở Nha Trang và Ninh Hòa về đồ hải sản vừa ngon vừa rẻ đi.
Nhạc vàng có nhiều quán lắm nha, nổi tiếng nhứt là “Quán nữa khuya” của Tuấn Khanh & Hoài Linh.

Quán nửa khuya đèn mờ theo hơi khói
Trút tâm tư vào đêm vắng canh dài
Quãng đời tôi tàu đêm vắng không người vẫn lặng trôi...”

Quán nữa khuya tức quán về đêm, nửa đêm chờ sáng, quán bán đồ ăn cho lữ khách lỡ đường, chơi khuya.
Hồi xưa điện đóm chưa nhiều, quán loại này chong đèn hột vịt, sang lắm có đèn manchon.
Tuy nhiên bóng đêm nhiều hơn ánh sáng, thành ra tù mù, mà mưa đêm lất phất tí tách thì gợi nhớ cho nhiều người có lòng lãng mạn.

“Thương về quán trọ”:
“Lúc này nơi quán trọ buồn vui có gì không
Biên thư kể chuyện nhé
Làm lính oai hùng đó nhưng cũng nhiều gian lao
Anh biết rồi tại sao?”

Có bài “Quán gấm đầu làng” của Giao Tiên nhắc tích Lưu Bình Dương Lễ bên Tàu:

Quán gấm đầu làng ấy chuyện xưa rất xa xưa.
Tình tang ối a đầu làng, nàng Châu Long đã dựng quán.”

Ta phải nhớ tới quán gấm đầu làng mà kế cái dốc cầu của tiểu thơ Quỳnh Nga trong tuồng”Bên cầu dệt lụa”.

Xưa Nho giáo khinh chuyện bán buôn lắm, con ông quan huyện vượt khuê môn ra đầu làng dựng lều tranh ươn tơ dệt lụa, lập quán bán lụa bán gấm là chuyện thất kinh, động trời.

Thế mới biết tấm lòng của Quỳnh Nga dành cho Trần Minh.

Em xin trang trọng trao tay ân cần đưa tiễn kẻ đăng trình

Gởi gắm vào tay tâm sự của riêng mình. Em đã dám vượt khuê môn, bên cầu dựng quán Vì nặng nghĩa can thường bước ra vòng lễ giáo thị phi.

Ngày bảng hổ tên đề làm rạng danh tông tổ. Em không dám mong được cùng ai vui đạo xướng tùy. Nếu chàng nghĩ thương chút nghĩa tương tri Xin với cha em hãy nhẹ điều ân oán.”

Ờ! nhớ tới vùng Bà Điểm khi xưa. Từ một cái quán gần bụi tre ta có một địa danh danh mang tên Quán Tre trong quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định

Rồi ở miệt Quảng Ninh xứ Bắc Kỳ ta có bến phà Quán Hàu và thị trấn Quán Hàu. Có lẽ có cái quán bán… hàu chăng?

Quán là gì?
Hán Việt cho ta 36 chữ quán khác nhau. Chữ 館 quán này là cửa tiệm, trùng với quán trọ, lữ quán, công quán.

Có bạn hỏi, vậy Quán Thế Âm nghĩa là sao?
Quán Âm Quán Thế Âm, hay Quan Âm là một vì bồ tát của Phật giáo, đạo tràng của ngài là núi Phổ Đà Sơn, tức núi Lạc Gìa giữa biển Nam Hải.
觀音 Quán Âm. 觀 Quán là nhìn suốt. 音 Âm là âm, tiếng.
Quán Âm bồ tát là vị bồ tát thần thông, cứu độ chúng sanh, cứu người sống gặp nạn, ngài nghe và thấy hết thảy mọi lời cầu xin của con người

Hà Nội có địa danh Quán Thánh, đây là cái quán của đạo gia, tức là miếu Trấn Võ hồi xưa.
Lão kêu chổ tu của mình là quán, có ai nhớ Dư Thương Hải xưng là Dư quán chủ phái Thanh Thành tàn sát Phước Oai tiêu cục trong "Tiếu ngạo giang hồ":

Dài dòng quá,xin trở lại đề tài.
Nhiều bạn viết "quán cóc" ở Sài Gòn là những quán ngoài lề đường, liêu xiêu và trơ trụi, quán nghèo:
Bằng chứng đâu? có liền:

Trong Sài Gòn Tạp Pín Lù học giả Vương Hồng Sển có viết về cà phê của Sài Gòn xưa như sau:

“… Từ 1950 cho đến trào ông Diệm, khi quán cóc trước cửa Thảo cầm viên chưa bị dọn dẹp để chỉnh trang Vườn bách thảo và đô thành.

Lúc ấy nơi trước cửa vườn mé bên Ba Son có một quán nhỏ bán cà phê, người chủ quán vì tai nạn chiến tranh bị cắt mất một chân nên có biệt danh là “quán thằng Cụt"

Cụt ta đi nạng chống và mỗi lần xê dịch vẫn nhảy cò thọt còn mau lẹ hơn chim lắc nước.

Và Cụt sở trường pha cà phê rất đậm rất ngon, cà phê buổi sáng hơi nghi ngút giá chỉ có một đồng rưỡi một tách không sữa”.

Thực sự "quán cóc" không hề có trong thư tịch Miền Nam hồi trước.
Người Miền Nam không phân biệt quán cóc hay quán "không cóc", quán cơm, quán cháo, quán bún. Quán nào cũng là quán, có chủ quán và khách, mua bán rôm rả, tiếng kêu, tiếng nói chuyện í ới.

Thuật ngữ "quán cóc" là từ Miền Bắc.

"Hà Nội mùa này chiều không buông nắng
Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô
Quán cóc liêu xiêu một câu thơ
Hồ Tây, Hồ Tây tím mờ"

Có liền, một bài báo nói rõ ràng: “Quán Cóc: Nét văn hóa “bụi” của thủ đô".
Hà Nội nổi tiếng quán cóc, khi mà uống một chung trà trả 500 đồng, ăn một cây kẹo đậu phộng trả 1000 đồng.

Quán cóc mà khách ngồi thu lu như con cóc hay nói trại từ "quán dốc"?

Trước 1954 và 1975 dân Miền Nam hay kêu quán bán cafe là "tiệm nước" hay "tiệm cafe".

Vào năm 1864 tại Sài Gòn có hai tiệm cafe đầu tiên là Lyonnais trên đường De Lagrandière (Gia Long) và Café de Paris trên đường Catinat (Tự Do).

Do nóng nực của xứ nhiệt đới, nhiều tiệm cafe ở Sài Gòn hay kê bàn ghế ra bên hông, ra lề đường cho khách hóng mát, đó là những tiệm cafe lộ thiên, cafe hứng gió trời.

Dân Nam Kỳ, dân Sài Gòn kêu những quán cafe ở lề đường mà nhìn sơ sịa kiểu có cái ghế nhỏ, cái bàn cũ là "quán cafe vỉa hè, “quán cafe lề đường", nói chung cafe bình dân, cafe dân biểu.

Như đã nói, dân Nam Kỳ không phân biệt, thói quen không phân biệt cao thấp, thành ra cái tên quán sẽ nói lên level của quán đó đặng mà tìm tới cho dễ dàng thôi.

Tiệm cafe sang thì có tên như Thủy Tiên, Sóng Nhạc, Du Dương, Miên Man, Tuấn Ngọc, Vi Vu...

Tâm lý những người trung niên ở Nam Kỳ là chỉ ưa ngồi quán cafe sân vườn, có không gian rộng, hoặc cafe máy lạnh nhưng không gian thoáng.

Còn quán bình dân sẽ kêu tên theo ông bà chủ, như kiểu ông Sển ở trên là “quán thằng Cụt", hoặc "quán bà Tư Ú", “quán ông Mập"

Hoặc kêu là quán lề đường.
Quán Cháo Vịt Thanh Đa..

Ở đầu hẻm Sài Gòn nào cũng có một quán cafe nhỏ bán từ sáng sớm.
Người ta có thể nhớ tên quán bằng số nhà đầu hẻm, thí dụ "quán 179","quán 15 ter".

Tên "quán cóc" có lẽ từ Miền Bắc theo dân 54 vô Nam và người Sài Gòn thỉnh thoảng cũng kêu quán cóc nhưng không thông dụng là mấy, kiểu ông Sển viết chung quán cóc nhưng lại viết riêng là "quán thằng Cụt" vậy.

Cafe là một nét văn hóa đặc biệt của người Sài Gòn và người Miền Nam.
Người ta có thể đoán biết được tính cách con người, nóng tánh hay bộp chộp qua sở thích uống café của mỗi người.
Có người quậy ly café nhẹ nhàng, có người uống từng muỗng, từng ngụm nhỏ, có người uống cái ọt lần nửa ly.
Lối về, là cái ly café quán nhỏ, bạn bè ngồi gần nhau mà bỗng nghe vui vui trong gió.
Lối về, có khi là sự yên tĩnh làm ký ức tưởng như đã được an bài, nhưng âm ỉ trong lòng.
Danh xưng "Cafe Sài Gòn"ngẫm không sai, là vì Sài Gòn là nơi uống cafe đầu tiên ở đất Việt, nơi có tiệm cafe đầu tiên và những người khách Việt đầu tiên.
Người Nam Kỳ nói chung từ thành thị Sài Gòn, tỉnh lị tới thôn quê đều có thói quen sáng sớm, trưa và chiều ra ngồi quán uống café bàn luận cuộc sống và tiếp khách.
Đây là cái thói quen đã thành văn hóa, tập quán lâu đời từ thời tám hoánh.
Từ anh công chức, trí thức tới anh thợ hồ, vác banh bình dân đều tập trung lại các quán cafe.
Ly cafe, gói xôi, ổ bánh mì ăn sáng và một tờ nhựt trình trên tay là ba thứ bửu bối của dân Sài Gòn sáng sớm.
Người Nam Kỳ có thói quen uống café trước rồi mới ăn sáng, tức là vô quán café rồi vô quán ăn sáng, sau này mấy quán café có bán thêm đồ ăn sáng.
Sài Gòn từ hẻm ra đường lúc nào cũng nghe mùi đồ ăn thơm phức, bạn xách cái bụng đi ăn cả ngày không hết món, mà ngon, rẻ, lại lãng mạn cá tánh vô cùng.
Sáng quán café đông nhưng không ồn ào, người ta nói chuyện vừa đủ nghe, tiếng rầm rì, rỉ rả nghe thiệt là khoái.

“Tí tách rơi đều giọt cà phê nóng
Mình nhớ về ngày Chúa Nhựt có nhau”

Hẹn nhau làm ly café cho bắt đầu một mối tình lãng mạn cùng nhiều điều chan chứa đi các bạn ơi!

NGUYỄN GIA VIỆT



Saturday, August 15, 2026

Chữ nghĩa thời nay

Lứa tuổi của tui được liệt vào thế hệ trước. Tui được đi học cách đây đã lâu lắm rồi. Hồi đó Thầy Cô dạy môn Quốc Văn dạy kỹ lắm. Kỹ từng chút về lỗi chính tả, từng dấu chấm dấu phết, kỹ từng lỗi văn phạm, kỹ từng chữ về cách sử dụng từ ngữ….

Thầy Cô còn dạy hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Chúng tôi, ai cũng cố gắng nhớ lời Thầy Cô. Tui còn nhớ tới những chi tiết rất nhỏ trong nhiều bài học. Thí dụ tên người, tên địa danh thì luôn phải viết hoa. Không được viết tắt những chữ không được phổ biến (nếu phải nhắc đi nhắc lại một cụm từ nào đó trong một bài viết thì “được quyền” viết tắt với điều kiện có mở ngoặc đơn để ghi chú cho người đọc hiểu). Còn khi viết thế kỷ thứ mấy thì con số phải được viết bằng số La Mã sau chữ thế kỷ. Thí dụ: thế kỷ XV chẳng hạn. Khi đó dù không có chữ “thứ” trước số XV chúng ta vẫn đọc là thế kỷ thứ mười lăm. Còn nếu viết bằng số bình thường thì phải ghi chữ “thứ” trước con số. Thí dụ: Thế kỷ thứ 15.

Loáng một cái mấy chục năm trôi qua…. Chữ nghĩa bây giờ được sử dụng một cách vô tội vạ, đọc mà thấy hồn vía giật tanh tách. Thí dụ một bữa tiệc linh đình thì được nhiều người nói là “ăn hoành tráng”. Còn tên người, danh từ riêng hoặc tên địa danh thì rất nhiều người viết thường không viết hoa khiến người đọc phải khựng lại một hồi mới hiểu được ý nghĩa của câu văn. Đã vậy còn gặp những chữ viết tắt theo ý riêng của người viết thì phải căng con mắt ra mà đọc và xé cái não ra để suy nghĩ rất mất thì giờ may ra mới hiểu được.

Chưa kể có nhiều từ ngữ được sử dụng lộn tùng phèo về ngữ nghĩa, nhưng lâu rồi thành quen nên những từ ngữ đó được mặc nhiên công nhận.

Tui có lụm được một số từ ngữ. Xin đưa ra đây để cùng “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Thí dụ:
1/ Em sẽ THIẾT KẾ một buổi gặp mặt cho anh/chị với ông A.

2/ Vô quán ăn, khách chưa có chỗ ngồi. Người phục vụ nói:”Em sẽ CƠ CẤU cho anh hai ghế.”

3/ Người nầy quánh người kia thì được nói là “Thằng A TÁC ĐỘNG VẬT LÝ lên đầu thằng B.”

4/ Nghỉ làm việc theo quy định thì được nói là NGHỈ CHẾ ĐỘ.

5/ Nhà giàu có hoặc khá giả gọi là NHÀ CÓ ĐIỀU KIỆN.

6/ Một người nghèo nào đó được vay tiền ngân hàng thì gọi là TIẾP CẬN NGUỒN VỐN. (Trong khi chữ tiếp cận được dùng trong trường hợp tiếp cận mục tiêu, một nơi chốn nào đó).

7/ Rồi từ đâu không biết, bỗng dưng xuất hiện chữ bức xúc để thay thế cho tất cả những khái niệm về sự giận dữ hoặc không hài lòng. Trong khi về trạng thái tâm lý nầy có nhiều mức độ khác nhau. Từ trạng thái không hài lòng dẫn tới bực mình, dần dần tới ghét, căm t.h.ù… vân vân, cuối cùng tất cả những trạng thái tâm lý đó được gọi chung là bức xúc. 

8/ Chữ hoàn cảnh để chỉ cho tình thế mà một người nào đó đang gặp phải chuyện không may hoặc đáng thương. Thí dụ: Chị B đang rơi vào hoàn cảnh rất là bi đát.

Nhưng “ngôn ngữ mới” bây giờ thấy ai đó rơi vào hoàn cảnh éo le chẳng hạn thì nhiều người cho rằng “Anh ấy rất là hoàn cảnh.”

9/ Chữ tâm trạng thường được dùng để chỉ trạng thái tình cảm của ai đó. Ngày nay chữ tâm trạng lại được nhiều người thay cho một thái độ không vui hoặc băn khoăn suy nghĩ của ai đó. Thí dụ: Anh ấy rất là tâm trạng.

10/ Ngày xưa còn có Câu Lạc Bộ Bơi Lặn Dưới Nước Bến Nghé nữa! Nghe sao mà dài dòng, từ ngữ bị sử dụng rườm rà. Trời đất quỷ thần ơi! Mắc cái chi mà phải ghi rõ là đã bơi thì phải lặn? Lại phải lặn dưới nước chớ không được lặn trên khô. Chi bằng cứ ghi đơn giản hai chữ Hồ Bơi rồi ai muốn bơi thì bơi, muốn lặn thì lặn - không lặn cũng không sao. Không ai bị bắt nằm dài ra phạt trăm hèo vì bơi mà không lặn. Rồi ai muốn tắm khô thì tắm, muốn tắm ướt thì cứ tha hồ.

11/ Về hưu thì chỉ dùng một chữ gọn lỏn là “về”.

12/ Ăn ở tiệm xong, gọi tính tiền thì nói là “thanh toán” nghe mà tóc tai dựng ngược vì tưởng….

Tui không phải là người giỏi về ngôn ngữ nên cách phân tích của tui chỉ theo suy nghĩ cảm tính của riêng tôi nên có thể có nhiều chỗ không chính xác. Đó chỉ là cảm nhận của riêng tôi vì thấy nhiều chuyện ngược ngạo với những gì tui đã được học và ngược với những gì được quy định trước đây.

Nếu có gì sơ xuất xin các bậc giàu chữ nghĩa bỏ qua cho và góp ý thêm. Rất chân thành cảm ơn.

Đừng coi thường những lỗi trên đây nếu chúng ta muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Xuan Huong

Tiếng Nam Kỳ !


Người xưa có câu "nét chữ, nết người", chuyện cái nết xài chữ nghĩa nó cũng y chang vậy.

Chữ nghĩa cất lên như cái mộc đóng vô thịt da, vừa thốt ra lời là thấy rõ gốc gác, nguồn cội của người nói ở đâu, đặng mà biết hành xử cho hợp.

Chỉ cần đọc một bài viết, hay nghe loáng thoáng mấy câu bình luận là biết liền người này mang căn cốt Sài Gòn, người kia là dân TPHCM, ông này rặt nết Nam Bộ, bà kia mang hơi hướm miền Trung, hay ông đó mang ngữ điệu đất Bắc.

Nó hiện lên tỏ tường từ cách nhấn nhá từ ngữ, lối buông lời bộc bạch, cho tới phong cách.. sai chánh tả cũng mang cái hồn cốt rất riêng của từng xứ sở.

Ở đây, chỉ xin nói chuyện cái nết ăn nói của người miền Nam mình, so với cái lối xài chữ "hầm bà lằng" thời nay.

Cùng một ý niệm, người miền Nam quen xài chữ Quân lực, thì ở chỗ khác lại chuộng chữ Quân đội.

Chuyện đi quân dịch xưa với đi nghĩa vụ quân sự nay, xét về bổn phận thì cũng vậy thôi, nhưng cái hồn cốt đàng sau mỗi chữ lại gợi lên hai ý niệm hoàn toàn khác biệt.

Trong bản nhạc "Chiều mưa biên giới" có câu:

- "Người đi khu chiến thương người hậu phương".

Nghe hai chữ khu chiến là thấy liền nét diễn đạt thân quen, dư vị khác hẳn với chữ chiến khu.

Lại như danh xưng Thủy quân lục chiến khi chuyển thành Lính thủy đánh bộ, hay Hàng không mẫu hạm đổi thành Tàu sân bay, nghe qua thấy có chút lạ lẫm. Chắc tại người ta muốn tìm một lối diễn đạt gần gũi hơn.

Nhưng xét về cái lý của chữ nghĩa, nếu muốn tìm sự mộc mạc tuyệt đối, sao không đồng nhất là "Lính nước đánh bộ" cho trọn nét bình dân?

Cũng trong mạch đổi dời đó, hàng loạt danh từ quen thuộc như Phi cơ, Phi trường, Phi đạo, Phi thuyền lần lượt nhường chỗ cho Máy bay, Sân bay, Đường băng, Tàu vũ trụ.

Nhưng lạ cái, tới chữ Phi công với Phi hành đoàn thì lại giữ nguyên trạng. Hình như cái gì chưa tìm ra chữ thuần Việt vừa tai thì ngôn ngữ tự biết dừng lại để chờ..

Nói qua tới chuyện hành chánh và đời sống thường nhựt, cái nét dung hòa của tiếng Nam Kỳ lại càng lộ rõ.

Người miền Nam vốn quen tai với âm Chánh: Chánh phủ, Chánh quyền, Công chánh, hay tánh nết chánh trực.

Giờ đây đa số đã chuyển thành Chính, vậy mà các chức danh như Chánh án, Chánh Thanh tra, Chánh Văn phòng từ xưa tới nay vẫn giữ nguyên, như một nấc trầm chưa bị khỏa lấp.

Trong đời sống thường ngày, có những danh từ nghe qua là nhận diện được nết sống miền Nam cũ, vừa bài bản mà lại mang nét cổ kính như:

- Sổ thông hành, Hồng Thập Tự, Tư dinh, Ngũ Giác Đài, Tòa Bạch Ốc, Bắc phần/Trung phần/Cao nguyên Trung phần, Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Mạc Tư Khoa...

Có nhiều người nói thẳng rằng không ưa cách hô địa danh Hán-Việt như vậy, còn dè bỉu.

Mà ngộ, khi cần cất lời ca ngợi, người ta vẫn hát "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ", nghe vừa lạ mà cũng vừa quen.

Hay như tấm Thẻ Căn cước, sau nhiều chặng đường thay đổi danh xưng từ Chứng minh thư thành Chứng minh nhân dân rồi Căn cước công dân, rốt cuộc cái tên nguyên bản đó vẫn đường hoàng trở lại như xưa.

Rồi Nhà bảo sanh, cái tên nghe nhẹ nhàng và tràn đầy tình thương, ai đời lại gắn cho cái tên cứng ngắc: Xưởng đẻ! Nghe như đang tạo ra những sản phẩm công nghiệp từ khuôn mẫu vậy.

Ngó ky vô lối ăn nói của nhiều bạn trẻ miền Nam bây giờ, sẽ thấy vướng vô không ít hư từ lai căng, làm lạt đi cái nết mộc mạc của tiếng xứ mình. Người Nam Kỳ xưa muốn tả cảm xúc mạnh thì nói "dữ chèn", "quá chừng", "thấy ghê", chứ đâu có chêm chữ "vãi" nghe thô ráp và dung tục.

Hay thường đệm chữ "kiểu" (kiểu như là, kiểu kiểu vậy). Nhờ ai cái gì bao giờ cũng nói ngọt xớt: "đưa dùm tui với" hay "làm dùm chút xíu", chứ không ai nói cộc lốc "đưa dùm cái" "cái" là cái gì?

Cái thần và cái nét hay của ngôn ngữ miền Nam xưa vốn nằm ở sự nhịp nhàng, uyển chuyển.

Khi cần sự nghiêm cẩn thì ngôn từ đài các, trang trọng. Còn quay về với đời thường thì mộc mạc, dung dị.

Người ta ít khi nói mấy chữ hùng hồn như khẩn trương, xử lý hay thanh toán, mà chỉ đơn giản là: nhanh lên, giải quyết cho xong, hay tính tiền dùm.

Ngôn ngữ là lớp áo mặc trên mình, thể hiện bản sắc vùng miền. Mỗi nơi chốn có sắc thái riêng, đừng gắn gượng đắp áo của mình lên kẻ khác.

Chim xa cây còn nhớ nhánh, người xa tiếng nói sao đành quên quê...Mong sao qua bao biến đổi của thời gian, người Nam vẫn giữ được cái hồn cốt chân phương của tiếng nói quê nhà, để mỗi lần cất tiếng lên, ta không phải mỏi mắt tìm đồng hương trên chính quê hương mình.

( Không đề tên tác giả )

Blog Archive