Monday, August 31, 2026

*CABRAMATTA THỦ PHỦ CỦA NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN

Sau năm 1975, hàng chục ngàn người Việt tị nạn đã được nhận vào Úc - và họ đã biến Cabramatta trở thành một trong những nơi tập trung quan trọng - vì khu vực này (thời đó) có nhà ở tương đối rẻ, việc làm nhiều, và hệ thống giao thông thuận tiện.

Có lẽ sự hỉnh thành ấy đến từ việc quanh vùng có nhiều khu (hostel) tạm trú cho người mới đến, rồi từ đó tỏa ra và lôi kéo thêm nhiều gia đình - ở những nơi khác cũng chuyển về Cabramatta để sống gần nhau trong tình đồng hương.

Đi dọc các con phố trung tâm Cabramatta, đặc biệt quanh John Street và Freedom Plaza, người Việt và du khách có thể dễ dàng bắt gặp:

-Phở, bún bò Huế, bánh mì
-Cơm tấm, hủ tiếu, cháo lòng
-Các tiệm chè, cà phê
-Chợ và cửa hàng bán rau thơm, gia vị Việt Nam
-Các dịch vụ: Bác sĩ, Nha sĩ, Luật sư, Khai thuế...
-Tiệm thuốc Bắc / Đông y
-Cửa hàng thực phẩm Việt
-Báo chí, sách và các sản phẩm văn hóa Việt

Fairfield City Council cho biết, chỉ riêng Cabramatta đã có hơn 100 quán ăn và nhà hàng, bên cạnh các cửa hàng thực phẩm, quần áo, nữ trang và thuốc men. Một thống kê của HĐTP cũng cho thấy nếu Cộng đồng Cabramatta có 100 người, thì khoảng 31 người đã được sinh tại Việt Nam và 39 người nói tiếng Việt tại nhà.

Ở quy mô toàn thành phố (Fairfield City), tiếng Việt cũng là ngôn ngữ không phải tiếng Anh được sử dụng phổ biến nhất: dữ liệu Census (điều tra dân số) năm 2021 ghi nhận khoảng 43.936 người sử dụng tiếng Việt tại nhà, tương đương 21,1% dân số Fairfield City.

Một sự kiện nổi tiếng là Cabramatta Moon Festival - Lễ Tết Trung Thu, thu hút hơn 50.000 người mỗi năm. Đây không chỉ là lễ hội của người Việt mà còn là sự kiện đa văn hóa lớn của toàn Sydney.

Có lẽ điều đặc biệt nhất của Cabramatta đối với thế hệ người Việt tị nạn và đoàn tụ gia đình đầu tiên là:

Đến Cabramatta có thể nói tiếng Việt, ăn món Việt, nghe nhạc Việt, gặp người Việt và nhìn thấy những điều gợi nhớ về Sài Gòn.

Đối với thế hệ người Việt tị nạn, Cabramatta từng là nơi bắt đầu lại cuộc đời ở một đất nước mới. Đối với thế hệ con cháu, nó trở thành một phần của lịch sử gia đình và lịch sử của Cộng đồng người Việt tại Úc.

Nhiều người Việt (cũ và mới) ngày nay đều coi vùng Cabramatta là một khu Little Saigon. Nơi họ sẽ cảm thấy bớt nỗi nhớ nhà, và cũng là nơi có thể tìm lại những gì đã mất.

Tuy Nguyen
Sửa xe Tesla

Nghe thiên hạ chê Tesla dữ lắm các bạn. Mà chắc nhiều người không biết sở hữu Tesla nó “khổ” tới cỡ nào đâu. Nhiều người cản lắm rồi mà không tin.

Tui chạy con Cybertruck này hơn 6 tháng, hơn 5.000 miles rồi. Cuối cùng cái ngày mà mọi người cảnh báo tui cũng đã tới.

Xe bắt đầu có vấn đề các bạn ạ. Mà không phải 1, tới tận 2 vấn đề luôn. 
Vấn đề thứ 1:
Tuần rồi xe báo hết nước rửa kính.
Trời đất ơi! Mua xe hơn 6 tháng mà bây giờ tui phải tự mở nắp ra châm nước rửa kính lần đầu tiên.
Elon làm ăn kiểu gì kỳ vậy Elon? 

Vấn đề thứ 2:
Cái PCS2 bị hư. Đại khái đây là cục chuyển điện A/C sang D/C để sạc xe ở nhà.

Và từ đây, hành trình “gian nan” đi sửa Tesla của tui bắt đầu. 

• Đầu tiên là màn đặt lịch cực kỳ phức tạp:
Tui phải mở app Tesla lên, báo xe bị lỗi. Nó hỏi tui có muốn đặt lịch sửa không.
Khổ ghê!
Tui còn phải tự tay bấm chọn ngày tuần sau nữa chứ. 

• Chưa hết, Tesla còn chơi trò “mua chuộc” tui:
App báo từ giờ cho tới ngày sửa xe, tui được sạc Supercharger miễn phí. Xe không sạc ở nhà nhưng vẫn ra ngoài sạc và chạy bình thường.
Ủa???
Xe hư mà cho sạc miễn phí có mấy ngày thôi hả?
Sao không cho miễn phí luôn cả đời đi Elon?
Tỷ phú gì mà keo thấy sợ. 

• Tới ngày mang xe đi sửa:
Tui vừa tới Tesla phải đứng chờ tận… 1 phút.
Một phút cuộc đời tui đó các bạn!
Xong có ông nhân viên đi ra:
“Good morning, are you Mr. Luan?”
Tui nói: “Yes.”
Ổng làm thủ tục nhận xe của tui mất thêm gần… 3 phút nữa.
Đã vậy chẳng thèm dụ tui mua thêm cái gì, cũng chẳng upsell thêm dịch vụ nào.
Làm ăn gì kỳ cục. 

• Rồi tới màn hành xác tiếp theo:
Ổng bắt tui đi bộ theo ổng tới chiếc xe cho mượn.
Đi bộ tận… 12 giây.
Mệt muốn xỉu. 
Tesla đưa tui một chiếc Model Y mới tinh để chạy trong lúc chờ sửa xe.
Nhưng chưa xong đâu.
Tui còn phải lấy điện thoại ra bấm tận 2 cái để pair chìa khóa với chiếc Model Y.
Công nghệ gì mà hành người ta dữ vậy trời. 
Tui leo lên xe, mất thêm gần 1 phút nữa mới chạy ra khỏi Tesla được.

• Sau đó là khoảng thời gian chờ đợi kinh hoàng:
Tận 2 ngày sau…
Đúng rồi đó.
HAI NGÀY DÀI ĐẰNG ĐẴNG.
Tesla mới nhắn:
“Xe anh sửa xong rồi.”
Chưa hết!
Tui còn phải bấm iPhone tận 3 lần để xác nhận mấy cái thông báo cảm ơn khách hàng của họ.
Thiệt sự quá sức chịu đựng. 

• Nhưng cái đoạn lấy xe về mới đáng giận:
Tui lái Model Y quay lại Tesla.
Và lần này…
KHÔNG CÓ AI RA ĐÓN TUI HẾT!
WTF??? 
Tui phải tự đậu chiếc Model Y vào hàng.
Xong tự đi bộ tới chiếc Cybertruck của tui.
Mà xa lắm nha các bạn…
Tận 9–10 bước chân.
Tui tự mở cửa xe.
Leo lên.
Và…
TỰ LÁI XE VỀ.
Không một ai giữ tui lại.
Không ai bắt ký thêm giấy tờ.
Không ai bắt ngồi chờ.
Cũng chẳng ai dụ mua thêm cái gì.
Thiệt tình…
Sở hữu Tesla đúng là một “cơn ác mộng.” 
Mấy ông tỷ phú tham lam kiểu này phải bị ngăn chặn ngay các bạn ạ.
Chứ để Elon tiếp tục làm ăn kiểu này…
khách hàng sướng riết rồi hư hết. 

Luan Nguyen

NHÀ CÓ VONG THÌ NÊN LÀM GÌ?

Chẳng cần sợ hãi gì và chẳng cần làm gì với tâm sợ hãi. Bởi nếu nhân duyên đã khiến mình phải ở căn nhà ấy, bước vào vùng đất ấy, gặp một chúng sinh khuất mặt nào đó, thì cuộc gặp này hẳn không đứng ngoài nhân quả.

Trong cõi hữu hình, người ta gặp nhau bằng hình hài, lời nói và tên tuổi. Trong cõi vô hình, chúng sinh gặp nhau bằng nghiệp cảm. Không cần nhìn thấy nhau, nhưng duyên đã chạm thì vẫn có thể cảm; không cần nhớ từng quen nhau ở đâu, nhưng một món nợ, một lời nguyện, một niềm thương hay một chấp niệm chưa tan vẫn có thể đưa đôi bên trở lại cùng một nơi. Là như vầy, phải hiểu thấu triệt như vầy trước khi trấn hay chuyển gì

Người đời quen gọi là “vong”, nhưng chữ ấy chỉ là một cách gọi tạm. Theo Đạo, không có một linh hồn bất biến đứng mãi ngoài sinh tử luân hồi. Chỉ có một dòng nghiệp thức tiếp nối, mang theo những gì chưa buông, chưa trả, chưa hiểu và chưa thể rời. Có chúng sinh rời thân rất nhanh, thuận theo nghiệp mà thọ sinh. Có chúng sinh vì ra đi đột ngột, vì quyến luyến người thân, vì chấp vào nhà cửa, tài sản, mồ mả hoặc vì chưa nhận ra mình đã mất thân nên thần thức vẫn quanh quẩn nơi cũ.

Căn nhà đối với người sống là nơi cư trú. Nhưng đối với một chúng sinh còn chấp niệm, đó có thể là cả thế giới cuối cùng mà họ biết. Người sống có giấy tờ để chứng minh quyền sở hữu; người khuất chỉ còn ký ức để giữ lấy nơi mình từng thuộc về. Hai bên cùng nhận đó là “nhà của mình”, nhưng một bên dựa vào pháp lý, một bên dựa vào chấp niệm. Từ đó mới sinh ra va chạm giữa hai cõi.

Tuy nhiên, không phải ai bước vào căn nhà ấy cũng gặp. Có người ở mười năm chẳng thấy gì; có người chỉ ngủ một đêm đã mộng mị, cảm lạnh, nghe gọi hoặc nhìn thấy những bóng hình không rõ. Đó chưa chắc vì người ấy “yếu vía” hay " mạnh vía" gì đâu. Nhiều khi chính vì nghiệp cảm tương thông. Cùng một tiếng chuông nhưng chỉ vật có cùng độ cảm mới ngân theo. Giữa người sống và người khuất cũng vậy: có thể là duyên cũ, có thể là cùng một nỗi đau, cũng có thể chỉ vì tâm người sống đang mở đúng vào chỗ mà người khuất có thể nương tới.

Bởi vậy, khi nghe nói nhà có vong, người hiểu Đạo không vội hỏi: Vong ấy dữ hay lành? mà phải hỏi: “Duyên gì khiến hai bên gặp nhau?”. Lập 1 quẻ Kinh Dịch thấy được điều đấy thì thuận duyên mà ứng xử

Nếu là thiện duyên, họ có thể chỉ muốn báo mộng, nhờ một nén hương hoặc mong người sống tạo phước hồi hướng. Nếu là ái duyên, họ có thể quyến luyến một người trong nhà, muốn được gần, được nhớ, được thờ phụng. Nếu là oán duyên, sự hiện diện ấy có thể làm con người bất an, gia đạo bất hòa, liên tục sinh những giấc mộng nặng nề. Nhưng dù thuộc duyên nào, nguyên tắc vẫn là: có từ bi nhưng phải có ranh giới; có kính trọng nhưng không được mời gọi; có hồi hướng nhưng không được nuôi dưỡng sự lệ thuộc giữa âm và dương.

Âm có đường của âm, dương có phận của dương. Người khuất nếu còn lưu luyến cõi sống thì điều cần nhất không phải là được giữ lại, mà là được nhắc cho nhớ rằng thân cũ đã bỏ, nhà cũ không còn, người cũ cũng phải tiếp tục sống. Thương một chúng sinh không phải giữ họ quanh quẩn bên mình. Thương là giúp họ buông chấp để đi tiếp. Vì vậy, đừng tò mò hỏi tên tuổi, nguyên nhân họ vong thân hay cố thiết lập sự giao tiếp. Càng gọi, họ càng có chỗ để bám và càng sợ, tâm mình càng trở thành cánh cửa chiêu cảm họ; càng cầu xin họ ban tài, giữ của, báo mộng, sự dây dưa giữa hai cõi càng sâu mà sinh ra nghiệp lực. Một mối duyên âm ban đầu có thể chỉ là thoáng qua, nhưng chính lòng tham và sự hiếu kỳ của người sống lại biến nó thành một sự ràng buộc.

Cũng đừng vội dùng bùa chú để trấn áp. Đạo lực chân chính không nằm ở tiếng quát lớn, pháp khí nhiều hay đàn lễ đắt tiền, và nên nhớ nếu dùng sân hận đối trị sân hận, chỉ là lấy nghiệp mới đè lên nghiệp cũ. Có thể nhất thời yên tiếng, nhưng gốc chấp chưa tan, oan kết chưa hóa. Người thầy chân chính không lấy sự sợ hãi của gia chủ để chứng minh quyền năng của mình, càng không biến một chúng sinh khốn khổ thành “tà ma” để đánh đuổi.

Việc cần làm là trang nghiêm lại không gian, lập tâm cáo bạch và tạo một phần thiện nghiệp để hồi hướng. Có thể thắp hương, tụng kinh, niệm Phật hoặc cầu nguyện theo pháp môn mình tin tưởng, rồi thành tâm nói rõ:

“Nay chúng tôi có nhân duyên cư trú tại nơi này. Nếu nơi đây còn có chúng sinh khuất mặt, dù có duyên hay có oán, xin đừng làm kinh động lẫn nhau. Chúng tôi không xua đuổi, cũng không mời gọi lưu lại. Xin nương nhờ công đức thiện lành mà hồi hướng chư vị buông những điều còn chấp, hóa những điều còn oán, theo nghiệp lành mà đi về nơi tương ứng.”

Hồi hướng không có nghĩa người sống có thể xóa nghiệp thay cho người chết. Nghiệp của ai, người ấy vẫn phải nhận. Nhưng một việc thiện được làm bằng tâm chân thành có thể trở thành trợ duyên, giống như người đang đi trong đêm không thể nhờ ai bước hộ, nhưng vẫn có thể nhờ một ngọn đèn mà nhận ra lối đi.

Nếu giữa đôi bên thật sự có oan nghiệp, cũng không cần hỏi đời nào, kiếp nào. Biết quá nhiều chuyện cũ chưa chắc đã giải được nghiệp cũ. Chỉ cần ngay trong hiện tại, mình không gieo thêm sợ hãi, sân hận và tham cầu. Nhân cũ gặp duyên mới mà không được tiếp sức thì quả cũng dần suy. Oán đến mà ta không trả bằng oán, ấy là chỗ một vòng nhân quả bắt đầu khép lại.

Cho nên, nhà có vong chưa chắc là tai họa. Đôi khi đó chỉ là một cuộc gặp giữa hai chúng sinh: một người còn thân nhưng chưa hiểu hết sự sống, một người đã mất thân nhưng chưa hiểu hết sự chết. Người sống nhờ cuộc gặp ấy mà biết kính sợ nhân quả; người khuất nhờ lòng từ của người sống mà có thêm một duyên để buông.

Có duyên thì gặp, có nợ thì trả, có oán thì hóa giải và có thương cũng phải biết buông. Không trấn áp bằng sân, không mời gọi bằng tham, không chạy theo bằng sợ. Chỉ lấy giới hạnh làm ranh giới, lấy định lực giữ tâm, lấy tuệ tri soi đường và lấy lòng từ hồi hướng.

Ấy mới là cách người có Đạo ứng xử với cõi vô hình.

Thưa anh chị vầy
Lành thay

BÁC SĨ HUYỆN (Ký ức y tế 1985)

(Bài viết năm 2004 đăng trong đặc san Hội Ngộ của khóa Y Sài Gòn 1974-1980)

Tôi về bệnh viện huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang năm 1985. Bệnh viện đóng tại thị trấn Chi Lăng, dưới chân núi Cấm. Đường từ Châu Đốc vào Chi Lăng độ 30 cây số, nhưng xe đò chạy khoảng gần 3 tiếng đồng hồ mới tới nơi! Xe nào xe nấy chất hàng chật kín trên mui, chiếm cả ghế hành khách, còn khách thì đu bay cửa trước cửa sau, may là xe chạy ì ạch nên không ai rớt xuống đường.

Xe ngừng nửa đường ở thị trấn Nhà Bàng, là trung tâm hành chánh cũ của huyện, trước kia một khu thương mại sầm uất vì có chợ trời biên giói cận với Cam bốt. Nhưng trận giặc Việt nam - Kampuchia 1980 tàn phá Nhà Bàng khá nhiều. Do vậy, huyện ủy và ủy ban Nhân dân dời vào Chi Lăng, cận một trung tâm huấn luyện cũ của quân đội Việt Nam cộng hoà. Từ Nhà Bàng đi Chi Lăng phải băng qua núi Két, nơi cảnh vật xinh tươi đột biến thành vùng đất khô cằn.

Từ bến xe Chi Lăng, tôi tìm ra ban Y tế-Thể dục Thể thao không khó vì thị trấn nhỏ xíu như chiếc khăn hỉ mũi. Đó là một căn phố mái tôn, vách cây, phủ đầy bụi. Bên hông là một khoảng đất trống với một cái bàn dài người ngồi lố nhố. Tôi vào trình diện. Trưởng ban Y tế đi họp trên tỉnh, chỉ có phó ban phụ trách Thể dục Thể thao đang ngồi ở bàn. 

Lúc đầu tôi tưởng ban đang làm việc, nhưng không, trên bàn thay vì giấy tờ công văn, là một dĩa đậu phọng rang muối, mấy cái ly, và một chai rượu đế to tướng! Anh Tập Phó ban xem giấy tờ tôi xong, liền rót 2 ly rượu đưa cho tôi, một ly gọi là chào sân và một ly chào bàn. Anh dặn uống xong mỗi ly phải lật úp ly xuống, cứ rớt một giọt rượu thì phải uống phạt thêm một ly. Tôi có uống bia và whisky trước đây, nhưng đó là lần đầu tiên tôi uống rượu đế. Thôi thì cũng phải dốc cho cạn. Sau đó tới màn giới thiệu từng người, mối người mừng tôi một ly. Rượu cay xè, không thấy ngon, nhưng chém chết không say cũng xĩnh. Rượu đế ở Tịnh Biên cất bằng khoai mì nên đục. Muốn trong, người ta bỏ vài giọt thuốc rầy, uống vào nghe thoang thoảng. Sau nầy khi đạt đến “trình độ”, tôi chỉ cần khè hơi, nếu ngửi thấy mùi formol là ngưng uống, nếu uống tiếp là cho “chó ăn chè” ngay.

Sau thủ tục đầu tiên, khi tôi đã hơi ngà, anh Tập cho tôi nằm nghĩ trên môt sạp chiếu, đợi anh trưởng ban về. Chiều tối hôm ấy, anh bác sĩ Chính, trưởng ban Y tế, đi họp về. Anh gọi tôi dậy, cơm nước, rồi dẫn ra quán uống nước sôi chanh đường cho giã rượu. Anh thuộc lớp chuyên tu trường Sài gòn, dễ thương, không thích nói chuyện chính trị, nhưng cũng thích rượu chè như ai. Anh là trưởng ban Y tế kiêm giám đốc bệnh viện huyện. Còn tôi là bác sĩ thứ nhì của huyện, được phong chức “phó giám đốc” bệnh viện. Đêm ấy tôi ngủ tại ban để sáng hôm sau làm việc.

Sáng hôm sau anh Chính dẫn tôi đi trình diện huyện ủy, ủy ban rồi xuống bệnh viện. Thật ra bệnh viện chỉ cách ban Y tế độ trăm thước, đi bộ chưa đầy 5 phút. Đó là một bệnh viện nghèo nhất trong tỉnh An Giang. Bệnh viện lấy một trường tiểu học cũ và “tịch thâu” vài nhà dân ở chung quanh để làm phòng hành chánh, kho thuốc và chổ nhân viên ăn ở. Bệnh viện không có hàng rào, trâu bò chó ngựa qua lại đều được.

Phòng bệnh thì giống phòng học, chỉ khác là không có bàn học mà là giường bệnh. Giường bằng sườn sắt, vạt cây, lót chiếu, nằm xuống là bị rệp cắn ngay. Rệp là một “đại nạn” khó lòng tảo thanh trong mấy năm tôi ở bệnh viện. Thôi thì thay chiếu mới, đem giường ra phơi nắng, tạt nước sôi, xịt thuốc rầy... đủ thứ rồi mèo lại hoàn mèo, vì bệnh nhân là nguồn cung cấp rệp. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong bệnh viện bị rệp cắn sưng mình trong khi các nhân viên ngủ tỉnh queo, tôi đoán chắc vì mình là ma mới nên chúng tấn công quá sức. Về sau mấy y sĩ trong bệnh viện mách kế: đặt giường xa vách, giường không chạm vào đâu cả, trừ 4 chân giường chạm đất. Trên 4 chân giường đó, thường xuyên chấm thuốc rầy đậm đặc để triệt tiêu đường tấn công của rệp. Quả hiệu nghiệm!

*******
Huyện Tịnh Biên lúc ấy có khoảng 70 ngàn dân và thị trấn Chi Lăng có khoảng 5000 dân. Thị trấn đất cát, nhà nhà phải xây hồ chứa nước mưa vì mùa khô các giếng nước đều cạn. Mùa khô nước hiếm, sáng rửa mặt bằng một ly “xây chừng” mà thôi. Thức dậy nuốt nước miếng nghe cát trong cổ họng. Muốn tắm phải lại nhà dân có bồn nước lớn, hoặc lái xe cứu thương ra Châu Đốc tắm. Mùa mưa mát mẽ khí hậu dễ chịu, nhưng sốt rét dữ hơn. Ổ sốt rét nằm trong núi Cấm. Thị trấn không có điện công cộng, không có nước máy, hệ thống cống thô sơ lộ trên mặt đất. Ngoài huyện ủy, ủy ban, cửa hàng ăn uống và một vài nhà dân có máy điện riêng, hầu hết dùng bình ắc quy để thấp đèn. Bệnh viện có máy phát điện nhưng hư lên hư xuống, ủy ban không chịu sửa, không mua máy mới, nên phải thắp đèn dầu. Trong 3 năm tôi ở đó, tổng cộng số đêm có điện khoảng chưa đầy 6 tháng.

Bệnh viện huyện Tịnh Biên giấy tờ chính thức là 50 giường bệnh, nhưng số giường thực thụ chưa tới 20, chủ yếu là phòng cấp cứu và Phòng sanh- Kế hoạch gia đình. Nhân viên có hơn 50, hơn 30 mạng là y sĩ. Y tá có 4, 1 tài xế, 1 hộ lý. số còn lại là dược tá, kế toán, hành chánh. Thiệt giống quân đội của các nước Nam Mỹ thời xưa, số tá nhiều hơn số lính! 

Anh Chính, mang tiếng giám đốc bệnh viện, nhưng lúc nào cũng trên phòng Y tế, giao tất cả chuyện điều trị cho tôi. Bệnh viện có một đảng viên duy nhất là y sĩ sản, làm phó giám đốc chính trị. Chị Giỏi là cách mạng gốc nhưng không cự nổi đám con ông cháu cha trong bệnh viện. Vì trong đám y sĩ, có gần mươi mạng là con, dâu, rể của bí thư, huyện ủy, chủ tịch, ủy ban... Đám y sĩ trẻ nầy tốt nghiệp trường trung học y tế Long Xuyên, được các SBCK khoá 1, 2, 3 dạy dỗ nên rất lễ phép, gọi tôi bằng thầy. Còn đám y sĩ lớn và nhân viên khác thi gọi tôi là “bác” (chữ tắt của bác sĩ). Còn đám thiệt thân thi gọi tôi là anh. Tất cả y sĩ sau 2 năm làm việc đều mong được đề cử đi học bác sĩ chuyên tu, lẽ dĩ nhiên đám con cháu cán bộ, cán cuốc được ưu thế hơn.

Tệ nạn lớn nhất trong huyện và tỉnh là nạn uống rượu. Có thể nói ngày nào tôi ở Tịnh Biên đều có nhậu. Thôi thì ban Y tế (sau đổi tên thành phòng Y tế), công an, ngân hàng, phòng giáo dục, phòng tài chánh, đài phát thanh, trường quân chính, rồi đám giỗ, đám ma, đám cưới v.v... Mà không nhậu không được, ai không nhậu sẽ bị tẩy chay, không sao liên hệ tốt với ban, ngành, đoàn thể được. Tốt nhất là vào bàn nhậu rai rai rồi giả bộ say, rồi được tha về. 

Tệ nạn nhậu phát triển đến nỗi trên tỉnh phải ra thông báo cấm cán bộ uống rượu trên 18 độ. Mọi người kháo nhau uống 1 “độ” là say đủ chết rồi, cần gì uống tới 18 “độ”! Mấy năm ở Tịnh Biên, tôi từ một người không biết rượu đế là gì thành một tay uống cũng kha khá. Nhân một dịp ra bệnh viện Châu đốc, tôi cùng 3 người bạn hoc là BS Hoa Nghĩa Hiệp, Chung Quốc Cường, Nguyễn Việt Dũng cưa một chai Johnny Người-Đi-Bộ nhãn đỏ, rót chia đều mỗi đứa một phần tư. Chắc là rượu giả, đêm ấy 3 anh kia, người thì ói mửa, người thì nhức đầu, còn một anh thì đi re re suốt đêm. Phần tôi thì ngủ tỉnh queo tới sáng!

Công việc ở bệnh viện nặng về phần quản lý hơn là chuyên môn. Các y sĩ ở phòng khám và phòng cấp cứu nhận bệnh, có gì thắc mắc thì chạy đi hỏi tôi. Bệnh nặng thì cho xe chở ra Châu Đốc, còn bệnh nhẹ thi cho về nhà nằm. Ít ai chịu ở bệnh phòng vì không có điện, không có nước, không có cầu tiêu, lại có rệp. Thật ra bệnh viện có 3 cầu vệ sinh cho bệnh nhân nhưng thường xuyên bị tắc nghẹt vì người ta cứ bỏ giây “nhật trình” vô cầu. Nhân viên được 2 cầu, có khóa. Tuy vậy cầu vẫn bị nghẹt hoài vì thiên hạ chạy vô xin đi. Đặc biệt trụ sở huyện ủy và là nhà ở của bí thư không có câu tiêu! Ai muốn đi thì lấy xẽng ra vườn làm nhiệm vụ. Đi cầu khó vậy đó, nên đi tiêu khỏi phải nói. Tôi mắc bệnh tiểu đường ngay lúc đến Tịnh Biên.

Cạnh bệnh viện là đội Vệ sinh Phòng dịch. Đội có hai nhiệm vụ chính là phun thuốc diệt muỗi trừ sốt rét và chích ngừa. Trưởng đội đi học chuyên tu bác sĩ 3 năm mới về. Phó đội là anh Bảy Vĩnh, sĩ quan trợ y của quân đội VNCH cũ. Anh Vĩnh rất tháo vát và vui tính. Anh hay rủ tôi đi xem phòng chống dịch. Có lần anh rủ tôi đến nhà máy nước đá để lãnh nước đá về bảo quản thuốc chích ngừa. Giám đốc nhà máy nước đá là một người gốc Hoa, trước kia là chủ thật sự của nhà máy. Tôi có thắc mắc tại sao ông nầy vẫn “bám trụ” sau vụ đánh tư sản mại bản, anh Bảy Vĩnh cho biết vì ông có gốc gác lâu đời với đám nằm vùng. Sở dĩ tôi nhớ ông nầy vì ông có tên rất đẹp là Bành Hán Tiên, nhưng muốn chọc cười, anh Bảy gọi ông là Bành “Háng” Tiên!

Thỉnh thoảng có mấy anh ở bệnh viện đa khoa trung tâm ở Long Xuyên về Tịnh Biên kiểm tra như anh Khương Trọng Sửu (SBCK khóa 1), tôi dẫn anh lên núi Cấm chơi. Đậu xe gắn máy dưới chân núi, chúng tôi và một vài y sĩ theo đường mòn lên chùa trên đỉnh núi. Đường đi độ khoảng mươi cây số nhưng rất dốc, phải nghỉ chân 2-3 lần. Dọc đường đi rải rác có mấy phụ nữ lớn tuổi đi hành hương. Bà nào bà nấy thở phì phò nhưng không dám than mệt vì sợ “cõi trên” quở. Gặp ai chúng tôi đều hỏi “Khỏe không bác?” Các bà đều khều khào trả lời “Khỏe! Khỏe!” 

Lên đến đỉnh có thể thấy núi Tượng và đất Cam bốt. Địa thế cao và không khí lạnh giúp núi cấm làm chổ trồng trái su (chou), địa điểm thứ hai ở miền Nam ngoài Đà Lạt sản xuất được su. Chúng tôi vòng vòng quanh chùa, tìm chỗ thanh vắng, trải đồ ăn, vài chai rượu (không thể thiếu được nếu gọi là dân Tịnh Biên), rồi quay đầu gà. Đầu gà quay trúng ai thì người đó phải uống một ly, thiệt là unfair! Nhậu xong, trên đường xuống núi, chúng tôi băng qua vườn cây sầu riêng. Cây sầu riêng rất cao và người ta bảo rằng trái sầu riêng chỉ rụng về đêm. Do đó phải đội nón sắt nếu muốn đi qua vườn sầu riêng ban đêm. (Điều đó tôi không kiểm chứng được). Một điều tôi học được thêm là đi xuống, tuy nhanh hơn, nhưng khó hơn đi lên nhiều. Chúng tôi hầu như phải nhảy liên tục, nếu ngừng lại hoặc đi chậm lại là có thể té dập mặt ngay. Về đến bệnh viện trời sập tối nhưng ai nấy còn khoẻ lắm, anh Sửu mời tôi và đám y sĩ đi uống bia thứ thiệt (thứ tôi không dám rớ tới, lâu nay chỉ uống toàn bia trái cây). Sáng hôm sau anh về Long Xuyên, còn tôi phải lết vài ba ngày vì hai chân đau và mỏi đừ. Hỏi ra ai đi núi Cấm lần đầu tiên đều bị như vậy hết. Anh Sửu chắc cũng lết một vài ngày.

Công việc chuyên môn trong bệnh viện không có chi phức tạp. Hầu hết là bệnh nhức đầu (do rượu?), nóng sốt, tiêu chảy, và sốt rét. Con nít thì sốt xuất huyết, nghi ngờ là chở lên Châu Đốc ngay. Nghe nói có một đêm ở bệnh viện Long Xuyên, hơn 20 trẻ chết vì sốt xuất huyết. Tai nạn lớn nhất khi tôi ở Tịnh Biên là vụ nổ đầu đạn làm bị thương 5,6 người. Một phụ nữ bị tràn máu màng phổi cấp tính, thở khò khè đứt hơi khi vô tới phòng cấp cứu. Bệnh viện không có dụng cụ chi hết, tôi phải dùng ống thông tiểu Foley cở lớn nhét vào khoang màng phổi, đầu ống buộc vào bịt ny-lông để “seal off’ giống như các thầy trong trường dạy. Cô nầy được xe cấp cứu chở ra Châu Đốc, sống. Anh BS Kiên SBCK1 mổ ca đó, có gởi lời khen tôi xử trí đúng (anh trước làm Ngoại Thần kinh ở Chợ Rẩy, vì đi vượt biên nên bị đuổi, anh được bệnh viện Châu Đốc nhận). Anh chỉ khen suông thôi, còn tôi sau nầy được một chầu nhậu do chồng cô ta đãi.

Bệnh viện Tịnh Biên sở dĩ tiêu điều, không được chăm sóc là nằm trong “ý đồ” của cán bộ tỉnh và huyện. Họ muốn xin hội Hồng Thập Tự quốc tế xây một bệnh viện lớn ở Nhà Bàng. Mà hội Hồng Thập Tự cũng muốn giúp, vì là địa điểm chiến lược đón làn sóng tị nạn từ Kampuchia sang nếu tình hình biến động. Mấy năm tôi ở đó, các cán bộ tranh cãi hoài về địa điểm xây cất, tới lúc tôi đi rồi chỉ có lễ đặt viên đá đầu tiên! Nhưng chính nhờ chuẩn bị cho bệnh viện mới, tôi được gởi lên Long Xuyên 6 tháng học mổ, quen được nhiều anh ở bệnh viện tỉnh. Lúc đầu tôi đứng phụ, sau đứng chính, mổ được khoảng trăm cái ruột thừa! Anh Hoàng trưởng khoa Ngoại nói đúng, không có ruột thừa nào giống nhau cả, giống như mặt người ta vậy. (Anh đi học tập về, ra đứng ngoài chợ bán thịt, bị công an rượt bắt hoài, về sau mới được cho vào bệnh viện làm).

Ngoài 3 bạn Hiệp, Cường và Dũng ở Châu Đốc, tôi có đi thăm Phan Văn Xái ở Phú Châu (Tân Châu), nhậu cháo rắn hổ. Thịt rắn hổ còn ngon hơn thịt gà. Tôi gặp Nguyễn văn Đức (phó ban đại diện năm 74-75) vài lần. Đức bị đuổi ra khỏi trường năm 75 vì lý do chánh trị, anh về Phú Châu ở, được một anh bác sĩ đàn anh nâng đỡ, gởi cho đi học lại. Có lần Đức đến nhà tôi ở Sài gòn nhân dịp tôi về thăm vợ con, hai đứa nằm nói “chuyện đời” suốt đêm.

******
Năm 1987, bộ đội Việt Nam từ Kampuchia (giả bộ) rút về, dân vùng biên giói phải đi đào một con kênh mới song song với kinh Vĩnh Tế, chạy dài từ Tri Tôn ra Châu Đốc. Trên công trường hằng ngày có độ hơn 5000 người, tất cả công việc đều làm bằng tay, không có một máy ủi đất nào! Toàn thể dân bệnh viện và phòng Y tế đều đi đào kinh trong 10 ngày, chỉ chừa vài người ở lại. Không phải sáng đi chiều về mà phải ở luôn công trường, đào cả ban đêm vì dân bệnh viện sức yếu tay mềm, mà công việc thì được giao khoán. Đó là lần “oải” nhớ đời, mặc dù tôi được các nam y sĩ phụ lực tận tình. Tôi ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất, sợ sốt rét muốn chết. Nhưng may địa điểm công trường rất gió, ít muỗi. Còn nước kinh thì uống không nổi, mặc dầu đã đun sôi nhưng đầy cặn, vị thì mặn và hôi. Về sau toán bệnh viện tìm ra 2 món giải khát “cao cấp” là dưa hấu và nước thốt nốt. Dưa hấu không ngọt, nhưng ăn đở khát. Còn nước thốt nốt thì tuyệt, mặc dầu tôi rất nghi ngờ về mặt vệ sinh. Nước thốt nốt ngót ngót, mùi thơm giống như shop cây phong (maple) ở Canada. Dân Khmer cất nước cô đặc lại làm đường thốt nốt. Cây thốt nốt thuộc họ cây cọ, có vẻ mạnh mẽ và lớn hơn cây dừa. Cây dừa 5 năm đã có trái, còn cây thốt nốt phải hơn 30 năm! Khmer đỏ có câu: “chỗ nào có cây thốt nốt là chỗ ấy thuộc đất Khmer”. Mà xứ Tịnh Biên thì ở đâu cũng có cây thốt nốt.

Trong bệnh viện tôi cũng có vài y sĩ gốc Miên, có mời tôi về nhà nhậu chơi, nhưng đãi ăn món mắm bò hóc thì tôi chịu thua, tôi thích món cá lóc nướng trui dầm nước mắm hơn. Không biết lúc “cáp duồn” ra sao chứ dân Miên nói chung hiền lành, tánh tình cũng như người Việt. Con gái Miên lai Tàu rất đẹp, tục gọi là “đầu gà đít vịt”, có nhiều ở thị trấn Tri Tôn. Chùa Miên đẹp, kiến trúc chịu ảnh hưởng Ấn độ, còn chùa Việt thì theo kiểu Trung Hoa. Óc thẩm mỹ dân Miên thì khác hẳn ta. Người Miên thích màu sặc sỡ, không chịu kiểu màu dịu “ton sur ton”. Tôi thấy dân Miên ở Tịnh Biên thích màu đỏ đi chung với màu xanh lá mạ. Có lần tôi thấy một anh cỡi xe đạp ngang qua bệnh viện, lúc đi ngang thì chiếc xe màu đỏ, lúc đi về thì một chiếc xanh lá cây. Hóa ra thì chỉ có một chiếc xe đạp thôi, nhưng sơn màu khác bên 2 bên khung xe!

Sau 3 năm ở, nhờ cô Hồ Hải, tôi được chấp thuận về làm gây mê bệnh viện Chợ Rẫy, có giám đốc Trịnh Kim Ảnh ký tên đàng hoàng. Giấy tờ chuyển từ huyện lên tỉnh, giám đốc sở Y tế An Giang phê “không chở cũi về rừng!”, bắt tôi làm phòng mổ bệnh viện Long Xuyên. Thiệt là phép vua thua lệ làng. Thế là tôi đổi về Long Xuyên, làm bác sĩ tỉnh, mở sang một “bước ngoặt” mới. Chuyện bác sĩ huyện đến đây chấm dứt. Còn chuyện bác sĩ tỉnh để hẹn khi khác.

Đêm cuối cùng ở huyện, bệnh viện và phòng y tế đãi tôi một buổi tiệc tiển. Ai nấy cũng đòi uống với tôi một ly rượu đế, kể cả các cô y sĩ. Tôi uống thiệt tình, không giả bộ say. Tiệc tàn ai nấy đi ngủ nhưng tôi thì thao thức đến sáng, không sao ngủ được. Những kỷ niệm vui buồn chập chờn hiện trong trí nhớ. Tờ mờ sáng xe huyện đến rước chở tôi lên tỉnh. Tôi rời đất khổ buổi sáng đầy sương ấy.

Nguyễn Đình Vân
4/2004

Hình chụp một BV huyện tương tự như BV Chi Lăng, Tịnh Biên


Canada tuyên bố "sẵn sàng chịu đau để giữ chủ quyền" trong chiến tranh thương mại - Rồi ai chịu đau ?

Sáng Chủ nhật, đi lễ về, bụng đói cồn cào, mình ghé vô tiệm phở quen gần nhà làm một tô cho đã. Vừa đẩy cửa bước vô thì đã nghe cái giọng oang oang quen thuộc từ góc quán. Hóa ra nhóm của Bác Don đã ngồi đó tự đời nào, trước mặt mỗi người một tô phở bốc khói, mà cãi nhau còn nóng hơn cả nước lèo. Mình kéo ghế ngồi ké một góc, gọi tô đặc biệt, rồi lặng lẽ nghe.

Thấy mình, Bác Don ngoắc tay: "Ryan, lại đây lại đây! Coi cái này nè. Bên Canada mấy ổng tuyên bố hùng hồn lắm, nói dân Canada sẵn sàng chịu đau đớn kinh tế để bảo vệ chủ quyền, không thèm nhượng bộ ông Trump. Nghe dữ chưa!"

Barry, gật gù tâm đắc: "Thì đúng quá còn gì. Một nước có tự trọng thì đâu thể để nước lớn muốn ép sao thì ép. Thà chịu thiệt một chút mà giữ được chủ quyền, còn hơn cúi đầu. Đó là khí phách của người quân tử chứ ai như ông Trump, vậy mà có những người tối ngày bênh ổng, cuồng ổng, trong khi chuyện này từ ổng ra chứ ai, Chính ông Trump của Bác đánh thuế người ta trước chớ ai. Canada đang yên đang lành, tự nhiên bị đánh, thì người ta phản ứng là đúng rồi, mắc gì Bác mỉa mai ? "

Ông Joe đang húp miếng nước lèo, ngẩng lên hỏi tỉnh rụi: "Ủa mà mấy ông lãnh đạo hô chịu đau đó, đã có ông nào bị mất việc chưa? Hay là mấy người thợ ngoài xưởng chịu đau giùm mấy ổng?"

Cả bàn khựng một giây. vì hai câu, một của Barry một của Ông Joe, hóa ra lại chạm đúng hai cái lõi của cả câu chuyện. Mình cứ ngồi im nghe tiếp.

Bác Don không chịu thua, đặt tô phở xuống, phản pháo: "Cuồng cái gì mà cuồng! Tui nói có lý chớ bộ. Ông biểu ông Trump đánh Canada trước, ừ, đúng, nhưng ông chỉ coi có khúc đó thôi. Ông thử nghĩ coi, có thằng cha nào trên đời tự nhiên rảnh rỗi, đang yên đang lành, đi gây sự với ông khách hàng lớn nhất của mình, mà cũng là ông hàng xóm sát vách, chỉ để cho vui không? Ông Trump dù gì cũng là dân buôn bán cả đời, đâu có ông chủ tiệm nào tự tay châm lửa đốt cái mối làm ăn bự nhất của mình chỉ vì buổi sáng ngủ dậy thấy trong người khó ở. Phải có cái lý do của nó chớ Barry!"

Barry nhíu mày: "Lý do gì , tào lao thì có "

Bác Don gõ đũa cái cốp: "Tào lao gì. Bao lâu nay, Canada chơi khôn thấy mẹ. Hàng của Trung Quốc, cái nước bị Mỹ đánh thuế nặng đó, thay vì đi thẳng vô Mỹ thì nó vòng qua ngả Canada, thay tên đổi họ, rồi tuồn vô Mỹ để né thuế. Canada thành ra như cái cửa sau cho hàng Trung Quốc lách vô nhà Mỹ. Một mặt hưởng lợi từ thị trường Mỹ, một mặt lặng lẽ làm cửa hông cho cái nước mà Mỹ đang phải đề phòng nhất. Tới hồi Mỹ nói 'thôi mình làm ăn cho sòng phẳng lại đi, và đừng có làm cửa sau cho người ta nữa', thì Canada mới thình lình khám phá ra hai chữ chủ quyền, rồi đứng dậy bỏ bàn đàm phán mà đi. Nên cái vụ đánh thuế này, nó đâu phải cơn giận dỗi của một ông Tổng Thống. Nó là cái hóa đơn cuối cùng được đem ra tính sổ đó ông."

Barry cãi lại, mà cũng có cái lý của mình: "Nhưng phía Canada họ phủ nhận cái chuyện cửa sau đó. Họ nói mấy con số của Mỹ là thổi phồng, và họ thấy bị ép kiểu vậy là một sự chèn ép nước nhỏ. Đâu thể nghe một phía rồi kết tội người ta."

Tới đây thì mình, sau một hồi ngồi nghe, mới thủng thẳng góp đôi lời.
Mình thấy Barry có một điểm đúng: đúng là không nên nghe một phía. Phía Canada họ có tiếng nói của họ, và không ai dám bảo Mỹ đúng trăm phần trăm còn Canada sai trăm phần trăm. Chuyện làm ăn giữa hai nước rối như tơ vò, mỗi bên một lý, cãi tới Tết cũng chưa xong.

Nhưng cái ý "Canada tự nhiên bị đánh, chẳng làm gì cả" mà Barry bênh, thì nó giống như xem một cuốn phim mà bắt đầu ngay tại đoạn hai người đang đấm nhau. Ai vô coi ngay khúc đó cũng nghĩ cái ông ra tay trước là thằng côn đồ, còn ông kia là nạn nhân đáng thương. Nhưng cuốn phim đó nó đâu có mở màn bằng cú đấm. Nó có nguyên một tiếng đồng hồ trước đó, với đủ thứ ân oán qua lại, mà mình chưa được coi. Cho nên hễ ai mới thấy một cú đánh đã vội chỉ mặt kẻ đánh là ác, người bị đánh là hiền, thì người đó đang phán xét cả cuốn phim chỉ bằng đúng một cảnh cuối.

Rồi mình quay qua cái câu hỏi của Ông Joe, cái câu mà mình cho là thấm nhất bàn. Bởi vì dù ai gây ra trước đi nữa, thì cái vụ "chịu đau vì chủ quyền" này vẫn có một chỗ nhột. Chính trong mấy cuộc thăm dò mà lãnh đạo Canada hay đem ra khoe rằng dân đồng lòng, người ta cũng thấy cứ tám người Canada thì có một người đang rất lo mất việc, thêm một phần tư nữa thấp thỏm không yên. Nghĩa là cái "nỗi đau" mà mấy vị hô hào nhẹ nhàng kia, nó chẳng trừu tượng chút nào. Nó là cái đơn nghỉ việc trên bàn một người thợ. Là cái hóa đơn tiền điện tăng của một gia đình. Là bữa cơm bớt đi một món của những người chẳng dính dáng gì tới mấy cuộc đấu khẩu trên bàn hội nghị.

Ông bà mình có câu thấm lắm: trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết. Hai con trâu lớn lao vào húc nhau, thì mấy con ruồi con muỗi bay quanh lãnh đủ trước tiên. Trong mấy cuộc đọ sức giữa các chính phủ, hai bên lãnh đạo đứng trên cao đấu trí đấu khẩu, ai cũng ráng tỏ ra mình cứng rắn. Còn người ngã xuống trước, ở cả hai phía, lại luôn là mấy người dân thường bé nhỏ chẳng bao giờ được mời ngồi vào cái bàn quyết định. Người thợ Canada mất việc, và cả người tiêu dùng Mỹ è cổ trả giá cao hơn, hai bên đều là ruồi muỗi trong cuộc trâu bò này. Cái đau, nó luôn có địa chỉ cụ thể, mà cái địa chỉ đó hiếm khi là căn phòng máy lạnh nơi lời hô hào được phát ra.

Sáng đó ăn xong tô phở, mình đứng dậy về. Bác Don vẫn còn sang sảng kể tội anh Canada làm cửa sau, Barry thì đã bớt gân cổ hơn lúc đầu, ngồi khuấy ly cà phê ra chiều nghĩ ngợi. Còn Ông Joe thì quay qua nói với mình, giọng thành thật: "Ryan nè, ai gây ra trước tui hông rành, ai có lý tui cũng hông biết, tui chỉ mong một điều thôi: mấy ông kêu người ta chịu đau, thì chính mấy ông phải đau trước, đau nhiều hơn một chút, cho nó công bằng. Chớ mình ên tui đau, mà mấy ổng ngồi phòng lạnh lương vẫn lãnh đều, thì tui ức lắm." Mình bật cười, vỗ vai ông, nói ông Joe nói nghe quê quê mà đúng thiệt, cái công bằng ở đời nó nằm gọn trong câu đó chớ đâu.

Còn bạn, bạn nghĩ khi nhìn vào một cuộc xung đột, ta nên vội tin ngay cái bên tỏ ra mình là nạn nhân đáng thương trước, hay nên chịu khó lùi lại một bước, coi cho hết cả cuốn phim từ đầu, rồi hẵng phán xét ai phải ai trái?


AI LÀ CỰU CHỦ NHÂN CỦA HOÀNG SA, TRƯỜNG SA?

1/9/2026
——
Trong lúc làm luận văn Thạc Si ngành An Ninh Quốc Gia ở trường Cao Học Hải Quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduare School-NPS), tôi tình cờ đọc được bài nghiên cứu của một nữ học giả Bắc Âu về người Chăm ở miền Trung Việt Nam. Theo nghiên cứu của cô, người Chăm mới là những người đặt chân lên Hoàng Sa và Trường Sa đầu tiên.

Quả thật như vậy, vương quốc Chăm Pa là chủ nhân đầu tiên của Hoàng Sa và Trường Sa, vì thời cực thịnh của họ, cụ thể hơn là trước khi Huyền Trân Công Chúa được gả cho Vua Chăm, thì lãnh thổ của vương quốc Chăm-pa kéo dài tới Quảng Bình ở phía Bắc và Bình Thuận ở phía Nam. Nhưng quan trọng hơn là đặc điểm của người Chăm thời bấy giờ, đó là nghề biển. Người Chăm là những ngư dân và thuỷ thủ, gọi chung là những người đi biển (seafarer) giỏi hàng đầu Đông Nam Á. Hậu duệ của người Chăm ở đảo Hải Nam và nhiều quốc đảo ở Đông Nam Á như Nam Dương hay Mã Lai. Và ít ai biết rằng, biển Đông, tên tiếng Anh là biển Nam Trung Hoa (South China Sea), và cái tên South China Sea này là do người Châu Âu đặt tên, dựa trên vị trí của Trung Hoa. Trước đó, Biển Đông có tên là Biển Chăm-pa (Champa Sea hay Sea of Cham). Đó là cách gọi của các thuỷ thủ phía Nam Trung Hoa và quốc tế khi họ ghé thăm Vương Quốc Chăm-pa.

Dấu tích của người Chăm ở Biển Đông vẫn còn rõ nét cho tới tận bây giờ là đảo Lý Sơn ngoài khơi Quảng Ngãi và Cù Lao Chàm ngoài khơi Quảng Nam. Điển tích về sự thành thạo nghề biển của họ là việc vua Minh Mạng điều các ngư dân người Chăm ra Hoàng Sa khẳng định chủ quyền.

Ngay cả việc Trung Hoa khẳng định tính chính danh của họ ở Hoàng Sa, họ cũng viện diễn các ngư dân Hải Nam từng lên đảo và đánh bắt quanh vùng biển Hoàng Sa. Các ngư dân Hải Nam đó chính là hậu duệ của người Chăm tị nạn nhà Nguyễn.

Chuyện nhà Nguyễn đặt dấu chấm hết cho Vương Quốc Chăm-pa và sáp nhập lãnh thổ của họ vào Việt Nam là một sự thật lịch sử. Theo luật tự nhiên (natural law) trong luật quốc tế (international law), Việt Nam là người thừa kế chính thức 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Vương Quốc Chăm-pa.

Nhưng tại sao Việt Nam không dùng luận chứng này để khẳng định chủ quyền biển đảo của mình ?

Chỉ có 1 câu trả lời: Người An Nam hay Giao Chỉ xưa luôn viết lại lịch sử có lợi cho kẻ cầm quyền. Muốn tìm hiểu lịch sử dân tộc thì chỉ có nước tìm hiểu sách vở, bản đồ hay bất cứ tư liệu gì do người ngoại quốc viết lại. Những người thám hiểm, những thương nhân, những nhà truyền đạo phương Tây họ viết về Việt Nam không phải để phục vụ cho tuyên truyền hay nhồi sọ người Việt.

Thực tế cho thấy toàn quyền Doumer (Đu-me) và các học giả người Nhật viết về người An Nam rất chính xác: thông minh nhưng láu cá, ma lanh. Từ Trạng Quỳnh cho tới các nhân vật cổ tích khác, sự ma lanh của người Giao Chỉ luôn là nét văn hoá chính. Thời xã hội chủ nghĩa, nét văn hoá này như bung lụa, gần như mọi thứ đều có thể giả, ra đường rất dễ bị lừa như thực phẩm bẩn, hàng nhái, hàng giả cho tới hàng trăm thứ lừa lọc trên mạng…

Lịch sử thì phải khách quan và chính xác. Chuyện Hoàng Sa, Gạc Ma mất vào tay Trung Cộng cũng phải chính xác minh bạch. Chuyện Việt Nam thôn tính vương quốc Chăm-pa cũng phải minh bạch. Có như vậy thì mới xác định chủ quyền biển đảo ở Biển Đông, và quan trọng nhất là không có tội với thế hệ sau.

Hoa OC



EARLY SHOVE

Hẳn các bạn còn nhớ một tai nạn ở sân bay La Guardia (New York, Mỹ) ngày 22/03/2026, một chiếc xe cứu nạn đã băng qua đường băng trong khi một chiếc máy bay đang hạ cánh làm chết 2 viên phi công Air Canada và 6 người bị trọng thương.

Hôm nay, theo tin điều tra mới nhất của FAA tiết lộ từ tờ WSJ, đêm ấy là đêm vô cùng bận rộn của sân bay, và người ta đã cho phép 2 nhân viên không lưu trong tua trực 4 người được về sớm. Hậu quả là 2 nhân viên còn lại không kịp điều tiết các hoạt động trên đường băng, cho phép xe cứu nạn (đi cứu một chiếc máy bay của hãng United) vượt qua đường băng cùng lúc với chiếc máy bay Air Canada đang hạ cánh.

******
Điều mà ủy ban điều tra còn kinh hoàng hơn là nhân viên không lưu được phép về sớm trong phiên trực là một việc rất phổ biến ở tất cả các sân bay tại Mỹ, và tiếng lóng trong nghề gọi là “early shove”. Vì môi trường làm việc thường căng thẳng, cấp quản lý tại chổ có thói quen cho nhân viên ra về sớm thay cho nghỉ giữa giờ (break) như là một phần thưởng. Đây là sự du di, nhưng thực chất đó là sự ăn cắp giờ công, theo phán quyết của ủy ban điều tra. Và họ đã cho 2 nhân viên đó nghỉ việc (còn cấp trên cho phép nhân viên về sớm thì sao?). Ủy ban nói là sẽ chấn chỉnh lại việc nầy trên diện rộng, không cho phép “early shove” được xảy ra nữa.

Mỹ có khoảng 11,000 nhân viên không lưu (air-traffic controler), đang huấn luyện thêm 4000 người và dự kiến tuyển 2000 người trong năm nay. Năm nay đã có hơn 10 nhân viên bị đuổi vì “early shove”.

Cải thiện quản lý không lưu chắc không có kết quả ngay mà cần thêm thời gian. Bên Mỹ thì vậy, không biết các nước khác ra sao. Vậy mà từ đó giờ, chúng ta đi máy bay cứ tỉnh bơ, tựa như người điếc không sợ súng, hi hi!




Đổi Tên Cái Hồ Giữa Lúc Căng Thẳng, Trò Trẻ Con Hay Đòn Tâm Lý 

Chiều nay đi làm về không có gì làm nên ghé quán cà phê quen thuộc kiếm người quen tám chơi, mình chưa kịp ngồi thì Bác Don đã vẫy tay rối rít, tay cầm điện thoại cười khoái chí.

"Ryan, lại đây nói nghe nè! Biết vụ Ông Trump vừa ký sắc lệnh đổi tên Hồ Ontario của Canada thành Hồ Mỹ luôn kìa, Hồ America! Đã chưa!"

Ông Joe đang uống trà nghe vậy ngẩng lên, mắt chớp chớp: "Ủa, đổi tên cái hồ? Rồi mấy con cá trong đó nó có biết là nó đổi quốc tịch chưa?"

Cả bàn cười rần. Bác Don khoát tay: "Cá cộ gì ông ơi! Là đổi tên trên bản đồ Mỹ thôi. Cái hồ đó nằm giữa New York với Canada, mà phần sâu nhất là thuộc đất Mỹ, nên ổng nói Mỹ giành phần lớn cái hồ."

Barry, lại cái ông hay bênh phe cấp tiến, nhíu mày: "Đổi tên thì đổi được cái gì? Người Canada người ta đâu có công nhận. Thủ tướng Carney tuyên bố luôn rồi, dân Canada vẫn cứ gọi là Ontario như bốn trăm năm nay. Cái tên đó có trước cả nước Mỹ lận."

Bác Don cười khẩy: "Thì ổng có bắt Canada gọi theo đâu. Ổng đổi trên giấy tờ Mỹ thôi. Giống hồi ổng đổi Vịnh Mexico thành Vịnh Mỹ đó, Mexico chửi quá trời mà đâu có sao. Google nó còn chiều, dân Mỹ mở bản đồ ra thấy tên Mỹ, dân Mexico mở ra thấy tên cũ. Huề cả làng."

Ông Joe gật gù ra chiều tâm đắc lắm, rồi bất chợt buông một câu: "Vậy hả? Hay quá. Vậy chút về nhà tui đổi tên bà xã tui luôn. Tui gọi bả bằng tên mới, còn bả với hàng xóm cứ gọi tên cũ. Huề cả làng."

Cả quán được một trận cười bò.
Nhưng cười xong rồi, ngồi ngẫm lại, mình thấy cái câu tưng tửng của Ông Joe hóa ra lại đụng tới cái lõi của cả chuyện này.

Bởi vì đúng là ông Trump có toàn quyền đổi tên cái hồ đó, nhưng chỉ trên giấy tờ của chính phủ Mỹ mà thôi. Ông không thể bắt Canada, bắt thế giới, hay bắt mấy tổ chức quốc tế phải gọi theo. Y như cái vụ Vịnh Mexico năm ngoái. Nói cho vui thì đây là một cú "đổi tên một chiều": mình gọi kiểu mình, người ta gọi kiểu người ta, cái hồ thì vẫn nằm y chỗ cũ, nước vẫn xanh như vậy, cá vẫn bơi như vậy.

Mà cái vụ này, nói cho ngay, nó nổ ra đúng lúc Mỹ với Canada đang căng thẳng về thuế má. Nên nhiều người bảo đây là ông Trump chọc quê Canada cho bõ ghét. Bản thân ông, khi được hỏi thông điệp là gì, thì trả lời tỉnh queo rằng "không có thông điệp gì hết", rồi quay qua trách Canada làm ăn không sòng phẳng bao năm nay.

Barry lắc đầu: "Tôi thấy vô bổ. Đang căng thẳng thương mại, đáng lẽ lo chuyện lớn, tự nhiên đi đổi tên cái hồ. Làm trò Trẻ con."

Bác Don cãi liền: "Trẻ con gì. Đây là kiểu nhắc khéo cho Canada biết ai mới là ông lớn ở khu này. Đòn tâm lý đó ông."

Mình thấy cả hai nói đều có phần đúng. Barry đúng ở chỗ, đổi tên một cái hồ thì đâu có giải quyết được cái gì thực chất, thuế vẫn còn đó, căng thẳng vẫn còn đó. Mà Bác Don cũng có lý ở chỗ, trong mấy cuộc đấu trí, đôi khi một cú chọc quê nhẹ cũng là một cách phủ đầu tâm lý, cho đối phương thấy là Tui không ngán ai đâu.

Nhưng mình nghĩ, cái đáng để ý nhất lại nằm ở chỗ khác. Ông bà mình có câu: cái tên chỉ là cái vỏ, cái ruột mới là cái đáng nói. Bạn có thể đổi tên một cái hồ, nhưng cái hồ vẫn là cái hồ đó. Đổi tên không làm cái hồ rộng thêm một tấc, cũng không làm nước Mỹ hay Canada giàu thêm một đồng, hay bớt căng thẳng đi một chút nào. Nó chỉ là cái nhãn dán bên ngoài. Cái thật sự quyết định chuyện hai nước, vẫn nằm ở cái bàn đàm phán thương mại kia, chứ không nằm ở cái tên trên tấm bản đồ.

Cho nên, đổi tên thì cứ đổi, chọc quê thì cứ chọc, nhưng ai tỉnh táo thì vẫn biết nhìn vào cái ruột, chứ đừng để cái vỏ làm cho hoa mắt. Cái tên mới nghe cho vui, nhưng nồi cơm của người dân hai nước thì vẫn được nấu bằng cái chuyện thuế má thực chất kia, chứ đâu phải bằng cái tên cái hồ.

Sáng đó mình đứng dậy về, Bác Don còn đang say sưa bàn xem lần tới ông Trump sẽ đổi tên cái gì nữa, Barry thì lắc đầu chê. Còn Ông Joe thì quay qua hỏi mình, giọng nghiêm túc thiệt tình: "Ryan nè, vậy tính ra tui đổi tên bà xã có được không? Hay bả kiện tui ra tòa?" Mình vỗ vai ông cười, nói thôi ông ơi, cái hồ nó không biết cãi, chớ bà xã ông mà nghe được là ông ngủ ngoài sofa cả tháng đó.

Còn bạn, bạn nghĩ mấy cái chuyện đổi tên đổi tuổi kiểu này, là một đòn tâm lý cao tay, hay chỉ là chuyện bên lề cho vui, còn cái thực chất thì vẫn nằm ở chỗ khác?


Kẻ hiếp dâm bị tước quốc tịch Mỹ

Tài xế taxi râu ria rậm rạp ở New York này đã hiếp dâm một phụ nữ vào năm 2011 sau khi cô ngủ quên ở ghế sau xe taxi.

Khi tỉnh dậy, cô phát hiện ông ta đang đè lên người mình với con dao kề vào cổ. Cô bị trói, bịt miệng, bịt mắt rồi cưỡng hiếp.

May mắn thay, cô đã trốn thoát và chạy ra đường cầu cứu người khác.

Điều khó tin là chỉ vài tuần sau khi gây ra tội ác này, Gurmeet Singh nộp đơn xin nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Ông ta đã che giấu vụ hiếp dâm và bắt cóc trong quá trình naturalization. Chính quyền Obama đã không kiểm tra lý lịch của ổng đủ kỹ và vẫn cấp quốc tịch Mỹ 2011.

Ông ta bị kết án hiếp dâm cấp độ một và bắt cóc, rồi lãnh 20 năm tù.

Giờ đây, 15 năm sau, dưới chính quyền Cộng Hoà, DOJ đã đưa vụ việc ra tới cùng. Ngày 26/8/2026, tòa liên bang chính thức tước quốc tịch Mỹ của Singh; DOJ công bố quyết định ngày 31/8. Ông ta không còn là công dân Hoa Kỳ nữa.

Ổng dự kiến mãn hạn tù vào tháng 2/2029. Sau khi mất quốc tịch, ông ta có thể đối mặt với thủ tục trục xuất, nhưng hiện chưa có thông báo chính thức rằng deportation đã được ấn định.

Nếu vụ gian dối này không được Cộng Hoà rà soát lại, tên hiếp dâm này sẽ ra tù và vẫn giữ được quốc tịch Mỹ. Ai sẽ chịu hậu quả nếu một kẻ bạo lực nguy hiểm lại được thả về cộng đồng? Phụ nữ? Trẻ em? Gia đình của chúng ta?

Tôi không muốn những chính sách nguy hiểm soft on crime của Đảng Dân chủ khiến người dân vô tội phải trả giá.

Tôi muốn con cái chúng ta được sống an toàn trong cộng đồng của mình. Public safety. Law and order. America First.

Với tôi, người Mỹ và sự an toàn của cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu

Trinh Lam


ĐỜI THƯỜNG NHẬT CỦA TT NGÔ ĐÌNH DIỆM

Ngô Đình Châu.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm dáng người thấp, mái tóc đen, chân đi hai hàng, nhưng bước chân đi rất mau lẹ. Ông ăn uống thanh đạm, thường dùng bữa ngay tại phòng ngủ, do ông già Ẩn hoặc đại úy Bằng phục vụ. Thực đơn ít khi thay đổi, gồm cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Ông thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một cái giường gỗ nhỏ, một bàn tròn và ba ghế da. 

Tổng Thống là một người công giáo rất sùng đạo, ông thường dự thánh lễ mỗi buổi sáng tại nhà nguyện trong Dinh Độc Lập hay tại nguyện đường Dòng Chúa Cứu Thế. Tổng Thống sống rất nặng về lý tưởng, ông chịu ảnh hưởng Khổng Giáo nghiêm khắc, và là một tín hữu Công Giáo trung tín, đức hạnh. Ông thích chụp hình và sưu tầm các loại máy ảnh. Tiền bạc dùng cho công vụ thì được giao trọn cho Chánh Văn Phòng Võ Văn Hải, vì ông không có nhu cầu tiêu xài riêng. 

Tổng Thống sống độc thân và theo bà Ngô Đình Thị Hiệp, thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cho biết, ông đã tự nguyện khấn hứa theo nếp sống của một tu sĩ công giáo, trong thời gian lưu trú tại tu viện Maryknoll ở Lakewood , thuộc tiểu bang New Jersey, năm 1950.

Theo Đại Uý Tùy Viên Lê Công Hoàn cho biết, thưòng ngày mỗi buổi tối, ông già Ẩn giăng sẵn mùng và sáng sớm lại gỡ ra. Trong suốt chín năm trời, Tổng thống thưòng dùng bữa một mình, ngay tại một căn phòng trong Dinh, thỉnh thoảng mới có ông Võ văn Hải cùng ăn, trừ những buổi tiệc tùng dạ hội. 

Tổng Thống sống trong một thế giới riêng, gần như cách biệt với gia đình ông Ngô Đình Nhu. Rất ít khi ông ăn cơm chung với gia đình ông bà Ngô Đình Nhu. Hoặc nếu có dùng cơm chung với ông bà Nhu, thì ông dùng món ăn riêng của ông. Vì vậy trong Dinh có hai đầu bếp, một đầu bếp của vợ chồng ông bà Nhu, một đầu bếp của Tổng Thống.

Tổng Thống ăn uống không có giờ giấc nhất định. Bữa cơm chiều có khi là 8 hoặc 10 giờ đêm. Khi gặp ai vui chuyện, ông có thể mạn đàm lan man cả 2 - 3 giờ liền. Ông hay dùng thứ bánh Pâté- Chaud bán ở Bưu- Điện Sài- Gòn và ông khen là ngon tuyệt.

Thông lệ, mỗi buổi sáng sĩ quan tuỳ viên đem vô phòng Tổng Thống một xấp báo đủ loại, ông vừa ăn điểm tâm vừa đọc. Thỉnh thoảng có gì đặc biệt lắm ông mới sang phòng ông bà Nhu ngồi uống nuớc nói chuyện lan man. Theo sĩ quan tùy viên Lê Công Hoàn cũng như Đại Úy Bằng và ông già Ẩn cho biết thì anh em ông Diệm và Nhu không mấy khi hàn huyên tâm sự. Ông Diệm rất kính trọng và vâng lời Đức Cha Ngô Đình Thục theo quan niêm quyền huynh thế phụ.

Trước khi qua Roma dự Cộng Đồng Vatican Đức Cha Thục vào Dinh ở lại ít ngày. Như thuờng lệ, Đức Cha vào chào anh em Tổng Thống. Theo sĩ quan tùy viên cho biết thì anh em Tổng Thống rất giữ lễ với nhau, chứ không suồng sã tự nhiên. Khi về Dinh, Đức Cha Thục thưòng dùng cơm với ông bà Nhu. Và mỗi lần như vậy, Tổng Thống Diệm lại ghé qua phòng ông em, nhân tiện đáp lễ ông anh. Đức Cha Thục nói điều gì thì Tổng Thống nghe điều đó. Tuy nhiên, mỗi lần không vừa ý, Tổng Thống chỉ biết thở dài, cau có và hết sức bẳn gắt với sĩ quan tuỳ viên. Cũng không mấy khi ông bà Nhu vô phòng riêng của Tổng Thống, trừ mấy đứa con trai của ông bà Nhu.

Căn phòng riêng của Tổng Thống vừa là phòng ngủ, vừa là chỗ làm việc, bao giờ cũng có cận vệ gác ở ngoài cửa cùng với một sĩ quan Tuỳ Viên túc trực ngày đêm, làm việc từng ca thay phiên nhau. Bất kỳ ai thăm viếng, về phía quân sự đều qua tay sĩ quan Tuỳ Viên Tham Mưu Biệt Bộ Phủ Tổng Thống sắp xếp, về phía dân sự và ngoại giao đoàn, do Nha Nghi Lễ đảm trách.

Không kể Đỗ Thọ đã chết, 3 Tuỳ Viên còn sống sau cuộc đảo chính 1963, trong đó có Đại Uý Lê Châu Lộc, cùng Đại Uý Bằng hầu cận, đều cho biết, họ không hề bị Ông Bà Nhu chi phối. Gặp ông bà ấy thì chỉ chào hỏi vậy thôi. Họ làm việc trực tiếp với Tổng Thống và làm việc theo kiểu người nhà, phi nguyên tắc, luật lệ. Vào phòng Tổng Thống lúc nào cũng được, và cửa phòng Tổng Thống không bao giờ khoá mà chỉ khép hờ. Ngưòi đưọc coi là ngang ngược, hay gây gổ với bà Nhu là Đại Uý Bằng. Thế giới của Tổng Thống Diệm là thế giới tình cảm khá khép kín.

Quy tụ quanh Tổng Thống là những ông Chánh Văn Phòng Võ Văn Hải, Bí Thư Trần Sử, rồi đến 4 sĩ quan Tuỳ Viên, ông già Ẩn, Đại Uý Bằng và mấy người thân cận khác.

Ngoài ra, Tổng Thống còn thích làm thơ. Và bài thơ Đường luật nói lên nỗi lòng khắc khoải của ông còn được truyền tụng đến ngày nay. Xin chép ra sau đây:

* Nỗi lòng
Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông.
Hỏi bến thuyền không lái cũng không.
Xe muối nặng nề thương vó ký (*),
Dường mây rộng rãi tiếc chim hồng.
Vá trời lấp biển người đâu tá?
Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế.
Cắm sào đợi khách, thuở nào trông.

[(*) TT mượn điển tích Chu Bá Nha và ngựa Ký là tên loại ngựa rất khoẻ và dai sức, được dùng để thồ muối rất nặng đi đường trường]

Ông cũng biết vẽ và nét vẽ rất đẹp. Bức vẽ cuối cùng của ông là ngôi Thánh đường dự định xấy cất ở khu Phượng Hoàng. Ông đã có ý định không ra ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ tới và có ý sẽ lui về an dưõng ở Khu Phượng Hoàng.

Trước đó đã có một dự án chỉnh trang toàn thể Khu Cồn Hến tại Huế để làm nơi Tổng Thống Diệm trở về vui thú điền viên. Khu này đưọc coi là một trong mấy khu thơ mộng nhất ở Huế, cách thôn Vỹ Dạ chỉ một con sông. Khi dự án đưọc trình lên, Tổng Thống không vừa ý và cho dẹp bỏ rồi tự tay mình phác họa khu Phượng Hoàng. Ngôi Thánh Đưòng cũng tự tay ông vẽ. Tổng Thống Diệm ưa thích đánh cờ tướng, nhưng không phải là tay cao cờ. Nhiều lần, trong lúc cao hứng, ông cho gọi Đại uý Bằng và Ngô Đình Trác vào phòng riêng của Ông, rồi bảo hai ngưòi đánh cờ để ông ngồi xem. Ông có thể ngồi như vậy trong một hai giờ liền.

Thú vui nhất của Ông là chụp hình và rửa hình. Thỉnh thoảng cao hứng, ông lại đưa các con ông Nhu ra chụp vài "pô", hay chụp mấy sĩ quan Tuỳ Viên.

Tướng Lê văn Kim được coi là "người bạn" của Tổng Thống về phương diện chụp hình và rửa hình. Một lần vào năm 1961, vợ chồng Bác sĩ Trần Kim Tuyến đang coi ciné ở rạp Đại Nam thì có thuộc viên tìm đến cho biết: “Tổng Thống điện thoại gọi Bác sĩ vô Dinh gấp”. Hai vợ chồng ông Tuyến bỏ dở buổi ciné trở vô Dinh, bà vợ ngồi dướí xe đợi từ 10 giờ sáng tới gần 2 giờ chiều mới thấy ông Tuyến trở ra. Bác sĩ Tuyến được Tổng Thống tiếp 4 giờ đồng hồ liền không ngoài việc máy ảnh và chụp hình, vì Tổng Thống mới mua một máy chụp hình hiệu Canon, cho nên gọi ông Tuyến vào để chí cách sử dụng, mỗi lần như thế ông rất vui và cởi mở.

Đặc biệt là Tổng Thống không thích uống rượu, chỉ cần một ngụm nhỏ là mặt ông đã đỏ gay. Tuy vậy trong phòng ông cũng có một chai rưọu nho, thỉnh thoảng ông nhấm nháp một đôi chút. Và những lần như thế là giới hầu cận đều biết ngay Tổng Thống đang có chuyện vui. Đầu bếp trong Dinh đã phải chế tạo riêng một loại sâm banh đặc biệt. Loại "Rượu" sâm banh (champagne) này, thực ra chỉ là nước ngọt cho vào chai và khi mở cũng nổ chan chát và sùi bọt như sâm banh thực thụ, để khi có tiệc lớn với các Đại Sứ và Quốc Khách, Tổng Thống sẽ dùng loại sâm banh đặc chế này.

Tổng Thống thường sống xa mẫu thân, nên ông rất kính trọng và vâng lời các anh. Sau khi từ chức Thượng Thư của triều đình Huế (1933), ông không về sống tại Phú Cam, mà về ở trong một ngôi nhà của anh Ngô Đình Khôi tại Vĩnh Điện, Quảng Nam. Trong ngôi nhà đó chỉ có ông Diệm và ông Bằng. Ông Bằng thì lo cơm nước, quần áo và mọi sự cho cựu Thượng Thư. Một vài tuần, ông lại về Phú Cam một buổi, rồi cứ vài tháng thì lại vào Nam. Từ đó, ông Diệm đã khép kín cuộc đời. Đi hay về không một ai biết.

Khi ông Ngô Đình Khôi bị Việt Minh sát hại năm 1945, Đức Cha Thục trở thành ngưòi có ảnh hưởng lớn nhất tới ông Diệm. Qua tập Albums gia đình họ Ngô, chúng ta thấy Đức Cha Thục và ông Diệm hay cùng nhau chụp hình, hai người tỏ ra khá tương đắc.

Ai ai cũng biết ông Diệm là người ngoan đạo, vì đó là truyền thống của gia đình ông, và ít khi ông đi nhà thờ ở ngoài. Tại nhà ông ở Phú Cam, có nhà nguyện riêng cho gia đình. Chủ nhật có linh mục đến làm lễ tại nhà. Linh mục Cao Văn Luận từng làm nghi thức tôn giáo nầy ở đây. Riêng bản thân ông Diệm thì ngày ngày ông rất chăm chỉ cầu kinh. Mặc dù rất ngoan đạo, nhưng ông đã phân chia phần đạo, phần đời rất rõ rệt. Tôn giáo thuộc đời sống tinh thần do mỗi cá nhân có quyền lựa chọn. Ông không đưa đạo vào đời trong sinh hoạt hằng ngày. 

Từ khi ông làm Tri Phủ Hải Lăng cho đến khi bị thảm sát vào ngày 2-11-1963, ông không dùng quyền hành phần đời để phục vụ cho đạo. Nhờ vậy, những người theo phò ông Diệm trước khi ông về làm Thủ Tướng, rồi làm Tổng Thống, phần đông là Phật tử, và không ai e ngại rằng khi ông Diệm cầm quyền thì đạo Phật của họ sẽ bị bách hại. Có những người như ông Võ Văn Hải, bí thư của ông Diệm hay ông Phạm Thư Đường, bí thư của ông Ngô Đình Nhu họ có phải là người theo đạo Thiên Chúa đâu, và họ có bị buộc phải từ bỏ đạo Phật đâu. Có lẽ trong thâm tâm ông Diệm, và cả ông Nhu nữa, không hề có chủ trương "kỳ thị hay đàn áp tôn giáo".

Vì thế khi cầm quyền, Tổng Thống thường hỗ trợ việc tu sửa chùa chiền bị hư hỏng ở Huế, như chùa Linh Mụ, chùa Báo Quốc, … Đặc biệt là chùa Linh Mụ: thắng cảnh và biểu tượng của Huế, thuộc tài sản quốc gia. Các chùa ấy do các vị vua nhà Nguyễn xuất công quỹ xây cất. Nhưng đó không phải là tài sản riêng của các vua hay hoàng thân quốc thích, không là của cá nhân ai hay hội đoàn nào. Việc TT Ngô Đình Diệm cho xuất ngân sách quốc gia để tu sửa tài sản quốc gia là một chuyện bình thường. Nhưng có ai không nghĩ rằng bên cạnh hành động đó, là cảm tình của ông Diệm đối với đạo Phật, một tôn giáo của đông đảo quần chúng Việt Nam, với một người đang cầm quyền tự thấy mình là người lo cho dân thì không lo việc tôn giáo của dân hay sao?

Khoảng năm 1956-57, khi Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam chuẩn bị cho ra tờ giấy bạc $500, ông Diệm ra lệnh in hình chùa Linh Mụ trên tờ giấy bạc nầy. Tỉnh trưởng Thừa Thiên-Huế trình ông Cẩn, ông Cẩn theo dõi việc chụp hình chùa Linh Mụ gởi vào Saigon. Nhiều tấm hình chụp các lần trước, bị ông Diệm chê, bắt chụp lại cho đến khi thật hoàn hảo. Sau nầy tờ giấy bạc $500 đầu tiên in hình chùa Linh Mụ là bắt đầu từ việc như vậy.

TT Ngô Đình Diệm đã chống lại sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Việt Nam. Ông nói: “Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp vẫn còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam” .

Nhiều người cho rằng chính thái độ cương quyết chống lại sự can thiệp quân sự của Mỹ trực tiếp vào Việt Nam, đã là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc đảo chính quân sự ngày 1 tháng 11 năm 1963, do một số tướng lĩnh QLVNCH cầm đầu với sự ủng hộ của Mỹ.

Ngô Đình Châu

Blog Archive