Showing posts with label Trần Du Sinh. Show all posts
Showing posts with label Trần Du Sinh. Show all posts

Saturday, September 7, 2019

Lễ Hội Vượt Xích Đạo (Crossing-the-Line Ceremony)

Trần Du Sinh

***
Đại dương bao phủ hơn 70% bề mặt trái đất nên ông chủ của đại dương là người uy quyền nhất trên trái đất này. Người Hoa có Long Vương, người Việt có Hà Bá, và người Ăng-lê có Davy Jones. Davy Jones là chúa tể của Thất Hải, tiếng Anh gọi là Seven Seas. Phương Tây nói Seven Seas, tức trái đất này có 7 biển lớn thì con nít Việt chỉ biết có 4 đại dương dưới cụm từ "Năm Châu Bốn Bể".

Trước khi Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tuyên bố độc lập từ mẫu quốc Anh thì truyền thống Hải Quân của Hoa Kỳ kế thừa từ Anh Quốc. Và điều đặc biệt là Hải Quân Hoa Kỳ thành lập ngày 13 tháng 10 năm 1775, tức gần một năm trước ngày Quốc Khánh 4 tháng 7 năm 1776. Ngôn ngữ và truyền thống của Hải Quân Mỹ vì thế nên mang đậm dấu ấn của cựu mẫu quốc Ăng-lê.

Nếu ai từng xem bộ phim 'Cướp biển vùng Ca-ri-bê' thì sẽ hiểu thêm về những huyền bí của đại dương, về những huyền thoại cổ xưa, từ Davy Jones cho đến mermaid- nàng tiên cá. Tất cả quyện lại thành điều huyền bí xuyên thế kỷ, vừa lãng mạn bay bổng vừa huyễn hoặc ma quỷ. Và từ thuở lập quốc tới nay, Hải Quân Hoa Kỳ vẫn giữ lại truyền thống 'Crossing-the-Line Ceremony' từ những chiến thuyền cổ xưa của Vương Quốc Anh.

Crossing-the-Line là lễ hội đánh dấu ngày thuỷ thủ vượt qua đường Xích Đạo đầu tiên trong đời. Cho tới khi vượt qua đường xích đạo thì thuỷ thủ vẫn được coi là tay mơ, và theo truyền thống Hải Quân thì họ chỉ là con nòng nọc, gọi là Pollywog, tức chưa thành cóc nhái được. Họ phải chịu biết bao nhiêu thử thách để trở thành sinh vật biển hoàn chỉnh, gọi là Shellback, và sau đó là Salty Sailor, tức thuỷ thủ dày dạn gió sương.

Những thuỷ thủ Salty Sailor này hôm đó hoá trang thành muôn hình vạn trạng. Kẻ thì như Captain Jack Sparrow trong ‘Cướp Biển Vùng Ca-ri-bê’, kẻ thì là hải tặc mắt chột, hải tặc râu đen và những hung thần của biển cả, tạo nên một không gian sắc màu như lễ hội Halloween trên biển. Họ biến tấu trang phục tự chế từ những mẩu quân phục cũ nhìn rất ngộ nghĩnh và và đôi khi nhuộm màu liêu trai.

Để vượt qua đường Xích Đạo thì chiến hạm phải đi về phía Nam của Nam Dương, trên đường xuống Úc Châu nên không phải thuỷ thủ nào cũng là Shellback. Có người đi lính tới 20 năm vẫn chưa vượt qua đường Xích Đạo, bởi họ đóng quân bên Virginia nên con đường viễn chinh của họ toàn về phía Châu Au và Trung Đông, tức phía Bắc đường Xích Đạo.

Đêm nay lễ hội đã bắt đất với màn Wog Talent Show, tức phần trình diễn tài năng của thuỷ thủ nòng nọc. Họ đã nỗ lực hết mình mua vui cho thiên hạ như hát hò, nhảy múa, làm thơ, tấu hài chỉ để xin một chút lòng thương hại, vì sáng mai đây, khi trời mờ sáng, họ sẽ bị lôi ra khỏi gường như những nô lệ thời Trung Cổ trước đám đông reo hò như khán giả của Võ Sĩ Giác Đấu thành Rô-ma.

Lễ hội Vượt Xích Đạo 2004

Bốn giờ sáng, tàu lắc lư như đánh võng, thuỷ thủ còn đang say giấc nồng. Bỗng tiếng khiêng trống từ đâu dội đến ầm ầm. Đó là tiếng gậy đập vào thùng rác đinh tai nhức óc. Và sau đó là mớ hỗn độn la gào:

- Ra khỏi giường ngay. Ai cho tụi bây được ngủ?

- Ê mấy con nòng nọc kia, chúng mày biết thân biết phận chưa hỡi loài dơ bẩn. Bước ra khỏi giường ngay cho tao.

- Hả, mày nói sao ? Mày dám nói lại bọn Shellback chúng tao à? Gan mày to tới đâu vậy?. . .

Và hàng chục tiếng la hét đầy thích thú của những thuỷ thủ muối mặn đối với những gương mặt ngây thơ vô số tội. Tôi là một trong những con nòng nọc khốn khổ ngày hôm đó.

Họ bắt chúng tôi bò lên cầu thang để đi lên boong tàu, đầu mỗi đứa phải đụng mông của đứa phía trước. Chúng tôi làm thành chiếc xe lửa đủ màu sắc bởi những chiếc áo thun đầy lời lẽ mạ lị nhưng khôi hài. Thí dụ như 'con nòng nọc dơ bẩn', 'kẻ tội đồ của biển cả', 'kẻ gây bệnh truyền nhiễm cho đại dương' vân vân…

Ghé qua căn-tin, chúng tôi phải dùng miệng để ăn những thức ăn nhìn rất ghê vì sũng nước trên đĩa, cộng thêm nào là tương đậu phụng, tương ớt xịt tứ tung. Sáng hôm đó tôi nhịn đói vì không mở miệng ra nổi.
.
Rồi chúng tôi nối đuôi nhau bò lên một tầng nữa để lên boong tàu. Vừa bước qua cửa là đụng phải vòi rồng lạnh ngắt mặn chát muối biển. Chỉ cần vài giây là những con nòng nọc đã ướt hơn chuột lột và run lẩy bẩy. Lúc nào chúng phải hát theo những bài hát Hải Quân học từ trại huấn nhục. Môi tím ngắt, bụng đói nhưng phải bò trên mặt boong tàu sắc bén như đinh chĩa. Đó là non-skid, một lớp sơn tàu pha lẫn mảnh kim loại bằng kỹ thuật phun điện để đảm bảo thuỷ thủ không bị trợt té khi trời mưa hay khi tàu lắc lư mạnh. Đó là nỗi ám ảnh của những con nòng nọc, vì đôi bàn tay tê buốt đau đớn khi phải chạm phải mặt đường, và khổ sở hơn nếu không may đầu gối chạm vào những mảnh sắt vô tình này. Tôi còn nhớ là mình đã quấn đôi dép Lào lên đầu gối, những tưởng sẽ an toàn nhưng không ngờ đầu gối rướm máu vì một lần chiếc dép bị trẹo qua một bên.

Nhưng đó mới là sự khởi đầu. Sau đó là những màn hành hạ của thuỷ thủ muối mặn. Họ bôi kem đậu phụng vào một bên lỗ tai làm tôi điếc đặc cộng thêm cảm giác nhờn nhợn chảy ra từ lỗ tai vì nước muối nhỏ từ trên đầu xuống. Một cảm giác dơ dáy dâng lên tới tận cổ. Rồi có thuỷ thủ mở hộp cá mòi ra để ngay trước mũi. Có những con nòng nọc đã ói khi nghe mùi cá. Tôi thì không thì lúc đó rất quen thuộc với cá hộp nhờ thời sinh viên nên không thấy buồn ói, nhưng vẫn có cảm giác dơ dơ.

Tôi còn nhớ có đứa thuỷ thủ chơi ác xịt tương ớt Tabasco trên lưng của tôi, nó theo dòng nước muốn chảy xuống dưới lưng quần làm rát bỏng da. Đau rát toàn thân, lạnh tê tái cộng thêm cái mệt mỏi về thân xác. Một buổi sáng đầy hãi hùng.

Nhưng cái để lại dấu ấn đậm nhất trong tôi là lúc phải bò dưới tấm bạt đầy ẩm ướt với dung dịch màu nâu trông gớm ghiếc, cuối tấm bạt là cái bồn cầu, trong đó có nhiều giấy vệ sinh trong đó, nhìn y như bồn cầu chưa giựt nước. Nhiệm vụ của con nòng nọc là dùng miệng gắp lên một miếng giấy vệ sinh ra từ đó. Một cảm giác buồn nôn có thiệt.

Lâu rồi đời người cũng qua. Khi vượt qua ải cuối cùng, được gặp mặt King Neptune và Davy Jones, những con nòng nọc chúng tôi được ban phước lành để trở thành shellback, một sinh vật biển sạch sẽ lành lặn. Một cảm giác hạnh phúc hơn cả tuyệt vời. Chúng tôi hò hét như điên dại, cởi ngay đôi giày nát bấy vì bị nền boong sắt nghiền vứt ngay xuống biển. Sau đó chúng tôi được tắm vòi nước ngọt, về lại gường rồi chìm trong giấc ngủ mê man, giấc ngủ ngon nhất cuộc viễn chinh.

Một cảm giác thành tựu khó tả. Một ngày lễ Vượt Qua Xích Đạo đem quá khứ và hiện tại đến với nhau. Một niềm tự hào vô tận là người lính Hải Quân Hoa Kỳ. Chúng tôi đã trở thành những thuỷ thủ mặn muối đại dương.

Rồi năm tháng trôi qua, truyền thống này có chút xói mòn vì những chống đối của thế hệ lính mới, những thế hệ hiểu về chiến tranh qua trò chơi điện tử và sống ảo trên mạng nhiều. Đối với họ, những truyền thống cổ xưa có phần hành xác, điều mà tiếng Anh gọi là Hazing. Biết làm sao được khi đó là khoảng cách thế hệ.

Hình ảnh người thuỷ thủ say xỉn vui chơi tới bến như trong cuốn phim Cướp Biển Vùng Ca-ri-bê không còn là điều thú vị đối với nhiều người trẻ. Mỗi khi truyền thông lên án chuyện gì trong quân đội là họ lấy cớ cắt giảm cái này cái nọ. Và họ cắt giảm luôn truyền thống đầy tự hào của người lính thuỷ.

Thế rồi lễ hội Vượt Qua Xích Đạo ngày càng bị giới hạn bởi muôn vàn luật lệ. Nhưng từ trong thâm tâm mỗi người lính, họ luôn mong ước có một lễ hội để họ vượt qua chính mình, và cũng có cái mà tự hào để kể cho bạn bè, gia đình và thế hệ sau nghe những câu chuyện đại dương, điều mà tiếng Anh gọi là Sea Stories.
. . .

Có một bài thơ cổ về lính thuỷ rất hay, đậm chất huyền bí và lãng mạn:

"Under the wide and starry sky
Dig the grave and let me lie.
Glad did I live and gladly die,
And I laid me down with a will.
This be the verse you grave for me;
Here he lies where he longed to be,
Home is the sailor, home from sea,
And the hunter home from the hill."

Robert Louis Stevenson: "Requiem"

Xin được tạm dịch là:

Dưới bầu trời đầy sao trải xa xăm
Hãy đào cho tôi một nấm mộ nằm
Tôi đã vui sống và sẽ vui chết
Và đặt cho mình một lời chấm hết
Là vần thơ em viết riêng cho tôi
"Anh đã mơ nằm lại nơi đây
Nơi đại dương anh xây làm nhà
Như thợ săn gọi chân đồi là chốn nghỉ.

Châu Đại Dương, tháng 2 năm 2019.

Trần Du Sinh

Thursday, July 19, 2018

Bonfire Của Những Người Hùng





Đôi khi có những điều mình bỏ quên mà lại không nhớ là nó nên là một phần của cuộc sống. Đó là những giây phút thoải mái cùng đồng nghiệp mà không phải nói về công việc. Một đêm nhóm lửa bonfire ngoài biển chẳng hạn.

Lần đầu tiên tôi ra biển đốt lửa trại với đồng nghiệp người Mỹ. Họ là những sĩ quan Hải Quân trẻ mang lon từ thiếu uý cho tới đại uý. Không phải nói để khoe khoang, chứ họ ít nhất cũng thuộc top 10% cá nhân ưu tú của nước Mỹ. Ai cũng có bằng cử nhân từ những trường hạng khá trở lên, có lý lịch trong sạch ít nhất 7 năm và có sức khoẻ thuộc loại top 5% của nước Mỹ dành cho đồng trang lứa.

Theo thống kê của bộ nhân sự quân đội Mỹ, dân số Mỹ từ độ tuổi 17 tới 35 chỉ có từ 28 đến 30% đủ tiêu chuẩn gia nhập quân đội Mỹ về mặt sức khoẻ, 70% còn lại không đủ tiêu chuẩn đa phần do bệnh béo phì, lười vận động và bệnh tật. Đó là phần lính tráng nói chung, riêng phần sĩ quan thì chỉ có trên dưới 10% thanh niên nam nữ Mỹ từ độ tuổi 21 tới 29 đủ tiêu chuẩn sức khoẻ và trình độ học vấn mà thôi.

Không phải ngẫu nhiên mà cựu đô đốc Hải Quân McRaven có bài phát biểu huyền thoại “Making your bed” ngang ngửa cựu tổng thống Obama về sức hút, khi về hưu lại được mời làm Viện Trưởng Viện Đại Học Texas. Gần đây lại có vị cựu đô đốc lai Nhật Bản là cựu tổng tư lệnh Thái Bình Dương- Harry Harris được mời làm Đại Sứ Hoa Kỳ ở Nam Hàn nhưng được Úc mời mọc. Điểm chung của hai vị cựu đô đốc Hải Quân này là rất tài ba, thông thái và có sức cuốn hút công chúng rất lớn.

So với bên Lục Quân-Army thì Đô Đốc 4 sao, tương đương với tướng 4 sao, lại có tài ngoại giao và chính trị nhỉnh hơn, ít nhất cũng hơn về nét thanh lịch, bởi Hải Quân vốn là ngoại giao quân sự. Trong cuộc đời binh nghiệp trên 20 năm thì họ đã đặt chân tới biết bao nhiêu quốc gia, trải nghiệm biết bao nhiêu nền văn hoá, và có mạng lưới bạn bè rất rộng.

Riêng về quân nhân Mỹ gốc Việt thì người mang cấp bậc cao nhất trong Hải Quân là Đại Tá Lê Bá Hùng, và bên Lục Quân là Thiếu Tướng Lương Xuân Việt. Phải là những cá nhân kiệt xuất lắm mới lên được hàng Đề Đốc hay Đô Đốc Hải Quân Hoa Kỳ. Với công nghệ Hải Quân hiện đại như tàu ngầm hạt nhân hay hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân thì một ngôi sao của Đề Đốc Hải Quân cũng đòi hỏi một tư chất rất đặc biệt và kiến thức rất rộng.

Quanh đốm lửa bonfire hôm nay là những gương mặt rất sáng. Andrew, một người Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan, tốt nghiệp Học Viện Hải Quân- Naval Academy. Andrew là đại uý xuất sắc nhứt trên tàu về tác phong, kiến thức và sự thông minh. Ai cũng nghĩ Andrew là ứng viên lên Đô đốc Hải Quân đầu tiên trong nhóm. Ai dè Andrew tuyên bố hắn sẽ xuất ngũ và theo đuổi sự nghiệp chính trị như Thượng Nghị Sĩ John McCain.

Nhân vật xuất sắc thứ hai là đại uý tốt nghiệp khoa quan hệ quốc tế của đại học đứng đầu về chuyên ngành này ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn- Georgetown University. Bryan, hắn là người đầu tiên được cả bọn chọn là sĩ quan tuyển bộ binh chủng vũ trụ (Space Force) sắp được thành lập, vì hắn có tài ăn nói và có thể chiêu dụ được những nhân tài về khoa học để tham gia binh chủng mới này.

Nhân vật thứ ba là thiếu uý Ian. Hắn từ Học Viện Không Quân- Air Force Academy chuyển qua. Hắn mém làm phi công nhưng không hiểu lý do gì mà hắn chuyển qua bên Hải Quân. Trước đây tôi nói đùa hắn là đối thủ đáng gờm của trung Uý Mason, người mới qua đời vì tai nạn xe motor sau khi thi đậu vào khoá huấn luyện Navy Seal. Ian cũng đang tự huấn luyện mỗi ngày để thành Navy Seal như Mason. Nếu Mason là Alain Delon của Pháp thì Ian là Brad Pitt của Mỹ. Đôi khi tôi tự hỏi, tại sao Hải Quân Hoa Kỳ tại thu hút được rất nhiều “soái ca” vào làm sĩ quan đến như vậy ?

Ngồi xung quanh những người trẻ ưu tú, tôi bỗng thấy mình may mắn khi gia nhập cái câu lạc bộ sĩ quan này. Và lần đầu tiên tôi biết về một món ăn mới quanh đống lửa. Đó là món marshmallow nướng giòn rồi ép vào miếng bánh nướng cùng với thẻ sô-cô-la. Khi ép vào thì cục marshmallow chảy ra quyện với vị ngọt đắng của sô-cô-la và vị giòn ngọt thanh của miếng bánh quy nướng tạo nên một hỗn hợp ngon tuyệt cú mèo. Cả bọn già đầu rồi mà ai cũng hăm hở nướng Marshmallow như những trẻ thơ.

Ngồi nướng bánh trong cái lửa bập bùng, chúng tôi cùng kể về những câu chuyện về soái ca lady-killer Mason, người tình của hàng chục ‘hotgirl’ dưới biển Pacific Beach.

Tôi vẫn còn nhớ như in chiều thứ Sáu tuần trước. Bỗng có loa gọi họp mặt sĩ quan khẩn cấp, tôi ngỡ là chiến hạm nhận lệnh viễn chinh sớm.

Vào tới phòng họp thấy đại uý trưởng ban điều hành mắt đỏ hoe, tôi có linh tính về sự mất mát. Không gian như đặc quánh. Theo phép nhà binh, không ai được nói gì cho đến khi Hạm Trưởng tuyên bố điều gì chánh thức.

Vài phút trôi qua nặng như chì. Hạm Trưởng bước vào cùng hai sĩ quan CACO (Casualty Assistance Calls Officer), là sĩ quan đưa tin báo tử.

Hạm Trưởng nghẹn ngào nói:

- Trung Uý Mason đã qua đời. Anh mới bị tai nạn xe motorcycle.

Mấy ngày nay Mason không xuất hiện nhiều vì anh mới thi đậu vào khoá học sĩ quan Navy Seal và lo chuyện nộp hồ sơ. Anh bị tai nạn ngay dưới chân cầu Coronado mà bờ bên kia là trung tâm huấn luyện Navy Seal huyền thoại. Mason có ước mơ trở thành người hùng quốc gia như những anh hùng từng diệt trùm khủng bố Bin Laden.

Mãi tới giờ này tôi cũng không tin Mason đã ra đi vĩnh viễn, vì ai cũng có điều tốt đẹp khi nói về hắn. Thôi thì tạm tưởng tượng là hắn đi huấn luyện bí mật Navy Seal nên người ta dựng hiện trường giả để không ai còn biết hắn tồn tại trên cõi đời này.

Có những người đã chết nhưng vẫn tồn tại, nhưng cũng có người tồn tại mà như đã chết. Vô thường vậy thôi.

*
Lần đầu tiên trải nghiệm bonfire cũng những người Mỹ. Nếu ở Việt Nam mà những người như thế này chỉ ra biển nướng bánh ngồi ôn kỉ niệm thì chắc bị coi là hâm, vì chỉ cần hai đứa tụm lại thì đã là cuộc nhậu, còn khi đủ bốn tay thì có thể đã là một sòng bài. Âu đó cũng là nét khác biệt về văn hoá.

Bonfire của chúng tôi không phúng điếu, không khóc thương, chỉ là những ky niệm đẹp về một người sĩ quan trẻ vừa giã từ ước mơ phụng sự quốc gia.
 
Trần Du Sinh

Wednesday, April 26, 2017

Sỹ Quan Hải Quân Mỹ và Plan B



26
Người khôn ngoan thường có kế hoạch dự phòng cho mọi kế hoạch trong đời, người Mỹ gọi đó là Plan B. Xã hội Mỹ năng động và nhiều biến chuyển khiến con người ta đôi khi cũng có cảm giác bất an với một kế hoạch duy nhất trong đời mình.

Đêm nay là đêm trực cuối cùng trong chuyến huấn luyện tác chiến dài gần một tháng trên biển. Bộ sậu trực buồng lái chúng tôi nhân lúc rảnh rỗi nên buôn chuyện. Tôi đặt ra câu hỏi về Plan B của mỗi đứa sau khi rời Hải Quân Hoa Kỳ, dù đó là hồi hưu sau hai mươi năm hiện dịch, hay chỉ là chấm dứt hợp đồng có hạn định.

Tôi bắt đầu với James, sỹ quan tốt nghiệp từ Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ-U.S. Naval Academy- danh tiếng. James được tôi tặng một biệt danh là chàng thi sĩ triết gia. Hắn nổi tiếng với những vần thơ tình cảm tác trong những đêm biển tĩnh lặng như màu đen của vũ trụ. Những vần thơ của hắn đầy tính triết lý cuộc đời. Và khi đó, bóng dáng quân nhân đã biến mất, nhường chỗ cho một thi sĩ đi tìm chân lý của cuộc sống, của những xung đột có tính loại trừ nhau của nhân loại mà hắn và đồng đội có sứ mệnh phải bảo vệ mảnh đất của tự do này.

James nói:

- Tôi muốn làm giáo sư đại học môn lịch sử triết học, và muốn làm nghiên cứu về triết học trong văn chương.

Kế hoạch này có vẻ khả dĩ, vì James có bằng cử nhân lịch sử từ một viện đại học danh tiếng. Hắn còn tự nguyện làm tổng quản thư viện cho chiến hạm, có nhiệm vụ đặt mua sách hay cho toàn quân và hắn đã dựng nên một thư viện sách chất lượng cho chuyến viễn chinh sắp tới của tàu. Nói về khối lượng tri thức nhờ đọc sách của hắn thì có lẽ ít nhất là gấp mấy lần bình quân người Mỹ, và không biết gấp mấy chục lần thanh niên Việt bên kia bờ đại dương, nơi văn hoá đọc còn rất khiêm tốn. Đó là chưa kể nền xuất bản có kiểm duyệt của chế độ cai trị bằng ngu dân.

Khi nghe James tự giới thiệu mình là cử nhân chuyên ngành lịch sử học, thú thật tôi không tưởng tượng ra được giới hạn của kiến thức của một người có chuyên ngành này ở Mỹ, vì ở Việt Nam thì chuyên ngành lịch sử ra trường chỉ có làm giáo viên dạy sử nhai đi nhai lại chiến thắng Điện Biên Phủ và cái gọi là chiến dịch Hồ Chí Minh. Nếu không làm giáo viên thì cũng làm việc ở Bảo Tàng Lịch Sử Chiến Tranh. Lịch sử Việt Nam thời mạt vận được gói gọn trong những cái chiến thắng "xây xác quân thù" và máu lửa trên cái khăn quàng cổ đồng phục của học trò.

Thế nên, tôi ngạc nhiên về kiến thức lịch sử văn minh nhân loại và lịch sử triết học của James. Khi hắn nhắc tới Immanuel Kant, một triết gia người Đức, tôi liền chen vào cái tên Karl Marx để coi một cựu sinh viên từ nước Tư Bản "đế quốc" có hiểu gì về chủ nghĩa cộng sản hay không.

Ngoài sự tưởng tượng của tôi, James nói:

- Communism is a utopia. But more importantly it deprives human beings of their uniqueness. God creates a human being to be unique but the communists take it away from God.

Tạm dịch là, "Chủ nghĩa Cộng Sản là sự không tưởng. Nhưng quan trọng hơn là nó cướp đi sự riêng biệt của mỗi người. Thượng Đế tạo ra loài người để mỗi cá nhân là một tác phẩm riêng biệt nhưng những người cộng sản đã cướp đi sự sáng tạo này của Thượng Đế". 

Lặng người. Một cử nhân tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử ở một học viện danh giá của Hoa Kỳ chỉ nói một câu về chủ nghĩa cộng sản mà đã đầy đủ ý nghĩa vô cùng.

Rồi tôi lại nghĩ tới hơn 80 triệu người bị cướp đi sự riêng biệt mà tạo hoá đã ban cho họ, nào là những em học sinh mang khăn quàng đỏ cùng là cháu ngoan của một người, nào là hàng triệu con cháu miền Nam mỗi năm lại nghỉ lễ ăn mừng ngày cha ông và người thân quen của mình bỏ mình trên biển cả trên đường vượt biên tìm tự do, nào là những dàn đồng ca gọi những tiếng nói chân chính vì tương lai dân tộc là "phản động"...

Phải chăng có quá nhiều người Việt đã mất đi sự riêng biệt mà Tạo Hoá đã dành cho mình sau khi đã sống quá lâu với cộng sản?

James đã làm không gian cô quánh lại. Tôi hỏi thêm là có phải hắn sẽ rời Hải Quân Mỹ sớm để về miền Đông Bắc, thủ đô học thuật của nước Mỹ để lấy bằng PhD. Hắn gật đầu. Vậy là Hải Quân Mỹ sẽ mất đi một sỹ quan trẻ kinh thông lịch sử và thông thái về kiến thức. Một cảm giác mấtmát bỗng thoáng qua.

Người thứ hai tôi hỏi là Tony, sỹ quan Hoa Tiêu của chiến hạm. Tony có ông bà nội là người Ý di dân thế hệ đầu tiên sau Thế Chiến thứ hai. Mẹ Tony là người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan nên Tony mang trong mình 75% dòng máu Ý Đại Lợi. Tony giống người La Mã xưa với cái mũi cong và tóc quăn thời võ sĩ giác đấu Gladiator. Hắn tốt nghiệp từ một đại học danh tiếng ở New York chuyên ngành kỹ sư điện.

Tony là tín đồ Công Giáo rất ngoan đạo. Hắn sẽ là sỹ quan kỹ thuật hạt nhân nếu tốt nghiệp khoá chuyên sâu về hạt nhân trong hai năm tới.

Khoá học này là một trong những khoá học “chăm” nhất của quân đội Mỹ. Sỹ quan nào được chọn đi học ngành hạt nhân đều được phỏng vấn trực tiếp bởi sỹ quan mang cấp bậc từ Chuẩn Đô Đốc trở nên, vì ngoài sự đòi hỏi về sự thông minh còn là những cá tính và tính cách phù hợp với ngành nắm bí mật quân sự hàng đầu của quân lực Hoa Kỳ. Sỹ quan hạt nhân của Hải Quân Mỹ là kẻ được giới săn đầu người lùng rất kỹ, lương bổng cũng rất cao nên khả năng Tony rời Hải Quân trong vài năm tới cũng cao theo.

Tony nói là sẽ về New Jersey làm trong viện hạt nhân hay nhà máy điện hạt nhân. Tony thầm yêu người chị gái của bạn thân từ thời trung học hơn hắn hai tuổi. Trước chuyến viễn chinh này, hắn đã tỏ tình và cô chị kia đã đồng ý làm bạn gái của hắn. Đúng là tư duy kiểu Mỹ. Tony muốn về lại quê nhà để lập gia đình với người tình trong mộng kia. Và đây cũng là một động lực khiến Tony sẽ rời cuộc sống lênh đênh trên biển này. Nhưng đó vẫn chưa là điều chắc chắn, vì biết đâu chuyến viễn chinh sẽ làm hắn có cái nhìn khác về danh dự của bộ quân phục sỹ quan Hoa Kỳ mang trên người.

Tony còn nói thêm ước vọng là sẽ đi du lịch Châu Á trước khi kết hôn, và mong muốn được đối diện Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ. Nghe điều náy, tôi khá ngỡ ngàng vì Tony và gia đình nội ngoại đều là giáo dân Công Giáo sùng đạo ở khu Công Giáo Ý Đại Lợi ở tiểu bang New Jersey. Có lẽ lằn ranh tôn giáo không làm hắn bận tâm, vì hắn đã ngưỡng mộ vị lãnh đạo tinh thần khả kính này từ lâu.

Đến lượt tôi, tôi chỉ muốn có được một cái nhà vườn ở một miền quê nước Mỹ để trồng rau, trồng hoa, nuôi gà và nuôi một cặp chó bẹc-giê khi hồi hưu. So với hai người sỹ quan trẻ này thì tôi có lợi thế về hồi hưu hơn họ vì đã đi quá hai phần ba đoạn đường rồi.

Nếu mọi Plan B đều phải được thực thi thì cả ba chúng tôi sẽ đi theo ba hướng khác nhau. Nhưng trước hết là Plan A khi chúng tôi cùng nhau phục vụ quân lực Hoa Kỳ.

Chúng tôi đã thề trước Hiến Pháp Hoa Kỳ rằng chúng tôi sẽ bảo vệ nền dân chủ và tự do của quốc gia và chiến đấu vì tự do dân chủ trên thế giới này. Chúng tôi phải giữ lời thề quân nhân như là danh dự của chính mình.

Nhiều quân nhân Mỹ có Plan B, nhưng Plan A luôn là tổ quốc, danh dự và trách nhiệm.

Trần Du Sinh

Thursday, December 29, 2016

Tự Sự Của Một Người Lính Thủy



29


1. Lạc Lối Thiên Đàng
Đêm nay mưa dầm. Lạnh buốt da, cảm giác buồn ngủ kéo tới nhưng hãy còn sớm. Xưa nay tôi vốn không muốn ngủ sớm vì thấy đời quá ngắn, ngủ nhiều cũng là cách hoang phí cuộc đời. Hơn nữa, đối với người lính thủy, những giây phút trên đất liền luôn là những món quà cần trân quý.

Lấy xe dạo một vòng phố nhỏ, định bụng sẽ tìm một quán rượu nào đó để làm một ly cho ấm bụng và thưởng thức một điếu thuốc thơm. Thiên đàng bỗng thấy rất gần. Một thiên đàng giản đơn cho người lính viễn chinh.

Mưa vẫn rơi mãi trên đường phố vắng đêm khuya. Bài hát nào đó từ đâu vọng về.

Xưa nay tôi vẫn thích những con phố nhỏ dù chẳng có lý do gì. Có lẽ đó cũng là cách tôi tách mình ra khỏi Little Saigon, nơi dường như có tiếng eo sèo mặt nước buổi đò đông của Tú Xương. Nơi đó có quá nhiều hương vị cuộc sống, mà đôi khi sự giản đơn lại khó kiếm.

Phố Everett gần như bị bỏ rơi. Chỉ còn vài quán rượu còn đỏ đèn. Đậu xe ven đường, rảo bước trong cơn mưa dầm. Lướt qua những ô cửa kiếng chỉ thấy vài bóng người. Thôi thì hẹn dịp cuối tuần vậy. Con phố này có vẻ thiếu sinh khí trong ngày thường.

Rồi bỗng có một quán sáng đèn. Một bà cụ nhỏ thó nhìn ngoài bảy mươi đang ngồi thả từng ngụm khói nhỏ. Đời có vẻ như đang ngừng trôi.

Một quán cà phê đóng cửa muộn.

Mừng như bắt được vàng, ít ra cũng có chỗ dừng lại để làm một điếu thuốc thơm. Tôi mở cửa ghé vào.

Một thế giới lạ lẫm đang hiện ra. Những bức tường treo toàn những bức tranh nguệch ngoạc khó hiểu. Một nhóm người lặng thinh ngồi nghe một cô gái tuổi ngoài hai mươi đang đọc thơ.

Tôi phải vuốt mặt với bàn tay tê giá của mình để biết chắc là mình không mê ngủ. Tôi đang lạc vào đêm thơ nhạc của những người Mỹ yêu văn chương bình dị nơi phố nhỏ.

Định thần một chút, tôi nhận ra mình là người không phải Mỹ trắng duy nhất ở đây. Cảm giác mình như từ một hành tinh khác mới đến trong mắt đám đông. Nhưng rồi những ánh mắt thân thiện, những nụ cười dễ mến đã làm tôi vững tâm mà ở lại.

Tôi tới quầy gọi một chai bia và một cái bánh ngọt. Quán đơn sơ chỉ có vậy.

Tìm một góc khuất, tôi kéo ghế ngồi lặng thinh. Tôi đã lạc vào thế giới của những nghệ sỹ và những tâm hồn thơ. Tôi cảm nhận mới mẻ nhiều hồi hộp. Tôi là kẻ ngoại đạo nơi đây.

Hình ảnh một nước Mỹ phồn thực vật chất kim tiền bỗng bị một phụ nữ trung niên xóa sạch khi cô đọc những bài thơ Haiku bằng tiếng Anh do chính cô sáng tác. Cô nói rằng cô rất yêu thích thơ Haiku của Nhật Bản và văn hóa Phương Đông. Còn tôi, một người Á Đông mà chẳng biết gì về thơ Haiku.

Đêm nay tôi thua toàn tập, cũng vì đang lạc lối trong một thiên đàng bé nhỏ. Thiên đàng này đang giang tay đón nhận một kẻ ngoại đạo như tôi.

Ừ nhỉ, thiên đàng thì phải luôn rộng cửa cho người lạc lối.

2. Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu
Hôm qua là ngày trực kề cuối sau gần ba năm làm việc ở đây. Sau lần đi tuần tra cuối ngày, lẽ ra đi thẳng về phòng tắm rửa rồi nghỉ ngơi, tôi lại quyết định rẽ qua phòng điều khiển trung tâm để coi anh lính trực thế nào, coi ảnh có chơi Facebook mà lơ là trực hay không.

Nói vậy thôi chứ tôi biết ảnh lướt Facebook là cái chắc. Cái thế hệ trẻ này có thể nhịn ăn nhưng khó mà nhịn Facebook được.

Xưa nay tôi vốn bước đi khá nhanh và không lê gót nên ít khi nghe tiếng động. Nhiều lúc có chuyện gấp phải vượt qua mặt mấy anh lính to nặng hơn, chúng đều gọi tôi là Nin-ja vì xuất hiện lúc nào mà nó không hay biết.

Nhưng mỗi khi tới phòng điều khiển là tôi cố tình đi mạnh gót để tụi nó còn có thời gian mà giấu cái phone, chứ lỡ bắt gặp mà không chửi hay phạt cái gì đó thì quân lệnh không nghiêm. Vậy mà lần nào chúng cũng chậm chạp, hay là vì tôi đi nhanh quá nên bắt gặp. Thành ra phải chửi vài câu cho đúng bài.

Vào tới nơi thì tôi gặp hai người lính trẻ. Một người trực chánh ở phòng điều khiển trung tâm và một người đi tuần tra ghi chép thông số kỹ thuật của máy móc. Đứa sếp thì mới 20 tuổi cấp hạ sỹ nhất, còn đứa xó thì lại 23 tuổi, là hạ sỹ, cách nhau một bậc lương. Lý do là đứa lớn đi lính trễ hơn vì mất hai năm ở đại học. Hắn học xong hai năm để cha mẹ thỏa chí có con vào đại học như người ta, nhưng rồi hắn bị bộ quân phục quyến rũ nên xếp bút nghiêng lên đường nhập ngũ.

Còn đứa sếp kia thì dứt khoát hơn, không thích tốn thời gian ở đại học, vì hắn thấy mình không hạp ở môi trường quá nhiều lý thuyết. Thế là vừa tốt nghiệp xong vài tháng, hắn tuyên bố hùng hồn với cha mẹ hắn là hắn sẽ đi làm lính thủy. Thường thì mấy đứa Mỹ trắng mà quyết rồi thì cha mẹ chúng chỉ có ủng hộ mà thôi, chứ không như cha mẹ Việt quăng ra một mớ vũ khí lợi hại như 'cá không ăn muối cá ươn' hay 'áo mặc không qua khỏi đầu' để trấn áp con trẻ.

Hắn tên là Mark. Còn đứa lớn kia tên là Ruben, là người Mễ sanh tại Mỹ. Nói ra chắc bị chụp mũ là kỳ thị chứ thiệt tình cái anh Mỹ trắng này hắn lanh lợi và thông minh hơn anh Mễ kia nhiều dù có thua hai năm đại học đi nữa. Bù lại, hắn cũng láu cá như mấy đứa thông minh trên đời này. Nhưng hắn làm được việc, lại có tư chất lãnh đạo nên ông Thượng Sỹ già cho nó làm sếp nguyên cái phòng máy gồm 5-6 tên, trong đó có cả một chàng trung sỹ trên nó một cấp. Và anh trung sỹ này lại là Mỹ đen lười biếng và hậu đậu, vừa không khéo tay vừa chậm học. Nói tới đây chắc bị chụp mũ lần hai. Nhưng có sao thì nói vậy thôi.

Thực tế đã chứng minh rồi. Nước Nam Phi có người da trắng thì mới là nước tiến bộ nhất châu lục đen, còn mấy nước thuần da đen như Somali thì chỉ có ăn xin thế giới cả thế kỷ nay, nếu không thì đi làm hải tặc.

Vì Mark được nhiều người sếp khác thích nên tôi không bao giờ tỏ vẻ thích hắn vì sợ hắn kiêu ngạo. Thành ra tôi hay bắt lỗi nó để hạ bệ cái thói tự kiêu của hắn, và vô tình đì hắn khi nào không biết. Tôi lại bị nhiễm cái giáo dục hồi nhỏ ở quê nhà, tức là cứ bênh vực người nghèo hay người thấp cổ bé họng. Thành ra ai thuộc giai cấp ở trên như người Mỹ trắng đều khó được cảm tình của tôi. Tâm lý bênh người thiểu số dù sao cũng thắng thế trong tôi xưa nay.

Tối qua tình cờ bước vào nghe Mark la mắng Ruben lớn tiếng, tự nhiên tôi bênh ngang người Mễ y hệt đang bênh một giai cấp bị trị trước thực dân đô hộ. Thấy Mark rất giận nhưng không dám nói vì khoảng cách quyền lực giữa nó và tôi quá xa, tôi đã biết mình sai. Thường thì tôi chỉ làm việc với Thượng Sỹ già là sếp lớn của Mark.

Bảo Ruben tiếp tục đi tuần, tôi ngồi xuống nói chuyện với Mark. Tôi hỏi nó có phải không phục vì bị tôi rầy hay không.

Mark nói:

- Tôi biết là tôi quá trẻ để giữ vị trí supervisor trên mấy đứa kia. Nhưng nếu mấy ông đã tin tôi thì phải ủng hộ tôi thì công việc mới chạy được. Chứ tôi đâu có muốn bị ghét mà la mắng tụi nó. Tụi nó lười biếng thì tất cả đều thất bại.

Lúc này tôi thấy đúng là Mark có tư chất lãnh đạo thật. Hắn có cái họ gốc Anh Quốc. Ngày xưa người Anh cai trị Hồng Kông nên người Hồng Kông mới văn minh hơn người đồng hương đại lục vài chục năm tiến hóa xã hội. Người Anh cũng từng đô hộ các quốc gia khác toàn cầu, và kết quả là nước nào cũng văn minh hơn láng giềng không bị thực dân Anh đô hộ.

Lắng nghe Mark nói xong. Tôi thấy đến lúc phải nói thật cho hắn nghe suy nghĩ của mình về hắn. Tôi nói:

- Tôi sắp chuyển đi rồi nên hi vọng anh sẽ tin là tôi nói thật. Thật ra tôi đánh giá rất cao về khả năng lãnh đạo của anh, cũng như khả năng tiếp thu kiến thức rất nhanh của anh. Nhưng tôi sợ anh không có được sự ủng hộ của cấp dưới vì anh còn quá trẻ nên thiếu đắc nhân tâm. Anh nên để ý lời lẽ của mình, cũng như thái độ quá cực đoan với cấp dưới. Nhưng tối nay tôi đã sai vì làm anh nghĩ là tôi không ủng hộ quyền hạn của anh.

Tới đây tôi thấy khóe mắt hắn long lanh, đầu hắn cúi xuống. Hắn chỉ mới đôi mươi, gương mặt vẫn nguyên nét thánh thiện. Suýt nữa là tôi đã không qua mặt được hắn khi cố giấu một luồng xúc cảm thật mạnh từ đâu ập tới. Tôi thấy hắn tội nghiệp kinh khủng. Tôi hắng giọng nói:

- Thôi, khuya rồi. Tôi phải về phòng. Hãy gọi tôi bất cứ lúc nào cần giúp đỡ hay thấy lo lắng về điều gì nhé. Gặp lại anh vào sáng mai.

Trở về phòng, tôi cũng bất ngờ với chính mình, vì không hiểu làm sao mà mình lại nói thẳng được với một người lính cách xa mình nhiều như vậy.

Có lẽ do mình sắp chuyển đi. Và đó có thể là cuối cùng cho một tình yêu, một tình yêu đối với một nơi và những người đã gắn bó với mình suốt ba năm đầu khó khăn nhất trong sự nghiệp làm sỹ quan kỹ thuật của mình.

Như dòng sông vẫn chảy ra biển lớn. Mình rồi cũng sẽ ra biển lớn, nhưng nhánh sông ngày xưa luôn là kỷ niệm đẹp.

Trần Du Sinh

Sunday, November 27, 2016

Lễ Tạ Ơn: Hoa Thịnh Đốn Ký Sự





I. Lễ Tạ Ơn với lính xa nhà

Năm nay Lễ Tạ Ơn nặng trĩu nỗi buồn với những người lính thủy thuộc chiến hạm USS KIDD, bởi họ phải chuyển nhiệm sở từ San Diego lên vùng Tây Bắc trước đó ba ngày. Một nửa trong số họ có gia đình còn kẹt lại ở chốn cũ. Một số có gia đình ở quá xa từ khắp 50 tiểu bang nên không về được, phần vì tốn kém tiền vé máy bay, nhưng phần chính là họ có một lịch trình huấn luyện khá dày ngay sau lễ. Nhiệm vụ trên hết, trách nhiệm trên hết nên ai cũng hiểu mà không lấy ngày phép, chỉ trừ một số rất ít có lý do chính đáng phải về thăm nhà. Có những người lính chưa về ăn tối Lễ Tạ Ơn suốt mấy năm liền, và có người lỡ dịp nhìn thấy con mình ra đời vì nhằm vào ngày đi biển hay tàu đang ở nước ngoài. Đời lính thủy là thế.Năm nay tàu ăn Lễ Tạ Ơn rất lớn. Hôm nay đã rộn ràng nướng nguyên một con heo dài bằng cái lò nướng barbeque dài 4 feet. Nhiều con gà Tây đã vào lò. Hàng trăm ký sườn heo đã ướp gia vị. Ngày mai sẽ là một bữa tiệc lớn cho lính xa nhà.

Chẳng phải là ngẫu nhiên mà những trận cầu lớn trước khi mở màn thì những chính khách địa phương đều lên tiếng cám ơn quân nhân nếu thấy họ xuất hiện trong quân phục với những vé mời. Có một lần tổng thống Obama làm phật lòng quân đội khi bước xuống máy bay, tay cầm ly cà phê và dùng cánh tay này chào đáp trả một quân nhân danh dự thuộc Thủy Quân Lục Chiến. Nhiều quân nhân đã thấy bị xúc phạm, và họ cũng là người không bao giờ bầu cho đảng Dân Chủ, và người chịu thiệt thòi là bà Clinton trong đợt tranh cử vừa rồi. Tổng Thống đảng Dân Chủ xưa nay ít khi được lòng quân đội Mỹ vì họ luôn cắt giảm quân số và yếu trước kẻ thù. Nói như vậy để thấy người dân Mỹ rất trân trọng và biết ơn người quân nhân. Người Mỹ còn có ngày Cựu Quân Nhân Veteran's Day và ngày Chiến Sỹ Trận Vong Memorial Day để vinh danh những người từng mang bộ quân phục hào hùng của quân lực Hoa Kỳ.

Và mỗi năm vào dịp tháng Mười, thành phố San Francisco lại chào đón nhiều chiến hạm Hải Quân ghé thăm, gọi là Fleet Week. Đây là dịp thu hút khách du lịch quốc tế lớn của thành phố này. Điểm đặc biệt là du khách được phép lên thăm quan chiến hạm đang hiện dịch, và đối với nhiều người, nhất là trẻ em thì đây là một giấc mơ thành hiện thực.

Trong những ngày lưu lại nơi đây, lính thủy Mỹ thường được người dân địa phương mời dùng bữa bằng cách âm thầm trả tiền, và cái bill thường có dòng chữ "Cám ơn bạn đã phụng sự quốc gia" (Thank you for your service!).

Năm nay lễ Tạ Ơn mang ý nghĩa đặc biệt. Nhiều gia đình lính đã dời lên đây mời những anh lính độc thân xa nhà tới dự bữa cơm tối truyền thống của nước Mỹ. Có cả những hội đoàn địa phương tổ chức bữa cơm Tạ Ơn để mời những người lính mới đến.

Có lẽ cái truyền thống Tạ Ơn của người Mỹ là một phần giúp con người Mỹ nhân văn bậc nhất thế giới, và cũng là một phần giúp nước Mỹ hùng cường, bởi di dân nào đến đây cũng yêu mến có nét văn hóa này và muốn đóng góp cho quê hương mới của họ, kể cả mấy trí thức đến từ vùng đất ngày xưa kêu gào 'đánh cho Mỹ cút' như ông giáo sư Ngô Bảo Châu từ Bắc Việt.

Người Mỹ vẫn thế, vẫn tri ân kẻ giúp mình, và di dân lại cảm ơn nước Mỹ đã cho họ một cuộc sống tự do và nhân bản hàng đầu thế giới, trong đó có hàng triệu con cháu Lạc Hồng.

Nước Mỹ không có 4000 năm văn hiến nhưng có lòng tri ân với kẻ ban ơn và tri ân với chủ nhân của vùng đất được thiên phú này. Không phải ngẫu nhiên mà ngày Thanksgiving Day khởi nguồn từ nước Mỹ và ngày càng được người dân khắp thế giới cùng hưởng ứng.

Thank you, America- the land of the free and the brave!

II. Hoa Thịnh Đốn ký sự
Chuyến đi gói gọn trong hai ngày tới Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn để lại trong tôi nhiều thang bậc cảm xúc dù thời gian khá ngắn ngủi.

Mở đầu là đêm dạ tiệc của Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt VAUSA (Vietnamese American Uniformed Services Association). Nói theo ngôn ngữ mới trong nước thì phải gọi là 'hoành tráng và đẳng cấp'. Khách mời của buổi dạ tiệc có tên tuổi khá lớn, và họ thu hút truyền thông báo chí dòng chánh cũng như truyền thông Việt ngữ.

Đó là cựu trung tướng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, người tham gia vào chiến dịch Mậu Thân 1968. Đơn vị của ông đã đánh bại Việt Cộng và nhận huy chương cao quý thứ hai của Quân Đội Mỹ- Navy Cross, huy chương chỉ xếp sau Medal of Honor. Con trai của vị tướng này hiện đang đang là đại tá và cháu nội trai là thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng tác chiến tinh nhuệ nhất của nước Mỹ. Một gia đình có đến ba thế hệ theo đường binh nghiệp. Đây phải là một gia đình thép, là xương sống của nước Mỹ. Có thể đó là truyền thống binh nghiệp của gia đình ông, một gia đình người Mỹ yêu nước bằng hành động cao thượng.

Kế đó là vị tướng của miền Nam, tướng Lê Minh Đảo, người được 'bên thắng cuộc' từ miền Bắc cầm tù 17 năm với danh nghĩa 'giải phóng miền Nam' và danh từ 'tập trung cải tạo', mà thực chất là bỏ tù do thù hằn Quốc-Cộng.

Kế đó là chuẩn tướng đương nhiệm Châu Lập Thể thuộc Vệ Binh Quốc Gia (National Guard) Hoa Kỳ. Ông là thế hệ thuyền nhân tỵ nạn đầu tiên, và đang là người giữ cấp bậc cao nhất trong số quân nhân Mỹ gốc Việt, cùng với Chuẩn tướng Lương Xuân Việt bên Lục Quân.

Có rất nhiều huyền thoại, nhiều tên tuổi lớn gốc Việt tham gia buổi dạ tiệc. Tôi gặp lại cô Kiều Chinh, nữ tài tử gạo cội của điện ảnh Việt và Hollywood. Cô luôn góp mặt ở các sự kiện của cộng đồng và luôn có những lời tâm huyết cổ võ thế hệ trẻ tham gia vào dòng chánh Hoa Kỳ để cộng đồng người Việt rạng danh và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong chính trường.

Riêng tôi thì luôn quan tâm đến thế hệ thứ hai và ba gốc Việt tham gia vào dòng chánh. Đây là những thế hệ không có vết thương từ cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, và cũng chẳng bị ảnh hưởng bởi ý thức hệ Quốc - Cộng. Cái liên kết họ với cộng đồng là ngọn lửa đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ trên quê hương của ông bà cha mẹ, và được dạy dỗ về lịch sử tỵ nạn và chính sử của dân tộc. Họ sẽ là tương lai và là niềm tự hào của dân tộc Việt, vì họ là bằng chứng cho dân tộc Việt không thua kém dân tộc nào ở nước Mỹ, và họ có thể tham gia dòng chánh như John Kerry hay John McCain sau này.

Đó là những em thiếu sinh quân của những học viện sỹ quan danh giá nhất thế giới như West Point Academy, U.S. Naval Academy và Air Force Academy của một quân lực tân tiến nhất. Và điều làm cho tôi vui nhất là gặp gỡ các em ngoài đời, thấy được những gương mặt tinh anh, những thể lực sung mãn tiêu chuẩn Mỹ và tác phong quân nhân chững chạc.

Xin nói thêm là, những em này nếu muốn xin vào những trường đại học danh giá như Harvard hay UC Berkeley thì sẽ không là chuyện khó khăn, nhưng các em đã chọn con đường binh nghiệp chuyên nghiệp. Một niềm tự hào của có thể nói là toàn bộ khán thính giả Việt khi nhìn thấy các em trong những bộ quân phục đẹp oai hùng.

Tôi đã chọn một em thiếu sinh quân Hải Quân để chụp hình chung. Biết đâu sau này sẽ có dịp hướng dẫn em này ở hạm đội. Mọi thứ đều tùy duyên. Hơn chục năm nay tôi chưa có duyên gặp em gốc Việt nào tốt nghiệp ở Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ.

Nhưng chắc chắn sẽ có sự khởi đầu. Hội quân nhân Mỹ gốc Việt đang lớn mạnh và bằng chứng là Hội đã được cộng đồng và doanh gia gốc Việt tài trợ rất nhiều. Những chương trình của hội đều nhắm vào mục tiêu vinh danh quá khứ, biết ơn thế hệ trước và truyền lửa cho thế hệ sau. Tất cả cũng vì hai tiếng Việt Nam.

Dạ tiệc xong. Ngày hôm sau chúng tôi đi thăm nghĩa trang quốc gia Arlington, ngắm lính canh danh dự bàn giao phiên gác với chuẩn mực hơn cả phim Hollywood về độ chuyên nghiệp và cảm xúc. Đó là những người lính canh hoàn hảo. Rồi chúng tôi ghé tới Thư Viện Quốc Gia và Tòa Nhà Quốc Hội Hoa Kỳ để rồi ngồi bó gối như những Ta Ba Lô rong chơi nhìn một nền dân chủ pháp trị chuẩn mực của thế giới.

Chúng tôi, những người Việt thế hệ một rưỡi, cuối cùng thì đã hội nhập vào dòng chánh của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Chúng tôi yêu những giá trị nhân văn nhân đạo của xứ văn minh hàng đầu thế giới này. Và chúng tôi đã cùng rảo bước trên Thủ Đô của biết bao giấc mơ trên thế giới, và thấy mình thật may mắn.

Một lần ghé thăm Thủ Đô, một lần thấy mình tự hào khi là một phần của quốc gia này.

Trần Du Sinh

Sunday, November 13, 2016

Con Nhà Giàu Không Học Giỏi?




13-2

Có nhiều mặc cảm nó đeo đuổi một đứa trẻ đến hết đời, bởi nó được tạo ra bởi một định kiến xã hội quá khắc nghiệt. Thời tôi đi học, xã hội miền Nam bị xáo trộn với cái chuẩn giáo dục từ miền Bắc và những thành kiến đến từ nhà trường xã nghĩa. Nói nôm na là định kiến đó như vầy: con nhà nghèo thường học giỏi, và con nhà giàu thường học dốt. Và mỗi khi có học sinh nào được tuyên dương thì nhất định đó là con nhà nghèo. Phụ huynh của mấy học sinh này nếu không là bộ đội, công nhân, y tá thì cũng là công nhân viên chức Nhà Nước. Riêng tôi thì lại không có phụ huynh lọt vào bất cứ cái diện nào để có cơ được tuyên dương là con nhà nghèo học giỏi hay gia đình văn hoá mới.

Nhiều khi tôi tự hỏi, phải chăng con nhà giàu ưa ỷ lại gia đình không lo học hành nên bị coi thường là học dốt. Thời đó, cái suy nghĩ của một đứa trẻ không đủ khai sáng để biết được là những gia đình nhà giàu, nhất là những gia đình bị đánh tư sản và gia đình gốc Hoa, đã hiểu cái chế độ này, và biết rằng dù con cái học có học giỏi thì cũng lấy đâu cái lý lịch 3 đời bần cố nông, hay cái lý lịch không dính tới "Nguỵ Quân Nguỵ Quyền" để có cơ hội thăng tiến bình đẳng như con cái của cán bộ hay dân Bắc Kỳ 2 nút chuyển vào. Thế là từ từ tôi thấy hàng xóm láng giềng có con cái đi vượt biên, và sau này là đi định cư diện H.O.

Vậy là học sinh giỏi được tuyên dương thời đó gần như không còn ai có lý lịch con tư sản hay quân dân cán chính VNCH, mà toàn là con cái có lý lịch đỏ hoặc nhà rất nghèo.

Thế là những năm đi học, chuyện tôi là học sinh giỏi chẳng đem lại một chút hào quang nào, hàng xóm của tôi toàn dân buôn bán nên cũng chẳng mấy ai khen tặng hay chúc mừng.

Có một sự kiện mà tôi nghĩ họ sẽ thay đổi cái nhìn về con nhà giàu mà không học dốt như tôi. Số là, năm 1991, tôi được tuyển thẳng vào lớp A của trường trung học hàng đầu của thị xã, nghĩa là tôi không phải học luyện thi lên lớp 10. Trong thời gian rảnh rỗi đó, thằng bạn tôi đang luyện thi vào ban A của trường Phổ Thông Năng Khiếu Đà Nẵng.

Chuyến đi thi của tôi đơn thuần là cơ hội thực hiện ước mơ ra Đà Nẵng chơi, vì tôi chẳng có ôn thi luyện thi gì cả, và cũng chẳng biết đề thi của trường Năng Khiếu Đà Nẵng nó khác với đề thi của trường trung học của thị xã nhỏ của tôi như thế nào.

Ra tới nơi mới biết là ngay tại trường Năng Khiếu có những lớp luyện thi vào trường. Khi đó tôi nghĩ cơ hội của mình không cao vì không biết dạng đề nên cũng không kỳ vọng cho lắm. Thế mà tôi lại thi đậu. Và cũng may là tôi có một đứa em họ từng học chuyên Toán ở trường này, và từng đi thi học sinh giỏi quốc gia nên mẹ tôi có biết chút hào quang của ngôi trường này thông qua lời kể của em trai mẹ tôi.

Hơn nữa, dù là dân buôn bán nhưng Ba tôi ủng hộ chuyện học hành. Thời của ổng ở làng, ổng là người có học cao nhất trong đám bạn nhờ là con quan và có ông anh ruột là Hương Sư ở làng. Có lẽ đó mà Ba tôi đã giúp tôi thuyết phục mẹ tôi cho tôi ra Đà Nẵng học.

Năm đó, trường tôi đổi tên thành trường chuyên Lê Quý Đôn, và đám chúng tôi lúc nào cũng ngẩng cao đầu với niềm tự hào là học sinh của Top 3 trường chuyên xuất sắc nhất của Việt Nam, bên cạnh Hà Nội - Amsterdam ngoài Hà Nội và Lê Hồng Phong ở Sài Gòn. Nữ sinh trường tôi thì tự hào vì được mặc áo dài màu thiên thanh, thay vì chỉ là áo dài trắng như nữ sinh của các trường trung học khác. Đây cũng là trường mà cố Bí Thư Nguyễn Bá Thanh đầu tư cho học bổng du học nước ngoài để về làm công chức của Đà Nẵng. Sau này có nhiều người bạn học của tôi nắm những chức vụ chủ chốt trong chính quyền.

Thế nhưng, niềm tự hào chuyện Lê Quý Đôn vẫn không xoá được nỗi buồn mang mác “con nhà giàu học dốt” trong tôi. Nhiều khi tôi nghĩ nếu ba tôi là bộ đội hay mẹ tôi là giáo viên thì chắc tên của tôi sẽ được nhắc tới nhiều ở căn-tin của cơ quan ba mẹ tôi. Rồi một ngày tôi nhận ra là tôi sẽ không có cơ hội vào Đảng vì cái lý lịch gia đình tôi. Thế là thêm một cái mặc cảm không có được cơ hội thăng tiến trong xã hội vì lý lịch gia đình.

Nhiều khi tôi ganh tỵ với mấy đứa bạn chung lớp vì thấy tụi nó rất tự hào là dân trường chuyên, làm tôi tưởng tượng chắc tụi nó được hàng xóm láng giềng ngưỡng mộ lắm.

Sau này khi qua Mỹ định cư khi đã qua tuổi học đại học ở Việt Nam, tôi lại gánh thêm một mặc cảm "trâu chậm uống nước đục" vì nghĩ là mình không thể nói tiếng Anh hay bằng những người học qua phổ thông ở Mỹ hay ở Mỹ từ nhỏ. Với cái giọng tiếng Anh FOB (Fresh off the Boat) nên khó có cơ hội thành đạt. Lúc đó tôi nghĩ mình đang ở dưới đáy của xã hội Mỹ. Mọi thứ gần như đã quá trễ để bắt đầu lại từ đầu.

Một gánh trĩu nặng với chồng mặc cảm, bắt đầu từ cái mặc cảm con nhà giàu học dốt đã đeo bám tôi như thế. May là khi qua Mỹ, tôi chuyển thành con nhà nghèo, và cuối cùng được người Mỹ công nhận là học giỏi.

Đó là lần đầu tiên tôi được công nhận là học giỏi, và là con nhà nghèo của nước Mỹ, theo đúng ba-rem của nước Việt. Chả lẽ ở xứ Vệ, con nhà giàu không học giỏi bằng con cái của công nhân viên chức gốc bần nông vô sản?

Trần Du Sinh

Blog Archive