Showing posts with label Lâm Văn Bé. Show all posts
Showing posts with label Lâm Văn Bé. Show all posts

Sunday, November 24, 2019

Việt Nam không hề đánh chiếm Thủy Chân Lạp

Lâm Văn Bé   

Việt Nam và Cao Miên là hai lân bang luôn thù nghịch nhau. Từ 10 thế kỷ qua, ngay khi Cao Miên còn suy yếu phải thần phục Việt Nam, Cao Miên vẫn tìm cách gây hấn với Việt Nam. Thí dụ như trong 183 năm trị vì dưới triều đại nhà Lý (1012-1195), Chân Lạp đã cử các sứ bộ đến kinh đô Thăng Long của Đại Việt để triều cống đến 24 lần, nhưng giữa các lần triều cống ấy, Chân Lạp lại đem quân, hoặc đơn phương, hoặc liên kết với Chiêm Thành đánh phá đến 9 lần châu Nghệ An, vùng biên viễn của Đại Việt. (Nguyễn Tiến Dũng. Về quan hệ của Đại Việt và Chân Lạp – Nghiên cứu lịch sử số 11 (2010), tr.39).

Trong thời chiến tranh giữa Miền Nam với Cộng Sản Miền Bắc (1960-1975), Cao Miên đã cho Cộng sản thiết lập căn cứ trên đất Miên, sử dụng hải cảng Sihanoukville và các phi trường để chuyển vận người và tiếp tế hậu cần cho đoàn quân xâm lược (với điều kiện "tặng" cho Miên 1 lô hàng trong số 10 lô).

Sở dĩ Cao Miên khiêu khích và hiếu chiến với Việt Nam như vậy vì Cao Miên mang nặng tâm thức là Việt Nam đã chiếm đất Thủy Chân Lạp để thành lập đất Nam Kỳ. Giới lãnh đạo Cao Miên, từ hoàng tộc đến giới trí thức theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn dùng mọi mưu chước để khích động lòng căm thù của người dân Miên dùng bạo lực để đánh phá Việt Nam, giết hại kiều dân Việt Nam trên đất Miên và gần đây nhóm Khmer Krom đòi Việt Nam phải trả lại lãnh thổ Nam Kỳ, vu cáo Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. 

Bài viết căn cứ vào các sử liệu và luận cứ về công pháp quốc tế cũng như các thỏa ước biên giới đã ký kết để chứng minh là người Việt không hề đánh chiếm Cao Miên, và sự hình thành đất Nam Kỳ là do sự cộng cư của những thổ dân bản địa, những người dân Việt miền Thuận Quảng xuôi Nam, và những người Minh Hương, tất cả đã cùng đồng lao cộng khổ đến khai phá một vùng đất hoang vu vô chủ. 

Phù Nam: tiền đề của Thủy Chân Lạp

Tưởng cũng cần nhắc lại, theo truyền thuyết và cổ sử Trung Quốc và được chép lại trong sử Việt, vùng đất hoang vu nầy, từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ 7 thuộc về Vương Quốc Phù Nam, bao gồm một vùng đất bao la trải dài từ trung Lào qua Nam Thái Lan đến bán đảo Mã Lai về phía Tây, và về phía Đông chạy dọc theo theo bờ biển từ phía Nam Champa đến Hà Tiên. (Wikipedia)

Vương quốc nầy gồm những dân cư hải đảo như Mélanésien, Indonésien, Môn, theo văn minh Ấn Độ. Di tích còn tìm thấy được của nền văn minh Phù Nam, thường gọi là văn hóa Óc Eo đã được Louis Malleret, thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ (École française d’Extrême-Orient, viết tắt là EFEO) khám phá ra năm 1944 ở Óc Eo gần núi Ba Thê nay thuộc tỉnh An Giang.

Nguồn: Internet

Vì nhiều lý do phức tạp và không xác định rõ rệt (không là đề tài của bài viết vì giới hạn trang giấy) có một cuộc nổi dậy của một sắc tộc tên là Kambuja (nghĩa là những đứa con của Kambu, tên của thủ lãnh, sau nầy được người Pháp đổi lại là Cambodge, Chenla) từ miền Korat (Bắc Cao Miên và Hạ Lào bây giờ) tràn xuống vùng Biển Hồ, đánh đuổi người Môn và lập nên vương quốc Chân Lạp vào thế kỷ thứ 7. Vương quốc Phù Nam bị tan rả sau năm 627, những tiểu quốc trong Phù Nam cũ lần lượt thành lập những quốc gia mới, những người Môn chạy sang sinh sống ở vùng sông Ménam (Thái Lan), Miến Điện, một số ít chạy sang vùng Đồng Nai và cao nguyên Trung Phần (người Stieng, người Mạ bây giờ).

Vương quốc Chân Lạp mới nầy đóng đô ở Anglor và phát triển quyền lực ở vùng Biển Hồ mà cao điểm là xây dựng các đền đài Anglor (vùng Siemreap) vào thế kỷ 12-13. Anglor Wat là đền đài lớn nhứt được xây từ 1112 đến 1152. Đến thế kỷ 13, Anglor bao gồm một diện tích độ 100 km2 và là một trong những thành phố lớn nhứt thế giới thời ấy. 

Năm 1431, Xiêm tàn phá Anglor, vương triều phải dời đô về Phnom Penh (1439). Đến thế kỷ 16 kinh đô lại dời về Oudong (hiện nay là một huyện của tỉnh Kompong Speu, cách Phnom Penh 30 km) rồi mới trở lại Phnom Penh từ 1866 dưới thời Norodom đệ nhứt. 

Anglor từ đó đã bị bao phủ trong rừng sâu cho đến năm 1851 mới được Henri Mouhot, một nhà côn trùng học người Pháp vô tình tìm thấy nhân khi đi nghiên cứu côn trùng và chỉ bắt đầu được trùng tu lại từ 1880. (Encyclopédie Encarta 2001. Paris: Microsoft, 2001, article sur le Cambodge). 

Nhưng nội bộ các vương tộc Chân Lạp, từ lúc thành lập, luôn luôn tranh chấp nhau, chia cắt đất nước thành nhiều lãnh địa (như vào thế kỷ thứ 8 có đến 5 lãnh địa). Họ rất hiếu sát và hay trả thù, trong 3 lần dời kinh đô từ Anglor, qua Oudong rồi Phnom Penh hay mỗi lần thay đổi triều đại, dân Miên tàn phá hết di tích và tàn sát phe đối nghịch. Nội chiến đã làm quốc gia suy yếu, Chân Lạp thường bị Xiêm (đến 1939 mới đổi là Thái Lan) nhiều lần đánh chiếm đất đai hay phải cắt đất dâng cho Xiêm mỗi khi có một ông hoàng Miên sang Xiêm cầu cứu.
  
Cuộc Nam Tiến dưới thời chúa Nguyễn

Cuộc Nam Tiến của dân Việt Nam đã bắt đầu trong bối cảnh nội chiến nầy của xứ Chân Lạp và cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn của Việt Nam.

- Năm 1620, vua Chey Chetta II đến Thuận Hóa xin cầu hôn với công chúa Ngọc Vạn (khi trở thành hoàng hậu có tên là Ang Cuv hay Sam Đát), con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Cuộc hôn nhân nầy chẳng qua là một dịp đi tìm đồng minh của vua Chân Lạp, cầu viện chúa Nguyễn để đánh lại Xiêm lúc nào cũng đe dọa Chân Lạp. Chúa Nguyễn cũng lợi dụng việc gả con gái để đưa quan quân lên Chân Lạp và mang về những tiếp liệu cần thiết (lúa gạo, trâu bò, voi) để đánh chúa Trịnh và đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vùng đất Phù Nam cũ ở hạ lưu sông Mekong.

Tuy trên danh nghĩa là đất Chân Lạp, nhưng trong thực tế là đất vô chủ bởi lẽ từ 10 thế kỷ, vì sự suy yếu nội bộ, vì chiến tranh liên tiếp với Xiêm, vùng đất nầy hoàn toàn hoang vu không có guồng máy cai trị của Chân Lạp.

- Năm 1623, niên kỷ đầu tiên đánh dấu cuộc Nam Tiến, chúa Sãi cho đặt hai trạm thu thuế ở Prei Nokor (Saigon, nay ở khoảng Quận 5) và Kas Krobei (Bến Nghé, nay ở khoảng quận 1) (theo Địa chí văn hóa TPHCM, tr. 475). Sự kiện chúa Nguyễn cho đặt hai trạm thu thuế cho phép ta suy luận rằng trước đó, lưu dân người Việt đã đến khẩn hoang lập làng ở vùng đất vô chủ nầy rồi, và trạm thuế của chúa Nguyễn chỉ là chánh sách "dân làng đi trước nhà nước theo sau". Trịnh hoài Đức cũng xác nhận trong Gia Định Thành Thống Chí: "Dân Nam vô Mô Xoài từ các Tiên hoàng đế tức Nguyễn Hoàng (1558-1613), Nguyễn Phước Nguyên (1613-1625)". 

Như vậy, Mô Xoài (tức Bà Rịa bây giờ) là địa điểm đầu tiên có người Việt đến quần cư.

Từ đó, chúa Nguyễn khuyến khích dân Thuận Quảng và đưa tù binh bắt được trong cuộc chiến tranh với chúa Trịnh vào Nam khẩn hoang lập ấp ở vùng đất mới.

- Sau những đợt di dân tự nguyện và cưỡng bách của người Việt, vào giữa thế kỷ 17, có hai đợt di dân của người Trung hoa đến.

Năm 1679, khoảng 3000 binh sĩ trung thành với nhà Minh đi trên 50 chiến thuyền đến xin chúa Nguyễn cho lập nghiệp. Chúa Nguyễn Phúc Tần chia ra hai nhóm, một nhóm do Trần Thượng Xuyên chỉ huy đến khai phá vùng Cù Lao Phố (Biên Hòa), một nhóm do Dương Ngạn Địch chỉ huy xuống Mỹ Tho và Cao Lãnh. 

Trong cuộc cộng cư nầy, những cuộc hôn nhân giữa người Minh với người Việt đã tạo thành cộng đồng người Minh hương. Năm 1710, theo giáo sĩ Labbé, số người Việt và Minh Hương lên đến 20 000 người, phần lớn tập trung trong vùng Đồng Nai và Tiền Giang.

Năm 1671, một nhóm di dân khác cũng người Minh do Mạc Cữu chỉ huy đổ bộ lên đảo Koh Tral (Pháp âm từ tiếng Miên là Koh Sral = tiếng Việt là Phú Quốc) rồi dùng đường bộ lên Kampot, đến Oudong xin thần phục vua Miên. Mạc Cữu được vua Miên cho phép khai thác một vùng đất rộng lớn trong vịnh Xiêm La, gọi là Căn Khẩu, mở sòng bạc, buôn bán với các ghe tàu qua lại, thu hút lưu dân Trung Hoa từ khắp nơi tới, có một thế lực rất lớn trong vùng. Bị vua Xiêm đánh phá, Mạc Cữu được chúa Nguyễn cứu trợ, nên sau khi dẹp được quân Xiêm, Mạc Cữu xin sát nhập tất cả đất đai đã khai khẩn về chúa Nguyễn năm 1724. Chúa Nguyễn đổi tên Căn Khẩu thành dinh Long Hồ, sau nầy là Hà Tiên.

Vua Miên vẫn tiếp tục cầu cứu với chúa Nguyễn mỗi khi có cuộc xâm lăng của Lào hay Xiêm, hay giải quyết những tranh chấp trong hoàng tộc, và để trả ơn, một vùng đất rộng lớn từ Hà Tiên, Châu Đốc qua đến lãnh thổ Cao Miên hiện nay như Kompong Som, Kampot... lần lượt được các vua Miên dâng tặng cho chúa Nguyễn 

- Năm 1732, vua Preh Satha II dâng đất Meso (Mỹ Tho) và Longhor (Long Hồ)

- Năm 1757, vua Pheh Bat Ria dâng đất Phsar Dec (Sa Đéc) và 2 huyện Tầm Bôn, Lôi Lạp thuộc tỉnh Long Hồ (Vĩnh Long) cùng tỉnh Moat Chruc (Châu Đốc)

- Năm 1758, vua Ông Tôn, dâng đất Prac-Pra-Bang (Tràvinh), Kleng (Sốc Trăng)…

Như vậy, đến năm 1758, cuộc Nam Tiến xem như chấm dứt. Lãnh thổ Việt Nam đã mở rộng từ vùng Đồng Nai đến Hà Tiên. 

Việt Nam không hề đánh chiếm Thủy Chân Lạp

Trong việc mở mang đất Nam Kỳ, một vấn đề cần được minh xác.

Vì thiên kiến của một số người Miên quá khích phần lớn thuộc thuộc hoàng tộc, vì quyền lợi của thực dân Pháp chia rẽ Việt Miên Lào trong chánh sách chia để trị, và vì óc tự hào quá đáng của một số người Việt, một thiên kiến thường được lưu truyền theo đó đất Nam Kỳ là đất Thủy Chân Lạp khi xưa đã bị Việt Nam thôn tính.

Lập luận nầy sai vì những lý do sau đây:

- Lúc ban đầu, cuộc Nam Tiến là một cuộc cộng cư giữa người Việt, người Tàu và người bản địa (Miên, Môn, Chàm) để khẩn hoang một vùng đất vô chủ.

- Sau đó, đến thế kỷ 18, những đất đai vùng châu thổ Cửu Long và vùng ven vịnh Xiêm La mà vua chúa Chân Lạp lần lượt dâng tặng, hoặc trực tiếp cho chúa Nguyễn, hoặc gián tiếp qua tay dòng họ Mạc là những cống vật để tạ ơn sự giúp đỡ quân sự cho Chân Lạp để bảo vệ đất Chân Lạp, chống đỡ lại sự uy hiếp thường xuyên của Xiêm La. Đối với triều đình Việt Nam, đó là những cử chỉ thần phục của Miên, bởi lẽ những đất đai mà vua Miên dâng tặng cho chúa Nguyễn không hẳn thuộc vua Miên, vì từ sau khi Phù Nam tan rã, vùng đất nầy chẳng bao giờ được Miên kiểm soát hay đặt bộ máy cầm quyền.

Nếu dựa vào các nguyên tắc về công pháp quốc tế ngày nay cũng như theo quan niệm vương quyền thời quân chủ ngày xưa, vùng đất hoang vu thường được gọi là Thủy Chân Lạp trước khi chúa Nguyễn đưa dân Thuận Quảng vào lập nghiệp không thể xem là đất của Chân Lạp. 

Ngày nay, để được gọi là quốc gia, cần có ba yếu tố: lãnh thổ, dân tộc, và chánh quyền, cũng như ngày xưa, khi uy quyền của vua lan rộng đến đâu thì lãnh thổ nới rộng đến đó. Thần dân tùy thuộc một triều đại chớ không tùy thuộc một lãnh thổ. Nơi nào dân không nộp thuế khóa, không triều cống phẩm vật, nơi đó xem như đất vô chủ.

Chân Lạp không phải là Phù Nam

Tất cả luận cứ như trên dựa vào tiền đề Chân Lạp là thừa kế toàn bộ lãnh thổ của Phù Nam nếu căn cứ vào truyền thuyết thần thoại và cổ sử Trung Quốc mà Việt Nam sao chép lại (xem Lưong Ninh. Vương Quốc Phù Nam: lịch sử và văn hóa.- Hà Nội : Nhà XB Văn hóa, 2005)

Tuy nhiên, từ sau khi khám phá di tích Óc Eo năm 1944 bởi Louis Malleret cũng như nhiều khai quật cổ vật sau năm 1975 thực hiện bởi chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, các nhà nghiên cứu Pháp tại trường Viễn Đông Bác Cổ cũng như các chuyên viên khảo cổ, văn minh học Việt Nam và thế giới đã hoài nghi hay bác bỏ luận thuyết cho là nước Chân Lạp là thừa kế nước Phù Nam cũ vì những lý do sau đây:

1- Về địa vực 

Nước Chân Lạp trải dài từ cao nguyên Korat, dọc lưu vực sông Chi, sông Mun, theo dãy Dangrek về phía đông đến vùng cao nguyên Champassak của Lào. Như vậy, lãnh thổ của Chân Lạp chỉ ở vùng trung lưu sông Mê Kông, khu vực gần Biển Hồ trong khi nước Phù Nam cũ còn kéo dài xuống Nam Bộ đến Vịnh Thái Lan.

2- Về văn hoá Phù Nam 

Những cuộc khai quật ở Óc Eo, Núi Sam, Lò Mo (An Giang); Nền Chùa, Cạnh Đền, Mốp Văn (Kiên Giang); Gò Tháp (Đồng Tháp) v.v.… đã tìm thấy khoảng 20 000 di vật gồm đủ các loại: rìu đá, đồ gốm, các tượng bằng gỗ, đá hay đồng; những hột lúa cổ; di cốt người, động vật; ngoải ra còn tìm thấy những dấu vết kiến trúc cổ, mộ táng cổ, đặc biệt các đồng tiền La Mã có hình hoàng đế Antonious Pious và hoàng đế Marcus Aurelus, các đồng tiền hình vua Ba Tư, đồ trang sức bằng thủy tinh, đá quý…Tất cả các cổ vật nầy chứng tỏ văn hóa Óc Eo có một nền kinh tế rất phát triển, có quan hệ thương mại và văn hóa với vùng Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư và vùng Địa Trung Hải. Điều nầy chứng minh Phù Nam là một quốc gia có truyền thống hàng hải và thương nghiệp trong khi Chân Lạp chỉ phát triển ở vùng Biển Hồ lấy nông nghiệp làm chính yếu. Ngoài ra, về nhân chủng và tôn giáo, người Phù Nam là người gốc Nam đảo (Austronesian) và theo Ấn giáo (Hindu) trong khi người Chân Lạp là người gốc Nam Á (Austroasiatic) và theo Phật giáo. 

3- Về sinh hoạt và quần cư của người Miên ở vùng Thủy Chân Lạp sau thời kỳ Phù Nam tan rã (sau thế kỷ thứ 7) 

Các sách sử Việt Nam, ngay cho sử Miên trong Chroniques royales du Cambodge không hề nhắc đến. Chỉ có sứ thần nhà Nguyên tên Chu Đạt Quan đến viếng Vương quốc Angkor - Khmer trong 3 năm (1295-1297), và trong hồi ký "Chân Lạp phong thổ ký" đoạn mô tả vùng hạ lưu sông Mékong, ông viết như sau: "Sau khi qua khỏi biên giới ở Chân Bồ (Chen Pu, tức Vũng Tàu hay Bà Rịa) ta thấy mọi nơi um tùm các cây đan chen nhau trong khu rừng thấp, những cửa sông rộng lớn của con sông (tức Mékong) chạy dài hàng trăm lí (1 lí = 77 m), bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây leo quanh dài tạo thành nhiều chỗ trú ẩn xum xê. Tiếng chim hót và tiếng thú vật kêu vang liên tục khắp nơi. Ở khoảng nửa đường trong chuyến đi vào từ cửa sông, thình lình ta mới thấy vùng đất mở ra với những cánh đồng hoang, không thấy có một gốc cây nào... Hàng trăm, hàng ngàn trâu rừng tụ họp đầy bầy ăn cỏ trong vùng nầy…

Có hai loại người thổ dân ở rải rác: loại đầu là những người hiểu ngôn ngữ của xứ Chân Lạp, loại hai là những người sống hoang dã từ chối nền văn minh và không hiểu ngôn ngữ xứ sở Chân Lạp. Họ không có nhà cửa, dẫn gia đình đi lang thang đội các bình thực phẩm bằng đất sét trên đầu…" (Lê Hương. Chân Lạp phong thổ ký- Saigon, 1973 tr. 60, 80; dịch từ Chou Ta-Quan. Notes on The Customs of Cambodia). 

Những thổ dân mà Chu Đạt Quan mô tả là những người Chân Lạp trốn chạy các cuộc ruồng bắt nô lệ trong thời kỳ xây đền Anglor, còn người sống hoang dã là người Phù Nam cổ còn sống sót ở lại. Sau khi người Việt, người Minh Hương đến khai khẩn lập làng xóm vào đầu thế kỷ 17, một số người Miên chạy trốn những cuộc nôi chiến ở vương triều và sát hại của quân Xiêm, họ theo sông Mékong và sông Vàm Cỏ đến vùng hạ lưu Mékong để sinh sống. Người Miên sinh hoạt theo lối da beo, tập trung trên các giồng đất cao để trồng lúa rẫy, tránh xa người Việt và người Minh Hương ở vùng đồng bằng trồng lúa nước. Đó là lý do giải thích sự có mặt của người Miên tại những vùng đất kém phì nhiêu, xa trục giao thông tại Nam Kỳ như Trà Vinh, Sốc Trăng, Bạc Liêu hay vùng biên giới như Châu Đốc, Tây Ninh.
  
Tranh chấp ranh giới

Sau khi Pháp chiếm Cao Miên biến thành xứ bảo hộ (1863) và Nam Kỳ thành xứ thuộc địa (1867), Pháp xúc tiến việc ấn định đường ranh giới Miên Việt nhằm bảo vệ quyền lợi của Pháp tại 3 quốc gia trong Liên Bang Đông Dương (Việt, Miên, Lào) để ngăn chận sự xâm nhập của Xiêm do nước Anh chỉ huy từ xa.

Việc thành lập đường biên giới Việt-Miên bắt đầu bởi một Thỏa ước sơ khởi (1870) và Thỏa ước thực thụ ký ngày 15-7-1873 giữa vua Miên Norodom I (trị vì 1860-1904) và Thống đốc Nam Kỳ Dupré. 

"…Biên giới giữa xứ Nam kỳ thuộc Pháp và Vương quốc Cao Miên sẽ được đánh dấu bằng các cột mốc, có đánh số ghi chú công dụng của cột. Tổng số cột mốc là 124. Cột số 1 sẽ được đặt ở điểm cực Đông của đường biên giới và các cột kế tiếp sẽ tiến dần về hướng Tây theo thứ tự của các con số đến 124. Điểm bắt đầu là cột số 1 đặt trên bờ con sông nhỏ Tonle-Tru, hướng chung của đường biên giới là đi về hướng Tây-Nam và đi ngang qua các làng Sroc-Tun…."

"Arrangement conclu entre Sa Majesté le roi du Cambodge et le Contre-Amiral Gouverneur et Commandant en Chef en Cochinchine déterminant définitivement la frontière entre le royaume du Cambodge et la Cochinchine française…

…La frontière entre la Cochinchine française et le royaume du Cambodge sera marquée par des poteaux numérotés et portant une inscription indiquant leur objet. Le numéro 1 sera placé à l’extrémité Est de la frontière et la gradation sera continuée vers l’Ouest dans l’ordre naturel des chiffres jusqu’au poteau 124. Le point de départ est la le poteau no.1 planté sur le bord de la petite rivière de Tonle-Tru, la direction générale de la frontière est ensuite le Sud-Ouest et passée par les villages de Sroc-Tun…"

(Source: Bibliothèque nationale de France. Bulletin officiel de l’Annam et du Tonkin, 1873.- p.435 (https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k1261881t/f3. item).

Thỏa ước năm 1873 nầy sau đó được sửa đổi, điều chỉnh bởi nhiều nghị định của Toàn Quyền Đông Dương năm 1898, 1899,1914, 1935, 1936.

Đường biên giới nầy, từ khi hình thành đến nay đã gặp nhiều tranh cãi, tranh chấp của Cao Miên về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Kỳ. Trước hết phải khẳng định rằng luật pháp quốc gia (Việt, Miên) và quốc tế đã thừa nhận đất Nam Kỳ đã là lãnh thổ của Việt Nam, nhưng thỉnh thoảng chính quyền Cao Miên vẫn đặt lại vấn đề đòi lãnh thổ và phủ nhận cơ sở pháp lý các thỏa ước biên giới ký kết trong thời thuộc địa. Năm 1959, đại diện Cao Miên tại Liên Hiệp Quốc đã cho lưu hành một tài liệu tựa là: "Nam Kỳ, lãnh thổ của người Khmer" trong đó Cao Miên nêu lên "không có bất cứ một vùng lãnh thổ Nam Kỳ nào là phần thưởng được trao cho người Annam bởi một quyết định mang tính quốc gia tối cao, cũng như không có cộng đồng quốc gia, hội quốc liên, hoặc một tổ chức pháp lý quốc tế nào thực hiện hành động như vậy". (Nguyễn Sĩ Tuấn. Các hiệp định biên giới VN-Campuchia).

Rõ ràng là Cao Miên ăn ngược nói ngạo, nhưng chính phủ Pháp, quốc gia đại diện cho Triều đình Huế đã phản bác luận điệu gian trá nầy với những dẫn chứng như sau (tóm tắt)

- Cao Miên đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của VN trên đất Nam Kỳ khi ký kết các hiệp ước song phương và đa phương 

Hiệp ước Việt – Xiêm - Cao Miên (1845) 

Tháng 12-1845, ba quốc gia Việt, Xiêm và Cao Miên ký một hiệp ước thừa nhận về mặt pháp lý Nam Kỳ thuộc về Việt Nam. Sau đó, hiệp ước 1846 giữa Việt và Xiêm, với sự có mặt của Miên tái xác nhận vấn đề nầy. Raoul Marc Jennar, trong luận văn tiến sĩ Les frontières du Cambodge contemporain đã xác định hai văn kiện nầy có giá trị pháp lý quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên đất Nam Kỳ trước khi người Pháp đến xâm chiếm.

- Hiệp ước Việt – Xiêm (1847) 

Năm 1847, hai nước Việt và Xiêm đã ký một hiệp ước với sự chứng kiến của vua Cao Miên là Ang Dương. Đây cũng là một văn bản mang tính pháp lý quốc tế khẳng định vùng đất Nam Kỳ thuộc chủ quyền Việt Nam trước khi Pháp sang xâm chiếm và đô hộ. Nội dung hiệp ước, theo các sử gia thì hiệp ước đã công nhận Ang Dương là vua Cao Miên, nhưng Cao Miên nhận là chư hầu của hai nước Việt và Xiêm; triều đình Huế phong vua Ang Dương làm Cao Miên Quốc vương, trả lại cho Cao Miên các quận chúa và hoàng tộc hay đại thần đã bị đem sang giữ ở Việt Nam và ngược lại, Cao Miên xác nhận các đất Nam Kỳ thuộc về Việt Nam.

- Hiệp ước Pháp – Tây Ban Nha – Việt Nam

Hiệp ước Pháp -Tây Ban Nha-Việt Nam (ký tại Sài Gòn ngày 5-6-1862 tức là Hòa ước Nhâm Tuất) đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên lãnh thổ Nam Kỳ. Điều 3 của bản hiệp ước quy định "chủ quyền đối với ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cũng như Côn Đảo được chuyển nhượng hoàn toàn cho nước Pháp". Điều nầy mặc nhiên thừa nhận vùng đất này vốn là của Việt trước khi bị “chuyển nhượng" vì theo nguyên tắc, chỉ có chủ nhân mới có quyền “chuyển nhượng” cho một đối tượng khác.

Luật 49-733 trả Nam Kỳ cho Việt Nam 

Ngày 4 tháng 6 năm 1949, tại Toulon (Pháp), Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, Thủ tướng Henri Queuille và Bộ Trưởng Lãnh thổ hải ngoại Paul Coste-Floret đã ký luật 49-733 trao trả đất Nam Kỳ lại cho Việt Nam.

Trước khi Pháp chuẩn bị trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam, Sihanouk gởi cho Chủ tịch Liên Hiệp Pháp ngày 2 tháng 4, 1969 bức thơ phản đối ranh giới Cao Miên với Nam Kỳ cho là do Pháp qui định dựa theo quyền lợi của Pháp tại Nam Kỳ.

Ngày 8/6/1949, Chánh phủ Pháp đã bác bỏ yêu cầu nầy của Sihanouk: "Về pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Cao Miên để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ vì Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm 1862 và 1874… Chính phủ Pháp cũng khẳng định rằng chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam… Về pháp lý, Pháp có đủ cơ sở để thỏa thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam Kỳ"

Ngoài ra, chính phủ Pháp còn lưu ý Cao Miên "nên thận trọng về luận thuyết cho rằng miền Tây Nam Kỳ vẫn còn phụ thuộc triều đình Khmer lúc Pháp đến và Hà Tiên đã được đặt dưới quyền của Hoàng đế An Nam từ năm 1715 cũng như kinh nối Hà Tiên với Châu Đốc được đào theo lịnh của các quan An Nam từ nửa thế kỷ trước khi chúng tôi đến…"

(Raoul Marc Jennar. Les frontières du Cambodge contemporain.- Paris : INALCO, 1998. p. 97 (Thèse de doctorat, catalogue Sudoc).

Cuộc phản kháng vẫn tiếp tục dai dẳng 

Sarin Chhrak, đồng chí quá khích của Sihanouk, trong luận án tiến sĩ Les frontières du Cambodge đã nêu lên một luận thuyết ngang ngược là hai thỏa ước biên giới năm 1870 và 1873 không có giá trị pháp lý vì vua Cao Miên đã bị chánh quyền bảo hộ Pháp ép ký, và Cao Miên hôm nay đã độc lập có quyền xét lại các thỏa ước nầy. Luận thuyết nầy là một yêu sách mà người Miên thường viện dẫn để đòi đất, đánh phá VN, nhưng các luật gia quốc tế đều bác bỏ chiếu theo nguyên tắc giữ nguyên trạng (Uti posideis). Nếu các quốc gia sau khi độc lập đòi thay đổi biên giới theo ước muốn của mình thì thế giới sẽ hổn loạn. 

Cũng dựa vào tài liệu nầy của Chhak, dưới thời VNCH năm 1967, Sihanouk đã vẽ lại bản đồ của Miên, tuyên bố là vùng đất dọc theo biên giới từ tỉnh Darlac xuống đến khu tả ngạn sông Bé, đến Thủ Dầu Một, toàn bộ tỉnh Tây Ninh chạy dọc đến tỉnh Tân An và phía Tây của Hà Tiên là thuộc về đất Miên.

Sau chiên tranh Việt-Miên năm 1979, phong trào Khmer Khom đựợc phe Sam Rainsy (đối lập với phe thân Việt Cộng Hun Sen) hỗ trợ phát động chiến dịch đòi toàn bộ đất Nam Kỳ và dùng các cơ quan truyền thông để chống Việt Nam trên diễn đàn quốc tế bằng các vu khống. Họ nhắc lại âm mưu của Pháp trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam bằng đạo luật ngày 4 tháng 6 năm 1949 và cứ mỗi năm vào ngày 4 tháng 6, họ tổ chức biểu tình khắp nơi trong nước và ngoài nước để đòi Việt nam trả đất. Để tạo hận thù, họ vu cáo những tội ác ghê rợn của VN như thiêu sống 10 000 người Miên năm 1945, giết hàng ngàn người Miên ở Trà Vinh, Vĩnh Long rồi thả xác trôi sông từ 1976 đến 1979, cấm sư sải Miên hành đạo...

Cuối cùng, cũng cần nói thêm là không phải chỉ riêng VN được Miên tặng đất mà Xiêm cũng được tặng đất và còn được tặng nhiều hơn. Những tỉnh Chantaburi, Prachinburi, Xurin, Xixaket... ngày nay của Thái Lan trước kia là đất của Chân Lạp. Vì khiếp sợ Thái Lan hay vì cùng chủng tộc và tôn giáo, Sarin Chhrak và dân Miên ngậm câm mà chỉ chỉa mũi dùi vào Việt Nam.

Kết luận

Trên con đường Nam Tiến, dân tộc Việt Nam đã xóa mất nước Chiêm Thành. Đó là một hành động thôn tính lãnh thổ và diệt chủng tàn bạo, là một tội ác mà khi nhắc đến, người Việt không có gì vinh quang để tự hào, mà trái lại phải cúi đầu nhận tội. Nhưng đối với Cao Miên, người Việt không hề đánh chiếm đất Cao Miên, bởi lẽ cuộc khai quật các cổ vật của nền văn hóa Óc Eo do Louis Malleret thực hiện năm 1944 tại vùng núi Ba Thê (An Giang) và của chánh phủ VN tại các địa điểm khác trên Nam Bộ sau nầy đã chứng minh miền Châu thổ sông Cửu Long và vùng Đồng Nai là lãnh thổ của vương quốc Phù Nam cũ, đã hoang phế từ sau khi Phù Nam tan rã, và người Việt, người Minh Hương cùng với người bản địa trong đó có người Miên đến khai khẩn trên vùng đất vô chủ đó.

Lẽ ra, sau năm 1944 là năm khai quật Óc Eo, Cao Miên đã phải hiểu lịch sử của đất nước mình để từ bỏ cái mặc cảm (tự tôn và tự ti) là Việt Nam đã cướp đất Thủy Chân Lạp, và như vậy không nên tổ chức cướp bóc, giết hại người Việt (cáp duồn), đeo đuổi chính sách thù nghịch với Việt Nam Cộng Hòa bằng cách tấn công quấy phá miền biên giới, trợ giúp Cộng Sản đánh chiếm Miền Nam. Càng trầm trọng hơn, Cao Miên còn tàn sát, kỳ thị Việt kiều đã là công dân sinh sống trên đất nước họ từ nhiều thế hệ và đến nay đã trở thành máu thịt của họ cũng chỉ vì cái tâm thức thù hận truyền kiếp đối với người Việt. 

Tưởng cũng cần biết là chiến dịch "bài Việt" đã bắt đầu từ năm 1945 với chủ nghĩa dân tộc cực đoan của vua Norodom Sihanouk, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Cao Miên. 

Là người quỹ quyệt và cao ngạo, trong 67 năm trên chính trường (1945-2012), Sihanouk đã đảm nhiệm không biết bao nhiêu chức vụ đến đổi Guinness đã liệt kê tên ông vào danh sách các chánh khách có nhiều chức vụ nhứt, kể cả chức vụ cố vấn cho Khmer Rouge tàn sát dân Khmer. Sihanouk còn là một nhà chánh trị thời cơ đã theo Pháp rồi chống Pháp, Mỹ, Việt Cộng, nhưng lại tuyệt đối trung thành với Trung Cộng và Hàn Cộng, và đặc biệt thù nghịch VNCH. 

Để phát triển chủ nghĩa dân tộc cực đoan, từ năm 1945, Sihanouk đã cấp 250 học bổng cho học sinh, sinh viên, đa số tốt nghiệp từ Lycée Sisowath sang Pháp du học tại Montpellier, Lyon… đặc biệt tập trung tại Paris. Đa số các sinh viên nầy ngưỡng mộ Robespierre, nhà cách mạng Pháp và được tiếp cận, học tập chủ nghĩa Marx Lénine, để khi trở về nước trở thành những lãnh tụ các đảng phái, lãnh đạo guồng máy chính trị của Cao Miên trong nửa thế kỷ qua. Những tên khát máu trong Đảng Khmer Rouge đã tàn sát hơn 1.5 triệu người Cao Miên đều xuất thân từ cái "vườn ương cây Paris" nầy như Saloth Sar (Pol Pot, anh cả), Nuon Chea (anh Hai), Ieng Sary (anh Ba), Khieu Samphan (anh Tư), Ta Mok (anh Năm)... là những tội đồ diệt chủng của thế giới cận đại. (Paris, pépinière des Khmers Rouges. – Le Parisien, 18 avril 2015). 

Truyền thuyết và huyền thoại sai lầm của cổ sử, chánh sách chia để trị các thuộc địa Đông Dương của Pháp, và bản chất gian tham, thù hận của Cao Miên đã khiến Cao Miên chìm đắm trong nhiều tai biến mà Việt Nam đôi khi cũng bị vạ lây.

Đã đến lúc, tuy muộn màng, sự thật của lịch sử phải được phơi bày. Sự thật là nước Chân Lạp không phải là nước Phù Nam cũ mà chỉ là một tiểu quốc trong Vương Quốc Phù Nam. Cho dù Cao Miên mạo nhận vùng đất còn lại của Phù Nam để đặt tên là Thủy Chân Lạp, nhưng trong suốt hơn 10 thế kỷ, vương triều Cao Miên không hề đặt chân đến vùng đất hoang vu nầy. Sự kiện Cao Miên dâng tặng phần đất mạo nhận nầy cho chúa Nguyễn là một cử chỉ thần phục hay tạ ơn chúa Nguyễn đã giúp Cao Miên bảo vệ lãnh thổ của họ thường xuyên bị Xiêm La đánh chiếm. Ngay đến hai ông tiến sĩ trong cái "lò" của Sihanouk, trong hai luận án cũng không nói đến chuyện Việt Nam đánh chiếm đất mà nói là lường gạt chiếm đất (Mak Phoen. Chroniques royales du Cambodge. - Paris: EFEO, 1981 và Khin Sok.. Le Cambodge entre le Siam et le VN de 1775 à 1860 - Paris: EFEO, 1991).. 

Hiểu như vậy, người Việt Nam phải chấm dứt luận điệu tự tôn sai lệch cũng như người Cao Miên phải từ bỏ sự lạm nhận gian trá vùng đất vô chủ để chấm dứt vu cáo Việt Nam cướp đất Thủy Chân Lạp. Lịch sử trung thực là như vậy và phải nói rõ như vậy cho người Việt Nam và người Cao Miên biết để hai nước lân bang tập sống chung trong hòa bình. Vả chăng, cả hai nước hiện nay đã cùng nằm chung trong cái rọ là chư hầu của Tàu thì nếu gây gổ nhau cũng chẳng nên cơm cháo gì chưa kể bị đàn anh trừng phạt vì tội gây rối. 

Lâm Văn Bé

                   Việt Nam không hề đánh chiếm Thủy Chân Lạp 

                                 
                                       Phù Nam tiền đề của Chân Lạp
 

Thursday, August 20, 2015

DANH SÁCH CON ÔNG CHÁU CHA "KHỦNG" Ở VIỆT NAM .


CON CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG

Chúng tôi bắt đầu với người có nhiều quyền lực, gian xảo và tham nhũng nhất nước hiện nay là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
 
v

Lý lịch của Nguyễn Tấn Dũng thật mù mờ. Trên trang mạng của Nguyễn Tấn Dũng ghi là sinh năm 1949 tại Cà Mau, nhưng ngôi nhà tự nguy nga của Dũng thì ở Rạch Giá. Ông Hoàng Dũng, một cán bộ Văn phòng Trung ương đảng đã làm việc với nhiều ủy viên cao cấp trong đảng, đã tiết lộ nhiều bí mật về đời tư của nhiều người lãnh đạo.

Về Nguyễn Tấn Dũng, ông viết : «Theo cụ Nguyễn văn Linh, Tổng Bí Thư, thì trong thời gian Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư Liên khu ủy Khu IV từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng" và cụ còn cho biết là Nguyễn Tấn Dũng còn có một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Cũng trong tài liệu nầy, ông Hoàng Dũng tiết lộ là có gặp nhiều lần Nguyễn Tiến Thắng (Tư Thắng) là em của Nguyễn Tấn Dũng (Ba Dũng). Ông viết về Tư Thắng như sau : 

Điều tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài Loan hoạt động chui tại VN là First China Bank. 

Như vậy, có thể hiểu được đây chính là «sân sau» của Ba Dũng và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhắm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam Bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngã Đài Loan… 

Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy (Paris), căn cứ vào sự nâng đỡ tận tình của tướng Lê Đức Anh (chủ tịch nước 1992-1997, nay đã hơn 90 tuổi nhưng vẫn còn uy thế trong Trung ương đảng) lại đưa giả thuyết không những Nguyễn Tấn Dũng mà cả Nguyễn Minh Triết đều là con rơi của Lê Đức Anh (cần phân biệt với tướng Lê Hồng Anh, là đàn em được Dũng cất nhắc cho làm Bí Thư Tỉnh Rạch Giá, rồi phong quân hàm đại tướng, Bộ trưởng bộ Công An cho đến tháng 8/2011)

Dù là con của ai, căn cứ vào lý lịch và đường hoạn lộ thênh thang của Dũng, chắc chẳn Dũng là con rơi của một cán bộ cao cấp cộng sản. Lúc 12 tuổi, Dũng đã bỏ học (vừa học xong bậc tiểu học) đi làm du kích, y tá cứu thương ở vùng Cà Mau rồi chính ủy tiểu đoàn, trung đoàn ở vùng Cà Mau, tiến lên đến Tỉnh ủy Kiên Giang. Trong thời gian nầy (1980-1985), Dũng đã có công bắt nhóm Trần Văn Bá (bị xử tử), Mai Văn Hạnh được tha trở về Pháp vì là bạn học cũ của thủ tướng Pháp thời đó. Ngoài ra, Dũng còn tổ chức những cuộc vượt biên bán chính thức ở Rạch Giá và Hà Tiên để làm giàu cho đảng và cho cá nhân. 

Nhờ Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh cất nhắc, Dũng được đưa về trung ương làm Thứ trưởng Công An (1995-1996), Thống đốc Ngân hàng, Phó Thủ Tướng rồi Thủ Tướng (thay thế Phan Văn Khải) từ tháng 11-2006 và được tái cử trong kỳ đại hội đảng lần thứ XI (2010). 

Thử tưởng tượng một người vừa học hết tiểu học (sau nầy có học trường đảng cho có lệ, nhưng trong lý lịch ghi là Cử Nhân Luật), mà được đưa lên làm thống đốc ngân hàng trong thời kỳ kinh tế Á châu bị khủng hoảng, và thủ tướng của một quốc gia có nhiều liên hệ với các cường quốc, thì phải hiểu là việc lãnh đạo quốc gia đối với cộng sản là việc riêng của đảng. 

Ngoài ra, Nguyễn Tấn Dũng lại là người có nhiều mưu trí và thế lực trong Trung ương đảng, là đảng viên cao cấp duy nhất sớm gởi con du học ở Mỹ và làm sui gia với Việt kiều, điều cấm kỵ tối hậu của đảng. 

Báo chí thuật lại trong lần họp hội nghị APEC năm 2006, Tổng Thống George Bush chúc mừng xỏ xiên Dũng có con du học ở Mỹ và lấy Việt kiều, Dũng bối rối phải chống chế là con trai đi học bằng học bổng (có lẽ để biện hộ với lương của thủ tướng độ 1000 mỹ kim thì làm sao có thể cho con du học) và lờ đi chuyện con gái lấy Việt Kiều.

Đứa con mà Bush nhắc đến là Nguyễn Thanh Nghị, tốt nghiệp Tiến sĩ Kỹ sư công chánh (Structural Engineering) ở đại học George Washington University, và khi về VN giảng dạy tại đại học Kiến Trúc thành phố HCM, rồi Phó Hiệu Trưởng (Phó Khoa Trưởng) trường nầy. 

Trong đại hội đảng lần thứ XI, Dũng đã dọn đường lãnh đạo cho con bằng cách đưa Nguyễn Thanh Nghị vào làm ủy viên dự khuyết trong Trung ương đảng và ngày 11-11-2011, Dũng đã bổ nhiệm con trai mình làm Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng mặc dù bộ nầy đã có 5 thứ trưởng (Dũng đã hèn nhát không ký tên trên nghị định bổ nhiệm mà sai phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký thay). Tại VN hiện nay, hai mỏ vàng để hốt bạc và tham nhũng là ngành xây dựng (đất đai và địa ốc) và hải quan. Về mặt kinh tế, từ nhiều năm nay, Nghị có liên hệ mật thiết với Công ty Betexco là đại công ty xây cất các tòa nhà chọc trời ở Saigon và HàNội. Tầm hoạt động của Betexco còn bao trùm cả kỹ nghệ may dệt, vô chai và thủy điện. Như vậy, Nguyễn Thanh Nghị là cột trụ chính trị và kinh tế cho gia đình Dũng và cho đảng Cộng Sản.

Đứa con lấy Việt kiều tên là Nguyễn Thanh Phượng, du học ở Thụy Sĩ, đậu MBA ở International University in Geneva là đại học có liên kết với Michigan State University (cô chỉ đến Mỹ năm 2004 trong 2 tuần để nhận bằng từ đại học nầy chớ không có du học tại Mỹ). Tháng 1 năm 2006, lúc mới 26 tuổi, Phượng đã làm Giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị trên 100 triệu MK của các nhà đầu tư Thụy Sĩ tại VN. Đến tháng 11 cùng năm, Phượng làm Chủ tịch Quỹ đầu tư chứng khoán Việt (Viet Capital Fund Management Joint Stock Company, viết tắt là VCFM) gồm hàng ngàn tỷ bạc (VN) của các nhà đầu tư và công ty người Việt. 

Công điện Wikileaks tiết lộ là trong báo cáo của Tổng Lãnh sự Hoa kỳ tại Saigon là Seth Winneck gởi về Bộ Ngoại giao ngày 26/12/2006 đã viết : 

" Tại sao người ta có thể tin tưởng để giao một số vốn khổng lồ như thế cho một người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm như Phượng."

Và câu trả lời hiển nhiên là về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản trị là một điều khôn ngoan bởi lẽ quỹ nầy tập trung những ngành mà chánh phủ kiểm soát như dầu khí, ngân hàng và truyền thông »

Năm 2011, Phượng 31 tuổi là một tỷ phủ, Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công ty Chứng khoán Bản Việt sở hữu 6,5 triệu cổ phần chiếm 43,2% vốn của công ty, Chủ tịch HĐQT Công ty bất động sản Bản Việt và vài ngày trước khi người anh được cử là thứ trưởng, Phượng được đề cử vào HĐQT Ngân hàng Bản Việt ( trước có tên là Gia Dinh Bank) với số vốn là 3000 tỷ VN. Với các thành tích trẽn, Phượng là nhà doanh thương trẻ tuổi kỳ tài nhất của thế giới !

Người chồng của cô Phượng là Nguyễn Bảo Hoàng (Henry Nguyen) con của Việt kiều «tội đồ» Nguyễn Bang (Nguyễn Tấn Dũng đã gọi Việt Kiều Nguyễn Cao Kỳ là tên tội đồ). Henry Nguyễn là Tổng Giám Đốc Điều Hành công ty IDG Ventures với số vốn là 100 triệu MK (sau tăng lên 200 triệu) phần lớn do người anh rể là Thomas Connor, một tài phiệt Mỹ đã làm ăn với Bộ Viễn Thông Bưu Chính Việt Nam, kiểm soát hầu hết hệ thống thuê bán Internet và truyền thông tại VN. Thomas Connor đã một lần khai phá sản, nhưng số đầu tư vẫn gia tăng, do đó câu hỏi đặt ra phải chăng các công ty do vợ chồng Phượng-Hoàng quản trị là cửa ngõ hợp pháp cho cha vợ và đồng bọn rửa tiền, tẩu tán tài sản tham nhũng ra ngoại quốc.

Đứa con thứ ba của Dũng là Nguyễn Minh Triết, học kỹ sư hàng không ở đại học Queen Mary tại Anh Quốc, và đã có giữ chỗ ở Bộ Quốc Phòng khi về nước. Gia đình Nguyễn Tấn Dũng là điển hình của chế độ con vua thì lại làm vua tại VN hôm nay.

CON CỦA NGUYÊN TỔNG BÍ THƯ NÔNG ĐỨC MẠNH

Trong kỳ hợp đảng lần thứ XI còn có một 4C thứ hai cũng được bầu là Ủy viên dự khuyết Trung ương đảng, tạo nên nhiều tai tiếng là Nông Đức Tuấn, con trai của Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (2001-2010). Cá nhân Nông Đức Mạnh cũng đã là một 4C, con rơi của Hồ Chí Minh với Nông thị Ngát, bí danh là Nông Thị Trưng. Được báo chí hỏi có phải Mạnh là con tư sinh của Hồ Chí Minh hay không, Mạnh đã trả lời lửng lơ «Ở đất nước nầy ai chẳng là con cháu của Bác».

Nông Đức Tuấn sinh năm 1963, người dân tộc Tày, đã đi lao động xuất khẩu tại Đông Đức từ lúc 18 tuổi, lúc ấy Nông Đức Mạnh đã làm Tỉnh ủy tỉnh Bắc Thái. Sở dĩ cha làm quan mà đưa con đi lao động xuất khẩu vì cha muốn đưa con ra ngoài nước để cai nghiện khỏi xấu hổ. Từ khi trở về nước cuối năm 1988 cho đến năm 2008, Tuấn lêu bêu với mấy chức vụ trong Đoàn Thanh niên và Ủy Ban Sắc tộc. Để dọn đường cho con trai làm lãnh tụ, Nông Đức Mạnh «dàn xếp » với Thủ Tướng Dũng cử Nông Đức Tuấn làm Phó tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang vào tháng 4 năm 2009. Vận may đến với Tuấn là khi người thanh niên tên Nguyễn Văn Khương bị công an tỉnh Bắc Giang đánh chết và dân chúng xuống đường đòi nợ máu với chánh quyền, Tỉnh ủy Bắc Giang tên Đào Xuân Cẩn bị ép buộc từ chức để nhường ghế Tỉnh ủy cho Tuấn. Khi Đại hội Đảng họp lần thứ XI, tuy Mạnh bị mất chức Tổng Bí Thư nhưng lại gài được cho con vào ghế Ủy viên Trung ương, mở đường cho chế độ cha truyền con nối dòng họ Nông.

CON CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN

Lê Duẩn là người Tổng bí thư cầm quyền lâu nhứt của chế độ Cộng Sản VN. Từ 1960 đến 1976, Lê Duẩn là Bí Thư thứ nhứt của đảng và từ sau 1976, chức vụ được đổi là Tổng bí thư, chức vụ mà Duẩn nắm giữ cho đến khi Duẩn mất năm 1986. Trong lý lịch các nhân vật cao cấp cộng sản, Duẩn cũng như Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí được xếp vào hạng vừa dốt, vừa độc tài và đa thê. Vì nhiểu vợ, Duẩn có nhiều con, trong số có nhiều người giữ các chức vụ quan trọng trong chánh phủ và cơ sở kinh tế đầu não.

Theo Hứa Hoành, thuở sinh thời, Lê Duẩn có ba vợ, bà vợ chính tên Cao thị Khê ở Quảng Trị cưới khi Duẩn 20 tuổi, có em là Cao Xuân Diệm, sau nầy trở nên Trung tướng công an bí danh Dương Thông phụ trách đàn áp văn nghệ sĩ. Bà thứ hai là Đỗ Thị Sảnh. Năm 1942, khi hoạt động trong Nam, Lê Duẩn dùng thủ đoạn cưới thêm bà Thụy Nga, cháu gọi ông Đỗ Hữu Vị (đại úy phi công VN đầu tiên trong quân đội Pháp). 

Ngoài ba bà vợ, Lê Duẩn còn lăng nhăng với nhiều người khác, trong đó có bác sĩ Hồ Thị Nghĩa, con của Hồ Viết Thắng, Phó chủ tịch Ủy ban kế hoạch nhà nước trong thập niên 80. Theo nhà văn Xuân Vũ, bà Thụy Nga đã có người yêu nhưng bị Lê Đức Thọ dàn xếp lừa bà vào một căn lều vắng để Lê Duẩn đến cưỡng hiếp khiến bà phải chịu làm vợ ba. (Hoàng Dung, tr.83, 84)

Trừ Lê Hãn, Giám Đốc Tiếp Liệu cho các trường quân sự nay đã về hưu, các người con khác của Lê Duẩn đảm nhiệm các chức vụ béo bở như sau :

– Lê Kiến Trung : Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Hải quan Thành phố HCM, hiện nay là Phó Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An.

– Lê Kiến Thành : là tỷ phú, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Techcombank (1994-2004), chủ tịch Công ty xây dựng và phát triển đô thị và hiện nay là Tổng Giám Đốc Công ty chế biến thực phẩm Thái Minh. Ngoài ra, Thành còn là Phó Chủ Tich thường trực Hội Golf Việt Nam, một loại kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận do các 4C độc quyền nắm giữ.

Báo chí trong nước hồi tháng 10/2011 xôn xao vì Lê Kiến Trung đã công kích và nói xách mé Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải là Đinh La Thông khi ông nầy cấm nhân viên của Bộ Giao Thông chơi golf. Bức thư của Lê Kiến Thành có đoạn như sau :

«Vấn đề giao thông thấp kém lạc hậu, đầu tư vào giao thông như muối bỏ bể, một con đường quy hoạch cho 30000 dân, giờ phải tải cả triệu người, điều nầy đã tồn tại ngót 30 năm nay. Hẳn ông Bộ Trưởng cũng biết golf mới du nhập vào VN chừng 10-15 năm nay, vậy trước khi có golf điều gì đã ảnh hưởng tới chất lượng lãnh đạo của cán bộ giao thông vận tải. Chơi golf không có tội, lãnh đạo trước hết phải thượng tôn pháp luật»

Việc tranh chấp giữa ông con của cựu bí thư bố già và ông bộ trưởng khoác lác là điễn hình của chế độ luật rừng và thế lực của 4C tại VN hôm nay.

– Lê Thị Muội : Hoàng hữu Quýnh trong tác phẩm «Tôi bỏ đảng» đã viết về cô gái nầy như sau : Trong số du học sinh VN tại Liên Sô có 3 đứa con của Lê Duẩn, học dốt nhưng lại đài các nhất. Đó là Lê Hản học tại đại học quân sự không quân, Lê thị Hồng và Lê Thị Nga.

Lê thị Hồng có tên thật là Lê Thị Muội. Là con đẻ của anh Ba, nhưng Lê thị Hồng không đồng quan điểm với ba mình. Triết lý sống của Lê thị Hồng là sống phải cho ra sống. Phải được thoải mái về mặt tinh thần. Về vật chất phải có miếng ăn ngon, phải mặc đẹp và phải biết tận hưởng mọi hạnh phúc khi tình yêu đến. Hồng đi nghỉ hè và «hành nghề» tại hải cảng Sochi trên bờ biển Hắc Hải. Không chỉ Hồng làm cái «nghề đó», các nữ sinh Liên Sô cũng vậy (Tôi bỏ đảng, tr.105). Khi về nước, Lê Thị Muội được cử làm Phó Bộ Trưởng bộ Nội Thương.

– Lê Vũ Anh tên thật là Lê Thị Nga: du học ở Nga, cãi lời cha ở lại lấy ông thầy người Nga tên Marlov, sau đó chết vì tai nạn xe cộ. Người ta đồn cái chết nầy do Lê Duẩn ra lịnh giết để giữ uy tín cho ông, (Hoàng Dung, tr. 131) không muốn cho con kết hôn với người ngoại quốc, điều cấm kỵ của đảng, ngay cho người ngoại quốc đó là người Nga. 

Điều nầy cho thấy việc Nguyễn Tấn Dũng làm sui gia với Việt kiều là một dấu hỏi lớn, phải chăng đảng đã cho phép để tẩu tán tài sản tham nhũng của đồng bọn.

CON CỦA LÊ ĐỨC THỌ .

Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải là anh của Phan Đình Đồng (bí danh là Mai Chí Thọ) và Phan Đình Dinh (bí danh là Đinh Đức Thiện). Cả 3 anh em đều không coi trọng dòng họ của tổ tiên, giữ bí danh cho đến khi chết, thậm chí con của Lê Đức Thọ vẫn mang họ Lê là Lê Nam Thắng hiện là Thứ Trưởng thường trực Bộ Thông Tin và Truyền Thông (nghĩa là thứ trưởng số 1, ưu tiên thay Bộ Trưởng). 

Mai Chí Thọ là Đại Tướng, trùm Công An miền Nam sau 1975, còn Đinh Đức Thiện được phong là Thượng Tướng, giữ nhiều chức vụ cao cấp mà chức vụ sau cùng là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Như vậy cha con chú cháu đều nắm giữ các chức vụ then chốt trong đảng và chính phủ.

Lê Đức Thọ và Lê Duẩn có nhiều điểm giống nhau : độc tài, gian xảo, cầm quyền sinh sát trong đảng lâu năm (từ 1948 đến 1986), có vào Nam công tác (Xứ Ủy Nam Bộ 1948-54, chính ủy cuộc đại tấn công miền Nam 1975) và đặc biệt là dâm đảng.

Ông Bùi Tín nói rõ là 2 bà vợ của Lê Đức Thọ ở chung một nhà trên đường Nguyễn Cảnh Chân, Hànội, xưa là biệt thự của viên Hiệu trưởng trường Albert Sarraut, cùng ăn chung một bàn với ông chồng và con cái theo tinh thần Nam-Bắc đề huề. Đúng là một nhà tổ chức đại tài. (Mặt Thật, tr.177).

Trong "Lớn lên với đất nước", tác giả Vy Thanh, một cựu đảng viên, sau trở về thành, du học ở Mỹ và trở về nước làm Tổng thơ ký một đại học VNCH xác nhận là Lê Đức Thọ đã dùng những thủ đoạn đê tiện hãm hiếp nữ cán bộ khi làm Xứ Ủy Nam Bộ. 

«Một đêm chị Thanh đang ngủ, bác Sáu (tức Lê Đức Thọ, mà trong khu gọi là Sáu Búa, chú thích của người viết) mò vô mùng chị. Chị sợ quá tốc mùng chạy la làng, làm lối xóm náo động. Đội bảo vệ bắn súng như Tây tới …» (Vy Thanh, tr. 290)

CON CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

Tên là Nguyễn Chí Vịnh, sinh năm 1957, là con út của tướng Nguyễn Chí Thanh, và là em một cha khác mẹ với Nguyễn Tấn Dũng như lời đồn đãi Dũng là con rơi của Nguyễn Chí Thanh. Vịnh học ở trường đại học quân sự ở Vĩnh Yên, nhưng chưa tốt nghiệp, được tướng Lê Đức Anh, nguyên Bộ trưởng bộ Quốc Phòng rồi sau là Chủ Tịch nước nhận làm con nuôi (cũng giống như trường hợp của Dũng).

Nguyễn Chí Vịnh kết hôn với con gái của Đặng Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng Cục 2 là một cơ quan có quyền hành vô hạn và ngân sách khổng lồ bao trùm các hoạt động tình báo, quốc phòng, kinh tế, văn hóa của nước. (Cộng Sản có nhiều Tổng cục (TC) như : TC An Ninh, TC Cảnh Sát, TC Tình Báo, TC Xây Dựng, TC Hậu Cần…Mỗi Tổng Cục có nhiều Cục, thí dụ như TC An Ninh có cục A25 đặc trách về báo chí, Cục A18 kiểm soát ngoại kiều và Việt kiều, Cục A41 đặc trách về tôn giáo, Cục A24 chuyên về kiểm tra, xét hỏi, Cục A42 theo dõi bắt bớ những người chống chế độ. Những Tổng Cục trưởng và Cục trưởng đa số là ủy viên Trung ương đảng hay hàng họ với lãnh đạo cao cấp).

Đặng Vũ Chính đưa cả gia đình vào nắm các chức vụ then chốt của Tổng Cục. Con rể là Nguyễn Chí Vịnh là Tổng Cục Phó, con trai là Đặng Vũ Dũng từ lao động xuất khẩu trở về nước giữ chức Giám đốc Công ty xây dựng Hồng Bàng, hai con gái là Đặng Thị Mai và Đặng Thị Tuyết mang quân hàm đại úy phụ trách công tác mật, vợ gốc là con buôn đảm nhiệm giám đốc Khách sạn Hoàng Đế và chi nhánh công ty Decatour ở miền Trung. Riêng Nguyễn Chí Vịnh, với sự nâng đỡ tận tình của cha vợ và cha nuôi được thăng cấp từ đại úy lên đại tướng trong một thời gian kỷ lục mà trong lịch sử quân đội chưa bao giờ có. Khi Đặng Vũ Chính về hưu, Nguyễn Chí Vịnh lên thay làm Tổng Cục Trưởng.

Bộ ba Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, Lê Đức Anh dùng nhiều thủ đoạn tinh vi như thu âm lén điện thoại, chụp ảnh (như khi Lê Khả Phiêu tằng tịu với 2 nữ nhân viên trong phái đoàn công du sang Pháp) để làm áp lực khuynh đảo các ủy viên trong Trung ương đảng hay các đối thủ bởi lẽ tất cả các chóp bu của đảng đều làm điều phi pháp, tham nhũng. Nhóm nầy còn tạo chiến dịch hạ nhục Võ Nguyên Giáp như Giáp là con nuôi của trùm mật thám Pháp Marty, Giáp là tướng bất tài, sợ chết (trong trận Điện Biên Phủ, Giáp nằm trốn trong hầm để cho Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái chỉ huy, nhưng khi thắng trận thì giành công; khi đánh Mỹ thì sợ bom nên không dám vào Nam), tằng tịu với vợ nhà văn Đào Vũ khi bà nầy đến dạy dương cầm. Sau khi làm mưa làm gió ở Tổng Cục 2, Vịnh được chuyển qua làm Thứ trưởng bộ Quốc Phòng và được đưa vào Ủy viên Trung ương đảng kỳ đại hội XI.

Nguyễn Chí Vịnh còn có người chị tên là Nguyễn Thị Thanh Hà có thời là Phó Cục Trưởng Cục Hàng không Việt Nam.

CON CỦA NGUYÊN CHỦ TỊCH LÊ ĐỨC ANH

Lê Đức Anh hiện là «bố già» trong đảng cộng sản mafia, là người lãnh đạo quân sự và chính trị cộng sản từ hơn nửa thế kỷ qua, cực kỳ thân Trung Quốc. Cả 2 ông đại tướng tên Anh (Lê đức Anh và Lê hồng Anh) đều là hai cây dù của Nguyễn Tấn Dũng (Đức Anh là dù to, Hồng Anh là dù bọc hậu) và cả hai đều xuất thân là phu cạo mủ cao su ở Hớn Quản.

Con trai của Lê Đức Anh là Lê Mạnh Hà hiện là Phó Chủ Tịch Ùy Ban Nhân dân TP HCM. Ông Hà được học bổng Fulbright du học ở Harvard từ 1998 đến 2000. Con dâu là Nguyễn thị Đoan là Phó Chủ tịch nước (thay Trương Mỹ Hoa) từ 2007 đến 2010. Bà Đoan có tiến sĩ ở Bulgarie và có tu nghiệp ở Pháp.

Được vào ủy viên Trung ương đảng là bảo đảm một chức vụ cao cấp, béo bở trong chánh phủ nên cuộc chạy đua vào chức vụ nầy thường diễn ra trong hậu trường với nhiều cuộc liên kết phe nhóm, tranh chấp ác liệt và đòn phép bẩn thỉu. Ngoài các nhân vật vừa kể, trong đại hội đảng lần thứ XI còn có các tân ủy viên sau đây :

– Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976 là con của Nguyễn Văn Chi, Ủy viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Kiểm Tra trung ương. Nguyễn Xuân Anh nhảy vọt từ Bí thư huyện Liên Châu (Đà Nẳng) đi thẳng vào Trung ương đảng. Tháng 7/2011, Anh được bổ nhiệm Phó chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẳng và chắc chẳng bao lâu sẽ là chủ tịch, nắm giữ thành trì của miền Trung.

– Trần Sĩ Thanh, sinh năm 1972. Phó bí thư tỉnh ủy Darlac là cháu của Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ Tướng (Nguyễn Sinh Hùng là cháu của Hồ Chí Minh). Darlac hiện nay là một vùng béo bở, có nhiều tài nguyên và nhiều cơ sở kỹ nghệ của ngoại quốc đã và sẽ thành lập tại đây.

– Trần Bình Minh : Phó Tổng giám đốc đài truyền hình VN là con trai của Trần Lâm, nguyên Tổng giám đốc đài Tiếng nói VN.

– Nguyễn thị Kim Tuyến, Thứ trưởng Bộ Y tế là cháu ngoại của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập.

Điểm đáng lưu ý là Cộng Sản đặt chỗ cho con cháu trước tiên vào ghế số 2 ở mỗi cơ quan bằng các chức vụ như phó (Phó Tổng Cục, Phó Cục, Cu Phó Giám đốc, Phó ban..), hay thứ (Thứ Trưởng) để chờ khi các ông số 1, vốn đang có những dù lộng cũng to để chiếm chỗ khi các ông số 1 về hưu, được điều động đi nơi khác để nhường chỗ, hay bị hất chân khi cái gốc không còn đứng vững.

Những hình thức « truyền ngôi » cho con cháu, hàng họ trong chế độ Cộng Sản

Không thể nào kể hết chi tiết các tên họ những 4C, bởi lẽ chế độ con ông cháu cha cộng sản chằng chịt ngang dọc từ trung ương đến địa phương như những dây leo, hay đúng ra như những tế bào độc hại của bịnh ung thư tràn lan khắp cơ thể, chúng tôi xin tóm tắt tổng quát cách truyền ngôi, tập quyền và tản quyền của hệ thống 4C theo như tổ chức mafia dưới 3 hình thức chính yếu là: tham chính, lập công ty kinh doanh, kết thông gia và bè đảng.

* THAM CHÍNH.
Thông thường, những người có học, có khả năng thường được đề cử, bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy trong các cơ quan của đảng hay chính phủ. Ngoài những nhân vật kể trên, cần kể thêm một số nhân vật đang tại chức hay vừa rời chức vụ gần đây.

– Nguyễn Thiện Nhân : Phó thủ tướng là con của y sĩ Đông Dương Nguyễn Thiện Thành, gốc người tỉnh Trà Vinh (có tài liệu ghi là Biên Hòa) một cán bộ cao cấp cộng sản đã tham gia từ phong trào Việt Minh. Mặc dù Nguyễn Thiện Nhân đậu tiến sĩ ở Đông Đức và có tu nghiệp ở Harvard, đã bị mất chức Bộ Trưởng bộ Giáo Dục vì bất tài nhưng lại thích phô trương, đã đưa nền giáo dục VN đến chỗ lạc hậu, nhưng vẫn được tiếp tục lưu nhiệm chức vụ Phó thủ tướng, đúng như lời mỉa mai của giáo sư Hoàng Tụy, một nhà giáo dục được trong nước và ngoại quốc nể trọng : Bộ giáo dục (ý nói ông Nhân) trơ như đá, vững như đồng.

– Phạm Bình Minh : hiện là Bộ Trưởng Bộ ngoại giao, con của Nguyễn Cơ Thạch (tên thật là Phạm Văn Cương), phụ tá cho Lê Đức Thọ trong hội nghị hòa đàm Paris và là Bộ Trưởng bộ ngoại giao sau đó (1980-1991). Có tin là con của Phạm Bình Minh cũng đang du học ngành ngoại giao hi vọng nối nghiệp cha ông.

– Trần Tuấn Anh : nguyên lãnh sự Việt Nam tại Hoa Kỳ (San Francisco) là con của chủ tịch Trần Đức Lương.*

* LẬP CÔNG TY.
Những con cháu cán bộ cao cấp không có khả năng học vấn hay thiếu đạo đức (thực ra ông cha cũng đã thiếu đạo đức, nhưng thành phần các ông con nầy trác táng, lêu lỏng, không thể đảm nhiệm vai trò chỉ huy) thì quay ra kinh doanh, lập công ty. Thực ra những công ty nầy chỉ là bình phong để lợi dụng danh nghĩa của ông cha mà làm giàu phi pháp. Số 4C loại nầy thì kể sao cho hết bởi tràn lan khắp nơi ăn chịu với khắp các cơ quan. Chỉ đan kể vài tên con cháu của các cấp lãnh đạo ở Trung ương đảng.

CON RỂ CỦA VÕ NGUYÊN GIÁP.

Tên là Trương Gia Bình, là một tỷ phủ, giám đốc công ty FPT, là một trong những công ty lớn nhất nước cung cấp dịch vụ internet, truyền thông.

CON RƠI CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT.

Võ văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, người được xem là cấp tiến, mở đầu cho phong trào đổi mới kinh tế. Nhân nói đến đứa con rơi của Võ văn Kiệt tên Phan Thành Nam, tưởng cần nói qua về đạo đức tồi tệ của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản.

Ông Hoàng Dũng, Thư ký Văn phòng Trung Ương đảng đã viết về lai lịch của Phan Thành Nam như sau : Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ biết rằng cụ Hồ gặp những khó khăn và thiếu thốn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình với người vợ cũ ở Trung Quốc nhưng bị phản đối, do vậy bộ Chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tình dục. Đặc biệt từ thuở còn thanh niên, cụ Hồ đã có một mối tình rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật nầy đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết «Đi tìm Út Huệ»). Biết thế nên lúc nầy Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục miền Nam phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một số cô gái còn trẻ đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong bộ Chính trị (đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ). Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt nầy. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc có một cô còn trẻ và sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lỡ thì cô gái đã có thai mấy tháng, thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là Phan Thành Nam.

Phan Thanh Nam hiện nay là một tỷ phú đỏ, Tổng Giám Đốc Công Ty quốc doanh Tracodi, chuyên về «xuất khẩu lao động», xuất cảng hàng hóa, xây cất và du lịch.

Điều cần nói thêm là ông Kiệt cũng có chính thức 2 vợ : bà vợ cả tên là Trần Kim Anh và 3 đứa con đã chết trong chiến tranh, chỉ còn lại đứa con gái tên là Võ Hiền Dư. Ông lấy vợ kế là Phan Lương Cầm nổi tiếng tham nhũng được các công ty đặt tên là Bà Mười Cầm vì tất cả các dự án đầu tư đều phải đóng «hụi chết » cho bà ít nhứt 10%.

CON CỦA NGUYÊN THỦ TƯỚNG PHAN VĂN KHẢI

Tên là Phan văn Tỵ tục danh là Hoàng Tỵ là một tay du đãng chọc trời khuấy nước, có lần vì tranh giành địa bàn buôn lậu đã bắn chết Phạm Văn Hưng là sĩ quan công an, con của Phạm Thế Duyệt cũng là đảng viên trong Trung ương đảng, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc. Về kinh doanh, Hoàng Tỵ lợi dụng thế lực của cha và của các đồng chí của cha, nhập cảng lậu xe hơi cũ rồi tân trang lại bán sang Trung Đông, nhập cảng xe đạp mới nguyên chiếc từ Thái Lan, Singapore đem tháo ra từng bộ phận rồi lắp ráp lại (bởi luật VN lúc ấy chỉ cho phép bán xe đạp lắp ráp ở VN), bán với giá gấp đôi gấp ba. Hoàng Tỵ cũng là chủ nhân của hai đại khách sạn Hoàng Gia và Planet ở Saigon và HàNội, cho du khách ở tại hai khách sạn nầy được ưu tiên khỏi bị xét hỏi khi đến và khi rời phi trường. Nhờ tất cá mánh khoé và thế lực, Hoàng Tỵ cũng là một tỷ phú.

CON TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH, BỘ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG.
Phùng Quang Thanh xuất thân là một bộ đội không có học thức nhưng nhờ phe cánh thân Trung Cộng trong đảng nên được phong quân hàm đại tướng, giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng từ nhiều năm nay. Con trai của Phùng Quang Thanh là Phùng Quang Hải, lý lịch cũng không ghi học lực và trường đào tạo, nhưng mang cấp bậc Thượng tá, là Tổng giám đốc Công ty xây dựng 319 là một công ty quốc doanh bao gồm hơn mươi công ty hoạt động trong lãnh vực xây cất, cung cấp vật dụng cho quân đội và các cơ quan chính phủ trên địa bàn khắp nước. Đây là một nguồn lợi khổng lồ cho gia đình họ Phùng và các phe cánh trong đảng để tham nhũng và độc quyền các lãnh vực béo bở.

Nếu cần phải kể thêm thành tích của những 4C vì ăn chia không đồng đều bị tố cáo hay bị ra tòa, hay bị làm vật tế thần thì có mấy vụ gần đây như Mai Văn Dậu, Thứ trưởng Bộ Thương Mại bị ra tòa cùng với con là Mai Thanh Hải vì tham nhũng trong việc xuất nhập cảng, Đoàn Văn Kiểm, chủ tịch Hội đồng Quản Trị Tập đoàn Than – Khoáng sản bị bãi chức vì cho phép em là Đoàn Duy Thức khai thác quặng mỏ trái phép, Phạm Thanh Bình, chủ tịch Hội Đồng Quản trị Tổng đoàn Công nghiệp Tàu Thủy VN bị bắt giam vì bổ nhiệm con trai là Phạm Bình Minh (một Bình Minh khác, không phải là Bình Minh con Nguyễn cơ Thạch) vào công ty Vinashin, Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng bộ Bưu Chính Viễn Thông, bị cảnh cáo vì cho con rể là Hoàng Minh gian lận trong việc trúng thầu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị bằng bạo lực và áp dụng luật mafia ngay trong hàng ngũ đảng viên cao cấp của họ theo kiểu mạnh được yếu thua. Trong sự phá sản hàng tỷ mỹ kim của công ty Vinashin, người chịu trách nhiệm là Nguyễn Tấn Dũng thì không hề hấn gì trong khi bộ trưởng Phạm Thanh Bình bị bắt giam vì một sự bổ nhiệm. Vụ ăn hoa hồng trong việc in giấy bạc polymer ở Úc (12 triệu Úc kim) liên hệ đến nguyên Thống đốc ngân hàng Lê đức Thúy đã có bằng chứng rõ ràng thì chẳng ai bị tù tội.

Lãnh đạo Việt Nam hôm nay làm trò hề và gây ô nhục cho đất nước mà không biết nhục. Vũ Văn Hiến, Ủy viên trung ương đảng, Tổng giám đốc Truyền hình VN gởi con gái tên Kiều Trinh sang Thụy Điển tu nghiệp bị cảnh sát Thụy Điển bắt vì ăn cắp trong siêu thị, bị báo chí trong nước phanh phui nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Văn hóa – Du Lịch của đài truyền hình, chưa kể Hiến đưa bè đảng vào cơ quan để tham nhũng, bị nhân viên các cấp tố cáo nhưng vẫn bình chân như vại.

*KẾT THÔNG GIA VÀ BÈ ĐẢNG.

Người Việt Nam ta có câu Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, những cán bộ cao cấp gian manh thường tìm gần nhau để hợp quần gây sức mạnh trong công cuộc trấn áp, bốc lộ lương dân. Những cuộc liên kết giữa các cán bộ qua các cuộc hôn nhân là một hình thức lưu chuyển quyền hành và tham nhũng theo hàng ngang và hàng chéo đến độ hệ thống tham nhũng Việt Nam hôm nay là những loại ung thư đang tàn phá một cơ thể chỉ chờ ngày bị tiêu hủy toàn diện. Dĩ nhiên không sao kể hết loại liên kết nầy, chỉ cần đan kể vài thông gia gần đây tạo nhiều tai tiếng to lớn.

Tại Việt Nam, nhắc đến tướng công an Nguyễn Đức Nhanh là người dân kinh sợ và khinh bỉ vì chánh sách đàn áp lương dân và tham nhũng của tên trùm công an nầy (đàn áp giáo dân Thái Hà). Nhanh đảm nhiệm 2 chức vụ : Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (tổng cục 1 : lo về tình báo hải ngoại, tổng cục 2 : lo về an ninh quốc nội) kiêm Giám Đốc Công An TP HàNội. Nguyễn Đức Nhanh kết thông gia với Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng bộ ngoại giao, Chủ tịch Ủy Ban nhà nước về người VN ở nước ngoài. Như vậy hai gia đình thông gia nầy đảm nhiệm vai trò chiến lược của đảng Cộng Sản và chánh phủ Việt Nam.

Trương Mỹ Hoa, Phó chủ tịch Quốc hội (2002-2007) là con của Trương Văn Đẩu, Tỉnh ủy viên Gò Công (cũng gốc là phu cạo mủ cao su) có em là Trương thị Hiền, Hiệu trưởng trường Cán bộ TPHCM, kết hôn với Lê Thanh Hải, Ủy Viên Trung ương đảng, Thành ủy TP Hồ Chí Minh. 

Lê Thanh Hải làm sui với Huỳnh Ngọc Sỹ nổi tiếng trong vụ tham nhũng xây xa lộ Đông Tây nối liền từ Bình Chánh đến Saigon, qua Thủ Thiêm chạy đến Cát Lái trên đường về miền Tây. Xa lộ nầy do Nhật viện trợ và giao cho công ty Nhật PCI xây cất, Huỳnh Ngọc Sỹ làm quản lý. Lúc đầu, Sỹ đòi hối lộ 15%, sau sụt xuống 10% và đã nhận 2,6 triệu MK thì bị báo chí Nhật phanh phui, 4 người đại diện công ty Nhật bị Nhật bắt giữ vì đưa hối lộ. Chánh phủ Nhật đòi Việt Nam phải có biện pháp chế tài với người nhận hối lộ là Huỳnh ngọc Sỹ nhưng VN vẫn binh vực Sỹ khiến Nhật trả đũa bằng cách ngưng tất cả tiền cho vay ODA và đòi lại 30 triệu tiền viện trợ, điều hiếm có trong lịch sử bang giao quốc tế. 

Trước áp lực của các quốc gia viện trợ cho VN và Mỹ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đành phải miễn cưỡng đưa Sỹ ra tòa với án chung than khổ sai, sau giảm xuống 20 năm tù. Thì ra Sỹ chỉ là vật tế thần của một tập đoàn tham nhũng, mà những án vụ tham nhũng như thế chỉ là hạn hữu trong số ngàn ngàn vụ tham nhũng chẳng bao giờ bị phanh phui bởi được bao che từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài và 700 cơ quan truyền thông trong nước chỉ là bầy két lập lại luận điệu của nhà cầm quyền. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn có một vài ngoại lệ khi báo chí đăng tin tham nhũng liên quan đến 4C, hoặc vì nhà báo có lương tâm, hoặc vì thanh toán nội bộ bởi chia phần không sòng phẳng. Thí dụ như trường hợp khi báo chí đăng tin tiền in của công ty TechBank của Lê Đức Minh là con của nguyên thống đốc ngân hàng Lê Đức Thúy không có phẩm chất thì hai tờ báo Thời Đại và Công Lý bị đình bản, và 6 tờ báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, An Ninh Thủ Đô, Công Luận…bị cảnh cáo.

Về chuyện nhà báo bị khủng bố vì dám đá động đến việc tham nhũng của các 4C, tưởng cũng nên nhắc lại một vụ tham nhũng lớn bị phanh phui cách đây 5 năm, nhưng vụ án đã bị ém nhẹm vì liên quan đến các thủ phạm ở chóp bu, nhưng hai phó tổng biên tập của báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt giam và 5 phóng viên bị thu hồi thẻ hành nghề vì tội phá hoại an ninh quốc gia. 

Vụ tham nhũng bị vở lở khi công an bắt được 2 cầu thủ cá độ ngày 13/12/2005 và cuộc điều tra cho biết Bùi Tiến Dũng, Tổng Giám ĐốcĐơn vị Quản Lý các dự án PMU-18 đã chi tiêu 2,6 triệu trong trò chơi cờ bạc nầy. PMU-18 (Project Management Unit) trực thuộc bộ Giao Thông Vận Tải (GTVT) là cơ quan phụ trách thực hiện xây cất các dự án cầu đường với số vốn 20 tỷ gồm ngân sách quốc gia và quỹ tài trợ ODA của Nhật, Tây Âu và Ngân hàng Quốc Tế (World Bank).

Bùi Tiến Dũng là con trai của Bùi Thiện Ngộ, Bộ trưởng Bộ Công An, cấu kết với Nguyễn Việt Tiến (Thứ trưởng Bộ GTVT), Phạm Tiến Dũng (Trưởng phòng tài chánh), rể của Nguyễn Việt Tiến cùng với Phạm Hoàng Hải, rể của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Việt Bắc, rể của Đào Đình Binh (Bộ trưởng Bộ GTVT) cùng với nhiều bạn bè hàng họ lập ra hàng chục công ty để trúng thầu dù các công ty nầy không khả năng và không vốn. 

Tài sản tham nhũng của Nguyễn Việt Tiến, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Việt Bắc, mỗi người trên trăm triệu MK. Báo Thanh Niên tiết lộ là có ít nhất 40 quan chức cao cấp liên quan đến vụ tham những khổng lồ nầy. Bị gọi ra thẩm vấn trước tòa án, Bộ trưởng Đặng Đình Binh tuyên bố «Tôi thuộc diện Trung ương quản lý» có nghĩa là chỉ trả lời với trung ương đảng mà thôi. Ngoài ra, 2 đảng viên cao cấp là tướng Cao ngọc Oánh, Cục trưởng Cục điều tra C15, Phạm Xuân Quấc, Cục trưởng Cục điều tra C14 cũng bị dính liếu, nhưng được miễn truy tố, rốt cuộc chỉ có Bùi Tiến Dũng và các « tép riêu» bị lãnh án.


Lâm Văn Bé
 

Blog Archive