Showing posts with label Tố Nguyễn. Show all posts
Showing posts with label Tố Nguyễn. Show all posts

Thursday, October 31, 2019

Halloween

Tố Nguyễn

Đất trời đã sang thu,buổi ban mai cũng đến trong uể oải như người đi làm hãng xưởng chưa kịp quen với sự chuyển mùa.Trời thu man mác buồn gợi cho tôi nhớ lại những ngày tháng cũ...

Ngày ấy, năm giờ sáng, mưa bay lất phất trong màn tối âm u, tôi mặc ba bốn lớp áo quần ra đứng ngoài đầu đường lộng gió chờ chị bạn mới quen đến chở đi làm. Ngồi trên xe ấm được trong phút chốc thì lại đến cái hãng là basement cũng lạnh buốt xương…

So với khi xưa, cuộc sống nơi miền Nam Cali với tôi thật yên lành, ngoại trừ việc phải lái xe qua chập chùng xa lộ. Bù lại, đường Cali luôn có những núi đồi đèo dốc cho người ta thơ thẩn ngắm làn khói sương bãng lãng của buổi sớm mai khi xe kẹt hàng dài. Khoảng cuối tháng chín, dọc hai bên xa lộ lại có nhiều khu "Pumpkin Patch" cho mọi người dắt con trẻ đi dạo chơi, chụp ảnh với quả bí -pumpkin, biểu tượng của ngày lễ Halloween.

Tôi đã đi qua những Halloween Seattle âm u mưa lạnh, những Halloween Nam Cali ấm áp rộn rang. Thấm thoát mà tôi sắp có mùa Halloween thứ mười lăm trên xứ sở cờ hoa.

Ngày ấy, tôi chưa từng được biết lễ Halloween cho đến khi đặt chân sang Mỹ. Sau hai tuần dài đằng đẵng vì nhớ nhà, vì đứng run lập cập làm việc dưới basement buốt giá, tôi được cô em họ -Kelly, chở đi dự lễ Halloween " cho biết với người ta" ở casino.

Vùng Seattle có nhiều casino nhỏ nằm rải rác gần khu dân cư, những casino to đẹp thì ở ngoại ô, cần vài mươi phút lái xe là người ta có thể đến chơi thâu đêm suốt sáng. Tôi chân ướt chân ráo mới sang, tò mò háo hức muốn coi casino Mỹ ra làm sao. Em Kelly mới bước qua tuổi 21 vài tháng trước, khoe rất vui vì được tự do uống rượu, đi bar.

Tôi bước lên xe, giật nảy mình vì tiếng nhạc chát chúa cùng hơi khói thuốc lá còn nồng nặc trên băng ghế. Kelly bối rối :"Sorry chị em hút thuốc nên xe hôi, chị đừng cho ba mẹ em biết!" Tôi gật đầu, thoáng ái ngại khi nghĩ về hoàn cảnh của em. Cha mẹ ly dị, Kelly và hai người em trai ở chung với mẹ, mẹ lại có ba mới, có vẻ không quan tâm đến mấy đứa con. Kelly tốt bụng, hồn nhiên như bao nhiêu em nhỏ sinh ra và lớn lên ở Mỹ, nhưng dường như lạc lõng vì thiếu tình thương, sự chăm chút của gia đình. Tôi cũng không biết nói sao với Kelly vì lúc ấy chỉ lớn hơn em có vài tuổi, lại mới ở Việt Nam qua.

Xe lăn bánh trong màn mưa lất phất, thỉnh thoảng lại có gió lùa vào trong lạnh buốt vì Kelly hạ kính xe để gạt tàn thuốc ra ngoài. Tôi ngồi lặng ngắm những con đường ngoằn nghoèo đồi dốc nằm buồn bã trong đêm vắng. Thấp thoáng vài ánh đèn vàng vọt hắt ra từ những quả bí Halloween đặt trước ngôi nhà cài then im ỉm, trên mái nhà vương vãi mạng nhện trắng bay bay…

Tôi nao nao nhớ về những con đường rực sáng ánh đèn nơi phố phường Sài Gòn tấp nập…thì xe đã ngừng trước casino. Hai bên cửa casino trang trí đầy những hình nhân kỳ quái, những bộ xương người phát sáng, nhảy múa theo từng cơn gió thổi qua. Bước vào trong, tôi thấy rất đông người gốc Á đứng ngồi khắp các dãy bàn, xung quanh những lá bài sấp ngửa, mặt mũi đăm chiêu, không có vẻ gì là đi giải trí. Ở các góc casino để đầy kẹo chocolate trong các đĩa hình quả bí, Kelly bóc một nhúm kẹo dúi vào tay tôi, bảo hôm nay là Halloween nên họ để nhiều kẹo, chứ ngày thường không có.

Kelly hỏi tôi muốn ăn gì, uống gì rồi tự trả lời, thôi để em gọi cho chị khi nhìn vẻ mặt ngơ ngác của tôi. Chúng tôi ngồi vào một bàn, Kelly rút trong ví ra tờ $100 rồi bắt đầu trò chơi đen đỏ. Thấy những tờ bạc xanh xanh cứ lần lượt ra đi, tôi nóng ruột giục em nghỉ để đi về. Kelly cười chát ngắt, em nói ở đây dù thua tiền vẫn vui hơn là về nhà, nơi mà không có ai mong đợi, đón chào em cả...

Tôi đưa mắt nhìn quanh. Đằng sau làn khói thuốc mờ mờ là những vầng trán, những nét mày cau căng thẳng theo từng canh bạc. Khói thuốc quanh tôi nhạt nhoà che phủ màu vàng óng ả của quả pumpkin, nhoè cả khuôn mặt của các cô nhân viên casino hoá trang rực rỡ.

Khi trở về nhà, tôi giũ chiếc áo khoác vương đầy mùi thuốc, những thanh kẹo chocolate đầy màu sắc trong túi lục tục rơi ra. Chocolate là món tôi rất thích, nhưng lúc ấy tôi chỉ còn cảm được vị đắng chát, chát như nụ cười buồn bã của Kelly. Tôi nhìn qua cửa, bóng xe em Kelly khuất dần cuối con đường, chìm trong màn khói sương hiu hắt...

Halloween thứ hai của tôi là ở một tiệm Phở gần khu trường đại học. Ông chủ tiệm trang trí đầy những hình nộm vui vẻ khắp phòng và chuẩn bị sẵn một đĩa kẹo to đặt ở bàn tính tiền. Chúng tôi đón khách với câu "Happy Halloween" luôn miệng.  Hôm đó là một ngày mưa lạnh nên phở bán thật đắt hàng, tôi làm việc luôn tay luôn chân cho đến giờ đóng cửa. Thỉnh thoảng có một nhóm em nhỏ ăn mặc hoá trang ngộ nghĩnh bước vào trong nhà hàng cười tươi khoe hàm răng sún, nói to "Trick or treat". Càng về đêm, càng nhiều bạn sinh viên trang lứa với tôi đổ ra đường trong những bộ đồ hoá trang đủ kiểu. Nhớ nhà, nhớ bạn bè, nhớ thời vui tươi rong chơi nơi quê cũ, tôi chạnh lòng, tủi thân muốn khóc. Tôi lái xe ra về, trên cao, bóng trăng mờ đục, ảm đạm sau làn mây xám. Lại một ngày Halloween lặng lẽ trôi qua.

Đến Halloween thứ ba, tôi đã bắt đầu quen dần với không khí lễ hội trên nước Mỹ, đã biết náo nức xếp hàng chờ mua ly cà phê Starsbuck vị pumpkin. Tôi quen được chị Duyên, chị có hai con nhỏ, nên lần Halloween này tôi được tháp tùng đi xin kẹo. Hai bé xinh xắn đã hoá trang thành hoàng tử,công chúa từ lúc chiều, tay cầm sẵn chiếc giỏ hình quả bí, tung tăng háo hức dạo vòng vòng khu xóm, gõ cửa từng nhà.

Đêm ấy không có mưa, kinh tế đang thời cường thịnh, chúng tôi xin được toàn loại các kẹo ngon. Hai em nhỏ hào phóng tặng cho tôi vài thanh kẹo, chị Duyên cho tôi một tô súp nóng và gói thêm cho cả bọc thức ăn để mang về. Lần đầu tiên nhấp nháp kẹo Halloween trên đất Mỹ, tôi cảm nhận được vị ngọt ngào.

Hallowen năm sau, tôi bận rộn với bài vở của nhiều lớp học nên không đi “trick-or-treat” cùng chị. Buổi sáng Halloween, vừa bước vào lớp thì tôi giật mình suýt té xỉu vì mấy anh bạn nghịch ngợm đeo mặt nạ bất chợt nhảy ra.

Ở Seattle học theo quarterly, mỗi lớp học ngắn ngủi chỉ hơn hai tháng, thời gian thầy trò biết nhau nhanh như bóng câu qua cửa sổ, xong lớp học rồi không mấy ai còn nhớ đến ai. Nhưng có một vị thầy cho tôi cảm giác rất gần gũi mỗi khi khi nhìn bóng dáng gầy của ông nghiêng nghiêng trên trên bục giảng. Tuy tuổi cao, ông luôn vào lớp sớm và không ngại nán lại thật lâu để giải thích những bài toán khó. Ngày Halloween năm ấy, ông mang theo vào lớp một bịch kẹo to. Bài học của thầy tan nhanh trong hương kẹo ngọt. Tôi nhìn quanh, ai trông cũng thật dễ mến,dễ thương. Chúng tôi chúc mừng Halloween, cùng trao nhau với nụ cười ấm áp, mặc cho bên ngoài mưa bão âm u.

Đến một Halloween cùng anh ngắm phố xá dưới mưa, tôi lặng nghe anh bùi ngùi kể chuyện khi cả nhà mới sang Mỹ. Không có nhiều tiền mua kẹo, lại ở trong khu phố đông trẻ con nghèo, đến chiều Halloween cả gia đình phải tắt đèn lặng thinh giả vờ đi ngủ để trốn lũ trẻ đến gõ cửa nhà. Thì ra ai cũng có câu chuyện của những ngày đầu trên đất lạ..

Chúng tôi cùng nhau dệt tương lai. Ước mơ có được ngôi nhà xinh xắn, ngoài sân trước trang trí những hình nộm dễ thương chờ đón tiếng gõ cửa đêm Halloween cũng thành sự thật. Halloween nơi ngôi nhà mới rộn rã tiếng cười, tiếng chuông cửa leng keng.. Chúng tôi tất bật đón nhiều vị khách nhỏ nhắn ngộ nghĩnh tới lui liên tục trên bậc thềm gắn những quả pumpkin vàng rực dưới ánh đèn…

Khi kinh tế Mỹ suy trầm, chúng tôi phải dọn về khu ngoại ô vắng vẻ. Gần đến ngày Halloween lại có vụ bắn súng, nên mọi người trong xóm đóng cửa im lìm. Halloween ấy lại buồn hơn khi chúng tôi cũng không có rủng rỉnh tiền mua kẹo để đợi tiếng gõ cửa lao xao.

Tạm biệt những ngày mưa lạnh Seattle, mùa Halloween đầu tiên ở Cali tôi cũng vui lây với không khí lễ hội tưng bừng nơi miền nắng ấm. Nhiều tiệm bán quần áo, vật dụng hoá trang Halloween mở cửa, trang hoàng thật vui mắt. Buổi chiều từ sở làm trở về, tôi ngạc nhiên thấy con đường sau nhà mình tấp nập người lớn, trẻ con hoá trang đủ màu đủ sắc. Thì ra tôi ở trọ ngay phố cổ Pasadena, một trong những khu phố “trick-or-treat” nổi tiếng vùng Los Angeles.

Những ngôi nhà Bungalow nằm yên ả dưới bóng cây xanh mát nay đua nhau trang trí nhiều kiểu lạ lùng. Có nhà cắm đầy bia mộ, mạng nhện, đầu lâu xương sọ rải đầy như bãi tha ma. Có nhà để cả một màn hình lớn và mấy thùng loa trước sân chiếu những đoạn phim với âm thanh rền rĩ đến rợn người. Có nhà gắn đầy các con thú sáng rực đèn, công chúa, hoàng tử, cỗ xe của cô bé Lọ Lem như một khu vườn trong truyện cổ tích. Có nhà trang trí như lâu đài phù thủy, trước sân là bà cụ mặc cả bộ đồ đen thõng thượt, đầu đội chiếc mũ nhọn hoắt ngồi đong đưa trên chiếc xích đu. Có một chủ nhà thay vì cho kẹo, họ đặt dãy bàn với nhiều phần bánh hotdog và nước uống trước sân phân phát cho người đi "trick- or- treat" có thêm năng lượng mà dạo hết mấy con đường.

Tôi nắm bàn tay nhỏ bé của A Vy bước giữa dòng người,bồi hồi nhớ về những đêm Halloween quạnh quẽ khi tôi mới sang Mỹ. Bé A Vy lần đầu tiên được một giỏ kẹo to, ôm theo vào phòng ngủ, Cô nàng cứ lục đục lăn qua lộn lại ngó chừng cái giỏ cho đến lúc thiếp đi. Tôi vén rèm nhìn ra ngoài cửa sổ,dòng người vẫn còn rộn ràng dưới phố vui…

Khi em trai A Vy được gần hai tuổi, tôi cho hai chị em cùng đi "trick- or -treat". Hôm đó “xuất hành” đúng hướng, mới ngôi nhà đầu tiên mà A Phi được cho cả nắm kẹo to. Cậu bé mừng rỡ, lúng túng làm rơi vãi kẹo xuống đất. Hai cô bé chủ nhà xinh xắn chạy nhanh đến nhặt giúp. A Phi lại tưởng chủ nhà đổi ý đuổi theo lấy lại, vội vã ngồi thụp xuống vơ hết kẹo về sát dưới chân mình!

Qua bao mùa mưa nắng, A Vy và A Phi đủ tuổi đến trường. Những mùa Halloween của tôi càng rộn rã hơn khi cùng con chuẩn bị hoá trang để vào lớp vui cùng chúng bạn. Cuối tháng mười, những con đường gần khu trường học Elementary Schools tấp nập bao công chúa, hoàng tử, người nhện, người dơi...nhỏ xinh xinh tíu tít nói cười.

Sau khi sắm sửa quần áo, khăn mũ hoá trang cho con, tôi lại cùng với bao nhiêu người Mỹ náo nức đi Costco mua kẹo. Trong khi tôi chỉ cần vài ba túi là đã đủ làm vui lòng trẻ con trong khu xóm thì bà Becky, chủ tôi luôn cần hơn cả chục bịch to. Bà nói rằng mỗi năm có mấy chục xe van chở đầy trẻ con gốc Mễ Tây Cơ đến khu nhà bà, nên lúc nào cũng phải chuẩn bị thật nhiều kẹo cho họ. Có bé sau khi lấy xong phần kẹo quay vòng lại xin thêm, nói còn có em trai ở nhà không đi được vì xe đã hết chỗ rồi.

Những em nhỏ đi xin kẹo ở khu nhà bà Becky nhắc bà hình ảnh lem luốc của bà và các em mấy mươi năm trước. Bà lại kể chuyện cô em lí lắc của mình. Thời nghèo khổ của bà, đi rã giò khắp xóm nhưng được xin có vài thanh chocolate nhỏ xíu, nên mấy chị em vội bóc hết ra ăn. Cô em kế bà kiên nhẫn để dành đến khi mọi người đã chén sạch sẽ mới chịu bóc phần kẹo của mình, từ từ thưởng thức trong sự thèm thuồng và tiếng khóc ré xin ăn của cậu em út bé bỏng!

Với tôi,Halloween mang theo vị chocolate ngọt đắng như hương vị cuộc đời qua bao năm tháng thăng trầm. Halloween xưa quạnh quẽ trôi trong khói thuốc úa màu nơi một góc casino nhỏ hẹp. Halloween nay rộn rã tiếng cười bên hai bé con trên phố xá đông vui.

Tôi lãng đãng tự hỏi nơi nào ta có được Halloween vui nhất?Halloween với lễ hội nơi những lâu đài vùng Beverly Hills hoa lệ, hay Halloween trong khu xóm nghèo Mễ Tây Cơ xôn xao bao em nhỏ bên giỏ kẹo đủ sắc màu?

Bóc một thanh kẹo nhỏ, tôi nhận ra,Halloween vui nhất là khi tôi dành cả tâm hồn để thưởng thức kẹo như thời bé dại, thanh kẹo mà ông ngoại đã cất thật kỹ trong góc tủ lạnh để dành cho tôi. Halloween thật ngọt ngào khi tôi biết cảm nhận hương vị yêu thương của bao người thân thuộc và bạn bè "hiệp chủng quốc" quanh tôi.

Đã lâu lắm rồi tôi không gặp Kelly. Tôi cũng không còn nghe tin tức về chị Duyên, hai con chị có lẽ nay đã vào đại học. Chị Duyên rất tốt bụng và chăm chỉ, chắc giờ chị cũng có được ngôi nhà với mảnh sân Halloween rực rỡ bí vàng..

Ngày ấy giá như tôi đừng lan man nhớ Sài Gòn,giá như tôi để ý nhiều hơn đến em Kelly ngay bên cạnh, tôi thể nói vài lời với em, hay cho em một cái ôm chia sẻ.

Tôi bỗng muốn dừng công việc trong chốc lát, lên internet, facebook tìm lại Kelly, tìm lại chị Duyên...

***
Gia đình bà Becky, gia đình anh, gia đình tôi đã cùng nước Mỹ đi qua bao mùa mưa nắng, qua bao đợt suy trầm, rồi lại cùng nước Mỹ rộn ràng chuẩn bị kẹo quà cho ngày lễ Halloween.

Halloween về nối tiếp những giấc mơ ngọt ngào của bao thế hệ người sống trên đất Mỹ. Giấc mơ được nhận, được cho, được cùng nhau chia sẻ cảm xúc hồn nhiên thơ ấu. Halloween về, tôi lại được ngắm những ánh mắt hớn hở trẻ thơ, những mảnh sân đầy sắc màu cổ tích, liêu trai của bao chủ nhà hào sảng.

Halloween lại về trên ngọn đồi Hollywood rực rỡ đèn hoa, trên góc đường ngoại ô LA mờ tối, trên những dốc đồi Seattle ướt sũng dưới mưa…Xin nguyện cầu Halloween sẽ luôn có phần kẹo ngọt ngào cho anh, cho em, cho bạn, cho tôi…

Tố Nguyễn

Friday, September 13, 2019

Giấc Mộng Tuổi Hoa

Tố Nguyễn 

Billie Eilish và anh trai Finneas O'Connell

Các em tập hát tiếng Việt tại Thư Viện Việt Nam

***
Sống nơi tiểu bang đông đúc, bận rộn vào bậc nhất của nước Mỹ, tôi thấy nhiều cơ hội cho công việc, học hành, giải trí nhưng cũng biết thêm nhiều áp lực đè nặng lên vai con người, nhất là giới trẻ. Người trẻ nghèo khổ, luôn thấy bị thua thiệt, càng so đo, càng thấy tủi buồn. Người trẻ quá giàu sang, nổi tiếng cũng dễ gánh ưu tư. Làm việc gần Hollywood, tôi đã thấy nhiều nghệ sĩ thành công từ khi trẻ tuổi đều gặp nhau ở những “Rehab Centers”, phải đi chữa bệnh tâm lý, đi cai nghiện. 

Trẻ gốc “Mỹ rặt” mà còn gặp nhiều khó khăn như vậy, thế nên bao bậc cha mẹ gốc Việt như gia đình tôi luôn loay hoay với những câu hỏi khó trả lời cho tương lai con em mình. Làm sao giúp con trẻ tự tin để hoà nhập vào dòng sống đầy cơ hội và thử thách trên xứ sở cờ hoa mà vẫn không bị trở thành “những người mất gốc“?

Văn phòng của tôi có một khách hàng từng rất nổi danh với loạt phim của Disney. Khi cậu đến văn phòng thuế cùng cô vợ, chúng tôi không thể nào tưởng tượng ra cậu trai gầy còm buồn bã, tay chân đầy hình xăm kỳ dị kia từng là “hoàng tử trong mơ” của nhiều cô bé học trò. Sự thành công và tiền bạc đến quá sớm đã đưa đẩy cậu lạc lối, sa đà rồi bị mất hợp đồng phim. Số tiền mà cậu kiếm được nhờ thu âm, lồng tiếng sau này không đủ trang trải cuộc sống cho cô vợ-cũng trẻ con như cậu, cùng hai đứa bé sinh năm một. 

Những ngày gần đây, giới trẻ lại có dịp xôn xao về Bille Eilish, một tài năng âm nhạc với phong cách rất “bụi đời”, hoàn toàn trái ngược với giọng hát ngọt ngào đầy tình cảm của cô. Billie Eilish là cô bé 17 tuổi, sinh ra trong một gia đình có cả cha mẹ đều là nghệ sĩ. Billie Eilish lớn lên ở Highland Park, vốn là một khu phố bình dân phía đông bắc của thành phố Los Angeles. Cha mẹ của cô bé Billie nằm trong phần lớn nghệ sĩ có tài năng nhưng chưa gặp thời, chưa được “tổ đãi” nên vẫn còn loay hoay chật vật với “giấc mộng Hollywood”.

Cả hai anh em của Billie đều học ở nhà chứ không đến trường như bạn bè cùng trang lứa. Điều đó có vẻ là một cách hay cho gia đình họ, vì hệ thống trường công ở Highland Park không mấy tốt, học phí trường tư thì rất đắt tiền. Anh em Billie được dạy nhạc từ khi rất nhỏ, Billie còn được mẹ cho đi học múa. Lớp học múa là chốn duy nhất để cô bé Billie giao tiếp với thế giới bên ngoài. 

Cái thế giới đầy âm nhạc mà cha mẹ tạo ra đã nuôi dưỡng tài năng thiên bẩm của Billie và anh trai Finneas, giúp họ có thể sáng tác và biểu diễn những ca khúc đầy cảm xúc từ khi còn rất nhỏ. Bài “Ocean Eyes” do anh Finneas sáng tác đã được Billie diễn tả xuất sắc tâm trạng, ý nghĩa của bài hát khi cô bé chỉ mới 13 tuổi. Trên youtube cũng có những đoạn phỏng vấn người mẹ của Bille, kể về những vất vả cả gia đình phải trải qua để cho Billie được học nhạc, phát triển tài năng. Tổ đã “đãi” Billie, với đà này cả gia đình cô bé sẽ có cuộc sống như mơ nơi vùng Hollywood. 

Nghe thử bài hát nổi tiếng “Ocean Eyes”, tôi cũng bị mê say theo. Giọng ca trong veo như đang thì thầm kể chuyện của Billie dễ dàng thu phục được cảm tình của nhiều người, nhiều giới vì ai cũng thấy thấp thoáng tâm sự của mình trong ấy. Xem những đoạn phim, nghe những bài hát của Billie, người nghe dễ đoán được cô bé Billie có điều gì rất kỳ lạ, bất ổn trong tâm hồn. Billie cũng thừa nhận là không tâm sự được với cha mẹ mình, mà phải toàn đi gặp bác sĩ tâm lý để nhờ giúp đỡ.

Hy vọng Billie sẽ không như Britney Spears, Justin Bieber, sẽ lấy được cân bằng khi giấc mơ ca hát, giấc mơ nổi tiếng của cha mẹ cô bé đã thành sự thật. Câu chuyện của gia đình Billie là một bằng chứng sống động cho “giấc mơ Mỹ”, hay đúng hơn là “giấc mơ Hollywood”, rằng mảnh đất màu mỡ này sẽ luôn dành cơ hội cho những ai dám ước mơ và cố gắng hết mình theo đuổi giấc mơ. Nhưng đằng sau ánh hào quang vẫn còn những u uất, cô đơn trong tâm hồn người trẻ tuổi mà tiền tài danh vọng dường như không giúp ích được gì.

Không như Bille, bé A Vy nhà tôi tuy sống gần Hollywood nhưng được sinh ra bởi bố mẹ là những “ca lẻ” chỉ dám biểu diễn hát karaoke trước bạn bè. Khi bé được một tuổi, là đúng lúc bản nhạc Gangnam Style “làm mưa làm gió” khắp các kênh ca nhạc. Thế là vừa đi lẫm chẫm, A Vy đã đứng trên bàn, mắt nhìn màn hình youtube và nhún nhảy theo. Có những đoạn khó như phải giơ một chân lên, cô bé nắm tay bà ngoại để xin giúp giữ thăng bằng. Bao phen cả nhà cười nghiêng ngửa với những màn Gangnam Style của bé con chân tay ngắn cũn cố hết sức lúc lắc theo điệu nhạc. Những lúc ấy, tôi thầm sung sướng nghĩ rằng mình sinh ra được một “mầm non văn nghệ” đầy hứa hẹn.

Như nhiều gia đình châu Á sống trên đất Mỹ, chúng tôi cũng thích cho con đi học nhạc học đàn, dù hiểu đời không như là mơ. . . mộng của các bậc phụ huynh. Thực tế, hơn 90% con trẻ đều kết thúc sự nghiệp đàn hát với một vài bản nhạc để dành khoe khi có khách đến nhà. Sau khi khách ra về, chiếc đàn piano lại nằm lặng lẽ thở dài cùng gió bụi thời gian.

Sau mấy tháng đưa đón bé đi “đào tạo” giữa “trung tâm văn nghệ” Burbank- Hollywood, chúng tôi đành phải chấp nhận sự thật là “con ca không hay, con đàn nghe cũng dở.” Vậy nên đến khi cả nhà tôi cuốn gói dọn về quận Cam, chúng tôi không mảy may hối tiếc về cơ hội nơi Hollywood cho “mầm non văn nghệ” A Vy.

Tôi cũng tự an ủi con mình không có duyên với Hollywood, chắc đời con sẽ không “kịch tính” như các anh chị Hollywood nổi tiếng trên kia.

Tuy đã dọn xuống quận Cam, bé A Vy vẫn còn ảnh hưởng của “trung tâm entertainment”, nên vẫn còn ra vô thơ thẩn hát ca, nhún nhảy theo những bản nhạc bé xem trên youtube. Hát solo mãi cũng buồn, bé A Vy bèn chiêu dụ thêm em trai A Phi tham gia vào “hội yêu văn nghệ”. Hai bé mở Ipad, rồi đứng trước màn hình, mỗi em hát một câu, nhịp nhàng, ăn khớp. 

Dĩ nhiên hai bé con chỉ toàn hát những bản nhạc tiếng Anh, mấy bài hát thiếu nhi Việt Nam hai bé đã quên sạch sẽ từ ngày đi trường học. Bài hát mà hai chị em yêu thích là “I Built A Friend” của chàng Alec Benjamin, một nghệ sĩ sinh trưởng ở Phoenix, Arizona. Sau khi kết thúc bằng câu “We have so much fun together”, cả hai chị em nhìn nhau cười thích thú, chị A Vy không tiếc lời khen ngợi em trai học nhanh và hát hay ghê! Mỗi lần nhìn hai bé song ca, tôi lại mong được nghe con hát bằng tiếng Việt.

May sao, bên cạnh cơ man hàng quán phục vụ món ăn từ Cà Mau đến Lạng Sơn, Sài Gòn Nhỏ cũng có nhiều sinh hoạt văn nghệ cho người gốc Việt. Tôi hay thầm cảm phục “con nhà ai mà giỏi quá” khi tình cờ xem được cảnh các bé con mặc trang phục áo dài, cầm cờ múa hát trên sân khấu. Sau mới biết là các bé được luyện trong “lò” của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ sĩ của anh Nha sĩ, nhạc sĩ đa tài Cao Minh Hưng. Mỗi chiều thứ bảy, các bé sẽ được dạy tiếng Việt về nội dung bài hát, dạy hát và múa ở Thư Viện Việt Nam hoàn toàn miễn phí.

Nhờ tham gia cuộc thi Viết Về Nước Mỹ, tôi có duyên may được quen anh Cao Minh Hưng, một tác giả từng nhận giải “Á hậu VVNM” từ năm 2000. Thế là hai chị em A Vy được vào lớp học hát mỗi tuần.

Những ngày cuối tháng tám, nắng chiều Cali vẫn còn vàng óng ả. Nhìn những khuôn miệng bé thơ ngân nga theo điệu nhạc, lời ca bằng tiếng Việt, tôi nghe cả bầu trời mùa hạ tuổi thơ xưa bỗng trong phút chốc trở về...

*
Kia rồi, qua hết con ngõ trải đầy lá tre vàng là khu vườn với hàng cây mận xanh xanh bên bờ kênh nước lớn về mấp mé. Dưới tán lá non rung rinh mấy chùm hoa mận trắng, những chú ve tấu khúc nhạc hè râm ran giữa thôn xóm tịch liêu. Cô bé A Tố mặc bộ áo hoa có viền tim tím, tay cầm ống lon gigo tha thẩn dưới những tàng cây, cất tiếng hát say sưa cùng bao nhạc sĩ ve sầu. Xa xa, những áng khói đốt đồng đưa mùi rơm rạ nồng nồng vương trong nắng chiều bàng bạc…

Tôi dọn lên tỉnh, chia tay thời “hát với chú ve con” vì chốn thị thành cây xanh ít ỏi, vắng thưa những tiếng ve.

Các em trình diễn tại cuộc thi “Tâm Ca Đạo Hiếu“ và Tết Trung Thu 2019
Các em múa bài VN Hùng Sử Ca tại Thư Viện Việt Nam

***
Khoảng năm 1990s, khi những đĩa nhạc copy của “U Sing Along” về đến Việt Nam, khắp hang cùng ngõ hẻm bắt đầu rủ nhau hát karaoke, nửa lén lút nửa công khai. Nghĩa là sẽ công khai cho đến khi nào “trưởng khóm” hay “công an khu vực” đến “nhắc nhở” thì sẽ lui vào “hoạt động bí mật” chờ tình hình lắng dịu. 

Dịp nghỉ hè, tôi hay trốn ngủ trưa theo cô bạn đi hát karaoke ở nhà cô Liên cuối xóm. Gọi là phòng karaoke cho sang, chứ chỉ là căn phòng ngủ của gia đình đã được dọn hết giường tủ ra bên ngoài, có kê mấy cái đầu máy, âm li và microphone. Không hề có đèn màu chớp chớp quay quay, “ca sĩ” thường ngồi bệt dưới sàn hay trên mấy cái ghế nhựa thấp bé như kiểu “ghế xúp” của các gánh hàng rong. Khi “ca sĩ” say sưa hát hò trong phòng thì chủ nhà luôn ngồi “canh gác” trước sân.

Vì là băng Karaoke của hải ngoại, nên toàn là những bài ca trước năm 1975 hay những bài được sáng tác ở Mỹ. Những khúc tình ca diễm tuyệt hoà cùng âm thanh thánh thót lôi cuốn tôi vạn lần hơn những bản nhạc nhi đồng chán ngắt. Đang ở độ tuổi học nhanh nhớ lẹ nên dù chỉ ca hát lai rai, tôi đã thuộc lòng đủ thể loại nhạc từ mượt mà trau chuốt đến nhạc lính, nhạc tình như Ai Về Sông Tương, Giọt Mưa Thu, đến Phố Đêm, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Nỗi Buồn Gác Trọ. . . Sau này thêm cả Trái Tim Ngục Tù, Trái Tim Mùa Đông. . Mới học lớp 7, lớp 8 mà tôi cứ hay gân cổ hát “Có người con gái buông tóc thề, thu về e ấp chuyện vu quy” và “Đừng xa em đêm nay…ba má em đã ngủ say...” nên không ít lần tôi bị bà ngoại xuống tận tiệm Karaoke kéo về nhà phạt đòn thật nặng.

Sau những mùa hè “U Sing Along”, tôi cong lưng học thi để vào trường y dược và hát những bài tốp ca đầy máu lửa theo “chỉ đạo”. Cắm cúi với “toán hoá sinh” và những bài hát “đoàn, đội” sáo rỗng, cảm xúc văn nghệ của tôi cũng héo tàn như hàng cây mận trong khu vườn chốn quê xưa. 

Đậu vào đại học, lên Sài Gòn, tôi được dịp tiếp tục giấc mơ ca hát. Tôi xén tiền học tiếng Anh để đi học hát, luyện giọng cùng một ông thầy cũng là ca sĩ “chìm không chìm nổi không nổi”- tốt nghiệp nhạc viện nhưng không gặp thời. Nhưng học để cho vui, chứ thật sự tôi chỉ tự tin khi có màn hình karaoke chạy chữ trước mặt, ảnh hưởng của thời “U Sing Along”.

Rồi khi đi làm, tôi dần quen với cuộc sống của một viên chức đi trễ về sớm, tiệc tùng, karaoke liên tu bất tận như bao nhiêu đồng nghiệp lười nhác khác. Cùng với bao bạn trẻ thời ấy, tôi cứ nhắm mắt mà ca, không mảy may bận lòng về bài hát với từ ngữ giai điệu như thể “đấm vào tai” thính giả “Ở bên người ấy, xin đừng nhớ đến tôi... Người ấy và chính tôi, trong cuộc tình chúng ta, anh phải chọn ra một người thôi. hớ hớ hơ...” Thật lòng mà kể, vẫn có những bài đầy chất thơ nhưng qua sự “sáng tạo” của một số ca sĩ nổi tiếng ngoài Hà Nội, lại trở thành âm u, ghê rợn mà giờ đây khi bất chợt nghe lại giữa đêm khuya tôi còn phải rùng mình kéo chăn trùm kín mít: “Hu oa Hu Oa Hu oa! Vời vợi đất trời phiêu bạt tình si… ú oa ú oa Giữa chốn huyền không tìm người trong mộng… huơ huơ huơ... ”

Giã từ những ngày chơi nhiều hơn làm ở Sài Gòn, tôi sang Mỹ và bắt đầu làm quen với đời sống của một công dân lương thiện, nên hầu như không còn thời gian ca hát. Giấc mộng “mần ca sĩ” của tôi xếp lại để chỗ cho những lớp kế toán thuế chi chít số và luật lệ. Dọn nhà, đổi việc, con trẻ lao nhao, “ca sĩ karaoke” ngày xưa giờ chỉ còn hát mỗi một câu trong bài Biển Tình của nhạc sĩ Lam Phương: “Đời em sẽ đẹp vì có anh.” để cho chàng hăng hái mà lên đường đi... rửa xe hay đi đổ rác.

Tuy không còn thời gian ca hát, tôi vẫn thích theo dõi các tin tức văn nghệ ở hải ngoại. Có lần tôi đọc được bài viết của ông Đào Anh Dũng về Lê Trí & Family Love, tôi đã biết thêm câu chuyện thú vị và cảm động về “những năm đầu tiên lận đận, lao đao nơi xứ người” của những người ca sĩ, nhạc sĩ tài hoa. Nhờ lòng say mê, tình yêu với âm nhạc Việt, những nghệ sĩ tha hương đã tạo ra được những băng karaoke “hoà âm thật khéo léo, dễ hát, nhạc đệm lúc nào cũng ”đầy“ và ”ôm trọn” lấy người ca với những câu nhạc lót nghe thật dễ chịu”. Khi “lọt” về Việt Nam, dù là băng sao chép lại nhưng âm thanh “Made in USA” vẫn còn rất trong trẻo du dương.

Mỗi khi tình cờ thấy được vài đĩa nhạc karaoke U Sing Along phủ lớp bụi mờ mờ trên giá sách nhà người quen, tôi lại nghe lòng mênh mang nhớ về những mùa hạ năm nào. U Sing Along karaoke đã cho cô bé A Tố có cơ hội làm quen với giai điệu đẹp từ thuở thiếu thời, cho mấy mươi năm sau trên đất Mỹ, tôi lại bắt chước như thi sĩ Bùi Giáng, mơ màng về một ngày “Em sẽ về giữa mùa nước phơi trăng...”

Nhờ văn thơ, âm nhạc, tôi thấy cuộc đời sau bão tố phong ba rồi cũng sẽ như dòng sông quê êm ả trôi cùng năm tháng. Xưa, tôi hát một mình giữa khu vườn hè xào xạc lá, giờ lại được hát cùng con giữa chiều hạ quê người. Các con của tôi, những hạt giống Việt được ươm mầm, vun bón chăm sóc trên đất Mỹ, như những loài cây nhiệt đới trong những mảnh vườn người Việt Sài Gòn Nhỏ. Khi con đi trường học, “phần Việt” dần dần mai một. May nhờ có những tấm lòng của các cô, bác, anh, chị như anh Cao Minh Hưng, ”phần Việt“ trong các bé con sinh ra nước Mỹ được gìn giữ, nâng niu.

Thật ra, không dễ dàng khi ”bắt ép“ các bé con phải học một ngôn ngữ mà chúng cho là ”khó quá máma ơi” và không được dùng trong trường lớp hàng ngày. Muốn con học hát tiếng Việt, nhiều phụ huynh như tôi phải đứng bên cạnh, dò từng hàng, đọc theo từng câu hát với con. Những giây phút học cùng các con, tôi như được trở về thời niên thiếu của mình. 

Những bài hát như bài “Việt Nam Hùng Sử Ca” do anh Cao Minh Hưng sáng tác nhắc tôi nhớ lại lịch sử hào hùng của dân tộc, tên những vị anh hùng Bà Trưng, Ngô Quyền... mà tôi tưởng đã quên đi. Đặc biệt, các bé còn được tập bài hát “Bạch Đằng Giang”, một bài hát đã bị “mất tích” ở Viêt Nam sau năm 1975. 

Cuối buổi học hát, thầy Cao Minh Hưng và thầy Ngọc sẽ cho toàn lớp lên hết bên trên để cùng hoà giọng với nhau. Những lúc ấy, A Vy và A Phi cũng phụng phịu lên cùng, đứng mấp máy môi, trông vẻ mặt hai em rất căng thẳng vì chưa rành bài hát khó. Tuy vậy, hôm sau lúc ở nhà, bé A Phi reo lên mừng rỡ khi thấy lại bài múa Việt Nam Hùng Sử Ca trên youtube mà tôi mở cho bé xem, rồi bé A Vy hỏi tôi “Mẹ ơi, Bà Trưng là ai vậy?”

Trong khi chờ đợi tài năng của con mình phát tiết, hoặc giả chẳng có tài để mà phát tiết, tôi vẫn rất vui vì con đã chịu học tiếng Việt, hứng thú với ngôn ngữ của dân tộc mình. Mong sao bé lớn lên và yêu cội nguồn của mình giống như bé yêu nước Mỹ, có thể hát bài Bạch Đằng Giang rành rọt như hát bài Quốc Ca Hoa Kỳ. Tôi sẽ giữ mãi giấc mơ về một ngày được nhìn hai con xúng xính trong bộ áo dài dân tộc, múa ca bằng tiếng Việt dấu yêu.

Giấc mộng được hát ca giữa những tràng vỗ tay của A Tố xưa kia, của A Vy và các bé con trong câu lạc bộ Tài Năng Trẻ giờ đây đang được sự ủng hộ hết lòng của các bậc cha mẹ, mạnh thường quân nặng lòng với văn hoá Việt. Các cô, chú, bác ban quản trị Thư Viện Việt Nam đã giúp nơi chỗ cho các cháu học múa hát. Anh Cao Minh Hưng và nhiều anh, chị, em Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đã giành thật nhiều thời gian cho những sinh hoạt cộng đồng.

Sự hy sinh của các bậc cha, chú, anh, chị đã được đền bù thật xứng đáng sau ba năm thành lập Câu Lạc Bộ Đào Tạo Tài Năng Trẻ. Các bé mới bập bẹ hát tiếng Việt năm nào giờ đây liên tục mang về nhiều giải thưởng, được nhiều ánh mắt khâm phục của bạn bè hiệp chủng quốc cho những màn trình diễn thật chuyên nghiệp của mình.

Karake U Sing Along năm xưa và Câu lạc bộ Tình Nghệ Sĩ - Đào Tạo Tài Năng Trẻ hôm nay cho tôi luôn vững tin người Việt hải ngoại sẽ luôn giữ gìn, phát triển văn hoá, nghệ thuật của mình. Những lời ca, điệu hát Việt ngân nga trên đất Mỹ suốt mấy mươi năm qua đã sưởi ấm bao trái tim xa xứ, tô điểm cho bức tranh đầy màu sắc của nền văn hoá Hoa Kỳ.

Như nhiều sắc dân nhập cư khác, các trẻ em gốc Á hay gặp nhiều khó khăn hơn để hoà đồng vào “dòng chính”, không ít trẻ sinh ra trên đất Mỹ đương nhiên rất xa lạ với nguồn gốc của mình, lớn lên thiếu tự tin, dễ dàng sa ngã. Văn thơ, âm nhạc sẽ là nguồn nước mát lành nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ, cho con trái tim yêu thương cuộc đời, trân quý tha nhân. Học tiếng Việt, lịch sử Việt qua những bài ca điệu múa, khoảng cách giữa con và thế hệ ông bà, cha mẹ sẽ được thu hẹp lại. Không thành công thì cũng thành nhân, khi con trẻ biết yêu thương, trân trọng cội nguồn của mình, con trẻ sẽ thấy tự tin hơn khi hoà nhập vào nền văn hóa hiệp chủng quốc. Những tài năng trẻ gốc Việt sẽ toả sáng trên đất Mỹ, các con sẽ luôn được sống trong tình yêu thương, nâng đỡ của gia đình và cộng đồng.

Tạm quên hết những bộn bề cơm áo, những lo âu về súng đạn nhiễu nhương, chiều thứ bảy, tôi lại đưa các con về Thư Viện Việt Nam.

Dưới phố Bolsa, lá cờ Mỹ sóng đôi lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới giữa trời Nam Cali mênh mông nắng. Trên một góc Sài Gòn Nhỏ chiều nay lại trầm bổng tiếng đàn, vang vang câu hát “Đây Bạch Đằng Giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng...”

Tố Nguyễn

Wednesday, July 17, 2019

Học Văn Việt Trên Đất Mỹ

Tố Nguyễn

Tôi có một kỷ niệm về ngôn ngữ thật khó quên khi còn làm việc với chị "sếp" người Đại Hàn. Chị ấy đã sống ở Mỹ gần 30 năm, bằng cấp treo đầy phòng, viết email cho khách hàng rất hay và nhanh. Vậy mà thỉnh thoảng tôi vẫn thấy vài mẩu giấy ghi nắn nót bằng chữ Đại Hàn dán bên dưới màn hình máy tính của chị. 

Một ngày đẹp trời, thấy chị có vẻ "dịu hiền" hơn thường lệ, tôi mới rụt rè hỏi: "Chị ơi, cái “note” chữ Đại Hàn có ý nghĩa là: "Tuần sau sẽ xử đẹp A Tố" nên chị mới không viết ra bằng tiếng Anh phải hôn?" Chị cười ha hả bảo tôi “đa nghi" quá, đó là cách chị giữ tiếng "mẹ đẻ" của mình, vì những chữ “tượng hình" kiểu Tàu, Nhật hay Đại Hàn nếu không dùng thường sẽ quên mất cách viết. Tôi thật cảm phục tinh thần dân tộc của người Đại Hàn, lại thấy chút hổ thẹn khi tôi đã từng quay lưng với "tiếng nước tôi"... 

Năm nào cũng vậy, những giây phút ngắm ánh pháo hoa sáng rực giữa bầu trời mừng ngày Lễ Độc Lập July 4th của nước Mỹ, tôi lại nhớ về quê cũ mà "luống những ngậm ngùi”. Người Do Thái giữ được tiếng nói nên khôi phục lại quê hương, ngày lễ Độc Lập năm nay tôi thấy đôi chút an ủi là mình cũng đang học hỏi, giữ gìn tiếng Việt. Tôi xin kể câu chuyện học lại "tiếng nước tôi" của một "em- không còn bé", ngày ngày đi làm với những người Mỹ, người Mễ Tây Cơ. 

Tôi sớm có tâm hồn "mộng mơ" khi còn bé xíu, từ những năm tháng ấu thơ nơi miền sông nước Hậu Giang. Trước nhà ngoại tôi là con sông với chiếc cầu khỉ "lắt lẻo gập ghềnh", cạnh bên nhà có chiếc xuồng ba lá neo đậu trong cái xẻo nhỏ um tùm những rặng ô rô, dừa nước. 

Tuổi thơ miền thôn quê không có đồ chơi như trẻ nít thị thành, tôi hay quẩn quanh nghe ông bà kể chuyện đời xưa, sớm sớm chiều chiều tha thẩn ra sân ngóng coi "nước ròng nước lớn"…

Thuở đó, xong bữa cơm trưa là bà Ngoại đặt tôi lên trên chiếc võng giăng ngang bộ ván kê cạnh khung cửa sổ to. Khi nằm trên võng, những ngày nắng đẹp, tôi có thể thấy những nhánh hoa bần trắng dập dềnh theo sóng nước ngoài sông, thấy bụi chuối xanh rào rạt ở góc sân trong tiếng gà trưa xao xác. Những lúc mưa dầm, tôi có thể ngắm những giọt nước mưa long lanh chảy dài từ trên mái lá trước hiên nhà, thấp thoáng sau màn mưa là mặt sông trắng xoá…

Dù ngày nắng hay mưa, bà Ngoại luôn hát ru cho tôi ngủ giấc trưa. Lắm khi cơn buồn ngủ đã về kéo sụp cả bờ mi, mà tôi cứ cố gượng mở mắt ra nhìn Ngoại, để bà lại phải tiếp tục đong đưa chiếc võng và ngân nga ví dầu ầu ơ suốt cả buổi trưa hè. 

Rồi tôi dọn lên tỉnh, bên phải nhà tôi là ông “cán bộ”, luôn có khách đến tiệc tùng, hát hò những bài kiểu như "đường ra trận mùa này đẹp lắm…” Tuy 'quàng khăn đỏ’ nhưng tôi không thích nghe những bài hát ấy chút nào, vì lời nhạc nó cứ 'sao sao’ ấy. (Sau này tôi thật là "tâm đắc" khi biết được tận bên kia trời Úc, nhà báo Đoàn Xuân Thu cũng viết đại ý là: đường ra trận mà đẹp nỗi gì khi “tên bay đạn nổ ầm ầm ba bên bốn phía!". 

Bên trái là nhà của ông bà Hai, trạc tuổi ông bà ngoại tôi. Ông bà Hai có tới mười ba người con cả gái lẫn trai. Nhà bà Hai rất to, sống theo kiểu "tứ đại đồng đường", ông bà, con cái, dâu rể cùng chung dưới một nóc gia. Các ông con trai khi lấy vợ đều rước về làm dâu, các cô con gái cũng về nhà ngoại mỗi khi sinh cháu, nên nhà bà Hai hầu như không dứt tiếng hát ru con. 

Bà Hai có cả "kho" hát ru vô tận, bà có thể ngồi ru cháu cả hơn nửa giờ mà không hát trùng lại câu nào. Giọng bà lảnh lót, vang rền khắp xóm. Tôi vẫn có thể nghe được tiếng bà ru giữa những cơn mưa tháng sáu rào rào đổ trên mái tôn nhà. Nhờ vậy, cho dù đã qua tuổi được đưa võng ngủ, tôi vẫn được ru "ké" từ nhà bà Hai. Trưa trưa tôi vẫn trèo lên võng, đong đưa theo những lời ru ngọt ngào từ nhà bà Hai vọng vang sang. 

Tôi xa tuổi thơ êm đềm nơi miền sông nước, rồi cũng cách biệt với những con đường cây xanh rợp bóng xứ Trà Vinh. Tâm hồn tôi khô cằn và mệt mỏi với những bài luận "rập khuôn" từ năm này qua tháng nọ, những câu kết giống nhau cho tất cả các đề văn "Em may mắn được lớn lên khi 'đất nước đã sạch bóng quân thù’, và "là học sinh dưới mái trường XHCN, em xin hứa..." 

Buồn thay, tôi biết rằng hầu hết "học sinh XNCN" như tôi chỉ có niềm khao khát “làm giàu”, phải lăn lộn chèn ép nhau để kiếm tiền bằng mọi giá. Viết ra một đằng, nhưng tâm tư thì nghĩ về một nẻo, tôi ngày càng xa rời văn chương chữ nghĩa. 

Mải mê với giấc mơ "nhà lầu xe hơi" nơi phồn hoa đô hội, tôi quên hết những buổi trưa bên cánh võng kẽo kẹt chốn quê nghèo... 

Rồi tôi sang Mỹ, phải học hành, cố gắng bằng mọi cách để đi "làm hãng Mỹ", ráng sao để nói tiếng Mỹ hàng ngày. Đến khi tôi có con gái đầu lòng, tôi bỗng nhiên muốn hát ru con bằng Tiếng Việt. Lúc ấy tôi mới buồn bã nhận ra tôi đã quên hết rồi những lời ru đã nuôi lớn khôn tôi. 

Dù rất muốn, nhưng câu chữ cứ chạy đi đâu mất hết, lại thêm lần đầu làm mẹ, tôi còn rất ngượng miệng nên chưa từng ru bé một câu nào. 

Một buổi trưa hè Seattle gió hiu hiu mát, lác đác vài cánh hoa lê, hoa táo cuối mùa xen lẫn những chùm trái xanh non đong đưa ngoài khung cửa sổ. Không gian êm ả vậy mà bé con cứ quấy khóc nhè nhè, nhìn qua nhìn lại không thấy bóng ai, tôi bỗng thấy mình cất giọng:

"Ầu ơ, Chim đa đa đậu nhánh đa đa, 
Chồng gần không lấy em lấy chồng xa. . 
Lỡ mai cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa bộ kỷ trà ai dâng... "

Bé con đang khóc bỗng dưng im bặt, ngước đôi mắt to tròn ngạc nhiên nhìn tôi thích thú như thầm nói "hát nữa đi, mom." Giây phút ấy, bao nhiêu câu ru con của bà Ngoại và bà Hai thuở nào bỗng tuôn ra dào dạt như dòng suối mới được khơi nguồn. 

"Ầu ơ. Thò tay mà bứt ngọn ngò
Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ... 

Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau má nhờ... 

Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng... 

Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh

Ví dầu tình bậu muốn thôi 
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra 
…. 
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về anh học chữ nhu
Mấy trăng em cũng đợi ngàn thu em cũng chờ... 

Càng hát, tôi càng nhớ thêm nhiều bài ru con với nhiều vần điệu. Rồi cả vùng sông nước tuổi thơ như hiện về lung linh màu sắc trước mắt tôi. Ngoài sân nắng, hoa lê cũng chợt trắng mỏng manh như những cánh hoa bần nơi quê ngoại... Tôi mơ màng thấy bụi chuối sau hè, luống khoai bên dậu. Tôi thấy đàn cá lìm kìm lội trong mương nước, tôi nghe con chim vịt kêu chiều trên cánh đồng xa…

Bé đã chìm vào giấc ngủ, tôi vẫn say sưa ngồi hát ru… Hôm đó bé con ngủ một giấc trưa thật dài, dài nhất từ trước đến giờ. Hậu quả là buổi tối đó bé cũng trằn trọc lăn qua lộn lại vì… ban ngày ngủ quá nhiều. Vậy là tôi lại phải cất tiếng ru con, kỳ này tôi không còn mắc cỡ nữa, mà cứ ru khe khẽ cho bé chìm vào giấc ngủ với những “cánh cò bay lả bay la...”

Bé lớn lên dần, tôi không còn phải hát ru con ngủ. Rồi cuộc sống tôi lại bộn bề với những vất vả mưu sinh, tôi tưởng đã quên đi những rung cảm ngọt ngào từ thơ văn tiếng Việt. Cho đến ngày tôi tình cờ đọc được những dòng văn từ Mục Viết Về Nước Mỹ trên Việt Báo. Những dòng văn viết từ trái tim của những cây bút “tài tử" mà làm tôi xao động đến lạ kỳ. Tôi say sưa đọc, cùng khóc cùng cười với những lời văn khi thì trau chuốt, khi thì mộc mạc, đơn sơ. 

Rồi tôi "lang thang" đến những trang báo khác, tôi đọc truyện của giáo sư Nguyễn Văn Sâm, tôi đọc thơ của của cố thi sĩ Bùi Giáng, thơ của thi sĩ Trần Dạ Từ, biết thêm nhiều nhà văn nhà thơ mà tôi chưa từng được học ở trường lớp khi xưa... Tôi ngỡ ngàng như lạc vào một khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ sau bao năm chỉ cắm cúi đi về trên một con đường tẻ nhạt. 

Thời còn ở quê nhà, tôi và nhiều bạn bè đồng trang lứa luôn được dạy phải "học theo Miền Bắc". Mỗi khi viết bài luận văn tôi cứ phải cố tìm cho ra những ngôn từ trau chuốt theo như những “bài văn mẫu”. Tôi đâu biết rằng nơi tôi sinh ra cũng có một kho tàng văn chương đã bị người ta cố tình "vùi dập". Rồi khi ở giữa xứ người, tôi lại thấy lòng xao động trước những dòng văn Miền Nam của giáo sư Nguyễn Văn Sâm. Đọc văn của ông, tôi mơ màng ngỡ như bà Ngoại đang ngồi cạnh bên mình, rì rầm kể chuyện "đàn kêu tích tịch tình tang... ", thấy chàng Thạch Sanh oai hùng trong giấc mơ ngày thơ bé. Tôi như ngửi được mùi phù sa trên những chuyến đò Đại Ngãi, thấy tôi về giữa xóm chợ bên bến sông quê xôn xao hàng quán thuở nào... 

Sau này tôi lại được đọc những bài của nhà báo Đoàn Xuân Thu. Văn thơ của ông thật gần gũi với những ngôn từ Nam Bộ bình dân phóng khoáng, những tên đất tên vùng gắn liền với tuổi thơ tôi... Rồi tôi đọc được thêm nhiều thơ của cố thi sĩ Bùi Giáng, để những khi đi giữa LA tấp nập mà nhớ về Seattle ngày tháng cũ, tôi thấy mình cũng như ông “Chiều thu ngồi đếm lá rơi, Bên đèn phố thị nhớ nơi núi đồi...” Tôi ngồi giữa biển trời mênh mông xứ Mỹ, lòng bồi hồi mênh mang theo những tự tình về “hồn đất hồn quê”, lật từng trang thơ ông viết mà nghe nức nở “Bây giờ điệu cũ bay xa, Nguồn trôi nước bạc đổ ra vô cùng. . .” 

Rồi tôi cũng muốn viết, chỉ mong khi viết xong, đọc lại, tôi thấy thích câu chuyện của mình và độc giả sẽ không thấy "phiền lòng" khi đọc câu chuyện của tôi. 

Tôi ngồi trên chiếc máy bay êm ái để đến xứ cờ hoa, không phải trải qua những nỗi lo sợ tuyệt vọng giữa bao cơn sóng gió đầy trời như những những "thuyền nhân" trên Việt Báo. Những vất vả ngày đầu nơi xứ lạ của tôi đâu có thấm gì với những bậc cha chú mất nước mất nhà phải gạt nước mắt ra đi. Tôi bỏ lại Sài Gòn với chút rung động nhẹ nhàng của thời sinh viên khờ dại, nên tôi cũng không có đau thương chia lìa để viết nên những chuyện tình ngang trái của kẻ ở người đi. 

May thay, tôi được sống ở Seattle, xứ sở của mưa và mây mù mà nữ thi sĩ Trần Mộng Tú đã viết "Nắng ở đây hiếm hoi như hạnh phúc, Anh có về gửi chút nắng cho em!" Nên bài đầu tiên, tôi viết về những ngày tháng ở Seattle, thành phố mộng mơ của tôi. Tôi viết về những ân tình ấm áp mà tôi nhận được từ những người bạn, người chủ, viết về nỗi buồn khi phải xa Seattle để "mưu sinh" nơi miền nắng ấm. 

Không ngờ 'tổ đãi kẻ khù khờ', bài viết đầu tiên của tôi trên Việt Báo, dù câu chữ nhiều vụng về vì đã lâu lắm rồi tôi không viết văn tiếng Việt, tôi đã nhận được sự khích lệ bao dung từ độc giả và ban giám khảo Viết Về Nước Mỹ. Tôi cảm giác như mọi người đang mở rộng vòng tay đón đứa con "đi lạc" trở về nhà. 

Vậy là tôi "hăng hái" viết thêm nhiều bài nữa, có những từ ngữ Việt đã lâu không dùng đến, bây giờ tôi phải ráng lục lọi trong trí xem có phù hợp hay không. Tôi cũng thích đọc mục "Comment" - ý kiến bên dưới những bài Viết Về Nước Mỹ để hiểu thêm "tâm tư tình cảm" của những độc giả khắp mọi miền. Như các tác giả đồng trang lứa, tôi không có nhiều vốn từ ngữ theo nguyên bản của Tiếng Việt như các bậc cha chú thời xưa. 

Ví dụ như khi còn ở Việt Nam, tôi chưa từng được biết về chữ "diễn hành", nên khi viết, tôi cứ dùng là "diễu hành", hay tôi thật sự không biết chữ "liên hệ" thì phải viết đúng là "liên lạc". 

Và cũng may mắn thay, tôi được xem một bảng so sánh giữa tiếng Việt nguyên bản và tiếng Việt bị "biến đổi" sau này, nên mỗi lần viết xong tôi hay lọ mọ mở ra xem để thay đổi ngôn từ cho đúng. Tôi cũng nghe theo một lời khuyên trong mục ý kiến độc giả, tránh đọc những bài văn, bài báo trong nước để không bị cuốn vào cái vòng chữ nghĩa thay đổi theo "thời đại" ở bên nhà. 

Tôi luôn chạnh lòng với hình ảnh nghèo khó của những nhà văn, thầy cô giáo dạy môn văn ở Việt Nam. Sau này sang Mỹ, có cơ hội làm kế toán thuế vụ cho những "writers"- nhà viết kịch bản đã nổi danh hay "tài năng" vẫn còn "trong lá ủ" của Hollywood, tôi thấy giỏi văn chương ở xứ Mỹ thật là "đáng công đáng sức”. 

Luật lệ minh bạch của của Mỹ luôn bảo vệ quyền lợi cho những người “artist”-nghệ sĩ." Hollywood Writers luôn được trả tiền hậu hĩnh từ lúc nộp bản "script"- kịch bản phim cho đến nhiều năm sau đó, khi bán được bản quyền phim hay mỗi lần thu thêm được tiền lời từ việc chiếu phim. 

Khác hẳn khi ở Việt Nam, chỉ được học những bài văn sáo rỗng, phần nhiều là hư cấu có nguồn gốc từ miền Bắc, nay ở trên đất Mỹ mà tôi lại được học được "văn" của ba miền Bắc, Trung, Nam của bao tác giả trên Việt Báo. Những bài văn Viết Về Nước Mỹ có giọng hò mênh mang nơi cuối dòng sông Hậu, có nắng lung linh trên từng góc phố Sài Gòn, có tiếng chuông Thiên Mụ ngân nga trên dòng Hương Giang xứ Huế, và có những chìm nổi thâm trầm của người từ đất Bắc phải lìa bỏ làng que... 

Tôi học được rằng người Việt Nam ta, dù khác biệt văn phong, thổ ngữ vùng miền, vẫn mang chung nét đẹp kiêu hùng của dòng giống con Hồng cháu Lạc. Qua những bài Viết Về Nước Mỹ, tôi biết được những câu chuyện thương tâm thời tao loạn, biết được cuộc sống muôn màu của bao người Việt ly hương. Những gương cần cù, chăm chỉ “dựng cơ đồ" từ hai bàn tay trắng, những bà mẹ ngồi suốt đêm bên chiếc máy may, còng lưng trong tiệm nails, tiệm giặt... những người cha áo quần lem luốc, ướt đẫm mồ hôi bên chiếc máy cắt cỏ, bên những khu nhà xây cất dở dang giữa trời hè nắng nóng chói chang... Những hy sinh lặng thầm của ông bà nội, ngoại đã không quản nhọc nhằn để giúp chăm sóc cháu, cho nước Mỹ có thêm nhiều kỹ sư, bác sĩ gốc Việt hàng năm. Tôi cũng thấy những sai sót, lầm lỗi của mình nhờ đọc văn về chuyện đời của người khác. 

Lớn lên từ những lời ru Nam Bộ ngọt ngào, tâm hồn tôi từng được tưới mát như những rặng dừa xanh bên dòng sông êm ả phù sa. Nhưng rồi con sông quê xưa oằn mình với bao nhiêu hoá chất, những rặng dừa quay quắt héo tàn theo vận sông, vận nước điêu linh... 

May mắn hơn những rặng dừa quê cũ, tôi được ra ngoài biển lớn mênh mông. Giữa "đại dương" văn hoá trên xứ Mỹ, tôi đã được "về lại" ngôi nhà "waterfront" của tuổi thơ êm đềm nơi miền quê ngoại, nhờ những câu hát ru đã ăn sâu trong tiềm thức, nhờ vào những trang văn thơ Việt được viết ra giữa xứ người. 

Cám ơn Việt Báo và quý cô chú anh chị đã dốc lòng dốc sức cho chương trình Viết Về Nước Mỹ, cám ơn bao tấm lòng của người viết, người đọc khắp mọi miền. Tôi luôn tin tiếng Việt mến yêu của dân tộc ta sẽ mãi trường tồn, những lớp Việt Ngữ sẽ mọc lên thêm nhiều trên khắp xứ cờ hoa. 

Và tôi luôn tin dẫu có xa cách ngàn khơi, những người con đất Việt vẫn mơ về một ngày "gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng, về sông ăn cá về đồng ăn cua." Mong lắm thay vài mươi năm nữa, những đứa cháu được sinh ra trên đất Mỹ sẽ biết thương câu ầu ơ ví dầu của người bà luôn đau đáu nỗi nhớ quê... 

Tố Nguyễn

Monday, June 17, 2019

Những Vết Sẹo Của Tôi

Tố Nguyễn

Năm nay trời Nam Cali mưa nhiều và khá lạnh suốt mấy tháng dài. Khi tìm những bộ áo ấm trong tủ, tôi lại nhận ra mình có nhiều áo đầm tay ngắn, kiểu áo mà hơn mười năm trước tôi không bao giờ mặc vì sợ mọi người trông thấy vết sẹo của mình. 

Chuyện là,khủy tay tôi có một vết sẹo to, trông như một gốc cây già nua chằng chịt rễ, hậu quả của lần té ngã khi tôi lên sáu tuổi. Cái ngày "định mệnh" ấy, nhà tôi có bà cụ khách ở quê ra thăm. Hôm đó bà ngoại ra chợ và để tôi ở nhà với cụ. Lâu lâu lên tỉnh, cụ khách thích ngồi sát bên cái máy radio nghe hát cải lương nên tôi cứ tha thẩn một mình. 

Thuởu nhỏ, tôi rất hay "xích mích" với bạn bè. Trước đó vài ngày, tôi có cãi cọ với hai anh em cô bạn nhà sát vách. Đã có “kinh nghiệm” từ nhiều cuộc gây gổ trước, tôi hiểu "hai đánh một không chột cũng què", nên ấm ức biết mình không thể làm gì được anh em họ. 

Tôi cứ đi ra đi vô nghĩ kế "phục thù". Nhà ấy có cây khế sà qua sân nhà tôi, trái đầy cành cứ đong đưa trong gió. Nhìn dáo dác không thấy bóng ai, tôi bèn leo lên vặt hết khế già khế non mà ném xuống đất "cho bõ ghét". 

Sau khi đã hả hê với màn "giận cá chém thớt" của mình, tôi chuyển qua cây chùm ruột kế bên. Một tay tôi bám vào nhánh cây, tay kia rướn lên định ngắt chùm trái vàng tươi như đang "mời gọi". Bỗng trong tích tắc "rắc, rắc", nhánh cây gãy gọn, tôi rớt như một "bịch muối" xuống nền sân xi măng đau điếng. Khi "hạ cánh", tôi đã chống tay xuống trước nên tay bị gãy lìa ngay khớp. Tôi ôm cánh tay đau chạy thẳng ra sau nhà, nằm đợi bà ngoại về rồi thiếp đi, bên tai văng vẳng câu vọng cổ ". . . nơi chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà…" 

Khi về đến nhà, bà ngoại hoảng hốt ôm tôi ra đường, vẫy xe đi nhà thương. Lên phải chiếc xe lôi của một ông phu xe già yếu, bà nóng ruột trả tiền rồi nhảy xuống ôm tôi chạy bộ đến nhà thương cách đó hơn 2 cây số. Khi đưa tôi được đến phòng cấp cứu thì bà cũng ngất xỉu luôn...

Chữa trị ở tỉnh được vài tuần thì vết thương bị nhiễm trùng. Tôi “được” chuyển lên nhà thương “Nhi Đồng” ở Sài Gòn, nằm lại đó hơn hai tháng. Phòng bệnh của tôi có khoảng 8 giường, thời ấy mỗi em nhỏ còn được nằm một giường chứ không bị chen chúc như bây giờ. 

Tôi được coi là "có ăn có học" trong phòng, các bạn kia dù lớn tuổi hơn nhưng nhà nghèo lại ở thôn quê, chưa từng đi lớp đi trường. Đối diện giường tôi là một bạn nhỏ bị gãy chân đến từ miền biển Phan Thiết, người mẹ phải mang theo cả ba đứa em nheo nhóc vì ở nhà không ai trông. 

Đến bữa cơm, cả nhà bạn nhỏ ấy lại lôi ra hũ mắm "giấu" dưới sàn giường, rồi bốn mẹ con ngồi chan chan gắp gắp cùng chén canh nhà thương “miễn phí”-vốn luôn chỉ lỏng bõng vài miếng cải xanh. Tôi vẫn còn nhớ những gương mặt sạm đen, chỏm tóc lơ thơ cháy nắng, những cánh tay khẳng khiu của mấy mẹ con nhà ấy, nhớ cái mùi mắm mặn như những giọt mồ hôi của người dân biển khốn cùng. 

Suốt hơn hai tháng ở nhà thương, mỗi buổi sáng đều có lịch chích “thuốc trụ sinh”, là điều mà cả đám bệnh nhân con nít rất sợ nhưng không sao tránh khỏi. Cứ nghe tiếng chiếc xe đẩy kim tiêm ống thuốc leng keng ngoài hành lang là tôi đã oà lên khóc trước. Rồi thì cả dàn "đồng ca" của các anh chị em "sứt tai gãy gọng" khác cùng ứng lên theo sau! 

Sau ca mổ sắp xếp lại xương, tôi tưởng đã qua những đau đớn, thì lại phải một tuần 3, 4 ngày đi tập co duỗi cánh tay. Sau một thời gian dài băng bột cứng ngắc, giờ mỗi một lần co tay lại, tôi nghe như cái đau nhói lên tận óc. 

Tôi phải tự nghĩ ra cách để vượt qua nỗi sợ hãi của mình. Mỗi lần thấy tấm bảng "phòng vật lý trị liệu" hiện ra trước mắt, tôi phải nhủ lòng "sẽ rất đau, nhưng rồi cũng sẽ qua mau thôi " để tự khích lệ mình. 

Nhờ siêng năng tập, cánh tay gãy của tôi đã trở lại hoạt động bình thường. Có điều tay tôi giờ bị cong kiểu "cán vá" và vết sẹo mổ thì thật là to, đỏ bóng như con tôm luộc nằm vắt ngang cánh tay nhỏ bé của tôi. 

Kể từ ngày ấy, tôi luôn muốn che giấu cái khuỷ tay xấu xí. Tôi luôn mặc những chiếc áo tay dài. Mỗi khi vô tình tay áo phất phơ bay lên, tôi lật đật kéo xuống ngay. Tôi luôn nằm mơ thấy một ngày đẹp trời tôi thức dậy và thấy cánh tay mình lành lặn như xưa. 

Đến tuổi biết làm điệu, tôi lại càng muốn giấu cái sẹo xấu xí kia. Khoảng những năm 2000, ở Sài Gòn cứ giở báo ra là thấy các mẩu rao vặt:"Tuyển nhân viên, có ngoại hình, cao trên 1m6" dù là cho những công việc văn phòng. Tôi cuống cuồng chạy theo cái xã hội chú trọng về hình thức, luôn thấy không thoải mái về vẻ ngoài của mình, nhất là về vết sẹo trên tay. 

Cho đến ngày tôi được Ba bảo lãnh sang Mỹ…

Buổi sáng đầu niên học tôi đến trường bằng xe bus, phía sau tôi là một anh khoảng 30 tuổi, ngồi xe lăn. Thấy anh di chuyển chiếc xe khó nhọc, tôi tiến đến và ngỏ ý muốn giúp. Anh gật đầu cảm ơn, chúng tôi chào tạm biệt nhau sau khi rời khỏi trạm xe. Không ngờ khi vào đến lớp, tôi lại thấy anh loay hoay tìm chỗ ngồi. 

Đó là lớp "Communication & Public Speaking" tôi lấy chỉ cho đủ “credits” chứ không bắt buộc. Trong lớp tôi có đầy đủ độ tuổi, ai cũng háo hức tự giới thiệu về mình. Lúc bấy giờ tôi mới biết anh bạn ngồi xe lăn kia tên Tom, bị liệt cả hai chân sau một tai nạn năm 15 tuổi. Tom luôn tỏ ra rất lạc quan, luôn khiến những người xung quanh yêu mến về tài ăn nói dí dỏm của anh. 

Tuy ngồi xe lăn, nhưng lúc nào đến lớp Tom cũng ăn mặc rất tề chỉnh, mặt mũi râu tóc luôn được chăm sóc kỹ càng. Mỗi khi đến lượt Tom lên diễn giải, cả lớp nhìn anh với ánh mắt đầy ngưỡng mộ. Những giây phút ấy, chúng tôi hoàn toàn không còn thấy hai cẳng chân nhỏ thó yếu ớt của Tom, mà chỉ thấy gương mặt sáng ngời và chăm chú theo câu chuyện đầy cuốn hút của anh. Tôi nhớ hoài câu kết trong bài “final” của Tom, tạm dịch là: "Không ai để ý đến khiếm khuyết của bạn nhiều bằng chính bạn. Khi giao tiếp, bạn hãy dùng tình cảm chân thật, tất cả lòng nhiệt tình của mình, chắc chắn bạn sẽ được lòng người đối diện. ”

Chúng tôi cũng được dạy về tấm gương thành công của bà Oprah Winfrey và nhiều người nổi tiếng khác. Nhưng trên tất cả, bài học từ Tom đã làm tôi như sực tỉnh sau giấc ngủ mê. 

Mùa hè năm ấy, lần đầu tiên tôi mặc áo ngắn tay đi dạo. Tôi ra bờ biển, cười tươi gật đầu chào đáp lễ những người đi ngược chiều. Tôi vào quán cà phê đông đúc, đứng xếp hàng, mọi người cũng chào nhau vui vẻ, không một ai nhìn vào cái sẹo to bự của tôi. Tôi đi khu thương xá, thử một chiếc váy đầm xinh xắn, xoay qua xoay lại trước gương. Tôi thấy vết sẹo và cái tay cong không hề làm giảm cái đẹp của chiếc áo tôi đang mặc. Tôi biết mình đã thay đổi. 

Thay vì khổ sở nhịn ăn vì tạng người vốn khá "bụ bẫm" của mình, tôi tìm đến phòng gym, tập luyện cho mình sức khoẻ và sự dẻo dai, không còn đem mình ra so sánh với những người mẫu "mình hạc xương mai" lấp lánh trên bìa báo. 

Mỗi khi cần đến làm việc với những văn phòng, công sở, tôi không còn thấy hình ảnh những cô lễ tân "chân dài" cười ỏn ẻn như những “bình hoa di động”. Thay vào đó, tôi thường những nụ cười nồng ấm, nhiệt tình của đủ mọi sắc tộc, màu da. 

Tôi thấy câu "Ốm đẹp, Mập dễ thương, Cao sang, Lùn quý phái" -mỗi người mang một vẻ đẹp riêng. . thật đúng trên đất nước tôi đang sống. Những người bạn đồng nghiệp của tôi với đủ sắc tộc, màu da, kích cỡ. Họ đến sở làm với gương mặt tươi tắn, quần áo gọn gàng. . . dù là ở “size” nào. Thật khác xa với những cô, những chị mà tôi quen biết ở Việt Nam, những người luôn u sầu ủ dột về màu da, chiều cao, cân nặng của mình. 

Khí hậu mát mẻ trong lành nơi vùng Bắc Mỹ làm cho vết sẹo của tôi có màu nhạt hơn, không còn đỏ bóng như trước. Tôi không còn thấy phiền lòng về "bạn sẹo" trên tay. 

Nhưng tôi còn một vết sẹo khác thật không dễ mà lành lặn:vết sẹo trong tâm hồn của một bé con thiếu vắng bóng cha. 

Tôi ghét lắm câu hát ầu ơ "gió đưa bụi chuối sau hè"… vì nó nhắc tôi rằng Ba đã “bỏ quên” tôi sau khi "vượt biên" đến miền đất hứa. Tôi luôn có những giấc mơ thật buồn thời thơ ấu, giấc mơ về một ngày "trời mưa bong bóng bập bồng…” Trong mơ, tôi thấy mình đứng nép bên góc cột nhà, nước mắt chảy dài nhìn mẹ tôi ôm “em bé”, khi ông bà ngoại tôi cũng xúm xít xung quanh, quên mất tôi đang đứng khóc một mình…

Hay lo sợ, tưởng tượng sẽ bị ông bà và mẹ "bỏ quên", tôi luôn muốn mình được là "ưu tiên một". Tôi đã là một cô bé rất "khó chìu". Tôi bỏ bữa cơm nếu nhận ra món tôi yêu thích đã bị vơi đi một ít. Tôi quay ngược về nhà giữa buổi đi chơi nếu thấy mọi người không tập trung thăm hỏi về tôi. Tôi theo bà ngoại chia sẻ quần áo, đồ chơi cũ cho bà con ở quê nghèo khổ, nhưng tôi nhất định không cho cô bạn gần nhà mượn chiếc áo đầm đẹp của tôi dù chỉ một vài giờ. 

Suốt thời thơ ấu, tôi hay mang vẻ mặt cau có nặng nề dù luôn được cả nhà chìu chuộng. Có những chiều ông ngoại chở tôi đi dạo trên chiếc xe đạp cũ, khi hai cha con “cán bộ" nhà kế bên "vi vu” lái chiếc xe Honda bóng loáng. Họ bấm còi, phóng vụt qua mặt hai ông cháu. Ông ngoại tôi loạng choạng chống chân, tôi hốt hoảng ôm chặt lấy tấm lưng gầy guộc của ông, nghe mắt môi tôi mặn đắng những tủi buồn. . . 

Khi Ba tôi về tìm lại tôi sau nhiều năm xa cách, tôi vẫn thấy có một khoảng cách với Ba. Tôi vẫn giận Ba đã cho tôi những tháng ngày côi cút. Ba càng bù đắp cho tôi về vật chất, tôi càng tin rằng Ba đã "nợ" tôi nhiều. . . 

Khi Ba mang tôi sang Mỹ, tôi phải làm lại, học lại từ đầu như một đứa bé con. Tôi gặp không ít những người chủ, người manager, khách hàng thẳng thừng trách mắng tôi khi tôi phạm sai lầm. Tôi đã một mình chạy ra bờ hồ, bờ biển và ngồi khóc. Tôi luôn thấy mình là người bất hạnh nhất trên thế gian này. Tôi đã hành xử theo kiểu, mỗi khi đạp phải một cái gai nhỏ xíu, tôi rút gai ra và tự đâm thêm nhiều nhát vào mình để cho mình thấy đau thật là đau. . . 

Tôi như cánh chim non phải bay xa đất mẹ. Những mặc cảm về thân phận "nhập cư" nhược tiểu luôn là rào cản trên con đường tiến bước. Tôi thấy thật "đau" mỗi khi nói chuyện mà người Mỹ không hiểu ý của mình. Tôi loay hoay chật vật tìm chỗ đứng trong xã hội, gian nan gấp nhiều lần so với những người được sinh trưởng tại nơi đây. 

Và rồi, nơi thế giới tự do này, tôi không còn bị những “firewall- "tường lửa" cản ngăn về tin tức như khi ở Việt Nam. Tôi bàng hoàng biết được lịch sử đau thương của dân tộc, về những đau khổ chia ly, về những chuyến đi không hẹn ngày về. Cho đến ngày tôi đọc được bức thư về chuyến vượt biển "định mệnh" của Ba, tôi mới thức tỉnh rằng, Ba tôi, gia đình tôi cũng là nạn nhân của “tháng tư đen”. 

Năm tháng trôi nhanh, tôi được đi học, đi làm ở nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, từ giàu sang đến chật vật kiếm tiền để "ký check, trả bill", tôi thấy mình hay dân tộc mình không phải là người duy nhất có mang "vết sẹo". Tôi biết được chuyện đời của boss, của manager, của những khách hàng giàu sang…từ nhiều chủng tộc, màu da. . . 

Đằng sau những nụ cười rạng rỡ, những lóng lánh xa hoa, tôi nhận ra họ cũng có những nỗi muộn phiền, trăn trở, những sợ hãi, “sân si” huân tập từ những năm tháng ấu thơ nghèo khổ, bị ngược đãi, kỳ thị về xuất thân, giới tính…Tôi gặp vài người bạn trạc tuổi tôi, nhưng đã trải qua bao giông bão trong chuyện hôn nhân, con cái. Tôi thấy “nỗi đau” của mình chỉ là hạt cát nhỏ nhoi trong sa mạc trầm luân của kiếp người. . . 

Tôi đứng dậy, bằng tất cả sự chăm chỉ, chịu thương chịu khó, tôi hết lòng với những người tôi gặp gỡ trên đường đời, cố làm hết sức cho những công việc được giao. 

Tôi bắt đầu thấy mình được yêu thương và chấp nhận. Tôi thấy những đồng nghiệp, khách hàng của mình lắng nghe, yêu cả những "accent" trong lời nói của tôi. Tôi gặp được những người chủ, người thầy, người bạn luôn tận tình nâng niu, chỉ bảo…Cũng có những lúc tôi gặp phải sóng gió, cũng có lắm khi tôi lái xe giữa phố phường đông đúc mà thấy mình thật lạc lõng, bơ vơ, mắt cay cay nhớ luỹ tre xào xạc chốn quê nghèo. . . Nhưng rồi tôi cũng may mắn được những chỉ bày hữu ích để đứng lên và đi đúng hướng. 

Tôi hiểu nước Mỹ không là thiên đường, nhưng nơi đây luôn có những cánh tay dang rộng, những nâng đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần. . và luôn có phần cho những người chăm chỉ, thiện lương bất kể sắc tộc màu da.Tôi luôn "tâm đắc" lời khuyên bảo chân tình của người thầy trong lớp học về luật thuế: "Chúng ta sống ở Mỹ, nơi ta có hàng ngàn cách lương thiện để có vật chất đủ đầy, nên chúng ta hoàn toàn không cần làm những chuyện "illegal - trái luật!"

Tôi không còn so đo, ghen tỵ. Tôi không cần phải lượt là, lộng lẫy, vì tôi hiểu mình sẽ luôn được yêu thương, quý trọng bởi những người thân thuộc và bao bạn bè "hiệp chủng quốc" quanh tôi. Tôi thấy hai nếp nhăn sâu thêm hai bên khoé miệng, vài sợi tóc "bạch kim" lấp ló ở thái dương, nhưng tôi không lo âu hay hoảng hốt. Tôi "mất" nét trẻ trung trong trẻo của cô thiếu nữ ngày nào, nhưng tôi "được" rất nhiều từ những năm tháng đã qua.

Tôi lại thấy mến vết sẹo trên tay mình, vì "bạn ấy" nhắc rằng tôi đã được gia đình mình yêu thương hết mực. Ông Bà Ngoại, Mẹ đã luôn ở bên cạnh chăm sóc cho tôi những ngày tôi bị vết thương hành hạ. Đặc biệt là Ba tôi, lần đầu gặp lại tôi với cánh tay vừa cong vừa bị sẹo, Ba rưng rưng nói: “Nếu bác sĩ có thể ghép da, Ba sẽ lấy da đùi Ba ghép vào, cho tay con đẹp lại như xưa!”

“Bạn sẹo” nhắc tôi chuyện "quả báo thấy liền": tôi bị té gãy tay ngay sau khi làm "điều xấu". ”Bạn sẹo” nhắc những ngày tập “co duỗi” tay đau điếng, nhắc tôi nên dũng cảm đương đầu, bởi vì những khó khăn, đau đớn chỉ là một "thời khắc" trong cuộc đời, rồi mọi việc sẽ ổn thôi!

“Bạn sẹo” cũng nhắc tôi về bốn mẹ con nơi nhà thương Nhi Đồng năm ấy. Hơn 30 năm sau, tôi mới biết khóc cho mâm cơm nghèo của họ, biết xót xa cho những trẻ thơ nghèo khó ngơ ngác giữa thị thành...

Nơi xứ sở mà tôi ngỡ như chỉ là chốn "tạm dung", tôi đã thật sự trưởng thành. Tôi đã không còn chỉ biết khóc cho mình. Tôi đã biết khóc cho Ba tôi, cho dân tôi, cho quê hương tôi về một thời tang thương ly loạn, khóc cho nỗi đau của những phận đời lưu lạc tha hương…

Tôi cũng thấy tấm gương đoàn kết, yêu thương để khôi phục quê hương của người Do Thái quanh tôi. Tôi sẽ kể cho con cháu tôi nghe về vết sẹo trong tim ba mẹ, trong tim ông bà, trong tim những người dân quê tôi đang vẫn phải tha phương cầu thực. Tôi luôn tin những bài học đau thương sẽ là hành trang cho cháu con tôi biết đi đúng đường ngay nẻo thẳng. Tôi tin một ngày nắng đẹp sẽ về, sẽ không còn đau khổ lầm than trên quê hương yêu dấu của tôi.

Và tôi hiểu được rằng, khi tôi biết yêu thương mình và biết cảm thông, trân trọng tha nhân, những vết sẹo của riêng tôi đã dần dần "liền thịt liền da”.

*
Chiều nay trời lại đổ mưa. Mưa đến rồi đi trong vội vã, giống như những cơn mưa rào mùa hạ ở quê tôi.

Tôi rời văn phòng, lái xe qua dãy đồi núi Burbank còn lãng đãng những áng mây màu xám… lòng mênh mang theo những vần thơ trong bài “Áo Xanh” của Bùi Giáng tiên sinh:

"Lên mù sương xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua…”

Tố Nguyễn

Wednesday, May 1, 2019

Mẹ Tôi Thành Công Dân Mỹ




Thấm thoát mà mẹ ở Mỹ đã sáu năm. Khi mẹ sang Seattle, tôi định cho mẹ đi học tiếng Anh ở gần nhà, nơi có một trường ESL nhỏ. Vì công việc tôi phải dọn qua LA, "con đường đến trường" của mẹ bị cắt luôn từ ngày sang vùng nắng ấm. Những khi có khách "hiệp chủng quốc" đến nhà, mẹ chỉ cười và nói mấy chữ "eat, drink, thank you và sorry", còn lại thì  hai đứa bé con luôn là "thông dịch" cho bà ngoại. 

Tháng Tư năm trước, khi điền đơn thi quốc tịch cho mẹ, tôi lại   muốn cho mẹ đi học ESL, lớp luyện thi do người Việt mở. Nhưng rồi công việc bận rộn, mẹ lại thương cháu trai không ai giữ, nên cứ nấn ná lần lựa, tự học một mình. Tối nào tôi cũng thấy mẹ xem các đoạn phim luyện thi trên youtube. Được khoảng hai tháng, tôi hỏi thăm: "Mẹ ơi học thi sao rồi mẹ?" thì bật ngửa khi nghe mẹ trả lời: "Mẹ nghỉ học bữa giờ, vì ông thầy mất rồi! " 


"Trời đất! Mẹ thi quốc tịch mà sao lựa chi ông thầy già đến mức học trò chưa thi thì thầy đã "lên thiên đàng" vậy?"Mẹ dở khóc dở cười trả lời: "Đâu có, ông thầy trẻ lắm, dạy cũng hay nữa, tội nghiệp thầy mất vì bệnh ung thư! "

Thôi rồi, tôi phải khích lệ mẹ "tầm sư" khác, khi mẹ vẫn cứ suýt xoa trên youtube chưa thấy ai dạy giỏi bằng ông thầy quá cố cả!  

Tối nào lên giường mẹ cũng đem theo cả xấp giấy trắng, bút chì, viết viết, rầm rì học một mình. Mẹ viết câu hỏi,  câu trả lời ra giấy xong rồi... tiếc, không muốn bỏ tờ nào, vì vậy giấy tờ ở đầu giường mẹ chất càng ngày càng nhiều. Chắc nhìn mẹ ngồi học bài và viết bài "nghiêm trang" quá,  nên mỗi lần tôi dọn phòng, là A Phi đều la lên:  Mama đừng bỏ homework của bà ngoại! "

Ngày nào tôi cũng vào trang web của USCIS để “rình” coi họ có thơ từ gửi cho mẹ không. Chờ khoảng 3 tháng thì được dẫn mẹ đi “Biometric screening- lăn tay". Tôi "hù" mẹ, nói hồi trước con “lăn tay” xong 2 tháng sau là thi rồi, mẹ phải học nhanh lên. Mẹ gật đầu "Ừ ừ",  vẻ mặt đầy “tâm sự”! Sau khi lăn tay, tôi về nhà, nôn nao chờ đợi, để rồi ngày nào cũng phải hát bài "sao chưa thấy hồi âm"...  

Một buổi sáng đẹp trời, tôi hí hửng thấy có email từ USCIS. Thật là tẽn tò, họ báo là đang xem xét hồ sơ, thời gian chờ đợi dự tính là khoảng 8 tháng!  

Nghe tôi báo lại, mẹ mừng rỡ nói là thời gian vậy để thong thả học bài. Không ngờ mới khoảng 3 tháng sau, tôi đã nhận được thư hẹn ngày phỏng vấn. Mẹ lại phải về Việt Nam chăm ông ngoại bệnh, trở qua trước khi thi 10 ngày, còn gà gật xài múi giờ bên kia bờ Thái Bình Dương. 

Tôi định tập dượt cho mẹ, rủi thay lại trúng vào mùa thuế, nên cứ nửa đêm tôi mới về đến nhà. Trước khi thi vài ngày, tôi về nhà khoảng 10 giờ đêm, thấy mẹ còn ngồi bên đống giấy tờ "luyện thi".  Vậy là tôi xông vào phòng mẹ, thử phỏng vấn mẹ bằng tiếng Anh. Tôi bắt đầu vào phần thông tin cá nhân của mẹ trong Form N400.  

Con:  Mẹ tới Mỹ khi nào?

Mẹ căng thẳng, ngập ngừng hỏi: Là họ muốn hỏi mẹ đi Mỹ hồi nào đó hả?

Con:  Mẹ phải tưởng tượng con là người phỏng vấn, mẹ trả lời bằng tiếng Anh nha! 

Mẹ:  March... Ngày mấy mẹ quên rồi?

Mẹ trả lời rất chậm cho tất cả các câu hỏi thuộc về Form N400. Tôi giải thích, viết ra giấy những câu hỏi, và “bắt” mẹ lặp đi lặp lại những mốc ngày, tháng năm, địa chỉ, chi tiết về công việc làm, tình trạng hôn nhân, chi  tiết về con cháu, dâu rể...  

Đặc biệt, tôi dặn mẹ phải đọc cho thuộc lòng mấy chữ "first time,  last time", "left the country", vì mẹ vừa về lại Việt Nam sau ngày nộp đơn thi quốc tịch. Tôi đoán là thể nào mẹ cũng sẽ “đụng” câu hỏi về lần ra khỏi nước Mỹ gần đây. 

Nếu như phần form N400, mẹ hiểu được hết những câu hỏi, nhưng lại không trả lời được vì không có từ ngữ để diễn tả, thì phần 100 câu hỏi mẹ lại gặp vấn đề ngược lại. Mẹ thuộc làu làu những câu trả lời, nhưng không nghe được câu hỏi!  

Tôi bấm vào trang từ điển  “dictionary. com” cho mẹ nghe đi nghe lại cách đọc của chỉ 1 từ "key word" trong câu hỏi, và tìm cách sao cho dễ nhớ. 

Ví dụ như:  Khi mẹ nghe có chữ "Father", trong 100 câu hỏi chỉ có 1 câu có chữ Father, thì nhất định câu đó là câu hỏi về "Father of our country"-  ở Việt Nam hay gọi là "cha già của dân tộc"! Tôi đùa: "Khi nghe chữ "Father”, mẹ phải liên tưởng đến ông chủ của con (ông tên George). Cách này có vẻ hữu hiệu, mẹ nói liền "À,  George Washington!"

Trong phần 100 câu, còn tên của vài ba "ông" nữa tôi phải tìm cách cho mẹ nhớ và phân biệt, khi nghe đến từ “key words” nào thì phải nhớ ngay đến ông nào. 

Tôi cũng chú ý những câu thuộc về "vote" -bầu cử, vì nghĩ đó là quyền lợi đặc biệt khi trở thành công dân Mỹ. Ví dụ như nhiệm kỳ của tổng thống, tháng bầu cử tổng thống, khi tổng thống không thể làm việc được nữa thì ai sẽ lên thay...  

Tóm lại, tôi hướng mẹ đến những câu dễ, vì "sự thật mất lòng", tôi nói cho mẹ là ngay sau câu hỏi đầu tiên, người phỏng vấn mẹ sẽ biết họ gặp phải một "ứng viên" chưa từng đi lớp ESL một ngày nào! Nếu ơn trên phù hộ, họ sẽ hỏi mẹ những câu đơn giản, nên ráng tập trung vào những câu này để trả lời cho suôn sẻ. 

Rồi cái ngày "trọng đại" cũng đến. Buổi sáng mẹ khăn áo gọn gàng lịch sự cùng tôi ra downtown Los Angeles. Sau khi tìm được chỗ đậu xe, hai mẹ con băng qua con đường nhộn nhịp. Đối diện toà nhà liên bang là khu buôn bán khá rộng rãi, bên dưới có nhiều quán hàng và bàn ghế xếp ngoài sân cho khách ngồi nghỉ chân. Hai mẹ con soạn giấy tờ ra ngồi “tập dợt”. Tôi đọc đi đọc lại từng câu hỏi cho mẹ trả lời, nhấn mạnh những "key words" cho mẹ nhớ. 

Thời gian trôi qua thật nhanh, không bao lâu đã thấy đồng hồ điểm 2 giờ, hai mẹ con trở qua bên đường, trình giấy tờ để vào bên trong toà nhà. Khi bước vào trong, choáng ngợp trước mái vòm cao và những dãy cột to, mẹ cứ cứ lẩm bẩm "Đúng là Mỹ nên cái gì cũng bự! "

Lên đến tầng 8, chúng tôi được chỉ dẫn bỏ tờ giấy hẹn của mẹ vào cái hộp ngay cửa sổ, rồi vào ngồi ở phòng chờ. Trái với sự tưởng tưởng của tôi là thành phố LA sẽ có đông người thi lắm, hôm nay chỉ lác đác chưa đến chục người, trong đó phân nửa là gia đình đi theo "hộ tống" thí sinh. 

Dường như máy lạnh trong phòng trở nên… lạnh hơn, nhìn quanh quất không thấy "người mình", chỉ có hai bác nói tiếng Tàu ngồi trước mặt, mẹ bắt đầu hồi hộp. Tôi phải trấn an: 

-Mẹ phải nghĩ giống như mấy thí sinh đi thi Idol hay thi hoa hậu! 

-Là sao?

-Là vầy nè:  “Em đến với cuộc thi mong được học hỏi thôi, còn đậu rớt em không đặt nặng! ” 

Mẹ phì cười: "Sao mà giống được, rớt rồi mất công thi lại, học lại mất thời gian lắm! 

-Mẹ rớt là bình thường, có người thi tới 5, 6 lần không đậu. Còn mẹ đậu thì mình sẽ mở tiệc ăn mừng! 

Mẹ cười, có vẻ bình tĩnh lại. Chợt một ông người Á Châu từ bên trong phòng bước ra, gọi to tên họ của một "thí sinh". Hai bác ngồi trước mặt tôi lập cập bước tới. Ông ta hỏi “thí sinh” trình ra ID và Permanent Resident Card trước khi cho vào trong. 

Lúc này mẹ lại lo lắng hỏi: "Ủa ổng đòi cái gì nghe lạ vậy?" Tôi ngạc nhiên: "Là thẻ xanh, ai cũng phải trình thẻ xanh khi đi thi mẹ quên rồi sao?" Mẹ: "Có, mẹ có đem thẻ xanh, là cái Green Card, sao ông lại không kêu là Green Card?" "Mẹ ơi Green card tức là Permanent Resident Card đó, kêu Green card tại vì nó có màu xanh, mẹ phải nhớ thêm 2 chữ mới này nha!" Mẹ gật đầu lia lịa, lại tiếp tục lẩm nhẩm 2 từ vựng mới. 

Rồi đến lượt bà người Ấn Độ vận bộ quần áo sari “màu xanh hy vọng” ngồi bên phải chúng tôi cũng được gọi vào, giờ trong phòng chỉ còn lại có hai mẹ con và một cô gái trẻ.



Vài phút sau, một cô Mỹ  da trắng muốt bước ra gọi to tên mẹ. Tôi giữ hết giỏ xách, chỉ đưa cho mẹ cầm bọc giấy tờ ID, thẻ xanh, passport. Thấy sắc mặc mẹ lại chuyển sang màu của cái "Green Card", tôi cố vớt vát hỏi tôi có vào cùng mẹ được không dù biết chắc họ sẽ không cho vào. Cô lắc đầu, nhưng cũng tử tế "hứa" là sẽ nói chậm chậm cho mẹ nghe, bảo tôi đừng lo. 

Cánh cửa đóng lại sau lưng mẹ, tôi trở về chỗ ngồi và bắt đầu đọc kinh...  cầu nguyện. Cầu nguyện được một lúc tôi bắt đầu thấy mình mất tập trung, lại mở phone lên tìm kiếm thông tin nếu mẹ thi...   rớt thì bước tiếp sau sẽ là gì. 

Vừa đọc vừa xem đồng hồ, mười lăm phút rồi tôi vẫn chưa thấy mẹ trở ra. Cánh cửa bật mở, bà Ấn Độ vào trước mẹ mừng rỡ bước ra ngoài, nói một tràng tiếng...  Ấn với ông chồng đang đứng lên dang tay đón vợ. Nhìn vẻ mặt vui vẻ của họ, tôi đóan là bà đã đậu rồi. 

Thời gian như ngưng đọng.  Cánh cửa phòng lại mở ra, cô "giám khảo" của mẹ bước trước, mẹ lập cập theo sau. Tôi tiến tới hỏi: "Xin cho biết mẹ em thi ra sao ạ?" 

Cô bấy giờ mới nở nụ cười tươi hơn hoa mẫu đơn mùa xuân: "Chúc mừng em, mẹ em giỏi lắm, đây là kết quả thi này!" Tôi cầm tờ giấy cô đưa, phải chớp mắt hai lần vì sợ mình nhìn lộn, kết quả mẹ thi là 100%!  Cô lại cười tươi tắn: "Em và mẹ về nhà đợi giấy hẹn đi tuyên thệ, chắc trong vòng tháng sau"! 

Mẹ nói "tạm biệt" cô rồi quay sang hỏi tôi: "Cổ nói gì mẹ vậy?" Tôi mừng rỡ: "Cổ nói mẹ đậu rồi, đậu hạng xuất sắc! "

Mẹ giật mình mình xen lẫn ngạc nhiên: "Thiệt sao? Có hạng xuất sắc à?" Tôi cười: "Vậy chứ mẹ không nhớ mẹ trả lời đúng hay sai sao?". Mẹ: "Khi mẹ trả lời thì cô ấy luôn gật đầu khen "good, good! "

Khi quay về, LA kẹt xe trùng điệp, nhưng hai mẹ con cứ ngỡ như đang ngồi máy bay hạng thương gia chứ không phải trong chiếc xe nhích nhích trên xa lộ! Mẹ kể  mẹ phải trả lời hơn chục câu, từ Mỹ da màu nâu (Martin Luther King) đến Mỹ da màu…đỏ (Indian), có 3 câu hỏi về tổng thống (trúng tủ được câu "cha già dân tộc"), hỏi về Civil War, về việc nước Mỹ bị khủng bố 2001,  hỏi những lần về Việt Nam...  Phần thi viết, mẹ lại "trúng tủ" được bảo viết một câu về bầu cử. Tôi khích lệ mẹ: Con sẽ tìm trường cho mẹ đi học ESL, để xứng đáng là một "công dân Mỹ xuất sắc” như kết quả thi. 

Đúng như lời đồn đoán, thi quốc tịch thời nay thật là khó hơn khi trước rất nhiều. Nếu không học bài tử tế, chắc sẽ không thể nào đậu được. Tôi lâng lâng nghĩ, nếu một mai không còn ai thuê mướn mình làm income tax, tôi sẽ mở lớp "luyện thi quốc tịch bao đậu", chắc kiếm bộn tiền! 

Rồi y như lời "hứa hẹn" của cô "giám khảo", tôi nhận được thư báo ngày mẹ đi tuyên thệ sau đó ba tuần. Tôi xin trường A Vy cho bé ra sớm để theo bà Ngoại, lên xe thẳng tiến về Los Angeles Convention Center. Tôi nhanh chóng tìm được chỗ đậu với giá cả thật là dễ chịu. Trong bãi đậu xe cũng dày đặc những người sắp thành công dân Mỹ, váy áo chỉnh tề, tíu tít bên cạnh gia đình, bạn bè, không khác đi dự tiệc. 

Nếu như hôm đi thi một "thí sinh" có một, hai người đi hộ tống, thì hôm nay trung bình một "tân công dân" có tới bốn, năm người đi theo chung vui. Bên ngoài toà nhà Convention Center, nhiều người Mễ Tây Cơ  đứng mời chào những khung bìa để bằng quốc tịch, những vòng hoa sặc sỡ chúc mừng. 

Bên trong toà nhà có sẵn nhiều quầy hàng chụp hình làm passport và hướng dẫn ghi danh bầu cử. Khi được chỉ dẫn lên phía trên lầu, tôi choáng ngợp thấy toàn người là người đứng kín khắp mọi nơi. Ba mẹ con bà cháu nhìn qua lại rồi thấy...  hối hận vì mình ăn mặc thật là "chìm" quá so với bạn bè hiệp chủng quốc xung quanh. Bấy giờ ban tổ chức xếp những người sắp sửa nhận quốc tịch đứng vào hàng, còn thân nhân thì "check-in" riêng biệt. 

Nhóm khách mời đông đúc với đủ thành phần nam phụ lão ấu được vào bên trong trước. Dòng người sẽ nhận bằng quốc tịch Mỹ được cho vào sau, ngồi kín hết nửa trên khán đài. Rồi giây phút chờ mong cũng đến. Sau màn giới thiệu, mọi người được xem đoạn phim ngắn nói về lịch sử công dân Mỹ, rồi đến đoạn phim chúc mừng của tổng thống đương nhiệm. 

Có lẽ làm lay động lòng người nhất là khi bài hát “God Bless the USA”  được chiếu trên màn hình: “From the lakes of Minnesota to the hills of Tennessee. Across the plains of Texas, from sea to shining sea. From Detroit down to Houston, to New York to Los Angeles. Well there's pride in every American heart…” 

Trước mắt tôi là khung cảnh rực rỡ hùng vĩ từ những bờ hồ mênh mông xứ Minnesota, rồi bình nguyên thênh thang vùng Texas, đến hình ảnh Nữ Thần Tự Do sừng sững giữa biển trời, và sau cùng trở về LA, Thành Phố của Những Thiên Thần với những hàng cây palm thẳng tắp dọc đại lộ Hollywood, vùng đất "nắng ấm tình nồng" yêu dấu của tôi...   

Rồi khi có tiếng hát trong veo cất lên bắt đầu bài Quốc Ca, mắt tôi chợt nhạt nhoà theo từng giai điệu bổng trầm. Tôi sinh ra bên kia bờ Thái Bình Dương, nhưng nơi tôi thật sự trải qua những ngày tháng cam go để "thành nhân" chính là là mảnh đất này. Bé A Vy cũng cất giọng hoà theo bài hát… Thật như một giấc mơ, gia đình tôi cả ba thế hệ giờ cùng là công dân của một cường quốc nhân đạo, tự do. 

Tôi dắt bé A Vy xuống phía dưới, đứng sát bên chiếc thang cuốn đón mẹ trở ra. Những "tân công dân Mỹ" bước xuống chiếc thang giữa hai hàng người ngóng đợi, miệng cười rạng rỡ, tay vẫy lá cờ nho nhỏ trong tiếng hò reo của đám đông-một hình ảnh đẹp sẽ mãi in sâu vào lòng những người di cư về đây từ khắp bốn phương trời. 

Nhìn bé A Vy ngồi ngóng bà Ngoại, tôi chợt thấy hình ảnh mình ba mươi năm trước, thấy đứa bé con ngồi trên bậc cửa ngóng mẹ về. 

Tôi thấy những đêm mẹ con tôi bơ vơ quay về từ nhà Nội. Thấy người thiếu phụ gầy gò chở con gái nhỏ trên chiếc xe đạp cọc cạch, qua những con đường tối tăm gập ghềnh sỏi đá. Không gian vắng lặng, tiếng côn trùng, ếch nhái từ những cánh đồng lộng gió ven đường càng làm cho bé con sợ hãi bấu tay thật chặt vào bụng mẹ. Mẹ choàng một tay ra sau vỗ về: "Đừng sợ, can đảm lên, con à..." 

Tôi thấy người thiếu phụ đứng chênh vênh, ướt sũng giữa chợ chiều xác xơ tiêu  điều vì bão lũ. Nước mưa, nước mắt cùng nhạt nhoà trên mặt mẹ khi nghĩ đến những đồng tiền dành dụm sẽ phải ra đi vì "sưu cao thuế nặng" cuối tháng này…

Tôi thấy những đêm mẹ  thức trắng dỗ dành hai cháu, những giọt mồ hôi mẹ trên trán mẹ khi dắt tay hai bé tập đi, để vợ chồng tôi được nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt nhoài. Có bao nhiêu “grandma” như mẹ tôi đã âm thầm đóng góp cho nước Mỹ bằng tình thương, sự hy sinh vô tận cho con...  

Có tiếng bé A Vy gọi to "Bà Ngoại ơi, Bà Ngoại con ở đây nè..." Và kia rồi, mẹ tôi đã bước ra, tay ôm mảnh bằng quốc tịch, tay vẫy cờ cười thật tươi đưa mắt tìm tôi. Mẹ ơi, mẹ con mình đã bước sang một trang đời mới, bình yên và phẳng lặng. Nước Mỹ có những người trẻ như con sẽ luôn làm việc, đóng góp, sẽ không bao giờ để những người già như mẹ phải thiếu thốn lo âu. 

Bên ngoài toà nhà, những người Mễ Tây Cơ bên chiếc xe "hot dog"  bốc khói thơm ngào ngạt đã "dàn sẵn" khắp sân chào mời nồng nhiệt. Tôi cũng ghé mua hai phần bánh ăn chiều cho  ra vẻ “công dân Mỹ”! Cô bán hàng có vóc người tròn trịa rất "Mễ Tây Cơ" cười tươi rói, hào phóng gắp cả một nhúm ngò to đặt lên trên chiếc “hot dog” khi nghe tôi  nói muốn “cilantro”. 

Bầu trời trong xanh không một bóng mây, xa xa, lá cờ Mỹ phất phới bay trên nóc toà nhà Staples Center. Một bà cụ da mồi, tóc bạc phơ đang được đàn cháu con tíu tít vây quanh chụp ảnh chúc mừng. Nhìn tấm lưng gầy và làn tóc trắng như mây của cụ, tôi bỗng nhớ về xóm chợ quê xưa… Nơi ấy có cụ bà bán ớt bán rau lưng còng gần sát mép chiếc chõng tre ọp ẹp, run run vuốt từng tờ bạc lẻ xếp vào bên trong chiếc khăn tay bạc thếch, bạc như phận đời chìm nổi của bà./. 

Tố Nguyễn

Blog Archive