Showing posts with label Trương Ngọc Bảo Xuân. Show all posts
Showing posts with label Trương Ngọc Bảo Xuân. Show all posts

Wednesday, May 7, 2025

50 Năm, Sàigòn - Hoa Kỳ 

1975.

Tháng Tư, thị trấn Sparks, tiểu bang Nevada.

Ba chị em ngồi dán mắt trước cái tivi đài Mỹ đang chiếu tin tức thời sự. Màn hình hiện lên bản đồ hình chữ S có tên của ba thủ đô Hà Nội - Huế - Sài Gòn.

Đường vĩ tuyến 17, chia cắt hai miền Bắc Nam rõ rệt.

Bắt đầu từ Tháng Hai năm 1975 tôi đã theo dõi tin tức Việt Nam nhiều hơn, khi chiến trận giữa Bắc Nam ngày càng sôi động, cũng nhờ mấy bài báo cắt ra do Ngọc Anh em tôi gởi qua. Họ đưa hình bản đồ chữ S lên, Miền Bắc sơn màu đỏ, rồi màu đỏ vượt khỏi vĩ tuyến 17 tràn xuống Miền Nam.

Màu đỏ lan xuống tới đâu, tôi rớt nước mắt tới đó.
1975, Báo Việt (hình do TG cung cấp)

Tin tức nói hàng ngày, các chiến hạm Hoa Kỳ đang di chuyển ngoài khơi, ai ra được họ sẽ vớt.

Gia đình bên chồng chị tôi và chồng tôi cùng làm giấy tờ bảo lãnh có sự bảo đảm việc làm của hãng may cho Má và bốn đứa em còn lại để qua Mỹ, kèm thêm điện tín, biểu ráng làm sao tìm đường ra biển để thoát khỏi Việt Nam vì nghe nói cộng sản mà chiếm được Sài Gòn thì họ sẽ thẳng tay sát hại những ai có liên hệ với Mỹ.

***

Tôi theo chồng qua Mỹ lần đầu vào cuối năm 1970. Tháng Hai năm 1973, sau khi hiệp ước đình chiến được ký kết giữa bốn bên là Việt Nam Cộng Hòa, Giải Phóng Miền Nam, Bắc Việt và Hoa Kỳ, chúng tôi bay về Việt Nam liền.

Đại gia đình sống trong vui vẻ sum họp khi chồng tôi làm việc tại căn cứ Hải Quân ở Vịnh Cam Ranh. Cuối năm 1974 chúng tôi phải trở lại Mỹ, đem theo hai đứa em gái là Hoàng Thư và Thúy Phương.

50 năm sau, nhỏ em Kim Loan kể lại phần này:

“Má nhận được điện tín và giấy tờ bảo lãnh mà làm sao ra biển được, may sao, một buổi chiều, anh Ngà bạn Ngọc Anh là lính Không Quân làm việc ở phi trường Tân Sơn Nhứt ghé thăm. Ảnh nói hiện nay mỗi ngày có xe buýt lớn tới liên tục trước tòa đại sứ Mỹ để rước người Mỹ và thân nhân, hoặc nhân viên làm việc cho sở Mỹ, vô phi trường TSN để làm thủ tục đi qua Mỹ bằng đường hàng không, nếu gia đình mình muốn đi thì sáng sớm ra đó sắp hàng theo người ta vô phi trường. Má nghe vậy quyết định tức khắc. Má gom hết tiền thủ để dành, chia cho mỗi đứa một ít để rủi ro có lạc nhau thì có tiền mà ăn. Mà lạc nhau thiệt. Tiền đã chia, má dặn mỗi đứa soạn một túi xách tay đem theo hai bộ quần áo, vài giấy tờ quan trọng như căn cước, khai sanh, vài vật dụng cá nhân, hình ảnh vv… Má chạy qua nhà chị họ kế bên là chế T., nhờ săn sóc con chó đừng để người ta bắt làm thịt tội nghiệp.

5 giờ sáng hôm sau mấy mẹ con ra đường kêu chiếc xích lô máy chở hết năm người. Buồn đứt ruột nhứt là con chó thương yêu chạy theo chiếc xích lô một khoảng đường xa mới mất hút.

Ra tới tòa Đại Sứ thấy một hàng dài người xếp hàng để đợi xe buýt. Người Mỹ với vợ Việt và thân nhân thì ít mà đa số người Việt làm cho sở Mỹ thì nhiều. Mấy mẹ con đi theo người ta. Ba đứa được lên trước nhưng tới Má với Phượng thì lại bị một người Mỹ to con đứng chận nguyên cánh tay cho thân nhân ổng lên hết là hết chỗ, má với Phượng bị lọt lại.

Tui, NA và Long leo lên xe trước, quá lo lắng vì vụ Má bị kẹt lại này.

Vô phi trường rồi, mấy chị em đi lòng vòng mới thấy một khu vực có nhiều người đứng đợi, thì ra chỗ này có máy nước người ta đang giặt giũ, tắm rửa… Có lẽ chỗ này lúc trước là khu vực trống để rửa xe? May mắn cho những người đã tới đây vài ngày trước cần nước để xài và tiếp tục chờ. Nhìn qua lại xa hơn chút lại thấy thiên hạ lu bu ngay hàng rào kẽm gai, kẻ trong người ngoài, người ở ngoài đưa đồ ăn vô bán cho người ở trong, nào là bánh mì, xôi, đa số là bánh mì ổ dài. Đang còn lẩn quẩn nhìn thì tình cờ thấy có một lỗ hổng ngay gần đó có thể một người nhỏ nhỏ chui ra chui vô được. Chắc có ai đó cắt chút hàng rào để ra vô buôn bán? Mừng quá nói với NA là tui sẽ ra bằng lỗ này và cũng chui trở vô bằng chỗ này. Tui hẹn gặp nhau tại chỗ người ta đang tụ tập xài nước. Vậy là NA và Long phải canh chừng cả tui và má với Phượng.

Chà cái lỗ này nhỏ hơi vướng víu quần áo nhe, nhưng coi như qua lọt cái vù. Vừa ra khỏi thì nghe tiếng anh xe ôm hỏi “Đi xe hông cô?” Tui nhìn anh ta thấy hơi sợ gì gì đó vì chưa bao giờ đi xe ôm. Rồi ôm ở đâu ta? Dự tính là sẽ kiếm xe xích lô đi nhưng nhìn anh thấy anh mời tội nghiệp nên tui mới nói “Anh chở tui tới đó rồi anh đợi tui chạy vô chút tui trở ra anh chở tui trở lại đây nha.”

Tới nơi chạy cái vù vô nhà thấy Dượng Bảy ngồi đó tui mới giải thích cho dượng biết chuyện đã xảy ra. Dượng hơi suy nghĩ chút rồi nói “Con trở vô đó liền, nếu đi được thì cứ đi chừng nào má con có trở về thì tính tiếp.”

Chạy trở ra anh xe ôm còn ngồi đợi. Tui lại chui lọt trở vô cái lỗ cũ thì hay tin Má vô được trong phi trường rồi. Mừng hết lớn! “

Má kể:

- Bị lọt lại, Má hồi hộp quá không biết có còn chuyến nào nữa không hay kẹt luôn rồi. May mắn có chuyến kế, Má với Phượng tới được phi trường nhưng lúc đó họ đóng cổng không cho ai vô ra nữa, Má sợ quá cứ đứng đó chưa biết tính sao thì không ngờ dịp may lại tới lần nữa, thấy chiếc xe hơi lớn màu đen ngừng ngay cổng chỗ má đứng, bà tài xế quay cửa xuống hỏi Má làm gì đây? Thì ra là bác Cúc gái hàng xóm. Bác là tài xế lái xe cho sở Mỹ nhiều năm nay, bác chở mấy người sếp Mỹ đi làm ra vô TSN mỗi ngày cho nên thấy xe là họ mở cổng. Bác nói hai mẹ con lên xe bác chở vô. Vậy là tất cả đều vào được trong phi trường rất đông người.

Sau cả ngày hai chị em cầm xấp hồ sơ sắp hàng nhiều lần không đúng chỗ, rồi hỏi han người xung quanh cuối cùng mới biết phòng này là chỗ cuối cùng để xin ghi tên vô chuyến bay. Ngoài trời tối lắm mà chỉ có hai chị em ngồi trên băng gỗ đợi. Đây là cửa sau của phòng đó, hy vọng cuối cùng rồi. Không biết đợi bao lâu trong đầu cứ nghĩ có đợi tới sáng cũng vẫn đợi mặc dù cả ngày quá mệt mỏi nhưng mắt vẫn canh chừng. Phía trong phòng đèn còn sáng trưng nghĩa là người ta vẫn còn đang làm việc. Nghe người ta nói lúc này họ làm việc 24/24.

Gần như thất vọng hoàn toàn thì tự nhiên thấy cửa mở có người Mỹ bước ra. Y mặc áo thun trắng sát nách mặt đầy mồ hôi, hình như muốn ra hít thở không khí bên ngoài. Thấy hai đứa con gái ngồi đợi, y hỏi vài câu mình không biết trả lời, chỉ đưa xấp hồ sơ, y kêu hai đứa theo vô văn phòng. Coi giấy tờ xong y hỏi bao nhiêu người đi, tui nói năm người rồi chỉ tên 5 người trên hồ sơ, y ghi gì đó trên xấp giấy tờ. Số hồ sơ là 193, rồi ghi lên miếng giấy nhỏ dặn dò ngày mai đứng xếp hàng chỗ đó đó với tờ giấy nhỏ này có giờ xếp hàng lên máy bay, từ 8 tới 10 giờ sáng. Mừng hết biết, chạy về cho Má hay. Má nói liền - Ba con phù hộ mẹ con mình đó!

Tới bây giờ tui vẫn nghĩ sao lúc đó lại ngồi đợi ở cửa sau? Tại sao không biết kiếm cửa trước mà đợi? Chắc nhờ vậy mà gặp hên hay đúng là Ba khiến ta?

Sáng sớm hôm sau đoàn người xếp hàng một dọc ngoài trời nắng, có hai hàng lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ bồng súng đứng canh. Chiếc máy bay đậu đàng kia. Sau này mới biết đó là loại máy bay C-130.

Hơn hai tiếng đồng hồ. Đang đợi thì có một chiếc xe jeep chạy ào tới, người lính Mỹ lái xe jeep. Hai bên nói chuyện qua lại lâu lắm, giống như đang điều đình gì đó. Nghe nói, mới biết, người trên xe jeep muốn mấy người thanh niên tuổi lính phải ở lại để chống giặc. Như vậy có nghĩa là thằng em mình không được đi. Ai nấy lo sợ run muốn chết. Nhưng sau đó, điều đình xong, họ cho hết lên phi cơ.

Người lên đầy là họ đóng cửa bay liền. Họ cho lên lẹ lắm. Thủy Quân Lục Chiến bồng súng chĩa ra ngoài. Mấy mẹ con ngồi dưới sàn, sau cùng, sát cửa. Vừa sợ vừa mừng, mà mừng nhiều hơn vì chiều tối hôm đó phi trường bị Việt cộng pháo kích quá trời luôn.

Từ Việt Nam bay qua Phi, đáp xuống phi trường quân sự Subic Bay. Ở đó vài tiếng để chích ngừa xong mới vô nước Mỹ là Hawaii.

Từ Hawaii bay thẳng qua đảo Wake Island (hình như là đảo quân sự).

Ở hai ngày đêm, mới bay qua California. Chỗ này, lên bay một chút thì bay ngược trở lại ngừng sửa vì trục trặc gì đó làm ai cũng lo sợ muốn chết! Đến nơi rồi xe buýt chở tới Camp Pendleton.

Chỉ hai ngày trên đảo đã thấy lòng tử tế và sự chăm sóc chu đáo của những người lính Mỹ, từ giường gối khăn mền cho tới cái băng vệ sinh cho phụ nữ.”

Ôi, những con người văn minh đáng kính.

Má với mấy em bước vô phi trường TSN sáng ngày 25 tháng Tư, bay khỏi trưa ngày 27 tháng Tư năm 1975.

Một số trục trặc nhỏ trên đường có là gì, so với những thảm cảnh và mất mát của bao nhiêu vạn người đã gặp trên đường vượt biên, thuyền nhân hay đường bộ, những năm dài sau đó.


Trên đất nước Hoa Kỳ.

Khi gần như tuyệt vọng sẽ không bao giờ gặp nhau nữa, vào nửa đêm 29 Tháng Tư chúng tôi nhận được điện thoại của em Long cho hay gia đình được cầu không vận Hoa Kỳ bốc đi, đang đợi làm giấy tờ ở Hawaii, rồi chưa biết đi đâu.

Sau khi chồng tôi liên lạc hỏi tin, biết chắc nhóm người đó sẽ tới Camp Pendleton, chúng tôi tới đón Má và bốn đứa em về Sparks, tiểu bang Nevada.

Hai hôm sau, tháng Năm, có đài truyền hình Eyewitness News tới quay phim phỏng vấn, giống như một cách báo cho dân bản xứ biết về gia đình Má và mấy em là gia đình Việt Nam tị nạn cộng sản, đầu tiên, tới thành phố này. Báo chí cũng đưa tin, tôi còn giữ mẫu tin đó, tiếc quá, lúc đó đâu biết cách để xin copy của đoạn phim họ quay cảnh cái nhà chỉ có một phòng ngủ mà chứa tới 11 người.
Tháng 5, 1975- bản tin trên Reno newspaper (hình do TG cung cấp)

Tuần sau nữa, họ tới tận hãng may để chụp hình quay phim Má tôi ngồi may, đưa vô tin tức, cho dân chúng biết, những người tị nạn mới sang đã có việc làm.

Thiệt là nhớ thời gian đó sao mà vui mừng hạnh phúc quá. Nhà có 6 người cùng làm chung một hãng, có khi làm từ sáng tới chiều, có khi làm thêm giờ, thì tới tối hù, ghé chợ mua hai con gà giá 99 cents mỗi con bự tổ chảng, rau cải, về luộc ăn mà sao ngon hết biết. Đó là thời gian ra khỏi nhà khi trời còn tối, về nhà thì trời cũng đã tối rồi, không thấy cái nhà mình ở sơn màu gì nữa.

Má Đỗ Thị Bông với chiếc máy may-tháng 5, 1975 (hình do TG cung cấp)

Năm đầu, cả nhà, làm ngày làm đêm. Bán chiếc Pontiac “bù ệt” hai cửa bốn chỗ ngồi, mua chiếc xe van cũ, mới chở hết mọi người. Má và ba đứa em lớn đi làm, Phượng, Thư, Thúy còn nhỏ thì đi học, con tôi, mướn bà Mỹ tới nhà giữ trẻ. Tôi nhớ bà lắm, người rất hiền lành, thương con nít.

Năm 1976, tôi sanh đứa thứ ba. Mười hai người sống chung một nhà. Sau vài tháng, làm được bao nhiêu thì hùn vô, đổi chiếc xe van, mua hai chiếc xe hơi Chevy Oldsmobile mới tinh, thêm chiếc Honda cho em trai tôi, nó sơn lá cờ vàng ba sọc đỏ trên mui xe. Đi tới đâu thiên hạ dòm theo tới đó. Mấy đứa em biết lái xe, tự tin hơn.

...

Nhiều năm sau, qua vài tiểu bang, đổi vài chỗ làm việc, thay chỗ ở mười một lần.

Tôi đã nhìn thấy sự thăng trầm của nước Mỹ: - từ hồi lương căn bản chưa tới 2 đô la một giờ, ngồi may kiểu “ăn miếng” cả ngày; “ăn miếng” nghĩa là sau khi may đủ số ấn định, nếu may thêm miếng nào được trả tiền thêm miếng đó. Kim Loan và Ngọc Anh, may giỏi nhứt hãng, lúc nào lương cũng cao hơn người ta - tới năm nay, 2025, là từ 20 tới 25 đô la một giờ, tùy việc tùy công ty hãng xưởng.

Tôi đã từng làm nhân công dọn dẹp ở motel, làm thợ may, làm trợ lý văn phòng cho chồng tôi, đi học nghề, làm giảng viên trường thẩm mỹ và sau cùng làm giám khảo chấm thi cho Hội Đồng Thẩm Mỹ, tiểu bang California, 25 năm.

Tôi có bạn đồng nghiệp, có những học viên, đến từ nhiều nước trên thế giới.

Tôi chứng kiến đời sống của dân bản xứ, nghèo giàu như thế nào, sự thành kiến, óc kỳ thị, màu da, chính trị, tôn giáo, ra sao.

Tôi đã thấy người có mái nhà để chui ra chui vô, cũng có những thân phận thiếu may mắn, sống tạm bợ trong mấy cái lều rách, hay nằm ngồi vật vạ trên lề đường, dưới gầm cầu.

Ngày xưa dân Da Đỏ dựng lều “Tippy” để sống là theo phong tục tập quán, ngày nay cái lều tạm bợ vá víu là vì không có cái nhà để ở, nay, dân vô gia cư vì bao nhiêu lý do, thất thế, mất việc, rượu chè, ma túy, hay tâm thần?

Tôi đã từng sống trong khu nhà lợi tức thấp, thiếu thốn tiện nghi, đôi khi không có gì ăn. Và cũng đã sống trong ngôi nhà khang trang vững chắc.

Nhà cửa thời 1975, ở Reno, Nevada, một căn nhà có sân trước sân sau rộng rãi, 3 phòng ngủ hai nhà tắm như nhà tôi mua trong một khu tương đối an toàn dễ hòa nhập, chỉ trên 35 ngàn đô la thôi. Bây giờ nghe nói căn nhà đó cả triệu rồi.

Tôi đã chứng kiến cảnh “biển dâu” tại California. Chúng ta đã biến những khu vườn cam rẫy dâu trở thành một Tiểu Sài Gòn trù phú. Trên dưới hai triệu dân tị nạn đem quê hương thứ nhứt trồng vào quê hương thứ hai.

Tôi đã từng phất cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tình chống cộng. Và cũng rửa mắt, nhìn từng đàn người cộng sản nhởn nhơ trên phố.

Chúng tôi rất biết ơn, nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới tự do, đã bao dung, nhân đạo, mở rộng vòng tay ra cứu vớt, “thuyền nhân” lúc đó như những dề lục bình dập dình trên biển cả hãi hùng. Họ đón số người di dân tiên phong, bằng đường biển hay đường bộ, thoát chế độ cộng sản, và cũng đau buồn khi hàng trăm ngàn người, bằng cách này cách khác, đã vùi thây trên con đường tị nạn.

Thời còn trẻ của chúng tôi, từ giữa thập niên 70, 80, 90, 2000, sức làm việc, lòng nhiệt huyết muốn thay đổi đời sống cho khá hơn, rất cao. Sống trên đất người, muốn bằng người bản xứ thì chúng tôi phải làm việc như gấp đôi. Chúng ta xử dụng máy móc đi đôi với sức con người. Dùng sức lực điều khiển cơ khí nhưng không lệ thuộc. Luôn kiên nhẫn học hỏi, giỏi đáp ứng, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, bằng trí óc quân bình, từ trường học hay trường đời.

Tôi đã thấy bao thất bại và thành công trên mọi phương diện. Mà cũng thấy, đã có bao nhiêu nhân tài đóng góp cho nước Mỹ, tạo nên một thành phần ưu tú trong đủ mọi ngành nghề.

Vậy mà, có thành công được sự nể phục, có thất bại gây nhiều tai tiếng.

Thế hệ trẻ ngày nay, nhân trí rất cao, giỏi, nhưng, hình như lệ thuộc vô khoa học, kỹ nghệ tân tiến nhiều hơn.

Con cháu chúng ta được sống trong nước Mỹ, thế giới tự do, chế độ đa đảng.

Có khi, hai người ở hai đầu con sông Tương. Ở giữa, làm sao để chiếc cầu không gãy nhịp?

Từ Việt Nam sang đến Hoa Kỳ. Mong mỏi có người tài đức, đứng mũi chịu sào, đẩy lui cái đám người xảo quyệt gian manh.

Khi muốn sửa sang một cái nhà cũ, hư hại, thì phải xem xét, thay thế những mụt nát bằng những lành lặn. Vẫn biết những sự thay đổi bây giờ là chuyện khó như lấp biển vá trời nhưng, nếu không cố gắng khởi sự bây giờ thì thế hệ con cháu chúng ta, suốt ngày cắm đầu vô cái điện thoại, không đứng lên chống đối, ngại ra sức lao động để làm việc, rồi sẽ bị lệ thuộc dưới sự thống trị của quân tham gian cuồng bạo, là điều hiển nhiên.

---

Sài Gòn mất, cũng gần như lần lần mất đi sự trong sáng của chữ Việt, tiếng Việt.

Hy vọng giữ gìn tiếng Việt của thời Việt Nam Cộng Hòa, Giải Thưởng Viết Về Nước Mỹ do tờ Việt Báo thành lập từ năm 2000, được sự hưởng ứng mạnh mẽ của công chúng.

Nhiều năm trôi qua, từ xã hội tới gia đình, theo luật Sinh Lão Bịnh Tử, có nhiều mất mát đau lòng.

Chúng tôi đã mất ba vị, nhà văn/ giám khảo Thảo Trường, nhà văn/nhà báo/giám khảo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà văn Bồ Tùng Ma và ba tác giả cao tuổi, người đầu tiên tham dự Viết Về Nước Mỹ là cụ Nguyễn Gia Mai, bà Trùng Quang và Má tôi, Đỗ Thị Bông.

Năm 98 tuổi, Má tôi đã đi tìm Ba dưới đáy Biển Đông.

Em trai tôi tới miền hư vô khi tuổi chưa già, còn có thể làm bao nhiêu chuyện.

Tôi mất chồng. Phu thê giống như cái nồi vừa với cái nắp, nồi mất nắp thì nấu gì cho ngon? Như đũa có đôi, mất một chiếc thì lùa cơm cả ngày chưa hết chén.

Còn chúng ta, cũng đang kẻ trước người sau, tới trạm cuối cùng.

Và mặt trời vẫn mọc ban ngày, trăng sao vẫn sáng ban đêm.


2025.

Là năm đánh dấu nửa thế kỷ từ khi Miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm.

Tôi cám ơn, ngày xưa em Ngà đã cho tin, cám ơn bác Cúc đã chở Má và các em tôi qua cổng phi trường, cùng quyết định dũng cảm chớp nhoáng của Má tôi, đem con qua Mỹ dù không biết một tiếng Anh, tương lai mịt mù, hồi cuối Tháng Tư năm 1975.

Và, 50 năm dài đằng đẵng trôi qua, vẫn còn có những người đang khóc mà lệ không rơi ra khỏi trái tim mình./.

Trương Ngọc Bảo Xuân
Ngày 27 Tháng 4 Năm 2025

Thursday, March 27, 2025

Chỉ Là Cái Tên Thôi


Dàn bông giấy trước nhà tác giả. Hoa còn đây? Người đi đâu?

Tui coi cái hóa đơn điện thoại. Chaaa… sao mà cao quá.

Nghe nói rồi đây thuế má tăng lên. A… cần phải thu vén, bớt được chỗ nào đỡ chỗ đó. Gọi người bạn cũng xài cùng hãng điện thoại với tui, hỏi, bạn nói, cũng có xài wifi (mạng) và một cái cellphone (điện thoại cầm tay) mà chỉ trả mấy chục mỗi tháng. Còn tui, sao tới hơn 150 đô lận?

Tui thì xài “mạng” và cái điện thoại bàn (landline), còn cái điện thoại cầm tay thì tui ít cầm, ít xài, cho dù khỏi tốn tiền vì là của con dâu cho. À, nội cái điện thoại bàn cũng gần 60 đô mỗi tháng rồi. Mấy đứa em ưa nói, -Bà có điện thoại cầm tay sao hổng tập xài, có đủ thứ, tiện lợi, y như cái computer vậy đó, bỏ bớt cái kia cho rồi.

Hồi còn đi làm, sở bắt buộc nhà phải có điện thoại bàn, bây giờ nghỉ hưu rồi, ngoài những hãng xưởng hoặc người chào hàng quảng cáo thì chẳng ai gọi mình mà mình cũng ít gọi ra. Vậy thì lần này bỏ, rồi tập thói quen xài cái điện thoại cầm tay cho gọn, để đám em khỏi chê mình “nhà quê, đi ngược thế kỷ.”

Nghĩ là làm liền. Tui gọi hãng điện thoại. Đợi gần 20 phút mới có người nói chuyện với mình. Sau khi biết tui muốn bỏ điện thoại bàn, chỉ giữ cái mạng thôi, cổ hỏi bà có vô mạng được không thì tự làm trong đó. Tui nói thôi tui không quen cách làm trong mạng, nhờ cô giúp. Cổ hỏi ai đứng tên khi mở đường dây điện thoại, tui nói là chỉ có tên chồng thôi, mà y đã mất rồi. Sau khi lịch sự chia buồn, cô hỏi vậy chớ số bảo mật (code) của account (trương mục) là gì? Tui nào biết. Cổ nói để tìm cách khác, bà có biết chồng bà đã điền trong đơn, tên trường hay tên thú cưng, hay chuyện gì đó ổng thích hay không, tui nào biết y đã khai cái gì. Vậy thì không có số bảo mật cổ không thể mở trương mục ra để giúp được, tui cần phải đem giấy khai tử của chồng tới tiệm của hãng điện thoại thì mới làm được.

Thiệt tình, thời đại này, cái giống gì cũng làm trên mạng, mà mình thì không rành, thôi thì phải tốn chút xăng, đi tới nơi. Mặt đối mặt dễ hơn.

Nhắc tới vụ mạng này, hầu như mọi nơi người ta đều áp dụng. Vô nhà hàng, có tiệm không thấy cái thực đơn, chỉ có cái bảng nhỏ trên bàn với cái mộc hình vuông, ngoằn ngoèo đường nét, bồi bàn kêu mình áp điện thoại cầm tay vô thì cái thực đơn hiện ra. Có khi vô tiệm mua gì đó, trên quầy chưng lẻ tẻ vài ba món, muốn tìm món mình thích thì làm ơn, vô mạng hay về nhà “go online”, “order online” chớ trong tiệm chỉ chưng tượng trưng vài ba món thôi.

Thiệt tình, đi tới đâu cũng thấy trường hợp này, giống như là tiệm sắp đóng cửa vậy đó. Hôm trước mấy chị em rủ nhau vô Mall coi đồ. Trời ơi, thấy tiệm quán gì mà vắng hoe, ế nhệ. Nhớ lại thời huy hoàng của mấy cái Mall mà buồn hết sức. Hồi đó mỗi lần vô Mall là lội tới lội lui lên xuống mấy từng lầu, mê mẩn, hớn hở trong lòng, nhứt là dịp lễ lớn, như Lễ Giáng Sinh, đèn đuốc sáng trưng biện bày rực rỡ nhạc ồn ào người ta qua lại nườm nượp. Vui lắm, dầu có khi chỉ đi chơi thôi, có mua món gì đâu, mà vui muốn chết. Bây giờ, thê thảm quá.

Tui đã tập mua hàng online. Sau nhiều thắc mắc rắc rối bực mình, tui cũng phải tìm món gì đó, mua. Lựa lựa nhắm chừng mua đại, khi hàng về, không vừa không thích muốn trả muốn đổi cũng nhiêu khê! Hỏi con cái chỉ dẫn cách làm thì đầu óc mình chậm hiểu, hoặc hôm nay hiểu làm được thì ngày mai quên rồi. Hỏi hoài tụi nó nóng ruột, mất kiên nhẫn nên nó làm luôn cho lẹ. Riết rồi, chẳng lẽ mượn hoài sao? Phải tự mày mò. Sau cùng cũng làm được. Bây giờ kể như tui đã biết “order online”, biết trả đồ bằng cách chụp hình cái mộc hình vuông vẽ ngoằn ngoèo đó từ mạng rồi đem đồ ra tiệm USP để trả, không lệ phí gì hết nếu làm đúng.

Nhưng, mỗi khi vô mấy cái mạng của chính phủ thì mịt mù. Đôi khi không hiểu rõ nên tốn tiền thêm. Thí dụ, kỳ đó tui muốn renew passport (làm sổ thông hành mới). Vô mạng tìm ra cái văn phòng, bấm vô thì thấy hiện ra một dọc địa chỉ, bấm đại vô một cái vì thấy chữ “renew passport” có chỉ dẫn tận tình cách điền đơn, nghĩ bụng, chaaa, tử tế quá. Xong, nó biểu gởi trả tiền. Tui tưởng là lệ phí, chẳng dè, đó chỉ là hãng tư nhân, điền đơn tính tiền, còn thông hành thì mình phải kèm thêm lệ phí, mới xong. Về sau rút kinh nghiệm, tui biết đọc cho kỹ, phân biệt địa chỉ, cái nào là của cơ quan chính phủ, cái nào là của tư nhân.

Còn vụ điện thoại này, điều bắt buộc, bữa nay chịu khó lái xe, mặt đối mặt với nhân viên họ giúp cho. Tới nơi, thì ra là một tiệm bán điện thoại của hãng. Nhân viên bán hàng là một người đàn bà bản xứ, tên Rosa, vui vẻ nhanh nhẹn. Cổ nói cách duy nhứt là phải khóa trương mục cũ, rồi mở trương mục mới với tên của mình. Xong chuyện, cổ biểu về đợi, có thể vài ngày, trước khi khóa, họ sẽ email (điện thư) cho mình hay, khi có hộp mới, cổ sẽ gởi thợ tới gắn vô cho mình.

Về nhà, chiều hôm đó là thấy mất wifi. Không xài được internet, điện thoại, cảm thấy bức rức, thiếu thốn. Mình đã quen, dựa quá nhiều vô kỹ thuật mất rồi. Họ đóng trương mục cũ mà đâu có gởi điện thư báo trước cho mình biết. Thiệt tình! Làm ăn bê bối.

Tui nhớ hồi xưa, dọn nhà hoài, trong vòng hơn nửa thế kỷ, tụi tui đổi địa chỉ mười mấy lần. Mỗi lần dọn nhà, mở cái gì cũng chồng tui làm mình ên cho gọn vì tui cũng bận đi làm đâu nghỉ được, nghỉ một đứa thôi chớ, vì vậy, ngoại trừ trương mục nhà băng, những cái khác cũng chỉ đứng tên chồng mà thôi.

Cũng may, hồi đó y dặn, “Em cần phải mở một credit card (thẻ tín dụng) có tên của mình, rồi phải xài để có “lịch sử trả góp” lỡ anh có chết thì mình có credit, nếu không thì sau này khi mua xe cộ hay gì đó cần số tiền lớn thì khó mượn tiền nhà băng lắm. Họ chỉ theo tên của người đứng tên trong hồ sơ mà thôi”

Xứ sở này hầu như ai cũng cần mua đồ trả góp, càng có quá trình trả góp đều đặn mỗi tháng, càng có nợ trả góp đàng hoàng thì credit của mình càng tốt, nhà băng tin tưởng, vay mượn gì cũng dễ hơn là trả tiền mặt nên không có credit gì hết.

Lạ chưa. Có nợ thì mới mượn được nợ dễ dàng. Mà đúng. Nghe lời chồng, tui cũng có thẻ credit mang tên tui. Y mất gần ba năm, mấy hóa đơn điện thoại, gas, nước, này nọ, không có tên tui, bây giờ muốn thay đổi gì thì gặp rắc rối mất công như vầy.

Sống trên nước Mỹ lâu ngày, tui hiểu ra, tại sao cha mẹ dạy con cái tự lập từ nhỏ, chuyện gì cũng phải biết làm bất kể trai gái, vợ chồng cũng cần phải có gì đó, mình đứng tên.

Hôm nay, làm xong vụ khóa cái cũ làm cái mới. Nay mai, còn trương mục tiền gas, tiền điện, tất cả, đều sẽ không còn tên anh nữa. Gần ba năm, mỗi tháng thấy hóa đơn với tên anh, tui cảm tưởng như anh đi đâu đó chưa về, thấy đỡ khổ. Bây giờ tới cái tên mà cũng không thể giữ được nữa.

Tui ngó lên trời. Bầu trời bữa nay xám xịt một màu u mê.
Ôi! Thân người bằng xương bằng thịt biết thương biết yêu, thấy đó rồi mất đó.
Nhưng, dầu thân thể có trở thành tro bụi, mà nỗi nhớ thương hằn lên từng sớ thịt, thì bỏ cái tên ra, có nhằm nhò gì đâu?
Vậy mà sao đau lòng muốn chết.

Anh đi trước, em phải chạy theo thời gian, một mình. Mệt quá mình ơi./.

Trương Ngọc Bảo Xuân

Friday, March 8, 2024

THẦN GIỮ KHO TÀNG

Đầu năm Giáp Thìn, tui tính viết chuyện gì vui vui.

Vặn ti-vi lên, tui lựa một cuốn phim gì đó để vừa nghe loáng thoáng vừa gõ bài. Có tiếng động xung quanh mới có cảm hứng.

Phim là phim Đại Hàn, nói tiếng Anh. Cái mặt minh tinh tài tử Á Đông, cặp mắt chưa sửa còn một mí, mà nói tiếng Anh nghe ngộ ngộ.

Thập niên 60, 70, phim Tàu chuyển âm qua tiếng Việt thì hạp khỏi chê, phim Ấn Độ cũng còn đỡ khổ. Hạng nhứt là phim ca vũ nhạc của Ấn mà pha thêm sáu câu vọng cổ, khi xuống câu phựt đèn màu nữa thì khán giả vỗ tay bể rạp luôn.

Có lần, chủ hãng muốn thử phim Mỹ chuyển âm tiếng Việt coi tình hình ra sao, thì, tóc màu vàng màu bạch kim lỗ mũi cao nhòng mà xổ tiếng Việt, thất bại ngay từ phim đầu.

Tất cả phim hoạt họa của nước nào đi chăng nữa cũng đều phải có người “đớp” các vai trò. Tui thấy dùng từ ngữ “lồng tiếng” trong trường hợp này là đúng, còn phim nước này dịch qua nói tiếng nước khác thì xài chữ “chuyển âm” nghe hay hơn.

Trong phim, nghe tiếng ai đó chuyển âm, nhớ lại nghề này tui đã từng làm, từ năm 1966 tới 1969.

Ờ, để coi.

Năm 1966, tui đang học lớp Trung Đẳng ngành cổ nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ,Sài Gòn. Tháng đó thầy Năm Châu bịnh, phải giải phẫu, cần ở nhà tịnh dưỡng, nghệ sĩ Kim Cúc là vợ thầy vô dạy thế một thời gian. Một hôm, cô hỏi tui:

-Con muốn đi làm nghề chuyển âm phim không, họ đang cần người. Là phim Tàu nói tiếng Việt đó con.

Lúc nào tui cũng muốn đi làm nên nói -Dạ con muốn. Cô nói:
-Vậy thì cô sẽ giới thiệu con vô làm cho hãng Việt Phim. Hãng này xa lắm, đường đi Thủ Đức, gần cầu Bình Triệu lận. Để cô mượn thằng Tây cho con có giang lần đầu cho biết đường rồi con kiếm xe buýt xe đò xe lam gì đó mà đi.

Vậy là tui vô nghề cái rụp dầu cho có phải đổi ba chặng xe buýt xe lam xe đò như cô đã nói.

Chiều hôm sau anh Tây ghé trường rước tui đi làm bằng chiếc xe mobylette.

Anh Tây là một trong nhóm sinh viên khóa đầu tiên, đã tốt nghiệp, đang làm nghề chuyển âm cho hãng Việt Phim, thu Đài Phát Thanh Sài Gòn và Đài Phát Thanh Quân Đội.

Quý thầy dạy trong trường, nâng đỡ nhóm học trò mới tốt nghiệp. Tui có may mắn và gặp đúng lúc nên vô nghề không chút khó khăn, chỉ bị đường xa thôi. Nhà thì ở quận Sáu Chợ Lớn, trường nằm trên đường Nguyễn Du quận Nhứt, hãng Việt Phim gần cầu Bình Triệu, đối với tui thì xa mịt mù. Nhưng việc làm này chỉ làm khi có phim mà thôi, cho nên khi có phim thì phải làm cho xong để người ta chiếu đúng ngày quảng cáo, có khi làm luôn ban đêm.

Trước đó, phim ngoại quốc về là người ta Phụ Đề Việt Ngữ, nhưng nhiều khi các vai trò nói mau quá, khán giả đọc chữ theo không kịp, vừa coi hình vừa đọc chữ thì bị thiếu sót, làm phim bớt hay, cho nên mấy hãng phim tạo ra một đột phá lớn là cho nhân vật chuyển qua nói tiếng Việt, bởi vì chính các phim Việt Nam cũng vậy, có khi tài tử minh tinh mặt đẹp diễn hay nhưng tiếng nói thì không thích hợp nên cần mượn tiếng nói của người khác.

Nghề chuyển âm ra đời, rất được ưa chuộng.

Cách làm tuần tự như vầy, chủ hãng mua bộ phim về, chiếu cho coi. Có một ông người Việt gốc Tàu chuyên thông dịch, coi để hiểu nội dung câu chuyện. Cả ban chuyển âm coi để hiểu tâm tình của mấy nhân vật mình sẽ chuyển tiếng nói. Người trưởng ban sẽ phân chia, ai lãnh nói cho nhân vật nào.

Trong hãng Việt Phim, có Bác Năm Bửu, là một nghệ sĩ cải lương, giọng nói rổn rảng, điêu luyện, là sếp sòng, dĩ nhiên gom mấy vai lớn tuổi, dữ dằn hay hiền khô bác đều “đớp” hết.

“Đớp” là “‘nói” tiếng lóng trong nghề chuyển âm.

Có anh Long vespa, anh Mai Thành, anh Trọng, anh Tươi, chuyên đớp mấy vai độc đểu sở khanh hay tướng tá oai vệ, anh Tây vai chánh với giọng nói êm dịu truyền cảm. Bên đào có minh tinh Kim Lan vai chánh, minh tinh nghệ sĩ Kim Cúc vai độc, chị Phấn vai lẳng là số dách.

Nhưng, vì bịnh gì đó cô Kim Lan xin nghỉ còn cô Kim Cúc phải đi dạy thế thầy Năm Châu nên không vô làm nữa.

Ạ thì ra là vậy. Vì thiếu hai cô đào nên mới có chỗ cho tui vô nghề.

Bạn hãy hình dung ra cái phòng kín mít. Bốn vách tường gắn vật liệu ngăn âm thanh nội ngoại.

Một tấm màn vải trắng chiếm nguyên bức tường để chiếu phim lên, như trong rạp hát. Ở ba phần tư màn ảnh bên tay trái có để một khúc cây dài làm dấu.

Giữa phòng là hai cái micro đứng. Cánh cửa ngăn phòng thu âm này với phòng chứa máy móc chiếu phim và dàn máy thu tiếng. Tại nơi đây có anh Khai là người giữ nhiệm vụ chiếu từng đoạn phim và thu tiếng nói.

Phim gốc sẽ được cắt ra từng đoạn, một đoạn phim trắng bằng đoạn phim gốc cặp sát bên nhau, đây là đoạn có chữ Việt của ông Tàu phiên dịch ý nghĩa.

Tui đã từng cùng anh Tây chạy ra Chợ Lớn tới nhà ông Tàu để lấy mấy đoạn phim dịch nháp, từ tiếng Quảng Đông hay Quan Thoại qua tiếng Việt. Đem mấy đoạn phim về rồi trong hãng có một người sẽ viết lại, từng câu đối thoại, chữ nhiều chữ ít tùy theo nhân vật. Việc làm này đòi hỏi người phải có trình độ viết lách đủ hỉ nộ ái ố.

Làm một thời gian tui mới biết người làm việc này chính là ông chủ hãng. Về sau có thêm anh Tây và anh Năm Bé.

Khi bắt đầu, anh Khai sẽ cho chạy một đoạn phim, nhân viên thu tiếng vừa coi hình vừa nhẩm đọc câu nói chạy cùng lúc bên dưới đoạn phim vẫn còn để âm thanh gốc, từ tay mặt qua tay trái, cho mình biết tâm tình của nhân vật. Khúc cây dài có phận sự làm cái mốc chận, để mình nói cho kịp, không thôi chữ sẽ chạy qua mất. Nói xong, ráng đừng ai vấp váp hay làm hư khúc nào đó, qua suông sẻ thì anh cho nghe lại trước khi tiếp đoạn khác.

Năm đó, vì muốn làm cho xong về nhà ăn Tết nên ai cũng ráng, tuy buồn ngủ muốn chết cũng ráng banh hai con mắt ra mà rượt theo dòng chữ, banh hai lỗ tai ra mà nghe tiếng của mình, miệng phải dẻo nhẹo để không bị vấp. Miệng của nhân vật trong phim vừa ngậm thì miệng của mình cũng phải ngậm lại, mới được.

Khi tui đã tập bắt kịp dòng chữ rồi thì được phát vai để nói. Anh trưởng ban cũng biết điều, lựa cho tui một vai cỡ tuổi mười mấy, dễ ăn giọng. Tui hạp nhứt là chuyển âm cho minh tinh Tiêu Phương Phương.

Sau đó mỗi phim anh cho tui lãnh vai khác nhau, già thì gằn giọng xuống, rung rung, trẻ thì giọng bình thường truyền cảm, con nít thì cao lên, nói ngọng nói đớt. Ngọng đớt phải tùy theo tuổi nữa. Nhuần nhuyễn rồi, lần đó anh giao cho tui đớp luôn nămnhân vật khác nhau.

Thời đó, truyện kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung và tiểu thuyết ái tình ướt át của nhà văn Quỳnh Dao chuyển thành phim qua nhiều lắm. Hãng rất đắt hàng, tụi tui làm cả ngày lẫn đêm, có năm, ngủ luôn trong hãng cho tới chiều 30 Tết mới xong. Nhớ phim tình cảm đầu tiên tôi đã chuyển âm vai cô học trò yêu thầm ông thầy giáo, chuyện tình Song Ngoại buồn thấy bà cố.

Phim kiếm hiệp đầu tiên tui làm là Thần Điêu Đại Hiệp. Phim đen trắng, rồi phim gì mà có cô Tiểu Long Nữ chuyên môn bận áo “voan” trắng sống trong cổ mộ, do Tiêu Phương Phương đóng, còn cô Trần Bảo Châu cũng đang nổi tiếng. Về sau có tài tử Khương Đại Vệ, bên đào có Trịnh Phối Phối.

Ngôn ngữ chuyển âm dùng nhiều từ ngữ Hán Việt nên nghe rất “Tàu” thí dụ như “xếnh xáng (tiên sinh), “xỉu mụi” (tiểu muội) tại hạ, giáo chủ, “xỉu chẹ” (tiểu thư) v.v.”

Dĩ nhiên ngủ trong hãng có nghĩa là nửa nằm nửa ngồi gật gù trên mấy cái băng ghế, hễ đứa nào có vai thì được ai đó kêu dây, tới đứng tụm lại hai cái micro, đớp xong thì về chỗ, gật gà gật gù tiếp.

Lúc đó tui mới mười mấy, ăn chưa no lo chưa tới, chưa từng làm việc kiểu này nên đầu óc lơ tơ mơ lắm. Nhớ có một đoạn, sau khi tui đớp xong, về chỗ rồi thì nghe cả nhóm phì cười còn anh trưởng nhóm thì hỏi “Nói gì vậy, nhỏ này?” Tui nói dạ thì thì thì ở trển viết sao em nói vậy. Anh nói “chút nghe lại đi”

Khi anh Khai cho nghe lại thì tui muốn độn thổ. Trong đoạn có câu:
-Em đang mơ màng mong mỏi một cơn nhu phong.

Các bạn ơi tui đã nói lái hai chữ “cơn nhu”

Tỉnh bơ. Mà hổng hay. Đã vậy, bác Năm còn cười ha hả, chọc:
-Tụi bây tránh ra, để con “xỉu chẹ” này đang mơ màng mong mỏi một “cu nhơn” đó nghen ha ha ha

Thiệt tình, mắc cỡ muốn độn thổ.

Có lẽ thấy tui quê quá bác Năm mới thôi cười mà nói:
-Thôi, tụi bây hồi đó có ngon gì, tụi bây còn nói lộn nói lái tục tằn hơn nhiều mà bây giờ xúm lại chọc quê nó. Nhớ thằng Tây hông? lần đó nói “Nhân ngày thành hôn của xỉu muội, huynh đài tặng em cặp mặt gối”
Nhưng mà nó nói lái hai chữ “cặp mặt” đó, nhớ hông?

Rồi một lần, phim có lồng vô bài bản Hồ Quảng, là câu “Mong mỏi, mong mỏi, mong mỏi tiểu thơ”

Theo giọng nhạc thì dấu hỏi trở thành dấu huyền mới đúng điệu, là: ti tì ti tì, ti tì tí ti... ca “mong mỏi” thành ra “mong mòi”

Thằng Tươi nó ca:
-Mong mòi mong mòi, moi mòng tiểu thơ…
Nghe còn tổ bà hơn một “cơn nhu” nữa kìa.

Tội nghiệp con nhỏ này lần đầu tiên làm liên tiếp mười mấy tiếng đồng hồ hổng được ngủ cho nên nó bị lẹo lưỡi chút xíu mà. Thằng Khai, cho chạy lại thâu lại đi.

Cho thâu lại, mà hễ tới hai chữ đó thì tui khựng, lẹo lưỡi, nói lấp vấp. Thâu lại 2, 3 lần gì đó, không xong, khiến bác Năm sốt ruột bác la:

-Thôi, Phấn đớp dùm nó cho qua đoạn này đi. Chạy tới chạy lui nó đứt mẹ khúc phim bây giờ.

Xoay qua tui bác nói:
-Còn con nhỏ này, qua góc đó ráng nhắm mắt chút đi, chừng nào có vai tao kêu.

Khi coi phim nếu khán giả chú ý một chút sẽ nhận biết nữ hiệp khách Tiêu Phương Phương đoạn này có giọng nói lẳng thấy bà!

Thời gian sau tui cùng vài anh chị qua làm cho hãng Mỹ Phương, nằm trên đường Chi Lăng, rút ngắn hơn phân nửa đường, lái xe Yamaha Dame le lói. Trong nhóm có thêm Bác Sáu Trọng, anh Năm Bé, anh Hữu Lộc, anh Lăng, chị Hồng, chị Tư Đạm.

Hãng Việt Phim có thêm Hồng Vân và Tú Trinh, nổi danh rần trời, là thời gian thịnh hành nhứt của nghề chuyển âm phim.

Mỗi lần soạn mấy tấm hình mà Ba tui đã chụp, thấy lại thời gian đó, tui không khỏi bật cười vì những chuyện ngây ngô,sai lầm của mình và nhớ từng giọng nói của bạn đồng nghiệp, cả hai hãng phim, biết là chừng nào.
Tui coi những chuyện nho nhỏ như vầy, mấy tấm hình đen trắng ố vàng màu thời gian này, quý như một kho báu, mà tui là người muốn làm bà thần giữ kho tàng, mãi mãi./.

Trương Ngọc Bảo Xuân.
02-21-24

Monday, October 23, 2023

Halloween 2023

Vợ chồng tôi trên chiếc Yamaha Dame Tháng 10 năm 1970.

Một buổi tối, mùa Lễ Halloween.

Tôi vặn ti-vi lên, kiếm phim để coi. Đài nào cũng Halloween này Halloween nọ, kẹo bánh đầy tiệm, quần ma áo quỷ, chán quá. Đổi qua đài Netflix, thấy bộ phim dài, The Defeated, phim về thời hậu chiến Thế Giới Thứ Hai, mở ra coi thử.

Ráng coi tới tập 2 thì phim vẫn còn quanh quẩn trong một xã hội đổ nát sau chiến tranh, với những ngôi nhà thấp, những tầng lầu cao, cả thị trấn lỗ chỗ dấu đạn, với những thân phận con người vẫn phải tiếp tục sống lẩn quẩn tìm tòi bươi móc trong đống tro tàn, sao mà giống Việt Nam quá. Từ xưa tới nay, thuở khai thiên lập địa, con người xâu xé lẫn nhau, giành đất sống. Rồi chiến tranh. Đệ Nhứt Thế Chiến, Đệ Nhị Thế Chiến, nồi da xáo thịt Việt Nam, chiến tranh bên nước Ukraine và mới đây, lò lửa Trung Đông vừa bộc phát ở Do Thái bởi Hamas (Palestine), chưa gì dân cả hai bên đã chết và bị thương cả chục ngàn người, Dãy Đất Gaza thành bình địa.

Trận chiến nào cũng đã và sẽ kết thúc trong mất mát và đau thương.

Thấy nặng đầu quá, tôi bần thần, tìm phim khác. Đây rồi, bộ phim S.W.A.T. (Lực Lượng Cảnh Sát Đặc Nhiệm) Nhớ lại, chồng tôi cũng đã coi bộ phim này. Phim tiếp tục chiếu hằng năm. Tuy là phim dài nhưng mỗi tập là một chuyện đời, coi không thấy chán. Coi để biết những gì xảy ra hàng ngày, họ sống và làm việc ra sao.

Vậy là tôi bắt đầu theo dõi bộ phim từ chuyện này qua chuyện khác.

Tới lúc thấy tôi đang ngồi trong xe cảnh sát này, vừa tới đầu một con đường vắng của thành phố thì tôi xuống xe, đứng bỡ ngỡ. Trời đang sáng bỗng tối sầm. Lạnh. Trời chuyển mưa rồi chắc. Tự dưng từ đâu tới, xịch một bên chân có chiếc xe Yamaha Dame màu xanh, chồng tôi vừa ngừng lại, kêu tôi lên xe mau.

Tôi leo lên xe, cũng ngồi một bên, ôm eo ếch chàng, như ngày xưa ở Sài Gòn. Tháng 10 năm 1970, anh đã chở em bằng xe này đi thăm mả Ba trước khi đi Mỹ, có chụp tấm hình duy nhứt em còn giữ. Hai đứa còn trẻ măng, mới 22 tuổi mà.

Xe chạy cái vèo thẳng con đường trước mặt. Chỗ này là đâu mà sao tối om. À thì ra không có đèn đường.

Chạy một đổi, gió ù ù thổi qua mặt. Trời tối thui mà sao chồng tôi hay quá, lái vù vù. Rồi ngừng lại cái rụp, trước một quán ăn.

Bước vô cửa. Quán im lặng. Bàn ghế toàn bằng gỗ thô. Không có đèn. Hai đứa ngồi xuống. Người bồi bàn từ đâu bỗng xuất hiện. Người này sao giống giống như nhân vật trong mấy phim kiếm hiệp Tàu quá. Cái khăn nhỏ vắt vai, y bưng ra mấy dĩa đồ ăn mà khổng cần lời qua tiếng lại. Ngộ quá. Lạ quá. Chén dĩa gì cũng bằng vỏ sò vỏ hến. Rút đôi đũa tre ra khỏi ống, cứ vậy mà gắp.

Nhìn xung quanh, thấy bàn có người bàn không. Có bàn 1 người, có bàn 2 người. À, mà sao tôi thấy Ba Má tôi cũng đang ngồi ăn kìa.

Ai nấy đều âm thầm lặng lẽ.

Cảnh vật một màu ảm đạm. Bộ vó con người cũng một màu u tối.

Mà sao lòng thấy vui quá. Tôi ngó chồng tôi.

Ăn xong rồi, ra đường. Chồng tôi rồ máy xe rồi chạy tiếp. Ba Má tôi cũng leo lên chiếc xe scooter. Hồi đó Ba thường cho thêm mấy đứa em theo, lần này thấy Ba chỉ chở Má thôi. Chạy ngược hướng.

Con đường hun hút sâu thăm thẳm. Dài và tối. Hai bên đường cây cao chụm đầu vào nhau, như cái vòm bằng cây bằng lá. Không thấy bầu trời. Không một bóng xe, bóng người.

Chồng tôi hơi quay đầu lại, bàn tay đặt lên đùi tôi, tính nói gì đó. Tôi chồm lên vai anh để lóng nghe.

- Bữa trước anh ghé qua Trang Bảo Tự. Anh gặp nhiều bà con lắm, những người anh đã thấy từ lúc anh mới mất cha, năm anh 9 tuổi. Anh gặp lại ông Dượng. Đây là người mà anh nhớ nhiều nhứt vì khi Ba anh mất không lâu, anh đã sinh sự khó dạy, nhứt là lúc bãi trường, khiến Má anh phải kêu lên: -Ai tới mà lãnh thằng nhỏ này đi cho rồi.

Thế là ông Dượng đã tới để “lãnh thằng nhỏ này đi”

Cả mùa hè đó anh ở nhà ông. Ông đã dạy anh cách vắt sữa bò, sữa dê, cho anh uống thứ sữa còn ấm, anh nhờn nhợn muốn ói. Từ đó về sau anh chỉ uống sữa thật lạnh, phải để thêm 2, 3 cục nước đá, mới chịu. Anh gặp người Cô, bà hỏi anh thèm món gì để bà nấu. Anh nói muốn ăn món thịt heo nướng với cà rốt khoai tây. A…aa, đây là món anh thường nói anh thèm mà tôi chưa kịp nấu đó mà.

Tôi nói:
- Ủa, anh là người theo đạo Công giáo mà sao lại vô Trang Bảo Tự, nghe tên giống giống như một cái đền hay chùa vậy mình?

-Má anh theo đạo còn anh khi trưởng thành rồi thì không theo đạo nào hết, hổng nhớ sao?

Rồi im lặng.

Chạy lên núi, một bên là rừng cây âm u, một bên là biển sóng dạt dào xô lên bãi cát xám. A… con đường ngoằn ngoèo nguy hiểm này đi tới Coos Bay. Đây là nơi sinh trưởng của anh, một thị trấn của tiểu bang Oregon.

Cha… aa, anh đưa tôi về quê. Chạy xa dữ thần há.
Xuống biển dạo chơi ta.
Anh rẽ qua con đường xuống biển.
Tôi nhớ nơi này đã có đi qua rồi.

Hồi mới qua Mỹ, cuối năm 1970, có lần nửa đêm tôi khóc vì nhớ nhà quá. Chồng tôi đã bồng đứa con nhỏ qua phòng Bà Nội gởi, rồi chở tôi ra biển. Biển bây giờ, có khác gì với biển năm đó đâu, dầu đã hơn 50 năm rồi. Vắng vẻ lắm.

Nhớ lúc trước, khi tôi rủ “Mình ra biển đi bộ trên cát chơi đi anh” thì anh cằn nhằn “Ra đó cát không chớ có gì? Cát dính lên giày, quần áo, rít rát khó chịu lắm”

Tôi giận, ông này không có một chút tình tứ lãng mạn nào hết. Thấy ghét. Tui đi mình ên.

Sao lần này chính anh tự động rủ tui? Hối hận rồi chắc? Tại sao hồi đó không chìu vợ một chút? Ối. Nghĩ chi cho xa. Chẳng phải người ta thường nói khi lớn tuổi con người sẽ thay đổi kia mà. Ừ. Rủ thì đi.

Hai đứa lết thếch trên cát ướt. Vừa ướt vừa tối. Trời không trăng không sao. Tối hù. Nước biển cũng tối.

Đi một đỗi, dưới chân lộm cộm, tôi xề xuống moi mấy con ốc con sò lên phủi phủi cát rồi bỏ vô túi. Cứ đứng lên thụt xuống lúi húi, mà đầy nhóc, trì hai bên quần.

Một luồng gió lạnh buốt thổi qua. Xa xa ngoài khơi tôi thấy một chiếc xuồng nhỏ đang tròng trành nhấp nhô. Tôi nhớ mấy câu ca dao:

Tròng trành như nón không quai.
Như thuyền không lái như ai không chồng”

Ủa? không có ai mà sao thuyền tròng trành tròng trành nhấp nhô nhấp nhô?

Cả một bãi cát dài mút minh mông, âm u, chỉ có mình hai đứa tôi thôi.

Tới lui trên bãi một hồi chồng tôi nói thôi mình về. Anh đi trước, leo lên cái đồi cát một cách dễ dàng. Còn tôi, sao leo hoài mà không thể tiến được bước nào. Ráng ỳ ạch leo lên rồi tuột xuống. Anh đứng trên cao. Ngó xuống. Làm thinh. Tôi có hơi giận. Thầm trách trong bụng, sao không kéo tay tui lên.

Lần nữa, mím môi tôi cố leo lên, té chúi nhủi xuống cát, nghe cái ẦM!.

RẦM!

Tôi bừng con mắt. Sáng trưng. Ngó thẳng vô màn hình ti-vi.

Chiếc xe cảnh sát bị một chiếc khác đụng thẳng vô đầu cái RẦM. Mấy miếng sườn xe bay lên trời, văng tung tóe. Hai cảnh sát trong xe gục gặc, sàng qua sàng lại, hất cái đầu vô cửa làm bể kiếng, rớt lã chã một đống xuống sàn xe như xâu chuỗi hột đứt dây.

Chồng tôi, Ba Má tôi biến mất.

Chỉ có tôi đang nửa nằm nửa ngồi trên cái ghế lười (lazy chair) trước ti-vi đang mở lớn, chiếu cuốn phim S.W.A.T. Quạt máy quay vù vù. Tại vậy mà tôi lạnh quá.

Trách hai người tài xế đụng nhau làm chi. Tôi còn chuyện muốn hỏi anh mà.

Ba tôi chết đã lâu. Hơn nửa thế kỷ rồi.
Má tôi cũng mới mất đầu năm nay.
Và chồng tôi, vừa qua đời cuối năm ngoái.
Âm dương cách trở rồi.

Bây giờ gần Lễ Cô Hồn mà người Mỹ gọi là Halloween, tôi thấy người đã khuất.

Là sao?

Chắc là hàng ngày, mở ti-vi đài nào cũng tràn ngập quảng cáo những chuyện ma kêu quỷ khóc cho nên tâm trí tôi cũng bị ám ảnh? Nhưng vậy cũng tốt.

Rồi bỗng dưng tôi hiểu ra. Tại sao tôi không leo lên nổi cái đồi? A, phải rồi, vì hai cái túi nặng quá. Nó nặng vì lòng còn tham lam của tôi, đã chứa đống vỏ ốc vỏ sò, của chung lấy làm của riêng, trì xuống, kéo tôi xuống.

Còn anh đã buông bỏ, hết nợ trần gian, nhẹ nhõm. Chừng nào dứt nợ hồng trần, tôi mới theo kịp anh.

Nhưng, cho dù thấy rõ ràng tấm hình anh kế bên hũ tro cốt trên bàn thờ, sao mà lạ, nhiều lúc tôi có cảm giác anh đang đi chơi xa thăm bà con đâu trên Oregon, nay mai sẽ về. Anh sẽ lê tấm thân mệt mỏi vô nhà và nhõng nhẽo:

-Anh nhớ mình lắm. Mệt quá. Anh chạy một mạch về, chỉ ghé đổ xăng. Đói bụng rồi. À, hôm nay em nấu món thịt heo nướng nhớ để nhiều cà rốt củ hành khoai tây nha.

Có khi tôi đang ngoài sân, cảm tưởng như anh đang ngồi ngủ gục trên cái ghế trong nhà, an tâm ngủ vì biết có tôi lẩn quẩn.

Có khi tôi đang trong nhà cảm thấy như anh đang đợi tôi ở đầu đường.

Linh hồn sợ ánh sáng. Mỗi đêm tôi tắt hết đèn, mình ơi, có linh thiêng, hãy nương theo bóng tối mà về.

Nhưng, ban ngày thì anh ở đâu?

Có nhà thì về nhà, đừng lang thang đâu hết.

Cái ghế “lười” này là ghế anh đã ngồi, ăn, ngủ luôn vì ngồi ghế anh mới thở thoải mái được. Từ khi vắng anh, tôi cũng đã ngồi, ăn, ngủ trên cái ghế này, để tưởng như còn trong vòng tay ấm áp che chở của anh, hơn 53 năm chớ ít sao.

Tôi mong mỗi ngày đều là lễ Halloween để tôi có cơ hội gặp lại Ba Má và chồng tôi.

Lần sau nhứt định phải yêu cầu anh chở tôi tới Trang Bảo Tự, chắc chắn tôi sẽ gặp lại tất cả Cô Chú Dượng Dì.

Và hơn hết, được ngồi sau lưng ôm eo ếch anh, sống lại thời còn nương tựa bên nhau. Nhìn thấy nhau. Nói chuyện với nhau. Tuy hai mà một.
Mình ơi./.

Trương Ngọc Bảo Xuân
Tháng 10 Năm 2023

Thursday, September 21, 2023

Màu Bông Mùa Vu Lan

“Rước Kiệu Má” – Hình tác giả gửi.

Lễ Vu Lan năm nay, 2023, tám chị em tui sẽ phải cài bông hồng màu trắng rồi.

Ủa? Nói “Bông Hồng” đã “hồng” mà sao lại “màu trắng”!

Thôi thì, cài cái bông mẫu đơn màu trắng đi, hay loại gì đó cũng được, miễn là cái tên đừng có kèm theo chữ "hồng" là thích hợp.

Ngồi buồn nghĩ lẩn thẩn, các bạn và anh/chị/em ơi, cho đỡ buồn.

Năm ngoái, 2022, sau khi tôi than phiền rằng sao ống cống trong nhà cứ bị nghẹt hoài, nhân viên sở tại tới lui thăm dò khám xét và sau cùng tới để đốn bỏ hai cây phượng tím cổ thụ cả trăm năm, trước sân nhà, vì rễ của nó đã ăn luồn vô ống cống, đã đội cái sân đậu xe, bể một đoạn dài.

Mất hai cây lớn che bóng mát, lòng tôi thấy tiếc làm sao. Như đánh mất cái gì đó.

Trong lòng luôn có ý ái ngại. Hơi lo sợ. Nghe người xưa hay nói là nếu nằm chiêm bao thấy bị rụng răng, hay cây khổng lồ mà bị tróc gốc, gãy, đốn bỏ, là điềm không hay, dữ hơn nữa, là nhà sắp có tang chế.
Tôi nói tôi không tin dị đoan!

Và rồi, cuối năm 2022, tôi mang tang chồng.

Rồi qua đầu năm nay, 2023, tôi có đại tang mẹ. Từ nay mấy chị em đâu còn làm kiệu để rước Má lên kiệu nữa rồi. Từ đây có chuyện gì liên quan tới miền Tây, còn Má đâu mà hỏi.

Khi chồng mất, tôi đau đớn quá. Cây cổ thụ che bóng mát đã bị đốn rồi.

Mới mất chồng mấy tháng thôi, tui đã hiểu sự trống rỗng, sống dật dờ, cô đơn như thế nào. Tội nghiệp, Má tôi đã sống như vậy hơn nửa thể kỷ.

Nhớ năm Mậu Thân 1968 khi Ba tôi mới mất, Má tôi đau khổ quá, có lần đang bán ế, Má xòe bàn tay ra cho cô thầy bói coi chỉ tay kế bên, trên vỉa hè bán buôn dưới dốc cầu Ông Lãnh. Tôi nhớ rõ ràng hai điều cô phán "Chị bị khắc khẩu với bàng quan thiên hạ. Chị khóc chồng cho tới chết"

Khi Mẹ mất thì tôi lại buồn vui lẫn lộn.

Trong nỗi buồn có sự mừng vui vì Má đã đi gặp lại Ba, sau 54 năm góa bụa và nước mắt. Nhứt là, trong mấy tháng gần đây, Má tôi thường hay nằm nói chuyện, lời lẽ như hồi còn nhỏ với người chị đã mất từ hai thập niên trước rồi.

Tháng Tư năm 1975, khi Má tôi đem được đám con khờ của Ba qua Mỹ trong mấy ngày cuối cùng của Sài Gòn, Má còn trẻ, mới năm mươi mấy thôi. Má đi làm trong hãng may, ngồi may mà mặt mày tươi rói, vì sung sướng, con cái đoàn tụ xung quanh, sống trong một cường quốc được tự do. Má có nghề nghiệp đàng hoàng để nuôi con, không còn cảnh vừa kiếm từng đồng, vừa ngó dáo dát, sợ bị đuổi, lúc nào cũng sẵn sàng để túm cái bao ny long mà chạy, trong đó có quần áo con nít, bán trên vỉa hè nữa.

Dĩ nhiên trong hãng cũng có mấy ông liếc ngang liếc dọc. Mà Má tôi dửng dưng, tuyên bố một cách chắc như bắp "Hổng ai bằng Ba tụi con hết"

Vì vậy nên Má để cho tuổi đời qua mau.
Vì vậy mà Má khóc Ba cho tới chết.

Năm trước tôi có viết bài "Buồng Chuối Còn Xanh" nói chi tiết về Má tôi, kể chuyện tám chị em tôi hãnh diện cài cái bông màu hồng lên áo, mùa Lễ Vu Lan. Năm nay, phải cài cái bông màu trắng thôi.

Hai cây cổ thụ đã bị đốn rồi. Hai ngọn đèn đã tắt rồi.

Tất cả đã thành cát bụi. Như định luật tử sinh.

Như chồng tôi, 74 tuổi. Như Má tôi, 98 tuổi.

Mình ơi. Đợi tôi. Tới đúng lúc thì tro cốt của hai đứa mình sẽ hòa chung với nhau trong dòng nước ngọt ngào.

Những năm trước, tới Lễ Vu Lan thì mấy đứa em tôi đưa Má tới chùa dự lễ, Má được mời lên ngồi trên hàng bô lão để được chúc mừng thượng thọ.

Năm nay thì, Má ơi Má. Má gặp lại Ba rồi. Tro cốt hai người cũng sẽ tìm tới nhau trong làn biển xanh.

Má ơi.

Mình ơi./.

Trương Ngọc Bảo Xuân

Blog Archive