skip to main | skip to sidebar
Showing posts with label ĐỖ DUY NGỌC. Show all posts
Showing posts with label ĐỖ DUY NGỌC. Show all posts

Wednesday, June 10, 2026

GIA TÀI ĐẾ QUỐC

Hơn 100 năm ở Việt Nam,
thực dân Pháp xây nhiều dinh cơ để làm việc, nhiều biệt thự để làm nơi ở.
Những công trình đó vẫn còn ở
Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn và nhiều nơi khác.
Tất cả đều sử dụng chi phí của nhà nước thuộc địa, hầu như rất ít của tư nhân.

Thời Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam, tướng tá cũng nhiều nhưng chẳng mấy người có nhà to, đa số đều ở nhà công vụ, cư xá sĩ quan hay khu gia binh. Cũng có người có nhà riêng nhưng cũng không xây dựng to lớn như toà lâu đài của quý tộc châu Âu như căn nhà của vị Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở Hà Tĩnh vừa được báo chí nhắc tới.
Nghe nói toà lâu đài này do thân mẫu của Thiếu tướng hàng ngày đạp xe đi bán rau đứng tên.
Hay thật! Bán rau mà cũng có hàng trăm tỷ để xây nhà.
Lương Thiếu tướng bao nhiêu một tháng, con số đấy ai cũng biết,
chẳng phải là điều bí mật gì.
Thế thì ông tướng đó lấy tiền đâu mà làm căn nhà kinh thế.
Bán rau làm gì tiền nhiều thế!
Lương tướng cũng đâu lắm thế?
Kết luận lại căn nhà này hình thành từ nguồn tiền nào?
Câu hỏi mà ai cũng trả lời được mà sao cái lò vĩ đại đến giờ vẫn chưa lên lửa?

Ngày xưa, kẻ ăn hối lộ, tham nhũng giấu của cải, vàng bạc thâu tóm được như mèo giấu cứt.
Giờ đây thì khác rồi, cán bộ tha hồ khoe của, nào biệt thự, nào xe, nào con cái đi học nước ngoài, vợ toàn sắm hàng hiệu, nào những cuộc ăn chơi,
du hí còn hơn những tay tư bản của các nước giàu.
Chỉ mới lên tướng mà đã tài sản như thế, thử hỏi các cấp cao hơn còn giàu có đến đâu?
Đất nước nghèo mãi là đúng quá rồi. Phúc lợi đáng ra chia đều cho mọi người, nay chỉ một nhóm chia chác nhau, hỏi sao dân không khổ.

Dân ốm đau vào bịnh viện nằm ba,
bốn người một giường, người bịnh không có tiền mua thuốc,
có người bán máu để mua sách cho con đi học, nhiều gia đình không có mái lều để ở, sống vạ vật qua ngày.
Hàng ngàn công nhân bị cho nghỉ việc, kéo theo hàng ngàn gia đình lâm vào cảnh bế tắc.
Những đứa bé vùng cao đến trường với bụng trống và manh áo tả tơi trong cơn gió lạnh.
Cũng có những đứa trẻ đến lớp bằng bao nilon trùm đầu nín thở qua sông, suối vì làng xã chẳng có cầu.
Biết bao người dân đang khó nhọc vì vật giá tăng, xăng tăng, điện tăng,
tất cả đều lên giá mà đồng lương mãi còm cõi.

Thế nhưng những biệt phủ,
những biệt thự sang trọng của các lãnh đạo liên tiếp mọc lên.
Những đồng tiền thu được vẫn hàng ngày vẫn được xài như giấy.
Hố sâu giàu nghèo càng lúc càng lớn, bất công càng ngày càng nhiều.
Và từ đó dân mất lòng tin.
Chứng cớ sờ sờ ra đấy,
chẳng cần thanh tra, điều tra cũng có kết quả. Sao những ngôi nhà vẫn lừng lững giữa trời như những mũi dao đâm vào ngực dân đen, như cái gai trong mắt những người khốn khổ.

Những biệt thự như thế càng nhiều, dân đen càng mãi đói nghèo
và tiền đồ còn tối đen hơn kiếp nạn của chị Dậu ngày xưa.

6.6.2023
DODUYNGOC
Posted by Anges at 7:46 PM No comments:
Labels: ĐỖ DUY NGỌC

Saturday, May 9, 2026

CHUYỆN CHÚ A TỶ VÀ TIỂU THANH

Hồi mới vô Sài Gòn đi học đại học, tôi thuê căn nhà nhỏ trên kênh Nhiêu Lộc ở cùng với mấy người bạn. Đầu hẻm ở mặt tiền đường có một tiệm tạp hoá của một gia đình người Hoa. Có người gọi là tiệm chạp phô. Chắc là gọi theo tiếng Quảng.

Chủ tiệm là một người đàn ông trung niên, lúc nào cũng mặc chiếc áo thun ba lỗ với cái quần chỉ ngắn đến đầu gối. Chú đi chiếc xe Honda Dame màu xanh lá nhạt, loại bán cho quân nhân hồi xe Honda mới nhập vào miền Nam. Có hai ly' do mà đám sinh viên chúng tôi để ý đến tiệm tạp hoá này. Thứ nhất tiệm này cần mua gì cũng có, bán giá rẻ hơn nơi khác, dù chỉ vài đồng, nhưng sinh viên nghèo mà, rẻ hơn đồng nào đỡ đồng đó. Tiệm lại luôn mở cửa để bán hàng cho khách. Nhiều lần đi chơi đêm về khuya lắc lơ, muốn mua mấy gói mì hay chai bia con cọp, đập cửa rầm rầm, chú vẫn vui vẻ mở cửa bán hàng. Thứ hai là chú có cô con gái khá dễ thương. Tóc bím hai bên, da trắng hồng, lại hay mặc áo cắt theo kiểu người Hoa, nhìn ngộ lắm. Cô bé chắc nhỏ hơn tụi tôi vài tuổi. Thằng nào đi đâu về trước khi vào hẻm cũng liếc vào xem cô bé có ở tiệm không, dù chưa đứa nào tán được cô bé một câu. 

Chú tên A Tỷ, cô bé tên Tiểu Thanh. Biết tên cô bé là do công của tôi. Một lần vào tiệm mua đồ, chú A Tỷ lấy hàng, cô bé ngồi học bài ở gần kệ thu tiền, tôi thấy trên nhãn vở đề tên Tiểu Thanh bằng tiếng Hoa. Tôi là dân học Việt Hán, hai chữ này cũng dễ đọc nên tôi đọc được ngay. Tôi hỏi: Em tên Tiểu Thanh à? Cô bé ngước lên nhìn tôi, đôi mắt tròn xoe ngạc nhiên, cười rồi lại cúi xuống không trả lời. Chú A Tỷ đưa hàng, tôi không có lý do gì để nán lại đành đi về. Về nhà, tôi nổ với mấy đứa cùng phòng là đã nói chuyện được với cô bé, biết được tên cô bé, mấy đứa phục tôi lắm.

Chú A Tỷ cũng được mọi người chung quanh và cả những người ở trong xóm sâu thương yêu vì chú lúc nào cũng nhẹ nhàng, mua bán đàng hoàng, biết gia đình nào khó khăn có khi chú không lấy tiền, lại cho thêm vài món. Nhờ thế, chú buôn bán phát đạt, hàng hoá càng ngày càng phong phú. Tết đến, chú mang tặng những gia đình nghèo trong xóm bờ kênh nước đen gói quà có mứt, bánh và lạp xưởng. Họ biết ơn chú lắm nên mua gì cũng ra tiệm của chú. Ăn Tết xong chú sửa nhà, xây thêm hai tầng, cửa tiệm bây giờ không còn là tiệm tạp hoá nho nhỏ nữa mà là một cửa hàng rộng rãi với hàng hoá chất đầy. Đàng sau chú làm cái kho, chứa gạo, đường , sữa... đầy nhóc. Mà quên, chưa nói đến vợ chú. Đó là người đàn bà Hoa có khuôn mặt phúc hậu, ít nói nhưng hay cười. Mọi người thường gọi bà là Thím Xẩm, không biết đó có phải là tên thật không nữa. Cũng là người tốt như chú. Chiều chiều, ngồi bán hàng thấy mấy đứa nhỏ đi học về, bà hay kêu vào lúc cho cái bánh, khi cho cái kẹo nên mấy đứa nhỏ thương bà lắm. Lúc nào gặp bà cũng vòng tay chào rất lễ phép. Bà vuốt tóc, vuốt má các cháu, luôn chúc các con học giỏi nhé.

Từ hôm biết tên cô bé là Tiểu Thanh, tôi lại càng siêng ghé tiệm của chú mua đồ, có khi mấy đứa bạn cần mua gì tôi lại xung phong đi mua giúp. Nhưng cũng hiếm khi gặp cô bé, nhất là khi nhà có thêm tầng lầu, chắc là cô bé ngồi học trên đó. Mà hoạ hoằn có gặp, tôi cười chào thì cô bé cũng chỉ nhoẻn cái miệng rất xinh cười lại thôi, chứ chẳng nói được gì. Nhưng rồi tôi cũng gặp may một lần. Hôm đó trên đường từ Đại học Văn Khoa về, xe bus thả tôi xuống đầu đường Trương Minh Giảng. Vừa xuống xe thì trời đổ mưa, cơn mưa ào ạt khiến tôi lánh vào khu chợ. Mưa trắng trời lại có tiếng sét, trời âm u. Tôi đốt điếu thuốc hoài không cháy vì gió tạt và điếu thuốc ướt. Nhìn qua đường tôi thấy ai như Tiểu Thanh đang dắt chiếc xe đạp đi dưới mưa, chiếc áo mưa sũng nước thùng thình khoác lên thân hình mảnh mai, nhìn rất tội. Tôi băng qua đường mặc cho nước mưa xối xả tạt vào mặt. Xe của Tiểu Thanh bị tuột xích, mưa lớn quá khiến cô bé không dừng để sửa đành dẫn xe đi dưới mưa. Thế là tôi ra tay hiệp sĩ, sửa xe cho nàng rồi luôn tiện xin đi ké chở nàng về luôn. Hai người như đôi nhân tình trẻ chở nhau đi. Tôi cảm thấy hạnh phúc và thầm cảm ơn cơn mưa bất chợt.

Từ đó, tôi thường gặp cô bé hơn qua những cuộc hẹn. Thì cũng chỉ đi loanh quanh bằng chiếc xe đạp của Tiểu Thanh, bởi lúc đấy tôi chẳng có xe xiếc gì, đi đâu cũng cuốc bộ hay đi xa hơn thì có xe bus vàng. Đi ngồi quán thì cũng chỉ là những quán chè, quán nước bên đường hay mấy quán gỏi đu đủ, bột chiên. Có lẽ cô bé cũng biết tôi là sinh viên nghèo nên em chẳng bao giờ có ý kiến gì. Nói chuyện với nhau thì cũng là chuyện nắng mưa, chuyện học hành, luẩn quẩn lần nào cũng từng đấy chuyện. Tôi cũng hay hỏi em về những chữ Hán, những bài thơ Đường dù lúc đấy em mới học lớp mười một theo chương trình của Đài Loan. Tình thì cũng đã bén rồi, nhưng cả hai chẳng ai đề cập đến. Đến cái nắm tay, cái vuốt ve cũng chưa có dù cả hai đã có mấy lần vào Rex xem phim. Thế nhưng mấy đứa trong phòng thường được nghe tôi kể xạo như trong tiểu thuyết Quỳnh Giao, lãng mạn lắm, tình cảm lắm, thằng nào cũng phục lăn, lè lưỡi thèm thuồng.

Cuối năm đấy, tôi may mắn được một học bổng của một tổ chức của chính phủ Pháp đi nghiên cứu về xã hội Việt Nam thời thuộc địa ở Pháp. Mừng vì được đi nước ngoài học nhưng cũng buồn vì xa Tiểu Thanh dù tình cảm cũng đang lửng lơ nửa vời. Tôi và Tiểu Thanh ngồi với nhau ở kem Bạch Đằng, đây là lần đầu tiên tôi xài sang thế. Và cũng lần đầu tôi cầm tay Tiểu Thanh để thông báo cho nàng tôi sắp đi học xa. Tiểu Thanh vẫn để yên bàn tay của em trong bàn tay tôi và em khóc. Tôi hỏi: Em chờ anh được không? Em bảo: Em chờ, bao lâu em cũng chờ. Ba em đang chuẩn bị cho em sang Đài Loan học Đại học, nhưng chắc em không đi. Em không muốn sống xa Ba Má, không nỡ để Ba Má ở một mình. Em ở lại Việt Nam chờ anh về. Tôi buồn, em cũng buồn, nhưng vì tương lai, chúng tôi đành xa nhau một thời gian.

Và thế là tôi đi. Tiểu Thanh tiễn tôi ra phi trường, em không khóc nhưng cứ cầm tay tôi mãi không nỡ rời. Chúng tôi chỉ nhìn vào mắt nhau và tiễn nhau bằng bàn tay vẫy. Hành trang tôi mang theo chẳng có gì, chỉ là chiếc va li nhỏ. Tiểu Thanh gởi tôi món quà là chiếc khăn tay có thêu tên tôi và tên nàng và một lá bùa nhỏ gói trong chiếc khăn màu đỏ rực. Nàng bảo đó là lá bùa hộ mệnh giúp tôi luôn được mạnh khoẻ và sẽ thành công. Mấy năm ở Pháp, cô đơn và lạc loài, tôi càng nhớ Tiểu Thanh. Tôi bắt đầu làm thơ, những lời thơ thể hiện tình yêu và nỗi nhớ nhung của một mối tình xa. Dù tiền học bổng ít ỏi nhưng tuần nào tôi cũng gởi thư về cho nàng, và tuần nào tôi cũng nhận được thư của Tiểu Thanh. Tôi cũng thường gởi quà cho em, sinh viên nghèo, học bổng chẳng là bao chỉ đủ chi tiêu tằn tiện nên quà cũng chỉ là những món đồ kỷ niệm ít tiền, nhưng Tiểu Thanh rất vui. Nàng cũng báo tin là Ba Má nàng đã chấp nhận không qua Đài Loan học nữa. Và Tiểu Thanh trông ngóng tôi về.

Giáng sinh năm 1974, tôi về nước. Tiểu Thanh bây giờ là một cô gái hăm mốt tuổi, xinh hơn nhiều trong ý nghĩ của tôi. Chú A Tỷ vẫn vậy, vẫn cái áo thun ba lỗ và chiếc quần ngắn ngang đầu gối và vẫn cỡi chiếc xe Honda Dame màu xanh lá. Tôi và Tiểu Thanh bàn cách để nói chuyện với chú A Tỷ xin cưới Tiểu Thanh làm vợ. Bởi phong tục người Hoa không muốn con gái lấy trai Việt, nên đó là cản trở lớn nhất của chúng tôi. Chưa có dịp để nói chuyện thì chiến sự càng ngày càng gay cấn. Người từ miền Trung chạy về thành phố, không khí càng ngày càng căng thẳng. Tin tức cho biết miền Trung đã thất thủ. Chiến sự sát nách Sài Gòn. Long khánh đang cầm cự. Và rồi sáng 30.4.75, Tướng Dương Văn Minh ban lệnh buông súng, dân chúng thẫn thờ, những ngày cuối cùng, lác đác tiếng súng nổ, tiếng trực thăng rầm rĩ trên bầu trời suốt đêm của giờ thứ hai mươi lăm của cuộc chiến. Bộ đội miền Bắc chiếm được Sài Gòn. Dân chúng tò mò nhìn những chiếc xe, những người bộ đội trẻ với chiếc mũ cối với cái nhìn lạ lẫm. Những con đường ngổn ngang áo quần, giày mũ của những người lính miền Nam. Những lá cờ treo vội, những lời đồn đoán khiến nhiều người âu lo. Mọi người xôn xao tìm đường thoát.

Chú A Tỷ vẫn bình thản vì chú bảo mình làm ăn lương thiện, chế độ nào cũng cần phải ăn để sống, chú cũng chẳng tham gia chính quyền cũ, chú sống tốt với mọi người, chú không có kẻ thù, chú không có gì phải ngại chính quyền chế độ mới. Chú tin thế nên chú vẫn ung dung. Tiệm của chú chỉ đóng cửa hai ngày 30 và 1 tháng năm. Hàng hóa có vẻ bán nhiều hơn vì nhiều gia đình mua đồ dự trữ.

Nhưng rồi hơn tháng sau, tai hoạ bắt đầu ập xuống gia đình chú. Vợ chú bị đau ruột thừa, vào bệnh viện vì cơn đau khiến Thím Xẩm không chịu nổi. Tình hình đang lộn xộn, bác sĩ cũ lớp thì di tản, lớp thì còn đang e ngại, lớp thì vừa tập trung đi học tập theo lệnh của chính quyền mới. Đa số là các bác sĩ và y tá trong rừng ra và ngoài Bắc vừa vào tiếp quản. Chẳng biết họ chữa làm sao mà thím A Tỷ bị vỡ phúc mạc, chết trên bàn mổ. Tiểu Thanh khóc sưng cả mắt, chú A Tỷ thì như người mất hồn cứ đi ra đi vào nhìn trời và hỏi sao lại thế, sao lại thế? Lúc đấy xã hội lộn xộn lắm, ai cũng thu mình lại, dấu mình đi vì sợ. Bang hội của chú cũng đến giúp tang ma. Tôi cùng bạn bè và bà con trong xóm cũng lặng lẽ đến để đám tang được trọn vẹn. Chú A Tỷ ngơ ngẩn cả tháng trời, Tiểu Thanh cũng buồn bỏ cả ăn uống, người gầy rạc đi. Thế là chúng tôi chưa có dịp để nói chuyện cưới xin, mà phải đợi ít năm nữa sau khi mãn tang mới bàn tính được

Nhưng hoạ không chỉ dừng lại đó, mấy tháng sau gần ngày tết Trung thu năm bảy lăm, lúc đó khoảng bảy giờ tối, Tiểu Thanh hốt hoảng đạp xe đến báo cho tôi hay là bộ đội vào nhà, đang kiểm kê và niêm phong hàng hoá, kết tội chú A Tỷ là tư sản bóc lột, làm giàu trên xương máu nhân dân. Tình hình xã hội lúc này bi thảm lắm, sau này mới biết đó là chiến dịch đánh tư sản mại bản lần thứ nhứt.

Tôi chở nàng chạy về thì thấy bộ đội súng ống kè kè đi với một đám người tay đeo băng đỏ cũng rần rộ súng ống đang lùng sục trong cửa hàng, mặt ai cũng đằng đằng sát khí. Chú A Tỷ thì vẫn áo ba lỗ và quần ngắn thường ngày, ngồi gục đầu như tượng, họ bảo ký vào đâu thì run rẩy ký vào đó, không nói một lời. Tiểu Thanh thì thất thần đứng tựa vào người tôi, đôi mắt mở to, uất hận đầy nước mắt nhưng cũng chẳng nói gì. Đến nửa đêm thì họ đọc quyết định tịch thu hàng hoá và căn nhà, ra lệnh gia định chuẩn bị để đi vùng kinh tế mới. Đến khi đó chú A Tỷ ngã ra bất tỉnh, Tiểu Thanh cũng gục trên vai tôi, mặt xanh như xác chết. Cả một đời gầy dựng, cả một đời làm ăn lương thiện chỉ một lời quyết định, người ta đã lấy hết, tịch thu hết lại còn kết án là kẻ bóc lột, đuổi đi vùng kinh tế mới. Chú A Tỷ vừa lai tỉnh, chú nhìn quanh, hét lên một tiếng lớn, đẩy căm hờn như tiếng thú trong cơn tuyệt vọng cùng đường rồi lại ngã ra sàn bất tỉnh lần nữa. Tiểu Thanh cũng thét lên tiếng thét ai oán: Ba ơi! rồi gục trên thân thể lạnh giá của cha. Tình trạng thảm thương đó chẳng làm động lòng đám người thi hành lệnh, họ vẫn mặt lạnh như tiền, súng gờm gờm trên tay như sẵn sàng nhả đạn những ai có hành động phản kháng. Hàng hóa ngổn ngang, không khí như nén lại. Tôi bất lực chẳng biết phải làm gì ngoài việc cứ xức dầu cho chú A Tỷ và khuyên nhủ, an ủi cho Tiểu Thanh.

Ba hôm sau, đoàn xe đến chở người đi vùng kinh tế mới. Tiếng loa oang oang như nhói vào tai, bộ đội, du kích súng ống kè kè đưa từng hộ gia đình lên xe. Những người bị đưa đi ngơ ngác nhìn, đau khổ nhìn, uất ức nhìn nhà cửa, tài sản của mình đóng dấu niêm phong với dấu đỏ loè loẹt như những vết máu. Tôi ngồi theo xe cùng chú A Tỷ và Tiểu Thanh, đồ đạc chỉ được phép lấy mang theo là mấy cái nồi niêu, xong chảo và mùng mền chiếu gối. Tài sản bao nhiêu năm giờ chỉ là một đống đồ chẳng giá trị gì. Chú A Tỷ vẫn im lặng gục đầu. Tiểu Thanh vẫn đầy nước mắt, ngơ ngác không biết ngày mai sẽ ra sao? Nhiều người quay đầu nhìn lại, họ biết tất cả sẽ chẳng còn gì, tất cả đã bị tịch thu. Người già khóc, trẻ con cũng khóc, chỉ có những người trẻ là mím môi và mắt bật lên nét căm hờn. Không khí bị nén chặt, vô vọng. Tiếng xe nổ phun khói, người bị ép vào nhau nhìn những con đường quen thuộc lướt qua không biết bao giờ trở lại.

Xe chạy gần một ngày, qua những đoạn đường đầy bụi, xe dằn xốc liên tục, mặt mũi ai cũng bơ phờ đầy bụi đỏ. Đến chiều khi mặt trời đỏ như máu đang dần xuống ở đầu ngọn cây thì đoàn xe dừng lại. Mọi người bị lùa xuống một khoảng rừng thưa, trước là một bãi đất đầy cỏ dại ngút ngàn, khô cằn, hoang vu trong hoàng hôn. Đoàn người lầm lũi xuống xe, chẳng biết ngày mai sẽ sống thế nào.

Có lác đác mấy lều tạm bợ đã được dựng sẵn bằng cột tre lợp tranh. Nghe nói trước đó do lực lượng Thanh niên xung phong làm nên. Loa lại kêu từng hộ gia đình vào lều, nhìn cảnh tượng như cảnh nhập trại tù binh của người Do Thái thời phát xít Đức đã từng được xem trên phim. Mọi người lại lếch thếch kéo nhau nhận lều tạm bợ của mình. Buổi cơm tối được nấu trong chập choạng mờ tối với những ánh lửa hiu hắt. Nhưng chẳng ai nuốt nổi. Cả ngày đi đường quá mệt, tâm trạng lại rối bời, lại nhìn cánh rừng mà mốt mai phải sống ở đây, ai cũng lắc đầu ngao ngán. Nghe mọi người bảo đây là vùng Đắc Nông, Phước Long gì đó. Nghe như chốn xa vạn dặm nào. Tôi thu xếp cho Tiểu Thanh và chú A Tỷ có một chỗ tạm ngụ, sáng hôm sau tôi lại bu mấy xe đò chạy than về lại thành phố.

Lúc này tôi đã nộp đơn xin đi làm mấy cơ quan, nhưng chẳng chỗ nào nhận. Họ bảo lý lịch của tôi có nhiều điểm bất minh, cần làm rõ. Cũng may, cuối cùng tôi cũng được Sở Giáo dục nhận, nhưng cũng do lý lịch, họ đẩy tôi về dạy học ở miệt Củ Chi. Có lẽ lúc này nhà nước đang thiếu giáo viên quá. Nhìn ngôi trường, tôi quá ngao ngán. Đó là một ngôi trường quê, chỉ có một dãy khoảng năm phòng làm lớp học, một dãy nhà lợp tole khác gồm hai phòng làm phòng ban giám hiệu và kho chứa đồ. Sân trường toàn cây bã đậu cành cây đầy gai. Trời lại nóng như đổ lửa. Ở đây chưa có điện, chỉ thắp đèn dầu tù mù. Ban đêm thầy cô giáo xếp bàn làm giường, giăng mùng nằm ngủ. Muỗi bay vù vù. Đêm nghe tiếng ếch nhái kêu buồn thúi ruột. Các tiện nghi sinh hoạt thiếu thốn trầm trọng. Các bãi đất hoang trước và sau trường không bóng cây, những ngọn cỏ vàng úa. Không khí hậu chiến tranh luẩn quẩn trong những xóm nghèo với nhiều bàn thờ cùng hình ảnh của người đã mất trong chiến tranh vì đây là nơi chiến trường ác liệt sát với Sài Gòn. Tôi tự nhủ cố gắng cho qua rồi tính tiếp. Bắt phong trần phải phong trần chứ biết làm sao?

Tôi không có giờ dạy ngày thứ hai, nên hai tuần một lần thứ bảy tôi qua mấy chặng xe lên Đắc Nông thăm Tiểu Thanh và chú A Tỷ, sáng thứ hai hoặc tối chủ nhật lại bu mấy chặng xe về. Những chuyến xe bão táp, người chen vai nhau, hàng hoá nhét khắp nơi vì lúc đó chính quyền không cho hàng hoá lưu thông, mang hoặc mua bán là có tội, hàng bị tịch thu, có khi người còn bị nhốt. Có mấy thứ nhu yếu phẩm cỏn con, có khi chỉ vài muỗng bột ngọt, miếng vải mùng, nhúm hạt tiêu, vài ba gói thuốc lá đen, gói gạo hẩm, vài ký bột mì, bo bo, tôi cũng để dành mang lên cho họ. Họ sống khó khăn quá. Toàn dân thành phố mà bây giờ phải vào rừng chặt cây dựng nhà, học cách trồng cây, gieo mạ, cấy lúa trên miếng đất khô cằn đầy rắn rít đe doạ. Lác đác đã có người trốn về. Nhưng về thành phố rồi làm gì, ở đâu? Họ biến thành những kẻ đầu đường xó chợ. Lương thiện thì đi ăn xin, bất lương thì đi ăn trộm, móc túi để sống. Phong trào vượt biên bắt đầu lan rộng, nhiều chiếc thuyền, nhiều đoàn người đi ra biển và mãi mãi không về. Xác họ đã chìm sâu vào biển.

Tôi thấy Tiểu Thanh và chú A Tỷ ở đây không ổn rồi, tôi đang tính cách để đưa họ về lại thành phố mà tính mãi chưa ra. Tính chưa xong thì lần thứ ba tôi lên lại Đắc Nông, tôi chứng kiến Tiểu Thanh bị rắn độc cắn cùng hai người khác khi đi rừng. Ba nạn nhân được dân chúng gánh về bệnh viện bằng cái võng và thân cây tre làm đòn khiêng. Chẳng có phương tiện nào khác. Tôi vừa chạy theo vừa niệm khẩn cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng người không đoái hoài. Và cả ba đã chết trên đường đi. Nửa người của Tiểu Thanh tím đen vì nọc độc, mắt Tiểu Thanh không nhắm, mở trừng trừng như muốn nhìn thấu nỗi oan khiên. Chú A Tỷ một lần nữa ngã quỵ, chú bây giờ như bộ xương khô, đôi mắt lạc thần, khuôn mặt như kẻ điên dại. Tiểu Thanh được chôn trong nghĩa địa vừa mới hình thành, lác đác đã có gần chục nấm mồ mới mọc, cỏ chưa kịp xanh vì tuần nào cũng có người chết. Kẻ bị rắn cắn, người bị cây đè, người khác bị bom mìn còn sót nổ khi cuốc đất, người thì thấy bế tắc quá, tự tử chết, đủ cách để chết. Đủ cách để trốn cuộc sống bi đát không lối thoát.

Tôi khuyên chú A Tỷ trốn về, nhưng chú bảo bây giờ còn mộ Tiểu Thanh ở đây, con mới mất, chú đi không đành, ở lại để chiều chiều, sáng sáng thắp cho nó cây nhang, đêm đêm chuyện trò với nó, kẻo nó buồn, nó tủi thân. Tôi chỉ biết khóc, tội nghiệp Tiểu Thanh quá. Tội cho mối tình của tôi. Và tội cho chú A Tỷ nữa. Cũng tội nghiệp cho mọi người bị lùa lên đây. Họ làm gì nên tội. Đã lấy tài sản một đời gom góp của họ, đã cướp nhà của họ, có người chồng đã đi vào trại cải tạo không có ngày về, sao lại đày đoạ họ đến đây với rừng rú, với hoang địa, với đói nghèo và cận kề cái chết như thế này? Mà thật ra có thù hằn gì nhau đâu mà phải trả thù. Họ có tội gì đâu mà bắt họ đền tội.

Tôi vẫn tiếp tục đi dạy học ở trường quê đấy. Hàng ngày phải gào giọng rao giảng cho qua tháng ngày.

Thỉnh thoảng đôi tuần, tôi lại bu xe về Đắc Nông thăm chú A Tỷ. Có nhiều đêm hai chú cháu nằm nói chuyện suốt đêm trong nước mắt. Chú bảo chú biết con và Tiểu Thanh thương nhau, nếu ngày xưa chắc hôn sự khó thành, nhưng thời buổi đảo điên này, chú định bỏ qua lệ ấy mà tác thành cho hai đứa, không ngờ mẹ nó chết rồi đến nó cũng không sống được. Chú quý con lắm, thôi thì số phận đã thế thì mình phải chịu phần số thế thôi. Rồi chú lại khóc. Chú ôm chặt vai tôi mà khóc, nước mắt đẫm vai tôi, rồi chú uống rượu, uống nhiều lắm dù trước đây chú chưa bao giờ biết đến rượu bia. Có nhiều khi tôi bắt gặp chú ngồi nhìn khoảng trống trước mắt, đôi mắt vô hồn, đôi mắt tuyệt vọng, đôi mắt bi thương của kẻ cùng đường.

Mấy tháng cuối năm học, luyện cho học trò thi tốt nghiệp, rồi bận gác thi, chấm thi, tôi không ghé thăm chú được. Lúc công việc đã vãn, lên thăm thì nghe người ta bảo chú bị lên cơn điên, đưa vào bệnh viện huyện rồi chú trốn về mất biệt, không biết đi đâu.

Tôi về thành phố, tìm khắp không gặp chú. Cuối cùng tôi nghĩ bụng chắc chú về khu nhà cũ. Đúng y như thế. Chú về căn nhà xưa, tối nằm ở vỉa hè trước nhà, ngày đi lượm ve chai, đói ai cho gì ăn đấy. Chú bây giờ là kẻ ăn mày ở lề đường, hàng ngày nhìn ngôi nhà của mình trong uất nghẹn.

Căn nhà của chú cấp cho gia đình cán bộ. Cũng có vài lần họ đuổi chú đi, nhưng chú lại về, ngủ ở đấy mặc họ la hét, chửi rủa, riết rồi họ chán, họ im. Lâu lâu có dịp về thành phố, tôi lại tìm đến chú, hai chú cháu ra quán, kêu vài món, vài ly bia hơi nhạt nhẽo, lần nào chú cũng khóc. Chú càng ngày càng gầy, áo quần rách rưới. Nhìn chú như thây ma biết đi, thân thể chỉ còn xương, đôi mắt lạc thần, miệng móm mém lúc nào cũng lẩm bẩm điều gì không nghe rõ. Chú oán trách hay nguyền rủa cuộc đời? Không ai biết.

Giờ chú không còn mặc áo thun ba lỗ với chiếc quần ngắn đến đầu gối nữa. Chú mặc bất cứ thứ gì kiếm được hoặc của mọi người mang đến cho. Dân ở khu đấy đã từng biết chú cũng hay giúp chú miếng ăn khi đói, viên thuốc khi bệnh. Nhưng mà lúc đấy ai cũng khó khăn, ai cũng túng bấn, không có gạo trắng để ăn, lương thực toàn bo bo với bột khoai mì với vài ba ký gạo hẩm. Lắm khi nhiều người muốn giúp chú mà cũng chẳng có gì để giúp. Lúc đấy tôi cũng chẳng có chỗ nương thân ở Sài Gòn, dạy học rồi ăn ở luôn trong trường, về thành phố chỉ nương nhờ nhà bạn nên cũng chẳng giúp chú dược gì. Lâu lâu về gặp, gởi chú ít tiền trong số lương thầy giáo còm cõi, thế thôi. Mà chú thì dứt khoát chẳng chịu dời đi đâu. Chú bảo đây là nhà chú, không ở trong được thì ở ngoài. Khó xử lắm. Tôi định kiếm một căn phòng nhỏ rẻ tiền để thuê, chú ở và tôi về cũng có chỗ trú, không còn lang thang ăn đậu ngủ nhờ bè bạn. Nhưng rồi dự định ấy không thành.

Mùa mưa năm 1977, không hiểu sao Sài Gòn cứ mưa mãi thế. Nhiều lúc mưa từ nửa khuya cho đến hết ngày. Mưa như trút nước. Mưa như trời giận dữ loài người. Lại thêm bệnh ghẻ ngứa. Không biết sao mà người bị bệnh đó lắm thế. Mọi người cứ gãi sồn sột. Gãi đến tróc da, chảy máu. Con nít ngứa khóc suốt đêm, người lớn ngứa không ngủ được. Vào bệnh viện toàn cho thuốc xuyên tâm liên. Bệnh gì cũng xuyên tâm liên. Xuyên tâm liên là thuốc tiên, chữa bá bệnh. Bệnh đành gom góp số tiền còm cõi kiếm được mua thuốc Tây lậu về uống.

Buổi chiều hôm đấy trời mưa, một trận mưa lịch sử. Đường sá Sài Gòn ngập lên đến bụng, cả thành phố như một biển nước. Lại thêm gió ào ạt, nghe đâu có bão rớt. Lo cho chú A Tỷ, đêm hôm sau tôi ghé chú vì chú chỉ về đó ban đêm. Đến nơi không thấy chú, hỏi thăm thì mọi người bảo chú chết rồi, chết đêm qua, trong cơn mưa bão. Xác chú dập dềnh suốt đêm trước cửa nhà. Sáng sớm bà giúp việc mở cửa định tát nước ra thì thấy xác chú lừng lững trôi vào. Bà giúp việc hoảng quá la hét rầm trời bỏ chạy. Bà chủ nhà trên lầu bước xuống thấy xác chú vào đến giữa nhà, xoay mòng mòng theo con nước dội vào nhà khi có xe qua, bà sợ quá hét lên một tiếng rồi ngất xỉu. Ông chủ nhà là một cán bộ lãnh đạo của quận cũng từ trên lầu chạy xuống, thấy xác chú quay tròn giữa phòng khách thì cũng cứng đơ người, sai bà giúp việc lấy cây đẩy ra, nhưng càng đẩy ra, xác lại giạt vào. Ông ta hoảng quá gọi công an. Một giờ sau công an có mặt, xác vẫn xoay tròn. Công an làm biên bản, gọi xe cứu thương đến nhận xác. Lúc đấy, nước bắt đầu rút, xác chú A Tỷ xoay đến chân câu thang, nằm lại đó, đôi chân như muốn bước lên. Người ta chở xác chú đi đâu không rõ. Chú chết không có nấm mồ, chắc chôn vùi đâu đó. Cũng xong một kiếp người. Ngẫm nghĩ số phận của chú, của Tiểu Thanh, của Thím Xẩm và của nhiều người khác nữa, tôi bỗng không còn tin ở số mệnh. Số mệnh đâu mà nạn nhân lên đến cả triệu người. Số mệnh đâu mà một người hiền lành, phúc đức như chú mà phải chết vất vưởng, gia đình tan nát thế kia?

Từ đấy, người ta đồn nhà ấy có ma. Đêm đêm có người đàn ông đi lên đi xuống cầu thang. Có người còn kể thấy chú đứng ở balcon, mặc áo thun ba lỗ với chiếc quần ngắn đến đầu gối nhìn xuống đường. Gia đình cán bộ hãi quá, xin đổi nhà khác. Những gia đình đến sau đấy cũng ở không yên, đêm thì nghe tiếng khóc, đêm thì nghe tiếng người đi, đêm thì thấy bóng người ngồi thu lu trên ghế. Người không ở được, nhà nước chuyển thành văn phòng của ủy ban phường, sau đó thành đồn công an phường. Mấy anh công an kể đêm nào cũng thấy ma.

Đến thời kỳ đổi mới, nhà nước bán cho một công ty nước ngoài đập bỏ xây cao ốc. Không biết chú còn lẩn quất ở đó không hay đầu thai kiếp khác rồi. Và cũng từ đấy, ngôi nhà, cơ nghiệp cả đời của chú A Tỷ đã biến mất, chẳng còn dấu tích gì trên cõi đời này nữa

● Saigon. Tháng mười. 2010

DODUYNGOC.
Hình AI tạo.
-----------
Posted by Anges at 7:22 PM No comments:
Labels: ĐỖ DUY NGỌC

Wednesday, March 25, 2026

Bún Thang 



Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, cho nên đến năm rời Đà Nẵng đi vào Sài Gòn kiếm con chữ, tôi chưa hề được thưởng thức món bún thang. Tôi được biết món ăn này qua sách vở, qua những đoạn văn của các nhà văn miền Bắc và chưa được nếm mùi vị của bún thang. Bởi miền Trung không có bún thang.

Đến năm 20 tuổi, quen một cô gái Bắc chính gốc Hà Nội di cư vào Nam năm 1954, ở Sài Gòn khu Trương Minh Ký, tôi mới được lần đầu tiên thưởng thức món ăn này. Đã hơn nửa thế kỷ rồi, tôi vẫn không quên bữa ăn hôm ấy. Một căn nhà bài trí đơn giản nhưng thẩm mỹ, một gia đình vẫn giữ được nét đẹp tinh tế và nề nếp của người Hà Nội xưa.

Sau này xem phim Mùi đu đủ xanh của đạo diễn Việt kiều Pháp Trần Anh Hùng, không hiểu sao tôi có cảm giác ngôi nhà trong phim sao rất giống ngôi nhà tôi đã từng đến ăn món bún thang đầu tiên. Dù biết rằng “Mùi đu đủ xanh” được quay tại Paris, Pháp, cụ thể là ở trường quay Bry, số 2 đại lộ Europe, Bry-sur-Marne, Val-de-Marne. Bối cảnh phim là Sài Gòn những năm 1950, việc tái hiện lại khung cảnh Việt Nam đã được thực hiện trên phim trường ở Pháp.

Bát bún thang được dọn ra trong sự háo hức, nóng lòng chờ đợi của tôi. Cảm giác đầu tiên của tôi là bát bún thiếu màu sắc, chỉ toàn màu nhạt điểm màu phơn phớt đỏ của tôm và màu xanh của hành hoa, ngò gai và màu nâu của nấm. Có vẻ không hấp dẫn lắm.

Các nguyên liệu được xếp theo hình vòng tròn trên mặt bát: trứng, giò, thịt gà, ruốc tôm, củ cải, nấm… như những nét cọ đều đặn trong một bức tranh màu trung tính, không rực rỡ, không mập mờ mà ngăn nắp, nhã nhặn, đậm chất Hà thành. Bún rối sợi nhỏ nằm dưới, nước dùng chan ngập nhưng không lấn át. Cạnh mỗi bát bún kèm chút mắm tôm đánh loãng như thêm một nốt nhạc. Và cuối cùng là vài giọt tinh dầu cà cuống, là điểm nhấn khó lẫn. Bạn tôi nói nhỏ với tôi: Mùi thơm nồng nàn, sâu và gợi cảm này có thể khiến người chưa quen cảm thấy kỳ lạ, nhưng với người Hà Nội gốc, đó là mùi của quê nhà.

Bà cụ nội của bạn gái tôi, răng đen, đầu vấn khăn nhung, cổ đeo chuỗi ngọc xanh, giải thích nguồn gốc và thành phần của món bún thang. Theo bà, từ xa xưa người Hà Nội đã có món canh thượng thang, một loại nước dùng nấu rất công phu, thường xuất hiện trong những dịp đặc biệt của gia đình. Và rồi, sau những ngày Tết với nhiều món ăn, còn lại một phần con gà luộc, một khoanh giò, vài quả trứng, chút nấm thừa, những món còn lại ấy làm nên món bún thang.

Có giả thuyết cho rằng, chữ “thang” vốn có nghĩa là canh, là nước dùng, nhưng cũng có thể ám chỉ thang thuốc Bắc, với nhiều “vị” quyện lại như một cách ẩn dụ cho sự hòa quyện khéo léo của bún thang: ít mà đủ, nhẹ mà sâu. Cụ còn bảo bát bún thang truyền thống thường cần đến gần 20 nguyên liệu, trong đó ba thành phần chính làm nên cấu trúc màu đặc trưng là “tam vàng tam bạch”. Tam bạch là thịt gà xé, giò lụa thái sợi, bún sợi nhỏ. Tam vàng: trứng tráng mỏng thái chỉ, ruốc tôm (hoặc ruốc thịt), vài sợi nấm hương khô hoặc củ cải ngâm chua.

Mỗi thứ một ít, nhưng đòi hỏi tay nghề tinh tế: trứng phải tráng mỏng như lụa, giò phải đều mặt cũng thái mỏng lét như gió thổi muốn bay, thịt gà luộc vừa tới để xé không nát. Chỉ riêng việc thái chỉ các nguyên liệu cũng là một bài học về tính kiên nhẫn và thẩm mỹ.

Điều làm nên “phần hồn” của bún thang là nước dùng, thường ninh từ xương gà, xương ống heo, thêm tôm he khô hoặc sá sùng để tăng độ ngọt thanh, cùng hành nướng và gừng cho thơm. Màu nước trong veo như pha lê, nhưng vị ngọt lại có chiều sâu như thể đọng lại từ bao lớp hương.

Nghe bà nói, tôi tưởng tượng chắc hương vị của món ăn này phải ngon lắm, đậm đà lắm, hấp dẫn lắm. Cụ lại bảo món này phải ăn chậm, phải nhâm nhi từng vị, từng mùi, từ cái ngọt âm thầm của nước dùng, cái béo nhẹ của trứng, cái giòn giòn mộc mạc của củ cải khô, cho tới mùi cà cuống vấn vít đầu lưỡi.

Nhưng tôi hơi thất vọng, dù cũng cố gắng ăn rất chậm, nhâm nhi đúng nghĩa. Vẫn thấy nhàn nhạt, thiêu thiếu một cái gì đó không nghĩ ra, có lẽ vì quen khẩu vị đậm đà của ruốc, cay nồng của ớt bột, đậm đà và kiểu chém to kho mặn của quê tôi chăng.

Khi mẹ của bạn tôi biết tôi lần đầu tiên ăn món này liền hỏi tôi có thấy ngon không. Tôi bảo: Dạ…, câu trả lời của tôi chưa dứt thì nghe có tiếng ly vỡ, cậu bé em bạn tôi làm rơi chiếc ly. Cũng may tôi chưa nói hết ý, vì câu trả lời trung thực của tôi là: Chưa thấy ngon, chỉ thấy cầu kỳ, ngăn nắp, tinh tế và kiểu cách. Tôi tự trách khẩu vị của mình chưa đủ tinh để nếm được cái ngon của nó.

Cách đây ba mươi năm, có dịp ra Hà Nội, tôi được người bạn đưa đến nhà hàng Ánh Tuyết, số 25 phố Mã Mây, phường Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội của nghệ nhân Ánh Tuyết, người được ca ngợi bằng nhiều mỹ từ như Đầu bếp nguyên thủ, Cuốn sách sống ẩm thực, Đệ nhất ẩm thực Hà Thành,… Tôi lại được khoản đãi bún thang. Tô bún này trông cầu kỳ hơn bát bún tôi ăn lần đầu tiên. Lại do một nghệ nhân ẩm thực khét tiếng Hà Nội thực hiện. Nhưng bực thay, tôi vẫn chưa thấy ngon. Chán thế chứ!

Mấy năm trước, cũng lại một cô bạn gái mời đến nhà ăn bún thang. Cô này có cha người miền Tây tập kết ra Bắc, mẹ chính gốc Hà Nội, cô được sinh ra và lớn lên ở Hà thành. Cô nấu được nhiều món ăn xứ Bắc. Tôi cũng chưa thấy hết cái ngon của món ăn tỉ mỉ này. Tuy thế, do đã có thêm nhiều tuổi rồi nên ăn nói khéo hơn chút, vì vậy tôi vẫn khen ngon cho bạn vừa lòng.

Có người kết luận rằng: “Bún thang không cầu kỳ như những món cung đình, cũng không hồn nhiên như bún riêu hay bún mắm. Nó là sự giao thoa giữa tiết kiệm và sang trọng, giữa thói quen và nghi thức. Ăn bún thang là học cách sống chậm, nhìn kỹ, và biết trân trọng từng chi tiết nhỏ, như cách người Hà Nội xưa đã từng sống và nấu.”

Vậy mà buồn thay, tôi, vốn là người rất mê món ăn Việt, nhất là những món ăn Hà Nội, đến giờ này đã đến tuổi U80 vẫn chưa thấm được cái ngon của món bún thang. Người Hà Nội thường cho rằng có ba món ăn tiêu biểu của Hà Nội, đó là phở, bún chả và bún thang. Tôi là tín đồ của phở, công nhận không có phở ở đâu ngon bằng phở Hà Nội. Bún chả cũng có lẽ thế tuy tôi không mê món này lắm.

Nhưng bún thang thì xin lỗi, tôi vẫn chưa công nhận là ngon. Nhà quê thế đấy. Các bạn Hà Nội của tôi đừng buồn tôi nhé! Cũng do khẩu vị thôi mà. Có thể vì vậy mà phở và bún chả đã đổ bộ vào tràn ngập Sài Gòn, nhưng bún thang vẫn còn vắng mặt.

Đỗ Duy Ngọc


Posted by Anges at 11:05 PM No comments:
Labels: ĐỖ DUY NGỌC

Tuesday, March 24, 2026

Trung hoc xưa

MỘT MÔ HÌNH GIÁO DỤC RẤT HAY BỊ ĐỨT GÃY SAU 1975

Sau hai năm học lớp Đệ Thất và Đệ Lục ở trường Phổ thông Trung học, tôi quyết định thi tuyển vào Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng. Tôi chọn trường này với lý do rất kỳ cục chỉ là vì đây là ngôi trường đẹp và hiện đại nhất lúc bấy giờ. Không chỉ ở Việt Nam mà còn là nhất Đông Nam Á. Trường khai giảng khoá đầu tiên năm 1962. Trường được chính phủ Hoa Kỳ viện trợ xây dựng và trang bị những thiết bị máy móc cần thiết cho một trường dạy nghề không khác gì các trường quốc tế. Trường được xây dựng trên khu đất sát bãi biển Thanh Bình lúc đó còn hoang sơ và dân cư thưa thớt. Như vậy, ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ song song hai mô hình giáo dục: Trung học Phổ thông và Trung học Kỹ thuật.

Thật ra, từ thời Pháp thuộc, miền Nam đã có hai trường dạy văn hoá kết hợp với đào tạo nghề cơ khí, tiện, điện, mộc, sắt...

Đó là Trường Bá Nghệ Huế (Kỹ nghệ thực hành Huế). Thành lập khoảng 1899, với tên Pháp École Pratique d’Industrie de Hué. Đây là một trong những trường dạy nghề sớm nhất ở Trung Kỳ. Mục tiêu đào tạo thợ thủ công, kỹ nghệ thực hành phục vụ bộ máy thuộc địa và nhu cầu kỹ thuật bản địa. Điểm đáng chú ý là khác với giáo dục Nho học, đây là mô hình “thực học, thực nghiệp” rất sớm, gần với triết lý giáo dục công nghiệp châu Âu.

Ở Sài Gòn còn có trường Bá Nghệ Sài Gòn thành lập năm 1906 với tên École des Mécaniciens Asiatiques, dân gian gọi là Trường Bá Nghệ và là một trong những trường dạy nghề đầu tiên ở Đông Dương. Một thời trường còn có tên là Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị, đặt theo tên của người phi công Việt Nam đầu tiên trong quân đội Pháp.

Trường đào tạo thợ máy và kỹ thuật cơ khí nhằm phục vụ cho lực lượng Hải quân và Công nghiệp thuộc địa. Học sinh được học lý thuyết song song với thực hành. Trường có ký túc xá, xưởng sản xuất. Trong Thế chiến I, trường sản xuất đạn pháo và đào tạo thợ cho chiến tranh. Sau 1954, Trường đổi tên thành Trung học Kỹ thuật Cao Thắng chuyên đào tạo Kỹ thuật viên trung cấp và Tú tài kỹ thuật để học lên kỹ sư hoặc cán sự, thợ bậc cao. Là một trường trung học kỹ thuật quan trọng ở Sài Gòn trước 1975.

Hai trường này ảnh hưởng từ mô hình Écoles professionnelles của Pháp. Đây là nền móng cho toàn bộ hệ Trung học Kỹ thuật sau này.

Thập niên 60 của thế kỷ trước, miền Nam Việt Nam mở thêm Trường Trung học Kỹ Thuật Đà Nẵng, Quy Nhơn và Vĩnh Long. Ưu điểm nổi bật của các Trường Trung học Kỹ Thuật là học sinh vừa học văn hoá như các Trường Phổ thông, vừa học nghề chọn lựa nên cung ứng cho xã hội những người thợ vừa có nghề vừa có văn hoá. Trường Trung học Kỹ Thuật có 2 ban. Ban Toán trước năm 1965 tuyển từ Đệ Thất, học 7 năm đến lớp Đệ nhị thi Tú Tài 1 Kỹ Thuật, tiếp đến lớp Đệ nhất lấy Tú Tài 2. Đến 1966 thì tuyển từ lớp Đệ ngũ, học 5 năm tốt nghiệp thi vào Trường Kỹ sư Phú Thọ, học 4 năm có bằng Kỹ sư. Một số thi tuyển vào Trường Kiến trúc.

Ngoài ra còn có ban Chuyên Nghiệp, học 3 năm, cũng thi vào Trường Phú Thọ nhưng hệ Cán sự. Tốt nghiệp làm thợ bậc cao hoặc học tiếp Trường Sư Phạm Kỹ Thuật, ra trường đi dạy nghề các trường nghề hoặc Trường Trung học Kỹ Thuật. Nếu vì lý do nào đấy mà không học lên đại học, người học sinh có thể đi làm công nhân có trình độ. Họ biết xem bản vẽ, có văn hoá để xử sự, có kiến thức để làm nghề. Đây là mô hình rất gần với nước Đức (Dual System) và Nhật (KOSEN).

Đặc biệt trong chế độ cũ, khi bị động viên, những người có bằng cấp từ các Trường Kỹ Thuật thường được điều chuyển về Tiếp vận, Quân cụ, Công binh, Truyền tin….

Thi tuyển vào các Trường Trung học Kỹ Thuật cũng khá khó vì hàng năm chỉ tuyển không nhiều, thường chỉ 2 hoặc 3 lớp ban Toán và 5 lớp ban Chuyên Nghiệp các ngành Điện, Tiện, Kỹ nghệ gỗ, Kỹ nghệ sắt và Cơ khí Ô tô. Mỗi lớp khoảng 25 đến 30 học sinh.

Chương trình học ban Toán khá nặng, nhất là các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá và thêm môn vẽ Kỹ Nghệ hoạ. Học suốt hai buổi từ thứ hai đến thứ bảy. Ban Chuyên Nghiệp học văn hoá 3 ngày một tuần, cũng học Toán, Lý, Hoá, văn học, Sử Địa nhưng chương trình nhẹ hơn. Cũng có môn Kỹ Nghệ hoạ để có thể nhìn bản vẽ mà làm việc. 3 ngày còn lại học nghề ở xưởng, lý thuyết lẫn thực hành trực tiếp trên máy như những người thợ.

Từ niên khoá 1968, Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng mở thêm Ban Nữ công Gia chánh dành cho nữ sinh. Chương trình học dạy nấu ăn, cắt may, dinh dưỡng…Kể từ đó, ngôi trường vốn chỉ toàn nam sinh mặc đồng phục xanh xuất hiện thêm những tà áo dài trắng của nữ sinh. Hình như hình ảnh đó làm sân trường đẹp hơn, dịu dàng hơn. Cũng học 3 năm thi vào Phú Thọ, rồi tiếp tục học Sư Phạm Kỹ Thuật ra làm cô giáo. Nếu không thì cũng là những người nội trợ giỏi, những người thợ may, chủ tiệm may, làm bánh, nấu nướng có văn hoá. Một chủ trương dạy Công Dung Ngôn Hạnh có bài bản, bằng cấp, chương trình, trường lớp chính quy.

Như vậy, ngay từ 12 hay 14 tuổi, học sinh Trường Kỹ Thuật đã được hướng nghiệp một cách có bài bản, được huấn luyện, dạy dỗ và trang bị những bước cơ bản cho ngành nghề tương lai của cuộc đời.

Trở lại ngôi trường của tôi, một ngôi trường hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Trường rộng rãi, có sân bóng rổ, sân bóng chuyền và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn. Có những phòng học đúng nghĩa, mỗi học sinh có một ghế và mặt bàn riêng, cuối mỗi phòng có dãy tủ để chứa vật dụng, sách vở, phòng học môn Kỹ Nghệ hoạ có bàn vẽ như một hoạ viên thực thụ. Phòng học lúc nào cũng đủ ánh sáng và nhiệt độ được cân bằng bởi hệ thống cửa sổ chạy dài tường phòng học nhìn ra và đón gió biển. Ở đó, phóng tầm mắt nhìn ra, thấy được biển xanh và sóng vỗ. Sau này cũng từ hướng nhìn ấy, chỉ thấy toàn những mái nhà san sát nhau, chen lấn nhau.

Trường cũng có ký túc xá cho những học sinh đi học xa nhà, có nhà công vụ đầy tiện nghi cho Hiệu trưởng, có nhà cho các nhân viên bảo vệ, thời ấy gọi là cai trường. Có dãy xưởng gồm 5 xưởng cho từng nghề riêng như xưởng Điện, xưởng Tiện còn gọi là Máy Dụng cụ, xưởng Kỹ Nghệ Gỗ, xưởng Kỹ Nghệ Sắt và xưởng Cơ khí Ô Tô. Mỗi xưởng đều được trang bị máy móc tương đối hiện đại để học sinh thực hành trực tiếp.

Hồi đó, tôi vốn thấp bé, nhẹ cân nên ngày đầu tiên vào xưởng Cơ khí Ô Tô mênh mông với một dãy máy móc, tôi khá choáng ngợp. 14 tuổi, tôi đứng vừa nhỉnh hơn cái bàn gắn éteaux một chút. Bài học đầu tiên không phải là những trang sách mà là thỏi sắt với yêu cầu giũa, cưa, đục thành một mộng xương cá. Tôi không đạt yêu cầu vì tay cầm giũa cứ phải với lên vì chiều cao thân thể không thuận lợi. Bữa học đầu tiên đấy không phấn trắng, bảng đen mà làm quen với những cục sắt lạnh. Những bàn tay lần đầu còn vụng về, rồi dần dần quen với giũa, với búa, với kìm, với thước cặp. Dần dà rồi cũng quen với mùi dầu máy, quen với tiếng nổ của động cơ.

Ở cái tuổi mười bốn, chúng tôi chưa biết nhiều về triết học hay sâu sắc của văn chương. Nhưng chúng tôi biết một điều rất cụ thể là một chi tiết sai là máy không chạy. Một đường cắt lệch là sản phẩm bỏ đi. Nếu canh sai thứ tự thì nổ, máy không nổ. Kỹ thuật dạy chúng tôi sự chính xác trước khi dạy chúng tôi ước mơ. Dạy cho tôi cẩn trọng và biết tính toán cụ thể lúc làm việc.

Dù trước đó tôi học rất khá, nhưng tôi lại chọn ban Chuyên Nghiệp vì muốn sau ba năm học sẽ được vào Sài Gòn, thoả được ước mơ. Tôi thi tuyển vào đậu đầu bảng, Thầy Hiệu trưởng gọi tôi lên văn phòng bảo tôi nên chuyển qua ban Toán vì qua bài thi thấy tôi học ban Toán sẽ tốt cho tương lai hơn. Tôi không đồng ý, nhưng có lẽ số tôi phải thế nên sau 3 năm học Cơ khí Ô Tô tôi lại chuyển qua ban Toán và phải học lại trễ một năm. Tôi học thêm lớp đêm của Trường Phổ thông, học nhảy và thi lấy luôn 4 bằng Tú Tài, hai bằng Kỹ Thuật, hai bằng phổ thông. Trường hợp có nhiều bằng như vậy đối với học sinh Kỹ Thuật không hiếm. Tôi có người bạn lấy đến 6 bằng Tú Tài, bạn ấy bảo lấy chơi xem sức mình tới đâu. Bạn ấy tên Nguyễn Phúc Bửu Dương, con trai của một Giáo sư dạy Pháp văn. Anh ta có đủ bằng phổ thông ban A, ban B, ban C và bằng Kỹ Thuật. Điều này nghe có vẻ lạ lùng thời nay, nhưng lại là kết quả rất tự nhiên của một mô hình giáo dục biết cách liên thông và thí sinh đạt kết quả do kiến thức tự thân chứ không dựa vào một đặc ân đặc biệt nào.

Bởi học nhảy nên ở Trường Kỹ Thuật, tôi không học lớp Đệ nhất. Và rồi tôi không tiếp tục đường đi của học sinh Kỹ Thuật, tôi rẽ sang lối khác, tôi chọn văn chương, nghệ thuật khi bước vào Đại học. Một lựa chọn mà sau này, đôi khi nhìn lại, tôi vẫn tự hỏi rằng mình có bỏ phí những kiến thức đã học thời Trung học không? Nhưng nghĩ kỹ lại Trường Kỹ thuật đã giúp tôi nhiều kỹ năng trong những công việc. Đó là thói quen lao động, đó là sự cẩn trọng trong suy nghĩ, đó là hiểu đúng nguyên lý của việc mình làm, đó là kỷ luật và tinh thẩn tập thể trong lao động. Tôi không tiếp tục với nghề kỹ thuật nhưng tôi vẫn đọc được bản vẽ của máy móc, của sơ đồ điện, biết cách vận hành của động cơ. Tôi ý thức về cấu trúc, về tỷ lệ, về sự chính xác như đã từng vẽ những bài vẽ môn Kỹ Nghệ hoạ.

Đến thập niên 70, hệ thống Trường Kỹ Thuật được mở rộng. Nha Trang, Quảng Ngãi mở thêm trường.

Đó không phải là sự mở rộng ngẫu nhiên. Nó đi theo nhu cầu phát triển của một xã hội đang đô thị hóa, hiện đại hoá. Thời kỳ đang cần những con người biết làm việc bằng tay, nhưng không phải là những bàn tay vô thức.

Trung học Kỹ thuật không đào tạo ra những người chỉ biết làm. Nó đào tạo ra một kiểu người mà hôm nay ta không còn gọi tên được nữa. Đó là người thợ có văn hóa.

Họ học toán, học lý, học vẽ kỹ thuật. Họ vào xưởng, làm ra sản phẩm thật. Họ hiểu rằng mỗi sai số đều có hậu quả. Họ quen với kỷ luật lao động trước khi bước vào đời. Nhưng họ cũng đọc sách. Họ có khả năng suy nghĩ. Họ không bị tách khỏi thế giới của tri thức.

Họ đứng ở một vị trí rất đặc biệt: không hoàn toàn là trí thức bàn giấy, nhưng cũng không phải lao động tay chân thuần túy. Họ là những “trí thức lao động”, nếu cần một cách gọi.

Nhìn ra thế giới, mô hình này không hề lạc hậu.
Đức có hệ thống đào tạo kép. Pháp có các lycée technique. Nhật Bản có các trường kỹ thuật cao cấp.

Điều đáng nói là, miền Nam Việt Nam đã có một mô hình tương tự từ những năm 1960. Không phải vay mượn một cách hình thức, mà đã vận hành thực sự, đã đào tạo ra con người thật, làm việc trong xã hội thật.

Thế nhưng sau năm 1975, mọi thứ thay đổi. Nhiều trường Trung học Kỹ thuật lần lượt được nâng cấp thành cao đẳng, đại học. Nghe qua thì đó là một bước tiến. Nhưng trong thực tế, một tầng quan trọng đã biến mất: tầng trung học nghề có văn hóa. Và xã hội nhiều thầy hơn thợ.

Xã hội bắt đầu đi theo một hướng khác. Đó là đại học hóa. Ai cũng muốn có bằng cấp cao. Ai cũng muốn làm thầy. Nhưng là những thầy thất nghiệp, lấy Cử nhân để rồi về chạy xe ôm.

Và dần dần, người thợ biến mất khỏi trung tâm của xã hội.

Hậu quả của sự thay đổi đó, chúng ta thấy rõ hôm nay. Một xã hội thiếu thợ giỏi, nhưng dư cử nhân. Một nền giáo dục nặng lý thuyết, nhưng thiếu kỹ năng. Một lớp người có thể nói nhiều, nhưng không làm được bao nhiêu.

Tôi không trở thành một kỹ sư. Tôi không thành ông thầy dạy nghề Cơ khí. Tôi dạy văn học, tôi làm mỹ thuật.

Tôi đi vào văn chương, hội họa, những con đường tưởng như không liên quan đến kỹ thuật. Nhưng càng về sau, tôi càng nhận ra rằng những gì tôi học được từ Trường Trung học Kỹ thuật không hề mất đi. Nó nằm trong cách tôi suy nghĩ. Trong cách tôi cấu trúc một bài viết. Trong cách tôi nhìn một bức tranh, không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng cả một ý thức về cấu trúc, về tỷ lệ, về sự chính xác.

Như thế, tôi không bỏ kỹ thuật. Tôi chỉ mang nó sang một địa hạt khác.

Nhưng bây giờ, với thực trạng của các trường nghề, nhìn nền giáo dục Phổ thông hiện nay, tôi vẫn thấy tiếc. Không phải tiếc cho riêng mình. Mà tiếc cho một mô hình đã từng rất hiện đại, rất hợp lý, rất nhân bản, rất thực tiễn. Một mô hình giáo dục hướng nghiệp rất tốt cho học sinh khi mới bước vào trung học, nhưng đã không được tiếp tục, đã bị đứt gãy và được thay thế những thứ thiếu thực tiễn, nặng phô trương.

Tiếc cho một mô hình giáo dục để không phải ai cũng cần trở thành kỹ sư, nhưng ai cũng cần được học để làm việc một cách tử tế, trở thành người lao động có ý thức kỹ thuật và kỷ luật. Những người làm nhiều, nói ít.

Chúng tôi, những học sinh Trung học Kỹ thuật ngày ấy, đã từng sống trong một thế giới mà ở đó một tay cầm búa, thước T, bảng vẽ, một tay cầm bút. Chúng tôi học cách làm ra một vật thể, vẽ ra mọi chi tiết trước khi học cách nói về nó. Chúng tôi hiểu rằng một ý tưởng, nếu không thực hiện được, thì chỉ là một ý tưởng dang dở.

Hôm nay, sau hơn 60 năm, khi nhìn lại, tôi không chỉ nhớ về một ngôi trường. Tôi nhớ về một kiểu người, một kiểu dạy tạo ra một kiểu người biết làm và biết nghĩ. Đó là kiểu người mà xã hội hôm nay đang thiếu.

Và có lẽ, điều đáng tiếc nhất không phải là một hệ thống, một mô hình giáo dục thiết thực đã bị mất. Mà chúng ta tiếc giá trị của chính con người mà hệ thống ấy từng tạo ra. Đó là thế hệ của những người thợ có văn hóa. Những người trí thức nhưng hiểu rất rõ giá trị của kết quả từ bàn tay lao động có tri thức

DODUYNGOC
Sài Gòn. Tháng Ba. 2026
Posted by Anges at 8:20 PM No comments:
Labels: ĐỖ DUY NGỌC

Tuesday, November 11, 2025

MỘT ĐẤT NƯỚC, HAI TÂM HỒN? KHÁC BIỆT VÙNG MIỀN TRONG VĂN HOÁ VIỆT HẬU THỐNG NHẤT.

Một người miền Bắc lần đầu vào Sài Gòn có thể thấy người ta nói năng bỗ bã, ăn mặc thoải mái, sống nhẹ như mưa bụi.

Một người Nam ra Hà Nội, bối rối với những “dạ – vâng – anh – chị – em – cháu – cô – chú – bác – thưa – gửi” lắt léo như mê cung. Họ đều ở Việt Nam. Nhưng có lúc, họ không nghĩ vậy.

Sau gần nửa thế kỷ thống nhất, người Việt vẫn chia hai trong ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, quan niệm sống và đôi khi, trong niềm tin. Đó không chỉ là sự khác biệt vùng miền thông thường, mà là một khoảng cách tinh thần, có khi sâu hơn cả một đường biên giới. Bài viết này không nhằm phán xét, cũng không muốn làm trầm trọng thêm chia rẽ.
Nó là một cuộc chiếu đèn thẳng thắn và nhân văn vào một hiện thực thầm lặng: Thống nhất đất, chưa thống nhất lòng.

Sự khác biệt giữa người Bắc và người Nam không phải là chuyện mới sau năm 1975. Nó là kết quả của những tầng lớp lịch sử chồng lên nhau, qua các đợt di cư, chiến tranh, thay đổi chính thể và va đập văn hóa kéo dài hàng thế kỷ.

Miền Nam, vùng đất của sự khai phóng. Từ thế kỷ 17, những cư dân miền Trung vào Nam khai hoang vùng đất mới không vua chúa, không nghi lễ khắt khe. Họ sống linh hoạt, phóng túng, khoan dung, thực tế và nhẹ nhõm.

Miền Bắc, vùng đất của thiết chế và nghi lễ. Là trung tâm của các triều đại phong kiến, miền Bắc phát triển một văn hóa giàu tính quy phạm, lễ nghĩa, và đề cao trật tự.

Từ 1954–1975, hai miền phát triển theo hai hệ tư tưởng.
Miền Bắc sống dưới mô hình XHCN tập thể hóa; Miền Nam sống theo kinh tế thị trường, truyền thông tư nhân, ảnh hưởng phương Tây. Hai thế hệ lớn lên trong hai nhịp tim văn hóa khác nhau và vết rạn ấy chưa bao giờ lành hoàn toàn.

Người Bắc quen nói vòng, nói khéo, “ý tại ngôn ngoại” điều quan trọng thì giấu trong lớp sương mù lịch thiệp.

Người Nam nói thẳng, nói thật, chêm “trời đất ơi”, “muốn xỉu” như kiểu trò chuyện bên quán cóc, cởi mở và đầy biểu cảm.

Sự khác biệt này không xấu. Nó phản ánh hai truyền thống:
Miền Bắc, tư duy Khổng học, trọng thứ bậc.
Miền Nam, tư duy khai phóng, dân dã và bình dân.

Một người Bắc ngạc nhiên khi được hỏi: “Chú ăn cơm chưa?” không biết là người Nam đang thể hiện sự quan tâm và gọi chú để thể hiện sự thân mật. Người Bắc lại nghĩ là chú em nên khó chịu.

Một người Nam bối rối khi nghe một cuộc trò chuyện toàn “dạ vâng ạ” mà vẫn… chưa hiểu ý chính nằm ở đâu.

Người Bắc: thành công là có chức, có bằng, có quan hệ trong hệ thống.

Người Nam: thành công là sống thoải mái, kiếm được tiền, có bạn, có niềm vui.

Ở miền Bắc, “cháu ông nọ”, “con bà kia” có thể là tấm thẻ bảo hành xã hội.

Ở miền Nam, người ta quý “thằng đó tự thân mà lên, giỏi thiệt”.

Người Bắc chọn nhà nước làm trung tâm an toàn.
Người Nam chọn tiệm nước, chợ búa, phố phường làm nơi sinh sống, giao dịch.

Cả hai đều phản ánh những chiến lược sinh tồn hợp lý nhưng va chạm nhau khi cùng chen vào không gian chung mà không hiểu bản đồ của người kia.

Chúng ta không đánh nhau, không cãi nhau nhưng lại có hàng ngàn va chạm thầm lặng mỗi ngày:

Hôn nhân Bắc – Nam: bất đồng từ cách xưng hô đến cách dạy con.

Đồng nghiệp: người thì cho rằng “làm việc phải chuẩn mực”, kẻ khác lại muốn “thoải mái, miễn xong việc”.

Hội đồng hương, nơi người ta né xung đột bằng cách… rủ nhau về đúng “phe mình”.

Nguy hiểm hơn cả là những kỳ thị không tên, kiểu:
“Dân Bắc vào hay giành việc.”
“Dân Nam chỉ giỏi ăn chơi.”

Những định kiến ấy, khi lặp đi lặp lại, trở thành bức tường vô hình chắn giữa những con người cùng quốc tịch, cùng tổ tiên, cùng một ngôn ngữ (mà hóa ra không cùng cách nói).

Có những câu nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt nhưng lại phản ánh cả một hệ hình tư duy xã hội.

- Ví dụ câu quen thuộc nơi miền Bắc: “Mày biết bố mày là ai không?”
Không chỉ là sự phô trương quyền lực kiểu gia trưởng, thiếu văn hoá, trịch thượng mà còn ẩn chứa tinh thần tôn ti, thứ bậc và quan hệ bảo kê, vốn ăn sâu trong xã hội lấy “địa vị làm thước đo”.

- Người miền Nam, vốn sống trong môi trường cởi mở hơn, nghe câu ấy sẽ ngớ người ra: “Ủa, ủa, sao biết bố mày là ai?”

Hay như chiếc nón cối, một vật dụng quá quen thuộc với cán bộ miền Bắc sau 1954, vào Nam lại trở thành biểu tượng khó chịu. Bởi vì với nhiều người miền Nam, nón cối từng gắn với hình ảnh của sự kiểm soát, khẩu hiệu, mệnh lệnh và… tem phiếu, là sự thống trị và một thời kỳ nghèo đói, thiếu thốn khó quên.

Nó không còn là cái nón, mà là một ký ức.

Những hình ảnh như vậy không phải để phân biệt, mà để hiểu rằng:
Có những đồ vật, ngôn từ, cách nói… mang theo ký ức tập thể mà mỗi miền gánh mang một cách rất khác nhau.

Và khi chúng ta bỏ qua ý nghĩa biểu tượng trong lịch sử người kia, chúng ta dễ giẫm lên những vết thương mà mình không nhìn thấy.

Để giải quyết tình trạng này cố gắng không đồng hóa, chỉ cần thấu hiểu

Không cần phải giống nhau. Chỉ cần không chê nhau khi khác nhau.

Thống nhất không phải là cùng ăn một món, nói cùng một kiểu, mặc cùng một đồng phục.

Thống nhất là:
Biết người kia đang nói theo ngữ pháp vùng miền của họ.
Biết “bỗ bã” chưa chắc là vô lễ.
Biết “nói khéo” chưa chắc là thủ đoạn.

Chúng ta không cần một “tiêu chuẩn văn hóa Việt thống nhất”, điều đó chỉ làm nghèo đi bản sắc. Chúng ta cần học cách dịch tâm hồn nhau, như người học ngoại ngữ, không phải để sửa lỗi, mà để đọc được tình cảm qua khác biệt.

Ngoài những lý do trên, còn có lý do chính trị
Không phải chỉ vì ngôn ngữ, món ăn hay cách xưng hô mà người Việt hai miền có lúc thấy “lạ” nhau. Còn một tầng sâu hơn, âm ỉ hơn: vết thương chính trị chưa bao giờ lành hẳn.

Người miền Nam, hoặc đúng hơn là một phần lớn người từng sống trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa, có lý do để không xem “giải phóng” là giải phóng.

Với họ, 30.4.1975 không hẳn là ngày độc lập, mà là ngày mất mát. Không chỉ mất chính quyền, mà mất cả nếp sống, sách vở, trí nhớ tập thể. Những tiệm sách bị đốt. Hàng ngàn văn hoá phẩm bị tiêu huỷ.

Nhiều cửa hiệu, doanh nghiệp bị tịch thu

Những viên chức, quân nhân chế độ cũ bị đi “học tập cải tạo”. Hàng trăm người đã chết nơi rừng sâu, nước độc vì thiếu ăn và bịnh tật.

Những gia đình bị đưa đi “kinh tế mới”, rời thành thị về rừng sâu.

Những người bị gắn “lý lịch xấu”, và từ đó con cái không thể vào đại học, không được làm công chức.

Biết bao nhiêu gia đình bị ly tán, biết bao nhiêu người bỏ mình nơi biển sâu trong hành trình vượt biển.

Đó không chỉ là chính sách, mà là những hình phạt tinh thần kéo dài cả thế hệ.

Và trong khi ấy, một số người miền Bắc tin rằng họ đang làm “sứ mệnh cách mạng”, mang ánh sáng chủ nghĩa xã hội vào miền Nam.

Cái “ánh sáng” ấy, với người bên kia, có khi chỉ là đèn dầu soi tem phiếu.

Chúng ta không cần phải thống nhất quan điểm lịch sử. Nhưng cần thống nhất ở một điều: lắng nghe nỗi đau của nhau.

Khi người miền Bắc nói về “thành tựu thống nhất”, hãy để họ nói.
Khi người miền Nam nhắc lại những mất mát, đừng bảo họ “chống phá” là “phản động”

Bởi im lặng về tổn thương không làm nó biến mất, chỉ khiến nó hóa đá.

Việt Nam là một dải đất dài, nhiều tiếng nói, nhiều tạng khí, và nhiều vết đau lịch sử. Nhưng khi miền Bắc khóc vì miền Trung lũ lụt, miền Nam đau vì Hà Nội dịch giã, đó là lúc tim ta cùng đập.
Một đất nước: nhiều tâm hồn.
Một dân tộc: nhiều bản thể văn hóa.
Và đó không phải là vấn đề.
Miễn là chúng ta không khước từ nhau, không ép nhau giống nhau, không coi nhau là lạ.

Thống nhất thật sự không nằm ở bản đồ. Nó nằm ở một khoảnh khắc nhỏ: Khi một người Bắc nghe giọng miền Nam mà mỉm cười. Và một người Nam nghe chất giọng miền Bắc mà thấy… cũng là quê hương mình.

Đỗ Duy Ngọc

Posted by Anges at 5:15 PM No comments:
Labels: ĐỖ DUY NGỌC
Older Posts Home
Subscribe to: Posts (Atom)

Blog Archive

  • ▼  2026 (1869)
    • ▼  August (32)
      • Sáu Mươi Nghìn Người Trong Một Đêm Và Cũng Là Cái ...
      • HUYỀN CHIÊU: ĐÊM SÀI GÒN XƯAAUDIO: https://www.fac...
      • Khiếu hài hướcTờ New York Times viết: “Đối với các...
      • NGHIÊN CỨU MỚI CẢNH CÁO “TRẬN ĐỘNG ĐẤT LỚN” TẠI CA...
      • Hành trình "Ra Riêng" và Bài Học Đầu Tiên Ở Úc!Nhữ...
      • Salvatore FerragamoNăm 9 tuổi, Salvatore Ferragamo...
      • Dự luật luật Bắt các Tỷ phú Đóng gópQuá sướng....
      • Châu Âu thất bại trong việc đối mặt mạng lưới khủn...
      • Chương trình giảng dạy cho học sinh trên toàn tiểu...
      • Giấc mơ không biên giới của châu Âu trở thành cơn ...
      • 'Luật sư làm nên phép màu', đó là lời tự xưng của ...
      • 33 Cái Khoái Chí của Kim Thánh Thán Kim Thánh Thán...
      • Phiếm Ngày xưa….lúc mà Nó một thân một mình dọn qu...
      • CHA CỦA MỘT THỦY QUÂN LỤC CHIẾN HOA KỲ THIỆT MẠNG ...
      • TÀI SẢN LỚN NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI CUỐI CÙNG LÀ GÌ?(Câ...
      • Diện ảnh Việt NamThú thật là tôi rất ít khi ngồi v...
      • Vì Sao Đà Nẵng Và Vịnh Cam Ranh Quan Trọng Với Mỹ ...
      • Lịnh Ân Xá mà cụ Bid3n ban cho Dr. Fauci có hiệu l...
      • NẾU MỸ TỆ ĐẾN VẬY, TẠI SAO BẠN VẪN SỐNG Ở MỸ?Bài v...
      • Sự im lặng của Fauci về những tội lỗi khủng khiếp ...
      • 80 năm gìn giữ một lời hứa: Những đứa trẻ Hòa Lan ...
      • Sự tự mãn có thể giết chết một cuộc đời An NhiênCơ...
      • Dù đang có visa nhưng lái xe khi say rượu (DUI) sẽ...
      • Gián điệp luồn sâu, trèo cao vào NATOBiwei Zhang, ...
      • Gián điệp dưới gầm giường phòng ngủ, dưới gầm bàn ...
      • CHỮ NGHĨA THỜI THƯỢNGĐường Bà Huyện Thanh Quan buổ...
      • Hạt bụi nào trong mắtChiều thứ hai, đi làm về, Bil...
      • PhiếmCó một kiểu đạo đức rất lạ. Nó giống như một ...
      • Cher Ami: Chú chim bồ câu trúng đạn nát chân, bay ...
      • “90 Miles to Cuba"Key West, Florida. Chiếc xe buýt...
      • Chuyện tình Hu Em AiTôi có anh bạn biệt danh là Hu...
      • Tin VắnFB Le Hoang- Ba công ty trứng Cal-Maine Fo...
    • ►  July (326)
    • ►  June (313)
    • ►  May (305)
    • ►  April (348)
    • ►  March (245)
    • ►  February (169)
    • ►  January (131)
  • ►  2025 (1613)
    • ►  December (114)
    • ►  November (116)
    • ►  October (167)
    • ►  September (140)
    • ►  August (147)
    • ►  July (103)
    • ►  June (132)
    • ►  May (111)
    • ►  April (173)
    • ►  March (189)
    • ►  February (135)
    • ►  January (86)
  • ►  2024 (1387)
    • ►  December (79)
    • ►  November (129)
    • ►  October (145)
    • ►  September (110)
    • ►  August (121)
    • ►  July (99)
    • ►  June (116)
    • ►  May (94)
    • ►  April (120)
    • ►  March (131)
    • ►  February (114)
    • ►  January (129)
  • ►  2023 (1491)
    • ►  December (139)
    • ►  November (122)
    • ►  October (92)
    • ►  September (131)
    • ►  August (109)
    • ►  July (107)
    • ►  June (110)
    • ►  May (136)
    • ►  April (159)
    • ►  March (172)
    • ►  February (98)
    • ►  January (116)
  • ►  2022 (1345)
    • ►  December (103)
    • ►  November (143)
    • ►  October (156)
    • ►  September (173)
    • ►  August (149)
    • ►  July (130)
    • ►  June (79)
    • ►  May (90)
    • ►  April (72)
    • ►  March (64)
    • ►  February (90)
    • ►  January (96)
  • ►  2021 (1455)
    • ►  December (102)
    • ►  November (97)
    • ►  October (109)
    • ►  September (128)
    • ►  August (115)
    • ►  July (126)
    • ►  June (78)
    • ►  May (120)
    • ►  April (147)
    • ►  March (115)
    • ►  February (125)
    • ►  January (193)
  • ►  2020 (2703)
    • ►  December (246)
    • ►  November (225)
    • ►  October (214)
    • ►  September (207)
    • ►  August (242)
    • ►  July (222)
    • ►  June (265)
    • ►  May (233)
    • ►  April (254)
    • ►  March (230)
    • ►  February (166)
    • ►  January (199)
  • ►  2019 (2026)
    • ►  December (174)
    • ►  November (180)
    • ►  October (195)
    • ►  September (221)
    • ►  August (161)
    • ►  July (134)
    • ►  June (172)
    • ►  May (128)
    • ►  April (149)
    • ►  March (143)
    • ►  February (177)
    • ►  January (192)
  • ►  2018 (1940)
    • ►  December (174)
    • ►  November (214)
    • ►  October (187)
    • ►  September (158)
    • ►  August (169)
    • ►  July (178)
    • ►  June (199)
    • ►  May (162)
    • ►  April (124)
    • ►  March (147)
    • ►  February (85)
    • ►  January (143)
  • ►  2017 (1677)
    • ►  December (150)
    • ►  November (191)
    • ►  October (177)
    • ►  September (155)
    • ►  August (187)
    • ►  July (129)
    • ►  June (96)
    • ►  May (130)
    • ►  April (156)
    • ►  March (140)
    • ►  February (78)
    • ►  January (88)
  • ►  2016 (1423)
    • ►  December (100)
    • ►  November (118)
    • ►  October (131)
    • ►  September (123)
    • ►  August (151)
    • ►  July (128)
    • ►  June (105)
    • ►  May (100)
    • ►  April (167)
    • ►  March (107)
    • ►  February (106)
    • ►  January (87)
  • ►  2015 (1258)
    • ►  December (111)
    • ►  November (113)
    • ►  October (88)
    • ►  September (89)
    • ►  August (85)
    • ►  July (121)
    • ►  June (99)
    • ►  May (122)
    • ►  April (113)
    • ►  March (133)
    • ►  February (147)
    • ►  January (37)
  • ►  2014 (28)
    • ►  December (16)
    • ►  November (11)
    • ►  October (1)
  • ►  2012 (4)
    • ►  May (2)
    • ►  April (2)
  • ►  2011 (12)
    • ►  April (12)
  • ►  2010 (141)
    • ►  August (4)
    • ►  July (4)
    • ►  June (18)
    • ►  May (28)
    • ►  April (24)
    • ►  March (17)
    • ►  February (10)
    • ►  January (36)
  • ►  2009 (183)
    • ►  December (6)
    • ►  November (6)
    • ►  October (5)
    • ►  September (1)
    • ►  August (5)
    • ►  July (29)
    • ►  June (24)
    • ►  May (20)
    • ►  April (21)
    • ►  March (17)
    • ►  February (21)
    • ►  January (28)
  • ►  2008 (358)
    • ►  December (31)
    • ►  November (54)
    • ►  October (56)
    • ►  September (54)
    • ►  August (31)
    • ►  July (27)
    • ►  June (39)
    • ►  May (30)
    • ►  April (30)
    • ►  March (6)

About Me

Anges
View my complete profile
title

Followers

Labels

  • Phiem (3421)
  • News (2983)
  • Chính Trị (2285)
  • Vũ Linh (973)
  • Loi Hay Y Dep (883)
  • Y Hoc/Suc Khoe (758)
  • Video (693)
  • Van Hoa (511)
  • Quoc han 30/04 (472)
  • Am thuc (347)
  • Du Lich (277)
  • nhac (277)
  • Kinh Te (242)
  • KHOA HỌC (223)
  • Van chuong (219)
  • Ton Giao (209)
  • Danh Nha^n (186)
  • người lính Việt Nam Cộng Hoà (163)
  • Diem sach (145)
  • thiên nhiên (142)
  • Nguyễn Thị Thanh Dương (135)
  • Dien Anh (133)
  • Tôn Nữ Hoàng Hoa (125)
  • HUONG XA (124)
  • Tho (120)
  • Kim Loan (109)
  • Vĩnh Tường (108)
  • ngôn ngữ (107)
  • Ðoàn Xuân Thu (105)
  • ĐỖ DUY NGỌC (104)
  • BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU (91)
  • Vuot Bien (83)
  • Nguyễn thị Cỏ May (78)
  • Phan (75)
  • Nguyễn Tường Tuấn (74)
  • phạm tín an ninh (74)
  • US election 2016 (71)
  • Tuấn Khanh (64)
  • Tiểu Tử (58)
  • Household tips (57)
  • Từ Thức (56)
  • Viet Gian (53)
  • Tưởng Năng Tiến (52)
  • Kiêm Ái (50)
  • Nguyễn Văn Tới (49)
  • nguoiviettudo (48)
  • LÃO MÓC (46)
  • Tràm Cà Mau (43)
  • Tucker Carlson (42)
  • REDACTED (40)
  • Trần Hùng (40)
  • Đỗ Văn Phúc (39)
  • NGUYỄN VĨNH LONG HỒ (38)
  • Nguyễn Thị Thêm (38)
  • BS Đỗ Hồng Ngọc (37)
  • Nguyễn Thanh Tú (37)
  • Văn Quang (37)
  • Người Phương Nam (35)
  • chinh tri (35)
  • Bùi Bảo Trúc (34)
  • Ký Thiệt (34)
  • Phương Hoa (33)
  • người lính già oregon (33)
  • Phạm Thành Châu (32)
  • Nguyễn Nhơn (31)
  • Vĩnh Chánh (31)
  • hoi hoa (31)
  • BS Hồ Ngọc Minh (30)
  • Huỳnh Quốc Bình (30)
  • Ngôn ngữ (29)
  • Mậu Thân 68 (28)
  • Nguyễn Diệu Anh Trinh (27)
  • Nguyễn Ngọc Tư (27)
  • Trương Ngọc Bảo Xuân (27)
  • Trần C. Trí (27)
  • Trần Mộng Lâm (27)
  • Liên Thành (26)
  • Minh Thúy (25)
  • Phan Văn Song (25)
  • Vi Anh (25)
  • Phùng Annie Kim (24)
  • Đoàn Thị (24)
  • Khôi An (23)
  • Lại Thị Mơ (23)
  • Minh Nguyệt Graves (21)
  • Nguyễn Tài Ngọc (21)
  • Song Lam (21)
  • ThaiNC (21)
  • Trần Ngọc Ánh (21)
  • Dong Trinh (20)
  • Huy Phương (20)
  • Trần Thanh (20)
  • Chú Chín Cali (19)
  • Năng Khiếu (19)
  • Trúc Giang MN (19)
  • Chan Nhu channel (18)
  • Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích (18)
  • Vũ Thế Thành (18)
  • ĐOÀN DỰ (18)
  • 250th birthday (17)
  • Kim Thanh (17)
  • Nguyên Nhung (17)
  • Nguyễn Trần Diệu Hương (17)
  • Ngô Minh Hằng (17)
  • TRƯƠNG MINH HÒA (17)
  • Thanh Mai (17)
  • Tố Nguyễn (17)
  • ĐINH LÂM THANH (17)
  • Lê Nguyễn Hằng (16)
  • TINH HOA (16)
  • Trà Lũ (16)
  • Trường Sơn Lê Xuân Nhị (16)
  • Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh (15)
  • Hoàng Nguyên (15)
  • Huyền Thoại Thịnh Hương (15)
  • Nguyễn Viết Tân (15)
  • Sao Nam Trần Ngọc Bình (15)
  • Võ Phú (15)
  • Hàn Giang Trần Lệ Tuyền (14)
  • Lê Duy San (14)
  • Nguyễn Trung Tây (14)
  • Pt. Nguyễn Mạnh San (14)
  • Thảo Lan (14)
  • Tran Maico (14)
  • Đào Văn Bình (14)
  • Captovan (13)
  • Hoàng Nga (13)
  • Mường Giang (13)
  • Nguyễn Ngọc Chính (13)
  • Nguyễn Đại Thuật (13)
  • Phạm Hồng Ân (13)
  • Hữu Nguyên (12)
  • NGUYỄN THIẾU NHẪN (12)
  • Pha Lê (12)
  • Phan. (12)
  • Thạch Đạt Lang (12)
  • Trần Văn Tích (12)
  • Vương Mộng Long (12)
  • Ba Ngo Dinh Nhu (11)
  • GS Trần Thủy Tiên (11)
  • Lê Xuân Mỹ (11)
  • Mai Thanh Truyết (11)
  • Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn (11)
  • Nguyễn Bích Thủy (11)
  • Phương Lan (11)
  • Phước An Thy (11)
  • Song Chi (11)
  • Stephen Gardner (11)
  • hoang hai thuy (11)
  • Đại-Dương (11)
  • Bùi Anh Trinh (10)
  • DUY NHÂN (10)
  • Hoàng Lan Chi (10)
  • Lão Ngoan Đồng (10)
  • Lê Đức Luận (10)
  • Nguyễn Mạnh Trinh (10)
  • Nguyễn Văn Sâm (10)
  • Ngọc Hạnh (10)
  • Như Ý Crystal H. Vo (10)
  • Trần Du Sinh (10)
  • Uyên Sồ (10)
  • Anne Khánh Vân (9)
  • Bảo Trân (9)
  • Chính Vũ (9)
  • France election (9)
  • Hoàng Đình Minh Long (9)
  • Lệ Hoa Wilson (9)
  • Nguyễn Khắp Nơi (9)
  • Nguyệt Mị (9)
  • Orchid Thanh Le (9)
  • Philato (9)
  • Trương Ngọc Anh (9)
  • Trần Trung Đạo (9)
  • Trần Văn Giang (9)
  • Bình Nguyên Lộc (8)
  • Khuất Đẩu (8)
  • Lê Như Đức (8)
  • Nguyễn Vĩnh Long (8)
  • Phan Xuân Sinh (8)
  • Phạm Hoàng Chương (8)
  • Phạm Thị Kim Dung (8)
  • Triều Phong (TPN) (8)
  • Trần Thiện Phi Hùng (8)
  • Trần Trung Chính (8)
  • Vô Danh (8)
  • Võ Hương An (8)
  • Y Châu (8)
  • videos (8)
  • Ông Bút (8)
  • Đỗ Dung (8)
  • Biển Cát (7)
  • Cao Đắc Vinh (7)
  • Chu Thập (7)
  • Hoàng Thanh (7)
  • Hồ Nguyễn (7)
  • Lê Ngọc Châu (7)
  • Mai Hồng Thu (7)
  • Mimosa Phương Vinh (7)
  • Phạm Gia Đại (7)
  • The Road of Hope - Archbishop Nguyen Van Thuan (7)
  • Trương Tấn Thành (7)
  • Đỗ Hồng Ngọc. (7)
  • Bs Nguyễn Thượng Chánh (6)
  • Bùi Bích Hà (6)
  • Bồ Tùng Ma (6)
  • Kha Lăng Đa (6)
  • Kim Chi (6)
  • Lei's real talk (6)
  • Lê Dinh (6)
  • Nguyễn Duy An (6)
  • Nguyễn Thị Thu Hương (6)
  • Ngô Đình Châu (6)
  • Ngô Đình Diệm (6)
  • PHƯƠNG - LAN (6)
  • PHẠM PHONG DINH (6)
  • Phạm Sơn Liêm (6)
  • Recipe (6)
  • SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG (6)
  • Trịnh Thanh Thủy (6)
  • hoàng long hải (6)
  • lLỗ trí Thâm (6)
  • Bút Sử (5)
  • Candice Owens (5)
  • Chu Kim Long (5)
  • Chúc Thanh (5)
  • Cánh Chuồn Chuồn (5)
  • Cỏ Biển (5)
  • NGÔ THẾ VINH (5)
  • Nguyễn Ngọc Loan (5)
  • Nguyễn Thị Hữu Duyên (5)
  • Nguyễn Văn Lục (5)
  • Trần Nhật Phong (5)
  • Trần Văn Bá (5)
  • ĐIỆP MỸ LINH (5)
  • Alexander Solzhenitsyn (4)
  • BỨC TƯỢNG "TIẾC THƯƠNG" (4)
  • Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất (4)
  • Long Tan (4)
  • Lê Phi Ô (4)
  • Michael Benge (4)
  • Nguyễn Cát Thịnh (4)
  • Nguyễn Kim Dục (4)
  • Nguyễn Kỳ Yên (4)
  • Nguyễn Tiến Hưng (4)
  • Nguyễn thị Bé Bảy (4)
  • Ngô Viết Trọng (4)
  • Phan Lạc Tiếp (4)
  • Phan Nhật Nam (4)
  • Phạm Quang Trình (4)
  • Project Veritas (4)
  • Song Nhi (4)
  • T. Thiên Thu (4)
  • Thiên Lý (4)
  • Thái Anh / QNA (4)
  • Thủy Như (4)
  • Tâm Thanh (4)
  • Tôn Nữ Thu Dung (4)
  • Tử vi (4)
  • Vũ Đoàn (4)
  • Xã Hội Học (4)
  • khoa hoc (4)
  • ĐÀO HIẾU (4)
  • BS Hoàng Thị Mỹ Lâm (3)
  • Bùi Hồng Thúy Anh (3)
  • Cao Xuân Thanh Ngọc (3)
  • China Unfltered (3)
  • Châu Hà (3)
  • Dư Thị Diễm Buồn (3)
  • Dương Nguyệt Ánh (3)
  • Dương Thiện Tâm (3)
  • Dương Thu Hương (3)
  • Epoch times (3)
  • Hai Quẹo (3)
  • Hoàng Chi Uyên (3)
  • Hải Triều (3)
  • HỒ ĐINH (3)
  • Hồ Thanh Nhã (3)
  • HỮU LOAN (3)
  • Iris Đinh (3)
  • JIMMY DORE (3)
  • Lâm Văn Bé (3)
  • Mai Ly (3)
  • Ngọc Ánh (3)
  • Nguyễn Cao Thăng (3)
  • Nguyễn Quang Lập. (3)
  • Nguyễn Thượng Chánh (3)
  • Nguyễn Trần Phương Dung (3)
  • Nguyễn Tường Thiết (3)
  • Nguyễn Ðạt Thịnh (3)
  • Ngô Văn Thu (3)
  • Phan Lạc Phúc (3)
  • Phi Nguyễn (3)
  • Phùng ngọc Sa (3)
  • Phùng văn Phụng (3)
  • Phương Toàn (3)
  • Phạm Lưu Vũ (3)
  • Phạm Đình Lân. (3)
  • Sơn Tùng (3)
  • Topa (3)
  • Trần Thế Đức (3)
  • Trọng Đạt (3)
  • Tình Hoài Hương (3)
  • Từ Sơn (3)
  • Vann Phan (3)
  • Võ Phu (3)
  • Võ Đại Tôn (3)
  • WYD2008 (3)
  • Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC (3)
  • Đinh Văn Tiến Hùng (3)
  • Đào Như (3)
  • Đào Nương (3)
  • Anthony Hưng Cao (2)
  • Be Ti (2)
  • Bùi Thanh Hiếu (2)
  • Bùi Đức Tính (2)
  • Bảo Giang (2)
  • Bửu Thức (2)
  • CHRIS PHAN (2)
  • Cao Đồng Phước (2)
  • China uncensored (2)
  • Christina N. Cao (2)
  • Chu Lynh (2)
  • Cánh cò (2)
  • Cẩm Thành Dân (2)
  • Dan Heaven (2)
  • Deborah Tường – Vân (2)
  • Diệu Anh (2)
  • GS Lê - Đại - Tường (2)
  • Gió Đồng Nộii (2)
  • HUY VĂN (2)
  • Hoàng Dược Thảo (2)
  • Hoàng Ngọc An (2)
  • Huyền Lam (2)
  • Huỳnh Mai Hoa (2)
  • Huỳnh Kim Quang (2)
  • Hương Lệ Oanh (2)
  • Hương Trần (2)
  • HỒ TRƯỜNG AN (2)
  • KIM ÂU (2)
  • Kho Quẹt (2)
  • Kông Li (2)
  • LHXung (2)
  • Little Saigon (2)
  • Lâm Lễ Trinh (2)
  • Lê Hiền (2)
  • Lê Nguyên Hằng (2)
  • Lê Quang Sinh (2)
  • Lữ Giangl (2)
  • Mai Thảo (2)
  • Mai Vĩnh Thăng (2)
  • Man in america (2)
  • Minh Karlsson (2)
  • Minh Tâm (2)
  • Mặc Bích (2)
  • NGUYỄN VĂN CHỨC (2)
  • Nguyễn Ngọc Hoa (2)
  • Nguyễn Ngọc Tu (2)
  • Nguyễn Cao Quyền (2)
  • Nguyễn Duy Nhiên (2)
  • Nguyễn Hữu Thời (2)
  • Nguyễn Khánh Vũ (2)
  • Nguyễn Ngọc Ngạn (2)
  • Nguyễn Sơ Đông (2)
  • Nguyễn Thế Thăng (2)
  • Nguyễn Thị Mão (2)
  • Nguyễn Thị Phi Phượng (2)
  • Nguyễn Thụy Long (2)
  • Nguyễn Trọng Dân (2)
  • Nguyễn Văn Thiệu (2)
  • Nguyễn Văn Ðông (2)
  • Ngô Kỷ (2)
  • Ngô Nhân Dụng (2)
  • Người Thương Binh VNCH (2)
  • Nhã Ca (2)
  • Nhất Chi Mai (2)
  • Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh (2)
  • OMG (2)
  • Phan Công Tôn (2)
  • Phương Lâm (2)
  • Phạm Đình Hưng (2)
  • QÚY THỂ (2)
  • Siêu Phong (2)
  • Song Châu (2)
  • Song Vũ (2)
  • Sáu Steve Brown (2)
  • TOPHER (2)
  • TRƯƠNG PHÚ THỨt (2)
  • TYKH (2)
  • Thang Chu (2)
  • Thuỷ-Triều (2)
  • Thành Lacey (2)
  • Thúy Messegee (2)
  • Thần Long (2)
  • Thụy Mân (2)
  • Thụy Nhã (2)
  • TiênSha- LêLuyến (2)
  • Trang Y Hạ (2)
  • Trương Sĩ Lương (2)
  • Trương Văn Út (2)
  • Trần Chí Phúc (2)
  • Trần Doãn Nho (2)
  • Trần Ngọc Huế (2)
  • Trần Ngọc Nguyên Vũ (2)
  • Trần Văn Hương (2)
  • Trần Xuân Thời (2)
  • Tê Hát I Cờ Rét (2)
  • Vi Vân (2)
  • Vietnamese Museum (2)
  • Việt Nhân (2)
  • Vuong Vu (2)
  • Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC (2)
  • Yukon (2)
  • letamanh (2)
  • Ái Khanh (2)
  • Đinh Công Bình (2)
  • Đào Anh Dũng (2)
  • Đặng Chí Hùng (2)
  • Đặng Hà Nội (2)
  • Đặng thiên Sơn (2)
  • Đỗ Xuân Tê (2)
  • Đức Tâm (2)
  • . (1)
  • ARTE TV (1)
  • America Uncovered (1)
  • Angie Lộc (1)
  • Anton Chekhov (1)
  • BS Hồ Hải (1)
  • Biển Đông (1)
  • Buu Nguyen (1)
  • BÙI LÝ HỒNG (1)
  • Bá Dương (1)
  • Bùi Giáng (1)
  • Bùi Thượng Phong (1)
  • Bùi Trọng Nghĩa (1)
  • Bảo Ngọc (1)
  • Bảo quốc Kiếm (1)
  • Bửu Uyển (1)
  • Cao Vị Khanh (1)
  • Carl Graves (1)
  • Chau Tran (1)
  • Chiêu Ấn (1)
  • Chu Việt (1)
  • Chung Mốc (1)
  • Cung Trầm Tưởng (1)
  • Cổ Tấn Tinh Châu (1)
  • DVM (1)
  • Deliver us from evil - by Thomas A Dooley (1)
  • Dinh Trần (1)
  • Diễm Vy (1)
  • Doãn Quốc Sỹ (1)
  • Dr Tien Manh Nguyen (1)
  • Dr. Nikonian (1)
  • Du Li (1)
  • Duy Trác (1)
  • Duyenky (1)
  • Duyên Anh (1)
  • Dân Việt (1)
  • Dương Hiếu Nghĩa (1)
  • Dạ Lý (1)
  • Elon Musk (1)
  • FinalWar (1)
  • Giang Phúc Đông Sơn (1)
  • Gman (1)
  • Greg Rushford (1)
  • HTD channel (1)
  • HUYNH NGOC NGA (1)
  • Helen Nguyễn (1)
  • Herb Meyer (1)
  • Hoa Hoàng Lan (1)
  • Hoàng Nguyên Linh (1)
  • Huy Lâm (1)
  • Huy Lực Bùi Tiên Khôi (1)
  • Huỳnh Anh Trần-Schroeder (1)
  • Huỳnh Bửu Sơn (1)
  • Huỳnh Kim Anh- (1)
  • Huỳnh Quốc Phú (1)
  • Huỳnh Thị Liên-Hoa (1)
  • Huỳnh Văn Của (1)
  • Hà Bắc (1)
  • Hà Mai Kim (1)
  • HƯƠNG THỦY (1)
  • Hải Vân (1)
  • Hồ Ngọc Cẩn (1)
  • Hồ Thị Đậm (1)
  • Hồ Đình Vũ. (1)
  • Hồ Đắc Túc (1)
  • Hứa vạng Thọ (1)
  • J.B Nguyễn Hữu Vinh (1)
  • Jenny Đỗ (1)
  • Joyce Anne Nguyen (1)
  • Khánh Doãn (1)
  • Khổng Thị Thanh Hương (1)
  • Kiều Mỹ Duyên (1)
  • Ls Đinh Thạch Bích (1)
  • Luu Vu (1)
  • Luật pháp (1)
  • LÊ QUỐC (1)
  • LÝ THỤY Ý (1)
  • Lâm Bình Duy Nhiên (1)
  • Lâm Chương (1)
  • Lâm Kim Loan (1)
  • Lâm Túy Mĩ (1)
  • Lê Bá Dũng (1)
  • Lê Hoàng (1)
  • Lê Hải Dương (1)
  • Lê Minh Khôi (1)
  • Lê Ngọc Hồ (1)
  • Lê Ngọc Anh (1)
  • Lê Phi Điểu (1)
  • Lê Phú Hải (1)
  • Lê Phạm Lê (1)
  • Lê Quốc Trinh (1)
  • Lê Sỹ Minh Tùng (1)
  • Lê Văn Lân (1)
  • Lê Văn Ân (1)
  • Lê phục Bình (1)
  • Lê thị Trinh (1)
  • Lưu Á Châu (1)
  • Lữ Anh Thư (1)
  • Lữ Giang (1)
  • Lữ Tuấn (1)
  • Mai Văn Tấn (1)
  • Minh Nguyễn (1)
  • Minh Tạo (1)
  • Mũ Xanh Hoa Biển (1)
  • Mạnh Nguyễn (1)
  • Mỹ Châu Phạm (1)
  • Mỹ Đức Phạm Nguyễn (1)
  • NGUYÊN SANG (1)
  • NGUYỄN ĐỨC NAM (1)
  • Nam Dao (1)
  • Nghiêm Hữu Hùng (1)
  • Nguyen Chi Thien (1)
  • Nguyên Chân (1)
  • Nguyên Giang (1)
  • Nguyên Lương (1)
  • Nguyên Phương (1)
  • Nguyên Đại (1)
  • Nguyễn Thị Thảo An (1)
  • Nguyễn Thị Từ Huy (1)
  • Nguyễn Anh Nguyên (1)
  • Nguyễn Duy Chinh (1)
  • Nguyễn Duy Cung (1)
  • Nguyễn Hoàng Phố (1)
  • Nguyễn Hữu (1)
  • Nguyễn Hữu Hiệu (1)
  • Nguyễn Khắc Anh Tâm (1)
  • Nguyễn Minh Phúc (1)
  • Nguyễn Mỹ Linh (1)
  • Nguyễn Ngọc Huy (1)
  • Nguyễn Phục Hưng (1)
  • Nguyễn Quốc Đống (1)
  • Nguyễn Qúy Đại (1)
  • Nguyễn Sỹ Thùy Ngân (1)
  • Nguyễn Thu Hương (1)
  • Nguyễn Thạch-Hãn (1)
  • Nguyễn Thị Hương Minh (1)
  • Nguyễn Thị Yến (1)
  • Nguyễn Thừa Bình (1)
  • Nguyễn Trọng Kha (1)
  • Nguyễn Việt Nữ (1)
  • Nguyễn Văn (1)
  • Nguyễn Văn Hoàng 333 (1)
  • Nguyễn Văn Học (1)
  • Nguyễn quang Thành (1)
  • Nguyễn thị Nhung (1)
  • Nguyễn Ðồng Danh (1)
  • Nguyễn Ý Thuần (1)
  • Nguyễn Đình Phùng (1)
  • Nguyễn Đức Lập (1)
  • Nguyễn Đức Trọng (1)
  • Nguyễn-Đại-Thuật (1)
  • Phan Cao Tri (1)
  • Phan Hạnh (1)
  • Phan Hữu Chí (1)
  • Phan Nam (1)
  • Phan Quốc Bảo (1)
  • Phan Văn Hưng (1)
  • Phạm Liễn (1)
  • Phi Trang (1)
  • Phùng Nhân (1)
  • Phạm Bá Hoa (1)
  • Phạm Duyên (1)
  • Phạm Lễ. (1)
  • Phạm Ngọc Lũy (1)
  • Phạm Sanh (1)
  • Phạm Thái (1)
  • Phạm Trần Hoàng Việt (1)
  • Phạm Văn Lưu (1)
  • Phạm quốc Thuần (1)
  • Phạm Đào Nguyên (1)
  • Phạm Đình Lân (1)
  • Promethean updates (1)
  • Quang Danh (1)
  • Quốc Việt (1)
  • Quỳnh Dao (1)
  • Quỳnh Thi (1)
  • Saigon Xua (1)
  • San San (1)
  • Sean Bảo (1)
  • Shawn Ryan (1)
  • Steven Dieu (1)
  • Susan Nguyễn (1)
  • TT Diệu Tâm (1)
  • TT Ngô Đình Diệm: (1)
  • Tam Giang Hoàng Đình Báu (1)
  • Tạ Quang Khôi (1)
  • Thanh Thương Hoàng (1)
  • Thái Ngọc (1)
  • Thu Hiền (1)
  • Thu Lê (1)
  • Thái Quốc Mưu (1)
  • Thùy Giang (1)
  • Thủy Nguyễn (1)
  • Tiến Sĩ Trần An Bài (1)
  • Tiểu Đĩnh (1)
  • Tom Tom (1)
  • Trung Đạo (1)
  • Trà Đóa (1)
  • Trần Hữu Thuần (1)
  • Trương Thế (1)
  • Trương Thị Thu Huyền (1)
  • Trần Mai cô (1)
  • Trần Nam (1)
  • Trần Nguyên Thắng (1)
  • Trần Ngọc Quang (1)
  • Trần Nhật Kim (1)
  • Trần Thanh Minh (1)
  • Trần Thân Yên (1)
  • Trần Thị Diệu Tâm (1)
  • Trần Thị Nhật Hưng (1)
  • Trần Văn Lương (1)
  • Trần Văn Ngà (1)
  • Trần Vũ (1)
  • Trần Đình Phước (1)
  • Trần Đình Đức (1)
  • Trần Đông Thành (1)
  • Trần Đức Hân (1)
  • Trần Đức Lợi (1)
  • Trịnh Vĩnh Bình! (1)
  • Tuệ Chương Hòang Long Hải (1)
  • Tín Thất Tôn (1)
  • Tôn Thất Phú Sĩ (1)
  • Tôn Thất Soạn (1)
  • Tôn-Thất Long (1)
  • Tôn-thất Sơn (1)
  • Túy Trước (1)
  • Tạ Cự Hải (1)
  • Tạ Phong Tần (1)
  • Tạo Ân (1)
  • Tịnh Tâm (1)
  • UNESCO (1)
  • Uyên Phương Minh Nguyệt (1)
  • Việt Hải (1)
  • Việt Thường (1)
  • Võ Như Y (1)
  • Võ Phiến (1)
  • Võ Quách Thị Tường Vi (1)
  • Võ Quân (1)
  • Võ Thị Hảo (1)
  • Võ Văn Ái (1)
  • Văn Ni (1)
  • Vĩnh Phúc (1)
  • Vũ Công Hiển (1)
  • Vũ Ngọc Văn (1)
  • Vũ thành An (1)
  • Vũ Đình Trường (1)
  • Warning to the west (1)
  • Wayne Nguyen (1)
  • XUÂN ĐỖ (1)
  • Xuân Hàn (1)
  • Xuân Vũ (1)
  • Y Hạ (1)
  • Y Vân (1)
  • Yên Hà (1)
  • Yên Sơn (1)
  • Z28 (1)
  • phong (1)
  • technology (1)
  • v (1)
  • vhp.Hạ Vũ (1)
  • Ðặng quang Chính (1)
  • Đinh Nguyên Thi (1)
  • Đằng Phương (1)
  • ĐẶNG VĂN NHÂM (1)
  • Đặng Chí Bình (1)
  • Đặng Văn Quang (1)
  • Đỉnh Sóng (1)
  • Đỗ Hồng Ngọc (1)
  • Đỗ Như Quyên (1)
  • Đỗ Tiến Bình Minh (1)
  • Đỗ Tiến Đức (1)
  • Đỗ Trường (1)
  • Đức H Vũ (1)