Showing posts with label Lệ Hoa Wilson. Show all posts
Showing posts with label Lệ Hoa Wilson. Show all posts

Sunday, September 22, 2019

Trả Nghiệp Với Nụ Cười

Lệ Hoa Wilson
Ngày St Patrick’s Day các “giáo sư” thất thập chung vui với “học sinh cửu thập”!
Cụ bà 94 tuổi đang học vẽ hình bản đồ và cờ Việt Nam 

***
Tôi mất một đứa con trai năm cháu 16 tuổi trong một tai nạn xe hơi.

Trong kinh Phật có câu “Phiền Não là Bồ Đề!” Quả thật không sai.

Tôi đem tất cả trái tim tan nát của một người mẹ, những dòng nước mắt không bao giờ cạn, những lần âu yếm nâng niu, những ngày đón đưa mưa nắng, những quần áo dính đầy mực, những sách vở gach dọc vẽ ngang trộn lẫn với một chút máu tim con, một chút linh hồn trẻ trung, một ít cát bụi mộ phần và rất nhiều oán trách sự bất công của Trời Đất để tạo thành một nắm đất phiền não! To lớn như bầu trời. Bao la như biển cả. Sâu lắng như linh hồn.

Rồi với thời gian tàn nhẫn vô tình nhưng hữu hiệu lãng quên, tôi từ từ học hỏi sự tự xét lại chính mình, nhìn lại những hành động sai lầm của chính mình, lãng quên cái ngã của chính mình và dùng nắm đất phiền não đó nắn ra một hình tượng bồ đề. Không đầu, không đuôi, không áo choàng, không vương miện, không chuỗi ngọc, không linh thiêng.

Chỉ là một bàn tay đở anh chị đứng dậy. Một miếng giấy lau dòng nước miếng cho người già. Một giọng hát khàn khàn ca ngợi lòng mẹ. Một cái choàng vai an ủi ông cha cô đơn. Một vài ý kiến khuyến khích các thành viên trong gia đình thương yêu và tha thứ cho nhau. Một hộp cơm rang với vài lát thịt gà ram mặn cùng dưa cải cho những người vô gia cư nằm dọc theo bãi cỏ tàng cây. Ngay cả những bước nhảy line dancing ngập ngừng xiêu vẹo của các bạn trong nhóm Thư Viện Việt Nam hay Royal Gardens...

Chúng tôi đến viện tâm thần ở Long Beach thăm viếng, cùng họ nhảy nhót và phục vụ ăn trưa cho những người vì quá đau khổ mà trở thành ngơ ngẩn, vì quá sa ngã mà bị hất hủi bỏ rơi, vì quá cô đơn mà quên cả nói cười. Tôi và các bạn ‘thất thập cổ lai hy’ cùng nhau cố gắng đem lại những nụ cười cho những chúng sanh bạc phước. Không quá cao xa, không quá lớn lao. Chỉ có thể làm được trong tầm tay ngắn ngủi của chúng tôi.

Tôi theo sư cô Chân Phụng hằng tuần đến những trung tâm nuôi dưỡng người bịnh và người già để tụng kinh và ca hát giúp vui cho họ. Trong khoảng 40 người ngồi xe lăn trong căn phòng hội, bạn có biết là có bao nhiêu người nghe chúng tôi tụng kinh và ca hát không? May mắn sẽ có 10 người lắng nghe và niệm theo, 10 người lặng lẽ ngó vào không gian trước mặt. Họ chỉ nhìn vào một cái dĩ vãng mịt mù nào đó, hoặc một cái tương lai đen tối nào đó. Cái hiện tại cô đơn, bịnh hoạn với hai chân không đi được, hai tay không cầm nắm được, cái miệng không nói được rõ ràng đối với họ là một điều đáng ghét bỏ và nên lãng quên. Số còn lại hoàn toàn “Không Nghe. Không Thấy. Không Nói”

Nhưng chúng tôi tụng cứ tụng, ca hát cứ ca hát.

Tôi nói với cô An, trưởng ban hoạt động của viện dưỡng bịnh Mission Palm ở đường Beach và 21st là tôi muốn dạy họ vẽ. Có thể hoạt động nầy sẽ làm họ thức tỉnh và sống động hơn.

Tháng Ba chúng tôi mặc áo xanh, đội nón xanh, vẽ lá xanh cho St Patrick’s Day.

Tháng Tư vẽ bản đồ ViệtNam và lá cờ vàng ba sọc đỏ vắt ngang .

Tháng Năm vẽ hoa hồng tặng Mẹ cho Mother’s Day.

Tháng Sáu sơn trái tim cho Father’s Day.

Tháng Bảy vẽ cờ Mỹ cho lễ Độc Lập.

Vân vân và vân vân…

Tháng đầu tiên tôi làm thử một mình. May quá tôi thành công. Thế là viện cho tôi mỗi tháng dạy vẽ một lần. Qua những tháng sau tôi ‘quyến rũ’ các bạn cùng đi dạy vẽ! Họ la oai oái lên chị Lệ Hoa ơi, chị có bị mát dây điện không? Tụi em chưa từng cầm qua cây cọ, chưa biết màu xanh trộn màu đỏ ra màu gì, chính mình vẽ một cái lá cây còn chưa ra thì làm sao dạy cho người khác vẽ? You are kidding, right ?

Vì các bạn tôi phần nhiều là thất thập, còn tôi thì bát thập rồi nên phần lớn tôi xưng chị và gọi họ là em.

Nè các em ơi, đừng có la làng lên và đừng có lo. Chị chỉ huấn luyện tụi em trong vòng 10 phút là tụi em sẽ thành giáo sư dạy vẽ ngay! Ái dà, nói dóc cũng vừa vừa thôi nghe chị !

Trước đó, tùy theo tháng, tôi đã vẽ sẵn hình rồi. Lấy tháng Tư cho gọn nhá. Tôi vẽ hình bản đồ VN lên giấy cứng (cái nầy mình đã vẽ cả trăm lần rồi khi còn là học sinh trung và tiểu học ở VN phải không bạn?). Sau đó là lá cờ với ba sọc nằm ngang qua hình chữ S. Và một cái đảo nhỏ. Rồi tôi làm copy ra vài chục bản. Rồi tôi đi tiệm Dollar Tree mua vài chục hộp màu với nhiều màu sắc khác nhau. Rồi tôi mua một hộp Q-Tips và chung nylon đựng nước. Voilà. Dụng cụ sẵn sàng.

Nầy các giáo sư ơi, hãy nhúng cái Q-tip vào chung nước. Hãy mở hộp màu ra và xoa cái Q-tip vòng vòng trên mặt cho màu sắc thấm vào gòn. Trải bản đồ ra. Thay vì cây cọ, xin hãy nhét cọng Q-tip vào tay học trò rồi cầm tay họ nhấc lên đưa qua bản vẽ.

Biển màu gì? Màu xanh dương. Ok, chúng ta đi dọc theo biển nhé. Nầy là Hà Nội. Hăng hái lên, đã gần tới Huế rồi. Ô kìa Vũng Tàu và chút xíu nữa là lấp lánh Saigon. Và dừng tay đi. Mũi Cà Mau đây rồi. Chúng ta đi dọc theo 2,500 cây số đường biển trong chớp mắt, thật là chuyện thần tiên!

Cờ màu gì các bác? Màu vàng ! Ba sọc màu gì? Màu đỏ! Wow! các lão niên còn minh mẫn quá. Vậy thì a-lê-hấp, các giáo sư ơi, hãy cầm những bàn tay nhăn nheo đầy tàn nhang kia, những ngón tay run rẩy đang chờ được quẹt màu vàng tươi, đỏ chói lên lá cờ quê hương, nơi họ đã từng “Biết Yêu, Biết Khóc, Biết Cười!”

Tiếng cười rộn rã, bóng người lăng xăng. Các tác phẩm hoàn tất. Lem nhem giống một tờ giấy nháp. Gồ ghề giống một củ khoai từ. Nhưng đầy Tình Yêu, Quê Hương và Nguồn Cội!

Rồi chúng tôi cùng hát. Có một lần tôi nghe ban hợp ca Ngàn Khơi hát bản Việt Nam Việt Nam, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Thề Không Phản Bội Quê Hương, Quê Hương Anh vẫn Mãi Là Việt Nam… Đầu óc tôi như có một luồng điện chạy qua, hận thù sôi sục...

Nhưng ngày hôm nay, đứng sau lưng các ông bà lão, giúp họ nâng lên cánh tay để thề không bao giờ phản bội quê hương, lập lại câu “muôn năm muôn năm” mỗi lần họ phều phào hát hai chữ Việt Nam Việt Nam, ngẩng đầu lên hãnh diện như một dòng sông không bao giờ cạn, tôi cảm giác có một cái gì đó nhẹ như tơ nhện sau hè, mát như bóng dừa bên bờ sông và cay… cay khủng khiếp khiến một dòng nước len lõi theo mạch máu con tim chảy lên khóe mắt. Không muốn làm phiền các bạn, tôi quay lưng lại ngó vào vách tường, hơi ngẩng đầu lên để cho giọt nước mắt quay ngược về nguồn!

Ôi Việt Nam quê hương yêu dấu, “Nơi tôi sanh ra và lớn thành người!” Dù cho sức khỏe đã cạn dần, dù cho miếng đất nâu đen hoặc biển xanh bao la đang chờ đợi nắm xương tàn thì tình yêu quê hương vẫn đủ đầy, vẫn mặn mà, vẫn bát ngát.

Phải rồi các bạn ơi. Tôi đã gây ra một nhân lỗi lầm nào đó để cuộc đời nầy phải hứng chịu nghiệp Tre Khóc Măng. Nhưng tôi còn chút may mắn đã gặp được bạn hiền thầy tốt để biến phiền não thành bồ đề. Tôi đã nguyện chuộc tội bằng cách đem nụ cười đến những kẻ bạc phước dù đó là Việt hay Mỹ, Mễ hay Miên, trắng hay vàng, đen hay đỏ. Dù đó chỉ là những hoạt động nhỏ mọn tầm thường trong tầm tay ngắn ngủi của tôi. Dù đó chỉ là một nụ cười! 

Các bạn ơi, nếu có một ngày nào đó bạn gặp phải một hoàn cảnh khổ đau làm tim bạn tan nát, làm đời bạn tang thương thì xin bạn đừng chôn đời mình trong phiền não. Khi vay chúng ta mỉm cười, vậy thì khi trả, bạn và tôi, chúng ta cầu nguyện các đấng thiêng liêng cùng Mẹ Việt Nam ban cho chúng ta một chút hạnh phúc, cho chúng ta biến Phiền Não thành Bồ Đề và cho chúng ta trả nghiệp với nụ cười, bạn nhé.

Vô Thường!

Yêu thương bạn,

Lệ Hoa Wilson

Saturday, July 13, 2019

Giã Từ Vũ Khí

Lệ Hoa Wilson
Ê kíp thực hiện bữa ăn trưa mời 700 cựu chiến binh đang trong tình trạng không nhà và 200 thiện nguyện viên. 

Ghi chú hình của người viết: “Sau lưng chúng tôi là bác sĩ Delzell, giám đốc chương trình, đang nói chuyện, kế đó là cờ của CA và các đơn vị quân đội Mỹ. Trước mặt chúng tôi là tượng một chiến binh Mỹ mặc áo giáp chống đạn, kế đó là giày, hoa và thơ của gia đình gởi khi họ đang còn chiến đấu tại VietNam. Tất cả áo, giày , thơ v.v. đều được lượm từ các chiến trường trên các xác chiến sĩ tử thương.”

* * *
Stand Down.

Nhân mùa lễ Độc Lập và sắp tới mùa lễ Tạ Ơn, tôi xin nhắc lại một chút chuyện cũ và hy vọng từ kinh nghiệm chuyện cũ nầy chúng ta sẽ có một chuyện mới để tạ ơn xã hội và những người bạn Mỹ đã giúp đở chúng ta trong những bước khốn cùng. Xin mời bạn đọc và ủng hộ nhé

Thương yêu

- Lệ Hoa Wilson

Stand down là một danh từ đặc biệt trong quân đội Mỹ dùng để chỉ sự thuyên chuyển một đơn vị nơi chiến đấu về nơi hậu phương an toàn để dưỡng quân. Mấy mươi năm về trước những người chiến sĩ nầy đã được rút ra khỏi những làng mạc xa lạ đầy hầm chông, những chiến trường dầu sôi lửa bỏng đầy hận thù, chết chóc để vể với một quê hương an toàn có vợ hiền, có con thơ, có nghề nghiệp, có gia đình.

Nhưng dòng đời có chảy hoài theo ước muốn của mình đâu. Hãng xưởng đóng cửa, gia đình gãy đổ, thân nhân xa lìa, nợ nần chồng chất, những người chiến sĩ không phơi mình giữa sương gió của chiến trường Việt Nam nhưng lại phơi mình giữa một loại gió sương khác không kém phần khốc liệt và tàn nhẫn: gió sương của Kẻ Không Nhà!

Đây là năm thứ năm mà các đoàn thể nhân đạo Mỹ, các công ty lớn như McDonald, Burger King, Boeing v..v.. các tổ chức tôn giáo, trường đại học Long Beach, các cơ quan chánh phủ và nhất là những người có một trái tim làm bắng tình yêu vĩnh cửu của Chúa và một tâm hồn đầy từ ái của Phật họp lại để tổ chức ba ngày chia xẽ và an ủi những kẻ bơ vơ, những kẻ đã hy sinh mạng sống và hạnh phúc để bảo vệ cho nền tự do của nhân loại.

Lần đầu tiên tham gia chương trình, tôi và thằng con 12 tuổi chỉ được phân công đứng sắp hàng bỏ vào bao nylon bàn chải và kem đánh răng. Có tới 200 người thiện nguyện gồm đủ mọi thành phần để phục vụ đủ mọi chuyện từ hớt tóc, nấu ăn, ca nhạc, khám bịnh, phát thuốc, kiếm việc làm, xóa bỏ ticket, ghi danh các lớp học, lắng nghe những tâm tình.

Tôi làm nghề di trú mà họ là dân Mỹ chánh cống, tôi thật là thừa thãi nhưng tôi không chịu thua. Năm sau tôi trở lại xin ban giám đốc cho tôi góp phần 2000 cuốn chả giò. Họ ngạc nhiên và vui mừng. Tôi vận động bạn bè và chúng tôi đã gây được một chút ánh mắt yêu thương. 

Qua năm thứ ba tôi gan dạ xin ban giám đốc cho chúng tôi phục vụ trọn bữa ăn trưa cuối cùng. Ái dà bạn ơi, phục vụ ăn trưa gồm có cơm rang, thịt bò xào broccoli, gà lăn bột chiên, mì xào tôm và dĩ nhiên chả giò cho 700 người cựu chiến binh và 200 thiện nguyện thì cái gánh nặng đó gọi là ...liều mạng! Nhưng trời thương và bạn bè thương, chúng tôi đã làm tròn sứ mạng. 

Có những người Việt Nam rất vui mừng ủng hộ. Họ còn cám ơn chúng tôi đã cho họ một cơ hội để trả ơn. Họ thường ủng hộ các hoạt động của hội Cựu Chiến Binh Việt Nam nhưng chưa bao giờ có dịp giúp hội Cựu Chiến Binh Mỹ. Nghe những tiếng WOW, Thank You very much và nhìn những ánh mắt vui tươi, những miệng nhai ngấu nghiến, chúng tôi thật hạnh phúc.

Họ được đối xử với tất cả sự sốt sắng và tận tâm của những người thiện nguyện. Họ được bác sĩ khám bịnh, khám răng, thử máu. Họ được các quan tòa ký tên xóa bỏ các giấy phạt. Họ được trường đại học dẫn dạy về các lớp học nghề. Họ được nhân viên xã hội ghi tên kiếm việc làm. Họ được tắm rửa cạo râu bằng nước nóng. Họ được ngủ yên giấc trong lều, không sợ những giọt mưa lạnh lẽo vô tình len lõi vào trong áo. 

Nhưng có lẽ trái tim của những người bạc phước nầy bị xúc động nhứt là lúc họ được cho ăn vì họ không bị nhìn với ánh mắt khinh bỉ cho họ là đồ làm biếng. Họ không bị ném vào tay những khúc bánh mì thừa thải của kẻ phước dư. 

Không, họ được đưa dĩa thức ăn tận tay với một nụ cười cởi mở, một ánh mắt chia xẽ, một tình người ấm áp. Họ nhận thức ăn và la lên: “Vietnamese women number one! we love your yellow ao dai! Can you be my girlfriend?!” chúng tôi mỉm cười vui vẻ: “No, we can’t be your girl friend but if you call us Aunties, we will introduce our nieces to you! OK nephews? Ha ha ha!”. 

Gan dạ hơn nữa là chúng tôi lên sân khấu đồng ca bản “Saigon đẹp lắm Saigon ơi Saigon ơi!” Những kỷ niệm xưa ào ạt trở về. Những tiếng súng ầm ỉ. Những buổi tối cô đơn. Những giọt nước mắt cho người bạn nằm xuống. Những yêu đương hẹn hò với cô gái da vàng. Ôi Việt Nam, nơi chúng ta đã để lại máu xương và con tim....

Hai giờ trưa, bữa ăn hoàn mãn. Lễ hạ cờ và từ giã bắt đầu. Bản quốc ca Mỹ được ai đâu đó trong đám đông hát lên. Hai lá cờ Mỹ và cờ của Hội Những Người Chiến Sĩ Mất Tích được xếp lại gọn ghẻ. Hai cựu chiến binh trân trọng nâng cờ trên tay đi ngang qua sân cỏ, đến dưới lễ đài, kèm theo hai bên bởi hai cựu chiến binh khác. Cờ được trao qua tay ban tổ chức với lời nói chân thành : “ Chúng tôi xin trân trọng giao những lá cờ nầy đến tay quí bạn. Xin quí bạn đừng quên những người chiến sĩ đã phục vụ cho quốc gia và những người chiến sĩ hiện còn đang mất tích!”.

Rồi tất cả mọi người đứng lên ra sân cỏ, tay nắm tay làm thành một vòng tròn vĩ đại.Tiếng nhạc vang dội từ máy phóng thanh :

Bạn hãy hãnh diện làm người Mỹ. Hãy giúp cho những người té quỵ có một cơ hội để đứng lên....

Một cảm xúc tràn đầy tình người dâng lên trong tôi. Tôi nắm tay ai đó đứng cạnh tôi và họ nắm tay ai đó đứng cạnh họ... Tất cả 700 người cựu chiến sĩ không nhà cùng 200 thiện nguyện viên cùng nối vòng tay, lẩm nhẩm hát và đung đưa theo tiếng nhạc. Cánh tay đưa cao, bàn tay nắm chặt bàn tay, trong không gian của sân cỏ lúc đó không có Mỹ hay Việt, gái hay trai, đen hay trắng, giàu hay nghèo, hữu phước hay vô phần. Lúc đó chỉ có Tình Người, một tình người thuần túy, lồng lộng, chan hòa.

Bài hát chấm dứt, vòng tay đứt đoạn. Bác sĩ Bob Delzell, giám đốc chương trình nhìn qua tôi và các bạn, tất cả đều rưng rưng nước mắt, rồi nói: “ Các bạn chắc chưa có kinh nghiệm cho buổi lễ chấm dứt 3 ngày Stand Down. Lần sau xin nhớ mang kiếng đen!” (ý ông nói là để che đi những giọt nước mắt). Nói xong ông và người phụ tá gỡ đôi kiếng mát của họ xuống. Mắt của họ cũng đã ướt đẫm nước mắt. Tôi trợn mắt nhìn ông, có phải ông vừa khuyên tôi lần sau mang kiếng đen không? Ông mĩm cười lắc đầu: “I can help it! “

Rồi không một câu từ giã nào nữa, đoàn người đã được ăn no, ngủ kỹ trong ba ngày qua lặng lẽ xếp thành hàng dài lần lượt rời sân cỏ, tiến qua cổng đến bên các chiếc xe bus. Họ không cần phải nói những lời cám ơn nữa vì thật ra có lời nào đủ để cảm tạ những trái tim ngát hương nầy.

Từng chiếc xe bus sẽ đổ họ xuống những góc phố tối tăm, nghèo nàn. Từ các nẻo đường gió sương, họ đã tụ tập lại, hưởng một chút tình người rồi lại được trả về với cuộc đời sương gió. Tôi mong sẽ gặp lại họ năm sau như một kẻ có công ăn việc làm, như một người thiện nguyện chớ không phải là kẻ không nhà.

Tôi ôm hôn từ giã những người trong ban tổ chức. Tôi cảm thấy mình nhỏ mọn trước họ. Nhỏ mọn không phải vì họ là bác sĩ, là giám đốc, là kẻ danh vọng giàu sang, nhưng tôi quả thật là nhỏ mọn đối với trái tim tràn đầy tình thương đồng loại của họ. Tôi đã dự định và cho họ biết trước là năm sau tôi sẽ cố gắng mời các cựu chiến binh Việt Nam tới dự để cùng hồi tưởng và chia xẽ những ngày tháng củ. Họ rất vui mừng và hoan nghinh. Nhưng rất tiếc là chương trình Stand Down, sau 9 năm họat động, đã đổi qua một hình thức khác.

Bây giờ tôi đã hưu trí, có thời gian nên tôi đã bắt đầu liên lạc lại với hội Cựu Chiến Binh Mỹ, hy vọng là họ sẽ cho tôi một ngày để chúng ta, những người Viêt Nam lúc nào cũng sống theo lời dạy của tổ tiên “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn, ăn cây nào rào cây nấy”, sẽ có dịp phục vụ một bữa ăn tình thương cho những chiến sĩ không nhà.

Các bạn đợi tôi nhé.

Thương yêu

Lệ Hoa Wilson 

Tuesday, June 18, 2019

Chồng Mỹ cũng tốt chứ ...


Bất cứ người con gái nào lớn lên, đến tuổi trưởng thành cũng đều mơ ước một ngày bước lên xe hoa để làm vợ.

Có những người đầy đủ phước đức, sanh ra, lớn lên, lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, sống trong danh dự, chết trong thương yêu. Có những người thiếu kém nghiệp lành, sanh ra, lớn lên, lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, sống trong đau khổ, chết trong cô đơn.

Dù kém nghiệp lành hay đầy đủ phước đức thì những người đàn bà nầy đã hạnh phúc hay khổ đau với một ông chồng Việt Nam nên được xã hội Việt Nam trân trọng tặng cho cái danh dự “bà vợ”.

Tôi đã lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, nhưng tôi đã hạnh phúc hay đau khổ với một ông chồng người Mỹ, nên được xã hội Việt Nam khinh khi ban cho danh từ “Me Mỹ” !

Ở cùng một hoàn cảnh, ăn mặc cùng một kiểu, nói bá láp cùng một câu, phạm cùng một lầm lỗi, nhưng “bà vợ” thì được cảm thông và tha thứ vì bà, tuy nói ác mà tốt bụng, tuy ăn mặc hở hang mà tánh rất đàng hoàng, tuy có ra ngoài vòng lễ giáo một chút, nhưng hoàn cảnh thật đáng thương v.v.., còn “me Mỹ” thì sẽ nhận đựợc một bản án nặng nề, không hồi tố, không biện minh, không chống đỡ.

Một người khách đến văn phòng tôi làm giấy tờ bảo lãnh thân nhân. Trong khi tôi điền đơn, ông vui miệng hỏi: "Chớ cô ở Mỹ bao lâu rồi mà giỏi vậy và có đứa con nào chưa?" Tôi trả lời: "Cháu ở Mỹ đã 19 năm (thời điểm 1994) và có được năm con. Chồng cháu người Mỹ". Ông khách nhìn tôi kinh ngạc và hạ một câu: "Cô lấy Mỹ mà cũng đẻ dữ vậy hả?". Âm thanh khinh bạc trong câu Lấy Mỹ của người khách đáng tuổi cha chú làm tôi hơi khựng lại, và trong một phút vô minh, trong óc tôi cố nghỉ ra một câu gì tương xứng với hoàn cảnh của ông để nói lại cho trái tim mình đở rướm máu, nhưng đức Phật Quan Âm đã mau hơn cái phút vô minh đó nên tôi chỉ từ tốn trả lời: "Dạ, vợ chồng cháu định có bảy đứa, nhưng ở đây nuôi con cực quá nên dừng lại ở năm đứa". Chắc ông khách cảm nhận được sự lỡ lời của mình và thái độ từ hoà của tôi nên có vẻ bẽn lẽn.
 
Ngày hôm đó tôi được mặc cái áo Lấy Mỹ mà đẻ nhiều con !.

Lại có một cô đáng tuổi em út nhờ tôi kêu điện thoại lên tòa án dàn xếp một vụ hiểu lầm rắc rối do cô gây ra. Mọi việc ổn thỏa rồi cô cám ơn tôi và nhận xét: "Chị lấy Mỹ mà cũng biết làm nghề nầy nữa há? Có nghiã là: nghề văn phòng phải do mấy bà vợ đảm nhận mới phải. Mấy bà nầy ngày xưa bên Viêt Nam là người có học, nay tiếp tục văn phòng là lý đương nhiên. Còn chị lấy Mỹ sao lại ngồi đây ? Sao dám chen chân trong vòng danh lợi nầy? Sao lại ăn nói nhẹ nhàng giúp đở đồng hương? Đáng lẻ chị phải tiếp tục bán bar, bồi phòng hay cái gì hạ tiện một chút, ăn nói có một chút chữi thề, thái độ có một chút sắc sảo thì mới hợp lý chớ". Tôi nhìn người đồng hương hiền lành ít học và nhẹ nhàng nói : "Nghề nào cũng vậy thôi, em à. Nghề nào làm ra tiền để nuôi con thì bà mẹ nào cũng làm hết, bất kể sang hèn". 

Ngày hôm đó tôi được mặc chiếc áo Lấy Mỹ mà biết làm nghề văn phòng !.

Một hôm, có một ông lạ hoắc ở tận Canada, do một người mách bảo, tới văn phòng tôi để xin băng giảng kinh Phật. Lúc đó chưa có CD, băng kinh còn rất hiếm. Sau khi chuyện vãn, tôi tặng ông băng của thầy Thanh Từ, thầy Nhất Hạnh, thầy Thiện Huệ, sư cô Như Thủy v..v.., ông vui mừng cám ơn rối rít: "Không ngờ cô lấy Mỹ mà cũng biết tu hành dữ vậy!". Tôi mĩm cười chọc ông: "Vậy là ông nói tôi đi sai đường phải không ? Đáng lẻ tôi đi theo quỷ Sa Tăng mới đúng. Đáng lẽ tôi phải vào trà đình, tửu quán, tay cầm ly rượu, tay cầm điếu thuốc thì mới đúng điệu me Mỹ, chớ me Mỹ gì mà sờ mó kinh sách, thật là ốt dột ông há". Ông khách biết mình nói quá lố vội xin lỗi, tôi lại mỉm cười. 

Vậy là tôi lại được mặc thêm một chiếc áo Lấy Mỹ mà cũng biết tu hành !.

Bạn tôi, sau khi cằn nhằn, phê phán, chê trách con dâu và bà xuôi gia đủ điều, liền hạ một câu kết luận: "Thằng con tôi là thằng chúa ngục. Không biết sao mà nó mê con quỉ nầy dữ vậy ? Má nó là cái thứ lấy Mỹ thì làm sao biết dạy con ?!" 

Thêm một chiếc áo nữa Lấy Mỹ không biết dạy con !.

Tôi thường hay thắc mắc tự hỏi không biết mình làm vợ Mỹ thì có khác biệt gì với mấy người làm vợ Việt Nam ? và người chồng Mỹ của mình có khác biệt gì với người chồng Việt Nam?

Khi vui tôi cười, khi buồn tôi khóc. Khi nấu ăn bị đứt tay, máu cũng đỏ thắm. Khi nhìn đồng bào lầm than trong đói nghèo, lụt lội thì ruột tôi cũng mềm. Khi chồng thất nghiệp hay gặp cảnh gian nan thì tôi cũng đở nâng, an ủi. Khi chồng vụng dại, lỡ lầm thì tôi cũng gây gổ, giận hờn.

Khi chồng tôi cầm bảng học bạ đầy chữ A của các con thì mặt mày cũng tươi vui hớn hở. Khi bị trường kêu lên mắng vốn thì cũng buồn bã lo âu. Khi con nhỏ ốm đau thì cũng thức trắng đêm lo thang thuốc. Khi con nên vợ nên chồng thì cũng hãnh diện, mừng vui. Buổi sáng hôn nhau từ giã hăng hái đi làm nuôi con. Buổi tối hôn nhau cám ơn một ngày bình an, hạnh phúc.

Chúng tôi cũng có những luật lệ riêng của gia đình. Khi các con còn nhỏ ngồi ăn cơm chung với cha mẹ, ăn xong trước rồi muốn ra khỏi bàn ăn phải xin phép. Khi cha nói NO rồi thì không được nhõng nhẻo qua hỏi mẹ. Khi cha mẹ đang coi TV thì không được tự động đổi đài khác. 

Chồng tôi người Mỹ mà lại tin vào chánh sách ‘thương con cho roi cho vọt’ của VN, nhưng ảnh không đánh con trong sự giận dữ. Ảnh bắt chúng nằm sấp xuống ghế, nói cho chúng biết chúng đã phạm lỗi gì và hình phạt ra sao (một roi chổi lông gà, hay không có TV một tuần, hay 8 giờ tối phải vô phòng không được hội họp với gia đình v.v..). Tôi không bao giờ xen vào bênh vực cải cọ lúc ảnh răn dạy các con, dù đôi khi cây roi hạ xuống một tiếng chát, thằng nhỏ rú lên, lòng mẹ nghẹn ngào. Sau mỗi hình phạt, tôi dẫn các con đi rửa mặt, cho chúng ly cà rem, cái bánh ngọt rồi dẫn chúng vào phòng xin lỗi cha. 

Các con ơi, dù cha không phải lúc nào cũng đúng khi răn dạy các con, nhưng hãy nhìn mỗi buổi sáng, dù nắng dù mưa, dù mạnh giỏi dù khó chịu, cha chúng con vẫn ra xe đi làm. Cái lap top, cái cell phone, cái phòng ngủ, cuốn sách, áo quần, sách vở, máy sưởi, nước nóng, sự hiểu biết, sự tiện nghi, sự trưởng thành…trăm ngàn thứ trong cuộc đời con đang hưởng thụ đều đổ lên hai vai của người cha đó, thì đôi khi một vài hiểu lầm có đáng là bao. Vợ chồng tôi không hoàn toàn nhưng đã cố gắng dạy con 'the best we know'.

Tôi được người đời tặng cho nhiều chiếc áo khác nhau, nhưng ít có chiếc nào nhuộm lòng Từ Bi và Hiểu Biết. Tôi lẳng lặng nhận những chiếc áo khắc nghiệt đó, không oán trách cũng chẳng hạ mình. Tôi không có gì phải cúi mặt khi nói cho người đối diện biết chồng tôi người Mỹ. Trái lại những lời khinh bạc, những dè bỉu trước mặt hay sau lưng đó đã giúp tôi tăng thêm phần nhẫn nhịn, thứ tha và thông cảm hơn đối với những chúng sanh bạc phước khác. Và tôi tin rằng vì thế tôi hoá giải được một phần những oan khiên, nghiệp chướng của kiếp nầy cũng như của những kiếp trước. Quả nhiên, phiền não là bồ đề và cuộc đời thì không có gì là tuyệt đối hết. Cũng có người thương tôi. Tôi xin gởi lời cám ơn với tất cả trái tim chân thành đến các đồng hương tại Long Beach đã từng dùng qua các dịch vụ của văn phòng tôi và đã thương mến tôi như một con người, đã đối xử với tôi như một “bà vợ”.

Tôi đóng cửa văn phòng lái xe thẳng ra nghĩa trang thăm mộ con. Chúng tôi mất một đứa con trai trong một tai nạn xe hơi lúc cháu vừa 16 tuổi. Từ xa, tôi thấy một người ngồi bên cạnh mộ, hai đầu gối cong lên, hai tay ôm lấy đầu gục xuống chân. Tôi lại gần. Té ra là Ron, chồng tôi. Tôi quì xuống trước mặt anh, hai tay nâng đầu anh lên, để trán tôi cụng vào trán anh. Anh nhìn tôi thì thầm : "Honey, help me, please help me. I can not go through our son’s loss without your love and your support" (em ơi, giúp anh, em hãy giúp anh. Anh không thể nào vượt qua cơn đau khổ mất con nầy mà không có tình yêu và sự chia xẻ của em)". Tôi ngồi xuống bên anh, bên cạnh mộ đứa con yêu dấu. Tôi để đầu anh dựa vào má tôi và dịu dàng nói : "Em yêu anh. Chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua nổi đau khổ nầy !" 

Một giọt nước mắt của anh thấm vào miệng tôi. 

Giọt nước mắt của người chồng Mỹ với người vợ Việt, của người cha Mỹ khóc thương cho đứa con trai vắn số cũng mặn như giọt nuớc mắt của bất cứ người chồng, người cha nào khác.

Có khác gì đâu. Vô thường!

Lệ Hoa Wilson

Monday, December 18, 2017

Nước Mỹ: Không phải tạm dung!

(Lệ Hoa Wilson)
                                               
Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.

Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!

Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chặn lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…

Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.

Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc!

Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.

Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảnh. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!

Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.

Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.

Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.

Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:
“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.

Tôi trả lời:
“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”

Viên trung sĩ vội nói:
“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp Đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”

Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng, vị Đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.

Vị Đại tá nhìn xấp tài liệu nói:
“Chồng bà yêu cầu Tòa Đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ này lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay”.

Tôi ngẩn ngơ nhìn vị Đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:
“Ngài Đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… Xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện này không có thật…”

Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị Đại tá rộng lượng nhìn tôi:
“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ này đến nhà bà sáng mai”.

Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa, vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.

Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị Đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và Bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị Đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.

Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.

Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng sản.

Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị Đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:
“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà”.

Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:
“Tôi hiểu thưa Đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại”.

Vị Đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ này có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.

Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng Bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.

Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.
Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?

Không Giống Ai Hết!

Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi.

Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?

Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.

Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.

Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó Chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.

Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:

“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn”.

Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông

“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”

Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp”.

Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam Bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!

Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ”.

Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề này tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.

Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của Chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…”. Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người ty nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:

“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm”.

Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:

“Dạ tôi cũng không biết chắc”.

Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.

Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho Công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.

Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.

Những người bạn ngoại quốc mới này giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.

Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.

Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.

Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.

Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.

Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người.

Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.

Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.

Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done”.

Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn sẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu. Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước này, dân tộc này với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi này làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia này.

Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương này. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…

Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi này làm quê hương.

Saturday, May 13, 2017

Tre Khóc Măng



Image result for mother and son photos

Tôi và Jimmy là hai mẹ con mà thân nhau như hai người bạn. Ông xã tôi tánh tình hiền hậu nhưng cục mịch ít nói nên các con cứ theo mẹ mà tâm sự.

Jimmy không dấu diếm tôi điều gì, từ những vui buồn trong trường cho tới những phiền lụy do bạn gái gây ra. Chúng tôi nói về tương lai, về các môn học, về thầy giáo, về sự cách biệt trong hai nền giáo dục Việt Mỹ, về mấy ông chánh khách dõm, về âm nhạc, về thời trang, về tình yêu puppy love v.v.. Khi hai mẹ con ngồi tâm sự, đôi khi tôi tưởng chừng như có thể sờ mó đuợc tình thân giữa hai người. Nó dầy đặc và bao quanh chúng tôi như một mảnh lụa êm mướt nhưng chặt chịa, không thoát.

Tôi hay lo sợ vẫn vơ vì thấy tuy gia đình không giàu sang nhưng được nhiều hạnh phúc. Chồng tôi thuộc loại cũi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài. Các con đều thương yêu nhau và hiếu thảo. Hạnh phúc tầm thường nhưng đáng yêu. Tôi bằng lòng với những điều dung dị mà tôi được hưởng.

Ngày Jimmy báo tin là cháu được bầu làm hội trưởng hội sinh viên trong trường, nổi lo sợ vẫn vơ lại dấy đục tâm hồn tôi. Luật thăng bằng của tạo hoá, có gì lên mãi mà không xuống và ngược lại ?

Jimmy học toàn chữ A, Jimmy chơi trong đội varsity của basket và foot ball, Jimmy là hội trường của ASB. Jimmy hiếu thảo và hiền hoà, Jimmy được cả trường thương mến. Cô giáo chánh của Jimmy thường hay nói với vợ chồng tôi: “Jimmy là một đứa con trai mà bất cứ bậc làm cha mẹ nào cũng đều mơ ước !”.

Tất cả với Jimmy đều tốt đẹp, đều vẹn vẽ, đều vui tươi, vậy thì cái điểm khởi đầu cho nấc thang tụt xuống nằm ở đâu? Tôi thường hay suy nghĩ và biết chắc rằng nếu phải đánh đổi cả cuộc đời của tôi để cho các con được sống toàn vẹn, tôi rất sẵn sàng.

Có một người phật tử ngày đầu năm đi chùa lễ Phật và xin sư ông cho một câu đối để treo nhà. Sư Ông cầm bút lông lên và viết: “ Sơ chết, cố chết, ông chết, cha chết, con chết, cháu chết, chắt chết !...”. Bà Phật tử giựt mình thưa thầy rằng “con xin thầy câu đối để treo trong nhà ba ngày tết cầu phước mà thầy phán một hơi bao nhiêu cái chết thì làm sao con dám treo lên?”.

Thật may mắn thay cho ai thấy câu đối đó là vô nghiã và vứt bỏ nó đi. Riêng vợ chồng tôi và một số cha mẹ khác sẵn sàng đánh đổi tất cả từ tiền tài tới sanh mạng để mang câu đối đó về treo trong nhà và cầu nguyện cho cái trật tự đó là cái đã xảy ra cho gia đình mình.

Đau đớn thay, Jimmy mất đi năm cháu 17 tuổi và vợ chồng tôi vẫn sống để chịu cảnh Tre Khóc Măng!.

Khi được tin cháu mất trong một tai nạn xe hơi do bạn cháu cầm tay lái, tôi đã chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Tôi đã lăn lộn gào khóc và luôn miệng trách móc là Trời Phật bất công. Và lúc đó tôi đã thật sự nghĩ rằng không có Trời Phật hay ít ra là đấng thiêng liêng mà tôi vẫn tin tưởng và tôn kính. Ngài đã để cho cái tai nạn thảm khóc đó xảy đến cho con tôi.

Bạn bè chúng tôi thuộc đủ thứ tôn giáo, từ Thiên Chúa tới Phật giáo, từ Tin Lành tới Jehovah Witness, từ Hòa Hảo tới Cao Đài. Ai cũng ngỏ lời an ủi tôi rằng Jimmy hiện đang ở nước thiên đàng, đang phục vụ Chúa, đang chơi giởn với thiên thần hoặc đang kề cận đức Phật A Di Đà để học pháp, nghe kinh v..v…và v..v..

Thật là dễ dàng khi mình thốt ra những lời an ủi trừu tượng đầy tính chất tôn giáo, đầy những hình ảnh thiêng liêng ở một cõi trời xa xăm nào đó cho một người mẹ đang khóc con. Nhưng tôi là một cội tre già đang oằn mình xuống khóc cụm măng non thì những lời an ủi đó đều vô ích.

Tôi không muốn cho con tôi sống nhởn nhơ ở cõi niết bàn, thoát khỏi mọi điều trần ai, khổ lụy. Tôi cũng không muốn cho con tôi vui hưởng cảnh an lạc nơi chốn thiên đường, vui đùa cùng thiên thần cánh trắng.

Phải, nếu ai trách tôi là một người mẹ ích kỷ, ngu đần, vô tôn giáo, vô đạo đức thì tôi xin nhận chịu không oán trách vì tôi chưa từng thấy ai thật sự đã ở cõi thiên đàng, chưa từng gặp ai có kinh nhgiệm về cuộc đời nơi thượng giới. Có gì làm chắc là con tôi hiện đang hưởng mọi điều vui thú đó hay đây chỉ là sãn phẩm của tôn giáo dùng để làm dịu bớt nổi đau trần thế ?

Mà hiện giờ thì tôi không tin vào bất cứ một tôn giáo nào hết vì nếu thật sự có một đấng thiêng liêng nào đó sắp đặt cho mọi sự ở cuộc đời nầy thì sự sắp đặt đó không công bình và tôi không chấp nhận nó.

Mà thí dụ như thiên giới có thật thì tôi là một bà mẹ ở cõi trần ai nầy, tôi cũng muốn cho con tôi sống ở cõi trần ai nầy với tôi.Tôi muốn nó cùng khóc và cùng cười với tôi. Tôi muốn nó say mê dán mắt vào TV xem những trận đá banh, muốn nó thưởng thức món ăn do tôi nấu, muốn nó thổi tắt những ngọn nến nhỏ xíu cắm quanh ổ bánh sinh nhựt của nó, muốn nó hớn hở mở gói quà ngày giáng sinh, muốn nó ngồi đối diện với tôi ở bàn ăn trong buổi cơm chiều, muốn nó lái xe đi học, muốn nó mời bạn gái đi prom, muốn nó lo lắng cho từng bài thi, từng điểm xấu, muốn nó buồn rầu khi gặp chuyện bất ưng, muốn nó vui cười khi có điều toại ý.

Phải, tôi muốn con tôi sống như một Con Người ở cõi Trần Gian nầy chớ không phải như một Thiên Thần nơi Thượng Giới, một Bồ Tát nơi Niết Bàn.

Và vợ chồng tôi càng ngày càng xa cách.

Tôi chê trách quyết định của Chúa. Tôi không cúi đầu nghe theo phán quyết của Ngài như anh thường khuyên tôi. Tôi muốn có một lý do chánh đáng, một lời giải thích hữu lý. Tại sao Ngài lại chọn Jimmy mà không chọn những thanh niên ăn chơi sa đọa, những tên giết người hung ác, những kẻ tàn nhẫn lọc lừa? Nếu Ngài thương con chiên của Ngài, muốn cứu rổi họ thì sao Ngài không chọn họ về ở gần Ngài để được Ngài chuyển hóa và giúp đởđể thế gian bớt nổi khổ đau? Ngài gởi Jimmy xuống trần gian với thông minh, đạo đức, thương yêu, hiếu thảo với kỳ vọng là nó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc cho con dân của Ngài rồi không có lời giải thích Ngài lạnh lùng lấy lại.

Anh thì nghi ngờ cái thuyết nhân quả của tôi. Jimmy đã làm gì nên tội để nhận một cái chết thương đau như thế? Kiếp trước à? Ai thấy được kiếp trước? Hãy chứng minh với bằng cớ chắc chắn là Jimmy đã phạm vào tội gì? Hay cũng là những phỏng đoán mơ hồ, vịn vào cái hiện tại mà dựng lên chuyện dĩ vãng. Nếu Jimmy đã từng phạm tội, đã từng gây nhân xấu ở kiếp trước thì kiếp nầy phải đào thai thành cùi đui sứt mẽ, lì lợm lưu manh chớ sao lại thành người thông minh hiếu đạo? Nếu nói là nhân của cha mẹ gây nên bây giờ con cái phải gánh chịu thì cái lời dạy “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng, ai làm nấy chịu để ở đâu?

Vợ chồng tôi như hai kẻ lạc hướng, mù mờ đi trên con đường chông gai hiểm trở, sẵn sàng ngã xuống hố sâu của đau khổ, của thù hận, của vô minh.

Hằng đêm tôi nằm trên giường ngủ, mắt hướng ra cửa phòng mong đợi một hình bóng thân yêu, một xác thân mà tôi mang nặng đẻ đau, bước vào và đến bên giường hôn lên trán mẹ một nụ hôn “chúc mẹ ngủ ngon”. Nhưng Jimmy đã không đến và tôi nghe như có tiếng dương cầm ngoài phòng khách.

Tôi ngồi dậy và lần bước ra ngoài. Tôi đến bên chiếc đàn, vuốt ve vào khoảng trống mà nếu Jimmy ngồi ở đây thì chắc hẳn sẽ là cái lưng trần của nó. Tôi nhìn lên tấm hình của Jimmy đặt ở góc đàn. Nụ cười và ánh mắt của Jimmy hình như muốn nói với tôi điều gì.

Tôi thầm thì: “Con đang có ở đây không? Con có thấy nổi đau khổ của mẹ không? Con có muốn tâm sự với mẹ như mẹ con mình từng làm không?

Mắt tôi mờ đi vì những giọt lệ khóc thương con.

Và trong lúc cực kỳ đau khổ đó, tôi bỗng nghe một tiếng nói nhẹ nhàng, giọng nói thân thương của đứa con đã mất:

“Mẹ ơi, xin mẹ hãy can đảm lên. Trong mười bảy năm trời gần mẹ, lòng can đảm của mẹ đã làm con kính phục. Con tuy vắng mặt nhưng chưa phải là mất hẳn. Trong các anh chị em con quanh mẹ, một phần của con đã hiện diện nơi đó. Nụ cười rạng rở của đứa em út, cái tật hay làm bể ly chén nơi nó, cái say mê basket ball của anh ba con, cái hiếu hạnh của anh cả, cái tánh tự lập nơi chị hai, cái óc thông minh, cái lòng thương người, cái tính nói nhiều, cái ý thích bạn gái, cái tính bề bộn, cái tật chờ đến phút cuối cùng mới chịu chạy đi làm bài v.v..tất cả những cái đó có nơi con cũng như có nơi anh chị em con. Vậy thì con của mẹ đâu có mất. Trong những dòng máu luân chảy trong anh chị em con có một hột giống của con. Trong những suy nghĩ cạn cùng của anh chị em con có một tư tưởng của con. Trong những hành động tốt xấu của anh chị em con, có một gia nhập của con. Vậy xin mẹ hãy tiếp tục THƯƠNG và THẤY con qua những con người thân yêu đó.

Nếu mẹ đi thăm một người bạn bịnh nằm nhà thương, đứa con của người bạn đó ngồi cạnh bên giường ân cần chăm sóc, ánh mắt thương yêu ve vuốt mẹ già, đó là hình ảnh của con đó. Nếu mẹ nghe có ai đánh lên tiếng đàn thánh thót, mẹ để tâm hồn đọng lại lắng nghe, không xao lãng, không giận hờn, không tranh cãi, không phán xét, đó là ý thích của con đó. Nếu mẹ thấy một ngưòi lành mạnh đưa tay nâng đở một kẻ khốn cùng, đó là hình ảnh của con đó. Vậy thì quanh mẹ, ở cái thế giới của mẹ, mẹ đã, đang và sẽ thấy sự hiện diện của con dù rằng con vắng mặt.

Xin mẹ hãy đem cái tình thương mà mẹ dành duy nhứt cho con mà san sẽ cho những chúng sanh quanh mẹ, dù đó chỉ là một con sóc nhỏ cần những bước chân cẩn thận của mẹ khi dạo quanh công viên nhạt nắng, dù đó chỉ là nhóm chim sẽ nhỏ nhoi cần những hạt cơm thừa của mẹ, hay đó là một người già bịnh cô đơn cần những lời an ủi yêu thương của mẹ, hay đó là những đứa trẻ bịnh hoạn, ốm yếu nằm xanh xao trên gạch cát vô tình. Mẹ hãy tình nguyện làm một người đẩy xe lăn trong nhà thương, một người lái xe đưa đón các bà nội trợ đi cầu nguyện, một người xếp sách vở trong thư viện và hơn hết xin mẹ hãy làm một người mẹ mà con đã từng thương yêu và gần gũi.

Ở những việc làm bình thường đó, trong cuộc sống rắc rối nầy, con vẫn hiện diện trong tim mẹ. Con không đang ở niết bàn cũng chẳng sa vào địa ngục. Nếu mẹ làm điều lành, tâm hồn mẹ an tịnh, trái tim mẹ rộng mở thì con đang ở niết bàn với mẹ.Nếu mẹ tham sân si, tim chất chứa hận thù, óc tính điều lợi mình hại người thì con đang ở điạ ngục với mẹ. Mẹ có biết không? Mẹ..Mẹ..”

Tôi nhìn lên nụ cười của Jimmy. Nước mắt lại tràn đầy:

“Jimmy ơi, mẹ cám ơn con đã cho mẹ 17 năm hạnh phúc. Cho mẹ biết thế nào là nổi vui mừng khi nhìn con chập chững bước đầu tiên, cho mẹ biết thế nào là lo âu khi nhìn con nằm mê mang nóng sốt, cho mẹ biết sự hãnh diện khi cầm bảng học bạ đầy chữ A., cho mẹ biết cúi đầu khi con làm điều lầm lỗi, cho tim mẹ bừng sáng khi con thảy trái banh vào rỗ, cho lòng mẹ héo xào khi con thua trận quá xa, cho nước mắt dâng mi khi quay lưng gởi con vào nhà trẻ, cho nụ cười rạng rở khi chiều đến rước con về, cho mẹ phân vân trước một quyết định học hành, cho mẹ ngóng trông khi con về trễ muộn, cho mẹ âu yếm trao con món quà ngày sinh nhựt, cho mẹ cuối đầu hôn con buổi tối lên giường.

Ôi, trong 17 năm trời đó, mẹ đã nhận của con biết bao nhiêu bài học làm cho mẹ thành một người can đảm hơn, đúng đắng hơn, lớn khôn hơn, nhẫn nại hơn. Hai mẹ con mình đã nương nhau và cùng lớn lên trong cuộc đời nầy và mẹ cám ơn con đã cho mẹ bài học cuối cùng.

Phải rồi Jimmy ơi, con đã chẳng lên thiên đàng hay niết bàn mà cũng không xuống địa ngục. Con đang ở ngay trong tim mẹ, trong hồn mẹ và trong hành động mỗi ngày của mẹ và ngay đây, trong cảnh giới trần gian khổ ải nầy.

Giờ thì mẹ tin có Phật, không phải ông Phật tượng đá trong chùa mà mẹ con mình vái lạy ngày tết, mà là ông Phật con đã cấy vào tim mẹ. Giờ thì mẹ tin có Chúa, cũng không phải ông Chúa bằng xi măng trong nhà thờ mà là một sức mạnh của đấng dẫn dắt linh hồn đem lại sự tin tưởng để ba con vượt thoát khổ đau.

Mẹ sẽ cố gắng làm tất cả những gì mà mẹ có thể làm để đem lại một chút an vui cho những người mà mẹ gặp gở. Chỉ một chút thôi con nhé, vì đại dương có phải là đã được tạo nên bởi muôn nghìn vạn ức những giọt nước nhỏ không? Và mẹ biết ở ngoài kia hiện đang có rất nhiều ông cha, bà mẹ cũng muốn góp vào cái biển từ bi kia một một giọt nước nhỏ của họ.”

Đó cũng chỉ là luật tuần hoàn của vũ trụ. Vợ chồng tôi đi đến tận cùng của đau khổ rồi chúng tôi cố gắng vươn lên. Có một vị thầy đã nói với tôi rằng bài học lớn nhất mà chúng sanh cần phải học và vượt thoát là bài học chia ly! Chúng tôi diệt được cái NGÃ đáng sợ, nhận ra cái sai trái hẹp hòi của mình trong quan niệm tôn giáo nên vợ chồng lại từ từ hòa hợp.

Anh theo tôi cùng sư cô, đại đức, phật tử đi phát cơm quà cho người vô gia cư, cho người bệnh tâm thần, cho người già cả lú lẩn. Nếu trong chùa có chuyện gì cần mà tôi làm không nổi thì tôi viện tới anh, tới sự chuyên môn hoặc sức mạnh của anh.

Chúng tôi ở ngang nhà thờ St Paul Of The Cross, tỉnh La Mirada nên tôi thường qua lại tặng quà cho những ngày lễ lớn, tìm kiếm những con chiên nghèo khổ mà nhà thờ giới thiệu cho tôi để tôi giúp đở họ. Tôi đứng trong sân nhà nhìn qua bên kia đường nơi đức Mẹ Maria hiền từ nhìn xuống. Tiếng kinh cầu làm lòng tôi thanh thản.

Tôi xin chia xẽ với tất cả các ông cha bà mẹ đã phải chịu cảnh Tre Khóc Măng, vì bất cứ lý do gì. Vượt biên, tai nạn, chiến tranh, khủng bố, bịnh hoạn, nghèo đói, tự tử v..v., tôi muốn các bạn biết rằng ngọn Măng Non kia chưa bao giờ chết. Nó vẫn sống mãi cùng chúng ta, những cội Tre Già.

Yêu thương các bạn trong Ngày Lễ Mẹ.

Lệ Hoa Wilson

Saturday, February 11, 2017

Đồng Tịch Đồng Sàng



blank
Năm 1970 khi mới gặp nhau.

Sau bảy năm làm việc trong ban kế toán của một hảng Mỹ, năm 1985 tôi xuống Long Beach mở một văn phòng di trú và thuế vụ cho riêng tôi. Năm đầu tiên tôi tự biên tự diễn, một mình làm hết mọi chuyện, chủ nhân, thơ ký, quét dọn, trả lời điện thoại, đi nộp đơn, đánh máy, điền đơn, copy, đánh fax…và thu tiền, thượng vàng hạ cám…

Thời đó chưa có computer, internet nên luật lệ di trú rất gắt gao. Muốn bảo lãnh thân nhân, muốn xin nhập tịch, muốn xin giấy xuất ngoại tạm thời v.v., bạn phải đem đơn và quốc tịch hoặc thẻ xanh đến tận văn phòng di trú, nhân viên nơi đó sẽ so sánh những chi tiết trên đơn với giấy tờ bản chánh. Nếu mọi chuyện đều đúng thì họ sẽ đóng dấu đỏ lên đơn, ký tên xác nhận và bạn có thể về ký check hoặc mua money order rồi gởi đi. Nếu trật, họ trả lại. Bạn ra về, điều chỉnh lại giấy tờ và trở lại ngày hôm sau.

Mọi chuyện lại bắt đầu: có mặt tại sân của sở di trú lúc 4 hoặc 5 giờ sáng, đứng sắp hàng, không nên bỏ hàng khi trời mưa vì sẽ mất chỗ. Bảy giờ họ bắt đầu phát số, phát đủ hai trăm số thì ngưng. Nếu bạn xui xẻo đứng thứ 201, xin trở về và ngày mai lại sắp hàng.

Bạn ơi, bạn không biết được đồng tiền chúng tôi làm ra từ nghề di trú ở những năm đó cực khổ đến cở nào đâu. Mùa hè còn đở. Qua mùa mưa, tôi trùm đầu cổ kín mít, đứng lạnh run, giày dép ướt nhẹp nhưng không dám bỏ hàng. Vì văn phòng tôi ở Long Beach thuộc về quận Los Angeles nên tôi phải nộp đơn tại Los Angeles. Những tháng đầu, tôi không biết rành khu vực đó nên cứ bị lạc (âu có GPS như ngày nay). Vài lần tôi phải dừng xe, lúc 4 giờ sáng, nơi những hè phố đầy người vô gia cư đang ngủ để hỏi thăm đường. Tôi hạ thấp cửa kiếng vừa đủ để nói, chân thì sẵn sàng nhấn ga để vọt xe đi ngay nếu có dấu hiệu bị tấn công, miệng hỏi mà tim thì đập nhanh như lực sĩ chạy đua đường bộ. Sau một năm thì sở di trú cho phép cư dân quận Los được nộp đơn tại quận Orange nên cuộc đời tôi đỡ khổ hơn.

Đỡ khổ không có nghĩa là hết khổ! Vẫn phải sắp hàng từ 5 giờ sáng, vẫn đứng chịu trận dưới những cơn mưa lạnh lẽo vô tình. May mắn lúc đó tôi có một cô vừa là bạn vừa là người chỉ dẫn cho tôi vào nghề di trú nên chúng tôi thay phiên nhau sắp hàng. Dù cực khổ như vậy nhưng chúng tôi chưa bao giờ cằn nhằn than vản vì nghỉ tới đồng bào thân nhân nơi quê nhà còn phải đau khổ tới đâu nữa mới có miếng ăn. Thư từ VN gởi qua xin tiền như hoa rụng bướm bay!

Qua năm 1986, khách hàng tăng lên đông đảo nên ông xã tôi phải bỏ sở làm về cộng tác với tôi. Anh đã hưu trí khỏi hải quân Mỹ từ năm 1979.

Bên Mỹ nầy, có rất nhiều cơ sở không nhận vợ chồng làm cùng hảng hay cùng văn phòng hay cùng một phân bộ. Và rất nhiều cặp vợ chồng cũng không muốn cùng làm chung vì sợ mất tự do và sợ nhàm chán.

Tiểu biệt thắng tân hôn! vợ chồng xa nhau một thời gian ngắn, khi gặp lại nhau thì sẽ mặn nồng hơn là ngày động phòng! Nếu cứ ngày đêm, đêm ngày kề cận nhau, sáng cùng chung xe đi làm, trưa cùng ăn trưa, tám tiếng cùng ngồi chung không gian nhỏ hẹp, chiều cùng chung xe về, lại cùng ăn tối…thì chán biết là bao.

Nếu làm ở hai cơ sở khác nhau, chiều về chúng ta sẽ đía một chút, thêm mắm dậm muối một chút, mình được chủ khen một thì sẽ nói hai, bị người chê bai hai thì bớt lại một. Sẽ kể lại những câu chuyện vui vẽ, hấp dẩn trong ngày nơi sở làm và lắng nghe người kia kể những chuyện khác. Ôi đời như thế mới đầy đủ màu sắc và thú vị.

Khổ thay, chúng tôi lại làm chung một chỗ. May thay chúng tôi nói hai thứ tiếng khác nhau, tao ngộ khác nhau, nên cũng có một không gian riêng biệt. Và chúng tôi đồng ý là mỗi người tự do quyết định vận mạng của mình nên cũng có nhiều chuyện vui.

Một hôm anh làm sổ sách và ngưng lại hỏi tôi:

“Sao cái case bảo lãnh nầy cái receipt chỉ có hai trăm thôi mà em viết là paid in full?” (vào thời đó, đúng ra là phải ba trăm).

“Người bảo lãnh tên gì vậy anh?”

“Nguyễn văn Luân, lãnh mẹ.”

“À, tại thằng nhỏ đó có hiếu với má no.”

Anh ngẩn ngơ nhìn tôi:

“Nó có hiếu với má nó thì ăn thua gì tới em mà em bớt tiền cho nó ”

Tôi nheo mắt nhìn anh:

“Honey à, một người con có hiếu thì không làm điều xằng bậy phạm pháp khiến cho cha mẹ buồn. Mà không làm điều phạm pháp thì không bị tù tội. Mà không bị tù tội thì mình khỏi phải đóng thuế để nuôi họ. Vì vậy em bớt tiền để khuyến khích nó hiếu thảo hơn”

Anh nhìn tôi không biết có phải mình cưới nhằm một người vợ có chứng bịnh tâm thần không? Lý luận kiểu vậy mà cũng hãnh diện ngẩng đầu lên đối diện với chồng! Nhưng cũng không biết nói sao. Hai đứa đã đồng ý rồi. Miễn là không làm điều phạm pháp, miễn là không lường gạt khách hàng, miễn là không trái với lương tâm nghề nghiệp thì hai đứa có không gian tự do mà hành động.

Một ngày kia tới phiên tôi làm sổ sách. Tôi thấy anh ghi một cái receipt 50 đô với hàng chữ: 

“Có hiếu. Thêm 50 đô.” (Pious! fifty dollars more)

Tôi hỏi anh:

“Honey ơi, cái hồ sơ nầy đã trả tiền đủ hết rồi, sao anh lại tính thêm cho cổ 50 đô nữa vậy?”.

Anh nheo mắt nhìn tôi:

“À tại vì cô nầy có hiếu với mẹ của cổ!”

A ha, chơi trò gậy ông đập lưng ông há! Nhưng mà đầu óc anh có bịnh không? American syndrome hả Có hiếu thì phải bớt cho người ta, đằng nầy anh tính thêm mà lại dám bắt chước đề là thêm 50 đô. Có hiếu.

Chiến tranh Việt Mỹ sắp nổ bùng rồi đây. Chắc anh thấy cái khí độ ma vương sắp phát ra nên vội vàng giải thích:

“À, em ơi, mẹ cô nầy đi phỏng vấn bị rớt. Cổ nhờ anh viết thơ giải thích và fax lại cho tòa đại sứ. Anh đã làm free cho cổ và mẹ cổ đậu hai ngày sau đó. Cổ mừng quá chạy lại đây tặng anh một trăm. Anh từ chối không được nên anh chỉ nhận 50 thôi, bắt chước em gọi là có hiếu!”.

Hòa bình tái lập.

Các cơ sở thương mãi ở Bolsa phần nhiều phục vụ cho khách hàng Việt Nam, nhưng văn phòng chúng tôi nằm giữa khu nhiểu nhương nên khách nước nào cũng có: Việt, Miên, Lào, Mễ, Nam Mỹ, Phi Châu và ngay cả Âu Châu. Khi họ thấy có một ông Mỹ ngồi ở bàn đầu thì họ tin tưởng hơn. Có chút kỳ thị há.

Người Mỹ phần đông nhẫn nại và tử tế với khách hàng hơn người Việt dù đó là tiệm ăn, dù đó là văn phòng. Đó là thực tế, các bạn đừng giận tôi nha. Chúng ta nên học để gia nhập vào dòng chính của xã hội nầy. Anh sẽ giải thích hai lần, ba lần hay cho tới khi khách hàng hiểu rõ vấn đề. Còn tôi thì nhẫn nại tới lần thứ hai. Lần thứ ba hả? Tôi liền quăng cái củ khoai lang nóng kia ra xa. Ông bà làm ơn qua bàn của ông Mỹ kia đi, có thể ổng biết cái gì hơn tôi đó.

Nếu tôi tỏ vẻ không vui thì anh liền khuyên là em ơi nếu người ta hiểu rõ luật lệ di trú và thuế vụ như bọn mình thì ai thèm tới văn phòng nhờ mình làm giấy tờ nữa. Họ không biết tự làm sao? Rồi tiền đâu trả học phí cho con, trả tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm v.v..? Hãy biết ơn khách hàng nghe em. Dần dần tôi học được tánh kiên nhẫn và kính trọng khách hàng của anh nên tôi được thương hơn.

blank
Năm 2016, chùa Thiên Ân, Lucerne Valley, CA
Bạn có tin là có một số ông bà già Việt và Miên chuyền tai nhau, chỉ muốn làm việc với anh về vấn đề Jury Duty không? Văn phòng chúng tôi có chánh sách là làm free cho các cụ cao niên khi các cụ nhận được giấy gọi đi làm bồi thẩm đoàn.

Ở những năm 80 đó cộng đồng Việt và Miên chưa phát triển lớn mạnh như bây giờ, chuyện được giúp đỡ do các hội thiện nguyện còn ít và vì luật lệ làm bồi thẩm đoàn còn quá mới đối với người tị nạn nên khi các cụ nhận được giấy của tòa án gọi thì sợ hết hồn. Khi bước chân vô văn phòng nhờ anh coi dùm thì sắc mặt băn khoăn lo lắng. Nhưng sau khi anh gọi lên cơ quan liên hệ, giải thích tình trạng của các cụ thì việc bị ra tòa được bãi bỏ. Các cụ ra khỏi văn phòng hớn hở nhẹ nhàng. Sự lo sợ đã bay theo mây khói. Tôi giải thích cho anh đó là Vô Úy Thí.

Sở dĩ họ thích anh vì nghĩ là Mỹ kêu cho Mỹ thì sẽ được nể hơn, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Thêm nữa tôi đã dạy cho anh là khi đưa giấy tờ cho người lớn tuổi thì phải kính trọng cầm giấy bằng hai tay nên lúc nào làm xong chuyện thì anh đều đứng dậy giao hồ sơ cho khách hàng bằng hai tay dù đó là làm free. Mấy ông bà già thích lắm khen chú Mỹ nầy biết lễ độ quá. (ha ha ha, nhờ vợ dạy đấy các cụ ạ. Xin quý ông nhớ nghe lời vợ nha. Thành công lắm đó).

Tuy nhiên tôi phải thú nhận tôi không phải là một người toàn thiện. Cái gì tốt thì tôi dành, còn xấu thì tôi thảy qua cho anh. Làm đàn ông phải đứng mũi chịu sào, ông bà ta đã căn dặn như vậy mà! Phải không quý ông?

Có thời kỳ có một nhà tu tự xưng là vô thượng và có đệ tử trung thành khắp nơi. Vị nầy diễn thuyết ở hội trường và đệ tử đi tới các cơ sở thương mãi để dán quảng cáo lên cửa kiến. Họ vào xin tôi. Tôi luôn chủ trương nếu đó là show để quyên tiền giúp thương phế binh Việt Nam, giúp nạn nhân bão lụt, giúp đem lại lợi ích cho bất cứ sắc dân nào thì OK, nhưng nếu có gì dính dáng đến cá nhân, đến tôn giáo thì tôi xin giữ phận trung dung không nhận bên nào hết.

Thế là tôi liền chỉ qua ông chủ vì cô chỉ là người làm công thôi cháu ơi. Ở một khía cạnh nào đó, ông xã tôi đúng là ông chủ mà. Ông chủ dĩ nhiên là từ chối vì người xin dán giấy nói Anh văn lập bập nên ông chủ không hiểu. Mà dù có hiểu chăng nữa thì cũng không dám nói OK vì biết rõ chủ trương của bà chủ ngồi sau lưng. Họ đi ra càu nhàu nói cô thư ký sao mà hiền hậu dễ thương quá (!) còn cha chủ Mỹ thì vô minh, không biết Phật pháp!

Có lần khi tôi đang tiếp một cụ cao niên thì một cậu thanh niên bước vào văn phòng xin tiền. Khi tôi nói là văn phòng không có tiền mặt vì chỉ nhận check của khách hàng mà thôi thì gã nói là cháu mới vừa ở trỏng ra đây cô. Cô nể mặt cháu một chút đi. A ha ha! Hù dọa à? Bà khách già nghe gã nói mới ở trỏng ra thì mặt xanh dờn. Theo luật giang hồ, nếu họ tự xưng là Ở trỏng mới ra thì phải lật đật cho họ tiền và cứ như vậy thành tiền lệ tiếp tục hằng tháng.

À được rồi. Tuy cô không có tiền mặt nhưng để cô giới thiệu cháu với một người nhé. Cháu có biết ông Mỹ ngồi ở bàn đầu kia không? Ông chủ của cô đó. Cô khổ lắm cháu ơi. Cũng ở trỏng mới ra đó. Cháu nhìn coi đã có khi nào đụng mặt y ở trỏng không? không biết y à? Vậy ở trỏng của cháu là state hay là county? Là county cô ơi. Giựt bóp dưới Bolsa và đập bể cửa kính nhà hàng vì chủ kẹo quá! Hèn chi cháu không quen với y. Y ở federal. Tội chém cụt cánh tay của một nhân viên FBI vì người nầy đụng y mà không chịu xin lỗi. Y tưởng tên nầy muốn móc túi y chớ. Cháu biết mà, mấy ông nội cựu thủy quân lục chiến và cái đám bạn cựu người ếch nhái hoặc xiu (S.E.A.L.) xiếc gì đó toàn là dân điên không hà. Đi cháu. Qua đây, không chừng y có tiền mặt đó. Sẵn dịp cô nói ổng cho cháu coi con dao. Nó sắc bén và lạ lắm. Ổng tịch thâu của tụi hải khấu Somalia khi tàu ổng chặn bắt tụi nó đó. Thằng nhỏ chạy ra khỏi văn phòng nhanh như khói.

Bà già thì run run:

“Trời ơi, mấy người ở Long Beach nói ông Mỹ chồng cô hiền lành tử tế lắm, ai ngờ ổng cũng… hung dữ quá vậy hả?”.

Tôi mỉm cười an ủi:

“Dì ơi, cháu kể chuyện tiểu thuyết ba xu đó mà, ai ngờ cậu ấy lại tin! Ảnh ở trong hải quân những năm sáu mươi, bảy mươi thì làm gì có hải khấu Somalia. Ảnh mà chém ai, chém gió thì có!”

Bà già thở dài nhẹ nhõm. Thần tượng vẫn còn sống! Không biết nói dóc như vậy có tội không ta? Ông chủ không biết bà chủ vừa tạo ra cho mình hình tượng Anh Hùng Xạ Điêu hay Cái Thế Ma Vương hay Nhạc Bất Quần, Bất Áo gì gì đó nên vẫn mỉm cười thương yêu nhìn người vợ …yêu nữ.

Tất cả các bạn tôi đều nói là ông xã tôi hiền quá, tôi có phước quá và ăn hiếp chồng quá.

Bạn ơi, trong vũ trụ nầy có nhân thì có quả, bất kể bạn là ai, bất kể bạn có đạo hay vô thần, bất kể bạn tin hay không tin. Nếu ở đời mình gây ra nhân tốt mà không hưởng được quả lành, vậy thì mất công gây nhân tốt để làm gì hả bạn? Bạn có biết không, cái nhân tôi đã vô thức gieo ra từ mấy chục năm về trước và cái quả thì đã tự nó chín mùi tôi không cầu xin cũng không làm sao ngăn cản được. Lúc đó anh ở trong hải quân Mỹ và tôi là một nhà thầu cho quân đội Mỹ cung cấp các dịch vụ hớt tóc, giặt ủi và gian hàng bán đồ kỷ niệm. Tiền thâu vô khá dồi dào.

Các quân nhân Mỹ chỉ được quyền phục vụ tại Việt Nam một năm thôi. Khi mãn hạn thì phải đổi qua nước khác hoặc trở về Mỹ một năm, sau đó sẽ trở lại Việt Nam nếu muốn. Khi anh ngỏ ý muốn thành hôn, tôi thành thật khuyên anh nên trở về Mỹ một năm để kiểm chứng lại tình cảm của mình. Tôi nói:

“Anh nên trở về quê hương nơi có những cô gái mà anh đã từng quen biết, những cô gái lớn lên trong cùng một văn hóa, được dạy dỗ trong cùng một xã hội, thấm nhuần cùng một phong tục tập quán. Anh hãy cùng họ đi xem phim, xem ca nhạc, đi biển, đi night club, đi hẹn hò, đi chơi cuối tuần v..v.. có thể anh sẽ nhận ra rằng tình yêu anh dành cho người đàn bà Việt Nam nầy chỉ là một thoáng mong manh trong lúc xa nhà, cô đơn và bất định…”

Ba tháng sau anh gởi thơ cho tôi biết là anh đã làm tất cả những điều tôi khuyên nhưng lòng vẫn hướng về Việt Nam ngàn dặm. Anh gom góp tất cả số tiền dành dụm để hùn hạp với một người quen, mở một nhà in. Anh hy vọng sẽ thành công và khi tôi qua Mỹ thì sẽ có cơ sở vững chắc để bắt đầu.

Sáu tháng sau anh viết cho tôi:

“Anh rất buồn cho em biết là công việc làm ăn đã thất bại. Anh đã bị bạn anh gạt nên mất tất cả vốn liếng và hiện tại chỉ còn lại đồng lương hàng tháng mà thôi.

Nói tóm lại anh hiện là một sỉ quan bình thường với số lương đủ sống một cuộc đời cũng bình thường. Giấc mộng thành đạt đã đổ vỡ. Em có còn muốn cho anh trở lại VN để chúng ta tiếp tục xây dựng gia đình không?”

Tôi nổi cơn thịnh nộ. Thơ trả lời không bắt đầu bằng hai chữ Honey và không có chấm dứt bằng hai chữ Love you mà chỉ vẻn vẹn có hai đoạn:

“Nếu anh tin cảm nhận của tim anh, nếu anh tin phán đoán của lý trí anh rằng em xứng đáng làm mẹ các con của anh trong tương lai, rằng em sẽ cùng anh đi trọn quãng đường đời dù thành công hay thất bại, dù nghèo hay giàu, thì xin anh trở lại. Em chờ anh.

Nếu anh tin những điều anh nghe từ nhân viên của anh khi anh còn ở Việt Nam rằng đàn bà con gái Việt Nam lấy Mỹ chỉ vì tiền tài chức vụ, rằng cái nhóm đàn bà nầy chỉ là hạng người thấp kém trong xã hội, không đạo đức, không lương tâm, không tình yêu, không xứng đáng ban cho cái danh dự vợ hiền mẹ thảo thì Good Bye, đừng bao giờ trở lại!”.

Thế là một chị Việt Nam nhà thầu trong túi có rủng rỉnh chút tiền thành hôn với một sĩ quan Mỹ rỗng túi. Cái nhân đã gieo ra.

Tuy nhiên hình như ông Trời binh anh vì anh quá hiền hay sao đó nên khi tôi qua Mỹ cùng anh đoàn tụ năm 75 thì tất cả cái gì tôi có đều nằm lại Việt Nam. Khi hai đứa gặp lại nhau với… bốn bàn tay trắng nhách, tôi bỗng cảm khái nhớ lại hai câu thơ con cóc, tôi bèn thêm vào hai câu con cóc nữa để thành bài thơ kỷ niệm:

Mặt nhìn mặt hai người hai mặt.
Tay cầm tay hai kẻ bốn tay
Tiền tài gió thoảng mây bay
Hai đứa gặp lại thành hai kẻ nghèo!

Giống như bao gia đình khác chúng tôi bắt đầu bằng số không. Nhưng bạn đừng quên là tôi đã vô tình gieo cái nhân rồi vì vậy trong suốt bốn mươi ba năm qua, cái quả là anh chỉ cắm cúi làm việc mà không bao giờ để ý tới tiền thu chi trong văn phòng, không biết trong saving account có bao nhiêu tiền, không biết trong hộp nữ trang của vợ có món gì, không biết vợ invest tiền vô hãng nào. Vợ “báo cáo” thế nào thì gật đầu thế đó. Thế là tôi thảnh thơi gởi tiền về VN giúp từ bên nội sang bên ngoại, từ bà con gần trong gang tấc đến xa ngàn dặm quan san. Kết quả là tiền bạc cạn dần mà lòng biết ơn của người nhận cũng cạn theo. Tôi buồn quá nhưng chắc tôi không phải là người duy nhứt hả bạn?

Năm 1991 Tổng thống Bush (cha) phát động chiến tranh với Afghanistan. Thằng con vừa hết trung học hừng chí muốn đi lính để chiến đấu cho quê hương. Tôi khóc lóc nhưng nó vẫn cương quyết. Sau cùng tôi phải cầu viện tới anh lấy quyền làm cha đàn áp nó. Anh ngạc nhiên hỏi tôi:

“Tại sao em không muốn cho nó đi lính?”

“Tại vì em muốn nó lên đại học và hiện giờ có chiến tranh, đi lính có thể bị gởi qua Afghanistan và… bị giết !”

“Đại học có thể chờ, nó sẽ không đi lính suốt đời. Hơn nữa không phải ai đi lính cũng chết. Nếu ai cũng nghĩ như em thì lấy ai bảo vệ quê hương. Em không muốn con em chết, nhưng con người khác chết trên chiến trường mà em ở hậu phương vẫn thong dong hưởng được phúc lợi thì.., OK, phải không? Em đau lòng vì con vậy những bà mẹ khác không biết đau lòng vì con của họ sao? Nếu con muốn đi lính, anh ủng hộ quyết định của nó. Đó là một danh dự!”

Ai nha, đây là lần đầu tiên tôi thấy anh chống lại tôi và giữ vững lập trường. Thì ra bấy lâu nay anh nhịn vì những chuyện vật chất đó tầm thường, đàn bà không qua ngọn cỏ. Ngày hôm nay tôi động đến nguyên tắc làm người của anh, đến lòng yêu nước thiêng liêng của anh. Tôi chào thua. Thằng con đi thủy quân lục chiến.

Vợ chồng tôi quả thật là đồng tịch đồng sàng nhưng không phải lúc nào cũng đồng tâm đồng tánh.

Tôi khiến anh yêu mến nước Việt Nam vì những mất mát đớn đau mà chúng ta gánh chịu. Tôi khóc từ năm 75 khi phải xa quê hương cho đến nay vẫn khóc khi nhìn hàng trăm ngàn cá chết trên bãi biển. Tôi khiến anh kính trọng người Việt Nam vì những cố gắng vươn lên phi thường của một dòng người đã từng mất đi tất cả.

Anh chuyển hóa lòng tôi từ cái tình cảm coi nước Mỹ chỉ là chỗ tạm dung, chỉ là chỗ để lợi dụng lòng nhân đạo của họ cho những phúc lợi của riêng mình tới tấm lòng gắn bó thiết tha vào mảnh đất, tuy không phải là chỗ chôn nhao cắt rún, nhưng sẽ là chỗ chấp nhận hơi thở cuối cùng, tuy không phải cùng một dòng máu tiên rồng nhưng sẽ cùng khóc khi thấy chiếc quan tài phủ lá cờ với các ngôi sao trắng và các lằn sọc ngang đỏ.

Bài học lớn nhất mà hai chúng tôi trao đổi cho nhau là cùng biết ơn và thương yêu hai tổ quốc đã tạo ra chúng tôi.

Anh trân trọng đứng nghiêm trước lá cờ vàng ba sọc đỏ mỗi khi chúng tôi có dịp tham dự các cuộc họp mặt vì anh biết màu cờ đó, hình ảnh đó vẫn làm tim tôi rướm máu và mắt tôi ươn ướt.

Tôi để tay mặt lên ngực, cảm nhận nhịp đập của trái tim và hãnh diện là một phần tử trong cái gọi là home of the brave.

Trong đời, tôi đã làm nhiều sự chọn lựa lầm lẫn, đáng trách móc, đáng chê cười. Duy chỉ có bốn mươi mấy năm về trước, tôi đã quay lưng lại với tiền tài và chức phận để chọn lựa một người bạn đời ít tiền kém chức nhưng có đạo đức và đầy thủy chung. Đó là lần duy nhứt tôi hãnh diện về sự chọn lựa của mình và cám ơn Thượng Đế đã ban sự sáng suốt đó cho tôi.

Happy Valentine Day, Everybody!

Lệ Hoa Wilson

Blog Archive