Showing posts with label SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG. Show all posts
Showing posts with label SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG. Show all posts

Saturday, January 31, 2026

Chiếc Hồ Trên Đá

Ảnh minh họa từ Lê Tường-Vi; Molokini Crater.

***

Một chiếc hồ con nằm lặng yên trên đá,
Mà trong mắt trẻ thơ là cả vũ trụ xanh...

Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.

Tiếc thay, suốt bốn năm liền California oằn mình trong hạn hán, ảnh hưởng đủ đường đến đời sống cư dân. Không ai biết bao giờ tuyết và mưa mới trở lại như xưa để thảm cỏ trước nhà có cơ hội hồi sinh, để màu xanh công viên thôi lụi tàn.

Tôi vẫn nhớ hôm tiểu bang ban bố tình trạng khẩn cấp vì thiếu nước, nhà tôi nhận được một cú điện thoại kêu gọi tiết kiệm. Chồng tôi vui vẻ trả lời:

- Thưa cô, nhờ tiết kiệm nước mà sức khỏe vợ chồng tôi tốt lên nhiều lắm!

Giọng cô nhân viên ngạc nhiên:
- Dạ... ông vui lòng giải thích rõ hơn?

Nhà tôi thản nhiên đáp:
- Vì ngày nào vợ chồng tôi cũng tới phòng tập thể dục, tập xong thì tắm luôn ở đó!

Còn Thành, em chồng tôi, tếu táo khoe danh hiệu "vô địch tiết kiệm nước bang Cali":

- Chị Hai biết không, hồi trước một ngày em đánh răng ba lần. Giờ thì... ba ngày mới đánh một lần! Vậy đủ tiết kiệm chưa?

Điều khiến tôi buồn nhất không phải hóa đơn tiền nước, mà là mất trắng bốn mùa hoa Tần Ô. Ở San Diego, loài hoa ấy mọc khắp nơi: chỗ đất hoang, bên lề xa lộ, dọc những sườn đồi nắng cháy. Ngay sau nhà tôi, nơi lưng chừng đồi, cứ đầu tháng Hai là những bụi Tần Ô nhú xanh non; sang tháng Ba hoa nở vàng rực kéo dài suốt gần ba tháng. Màu hoa dân dã và đầy sức sống ấy từng làm lòng tôi rộn ràng; tôi rủ không biết bao nhiêu bạn bè cùng đến ngắm. Mất mùa hoa là mất đi những buổi rong chơi với các cháu, mất cả những khung hình tuổi thơ tôi treo trong nhà, giữ làm kỷ niệm trong album. Cứ nghĩ đến đó, tôi lại buồn đến tê tái lòng.

Vốn say mê chụp ảnh, tôi xem mỗi mùa hoa đến như món quà riêng của đất trời dành cho bà cháu tôi. Từ khi các cháu còn bé xíu, chúng đã trở thành "người mẫu" trong những buổi dạo đồng hoa. Mỗi lần đi ngắm hoa là một ngày đầy ắp tiếng cười, tay nắm tay, váy áo tung bay giữa trời hoa vàng, mây trắng. Mất mùa hoa nghĩa là mất luôn những buổi rong chơi và cả những khung hình rực rỡ nơi tuổi thơ đang cười tươi giữa nắng sớm lung linh. Những tấm ảnh ấy như một thứ quý giá nho nhỏ lưu giữ kỷ niệm, khiến tôi càng tiếc nuối khi mùa hoa vụt qua.

Ngoài hoa Tần Ô, San Diego còn nhiều cảnh đẹp làm say đắm lòng người. Công viên Balboa là một ốc đảo xanh giữa phố thị, với thảm cỏ mượt mà, hồ nước phẳng lặng. Rồi còn bao nhiêu viện bảo tàng, vườn Nhật, vườn xương rồng hòa quyện cùng kiến trúc Tây Ban Nha cổ kính. Mỗi bước chân dạo quanh như lạc vào một thế giới khác, vừa thư thái vừa gợi hoài niệm. Thành phố cũng nổi tiếng với những bãi biển, mỗi nơi một vẻ: La Jolla Cove với biển xanh như ngọc, vách đá ôm lấy sóng bạc; Mission Beach rộn ràng tiếng cười với xe đạp nối đuôi nhau chạy dọc bờ cát trắng; Sunset Cliffs, chỉ cần ngồi yên trên mõm đá, đôi chân thong thả đong đưa, mắt ngắm nhìn mặt trời lặn là lòng dịu hẳn lại.

Từ suốt mấy năm nay, một nơi cách nhà tôi chừng chục dặm đường đã trở thành chốn tôi hầu như tuần nào cũng ghé một hai lần: bán đảo Coronado. Muốn sang bên đó, tôi phải lái xe qua một cây cầu dài vắt ngang vịnh San Diego như dải lụa bê tông uốn cong mềm mại trên mặt nước. Đến giữa cầu, chiếc xe như được nâng lên để ngắm toàn cảnh thành phố với những tòa cao ốc lấp lánh và dòng nước êm đềm xanh trong mênh mang; đủ loại thuyền lướt qua, thuyền buồm, ca nô, du thuyền và thỉnh thoảng vài chiếc tàu hải quân hùng dũng diễn hành trước bao con mắt ngắm nhìn. Gió biển nhè nhẹ thổi lên làm mát cả thân người lẫn tâm hồn.

Qua khỏi chân cầu, tôi phải lựa chọn: rẽ vào công viên Tidelands với bãi cỏ xanh mướt, hàng cọ thẳng tắp và con đường xi măng sạch bóng để dạo bộ, hòa mình cùng trẻ con và các cặp đôi tận hưởng nắng vàng, gió mát, hoặc cứ thế chạy thẳng ra Coronado Beach.

Mấy lần đầu tôi đến rồi đi, biển Coronado không để lại ấn tượng đặc biệt nào; thậm chí còn khiến tôi khó chịu vì từ bờ xuống mé nước phải băng qua một bãi cát khô, nhiều đoạn dài cả trăm thước. Mãi sau một chuyến sang Hawaii, vợ chồng tôi mới khám phá ra thú vui đi chân trần trên cát, và từ đó nhìn Coronado bằng đôi mắt khác, như nhận ra một món quà bất ngờ vốn đã có từ lâu.

Coronado, một bãi cát dài quay ra Thái Bình Dương, bị căn cứ hải quân chặn hai đầu nên chỉ còn khoảng hai dặm dài cho người ta vui chơi; cát trắng mịn pha ánh kim trải như dải lụa, biển xanh ôm lấy đường chân trời, xa xa mái ngói đỏ của khách sạn Del Coronado nổi bật như lâu đài cổ tích. Đứng trước tòa nhà ấy, tôi nghĩ nơi này đã chứng kiến bao dấu chân người đời, từ thuở ông cha tôi còn đội khăn đóng đến hôm nay, một người đàn bà Việt xa xứ mới chịu đặt chân trần xuống cát để cảm nhận hết vẻ quyến rũ.

Mỗi buổi chiều, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cả bầu trời lẫn mặt biển; lớp cát khô ngày trước từng làm tôi ái ngại, giờ như đang xoa bóp dưới gan bàn chân. Càng đến gần mé nước, cát càng mềm mại, mát rượi, len vào từng kẽ chân và cả vào tâm hồn. Mỗi lần đặt chân lên cát, tôi thấy như được rửa sạch những lo toan nhỏ nhặt; mỗi hạt cát khắc một ký ức dịu êm vào lòng và gợi tôi nhớ về tuổi thơ, những chiều dắt trâu ra đồng, chân lội bùn mát lạnh in dấu trên mặt đất.

Từng bước trên cát Coronado như đưa tôi trở về, không hẳn vì cảnh vật giống nhau, mà vì cái gần gũi lặng thầm giữa thiên nhiên và lòng người. Mỗi chiều là một bức tranh mới: đôi tình nhân ôm nhau, em bé nhảy sóng, người chụp ảnh bên hàng dừa; khi mặt trời khuất, ánh đèn flash chớp lên như cố lưu giữ thêm vài khoảnh khắc cuối ngày.

Bãi biển Coronado thoai thoải hiền hòa; từ trẻ nhỏ đến người già, người biết bơi hay không, ai cũng có thể nô đùa với sóng hoặc nằm dài trên cát phơi nắng. Sau khi quen đi chân trần, tôi vẫn thấy quanh mình có những người "quê mùa" như tôi ngày trước, khó chịu chỉ vì vài hạt cát chui vào giày; nhưng rồi chính những hạt cát ấy lại đem về cho tôi nhiều niềm vui và kỷ niệm.

Những sắc vàng của hoa Tần Ô mà tôi từng bấm máy lưu giữ cho mấy đứa cháu nội nay đã nhường chỗ cho biển xanh, cát trắng và tiếng reo vui rộn ràng của hai đứa trẻ lớn lên bên tôi. Không đứa nào sợ nắng như bà, cũng chẳng ngại gió; ra đến biển, chúng như tan vào sóng: chạy không biết mỏi, miệng cứ thế hét vang, nhảy ùm xuống nước, rồi ngồi bệt nhặt vỏ sò, đuổi theo chim hải âu, tìm ông nội, thậm chí đòi chạy đua cùng ông.

Coronado gợi tôi nhớ những bãi biển quê nhà: Vũng Tàu với con đường cát trắng thoai thoải, Nha Trang với hàng dừa nghiêng bóng, Đà Nẵng chiều xuống rì rào tiếng sóng. Ở mỗi nơi màu nước, loại gió khác nhau, nhưng đều có điểm chung: gió mằn mặn thấm vào da thịt, tiếng sóng như nhịp tim biển cả, và hạt cát dưới chân lấp lánh như vụn vàng mặt trời. Giữa Coronado, tôi vừa thấy mình đứng ở một miền đất mới, vừa chạm lại những mùa hè đã xa.

Linzy, vốn quen xưng mình là "chị Hai", đứa cháu nội đầu lòng, sinh ra đúng vào năm tôi tròn sáu mươi. Sự vào đời của cháu ngày ấy là một nỗi lo lớn không chỉ riêng vợ chồng tôi mà cả bên sui gia cũng phập phồng theo dõi từng ngày. Linzy chỉ nằm trong bụng mẹ sáu tháng mười ba ngày; hình hài đỏ hỏn, bé xíu, nặng vỏn vẹn một ký năm gram. Cháu được đặt vào lồng kính như cái bụng mẹ bằng thủy tinh để giành giật từng hơi thở với sự sống. Suốt hai tháng trời cả nhà chỉ còn biết âm thầm cầu nguyện, mong sao chút sinh khí mong manh kia đủ vững vàng để bám trụ với cuộc đời. Mãi đến ngày được phép đón cháu về, ai nấy mới thở phào nhẹ nhõm như vừa vượt qua một trận bão lớn. Vậy mà giờ đây cháu đã tung tăng trên bãi biển, vừa cười vừa thách đố:

- Ông nội bắt con đi!

Còn tôi tha hồ bấm máy, lưu lại từng khoảnh khắc để mai này, khi các cháu lớn lên, chúng biết rằng đã từng có ông bà nội bên cạnh. Cái túi vải tôi luôn đeo trên vai mỗi lần ra biển chẳng có gì nhiều: áo quần khô, khăn tắm, nước uống, bánh mì, bánh ngọt, không dư thừa nhưng đủ cho một buổi dạo biển ấm áp. Mỗi lần nhìn cháu chạy nhảy, lòng tôi như tan chảy; tôi biết mình may mắn khi còn được chứng kiến và giữ lại những khoảnh khắc ấy.

Một hôm thấy tôi cầm vài chiếc lông chim hải âu đen trắng, Lya, cái tên bố mẹ đặt với ý nghĩa Love, You, Always, tròn xoe mắt hỏi:

- Bà nội nhặt mấy cái lông chim này làm chi vậy?

Tôi mỉm cười:
- Để khi cần vẽ mấy nét nhỏ thiệt nhỏ lên mấy bức tranh bà đang tô trên tường nhà.

Lya thích thú cầm lấy, rồi lượm thêm những mảnh sò bé tí, dúi vào tay tôi bảo cất vô túi. Có lần tôi nhặt được một chai rượu nhỏ, ngắt vài bông hoa dại bỏ vào, đưa cho cháu gọi là "bình bông du mục"; Lya ôm bình hoa cười khúc khích như nhận một món quà kỳ diệu.

Còn Linzy thì thích đắp cát lên người, múc nước đổ vào hố cát, vẽ số vẽ chữ bằng tay, những con số và chữ cái tôi mới dạy ở nhà. Một buổi chiều, khi đang đi dọc theo dãy đá, Linzy reo lên:

- Nội ơi, con thấy một cái baby lake!

Tôi nhìn theo ngón tay cháu: một vũng nước nhỏ trong veo nằm gọn trên phiến đá, khuất sau bụi cỏ. Trong mắt cháu đó là cả một cái hồ bí mật. Ba bà cháu rửa tay, rửa sò, hai đứa cháu nhúng cả đôi bàn chân bé xíu vào; Linzy mắt sáng rỡ:

- Linzy là người đầu tiên tìm ra cái hồ baby bí mật này! Từ nay con khỏi cần đứng chờ rửa chân ở vòi nước nữa nghen nội!

Lya phụng phịu:
- Chị Ba cũng thấy giống như chị Hai mà!

Tôi xoa dịu:
- Vậy cái "baby lake" này là của cả hai: chị Hai lẫn chị Ba.

Nhìn hai chị em hồn nhiên cười khúc khích, dẫm chân xuống vũng nước nhỏ trong đá, lòng tôi chợt nhớ tới một câu hát cũ khiến lòng se thắt: Bây giờ trong cái nón sắt của anh để lại trên bờ lau sậy này, chỉ có một con ễnh ương mượn vũng nước mưa đọng trong đó làm hồ. Trong cái nón sắt của anh bây giờ vẫn có đủ trời, vẫn mây hiền hòa trôi và bốn mùa vẫn về. Xuân muôn thuở dịu dàng, Đông rét lạnh, Thu khi xám buồn, khi rực vàng nắng quái, Hạ cháy lửa nung trời... Chiếc hồ nhỏ trong chiếc nón sắt bỏ quên giữa bờ lau sậy có thể là dấu tích cuối cùng của một người lính không trở về; còn cái hồ nhỏ hôm nay trên bãi đá Coronado là mảnh trời tuổi thơ lấp lánh, nơi sự sống tiếp tục nảy mầm qua tiếng cười của trẻ con, hai đứa cháu tôi.

Tôi không biết người chiến sĩ đã để lại chiếc nón ấy giờ ở đâu, có thể chỉ còn là một cái tên khắc trên bia đá. Nhưng tôi biết chính sự hy sinh lặng thầm của họ đã vun bồi cho buổi chiều bình yên này, với đứa cháu ôm "bình bông du mục" cười khúc khích, như thể cả thế giới chỉ còn lại niềm vui. Lòng tôi bỗng nghẹn lại trước hình ảnh quá khứ và hiện tại gặp nhau trong một khoảnh khắc mỏng manh, nhưng đầy ắp ơn nghĩa và tình người.

Chiếc hồ trong chiếc nón sắt và chiếc hồ trên bãi đá, hai hình ảnh, hai giai đoạn lặng lẽ nối nhau qua những thế hệ. Và tôi, người từng đi qua khói lửa, giờ bên cháu mình, thấy lòng ấm lại. Trong ánh hoàng hôn nhạt màu, tôi thầm cảm tạ Ơn Trên và gọi tên những người vô danh đã để lại cho đời những vũng nước nhỏ để cháu con mai sau có nơi in dấu bàn chân đầu đời. Bãi biển Coronado, trong khoảnh khắc ấy, hiện lên như một phép ẩn dụ cho những điều quý giá âm thầm ẩn mình giữa đời sống, chờ một bàn tay nâng niu để bừng sáng.

Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Chú thích của TG: Viết theo lời kể của bà nội để riêng tặng vợ tôi và hai đứa cháu nội.



Friday, September 27, 2024

Xich Lô

Tôi chẳng rõ hình ảnh chiếc Xích Lô len vào tâm trí tự hồi nào; lại khiến lòng tôi xao xuyến trong lần đầu nhìn loại xe đạp ba bánh này trưng bày bên ngoài một cửa hàng chuyên bán nước mía, trong khu thương mại khá sầm uất tại Little Saigon quận Cam, sau bao năm sống xa đất nước. Sau này tôi thấy ở nhiều nơi khác nữa, như ở khu mua sắm Hong Kong, trên đường Bellaire, tên Việt là đại lộ Saigon bên Houston Texas. Nơi đây có tới hai chiếc Xích Lô đặt trang trọng trước một siêu thị thật lớn, người đi qua đi lại thường dừng bước nhìn ngắm, hay chụp vài tấm ảnh. Rồi còn bao nhiêu chiếc Xích Lô sáng loáng, nhỏ nhắn xinh xinh được trưng bày ngày một nhiều thêm nơi phòng khách trong các ngôi nhà bạn hữu tôi từng có dịp ghé thăm. Tôi cảm thấy Xích Lô giống một thứ gì thân thương của người Việt Nam như lũy tre làng, con trâu, luống cày, chiếc xuồng ba lá,…

Tôi bâng khuâng nhớ lại một thời hễ bước ra khỏi ngõ thường gặp Xích Lô. Có thể lúc đó nghề nghiệp này tương đối dễ kiếm sống, nhiều gia đình có đến mấy thế hệ chuyên đạp Xích Lô. Vì vậy hình ảnh chiếc Xích Lô thong dong trên đường nằm sâu trong tâm trí, tự dưng bừng dậy mỗi khi tôi nghĩ đến quê hương. Riêng vợ tôi, lòng cũng ngập tràn hình ảnh chiếc Xích Lô. Bởi ngày còn bé, được bà cô Út em ông ngoại, đem từ Tân Lộc Cà Mau lên Mỹ Tho nuôi nấng. Suốt hai năm học tại trường Dòng Thánh Phaolô, mỗi ngày đều được một chú Xích Lô quen tới nhà đưa đón.

Mỗi chuyến về nước, tới nơi nào có Xích Lô tôi vẫn thường hay đón đi. Ở Sài Gòn tôi đi để tìm về quá khứ, chớ không chỉ ngắm cảnh như phần nhiều du khách nước ngoài. Vì vậy tôi hay chọn những chú lái có tuổi hoặc chiếc xe nào dáng vẻ tiều tụy đáng thương, để dễ dàng cùng ôn chuyện ngày xưa, chỉ cho nhau thấy những gì vẫn còn hay đã mất. Vài chục năm nay Xích Lô bị cấm chạy trong trung tâm Sài Gòn, nghe đâu nhà nước đổ thừa cho nó làm xấu xí đi bộ mặt thành phố.

Xích Lô Sài Gòn giờ đã có nghiệp đoàn, coi như chỉ phục vụ khách du lịch, đồng nghĩa với việc chấm dứt một phương tiện vận chuyển hành khách lẫn hàng hóa. Vào nghiệp đoàn phải mặc đồng phục, xe phải sơn sửa giống nhau, phải trả chi phí điều hành,… Đủ mọi thứ hao tốn, ràng buộc, rốt cuộc đồng tiền kiếm được cũng chẳng bao nhiêu! Vì vậy nhiều Xích Lô vẫn “dù” chạy quanh Nhà Thờ Đức Bà, trước Nhà Hát Thành Phố,… Họ vẫn biết có thể bị phạt, bị tịch thu xe bất cứ lúc nào!

Những năm cuối thế kỷ trước, khi đến Nha Trang, Huế, Hà Nội,… mấy nơi có khá nhiều khách du lịch nước ngoài, tôi vẫn thấy Xích Lô đón khách ở bến xe đò, ga xe lửa hay trên đường phố,… Giờ đây tôi chẳng rõ việc hành nghề Xích Lô có giống Sài Gòn không? Khi thấy khá nhiều Xích Lô bóng loáng, người đạp ăn mặc áo quần tươm tất. Nhưng tôi vẫn gặp trên đường nhiều chiếc tuềnh toàng chở theo ghế bàn giường tủ,… mọi vật dụng, lẫn người đạp, khách ngồi đều cũ kĩ theo thời gian. Nhìn họ khiến tôi liên tưởng đến thành phố nơi tôi hiện sống.

Dọc con đường đi bộ ven theo vịnh San Diego, hay ngay như tại New York, trên những đường phố đông đúc khách bộ hành dạo chơi hoặc bên trong Công Viên Trung Tâm (Central Park), nằm trong khu Manhattan, thủ phủ tài chính thế giới, cũng có khá nhiều Xích Lô. Thật ra phải gọi Xe Lôi mới đúng vì người đạp ngồi đằng trước, chở theo khách phía sau. Chẳng khác với mọi nơi, tất cả đều dùng sức người để đưa đón khách dạo chơi. Nhưng tôi không nhận ra sự bần hàn, nét lam lũ của người đạp. Họ luôn tươi cười niềm nở như đang đồng hành dạo chơi cùng du khách, hay đang tập thể dục theo những vòng xe quay, hoặc nhún nhảy theo điệu nhạc văng vẳng bên tai, qua mấy chiếc loa bluetooth gắn trên mui. Tôi chưa bao giờ dám gọi đón xe đi, bởi nghe đâu giá cả lên tới gần trăm đô la cho mỗi giờ ngồi Xích Lô ngắm cảnh.

Với bản tính tò mò thích tìm hiểu vốn sẵn có, lại sống trong thời đại internet bùng phát, tôi đã hỏi Google và được “chị” cho biết: Xích Lô có gốc gác từ chữ Cyclo trong tiếng Pháp, có mặt tại nước ta từ năm 1939 của thế kỷ trước. Là dân gốc Bắc, sinh ra ở nhà quê, nên ký ức về Xích Lô trong tôi bắt đầu từ thủ đô Sài Gòn, sau ngày theo bố mẹ di cư vào Nam. Tôi nhớ những lần được cùng mẹ ngồi trên Xích Lô êm ái, len lỏi qua ngõ ngách các nẻo đường. Cũng nhớ luôn nỗi sợ hãi khi phải ngồi Xích Lô Máy, phóng như tên bay trên mấy con đường đông đúc cả người lẫn xe cộ. Lục tìm trong ký ức những nơi tôi từng đi qua, tôi thấy vùng đồng bằng sông Cửu Long dường như chỉ riêng Mỹ Tho mới có Xích Lô, các tỉnh thành khác toàn loại Xe Lôi hay Xe Kéo.

*
Lần về Việt Nam cuối năm Mậu Tuất 2018, tôi ở Sài Gòn được mấy hôm, vì muốn tạm lánh xa chốn náo nhiệt, hễ bước ra đường liền bị choáng ngợp bởi dòng xe cộ mạnh ai nấy phóng, lạng lách tùy tiện,… Tôi đón xe đò xuống Mỹ Tho, nơi trước ngày ly hương tôi từng sống ở đó.

Về với nơi chốn yên bình bên bờ Tiền Giang này, tôi “tận hưởng” cái thú ham thích tản bộ của riêng mình. Rời khách sạn, cứ thế tôi lang thang trên đường Trưng Trắc, từ đầu dốc Cầu Quay đi dọc ven bờ sông Bảo Định, dẫn tới vườn hoa Lạc Hồng. Đoạn đường nhỏ hẹp, một chiều xe ngắn ngủn này, tôi chấm nó đẹp đẽ lẫn thơ mộng tiêu biểu cho thành phố Mỹ Tho.

Mỗi lúc đi ngang tấm biển hiệu “Cinema Định Tường”, tôi thường dừng chân ngước nhìn cái rạp hát nằm tại đó, chắc đã hơn cái tuổi quá bảy mươi của tôi. Trong trí nhớ vẫn ẩn hiện mấy chữ “có gắn máy lạnh”, như để chứng tỏ nơi đây sang chảnh hơn rạp Vĩnh Lợi chuyên chiếu phim Ấn Độ bên hông chợ Mỹ, hay rạp Viễn Trường dành riêng cho Cải lương hoặc Đại nhạc hội. Cinema Định Tường còn lưu trong tôi với bao lần vào ngồi xem mấy phim Âu Mỹ cũng như phim Tàu. Nào Romeo Và Juliet, nào Đường Sơn Đại Huynh với những cú đá thần tốc, những cú đánh liên hồi đầy mãnh lực của Lý Tiểu Long,…

Tôi cũng nhớ tới bao chốn cũ giờ không còn nữa, nào nhà thuốc tây Lê Văn Phan của ông dượng chồng bà cô Út vợ tôi. Nơi đây bào chế thuốc chớ không chỉ bán các loại thuốc làm sẵn như phần đông những tiệm thuốc hiện giờ. Tiệm chụp hình Thiện Ký, nơi hàng năm vợ tôi được bà cô cho phép sang chụp vài ba kiểu ảnh. Tiệm may Văn Minh, nơi tôi được đo cắt cẩn thận, để may bộ đồ vét đầu đời mặc trong ngày đám cưới. Rồi cả kem Duyên Thắm nữa. Tôi không nhớ rõ đây có phải tiệm kem duy nhất ở Mỹ Tho không? Mà chỉ nắm chắc một điều, đó là nơi các em tôi đứa nào cũng thích.

Lúc vừa dợm bước đi tiếp, tôi thoáng thấy một người đàn ông, ngồi trên chiếc Xích Lô đậu bên kia ngã ba đường, đối diện bến phà Tân Long đưa tay lên vẫy. Tôi khoát tay từ chối, cứ thế tiếp tục rảo bước. Vài phút sau tôi quay đầu nhìn lại đoạn đường vừa đi qua. Người phu xe thoáng nom thấy, lầm tưởng tôi đổi ý, liền đứng ngay dậy, vội đẩy chiếc xe xuống dưới lòng đường đón khách.
(hình do tác giả cung cấp)

Nhìn chiếc Xích Lô sứt càng gãy gọng, cũ đến độ không thể nào cũ hơn thế nữa! Chỗ dành cho khách ngồi và nơi gác chân được lắp ghép, chắp vá bằng mấy miếng ván trơ hẳn màu gỗ bạc thếch. Bốn góc cạnh cái nệm màu huyết dụ đều te tua, mòn rách, phơi ra lớp sốp vàng úa bên trong. Phần cái mui che nắng che mưa, giờ chỉ dùng làm chỗ tay vịn, bởi lớp vải bọc bên ngoài hoàn toàn biến mất, trơ lại khung sắt rỉ sét, lốm đốm đen,… Chiếc Xích Lô này nếu đem bán cho mấy nơi mua phế liệu, chắc cũng chẳng ai chịu nhận. Nhưng giá trị đích thực của nó sẽ cao lắm, nếu một nhà khảo cổ hay một bảo tàng viện nào trên thế giới nhận ra chân giá trị. Mua về trưng bày cho người đời thấy rõ sự tàn tạ của thời gian lẫn sự biến đổi của một đất nước sau bao nhiêu năm chấm dứt chiến tranh.

Trong lúc tôi lo sợ cái thân hình ngoài tám mươi ký lô có thể đè bẹp chiếc xe, thì người đạp mừng khấp khởi, rối rít nói:

– Cám ơn anh đã mở hàng cho em.

Nhìn bóng mấy dãy nhà cao đã ngã xuống đường, thật quả tội cho ông, đến giờ mới chạy được cuốc đầu tiên. Thấy ông tuổi khá cao, tôi vội lên tiếng hỏi:

– Anh năm nay bao nhiêu rồi?

– Dạ, thưa em bảy mươi tám.

Lòng tôi chùng xuống khi nghe một người lớn tuổi hơn lại xưng em với mình. Tôi nói tuổi tôi cho ông biết, ông vẫn không chịu đổi cách xưng hô! Ông hỏi tôi muốn đi đâu? Tôi bảo chở đi đâu cũng được. Trò chuyện một hồi tôi mới biết, ông với tôi cùng dân Bắc di cư vào Nam hồi 1954, đều là lính bên thua cuộc. Trước kia ông làm thông dịch viên. Tôi bảo ông nói vài câu tiếng Anh. Ông nói giọng Mỹ khá chuẩn. Tôi hỏi vì sao ông không tìm một công việc khác, chẳng hạn như hướng dẫn viên du lịch, hay dạy Anh ngữ cho đỡ cực khổ. Ông bảo, làm nghề đạp Xích Lô mạt hạng, ai cũng chê bai này còn gặp khó khăn, huống chi làm mấy nghề khác! Tôi chỉ biết buồn theo lời ông kể, chớ làm sao thấu hiểu hết nỗi niềm sâu kín riêng trong ông.

Chở tôi đi loanh quanh, ông chỉ cho tôi thấy sự đổi thay của từng tên đường góc phố, mỗi ngôi trường học, luôn cả những dinh thự bề thế để lại từ thời Pháp thuộc. Nhờ vậy Mỹ Tho trong ký ức tôi như sáng sủa hơn lên. Tôi xin ông số điện thoại để dễ dàng tìm gặp. Ông bảo ông không có điện thoại riêng, muốn tìm ông cứ đi dọc theo con đường Trưng Trắc, nơi hàng ngày ông vẫn đậu Xích Lô chờ đón khách.

*
Qua hôm sau, tôi thức giấc từ tờ mờ sáng. Theo lời chỉ dẫn của nhân viên khách sạn, tôi thả bộ dọc theo bờ con sông Tiền. Đoạn sông từ bến bắc cũ cho đến chân cầu Rạch Miễu mới làm xong bờ kè, trồng cây lát gạch trông như một công viên. Tôi cứ thế đi thẳng tới cây cầu dây nối hai bờ Mỹ Tho – Bến Tre. Phía trước tôi, hai người đàn ông tóc hoa râm, vừa đi vừa trò chuyện. Tôi lẳng lặng bước theo sau, nghe rõ lời một ông căn dặn người đi cùng:

– Tui nghe nói cái công trình bờ kè này ngốn tới cả bốn trăm tỷ lận! Vậy mà chỉ có hơn một năm đã lở lói tùm lum tà la hết trơn hết trọi rồi! Ông đi phải thiệt cẩn thận, coi chừng bị sụp lỗ hay vấp mấy cục gạch phồng lên là mệt lắm đó.

Nhờ mấy lời nghe lỏm, tôi luôn dòm chừng từng bước chân đi. Đến lúc quay về lại đường Trưng Trắc, tôi định tìm ông đạp Xích Lô mới quen nhờ chở đi kiếm quán ăn sáng. Nhưng đi tới đi lui bốn năm bận mấy con đường gần bến phà Tân Long, vẫn chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Cứ thế tôi thả bộ ra chợ Mỹ Tho.

Bất chợt mắt tôi dừng lại bên một chiếc Xích Lô đậu trên lề đường Lê Lợi. Con đường rợp lá me bay này đối với riêng tôi, đẹp đẽ sang trọng chẳng khác gì đại lộ Lê Lợi Sài Gòn. Cũng toàn những dãy phố khang trang, đầy rẫy các cửa hàng buôn bán san sát bên nhau. Tiếc thay từ lúc Trung Tâm Thương Mại Dịch Vụ Mỹ Tho trở thành một “thây ma” vĩ đại, lại chôn không được, cứ nằm chình ình ra đó, làm nhem nhuốc bộ mặt phố phường. Tôi chỉ biết buồn, xót xa cho một nơi chốn tôi yêu thương, luôn muốn quay trở về để tìm lại cảm xúc xưa cũ.

Người đàn ông thân hình nhỏ bé ngồi lọt thỏm vào nơi khách ngồi, chỉ nhô lên cái đầu lưa thưa vài sợi tóc trắng nhiều hơn đen. Tôi bước đến đứng sát bên ông lên tiếng hỏi:

– Anh có chạy xe không?

Tiếng tôi khiến ông giật mình, nhổm người dậy, vội vã bước xuống đứng trên lề đường, cười tươi đưa hàm răng bị mất nhiều hơn còn, giọng hơi khàn:

– Dạ, tui chạy chứ! Ông anh muốn đi đâu?

Nhìn dáng hình liêu xiêu, khẳng khiu, khoác trên người chiếc sơ mi bạc thếch, chẳng nhận rõ màu sắc gì ngoài màu thời gian. Tôi ước chừng đem ông lên bàn cân, chắc chỉ độ bốn mươi ký! Tôi không hiểu sức lực đâu để ông hành nghề đạp Xích Lô. Ngần ngại một lúc tôi lên tiếng tiếp:

– Anh chở tôi đi tìm cái quán nào bán đồ ăn sáng được không?

Ông lại cười:

– Dạ, được chứ.

So với chiếc xe của ông thông dịch viên, chiếc này khá hơn chút đỉnh, chỉ có người đạp thảm não tiều tụy hơn thôi. Tôi hỏi tiếp:

– Anh bao nhiêu tuổi rồi?

– Dạ, tám mươi mốt.

Tiếng trời ơi tự dưng thoát khỏi miệng tôi. Tôi đứng tần ngần do dự, chẳng lẽ lại để một ông cụ ngoài tám mươi, nói không ra hơi còng lưng đạp chở mình đi sao? Nhưng nếu không ngồi lên, lấy cớ gì để trao tiền cho ông cụ! Đặng chẳng đừng, tôi điều đình:

– Anh chở tôi đi với điều kiện anh phải ăn sáng luôn với tôi nghen.

Ông tình thật đáp:

– Cám ơn ông, tui đã ăn rồi, giờ mỗi sáng tui chỉ ăn hết một chén cháo với muối hột thôi, chớ đâu còn ăn được nhiều nữa!

Mời ăn không được, tôi xuống nước:

– Như vậy thì anh ngồi uống cà phê với tôi nghen.

Ông miễn cưỡng gật đầu, dắt xe xuống đường leo lên yên đạp chở tôi đi. Ngồi phía trước, tôi không thể thấy nỗi nhọc nhằn nơi ông. Giọng ông đứt quãng, nói gần hết ra hơi, phải cố gắng lắm tôi mới hiểu được đôi phần. Ông bảo, vì “bị bắt quân dịch”, ông phải đi lính cho “ngụy”. Ngày trước ông làm lính Truyền tin Sư Đoàn 7 Bộ Binh, đóng tại căn cứ Đồng Tâm suốt mười mấy năm, lên tới lon thượng sĩ. Tôi cũng là lính Truyền tin. Chúng tôi hỏi han nhau về mấy người cả hai vẫn nhớ tên, nhớ cấp bậc. Tôi hơi buồn vì ông quá ít nói, với lại tiếng xe cộ cũng ồn, nên trò chuyện chẳng được nhiều. Trước lúc chia tay, tôi chỉ biết khuyên ông đừng tự nhận mình là ngụy nữa. Bởi người gán cho bên thua cuộc tiếng ngụy ấy, giờ họ cũng đã đổi thay.

*
Lại thêm một tình cờ nữa khi tôi đến George Town. Nơi được ví von là trái tim tiểu bang Penang của Mã Lai, đất nước từng cưu mang gần ba trăm ngàn thuyền nhân, tức khoảng một phần ba con số người Việt Nam liều chết vượt biển. Tại thành phố cổ nằm bên bờ Ấn Độ Dương này, lưu lại khá nhiều dấu tích trong thời kỳ Mã Lai còn là thuộc địa nước Anh. Mắt tôi sáng lên khi vừa thấy một chiếc Xích Lô, giống hệt như loại chạy ở Hà Nội, bởi bề ngang rộng đủ chỗ cho hai người ngồi thoải mái. Hỏi thăm mới biết, họ không gọi Xích Lô mà là Trishaw. Trishaw nơi đây được sơn đủ loại màu sặc sỡ, cài hoa, che dù,… làm vơi hẳn đi sự nhọc nhằn của một phương tiện chuyên chở cần đến nhiều sức lực.

Ngày hôm ấy vợ chồng tôi đón được chiếc Trishaw của một chú lái da ngăm ngăm, màu của dân bản địa Mã Lai. Chú nói tiếng Anh kha khá, nếu đem so với ông chạy Xích Lô gốc thông dịch viên tôi gặp ở Mỹ Tho thì chắc không bằng. Chú chở vợ chồng tôi dạo loanh quanh nơi tập trung nhiều di sản văn hóa như Tòa thị chính Penang, thánh đường Hồi giáo Kapitan Keling, chùa Tàu,… Không hiểu có phải khi chú hỏi tôi người nước nào, tôi trả lời là người Việt Nam, chú mới kể tới việc giành lại độc lập của xứ sở chú. Tôi cảm nhận được sự hãnh diện qua giọng nói, khi nhắc tới việc tiền nhân mình dành lại được nền tự chủ từ tay người Anh, đã không phải đổ máu, không phải hy sinh một mạng sống nào. Tôi khâm phục lẫn ngưỡng mộ những nhà lãnh đạo đất nước Mã Lai vào thời buổi đó, đã không để chiến tranh xảy ra. Nghe chuyện quá khứ, ngắm nhìn sự hòa hợp về kiến trúc, lối sống lẫn phong tục tập quán của ba sắc dân Mã Lai, Trung Hoa và Ấn Độ, tạo thành quốc gia này, quả là điều lý thú để suy tư, nghiền ngẫm.

Lúc trò chuyện cùng chú đạp Trishaw, tôi nhớ nhiều đến hai ông đạp Xích Lô tôi gặp ở Mỹ Tho cách đó chưa bao lâu. Chú đạp Trishaw chở vợ chồng tôi mới năm mươi sáu tuổi. Khi nghe tôi hỏi nơi thành phố du lịch này có người nào bảy mươi tám tuổi vẫn đạp Trishaw không? Chú lắc đầu cười bảo: “Tới tuổi đó mà còn đạp Trishaw chở khách, chắc chắn tên tuổi sẽ được ghi danh vào sách kỷ lục của thế giới”. Nghe vậy tôi chẳng muốn nói gì thêm.

Từng cuốc xe chở khách ở George Town đều được ngã giá theo giờ. Mỗi giờ bốn mươi Ringgits, tức gần chục đô la Mỹ. Quả đây là một con số quá lớn, không một người đạp Xích Lô ở Mỹ Tho nào dám mơ tưởng được nhận sau mỗi cuốc xe. Cùng một ngành nghề, cùng một loại xe, nhưng Trishaw và Xích Lô khác nhau một trời một vực, khác biệt như nếp sống của người dân Mã Lai và người dân Việt Nam hiện giờ.

*
Sau chuyến về nước lần đó, cứ nghĩ đến Mỹ Tho, hình ảnh hai chiếc Xích Lô cũ kĩ cùng hai ông lão đạp xe thường hiện lên theo. Rồi dịch bệnh Covid lan tràn, ngăn trở lối quay về. Tôi không thể nôn nóng, bởi ghê sợ biện pháp cách ly bắt ở chung phòng với nhiều người. Nhưng có lẽ điều khiến tôi sợ nhất là bị thọt lỗ mũi! Nên tôi phải chờ mãi đến gần cuối năm 2022, khi cánh cổng phi trường Tân Sơn Nhất mở toang, không đòi hỏi phải trình báo giấy tờ xét nghiệm này nọ, tôi mới mua vé bay trở về nước.

Đặt chân xuống Sài Gòn, sau vài ngày nghỉ ngơi cho quen giờ giấc, tôi đón xe đò về Mỹ Tho. Cho dù những bốn năm dài xa cách, nhưng hình ảnh Mỹ Tho luôn được cập nhật trong tôi qua kênh youtube “anh thanh niên vào bếp”, của một bạn trẻ luôn nhỏ nhẹ tự giới thiệu: “mình là Lộc”. Mỗi lúc nhớ Mỹ Tho, tôi lại mở kênh của anh Lộc lên, cùng anh đồng hành lang thang lúc dạo quanh Giếng Nước Nhỏ, Giếng Nước Lớn, lúc leo dốc Cầu Quay, hay sang bên kia cồn Rồng,… Tôi cũng dương mắt dòm chừng mỗi khi ống kính lướt trên đường Trưng Trắc, hay phía cổng sau ngôi trường Nguyễn Đình Chiểu. Mong sao có thể nhìn thấy hai chiếc Xích Lô cùng dáng hình hai người đàn ông khốn khó thường ngày ra đó ngồi chờ khách.

Nhận phòng khách sạn xong, tôi đi thẳng một mạch tới bến phà Tân Long. Con phà vẫn xuôi ngược bình thường, còn chiếc Xích Lô lẫn ông lái tôi quen năm xưa chẳng thấy đâu. Tôi quanh quẩn tới cả chục lần, cảm thấy khung cảnh vắng lặng, cho dù cả người lẫn xe cộ vẫn nhộn nhịp trên đường. Thế rồi tôi lững thững đi tìm một ông đạp Xích Lô khác. Nhìn bãi “tha ma” còn nguyên, nhưng trên lề đường Lê Lợi cạnh đấy, cũng không thấy bóng dáng chiếc Xích Lô nào. Lòng buồn thiu lúc rảo bước về lại khách sạn. Trọn ngày hôm ấy, cả tô hủ tiếu Mỹ Tho, lẫn đĩa cơm tấm bì thịt nướng,… đều mất hết hương vị.

Qua hôm sau, ngày cuối cùng lưu lại Mỹ Tho, tôi rời khách sạn sớm, vẫn một mình lang thang thả bộ. Tuy lòng không nôn nao trông ngóng, tôi lại đi cùng một lối với hôm qua. Khi bước gần tới rạp Định Tường, chiếc Xích Lô bệ rạc đã lọt vào mắt, tôi cũng vừa nhận ra dáng người tôi muốn tìm. Lẳng lặng bước tới đứng bên cạnh, ông ta ngẩng lên nhìn tôi chẳng nói một lời. Tôi không rõ thời gian bốn năm trôi qua đã làm ông quên mất người khách là tôi, hay bởi tuổi tác khiến trí óc ông hao mòn.

Tôi hỏi ông bằng tiếng Anh:

– Anh có khỏe không?

Ông đáp lại cũng bằng tiếng Anh:

– Tôi khỏe, cám ơn ông. Còn ông thì sao?

Tôi đổi sang tiếng Việt, hỏi cùng một câu ông đã cám ơn tôi bốn năm về trước:

– Bữa nay có ai mở hàng cho anh chưa?

Ông dương to đôi mắt nhìn tôi, bất chợt reo lên:

– Ồ! Anh về hồi nào vậy? Anh chị có khỏe không?

– Tôi về tới trưa hôm qua! Tôi đi loanh quanh đây cả chục bận mà không thấy anh.

– Dạ, trưa hôm qua em bận sắp hàng lãnh tiền nhà nước trợ cấp cho người già trên tám mươi tuổi.

Tôi hỏi:

– Anh lãnh được bao nhiêu?

– Dạ, ba trăm sáu mươi ngàn.

Tôi đùa:

– Vậy thì anh giàu to rồi! Anh mời tôi ăn sáng với uống cà phê bữa nay được không?

Nụ cười hiền từ nở trên môi đi kèm với cái gật đầu. Tôi hỏi tiếp:

– Ngày hôm qua tôi đi tới cổng sau trường Nguyễn Đình Chiểu, cũng không thấy ông bạn lính Truyền tin của tôi đâu nữa!

– Dạ, ông ấy cũng sắp hàng lãnh tiền trợ cấp người già cùng với em hôm qua.

Lòng tôi vui hẳn lên bởi mọi âu lo về hai cụ đạp Xích Lô tôi quen hoàn toàn biến mất. Ngồi trên xe cho ông chở tới đường Lê Lợi lần này, tôi không lo sợ nó sẽ bị thân hình tôi đè bẹp như mấy năm trước, bởi tôi giảm được hơn cả chục ký lô. Giọng ông thông dịch viên vẫn rộn ràng, huyên thuyên với bao câu chuyện cũ mới. Ngay khi xe gần tới ngã tư Lê Đại Hành, tôi đã nhìn thấy ông cụ muốn tìm. Người lính già nhận ra tôi, nở nụ cười tươi chào đón. Tôi thấy dường như hàm răng ông mất thêm vài cái nữa!

*

Tôi nghe lòng lâng lâng chút niềm vui, khi thuật lại cho bà vợ nghe cuộc gặp gỡ bất ngờ lẫn tình cờ trong buổi sáng hôm đó, rồi dặn dò:

– Khoảng bốn giờ chiều nay, anh đã hẹn với hai ông Xích Lô tới đón tụi mình, chở chạy vòng vòng Mỹ Tho một lát, rồi anh mời hai ông ấy ăn tối luôn với tụi mình ở quán cơm Chí Thành.

Nhà tôi ngần ngừ:

– Ngồi cho hai cụ già đạp chở đi em ngại lắm!

Tôi liền giải bày:

– Em có biết hầu hết khách quen, đều thương hoàn cảnh già cả của hai ông ấy, đi chỉ muốn giúp đỡ thôi! Nhờ vậy mà hai ông vẫn còn việc làm để sống cho đến giờ. Không chịu ngồi lên xe thì em lấy cớ gì để giúp hai ông ấy đây?

Tôi còn khơi lại chuyện cũ:

– Em nhớ hồi tụi mình ghé Mã Lai chơi, khi anh hỏi chú lái xe ở George Town xem có người nào đến tuổi bảy mươi tám rồi mà vẫn đạp Trishaw không?

Vợ tôi gật đầu:

– Em nhớ chứ.

Tôi nói tiếp:

– Bây giờ cái mà bốn năm về trước, chú đạp Trishaw cho là kỷ lục thế giới, đã bị phá bởi hai người tuổi tám mươi hai với tám mươi sáu ở Mỹ Tho. Hai cụ vẫn tiếp tục hành nghề Xích Lô chở khách để nuôi bản thân lẫn gia đình. Bữa nay anh sẽ chỉ cho em thấy thêm một chiếc Xích Lô cũ kỹ, bệ rạc nhất vẫn tiếp tục chạy trên đường phố Mỹ Tho.

So với các tỉnh thành toàn miền Nam trước đây, sự phồn vinh của Mỹ Tho nhượng có mỗi Sài Gòn. Đến nay điều này chỉ còn trong quá khứ. Bởi mọi sự nổi tiếng khi xưa như vương quốc trái cây, cái nôi đờn ca tài tử, hủ tiếu Mỹ Tho,… chỉ hấp dẫn để đón du khách ngoại quốc đến rồi đi nội trong ngày. Như vậy trước sau gì cả Xích Lô lẫn người đạp tại Mỹ Tho sẽ lần hồi mai một theo thời gian cùng tuổi tác. Riêng tôi chẳng biết trở về Mỹ Tho được bao nhiêu lần nữa! Để có dịp tìm gặp và trò chuyện cùng hai ông đạp Xích Lô, ngày ngày vẫn ngồi chờ khách nơi bến đò Tân Long và trên lề đường Lê Lợi.

Nguyễn Văn Hưởng


Wednesday, December 20, 2023

Ông Chủ

Hễ nhắc đến bao sự khó khăn của thủa ban đầu lập lại cuộc đời trên miền đất mới, nhiều người thường ví von, chẳng hạn họ như bắt đầu bằng con số không to tướng hoặc với hai bàn tay trắng. Riêng tôi chẳng những hơn họ hẳn tới ba con số không, lại thêm con số năm to tướng đứng đằng trước. Nghĩa là tôi bắt đầu cuộc sống trên đất Mỹ với món nợ trên năm ngàn đô la. Bởi tôi phải ký giấy nợ tiền vé máy bay đưa ba người trong gia đình nhỏ bé của tôi từ bên trại tị nạn Mã Lai đi định cư, cộng với mọi chi phí nhà thương lúc sinh đứa con trai thứ hai, sau đúng bốn ngày đến Mỹ. Vì chúng tôi đã rời Worthington, một thành phố nhỏ nằm phía cực Nam bang Minnesota, nơi tôi được bảo trợ vào nước Mỹ, để dọn về San Diego, nên không thể xin chính quyền duyệt xét lại được. Tuy nhận lãnh tới hai món nợ quá lớn, tôi lại cảm thấy nhẹ tênh, bởi chỉ phải trả góp tổng cộng hai mươi đô la một tháng. Giống như cắt bớt đi một phần nhỏ số tiền chính phủ trợ cấp cho gia đình tôi sinh sống.

Tôi chẳng rõ các nơi khác sự trợ giúp người tị nạn ra sao, riêng tại San Diego vào thời điểm năm 1977, gia đình tôi ngoài việc được cấp phát đầy đủ tiền bạc để sinh sống, còn nhận thêm trợ giúp tiền mua thực phẩm, bảo hiểm y tế, thuê nhà giá rẻ… Riêng việc học tiếng Anh, vào lớp chẳng những không phải trả cắc bạc nào, tôi may mắn theo học một khóa ba tháng. Học tám tiếng mỗi ngày, năm ngày một tuần, được lãnh mỗi giờ hai đô la rưỡi, ngang với mức lương tối thiểu tại California. Cái tên tiểu bang dài lòng thòng, được người Việt cắt bớt chỉ còn hai chữ Cali, vừa dễ gọi vừa đáng yêu, đỡ phải cong môi uốn lưỡi.

Vài ngày trước khi mãn khóa học, bỗng dưng anh bạn ngồi cạnh tôi vắng mặt. Đến buổi học chiều, thấy anh trở lại lớp, tôi gạn hỏi:

– Sao anh nghỉ học sáng nay vậy?

Anh đáp:
– Ồ! Nhà trường gởi tôi đi xin việc.

Tôi hỏi tiếp:
– Công việc gì vậy anh?

– Đan vợt racquetball.

Hai tiếng "đan vợt" khiến mắt tôi sáng lên. Bởi vài hôm trước, nhân lúc ngồi tán gẫu cùng bè bạn, hỏi han nhau về công ăn việc làm tại San Diego, tôi nghe một người huyên thuyên nhắc đến racquetball, một môn chơi trong gian phòng chữ nhật. Người chơi dùng một loại vợt cán ngắn, khung nhỏ hơn vợt tennis chút đỉnh, thi nhau đánh mạnh quả bóng vào tường cho văng ra chạm xuống sàn. Ai để quả bóng nảy trên sàn quá một lần sẽ bị thua một điểm. Đây là môn thể thao với mục đích vận động thân thể hơn là tranh tài cao thấp cho khán giả xem. Nhưng điều khiến tôi chú ý và ao ước tìm được công việc này, bởi có thể làm tại nhà, như vậy điều lo lắng nhất của tôi là phải giao tiếp bằng tiếng Anh không trở ngại chi nữa!

Tôi nôn nóng hỏi:
– Anh có xin được công việc đó không?

Anh bạn lắc đầu:
– Họ chỉ nhận người có kinh nghiệm thôi.

Tôi buột miệng hỏi tiếp:
– Anh có thể chỉ tôi đường đi, để tôi tới đó xin thử xem có may mắn hơn anh không?

Anh lấy từ túi áo ra đưa cho tôi mảnh giấy ghi địa chỉ. Thấy cách nhà tôi độ chục dặm đường, thế là sau giờ tan học, tôi lái xe tìm tới đó ngay. Đến nơi mới biết, đây chẳng phải một hãng xưởng, mà là một ngôi nhà nằm trong khu dân cư.

Tôi nghe rõ tiếng chuông binh bong vừa bấm, rồi một người đàn ông da trắng kém tôi vài tuổi, thân hình rắn rỏi, bước ra mở cánh cửa cái. Đứng bên ngoài khung cửa lưới, dù đã nhẩm đi nhẩm lại khá nhiều lần, tôi vẫn phải cố hết sức mới bập bẹ thành lời:

– Thưa ông… tôi đến đây… xin việc làm.

Ông nhìn tôi vừa lắc đầu vừa đáp:
– Tôi không cần người làm nữa!

Tôi nghe và hiểu trọn vẹn câu này, nhưng vẫn đứng nguyên một chỗ dương mắt bối rối nhìn ông. Tôi nhớ rõ lắm, tạng người tôi lúc đó cao hơn một thước bảy, mặc quần size hai mươi bảy, cân nặng dưới bốn mươi bảy ký lô… Ông nhìn tôi chằm chằm một lúc, có lẽ thương hại một người đàn ông da vàng mũi tẹt ốm yếu, mới lên tiếng hỏi:

– Anh có kinh nghiệm đan vợt không?

Vì không muốn đánh mất cơ hội tốt này, tôi đành phóng đại:
– Tôi… tôi… đã có chút kinh nghiệm… đan vợt ở Việt Nam.

Thế là ông mở rộng cánh cửa lưới cho tôi bước vào nhà. Ông đến đứng bên một khung sắt đen, cao hơn một thước tây chút đỉnh. Tôi đoán đây chắc là dụng cụ đan vợt. Ông chỉ tay vào đó, lên tiếng hỏi:

– Anh từng sử dụng công cụ đan vợt này chưa?

Lần này câu tôi trả lời thật hơn một chút:
– Thưa ông chưa…. có lẽ… có lẽ… dụng cụ đan vợt bên Việt Nam… cũ hơn ở đây. Nhưng… nhưng… tôi tin là nếu… nếu… tôi thấy cách ông đan… chắc chắn tôi sẽ làm được.

Lắng nghe tôi cố gắng diễn đạt vừa dứt, ông cầm một cây vợt màu đen tuyền lên, vừa gắn vào máy vừa dẫn giải từng động tác một. Lần trò chuyện ấy tôi hiểu ông bằng đôi mắt nhiều hơn giọng nói. Qua những động tác liên tục biến đổi tôi biết, khi đặt cây vợt vào máy đan cần vặn thật chặt, để khung vợt không bị lực dây kéo làm thay đổi hình dạng. Sau mỗi lần căng dây, ông đều dùng cái kẹp kẹp chặt sợi dây lại, giữ cho dây luôn căng đều cùng một lực. Đan xong bề dọc, ông hướng dẫn tôi đan chiều ngang. Ông cẩn thật chỉ vẽ cách đặt hai ngón tay trỏ phía trên và phía dưới đường dây dọc, cứ thế nhịp nhàng đẩy sợi dây nằm giữa hai ngón tay, sao cho dễ dàng luồn lên luồn xuống. Bàn tay ông hơi to nhưng nhịp nhàng đưa đẩy đều đặn, nhìn chẳng khác gì người lực sĩ đang bơi bướm trồi lên hụp xuống lấy hơi trên mặt nước. Đôi bàn tay ấy cũng đóng mở hai cái kẹp liên tục, để luôn giữ cho đồng đều sức căng mỗi đường dây. Ông liên tục mở kẹp, đóng kẹp, luồn lách ngón tay mỗi lần căng thêm dây. Ông làm điêu luyện, thuần thục, mất chưa tới mươi phút đã đan xong một cây.

Lấy cây vợt ra khỏi máy xong, ông đập nhè nhẹ lên đầu gối như để cảm nhận độ căng của dây, rồi lên tiếng hỏi:

– Anh có thể đan được như vậy không?

Tôi suy nghĩ tìm câu chữ một lúc mới cố diễn đạt:
– Xin ông vui lòng… cho tôi mượn một mảnh giấy… với một cây bút… để tôi ghi chép lại… từng động tác ông làm.

Nhìn ông đi vào một căn phòng, tôi mừng thầm biết ông hiểu đúng điều tôi muốn. Vài phút sau bước trở ra ông trao cho tôi quyển sổ với một cây bút. Sau đó ông lấy cây vợt khác đặt lên máy, tiếp tục đan. Giống như lần trước, vừa làm ông vừa luôn miệng dẫn giải. Tôi chỉ lặng thinh dương mắt quan sát thật kỹ và ghi ra giấy. Đan xong cây vợt nữa, ông lại hỏi:

– Anh có thể đan được chưa?

Lúc đó đầu óc tôi quá căng thẳng vì vừa nghĩ tiếng Việt vừa phải dịch sang tiếng Anh. Phần phải chú tâm vừa nghe, vừa nhìn vừa ghi ghi chép chép. Giọng tôi vẫn ấp úng:

– Xin ông vui lòng… đan thêm một cây nữa… để tôi kiểm soát kỹ lại… những gì tôi vừa ghi trong quyển sổ này.

Sau khi ông đan xong cây vợt thứ ba. Đến phiên tôi tự tay vặn chặt cây vợt vào chiếc máy. Việc căng dây theo chiều dọc khá dễ dàng, tôi không gặp trở ngại nào. Đến chừng đan bề ngang, mỗi lúc thấy tôi ngập ngừng hay đan sai, ông lại chỉ ngón tay vào quyển sổ. Tôi với ông hiểu nhau vẫn bằng cử chỉ hơn lời nói. Cuối cùng sau cả giờ đồng hồ tôi mới đan xong cây vợt racquetball đầu tiên.

Nhìn ông đưa cây vợt lên ngắm nghía với nụ cười trên môi, tôi mừng vô hạn. Trong lúc vẫn chưa biết phải làm gì tiếp, ông đã lên tiếng:

– Bây giờ tôi bận chút công chuyện phải đi ra ngoài khoảng hai giờ đồng hồ. Anh có thể ra về hoặc ở đây tiếp tục đan cho tới khi tôi quay trở lại.

Ông nói thật chậm, giúp tôi hiểu trọn vẹn lời ông. Tôi mừng quá đỗi, gật đầu nói nhanh, giọng vẫn ấp úng:

– Tôi… tôi sẽ ở lại đây đan… cho… cho tới lúc ông trở về.

Cánh cửa vừa khép lại, tôi ngồi xuống chiếc sofa êm ái, như để trút bỏ hết mọi nỗi căng thẳng suốt gần hai giờ qua. Tôi đảo mắt khắp gian phòng khách ngăn nắp, đẹp đẽ chẳng khác gì cảnh trong phim ảnh. Từ cái bàn cà phê hình trái xoan với mấy tờ tạp chí Times, Sports, nhật báo San Diego Union đặt bên trên, từ cái tủ tivi bóng lộn màu gỗ nâu, cho đến cái lò sưởi như toát ra vẻ thanh lịch, ấm cúng. Nhìn ra bên ngoài hàng hiên phía sau ngôi nhà, cả một khu vườn xanh lá cùng vài khóm hoa hồng, y như một công viên nho nhỏ. Tiếc là tôi không thể ngắm lâu, vì phải bắt tay ngay vào công việc.

Đan cây vợt thứ hai này tôi cảm thấy nhanh hơn cây đầu tiên khá nhiều. Nhưng than ôi khi kiểm soát lại tôi nhận ra đã mắc một sai lầm, để một đoạn dây đan ngang không tròng chéo theo đúng thứ tự! Cả hai đều nằm phía trên, thay vì phải sợi trên sợi dưới liên tục đều nhau. Tôi phải đau lòng cắt bỏ đan lại. Nhìn bao cọng dây vàng ươm vứt bừa bãi trong thùng rác, tôi đâm lo sẽ bị ông phát hiện, mới vội vàng nhặt hết từng cọng lên nhét vào hai túi quần để phi tang.

Đến chừng ông trở lại, tôi cũng đan vừa xong cây vợt thứ tư. Ông nhìn thật kỹ ba cây vợt tôi vừa đan, gật gù nói:

– Tôi sẽ trả cho anh bảy mươi xu một cây vợt.

Thấy tôi nhìn ông cười thật tươi, ông nói giọng vui đùa:
– Vậy là hôm nay anh làm được hai đô la tám mươi xu rồi đó.

Tôi càng mừng hơn khi nghe rõ từng câu ông hỏi:
– Ngày mai anh muốn tới đây đan vợt nữa không?

Tôi chỉ biết gật đầu lia lịa, cố gắng giải thích để ông hiểu, mãi đến cuối tuần này tôi mới mãn khóa học. Tôi xin ông cho tôi tiếp tục lại nhà ông đan vợt sau giờ tan lớp. Ông vui vẻ gật đầu. Tôi cười thật tươi lúc bắt tay từ giã, hân hoan mở toang cánh cửa bước đi, đối nghịch hoàn toàn với tâm trạng nặng trĩu suy tư lúc lái xe đến đây.

*
Kể từ sau ngày mãn khóa học tiếng Anh có nhận lương, mỗi ngày tôi đều đến nhà ông, làm liên tục suốt từ sáng cho đến khi trời tối mịt. Đúng hai tuần sau ngày tôi đặt chân vào ngôi nhà này. Ông chờ đến khi tôi dọn dẹp lại chỗ làm việc chuẩn bị ra về, mới từ trong buồng bước ra, bảo tôi ngồi xuống sofa, còn ông ngồi trên chiếc ghế đối diện. Ông đưa cho tôi một tờ giấy trắng, vẫn với giọng thật chậm rãi:

– Anh viết rõ tên họ, số an sinh xã hội, số bằng lái xe, số điện thoại và địa chỉ nơi anh đang ở vào mảnh giấy này cho tôi.

Nhìn phớt qua tờ giấy tôi vừa trao, ông tự giới thiệu mình:
– Tên tôi là Brant, B R A N T. Họ của tôi là Bauder, B A U D E R.

Ông nói rõ ràng, còn đánh vần từng chữ một. Ông bảo tôi lập đi lập lại cho tới khi phát âm đúng. Ông cũng đọc và đánh vần tên họ tôi. Quả không ngờ giọng ông khá chính xác, khi phát âm hai dấu hỏi, dấu ngã có trong tên tôi.

Chiều hôm đó ông ký tấm ngân phiếu đầu tiên trao cho tôi rồi nói:
– Hôm nay tôi cho anh đem cái máy đan này về nhà cùng với một thùng vợt ba mươi cây. Đan xong anh mang tới đây cho tôi rồi nhận thêm vợt mới để đan tiếp.

Tôi vừa nghe được câu nói hằng mong đợi từ ngày đầu đến đây. Lòng tôi như reo vui lúc khiêng cái máy đan vợt đặt vào trong thùng xe. Về đến nhà niềm hân hoan liền lan tỏa sang cho bà vợ. Tôi líu lo tuôn ra hết những điều vừa học được suốt thời gian qua. Mấy ngày trước tôi là đứa học trò tập tành làm quen từ cách cột chặt sợi dây, cho đến việc xoay trở chiếc máy… Giờ tôi nghiễm nhiên trở thành một ông thầy chỉ vẽ cho bà vợ mọi việc cần làm. Giống hệt như lần đầu Brant giải thích rõ từng động tác cầm kềm, cắt chéo đầu dây thành mũi nhọn,… Vợ tôi cũng dương to đôi mắt nhìn từ ngón tay đến bàn tay tôi nhịp nhàng di chuyển, luồn lách như múa may cùng cây vợt, cái kẹp và luôn cả mấy cọng giây.

Để giúp nhà tôi có thể thực tập ngay, tôi nghĩ ra một sáng kiến. Cho bà vợ đan bề dọc, phần dễ dàng nhất trẻ con cũng làm được, tôi sẽ đan tiếp bề ngang sau. Nhìn vợ tôi tươi cười cúi mặt chăm chú đan, xem ra có vẻ nể nang tôi lắm! Tôi nhẩm tính trong đầu theo lối suy nghĩ đậm chất Việt Nam, rồi từ tốn phân tích về cái tương lai sáng rỡ của hai vợ chồng:

– Hiện giờ mỗi tiếng đồng hồ anh có thể đan khoảng năm sáu cây vợt. Nếu anh chỉ đứng đan mười tiếng một ngày thôi! Ôi như vậy mỗi tháng mình kiếm được bạc ngàn dễ như chơi.

Vợ chồng tôi cứ thế "phấn khởi hồ hởi" vừa làm vừa huyên thuyên dệt mộng. Ba chục cây vợt mang từ nhà Brant về lúc ban chiều, nhờ sáng kiến độc đáo vừa phát sinh, chúng tôi thanh toán chớp nhoáng, mắt chưa buồn ngủ mọi việc đã xong xuôi.

Qua sáng sớm hôm sau tôi điện thoại cho Brant hẹn giờ giao vợt. Tôi quả bất ngờ nhìn gương mặt Brant nhăn nhúm lại lúc rút một cây vợt lên xem. Brant còn đổ hết cả thùng vợt bày đầy ra thảm. Với gương mặt giận dữ, đôi mắt láo liên, Brant tìm kiếm trong đống vợt một lúc, bước tới nhặt lên hai cây, đưa ra trước mặt tôi, gằn giọng hỏi:

– Anh có làm đúng như tôi đã hướng dẫn không?

Tôi mạnh dạn đáp:
– Dạ… dạ… rất đúng… rất đúng thưa ông.

Giọng Brant quả quyết:
– Không, anh chỉ đan đúng có mỗi một cây thôi, hai mươi chín cây kia hoàn toàn sai bét hết!

Tôi lẳng lặng cầm hai cây vợt Brant vừa trao, một cây như hình trái xoan, còn cây kia tròn vo, chẳng khác chi khuôn trăng rằm. Tôi nhận ra cái lỗi của mình. Bởi khi để vợ tôi đan bề dọc trước, nên lúc tháo cây vợt ra khỏi máy, sức căng dây đã làm biến dạng khung vợt. Tôi như một tội đồ, đau đớn, câm nín đứng nhìn bàn tay Brant lần lượt cắt hết dây hai mươi chín cây vợt, sau đó phải cố uốn, cố nắn từng cái khung cho trở lại hình dáng cũ. Cả giờ đồng hồ sau, Brant trao lại thùng vợt và cuộn dây đan mới cho tôi, nghiêm mặt nói:

– Anh mà không làm đúng như lời tôi chỉ dạy, tôi sẽ lấy cái máy đan lại và không nhận anh làm việc cho tôi nữa! Anh hiểu rõ lời tôi nói không?

Tôi gật đầu lia lịa, miệng chỉ biết lí nhí lập đi lập lại mấy câu xin lỗi. Tôi cũng muốn bồi thường cho sự thiệt hại lớn lao này, nhưng tôi không đủ trình độ tiếng Anh để hỏi Brant xem giá cả hai mươi chín sợi dây anh phải cắt bỏ là bao nhiêu? Sau tai nạn thảm sầu đó, sự việc đần độn ấy không xảy ra nữa. Việc đan vợt của vợ chồng tôi mỗi ngày mỗi tiến bộ hơn. Vài tháng sau Brant giao cho tôi tất cả bốn cái máy đan vợt ông hiện có. Thế là cả bố mẹ lẫn các em tôi đều trở thành người làm công cho Brant.

*
Brant và tôi ngày một hiểu nhau tăng dần theo số vốn liếng tiếng Anh tôi học hỏi thêm được. Tôi còn xem Brant là một vị thầy dạy tiếng Anh cho tôi. Bởi Brant biết tôi thường phạm lỗi khi trả lời tiếng "phải" (yes) hay "không" (no) trong các câu hỏi ở thể phủ định. Có lần Brant hỏi tôi:

– Anh không phải đến lớp học chiều nay sao?

Tôi gật đầu đáp:
– Phải, phải… thưa ông chiều nay tôi không có lớp.

Brant liền dạy tôi sửa lại:
– Một khi trả lời "phải", anh phải nói là: Phải, chiều nay tôi có lớp. Một khi trả lời "không", anh phải nói là: "Không", chiều nay tôi không có lớp. Vậy anh cho tôi biết, chiều nay anh có đến lớp học không?

Tôi mạnh dạn đáp:
– Không… không chiều nay tôi không có lớp.

Mỗi khi nghe tôi phát âm sai, Brant cũng kiên nhẫn chỉ tôi nói đi nói lại nhiều lần cho thật đúng. Ngoài việc chỉ dạy thêm tiếng Anh, Brant giúp tôi chấn chỉnh lại đôi chút về cung cách làm việc hơi cẩu thả, cố tình che dấu sự sai phạm của mình. Bởi tôi biết mỗi lần kiểm soát, Brant chỉ rút mỗi thùng vài ba cây vợt lên xem xét thôi, nên đôi lần tôi dấu nhét mấy cây vợt đan không đúng độ căng vào thùng. Một lần Brant bắt gặp những bốn cây kém chất lượng. Chẳng những Brant không tức giận, trách phiền, mà chỉ ôn tồn hỏi tôi:

– Anh biết vì sao nhiều người trên thế giới ưa chuộng các sản phẩm mang nhãn hiệu Hoa Kỳ không?

Tôi đáp:
– Vì bền bỉ và chất lượng cao.

Brant gật đầu nói tiếp:
– Để đạt được điều đó người Mỹ luôn cẩn trọng trong mọi công việc sản xuất. Tôi khuyên anh, khi đan xong cây vợt nào, anh hãy tự đặt câu hỏi: Nếu anh là người mua, anh có chọn cây vợt anh vừa đan không? Trả lời thông suốt câu hỏi đó, tức là anh đã góp phần vào việc bảo vệ cho thương hiệu của Mỹ rồi! Anh dư biết, nếu số vợt tôi đem giao cho hãng bị trả lại nhiều, họ sẽ không tiếp tục giao vợt cho tôi nữa, chắc chắn sự việc này sẽ ảnh hưởng đến mọi người trong gia đình anh.

Lời Brant phân tích chỉ dạy đó giúp tôi nhìn lại hành động chính bản thân mình để tự sửa đổi, nhờ thế công việc mỗi ngày càng ít trở ngại hơn.

Có lần Brant mang đến nhà tôi cả mấy ngàn cây vợt, rồi hỏi:
– Cho tôi biết chừng nào nhóm của anh đan xong số vợt này?

Tôi hỏi ngược lại:
– Ông muốn tôi giao vợt lại cho ông trong vòng mấy hôm?

– Độ một tuần lễ có thể xong không?

Tôi nhẩm tính một lúc rồi bảo Brant:
– Chỉ bốn hoặc năm ngày thôi, thưa ông.

Và cũng kể từ lần đó Brant hiểu thêm về sự siêng năng, cần cù của người Việt Nam. Vì vậy mỗi lần giao việc cho tôi, Brant thường bảo cứ thong thả làm, nhưng đâu một ai trong đại gia đình tôi chịu thong thả! Hễ có vợt là bố mẹ tôi, vợ chồng tôi, các em tôi chỉ ngừng đan lúc ăn cơm hay cần vào nhà vệ sinh. Đôi khi không thể chờ tôi tới nhà nhận vợt, Brant thường dấu chìa khóa cửa trên kèo nhà, nơi chỉ riêng tôi với Brant biết.

Bởi công việc được trả dựa vào con số vợt trao và nhận, tuy sự nhầm lẫn hiếm khi xảy ra, nhưng vẫn có. Lần đó tôi thấy hai con số khác biệt, liền báo cho Brant:

– Tuần này ông đã trả cho tôi thiếu ba cây vợt.

Brant kiểm soát lại sổ sách, lắc đầu xác quyết:
– Tôi không sai. Tôi chỉ trả cho anh đúng theo con số tôi ghi cẩn thận trong quyển sổ của tôi thôi.

Thấy sự sai biệt chẳng nhằm nhò gì, tôi liền nhún vai:
– Tốt thôi, không sao hết.

Đến một lần khác, con số vợt Brant trả nhiều hơn con số tôi ghi. Tôi cũng báo cho Brant biết:

– Ông trả cho tôi dư đúng một chục cây vợt.

Vẫn như lần trước, Brant xem lại sổ sách rồi quả quyết:
– Anh sai chớ tôi không sai.

Brant nghênh mặt lên nói tiếp:
– Ở đây tôi là chủ! Anh phải nhận đủ số tiền Ông Chủ trả cho anh.

Tôi cũng chỉ biết nhún vai, bỏ tấm ngân phiếu vào túi. Và kể từ đó hai tiếng "Ông Chủ" luôn ở trên cửa miệng tôi mỗi khi nhắc đến Brant.

Ông Chủ chẳng những chỉ quan tâm đến công việc đan vợt mà còn nghĩ đến tương lai những người làm công cho ông. Một lần Brant khuyên tôi:

– Nghề đan vợt này chỉ giúp gia đình anh có được cuộc sống tạm đủ thôi. Tôi khuyên anh với các em của anh nên ghi tên học một ngành nghề nào khác ở mấy đại học cộng đồng hay một trường dạy nghề nào đó, để có thể tìm được một công việc làm tốt, thì tương lai gia đình các anh mới vững vàng hơn.

Nhờ lời khuyên chân thành đó, tôi ghi tên học vài lớp tại trường cao đẳng Cộng đồng San Diego. Tôi được thu nhận theo một khóa học nghề thợ tiện. Học và thực tập trong vòng ba tháng, được nhận lãnh ngang bằng mức lương tôi theo học khóa tiếng Anh. Có cấp bằng rồi, nhà trường còn giới thiệu học viên đến các công ty lớn trong quận hạt San Diego xin việc. Thêm một lần nữa tôi may mắn được nhận vào làm cho hãng Rohr ở Chula Vista. Đây là một công ty chuyên sản xuất các cơ phận thuộc ngành hàng không và không gian. Tôi làm ở đó mãi cho đến khi xin nghỉ hưu.

Tuy tìm được một việc làm vững chắc, lương cao, nhưng chính công việc đan vợt giúp tôi có được một cuộc sống gia đình chẳng mấy khác nề nếp khi xưa. Nghĩa là ông chồng ra bên ngoài kiếm sống, bà vợ ở nhà chăm sóc gia đình, con cái. Nhờ vậy cha con tôi luôn có người lo cho từ bữa cơm đến giấc ngủ, cho dù bà vợ tôi luôn bận bịu với công việc đan vợt hàng ngày.

*
Cả gia đình lớn của tôi làm việc cho Ông Chủ gần chục năm trời. Làm mãi cho đến hôm Brant đến tận nhà báo tin, Brant sẽ bỏ hẳn nghề đan vợt. Dù vậy Brant giới thiệu tôi với mấy người bạn vẫn theo đuổi nghề nghiệp này. Brant tặng tôi luôn cái máy đan làm kỷ niệm. Tôi bùi ngùi khi biết Brant cũng sẽ rời bỏ căn nhà ở San Diego, và chẳng rõ sắp lưu lạc nơi phương trời nào!

Những tháng ngày sau đó, mỗi năm một lần tôi mới biết tin Brant qua tấm thiệp Giáng Sinh. Thiệp Brant gởi tới nhà chẳng những đặc biệt còn riêng biệt nữa. Mỗi tấm thiệp tuy khác nhau, nhưng chỉ nhìn phớt qua hình ảnh vui tươi dí dỏm, chưa cần thấy nét chữ, tôi biết ngay đó là của Brant.

Góp nhặt lại bao lời trong những tấm thiệp, tôi biết Brant đã trở thành một phi công của hãng American Airlines. Brant kể về bao chuyến phi hành đầy lý thú. Nào Brant vinh dự được tham gia phi hành đoàn đầu tiên bay đến Venice, một thành phố nổi tiếng với nhiều kinh đào dọc ngang của nước Ý, trên chiếc Boeing 787. Nào vào một ngày Hè rực nắng, Brant lái chuyến bay sang Hồng Kông, lưu lại đó cả tuần lễ, rong chơi trong Disneyland và lang thang khắp các nẻo phố phường. Vào đêm cuối cùng Brant cùng bạn hữu dùng bữa tối trên tầng thứ một trăm mười sáu của tòa nhà cao nhất Hồng Kông. Brant kể thêm, trước khi nghỉ làm việc cho American Airlines. Brant được bay chuyến cuối với Randy Taylor, viên phi công trưởng tuyệt vời, để cùng đến Thượng Hải rồi quay trở về Los Angeles. Sau ngày đó Brant bay chiếc Cessna Citation X hùng dũng, một loại máy bay dân sự nhanh nhất hành tinh của hãng NetJets.

Brant cũng báo cho tôi biết khi lập gia đình với một nữ văn sĩ. Tuy tôi không tham dự lễ cưới, nhưng hình ảnh và tình yêu thương chan hòa của đôi lứa, cũng ngập tràn qua những gì Brant gởi kèm theo thiệp Giáng Sinh. Rồi vợ Brant qua đời đột ngột, không có lấy một đứa con! Tôi cảm nhận được nỗi mất mát to lớn ấy cũng chỉ qua những cánh thiệp. Brant dần lấy lại thăng bằng trong cuộc sống qua cách san sẻ tình yêu thương cho hai con chó cưng. Loại chó Brant nuôi cũng cao to, mạnh mẽ nhưng hiền lành giống chủ.

Rồi Brant bước thêm bước nữa cùng một bà mẹ đơn thân. Tôi cảm nhận tình yêu thương nồng nàn đầy tràn hạnh phúc của một gia đình mới. Từng câu chữ Brant viết trong thiệp Giáng Sinh tiếp tục lay động lòng tôi. Tôi ghi ra đây mấy lời thân thương từng nhận được:

Hưởng và Dĩ thân yêu nhất.

Hy vọng hai bạn có một Giáng Sinh vui vẻ và một năm mới tuyệt vời!
Đã quá lâu rồi tôi mới có thời gian để gởi thiệp Giáng Sinh, nhưng xin hãy tin nơi tôi khi tôi nói rằng, tôi thường xuyên chân thành nghĩ về hai bạn. Gần đây cuộc sống tôi bận rộn lắm, nhưng rốt cuộc chúng tôi cũng tìm được thời gian để cùng với gia đình nghỉ ngơi ở Hawaii. Hy vọng mọi người trong gia đình bạn đều khỏe và cuộc sống về hưu của hai bạn luôn tuyệt vời.

Luôn yêu thương thật nhiều.

Adam, Amelia và Brant.

Sang một năm khác, vẫn bao nhiêu lời lẽ chân thành ngắn gọn ấy.

Hưởng và Dĩ thân yêu nhất.

Tôi luôn nghĩ về hai bạn, thường kể cho bạn bè tôi nghe câu chuyện của gia đình hai bạn nữa. Tha lỗi cho tôi vì tôi không thể gặp bạn thường xuyên như trước đây. Nhưng cuộc sống là như vậy đó! Tôi chúc cả hai bạn một mùa Giáng Sinh và một năm mới hạnh phúc.

Luôn yêu thương thật nhiều.

Adam, Amelia và Brant.

Còn đây, chữ nghĩa của Brant viết trong tấm thiệp Giáng Sinh năm 2022.

Hưởng và Dĩ,

Có thể hai bạn không biết điều này. Đó là một trong những niềm vui lớn nhất trong cuộc đời tôi là nhận được thiệp Giáng Sinh của hai bạn hàng năm. Qua đó tôi biết được tình hình gia đình hai bạn như thế nào. Hưởng, Dĩ, và từng người thân của hai bạn là tất cả những gì mà "Giấc Mơ Mỹ Quốc" hướng tới và tôi rất vui khi được trở thành một phần trong Giấc Mơ Mỹ Quốc đó. Hy vọng bạn có một năm tuyệt vời và tốt nhất hơn bao giờ hết.

Luôn yêu thương thật nhiều.

Adam, Amelia và Brant.

Quả đúng những gì Brant viết. Ngày tôi trốn tù cải tạo đưa cả đại gia đình mười bốn người gồm ba thế hệ vượt biển, chúng tôi ra đi chỉ với mục đích tìm tự do, để được sống đúng với phẩm cách một con người. Chúng tôi đến đất Mỹ với thân phận người tị nạn, xem đây là chốn tạm dung. Nhưng không, lần hồi thời gian giúp tôi nhận nơi đây chính là quê hương thứ hai. Cho dù đầu óc tôi chưa hề dệt "Giấc Mơ Mỹ Quốc". Nhưng con người và đất nước này cũng ban cho tôi và gia đình tôi mọi điều thật tốt lành mà nếu có ước mơ cũng không thể nào đẹp đến như vậy. Brant đã viết: Brant là một phần trong giấc mơ đó. Với riêng tôi tuy Brant chỉ là một phần, lại là phần quan trọng nhất. Nhờ Brant giao cho tôi công việc đan vợt, mà mỗi gia đình nhỏ trong gia đình lớn của tôi đều mua trả góp được một mái ấm riêng, chỉ hơn một năm sau ngày định cư trên đất Mỹ.

Sự thân thiết giữa chủ và thợ lan sang cả các con tôi. Tôi từng thấy đôi mắt Brant trìu mến nhìn con tôi bò lê bò la dưới sàn nhà, cạnh chiếc máy đan vợt quanh chân mẹ. Tôi cảm nhận được vòng tay thân ái lúc Brant ôm các con tôi vào lòng, hay nhét vào tay cho chúng bọc kẹo cùng mấy món đồ chơi nho nhỏ hình người nhện hay siêu nhân. Qua việc vợ tôi lưu lại mọi tấm thiệp Brant gởi đến, như cất giữ cẩn thận những gì thân thương nhất. Qua việc con cháu tôi học hành thành đạt,… Tôi thấy rõ mọi thứ tôi có hiện giờ đều thấp thoáng hình bóng Brant trong đó.

Với cuộc sống đã qua đi hơn ba phần tư thế kỷ, tôi có thể xác quyết Brant là Ông Chủ duy nhất và vĩnh viễn nằm sâu trong tâm khảm tôi. Ngày tôi rời mái trường lên đường nhập ngũ, Ông Chủ tôi chính là quê hương đất nước Việt Nam, chớ không phải ông tá hay ông tướng nào chỉ huy tôi. Từ ngày đặt chân đến quê hương thứ hai, tôi làm việc với toàn những ông giám sát, trưởng phòng hay giám đốc, không ai là Ông Chủ tôi hết. Bởi họ chỉ giao phó công việc mà không trực tiếp phát lương cho tôi, bằng chính đồng tiền trong túi hay trong ngân hàng của họ.

Đời tôi trải qua nhiều khúc quanh cũng như trạm dừng chân. Nếu ngày hôm ấy tôi không rẽ vào một khúc quanh rồi đến bấm chuông nhà Brant, tôi không biết cuộc sống gia đình tôi sẽ đi theo chiều hướng nào? Dù sao chăng nữa, tôi luôn trân quý tất cả, từ tâm tình cho đến con người gởi thiệp chúc mừng đến gia đình tôi liên tục, đều đặn không bỏ sót một Giáng Sinh nào suốt gần năm mươi năm qua. Những cánh thiệp cứ đến gần mùa của hy vọng, của tràn đầy tình yêu thương, vợ chồng tôi luôn mong đợi và háo hức mỗi khi mở ra đọc nhất.

– Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Blog Archive