Showing posts with label Xã Hội Học. Show all posts
Showing posts with label Xã Hội Học. Show all posts

Tuesday, April 26, 2016

Góc tối đáng sợ của quốc gia hạnh phúc nhất thế giới

Được mệnh danh là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới thế nhưng Bhutan vẫn còn những mặt trái ít người biết.

Hai ngày sau ngày Quốc tế Phụ nữ, tờ báo quốc gia Bhutan đưa tin:

"Tòa án quận Gelephu đã tuyên án 9 năm tù giam đối với 1 người đàn ông vì tội cưỡng hiếp một nạn nhân 17 tuổi".

Trong khi đó, 1 cảnh sát ở Gelephu cũng bị tuyên án 2 năm tù giam vì cáo buộc hiếp dâm người giúp việc của mình. Tại Gasa, một thanh niên 24 tuổi bị cáo buộc hiếp dâm một phụ nữ 55 tuổi. Tại Punakha, một nhà sư bị buộc tội cưỡng hiếp khiến bé gái 14 tuổi mang thai. Tại Tsirang, nam thanh niên 24 tuổi bị cảnh sát bắt giữ vì có quan hệ với nữ sinh 13 tuổi. Và ở Thimphu, cảnh sát đã bắt giữ một bảo vệ 38 tuổi vì tội hiếp dâm bé gái mới chỉ lên 8.

Chưa hết, tháng 12 năm ngoái, một cô bé 13 tuổi được cho là đã bị cha đẻ liên tục cưỡng hiếp và đã được giải cứu bởi tổ chức RENEW (Cụm từ viết tắt của Respect, Educate, Nurture, Empower Women được dịch lần lượt là Tôn trọng, Giáo dục, Nuôi dưỡng và Trao quyền cho phụ nữ), một tổ chức phi chính phủ hoạt động vì quyền lợi của phụ nữ tại Bhutan.


Bhutan cũng có những góc tối ít người biết.
Một nghiên cứu mới đây về tình trạng bạo lực đối với phụ nữ tại Bhutan do Ủy ban Quốc gia về Phụ nữ và Trẻ em (NCWC) thực hiện cho thấy cứ 2/100 phụ nữ có độ tuổi từ 15 đến 49 bị lạm dụng tình dục trước tuổi 15.

"Những bé gái chưa đến 15 tuổi có nguy cơ trở thành nạn nhân của tình trạng bạo lực tình dục, tuy nhiên, mức độ rủi ro vẫn thấp hơn những phụ nữ có độ tuổi từ 15 trở lên", nghiên cứu này cho biết.

Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận 4/100 phụ nữ có quan hệ tình dục lần đầu trước năm 15 tuổi, trong đó hơn một nửa là do bị cưỡng ép hoặc bắt buộc. Ngoài ra, cứ 3/10 phụ nữ sẽ kết hôn lần đầu trước độ tuổi hợp pháp là 18.

Theo chuyên gia tư vấn của RENEW, hầu hết các trường hợp này thường xảy ra sau những cánh cửa khép kín và đa phần các hung thủ là những người quen biết với nạn nhân đều không bị tố giác với cơ quan chức năng.


Tình trạng bạo lực gia đình là một vấn nạn nhức nhối ở Bhutan.

Theo báo cáo điều tra của Cục Thống kê Quốc gia Bhutan năm 2010, khoảng 70% phụ nữ cho biết họ đã từng bị đánh đập vì không chăm sóc con cái chu đáo, tranh cãi với chồng, từ chối "quan hệ" hoặc nấu ăn dở tệ.

"Mức độ chịu đựng và khoan dung đối với nạn bạo lực gia đình này cho thấy thực tế nhận thức về mối quan hệ giữa phụ nữ và an toàn bản thân vẫn chưa được phổ biến rộng rãi", một điều phối viên thường trú của Liên Hợp Quốc tại Bhutan, bà Christina Carlson cho biết.

Việc chấp nhận bạo lực được ghi nhận có tỷ lệ cao nhất lên tới 90% ở Paro và thấp nhất là 50% ở Thimphu.

Hàng năm, ngày 8/3 chính là dịp để nâng cao nhận thức về tình trạng của phụ nữ trên các phương diện phân biệt, áp bức, lạm dụng, bạo lực và bất công. Đó là dịp để cả thế giới quan tâm tới khoảng cách ngày càng bị nới rộng ẩn sau con đường tiến tới bình đẳng cho phụ nữ. Ngoài ra, nó cũng được xem là ngày để công nhận những tiến bộ, thành tựu mà phụ nữ đạt được, không phân biệt ngành nghề, quốc tịch, dân tộc, văn hóa, kinh tế hay chính trị.

Hoàng hậu Bhutan Sangay Choden Wangchuck, người giữ vai trò là Đại sứ thiện chí của UNFPA và là Chủ tịch của RENEW, đã cùng với những người dân ở Haa kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3. Hơn 2.000 người gồm giáo viên, học sinh, các công nhân viên chức và người dân địa phương đã tập trung tham dự sự kiện quan trọng này. Nhân dịp này, Hoàng hậu đã cam kết sẽ dốc hết sức mình để giúp đỡ, hỗ trợ những phụ nữ từng là nạn nhân của nạn lạm dụng và bạo hành.

Bà nói: "Ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ vẫn đang là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của bất kỳ đất nước nào. Sự kiện này giúp chúng ta có cơ hội được kỷ niệm những tiến bộ đã đạt được trong quá trình đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ cũng như trao quyền cho phụ nữ".

Trong chương trình, đại diện cho văn phòng của Liên Hợp Quốc tại Ấn Độ, Bhutan, Maldives và Sri Lanka, ông Sonam Tobgay cho biết các quốc gia có sự bình đăng giới cao hơn thường có nền kinh tế phát triển hơn. Các công ty có nhiều lãnh đạo là nữ giới cũng thường gặt hái được nhiều thành công hơn. Các hiệp ước hòa bình nếu có sự tham gia của các nữ lãnh đạo sẽ bền vững hơn. Những quốc hội có nhiều đại biểu nữ sẽ ban hành được nhiều đạo luật hơn về các vấn đề xã hội như y tế, giáo dục, chống phân biệt và hỗ trợ trẻ em. Bằng chứng rõ ràng cho thấy: Sự bình đẳng dành cho phụ nữ đồng nghĩa với sự tiến bộ cho loài người.

Chia sẻ về vấn nạn bạo lực gia đình và quyền của phụ nữ, ông Sonam Tobgay, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Bhutan cho biết sự an toàn, niềm hạnh phúc của phụ nữ chính là yếu tố then chốt cho quá trình phát triển của nhân loại. Ông nói

"Tôi tin giấc mơ về hòa bình và nỗi thống khổ của chúng ta trước tệ nạn bạo lực phụ nữ sẽ thúc đẩy mọi người giải quyết vấn đề, đưa ra các giải pháp có tính thực tiễn và trao quyền cho các nạn nhân".

Trong quá khứ, phụ nữ Bhutan thường bị giam chặt trong nhà với những công việc bếp núc quẩn quanh. Họ không có cơ hội được thực hiện những điều mà nam giới được làm. Thế nhưng ngày nay, phụ nữ đã bắt đầu năm giữ các vị trí trong quốc hội cũng như các dịch vụ dân sự. Một tín hiệu đáng mừng là năm ngoái Bhutan đã có nữ bộ trưởng đầu tiên trong lịch sử.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức đối với phụ nữ ở quốc gia này. Cho đến tận ngày nay, nam giới vẫn thích phụ nữ làm việc nhà dù thực tế, họ đã được giáo dục và có trình độ tương đương. Vốn cho rằng nam giới sẽ nắm giữ các vị trí lãnh đạo tốt hơn nữ giới, bởi vậy, hiện nay, số phụ nữ nắm giữ các chức vụ quan trọng tại Bhutan chỉ đếm trên đầu ngón tay. Minh chứng của việc này là trong cuộc bầu cử Hội đồng Quốc gia và Quốc hội năm 2013, mặ dù đa số cử tri là nữ giới thế nhưng kết quả lại khá bất ngờ khi hầu hết nam giới được bầu vào các vị trí tại hai cơ quan này.

(Nguồn: Bhutannewsservice)

Sunday, April 17, 2016

Ông Smith Đi Tù: Câu chuyện về thực trạng nhà tù ở Mỹ.


Nguyễn Minh Tâm dịch


10/04/2016 12:00

Câu chuyện có thật của ông Jeff Smith đăng trên Reader’s Digest tháng 4 nắm 2016.
Người cai tù đầu tiên tôi gặp ở nhà tù liên bang Manchester có hai cái răng cửa rất to, lộ hẳn ra ngoài. 

Chữ “cai tù” là dịch từ chữ “Correctional Officer” “Sĩ Quan Cải Huấn”, trên giấy tờ, chức vụ này được gọi tắt là “CO”.

Nhà tù này tên là Federal Correctional Institution- Trung Tâm Cải Huấn Liên bang-, nằm kẹt giữa hai ngọn núi thấp của tiểu bang Kentucky. 

Khi mới gặp, quả thực tôi không thể hiểu nổi ông cai tù này. Tôi được đưa đến đây cùng một lúc với một gã Da Đen trẻ tuổi, lúc nào cũng lầm bầm nói cái gì trong miệng, và một gã người Tầu nói tiếng Anh chữ được chữ không, làm tôi phải đoán mò từng chữ hắn nói. Sau khi gọi gã người Tầu là “con gà đốm”, với tiếng cười đầy thỏa mãn vì tìm được chữ dùng đúng ý, tôi được ông ta đưa đi gặp người y tá.

Bà này hỏi tôi một loạt nhiều câu hỏi. “Chiều cao, trọng lượng bao nhiêu?”

“ Cao năm feet sáu, nặng 120 pounds.”

Bà nhướng mắt nhìn cái dáng gầy còm của tôi, hỏi tiếp: “Trình độ học vấn?

“Tiến sĩ, Ph D.”

Bà nhìn tôi với con mắt nghi ngờ. “Nghề nghiệp sau cùng là gì?’

“Thượng Nghị Sĩ tiểu bang.”.

Bà trợn mắt nhìn tôi. “Ê đừng dỡn nhe. Ở đây tôi đã gặp những thằng tự xưng mình là Chúa Giê Su.”.

Sau đó, người cai tù dẫn tôi đến một cầu tiêu không cánh cửa, trống trải, tênh hênh.

Ông ta ra lệnh cho tôi: “Cởi quần ra. Quay một vòng cho tôi xem có dấu gì không ? Mở cái bóp tù ra ? ”

Tôi ngớ ngẩn không hiểu ông ta nói “cái bóp tù nhân” là gì.

“Vạch đít ra cho tôi xem coi có dấu gì trong hậu môn không ?”

Tôi khom người vạch đít cho ông ta xem.

Chặng cuối cùng là đi đến văn phòng counselor. Tại đây ông ta liếc sơ qua bản báo cáo vì sao tôi phải đi tù.

Ông lắc đầu ái ngại, nói nhỏ: “Lẽ ra ông không phải vào đây. Phí tiền, và thời gian vô ích, lại thêm chật nữa. Thật là khùng”

Chính xác ! Tôi cũng nghĩ như ông cai tù.

Con đường dẫn tôi đến nhà tù.
TRƯỚC ĐÓ SÁU THÁNG, hồi tháng Bảy năm 2009, tôi bước đến văn phòng luật sư của tôi.

Một người đi cùng thang máy, mỉm cười hỏi thăm tôi: ”Ông Smith, kỳ này ra ứng cử dân biểu nữa chứ? Hay ra tranh cử Thị trưởng?”. 

Tim tôi đập thật mạnh. Từ bẩy sáng đến giờ, khi nhân viên của chính phủ liên bang đến gõ cửa căn phòng tôi ở, tim tôi cứ đập thình thịch liên hồi. 

Tôi mỉm cười trả lời người lạ, hỏi thăm tôi: “Thưa ông, tôi mãn nguyện với chức thượng nghị sĩ tiểu bang hiện nay của tôi.”.

Tôi ý thức được rằng, thế giới quanh tôi đang khép lại từ từ, kể từ năm 2004, khi tôi có cuộc tranh cử đối đầu với một nhân vật con nhà giầu, rất nổi tiếng ở tiểu bang Missouri. 

Tôi chỉ thua ông ta một ít phiếu trong kỳ tranh cử sơ bộ của đảng, ra tranh chức ở quốc hội tiểu bang.

Giới truyền thông hết lời ca ngợi guồng máy vận động tranh cử của tôi, gồm các tình nguyện viên trẻ tuổi, không tốn tiền nhiều mà đạt kết quả.
Tôi suýt nữa thì thắng cử.

Vài tuần lễ trước Ngày Bầu Cử, hai người phụ tá của tôi được một người lạ mặt tiếp xúc, và trao cho một bản liệt kê những thành tích xấu của đối thủ của tôi, khi ông ta làm việc trong quốc hội.  Tôi biết chắc các phụ tá của tôi không bao giờ liên lạc với người ngoài để làm chuyện xấu. Sau khi thảo luận, họ hỏi tôi có nên làm tới hay không ? Tôi trả lời là tùy họ. Tôi không biết rõ nội dung của bản báo cáo này. Các anh muốn làm sao cũng được, cẩn thận thì hơn. Họ gật đầu đồng ý. Bản báo cáo này được hủy bỏ trước đó một tuần, không dùng tới.

Đối thủ của tôi thưa tôi ra trước Ủy ban Bầu Cử Liên Bang, hắn tố cáo rằng: tôi đã phối hợp với nơi phụ trách gửi thư vận động tranh cử, một cách bất hợp pháp.
Năm năm sau, tôi phải nhận tội đã làm cản trở công lý, vì gây khó dễ cho cơ quan điều tra liên bang về vụ này. 

Để bị trừng phạt, tôi xin được ở tù tại gia, và làm việc phục vụ cộng đồng, chỉ ra khỏi nhà để đi dạy tại một trường “charter school” , do tôi sáng lập cách đó 10 năm.

Hơn 300 người, có cả những vị dân cử thuộc hai đảng đối nghịch, viết thư xin ân xá cho tôi. 

Nhưng Ủy Ban Bầu Cử Liên Bang vẫn coi tôi như kẻ thủ phạm “đẻ ra một hình thức tham nhũng mới”, và ông chánh án tuyên án tôi phải ngồi tù một năm, một ngày, trong nhà tù liên bang.

Sáu tháng sau, tôi trôi dạt đến một nơi gồm toàn những con cá nhám sẵn sàng nhai tôi ngấu nghiến. 

Khổ thật, đang từ một giáo sư đại học, trở thành một chính trị gia, nay tôi là một kẻ tội phạm, một thằng hủi trong xã hội.

Khi còn là một thượng nghị sĩ tiểu bang, tôi là tác giả của bộ luật cải tổ hệ thống hình sự của tiểu bang Missouri. Nhưng khi cánh cổng nhà tù đóng xập lại, tình hình thay đổi hẳn, nay tôi là kẻ dưới quyền sai bảo, điều động của cai tù. Các vị sĩ quan cai tù có quyền uy tối thượng, và họ dùng quyền hạn của họ một cách liều lĩnh, vô tội vạ. Họ và các tù nhân khác có toàn quyền định đoạt số phận của tôi. Chuyện tôi học cao đến đâu cũng mặc, bỏ sang một bên.

Ở đây không có ai là Thượng Nghị Sĩ cả
SAU PHẦN LÀM HỒ SƠ NHẬP TRẠI TÙ, chúng tôi được phát bộ quần áo đồng phục dành cho tù nhân. Một cai tù dẫn tôi đi lên lầu hai, đến một phòng giam, gật đầu. Ở đây có sẵn một tên tù Da Đen, đầu búi tó củ hành. Tôi là người Da Trắng duy nhất trên cả một dẫy. Thằng tù cùng phòng với tôi có dáng giống hệt nhân vật Morgan Freeman trong vở kịch Shawshank Redemption, hắn nói tên hắn là Red.

Hắn mở lời nói với tôi bằng cái giọng vừa khinh bỉ vừa diểu cợt: “Chú mày Da Trắng ở đây há. Tội gì mà phải vào tù vậy ?”

“Nói láo với nhà nước liên bang.”

Một tên tù ở phòng bên cạnh chõ miệng nói: “Mẹ kiếp! Sao để chúng nó biết ? ”

“Bạn thân của tôi bị họ gài máy nghe lén.”

Có người lên tiếng: “Vậy thì cho thằng đó đi bán muối đi. Tiếc gì nữa.”
qui tắc
Chỉ trong vòng không đầy 30 giây, mọi người đều đồng ý phải thủ tiêu thằng bạn tôi.

Gã tù tên là Red, từng ngồi tù 25 năm, tại đủ các loại nhà tù: liên bang, tiểu bang, và quận hạt. Bài học đầu tiên về Qui luật của nhà tù là vấn đề “etiquette”, qui tắc khi ngồi vào phòng ăn. Ngày hôm sau, tôi ngồi cạnh tên tù nhân chung phòng để cùng ăn. Mọi người nhìn tôi với cái vẻ kỳ lạ.

Tên Red nhắc tôi: “Ê ông bạn. Bộ bạn muốn làm cuộc cách mạng trong ngày đầu tiên vào tù hay chăng ?”

“Hả ? Bạn nói gì tôi không hiểu.”

“Thì cứ nhìn quanh một lượt đi. Bạn thấy cái gì ?”

Tôi nhún vai, chẳng hiều gì cả.

Hắn nói thêm: “Bạn thấy có bao nhiêu tên Da Trắng giống bạn ngồi tại đây ?”

Tôi nhìn quanh một lượt, và nói :“Chẳng có ai cả.”. Tôi ăn thật nhanh, rồi đi khỏi phòng ăn ngay.

Trên đường đi quanh trở lại phòng mình, tôi gặp một tên Da Trắng mập thù lù, trên cánh tay có xâm dấu chữ Vạn của Đức Quốc Xã.

Nó lại gần tôi nói: “Ê ông bạn, bộ ông là loại người yêu mấy thằng mọi Đen hả.”

Tôi trả lời: “Không”

Hắn đâu biết khi còn là sinh viên đại học, môn học chính của tôi là Nghiên Cứu người Mỹ gốc Phi Châu.

“Như vậy từ nay ông bạn nên ngồi ăn chung với người cùng mầu da máu mủ với ông”

“OK. Tôi lỡ một lần thôi. Coi kìa, gã Da Đen kia là tên ở cùng phòng với tôi”

“Người ta để mày ở chung với thằng mọi Đen”

“Ừ! Đúng vậy”

Ngôn ngữ anh chàng này dùng qúa nặng, đầy miệt thị, nhưng tôi cũng đành phải đi theo, vì ở đây chẳng có luật sư nào thưa tôi về tội kỳ thị.

‘Đừng lo! Để tôi sửa sai bọn cai tù. Tôi tên là Cornbread. Cần gì cứ nói tôi là tôi sẽ giúp cho. Từ nay tôi không muốn ông bạn ngồi chung với bọn Đen nữa”

Tôi né tránh đề tài này dễ dàng. Vi phạm qui luật về mầu da dễ đưa đến hậu quả tàn bạo.

Sau này tôi mới biết: Ngồi ăn chung với người khác mầu da có thể khiến bạn bị ăn đòn, chia nhau thức ăn, hay đồ dùng có thể khiến bạn bị giết. Đó là sự thực phũ phàng ở trong nhà tù.

Mối đe dọa đáng sợ nhất không phải ở những nơi dễ thấy - những thằng tù háo dâm, những thằng tù vai u thịt bắp đi đòi nợ.  Nỗi lo sợ lớn nhất xảy ra khi có sự tranh dành, lấy uy thế, chỉ cần sơ xẩy một chút là thành to chuyện. Ví dụ dành nhau xem TV, coi đánh bóng rổ, hay coi thi điền kinh phụ nữ: có thể đưa đến đánh nhau loạn đả.

Một tuần lễ sau, tôi được gọi đến binđinh của văn phòng quản trị. Tôi hy vọng lên đây được người ta cho phép đi dạy học cho các tù nhân lấy bằng Trung Học tương đương -GED- Còn một hy vọng khác là có một đại diện nhà sách muốn mua câu chuyện của tôi, kể về cuộc đời của tôi.

Khi tôi được dẫn vào một căn phòng trơ trụi, khá lớn, một gã đàn ông to lớn, với cái đầu trọc lóc, bộ râu dê dưới cằm, tự giới thiệu hắn là đội trưởng trong nhà tù.
Nếu nhà tù là một trường học, ông đội trưởng này tương đương với chức Tổng Giám Thị - hay Dean, chuyên phụ trách về vấn đề kỷ luật.

Hắn lên tiếng hỏi tôi với giọng khinh bỉ: “Tù nhân Smith. Ông hoạt động chính trị bao lâu rồi ? “

“Khoảng chừng 10 năm.”.

“Như vậy có lẽ ông biết về chính trị nhiều hơn tôi. Ông đồng ý không ? Ông vào tù được bao lâu rồi ?”

“Khoảng chừng một tuần.”

“Thế à. Tôi làm việc ở nhà tù được 18 năm rồi. Vậy ông có nghĩ ông biết về nhà tù nhiều hơn tôi không ?”

Tôi trả lời: “Có lẽ ông biết rành hơn tôi.”

“Như vậy tôi xin đưa cho ông một lời khuyên. Đó là chớ bao giờ pha trộn việc này với việc kia. Ông ở trong tù, ông đừng nghĩ đến chuyện viết sách, hay bán sách ở đây, nghe rõ chưa. Làm như thế tức là sai qui tắc”

Như vậy tức là người ta đã theo dõi, và đọc các emails của tôi.

“Tôi có đọc bản nội qui, nói rằng không được điều hành kinh doanh trong lúc ở tù. Nhưng tôi nghĩ tôi không buôn bán ở đây. Tôi không bán thuốc lá, hay xâm hình lấy tiền. Tôi chẳng kiếm được một xu nào cả.”

“Đó là cách ông diễn dịch nội qui. Ở đây không có Thượng Viện, hay Tối cao Pháp Viện, để tranh cãi về việc này. Ở đây là BOP tức là Bureau of Prison, hay Sở Trông Coi Các Nhà Tù. Mọi thứ đều do tôi diễn dịch. Nếu ông không nghe lời tôi, tôi sẽ cho ông đi SHU, tức là solitary confinement, hay đi tù biệt giam, tách biệt với mọi người.”

“Ông Thượng Nghị Sĩ Ăn Cắp Đồ”
TUẦN LỄ SAU, tôi nhận được lệnh công tác, liệt kê chi tiết việc làm đổ mồ hôi của tôi là: khuân vác hàng từ xe vận tải chất vào nhà kho thực phẩm. Bốn người bạn làm chung đều có kích thước to gấp đôi thân hình tôi, còn ba người nữa thì nặng gấp ba thân xác tôi. Chúng tôi có nhiệm vụ khuân vác thực phẩm từ tủ lạnh đem ra ngoài, hay chất hàng vào trong tủ lạnh. Tất cả có khoảng 35,000 đến 40,000 pounds hàng mỗi ngày. Mỗi kiện hàng nặng khoảng 80 pounds. Phần lớn là những thùng thịt đóng hộp quá hạn, ngày hết hạn là 2006 hay 2007, và chúng tôi nhận vào năm 2010. Nếu chúng tôi phải ăn những miếng thịt lạt lẽo, thì đây là lý do: Đồ hộp quá cũ. Chúng tôi không phải là con vật, nhưng cũng không phải là con người đúng nghĩa. Chúng tôi chỉ được ăn những loại thức ăn phế thải, quá hạn.

Bà Horton, xếp trực tiếp của chúng tôi, một mụ đàn bà hút thuốc luôn miệng. Bà nói với chúng tôi rằng, nếu chúng tôi không ăn cắp đồ, bà sẽ cho chúng tôi ăn ngon.

Mặc cho bà nói, những người làm việc ở nhà kho thực phẩm, cuối ngày làm việc, đều ăn cắp ít món hàng đem về phòng, khi thì hộp thị gà dấu trong ngực, khi thì gói bơ. Tất cả những thằng tù tập tạ để cơ bắp lớn, đều thèm ăn thêm chất bổ dưỡng.

Tôi đã hứa với gia đình, tôi sẽ không làm điều gì vi phạm nội qui nhà tù để được về sớm. Nhưng một tù nhân khác đến nói với tôi rằng, tôi nên ăn cắp, nếu không sẽ có kẻ khác dúi vào túi áo vài miếng thịt hamburger còn sống. Họ sợ rằng nếu tôi không ăn cắp, họ sẽ bị tố giác.

Có bốn mức độ vi phạm khác nhau, tiếng lóng ở đây gọi là “shots”. Loại bốn là loại nhẹ nhất, giống như đi băng qua đường ẩu - jaywalking.

Trong nhà tù, tội ăn cắp 4 cuốn sách trên kệ là tội nhẹ nhất. Hình phạt sẽ là cấm không cho điện thoại về gia đình trong 90 ngày. 

Loại 2 và loại 3 gồm những tội nặng hơn như: đánh lộn, hối lộ cai tù. Hình phạt có thể là vài tháng biệt giam (SHU), hay thuyên chuyển đến nhà tù an ninh ngặt nghèo hơn. 

Tội loại 1 là tội nặng nhất, như tội xúi dục bạo động, nổi loạn, hay giết người. Vì lo sợ bị bệnh E.Coli từ thịt sống lây ra, nên tội ăn cắp thị sống bị liệt kê là loại tội nặng, và sẽ bị thuyên chuyển đi nhà tù nghiêm khắc tối đa.

Những tù nhân sống sót qua cảnh biệt giam, khi trở về, thường bị những chứng bệnh về tinh thần, như nổi giận bất ngờ, sống trong ảo giác, buồn chán, và hoảng hốt bất thường. Bây giờ khả năng tôi có thể bị tù biệt giam là có thật. Tôi có nên tin vào lời cảnh cáo của tên đồng đảng trong tù với tôi hay không ? Hay là nó chỉ dọa tôi để tôi về hùa với nó và ăn cắp ?

Một hôm tôi chờ cho Bà Horton đi nghỉ giải lao hút thuốc, tôi nhét mấy gói hạt tiêu vào hai chiếc vớ, sau đó vài gói vào túi quần.

Thằng bạn tù Ville la lên:” Ê tui bay xem kìa, ông Thượng Nghị Sĩ cũng ăn cắp”

Tên supervisor của đám tù khuân vác lắc đầu, nói với tôi: “Thượng Nghị Sĩ, yêu cầu ông bỏ mấy gói tiêu trong túi quần ra” - Nó không biết tôi còn dấu vài gói trong đôi vớ.

Về lại phòng giam, tôi khoe với đám bạn cùng phòng mấy gói tiêu tôi đánh cắp được.

Thằng Ville nói to: “Chết thật. Ông TNS mà cũng đi ăn cắp. Bây giờ ổng là tên tù chính hiệu rồi.”

Đó không phải là một lời khen thưởng. Gọi người khác là tên tội phạm thì cũng giống như gọi một người dạy ở đại học là giáo sư, chỉ có thế thôi.

Kinh nghiệm vụ ăn cắp hạt tiêu này cho tôi rút ra một bài học là ở trong nhà tù phải tỏ ra ngây thơ, và lanh trí.

Triển khai tiềm năng của tù nhân
TRONG NHÀ TÙ CÓ RẤT NHIỀU nhân vật thông minh, khôn lanh trên đường phố. Họ có trực giác bén nhậy, không giống như những ông Tổng Giám Đốc -CEO- từng uống rượu, ăn tiệc với tôi trước đây. Họ dùng những thuật ngữ tôi chưa bao giờ nghe thấy trong giới kinh doanh. (ví dụ: Tay bán ma túy nói: Tôi không bao giờ lấy tiển đứa mới dùng ma túy lần đầu.) Họ biết rất rành chuyện đầu cơ tích trữ (ví dụ phải chuẩn bị hàng thật nhiều trước mùa Giáng Sinh).

Thông minh, lanh trí là yếu tố rất quan trọng để có thể sống còn trong nhà tù. Vì ở đây tiển công trả cho việc làm rất hạ. Mỗi tháng tôi kiếm được có $5.25 xu, tức là khoảng 3 xu mỗi giờ làm việc, mỗi tuần tôi phải làm 40 giờ - đủ để mua vật dụng vệ sinh, giấy bút, và tem.

Thông minh, lanh lợi thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn làm cà rem từ bánh pudding pha với đá, đướng và sữa, kèm theo vài trái chuối ăn cắp ở phòng ăn, cắt tóc bằng đồ cắt móng tay, hay làm quả tạ tập thể dục bằng túi đựng đồ đi giặt.

Nhiều tay hy vọng sau khi ra tù sẽ mở cửa hàng ăn, mở tiệm hớt tóc, nhưng chẳng có ai có phương tiện để thực hiện ước mơ này. Trong nhà tù cũng không có viên chức nào nghĩ đến việc huấn nghề cho tù nhân.

Mỗi năm có khoảng 650,000 người mãn tù, ra ngoài đời sống thường. Họ không thể nào thành công, tại xã hội trước đây đã khiến họ thất bại, đấy là chưa kể trên lưng còn có cả một hồ sơ ở tù dầy cộm, chưa được xóa.

Khoảng hai phần ba tù nhân quanh trở lại nhà tù trong vòng ba năm, bởi vì họ lại vi phạm luật. Nguyên do chính là khó khăn, chật vật về tài chính. Đa số lâm tình trạng thất nghiệp, khiến họ dễ đi vào con đường tội phạm, hơn là những người có việc làm đàng hoàng. Đi tìm một việc làm hợp pháp là điều rất khó vì đa số các ngành kinh doanh không muốn mướn những kẻ từng phạm tội.

Các chương trình giáo dục trong nhà tù có thể giúp tù nhân vượt qua trở ngại này. Nhưng trước hết xã hội phải chấm dứt xem nhà tù là nhà kho chứa thành phần cặn bã của xã hội. Xã hội phải bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đang đánh mất, đang phí phạm một số tài nguyên nhân lực. Trong số những tù nhân tôi gặp, tôi thấy có nhiều người có tham vọng kinh doanh, nhưng họ không bao giờ nhìn thấy tia hy vọng thực hiện hoài bão này.

Ở nhà tù Manchester, tôi đã gặp người tù nhân lập ra một website riêng trong phòng giam, để hoạt động bất kể những nghịch cảnh, khó khăn xảy ra ở bên ngoài. Tôi đã gặp một thanh niên hàng ngày học hành cặm cụi dưới sự chỉ bảo của tôi, để sau này khi ra tù anh ta có thể hành nghề lái xe vận tải đường xa.

Tại nhà tù này, tôi đã gặp những thanh niên cố gắng dùi mài kinh sử để lấy được bằng GED, tức là bằng trung học tương đương, suốt trong nhiều năm không hề được thân nhân đến thăm viếng. Có người để dành được ít tiền, chuẩn bị khi ra tù sẽ làm ăn đàng hoàng. Nhưng khi ra tù, họ sẽ phải đối phó với những người chủ phố, những công ty sưu tra lý lịch ở tù trước đây. Họ cũng không có quyền đi bỏ phiếu, hay hưởng tem phiếu mua thực phẩm. Họ sẽ trở về cái thế giới mà họ phải có tiền để trả tiền thuê nhà, và tiền để trả tiền thử nước tiểu khi đi xin việc làm, và không có tiền để mua quần áo khi đi phỏng vấn.

Tôi ở trong tù chưa đầy một năm, và khi ra ngoài, tôi có dư mọi điều kiện, lợi thế, để trở lại thế giới ngày trước. Tôi là một gã đàn ông Da Trắng có bằng Tiến sĩ, được gia đình, cộng đồng yểm trợ, và có ít tiền trong trương mục tiết kiệm.
Ây vậy mà đi xin việc làm đàng hoàng cũng khó khăn vô cùng.

Hệ thống tư pháp hình sự không hề bị hỏng như nhiều người vẫn thường nói. Nó vẫn hoạt động trơn tru trong việc ngăn cản không cho hàng triệu con người tham gia vào quồng máy kinh tế chính mạch.

Tôi hy vọng rằng bất cứ ai đọc câu chuyện này của tôi, sẽ vui lòng kết bạn với một người trong nhà tù, một người quen thân hay sơ. Nếu quí vị không quen ai cả, xin quí vị hãy làm người tình nguyện để giúp những tù nhân trong hoàn cảnh của họ.
Ngay đến mẹ của tôi, bà cụ lo cho việc tôi ở tù quá lâu vì lỗi của tôi, bà tình nguyện làm người tình nguyện giúp tù nhân trong bốn năm. Qua việc làm tình nguyện, bà cụ đã giúp được một tù nhân thay đổi hoàn toàn cuộc đời của anh ta.
Bà cụ vừa mới ký giấy làm tình nguyện thêm bốn năm nữa. Mẹ tôi là một ví dụ điển hình trong chiến lược cải tổ cuộc khủng hoảng nhà tù hiện nay, đi từ tận gốc rễ đi lên.
Chúng ta hãy thực hiện cuộc cải tổ cho từng cá nhân một. Hãy từ từ mà làm, làm thật cụ thể.


Thursday, March 12, 2015

Kẻ thù của người Trung Quốc

Bá Dương
Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.



Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương - thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hoà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: "Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa". Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.
Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.
Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!



Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn "chối tai", có một người đứng dậy nói: "Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?". Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!" Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!" Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: "Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!"
Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú
Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.
Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế? Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?



Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên: "Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!"
Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: "Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử". Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?
Người ta thường nói: "Mình nắm tương lai mình trong tay mình". Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.
Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.
Lúc chết, Chúa Giê-Su (Jesus) bảo: "Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu". Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.
Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.
Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn?
Nguyên do vì sao?
Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.
Có người sẽ bảo: "Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!". Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng "Quần ma" (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: "Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?" Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.
Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!



Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: "Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!" (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: "Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?" Cô ta đáp: "Làm sao nổi!"





Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn. Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: " Chúng tôi đang thì thầm với nhau".
Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?
Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.
Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.
Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.
Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau.
Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: "Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!" Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.
Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.
Ở Trung Quốc có câu: "Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống". Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết. Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học - anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước... - Ngày hôm sau tôi bảo:
"Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!".
Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ.
Tôi lại bảo: "Anh đưa tôi đi một lát nhé!".
Anh ta bảo: "Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!".
Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.
Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: "Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?". Người kia bảo: "Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?"
Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.



Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói "người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù". Điều này phải chia làm hai phần:
Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ "Tứ nhân bang" (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.
Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: "Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau", nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử.
Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.
Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: "Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!"
Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.
Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: "Chết cũng không chịu nhận lỗi". Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: "Việc này tôi đã sai lầm rồi!" Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.
Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: "Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!" Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.
Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: "Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm" (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương.
Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: "Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!". Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?
Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.
Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v...Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.
Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu "Em yêu, em cưng" [Bá Dương dùng chữ "đường mật" và "ta linh" để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là "kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc" (sát thiên đao đích).
Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: "Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?"
Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: "Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!". Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là "Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!" Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.
Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: "Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!" Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.
Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.
Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.
Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?
Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.
Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: "Bỏ qua cho rồi!" Mấy chữ "bỏ qua cho rồi" này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.
Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.
Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt.
Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở "Tư trị thông giám" (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.
Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật "thích xem" (người khác đau khổ), hoặc "chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác".
Họ luôn mồm "nhân nghĩa" mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: "Phải tử tế với người và súc vật!", trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.
Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm? 

Bá Dương

Thursday, February 26, 2015

Đặc tính của người Việt qua nhận xét của Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ


Khi nhìn nhận bất cứ một vấn đề gì chúng ta cũng phải có cái nhìn khách quan, đầy đủ hai mặt của vấn đề, trên nhiều phương diện giữa tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, từ đó rút ra vậy cái gì nên phát huy và cái gì nên hạn chế.

Cách đây hai mươi năm, Trung Hoa có sách “Người Trung Hoa Xấu Xí” của tác giả Bá Dương (Bo Yang).

Ở Mỹ có cuốn sách nổi tiếng tương tự là: “The ugly American” của WILLIAM J. LEDERER AND EUGENE BURDICK xuất bản năm 1958 đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất thời đó.

Dường như có nhiều liên quan giữa sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ cho dân tộc.

Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:

1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.

2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.

3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.

4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.

5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]

6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.

7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). [to save face or to show off].

8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.

9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.

10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc).

Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này? Người xưa cũng đã nhận ra:

Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.


Trong bài tựa, ông nói ngay:

Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!”

“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”

“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”

Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn:
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”



Ảnh minh họa – ST
“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.

“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? …
“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.”

“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”

Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 – 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi Hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn thất vọng .“Trước là làm đẹp sau là ấm thân”

Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Hoa đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.


Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:

Con ơi! muốn nên thân người
Lắng tay nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân

Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.

Tiêu chuẩn của cuộc sống hiện nay của nhiều người, nhiều gia đình là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học nước ngoài… Đi đâu cũng nghe khoe nhà trên cả tỷ bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.


Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.

Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như: John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs…, chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:

Người Việt vì những lý do vớ vẩn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]

Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 3 người làm thì kém, 7 người làm thì hỏng việc!

Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.
__._,_.___

Blog Archive