Showing posts with label Nguyễn Thị Phi Phượng. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thị Phi Phượng. Show all posts

Tuesday, April 5, 2022

Tuổi Già Mất Người Phối Ngẫu

Tôi biết:
Đất trời có bốn mùa : hết Xuân thì tới Hạ, rồi Thu và tới Đông ...
Con người: có Sinh thì ắt có Tử...
Biết là một chuyện, chấp nhận và bằng lòng với quy luật đó là một chuyện khác.

Cho dù thế nào thì tôi cũng phải làm quen và tập sống với thực tế: cuộc đời của tôi đã thay đổi từ khi người chồng đáng kính của tôi đi xa. Anh đã sang qua một thế giới khác.

Trong 53 năm, chúng tôi kề cận, nhường nhịn, yêu thương và chăm sóc nhau để cùng xây dựng cuộc sống riêng sau khi cả hai chúng tôi học xong đại học. Chúng tôi đã có một gia đình nhỏ an vui với hai con trai. Và từ khi chúng tôi đem hai cô con gái nhà người dưng, mang về làm hai con gái ruột nhà mình thì gia đình chúng tôi có thêm ba đứa cháu. Nay, các con đã thành nhân, các cháu thì đã có đứa chuẩn bị vào đại học. Hai con trai của chúng tôi đã có nghề nghiệp vững vàng, chúng đã có nhà riêng. Chúng tôi già dặn hơn cùng với sự trưởng thành của con cháu. Hai chúng tôi đã về hưu, vẫn cùng có nhau, tiếp tục nhường nhịn, chăm lo cho nhau trong những năm tháng cuối đời...

Nhờ duyên lành, tôi được học Phật khi tôi còn ở bậc trung học đệ nhất cấp. Tôi rất lí thú nghe Pháp và thực tập theo cách sống Bi - Trí - Dũng của Phật từ lúc còn rất trẻ đó. Tôi biết, thông hiểu và chấp nhận sự vô thường của muôn loài.

Nhưng, khi chồng tôi nằm xuống vĩnh viễn, người bạn đời của tôi đã bỏ tôi, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay tôi như con vẹt, lập lại và nhìn mọi vật, có đó rồì mất đó – trong cái vô thường của đất trời – nó tự nhiên, nó nhẹ nhàng như tôi đang thở, nay, không phải như thế nữa. Với chính thực tế mất mát của bản thân, mọi suy nghĩ trước đây của tôi về sự vô thường của một kiếp nhân sinh đã bị đảo lộn, rồi quay cuồng.... Đây có phải là một tổn thất quá lớn trong cuộc đời mà từ trẻ cho tới bây giờ tôi chưa hề trải qua, tôi chưa hề có kinh nghiệm? Tôi hụt hẵng, tôi níu kéo và cố bám vào ảo tưởng: “Ông nhà tôi đi đâu đó rồi Anh sẽ về thôi mà...”

Tôi đợi Anh trở về, hết ngày rồi tới đêm... Một tuần, rồi hai tuần ...và tôi thất vọng...

Tôi không chấp nhận sự thật.Tôi đang sống thời gian khó khăn nhất.
Nguyễn Thị Phi Phượng và cố tác giả giám khảo VVNM Bồ Tùng Ma

Thế rồi, tôi cũng phải ráng tập lối sống mới: một mình, tự lo thân, tự quyết định mọi việc... Mà sao khó quá, tôi không cảm thấy dễ chịu chút nào... Bất chợt , trong tiềm thức của tôi, hiện lên qui luật mới: học nhớ dễ hơn học quên vạn lần!... Với tôi, không nỗi đau nào hơn nỗi đau của tuổi già bị mất người phối ngẫu. Không có sự trống vắng nào hơn ở tuổi xế bóng bị mất người chồng( hoặc người vợ), người đã đồng hành, đã cùng mình vượt qua bao khổ nhọc của cả một đời. Tôi không còn ai để nói hết, nói thật... nói tất cả... những lo toan, những vui buồn tôi đang gặp phải. Không còn ai để tôi “cằn nhằn”! Tôi vẫn thường nghe câu nói đầu môi từ vài người bạn: “Vợ chồng tôi không cải nhau bao giờ”. Tôi không bao giờ tin những lời nói này. Với tôi, chuyện vợ chồng tranh cải vì khác ý kiến trong một vấn đề, đó cũng là bình thường. Ông bà mình vẫn luôn nói: chén dĩa trong sóng còn khua thay.

Hai năm cuối đời, ước lượng được sức khoẻ của mình, Anh đã nói với thằng cháu lớn nhất 17 tuổi: “ Ông Nội ráng đợi ngày Con tốt nghiệp đại học, Ông sẽ có mặt trong ngày Con ra trường. Con nhớ dẫn Ông đi ăn một bữa thịnh soạn rồi Ông Nội sẽ đi xa.” Tội nghiệp thằng cháu không rành tiếng Việt và cũng không hiểu “đi xa” là Ông Nội sẽ đi đâu thế mà ngày Ông Nội nằm xuống, Cháu cũng biết tại sao Ông không thể giử lời hứa với Cháu. Và bữa ăn thịnh soạn ngày Cháu tốt nghiệp sẽ mãi mãi không bao giờ có mặt Ông Nội nữa...

Năm nay, mùa đông California rét buốt hơn mọi năm. Trời lạnh, cái nhà của tôi càng lạnh hơn vì chỉ một mình tôi lẻ loi...

Nhớ lời dặn: “Anh chết rồi, buồn lắm, em ơi. Hãy về một đứa con mà ở.”

Tôi tới nhà con trai út ở thành phố San Francísco – đứa con gần tôi nhất - ở chơi vài hôm. Ở đó, có con cháu vây quanh, tôi nguôi ngoai phần nào mà sao tôi vẫn nhớ, vẫn thích trở về cái nhà nhỏ quen thuộc của tôi. Trong ngôi nhà xưa thân quen, hằng ngày, tôi “nói chuyện” với Anh như Anh vẫn còn đó. Tôi cảm thấy Anh vẫn loanh quanh đâu đây, bảo vệ và mang về sự bình yên cho tôi. Tôi tự do khóc, tự do ăn, tự do ngủ... bất cứ khi nào... theo “thời dụng biểu bất thường” trong lúc này của tôi. Và điều quan trọng mà vợ chồng tôi đã nhận thấy từ lâu, nay, càng rõ ràng hơn, đó là: các con – các cháu của tôi, chúng có suy nghĩ của chúng. Chúng nó trẻ. Chúng say mê công việc và theo đuổi sự nghiệp. Chúng lo làm việc để trả nợ nhà, nợ xe... và nhất là lo việc nuôi dạy con cái. Chúng không có cùng cách giải quyết vấn đề như thế hệ già của chúng tôi. Làm sao tôi có thể bộc bạch hết những tâm tư sâu kín của tôi với chúng nữa.

Chồng tôi đã có chỗ ở mới, chắc chắn rất an vui. Còn lại tôi, bơ vơ, chới với. Người đi trước sao mà ấm áp, được mọi người lo cho đầy đủ, chu toàn.

Tôi bắt đầu ganh tỵ với chồng tôi.

Hồi tưởng lại vài năm sau này, khi hai chúng tôi đã về hưu và nhờ có con vi rút covid , chúng tôi có nhiều thì giờ ngồi bên nhau. Không biết tìm đâu ra, chồng tôi thường đọc cho tôi nghe bài thơ xưa (không biết tên tác giả) của người chồng già viết tặng vợ:

...Mất gì thì mất Bà ơi,
Xin Trời để lại còn Tôi, còn Bà
Nếu mà có phải đi xa
Để Tôi đi trước còn Bà đi sau

Mong Bà đừng ốm đừng đau
Để Tôi có bát cơm rau sáng chiều
Càng già, càng quí, càng yêu
Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa ....

Mất gì thì mất Bà ơi,
Xin Trời để lại còn Tôi, còn Bà
Tôi – Bà nay tuổi đã già
Mà Tôi vẫn sợ còn Tôi, mất Bà...

Thế là ước muốn “ xin được đi trước” của chồng tôi đã được thỏa theo ý nguyện.

Chồng tôi, cả đời là một nhà giáo đạo hạnh. Anh có chánh nghiệp. Anh có một đời sống viên mãn. Nay, nghiệp đã trả xong, Anh ra đi nhẹ nhàng. Anh được thay cái xác mới. Tôi tin: nhất định Anh đã đến được cõi an lành.

Rồi thì ai cũng sẽ phải theo con đường của Anh thôi mà. Tôi cũng sẽ như thế.

Hai tháng, ... rồi ba tháng, ...
Tôi không thể nào khoẻ mạnh trong tình trạng sống đau buồn mãi được.

Tôi bắt đầu đọc sách nhiều hơn, nghe giảng Pháp nhiều hơn. Tôi thiền định lâu hơn. Tôi làm vườn, công việc này chồng tôi phụ trách trước đây, tôi nào biết tới. Và tôi tiếp tục lại các việc đang dang dở mà thời gian qua vì phải chăm sóc Anh bịnh tôi đã xin tạm nghỉ. Tôi có Chùa Phổ Từ ở Hayward, gần nhà. Tôi có Camp Metta ở Los Gatos. Tôi có nhiều bạn đạo rất thành thật ở hai nơi đó. Tôi có những bạn thiện tri thức của hai nhóm Gia Đình Phật Tử Chánh Tâm và Chánh Hòa, nơi tôi đang dạy thiện nguyện Tiếng Việt cho các em đoàn sinh và nhất là hằng ngày tôi được tu tập qua những câu viết ngắn dưới đề mục “Morning Coffee” của Sư Bhante . Dần dà, tôi đã lấy lại sự quân bình trong suy nghĩ. Niềm vui và sự tin tưởng vào Chánh Pháp đã vực tôi đứng lên. Tôi nhận ra thế nào là Chơn Thường trong Vô Thường của sự vật, của cuộc sống. Đã có sẵn Chánh niệm và Chánh Tư Duy, tôi cảm nhận được sự sống đang có mặt trong từng giây phút của hiện tại. Sự tiếc nuối và suy nghĩ về mất mát trở về lại với tôi nhẹ nhàng như tôi đang thở.

Tôi đăng ký học vẽ ở Chabot College – Hayward. Tôi tập vẽ trên giấy canvas để áp dụng vẽ trên áo dài, niềm say mê nhất của tôi từ khi còn trẻ nhưng vì quá bận rộn phải xếp qua một bên.

Tôi đang suy nghĩ để xem tôi có còn thích hợp để học khiêu vũ không. Đây là môn thể dục lý thú của tuổi già.

Tôi sẽ tiếp tục gặp lại học trò qua hai lớp dạy thiện nguyện Tiếng Việt của tôi sau thời gian dài dạy chúng qua zoom.

Tôi sẽ tiếp tục dịch sách chương trình “Early Childhood Education” ( Ngành Mẫu Giáo Nhà Trẻ). Sách tôi dịch, in ra, đã và sẽ giúp các cô giáo dạy chương trình này ở Việt Nam làm giàu thêm kiến thức nghề nghiệp của họ.

Cám ơn Phật pháp đã giúp Con sáng ra và chấp nhận thực tế đúng như tính chất vô thường nó đang là.

Cám ơn Anh đã cùng Em đi hơn nửa cuộc đời. Anh đã giúp Em hiểu được sự chịu thương chịu khó, sự hy sinh cho một tình yêu đích thực. Anh đã để lại cho Em quá nhiều kỷ niệm, Em chẳng thể nào quên. Em sẽ chuyển nỗi đau thành niềm thương nhớ. Anh ơi, hãy chờ Em bên kia sông, vài năm nữa mình sẽ gặp lại, nhé Anh.

Mẹ cám ơn hai Con Trai của Mẹ. Các Con đã giúp Mẹ tiếp tục giữ cuộc sống an nhàn như khi Ba Mẹ có nhau.

Bà Nội cám ơn ba Cháu yêu. Các Cháu rất ngoan, nghe lời dạy bảo của cha mẹ, học giỏi. Cám ơn các Cháu luôn báo tin vui về việc học của các Cháu cho Bà nghe.

DT – Th H ơi, Nh – Ng ơi ! Các Em đang đủ đôi. Đó là hạnh phúc quý báu nhất Thượng Đế ban tặng cho riêng các Em và cho cả loài người. Các Em hãy yêu thương – chăm sóc nhau với tất cả những gì có thể để rồi mai kia, khi một người đi xa trước, người ở lại không có gì để hối hận...

Tôi cũng vậy.
Tôi đã là người vợ tốt.
Tôi đã là người mẹ tốt.
Tôi đã hết lòng chăm sóc chồng tôi khi Anh bịnh hoạn.
Tôi không có gì để hối hận.
Tôi phải vui lên để được sống khỏe mạnh. Cầu mong tôi giử được sức khoẻ này lâu dài cho tới khi nào quá yếu. Khi đó, tôi sẽ về sống cùng với con cháu.

Tôi đang bước vào khúc quanh mới của đoạn cuối con đường và tôi sẽ thanh thản đón hoàng hôn./.

Hayward – CaliforniaTháng Hai, 2022.
Nguyễn Thị Phi Phượng

Thursday, June 21, 2018

Chuyện Bây Giờ Mới Kể




Tháng Tư lại trở về.
 
Cái tháng Tư oan nghiệt, cái tháng Tư chết bầm, cái tháng tư đen đủi... đang trở lại cùng với thời tiết bất thường của California năm nay! 

Vâng, “ Chuyện bây giờ mới kể” là chuyện gia đình tôi, bắt đầu từ tháng Tư 1975. Ngày ấy, vợ chồng tôi là giáo viên dạy ở hai ngôi trường lớn tại thị xã Bà Rịa. Chúng tôi có hai đứa con trai, đứa lớn 6 tuổi, đứa nhỏ 2 tháng tuổi (cháu sinh tháng 2 năm 1975). Gia đình bốn người sống trong ngôi nhà nhỏ của xóm cư xá công chức thuộc thị xã Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy (nay là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). 

Sau cái tháng Tư đổi đời ấy, nhà giáo tại các trường ở miền Nam nếu còn được tiếp tục cho đi dạy, được gọi là “giáo viên lưu dụng.” Lệnh của chính quyền mới là mọi giáo viên dạy các môn thuộc khối Khoa Học Xã Hội như Việt Văn, Triết, Sử, Địa, Công Dân Giáo Dục... đều phải hoán đổi trường với những giáo viên dạy cùng môn ở một huyện khác. Vậy là bắt đầu cảnh đi dạy học xa nhà. 

Sau đó là những ngày học tập chính trị tại chỗ, lúc đầu là hàng ngày, rồi hàng tuần. Người giảng là các cán bộ chính trị của tỉnh, của quận, quen sống trong rừng, chắc chắn là ít học, phát âm chưa chuẩn. 

Kế đến là chuyện đốt sách. Huyện ra lệnh mỗi giáo viên phải mang nộp những cuốn sách cũ, bi gọi là sản phẩm của văn hóa phản động để thiêu hủy cho bằng hết các “tàn dư của Mỹ Ngụy”. 

Chưa hết, để đội ngũ giáo viên lưu dụng biết mùi “Lao động là vinh quang,” chính quyền mới ra lịnh nhà giáo phải lao động cuối tuần, khi thì quét chợ, khi thì làm thủy lợi. 

Còn nhớ lần đầu, chúng tôi quét chợ Phước Hải. Đó là một quận lỵ ven biển, cách thị xã nơi chúng tôi đang sống 15 cây số. Thế là từ sáng sớm, từng tốp giáo viên đạp xe về phía nam, trực chỉ làng biển Phước Hải. Tới nơi, căng băng rôn “Lao động xã hội chủ nghĩa”, xăn tay áo, tốp cầm chổi, tốp cầm bao đựng rác sẵn sàng màn quét, quét, hốt, hốt... Nhưng lạ thay, con đường nào chúng tôi tới đều đã được dọn trước, sạch sẽ đến mức không còn gì phải làm. Thì ra, người dân địa phương biết các thầy cô giáo cũ bị hành, đã tự động bảo nhau dọn sạch dùm từ trước. Vậy là thay vì quét quét hốt hốtï, các nhà giáo được bà con mời vào nhà uống trà, nghỉ ngơi, đợi hết giờ... để đi về. 

Lòng dân miền Nam với nhà giáo là vậy, nhưng chính sách lương thực kiểu xã hội chủ nghĩa thì khác. Ngay năm đầu tiên sau “giải phóng”, lương thực do nhà nước độc quyền cân đo, phân phối. Mức ăn theo đầu người mỗi tháng, trong khi công nhân thợ thuyền, được phân phối 18 ký lô thì một “ lao động trí thức” như nhà giáo chúng tôi chỉ được nhà nước bán cho 13 ký lô. 

Số lương thực này gồm hai hay ba ký gạo, 10 kg còn lại là hạt bo bo, bột mì hoặc là khoai lang, khoai mì... sùng! Thằng con nhỏ, tuổi chưa đầy năm của chúng tôi, ăn loại hạt bo bo nấu chung với khoai xắt lát mỏng này, nó đi tiêu ra y nguyên hạt bo bo. Phát hoảng, từ đó, chúng tôi dành phần gạo ít ỏi nấu riêng nồi cơm cháo cho nó. Từ năm 1975 cho tới vài năm sau đó, huyện lỵ nơi chúng tôi ở không có trường mẫu giáo – nhà trẻ. Mà vợ chồng tôi bắt buộc phải có mặt ở trường 8 giờ/ ngày. (Trước đây, dạy cấp III, chúng tôi chỉ làm việc bắt buộc 16 giờ/ tuần). 

Năm đầu tiên sau “giải phóng” 1975 là năm gian nan, chông gai nhất của gia đình tôi vì chúng tôi có thằng con nhỏ, tuổi chưa đầy năm. Thằng con lớn 6 tuổi, năm đó, phải đổi trường học 3 lần. Chúng tôi cần nó giử em những khi chúng tôi bận ở trường. Nhờ thương em nên cho dù là con trai nó cũng đã giúp chúng tôi an lòng khi vắng nhà. Hằng ngày, ngoài giờ học, nó còn theo ba ra ruộng mò ốc, bắt cua đồng, mót rau muống... mang về nhà cho mẹ nấu canh.

Sang năm thứ hai, trong khi bụng đói, được nhồi thêm tối đa bằng đủ loại khẩu hiệu của chủ nghĩa Mac Lênin! Tất cả các giáo viên chúng tôi bắt đầu cảnh “vừa dạy học vừa sản xuất”: Buổi sáng, lên lớp dạy học, buổi chiều đi làm ruộng. Chúng tôi học cấy lúa, gặt lúa, bón phân, cho nước vào ruộng... từ các học sinh của chúng tôi. Và các bài văn trước đây tôi dạy cho học sinh như “kéo cày thay trâu”, nay, đã thành sự thật. 

Buổi chiều, lên ruộng, các thầy không vừa ý vì ruộng chưa phẳng, còn nhiều cỏ dại. Không còn lựa chọn nào khác, các nam giáo viên phải ghé vai, hai thầy làm trâu phía trước, hai thầy phía sau đẩy tới... Bài học “kéo cày thay trâu” là chuyện có thật. Không hư cấu. Buổi tối thì chúng tôi chia phiên nhau lên ruộng ngủ để canh cho “ruộng ăn nước” (khai mương, dẫn nước vào ruộng). Việc này thì nam và nữ giáo viên cùng phải làm.

Cực nhọc là thế, rồi ngày tháng cũng qua. Ngoài chuyện mức ăn mỗi tháng, ngoài 13kg lương thực, các nhà giáo còn có thêm màn phân chia nhu yếu phẩm. Vỏ và ruột xe đạp là món rất cần thiết để đạp xe đi làm, nhưng 5 hoặc 6 tháng mới được mua một lần. Cả trường có hơn 40 giáo viên, mà huyện chỉ phân chia cho chúng tôi được mua 4 hoặc 5 chiếc vỏ hoặc ruột xe đạp. Không còn chọn lựa nào khác, chúng tôi phải bắt thăm để xem ai may mắn. 

Tội nghiệp, từ người lớn đến con nít, dân chúng bị gian nan là thế mà sao cái loa ở đầu ngỏ cứ ra rả cả ngày: “Đất nước đã sạch bóng quân thù, toàn dân được hoàn toàn tự do – no ấm...” 

Chúng tôi chỉ còn biết câm lặng, chịu đựng, cố cầy cấy, trồng trọt, nuôi heo... để có thể tồn tại. Năm 1980, thằng con lớn của chúng tôi đạt giải học sinh giỏi quốc gia. Khi nó lên nhận giải thưởng, đứng xếp hàng cùng với bạn, nó thấp hơn bạn học cùng lớp đến nửa cái đầu... Phải chăng vì những năm tháng thiếu ăn, mò cua, bắt ốc! 

Trong những năm dân miền Nam đua nhau liều chết vượt biển, nhiều lần, cả nhà chúng tôi cũng đã có mặt trong những chuyến đi, nhưng mọi chuyện không thành. 

Mãi tới tháng Năm, 1986, lúc đó, thằng con út nhỏ 11 tuổi, thằng anh lớn 16 tuổi mới đi thoát, khi theo bà ngoại vượt biển Đông, tới được đảo Galang sau 7 ngày đêm lênh đênh trên chiếc thuyền đánh cá mỏng manh chở theo tới 120 người. 

Vợ chồng chúng tôi không thể có mặt với mẹ già và hai con dại trên chiếc thuyền may mắn này. 

Sau ngày đưa mẹ và các con ra đi, đêm đêm tôi thức trắng, ngồi ở cửa sổ, trông chờ... Có lúc nghe tiếng động đâu đâu cũng dáo dác không yên, tưởng như mẹ già và con dại không đi được, quay về, phải nhanh tay mở cửa cho mẹ và hai con vào nhà liền để hàng xóm không biết...

Cứ vậy đúng một tháng 10 ngày. Lúc tưởng như sắp quị vì kiệt sức thì may sao cầm được trên tay cái điện tín của anh tôi ở San Jose (Bắc California) cho hay là “Ba bà cháu đã tới đảo Galang an toàn...”

Biệt danh “ba bà cháu” là tiếng gọi thương yêu của cả tàu gọi mẹ già 65 tuổi và hai cháu ngoại vị thành niên. 

Tháng 10 năm 1986, đúng ngày lễ Halloween, ba bà cháu đặt bước chân đầu tiên tới Mỹ, tới San Jose. Ngay ngày hôm sau, anh tôi, người bảo trợ, dẫn hai đứa nhỏ vào trường. Thằng con lớn, Trác Trần, học lớp 11 và thằng em nhỏ học lớp 6. 

Như lời hai đứa con hứa với chúng tôi, chúng đã dốc hết sức học thật giỏi, vừa học vừa làm lặt vặt thêm như kèm cặp các bạn học dở trong lớp, bán kẹo, khuân vác dọn nhà ... kiếm tiền mua sách vở và dành dụm gửi về Việt Nam cho bố mẹ. 

Trong thời gian này, chưa hề có cell phone, chúng tôi chỉ biết mỗi hai tuần chúng tôi viết gửi tới hai con. Qua các lá thư , chúng tôi đã nhắc nhở, dạy dỗ và hướng dẫn chúng mọi điều cần thiết với chúng lúc bấy giờ. Nơi quê nhà nhưng vợ chồng tôi bước theo từng bước chân, đập theo từng nhịp đập của hai con đang sống “ mồ côi “ nơi xứ xa... Kết thúc lá thư nào, tôi cũng dặn dò: “Hai con ráng học để có nghề nghiệp vững chắc, để trở thành một công dân tốt là Ba Mẹ mãn nguyện lắm ...”. 

Đứa con nào trong hoàn cảnh chia ly như gia đình tôi, cho dù xã hội Mỹ quá văn minh, nhiều cám dỗ, nếu muốn sai, muốn “sịa “, chắc cũng không nỡ lòng! 

Nhờ học giỏỉ nên cả hai anh em Trác và Trí đều được học bổng toàn phần của nhà nước Mỹ cấp cho trong thời gian hai đứa theo học ở đại học MIT (Massachusetts Institude Of Technology – tieu bang Massachusetts). 

Năm 1997, mười một năm sau khi thoát khỏi Việt Nam, lần đầu tiên hai đứa con về nước thăm ba mẹ còn kẹt lại ở quê nhà. Hai con đã kính cẩn trao tận tay chúng tôi hai bằng thạc sĩ của đại học MIT cấp, ngành computer science. Lúc đó, con trai lớn của chúng tôi đang theo năm cuối chương trình nghiên cứu sinh Ph.D. (chương trình tiến sĩ). 

Ba năm sau, tháng giêng năm 2000, sau 14 năm dài xa cách, vợ chồng tôi đã tới được nước Mỹ theo chương trình “Đoàn tụ gia đình” do con trai Trác Trần bảo lãnh.

Tháng Tư năm 2000, vợ chồng tôi được Trường Đại Học Johns Hopins, thành phố Baltimore, bang Maryland phỏng vấn. Đây là nơi Trác Trần, con trai lớn của tôi, đang giảng dạy. Kết thúc buổi phỏng vấn, tôi nói trong nước mắt: “I like the famous country where my children are working" (Tôi yêu đất nước danh tiếng này, nơi các con tôi đang làm việc). 

Bên ngoài cửa sổ văn phòng của Trác Trần, bấy giờ, hoa đào tháng tư hằng năm đang nở rộ.

Nhìn hoa đào tháng Tư rực rỡ, tôi không thể cầm được giọt lệ, khi nhớ lại cái tháng Tư bầm tím năm nào. Ngày 30 tháng tư đã mang lại quá nhiều cảnh sinh ly, quá nhiều đau khổ cho nhà nhà, cho người người của quê hương tôi, cho nước Việt Nam của tôi. Ôi cái giá của “Một cuộc đổi đời.”

Nhờ anh lớn làm gương, hai anh em gắn bó chịu khó học hành, sau khi Trác Trần đã là một giáo sư tiến sĩ, em trai Trí Trần cũng theo bước chân anh, tốt nghiệp Đại học MIT, là kỹ sư cho vài công ty lớn vùng Bắc California và năm 2010, Trí tự mình thành lập công ty thực phẩm Munchery. 

Tuần báo Bloomberg Businessweek số ra ngày 17 tháng Giêng năm 2016 đã đăng bài phỏng vấn cháu Trí Trần và vợ chồng chúng tôi (Ba Mẹ của Cháu Trí) với hàng tít: “How a Vietnamese immigrant made it to Silicon Valley and is reprogramming dinner in America” - (Làm thế nào để một người Việt Nam nhập cư thực hiện và đã thay đổi bữa ăn tối ở Mỹ). 

Nguyễn Thị Phi Phượng

Blog Archive