skip to main | skip to sidebar
Showing posts with label Vĩnh Chánh. Show all posts
Showing posts with label Vĩnh Chánh. Show all posts

Friday, April 24, 2026

NHỮNG MẢNH TÌNH TRONG THỜI TAO LOẠN 


Minh họa Đinh Trường Chinh

Câu thơ xưa “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường” bổng trở thành một tiếng vọng buồn thấm thía khi ta nhìn lại những mảnh đời, mảnh tình của người Miền Nam sau cuộc đổi đời. Giữa cơn xoáy của thời loạn, bao cặp vợ chồng đang yên ấm bỗng bị đẩy vào những ngã rẽ không ai kịp chọn lựa, kẻ rời trước người đi sau. Có những người nắm tay nhau run rẩy vượt biển, chọn con đường lưu lạc, dìu nhau qua biển lớn và may mắn đến được bến độ. Có người lạc mất nhau giữa đường đời; có những mảnh tình rơi lại giữa hành trình- như những chiếc lá bị cuốn trong phong ba – giữa biển đêm, giữa những nơi xa lạ trên xứ người. Và cũng có những người buộc phải buông tay nhau – không vì hết thương, mà vì cuộc sống quá khắc nghiệt để một mình gánh hết. Và cũng có những cuộc đoàn tụ muộn màng, khi hai người gặp lại nhau sau mười, hai mươi năm – nhưng mỗi người đã thuộc về một gia đình khác. 

Những câu chuyện ấy – không có câu chuyện nào giống với câu chuyện nào – dù đau bao nhiêu, cũng không mang theo lời trách móc. Chúng chỉ cho thấy con người nhỏ bé đến nhường nào trước những biến động lớn. Và trong sự mong manh ấy, ta lại thấy rõ hơn tình người, sự chịu đựng, và những cố gắng âm thầm để sống tiếp, dù trái tim còn mang một vết cắt không bao giờ liền hẳn. Gọi là vết thương thế kỷ của người di tản. Là kiếp sống của người lưu vong.

“Buồn nào cho ai – Ngày tay phải chia tay
Lệ này cho ai – Ngày chân rẽ đôi nơi…

*Tôi có một đàn anh cùng xóm. Anh là Thiếu tá, Tiểu Đoàn Trưởng một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân vào giữa năm 1974. Ngày Anh đi tù CS, vợ Anh ở chung nhà với cha mẹ mình cùng 2 con gái, 3 tuổi và 1 tuổi. Ngày được cho về tại địa chỉ cũ “Bàn Cờ” trên tờ giấy thả tù, lòng Anh xôn xao, nhưng căng thẳng chờ đợi một bất hạnh. Anh e dè, ngở ngàng bước vào nhà lúc xế trưa. Hai con gái Anh, nay 13 và 11 tuổi nhìn Anh xa lạ, hoàn toàn không biết Anh là cha ngay cả khi Anh nói rỏ tên họ và kêu tên chúng. Còn vợ Anh đâu? Mẹ vợ cho biết nàng mang 2 đứa con nhỏ sau này về chơi bên gia đình chồng mới, sau khi nhận giấy báo Anh sẽ được thả về trong mấy ngày gần đây. Anh chết đứng như trời trồng giữa căn nhà, tê tái bên cạnh chiếc bị cũ chứa vài bộ quần áo rách do anh em bạn tù cho, lặng người nhìn 2 con gái của mình, trong khi nghe những lời phân bua của mẹ nàng. Em nó và cả nhà đều nghĩ Anh đã chết trong tù. Hoặc giả, nếu còn sống, cũng chẳng biết khi nào được cho về. Nhà ta càng lúc càng túng thiếu, tình trạng rất bi đát, chạy đâu cho ra tiền. Anh đi tù có để lại tiền bạc gì đâu! Vợ con Anh cần tiền để sống, đó là chưa kể chuyện bị thôi thúc đi kinh tế mới. Cuối cùng em nó phải nghĩ đến chuyện sống còn và nuôi con. Nó mới đành phải lấy cái thằng yêu nó lúc 2 đứa cùng chung trường trung học với nhau. Anh cứ tạm ở đây đi. Nhưng xin Anh xữ đẹp và hiểu là chúng đã có 2 con với nhau và nuôi luôn cả 2 con của Anh nữa…

Sét đánh ngang tai. Đất trời sụp đổ. Điều lo âu sợ hải nhất của người cải tạo trong những ngày tháng tù đày vô vọng đã phơi bày. Nổi tủi nhục bị phản bội ê chề. Không một đắn đo và trong một thôi thúc nghịch lý, Anh quyết định rời nhà dù chưa biết mình sẽ đi đâu. Một quyết định nhanh chóng và sắc bén, như Anh đã từng làm nhiều lần trong lâm nguy khi Anh còn chỉ huy cả trăm quân trong trận mạc. Anh ngập ngừng đến vuốt đầu 2 con rồi lặng lẻ bước ra. Thêm một lần nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang, nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải. Anh bỏ đi trong hờn tủi, mang theo vết thương nghiệt ngã.

Nhưng rồi thời gian, như một dòng nước âm thầm, đã gột rửa trong anh những cay đắng. Đến Mỹ theo diện HO, khi nhìn hai con gái lớn lên, khi nghĩ về những quyết định có thể sai lầm của chính mình trong chiến tranh, những binh lính của mình kẻ chết người bị thương, Anh hiểu rằng không ai trong cuộc đời này hoàn toàn vô tội hay hoàn toàn có lỗi. Người vợ cũ của Anh cũng chỉ là một người mẹ đơn độc giữa thời cuộc nghiệt ngã. Thế là, thay vì tiếp tục sống trong bóng đêm của trách móc oán hận, Anh chọn cách mở lòng. Anh đã tha thứ cho chính mình và cho người vợ năm xưa, để nỗi đau của hai bên nhẹ xuống. Anh khuyến khích hai con gái bảo lãnh mẹ, người chồng sau của mẹ, và hai đứa em cùng mẹ khác cha sang đoàn tụ. Một gia đình từng tan nát bởi chiến tranh, bởi hiểu lầm… cuối cùng lại ngồi chung một bàn ăn nơi đất Mỹ. Không phải ai cũng làm được điều đó. Ta gọi đó là tình thương độ lượng.

***
Anh là Đại Đội Trưởng một Tiểu Đoàn Nhảy dù, đơn vị của Anh được lệnh rút về Vũng Tàu từ Long Khánh. Đến khi lệnh trên cho phép mọi binh sĩ vượt thoát ra biển, đơn vị Anh không còn phương tiện, đành thuê những chiếc thuyền của ngư phủ làm phương tiện ra khơi đến các thuyền lớn đang chờ đợi ngoài xa. Trong dòng người hỗn loạn ấy, một người đàn ông bình dị, có con gái 16 tưổi đi theo phụ cha, đã dùng ghe của mình giúp nhóm binh sĩ của Anh. Giây phút cuối khi chiếc tàu lớn vừa áp sát – và có lẽ do đã quan sát thấy Anh là một người chỉ huy trách nhiệm, tư cách, lo cho các binh sĩ thuộc quyền trọn vẹn – người cha bất ngờ ôm con gái mình lên, đặt vào tay người sĩ quan trẻ. Không thể nói nhiều, ông chỉ kịp gởi gắm một lời: “Nhờ anh…chăm sóc con bé giùm tôi”, với tất cả lòng tin tưởng của mình.

Cô gái mười sáu tuổi – bơ vơ, sợ hãi, phải xa cha ngay trước mắt, xa gia đình không một tính toán trước – chỉ còn biết bám vào người sĩ quan mà cha mình đã chọn gửi gắm. Anh, giữa trách nhiệm của một người lính và lòng trắc ẩn của một con người, đã che chở cho cô suốt hành trình vượt biển, rồi những ngày dài ở trại tị nạn, rồi những tháng năm đầu tiên đầy chật vật trên đất Mỹ.

Hai năm sau, khi cô tròn mười tám tuổi, họ quyết định nắm tay nhau bước vào một cuộc đời mới. Không phải vì một lời hứa, không phải vì món nợ ân tình, mà vì giữa những mất mát của thời cuộc, họ đã tìm thấy nơi nhau một mái nhà.

Đến hôm nay, họ vẫn sống hạnh phúc bên nhau. Con cái thành đạt. Và mỗi khi nhắc lại câu chuyện cũ, người ta không thấy bi thương, mà chỉ thấy một điều rất lạ lùng: giữa một cuộc chia lìa lớn của dân tộc, vẫn có những mảnh đời được ghép lại bằng sự tử tế và một lời hứa.

*Một đồng môn của tôi, vào Quân Y sau tôi một năm, như bao bác sĩ đành khoát áo quân nhân khi đất nước cần, cũng chịu cảnh tù đày của CS. Mấy năm sau xuất trại, Anh đem gia đình gồm vợ và 2 con trai về sống tại Rạch Giá, cốt tìm đường vượt biên. Sau nhiều bắt bớ, nguy hiểm, nước biển vào ngập thuyền, thuyền bị tắt máy giữa đại dương – nhưng máy bỗng chạy được sau những lời cầu nguyện thấu tận trời,  Anh và con trai lớn đến được Thái Lan. Mỗi bước chân của Anh đều in dấu của mất mát. Từ trại tị nạn, anh nghe tin vợ mình đã có người khác. Sang đến Mỹ, Anh vừa rửa chén nhà hàng, vừa làm phụ tá phòng mổ, vừa gửi từng đồng lương ít ỏi về nuôi vợ con và làm giấy tờ bảo lãnh. Nhưng rồi người vợ ấy lại bỏ đứa con út ở lại, nhẫn tâm vượt biên theo một người đàn ông khác – để lại cho Anh thêm một vết thương khó gọi thành tên.

Thế nhưng điều đẹp nhất lại nằm ở đoạn sau của cuộc đời Anh. Anh không để nỗi đau biến mình thành con người cay nghiệt. Anh học lại nghề cũ, trở thành bác sĩ, rồi gặp một người vợ mới hiền lành, tử tế, có ăn học, vừa đẹp người lại vừa đẹp tính, biết bù đắp những thiếu hụt của đời Anh. Họ có thêm hai con trai. Và điều khiến bạn bè cảm động nhất là: bốn đứa con – hai của vợ trước, hai của vợ sau – lớn lên trong cùng một mái nhà, yêu thương nhau như ruột thịt, thành đạt và sống hiền hòa.

Một gia đình từng bị chiến tranh chia lìa xé nát, cuối cùng lại được hàn gắn bằng sự bao dung của một người đàn ông đã đi qua quá nhiều bão tố. Trong những câu chuyện của thời tao loạn, có những mảnh tình tan vỡ, nhưng cũng có những tấm lòng biết dựng lại cuộc đời bằng sự tử tế — và chính những tấm lòng ấy mới là điều khiến người ta còn tin vào nhau.

***
Chị và Anh yêu nhau khi chị là sinh viên năm thứ nhất và Anh là một sĩ quan Nhảy Dù hiên ngang với bộ quân phục hoa dù và nón Beret đỏ. Giữa những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi Khánh Dương đỏ lửa và những đoàn quân rút lui trong tuyệt vọng, chị nhận tin người yêu mất tích. Tin ấy đến như một tiếng sét, cắt đôi tuổi trẻ của chị, để lại trong lòng một khoảng trống không gì lấp được. Ngày 30 tháng 4, như một người máy chị theo gia đình di tản, ra đi mà lòng quặn đau, bất định, biết rằng từ đây mọi người vĩnh viễn mất nước, và chị, vĩnh viễn xa rời và mất luôn cả Anh.

Qua đến Fort Chaffee, Arkansas, chị vừa lo lắng vừa hân hoan biết mình đang mang trong người giọt máu của người yêu. Những tháng ngày đầu nơi xứ lạ, chị sống như một chiếc bóng. Nhiều lần chị nghĩ đến cái chết, nhưng rồi bàn tay nhỏ bé đang thành hình trong bụng đã giữ chị lại với cuộc đời. Chị sống vì đứa con, và vì một hy vọng mong manh rằng một ngày nào đó sẽ có tin tức của anh.

Nhưng cuộc đời không chờ đợi nỗi đau của một người đàn bà trẻ. Chị phải lấy chồng, người Mỹ, để có chỗ dựa, để nuôi con, để tiếp tục…chờ đợi. Mãi đến gần hai mươi năm sau, khi con gái chị đang là sinh viên năm thứ nhất đại học, chị mới có được địa chỉ của người yêu xưa. Chỉ cần biết Anh vẫn còn sống, chị quyết định về Việt Nam, dù đang trong giai đoạn cuối của ung thư vú, mang theo trái tim đã chai sạn vì thời gian, nhưng vẫn run rẩy như cô gái năm nào. Khi bước vào nhà ở một nơi đèo heo hút gió xa hẵn thị trấn nhỏ, trước mắt chị là một hình hài với chân phải cụt lên tận đầu gối, áo quần xốc xếch, tóc tai bung xung. Chị bật khóc chạy đến gần, trong một thoáng kịp nhìn thấy hai vũng mắt lõm sâu không có tròng mắt. Chị đột nhiên khuỵu người xuống, như thể toàn lực dành cho chuyến đi bỗng cạn kiệt. Cùng lúc ấy, bóng một người đàn bà đi nhanh từ bếp nâng chị dậy.

Anh bị thương nặng ở chân trên đường rút quân, cố gắng lết xa khỏi trận chiến và ẩn núp trong bụi rậm. Ngày hôm sau, địch tìm thấy Anh và bắt Anh làm tù binh. Anh nghĩ vết thương ở chân phải có thể lành nếu được chữa trị với trụ sinh và đăng bột, nhưng tên y sĩ trại tù chọn cách dễ là tháo khớp gối. Sau đó Anh còn bị đạn nổ trong khi nhóm lửa rừng sưởi ấm ở trại tù tận bên Cao Miên, khiến cả 2 con mắt của Anh bị hư nặng tuy vẫn nhìn thấy rất mờ. Vì vậy Anh được thả cho rời trại sớm. Trên đường khổ sở, một mình thất thểu về lại làng phố, Anh bỗng gặp một người đàn bà chưa một lần quen biết, hiện tại là vợ của Anh, đem Anh về nhà săn sóc. Chồng trước của bà là một người lính Địa Phương Quân tử trận 2 năm trước ngày mất nước. Trong vài năm sau đó, đôi mắt Anh làm độc kinh niên nên bác sĩ đành phải múc bỏ cả hai bên.

Chị lặng yên ngồi nghe, tiếng được tiếng không, tê tái cõi lòng, nhớ lại năm xưa có lần Anh thì thầm bên chị, “may ra Anh bị thương thì chúng mình mới có thể trở thành vợ chồng.” Thế nhưng tuyệt đối chưa một lần chị nghĩ đến Anh có thể bị thương trong cuối cuộc chiến, và cũng chưa hề nghĩ Anh đã phải trải qua những giai đoạn khổ sở cùng cực như vậy. Từ một nam nhân oai hùng ngày xưa, nay Anh là một phế nhân với những vết thương tàn phá nặng nề trên cơ thể. Đôi mắt ngày xưa, nơi chị thường hay nhìn vào để tìm hình ảnh của tình yêu và sức sống của tuổi trẻ mình, nay chỉ là 2 mí mắt nhíp gần nhau nằm sâu trong một khoảng màu trắng ở giữa. Giờ đây chị mới hiểu vì sao em gái của Anh tránh không cho chị biết nhiều về tình trạng của Anh. Chị bỗng cảm thấy gần gủi với vợ của Anh, thầm cám ơn rằng Ơn Trên sắp đặt cho Anh tìm được ánh sáng dịu hiền giữa đường qua sự săn sóc, cứu vớt, nuôi nấng, bao bọc, che chở, yêu thương của người vợ này. Như một Bà Tiên hiện ra nguyên vẹn để dẫn dắt, cưu mang, nâng đỡ chàng Thiên Thần Mũ Đỏ của chị trong sa cơ thất thế, khi cánh dù bị chà đạp, tan tác trong cuộc đổi đời.

Qua một đêm cùng nhau tâm sư, chị thấy lòng mình nhẹ đi, như thể cuối cùng chị đã tìm được câu trả lời cho những năm dài chờ đợi. Chị kể chuyện về đứa con gái của mình, để lại cho vợ Anh tất cả số tiền mang theo. Nhưng tuyệt nhiên chị không hề hé mở cho biết chị đang bị ung thư giai đoạn cuối. Khi trở lại Mỹ, chị nói hết sự thật cho con gái biết về cha và dặn con hãy về thăm cha – mang theo chiếc xe lăn và phần lớn tiền tiết kiệm của mẹ. Sau đó không lâu chị qua đời. Một đời người, từ tuổi trẻ đến lúc nhắm mắt, chỉ có một mối tình – mối tình không trọn, nhưng sâu đến tận đáy tim.

Giữa những câu chuyện tang thương của thời tao loạn, có những mảnh tình không bao giờ được sum họp, nhưng lại sáng lên bằng sự hy sinh thầm lặng của một người đàn bà đã yêu đến giây phút cuối cùng.

**Trong những câu chuyện tình yêu bị thời cuộc xé nát, có những mảnh đời không chỉ tan vỡ mà còn bị giam hãm trong một thứ bóng tối không có tên. Như chuyện của nữ sinh viên năm xưa – dịu dàng, học giỏi, được nhiều bạn bè thương mến. Người từng theo đuổi cô, một chàng sinh viên từng xuống đường trong biến động Miền Trung, trốn vào bưng, trở về Huế trong những ngày Mậu Thân với một khuôn mặt khác: lạnh lùng, tàn nhẫn, sẵn sàng giết cả những người từng là bạn học.

Sau 1975, trong men chiến thắng và quyền lực, anh ta quay lại ép buộc cô phải lấy mình. Không phải bằng tình yêu, mà bằng lời đe dọa: nếu cô từ chối, cha mẹ sẽ bị tịch biên nhà cửa, cha sẽ bị bắt đi tù. Không có lựa chọn, cô đành gật đầu – không phải để cứu mình, mà để cứu gia đình. Suốt mấy chục năm, cô sống một đời lặng lẽ như chiếc bóng trong chính ngôi nhà của mình. Ít bạn bè, ít tiếng cười, ít bước chân ra ngoài. Người chồng quyền thế đứng trước thiên hạ như một kẻ chiến thắng, còn cô thì sống như một người bị giam trong chiếc lồng vô hình của nỗi sợ và bổn phận.

Khi cô mất, những người bạn cũ – những người đã biết câu chuyện của đời cô – không khóc òa, mà thở ra một tiếng thật dài. Một tiếng thở mang theo nỗi thương xót, nhưng cũng là một niềm an ủi: cuối cùng, cô đã được phóng sinh. Cuối cùng, cô đã thoát khỏi những năm tháng bị dằn vặt, khỏi cuộc hôn nhân không có tình yêu, khỏi cái bóng quyền lực ma quỷ đè lên đời mình.

Trong vô số mảnh tình của thời tao loạn, có những mảnh không tan vì chia ly, mà tan vì bị bóp nghẹt. Và đôi khi, cái chết lại là cánh cửa duy nhất mở ra sự giải thoát cho một kiếp người hiền lành.

***
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi mọi thứ dần dần sụp đổ thành phố lần lược bị bỏ ngỏ, vị chỉ huy của một đơn vị Nhảy Dù vẫn đứng ở vị trí của mình, giữa trách nhiệm, giữa đơn vị, giữa lời thề của một sĩ quan. Ông biết mình không thể rời bỏ binh sĩ, nhưng cũng biết vợ và ba đứa con nhỏ không thể ở lại. Vậy là ông thu xếp cho họ đi trước, bằng tất cả ông có thể làm trong hỗn loạn. Một quyết định rất đúng, nhưng vừa đau lại vừa mang theo nỗi bất an mà ông không bao giờ nói ra, vì vợ ông chưa bao giờ biết làm gì ngoài chuyện lo cho gia đình và các con còn nhỏ.

Rồi ông đi tù. Hơn mười năm. Những năm tháng ấy không chỉ hao mòn sức lực, mà còn bào mòn luôn cả những gì ông từng biết trong quá khứ và niềm tin vào tương lai. Khi được HO đưa sang Mỹ, ông mang theo một hy vọng nhỏ nhoi: được gặp lại gia đình, được nhìn thấy vợ con bình yên sau bao năm xa cách.

Nhưng khi đứng trước căn nhà nơi họ đang sống, ông nhìn thấy một sự thật mà không ai nói ra: vợ ông đã có chồng mới. Không lời trách móc, không một câu hỏi, không một giọt nước mắt. Ông chỉ đứng đó rất lâu, rồi lặng lẽ quay đi.

Không trở lại. Không tìm gặp. Không liên lạc với thuộc quyền, không tìm bạn bè Võ Bị, không nhận mình là ai trong quá khứ. Ông chọn một tiểu bang xa lắc, nơi không ai biết ông từng là một cấp chỉ huy lừng lẫy, từng có những người lính sẵn sàng sống chết theo lệnh ông. Ông sống một đời giản dị, lặng lẽ, như thể muốn xóa đi dấu vết của chính mình. Nhưng không oán hận. Không kể lể.

Chỉ sống, một cách khiêm nhường, cô độc, và đầy tự trọng.

Trong vô số mảnh tình bị thời cuộc xé nát, có những mảnh không tan vì phản bội, mà tan vì chiến tranh đã lấy đi quá nhiều thời gian, quá nhiều năm tháng mà không ai có thể bù đắp. Và có những người đàn ông, như ông, chọn cách mang nỗi đau ấy đi thật xa, để không làm phiền ai, để giữ lại chút phẩm giá cuối cùng cho chính mình.

***
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi mọi thứ đang nghiêng ngả, người thiếu tá Không Quân ấy đã chọn một con đường mà 1 thiểu số người đàn ông thời ấy đã chọn: ra đi trước, mang theo người vợ bé và hai đứa con nhỏ. Ông giữ kín chuyện ấy, không một lời báo cho gia đình bên vợ — những người vẫn tin rằng ông là người chồng, người cha đang chiến đấu và sẽ tìm đường cho cả nhà cùng di tản một lúc.

Nhiều năm sau, khi đã ổn định ở Canada, ông làm giấy tờ bảo lãnh ba người con với người vợ chính sang trước. Rồi phải thêm vài năm nữa, các con mới bảo lãnh được mẹ của chúng sang đoàn tụ.

Nhìn từ bên ngoài, câu chuyện ấy có một vết nứt rất rõ: sự phản bội của một người chồng đã chọn một gia đình khác, một cuộc đời khác, rồi để lại người vợ chính âm thầm nuôi con trong những năm tháng hậu chiến đầy thiếu thốn.

Nhưng nhìn sâu hơn, lại thấy một điều khác: ông không bỏ rơi các con. Ông đưa chúng sang trước, lo cho tương lai của chúng, rồi để chính các con mở đường cho mẹ sang sau. Trong cái sai của một người đàn ông, vẫn còn một chút trách nhiệm, một chút dây nối không đành cắt đứt.

Khi người vợ chính sang được Canada, bà không mấy dịp gặp lại người chồng xưa nữa. Chỉ còn lại ba đứa con, và một sự thật mà bà đã biết từ lâu nhưng chưa bao giờ nói thành lời.

Không trách móc. Không đòi hỏi. Không làm lớn chuyện.

Bà sống phần đời còn lại bên các con cháu, còn ông, sống với gia đình mới của mình – hai thế giới song song, không va chạm, không đối thoại, nhưng cũng không thù hận.

Trong vô số mảnh tình bị thời tao loạn làm rạn vỡ, có những mảnh không vỡ vì hận thù, mà vỡ vì con người không đủ mạnh để giữ trọn một lời hứa trong cơn biến động quá lớn. Và đôi khi, điều còn lại duy nhất để níu giữ chút nhân phẩm là: lo cho con cái, dù muộn màng, dù không trọn vẹn.

***
Tiếp sau đây là một câu chuyện đẹp, đẹp vô cùng cho đến nỗi tôi phải dừng lại một chút – không phải để tìm chữ mà viết – mà để thở, cho trái tim kịp lắng xuống trước một mảnh đời mà tình người vượt qua được hệ lụy của chiến tranh, của mất mát, của lỡ làng cùng với những ngã rẽ tưởng như không thể nào “châu về hiệp phố”.

Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi miền Trung chìm trong hỗn loạn, người chồng, một sĩ quan cấp chỉ huy , mất tích giữa rừng núi, không ai biết sống chết ra sao. Người vợ, ôm ba đứa con nhỏ, theo dòng người di tản, trôi dạt đến trại chuyển tiếp Camp Pendleton. Lạc lõng, bơ vơ, không một tin tức từ quê nhà, bà nhận được sự cưu mang của một người đàn ông Mỹ, người đã bảo lãnh mẹ con bà sang một cuộc đời mới.

Rồi thời gian trôi. Mười lăm năm.

Ba đứa con lớn lên, đứng trước ngưỡng cửa đại học, được nuôi nấng đàng hoàng trong một mái ấm bình yên. Người vợ tưởng như đã khép lại quá khứ, chấp nhận một đời sống mới, một gia đình mới.

Cho đến ngày người chồng cũ — người đã mất tích năm xưa — bất ngờ xuất hiện trên đất Mỹ theo diện HO. Ông biết rõ hoàn cảnh của vợ mình. Biết bà đang hạnh phúc. Biết ba đứa con đang được chăm sóc tử tế. Và ông chọn cách lùi lại.

Không trách móc. Không đòi hỏi. Không chen vào cuộc sống đã yên ổn của người vợ xưa.

Giữ kín niềm đau trong tim, ông lặng lẽ đến một tiểu bang khác, sống một mình, giữ liên lạc êm thắm với ba đứa con, và chờ đợi – không phải chờ một điều gì cụ thể, mà chờ một ơn lạ, như cách những người từng đi qua chiến tranh vẫn âm thầm hy vọng vào một phép màu.

Rồi một ngày, phép màu ấy đến thật.

Người chồng Mỹ qua đời.

Người vợ xưa trở về với ông, mang theo hai đứa con riêng – hai đứa trẻ mà ông đón nhận bằng một tấm lòng rộng mở, không phân biệt. Không nề hà, không so đo. Ông ôm choàng chúng vào lòng không một do dự-- như chính con ruột của mình.

Và thế là một gia đình mới hình thành — nhưng cũng là gia đình cũ, được ghép lại bằng những mảnh vỡ đã từng tưởng như không thể hàn gắn. Ba đứa con lớn, hai đứa con nhỏ, những người bạn đời của chúng… tất cả quây quần bên ông như một phép lành muộn màng.

Không còn biên giới giữa quá khứ và hiện tại. Không còn ranh giới giữa con chung, con riêng.

Chỉ còn lại tình người, thứ duy nhất đủ mạnh để xóa đi mọi đổ vỡ của thời tao loạn

Một câu chuyện đẹp đến mức khiến người ta tin rằng “Khi trái tim còn biết yêu thương, thì không có gì là quá muộn”.

***
Trong tháng hỗn loạn của cuộc di tản, chị, con nhà quyền quý, giàu sang, theo gia đình sang Mỹ. Còn Anh, người chồng bác sĩ vừa ra trường, bị kẹt lại với đơn vị, không kịp về Sài Gòn. Hai người lấy nhau qua mai mối, chưa kịp sống đủ một đời vợ chồng để kịp hiểu nhau, thì chiến tranh đã xé đôi số phận.

Mười năm sau, anh vượt biên. Sóng gió, đói khát, trại tỵ nạn… tất cả chỉ là những thử thách Anh chấp nhận để tìm lại vợ mình. Khi được vợ bảo lãnh sang Mỹ, Anh tưởng rằng mình đã đến được bến bờ bình yên. Nhưng ngay ngày đầu tiên bước vào căn nhà ấy, chị chỉ vào garage — nơi có sẵn một chiếc giường — và nói bằng giọng thản nhiên đến lạnh người:

“Tôi đã có chồng khác. Chúng tôi rất hạnh phúc. Anh ở đây một tháng, rồi nên đi tìm nơi khác để sống.”

Không giận dữ. Không khóc. Không trách.

Anh chỉ đứng đó, chết lặng. Mười năm tù, trong nhà tù nhỏ, nhà tù lớn trên chính quê hương của mình, vượt biển, vượt cả nỗi cô đơn, sợ hãi… để rồi nhận lại một cánh cửa đóng ngay trước mặt. Ba ngày sau, nhờ bạn bè giúp đỡ, Anh rời khỏi căn nhà ấy và quyết định biến mất khỏi cuộc đời người vợ cũ – như một cách giữ lại chút phẩm giá cho chính mình.

Rồi Anh bắt đầu lại từ đầu. Học lại Y khoa. Thi lại bằng cấp.

Làm lại cuộc đời từ con số không.

Và, như một món quà muộn màng nhưng xứng đáng, Anh gặp một người phụ nữ hiểu biết, nhân hậu, trân trọng Anh bằng tất cả những gì Anh đã trải qua. Hai vợ chồng sống hạnh phúc, làm thiện nguyện, giúp đỡ cộng đồng — như thể Anh muốn trả lại cho đời những gì đời đã từng lấy đi của Anh.

Trong vô số mảnh tình bị thời tao loạn làm rạn vỡ, có những mảnh vỡ tưởng như tàn nhẫn lại mở ra một con đường khác — sáng hơn, đẹp hơn. Và đôi khi, chính những cú rơi lạnh lùng lại đưa con người đến đúng nơi họ thuộc về.

***
Trong trận đánh cuối cùng ở Xuân Lộc, Anh — một người lính tác chiến của binh chủng Nhảy Dù — bị thương nặng. Đầu, mặt, mắt, cổ, ngực đầy mảnh lựu đạn trong một lần tiến chiếm vị trí địch. Khi được tản thương bằng trực thăng Chinook về Tổng Y Viện Cộng Hòa, giữa cơn mê tỉnh chập chờn, Anh chỉ kịp nhìn thấy mờ mờ hình bóng một cô y tá dân sự biệt phái đang cúi xuống băng bó cho mình. Một khuôn mặt hiền, một đôi tay nhẹ, một giọng nói tiếng Bắc nhỏ như sương.

Rồi ngày 30 tháng 4 đến. Anh – cùng hàng ngàn thương binh khác – bị kẻ chiến thắng tống ra khỏi bệnh viện, bỏ mặc giữa đường đời, không thuốc men, không chăm sóc, không một lời thương xót.

Nhiều năm sau, nhờ quen biết và thủ tục “đầu tiên” Anh được nhận vào làm việc tại bệnh viện Nguyễn Văn Học, trong bộ phận dưỡng khí. Và chính tại nơi tưởng như rất bình thường ấy, định mệnh mở lại cánh cửa của nó.

Một buổi sáng, Anh nhìn thấy một người phụ nữ bước vào. Vẫn dáng đi ấy. Vẫn đôi mắt ấy. Vẫn khuôn mặt mà Anh từng thấy trong khoảnh khắc giữa sống và chết trên chiếc trực thăng tản thương năm nào.

Cô y tá năm xưa, bấy giờ là nhân viên của bệnh viện Quân Dân Y Long Khánh, đứng trước mặt Anh, cũng sững sờ như Anh. Không cần lời giải thích. Không cần hỏi han. Chỉ một ánh nhìn là đủ để hai người nhận ra nhau giữa biển người của một đất nước đã đổi màu.

Từ giây phút ấy, họ bắt đầu lại – không phải từ quá khứ, mà từ sự biết ơn, từ sự trân trọng, bởi một mối dây vô hình đã nối họ từ ngày Xuân Lộc rực lửa.

Họ yêu nhau. Rồi cưới nhau. Rồi vượt biên cùng nhau vào giữa thập niên 80.

Giờ đây, định cư tại Florida, anh chị sống bình an, hạnh phúc, và hoạt động mạnh mẽ trong Gia Đình Mũ Đỏ — như một cách trả lại nghĩa tình cho những người đã từng cùng họ đi qua lửa đạn.

Một câu chuyện tưởng như lạ lùng, nhưng lại đẹp đến mức khiến người ta tin rằng: giữa đổ nát của chiến tranh, vẫn có những sợi chỉ tơ hồng âm thầm nối hai con người lại với nhau, để cuối cùng, họ tìm được nhau trong bình yên.

***
Họ là hai người bạn thân từ thuở thanh xuân, cùng khoác áo Không Quân, cùng lớn lên bên nhau, cùng chia sẻ và thân quen với một bạn gái cùng chung xóm, một người lái phản lực, người kia lái trực thăng. Cô bạn là một cô gái Bắc Kỳ nho nhỏ của xóm đạo, người mà cả hai đều thương mến theo cách riêng của mình.

Khi chiến tranh đến hồi nghiệt ngã, người phi công trực thăng đóng quân xa Sài Gòn, không thể về kịp để đưa vợ con đi. Anh chỉ còn biết gửi gắm tất cả cho người bạn thân – người lái phản lực – nhờ đưa vợ mình đi trước. Một lời nhờ vả trong hỗn loạn, nhưng cũng là một lời tin tưởng tuyệt đối giữa hai người đàn ông từng có cùng chí hương như nhau.

Điều Anh không biết: người bạn ấy đã từng thầm yêu người vợ của mình từ thuở cả ba còn vô tư chơi chung. Nhưng tình bạn lớn hơn tình yêu. Anh bạn phản lực không nói gì, chỉ lặng lẽ làm tròn lời nhờ vả.

Sang Mỹ, Anh phải sống chung nhà với vợ bạn mình, cùng nhau nuôi hai đứa con nhỏ của người bạn đang kẹt trong tù cải tạo. Không ai gọi tên mối quan hệ ấy, nhưng họ sống với nhau như một gia đình – không phải vì đam mê, mà vì trách nhiệm, vì tình bạn, vì thương nhau, và cùng gánh một phần đời quá nặng.

Khi người phi công trực thăng được HO đưa sang Mỹ, Anh bạn phản lực lặng lẽ thu xếp hành lý, rời khỏi thị xã, nhường lại mái nhà cho bạn mình. Không một lời than trách. Không một giọt nước mắt. Chỉ có sự tự trọng và tình bạn được giữ trọn vẹn.

Nhưng tình cảm không vì thế mà mất đi.

Cuối tuần nào, người đàn bà ấy cũng trở về thăm người bạn chồng — người đã từng cưu mang mình, nuôi con mình, chia sẻ những năm tháng cô đơn nhất. Một giao ước không lời, nhưng bền như sợi chỉ hồng nối ba phận người lại với nhau.

Và khi người phi công trực thăng qua đời vì những căn bệnh âm ỉ từ kiếp tù đày, người bạn phản lực lại mở cửa đón bạn mình trở về – không phải như một cuộc chiếm đoạt, mà như một sự trở lại đúng chỗ, đúng người, đúng thời điểm.

Hai đứa con, nay đã trưởng thành, đứng bên họ trong lễ cưới, xem ông như cha, vì ông đã lo cho chúng suốt những năm tháng cha ruột còn trong tù.

Một câu chuyện tưởng như lạ kỳ, nhưng lại đẹp theo cách rất riêng:

Tình bạn có thể đi qua chiến tranh, qua lỡ làng, qua cả những điều không thể gọi tên — và cuối cùng, vẫn giữ được sự tử tế, sự thủy chung, và một kết thúc thật nhân hậu.

***
Anh từng là sĩ quan tác Nhảy Dù, tính tình phóng khoáng, hào sảng, sống hết mình với bạn bè và đồng đội. Vợ Anh là một vũ nữ nổi tiếng sắc nước hương trời, hai người có với nhau hai đứa con nhỏ. Đến ngày 28 tháng 4, khi Anh chạy về nhà giữa hỗn loạn, chỉ còn bà vú trao cho anh một lá thư. Trong đó, vợ anh viết vội:

“Lo cho hai đứa nhỏ
Tôi đi với người khác.”

Không kịp buồn, không kịp trách, Anh chỉ còn biết một tay dắt con gái, một tay bế con trai, chạy đôn đáo tìm đường thoát thân. Cuối cùng, ba cha con đến được Mỹ – một gà trống nuôi hai con giữa xứ lạ, ai nhìn vào cũng thương.

Rồi Anh gặp một người phụ nữ khác, có học vị cao, nhưng cũng mang một vết thương đời: chồng bà có thể di tản được, nhưng chọn ở lại Việt Nam vì có những ràng buột tình ái khác, để sau đó vào tù cả chục năm. Hai phận người lỡ dở, hai mái nhà tan vỡ, gặp nhau giữa đất Mỹ.

Họ gom lại năm đứa trẻ: ba con gái của bà, hai đứa con của Anh.

Và trong căn nhà ấy, chỉ có một người đàn ông chạy xuôi chạy ngược: lo nhà cửa, lo cơm nước, lo từng đứa nhỏ, để bà có thời gian tiếp tục đi học. Anh nâng đỡ bà từng bước, cho đến ngày bà lấy được bằng tiến sĩ Giáo Dục — một thành tựu mà chính Anh là người đứng phía sau, âm thầm làm bệ đỡ.

Năm đứa trẻ lớn lên, thành đạt, tử tế. Ba cô con gái của bà xem Anh như cha ruột. Hai đứa con của Anh xem bà như mẹ.

Đến ngày con gái của bà lên xe hoa, dù cha ruột có mặt, cô vẫn nắm tay Anh – người đã nuôi mình, dạy mình, thương mình — để bước vào lễ đường. Một sự ghi nhận đẹp đẽ, giản dị, nhưng sâu sắc hơn mọi lời nói.

Giờ đây, họ sống hạnh phúc, bình an, trong sự thương yếu và biết ơn của cả năm đứa con mà tất cả đều gọi Anh bằng Cha. Anh vẫn là người đàn ông hào phóng, ngay thẳng, nói năng có duyên, luôn rộng lòng với bạn bè, với người quen, và đặc biệt với gia đình Mũ Đỏ, nơi Anh từng thuộc về.

Một câu chuyện đẹp đến mức khiến người ta tin rằng: gia đình không chỉ được tạo nên bởi máu mủ, mà còn bởi lòng nhân hậu và sự hy sinh của một con người biết yêu thương.

Bạn đọc mến, mười hai câu chuyện, mười hai mảnh tình kèm theo là bao nhiêu thân phận bị xô đẩy trong từng câu chuyện, tưởng như rời rạc – nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng lại hiện lên như một dòng chảy chung của một thế hệ đã đi qua chiến tranh, vượt biên, tù đày, chia ly, tái hợp, và cả những lỡ làng không ai muốn, không ai trách cứ.

Nhìn lại tất cả, người ta mới thấy: trước vận nước nghiêng ngả, con người như những chiếc lá nhỏ, bị cuốn theo dòng đời không ai cưỡng nổi. Nhưng điều kỳ lạ là, dù bị cuốn đi, dù bị dập vùi, dù bị xé nát, những chiếc lá ấy vẫn giữ được màu xanh của hy vọng, của cảm thông, của tha thứ đầy tình người.

Những câu chuyện trên chỉ là chóp bu của một tảng băng ngầm với bao chuyện tương tự có cùng màu sắc trong thế hệ những người “di tản buồn”. Chúng kể lại cách con người đã cứu nhau, trong giai đoạn mà tình yêu không chết, chỉ đổi hình; tình bạn không mất, chỉ đi vòng; gia đình không tan, chỉ được dựng lại bằng cách này hay cách khác. Và con người, dù nhỏ bé, vẫn biết che chở nhau trong cơn bão đời

Và trên hết, yếu tố thời gian luôn là một liều thuốc bổ. Không những nó làm cho vết thương mờ dần, mà vì nó cho ta đủ khoảng lặng để nhìn lại, để hiểu, để tha thứ – cho chính mình và cho người- để cảm thông…và để buông. Để hiểu điều còn lại, sau tất cả – không phải là chiến tranh, không phải sự độc ác của một chế độ vô sản. Cũng không phải là thời cơ, không phải hận thù, không phải những mất mát khó bù đắp – mà là tình người – thứ duy nhất đủ mạnh để nối lại những gì thời cuộc nghiệt ngã đã xé nát – Tạo hóa gây chi cuộc hí trường.

Nếu ai đó đọc những câu chuyện trên và thấy thấp thoáng bóng dáng đời mình, hay của gia đình, người thân gần xa, bạn bè… thì có lẽ họ sẽ thấy nhẹ đi một phần. Khi biết mình không cô độc. Khi thấy nỗi đau của mình không phải là vô nghĩa. Khi biết có những trường hợp tương tự xẩy ra. Và nhất là biết rằng những vết thương không chảy máu vẫn có thể được xoa dịu – qua sự chia sẻ, qua cầu nguyện, qua cảm thông, qua tha thứ. Với lòng nhân, với sự chân thành trong đối xử và nâng đở nhau. Bằng những bàn tay nối kết với bàn tay giúp nhau đứng dậy, bằng những ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử đẹp nhỏ, một sự tử tế không cần đền đáp, một trái tim sáng và mềm hơn. Và một nén hương cho cả một thế hệ. Cho cùng những ai vẫn mang một vết thương âm thầm trong cô đơn. Giữa những đổ nát của lịch sử, điều duy nhất còn lại, điều duy nhất có thể hàn gắn vết thương lòng, điều duy nhất giúp con người đứng dậy – đó chính là sự nhân ái của tình người chân thật.

Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.

*Vĩnh Chánh, viết cho tháng 4, 2026.

*Đôi dòng giới thiệu:

Tác giả là một bác sĩ, tốt nghiệp Y Khoa Huế năm 1973. Do nhu cầu thời chiến tranh, được lệnh trưng tập vào Quân Y, ông đã tình nguyện vào Binh chủng Nhảy Dù, và trở thành Trung Úy Y Sĩ Trưởng của Tiểu Đoàn 1, sau đó là Tiểu Đoàn 15 Nhảy Dù , cùng gắn bó với đơn vị chiến đấu cho tới giờ phút cuối tại vành đai Sài Gòn đến ngày 30 tháng Tư 75. Sau khi ra tù, ông vượt biên cùng gia đình, đến định cự tại Hoa Kỳ năm 1980, vừa đi làm vừa học lại chuyên môn, và năm 1982 được hành nghề bác sĩ tổng quát tại một bệnh viện ở Louisiana. Hiện đã về hưu và là cư dân Mission Viejo, California.




Posted by Anges at 1:29 AM No comments:
Labels: Vĩnh Chánh

Monday, April 6, 2026

Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân




Tháng Giêng 1974, tôi trình diện nhập ngũ vào khóa 16 Trưng Tập Y Nha Dược tại trường Quân Y.

Trong lịch sử hành chánh Quân Y nói chung và lịch sử hành chánh quân y Nhảy Dù nói riêng do Y Sĩ Đại Úy Lê Đình Thuấn, Trưởng Phòng 3 của TĐQY/SĐND giảng dạy cho chúng tôi, đơn vị Quân Y Nhảy Dù tăng trưởng theo với cuộc chiến. Chúng tôi được cho biết trong những năm đầu tiên, toán quân y cấp nhỏ nằm trong Tiểu Đoàn Trợ Chiến của đơn vị Nhảy Dù. Sau năm 1957, các tiểu đoàn Nhảy Dù được tăng cường thêm một số bác sĩ quân y mà về sau trở thành những cấp chỉ huy quan trọng của TĐQYND. 

Để yểm trợ cho các cuộc hành quân, các bác sĩ Nhảy Dù trở thành y sĩ trưởng của các Tiểu Đoàn tác chiến Nhảy Dù, dưới sự điều động hàng dọc của các đại đội quân y thuộc các Lữ Đoàn Nhảy Dù, với nhiệm vụ cấp cứu, ổn định, chữa trị, và chuyển thương binh về bệnh viện tiền phương Nhảy Dù. 

Vào đầu năm 1975, Tiểu Đoàn QY Nhảy Dù có gần 40 Quân Y Nha Dược Sĩ phục vụ cho các tiểu đoàn tác chiến Nhảy Dù, các Đại Đội QY, BV Đỗ Vinh, và các cơ sở trực thuộc…

Nhớ lại khi còn là sinh viên YK, tập truyện “Y Sĩ Tiền Tuyến” của BS. Quân Y Nhảy Dù Trang Châu đã cho tôi một ấn tượng sâu đậm và tốt đẹp về binh chủng ND, gây cho tôi nhiều say mê về hình ảnh chinh chiến của các Thiên Thần Mũ Đỏ, hiên ngang, kiêu hùng, đánh đẹp chơi đẹp, cùng với nhiệm vụ cao quý của những y sĩ Dù tại mặt trận. Tôi đã mơ một ngày nào mình sẽ là một y sĩ Nhảy Dù, nhất là sau đọc được những lời thơ tâm huyết khí khái của tác giả biểu hiện cho tinh thần nhân bản của Miền Nam VN trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước chống xâm lăng: 

“Trong cuộc chiến hôm nay - Cho tôi xin chiến đấu không hận thù - Xin những vết thương bình đẳng - Cho tôi đổi một trăm chiến thắng - Lấy một giọt nước mắt kẻ thù”.

Một khi mình đã thích Nhảy Dù, mình hay nhìn vào những mẫu người mà mình ngưỡng mộ. Đó là hình ảnh của Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân mà tôi nhìn thấy trong 6 tháng theo học hành chánh Quân Y tại Trường Quân Y. Dưới cái nhìn của tôi, Ông là một con người có dáng oai dũng và hiên ngang, với tác phong hoàn toàn của một quân nhân, trang phục hoa dù mũ đỏ chỉnh tề, với nếp gấp sắc nét làm nổi bật phong cách kỷ luật. Dáng Ông cao lớn, chắc nịch, vai mở rộng, mạnh bạo như một tảng đá, như sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách; lưng Ông thẳng tắp, thể hiện một sự tự tin và tinh thần quyết chí. Ánh mắt Ông luôn nhìn thẳng phía trước – là ánh mắt của con người biết rõ mục tiêu mình hướng đến. Da ông ngăm đen, màu da của bao quân nhân từng ra vào gió sương; khuôn mặt Ông nghiêm nghị nhưng không áp đảo, thể hiện sự bình tĩnh của con người đã quen trực diện với khó khăn và trách nhiệm. Nhìn ông bước với những bước chân dứt khoát, đều đặn, cho tôi có cảm tưởng Ông từng dẫm chân lên nhiều vùng đất xa lạ đầy nguy hiểm.

Với những lý do trên, khi tốt nghiệp khóa 16 Trưng Tập, tôi đã chọn về Quân Y Nhảy Dù không một do dự. Ngoài ra, còn một lý do thầm kín là tôi muốn có một thay đổi quan trọng vì chuyện tình cảm riêng tư của mình - tôi mãi nhớ câu bi hùng tráng của người lính nhảy dù “Parachutiste, tu dois apprendre à souffrir car tu es fait pour mourir”- đúng với diễn nghĩa của “Tìm sinh lộ trong tử lộ”, như tìm thấy chính mình qua thử thách để chiến thắng mối tình trắc trở. À vaincre sans péril, on triomphe sans gloire.

Tên của Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân được nhắc đến khá nhiều lần trong khóa học Hành Chánh Quân Y, khi tôi chính thức phục vụ QY Nhảy Dù, hay về sau khi ở hải ngoại. Ông biểu hiện cho hình ảnh của một quân nhân chuẩn mực, bước từng bước một, vững chắc đi từ dưới lên trên, từ một y sĩ Nhảy Dù vào năm 1957 ngay sau khi tốt nghiệp YK Saigon, rồi Đại Đội Trưởng Quân Y Nhảy Dù của Liên Đoàn Nhảy Dù. 

Năm 1966, song song với sự thành lập của Sư Đoàn Nhảy Dù, Ông được vinh thăng Y Sĩ Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù, kiêm Y Sĩ Trưởng đầu tiên của Sư Đoàn Nhảy Dù. Ông đã phục vụ liên tục 13 năm trong binh chủng Nhảy Dù, dưới quyền của 3 vị tư lệnh, là Nguyễn Chánh Thi, Cao Văn Viên, và Dư Quốc Đống. Rồi Y Sĩ Trung Tá năm 1970 với chức vụ Phụ Tá Quân Y Lục Quân tại Cục Quân Y, tham dự khóa học tham mưu cao cấp tại Fort Leavenworth, Kansas, 1971-1972, và từ năm 1972 Ông là Y Sĩ Đại Tá, Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y. 

Tất cả những thăng quan tiến chức – theo các tài liệu, những cuộc phỏng vấn với các ký giả trong và ngoài nước, và lời ngợi khen của các đàn anh QYND mà tôi được nghe sau này - Không phải do liên hệ chính trị hay giao tiếp salon, mà đích thực vì khả năng chuyên môn và tài lãnh đạo xuất sắc của chính cá nhân Ông qua bao năm tháng miệt mài với Quân Y Nhảy Dù, sát cánh với đơn vị tác chiến Nhảy Dù anh hùng này, từng cứu chữa, che chở các thương binh Nhảy Dù của mình, kể luôn những thương binh địch, giữa chiến trường đang sôi sục lửa đạn.

Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc. 

Tôi có nghe một câu chuyện sau đây: một đàn anh trong QYND quá hoảng sợ sau khi trở về từ trận Hạ Lào 1971. Gia đình anh “chạy” cho anh ra khỏi QYND trực tiếp với Cục Quân Y. Khi anh về lại bộ chỉ huy TĐQY Nhảy Dù trình diện Bs. Hoàng Cơ Lân, bấy giờ là Tiểu Đoàn Trưởng TĐQYND, để lấy sứ vụ lệnh xuất khỏi QYND, anh “bị” cho ngồi chờ bên ngoài hơn 3 tiếng đồng hồ. Khi vào gặp Bs. Hoàng Cơ Lân, anh được BS Lân cho một bài học, rằng “nếu anh muốn ra khỏi Nhảy Dù thì anh cứ đến hỏi tôi, nói rõ lý do chính đáng thì tôi cũng sẽ làm vừa lòng anh. Cớ sao anh phải qua mặt tôi, lên đến tận Cục Quân Y để chạy chọt xin xỏ ra khỏi Nhảy Dù??!! Anh làm như vậy thì mất mặt QYND quá!!”

Lần đầu tiên tại hải ngoại, tôi gặp lại Đại tá Hoàng Cơ Lân trong một Hội Ngộ QYND tại tư gia anh chị Bs. Nhảy Dù Đường Thiện Đồng vào khoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ 21. Ông trông rất phong độ, được mọi người thương kính. Ông đem theo một số berets đỏ của Nhảy Dù Pháp. Cầm chiếc beret cuối trên tay, Ông hỏi “ai muốn đây”. Tôi bèn đưa tay lên “Dạ, em muốn”. Ông ngạc nhiên hướng về tôi – có lẽ vì chưa rõ ràng biết tôi là ai dù trước đó tôi đã được giới thiệu, và hỏi tiếp” vì sao cho anh?”, tôi trả lời ngay “vì em là đàn em nhỏ nhất trong tiệc, mọi người đây ai cũng từng nghe Đại Tá kể chuyện thời xưa, chỉ em là chưa một lần nào, nên em vỗ tay nhiều nhât”. Ông gật đầu, cười và trao tôi chiếc nón beret đỏ.

Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân là một đại Niên Trưởng của tôi. Cả 2 chúng tôi từng phục vụ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, một đơn vị thâm niên và thiện chiến của binh chủng Nhảy Dù. Ông theo chân TĐ1 Nhảy Dù suốt 4 năm trong thời gian đầu đời làm y sĩ Nhảy Dù, còn tôi chỉ khoảng nữa năm, vừa đủ thời gian thấm cái nhịp độ kinh hoàng của cuối cuộc chiến, trước khi được đưa qua TĐ15 Nhảy Dù.

Từ dạo tôi bắt đầu viết những chuyện ngắn về người lính và nỗi niềm của họ trong cuộc chiến Miền Nam VN, tôi thường chia sẻ với diễn đàn QYND. Một trong những người hay trả lời với những lời khuyến khích là Đại Tá Hoàng Cơ Lân. Nên từ đó tôi bắt đầu một nhịp cầu tri ân với Đại Tá Lân. Trong một lá thư để trả lời cho một bài viết của tôi, Ông viết “Anh là một người bác sĩ Nhảy Dù có tâm hồn và lãng mạn”. Khi tôi ngỏ lời nhờ Đại Tá Hoàng Cơ Lân viết lời giới thiệu cho cuốn sách “Tháng Ngày Tao Loạn”, Ông nhận lời ngay và viết lên những dòng chữ khí khái, xúc động, làm cuốn sách tăng phần trang trọng. Về sau, Ông thường chia sẻ với tôi những mẫu tin, những tài liệu liên hệ đến Nhảy Dù VN, Nhảy Dù Pháp, và hình ảnh những buỗi lễ kỷ niệm, đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Nhảy Dù của Pháp Việt mà Ông cùng các đồng dội Nhảy Dù VN định cư tại Pháp đã tham dự. Rồi Ông lần lượt chuyển giao cho tôi vô số tài liệu về lịch sử Nhảy Dù VN, về Quân Y Nhảy Dù VN, về chiến tranh Đông Dương, về Trận Điện Biên Phủ, về các lính người Việt đưa sang Pháp chiến đấu trong Thế Chiến Thứ Nhất…Như thể Ông chuyển cho tôi ngọn đuốc trách nhiệm “Gìn Vàng Giữ Ngọc”di sản quý báu Ông từng cất giữ trong bao nhiêu năm.

Dòng họ Hoàng Cơ là một dòng họ có tiếng trong chính trường, kể cả quân đội, của Miền Nam VN. Theo tôi được biết, thân phụ của Đại Tá Hoàng Cơ Lân là Bs. Hoàng Cơ Bình, con trai của Cụ Tuần Phủ Hoàng Huân Trung, Chủ Tịch sáng lập của Hội Khai Trí Tiến Đức (Ông Phạm Quỳnh là Tổng Thư Ký của Hội). Bs. Hoàng Cơ Bình và 2 người em là Hoàng Cơ Nghị (GS Physique) và Hoàng Cơ Thụy (Luật Sư) đều tốt nghiệp từ Paris. Phu nhân Đại Tá Lân là bà Dương Khánh Vân (trùng tên với Bs. Lê Khánh Vân, chủ tịch Hội Y Giới Pháp, là bác sĩ săn sóc cho sức khỏe Ông Bà), từng là GS dạy trường Couvent des Oiseaux ở Saigon. Ông Bà lấy nhau từ khi Đại Tá Lân đang còn học trường Thuốc. Nghe nói lương dạy học của phu nhân còn nhiều hơn lương Đại Tá của chồng! Trong thời gian phục vụ quân đội tại VN, Đại Tá Hoàng Cơ Lân không mở phòng mạch tư. Tuy nhiên, sau khi định cư tại Pháp, Bs. Hoàng Cơ Lân có mở cabinet cách Paris khoảng ½ giờ lái xe, cho đến tuổi về hưu. Ông Bà Hoàng Cơ Lân có người con trai làm Nha sĩ với vợ là bác sĩ, và 2 con gái, trong đó có một cô tốt nghiệp Conservatoire de Paris, từng trình diễn nhiều nơi tại Pháp và Âu Châu. Xin chúc mừng.

Với một câu viết “Tôi chờ gặp anh đó” đầy tình nghĩa trong một lá thư BS. Lân gởi cho tôi đầu năm 2025, vợ chồng chúng tôi quyết định nhanh chóng viếng thăm Ông Bà vào cuối tháng 5, 2025. Khi gặp mặt, tôi đứng nghiêm chào tay “Bonjour mon Colonel”. Bs. Lân nhắc lại lời viết “tôi chờ gặp anh từ lâu lắm…Thật vui mừng khi anh chị đến thăm chúng tôi hôm nay”. Tôi quá cảm động nên líu lưỡi, lắp bắp những câu vô nghĩa. Vì không mấy quen thuộc với Paris nên chúng tôi đến trễ. 

Khi vào bên trong, tôi xúc động nhìn thấy Ông Bà Y Sĩ Thiếu Tá Nhảy Dù Trần Đức Tường, là Đích Thân của tôi khi Ông là vị Tiểu Đoàn Trưởng TĐQY Nhảy Dù thời tôi vào Nhảy Dù, đồng thời cũng là vị TĐT cuối cùng của QYND. Ngoài ra còn có một số quân nhân ND quen thuộc với ĐT Lân, và Bs. Nguyễn Duy Trường, một bạn thân của tôi từ thời trung học tại trường Providence, Huế; về sau, Trường tốt nghiệp cùng một năm với tôi, nhưng từ YK Saigon.

Mọi người xúm xít mở rượu, chia nhau mấy chai Champange uống mừng và cắt bánh hội ngộ. Với tôi, tôi quá hân hạnh vì tôi gặp được cả 2 vị cựu Tiểu Đoàn Trưởng QYND cùng một lúc, tại một chỗ. Bs. Trần Đức Tường, với ám hiệu truyền tin là Tường Vi, là một niên trưởng mà anh em chúng tôi trong QYND rất thương mến. Vì anh ăn nói nhẹ nhàng, tính tình hòa nhã, con người khí khái rất được các anh em y sĩ Nhảy Dù và các y tá thuộc quyền thương mến. Anh từng nằm gai nếm mật khi nhảy vào vùng địch, và còn nhiều hơn nữa khi trong tù CS.

**Từ Trái sang Phải: Minh Châu, Phu Nhân và Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân, Phu nhân và Y Sĩ Thiếu Tá Trần Đức Tường, Vĩnh Chánh

** Hai vị cựu Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù, cùng 2 phu nhân

Gặp lại Bs. Hoàng Cơ Lân, tôi nhìn thấy giữa mái đầu bạc và đôi mắt còn tinh anh và quắc thướt vẫn toát lên sự từng trải của người quân nhân từng sống với Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Dáng ngồi và dáng đi phải nghiêng về một bên, bước chân có phần khó khăn và chậm lại. Đôi vai từng mở rộng nay gầy yếu, mang theo quá khứ hào hùng và nỗi buồn lặng lẽ của thời gian. Nhất là lưng Ông, một thời từng thẳng tắp, nay cong khá nhiều khiến thân người Ông khòm xuống. 

Trong một câu chuyện Cổ Học Tinh Hoa, một quan lớn đến may áo chầu. Người thợ may hỏi Quan làm việc lâu năm chưa? Quan hỏi lại “sao phải hỏi câu đó”. Người thợ may thưa “nếu Quan mới làm quan, thân áo trước dài hơn thân áo sau vì Quan hãnh diện ưỡn ngực ra trước - Ngược lại, nếu Quan làm việc lâu năm, lưng Quan còm xuống vì khiêm tốn và trách nhiệm, thân áo sau sẽ dài hơn”. Từ câu chuyện, thân áo sau dài hơn thân áo trước trở thành biểu tương của địa vị, tuổi tác và trách nhiệm. Nếu Đại Tá Hoàng Cơ Lân mặc áo dài nam truyền thống, thân áo sau của áo Ông chắc hẵn phải dài hơn thân áo trước khá nhiều.

Lòng tôi chợt chùng xuống, xốn xang và xúc động, nhất là lúc Ông thỉnh thoảng có ánh nhìn xa xăm và bàn tay hơi run khi giải thích cho tôi những tấm hình kỷ niệm đời quân ngũ, các bằng tốt nghiệp, khen thưởng và một dãy huy chương cao quý nằm trên tường của phòng làm việc và hành lang bên ngoài. Trong ánh sáng mờ ảo của cuối ngày, tôi nhận thấy trong cái tĩnh lặng khi bước theo Ông, vẫn còn đây là một người lính già đáng kính, từng kinh qua chinh chiến và giờ đang ở ngưỡng cửa thiêng liêng của cuộc đời. Tôi cũng nhận thấy ánh mắt của phu nhân dõi theo chồng mình mỗi khi Ông di chuyển, một ánh mắt vừa thương yêu, che chở, lại vừa có phần lo lắng, như sẳn sàng chạy đến nâng Ông lên nếu cần.

Chiều đến, Ông Bà BS. Lân mời mọi người đi ăn tối tại restaurant gần nhà. Chúng tôi muốn dành phần trả tiền như đã xin trong thư trước, nhưng Đại Tá Lân không cho. Bien, Mon Colonel. Et grand merci. Trong bàn ăn vợ chồng chúng tôi hân hạnh được ngồi đối diện với 2 vị Niên Trưởng của Quân Y Nhảy Dù và 2 phu nhân, nên câu chuyện dài lại được tiếp tục một cách hoan hỷ. Ra khỏi nhà hàng, Ông Bà không cho chúng tôi đưa về tận nhà. Nhìn Ông Bà đầm ấm cầm tay nhau bước qua đường, tôi bùi ngùi lặng nhìn theo 2 người cho đến khi họ bước khuất vào bên trong. Đích Thân Tường Vi và phu nhân chở chúng tôi về lại nhà người bạn.


Đôi lần trước đây, Bs. Hoàng Cơ Lân viết cho tôi câu nói bất hủ của Tướng 5 sao Douglass McArthur “Old Soldiers never die; they just fade away”. Với tôi, câu này mang ý nghĩa những đóng góp và ảnh hưởng của những quân nhân có tiếng tăm vẫn tồn tại ngay cả khi họ dần rút lui khỏi vai trò chỉ huy chủ động, vì giá trị và di sản của họ không kết thúc cho dù họ rời ánh đèn của một thời trách nhiệm và vinh quang. Và rằng kinh nghiệm, trí tuệ, thành đạt và ảnh hưởng của họ vẫn tồn tại - dù thời gian, dù âm thầm – để vẫn được tiếp tục truyền đạt lại cho thế hệ mai sau. Đây không phải là một sự tôn vinh, mà chỉ một thừa nhận chính đáng của đa số, với trân trọng và thương nhớ.

Với tôi, Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân xứng đáng là một OLD SOLDIER. Một đời cống hiến. Một con người trách nhiệm. Một trái tim nhân hậu. Và một nhân vật đáng quý.

Với một người bước qua tuổi 90, điều đẹp nhất không phải là những ca tụng lớn lao, mà là có kẻ còn nhớ, còn thương kính và trân trọng mình. Nhất là còn muốn kể lại những câu chuyện của họ bằng tất cả sự tử tế và lòng biết ơn. Đó là điều tôi muốn làm từ lâu nhưng nay mới thực hiện.

Cho phần kết, đàn em “út” Vĩnh Chánh xin có đôi vần thơ kính tặng Niên Trưởng Bác Sĩ Hoàng Cơ Lân, Đàn Anh lớn của Quân Y Nhảy Dù Việt Nam:

“Lưng thẳng tắp, Ông đi trong sớm mai
Bước quân hành dứt khoát tự bao ngày
Một đời lính, tóc pha màu sương gió
Giữa chiến trận, giữa bao lần nguy khó
Ông đứng lên vì đồng đội, vì non sông

Ông đã sống bằng trái tim trách nhiệm
Dìu dắt đàn em, che chở thuộc quyền
Mỗi lời dạy là một lần truyền lửa
Cho đàn em, lớp trẻ vững niềm tin.

Trong bệnh xá giữa mùi thuốc và máu
Ông cúi mình chăm sóc những thương binh
Bàn tay lính mà dịu dàng đến lạ
Giữ sự sống như giữ lấy nghĩa tình

Nay nhìn lại chặng đường dài nguy dọc
Dáng Ông đi vẫn uy nghiêm, hiền hòa
Một đời lính chẳng mong gì ghi nhớ
Chỉ mong rằng Đất Nước Mãi Nở Hoa

8 Janvier, 2026
Vĩnh Chánh
Nguyên Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 và 15 Nhảy Dù – 1974-1975

Mission Viejo, CA – USA

** Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân nhảy saut cuối cùng vào ngày 15 tháng 3, 2026, tại Paris, Pháp Quốc. Tang lễ và hỏa táng sẽ được làm tại nghĩa trang Père Lachaise, Paris.

Xin cầu nguyện cho linh hồn Phao Lồ Hoàng Cơ Lân sớm được Chúa nhân từ đón vào chốn ngàn thu.








Posted by Anges at 6:09 PM No comments:
Labels: Vĩnh Chánh

Thursday, April 2, 2026

Người Tù Và Ánh Sáng Phục Sinh


Lần đầu tiên gặp anh, tôi tự nhiên cảm mến anh. Không những vì cách ăn nói giản dị và chân thật, giọng nói của anh chậm rãi mà thỉnh thoảng tôi nghe như anh tự nói cho mình hơn là cho người đối diện, ở anh toát ra một vẻ u uẩn với đôi mắt hằn lên sự chịu đựng, và cặp vai gầy như chĩu nặng nhiều đắng cay.

Nhập ngũ vào Thủ Đức sau biến cố Mậu Thân 1968 khi đang theo học năm thứ hai Cao Học Sử Địa tại Văn Khoa Saigon, anh được chọn vào Không Quân, và có lẽ do bản chất yêu thích văn nghệ với sở trường ca hát và đờn địch, anh vào làm việc trong ban Tâm Lý Chiến của Sư Đoàn 3 Không Quân tại Biên Hòa, đi từ cấp bậc Chuẩn Úy cho đến Đại Úy. Đầu năm 1975, anh lấy vợ, một nữ quân nhân phục vụ trong phòng Xã Hội cũng tại sư đoàn 3 Không Quân. Vợ chồng anh ở trong trại sĩ quan của đơn vị cho đến ngày mất nước. Khi anh vào tù, chị trở về quê sống với cha mẹ chị gần Cần Thơ.

Đầu năm 1976, anh bị phân loại và chuyển từ trại Long Giao ở Miền Nam ra Miền Bắc. Trong những năm ngoài Bắc, anh khá hơn các bạn tù mồ côi, vì được anh thứ nhì ra thăm anh một lần. Anh biết thân phận mình nên cũng chẳng lấy làm buồn tủi. Vài lần về thăm nhà vợ trước và sau khi cưới, nhìn thấy căn nhà xiêu vẹo mái tranh vách lá, nhỏ như cái chòi, không có số địa chỉ, nằm bên cạnh một nhánh sông là nơi cha mẹ vợ anh cùng em gái vợ đang sống nghề chài lưới, anh biết vợ anh không thể có đủ khả năng tài chánh đi thăm nuôi anh ở nơi xa. Mặt khác, gia đình phía bên anh, thuộc loại gia thế có tiếng từ Huế vào đến Nha Trang, ngoại đạo, trước đây đã chống đối chuyện anh lấy vợ vì cho rằng hai gia đình không tương xứng với nhau - nay hoàn toàn cắt đứt liên lạc với vợ anh sau khi anh đi tù cải tạo. 

Trong những năm tháng sống cùng cực tại các trại tù ngoài Miền Bắc, Hoàng Liên Sơn (Yên Báy), Nam Hà (Hà Nam Ninh)… anh đã nhiều lần nghĩ đến buông xuôi và ngay cả chuyện tìm cái chết. Nhưng suy nghĩ lại, đành rằng chết là can đảm tuyệt vời nhưng sống, chấp nhận khổ nhục để chờ một ngày tốt đẹp hơn cũng rất can đảm. Anh tâm sự “Chịu khổ nhục mà không rên rỉ cũng đẹp như một cái chết bất khuất”. Anh chấp nhận thời thế xoay vần mà bản thân như một chiếc lá xanh trong hàng triệu chiếc lá xanh khác bị cuốn lốc trong cơn bão dữ. Tự chấn chỉnh mình, anh chú trọng tìm hiểu các con đường tâm linh khác nhau để từ đó xác định cho mình một hướng đi lạc quan hơn. Một cái nhìn hướng thiện hơn. Một sự cứu vớt cho bản thân trong xác tín niềm tin và hy vọng.

Và trong sự chập chờn của đau đớn thể xác và dày vò tinh thần, anh đã tìm thấy Chúa. Thấy hình ảnh Chúa trong sự hy sinh thân thể Ngài cho loài người. Nhìn thấy ánh sáng hy vọng sẽ cứu độ linh hồn anh. Nhất là anh nhận thấy niềm tin yêu phải phát xuất từ ăn năn sám hối và tha thứ. Sám hối cho những lỗi lầm của mình trong quá khứ. Tha Thứ!? Đúng vậy, Chúa dạy mọi người phải yêu thương nhau. Ngay cả với kẻ thù. Nhưng phải chăng trước khi yêu thương nhau, chúng ta hẳn phải nghĩ đến, học tha thứ. Anh phải thử tập tha thứ trước. Tha thứ cho mình để mình lại được tha thứ. Tha thứ cho chính mình trong những va chạm nhỏ lớn khó tránh với các bạn tù bằng cách cầu nguyện, xin Chúa mở lòng anh ra. Tha thứ và cảm thông những kẻ đang giam cầm anh, vì thật ra họ cũng đáng tội nghiệp như các tù nhân của họ, cho dù hai bên cách nhau một hàng rào kẽm gai, anh trong nhà tù nhỏ thì họ trong nhà tù lớn. Có khác gì nhau bao nhiêu!?

Trong sự thanh hóa bản thân, anh thường xuyên cầu nguyện, xin dâng lên Chúa những cực nhọc thể xác, những ngày dài tăm tối vô vọng, những bất hạnh cuộc sống. Xin Chúa cảm hóa anh cho lòng hận thù nơi anh mất dần. Và từ khi anh bắt đầu ngộ được chân lý của tha thứ và tình yêu thương của Chúa, từ con người ngoại đạo, anh mang lòng thành của một người công giáo, dù chưa được rửa tội. Cũng từ đó, anh cảm nhận thánh giá nhẹ dần trên vai mình, những bước chân băng rừng chặt cây, đốn gỗ của anh trở nên dễ dàng hơn, những cơn đói từng dày vò cơ thể yếu đuối của anh giờ chỉ là những thử thách chợt đến chợt đi. Anh đã tìm thấy đức tin.

Trong những trại tù anh bước qua, anh nhìn thấy các linh mục tuyên úy, nhưng không có cơ hội tiến đến gần để được dìu dắt trong linh hướng. Tuy nhiên, ở trại tù Nam Hà, anh có cơ duyên thân cận với một bạn tù công giáo, là anh Nguyễn Tất Tiến, lớn hơn anh chừng vài tuổi. Qua một thời gian gắn bó, tin tưởng nhau, anh mới tâm sự và nhờ anh Tiến dạy cho mình giáo lý công giáo căn bản cùng những kinh đọc hàng ngày. May mắn thay, vào giữa năm 1982, cả anh Tiến lẫn anh được chuyển vào Nam cùng một lúc, và ở sát cạnh nhau tại trại tù Hàm Tân, Phan Thiết. Anh Nguyễn Tất Tiến vẫn tiếp tục chỉ dẫn anh về giáo lý nhưng rất kín đáo vì trại Hàm Tân có quá nhiều antennes chuyển từ nhiều trại tù về đây. Để chuẩn bị cho việc anh sẽ trở thành tân tòng, anh Tiến chọn sẵn cho anh một tên thánh, là ông thánh Martin De Porres, người thánh đầu tiên da màu của Giáo Hội Công Giáo (thuộc xứ Peru, có cha gốc người Tây Ban Nha và Mẹ có dòng máu lai của nô lệ da đen và dân Inca bản xứ).

Cũng tại trại Hàm Tân này, anh may mắn gặp và làm quen với cha Nguyễn Văn Thanh, một linh mục tuyên úy cũng mới di chuyển từ trại tù ngoài Bắc vào. Sau một thời gian ngắn, anh ngỏ lời xin cha Thanh rửa tội cho anh. Khi được cha Thanh hỏi nguyên nhân anh xin làm phép thanh tẩy, anh trả lời vì anh cảm kích lời rao giảng của Chúa với 10 điều răn, tóm lại chỉ còn 2 điều quan trọng: Kính Chúa trên hết mọi sự, và Yêu Người như yêu mình ta. Và anh tin mình sẽ sống đạo bằng cách cố gắng thực hiện 2 điều răn được tóm tắt như trên – nghe thì đơn giản nhưng khó thực hiện – nếu không có ơn kêu gọi và qua cầu nguyện. 3 ngày sau khi được cha Thanh chấp nhận, lễ rửa tội cho anh được tổ chức trá hình dưới hình thức một buổi ăn chè trong một đêm giữa tháng 4, 1983, tại trại tù Hàm Tân. Tuy chỉ có 3 người là cha Nguyễn Văn Thanh, anh Nguyễn Tất Tiến bọ đỡ đầu của anh và anh, lễ rửa tội kín đáo này không kém phần long trọng và đầy xúc cảm. Sau khi cha Thanh đọc ngầm các kinh, đến phiên anh trả lời rất nhẹ các câu hỏi của cha, và cuối cùng cha cầm một miếng bông gòn thấm ướt nước xoa lên trán anh, theo thể thức của phép bí tích. Anh đã chính thức trở thành một người Công Giáo. Ngay trong mùa lễ Phục Sinh năm 1983.

Vài tháng sau lần thăm nuôi của mạ anh, tháng 8, 1983, anh được thả khỏi trại tù, về nhà của vợ chồng người anh thứ nhì ở Nha Trang, cũng là nơi thầy mạ anh đang được săn sóc chu đáo trong tuổi già. Không được anh chị chấp thuận cho vợ mình về sống chung với anh tại đây, anh lặn lội nhảy tàu nhiều lần từ Nha Trang đến Cần Thơ để thăm vợ, mang theo chút quà, kể cả chiếc nhẫn cưới mới mua từ tiền trợ cấp của các người anh đã định cư tại Mỹ - như một biểu tượng nối lại tình vợ chồng sau bao năm trắc trở xa nhau. Lần đầu gặp lại vợ, anh quá đau xót nhìn thấy vợ mình tàn tạ dù tuổi đời xấp xỉ 30, với ánh mắt chín mùi thua thiệt, khuôn mặt băn khoăn với nhiều nếp nhăn, lưng còng trĩu nặng với khổ đau, thân thể gầy ốm do thiếu dinh dưỡng. Thỉnh thoảng, anh nghe chị ho, một đôi khi với những cơn ho rũ rượi rang cả ngực – mà chị cho là do ảnh hưởng của các chất hóa học nơi chị làm việc.

Anh thầm nghĩ so với những gì anh từng trải nghiệm trong trại tù, bao đọa đày thân xác, bao nhẫn tâm chà đạp lên nhân phẩm, bao triền miên đói ăn đói mặc …cũng chẳng thể so được với những sa sút tâm thần và điều kiện vật chất tồi tệ mà vợ anh đã gánh chịu kể từ ngày xa chồng. Mỗi lần gặp được nhau đôi ba ngày – vì vấn đề hộ khẩu chưa được giải quyết - vợ chồng anh khó có một nơi riêng tư để thầm kín tâm sự, vì trong căn nhà chỉ có độc một cái giường tre nhỏ cho 2 mẹ con chị ngủ chung sau khi đứa em gái rời nhà lấy chồng. Anh có cho chị biết lý do và chi tiết anh trở lại đạo công giáo, ngỏ ý rồi đây anh sẽ hướng dẫn chị vào đạo để cả hai cùng tìm lại niềm tin, hạnh phúc và hy vọng.

Trở về lại Nha Trang, song song với việc tìm đến nhà thờ Phước Hải gần nhà anh ở, tiện cho chuyện đi lễ và cầu nguyện, anh vừa lo tìm việc làm, vừa quyết chí lo chuyện chạy giấy tờ xin chuyển hộ khẩu về sống chung với vợ. Chuyện tưởng là dễ nhưng quá khó vì thiếu thủ tục đầu tiên. Một buổi chiều mùa Thu đầu tháng 12, 1983, anh nhận điện tín từ em gái của chị báo tin chị vừa mất ngày hôm qua, và ngày mai sẽ đem chôn chị. Bàng hoàng trong đau đớn, khóc thương số kiếp vợ quá ngắn, xót xa cho tình cảnh vợ chồng vừa sum họp nay một người ra đi để lại một người bơ vơ bên cuộc đời. Anh nhảy tàu đi suốt đêm. Xế chiều hôm sau, anh đến nơi, xác chị đã được liệm trong hòm đóng kín. Nghe kể lại, chị đột ngột ra đi sau một cơn ho kéo dài kèm theo thổ huyết. Anh chỉ còn thẫn thờ bước những bước chân tê dại sau quan tài đưa vợ mình đến nghĩa trang. Cầm cái nhẫn vàng do em gái vợ đưa lại, anh nhảy xe về Saigon, tìm mua một tấm bia khắc tên chị, và tên anh là chồng. Trở về quê vợ, anh dựng tấm bia ở ngôi mộ vợ anh, ngồi bên cạnh mộ vợ, cầu nguyện và tâm sự. Chúa ơi! Còn thử thách nào đau đớn hơn!? Anh không biết làm gì hơn ngoài dâng tất cả sự khốn cùng của mình cho Chúa.

Trong những năm tháng kế tiếp, anh sinh hoạt nhiều hơn tại giáo xứ Phước Hải, tham gia ca hát với 2 ca đoàn trong nhà thờ, và dấn thân làm công tác xã hội với giáo xứ. Anh nhận được sự thương mến trong giáo xứ. Một số bạn trong ca đoàn bí mật tổ chức vượt biên, biếu không anh một chỗ đi. Chuyến vượt biên tháng 8, 1988 thành công, thuyền được tàu Đan Mạch vớt ngoài biển và đưa về Nhật ở trại Omura (phía nam đảo Củu Châu). Từ Nhật anh được chuyển qua trại tỵ nạn Bataan ở Phi Luật Tân và sau đó định cư tại Mỹ vào tháng 9, 1989. Chỉ vài tháng sau, vào tháng Giêng 1990, anh may mắn thi đậu làm nhân viên xã hội cho quận hạt Orange County. Một công việc rất thích hợp với tính yêu thương giúp đỡ người của anh. Do sống an phận, bình dị và không đua đòi, anh thư thả về hưu tháng 2, 2014.

Hàng năm, đặc biệt vào mùa Phục Sinh, mùa mà anh được đón nhận Chúa vào lòng lần đầu tiên, anh chân thành cảm nhận ơn Chúa cứu độ anh qua hiện tượng Ngài chết đi và sống lại để cứu chuộc nhân loại. Anh cảm nhận Chúa đã cảm hóa anh và đưa anh vượt qua nhiều đoạn đời đen tối. “Ngài từng nâng con dậy – cho con đứng lại trên đỉnh núi. Ngài đưa con ra đại dương - giúp con vượt giông bão trùng khơi”.

Con xin cảm tạ Chúa cho con sống một cuộc đời mới, theo đúng nghĩa tinh thần công giáo.

**Viết theo tâm tình của cựu tù cải tạo HTN. Mỹ, cư dân Garden Grove, CA.

Mùa Phục Sinh
Vĩnh Chánh


Posted by Anges at 9:42 PM No comments:
Labels: Vĩnh Chánh

Wednesday, May 21, 2025

THƯƠNG NGƯỜI ĐỘ LƯỢNG

Khi gia đình chúng tôi dời chuyển đến xóm Đồng Khánh, Anh đang học Đệ Ngũ cùng một lứa với người anh thứ hai của tôi. Sau hiệp Định Genève, di cư từ Thanh Hóa vào, chỉ có cha và Anh, rất đơn chiếc. Cùng với các đứa trẻ trong xóm, chúng tôi hay chạy theo chơi với Anh, để được nghe Anh kể chuyện ngoài nớ. Anh cũng thường đến nhà tôi chơi với anh trai và 2 chị sinh đôi của tôi. Đó là một người rất dễ mến, hiền hòa và đơn sơ. Khoảng thời gian cha Anh tục huyền và có một bé gái, Anh tình nguyện vào Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt sau khi đậu Tú Tài. Vài năm sau cha Anh dọn nhà khỏi xóm.

Bẳng đi gần cả mươi năm, bất ngờ tôi gặp lại Anh trong bộ áo quần màu Olive Bộ Binh với cấp bực Đại Uý khi Anh về dự đám tang của cha mình năm 1972. Vẫn một vẽ trầm lặng, dáng người cao ốm. Vẫn một cách ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ nhưng thân tình. Anh hiện đang phục vụ cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân và vừa lấy vợ vài tháng trước. Đám cưới rất đơn giản vì cha Anh già yếu không tham dự, nên Quân Đội đại diện nhà trai đi cưới vợ cho Anh. Bố vợ của Anh là một Thượng Sĩ già của Tiểu Đoàn, người thân thuộc với Anh từ bao năm qua. Tôi mừng Anh, khi Anh rút ví cho xem tấm hình người vợ xinh đẹp, một nữ sinh Trung Học.

20 năm sau, tình cờ gặp lại Anh tại California ở nhà một người bạn hàng xóm chung với nhau trước đây, chúng tôi mừng rở chào hỏi nhau trên đất Mỹ. Anh đã thay đổi nhiều và đi một mình. Khó nhận biết được nếu không được giới thiệu trước. Hình ảnh hiên ngang và oai vệ của một chiến sĩ năm nào tôi hằng ngưỡng mộ không còn nữa. Anh già hẳn đi, nét mặt cằn cổi, chín mùi với khổ đau, ánh mắt mệt nhọc. Lưng hơi còng và đôi vai co rút. Bước đi với những bước chân như ngần ngừ khập khỉnh. Anh và gia đình, 1 vợ 4 con được qua Mỹ theo diện HO trên một năm nay. Tôi mừng Anh đến bến bờ tự do. Sau đó Anh kéo tôi ra sân, trầm ngâm tâm sự.

Binh nghiệp Anh thăng tiến theo thời gian. Từ Trưởng Ban 3 Tiểu đoàn Địa Phương Quân, anh lên làm Tiểu Đoàn Phó, rồi Tiểu Đoàn Trưởng với cấp bậc Thiếu Tá giữa năm 1974. Theo con sóng di tản của Miền Trung vào cuối tháng 3, 1975, gia đình Anh đến Saigon cùng một nhóm sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền. Lúc ấy Anh có 2 con gái, đứa lớn 3 tuổi và đứa nhỏ gần 1 tuổi. Khi Anh vừa kịp tìm ra một nơi cho gia đình Anh cùng gia đình bên vợ tạm trú ở khu Bàn Cờ, là lúc Miền Nam Việt Nam đang trên đà tan rả. Rồi tập trung cải tạo sau vụ cưởng chiếm Miền Nam. Trời đất đen tối. Người người thống khổ dưới chế độ mới, sát máu, bạo tàn.

Trong suốt 10 năm tù cải tạo, qua bao nhiêu lần chuyển trại, từ Nam đến Bắc rồi Bắc trở lại Miền Nam, Anh chỉ được gia đình liên lạc 1 lần trước khi bị đưa ra Bắc và sau đó là biệt tăm. Anh không muốn nhắc nhiều đến những năm tháng sống trong các trại tập trung ở những núi rừng xa xôi lạnh lẻo, cơ cực đói khát. “Bên ngoài thì bị chúng chửi rủa mạt sát, hành hạ thể xác. Bên trông ê chề với đau đớn tuyệt vọng, niềm tin yêu cuối cùng cũng rạn nứt với cảm giác bị bỏ rơi, không một tin tức của vợ con”. Nhiều lần Anh nghĩ đến cái chết, nhưng vì bao ray rức dằn vặt, bao câu hỏi chưa có câu trả lời, rồi lòng thù hận và tự trách từ từ biến Anh thành câm lặng và chai đá.

Ngày được cho về tại địa chỉ cũ “Bàn Cờ” trên tờ giấy thả tù, lòng Anh xôn xao, nhưng căng thẳng chờ đợi một bất hạnh. Anh e dè, ngở ngàng bước vào nhà lúc xế trưa. Hai con gái Anh, nay 13 và 11 tuổi nhìn Anh xa lạ, hoàn toàn không biết Anh là cha ngay cả khi Anh nói rỏ tên họ và kêu tên chúng. Còn nàng ở đâu? Mẹ vợ cho biết nàng mang 2 đứa con nhỏ sau này về chơi bên gia đình chồng mới, sau khi nhận giấy báo Anh sẽ được thả về trong mấy ngày gần đây. Anh chết đứng như trời trồng giữa căn nhà, tê tái bên cạnh chiếc bị cũ chứa vài bộ quần áo rách do anh em bạn tù cho, lặng người nhìn 2 con gái của mình, trong khi nghe những lời phân bua của mẹ nàng.

Em nó và cả nhà đều nghĩ Anh đã chết trong tù. Hoặc giả, nếu còn sống, cũng chẳng biết khi nào được cho về. Nhà ta càng lúc càng túng thiếu, tình trạng rất bi đát, chạy đâu cho ra tiền. Ông già chẳng làm được gì nên thân ngoài chuyện nghiện ngập suốt ngày. Anh đi tù có để lại tiền bạc gì đâu! Vợ con Anh cần tiền để sống, đó là chưa kể chuyện bị thôi thúc đi kinh tế mới. Cuối cùng em nó phải nghĩ đến chuyện sống còn và nuôi con. Nó mới đành phải lấy cái thằng yêu nó lúc 2 đứa cùng chung trường trung học với nhau. Anh cứ tạm ở đây đi. Nhưng xin Anh xữ đẹp và hiểu là chúng đã có 2 con với nhau và nuôi luôn cả 2 con của Anh nữa…

Sét đánh ngang tai. Đất trời sụp đổ. Điều lo âu sợ hải nhất của người cải tạo trong những ngày tháng tù đày vô vọng đã phơi bày. Nổi tủi nhục bị phản bội ê chề. Không một đắn đo và trong một thôi thúc nghịch lý, Anh quyết định rời nhà dù chưa biết mình sẽ đi đâu. Một quyết định nhanh chóng và sắc bén, như Anh đã từng làm nhiều lần trong lâm nguy khi Anh còn chỉ huy cả trăm quân trong trận mạc. Anh ngập ngừng đến bàn vuốt đầu 2 con rồi lặng lẻ bước ra. Thêm một lần nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang, nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải.

Trôi theo dòng đời của một con người không còn gì đế mất thêm, Anh làm tất cả công việc lớn nhỏ, nặng nhẹ, để sống còn. Từ làm thuê ở chợ, khuân vác ở cảng, đạp xe xích lô, xe ba bánh chở hàng chở than…Rồi cũng như bao chiến hữu xưa cũ, bao bạn tù, Anh gia nhập dần vào cuộc sống bên lề xả hội, luôn mang nặng ưu tư của một thân phận thua thiệt với vết thương lòng sâu kín. Vài năm sau, Anh lấy vợ, là em gái của một bạn cùng khóa VBQG với Anh, có chồng thiếu úy bị chết ở vùng Cao Nguyên trong những tháng trước khi mất nước, nay đang sống với 2 đứa con trai gần bằng tuổi con Anh. Người vợ thứ hai của Anh có một cửa hàng nhỏ nên tài chánh trong gia đình không mấy chật vật. Mổi tháng, đôi ba lần, Anh không quên ghé thăm 2 đứa con gái, đem theo chút quà cho chúng và tiếp tục làm thân. Có lúc không tránh được, Anh phải chạm mặt người vợ trước cùng người chồng trẻ hiện tại và 2 đứa con chung còn nhỏ, một trai một gái. Trong những lần đối diện hiếm hoi ấy, sự thù hận, đau đớn và chua chát làm người Anh cứng lại và giọng nói hằn học, cộc lốc.

Rồi chương trình HO xuất hiện. Lúc đầu chẳng mấy ai tin, nhưng rồi phường khóm tiếp tục gởi giấy thông báo, thúc giục. Sau đợt đầu tiên chính thức ra đi năm 1990, những tù cải tạo còn lại trong nước, xa gần thành phố hay bên trong các trại tù, nhìn thấy chính phủ Hoa Kỳ đang thi hành một chính sách nhân đạo để giúp đở những tù nhân chiến tranh bị giam cầm trên 3 năm. Anh bàn tính với vợ mới, rồi với vợ cũ. 2 con gái của Anh ráp vào hồ sơ đi chung với gia đình vợ mới của Anh. Hai con gái của Anh kêu Anh là Bố. Hai con trai của vợ sau kêu Anh bằng Tía. Tháng 4 năm 1991, Anh cùng vợ thứ hai và 4 con đến TB Wisconsin, định cư tại đó cho đến bây giờ.

Tôi ngở ngàng, xót xa giữ im lặng, ngồi nghe anh tâm sự. Tặng chút tiền làm quà cho các cháu, tôi cầu mong Anh được sức khỏe, gia đình hạnh phúc. Đời sống sớm ổn định, các cháu ngoan và học hành giỏi, chóng thích hợp với xả hội mới.

Tháng 10 năm 1999, Anh điện thoại hẹn dẫn Chị đến thăm chúng tôi tại nhà. Khác hẳn với 7 năm trước, Anh trông phương phi với nét mặt hồng hào, ánh mắt tinh anh trở lại. Anh thật sự nhìn trẻ hơn trước, với cách ăn nói và dáng điệu của một con người có tự tin, đầy sức sống. Như muốn tôi vừa là nhân chứng vừa là thân quen để Anh chia xẻ tâm tình, Anh đi ngay vào câu chuyện.

Đến Hoa Kỳ khi gần 50 tuổi, Anh bắt đầu cuộc sống mới bằng cách đi học lại trong 2 năm, và nay Anh là nhân viên sở công chánh nơi thành phố Anh ở. Chị làm tá viên điều dưỡng cho một viện dưỡng lảo gần nhà. Cô con gái đầu thành công trong nghề nail, vừa sang lại một tiệm riêng, có chồng và một đứa con trai. Cô con gái út đang còn học năm cuối chương trình Nursing. Con trai đầu của vợ sau là một kỷ sư Điện, còn độc thân. Con trai thứ hai hiện học ngành Physical Therapy. Anh chị mua được cái nhà, ở chung với cô con gái út và 2 cậu con trai.

Tôi lên tiếng chung vui, hãnh diện với Anh về những gặt hái tốt đẹp của gia đình Anh trong thời gian ngắn chỉ 7 năm trên quê hương thứ hai này. Tôi nói ra sự nhận xét của mình khi nhìn thấy Anh măt mày rạng rở và hạnh phúc, miệng cười tươi thắm, thật khác hẳn khi gặp Anh lần đầu tại đất Mỹ. Hẳn phải có một điều gì huyền diệu đã xẩy ra!

Một buổi chiều cách đây vài năm, theo một người bạn đến nhà thờ Tin Lành, Anh nghe vị Mục Sư người Việt rao giảng đề tài “Tha Thứ và Độ Lượng”. Tha thứ người để người tha thứ ta! Độ lượng với người cũng như độ lượng với chính mình trong mưu tìm hạnh phúc! Bài giảng như ánh sáng nhiệm mầu chiếu thẳng vào tâm hồn. Vực Anh dậy và Anh bổng nhìn ra chân lý. Sự cảm thông sẽ dễ dàng dẫn đưa đến lòng tha thứ. Thời gian giúp xoa dịu và chửa lành bao vết thương lòng. Những lời giáo huấn đưa Anh ra khỏi hận thù uất ức. Nâng tâm hồn Anh lên khỏi sự khinh ghét, dẫn đến tình thương độ lượng. Anh may mắn tìm được niềm tin mới và sự bình an trong tâm hồn.

Qua bao nhiêu năm, Anh cũng đã từng ân hận, dằn vặt về những lổi lầm trong đời binh nghiệp của mình. Càng nhớ đến những chiến trận, Anh càng thấy được những sai trái lớn nhỏ trong chỉ huy, những thiếu sót tham mưu, những hy sinh đáng tiếc hoặc không cần thiết của binh sĩ thuộc quyền. Có hay không Anh thực sự một vị chỉ huy giỏi, kinh nghiệm và trách nhiệm như Anh vẫn thường nghĩ?! Có hay không Anh thực sự được thương mến, kính nể mà không phải vì chức vụ thượng cấp của Anh?! Và có hay không Anh đối xữ công bình, có trên có dưới, thương yêu đùm bọc thuộc cấp của mình?!

Anh chẳng thể quên tiếng khóc của cha mẹ những binh sĩ tử trận, những ai oán của cô nhi quả phụ. Như trường hợp thằng đệ tử thân tín từng theo Anh bao nhiêu năm, lo cho Anh từng bửa ăn, pha cho Anh từng ly cà phê, đào hầm ngồi canh cho Anh trong đêm, mang áo quần treo mùng cho Anh…Thế mà vì nó trình diện đơn vị trể 15 ngày sau khi đã được nghỉ phép 1 tuần về thăm nhà, Anh nổi giận, đưa nó ra bên ngoài với trung đội tác chiến, để chưa đến 5 ngày sau thì nó bị chết vì đạp mìn.

Câu chuyện về cái chết của thằng đệ tử luôn ám ảnh và dày vò lương tâm Anh. Rồi bao nhiêu thương binh, bao nhiêu tử thương khác, mà Anh vẫn mãi nhớ mặt nhớ tên, nhớ luôn cả từng địa điểm đụng nặng hay đụng nhẹ, trong làng mạc, trên cánh đồng lúa, trên con đường ruộng hay cạnh bìa rừng…Chính những vui buồn đời quân ngũ đó, những hình ảnh chiến đấu đó đã đóng khung trong đầu Anh và vẫn tồn tại trong tim óc Anh qua bao năm trong tù, nhiều và nhiều gấp bội so với những kỷ niệm Anh có với vợ con.

Rồi đến chuyện Anh lấy vợ. “Ông Thầy” lấy con gái “đệ tử”, đâu giống mấy chuyện tình bình thường.

Từ thủa mới về đơn vị, vì Anh độc thân và không có gia đình tại chổ nên một người Trung Sĩ thường xuyên mời “Ông Thầy” về nhà chơi. Ròng rả mấy năm, mối quan hệ Thầy Trò càng khắn khít, nhất là khi Anh thăng cấp dần và người Trung Sĩ được gắn lon Thượng Sĩ. Chuyện lấy con gái cưng của vợ chồng ông Thượng Sĩ thuộc cấp này tự nhiên đến mà ngay chính Anh cũng ngạc nhiên khi nhận lời.

Không hẳn như tiền định, nhưng như một sắp đặt khó từ chối khi cha nàng ướm lời trong một bửa tiệc của đơn vị. Bấy giờ nàng chỉ là một cô bé 18 tuổi đang học lớp 12. Đối với Anh, lấy vợ trong lứa tuổi cần lấy vợ, vào giai đoạn mà đàn ông, nhất là trong giới võ biền, thường nghĩ đến sau khi đã có một chút danh phận. Anh biết đây không phải là một mối tình say đắm vì Anh không còn ở lứa tuổi bồng bột đam mê. Chính vì vậy Anh không có những rung động thật sự bên nàng, chưa có những câu nói tình tứ với nàng. Không phải chầu chực săn đón nàng. Không có những kỷ niệm hữu tình, những khung cảnh lãng mạn bên nhau. Không luôn những phút lưu luyến, những cử chỉ gắn bó. Có một cái gì đó khiến cuộc sống vợ chồng có phần lổi nhịp. Anh thường tự hỏi có thể số tuổi 12 năm cách nhau giữa vợ chồng khiến Anh thầm xem nàng như một người vợ bé bỏng cần nơi nương tựa vững vàng, và Anh một ông chồng quyền uy, vì nếu cần liên lạc với nàng, đôi khi anh chỉ nhắn qua cha nàng, thế là xong.

Còn về phía nàng?

Nàng lớn lên trong một gia đình có khuôn khổ nề nếp quân đội, với người cha cứng rắn trong phong cách. Khi cha mẹ nàng quyết định nàng nên lấy Anh, vừa là một ông Đại Úy vừa là một Ông Thầy, ông xếp của cha, nàng không có lý do từ chối và cải lời cha mẹ. Có thể nàng cũng bị choáng ngợp vì Anh là thượng cấp của chính cha mình, vì Anh được cả trăm binh sĩ chào kính, vì Anh có chức vị đem đến sự ổn định cho cuộc sống tương lai... Yêu chồng hẳn là chưa yêu nhưng kính phục và thỏa mãn hãnh diện với chúng bạn là điều đương nhiên. Một vài người bạn cùng trường cũng có người yêu là lính, nhưng cùng lắm chỉ là chuẩn úy hay thiếu úy gì đó chứ làm gì tới chức Đại Úy như Anh. Nhìn Anh trong quân phục nàng thấy Anh hiên ngang và oai dũng, giống như cha mình vậy. Có được tấm chồng như Anh cũng được rồi, kén chọn chi nữa! Mẹ nàng đã chẳng từng nói như vậy, thêm rằng cha nàng nay là Thượng Sĩ và sẽ mãi mãi là Thượng Sĩ. Nhưng chồng tương lai của nàng nay là Đại Úy, mai đây lên lon, sẽ là Thiếu Tá, Đại Tá hoặc ngay cả Tướng cũng không chừng! Cả nhà ta sẽ thơm lây…

Khi vận nước thay đổi, chồng ở tù cải tạo, số tiền nhỏ nhoi dành dụm từ lương hàng tháng của chồng cạn mau. Gia đình nàng sa sút theo thời gian, bán dần đồ đạc của cải trong nhà cũng chẳng thể cứu vãn. 22 tuổi với 2 đứa con dại trong tay, chưa một lần đụng chạm với đời ngoài bổn phận làm vợ, làm mẹ, nay nàng đành bung ra thế giới bên ngoài tìm cách mua bán làm ăn, bôn ba hùn hạp với các bạn hàng khác và đơn độc chống trả nhiều cạm bẩy. Quá mệt mỏi và tinh thần căng thẳng, nàng chẳng có mấy thì giờ nghĩ đến chồng. Nhưng ông trời không có mắt, mớ vốn liếng ít ỏi cũng mất sạch. Cha nàng, người từng dạy khôn nàng phải lấy ông Thầy Đại úy của mình, nay lãi nhãi muốn nàng bỏ chồng- vì trước sau gì nó cũng không có ngày về và sẽ chết trong tù- để lấy người bạn học trước đây với nàng. Người đó chạy mối bán thuốc tây và hàng ngoại rất khấm khá và tháo vát. Đến đường cùng và để tránh bị đuổi đi kinh tế mới, nàng đành buông theo số phận, yên lặng bỏ người chồng trước. Biết làm như vậy là có lổi nặng với chồng trước, nhưng thà nàng về làm vợ với một người đứng đắn, từng quen biết và thầm kín yêu mình qua bao nhiêu năm còn hơn là phải nhắm mắt chung chạ với cả trăm người để mưu sinh. Có trời mới hiểu được cái khổ của nàng trong quyết định mà bên nào cũng chỉ là phần thua thiệt.

Từ khi định cư, qua thời gian sống chung với các con, nghe các con gái kể chuyện về Mẹ, nhắc Mẹ từng yêu thương chăm sóc cho chúng, bảo vệ chúng khi bị bạn hàng xóm ăn hiếp; và Ba Dượng cưu mang đùm bọc cả gia đình, yêu thương chúng như con ruột của mình, y như 2 đứa nhỏ sau này. Chúng ghi nhận từ ngày có Ba Dượng, cuộc sống gia đình có phần ổn định hơn. Các con Anh chẳng được biết nhiều về Bố của mình cho đến ngày Anh xuất hiện. Bà Ngoại có giải thích đôi chút, nhưng Mẹ vẫn giữ im lặng. Chúng luôn bênh vực Mẹ và bày tỏ uớc mong Bố thấu hiểu cảnh khổ của Mẹ và gia đình nhất là trong những năm đầu sau khi Bố đi tù. Tâm sự của các con và lời rao giảng của vị Mục Sư giúp lòng Anh nhẹ hẳn từ đó. Không còn thắc mắc về những bất hạnh xẩy ra cho đời mình trước đây, Anh dần dần thấy cuộc đời trong sáng hơn và có lại niềm tin vui.

Các con Anh đã làm giấy tờ bảo lãnh Mẹ, Ba Dượng và 2 em qua Mỹ. Chính Anh là người thúc đầy làm giấy tờ, và theo dỏi tình trạng cứu xét đơn. Anh thường nhắc nhở 2 con gái dành dụm tiền gởi về cho Mẹ và Ba Dượng. Chính Anh cũng thường xuyên đóng góp phần mình. Thỉnh thoảnh Anh có nhận một vài lời gởi thăm của nàng qua thư con gái. Trong một thư gần đây nhất, nàng viết “Xin hảy tha thứ cho em và tha thứ cho nhau”. Như một trả lời cho lá thư dài Anh gởi nàng kèm theo trong cùng lá thư của con mà trong đó Anh đã viết, lần đầu tiên, lời cám ơn nàng đã thay Anh nuôi 2 con gái từ nhỏ cho đến khôn lớn, trong suốt thời gian Anh không có mặt và cả 7-8 năm sau khi Anh ở tù về. Nay đến phiên Anh sẽ tiếp tục chăm sóc các con cho nên người tốt. Anh không quên nhấn mạnh lòng biết ơn của mình đối với nước Mỹ đầy tình người. Nhờ đó Anh mới giác ngộ và tìm thấy mùa xuân đang từ từ nở muộn trong tuổi già.

Hè 2009, chúng tôi lại gặp nhau, lần này được giới thiệu với một cặp vợ chồng trẻ tuổi hơn. Họ là Mẹ và Ba Dượng của 2 con gái, vừa đuợc bảo lãnh qua Mỹ khoảng 6 tháng. Xum họp nào cũng vang dậy những tiếng cười, tiếng vổ tay, tiếng cụng ly và những lời chúc tụng. Đó là âm thanh của vui mừng hội ngộ, của hạnh phúc, của tình thân lẫn trong giọng nói của Anh, sảng khoái và nồng ấm.

Mẹ và Ba Dượng cùng một con trai và một con gái tạm thời ở chung với gia đình con gái đầu của Anh. Con gái đầu nay làm chủ 2 tiệm nail và có 3 con. Chồng nguời Việt, làm về bảo hiểm. Con gái thứ hai của Anh là một Registered Nurse từ nhiều năm qua, hiện làm cho một bệnh viện trong thành phố; lập gia đình với chồng người Mỹ chuyên viên về Siêu Âm và có 2 con. Con trai lớn kêu Anh bằng Tía, một kỷ sư điện, có vợ người Mỹ gốc Mễ và 2 con. Con trai thứ hai cũng kêu Anh bằng Tía, hành nghề Physical Therapist, lấy vợ Mỹ gốc Trung Hoa, cùng nghề với chồng và cũng có 2 con. Mẹ đang theo học nghề nail với con gái lớn. Ba Dượng đang lấy lớp học Anh Văn ở Đại Học Cộng Đồng. Con trai đầu của Mẹ và Ba Dượng có ý muốn theo học ngành cơ khí sửa xe hơi, và con gái út dự định học Medical Assistant.

Đại gia đình họ ở trong cùng một thành phố với nhau, nhà này cách nhà kia không quá 15 phút lái xe. Tôi chọc Anh mổi khi họp mặt gia đình kiểu Hiệp Chủng Quốc này, làm sao biết tên để gọi nhau cho đúng mà không sợ lộn xộn. Anh nhanh chóng trả lời dể ẹt. Nếu kêu Bố hay Tía thì đó là Anh, kêu Má tức là vợ sau của Anh, kêu Mẹ tức là vợ của Dượng đồng thời mẹ của 2 con gái Anh và của 2 đứa con trai và con gái sau này. Nếu nghe gọi Ba hay Ba Dượng thì đó là dượng sau của mấy đứa con gái Anh. Còn 9 đứa cháu, chỉ cần kêu Grand Pa và Grand Ma là đủ. Và chúng có đầy đủ 2 sets Grand Pa và Grand Ma.

Chuyến đi chơi liên tiểu bang đầu tiên của đại gia đình Anh, với tất cả con trai gái, dâu rể và cháu nội ngoại. Lớn nhỏ tất cả gồm 23 người, trong một đoàn convoi nhiều xe do Anh lên chương trình kế hoạch, chỉ huy và dẫn đầu. Cuộc đi chơi này là một món quà đón mừng Mẹ và Ba Dượng được đoàn tụ. Chốc nữa, Anh sẽ lái xuống San Diego đến chổ hẹn với các xe kia. Mọi người cười lớn khi nghe tôi nói Anh bây giờ xệ hơn trước nhiều vì bị giáng cấp, từ một Tiểu Đoàn Trưởng nay chỉ là một Trung Đội Trưởng, lúc xưa hét ra lửa và oai biết bao nhiêu, bây giờ con cháu sai đâu chạy đó. Anh thành thật trả lời Anh may mắn nhiều và rất hạnh phúc mới còn có trung đội để chăm lo.

Phải chăng sự cởi mở về tư tưởng, sự bao dung và quảng đại của xả hội Mỹ đã khiến con người dễ hướng thiện và vị tha. Rỏ ràng nhất, nước Mỹ luôn mở rộng tấm lòng đón nhận các nạn nhân chiến tranh, tạo cho những di dân mới mọi cơ hội để vươn lên, làm lại cuộc đời. Ở đâu trên thế giới có thiên tai là ở đó có sự hiện diện và giúp đở của nước Mỹ. Ngoài đường phố, trong hội quán, đâu đâu cũng nghe những chào hỏi thân mật và tiếng cám ơn. Từ trường học cho đến cơ sở công tư, nhà thờ, đâu đâu cũng kêu gọi làm việc thiện nguyện, giúp đở cộng đồng, thăm viếng người già cô đơn, săn sóc kẻ bất hạnh, nghèo khó, tàn tật. Đâu đâu cũng đóng góp cho quỹ cứu trợ, cứu đói, cứu giúp người vô gia cư, cứu trợ nạn nhân thiên tai… Và đâu đâu cũng có những câu chuyện, dĩ nhiên, tương tự như câu chuyện của Anh. Những câu chuyện muôn thủa của tình thương và tha thứ, của khoan hồng độ lượng. Một câu chuyện mà chính Anh muốn gởi đến cho mọi người như một ơn soi sáng cứu độ từ Thiên Chúa.

Tin giờ chót, vợ chồng người Thượng Sĩ già cũng vừa xum họp với đại gia đình, qua sự bảo trợ của chính con gái mình. Chúng tôi hẹn sẽ đến thăm Anh vào dịp lể Thanksgiving khi đại gia đình Anh ổn định hơn. Trước là để chung vui, kế để xem thử ai là người trung đội trưởng của clan. Vẫn là Anh hay Anh đã truyền chức lại cho người thuộc hạ thân tình ngày xưa.

Hậu Đính, Tháng 3, 2019.
Vĩnh Chánh

PS. Anh C. bình an từ trần tháng 3, 2017, với sự hiện diện của tất cả người thân bên cạnh. Rất tiếc chúng tôi không có cơ hội thăm anh như ước muốn.

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên

Viết tặng các phụ nữ sống trong thử thách và nghịch cảnh và để vinh danh Tình Yêu Thương và Tha Thứ của Thiên Chúa

Posted by Anges at 5:20 AM No comments:
Labels: Vĩnh Chánh
Older Posts Home
Subscribe to: Posts (Atom)

Blog Archive

  • ▼  2026 (1837)
    • ▼  July (326)
      • Tổng Thống Donald TrumpHôm nay tôi cuối cùng đã hi...
      • Sử Dụng Chung Cư Có Thời Hạn | Bắt Khám Sức Khoẻ Đ...
      • "Những Thay Đổi Ở Tuổi 73" Tôi, Trần Văn Giang, bắ...
      • F4 năm xưaCâu chuyện về chiếc máy bay F-4 đẩy một ...
      • Người Tài Xế Xe Tải Xăm Trổ Và Mạng Lưới Thiên Thầ...
      • Mậu Thân và Thầy chùa thiên mụÔng là thầy chùa ở T...
      • “AI “ CƯỚP VIỆC? VẬY TƯƠNG LAI ĐI VỀ ĐÂU?Mười năm ...
      • NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ !Khi ông Trump vận đ...
      • Cha con 'vua rác' David Dương và các phi vụ tai ti...
      • Mạng lưới lừa đảo vừa từ Cambodia qua Malaysia lập...
      • David Schertler, một trong nhóm khoảng nửa tá luật...
      • 20 năm sau vụ ngoại tình chấn động California, hôm...
      • Tân tổng thống của Peru, bà Keiko Fujimori vừa tuy...
      • Cơ quan Thuế quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP)...
      • Thị trưởng New York cho công khai địa chỉ và danh ...
      • Mặt dầy?Quân Alameda - nơi hội đồng quận vừa...
      • CHUYỆN TÔI CHỤP CỔ VẬT CHAMPA30 năm trước -hàng xó...
      • “Bị kẻ ngu ghét bỏ đôi khi chỉ là cái giá phải trả...
      • Tổng thống Donald Trump và nữ phóng viên Kaitlan C...
      • Lừa đảo  ở Cambodia52 người Việt bị bắt tại Cambod...
      • TÔN TRUNG SƠN GẶP TỐNG KHÁNH LINH VÀ THỐT LÊN CÂU ...
      • Phó Thống đốc Dân chủ đương nhiệm của Hawaii, bà S...
      • DÂN BIỂU THOMAS MASSIE HỢP TÁC VỚI ĐẢNG DÂN CHỦ TH...
      • "Cực hữu" hoá ra lại bình thường, đôi khi còn "dễ ...
      • FOOTSCRAY, MelbourneKhu ngoại ô nổi tiếng của Melb...
      • Vì Sao Tôi Viết "Mỳ Quảng" Mà Không Viết "Mi...
      • Quyền sở hữu trí tuệ Khác với mấy tháng trước, nay...
      • NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀUỞ đây, chúng ta không bàn chu...
      • NHỚ TÔ MÌ ‘THẤT NGHIỆP’ Ở TÂN ĐỊNH, SÀI GÒN XƯA1.T...
      • LEAGUE CITY: CẢNH SÁT TÓM GỌN ĐƯỜNG DÂY TRỘM CẮP H...
      • NHẬT KÝ CỦA THỊ NỞChủ nhật, mới 6 giờ kém, còn đan...
      • Ba tháng trước — ngày 25 tháng 4 năm 2026.Một sự k...
      • 5 tách cà phê: bạn sống thêm bao lâu?Là người uống...
      • TỶ PHÚ KỸ THUẬT NAM HÀN CÓ THỂ PHẢI TRẢ GẦN $1 TỶ ...
      • Tin VắnFB Le Hoang- Nghe dân biểu Harriet Hageman...
      • Đại chủng viện Thánh Giuse Sài GònNằm bên trong Đạ...
      • Niềm tinHồi nhỏ mình chơi coins thì nghe người ta ...
      • Những Lá Thư Không Bao Giờ Đến Trước đây, mỗi lần ...
      • Gian lận bầu cửGian lận bầu cử không chỉ ri...
      • GIÁO CHỦ MỚI IRAN NGUY HIỂM HƠN CHA? HỒ SƠ BIDEN V...
      • NỘI CHIẾN BẮC NAM TẠI TRẠI TỊ NẠN HONG KONG…1- Hươ...
      • THẬT RA ÔNG TRUMP KHÔNG TỐT NHƯ MÌNH ĐÃ NGHĨĐó giờ...
      • Bước chậm lại giữa nhân gian vội vãĐể mang đến hạn...
      • Đàn BàTôi đi chợ về với nét mặt bơ phờ xơ xác chồn...
      • Inside the Underground Movement to Restore the Rep...
      • Cựu Giám đốc FBI Comey lặng lẽ hợp tác với tư cách...
      • 11 NGƯỜI BỊ TRUY TỐ LIÊN BANG SAU CÁI CHẾT CỦA 7 D...
      • Từ hôm nay, 24/07/2026, Mỹ chính thức áp 12.5% lên...
      • Các hoạt động lừa đảo tại CambodiaThủ tướng Hun Ma...
      • Giám đốc FBI Kash Patel qua Bắc Kinh"Tôi đã trở lạ...
      • Woman who fled communism ERUPTS at DSA leader - Ca...
      • Tin VắnFB Le Hoang-Tổ chức realamerica.vote đưa...
      • Patriot Says Americans Pay… While Illegals Come First
      • Hoa Kỳ khẳng định vai trò chiến lược tại Đông Nam ...
      • Ngoại trưởng Marco Rubio vừa chính thức công bố ch...
      • Ngành đi lừaHôm qua, ngày 21 tháng 7, Liên Hợp Quố...
      • Một Ngày Trong Đời Của Ông JohnbNăm 2050Lúc bấy gi...
      • HAI Ổ BÁNH MÌCó những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài vài ...
      • Phi công Hải Quân Hoa Kỳ Dieter Dengle - 23 ngày t...
      • TÔI CHÍNH THỨC TRỞ THÀNH CƯ DÂN ARIZONA!Từ sau cơn...
      • Bài học Na Uy: Câu chuyện "hũ gạo" và tầm nhìn xuy...
      • NẾU MỸ XẾP THỨ HAI...THÌ TÔI THẬT SỰ KHÔNG BIẾT AI...
      • Siết Chặt Thẻ Xanh | Mỹ Quýnh Sập Cầu Huyết Mạch V...
      • NGUYỄN TẤT NHIÊN - THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH…Nguyễn ...
      • Susan Kokinda: Globalism Must Die
      • VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGSau một phần t...
      • NHỮNG ĐOẠN ĐƯỜNG TỪ TRONG HỒI ỨCTưởng nhớ LÊ MINH ...
      • To Kill A PriestĐó là tựa đề của một cuộn phim do ...
      • Chế độ quái ácTại Việt Nam ngày nay, những người x...
      • "Cô Độc Phong Sát": Phong Thủy Làng Phong Cùi - Là...
      • Tin VắnFB Le Hoang- 2 vụ án nhưng kết quả kha...
      • Philippines và Trung cộng mới đụng độ tại Bãi Cỏ M...
      • Hai anh em người Ấn Độ "tự nộp mình" khi cả gan đế...
      • Mục sư Ezra Jin Mingri (Kim Minh Nhật) và gia đình...
      • Đại học Harvard bị điều traPhụ tá Tổng chưởng lý b...
      • Một Cái Tên Xuất Hiện Trong Hồ Sơ, Và Cách Người T...
      • CHA ƠI!Cha ơi! Tiếng gọi cha trong vô vọng, có chú...
      • PhiếmHôm trước đi ăn với thằng bạn, nó kể chuyện. ...
      • GIỌT MÁU ĐÀOMỗi thứ Tư chồng tôi lại rời nhà đi từ...
      • NĂM CHỊ EM GÁIHồi xưa từ Sài Gòn qua California ở ...
      • THẦN TƯỢNG MỘT NGƯỜI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ PHẢI HẠ THẤ...
      • Tại sao phim đề tài Miền Nam nhưng tâm lý và văn h...
      • Ba Kẻ Đối Đầu, Một Kẻ Đáng SợTháng 9 năm 1780, bên...
      • THƯỢNG ĐẾ CỦA SPINOZAKhi A. Einstein giảng bài tại...
      • CHUYỆN TÌNH CỦA “NGÔI SAO TỬ TẾ NHẤT THẾ GIỚI” - K...
      • NGƯƠÌ PHI CÔNG TRỰC THĂNG NỔI TIẾNG( Chuyện thật đ...
      • Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm nay 20/7/2026, công bố mộ...
      • Cảnh sát Anaheim, Quận Cam mới tịch thu gần 1 tấn ...
      • Bắt tại chỗ một tên vừa tấn công văn phòng thực đị...
      • Mamdani đòi bắt Thủ tướng Netanyahu. Ngựa non háu ...
      • CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓ...
      • Tin VắnFB Le Hoang- Hai quân nhân Hoa Kỳ ở Jordan...
      • ĐỘI VÔ ĐỊCH WORLD CUP 2026 SẼ NHẬN $51 TRIỆU MỸ KI...
      •  NGƯỜI KHÁCH ĐI XETrung chạy xích lô cũng hơn ba n...
      • Ngôi Nhà Tuổi Thơ Của Tổng Thống Donald J. Trump Đ...
      • Ngôi chùa không mái(Phóng tác theo chuyện kể của b...
      • TƯỞNG NIỆM 70 NĂM BÀ “CÁT HANH LONG”- NGUYỄN THỊ N...
      • TÀN TRO DƯỚI GÓT CHÂN TRẦN(Lời nói đầu: đây là 1 c...
      • World Cup do Mỹ cùng đăng cai đông vui nhất lịch s...
      • Marco Rubio: Nước Mỹ sẽ không còn phớt lờ mối đe d...
      • Kể chuyện trị bệnh tuyến giápCó lần mình bị đau cổ...
      • Bầu cử gian lậnNhiều chuyện bầu cử gian lậ...
      • Flock camera và Palantir softwareFlock Camera là...
      • Thanh niên Công giáo Pakistan Akash Bashir và “Hồ ...
      • Nghệ sĩ bất đồng chính kiến nổi tiếng người Cuba L...
      • ĐIỀM BÁONăm 1972, mùa gió chướng thổi dọc sông Tiề...
      • Ký Ức Pulau BidongĐã hơn 45 năm trôi qua kể từ ngà...
      • PHÓ TỔNG THỐNG JD VANCE CẢNH BÁO CHIẾN TRANH TOÀN ...
      • Thống tướng Douglas MacArthur có công lao thế nào ...
      • CIA cố tình giấu Tổng thống Trump thông tin về sự ...
      • DỌN NHÀ RA SÂN BÁN "VE CHAI", AI NGỜ KIẾM ĐƯỢC CẢ ...
      • TRUNG QUỐC BẮT GIỮ NHÀ KHOA HỌC MỸ VÌ "CHIẾC CHÌA ...
      • Mỡ heoMỡ heo bị đẩy ra khỏi nhà bếp không phải vì ...
      • Tổng thống Trump vừa đăng lại bài phát biểu của JF...
      • TUỞNG TUI MUỐN SỐNG LẲM HẢ?Ðang chạy ngon lành trê...
      • Xôi ĐậuQuê tui ở Long An - cái xứ mà trời đất cũng...
      • ĐÈO HẢI VÂN – CHÚNG TA ĐANG LÀM GÌ VỚI THIÊN NHIÊN...
      • Bắc Kinh vừa giáng một đòn phản bội địa chính trị ...
      • Một kỷ niệm đẹp ở CaliforniaMùa thu năm 1992 hai a...
      • Dòng Đời Đưa ĐẩyPhan Thanh Tâm nguyên là một ký gi...
      • TẠ ƠN PULAU BIDONG - HÒN ĐẢO CƯU MANG NHỮNG MẢNH Đ...
      • Người Mỹ gốc ViệtTheo số liệu Cục Thống kê Dân số ...
      • BẠN ĐÃ SẴN SÀNG CHƯA? Vì tối nay, tâm điểm sẽ là P...
      • TẠI SAO TÔI YÊU NƯỚC MỸMột anh bạn ngoại quốc hỏi:...
      • Chiều muộn, cơn mưa vẫn kéo dài.Trong căn nhà nhỏ ...
      • HẬN THÙ KHÔN NGUÔIChúng ta thường tiếc nuối những ...
      • Có những người đi ngang cuộc đời mình nhanh như cơ...
      • Văn hóa NhậtNgười Nhật không kết hôn, không sinh c...
    • ►  June (313)
    • ►  May (305)
    • ►  April (348)
    • ►  March (245)
    • ►  February (169)
    • ►  January (131)
  • ►  2025 (1613)
    • ►  December (114)
    • ►  November (116)
    • ►  October (167)
    • ►  September (140)
    • ►  August (147)
    • ►  July (103)
    • ►  June (132)
    • ►  May (111)
    • ►  April (173)
    • ►  March (189)
    • ►  February (135)
    • ►  January (86)
  • ►  2024 (1387)
    • ►  December (79)
    • ►  November (129)
    • ►  October (145)
    • ►  September (110)
    • ►  August (121)
    • ►  July (99)
    • ►  June (116)
    • ►  May (94)
    • ►  April (120)
    • ►  March (131)
    • ►  February (114)
    • ►  January (129)
  • ►  2023 (1491)
    • ►  December (139)
    • ►  November (122)
    • ►  October (92)
    • ►  September (131)
    • ►  August (109)
    • ►  July (107)
    • ►  June (110)
    • ►  May (136)
    • ►  April (159)
    • ►  March (172)
    • ►  February (98)
    • ►  January (116)
  • ►  2022 (1345)
    • ►  December (103)
    • ►  November (143)
    • ►  October (156)
    • ►  September (173)
    • ►  August (149)
    • ►  July (130)
    • ►  June (79)
    • ►  May (90)
    • ►  April (72)
    • ►  March (64)
    • ►  February (90)
    • ►  January (96)
  • ►  2021 (1455)
    • ►  December (102)
    • ►  November (97)
    • ►  October (109)
    • ►  September (128)
    • ►  August (115)
    • ►  July (126)
    • ►  June (78)
    • ►  May (120)
    • ►  April (147)
    • ►  March (115)
    • ►  February (125)
    • ►  January (193)
  • ►  2020 (2703)
    • ►  December (246)
    • ►  November (225)
    • ►  October (214)
    • ►  September (207)
    • ►  August (242)
    • ►  July (222)
    • ►  June (265)
    • ►  May (233)
    • ►  April (254)
    • ►  March (230)
    • ►  February (166)
    • ►  January (199)
  • ►  2019 (2026)
    • ►  December (174)
    • ►  November (180)
    • ►  October (195)
    • ►  September (221)
    • ►  August (161)
    • ►  July (134)
    • ►  June (172)
    • ►  May (128)
    • ►  April (149)
    • ►  March (143)
    • ►  February (177)
    • ►  January (192)
  • ►  2018 (1940)
    • ►  December (174)
    • ►  November (214)
    • ►  October (187)
    • ►  September (158)
    • ►  August (169)
    • ►  July (178)
    • ►  June (199)
    • ►  May (162)
    • ►  April (124)
    • ►  March (147)
    • ►  February (85)
    • ►  January (143)
  • ►  2017 (1677)
    • ►  December (150)
    • ►  November (191)
    • ►  October (177)
    • ►  September (155)
    • ►  August (187)
    • ►  July (129)
    • ►  June (96)
    • ►  May (130)
    • ►  April (156)
    • ►  March (140)
    • ►  February (78)
    • ►  January (88)
  • ►  2016 (1423)
    • ►  December (100)
    • ►  November (118)
    • ►  October (131)
    • ►  September (123)
    • ►  August (151)
    • ►  July (128)
    • ►  June (105)
    • ►  May (100)
    • ►  April (167)
    • ►  March (107)
    • ►  February (106)
    • ►  January (87)
  • ►  2015 (1258)
    • ►  December (111)
    • ►  November (113)
    • ►  October (88)
    • ►  September (89)
    • ►  August (85)
    • ►  July (121)
    • ►  June (99)
    • ►  May (122)
    • ►  April (113)
    • ►  March (133)
    • ►  February (147)
    • ►  January (37)
  • ►  2014 (28)
    • ►  December (16)
    • ►  November (11)
    • ►  October (1)
  • ►  2012 (4)
    • ►  May (2)
    • ►  April (2)
  • ►  2011 (12)
    • ►  April (12)
  • ►  2010 (141)
    • ►  August (4)
    • ►  July (4)
    • ►  June (18)
    • ►  May (28)
    • ►  April (24)
    • ►  March (17)
    • ►  February (10)
    • ►  January (36)
  • ►  2009 (183)
    • ►  December (6)
    • ►  November (6)
    • ►  October (5)
    • ►  September (1)
    • ►  August (5)
    • ►  July (29)
    • ►  June (24)
    • ►  May (20)
    • ►  April (21)
    • ►  March (17)
    • ►  February (21)
    • ►  January (28)
  • ►  2008 (358)
    • ►  December (31)
    • ►  November (54)
    • ►  October (56)
    • ►  September (54)
    • ►  August (31)
    • ►  July (27)
    • ►  June (39)
    • ►  May (30)
    • ►  April (30)
    • ►  March (6)

About Me

Anges
View my complete profile
title

Followers

Labels

  • Phiem (3408)
  • News (2971)
  • Chính Trị (2285)
  • Vũ Linh (973)
  • Loi Hay Y Dep (882)
  • Y Hoc/Suc Khoe (758)
  • Video (693)
  • Van Hoa (511)
  • Quoc han 30/04 (472)
  • Am thuc (347)
  • Du Lich (277)
  • nhac (276)
  • Kinh Te (242)
  • KHOA HỌC (223)
  • Van chuong (219)
  • Ton Giao (209)
  • Danh Nha^n (185)
  • người lính Việt Nam Cộng Hoà (163)
  • Diem sach (144)
  • thiên nhiên (142)
  • Nguyễn Thị Thanh Dương (135)
  • Dien Anh (132)
  • Tôn Nữ Hoàng Hoa (125)
  • HUONG XA (123)
  • Tho (120)
  • Kim Loan (109)
  • Vĩnh Tường (108)
  • ngôn ngữ (107)
  • Ðoàn Xuân Thu (105)
  • ĐỖ DUY NGỌC (104)
  • BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU (91)
  • Vuot Bien (83)
  • Nguyễn thị Cỏ May (78)
  • Phan (75)
  • Nguyễn Tường Tuấn (74)
  • phạm tín an ninh (74)
  • US election 2016 (71)
  • Tuấn Khanh (64)
  • Tiểu Tử (58)
  • Household tips (57)
  • Từ Thức (56)
  • Viet Gian (53)
  • Tưởng Năng Tiến (52)
  • Kiêm Ái (50)
  • Nguyễn Văn Tới (49)
  • nguoiviettudo (48)
  • LÃO MÓC (46)
  • Tràm Cà Mau (43)
  • Tucker Carlson (42)
  • REDACTED (40)
  • Trần Hùng (40)
  • Đỗ Văn Phúc (39)
  • NGUYỄN VĨNH LONG HỒ (38)
  • Nguyễn Thị Thêm (38)
  • BS Đỗ Hồng Ngọc (37)
  • Nguyễn Thanh Tú (37)
  • Văn Quang (37)
  • Người Phương Nam (35)
  • chinh tri (35)
  • Bùi Bảo Trúc (34)
  • Ký Thiệt (34)
  • Phương Hoa (33)
  • người lính già oregon (33)
  • Phạm Thành Châu (32)
  • Nguyễn Nhơn (31)
  • Vĩnh Chánh (31)
  • hoi hoa (31)
  • BS Hồ Ngọc Minh (30)
  • Huỳnh Quốc Bình (30)
  • Mậu Thân 68 (28)
  • Ngôn ngữ (28)
  • Nguyễn Diệu Anh Trinh (27)
  • Nguyễn Ngọc Tư (27)
  • Trương Ngọc Bảo Xuân (27)
  • Trần C. Trí (27)
  • Trần Mộng Lâm (27)
  • Liên Thành (26)
  • Minh Thúy (25)
  • Phan Văn Song (25)
  • Vi Anh (25)
  • Phùng Annie Kim (24)
  • Đoàn Thị (24)
  • Khôi An (23)
  • Lại Thị Mơ (23)
  • Minh Nguyệt Graves (21)
  • Nguyễn Tài Ngọc (21)
  • Song Lam (21)
  • ThaiNC (21)
  • Trần Ngọc Ánh (21)
  • Dong Trinh (20)
  • Huy Phương (20)
  • Trần Thanh (20)
  • Chú Chín Cali (19)
  • Năng Khiếu (19)
  • Trúc Giang MN (19)
  • Chan Nhu channel (18)
  • Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích (18)
  • Vũ Thế Thành (18)
  • ĐOÀN DỰ (18)
  • 250th birthday (17)
  • Kim Thanh (17)
  • Nguyên Nhung (17)
  • Nguyễn Trần Diệu Hương (17)
  • Ngô Minh Hằng (17)
  • TRƯƠNG MINH HÒA (17)
  • Thanh Mai (17)
  • Tố Nguyễn (17)
  • ĐINH LÂM THANH (17)
  • Lê Nguyễn Hằng (16)
  • TINH HOA (16)
  • Trà Lũ (16)
  • Trường Sơn Lê Xuân Nhị (16)
  • Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh (15)
  • Hoàng Nguyên (15)
  • Huyền Thoại Thịnh Hương (15)
  • Nguyễn Viết Tân (15)
  • Sao Nam Trần Ngọc Bình (15)
  • Võ Phú (15)
  • Hàn Giang Trần Lệ Tuyền (14)
  • Lê Duy San (14)
  • Nguyễn Trung Tây (14)
  • Pt. Nguyễn Mạnh San (14)
  • Thảo Lan (14)
  • Tran Maico (14)
  • Đào Văn Bình (14)
  • Captovan (13)
  • Hoàng Nga (13)
  • Mường Giang (13)
  • Nguyễn Ngọc Chính (13)
  • Nguyễn Đại Thuật (13)
  • Phạm Hồng Ân (13)
  • Hữu Nguyên (12)
  • NGUYỄN THIẾU NHẪN (12)
  • Pha Lê (12)
  • Phan. (12)
  • Thạch Đạt Lang (12)
  • Trần Văn Tích (12)
  • Vương Mộng Long (12)
  • Ba Ngo Dinh Nhu (11)
  • GS Trần Thủy Tiên (11)
  • Lê Xuân Mỹ (11)
  • Mai Thanh Truyết (11)
  • Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn (11)
  • Nguyễn Bích Thủy (11)
  • Phương Lan (11)
  • Phước An Thy (11)
  • Song Chi (11)
  • Stephen Gardner (11)
  • hoang hai thuy (11)
  • Đại-Dương (11)
  • Bùi Anh Trinh (10)
  • DUY NHÂN (10)
  • Hoàng Lan Chi (10)
  • Lão Ngoan Đồng (10)
  • Lê Đức Luận (10)
  • Nguyễn Mạnh Trinh (10)
  • Nguyễn Văn Sâm (10)
  • Ngọc Hạnh (10)
  • Như Ý Crystal H. Vo (10)
  • Trần Du Sinh (10)
  • Uyên Sồ (10)
  • Anne Khánh Vân (9)
  • Bảo Trân (9)
  • Chính Vũ (9)
  • France election (9)
  • Hoàng Đình Minh Long (9)
  • Lệ Hoa Wilson (9)
  • Nguyễn Khắp Nơi (9)
  • Nguyệt Mị (9)
  • Orchid Thanh Le (9)
  • Philato (9)
  • Trương Ngọc Anh (9)
  • Trần Trung Đạo (9)
  • Trần Văn Giang (9)
  • Bình Nguyên Lộc (8)
  • Khuất Đẩu (8)
  • Lê Như Đức (8)
  • Nguyễn Vĩnh Long (8)
  • Phan Xuân Sinh (8)
  • Phạm Hoàng Chương (8)
  • Phạm Thị Kim Dung (8)
  • Triều Phong (TPN) (8)
  • Trần Thiện Phi Hùng (8)
  • Trần Trung Chính (8)
  • Vô Danh (8)
  • Võ Hương An (8)
  • Y Châu (8)
  • videos (8)
  • Ông Bút (8)
  • Đỗ Dung (8)
  • Biển Cát (7)
  • Cao Đắc Vinh (7)
  • Chu Thập (7)
  • Hoàng Thanh (7)
  • Hồ Nguyễn (7)
  • Lê Ngọc Châu (7)
  • Mai Hồng Thu (7)
  • Mimosa Phương Vinh (7)
  • Phạm Gia Đại (7)
  • The Road of Hope - Archbishop Nguyen Van Thuan (7)
  • Trương Tấn Thành (7)
  • Đỗ Hồng Ngọc. (7)
  • Bs Nguyễn Thượng Chánh (6)
  • Bùi Bích Hà (6)
  • Bồ Tùng Ma (6)
  • Kha Lăng Đa (6)
  • Kim Chi (6)
  • Lei's real talk (6)
  • Lê Dinh (6)
  • Nguyễn Duy An (6)
  • Nguyễn Thị Thu Hương (6)
  • Ngô Đình Châu (6)
  • Ngô Đình Diệm (6)
  • PHƯƠNG - LAN (6)
  • PHẠM PHONG DINH (6)
  • Phạm Sơn Liêm (6)
  • Recipe (6)
  • SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG (6)
  • Trịnh Thanh Thủy (6)
  • hoàng long hải (6)
  • lLỗ trí Thâm (6)
  • Bút Sử (5)
  • Candice Owens (5)
  • Chu Kim Long (5)
  • Chúc Thanh (5)
  • Cánh Chuồn Chuồn (5)
  • Cỏ Biển (5)
  • NGÔ THẾ VINH (5)
  • Nguyễn Ngọc Loan (5)
  • Nguyễn Thị Hữu Duyên (5)
  • Nguyễn Văn Lục (5)
  • Trần Nhật Phong (5)
  • Trần Văn Bá (5)
  • ĐIỆP MỸ LINH (5)
  • Alexander Solzhenitsyn (4)
  • BỨC TƯỢNG "TIẾC THƯƠNG" (4)
  • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất (4)
  • Long Tan (4)
  • Lê Phi Ô (4)
  • Michael Benge (4)
  • Nguyễn Cát Thịnh (4)
  • Nguyễn Kim Dục (4)
  • Nguyễn Kỳ Yên (4)
  • Nguyễn Tiến Hưng (4)
  • Nguyễn thị Bé Bảy (4)
  • Ngô Viết Trọng (4)
  • Phan Lạc Tiếp (4)
  • Phan Nhật Nam (4)
  • Phạm Quang Trình (4)
  • Project Veritas (4)
  • Song Nhi (4)
  • T. Thiên Thu (4)
  • Thiên Lý (4)
  • Thái Anh / QNA (4)
  • Thủy Như (4)
  • Tâm Thanh (4)
  • Tôn Nữ Thu Dung (4)
  • Tử vi (4)
  • Vũ Đoàn (4)
  • Xã Hội Học (4)
  • khoa hoc (4)
  • ĐÀO HIẾU (4)
  • BS Hoàng Thị Mỹ Lâm (3)
  • Bùi Hồng Thúy Anh (3)
  • Cao Xuân Thanh Ngọc (3)
  • China Unfltered (3)
  • Châu Hà (3)
  • Dư Thị Diễm Buồn (3)
  • Dương Nguyệt Ánh (3)
  • Dương Thiện Tâm (3)
  • Dương Thu Hương (3)
  • Epoch times (3)
  • Hai Quẹo (3)
  • Hoàng Chi Uyên (3)
  • Hải Triều (3)
  • HỒ ĐINH (3)
  • Hồ Thanh Nhã (3)
  • HỮU LOAN (3)
  • Iris Đinh (3)
  • JIMMY DORE (3)
  • Lâm Văn Bé (3)
  • Mai Ly (3)
  • Ngọc Ánh (3)
  • Nguyễn Cao Thăng (3)
  • Nguyễn Quang Lập. (3)
  • Nguyễn Thượng Chánh (3)
  • Nguyễn Trần Phương Dung (3)
  • Nguyễn Tường Thiết (3)
  • Nguyễn Ðạt Thịnh (3)
  • Ngô Văn Thu (3)
  • Phan Lạc Phúc (3)
  • Phi Nguyễn (3)
  • Phùng ngọc Sa (3)
  • Phùng văn Phụng (3)
  • Phương Toàn (3)
  • Phạm Lưu Vũ (3)
  • Phạm Đình Lân. (3)
  • Sơn Tùng (3)
  • Topa (3)
  • Trần Thế Đức (3)
  • Trọng Đạt (3)
  • Tình Hoài Hương (3)
  • Từ Sơn (3)
  • Vann Phan (3)
  • Võ Phu (3)
  • Võ Đại Tôn (3)
  • WYD2008 (3)
  • Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC (3)
  • Đinh Văn Tiến Hùng (3)
  • Đào Như (3)
  • Đào Nương (3)
  • Anthony Hưng Cao (2)
  • Be Ti (2)
  • Bùi Thanh Hiếu (2)
  • Bùi Đức Tính (2)
  • Bảo Giang (2)
  • Bửu Thức (2)
  • CHRIS PHAN (2)
  • Cao Đồng Phước (2)
  • China uncensored (2)
  • Christina N. Cao (2)
  • Chu Lynh (2)
  • Cánh cò (2)
  • Cẩm Thành Dân (2)
  • Dan Heaven (2)
  • Deborah Tường – Vân (2)
  • Diệu Anh (2)
  • GS Lê - Đại - Tường (2)
  • Gió Đồng Nộii (2)
  • HUY VĂN (2)
  • Hoàng Dược Thảo (2)
  • Hoàng Ngọc An (2)
  • Huyền Lam (2)
  • Huỳnh Mai Hoa (2)
  • Huỳnh Kim Quang (2)
  • Hương Lệ Oanh (2)
  • Hương Trần (2)
  • HỒ TRƯỜNG AN (2)
  • KIM ÂU (2)
  • Kho Quẹt (2)
  • Kông Li (2)
  • LHXung (2)
  • Little Saigon (2)
  • Lâm Lễ Trinh (2)
  • Lê Hiền (2)
  • Lê Nguyên Hằng (2)
  • Lê Quang Sinh (2)
  • Lữ Giangl (2)
  • Mai Thảo (2)
  • Mai Vĩnh Thăng (2)
  • Man in america (2)
  • Minh Karlsson (2)
  • Minh Tâm (2)
  • Mặc Bích (2)
  • NGUYỄN VĂN CHỨC (2)
  • Nguyễn Ngọc Hoa (2)
  • Nguyễn Ngọc Tu (2)
  • Nguyễn Cao Quyền (2)
  • Nguyễn Duy Nhiên (2)
  • Nguyễn Hữu Thời (2)
  • Nguyễn Khánh Vũ (2)
  • Nguyễn Ngọc Ngạn (2)
  • Nguyễn Sơ Đông (2)
  • Nguyễn Thế Thăng (2)
  • Nguyễn Thị Mão (2)
  • Nguyễn Thị Phi Phượng (2)
  • Nguyễn Thụy Long (2)
  • Nguyễn Trọng Dân (2)
  • Nguyễn Văn Thiệu (2)
  • Nguyễn Văn Ðông (2)
  • Ngô Kỷ (2)
  • Ngô Nhân Dụng (2)
  • Người Thương Binh VNCH (2)
  • Nhã Ca (2)
  • Nhất Chi Mai (2)
  • Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh (2)
  • OMG (2)
  • Phan Công Tôn (2)
  • Phương Lâm (2)
  • Phạm Đình Hưng (2)
  • QÚY THỂ (2)
  • Siêu Phong (2)
  • Song Châu (2)
  • Song Vũ (2)
  • Sáu Steve Brown (2)
  • TOPHER (2)
  • TRƯƠNG PHÚ THỨt (2)
  • TYKH (2)
  • Thang Chu (2)
  • Thuỷ-Triều (2)
  • Thành Lacey (2)
  • Thúy Messegee (2)
  • Thần Long (2)
  • Thụy Mân (2)
  • Thụy Nhã (2)
  • TiênSha- LêLuyến (2)
  • Trang Y Hạ (2)
  • Trương Sĩ Lương (2)
  • Trương Văn Út (2)
  • Trần Chí Phúc (2)
  • Trần Doãn Nho (2)
  • Trần Ngọc Huế (2)
  • Trần Ngọc Nguyên Vũ (2)
  • Trần Văn Hương (2)
  • Trần Xuân Thời (2)
  • Tê Hát I Cờ Rét (2)
  • Vi Vân (2)
  • Vietnamese Museum (2)
  • Việt Nhân (2)
  • Vuong Vu (2)
  • Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC (2)
  • Yukon (2)
  • letamanh (2)
  • Ái Khanh (2)
  • Đinh Công Bình (2)
  • Đào Anh Dũng (2)
  • Đặng Chí Hùng (2)
  • Đặng Hà Nội (2)
  • Đặng thiên Sơn (2)
  • Đỗ Xuân Tê (2)
  • Đức Tâm (2)
  • . (1)
  • ARTE TV (1)
  • America Uncovered (1)
  • Angie Lộc (1)
  • Anton Chekhov (1)
  • BS Hồ Hải (1)
  • Biển Đông (1)
  • Buu Nguyen (1)
  • BÙI LÝ HỒNG (1)
  • Bá Dương (1)
  • Bùi Giáng (1)
  • Bùi Thượng Phong (1)
  • Bùi Trọng Nghĩa (1)
  • Bảo Ngọc (1)
  • Bảo quốc Kiếm (1)
  • Bửu Uyển (1)
  • Cao Vị Khanh (1)
  • Carl Graves (1)
  • Chau Tran (1)
  • Chiêu Ấn (1)
  • Chu Việt (1)
  • Chung Mốc (1)
  • Cung Trầm Tưởng (1)
  • Cổ Tấn Tinh Châu (1)
  • DVM (1)
  • Deliver us from evil - by Thomas A Dooley (1)
  • Dinh Trần (1)
  • Diễm Vy (1)
  • Doãn Quốc Sỹ (1)
  • Dr Tien Manh Nguyen (1)
  • Dr. Nikonian (1)
  • Du Li (1)
  • Duy Trác (1)
  • Duyenky (1)
  • Duyên Anh (1)
  • Dân Việt (1)
  • Dương Hiếu Nghĩa (1)
  • Dạ Lý (1)
  • Elon Musk (1)
  • FinalWar (1)
  • Giang Phúc Đông Sơn (1)
  • Gman (1)
  • Greg Rushford (1)
  • HTD channel (1)
  • HUYNH NGOC NGA (1)
  • Helen Nguyễn (1)
  • Herb Meyer (1)
  • Hoa Hoàng Lan (1)
  • Hoàng Nguyên Linh (1)
  • Huy Lâm (1)
  • Huy Lực Bùi Tiên Khôi (1)
  • Huỳnh Anh Trần-Schroeder (1)
  • Huỳnh Bửu Sơn (1)
  • Huỳnh Kim Anh- (1)
  • Huỳnh Quốc Phú (1)
  • Huỳnh Thị Liên-Hoa (1)
  • Huỳnh Văn Của (1)
  • Hà Bắc (1)
  • Hà Mai Kim (1)
  • HƯƠNG THỦY (1)
  • Hải Vân (1)
  • Hồ Ngọc Cẩn (1)
  • Hồ Thị Đậm (1)
  • Hồ Đình Vũ. (1)
  • Hồ Đắc Túc (1)
  • Hứa vạng Thọ (1)
  • J.B Nguyễn Hữu Vinh (1)
  • Jenny Đỗ (1)
  • Joyce Anne Nguyen (1)
  • Khánh Doãn (1)
  • Khổng Thị Thanh Hương (1)
  • Kiều Mỹ Duyên (1)
  • Ls Đinh Thạch Bích (1)
  • Luu Vu (1)
  • Luật pháp (1)
  • LÊ QUỐC (1)
  • LÝ THỤY Ý (1)
  • Lâm Bình Duy Nhiên (1)
  • Lâm Chương (1)
  • Lâm Kim Loan (1)
  • Lâm Túy Mĩ (1)
  • Lê Bá Dũng (1)
  • Lê Hoàng (1)
  • Lê Hải Dương (1)
  • Lê Minh Khôi (1)
  • Lê Ngọc Hồ (1)
  • Lê Ngọc Anh (1)
  • Lê Phi Điểu (1)
  • Lê Phú Hải (1)
  • Lê Phạm Lê (1)
  • Lê Quốc Trinh (1)
  • Lê Sỹ Minh Tùng (1)
  • Lê Văn Lân (1)
  • Lê Văn Ân (1)
  • Lê phục Bình (1)
  • Lê thị Trinh (1)
  • Lưu Á Châu (1)
  • Lữ Anh Thư (1)
  • Lữ Giang (1)
  • Lữ Tuấn (1)
  • Mai Văn Tấn (1)
  • Minh Nguyễn (1)
  • Minh Tạo (1)
  • Mũ Xanh Hoa Biển (1)
  • Mạnh Nguyễn (1)
  • Mỹ Châu Phạm (1)
  • Mỹ Đức Phạm Nguyễn (1)
  • NGUYÊN SANG (1)
  • NGUYỄN ĐỨC NAM (1)
  • Nam Dao (1)
  • Nghiêm Hữu Hùng (1)
  • Nguyen Chi Thien (1)
  • Nguyên Chân (1)
  • Nguyên Giang (1)
  • Nguyên Lương (1)
  • Nguyên Phương (1)
  • Nguyên Đại (1)
  • Nguyễn Thị Thảo An (1)
  • Nguyễn Thị Từ Huy (1)
  • Nguyễn Anh Nguyên (1)
  • Nguyễn Duy Chinh (1)
  • Nguyễn Duy Cung (1)
  • Nguyễn Hoàng Phố (1)
  • Nguyễn Hữu (1)
  • Nguyễn Hữu Hiệu (1)
  • Nguyễn Khắc Anh Tâm (1)
  • Nguyễn Minh Phúc (1)
  • Nguyễn Mỹ Linh (1)
  • Nguyễn Ngọc Huy (1)
  • Nguyễn Phục Hưng (1)
  • Nguyễn Quốc Đống (1)
  • Nguyễn Qúy Đại (1)
  • Nguyễn Sỹ Thùy Ngân (1)
  • Nguyễn Thu Hương (1)
  • Nguyễn Thạch-Hãn (1)
  • Nguyễn Thị Hương Minh (1)
  • Nguyễn Thị Yến (1)
  • Nguyễn Thừa Bình (1)
  • Nguyễn Trọng Kha (1)
  • Nguyễn Việt Nữ (1)
  • Nguyễn Văn (1)
  • Nguyễn Văn Hoàng 333 (1)
  • Nguyễn Văn Học (1)
  • Nguyễn quang Thành (1)
  • Nguyễn thị Nhung (1)
  • Nguyễn Ðồng Danh (1)
  • Nguyễn Ý Thuần (1)
  • Nguyễn Đình Phùng (1)
  • Nguyễn Đức Lập (1)
  • Nguyễn Đức Trọng (1)
  • Nguyễn-Đại-Thuật (1)
  • Phan Cao Tri (1)
  • Phan Hạnh (1)
  • Phan Hữu Chí (1)
  • Phan Nam (1)
  • Phan Quốc Bảo (1)
  • Phan Văn Hưng (1)
  • Phạm Liễn (1)
  • Phi Trang (1)
  • Phùng Nhân (1)
  • Phạm Bá Hoa (1)
  • Phạm Duyên (1)
  • Phạm Lễ. (1)
  • Phạm Ngọc Lũy (1)
  • Phạm Sanh (1)
  • Phạm Thái (1)
  • Phạm Trần Hoàng Việt (1)
  • Phạm Văn Lưu (1)
  • Phạm quốc Thuần (1)
  • Phạm Đào Nguyên (1)
  • Phạm Đình Lân (1)
  • Promethean updates (1)
  • Quang Danh (1)
  • Quốc Việt (1)
  • Quỳnh Dao (1)
  • Quỳnh Thi (1)
  • Saigon Xua (1)
  • San San (1)
  • Sean Bảo (1)
  • Shawn Ryan (1)
  • Steven Dieu (1)
  • Susan Nguyễn (1)
  • TT Diệu Tâm (1)
  • TT Ngô Đình Diệm: (1)
  • Tam Giang Hoàng Đình Báu (1)
  • Tạ Quang Khôi (1)
  • Thanh Thương Hoàng (1)
  • Thái Ngọc (1)
  • Thu Hiền (1)
  • Thu Lê (1)
  • Thái Quốc Mưu (1)
  • Thùy Giang (1)
  • Thủy Nguyễn (1)
  • Tiến Sĩ Trần An Bài (1)
  • Tiểu Đĩnh (1)
  • Tom Tom (1)
  • Trung Đạo (1)
  • Trà Đóa (1)
  • Trần Hữu Thuần (1)
  • Trương Thế (1)
  • Trương Thị Thu Huyền (1)
  • Trần Mai cô (1)
  • Trần Nam (1)
  • Trần Nguyên Thắng (1)
  • Trần Ngọc Quang (1)
  • Trần Nhật Kim (1)
  • Trần Thanh Minh (1)
  • Trần Thân Yên (1)
  • Trần Thị Diệu Tâm (1)
  • Trần Thị Nhật Hưng (1)
  • Trần Văn Lương (1)
  • Trần Văn Ngà (1)
  • Trần Vũ (1)
  • Trần Đình Phước (1)
  • Trần Đình Đức (1)
  • Trần Đông Thành (1)
  • Trần Đức Hân (1)
  • Trần Đức Lợi (1)
  • Trịnh Vĩnh Bình! (1)
  • Tuệ Chương Hòang Long Hải (1)
  • Tín Thất Tôn (1)
  • Tôn Thất Phú Sĩ (1)
  • Tôn Thất Soạn (1)
  • Tôn-Thất Long (1)
  • Tôn-thất Sơn (1)
  • Túy Trước (1)
  • Tạ Cự Hải (1)
  • Tạ Phong Tần (1)
  • Tạo Ân (1)
  • Tịnh Tâm (1)
  • UNESCO (1)
  • Uyên Phương Minh Nguyệt (1)
  • Việt Hải (1)
  • Việt Thường (1)
  • Võ Như Y (1)
  • Võ Phiến (1)
  • Võ Quách Thị Tường Vi (1)
  • Võ Quân (1)
  • Võ Thị Hảo (1)
  • Võ Văn Ái (1)
  • Văn Ni (1)
  • Vĩnh Phúc (1)
  • Vũ Công Hiển (1)
  • Vũ Ngọc Văn (1)
  • Vũ thành An (1)
  • Vũ Đình Trường (1)
  • Warning to the west (1)
  • Wayne Nguyen (1)
  • XUÂN ĐỖ (1)
  • Xuân Hàn (1)
  • Xuân Vũ (1)
  • Y Hạ (1)
  • Y Vân (1)
  • Yên Hà (1)
  • Yên Sơn (1)
  • Z28 (1)
  • phong (1)
  • technology (1)
  • v (1)
  • vhp.Hạ Vũ (1)
  • Ðặng quang Chính (1)
  • Đinh Nguyên Thi (1)
  • Đằng Phương (1)
  • ĐẶNG VĂN NHÂM (1)
  • Đặng Chí Bình (1)
  • Đặng Văn Quang (1)
  • Đỉnh Sóng (1)
  • Đỗ Hồng Ngọc (1)
  • Đỗ Như Quyên (1)
  • Đỗ Tiến Bình Minh (1)
  • Đỗ Tiến Đức (1)
  • Đỗ Trường (1)
  • Đức H Vũ (1)