Showing posts with label Vũ Đoàn. Show all posts
Showing posts with label Vũ Đoàn. Show all posts

Sunday, September 18, 2016

Vàm Cỏ Đông & Căn cứ HQ Trà Cú






Tàu dài 300/ngang 36/sâu 123”. Tốc độ 21knots. Thủy thủ đoàn: Hạm-Trưởng, Hạm Phó, 12 Sĩ Quan và 200 Đoàn viên. Tàu hạ thủy ngày 16/4/1942 ở Thủy xưởng Houston (Texas) lấy tên của H/Q Thiếu úy Camp bị tử trận ngày 27/6/1942 trong trân đánh ở Midway. Chiến hạm Camp đã từng hoạt động ở Thái Bình Dương năm 1945.

Đến năm 1965 CH Camp được gắn thêm Radar và đổi tên thành Khu Trục Hạm/Tiền Thám Radar DER 251. Nhưng đến cuối năm1965 chiến hạm bị tháo gỡ dàn Radar và được gởi đi hoạt động ở Biển Đông trong chiến dịch Operation Market Time.

Do Viet Nam hóa chiến tranh, chiến hạm DE 251 được chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam ngày Feb/06/1971 tại San Diego và được đổi tên thành Frigate Trần Hưng Đạo (HQ 01). Sau 30/4/1975 HQ01 chạy qua Philippines giao lại cho Hoa-Kỳ. Hoa-Kỳ lại giao cho Hải-Quân Philippine lấy tên là Frigate Rajah Lakandula (PS4). Sau cùng chiến hạm ngưng hoạt động năm 1988 nhưng vẫn còn được giữ làm “Stationary Head-quaters Ship” cho đến năm 1996...

* * *
Khoảng tháng 7-1971, tôi Sĩ Quan hành quân (CIC Officer) trên chiến hạm HQ01 Trần Hưng Đạo từ Mỹ về VN, chuyến công tác đầu tiên của HQ01 từ Sài Gòn đến Đà Nẵng, tôi được lệnh phải cấp tốc về Sài Gòn làm Giang Đoàn Trưởng GĐ57 tuần thám.

Yên chí là tôi sẽ ở lại đây ít nhất là 6 tháng hay một năm thật là quá khỏe, GD57 tuần thám đóng ở Nhà Bè chỉ có nhiệm vụ giữ an ninh và hộ tống thương thuyền ra vào sông Lòng Tàu từ Nhà Bè đến Cần Giờ, yểm trợ hành quân cho các đồn bót đóng dọc hai bờ sông, ngăn chặn Viêt Cộng qua sông từ Long An vào Rừng Sát để quậy phá Thành Tuy Hạ, Long Bình ( Biên Hòa). Vì công việc quá đơn giản nên thường nhân viên là có người gửi gấm mới được đến đây. Mỗi tuần Chỉ Huy Phó chỉ lo giáo dục nhân viên về quân phong quân kỷ, đừng trốn bỏ công tác về nhà chơi.

Vừa qua đầu năm 1972 tôi được lệnh đổi về Mỹ Tho để chấn chỉnh một Giang Đoàn đang xuống cấp thê thảm. Giang Đoàn có 20 giang đỉnh chỉ còn sáu chiếc chạy hai máy, bốn chiếc chạy một máy, còn bao nhiêu bất khiển dụng. Dụng cụ trên giang đỉnh bị mất khá nhiều. tôi và Đô Đốc Phú đã có một cuộc tranh cãi ngay trong buổi họp đầu năm. “Tôi không thể làm Giang Đoàn Trưởng một Giang Đoàn bê bết như thế, tôi xin từ chức”.

Đô Đốc nổi giận nói lớn tiếng “Tôi bảo anh làm, anh phải làm”.

Đến khi tan họp anh em đến bắt tay chia buồn với tôi “chắc là anh phải đi rồi”. Đến 2 giờ trưa Đô Đốc Phú gọi tôi vào phòng gặp riêng ông, ông nói “Anh nói đúng, anh mới đúng là Sĩ Quan mà tôi muốn tìm, gặp trở ngại phải dám nói lên khuyết điểm để sửa sai. Tuần tới tôi sẽ đến Mỹ Tho”

Đến Mỹ Tho, Ông ra Lệnh cho Thủy Xưởng phải sửa chữa 100% giang đỉnh khiển dụng trong vòng một tháng và Trung Tá Uyển phải chịu trách nhiệm đôn đốc công tác. Tháng sau ông trở lại, Trung Tá Uyển báo cáo tàu bè đã sửa xong, công tác hoàn hảo, nhân viên Giang Đoàn làm việc kỷ luật tốt.

Ba tháng sau khoảng tháng 4-1972 tôi lại được lệnh đổi về Bến Lức để yểm trợ hành quân cho Tiểu Khu Long An. Đồn bót và nhà thờ ở Lương Hòa cách Bến Lức khoảng 20 km bị Việt Cộng tấn công dữ dội, thế mà tượng Đức Mẹ đứng sừng sững nhìn ra sông lại không bị hề hấn gì. Có phải đây là một phép lạ không???.

Chưa yên ở Bến Lức khoảng 4 tháng, phối hợp hành quân bình định với tiểu khu Long An xong, tôi lại được lệnh về Trà Cú. Theo tử vi không lẽ tôi có sao Thiên Di sao mà cứ chạy vòng vòng, không ở yên được chỗ nào hết. Vợ tôi hỏi tôi có làm mất lòng ai không? mà sao cứ bị thuyên chuyển hoài vậy (càng đi xa anh càng hắt hiu).

Khỏi phải giới thiệu, hai chữ Trà Cú là đã thấy nó làm sao ấy, không biết tên này từ đâu ra, chữ Cú: là chim cú, Cú kêu là thấy thê thảm buồn rồi! Căn cứ Hải Quân Trà Cú không có bóng đàn bà, không có khu gia binh, không có câu lạc bộ, kể cả khỉ ho cò gáy cũng không có, chỉ có lính và lính thôi. Nằm bên cạnh là căn cứ Tiểu Đoàn 64 Biệt Động Quân Biên Phòng do Mỹ để lại có đủ tất cả, có khu gia binh, có câu lạc bộ v..v… Hải Quân buồn đi qua khu Biệt Động Quân chơi, chớ không hề có BĐQ qua HQ chơi. Có ở những nơi như thế này mới hiểu được sự cô đơn, buồn thảm của những anh lính trẻ đi tiền đồn. Các anh Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù lang thang ở các đỉnh cao của núi đèo Chu Pao, Bình Giả, An Lộc và càng thông cảm hơn sự nổi loạn và Stress của các chiến binh Mỹ đi chiến đấu ở VN, bị chết chóc, thương tật, khi về nước lại bị bọn phản chiến làm nhục.

Trà Cú nằm ở đầu Kinh Xáng thuộc Vàm Cỏ Đông, đầu bên kia là Vàm Cỏ Tây. Kinh này được ông Diệm cho đào để xả phèn, trồng mía. Sau ngày đảo chánh ông Diệm kênh này bị bỏ hoang không còn đi lại được.

Trà Cú là liên ranh giữa Long An va Hậu Nghĩa, vì là liên ranh nên không ai dòm ngó tới, gần 100km cách Long An, 40km cách Hậu Nghĩa lại là khu đồng không mông quạnh, không người ở suốt từ Tam Biên đến Long An. Để xây căn cứ Trà Cú năm 1967 Mỹ phải dùng B52 dọn sạch khu đồng hoang cỏ cháy này. Đến 1972 ra khỏi căn cứ khoảng 500m là đã thấy hố bom (tát nước hố bom bắt được cá lóc cá trê lớn từ 5-10kg).

Công tác của Tiểu Đoàn 64 Biệt Động Quân (Border Ranger) là lúc nào cũng phải có một Đại Đội Trinh Sát ở Tam Biên để theo dõi hoạt động của Cộng Sản và một Đại Đội phòng thủ lò máy đường Hiệp Hòa. Khi bàn giao Tiểu Đoàn này cho Việt Nam, Đại Tá CE Jordan (Chỉ huy Trưởng Lực lượng Biên phòng) có nói: “Việt Nam hoá chiến tranh là một việc làm hết sức sai lầm, chỉ giúp VN về vũ khí, đạn dược, tiếp liệu không đủ để phòng thủ chứ đừng nói là chiến thắng CS. Vùng này quá rộng từ Tam Biên đến Long An, lại không có người ở rất dễ cho VC xâm nhập, chuyển quân”.

Hải Quân lo tuần tiễu, ngăn chặn địch qua sông quay phá tiểu khu Hậu Nghĩa. Vì là nơi không có khỉ ho cò gáy, không có bóng đàn bà nên không phải lo quân phong, quân kỷ. Quan với lính đều sống an phận như nhau, ban ngày lo dọn dẹp doanh trại, lau chùi súng ống, sáu giờ chiều đóng cổng với Biệt Dộng Quân, ai cũng tìm đến vọng gác để ngủ cho yên thân. Đi công tác trên tàu hay ở trên căn cứ cũng giống nhau thôi. Luân phiên nhau 8PBR ở Hiệp Hòa, 8PBR ở Bắc và Nam căn cứ, 4PBR Phòng thủ căn cứ.

Hiệp Hòa Dậy Sóng

Khoảng 28/8/1972 tôi lấy 4PBR lên Tiểu Khu họp thường kỳ với Tiểu Khu Hiệp Hòa. Đợi chiều nhá nhem tối tôi mới về lại căn cứ vì VC giờ đó hay qua sông. 2PBR chạy sát hai bên bờ sông. Đi khoảng 1 giờ tôi thấy 2 ghe băng qua sông, tôi cho tàu chặn lại để khám xét. Chiếc ghe đầu lủi vào bờ, người lội sông bỏ chạy. Chiếc sau bị chặn lại không thoát kịp. Lục soát trên ghe trống, tôi lấy được một túi da mà cán bộ CS thường mang theo mình. Ghe kia tôi bắt đươc hai cô gái còn rất trẻ trên dưới 20 tuổi có lẽ là giao liên. Đem hết người và ghe về căn cứ để điều tra. Căn cứ không có phòng giam, tạm thời trói hai cô gái lại cho mền đắp, trước phòng của Giang Đoàn Trưởng và cho lính ngồi canh chừng suốt đêm.

Mở hồ sơ trong túi da, tôi giựt mình, đây là hồ sơ hành quân, bạch hóa kế hoạnh tấn công toàn Tiểu Khu Hiệp Hòa. Một Trung Đoàn đang tiến từ Tam Biên xuống nhà máy đường Hiệp Hòa. Hai Trung Đoàn sẽ đánh dọc theo sông Vàm Cỏ Đông từ Tây Ninh xuống Tiểu Khu Hiệp Hòa. Mục tiêu chính là Tiểu Khu Hiệp Hòa vì Tiểu Khu Hiệp Hòa rất yếu không có bao nhiêu quân, chỉ có Địa Phương Quân sẽ dễ chiếm. Sau khi chiếm Hiệp Hòa VC sẽ di chuyển về Trảng Bàng ém quân. Đầu tháng 9 là ngày N và ngày 2/9 là ngày mừng chiến thắng. Hỏi hai cô giao liên, họ nói là họ chỉ dẫn đường qua sông cho Chính Trị Viên VC ngoài ra không biết gì thêm.

Tôi đánh công điện Hỏa tốc về Phòng 3/Bộ Tư Lệnh/Hải Quân để báo cáo. Đến sang Bộ Tư Lệnh đánh công điện trả lời: “Đây là việc hết sức hệ trọng, anh phải chịu trách nhiệm về báo cáo của anh, mai tôi sẽ cho người đến Hiệp Hòa để nhận người và tài liệu”.

- Ngày N-4 tôi giữ hoàn toàn bí mật chỉ báo với Tr/tá Thành Tiểu Khu Trưởng Hiệp Hòa và Thiếu Tá Minh Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 64 Biệt Động Quân ở bên cạnh mà thôi. Trung Tá Thành đề nghị tôi và Th/tá Minh lên Tiểu Khu ở tạm một phòng kế phòng truyền tin để dễ liên lac và lập kế hoạch phòng thủ.

- Ngày N-3 Th/tá Minh cho biết Đại Đội Tiền Thám ở Tam Biên báo cáo VC có chuyển quân rất đông không biết là bao nhiêu người. Th/tá Minh cho lệnh bám sát và theo dõi cấm chạm súng.

- Ngày N-2 các đồn dọc sông phía Đức Hòa, Đức Huệ bị địch tấn công, có lẽ là do du kích cầm chân chớ không chiếm đồn, để mở đường cho 2 Trung Đoàn VC di chuyển xuống Hiệp Hòa.

Ba Đại Đội Biệt Động Quân phía nhà máy đường trải dài theo sông, theo dõi VC di chuyển.

Giang Đoàn chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm 4 Giang Đỉnh:

Nhóm 1: 4 Giang Đỉnh phòng thủ căn cứ.

Nhóm 2: 4 Giang Đỉnh túc trực tại Tiểu Khu chờ Chỉ Huy Trưởng.

Nhóm 3-4-5 trải dọc theo sông Vàm Cỏ Đông đậu cách nhau 10km luôn di chuyển không được đậu lâu một chỗ. Cấm tất cả thuyền bè di chuyển trên sông.

Có chuyện lạ xảy ra là mỗi hai giờ là Th/tá Minh vào phòng truyền tin Tiểu Khu lên máy gọi mấy thằng con để đưa vị trí mới, thì nửa giờ sau vị trí mới bị VC pháo kích. Đến nửa đêm, không dằn được nghi ngờ là có nội gián, Th/tá Minh bước vào phòng truyền tin bắt trói hết nhân viên truyền tin, lục soát trong người họ. May cho Th/tá Minh là Thượng Sĩ phụ tá Trưởng Đài lại có giấy chứng minh nhân dân của VC, thì ra phòng truyền tin là một ổ nội gián. Tiểu Khu lập tức cho đổi toán bộ nhân viên đài truyền tin để điều tra.

Sư Đoàn 25 bộ binh đươc bí mật điều động đến Tiểu Khu Hiệp Hòa, vì là bí mật quân sự nên Hải Quân tôi không rõ.

- Ngày N-1 hai bên chỉ ghìm nhau yên lặng thật đáng sợ. Không có ghe thuyền trên sông, nên Trung Đoàn VC bên lò đường không phối hợp được với đơn vị VC ở Đức Hòa Đức Huệ. Tiểu Khu rộn rã nghe báo cáo dàn quân. Năm giờ chiều, ba đại đội BĐQ bên lò đường Hiệp Hòa chạm địch. VC tràn xuống rất nhanh, ba đại đội không chống nổi phải rút êm về phía Nam.

- Ngày N. Khoảng 6 giờ chiều, TrĐ 1/Sư Đoàn 25 BB chạm địch ở Đức Huệ. Ta đã chuẩn bị sẵn nên phản công rất mãnh liệt, TrĐ 2/Sư Đoàn 25 bao vây địch, TrĐ 3/Sư Đoàn 25 giải vây các đồn bót bị du kích địch tấn công sát Hậu Nghĩa.

Quần thảo suốt đêm, bên ta thắng lớn, VC không vào được TK /Hậu Nghĩa. Đến sáng Sư Đoàn lục soát thấy hàng trăm xác đich, tịch thu rất nhiều vũ khí. Gần sáng B52 đến dội bom dọc từ lò đường đến gần căn cứ Trà Cú. Nhà Tiền Chế bằng ván ép đóng đinh của căn cứ long cả đinh. BĐQ lục soát cũng tịch thu được nhiều súng ống.

Sau trận chiến, Tiểu khu trưởng Hậu Nghĩa được thăng cấp Đại Tá. Th/tá Minh TĐT/TĐ 64 BĐQ được thăng cấp Trung Tá. Tư Lệnh HQ đáp phi cơ xuống Trà Cú. Chúng tôi phải đốt cỏ và dọn sạch mấy vỉ sắt cho trực thăng đáp vì từ lâu đâu có ai thăm căn cứ.

TL/HQ hết lời khen ngợi, đi vòng quanh trại thấy im lìm lặng lẽ, không có gì để gọi là vui sống. Trở vào phòng Hành Quân TL ra lệnh cho ban Tham Mưu tháp tùng “Còn bao nhiêu huy chương cho hết cho Giang Đoàn, tất cả lính dù là thư ký văn phòng cũng được bằng ban khen”. Lời TL nói và việc nhân viên có làm không thì tôi không biết? TD64/BĐQ mở tiệc ăn mừng linh đình, dựng khán đài ca nhạc suốt đêm có ca sĩ Tâm Lý Chiến đến giúp vui, mời tất cả HQ qua tham dự.

Hải Quân cũng có một nhóm Tâm Lý Chiến/BTL/Hải Quân đến giúp vui, ủy lạo nhưng chỉ tổ chức nhỏ thôi, hát trong phòng ăn đoàn viên đến 9 giờ tan hàng. Hai tuần lễ sau VC tấn công một đồn Nghĩa Quân cách Hiệp Hòa 20km về phía nam, đích thân Tiểu khu Trưởng/Hiệp Hòa đến giải vây, lúc trở về, xe cán phải mìn, TK Trưởng bị tử thương.

Sau thất bại ở Vàm Cỏ Đông, VC điều nghiên thấy chuyển quân qua Vàm Cỏ Tây có lẽ thuận lợi hơn. Vàm Cỏ Tây có dân ở dọc theo bờ sông thuộc 2 tỉnh Mộc Hóa và Long An dễ chuyển lương thực và tiếp liệu lên Tam Biên, lại có một Đồng Tháp Mười mênh mông ruộng lúa, có rừng Tràm để trú quân khi muốn tiến xuống Long An. Nếu phá cầu Long An sẽ tách rời vùng 4 với SaiGon.

Cuối năm 1972 vì nhu cầu hành quân, tôi lại được thuyên chuyển qua Vàm Cỏ Tây làm Liên Đoàn Trưởng LD2 Tuần Thám kiêm LDT/LD2 Ngăn Chặn ở căn cứ Tuyên Nhơn thuộc Mộc Hóa nằm ở đầu kia Kinh Sáng.

Chiến tranh thật đáng sợ, dù thắng hay bại đôi bên đều bị tổn thương, kẻ sưng đầu người cũng sứt trán. Hai con gà đá nhau con nào cũng bê bết máu. Dân và Quân bị chết chóc tổn thương. Chỉ có những kẻ bày ra chiến tranh là người ngồi hưởng lợi. Ai còn mơ sống với Thiên đàng Công Sản thì cứ mơ, riêng tôi đã ở tù CS tôi đã thấy sự dã man, lừa đảo dối trá của chúng như vậy đối với tôi cũng là quá đủ rồi.

Mỹ lập Quốc 1776. Nam Bắc chiến tranh từ ngày 1861 chấm dứt ngày May 9/1865. Sau khi chiến thắng Đại Tướng Grant thuộc miền Bắc đã tuyên bố thả hết quân miền Nam về dân giả sinh sống làm ăn, không bị trả thù hay tù tội. Việt Nam thì sao? —Việt nam có 4000 năm lập quốc; cũng có Trịnh Nguyển Phân tranh. Nhưng sau chiến tranh dân Nam Bắc vẫn sống hòa bình xây dựng Tổ Quốc.

Sau tháng 4/1975 VC chiếm miền Nam, những tưởng nhân dân VN sau chiến tranh sẽ đươc Tự Do Ấm No, Hạnh Phúc nhưng không ngờ dưới gót giày cộng sản, nhân dân Miền Nam bị hành hạ, đàn áp, bóc lột, mất hết tự do thua cả thời kỳ Pháp thuộc. Chủ Nghĩa CS là hoang tưởng: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Con người CS là con thú đội lớp người. Chúng thua cả loài vật giết cả đồng loại của mình, hèn với giặc, ác với dân.

Với chủ trương bạo lực cách mạng, người CS đã điên cuồng kiểu “Thề ăn gan uống máu quân thù” “Giết, Giết, Giết nữa đi bàn tay không ngừng nghỉ” (thơ Tố Hữu), dù có phải hy sinh “đánh cho đến người VN cuối cùng” để đạt được tham vọng thì Hồ Chí Minh vẫn sẵn sàng. Hồ chi Minh đã bắt đàn bà, trẻ em 14, 15 tuỗi lùa vào chiến trường, có khi còn cột chúng vào súng để chiến đấu cho tới chết, thật quá dã man. Bắc Việt luôn ở thế tấn công. Miền Nam chỉ ở thế phòng thủ, không được đánh ra Bắc, dù có thắng được trong các trận đánh nhưng vẫn phải thua ô- nhục trong cuộc chiến sau cùng.

Đối với chế độ CS người dân bị coi là con vật nuôi, phải tuyệt đối tuân theo lệnh chủ; đến khi chủ không còn xài được nữa thì chủ bắt ra làm thịt, đồng bọn chỉ còn trơ mắt “Vô Cảm” đứng nhìn rồi chờ tới phiên mình. Dứơi chế độ CS, nước VN đã không ngóc đầu lên được mà còn tuột hậu hàng thế kỷ. Hỡi những ai còn yêu thương VN hãy đứng lên xóa sácg tàn tích cộng sản, để còn có ngày nước VN được Độc Lập, Tự do, Hạnh phúc, con người sống ra con người…

Vũ Đoàn

Saturday, July 2, 2016

Hành Trình Tìm Tự Do




Trước 1975, tôi là một Sĩ quan Hải Quân VNCH, có học ở Mỹ 2 năm, lãnh tàu về VN. Sở trường là lính chiến, đi trận khắp Miền Nam từ Vàm Cỏ Đông - Vàm Cỏ Tây, vùng 4 sông ngòi. Sau 1975 ở lại đi tù, ra Bắc luyện công 5 năm, vào lại Nam 2 năm, được tha là vượt biên ngay, chạy trốn cái “thiên đường mù” (nói theo tựa sách của một bà nhà văn gốc Cộng sản tỉnh ngộ.)

1. Pulau Bidong

Trên đường vượt biển, ghe chúng tôi bị chết máy, tôi dùng sào và tấm vải nhựa làm buồm. Sau 8 ngày rời khỏi VN, may nhờ ơn Chúa, Phật phù hộ, chúng tôi đã vào được đảo Pulau Bidong của Mã Lai vào khoảng cuối năm 1982.

Sấp xếp xong nơi ăn chốn ở trong các nhà trại bằng ván ép, ngủ một giấc ngon lành không còn sợ công an cộng sản nữa đêm gõ cửa, sáng ra nhìn thấy bạn bè chung quanh mới biết mình còn sống và có tự do.

Sau khi ra tập họp điểm danh, ai còn, ai mất để ghi vào hồ sơ tỵ nạn. Tiếng hô giải tán, Chúng tôi tan hàng, mạnh ai nấy chạy, tìm cái gì cũng không biết nhưng có điều đáng nói là tất cả người trong trại đều xem nhau như người một nhà, hết sức thân thiện, vồn vã hỏi thăm nhau. Anh chi em còn nhìn bà con xóm làng, tỉnh, thành. Tôi đi lính suốt ngày ở đ.n trại nên ít có người quen, trái lại bạn tôi là giáo sư cả chục năm nên có nhiều người quen đến hỏi thăm.

Lang thang qua các láng trại tôi thường nghe bà con ngâm nga ca hát cho đỡ buồn, nhứt là mấy câu:

Hãy cố quên đi mà sống
Điều gì lâu rồi cũng qua.

Tôi không rõ mấy câu ca nầy từ đâu vì tôi đi lính hành quân sông nước suốt ngày ít có thì giờ nghe nhạc, nhưng những lời nhạc nầy diễn tả rất đúng với tâm trạng chúng tôi lúc bấy giờ. Khi đến Mỹ truy tìm trong Google mới biết đó là lời ca trong “Bài không tên số 5” của Vũ Thành An. Cám ơn tác giả đã cho chúng tôi một lời nhắn nhủ tuyệt vời trong những lúc đau buồn. Đúng thời gian là liều thuốc nó sẽ xoá mờ dần những ký ức đau buồn để con người lại nhìn về tương lai mà sống.

Nhớ lại những đêm buồn cùng Mẹ than thở, Mẹ nói sẽ cầu nguyện Ba con hộ trì các con đều tai qua nạn khỏi:

Mẹ sẽ nuôi con nếu con bị CS bắt lại.

Con sẽ nuôi cá nếu con bị bỏ xác trên biễn do bất cứ lý do gì.

Con sẽ nuôi Mẹ nếu con may mắn đến được bến bờ Tự do.

Đến được trại Pulau Bidong đã qua được rồi giai đoạn 1.

Nghe nói giai đoan nầy thường cũng không lâu, chỉ từ 4 đền 6 tháng đủ để thuyền nhân hoàn hồn, nhìn lại bản thân mình, tự hỏi ngày mai sẽ ra sao. Que sera, sera. What ever will be, will be.

2. Sungai Besi

Sau hơn 4 tháng tạm hoàn hồn, có người còn liên lạc được với gia đình ở VN hoặc hải ngoại, chúng tôi rời Pulau Bidong, lên tàu vào đất liền Trengganu, lên xe đến trại Sungai Besi. Đây là trại thanh lọc xem sắp tới mình sẽ đi đâu theo bảo lãnh của thân nhân ỡ Mỹ, Úc châu, Au châu hay một nơi nào đó của thế giới Tự do.

Con người thay đổi quá nhanh, lúc lên Bidong đầu tóc bù xù, áo quần te tua như ăn mày, mắt đầy ngấn lệ, thế mà khi đến trại mới họ đã thay đổi hoàn toàn không còn nhận ra được, đầu tóc láng mướt, áo quần lành lặn, mắt nhìn sáng rực vui tươi yêu đời.

Người lớn tuổi 40 trở lên ăn nói lịch sự, các em trẻ từ 20-30 thì bừng bừng sức sống, bay nhảy suốt ngày. Trai gái dễ làm quen nhau vì sống cùng một dãy nhà dài (barrack), đi học chung, đi nhà thờ, đi tập hát chung. Nhiều người còn nhận được tiền của thân nhân từ các nơi gởi tới, trai gái như được thở một luồng sinh khí mới. Tình yêu cũng đến thật nhanh, sau mỗi lần Cao ủy tới (hằng tuần) là có những cuộc chia tay xướt mướt, kẻ đi Mỹ, người đi Úc, đi Au châu. Đau buồn nhứt là các Anh Chị hứa sẽ chờ nhau đi định cư nhưng được bảo lãnh ở hai phương trời cách biệt. Cũng có những lứa đôi biết nhau từ lúc cùng lúc vượt biên chàng hay nàng còn kẹt lại, người vượt thoát có bạn mới không thễ chờ..

Hãy cố vươn vai mà đứng
Cuộc tình lâu rồi cũng quên.

Tôi ở trong một căn nhà dài 6m - 4m ngăn vách làm đôi 3m - 4m. Tôi và anh Ngoc nằm chung một giường đôi, anh Thế và con nằm một giường. Bên phải cửa vào là hai cha con ông Dân biểu Đô thành Saigon, bên cạnh là cô cháu. Sau vách là hai Ông Bà người Bắc 54 theo Công giáo. Giường còn lại dành cho đúa cháu trai 11 tuổi và cô con nuôi nhận ở trong trại.

Lich trình sinh hoạt trong ngày: sáng lo vệ sinh doanh trại, lo hồ sơ cá nhân, hội họp.

Tối đi học Anh ngữ. Có một thầy giáo trước kia đã dạy ở hội Việt Mỹ nên học sinh học rất đông. 9 giờ tan học phải về phòng, 10 giờ giới nghiêm, Task Force sẽ đi tuần bắt các anh chị nào còn trốn tránh ỡ xó kẹt nào đó đễ tâm sự mà chưa xong. Hinh phạt cũng nhẹ nhàng thôi: 100 cái hít đất hoặc 100 cái nhún chân, làm xong thì bò về phòng.

Có lần Trưỡng trại mời tôi lên làm Đại diên cho người tỵ nạn, tôi từ chối vì hiện đang có người rồi đó là anh Mai Thanh Truyết. Sau khi anh Truyết rời trại, họ lại gọi tôi, tôi cũng từ chối vì có lẽ tôi cũng sẽ rời trại trong thời gian ngắn thôi.

Họp rồi cũng tan, ở trại Sungai Besi không lâu chỉ từ 4 đén 6 tháng, bà con được thanh lọc để tìm đến đất hứa mang theo trong tim gánh nặng tình yêu đôi khi đẫm nước mắt.

“Tình ngỡ đã ra đi nhưng tình vẫn còn đầy…”

Khoãng tháng 6 năm 1983, hai anh Ngọc và Thế được anh em bảo lãnh đi Mỹ rời trại sớm, kế là hai Ông Bà và cháu trai cũng đi Mỹ. Ông Dân biễu đi Úc phải đi sau. Cô cháu gái Ông Bà Bắc đi Úc ở lại thấy buồn nên dọn đi ở chung với bạn.

Tôi ở lại sau cùng, tôi là quân nhân xin đi theo diện đoàn tụ gia đình nên phải chờ gia đình bão lãnh, thấy chờ lâu nên trại chuyển tôi qua Phi chờ bão lãnh.

3. Trại tỵ nạn Morong Bataan

Cuối tháng 8 năm 1983 tôi lên máy bay đi Phi rồi được chở đến trại “Morong Bataan Refugee Camp” ở phiá bắc thủ đô Manila. Trại nầy khá lớn và tỗ chức khá qui mô. Trại có thể chứa đến 18.000 người gồm cả Việt, Miên, Lào. (Từ 1980 đến 1990 đã có 192.185 tỵ nạn đến đây gồm: 182.597 người Việt, 70.240 người Miên và 39.348 người Lào).

Trại có 4 khu:

Khu 1 và 4 cho người Việt.

Khu 2 và 3 cho người Miên và Lào.

Ngoài ra còn một khu dành cho thầy cô giáo, nhân viên an ninh, nhân viên văn phòng trại.

Văn phòng trại khá rộng do Đai tá Benson trong coi toàn trại.

Lúc tôi tới trại là lúc bầu lại Ban đai diện cho Cộng đồng VN, tôi được bầu làm đại diện. Tôi ở khu 1 cách khu 4 khoảng 1 cây số, lúc họp thường đến khu 4 để họp vì khu 4 rộng rãi hơn.

Điều đáng nói là suốt dọc đường quanh trai cho tới Manila đều có trồng xoài. Xoài do học sinh từ lóp tiểu học đến trung hoc nghỉ ngày thứ bảy đi trồng theo hướng dẫn của chính phủ. Đến mùa xoài sẽ có xe đi hái trái, xoài ở đây rất rẻ, xoài bán được bỏ vào quỹ xây trường học.

Hoc sinh từ tiểu hoc đã học 2 thứ tiếng: Tiếng Phi là tiếng Tagalog và tiếng Anh nên hoc sinh nói rất giỏi tiếng Anh.

Nước Phi Luật Tân là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ 1521 đến 1762 nên đa số dân Phi theo đạo Ki Tô. Sau 1762 Anh thay Bồ, đến 1898 Mỹ thay Anh. Mỹ dự trù cho Phi độc lập năm 1944 nhưng bị gián đoạn vì Phi bị Nhựt chiếm và đô hộ trong Đệ nhị thế chiến. Mãi dến 1946 Phi mới thật sự có Độc lập.

Công tác chính của trại là dạy ESL và lo sức khỏe cho người sấp định cư tại Mỹ.

Các anh, chị khá tiếng Anh thì được làm Phụ giãng bằng tiếng Việt, Miên, Lào cho các người mới học tiếng Anh. Tôi được làm Phụ giảng nên quen rất nhiều cô giáo Phi, họ còn mời tôi đến khu nhà trại của họ chơi cuối tuần, nơi đây tôi có quen cô Luz, một cô giáo trẻ mới ra trường Đai hoc Xã hội khoãng 2-3 năm.

Tôi được ở chung nhà với hai vợ chồng Bác sĩ Nhân & Mai. Vợ chồng Bác Sĩ Nhân & Mai còn trẻ, hiền lành lúc nào cũng nói chuyện nhỏ nhẹ, thân tình.

Tôi vì là Đại diện Cộng đồng nên có rất nhiều việc cần giải quyết, họp hành, xem Cộng đồng có than phiền hay khiếu nại gì không, Task Force có tốt không? Tôi thường khi đi họp đến tối mới về.

Ở đây tâm trạng mọi người cũng thay đổi nhiều, có kẻ vui vì nhận được bão lãnh và cả tiền của thân nhân gởi cho; có kẻ buồn vì bị vợ xù phải chờ sponsor của nhà thờ; có người còn chờ ghép form với người bạn mới.

Soeur Pascal ở Manila cuối tuần thường vào trại làm lễ hay dẫn anh chị em Công giáo ra nhà thờ ở Manila chơi. Tôi gặp Soeur, qua câu chuyện Soeur biết tôi ở tù Cộng sản vượt biên nên Soeur rất quí.

Gần Tết Tây tôi gặp Soeur và một số người Việt sống ở Manila đến chơi, họ tổ chức ăn uống và ca hát cho đỡ nhớ nhà. Tôi liền có ý nghĩ: Tại sao không tổ chức một ban nhạc ra Manila hát vào dịp New Year. Về trại tôi mời anh Nhạc sĩ Nhật Ngân và ban tham mưu của liên trại cho ý kiến. Anh Nhật Ngân từng là giáo sư dạy nhạc rất vui và chấp nhận làm Trưởng ban nhạc, chọn ca sĩ huấn luyện ca hát và sắp xếp chương trình trong vòng 2 tháng phải xong. Lúc đó trong trại rất vui, các chị, các em ai cũng muốn làm ca sĩ ra Manila hát và giúp vui cho đồng bào trong trại. Có người còn đến hỏi tôi xin ghi danh làm ca sĩ, tôi nói “Tôi có biết ca hát gì đâu mà hỏi, đến hỏi thẳng với Nhạc sĩ Nhật Ngân kìa “.

Còn việc khác nữa là tôi nghe đồng bào nhận được thư của thân nhân nói có bỏ cash (tiền mặt) trong thư mà mỡ thư ra không thấy tiền, tôi không thể báo cáo với ông Benson được đành phải nhỏ to với Soeur; Soeur dẩn tôi tới gặp Giám Đốc về di trú người Phi. Ông Giám Đốc nầy còn rất trẻ, cao ráo, đẹp trai. Nghe tôi trình bày xong Ông rất bình tĩnh, cám ơn tôi và hứa sẽ giải quyết sớm vấn đề nầy. Mọi việc được tiến hành một cách bí mật...

Đêm Noel tôi tỗ chức ca hát trong trại xem trước khi đi trình diễn ở Manila.

Trong khi đồng bào đang vui vẻ xem ca hát đến khoảng 10 giờ thì có 3 xe dân sự có võ trang chạy thẵng vào post office, chận các cửa và đột nhập vào phòng bắt gập nhân viên bưu điện đang gỡ thư để lấy tiền, (vào dịp Noel thư đến rất nhiều), nhân viên bưu điên bị bắt hết đem về Manila. Sáng hôm sau Soeur goi cho tôi hay nhưng bảo tôi giữ im vì sợ mất uy tính của người Phi.

Sau Noel Đại Tá Benson cho mời tôi và 2 người Đại diện Miên, Lào lên phòng hop. Ông nóí là ông muốn có lời cám ơn của người ty nạn trên Đài phát thanh ở Manila vào dịp New Year. Ba chúng tôi phải tự viết bài để biểu hiện rõ ràng suy nghĩ cũa người ty nạn. 

Phần tôi, viết bài xong, tôi nhờ cô Luz chỉnh sửa cho rõ ràng và đúng văn phạm. Đến New Year, chúng tôi ra Manila đôc bài cảm tạ trên đài phát thanh, Soeur nghe được, Soeur rất mừng và đồng bào ta ở Manila cũng Welcome tôi đến chơi nơi Soeur ở.

Người ta thường nói “mồm miệng đỡ tay chân”, nhưng với tôi “mồm miệng lại hại tay chân.”

Trong một buổi ăn cuối tuần ở nhà Soeur có nhiều người Việt đến chơi. Bà con đã được giới thiệu về tôi, nhưng đàn bà vẫn hay “thét mét” điều tra lý lịch anh nầy xem sao?

để đi biễn trong cơn bão tháng 10 ta. Sau 8 ngày đêm chống chọi với bão tố, đói khát, nhồi lắc trong ghe, may mắn nhờ Chúa Phật độ trì chúng tôi đến đươc Pulau Bidong.

Thấm thoát đã gần 2 năm, tôi được ngồi đây “ăn cá” với mấy chị. Câu chuyện có vẻ cũng lý thú, mấy chị hỏi tới “đã có vợ chưa, có mấy con” Sao mấy chị hỏi nhiều quá vậy? Tôi là lính HQ mà ế à.? Tôi có vợ 3 con đã qua Mỹ 3 năm trước khi tôi ra tù.

Chuyện tôi là SQ/Hải quân được mấy chị đem ra Manila kháo chuyện với nhau đến tai một Ông đoàn viên Mặt trận Hoàng Cơ Minh. Tuần sau Ông đến xin gặp tôi, ngỏ ý muốn tôi gia nhập vào Mặt Trận. Ông đưa tôi một số tài liệu, tôi nói để tôi xem lại và tôi đã là ũng hộ viên cho tổ chức. Về lại trại, chúng tôi có nhiều buổi họp với các anh em trại: Tôi có biết Ông Hoàng Cơ Minh, Ông là Đai úy Giáo sư dạy về môn chiến thuật ở Trung Tâm Huấn Luyện Hãi Quân, lúc tôi còn là SVSQ. Ông tánh người cứng cỏi, bộc trực, thẵng thắn, thanh liêm, nói là làm, hơi nóng tánh. Tóm lại Ông là một võ biền, trọng danh dự. Sau đó có 2 người Mỹ không rõ danh tánh đến tìm tôi hỏi tôi: Tỗ Chức HCM có cần gì báo với 2 ông biết, 2 ông sẽ giúp (như quân trang, quân dụng….v..v..)

Sau Tết Tây lại đến Tết Ta, bà con nhận được nhiều tiền, bây giờ là lúc xài tiền nếu không xài vài hôm nữa vào Mỹ thì còn show up với ai? Không khí ở đây vui nhộn khác xa trai Pulau Bidong, I never know, never know.. Que sera sera and What Ill be, will be.

Hãy cố vươn vai mà sống,
Tô son cho môi thêm hồng

Bà con đi Manila nhiều hơn mua hoa quả, thịt cá về làm tiệc cúng Ông Bà, sau là mời bạn bè ăn nhậu. Cũng có vài vụ lớn tiếng ở khu Miên Lào nên tôi nhắc nhỡ “Anh em có vui chơi cũng vừa thôi“ đừng làm mất lòng hàng xóm đang cần sự im lặng nghỉ ngơi“.

Có người vui lúc nào cũng có người buồn. Có người vì hoàn cảnh gia đình bị xù, cũng có người đi tìm ghép Form với bạn mới là Việt hay Phi, để cùng đi Mỹ.

Đồng bào lại thét mét, nhứt là Miên Lào. Tại sao ở đây có nhà thờ mà lại không có chùa, đa số dân Miên Lào theo đạo Phật. Họ thúc dục tôi phải lên Văn phòng trại đưa đề nghị trên với Đ/T Benson thay họ. Sau một lúc suy nghĩ Đ/T Benson goi điện thoại về Manila hỏi ý kiến và cho tôi biết là Ông bằng lòng lấy khu đất cạnh vùng 4 để xây Chùa, khu đất nầy rất tốt, rất thuận tiện đi lại. Ông sẽ cho xe chở vật liệu, nếu thiếu tôi phải tự tìm lấy và công trình xây cất Ông cũng giao cho tôi lo lấy.

Tôi về họp liên trại đê thảo kề hoạch. May cho tôi là tôi có ông Phó, Ông Lai, Đốc sự Hành chánh, Ông đến trước tôi, quen biết nhiều người trong trại và biết có một kiến trúc sư có thể giúp trại để vẽ bản đồ ngôi Chùa, trinh cho Ông Benson và được chấp thuận thi công. Mỗi khu trong trại phải cấp 20 người mỗi ngày làm gấp vì chúng tôi không biết còn ở lại trại bao lâu nữa.

Tôi gặp Soeur Pascal bàn kế hoạch xây chùa, Soeur không phản đối mà còn chở tôi tới gặp Đức Cha (Vị Giám Mục ở Manila) để xin thêm vật liệu. Đúc Cha niềm nở tiếp chúng tôi còn chụp hình làm kỷ niệm, cho xe chở cây ván vật liệu bao nhiêu chúng tôi cần. Tôi thành thật cám ơn lòng quảng đại của Ngài.

Trong vòng hơn 2 tháng mà Chùa đã hình thành cơ bản dáng vóc một ngôi chùa. Đức Cha cho 1 cái chuông lớn cao 2 mét, làm bệ cao úp trước sân chùa.

Một hôm cô giáo Luz mời tôi đi chơi với cô, trong nắng ấm chúng tôi đi một quãng đường khá dài, nói chuyện “trời trăng, mây gió “ cho vui thôi. Đến một khoảng vắng cô bỗng dừng lại, nắm tay tôi, cô nói Cô đã coi hồ sơ lý lịch của tôi và cô cũng đã xem hồ sơ xin định cư của tôi. Cô nói: ”Sorry cho anh là vợ anh đã bỏ anh rồi và anh đang có người khác bảo lãnh cho anh“. Cô rươm rướm nước mắt nói ”Tôi đă để ý anh từ lâu, thấy anh lúc nào cũng bận tâm đến cộng đồng mà không nghĩ tới anh. Anh có biết là anh đã ở đây hơn một năm rồi không? Người ta ở đây lâu lắm là 8 tháng là đã rời trại.”

Tôi giật mình nhớ lại. Đúng là vợ chồng Bác sĩ Nhân đã đi từ lâu. Anh Lai cũng đã rời trại. Anh em trong hội đồng trại cũng đã đi hết cả rồi chỉ còn lại mình tôi. Không biết vợ con tôi ra sao mà không liên lạc bảo lãnh cho tôi. Tôi uống thuốc cao máu vì buồn và mất ngũ không biết nói cùng ai.

Cô Luz nói tiếp, lẽ ra phải để anh đưa ra đề nghị nầy với tôi, nhưng thôi được tôi xin nói thay anh ”Chúng ta hãy ghép Form nha anh, chúng ta sẽ làm lại cuộc đời.´Cô ngã người vào vai tôi thúc thít “Em yêu Anh.“ Đề nghị của cô Luz làm tôi bần thần.

Chuyện tình cảm với cô Luz chưa biết ra sao thì không biết là rủi hay may, chỉ ít lâu sau đó, tháng 3/84 tôi được lệnh rời trại. Tại bến xe đưa tôi ra phi trường, cô không ngần ngại ôm lấy tôi khóc nức nỡ như 2 người tình. Cô trao cho tôi chiếc khăn tay, cô nói “Đây là nước mắt của em, nếu có thương em, anh hãy trở lại tìm em “.

Theo lời mấy cô giáo trong trại, cô Luz là con một ông tướng bộ binh Phi Luật Tân, cô đep và hiền nên rất được lòng quí trọng của các cô trong trại.

Hinh ãnh của cô Luz, sau bao thăng trầm trong cuộc sống ở trên đất Mỹ, vẫn in đậm dấu ấn trong tim tôi, dù người đi đã không thể trở lại.

Vũ Thành An đã khuyên tôi:

Hãy cố quên đi mà sống,
Đời mình lâu rồi cũng qua.

Nhưng Trịnh Công Sơn lại nói:

Tình lỡ đã xa xâm nhưng tình vẫn đâu đây
Tình ngỡ đã phôi pha nhưng tình vẫn còn đầy.

Riêng tôi nước mất nhà tan là lẽ thường tình, không trách được ai. Đến sống được ở một nước Tự Do đối với tôi cũng là Hanh Phúc lắm rồi. Nhân ngày Lễ Kỷ Niệm Thành Lập nước Mỹ sắp tới, là một thuyền nhân vượt thoát qua một số trại tỵ nạn chỉ xin kể lại một số dữ kiện đã qua, nếu có điều chi thiếu sót hay sai sót, xin lượng thứ và cho tôi thêm ý kiến đễ sửa sai hay bổ túc.

Vũ Đoàn

Saturday, December 5, 2015

Hải Quân Đại Úy Mỹ Mayerkord




Khi đặt chân lên nước Mỹ tháng 3/1984 có hai điều làm cho tôi đứng lặng người để thấy là mình vẫn còn sống thật với chính mình.

Ngày 30/4/1984 tôi được thấy lá Quốc Kỳ và nghe Quốc Ca VNCH tôi mới biết mình sống lại với linh hồn dân tộc VN vì khi đi tù Cộng Sản tôi đã coi như mình đã chết rồi.

Sau đó mấy năm tôi được dự lễ Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Nhìn Tượng Đài mà tôi ứa nước mắt. Tượng Đài này làm tôi nhớ hình ảnh một Cố Vấn Mỹ từng sát bên tôi trong trận chiến năm xưa. Người bạn thân tình ấy đã ngã gục và chết trong vòng tay tôi: Hải Quân Đại Úy Meyerkord.

Giang Đoàn 23 Xung Phong

Tôi được thuyên chuyển đến Giang Đoàn 23 xung phong đóng ở Vĩnh Long từ tháng 9/1964 làm Sĩ Quan Giang Đỉnh.

Qua 1965, tình hình chiến sự thay đổi quá nhanh, CS đã tăng cường người và vũ khí ào ạt vào Miền Nam VN.

Đầu năm 1965 khi đi tuần tiễu đêm, tôi đã bắt được một ghe chở hơn một tấn đạn dược đủ loại từ Bến Tre qua cù lao Dài để tiếp tế cho Vĩnh Bình (Trà Vinh). Trong buổi đến Giang Đoàn để khen thưởng Thiếu Tướng Dương Văn Đức Tư Lệnh Quân Đoàn 4 thời đó, có nói với Đô Đốc Chung Tấn Cang Tư Lệnh HQ bằng tiếng Pháp (chửi thề) “Không biết mấy thằng CS muốn cái gì mà chúng đưa hằng Sư Đoàn cán binh vào Miền Nam”.

Cuộc truy kích Cộng sản miền Bắc xâm nhập trở nên ráo riết không ngừng nghỉ. CS địa phương cũng liên tục đánh phá các đồn bót ở Tiểu Khu Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc, Bến Tre, Cao Lãnh.

Đại Úy Dale Meyerkord
blank
Hải Quân Đại Úy Harold Dale Meyerkord (1937-1965.)

Hải Quân Đại úy Meyerkord đến Giang Đoàn trước tôi khoảng 2 tháng 13/7/1964. Ông còn rất trẻ, vui tánh, thích làm quen với chúng tôi. Chúng tôi ở cùng 1 dãy phòng dành cho Sĩ Quan. Tôi ở sát phòng với Cố Vấn Mỹ nên khi về căn cứ tôi hay ra trước hành lang tán dóc, Đ/úy Meyerkord cũng thích ra ngối nói chuyện cho vui. Đôi khi ông còn mời tôi ra quán Bar ngoài phố làm vài lon bia, ở quán Bar ông rất đứng đắn không thích đùa dỡn với gái. Quen thân một thời gian sau ông nói với tôi ông là người Mỹ gốc Đức và là con 1 Giám Đốc Ngân Hàng ở Mỹ, khi nào có dịp sang Mỹ ông sẽ giới thiệu tôi với gia đình ông ( dịp này sẽ không bao giờ có, xin hẹn lại kiếp sau).

HQ/Đại úy Meyerkord đã dự hầu hết các cuộc hành quân của Giang Đoàn và đã giúp Giang Đoàn rất nhiều khi Giang Đoàn bị địch tấn công, ông gọi máy bay yểm trợ và cấp cứu rất nhanh.

Ông đã hướng dẫn một nữ phóng viên báo National Geographic đi theo tàu hành quân để chụp ảnh và viết phóng sự Delta River đăng trên báo năm 1965 có hình tôi đứng trên chiếc FOM

Có lần ông hỏi tôi “Sao tôi thấy trong các cuộc hành quân anh thường đi tàu nhỏ và đi đầu?”, tôi trả lời “Tôi đã đọc cuốn BỨC TƯỜNG THÀNH DO THÁI có viết là Sĩ Quan phải dẫn đầu để cho lính theo sau. Tôi bắt chước họ nên khi hành quân anh Hạ Sĩ Nhất Lợi đi đầu ở cánh phải thì tôi đi bên cánh trái”.

Trận chiến không thể quên 

Giữa năm 1965 một đại đội Địa Phương Quân đóng ở gần cửa sông Hàm Luông (Tỉnh Bến Tre) bị một tiểu đoàn VC tấn công trong nhiều ngày, đồn cố thủ để chờ tiếp viện. Đường bộ bị phá không đi được, Tiểu Khu Bến Tre phải cần tới Giang Đoàn để tiếp cứu. Chúng tôi đến Tiểu Khu Bến Tre rất sớm đợi đón quân, nhưng Tiểu Khu còn do dự vì có tin tình báo VC sẽ dùng kế “Công Đồn Đã Viện” và lực lượng VC có thể là cả Trung Đoàn có súng nặng.

Tiểu Đoàn mà chúng tôi đến đón là 1 tiểu đoàn vừa mới thắng lớn, Tiểu Đoàn Trưởng và các Đại Đội Trưởng đều mới thăng cấp đặc cách một cấp tại chiến trường.

Mãi đến 11 giờ chúng tôi mới đón xong 4 đại đội lên 4LCM8. Giang Đoan bố trí độ hình như sau:

1 - 2 FOM (tiền phong đỉnh) đi đầu.

2 - Chiếc Command chở Chỉ Huy Trưởng/ Giang Đoàn, Cố Vấn Mỹ và Bộ Chỉ Huy tiểu đoàn.

3 - 4 LCM 8 chở quân.

4 - Chiếc Combat có tôi đi hộ tống.

5 - Sau cùng là 2 FOM

Đoàn tàu đi khoảng 2 giờ thì bị phục kích. VC dùng đủ loại súng bắn xối xả vào tàu. Chúng tôi thấy rõ cả Lance bom, B40 bay trên mặt nước. Chúng tôi phản kích ngay lập tức. Sau nửa giờ tấn công tiếng súng địch im dần. 4LCM 8 đều bị trọng thương phải ủi vào bờ. Chiếc Combat bị 1 trái đạn lọt vào phòng ngủ phát nổ hất tôi đứng trên sàn tàu té nhủi vào ụ súng 81. Thuyền Trưởng Th/sĩ Trâm đang điều khiển cây 40 ly trước mũi tàu vội chạy đến đỡ tôi dậy xem tôi có bị thương không? May tôi không bị thương nặng. Chúng tôi dùng toàn bộ hỏa lực để trấn áp lực địch.

Nửa giờ sau đã có 4 phản lực cơ đến oanh tạc dữ dội, tất cả hầm hố của địch đều bị đào xới, hàng cây dọc bờ sông chỉ còn trơ thân xác khẳng khiu. 2 giờ sau có 1 Tro chiién Hạm LSSL, Hạm Trưởng Nguyễn Văn Dinh đến tiếp viện. Chúng tôi chạy sát bờ phía VC ẩn núp, đặt ống dòm chúng tôi thấy sâu trong đất liền, những hố bom và cả một vùng đổ nát dọc theo bờ sông. Giang pháo hạm tiếp tục bắn phá những nơi nghi ngờ còn VC ẩn nấp.

Chính Đại Úy Meyerkord đã gọi phản lực, Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn lo cấp cứu tàu bị nạn, chiếc nào còn chạy được ráng lết về Tiểu Khu chở theo thương binh. Tôi ở lại với chiếc Combat và 2 FOM để bảo vệ cho tàu chìm. Một tuần sau mới kéo hết tàu hư về Thủy xưởng để sửa chữa.

Sau trận này Đ/úy Meyerkord được đề nghị tặng thưởng 1 Silver Star.

Tôi nghiệm thấy lời ông tướng Dương Văn Đức nói trên đây là rất đúng.

Khoảng một tháng sau, tôi được đi tuần tiểu vùng Vĩnh Bình, đoàn tàu tôi gồm một LCM 8 + hai FOM + hai LCVP 8. Tôi ra tới cửa sông Cổ Chiên ghé lại Duyên Đoàn 35 do anh Nguyễn Kim Trọng mới đáo nhậm để thăm và nghỉ lại đêm.

Lúc 6 giờ sáng anh vô tuyến viên nhận được một công điện Hỏa Tốc bảo tôi phải mở máy PRC25 ở tần số được cho để liên lạc với máy bay Trinh Sát Mỹ trong vùng. Khi mở máy tôi mới biết có một tàu lạ ngụy trang bị theo dõi từ Côn Sơn vào đến gần cửa sông anh còn cho tôi tọa độ tàu lạ (cũng may là lúc học ở Trung Học tôi bị ba tôi bắt đi học thêm Anh Ngữ nên tôi mới nói được chút Tiếng Anh giọng Người Anh vì thầy tôi là thông tín viên của báo Hồng Kông, ở trường lúc đó tôi chỉ học Anh Ngữ hai giờ một tuần).

Lần theo cửa sông ra biển, khoảng 9 giờ sáng tôi thấy 1 tàu sắt cỡ trung bình (25m*5m) ngụy trang bằng cành cây trên boong tàu. Tôi ra lệnh tác xạ, tôi chỉ bị phản pháo nhẹ trong bờ vì bờ là một rừng cây tràm sâu cả 100m. Tàu bốc cháy, tôi cho tàu tôi cặp tàu VC để chữa cháy và khám xét. Lục xuống dưới hầm tàu chúng tôi thấy không biết bao nhiêu là súng còn mới tinh bọc trong giấy dầu.

Tôi đánh công điện báo cáo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân/HQV4/SN và Giang Đoàn.

Khoảng 11 giờ thì có 1 Trợ chiến hạm của vùng 2 Duyên Hải đến gặp tôi bảo tôi hãy về Giang Đoàn, nhiệm vụ của tôi đã hoàn tất.

Lúc trở về là lúc nước lớn. FOM nhỏ và nặng đi trong sóng lớn rất là nguy hiểm tôi phải cho tăng cường người tát nước nếu không tàu sẽ chìm. Mãi đến 10 giờ đêm tôi mới về đến Vĩnh Long.

Sáng hôm sau, ông Meyerkord chạy qua phòng tôi hỏi thăm về việc bắt tàu VC, tôi kể sơ sự việc và tặng ông 1 cây K54. Ông ôm tôi và nói: “Oh, My Brother”.

Tôi được giấy phép 3 ngày về SG chơi. Tôi dấu 1 cây K54 đưa cho anh Công Tùy Viên Tư Lệnh Hải Quân để làm quà cho Tư Lệnh.

Về đơn vị tôi được lệnh công tác biệt phái một tháng ở Tân Châu. Trong thời gian này tôi được báo là ông Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn bị thương. Mãn công tác tôi trở về đơn vị, tôi được lệnh dẫn tàu qua Cần Thơ để dự lễ trình diện súng tịch thu được trên tàu VC. Nhưng khi đến Cần Thơ, tàu tôi chỉ được đậu tại bến và không được lên bờ.

Đến trưa có một người Mỹ đến tìm tôi, tôi rất ngạc nhiên, tôi hỏi anh đến tìm tôi có việc gì? Anh nói: “Anh là người theo dõi tàu VC từ Côn Sơn tới cửa sông Cổ Chiên và là người đã liên lạc với tôi, để tôi tìm ra tàu VC. Nhưng nay thì không thấy ai nói gì tới anh hết, anh rất lấy làm buồn.”

Tôi nói: “Không sao, tôi có quà cho anh. Tôi lấy 1 cây K54 tặng anh, mắt anh sáng lên, ôm lấy tôi nói liên tiếp “Thank you, Thank you”.

Không biết ai báo cáo mà sau này an ninh Hải Quân còn theo dõi điều tra xem tôi còn cất dấu súng nữa không!.

Ngày định mệnh 03/16/1965
Chúng tôi nhận được lệnh hành quân tại một địa điểm bên trong sông Măng Thít thuôc Quận Vũng Liêm. 8 giờ sáng đã nhận xong 1 tiểu đoàn lên 4 LCM 8, có 4 FOM hộ tống. 11 giờ đến địa điểm đổ quân. Chỉ huy Trưởng bị thương nên Chỉ huy phó đi thay. Đổ quân xong, chúng tôi ngồi trên mui LCM 8 để liên lạc hành quân, các tàu rải đều, ủi bãi cả hai bờ sông.

Trên mui tàu LCM 8, tôi ngồi ngoài cùng, kế đó là Đ/úy Meyerkord, Thượng Sĩ Mỹ và ông Chỉ Huy Phó Hoàng Thế Thái. Khi bộ binh đi được nửa giờ thì toán VC phục kích dưới hầm ngay chỗ tàu tôi đậu lia súng bắn nhiều loạt đạn lên tàu rồi bỏ chạy. Chúng tôi phản pháo ngay tức khắc. Nhưng than ôi ! viên đạn đầu tiên bay ngang tai tôi, viên thứ hai trúng vào Đ/úy Meyerkord, kế tiếp Thượng Sĩ Mỹ bị thương nơi vai, ông Thái vô sự.

Ông Thái gọi bộ binh trở lại bọc hậu để chận địch, gọi trực thăng phản kích và cứu thương.

Đại úy Meyerkord bị trọng thương máu tuôn xối xả, tôi ôm chặt Đ/úy vì ông dãy dụa rất mạnh, nếu buông ông ra ông sẽ bị té xuống sông ngay.Trực thăng đến, y tá kiểm soát khắp mình tôi vì thấy người tôi dính đầy máu từ đầu tới chân nhưng không có vết thương nào nên vội đưa 2 người Mỹ đi cấp cứu.

Hải Quân Đại úy Meyerkord đã tắt thở trên máy bay lúc 12 giờ ngày 03/16/1965. Ông được Hải quân Mỹ nói là “He cited as the First Naval officer to be killed in Việt Nam.” Nhưng thật ra đã có 1 HQ Đại úy khác là Lieutenant Bruce C Farrell và 12 binh sĩ đã chết trước đó nhưng là vì rớt trực thăng.

Bẩy năm sau khi Meyerkord tử trận, một chiến hạm mang mang tên ông hoat động quanh bờ biển Việt Nam.

blank
Bẩy năm sau khi Meyerkord tử trận, USS MEYERKORD (DE-1058), một chiến hạm mang tên ông hoat động quanh bờ biển VN.

Theo tài liệu, ông đến Giang Đoàn ngày 13/7/1964 và ông mất ngày 16/3/1965, như vậy ông chỉ ở Giang Đoàn có 8 tháng 3 ngày mà dự hơn 10 cuộc hành quân là vô lý. Theo tôi nghĩ ông phải ở hơn 1 năm 8 tháng, vậy ông phải mất năm 16/3/1966 mới đúng. Tôi cũng vậy mấy tháng sau tôi rời Giang Đoàn năm 1966.

Sau 50 năm ngày ông mất đối với tôi không còn là điều quan trọng, có quan trọng chăng là hình ảnh của ông vẫn còn ẩn hiện trong tim tôi khi tôi viết những dòng chữ này.

Ông là con nhà giàu tại Mỹ, lại không trốn quân dịch, không phản chiến, đã hy sinh để bảo vệ Độc Lập Tự Do cho một nước xa vời nửa vòng trái đất, đó mới là điều đáng nói.

Tri ân 59 ngàn người bạn đồng minh đã hy sinh cho nước Việt Nam. Mọi sự kiện đều có 2 mặt. Tôi rất buồn việc một số người Mỹ đã quên đi sự hy sinh mạng sống của đồng đội, giao miền Nam cho CS miền Bắc.

Chiến tranh Việt Nam do Cộng sản gây ra đã khiến 3 triệu người chết. Sau 30/4/1975, cho tới nay, đã có thêm có 4 triệu người bỏ nước ra đi lánh nạn cộng sản, hai triệu người chết trên biển ca, cộng thêm 300 ngàn người đi tù CS. 

Vậy mà vẫn còn một số người “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cánh cửa về VNCS nay đã rộng mở, ai muốn về thì cứ về. Xin các ngài để cho Cộng Đồng Tỵ Nạn được yên ổn làm ăn.

Vũ Đoàn

Blog Archive