CHA VẪN Ở BÊN MẸ CON TÔI
Có những câu chuyện đã đi qua hơn nửa đời người, cứ tưởng rằng thời gian sẽ làm chúng phai nhạt. Vậy mà chỉ cần một buổi chiều nào đó trong một bữa cơm gia đình, hay một câu nói vô tình nhắc đến người xưa thì tất cả lại trở về nguyên vẹn.
Câu chuyện tôi kể hôm nay là câu chuyện về cha tôi.
Phần lớn những gì xảy ra ngày ấy, tôi chỉ còn nhớ những chi tiết rất nhỏ. Sau này, chính mẹ đã kể lại cho chị em chúng tôi nghe. Và từ lời kể của mẹ, tôi mới hiểu rằng sau ngày cha mất, đã có những chuyện rất lạ xảy đến với gia đình mình.
Ngày cha mất, tôi còn nhỏ. Trong ký ức của tôi về tang lễ hôm ấy, có một hình ảnh mà bao nhiêu năm rồi tôi vẫn không quên được.
Đó là một người đàn ông vừa đi vừa quỳ, vừa khóc.
Hôm ấy là ngày cuối trước khi đưa linh cữu cha tôi về Huế, an táng tại chùa Giác Lâm. Những người từng phục vụ cùng cha trong binh chủng Không quân lần lượt đến thắp nhang, tiễn biệt ông lần cuối.
Mẹ và mấy chị em tôi đứng bên quan tài chấp tay lạy trả.
Từ phía xa, tôi nghe tiếng một người đàn ông khóc rất lớn.
Ông tiến về phía quan tài một cách rất lạ. Đi được vài bước, ông lại quỳ xuống. Rồi đứng lên, đi thêm vài bước, lại quỳ. Càng đến gần, ông càng khóc dữ dội. Tôi không còn nhớ chính xác khoảng cách, chỉ nhớ rằng khi còn cách quan tài khá xa, ông gần như không đi nữa mà cứ quỳ xuống, nhích dần về phía trước.
Khi đến trước bàn thờ cha, ông lấy từ trong người ra ba món đồ.
Một chiếc nhẫn.
Một chiếc đồng hồ.
Và một khẩu súng nhỏ mà theo lời mẹ kể, có liên quan đến việc bắn tín hiệu hoặc trái sáng dùng trong những tình huống khẩn cấp.
Chiếc nhẫn là nhẫn của người sĩ quan Không quân, gắn với khóa học và thời gian ra trường của cha. Đó là vật mà những người trong binh chủng thường mang như một dấu hiệu để nhận biết khóa của mình.
Người đàn ông đặt cả ba món lên bàn thờ.
Rồi ông cúi xuống lạy.
Ông lạy cha tôi, lạy trước quan tài, khóc đến gần như không nói thành lời:
“Trung úy ơi… em xin lỗi… Em sai rồi… Em sai rồi…”
.
Mẹ tôi thấy vậy mới đến đỡ ông dậy.
Mẹ hỏi:
“Có chuyện gì vậy? Tại sao anh khóc như thế? Những món đồ này từ đâu mà có?”
Lúc ấy, người đàn ông mới kể.
Ba món đồ lấy từ người đã khuất
Theo lời ông, hôm xảy ra tai nạn, chiếc máy bay của cha tôi xuất hiện trên bầu trời phi trường Nha Trang trong một tình trạng bất thường.
Máy bay đảo nhiều vòng trên không rồi cuối cùng hạ xuống phi đạo. Sau khi chạm đất, nó tiếp tục trượt một đoạn dài trước khi dừng hẳn.
Người đàn ông ấy là một trong những người có mặt tại phi trường và đã chạy đến chiếc máy bay.
Khi cửa được mở ra, cha tôi đã không còn thở.
Trong lúc ấy, ông nhìn thấy chiếc nhẫn trên tay cha, chiếc đồng hồ cha đang đeo và khẩu súng tín hiệu. Vì một phút tham lam, ông đã lấy cả ba món rồi giữ lại cho mình.
Tang gia bối rối, mẹ tôi lúc ấy chỉ biết chồng mình vừa mất. Giữa một nỗi đau quá lớn, mẹ đâu còn tâm trí để nhớ cha đã mang theo những gì.
Vì vậy không ai biết những món đồ ấy đã biến mất.
Nhưng rồi một chuyện xảy ra.
Người đàn ông kể rằng trong những đêm sau đó, cha tôi đã “về”.
Theo lời ông, cha hiện về rất dữ, túm lấy cổ ông, nhấc bổng lên và bắt ông phải đem những thứ đã lấy trả lại ngay và Ông tin rằng nếu không trả, ông sẽ không được yên.
Chuyện ấy xảy ra khiến ông hoảng sợ đến mức cuối cùng không chịu nổi nữa.
Và đó là lý do hôm ấy ông mang tất cả đến tang lễ.
Ông vừa quỳ vừa khóc, xin cha tha thứ.
Tôi không nhớ được toàn bộ câu chuyện khi còn nhỏ. Trong đầu tôi chỉ còn hình ảnh một người đàn ông từ xa quỳ xuống, đứng lên, đi vài bước rồi lại quỳ, tiếng khóc vang lên giữa đám tang.
Mãi nhiều năm sau, trong một bữa cơm gia đình, mẹ bất chợt nhắc lại chuyện cũ. Khi ấy tôi mới hiểu người đàn ông năm xưa là ai và tại sao ông lại khóc trước quan tài cha tôi đến như vậy.
Nhưng câu chuyện về cha chưa dừng ở đó.
“Đã bảo là phải nghe”
Đến một ngày gần đến hè năm 1974, một chuyện khác lại xảy ra.
Hôm ấy, mẹ cùng vài người bạn đi đến một nơi có người lên đồng. Mẹ tôi vốn không tin những chuyện đồng cốt nên chỉ làm nhiệm vụ lái xe đưa các bà bạn đến rồi ngồi chờ bên ngoài.
Ba người bạn vào trong, còn mẹ ngồi lại trên xe.
Một lúc sau, có một cậu bé từ trong chạy ra gọi:
“Bà ơi, cô mời bà vào. Có người muốn gặp bà.”
Mẹ từ chối:
“Không, bà không coi đâu. Mấy người kia coi thôi.”
Nhưng cậu bé nhất định nói rằng những người kia vẫn chưa thể coi vì đang có “một người” muốn gặp mẹ trước.
Cuối cùng mẹ bước vào.
Người lên đồng bảo mẹ ngồi xuống, đốt nhang và khấn.
Rồi điều khiến mẹ sửng sốt đã xảy ra.
.
Người đàn bà ấy bắt đầu nói bằng một giọng mà mẹ nhận ra là giọng của cha tôi.
Mẹ vẫn chưa tin.
Cho đến khi người ấy nói một câu:
“Đã bảo là phải nghe.”
Mẹ sững người.
Bởi đó là câu cha tôi vẫn thường nói với mẹ khi còn sống. Mỗi lần cha dặn điều gì mà mẹ còn cãi hay không chịu nghe, cha thường nói đúng câu ấy:
“Đã bảo là phải nghe.”
Đó là cách nói rất riêng giữa hai vợ chồng mà người ngoài không thể biết.
Rồi cha bảo mẹ:
“Hè này phải đưa các con vào Sài Gòn. Không được để các con ở lại Nha Trang.”
Mẹ hỏi tại sao.
Nhưng không có một lời giải thích rõ ràng nào khác.
Chỉ là phải đi.
Phải đưa các con vào Sài Gòn.
Và phải nghe.
Mẹ đưa chúng tôi rời Nha Trang
Thời gian ấy mẹ rất bận.
Sau khi cha mất, mẹ làm công việc liên quan đến các công trình xây dựng cho một người anh trong gia đình là kiến trúc sư. Mẹ thường phải đi nhiều nơi như Đà Lạt, Nha Trang, Tuy Hòa, Cam Ranh để kiểm tra tiến độ công trình, vật liệu xuất nhập và kho hàng.
Ba chị em chúng tôi phần lớn ở với mợ và người thân chăm sóc.
.
Vì thế việc bỏ Nha Trang để đưa cả ba đứa con vào Sài Gòn không phải chuyện đơn giản.
Nhưng cuối cùng mẹ quyết định nghe lời cha.
Mẹ nói với mợ tôi:
“Anh đã nói như vậy thì em phải nghe thôi.”
Đến hè, mẹ đưa ba chị em chúng tôi rời cư xá ở Nha Trang.
Đồ đạc trong nhà, tủ bàn, vật dụng sinh hoạt… gần như mẹ để lại hết. Chúng tôi chỉ mang theo những thứ cần thiết, nhất là sách vở và quần áo.
Mẹ đưa chúng tôi vào Thủ Đức.
Nói đây mẹ thuê một căn nhà nhỏ có gác. Tôi và em gái đi học ở một trường gần nhà thờ, tôi còn nhớ trường trung học Á Thánh Gẫm thuộc khuôn viên của nhà thờ Thủ Đức còn em trai được vào học trường La san Mossard
Cuộc sống mới bắt đầu.
Lúc ấy chúng tôi không hiểu tại sao mẹ lại nhất định đưa cả ba đứa đi.
Có lẽ chính mẹ cũng chưa hiểu.
Rồi những tháng đầu năm 1975 đến.
Chiến sự ngày càng dữ dội.
Trước tháng Tư năm ấy, người thân từ Nha Trang chạy vào Sài Gòn và gặp mẹ. Trong những câu chuyện hốt hoảng về những ngày cuối cùng ở Nha Trang, mợ kể lại một chuyện khiến mẹ chết lặng.
Sau khi chúng tôi rời đi, mợ và gia đình vẫn ở lại căn nhà cũ trong cư xá.
Khi tình hình trở nên nguy hiểm, cả nhà phải rời khỏi đó để tránh pháo kích.
Và rồi một quả đạn pháo đã rơi trúng căn nhà.
Nó rơi đúng vào phòng ngủ của ba chị em chúng tôi.
Căn phòng bị phá huỷ hoàn toàn và đó chính là căn phòng mà nếu mẹ không đưa chúng tôi vào Sài Gòn, mỗi đêm ba chị em vẫn sẽ nằm ngủ ở đó.
Mẹ kể đến đây rồi nói:
-Nếu lúc đó các con còn ở Nha Trang thì không biết chuyện gì đã xảy ra…
Tôi cũng không biết.
Không ai có thể biết.
Nhưng có một điều tôi biết rất rõ: trước đó cha đã nhất định bảo mẹ phải đưa chúng tôi đi.
“Đã bảo là phải nghe.”
Và mẹ đã nghe.
Người cha đã mất nhưng chưa từng rời xa
.
Suốt nhiều năm, tôi vẫn nghĩ về hai câu chuyện ấy.
Một người đàn ông lấy chiếc nhẫn, đồng hồ và khẩu súng của cha rồi hoảng sợ mang trở lại, quỳ từ xa vào tận quan tài mà xin lỗi.
Một người mẹ vốn không tin chuyện đồng cốt lại nghe chính câu nói quen thuộc của người chồng đã mất và nhận được lời dặn phải đưa ba đứa con rời Nha Trang.
Rồi sau đó, một quả đạn rơi đúng vào căn phòng nơi chúng tôi từng ngủ.
Tôi không muốn dùng câu chuyện của gia đình mình để chứng minh điều gì.
Mỗi người có một niềm tin riêng về sự sống và cái chết, về thế giới hữu hình và những điều con người chưa thể nhìn thấy.
.
Nhưng với riêng tôi, sau những gì mẹ kể lại và những gì chính mình còn nhớ, tôi luôn có một niềm tin rất sâu trong lòng:
Người chết không hẳn là hết.
Có thể cha tôi đã không còn hiện diện bằng hình hài mà chúng tôi có thể nhìn thấy hay chạm vào. Nhưng tôi vẫn tin rằng trong những năm tháng khó khăn nhất, cha chưa bao giờ thật sự bỏ mẹ con tôi mà đi.
Cha vẫn quanh quẩn đâu đó.
Vẫn dõi theo mẹ.
Vẫn thương ba đứa con.
Và khi hiểm nguy đến gần, bằng một cách nào đó mà đến hôm nay tôi vẫn không thể giải thích, cha đã tìm cách báo cho mẹ biết:
Đưa các con đi.
Có lẽ tình thương của một người cha không kết thúc ở khoảnh khắc trái tim ngừng đập.
Nó chỉ chuyển sang một cách hiện diện khác.
Bây giờ, khi đã đi qua rất nhiều năm tháng của cuộc đời, tôi càng hiểu tại sao mẹ nhớ những câu chuyện ấy đến vậy. Ngày ấy mẹ còn trẻ, một mình mất chồng rồi phải gánh trên vai ba đứa con giữa một thời cuộc đầy biến động.
Có lẽ trong những ngày cô độc nhất, mẹ cũng đã tin rằng cha vẫn ở đâu đó bên cạnh mình.
Còn đối với tôi, hình ảnh cha ngày càng xa trong ký ức, nhưng câu chuyện mẹ kể thì vẫn còn.
Tôi kể lại hôm nay không phải để nói về một câu chuyện ma quái hay huyền bí.
Tôi chỉ muốn kể về một người cha đã mất nhưng tình thương dành cho vợ con dường như chưa bao giờ mất theo.
Và tôi tin rằng, ở một nơi nào đó ngoài tầm mắt của mình, cha vẫn biết chúng tôi đã lớn lên, đã sống tiếp qua những biến động của cuộc đời.
Cha vẫn nhìn thấy mẹ.
Cha vẫn nhìn thấy ba chị em tôi.
Như ngày nào, cha vẫn âm thầm che chở cho gia đình.
Cha ơi,
Nếu thật sự có một thế giới mà người sống không thể nhìn thấy, thì con tin cha vẫn ở đó.
Và nếu tình thương có thể đi qua ranh giới của sự sống và cái chết, thì những gì mẹ kể lại chính là điều khiến con tin rằng:
Cha chưa bao giờ rời bỏ mẹ và các con…!
NJ 27/8/26
No comments:
Post a Comment