Đường Vòng
Buổi phỏng vấn thứ mười bảy kết thúc bằng đúng câu Khoa đã nghe mười sáu lần trước đó, chỉ khác cách nói. Người phụ nữ bên kia bàn gấp tập hồ sơ lại, cười một nụ cười lịch sự đã được luyện tập kỹ, bảo rằng portfolio của em ổn, ý tưởng cũng có, nhưng bên chị đang cần người có tối thiểu hai năm kinh nghiệm thực chiến, em thông cảm.
Khoa ra khỏi tòa nhà lúc bốn giờ chiều, đứng dưới nắng, nhìn cái bảng tên công ty sáng loáng trên tường kính, và bỗng thấy buồn cười. Cậu học thiết kế đồ họa, tốt nghiệp loại khá, ra trường tám tháng. Tám tháng, ba mươi mấy lá đơn, mười bảy buổi phỏng vấn. Ai cũng cần kinh nghiệm. Không ai cho cậu chỗ để có kinh nghiệm.
Tối đó, nhóm chat lớp đại học nổ tin. Hùng, đứa ngồi bàn dưới, vừa được nhận vào một agency lớn ở Sài Gòn, đăng ảnh cái bàn làm việc mới, hai màn hình, ly cà phê, dòng caption ngắn gọn "ngày đầu đi làm". Bên dưới hơn năm chục lượt chúc mừng. Khoa bấm thả tim, gõ hai chữ "chúc mừng", rồi tắt điện thoại, nằm ngửa nhìn trần nhà trọ, nghe tiếng quạt máy quay rè rè trên đầu.
Cậu không ghét Hùng. Cậu chỉ ghét cái cảm giác mình đang đứng yên một chỗ trong khi cả thế giới trôi qua trước mặt. Lan lấy chồng tháng trước. Đạt sắp đi Nhật. Ngay cả Vy, đứa học đuối nhất lớp, cũng đã có việc ở một studio nhỏ. Còn cậu, tài khoản còn hơn hai triệu, tiền nhà tháng sau chưa biết xoay đâu, và mẹ thì tuần nào cũng gọi, câu đầu tiên bao giờ cũng là "con có việc chưa con".
Cậu bắt đầu chạy xe ôm công nghệ vào tháng thứ chín.
Cậu không nói với ai. Với mẹ, cậu bảo đang làm freelance cho mấy chỗ quen, cũng tạm ổn. Với nhóm bạn, cậu im. Có lần đang chờ đèn đỏ ở ngã tư Phú Nhuận, mặc áo khoác xanh, đầu đội mũ bảo hiểm có logo hãng, cậu thấy một đứa bạn cùng khóa đi ngang trên taxi. Khoa cúi mặt xuống, kéo khẩu trang lên, tim đập thình thịch cho đến khi đèn chuyển xanh. Đêm đó về, cậu ngồi rất lâu trên mép giường, tay còn nguyên vết hằn của quai túi giao hàng, tự hỏi mình đã sai ở chỗ nào.
Chỉ có một việc cậu vẫn giữ, dù chẳng ai trả cậu đồng nào. Từ hồi còn sinh viên, Khoa vẫn nhận thiết kế mấy tấm banner, mấy tờ chương trình cho giáo xứ. Lễ bổn mạng, Giáng Sinh, khai giảng giáo lý, trại hè thiếu nhi. Cha phó cứ có việc gì cần in ấn là nhắn cậu. Bây giờ thất nghiệp, cậu càng làm nhiều hơn, phần vì rảnh, phần vì đó là thứ duy nhất còn khiến cậu thấy mình có ích. Có những đêm chạy xe về lúc mười một giờ, người mỏi rã, cậu vẫn mở máy tính lên, ngồi chỉnh từng dòng chữ trên tấm phông cho ngày lễ Chúa Nhật sắp tới, đến hai ba giờ sáng.
Tết năm đó cậu về quê.
Hai tám Tết, bữa cơm tất niên nhà bác cả, đông đủ họ hàng. Rượu vào được nửa chừng, ông chú họ, người vẫn có thói quen nói to nhất bàn, quay sang cậu: "Thằng Khoa học đại học ra rồi giờ làm gì mậy?" Khoa chưa kịp trả lời thì một người khác đã đỡ lời: "Nghe nói làm tự do đó chú." Ông chú cười khà khà, nói cái câu mà mãi sau này Khoa vẫn còn nhớ nguyên văn: "Tự do là thất nghiệp chứ tự do gì. Học cho lắm vô rồi cũng vậy. Nhìn thằng con anh Ba kìa, có học đại học ngày nào đâu, giờ nó mua được đất rồi đó."
Cả bàn cười. Không ai có ý ác. Người ta chỉ cười cho vui. Nhưng Khoa ngồi đó, tay cầm đũa, thấy mặt mình nóng ran, thấy từng con chữ đâm vào mình như kim. Cậu ăn hết chén cơm, xin phép ra ngoài trước, nói là ra ngoài hóng gió.
Cậu đi bộ ra nhà thờ xứ. Lễ chiều đã xong từ lâu, cửa nhà thờ khóa rồi, sân vắng, chỉ còn mấy dãy chậu cúc mới chở về xếp dọc lối đi chuẩn bị cho mấy ngày Tết, và ngọn đèn nhỏ trong hang đá Đức Mẹ ở góc sân. Khoa ngồi xuống cái ghế đá đối diện hang đá, không đọc kinh, không làm dấu, chỉ ngồi. Rồi tự nhiên nước mắt cậu chảy ra, không kìm được, cậu phải cúi đầu xuống, lấy tay quệt vội, sợ có ai đi ngang nhìn thấy.
Cậu không cầu nguyện gì đẹp đẽ. Trong đầu cậu lúc đó chỉ có một câu, lặp đi lặp lại, vừa giận vừa tủi: Chúa ơi, con có làm gì sai đâu. Con đâu có lười. Con đâu có ăn chơi. Sao con bị bỏ lại vậy Chúa.
Không có tiếng nào trả lời. Chỉ có tiếng nhạc xuân từ nhà ai đó vọng lại lẫn trong tiếng chó sủa cuối xóm, và bóng tượng Đức Mẹ đứng im trong quầng sáng vàng đục.
Ngồi được chừng nửa tiếng, cậu nghe tiếng dép lê trên sân gạch. Mẹ cậu, không biết đã đi theo con từ lúc nào, ngồi xuống ghế đá bên cạnh cậu, không hỏi gì. Hai mẹ con ngồi im một lúc lâu. Rồi bà nói, giọng bình thường như đang nói chuyện cơm nước:
"Mẹ biết con chạy xe rồi."
Khoa sững người.
"Tháng trước cô Hạnh ngoài chợ thấy con chở khách ngoài Sài Gòn, về kể mẹ nghe." Bà vẫn nhìn lên tượng Đức Mẹ, không nhìn con. "Mẹ có nói gì đâu. Mẹ chỉ buồn là con giấu mẹ. Con nghĩ mẹ xấu hổ vì con hả?"
Khoa không trả lời được.
"Ba con hồi trẻ đi bốc vác ở cảng bảy năm mới cưới được mẹ đó con." Bà nói tiếp, chậm rãi. "Bảy năm. Có ai chê ba con đâu. Con làm ăn lương thiện thì đi đâu mẹ cũng ngẩng mặt lên được. Mẹ chỉ sợ con nghĩ mình không ra gì rồi con bỏ nhà thờ, bỏ Chúa luôn, chứ mấy chuyện kia mẹ không sợ."
Bà ngừng một chút, rồi nói câu cuối, và đó là câu làm cậu vỡ ra:
"Tối nào mẹ cũng đọc kinh cho con. Không phải xin cho con giàu. Mẹ xin cho con đừng có mất lòng tin."
Ra Tết, Khoa quay lại thành phố, vẫn chạy xe, vẫn nhận thiết kế cho giáo xứ. Nhưng có gì đó đã khác. Cậu thôi giấu. Có đứa bạn hỏi dạo này làm gì, cậu nói thẳng là đang chạy xe, làm thiết kế thêm. Có đứa im lặng một cách khó xử, có đứa gật gù bảo cũng được mà, cũng có đứa nhắn riêng kể rằng nó cũng đang chán việc muốn nghỉ. Hóa ra ai cũng có phần chật vật của mình, chỉ là người ta không đăng lên mạng.
Tháng Sáu năm đó, giáo xứ tổ chức đại hội giới trẻ giáo hạt, gần hai nghìn bạn trẻ về tham dự. Toàn bộ phần hình ảnh, từ logo, phông sân khấu, băng rôn, áo, sổ tay, đến mấy chục tấm poster treo dọc khuôn viên, một tay Khoa làm trong hơn hai tháng, vẫn không lấy đồng nào. Cha phó áy náy, cậu chỉ cười bảo con làm cho Chúa, cha đừng tính tiền với Chúa.
Buổi tối cuối đại hội, một người đàn ông trung niên đến bắt chuyện với cậu ở khu vực hậu trường, hỏi ai làm bộ nhận diện cho chương trình này. Khoa nói là con làm. Ông ta ngạc nhiên, hỏi cậu làm ở công ty nào. Cậu ngập ngừng một giây, rồi trả lời thật: "Dạ con đang chạy xe công nghệ, thiết kế là con làm thêm thôi chú."
Người đàn ông nhìn cậu một lúc, rồi đưa danh thiếp. Ông ta có một công ty in ấn và truyền thông nhỏ, hơn chục nhân viên, đang cần một designer. Ông nói một câu mà Khoa nhớ mãi: "Chú không quan tâm con có mấy năm kinh nghiệm. Chú nhìn hai tháng con làm cái này không công là chú biết con làm được."
Khoa đi làm từ tháng sau, lương khởi điểm bảy triệu, thấp hơn Hùng, thấp hơn cả Vy. Cậu vẫn chạy xe buổi tối thêm một thời gian nữa cho đến khi ổn định. Không có gì hào nhoáng để đăng lên nhóm chat.
Nhưng có một buổi chiều, khoảng nửa năm sau, khi đang ngồi sửa file trong văn phòng, cậu nhận ra một điều. Cái năm mà cậu tưởng là năm mình bị bỏ lại, hóa ra lại là năm cậu học được nhiều thứ nhất. Cậu học được cách ngồi xuống nói chuyện với một bà cụ đi chợ về mà không thấy phiền. Cậu học được cách chịu đựng cái nhìn của người khác mà không sụp xuống. Cậu học được rằng đồng tiền kiếm ra khó tới mức nào, thứ mà đám bạn ngồi phòng máy lạnh của cậu chưa chắc đã biết. Và cậu học được rằng mẹ cậu, một người đàn bà bán rau ngoài chợ, hiểu về giá trị của một con người hơn tất cả những người ngồi bên kia bàn phỏng vấn cộng lại.
Tối đó về nhà trọ, cậu gọi điện cho mẹ, kể chuyện công ty, chuyện sếp, chuyện linh tinh. Cuối cuộc gọi, cậu nói, giọng cố tỏ ra bình thường:
"Mẹ khỏi đọc kinh xin cho con giữ lòng tin nữa nghen. Con giữ được rồi."
Đầu dây bên kia im lặng mấy giây. Rồi tiếng mẹ cậu, hơi nghẹn, nhưng vẫn cố nói cho gọn như mọi khi:
"Ừ. Vậy mẹ chuyển qua xin cho con biết ơn."
*St- Lấy từ trang Tủ Sách Dịch Công Giáo-không rõ Tác Giả
No comments:
Post a Comment