Showing posts with label Nguyễn Kỳ Yên. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Kỳ Yên. Show all posts

Sunday, December 4, 2016

Câu Chuyện Trên Đường Về





4
Anh Bốn len lách đám đông đứng ngồi đăm đắm, buồn rũ, bước ra khỏi nhà quàn. Anh hít thở liền mấy hơi thật sâu để đổi lớp không khí đầy khói nhang, khói trầm, hơi người, mùi nước hoa, mùi dầu mà anh đã hít mấy giờ liền ở bên trong. Anh đến ngồi bên bể cạn, nơi có dựng pho tượng đá và vòi nước phun, lấy thuốc ra mồi, hút, chờ hai người bạn và đứa em trai ra, cùng về.

Bên ngoài nhà quàn vắng lặng. Nắng chiều chói lói. Xe cộ chạy vùn vụt ở trên đường xa xa, tạo ra một dòng âm thanh dứt, nối, đều đều, dễ chịu. Một con chim sẻ bay sà xuống, tắm hồn nhiên trong vũng nước đọng dưới chân pho tượng, rồi bay vù lên cành cây gần đó, rung cánh cho những hạt nước li ti văng bung ra, tan biến trong không. Cửa nhà quàn lại mở, Tường, Khánh và Minh nối nhau bước ra. Lời tụng niệm, tiếng mõ vang lên theo họ, rồi tắt ngấm theo cửa đóng.

Chiếc xe chạy vòng ra con đường đồi, bỏ lại đàng sau vùng thung lũng khuất nắng, chạy nhập vào dòng xe trên xa lộ lớn, chạy về hướng mặt trời chiều.

Trong xe im lặng một chặp lâu. Minh lái xe lên tiếng:

- Mình chạy kiểu này về đến nhà là đúng giờ cơm tối. Gần hai ngày rày, chẳng làm gì nặng nhọc, mà cũng thấy mệt nhừ. Mấy ông ca hát, chuyện trò gì lên, cho tui khỏi buồn ngủ chớ.

Khánh, nhỏ tuổi nhứt trong xe, hưởng ứng:

- Đúng rồi. Nói chuyện đi. Suốt ngày cứ phải làm mặt đưa đám, im ỉm. Có nói chuyện với nhau thì cứ lào thào, như người bịnh. Tui chịu hết nổi rồi. Mà đám tang lớn quá. Hôm qua khách viếng thật đông. Nhiều tràng hoa qúa. Lần đầu tiên, tui dự đám tang ở xứ này, thấy thiệt là khác xa với chỗ biết ở xứ mình.

Tường nói chen vô:

- Chú mày, hồi nào tới giờ, chưa bước chân ra khỏi làng quê, y như ếch ngồi đáy giếng, làm sao biết được ở thành phố, ở bên mình, tổ chức đám tang ra sao? Thì cũng y vậy thôi. Cũng người chết nằm ngay đơ cẳng, một chỗ, người sống chạy vắt giò lên cổ, đàn bà thì khóc lóc, con nít thì đùa phá. Chỉ một vài điểm khác, như là ở đây họ không che đậy mặt người chết, mà để lộ ra, cho khách viếng tiện nhìn, và còn quay phim, chụp hình hơi nhiều. Lúc di dời quan tài, không có ban đờn kèn trỗi nhạc Tây, nhạc Ta, cũng không có đám khóc mướn làm rộn.

Khánh thắc mắc:

- Tui không hiểu sao ở ngay lối vào, lại có thể dựng tấm bảng “Xin Miễn Phúng Điếu”, coi không nhã. Còn lúc con cháu lạy, thấy không ăn rập theo bài bản nào hết, đứng ngồi thật lộn xộn.

Anh Bốn nói:

- Vậy mới ra cái cảnh “tang gia bối rối”. Con cháu toàn khá giả, nên không muốn nhận tiền phúng điếu, tránh khỏi mang nợ về sau. Chỗ đó hay lắm, chú làm sao hiểu tới. Chú có để ý, khi mình thắp nhang lạy ba lạy, thì bạn chú, là con của người chết, lạy trả lại bốn lạy không? Đó là chủ trương thà dư, không để thiếu, thà người nợ mình, chớ không để mình nợ người.

Minh thêm vô:

-Tui ngồi gần mấy người lớn tuổi, có nghe họ nói về các phí tổn mua áo quan, trả cho nhà quàn, phí hoả thiêu, cúng nhà chùa, rước thầy tụng kinh, trả công ban hộ niệm, hoa đèn,... tính ra chừng ba chục ngàn đô. Đám tang vậy là tươm tất.

Tường:

- Nhưng tui thấy thiếu thiếu, nhớ nhớ một cái gì đó.

Anh Bốn:

- Chắc ông thiếu nhớ tiếng kèn, tiếng nhị. Không thì nhớ cảnh ăn uống, nhậu nhẹt, ca hát, chia buồn thâu đêm, của bà con chòm xóm. Hay là lại nhớ cảnh quốc kỳ bọc thây, với lính bồng súng dàn chào, hồi trước?

Anh Bốn ngừng nói, đốt thuốc, rít một hơi dài, rồi nói chậm:

- Đúng ra, tui cũng thấy có cái gì hụt hẩng. Người chết mình không quen. Mà chết đi là hết rồi. Tui nói hụt hẩng là có lẽ từ cái thấy ở nơi đám con cái. Chú Khánh, chú Minh, hai chú, hồi trước còn nhỏ quá, may mắn, chưa biết qua đám tang của bạn bè chết trận, chưa thấy cảnh chôn lấp vội vàng của người chạy nạn, nạn chiến cuộc Tết Mậu Thân, nạn Muà Hè Đỏ Lửa, càng chưa thấy những đám tang đầy kiểu cách, của thời thanh bình ngắn, trước chiến tranh. Mỗi đám tang tui thấy đều in đậm vào trí nhớ, không phai. Nói chung, nói theo kiểu dao to, búa lớn, thì đám tang, cũng như đám giỗ, đám cưới, là cớ, là dịp, để những người sống tụ lại với nhau, mà thể hiện lối sống, quan niệm của mình về nhân sinh, thể hiện với chính mình và với những người thân quen chung quanh. Đi đám tang là mình đi đến những người sống, người còn lại, đến với những người chưa chết.

Anh Bốn ngưng nói, kéo một hơi thuốc. Khánh nói chen vào:

- Anh Bốn à, chuyện này để chút nữa nói tiếp được không? Nói xong “đám” rồi mới nói qua “người sống” nghen? Hồi ở làng, tui có coi đám tang ông Hương Kiểm Nhì. Còn nhớ người ta đặt một ly rượu đầy lên quan tài. Đám phu nhà đòn khiêng đi thật khéo, qua bao con dốc, khúc quanh, mà rượu trong ly vẫn đầy. Ban kèn thì thổi những bản khác nhau. Tiếng nhạc nghe ai oán, buồn đau như dao cứa vào thịt. Con cháu cứ nghe theo đó mà làm y một rập, lúc khóc to, lúc khóc ri rí. Không thấy có tặng tràng hoa, chỉ phúng tặng nhang đèn, và phụ công, góp sức. Tui chưa từng thấy hỏa táng. Ghê quá. Nghĩ đến đã sợ rồi. Đem đi đốt như hầm gạch, hầm vôi, nóng quá thì hồn phách chịu sao nổi, làm sao còn dám đầu thai lại làm kiếp người? Rồi tro cốt hôi hốt ra lại đem đặt ở chùa, nơi mà ông ấy, hồi còn sống, chưa từng đặt chân tới. Con cái đông đầy, có trai, có gái, nhà cửa thênh thang, sang trọng, mà chẳng có được một chỗ nhỏ nào để thờ cha. Chuyện này, cứ nghĩ đến tui lại thấy tưng tức, buồn buồn.

Minh:

-Tui có nghe anh con trưởng nói là sẽ để hộp cốt hôi ở chùa, cho nghe kinh. Độ một năm sau, anh ta sẽ đích thân mang về táng ở phần mộ của gia đình. Anh ta có chương trình xây mộ cho cha thật “hoành tráng”, như cha anh đã xây cho nội anh, mấy năm trước. Xong, chọn một người kha khá trong họ, nuôi tiền cho người ấy trông coi, nhang khói mộ phần. Đã bắt đầu bàn chuyện gom hùn tiền lại rồi. Anh còn nói về cuộc đất phát của giòng họ. Đem cha táng ở đấy, để con cháu thêm hưng vượng. Đó là việc lớn phải làm.

Anh Tường than thở:

- Kể cũng xui. Thằng đó trộng tuổi rồi. Mới về VN tính hỏi vợ, chưa kịp hỏi thì ông già mất. Chờ cho mãn tang cha thì lâu quá, e vật đổi, sao dời, mà cưới chạy tang thì vội quá, nhà gái không ừ. Mất cha như nhà dột. Hồi nào tới giờ hắn quen sống lè phè, lông bông rồi.

Anh Bốn:

- Ờ, nói đến phong thủy, tui nhớ chuyện buồn cười này. Hồi nhỏ, một lần đi ăn giỗ, có nghe mấy ông lớn trong họ nói là thầy địa lý Tàu coi đất phát, nói cuộc đất của họ Trần có cái bàu nước tốt lắm. Chừng nào nước trở trong veo, trong họ có người làm quan lớn. Lúc đó ông Tư, trưởng tộc, lệnh cấm đụng bàu nước, cấm đánh bắt cá, cấm thả bò gặm cỏ v.v...,với lòng ước mong đời mình kịp thấy được trong họ có người nên quan. Về sau, chiến cuộc lan rộng, cả họ lần lượt bỏ làng, tản cư ra thành phố sống, nước bàu trở trong thiệt. Sau này, hết chiến tranh, bà con lục tục trở về làng cũ, thấy ra trong họ có mấy quan lớn: bí thư huyện, tư lệnh quân khu, đại biểu quốc hội v.v...ai ai cũng oai phong, lẫm liệt, hia mão rỡ ràng. Có điều, bà con dân đen trong họ cứ xa lánh mấy quan, chẳng ai dám thân cận. Các quan buồn, chỉ còn biết theo gạ mấy cháu thanh niên ăn không ngồi rỗi, rủ đi soi nhái, bắt kỳ đà về nhậu, giải sầu. Còn cái bàu nước, cứ để cho đục. Trưởng tộc cho bắt cá thả dàn. Còn nói: “Mình là dân làm ruộng, cần chi tới nước trong.”

Anh Tường ngắt lời:

- Chuyện quê nhà thì buồn lắm, nói đến bao giờ cho hết. Để tui kể chuyện ở đảo tị nạn cho nghe, cũng chuyện táng tro cốt. Có ông kia vợ chết. Ông không chôn vợ trên núi, mà đem đốt xác, rắc tro xuống biển. Ông nói: “Biết bao giờ mình trở lại chỗ đảo vắng đầy buồn đau này. Thôi thì bỏ tro xuống biển, cho bả gần đứa con chết lúc trên thuyền đánh cá.” Một người láng diềng nghe chuyện, cứ gật gù khen, còn dặn vợ con: “Khi chết, dù là đã đi định cư, cũng đừng chôn, mà hãy đốt xác, lấy tro, đem rắc xuống biển.” Bà vợ ghen, hỏi: “Bộ muốn cho gần con đĩ ngựa nào hay sao?” Ông chỉ cười. Mấy con thắc mắc, ông nói: “Má bay rồi già yếu, bọn bay rồi lớn, lấy chồng, ở theo chồng con. Khó có dịp cùng rảnh rỗi đi thăm mộ cha mà thắp nhang, nhổ cỏ. Thôi thì bỏ tro xuống biển. Biển bao la, chỗ nào mà chẳng thấy. Có nhớ cha, thì dắt chồng con ra biển chơi, tắm. Thấy nước như thấy cha.”

Khánh nói góp vào với anh:

- Tui có nghe một chuyện hơi khác, nghe ở bàn nhậu. Chuyện thế này: “Có bà kia gần chết, mà đám con chẳng đứa nào về. Bà trối là hãy hoả thiêu, lấy tro rắc ở các shopping mall, vì biết các con thích mua sắm, mới gần chúng được.” Thiệt là, đến chết, mà còn chẳng muốn buông nhau.

Anh Bốn:

- Mình trở lại chuyện đám tang nói chưa hết. Chú Khánh cứ nói ra ngoài đề. Nè, tui hỏi chớ mấy người nghe kinh, nghe giảng, có thấy ra điều gì không? Cái ông thầy chùa mập trắng hồng hào, cùng với mấy bà ban hộ niệm già khọm, tóc bạc phơ, hợp thành một nhóm tụng niệm thật nhịp nhàng. Tui đứng nghe lâu, nghe riết, cũng thấy thấm. Hồi xong lễ, ông thầy có kêu các anh em mặc áo tang, lại bên quan tài, để nghe khuyên nhủ. Ông thầy nói: “Đây là việc buồn. Sao lại buồn? Vẫn biết, ở đời có hợp thì có tan, có tụ thì có tán. Đó là lẽ tự nhiên. Nhưng, như con chim ở trên cây, thấy lá rụng, cành rơi, còn kêu thương, nhớ tiếc, huống chi người với người sao cho khỏi buồn, khi xa mất nhau. Nhưng từ chuyện buồn, ta làm gì? Ta biết quý hơn, biết giữ kỹ hơn, những thứ còn lại, chưa mất. Thứ gì? Đó là cái tình thân máu mủ, ruột rà, cái tình anh em, hoà thuận, yêu mến, giúp đỡ nhau. Đó mới là mâm cao, cỗ đầy dành cho nhau, trong kiếp sống tạm ở cõi trần. Trước, có tình cho cha, nay, ta dồn tình đó cho mẹ, cho anh chị em. Các con đã lớn,có học hành, có hiểu biết, thầy không phải nói nhiều.”

Minh chen vô:

- Tui cũng nghe thấy đoạn giảng đó. Lời lẽ thật cảm động. Nhưng không rõ là có nhằm ẩn ý gì không.

Tường nói:

- Tui cũng có nghe được mấy điều, có lẽ có ăn nhập với lời khuyên của ông thầy, cùng cắt nghĩa cho nhiều cảm nghĩ khó mô tả. Tình cờ tui nghe hai bà già nói chuyện với nhau. Một bà hỏi: “Lo cho ảnh xong, rồi chị với cháu nhỏ định ở đâu?”

Đáp: “Ông nhà mất, tôi lại hay ốm đau, phải dời ra khỏi chỗ ở bây giờ, nhưng chưa biết về với đứa nào. Thằng lớn thì chưa vợ, chưa con, cũng đang ở trọ nhà em gái, em rể. Nhà đó rộng, con rể, cháu ngoại rất tốt, nhưng là nhà của con gái. Mình về đó thì không thể gọi là ở theo con trưởng, mà mang tiếng là ở dựa con rể, con gái.” 

Hỏi: “ Vậy còn vợ chồng anh kế, anh có hai đứa con dễ thương, và cô vợ điệu điệu đó? Chị ở đó trông giúp cháu nội cho vui”. 

Đáp: “Thằng đó, vợ người nước ngoài, không ăn ở như người mình. Hai vợ chồng nó đã nói rõ từ lâu là muốn sống theo lối riêng tư của chúng. Mình làm cha mẹ, phải giúp cho chúng sống hạnh phúc, không thể quấy rầy”. 

Hỏi: “ Còn đứa em kế, tên L., vừa lấy vợ hồi trước Tết?” 

Đáp: “Nó cưng chìu vợ mới cưới, cho vợ đi học cắm hoa, pha trà, thể dục thẩm mỹ..., về đến nhà không phải đụng tay đến việc nhà. Nó bận hầu vợ, còn rảnh đâu mà lo cho mẹ, cho em. Hồi hỏi cưới, nhà gái đã ra điều kiện trước là con gái họ khờ dại, quen được nuông chìu, không thể bắt làm dâu, chịu thì mới gả. Mình đã chịu rồi”. 

Hỏi: “Tôi quên, còn con Nh., cháu mới học xong đại học năm ngoái đó. Sao không về ở chung với nó? Tôi mến con nhỏ, định làm mai thằng cháu cho nó. Cháu nay bao tuổi rồi chị?” 

Đáp: “ Nó hăm sáu, nhưng có bạn trai rồi. Chúng nó theo lối Mỹ, dọn vào ăn ở chung với nhau. Có thấy hợp nhau mới làm đám cưới. Biết đến chừng nào? Tôi rầy la, thì nó nói là nếu vội lấy nhau, mà không hợp, phải ly dị rắc rối lắm, làm vầy nếu có chia tay cũng tiện gọn. Nó nói cái gì I live my life. Tôi buồn, nhưng mình dạy chúng không kỹ, giờ biết nói sao. Ổng đi trước vậy mà khoẻ thân”. 

Hỏi: “Vậy còn hai đứa em kề, làm ở Tây Bắc thì sao? 

Đáp: “Thằng T. Với thằng Ch., chúng nói với tôi là má và em dọn lên đây, ở với đứa nào cũng được. Má lo cơm nước, trông coi nhà cửa là được rồi. Tiền già má giữ. Tôi tính ở theo chúng nó, nhưng thương nhớ mấy đứa cháu dưới này, với lại tôi hay bị phong thấp, nhức xương, nhức mình mà ở đó thì lạnh quá, chắc gần Tết mới tính lại. Với lại ổng mới mất, còn tôi ở đây, chúng mới còn tụ tập lại với nhau.”

Tường tiếp: “Mấy người nghĩ coi, hoàn cảnh bả bơ vơ như vậy, thấy có buồn không? Lời khuyên của ông thầy hẳn nhằm vào chỗ này. Cảnh này, lỗi ở ai?”

Anh Bốn:

- Đừng nói lỗi ở ai. Gốc rễ nằm sâu lắm, nhổ không lên đâu. Cũng buồn. “Nuôi con những tưởng về sau...” Ngồi đây gẫm lại mấy câu hát của ông bà xưa, mà thấy thấm thía. Để coi, cái gì: “Gío đưa ông Đậu về trời, Bà Đậu ở lại chịu đời đắng cay.” Coi, còn câu gì nữa,...

Khánh xen lời:

- Tui còn nghe câu gì: “Hiếu tử nha nha....” Ai làm ơn nói tui nghe khúc đuôi. Sao hỏi hoài mà mấy người lớn chỉ cười, không chịu nói ra?

Tường:

- Họ cười là may cho mày. Tao thì tao cú đầu. Đưa đầu ra đây. Có thằng em như mày tao thiệt hết hứng thú. Nhưng mà,...người chết là hết. Còn lo cho thừa mứa làm gì, khi mà không lo yên được cho người sống? Mẹ già, em dại bơ vơ, không lo, để chờ đến chừng nào? Lời khuyên của ông thầy, rồi ra như nước đổ đầu vịt, như đàn gảy tai trâu. Bọn con không hiểu thấu được.

Anh Bốn:

- Tui mong có đứa hiểu được sớm sớm, cho bà già đỡ buồn khổ. Xứ này nói là theo thực tế, mà không thực tế. Giáo dục ở xứ mình thô sơ, mà có chỗ hay. Người mình có truyền thống hiếu đễ. Tổ tiên mình đặt ra nào đám giỗ, đám cúng dãy mả, nhà từ đường, nào con trưởng, con thứ, đám hỏi, đám cưới, làm dâu, làm rể,... thiệt là có sắp xếp sâu xa. Con cháu cứ theo đó mà sống. Càng hiểu biết, càng kính phục. Nhờ vậy, trải qua bao ly tán, chiến nạn, người trong gia đình vẫn không bỏ nhau. Dù có lưu lạc nơi tha phương, mà nghe, mà gặp người anh em họ hàng, người cùng quê quán, cũng thấy dấy lên tình lưu luyến, cũng muốn lân la, gần gũi... Nhớ những lần đi cúng dãy mả, từ sáng sớm tụ tập ở nhà từ đường, rồi kéo nhau, kẻ cuốc, người rựa, đến các khu phần mộ. Đi dọc đường đã kể cho nhau nghe về những chuyện của người sống, của người chết, kể về những liên hệ tốt xấu. Đến phần mộ, dọn cỏ, đắp đất, lại nghe kể chuyện nữa. Chuyện về người nằm dưới mộ, cùng chuyện mơ ước của chính người sống, ước muốn chết yên mồ mả, an nghỉ cạnh những ông bà thân thương, để nằm nghe con cháu đời sau, vừa dọn cỏ, vừa bàn luận về mình. Nghe rồi phù hộ cho con cháu sống an ổn, ăn nên, làm ra. Chuyện được lập đi, lập lại, năm này qua năm khác, trở thành những bài học quý giá dùng suốt đời. Ôi, dòng đời đưa đẩy mình đến đây, thấy lòng người thay đổi theo khung cảnh mới, mà ngán ngẩm.

Tường ngắt lời anh Bốn:

- Ông sao xuống tinh thần chi cho tụi em nó nản. Đúng ra, xã hội nào cũng có cái hay, cái dở của nó. Khổ là chúng ta đứng một chân ở bên này, một chân ở bên kia. Lại luôn có kẻ chọn đứng theo kiểu con dơi, khi chọn làm chim, khi chọn làm chuột, mà mưu lợi cho bản thân, mà lánh né bổn phận. Mình nói chuyện vui đi. Cũng gần về tới nhà rồi. Chú Minh, sao không thấy nói gì hết vậy? Chiều tối rồi, mở đèn lên chưa? Chạy chầm chậm thôi. Hai ngày rày ăn chay, chắc là yếu sức. Về nhà tui tẩm bổ lại cho. Bê thui hỷ. Dê xào lăn hỷ. Giò heo giả cầy hỷ,…

Minh:

- Thì tui nghe mấy ông nói. Nhớ ông bà già quá. Tối nay phải viết thư thăm ổng bả. Bậy quá, lâu nay cứ nghĩ gởi tiền về đều đặn là đủ. Đâu dè... Thiệt rắc rối.

Trong xe yên lặng. Xe lại rời xa lộ, chạy rẽ vào con đường quen thuộc, tìm đến xóm nhà có nhiều vườn cây ăn trái nhiệt đới. Khánh nhìn anh Bốn đang nhả khói, trêu ghẹo: “Tiếc quá, bà già nhứt định đem đốt mấy cái ống vố hàng hiệu, nói là hút thuốc đã hại thân ông, dù có đứa con muốn giữ lại làm kỷ vật. Tiếc quá. Anh Bốn, hỷ.”

Nguyễn Kỳ Yên

Saturday, March 5, 2016

Như Câu Hát Ru Em




Một

Anh em tôi ra về sớm. Bữa họp Mừng Năm Mới vẫn còn lại mấy mục văn nghệ, ca múa.

Trời đêm bên ngoài thực lạnh. Lớp tuyết mới đã đông cứng, vỡ rào rạo dưới bước chưn. Chúng tôi kéo cao cổ áo choàng và rùn cổ lại cho bớt lạnh. Không khí đêm như những bàn tay ma, với ngón dài lì lợm, tháo vuốt cho kì hết chút hơi ấm đượm nồng khói thuốc lá, ra khỏi thân mình tôi. Những ngón tay lạnh đó khoáy sâu vào tai, vào mũi, luồn vào ống tay áo, ống quần..., tìm đến đám hơi ấm đang cố trì níu, chẳng chịu rời, để rồi trét thế lên một lớp keo lạnh, thơm thơm mùi lá thông, mùi cỏ mục.

Trong hầm ga xe điện vắng người. Còn gần mười phút nữa mới có chuyến xe. Em tôi có vẻ thoải mái, dù phải đứng đợi xe lâu, phải chịu lạnh. Tôi đứng bên em, im lặng, ôn lại những cảnh, những chuyện trong phòng hội.

Em nói:

- Giờ này chắc ông hội trưởng đang đứng ở sân khấu, chắt lưỡi, tâm sự nhỏ to với đồng bào. Còn chị Hai đầu bạc ngóng chờ lên sân khấu hát: “Yêu nhau thì... cởi áo cho nhau...”. Bé Phượng cũng sắp nhảy cà tưng, gào: “Em như cô gái hãy còn xuân...Xin cho em một chiếc áo dài...một chiếc xe đạp...”. Hà hà, năm ngoái, nghe nó hát, có bà gì sồn sồn, bình: “Con lầy thì chỉ có xích nô máy mới chịu nổi...Sao mà nố năng thế”.

- Chú còn chưa nghe lúc thằng Thanh hát, thầy giáo Mẫn khen: “Cái cổ hắn rướn ra đằng trước kéo tiếng ngựa hoáng, ngựa hoáng, mái tóc sau ót vung lên, y như ngựa chạy đua.”

- Kể ra thì lớp già khó chịu quá trớn. Vui chơi thôi mà. Nhưng lần này tổ chức khá. Công việc sắp xếp rõ ràng. Nhiều người hài lòng.

- Nhờ mấy đứa đội đá banh góp sức. Với lại mấy đứa phá rối được chia giữ trật tự, nên bà con được yên.

- Có điều, ai dựng cây mai dốt quá. Nhè đem cây thông Giáng Sinh ra vặt lá, đơm bông bự chi chít, từ đọt đến xuống tận gốc, chẳng chừa ra khoảng trống nào. Nhìn như lùm bông bụt. Vậy mà cũng nhiều người dựa vào đó chụp hình.

- Thiệt là Đông Tây hài hòa, ăn Tết mà còn nhớ được Giáng Sinh. Nghĩ coi, giữa mùa đông lạnh thế này, thì ai chịu khó lội tuyết, tìm cưa cành? Cái đó tưởng mình nên thông cảm cho ban tổ chức.

Em tôi cười khà khà, không nói gì. Tôi lại nghĩ lan man đến những chuyện đâu đâu. Nghĩ bỗng dưng cả đám kéo nhau rời bỏ quê hương, đến ở nơi cái xứ lạnh cóng này. Đất trời thì tối mờ mịt, cái lạnh xuống hai mươi, ba mươi độ âm, lạnh hơn sống trong ngăn tủ đông đá. Nói là xứ lạnh, mà tình nồng. Nồng cỡ nào chưa biết, nhưng đã thấy mấy cặp bỏ nhau rồi. Ai ai cũng sống dò dẫm, như người đi đêm.

Em tôi chợt reo lên:

- Í, ngộ quá, anh Hai coi cây kim giây, của đồng hồ đằng kia. Coi nó chạy. Nó chạy đều qua các số, nhưng đến gần số mười, nó chậm lại, như ngần ngại, không muốn gặp con số đó. Rồi kim cũng vượt qua, chạy tiếp. Nhưng ở chỗ sau con số một, kim nhảy cẩng lên, nhanh hơn, bù lại chỗ đi chậm. Nó y như đứa học trò đi học, ham vui, la cà ở chỗ này, rồi vội vã chạy ù ở chỗ kia, cho kịp giờ vào lớp.

Xe hôm nay đến trễ mấy phút. Tôi định mượn cái chuyện cây kim giây mà dũa bớt cái tánh thích gây sự với người, khi hắn nghe thấy điều chướng tai, gai mắt, như mới đây, trong bữa họp mừng.

Từ nhỏ em tôi đã tập được tánh không ngắt lời người khác đang nói. Có nghe không lọt tai thì cũng ghi nhớ, chờ đến lượt mình mới nói ra. Nếu chẳng nói lại được, thì hắn bỏ đi chỗ khác, không nghe. Nhớ hồi nào, tôi nói gì hắn cũng tin, cũng nghe. Bây giờ, anh em tranh luận với nhau, hắn thường dồn tôi vào ngõ bí. Có điều đáng yêu là, mỗi lúc tôi bí, hắn lại nhớ ra hắn là em tôi. Hồi chiều, em ngồi nghe mấy tay kỹ sư, thầy thuốc, thầy giáo, thầy chùa, tụ tập lại mặc áo thụng vái nhau. Họ than phiền lớp thiếu niên kiến thức nghèo nàn, hạn hẹp mà không chịu cố gắng học hành, như lớp đàn anh. Mọi người tung hứng nghe ra cũng có bài bản. Em tôi rổn rảng công kích những người bản thân dốt nát, mà cứ cho ta đây giỏi, chỉ thấy mình chột mắt, liền tưởng là thiên hạ tất cả đều mù, rồi mặc tình khinh nhờn kẻ khác, mặc tình múa gậy vườn hoang.

Tôi sẽ chỉnh em tôi cho tới khi xe điện ngầm tới thì nhảy lên, rồi lấy lý do cần giữ yên tịnh trên xe, không nên tranh luận ồn ào, để bắt hắn phải nín tiếng, cho tới khi về đến nhà. Cho hắn đủ thì giờ thấm ý tôi. Tôi khoan khoái với âm mưu đen tối của mình. Tôi nhìn hắn cười nhẹ, tính mở miệng nói, thì chợt thấy cái dáng bộ hắn cười cười, làm tôi ngần ngừ.

Phải rồi, nhìn hắn hôm nay, tôi bổng nhớ bức hình cũ, chụp đã hơn mười năm về trước, hình chụp cả nhà. Lúc đó, tôi cỡ tuổi hắn bây giờ, còn hắn thì nhỏ lắm, nhút nhát đứng nép bên mẹ. Lần lượt, những khuôn mặt thân quen hiện ra trong trí nhớ tôi, cảnh nhà đông đủ bên nhau, rồi anh em tôi trốn, vượt biển, rồi sống trọ ở trại tạm cư. Tôi lại liên tưởng đến cảnh ồn ào ở chung cư tiếp nhận người mới đến, có cô bé cứ ôm chưn mẹ không rời, đến mấy câu hát ru em thường nghe, rồi gặp lại người bạn, rồi hình ảnh con gái của bạn. Rõ ràng là cái bản mặt của em tôi, giúp tôi hiểu ra chuyện.

Bỗng chốc mà tôi thấy ra mọi mối liên hệ, giải thích được chuyện bận lòng tôi trong bấy lâu nay.

*Hai

Anh em tôi thuộc nhóm người đầu tiên đến xứ này tị nạn. Xứ lạnh vắng, nhưng hiền hòa, trù phú.

Chúng tôi đến vào giữa mùa hè, rời khỏi cái nóng hầm người của xứ Thái, mà bước vào xứ mới dịu mát, đẹp đẽ. Khắp chốn cây lá xanh mơn, hoa đua nở tưng bừng, trên rừng, dưới biển người người nghỉ ngơi, thoải mái. Ngày kéo dài mười tám, hai mươi giờ, chỉ tối lờ mờ độ bốn, năm tiếng rồi trời lại sáng. Cảnh đẹp, người thanh. Trước cảnh yên bình, thịnh vượng của đất mới, một ông già trong nhóm tị nạn ca ngợi: “Đất này đây thanh lịch, đất có hữu tình...” Không nói ra, ai ai cũng đồng ý với ông già.

Cái thuở ban đầu êm đẹp đó, sau này giúp chúng tôi chịu đựng, vượt qua được nhiều trở ngại của cuộc sống xa quê, tạm ngụ xứ người. Rồi mỗi năm, mỗi thêm những đợt người mới, với những cuộc sơ ngộ khác. Người đến vào mùa thu gặp cảnh gió lộng ào ào, lá bay đầy trời, mưa dầm cả tuần, cả tháng, suốt ngày ngồi trong nhà mà sầu nhớ. Người đến trong mùa đông còn thê thảm hơn. Trời lúc nào cũng tối mờ mịt, đi đâu cũng trùm kín sùm sụp, đường sá băng đóng dày, đi té lên, té xuống. Suốt ngày co ro, run rẩy. Thất nghiệp cả đám. Khó tìm ra việc, mà có việc thì lạnh quá, thường đi làm không đúng giờ được. Nằm nhà hút thuốc lá, ca vọng cổ, nghe nhạc, hay tụ họp lại ăn nhậu với nhau, kể chuyện tếu, bàn chuyện đời, đánh cờ tướng v.v...

Lẫn trong cái cảnh hỗn độn đó, tôi nghe được những câu hát ru em. Cái cô bé nhút nhát, tôi gặp hồi chiều, được chị ru ngủ bằng những câu hát êm đềm: “Ầu ơ, vạc kia bán đất cho cò, Ngày thì nhịn đói, tối mò ăn đêm...”. Giữa chốn phố phường, lại thêm trời đông lạnh lẽo, khó mà thả hồn theo câu hát để nghe được tiếng võng đưa, thấy được nắng xế dọi bên hiên, soi bóng dàn đậu, dàn mướp xuống mặt sân lỗ chỗ bóng nắng, hay thấy bướm vờn ngoài dậu, nghe cu gáy từ đồng xa,... Nhưng câu hát cũng gợi nhớ lại những câu hát cũ:

“Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”

Để phải cầu cứu:

“Ông ơi, ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng”

Chưa hết:

“Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”

Tôi thấy lại những thắc mắc của thời thơ ấu. Sao cò có thể lộn cổ xuống ao được? Cặp cánh nó để làm chi? Sao cò con chỉ đau lòng vì người thân mình bị xáo nước đục?

Năm tháng qua đi, cảnh vật đổi thay, người thân ly tán,... mà trong tôi vẫn đọng lại con cò với bờ ao, với ruộng lúa.

Bây giờ, nghe câu hát mà giựt mình. Mình có khác gì cò, vạc đâu? Tự dưng phải đưa nhà cho người khác ở, phải rời xứ ra đi. Tới đây, thất nghiệp, thức đêm, ăn đêm. Thức ăn lạ, ăn không vô, còn xào xáo, kháy cựa nhau, dò dẫm trong tối, lạnh, đi tìm đất đứng như con vạc, té nước như con cò. Cũng thảm thiết đó chớ.

Đâu phải chỉ riêng mình tôi, mà còn nhiều người nữa ở vào cảnh cò, vạc. Như bạn tôi, Trường, ly dị vợ, cuối tuần lãnh con về nuôi, cố công dạy con nói tiếng Việt, chơi đùa với con. Như anh S. ham vui chơi khắp nơi, cuối năm mới mò về nhà, vợ đóng cửa không cho vào. Anh tay xách hai gói qùa cho con, gồng mình chịu lạnh, đi tới, đi lui trong đêm. Họ không phải là đang đậu cành mềm, đang lộn cổ xuống ao, đang chờ người vớt hay sao?

Có lẽ tôi bi thảm hóa, hay quơ đũa cả nắm, cho sự việc thành trầm trọng chăng? Tôi đem hỏi em tôi. Em tôi cười rè, ngôn: “Nói cũng đúng. Rõ ràng là có mấy kẻ đang lộn cổ xuống ao, đang chờ người xáo măng” Hắn tiếp: “Cách nay ba bữa, tui thấy cảnh A Lón cứ tới lui, lấp ló trước nhà thị Nữ. Chị ấy đang tiếp mấy người khách từ phương xa đến, không rảnh tiếp ảnh, nên ảnh sốt ruột. Thằng Tí, em chị Nữ ghẹo: Muốn người ta, người ta không muốn. Xách cai dù – nói lái - đi xuống, đi lên. Thiệt y cái cảnh dê té giếng bị chồn mò dế. Cũng bởi cảnh hút hàng, trai thừa, gái thiếu, mới ra nông nỗi. Hồi nào, “Chợ chiều nhiều khế ế chanh/ Nhiều cô gái lứa, nên anh chàng ràng.” Mà bi giờ thì “Ba đồng một chục đàn ông/ Chị cho vào lồng, chị xách đi chơi”.

*Ba

Trường là bạn học cũ hồi còn học ở Sài Gòn. Chàng nuôi chí lớn, muốn tạo sự nghiệp rỡ ràng, thường nói đùa với tôi: “Phải bay bổng như diều, hoặc ngồi vững ở giảng đường, cho cua, chấm bài, mới thỏa chí” Thỉnh thoảng gặp nhau, vẫn thường thúc nhắc tôi đi học lại. Bẵng đi mấy năm, gặp lại, chàng nói: “Phải lo lấy vợ, sinh con trước đã. Già rồi”. Đám cưới của Trường, tôi có đi dự, có nâng ly chúc mừng: Sắt cầm hòa hiệp, Trăm năm hạnh phúc. Nhưng mấy năm sau, nghe tin hai người ly dị.

Một cuối tuần, tôi gặp Trường dắt con đi dạo phố, có trò chuyện thăm hỏi cùng hẹn ghé nhà chơi.

Tôi đến thăm Trường vào một chiều thứ Bảy. Trời lạnh, cha con Trường chơi đùa với nhau trong nhà, đang chơi trò Câu Cá Sấu. Con gái chàng ngồi ở trên thuyền giường, đội nón, choàng áo, tay cầm sợi dây nịt, thả thòng xuống sàn nhà, miệng kêu cá sấu, cá sấu, hãy đến ăn câu. Cá sấu Trường bò tới lui trên sàn, miệng khen có mồi ngon, muốn ăn mồi. Cá đã trộng tuổi, trán bắt đầu hói, chân tay gân guốc, da nhăn, cặp kiếng cận nổi cộm ra... Rồi cá dính câu, phải ngoan ngoãn để thợ câu kéo lên thuyền. Thợ câu trói sấu lại, vỗ về là sẽ đối xử tử tế, sẽ đưa vào vườn thú cho con nít xem.

Trường diễn vai cá sấu hay lắm, sợ sệt, năn nỉ, ỉ ôi, rất cảm động. Chàng diễn khéo đến độ con gái-thợ-câu muốn làm sấu. Vậy là đổi vai thành thợ câu già câu trúng cá sấu nhí. Lần này thợ câu hung dữ, hăm he đòi mổ thịt cá sấu, sấu sợ qúa đòi nghỉ chơi, không dám ăn câu. Tôi ngồi nhìn cảnh cha con chơi đùa, mà phục bạn giỏi.

Trường có ý muốn dạy con tiếng Việt. Chàng thử tập con quen với những truyện cổ tích Việt, nhưng thấy truyện lơ lửng, không phù hợp với khung cảnh mới nơi đây. Chàng hát cho con nghe, thì con chê dở, nói những bài hát ở vườn trẻ nghe hay hơn nhiều. Cuối cùng, chàng dạy con nói những câu nói thường ngày. Con hỏi học những câu đó để làm chi. Nói: để nói chuyện với ông bà nội, với mấy cô, chú. Đáp: Má và con không tính đi VN, thì không gặp nhà nội, không phải nói tiếng Việt. Nhà nội có đến đây thăm con, thì sẽ học tiếng mới, sẽ như ba vậy, sẽ dễ hơn. Chàng chịu thua. Cũng không thể ép con ăn uống theo những thứ chàng thích.

Nuôi con càng lâu, càng thấy nhiều rắc rối, xung đột. Như hai cha con vào rừng đi dạo, thấy đường đi khó, chàng đặt con ngồi trên vai, tuần sau vợ cũ điện thoại than phiền đã tập hư con, vì con muốn cũng được ngồi trên vai, khi đi chơi rừng với má. Như có dắt con đến với những người đồng hương, đến nhà bạn bè, thì thường nhận được điện thoại: sao để con bị đùa cợt thô lỗ, bị chọc ghẹo làm con sợ. Riết rồi Trường mất dần cả tự tin, cùng chẳng còn tâm trí đâu mà đeo đuổi, mà mơ mộng chí lớn nữa.

*Bốn

Tiếp xúc, tới lui với những người ở khu tạm cư, tôi cũng nghe nhiều sự lạ.

Nhàm chán với cuộc sống tạm, với ngày dài chờ đợi, bọn con nít và đám thanh niên trẻ, thường thích pha tiếng, pha giọng nói các miền để cười đùa, chọc ghẹo nhau làm vui. Tôi thường nghe: “Thân qua như con cá gô nằm trong gổ”, hay: “Con chọ không cọ răng mô. Bước chưn vào, nó táp cái bốp, phun máu. Thế mà bảo với ông là không răng mô”. Có khi trêu cợt ở dạng tung hứng. Một đứa hỏi: “Nước nào có tháp Ép-phen nà?” Liền có đứa đáp: “Nước Phốp”. Lại nói: “Bốn nâm bửa không tốm không hưa” Có đứa hỏi liền: “Sao bốn năm bữa không tắm mà không hôi được?” Liền có giải thích: “Không phải, là bốn năm bảy không tám không hai đó, là số điện thoại”.

Có lần, tôi gặp anh Tịnh, anh than phiền mới đánh con có mấy roi, mà sở xã hội kêu lên bàn chuyện dạy con. Hỏi ra mới hay là anh đánh con, có lằn, có vết, rồi bày ra cạo gió, cho con đi học. Ở trường tập thể dục, thầy giáo thấy vết roi, tức giận, báo cáo lên trên. Tôi nhìn anh, tưởng lại một cảnh cũ đã thấy ở nơi anh ở, hỏi đùa: “Vậy anh có tính đi lý luận với họ không, có cần người chứng thì dắt tôi theo. Tôi đi”. Anh cười, nói: “Lần sau có lỡ đánh, thì giữ nó ở nhà cho tan vết roi, rồi mới cho đi tới trường. Con mình, không dạy bằng roi vọt thì sao nên người được? Như tôi đây, hư đốn, ông già lấy dây cột hai chưn, hai tay, đem treo trước nhà, nhờ vậy tôi mới khá hơn. Giờ nghĩ lại tôi càng thương ổng”.

Nhớ, hồi gia đình anh mới đến, mọi người phải lấy mẫu nước tiểu đựng trong lọ nhựa có nắp đậy, nộp cho cô y tá. Cả nhà, ai cũng làm xong êm thắm, riêng đứa con ba, bốn tuổi, là trở ngại, nhứt mực không cho ra chút nước, mặc cho dỗ dành, đe dọa. Anh Tịnh, lúc đó đi đâu về, nghe chuyện, kêu con lại, kéo quần nó xuống, kê lọ nhựa vào, lệnh: đái. Thằng con cứng đầu đứng yên nhìn anh. Anh đưa tay vỗ bốp vào mông con, liền có nước chảy re re ra lọ. Thấy khá đủ, anh lệnh: ngưng. Đứa con không ngưng, anh vỗ bốp bốp hai tiếng, nó liền ngưng. Anh đậy nắp lọ, đưa nộp cô y tá. Cô y tá cười: “Lại có kỹ thuật độc đáo như vậy”. Đứa con được con chị kéo quần lên, dắt đi ăn kẹo. Anh nói với tôi: “Đơn giản, như đang giỡn”.

Cũng nơi khu tạm cư, tôi còn nghe được những mẩu đối thoại khó quên.

Vợ kêu ca: “Đưa mười đồng bạc để đi mua sữa cho con uống. Đi một lèo, tới khuya mới về. Con đói khóc, chờ, sữa không có, tiền đem chơi games”. Chồng: “Nói, nói, suốt ngày. Ồn quá”.

Vợ: “Xứ này ai cũng phải đi làm, đầu tắt, mặt tối. Không ai rảnh mà hầu hạ. Nhà dơ không biết hút bụi, ly chén dơ không biết rửa. Suốt ngày nằm thườn ra, hút thuốc, coi phim”. Chồng: “Ở ruộng, lội ruộng, chưn chưa hết phèn, mà bày đặt chưng diện, son phấn. Thấy muốn ói”.

Việc dọn đến chỗ ở mới, để sống ổn định, cũng làm nhiều người băn khoăn, lưỡng lự. Có người than thở: “Chỗ đó xa lắm, ở giữa rừng, phải vượt qua mấy vùng đồng hoang, vắng vẻ, toàn đồng lầy, lau sậy”. Có người nói: “Vậy chứ chỗ nào mới không xa? Chỗ nào mà chẳng xa, chẳng lạ, với người mình? Ở bám, chen chúc, nơi thành phố lớn, với nhà cũ, chật, tiền thuê cao, sao bằng ra chỗ nhà mới xây, rộng đẹp hơn, yên tịnh, thoáng đãng hơn. Đi bộ chưa tới mười phút, là có trạm xe buýt. Ngồi xe buýt mười lăm, hai chục phút, là tới thị trấn lớn, có nhà ga xe lửa, có bến xe buýt, đủ các tuyến đường đi toả ra khắp nơi, đến các khu công nghệ, hãng xưởng, nhiều tiệm quán, nhiều cơ hội có việc làm”. Lại lo âu: “Nhưng xa trường học con tôi”. “Chúng nó học lớp mấy rồi? Luôn luôn, khi thiết kế khu dân cư, người ta đều tính trước nhu cầu về trường học, bịnh viện, cảnh sát, khu buôn bán, hàng quán, nhà thờ, nghĩa trang đều có đủ. Còn lo gì?”. “Nhưng tôi thấy như đi kinh tế mới, tôi sợ, tôi không yên”. “À, chuyện này thì khó giải quyết, cần phải nói chuyện với chuyên gia tâm lý mới xong”. Lại có người nói: “Trong khi người khắp nơi tụ về đây. Mình ở đây lại tản ra xa”. Lại có người bàn: “ Phải nhìn lại cho rõ. Mình ở bây giờ là ở chỗ tạm. Mình phải tìm một chỗ ở ổn định, để an cư, lạc nghiệp”. Rồi có người nói lý: “Đất rộng để làm gì? Có ai sẽ làm ruộng đâu? Ở giữa rừng thì còn gặp ai quen?”.

*Năm

Văn Nghị vô làm được ở công ty xây dựng cầu, đường, ai cũng mừng dùm, chờ được dắt theo vô. Nhưng chàng không trụ được lâu, phải thôi việc.

Chàng yếu sức quá, sử dụng máy đào xới không được. Thợ khác, có sức, hai tay xách hai máy, đi lại tự nhiên. Chàng hai tay ôm một cái, cóng róng. Mỗi lần bấm nút cho máy chạy, máy tưng lên, chàng phải đu theo ôm lấy máy. Rốt cuộc, máy đào phá lung tung. Rớt. Sau, chàng vào làm phụ bếp, rửa chén ở nhà hàng. Có lúc rên rỉ: “Mấy đứa đàn bà lỡ thì và con nít ranh, mà cũng lên mặt hiếp đáp. Bực mình”. Vợ khuyên: “Thì tìm việc nhẹ hơn mà làm. Miễn là mình chịu làm”.

Anh Khang, dặn vợ ở nhà coi con, ngày ngày đi ra ngoài nghiên cứu đường làm ăn. Anh mặc cái áo vest vải sọc nâu đậm, có sọc nhỏ vàng, xanh, đúng thời trang, tay áo xoắn cuốn lên, hai khuỷu tay có kết miếng da sẫm, quần jean đen, giày thể thao, trông trẻ trung như bầu sô, phong độ như già làng. Anh quan sát công việc từ câu cá, bán vé xe, bồi bưng bia, thợ xây dựng, thư ký nhà băng, phát thư, đến bán hàng dỏm ở vỉa hè.

Cuối cùng hai vợ chồng tìm sắm một xe van cũ, đi cất hàng sỉ, rồi chở bán dạo. Hàng bán chính yếu là thực phẩm đồ khô, gạo, mì gói, v.v... thứ gì có người cần mua thì anh có bán. Khởi đầu ì ạch, ai cũng ái ngại cho anh. Nhưng vài năm sau anh có ba chiếc van, một chiếc lấy hàng, một chiếc giao hàng, một chiếc chở cả nhà anh và hàng độc, hàng hiếm quý, đồng hồ, nữ trang. Vợ anh còn thủ một kính lúp coi hột xoàn.

Văn Xìn thì chuyên sửa xe dạo. Thị Nữ thì có nghề nấu cho đám, tiệc, làm bánh chưng, cuốn chả gìo. Văn Lê, chơi trượt băng té dập xương vai, phải mổ, khâu. Bảo hiểm thường tiền, Lê đem tiền mua một bộ máy chụp hình đi chụp các đám cưới, đám tang. Ban đầu chụp tặng, sau lấy tiền phim, về sau lấy tiền công. Album làm ra có ký tên, đóng dấu đàng hoàng.

Già Hường lại khác, thường thấy mặc áo choàng dài, mũ nỉ, kiếng đen, xách cặp táp, y như thám tử đi mần việc, thường xưng là giáo sư/ võ sư võ dân tộc, chuyên huấn luyện thể lực, trị bịnh tâm linh. Muà hè già lại còn gom người chở đi hái dâu tây ở các ruộng dâu.

Năm, bảy năm qua nhanh, nhiều nhà có con học ra kỹ sư, dược sĩ, y tá, v.v... Tôi từng thấy thầy giáo Hoà sung sướng cầm tờ thư một hãng lớn nhận con ông, vừa ra trường, vào làm kỹ sư thiết kế, mức lương năm, khởi đầu đã gấp ba mức lương thầy giáo. Cha dùng lá thư gởi con như tấm giấy thông hành, mang đi khắp nơi, có dịp là đưa ra khoe, vui sướng như con trẻ khoe đồ chơi với bạn.

Còn anh em tôi?

Em tôi như con cò bay xa, bay lả bay la, em học xong đại học thì xin được học bổng làm nghiên cứu sinh, đi học tiếp ở Úc. Có vẻ như mọc rễ ở đấy. Còn tôi, ở nơi này, vẫn dò dẫm lần bước, như con vạc ăn đêm, dù có quen dần với băng giá.

Nguyễn Kỳ Yên

Sunday, January 24, 2016


Vì Một Chút Tình Mà Lưu Luyến




* * *

Về già, chú Bảy tôi thường nói ra mong ước được về nhìn lại quê cũ. Nhưng rồi chú mỗi ngày mỗi thêm đau yếu, đến lúc gần mất chú dặn: 

“Giúp chú. Đem hỏa thiêu, rồi gởi tro cốt ở chùa cho nghe kinh một thời gian, đừng lâu quá, rồi đem về quê cho chú nhìn lại nhà từ đường, thăm mộ ông bà, cõng đi một vòng nhìn lại vài chốn thân quen, rồi đem rắc xuống sông, chỗ bãi tắm gần cây cầu tre bắc nối qua bãi dương...” 

Chú mơ màng: “Tro theo nước trôi ra biển, bốc lên mây, dạt về trường sơn, làm mây giăng đầu núi..., để có câu hát: chiều chiều mây phủ đá bia, đá bia mây phủ chị kia mất chồng..., mây tan thành nước rơi thấm vào đất, lại theo phù sa...”

Chú mất gần hai năm tôi mới mang chú về lại quê cũ.

Thiệt tình, tôi không muốn về đấy. Tôi biết chú gắn bó với nhiều chỗ khác hơn. Đời chú, khoảng mười năm ở lính, và sáu năm làm nghề giáo, chưa tính mấy năm trọ học ở Nha Trang rồi Sài Gòn, chú đã sống qua khá nhiều nơi của miền Nam. Những lúc trò chuyện, vui cũng như buồn, chú thường chỉ nhắc đến các nơi khác từng ở qua, như kỷ niệm với những bạn bè vào sinh, ra tử ở Pleiku, Đồng Tháp, Vũng Tàu, như cưới vợ hụt ở Mỹ Tho và như tình buồn với người em gái học trò ở Bình Dương v.v...

Còn nữa, còn hơn hai mươi năm sống ở Mỹ, gặp gỡ biết bao nhiêu người, làm biết bao công việc khác nhau, khi ở miền Đông, khi ở miền Tây, tình cảm, kỷ niệm, đong đếm sao cho hết.

Chú từng nói:

- Khi mình trưởng thành, chín chắn thì những gặp gỡ, trải nghiệm, mới đậm nét, mới khó quên. Những năm ở tuổi thơ, không bằng những tháng ở tuổi ba mươi và không bằng những ngày ở tuổi năm mươi.

Chú cùng tôi biết rõ quê cũ đã thay đổi khác xưa. Những người quen biết cũ đã tàn, đã mất, con cái nếu không chết trong chiến cuộc, thì cũng phân tán tứ xứ. Thời mới, người mới từ nơi khác tụ về, là người lạ. Kỷ niệm, nếu còn lại, cũng chỉ là những mảnh rời rạc, mơ hồ. Chuyện đau đớn, hận thù thì khắc sâu hơn chuyện êm đềm. Còn phải quên đi, tìm vui sống. Hà cớ gì lần về chốn xơ xác, khó thương.

Có một thời làng tôi ngập khói lửa. Ngày thì quân Quốc gia làm việc, tối thì quân Giải phóng từ núi về, từ hầm trốn chui ra làm việc, với chính sách là mỗi vùng phải lôi ra giết một vài người, loại có máu mặt. Tìm tòi, moi móc cho ra tội, dựng lên nhơn chứng, đưa ra người tố cáo, rồi đem giết cho rùng rợn, dã man, sắt máu để mà hù doạ đám đông.

Từ thời còn Tây, chú từng trốn dưới hầm đào luồn dưới hàng tre với vài anh lớn Việt Minh. Tây đổ bộ gấp quá, nên không chạy kịp lên núi. Bên ngoài, lính Tây bắn phá đùng đùng, bụp bụp, gà bay, chó sủa, trong hầm, bà Ốc, dân quê, run sợ lập cập, nói:

- Chết tui. Tây mà bắt tui, thì cái gì tui cũng khai ra hết. Hỏi có bao nhiêu cọng lông, tui cũng vạch quần ra đếm mà báo cho nó nghe.

Cán bộ lớn giận quá, xáng cho cái bạt tai, hăm:

- Còn nói bậy bạ, sẽ nhét guốc vào miệng.

Sau, cũng bà Ốc đó, giữa trưa nắng, chổng mông đào, moi đất trong chuồng heo, sát bờ rào tre, thằng Cang, trung đội trưởng nghiã quân, đi ngang qua thấy vậy đưa roi tre quất một roi, hỏi:

- Đào hầm cho Việt Cộng núp hả? – đây là chuyện của mấy năm sau, sau khi Nhựt thua, Tây rút về nước.

Cũng Cang đó, về sau, trời lụt, nước ngập linh láng, ngồi trên sõng câu, bị bắn tỉa té nhào xuống nước chết. Chuyện buồn còn nhiều lắm. Bạn học tôi, thằng Ẩn lớn lên theo lên núi làm Việt cộng, thằng Dũng đi lính giữ làng. Một đêm, Ẩn mò về làng, bị bọn thằng Dũng bắn chết, lôi xác để ở ngã ba đường cho dân chúng coi. Còn thằng Đoàn, cả nhà đang yên ổn bên nhau thì một đêm cuối năm, cha nó bị lôi ra xử chặt đầu. Tội ù lì, không thu gom đủ tiền, gạo cho cách mạng, như đã được giao phó. Nhưng lời đồn bảo rằng là thù cá nhơn, do dám đánh què giò con heo nhà hàng xóm hay sang ũi phá vườn rau. Anh em thằng Đoàn tản đi biệt xứ, cảnh nhà hoang phế. Lại có lời bàn: “ Đất đó là chỗ tào tượng cũ, không ở được.”

Chú Bảy thường than thở:

- Đời người nhiều nhứt là trăm năm, buồn nhiều hơn vui. Trong giòng trôi lịch sử, trăm năm ngắn lắm. Thời gian vùi lấp tất cả. Bạo chúa ngang ngược mấy cũng không thể sống mãi mà hà hiếp, cướp giựt người ta. Chỉ tiếc là lớp này tàn, không lâu lại có lớp khác thế. Dân khổ cứ khổ.

Chú kể:

- Một lần ăn giỗ ở quê ngoại Hà Bằng, nghe nhắc lại chuyện khởi nghĩa ở Triều Sơn, Xuân Thọ, chuyện đã lâu nên tên họ cũng mơ hồ. Chỉ nghe kể là một vài người đứng ra hô hào, tụ tập một đám đông người kéo đi phản đối sưu, thuế. Tụ tập trên núi, có lời đồn diễn cảnh lính dắt ngựa chui được qua lỗ trôn kim, có phất cờ, có đánh trống, có lễ tế ra quân, có đem chặt chưn một tên lính tế cờ. Xong, đánh trống kéo nhau hạ sơn, xuống quốc lộ Một, khúc giáp biển, chạy qua Triều Sơn. Ở đây, có năm, sáu “thằng” Tây mang súng mút-cờ-tông, đạp xe cuộc từ Sông Cầu vô, nằm phục ở bờ đàng chờ sẵn. Súng nổ, khởi nghiã tan rã. Tây đạp xe về đồn. 

Có người thắc mắc: “Vậy trước đó, rồi sau đó thì sao?”. Đáp: 

“Trước đó, hội họp, ăn uống bao nhiêu gà vịt, bao nhiêu trà rượu, bàn thảo những gì, không biết. Sau đó, thương vong bao nhiêu người, không biết. Lính bị chặt giò, không biết tên, quên. Khởi nghĩa thất bại, không cần ghi ra.” 

Chuyện đời nhiều cơ man, kể sao xiết. Ví dụ, Lật Việt sử ra, thấy về vụ Cần Vương chỉ ghi đại khái:

“Ở Bình Định, Phú Yên có Tăng Bạt Hổ, Mai Xuân Thưởng nổi lên khởi nghĩa.” 

Chấm hết. Có người góp lời: 

“Phải đem thâu tóm lại trong vài hàng, trong một trang sách, thì chỗ đâu mà chứa cho hết mấy vụ lẻ tẻ, râu ria. Nhìn coi, người ta còn nhơn danh nhiều thứ cao cả khác, mà tha hồ cắt xén, sửa đổi, sao cho đạt chỉ tiêu. Chuyện giết một con voi chỉ để lấy cặp ngà, và mấy sợi lông đuôi, là chuyện thường thấy mà.” 

Người khác tiếp: 

“Chuyện khởi nghĩa, tui lại nghe được một khúc đuôi khác hơn. Không biết là có cùng một vụ, hay là một lần khác nào đó. Đoàn người đi xuống đèo Cây cưa, tiến về dốc Găng, thì bị chận lại. Có Tây mang súng, cưỡi ngựa, hỏi: kéo nhau đi đâu? Không ai đáp. Lại hỏi: Ai là đại diện? Bước ra nói chuyện. Hỏi mấy lần, chẳng ai lên tiếng, lại còn muốn lấn tới. Hỏi không ra, phải nổ súng. Đám đông tan hàng. Bữa sau, Tây đi ruồng, gặp ai bị thương, bị trầy trụa là hốt hết về đồn...” Tóm lại là dân mình khổ từ xưa, khổ có căn có gốc.

Tôi hỏi chú:

- Nhưng sao phải lặn lội tìm về chốn cũ, nơi đầy buồn đau, nơi mà mình không ở được, phải rời bỏ đi? Mình có lòng thì ở xa nơi đâu cũng không quên nguồn cội là được rồi. Về làm gì để phải thấy lại những điều mà mình không muốn thấy. Thấy trong mơ, trong tưởng tượng, không dễ chịu hơn sao?

Chú nói:

- Quê mình hàng năm có lụt ngập. Nước lụt rửa trôi đi nhiều thứ, để lại nhiều rác rến, nhưng cũng để lại nhiều bùn non. Bùn đất này nuôi sống bao người no, ấm. Cái tình quê nó bàng bạc trong không khí, trong nắng, trong gío, trong sương khói, trong mưa. Người đến, người đi, cảnh vật có đổi thay, nhưng cái hồn quê, hồn đất vẫn tồn tại. Chú muốn là tìm lại, tái sinh lại ở chính nơi mảnh đất mà cha mẹ đã chọn cho chú. Như chút lòng thành kính với cha mẹ, tổ tiên. Lưu luyến là vì một chút tình này.

Tôi về đến quê cũ vào một buổi sáng ngày hè đẹp trời. Cảnh vật thay đổi nhiều, chỉ còn nhận ra vài nét quen. Tôi rời quê lúc mười ba tuổi, tản cư vì chiến cuộc. Mấy năm đầu thường có về cúng dãy mả và thăm bà con, nhưng về sau, chiến tranh dữ dội hơn và phải đi học xa, ít còn dịp về. Gần mười năm sau tôi vượt biên, xa quê luôn từ đó. Giờ tính ra đã hơn ba mươi năm mới trở lại.

Trước mắt tôi là một thị trấn đông đúc, nhộn nhịp. Không còn cảnh im ắng người đứng đầu làng nghe rõ được tiếng gà gáy ở cuối làng, không còn tiếng chuông chùa, tiếng trống điểm giờ của trường học,...Mà khắp nơi đầy tiếng người, tiếng xe. Tôi vỗ nhẹ cái túi mang trên lưng, nói nhỏ: 

“Chú Bảy, thức dậy, tới nhà rồi, cháu cõng chú đi thăm chốn cũ đây nè.” 

Đáp lại là im lặng. Cái im lặng chú thường nói với tôi, im lặng dồn nén từ nhiều xao động, im lặng trong một bản nhạc, đủ lâu để khiến người nghe dở hơi vỗ tay loạn, vì tưởng bài hát dứt.

Tôi đến nhà từ đường khoảng mười giờ sáng. Anh Nhơn, con bác tôi, đón tiếp vui vẻ. Xa cách lâu quá, đường đời mỗi người mỗi hướng, mỗi rời xa, câu chuyện có nhiều gò bó, tránh né, chỉ là dè dặt thăm hỏi về con cháu, về cảnh lạ đường xa. Không còn hồn nhiên như thuở chín mười tuổi, chơi đùa, phá phách với nhau. Tôi nói mong ước thăm quê của chú Bảy. Cùng anh nhắc lại vài chuyện xưa cũ. Có chuyện chú Bảy ham cưỡi ngựa, ngựa của ông Năm, chú gọi là cậu Năm, là anh của bà nội chúng tôi. Ông Năm sống ở miền núi, thường cưỡi ngựa đi lại trong vùng thăm bịnh, hốt thuốc. Mỗi lần ông ghé thăm nhà em gái, chú Bảy lãnh phần dắt ngựa ra sông tắm ngựa. Bọn tôi, nhỏ hơn chú tám chín tuổi, đứng xa mà nhìn. Thèm lắm. 

Chú nói: “Tụi mày lóc chóc tới gần nó đá dập mề.” 

Chú tắm ngựa rất lâu. Dắt ngựa về cũng vui sướng như lúc dắt ngựa đi. Ông Năm đi rồi, chú khoe cưỡi ngựa đã lắm. 

Cha tôi cười, nói: “Mày cưỡi ngựa không yên, mai mốt dộp đít, đau nhức, ngứa, gãi không được, mới là sướng chết.” 

Vài ngày sau, bọn tôi thấy chú tìm đến ngồi trên đá, trên thân cây, chỗ nắng chiếu nóng, vừa chà lết vừa nhăn nhó. Nhưng rồi khi ông Năm ghé thăm, chú lại vui sướng dắt ngựa đi tắm.

Anh Nhơn dắt tôi coi quanh nhà. Căn nhà cũ của ông bà nội tôi, cũng là nhà từ đường, được xây mới. Anh nói: 

“Bà con chỉ còn một hai nhà ở lại làng nên việc thờ cúng cũng dời đi, mai mốt cũng bốc mộ, nhưng chưa biết đem đi đâu.” 

Ý của anh là còn vài năm anh nghỉ hưu, cũng muốn yên, không động vào mồ mả. Nhà lớn, phòng khách rộng, bàn ghế bày biện theo thời mới, tường treo nhiều giấy khen thành tích lao động tốt.... Anh khoe mấy trăm chậu mai kiểng để vừa chơi vừa bán dưỡng già. Anh cũng nói về món đặc sản cá ngừ đại dương và dự tính nuôi chim yến lấy tổ. Cứ nhớ gì thì nói nấy.

Anh dẫn đi thăm khu mộ. Tôi như bước về lại vùng quá khứ, tuổi thơ. Hồi đó, khu mộ nằm trên vùng đất gò, chung quanh là nhiều đám ruộng miá. Miá mọc như rừng. Muà nghỉ hè cũng là lúc chặt miá ép nước nấu đường. Lò nấu đường, rạp ông che ép miá do bò kéo được dựng gần khu mộ. Bọn con nít chúng tôi ngồi nơi mấy tường vôi thấp ăn miá, ăn đường dẻo. Mùa nấu đường qua, đến muà mưa lụt. Mãi đến gần Tết mới lại theo người lớn đi dãy mả, thắp nhang. Bây giờ, chung quanh khu mộ là nhà ở. Đất đai, anh Nhơn giải thích, là của nhà nước quản lý, người dân lập hợp tác xã khai thác, sản xuất. Làm ăn thất bại, rã đám, mọi người chia đất cất nhà. Nhiều người nhiều rác. Phải rào khu mộ lại.

Rời khu mộ, rời nhà anh Nhơn, băng qua sân rộng đầy những chậu mai xanh um lá, tôi lại nhớ chú Bảy, nhớ câu hát bỏ lửng của chú: “hoa tàn nhưng lá vẫn còn xanh...”. Lại nhớ đến mơ ước của nội là con cháu sống quây quần trên cùng khu đất, uống cùng giếng nước, đi về cùng con ngõ. Ước mơ nay lỗi thời.

Tôi đi dọc theo đường lớn tìm một anh xe ôm mướn bao trọn ngày. Anh xe ôm hài lòng, cho xe chạy tà tà qua những nơi tôi còn thấy quen. Con đường đã được mở rộng. Nhà cửa, sân vườn hai bên không còn dáng vẻ cũ như tôi từng biết.

Ngang qua một sân vườn cà phê quán nhạc với nhiều cô gái trẻ ăn mặc tươi mát, anh xe ôm, tên Minh, giới thiệu: “Trước kia, nơi đây là trại cưa, trại mộc, làm ăn lình xình, sau ông chủ già chết, ông con tiếp thu, chuyển nghề, không cưa cây, không đục gỗ, mà mướn mấy cô chưn dài về bán cà phê sân vườn, nhằm cưa người, cưa mấy đại gia, mấy cán bộ dư tiền, hám của lạ.”Minh tiếp: “Đã từng có mấy vụ đánh ghen, xé áo tiếp viên, hăm dọa đốt quán, nhưng quán vẫn ăn nên làm ra”. Minh cười hắc hắc lúc kể những câu đối đáp, hăm dọa. Hắn có tài pha giọng nói người các miền rất lôi cuốn người nghe.

Chuyện kể gợi lại cho tôi một đoạn quá khứ, thời còn trại cưa, thời ông già còn trai tráng. Trại cưa giáp ranh với một lò rèn. Suốt ngày hai chỗ này đầy tiếng đập sắt cùng tiếng cưa, tiếng đục. Đám con nít tụi tôi thường núp nơi hàng rào tre, nơi mấy lùm cây duối chơi cho mát và câu trộm cá trê trong ao trước lò rèn. Câu lén không dùng cần mà quấn cước vào ống tre cầm tay. Mồi móc con nhện. Câu ngâm. Cá trê rất thích ăn mồi nhện. Bữa kia, đang câu cá thì thấy thầy thuốc đạp xe đến trại cưa. Bà vợ đon đả mời thầy vào, rồi xua đuổi mấy người khác tản đi, để chỗ cho thầy chữa bịnh. Tò mò, tụi tôi lén tới gần nghe được là do ông chủ bào tấm ván, thất thế té sấp, bị chấn trúng chỗ “chưn giữa”. Chỗ đó càng lúc càng sưng phù lên. Ông thầy kêu bịnh nhơn nằm ngửa ra, quần tụt xuống đầu gối, rồi rờ khám. Thầy tay rờ, miệng nói liên tục. Thấy sưng một đùm tím đen như củ chuối, củ khoai mài. Xong, thầy bỏ dầu, bỏ thuốc, bỏ mấy thứ lá vào cối quết nhuyễn rồi đem đắp lên chỗ sưng. Tay thầy xoe xoe, bóp bóp, ông chủ rên hừ hừ. Thầy dặn thấy thuốc khô thì bóc bỏ, đắp lên thuốc mới, vài bữa thì ổn, rồi dắt xe ra về. Suốt ngày hôm sau, bọn tôi rình chờ coi bà chủ bóp thuốc, nhưng chẳng thấy được gì nữa.

Minh chở lòng vòng đến những chỗ khác nhau theo gợi ý của tôi. Tôi muốn nhìn lại chợ làng và trường cũ, nhưng cảnh và người đều xa lạ, không còn gợi nhớ lại được gì. Tôi cố tìm hàng cây gạo thân to hơn vòng tay ôm, đứng ven đường đến trường, muà ra hoa, trắng hồng cả một vùng, hoa đẹp, nhưng mùi hăng thúi khó chịu, làm bao đứa học trò bịt mũi, nín thở, chạy bở hơi tai mới qua khỏi. Hàng cây biến mất theo với hình ảnh những đứa học trò quê.

Trời về chiều, Minh chở tôi ra biển chơi. Bờ biển dài độ ba cây số. Hồi trước là làng đánh cá, làm ruộng muối, nay có một số người mở quán hải sản, quán nhậu. Còn có dịch vụ ăn theo như bán áo quần tắm, cho mướn thuyền nhỏ, phao tắm. Minh giới thiệu món mực nướng, mực phơi một nắng. Đúng là ngon, ngọt, mềm, càng ăn càng thích. Hai chúng tôi ngồi ăn nhậu lai rai, nói chuyện gần, chuyện xa. Chuyện người mình để nguyên quần áo lội xuống biển tắm. Chuyện mấy đại gia tụ tập nơi mấy thuyền lớn đậu xa bờ ăn chơi. Minh thán phục cái điện thoại di động kỳ diệu, gió mạnh phần phật mà sóng điện vẫn không bị đánh tan. 

Chợt có tiếng ồn ào, lao xao. Từ xa hai anh thanh niên tay dắt, tay đẩy xe đạp có gắn dàn máy hát có loa phóng thanh, vừa ca hát, vừa rao bán kẹo kéo. Một lối buôn bán vốn nhỏ, nhưng khá xôm tụ. Bọn con nít bu lại coi. Mấy anh đang ngồi nhậu bàn với nhau, ngoắc xe keọ kéo lại. Không mua kẹo mà chỉ muốn trưng dụng dàn máy hát. Mặc cho năn nỉ, ỉ ôi, mấy dân chơi thản nhiên hát cho nhau nghe. Tiếng nhạc bập bùng, xen lẫn tiếng ca ồm ồm lạc điệu là tiếng năn nỉ của hai anh bán kẹo. Nghe có tiếng: “...Mấy anh tha cho tụi tui đi bán kiếm cơm...Mày im. Nói nữa tao còng đầu mày. Ai cho chúng mày buôn bán chỗ này.” Rồi hát tiếp: “Mẹ biết bây giờ con ngồi hố nhỏ...Bận hành quân...Này thêm điã sò nướng..”

Hai chúng tôi ngồi xem diễn hát. Người chung quanh vẫn tắm, vẫn chơi đùa, ăn nhậu. Hai anh bán kẹo ngồi buồn xo. Gió biển thổi rào rào. Gió gom tụ tiếng người, tiếng nhạc, trộn vào mùi khói than, mùi thịt cá nướng ướp mỡ hành, nước mắm tiêu thơm điếc mũi. Gió thổi dạt qua thôn xóm, tấp vào triền núi xa xa, nơi thấp thoáng mái ngói trong vườn cây xanh.

Minh nói về ngôi chùa trên núi. Khoảng sáu, bảy năm trước, ông sư già chết, để chùa lại cho đứa cháu. Cháu tuổi trẻ ngồi tu giáp năm thì thấy ra mối làm giàu. Cháu móc nối với bà con là Việt kiều Mỹ thu mua một khoảnh lớn đất núi quanh chùa, rồi cho xe ũi bằng, xong đóng cọc, phân lô, trồng cây bạch đàn, cây ăn trái. Vài năm sau, nhà nước mở con đường mới giáp mấy lô đất. Thầy bán đất trúng đậm. Thầy tạm nghỉ tu, lo đi tìm chỗ xây chùa mới, nghe đồn ở tận bên Ca-li. Tóm lại, Minh nói, thấy mà ham, tu như vậy cũng đáng tu.

Buổi chiều xuống dần. Chúng tôi ngồi nán uống thêm chai bia rồi chạy xe về lại gần nhà anh Nhơn.

Chào biệt Minh, tôi một mình đi lần hướng bờ sông. Tôi vẫn chưa làm xong vụ tro cốt chú Bảy. Bờ sông đóng kè chống sạt lở. Vài quán nước, quán hàng ăn lưa thưa khách. Trước kia, nơi đây là bãi cát lớn, là chỗ tắm giặt cuả dân làng. Một cây cầu tre bắc nối hai bờ cho người đi bộ. Chú Bảy từng lặn ngụp đâm cá ở chỗ này. Lần đó, có cặp cá hồng từ biển vào, lượn ép nhau vòng chân cầu, chỗ nước sâu. Chú đâm sém trúng cá mấy lần, còn dính được cái vảy to như móng tay. Xôn xao một vùng. Nhiều người tụ lại coi. Có cả mấy chị đi chợ về cũng đứng lại coi đâm cá. Hồi lâu nước đục, cá trốn đi mất. Mọi người tản đi mà chú vẫn chưa chịu lên bờ. Thấy tôi, chú kêu lại nói nhỏ: “Thằng cháu, mày lại bụi duối lấy cái quần đưa tao, lẹ lên, mấy con nhỏ vô duyên, còn đứng chờ coi cái gì mà chẳng chịu đi.” -phong cách chàng trai mười tám tắm truồng là vậy.

Bây giờ, trên sông này, cây cầu tre không còn, bãi dương bị ũi sạch, không còn cảnh lác đác mấy mái tranh dưới hàng tre thơ mộng, mà chỉ là cảnh một chiếc xà lan hì hục hút cát đổ lên bờ cho xe chở đi. Tiếng máy hút nổ ầm ầm, phun từng ngụm khói đen lên trời. Nước sông đục ngầu.

Tôi đem hũ tro trút xuống nước. Giữ lại cái hũ làm kỷ vật. Tro tan lắng dần trong nước. Gió, sóng lao xao mặt sông, làm lung lay những hình ảnh trời mây phản chiếu trong nước. Một bóng mây cô lẻ vỡ nát rồi hợp, rồi vỡ vụn. Tôi cố hình dung một ngõ tre hun hút. Trong bóng chiều, một chú bé dắt ngựa đi tung tăng vào ngõ. Hình bóng dần khuất, dần mờ nhạt.

Vĩnh biệt chú Bảy.

Nguyễn Kỳ Yên

Blog Archive