Showing posts with label Nguyễn Ngọc Ngạn. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Ngọc Ngạn. Show all posts

Thursday, January 31, 2019

Xem Phim Tàu


Nguyễn Ngọc Ngạn

Thời còn ở Sài gòn, khi phim ảnh Hồng Kông tràn sang Việt Nam từ giữa thập niên 1960, một trong những nhân vật tôi hết sức ngưỡng mộ trên màn ảnh là Mã Vĩnh Trinh, do Nhạc Huê hoặc Trần Quang Thái thủ diễn. Rồi cứ thế cho đến nay, lâu lâu các nhà làm phim Trung Quốc lại tái dựng hình ảnh Mã Vĩnh Trinh, một tay giang hồ hảo hán tung hoành trong giới anh chị ở Thượng Hải. Mới đây đài truyền hình Trung Quốc lại có bộ phim “Anh Hùng Mã Vĩnh Trinh” dài hơn 40 tập hết sức hấp dẫn. Khán giả cảm phục vì Mã Vĩnh Trinh là con nhà nghèo, mồ côi cha, sống với mẹ ở Sơn Đông, bị tù oan, vượt ngục trốn đến Thượng Hải và bắt đầu lao và cuộc đời sóng gió với bao nhiêu trận đánh sinh tử, giành đất sống để vươn lên. Các tài tử thể hiện vai Mã Vĩnh Trinh tất nhiên đều đẹp trai và đem võ nghệ cao cường của mình ra trừ gian diệt bạo.

Cho đến gần đây, khi đọc được bài báo viết về con người thật của Mã Vĩnh Trinh, tôi mới biết mình bị lừa! Dĩ nhiên hàng triệu khán giả cũng đã bị điện ảnh Trung Quốc lừa như tôi! Bài báo đó là bản dịch tập tài liệu của Tô Trí Lương đăng trong Thân Báo năm 1879, có tựa đề là “Cận Đại Thượng Hải Hắc Xã Hội Nghiên Cứu” (Bài nghiên cứu về xã hội đen ở Thượng Hải thời cận đại). Nhờ bài báo này, tôi mới biết Mã Vĩnh Trinh không hề là anh hùng hảo hán mà thực chất chỉ là một gã du côn vô lại!

Mã Vĩnh Trinh vốn là một võ sư có nội công thâm hậu, đồng thời cũng là lái buôn ngựa ở Sơn Đông, bỏ đến Thượng Hải lập nghiệp vì lúc ấy Thượng Hải đang phát triển cực thịnh. Tháp tùng Mã Vĩnh Trinh sang Thượng Hải có một đám đệ tử khá đông vì họ Mã cần tạo vây cánh nơi xứ người.

Tới Thượng Hải, Mã Vĩnh Trinh cho vẽ câu biểu ngữ treo trước cửa nhà mình:

“Quyền đả hai kinh Nam, Bắc
Cước đạp hai bờ Hoàng Hà”.

Nghĩa là quyền cước vô địch thiên hạ! Thái độ cao ngạo ấy thực không xứng đáng với phong cách và tôn chí của bất cứ môn phái nào. Nhưng Mã Vĩnh Trinh giỏi võ thật, nên không ai dám đụng đến. Gã thường ỷ thế ức hiếp người khác, bắt họ phải nộp tiền cho mình. Khi đi mua ngựa, gã lựa con ngựa thật tốt nhưng trả giá rất rẻ. Chủ nhân không bằng lòng thì Mã Vĩnh Trinh làm bộ vỗ vào lưng ngựa, khen con ngựa đẹp, nhưng kỳ thực gã dùng nội công đập gãy xương sống con ngựa hoặc gây nội thương khiến con ngựa đó chết dần.

Tờ Thân Báo ở Thượng Hải kể: Năm 1879, có người buôn ngựa là Cố Trung Khê giắt 30 con ngựa đi bán, tạm trú ở quán trọ trên đường Nam Kinh. Mã Vĩnh Trinh nghe đồn có đàn ngựa tốt bèn đến hỏi mua. Gã chọn một con đẹp nhất, trả giá 20 lượng bạc, rồi giắt ngựa đi. Điều đáng nói là Mã Vĩnh Trinh chỉ trả giá ngoài miệng thôi chứ không đưa tiền cho chủ ngựa. Đã thế gã còn bắt theo một đứa nhỏ chuyên giắt ngựa cho Cố Trung Khê. Họ Cố yếu thế nên chỉ biết nuốt giận chịu nhục mà không có phản ứng gì.

Ít lâu sau, hai người tình cờ gặp nhau trong một quán trà. Cố Trung Khê yêu cầu Mã Vĩnh Trinh thanh toán món nợ 20 lạng bạc. Mã Vĩnh Trinh bảo:

-Mày không nghe uy danh của tao hay sao mà dám mở mồm đòi tiền! Tất cả lái buôn ngựa tại Thượng Hải đều phải nộp tiền cho tao, mày đã không nộp còn dám đòi tiền tao hay sao!

Hai bên lời qua tiếng lại rồi hẹn nhau ngày 13 tháng 4 tại Nhất Động Thiên Trà Lâu để giải quyết cho xong câu chuyện. Mã Vĩnh Trinh tất nhiên coi thường địch thủ nên hân hoan nhận lời ngay. Còn Cố Trung Khê thì biết đây sẽ là cuộc đụng độ sinh tử một mất một còn, nhưng nếu không dám đối đầu thì không còn đất làm ăn ở Thượng Hải.

Tứ đại mỹ nhân

Đến ngày hẹn, đôi bên cùng đem theo đàn em lên tửu lầu. Mã Vĩnh Trinh và Cố Trung Khê đang lời qua tiếng lại thì bất thình lình một đệ tử của Cố Trung Khê là Mã Liên xông lại, hắt mạnh gói vôi bột vào mặt Mã Vĩnh Trinh làm mù cả đôi mắt gã. Mã Vĩnh Trinh vội rút sợi giây xích sắt quấn quanh thắt lưng, nhắm hướng đối thủ vung lên đập, nhưng vì mắt nhắm nghiền nên không trúng đối phương. Cố Trung Khê nhanh tay rút mã tấu đâm một nhát vào đầu Mã Vĩnh Trinh, rồi đưa xuống chém lia lịa vào ống chân họ Mã. Tuy bị thương nặng nhưng họ Mã vẫn gắng sức vùng lên, gầm thét, vớ được cái bàn, quăng mạnh về phía Cố Trung Khê. Cố Trung Khê luống cuống lao đầu nhảy qua cửa sổ. Đám đàn em của cả hai bên đều án binh bất động theo dõi cuộc chiến giữa hai sư phụ. Riêng đệ tử của Mã Vĩnh Trinh, thường ngày thấy sư phụ của mình vô địch thiên hạ, không hề có đối thủ nào dám chống cự, nay bỗng sao cơ thất thế, máu chảy lênh láng, mắt nhắm nghiền, lại thêm hai ống chân bị chém, bước đi lạng quạng sắp té gục, nên chúng kéo nhau bỏ chạy hết xuống lầu, không đứa nào dám nán lại bảo vệ sư phụ vì biết chắc sư phụ đã đến ngày tàn!

Quả nhiên, đêm hôm ấy, Mã Vĩnh Trinh chết trong bệnh viện. Trước khi lìa đời còn thều thào nhắc đi nhắc lại mãi với người chung quanh:

-Cố Trung Khê không phải là hảo hán!

Ý nói là họ Cố cho đàn em dùng bột hắt vào mặt mình tức là dùng thủ đoạn tà đạo. Nhưng bản thân Mã Vĩnh Trinh tự cho mình là hảo hán sao? Khi nói câu ấy, Mã Vĩnh Trinh chưa biết Cố Trung Khê đã chết từ hồi chiều, khi lao đầu nhảy qua cửa sổ tửu lầu xuống sân gạch!

Báo chí và cảnh sát mô tả đó là một trận đánh kinh thiên động địa tại đất Thượng Hải mà kết quả cả đôi bên cùng theo nhau về bên kia thế giới! Người xưa thường nói: Khoẻ dùng sức. Yếu dùng mưu. Một người giỏi võ như Mã Vĩnh Trinh vì quá ngông nghênh coi thường địch thủ nên đành phải chết thảm!

Đưa một nhân vật có thật ngoài đời vào màn ảnh, nhà làm phim có thể thêm bớt nhiều chi tiết để cuốn phim hấp dẫn. Nhưng việc biến đổi tính cách, thay đổi hẳn bản chất của nhân vật để kẻ tiểu nhân trở thành anh hùng, kẻ ác trở thành người hiền như trường hợp Mã Vĩnh Trinh thì thật tình tôi không hiểu được chủ đích của người làm phim. Thà là một phim hư cấu, một kịch bản hoàn toàn tưởng tượng thì chẳng nói làm gì. Đằng này, Mã Vĩnh Trinh là một nhân vật có thật ở Thượng Hải, nằm trong hồ sơ băng đảng của cảnh sát và báo chí, mà tại sao điện ảnh lại khoác áo anh hùng cho một tên vô lại! Chúng ta đã coi bao nhiêu phim Al Capone của Mỹ. Tình tiết tuy có khác nhau, nhưng bản chất đích thực của Al Capone vẫn là một tay gangster tàn bạo khét tiếng ở Chicago thời chính quyền Mỹ cấm bán rượu. Chứ không có phim nào biến Al Capone thành 1 thương nhân lương thiện!

Nhưng dù sao đi nữa thì Mã Vĩnh Trinh cũng chỉ là một gã du đãng, các nhà sản xuất dùng anh ta để làm phim giải trí cho quần chúng, xét ra chẳng có hại gì nhiều cho xã hội. Đáng nói hơn là những nhân vật lịch sử của Trung Hoa, nhất là phụ nữ, như Võ Tắc Thiên, Dương Quí Phi, Từ Hi Thái Hậu v.v.. gần đây cũng được đưa lên màn ảnh Trung Quốc và các nhà sản xuất tô vẽ cho họ những hình ảnh khác hẳn với sự thật lịch sử. Những người đàn bà gian ác ấy khi lên phim bỗng biến thành nhân hậu! Như thế chẳng những đi ngược lại sự thật mà quan trọng hơn nữa là quá bất công đối với phụ nữ nhân hậu thật chẳng hạn Hoàng hậu Vệ Tử Phu của Hán Vũ Đế.

Như thế thì rõ ràng là khi xem phim Tàu – loại lịch sử tiểu thuyết hay dã sử – chỉ nên coi là một phương tiện giải trí thuần tuý, chứ không thể dựa vào đó để tìm hiểu lịch sử Trung Hoa, bởi các nhà làm phim đã tuỳ tiện thay đổi hẳn sự thật, bắt câu chuyện phải diễn tiến theo ý riêng của mình!

Dĩ nhiên người làm phim, khi đưa một nhân vật lịch sử lên màn ảnh, có thể che đậy những mặt tiêu cực của nhân vật ấy, mà chỉ để khán giả thấy những khía cạnh khác tốt đẹp hơn, mặc dầu như thế cũng đã bất công rồi. Thí dụ: Giả sử có kẻ làm một cuốn phim ca ngợi Stalin, thì đối với hàng triệu oan hồn đã chết ở Siberia, người làm phim sẽ nghĩ sao?

Tương tự như thế, tôi thấy những bộ phim về Dương Quí Phi – Đường Minh Hoàng từ trước đến nay vẫn thường chỉ ca ngợi họ là cặp tình nhân yêu thơ văn và ca múa, đề cao vũ khúc Nghê Thường mà không hề nhắc đến cái ác, cái tàn nhẫn của triều đại này. Dương Ngọc Hoàn là con dâu của Đường Minh Hoàng, tức Đường Huyền tông. Đường Minh Hoàng cướp vợ của con, phong làm Quí phi, từ đó gọi là Dương Quí Phi. Lúc ấy vua Đường Minh Hoàng 52, Dương Ngọc Hoàn 18. Tuy hết sức say mê Dương Quí Phi nhưng ông vẫn nhốt 40 ngàn cung nữ, con số kỷ lục trong lịch sử Trung Hoa. 

Thi sĩ Bạch Cư Dị viết bài thơ “Thương Dương Bạch Phát Nhân” (Người Tóc Bạc Ở Cung Thượng Dương), tả người cung nữ lúc nhập cung 16 tuổi xinh đẹp. Thời gian trôi qua, đến nay 60 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẫn chưa nhìn thấy mặt vua lần nào! Đó chỉ là một trong 40 ngàn cô gái bị đưa vào cung tuổi từ 12 đến 18. Điều ác đức nhất của Đường Minh Hoàng là sai lính đi lùng khắp nước, bất kể giai cấp, thấy gái đẹp là bắt về dù người ấy đã có chồng! Không có ông vua nào mất dạy như vậy! Cho nên việc ông cướp vợ của con, ông không cảm thấy áy náy chút nào đối với con, đối với quần chúng cũng như đối với đạo lý cổ truyền. Nhiều cô vợ trẻ đòi tự tử ngay trước mặt chồng để giữ tiết, nhưng sợ liên lụy đến cả nhà nên đành phải ra đi. Thi sĩ Tào Nghiệp chứng kiến cảnh người vợ trẻ bị lính bắt đi dâng cho vua, đã viết bài thơ:

Vua ưa thích gái đẹp
Vợ chồng đành chia phôi!

Nhưng vua có xài đâu! Chỉ đem về nhốt trong cung coi như án tù chung thân mà thôi! Mà cứ mỗi năm mỗi tuyển! Đàn ông Tàu thời ấy không còn người đẹp để lấy mà các bậc cha mẹ cũng hết sức lo sợ sinh con gái đẹp!

Cung Thượng Dương nằm rất xa chỗ vua ở, là nơi tập trung các cung nữ tài sắc mà Dương Quí Phi đẩy họ vào để vua không có cơ hội nhìn thấy họ. Đó là cách Dương Quí Phi bảo vệ ngôi vị của mình.

Thi sĩ Bạch Cư Dị cũng kể: Có lần cung Thượng Dương bị lụt lớn, cung nữ mười phần chết đuối hết bảy, tám. Tức là ít lắm cũng cả chục ngàn cô. Sau này khi An Lộc Sơn đánh vào kinh đô, hằng ngàn cô khác lại chết trong đám loạn quân hoặc bị giặc hãm hiếp rồi giết, trong đó có cả Mai phi Giang Thái Bình là người rất hiền thục và vua sủng ái trước Dương Quí phi! Những thảm cảnh ấy, phim ảnh không hề nói đến, chỉ luôn luôn ca ngợi Đường Minh Hoàng là ông vua hào hoa phong nhã mà thôi!

Dương Quí phi được vua sủng ái, nắm quyền sinh sát trong cung. Một lần thái giám mang vào cho vua một cung nữ trẻ đẹp, hôm sau Dương Quí phi biết được, liền đâm chết viên thái giám và cô gái ấy.

Nghe nói trong rừng sâu có suối nước nóng, Dương Quí phi đòi đến tắm vì nước suối sẽ làm cho tăng thêm nhan sắc! Vua ra lệnh 10 ngàn quân lính phá rừng, làm đường, bắc cầu để khiêng Dương Quí phi vào tắm rồi khiêng về!

Dương Quí phi người phốp pháp đẫy đà, ham ăn, mê uống rượu, rất khó xuống cân. Mùa hè nóng bức, thị nữ vây quanh quạt cho nàng suốt ngày đêm. Nàng cũng thích thay trang phục, vua cấp cho nàng 700 thợ may và một kho vải, trong đó có nhiều mặt hàng từ An Nam (Việt Nam) tiến cống. Nàng cũng mê đồ trang sức nên vua cho nàng 300 thợ kim hoàn liên tục chế biến! Để giữ da đẹp, nàng tắm sữa dê tẩm các loại hoa quý. Kẻ hầu người hạ tấp nập ngày đêm.

Đời Đường là lúc cực thịnh của thơ văn. Đường Minh Hoàng rất quý thi hào Lý Bạch, phong ông làm Hàn Lâm Học Sĩ, thường uống rượu chung với vua. Một hôm vua yêu cầu ông làm bài thơ cho vua ca ngâm. Lý Bạch làm ngay mấy câu tán tụng nhan sắc của Dương Quí phi, trong đó ông nhắc đến Triệu Phi Yến là người đẹp tuyệt trần thời nhà Hán. Triệu Phi Yến lừng danh trong lịch sử là có thân hình nhỏ nhắn đến nỗi vua phải xây tường chắn gió vì sợ gió thổi bay mất người yêu.

Dương Quí phi căm giận Lý Bạch từ đấy bởi Dương Quí phi là người mập mà Lý Bạch dám nhắc đến người gầy! Chỉ vì câu thơ ấy mà vua không dám thăng chức cho Lý Bạch và sau cùng, nghe lời Dương Quí phi dèm pha mãi, vua đành đuổi Lý Bạch ra khỏi triều. Cũng may vì Lý Bạch quá nổi tiếng chứ nếu không thì Dương Quí phi đã giết rồi!

Chẳng biết do ông thầy nào mách bảo, Dương Quí phi tin rằng ăn trái vải da mặt sẽ đẹp và tăng cường sinh lực như Viagara. Mà phải là trái vải của An Nam. Thế là hằng năm cha ông ta phải tiến cống trái vải tươi cho Dương Quí phi. Dân gian Trung Hoa ngày nay vẫn còn truyền tụng câu nói: Vì Dương Quí phi mê ăn vải An Nam, khiến ngựa chết dọc đường vô số! Là vì phải cho ngựa chở vải phóng thật nhanh đến độ có con ngựa ngã quị mà chết. Vải mang về phải tươi nguyên mà đường xá ngày xưa gập gành băng rừng vượt suối chứ làm gì có xa lộ như bây giờ! Từ Việt Nam đưa vải tới kinh đô nhà Đường, khoảng 4 ngàn cây số, ngựa và người kiệt sức chết gục là thường!

Rồi Dương Quí phi gian dâm với tướng rợ Hồ là An Lộc Sơn, nuôi dưỡng mầm phản loạn. Khi An Lộc Sơn khởi loạn, gây nên cuộc chiến kéo dài 7 năm, làm chết khoảng 30 triệu người, tức là 1/5 dân số Trung Hoa. Vua bỏ chạy vào đất Thục. Quân lính uất ức nổi loạn đòi vua giết Dương Quí Phi. Vua đành gạt nước mắt ra lệnh thắt cổ ở tuổi 38 rồi chôn nàng ở ngã ba đường tại Mã Ngôi. Nàng chết rồi, vua chỉ cúng Dương Quí phi bằng mâm trái vải An Nam là thứ mà nàng rất mê lúc còn sống!

Như trên tôi vừa nói, phim ảnh Trung Hoa gần như chẳng bao giờ nói đến cái độc ác của Đường Minh Hoàng và Dương Quí phi khi nhốt 40 ngàn cô gái trẻ cho chết dần trong cung, mà chỉ tán tụng các thú ăn chơi và ca múa mà thôi. Đọc sử thấy cũng đau lòng!

Nhân nói về phim Tàu, tôi cũng muốn nhắc đến bộ phim dài “Tây Thi Tình Sử” mà chắc nhiều bạn đọc đã xem. Tây Thi dĩ nhiên là nhân vật hoàn toàn có thật. Nhưng tình sử Tây Thi – Phạm Lãi thì chắc là không có. Tuy nhiên, những bộ phim về chuyện tình Tây Thi – Phạm Lãi thì không phải do các nhà làm phim cố ý xuyên tạc lịch sử, mà có lẽ do một sự hiểu lầm trong văn học Trung Hoa.

Trước năm 1975 ở Sài gòn, nhiều người đã có dịp xem vở tuồng cải lương “Tây Thi Gái Nước Việt” của soạn giả Năm Châu, được chuyển thể từ vở kịch thơ cùng tên của nhóm Lưu Hữu Phước. Đặt tựa đề “Tây Thi Gái Nước Việt” không sai, bởi nhiều đọc giả, chẳng hạn Aurousseau của nước Pháp, đã khẳng định nước Việt của Tây Thi ở bên Tàu cũng là dòng Lạc Việt như VN chúng ta. Mà dù không phải là chung dòng Lạc Việt thì ít ra cũng nằm trong đại tộc Bách Việt hiện diện đông đảo trên lãnh thổ Trung Hoa thời đó.

Sử sách Trung Hoa chọn ra 10 người đẹp nhất nước Tàu, gọi là Thập Đại Mỹ Nhân, theo thứ tự thời gian, gồm có: Bao Tự, Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Triệu Phi Yến, Điêu Thuyền, Võ Tắc Thiên, Dương Quỳnh Chi, Trương Lệ Hoa, Dương Quí Phi và Trần Viên Viên.

Trong 10 người đẹp ấy thì Tây Thi đứng đầu, được mọi người xưng tụng là “Đệ nhất mỹ nhân kim cổ”, nghĩa là từ xưa đến nay không có ai đẹp hơn! Nàng là người nước Việt, lúc đó lãnh thổ nằm ở vị trí tỉnh Triết Giang bây giờ.

Hầu như tất cả các danh sĩ Trung Hoa, qua nhiều triều đại, đều ít nhiều nhắc đến Tây Thi. Thi hào Lý Bạch có bài thơ viết về Tây Thi mở đầu bằng 4 câu:

Tây Thi Việt khê nữ
Xuất tại Trữ La san
Tú sắc yếm kim cổ
Hà hoa tu ngọc nhan

Tạm dịch:

Tây Thi gái nước Việt
Quê trong núi Trữ La
Sắc đẹp trùm kim cổ
Sen hồng còn kém xa

Chiến Quốc Sách viết: “Tây Thi nhà nghèo mặc áo vải nhưng thiên hạ đều khen đẹp”.

Các sách Quân tử, Mặc tử, Trang tử, Mạnh tử, Hàn phi v.v… đều có nhắc đến Tây Thi, gọi nàng là đặc trưng của cái đẹp toàn diện. Trang tử viết:

“Tây Thi bị đau tim nên thường chau mày, ai cũng khen là đẹp. Trong làng có người đàn bà xấu xí cũng bắt chước Tây Thi ôm ngực chau mày. Người trong làng, kẻ giàu thì đóng cửa không thèm nhìn. Người nghèo nhìn thấy thì kéo vợ bỏ đi!”

Từ đó người Trung Hoa có câu tục ngữ “Đông Thi chau mày”, để nhắc nhở rằng: Đừng thấy Tây Thi chau mày mà bắt chước. Tây Thi chau mày thì đẹp, nhưng Đông Thi chau mày thì rất khó coi!

Tác giả Bao Phác Tử viết: “Tây Thi đau tim nằm ở ven đường, mùi lan xạ thơm ngát, ai nhìn thấy cũng khen đẹp.”

Sách Liêm Sử Tuyển Chú kể: “Khi nước Việt đưa Tây Thi sang nước Ngô, tới đất Uyển Trung, quân sĩ nhìn thấy đều bảo nhau: Cô gái Việt này là tiên nữ chứ không phải là người”!

Sách Tuyển Mỹ Sử (Lịch Sử Tuyển Chọn Người Đẹp) của Cao Tự Thanh kết luận:
“Trung Hoa tuy không có Thần Sắc Đẹp, nhưng Tây Thi là hoá thân của nhan sắc, là biểu trưng của cái đẹp từ xưa đến nay. Nàng chính là Thần Sắc Đẹp bằng xương bằng thịt trong lòng người Trung Hoa”.

Thật ra, một người đẹp siêu hạng như Tây Thi cũng sẽ chẳng có mấy ai biết đến nếu nàng không tình cờ đi vào lịch sử của thời Đông Chu Liệt Quốc. Bấy giờ là khoảng 500 năm trước CN, cùng thời với Khổng Tử, nước Việt và nước Ngô là hai nước láng giềng nằm phía nam sông Dương Tử. Lúc ấy, vua Hùng Vương đã lập nước Văn Lang được 200 năm ở Phong Châu tức tỉnh Vĩnh Phú bây giờ. Nhờ nước Văn Lang nằm sâu ở phía nam, cách biệt hẳn các chư hầu nhà Chu, nên tránh được những cuộc chiến tương tàn suốt mấy trăm năm trên đất Trung Hoa.

Ở vào cái thời mà các quốc gia lúc nào cũng lăm le xâm chiếm lẫn nhau, Ngô-Việt cũng không thoát khỏi thông lệ ấy. Hai nước dốc toàn lực thanh toán nhau. Việt thua, vua Câu Tiễn bị bắt làm tù binh. Suốt 10 năm Câu Tiễn nằm gai nếm mật, nuốt nhục làm tôi mọi cho vua Ngô Phù Sai, bề ngoài hết lòng thần phục, nhưng trong lòng vẫn nuôi chí phục hận. Đại phu Văn Chủng, vị trung thần đa mưu túc trí của Câu Tiễn, hiến kế mỹ nhân vì biết vua Ngô đam mê tửu sắc. Tướng quốc nước Việt là Phạm Lãi mở cuộc tuyển mỹ nhân, cũng là cuộc thi hoa hậu đầu tiên của Trung Hoa. Hai ngàn người đẹp khắp nơi đổ về, Phạm Lãi chọn được Tây Thi và Trịnh Đán là 2 cô xuất sắc nhất, trong đó Tây Thi được chú ý hơn. Để tăng thêm công quỹ, Phạm Lãi cho Tây Thi ngồi trong xe, buông màn phủ kín, sai lính đẩy đi khắp xóm làng, công bố rằng: Ai muốn nhìn mặt người đẹp nhất nước Việt thì bỏ ra 1 đồng, lính sẽ vén màn cho họ nhìn mặt Tây Thi. Quả nhiên dân chúng hiếu kỳ đổ ra xem đầy đường, Phạm Lãi thu được món tiền rất lớn.

Phạm Lãi huấn luyện, chỉ dẫn và giao nhiệm vụ cứu nước cho Tây Thi và Trịnh Đán, rồi mới đưa sang dâng cho Ngô Phù Sai. Vua Ngô cực kỳ mừng rỡ, xây Đài Cô Tô để cùng vui hưởng với hai giai nhân. Tây Thi và Trịnh Đán sắc đẹp ngang ngửa, nhưng vua Ngô chú ý đến Tây Thi hơn. Trịnh Đán buồn rầu sinh bệnh, một năm sau mất. Từ đó vua Ngô lại càng say đắm Tây Thi hơn. Nàng nói gì vua cũng nghe, hoàn toàn trúng kế mỹ nhân của Phạm Lãi và Văn Chủng.

Khi thời cơ đến, nước Việt dốc toàn lực phục hận, đánh chiếm nước Ngô, giết Phù Sai, tạo thanh thế lừng lẫy. Vinh Quang ấy có một phần công lao của Tây Thi.

Người đời sau đặt câu hỏi:
– Nước Việt chiến thắng rồi, số phận Tây Thi ra sao?

Có mấy giả thuyết được nêu ra như sau:
1. Nước Việt đón Tây Thi về, nhưng chưa kịp khen thưởng thì vợ vua Câu Tiển bảo:

– Cái vật vong quốc này, để làm gì!

Rồi ra lệnh cho lính cột tảng đá lớn vào cổ Tây Thi và quăng xuống sông!

2. Nhiều người không tin, hoặc không muốn tin cái kết cục bi thảm ấy. Họ quả quyết rằng sau khi dẹp được nước Ngô, Phạm Lãi vì biết rõ vua Câu Tiễn nhẫn tâm và vô ơn, nên bỏ trốn, đem theo Tây Thi. Chúng ta từng đọc những cuốn tiểu thuyết dày cộm hoặc xem những bộ phim nhiều tập nói về chuyện tình Phạm Lãi – Tây Thi như tôi đã nhắc ở trên. Trước năm 1975 ở Sài gòn, cũng có vở tuồng cải lương “Trăng Nước Ngũ Hồ” mô tả chuyện tình thơ mộng của Phạm Lãi – Tây Thi rong chơi Ngũ Hồ sau khi giúp Câu Tiễn đánh dẹp nước Ngô. Thế hệ này qua thế hệ khác, ai cũng cho rằng chuyện tình trai tài gái sắc ấy là có thật, chứ nỡ nào để một giai nhân tuyệt sắc như Tây Thi bị dìm cho chết đuối!

3. Lại cũng có người nghĩ ra một cái kết cục thứ ba nhẹ nhàng hơn. Họ nói: Sau khi thành công, Tây Thi xin trở về nguyên quán và lại quay về công việc giặt lụa như cũ. Một hôm nàng ra bờ sông và trượt chân ngã xuống chết đuối!

Thuyết này được lưu truyền ngay tại quê quán của Tây Thi, có thể vì người ta không muốn chấp nhận chuyện nàng bị cột đá vào cổ rồi quăng xuống nước và cũng có thể người ta nghĩ ra thuyết này để làm nhẹ bớt cái ác độc của vợ vua Câu Tiễn.

4. Tuy nhiên, đáng chú ý hơn cả là theo sách Ngô Việt Xuân Thu của Triệu Hoa, một người nước Việt, thì chuyện tình Phạm Lãi – Tây Thi bắt nguồn từ sự nhầm lẫn của thi sĩ Đỗ Mục. Triệu Hoa viết: “Ngô vong hậu, Việt phù Tây Thi vu giang, lệnh tuỳ chi di dĩ chung”. (Sau khi nước Ngô mất, nước Việt ném Tây Thi xuống sông, cho chết trong chi di).

Khi Phạm Lãi bỏ trốn Câu Tiễn, ông đổi tên thành Chi Di Tử Bì, chạy sang nước Tề. Vì vậy Đỗ Mục mới lầm tưởng là Tây Thi theo Chi Di tức là theo Phạm Lãi. Đỗ Mục viết:

Tây tử hạ Cô Tô
Nhất kha trục Chi Di

(Tây Thi xuống khỏi đài Cô Tô, lên thuyền theo Chi Di). Dựa theo lời của Đỗ Mục, dân gian tin là Phạm Lãi – Tây Thi bắt đầu cuộc tình bên nhau. Kỳ thực hai chữ “chi di” trong sách Ngô Việt Xuân Thu của Triệu Hoa có nghĩa là cái túi da, chứ không phải tên của Phạm Lãi. Sở dĩ nói đến cái túi da là vì khi nước Việt dâng Tây Thi cho vua Ngô thì Ngũ Viên hết lời ngăn cản vua Ngô đừng nhận. Ngũ Viên viết một bài sớ rất dài kể lại bao nhiêu kinh nghiệm vua chúa mất nước vì mỹ nhân, rồi tâu vua Phù Sai:

– Đại vương đón đứa con gái này về thì tôi sợ mai kia đại vương chết không có đất chôn! Đây là âm mưu của bọn Phạm Lãi, Văn Chủng. Đại vương không thể xem thường được!

Vua Ngô tức lắm. Sau này Ngũ Viên cứ can mãi, liên tục cảnh giác vua về toan tính của nước Việt đang quyết tâm phục hận. Vua Ngô chẳng những không nghe còn quăng thanh gươm Chúc Lâu cho Ngũ Viên, bắt ông tự tử. Ông cầm thanh gươm quay lại bảo quân lính:

– Ta chết có tiếc gì thân! Nhưng các ngươi hãy móc mắt ta treo ở cổng thành, để mai kia ta nhìn thấy quân Việt tiến vào chiếm nước Ngô!

Dứt lời, Ngũ Viên đâm cổ! Vua Ngô Phù Sai càng tức giận, truyền chặt đầu Ngũ Viên, rồi thân ông thì vua truyền bỏ vào túi da (chi di) và thả trôi sông.

Rồi mọi chuyện đều xẩy ra đúng như Ngũ Viên tiên đoán. Việt vương Câu Tiễn vốn là người tàn nhẫn và vô ơn, nên chính ông truyền bỏ Tây Thi vào cái túi da và quăng xuống sông, giống như vua Ngô đã làm với trung thần Ngũ Viên. Câu Tiễn bảo Tây Thi:

– Nàng hãy xuống đó mà gặp lại Ngũ Viên!

Ý nói là ông đang trả thù cho Ngũ Viên, dù Ngũ Viên là bên địch.

Trước khi bỏ trốn, Phạm Lãi có khuyên Văn Chủng cùng đi, nhưng Văn Chủng ở lại nên quả nhiên cũng bị Câu Tiễn bắt tự tử bằng thanh kiếm Chúc Lâu mà ông tịch thu được của vua Ngô! Văn Chủng cầm thanh gươm lên và nói:

– Thanh kiếm này vua Ngô đã từng giết Ngũ Viên. Ta chỉ là kẻ tầm thường mà được cùng chết với Ngũ Viên thì có gì phải ân hận! Huống chi ta ngu muội không biết nghe lời Phạm Lãi thì chết là đáng rồi!

Rồi ông đâm cổ chết!

Như vậy thì chính vua Câu Tiễn mới là kẻ tàn ác giết Tây Thi chứ không phải bà vợ! Mạnh Tử viết: “Tỷ Can bị mổ tim vì cứng cỏi, Mạnh Bôn bị giết chết vì dũng mãnh, Tây Thi bị dìm nước vì xinh đẹp…. Đó chỉ là những bi kịch nhân gian do các bạo chúa vong ơn thời trước gây nên”.

Tóm lại, thưa bạn đọc, ngày nay chúng ta coi phim bộ nói về chuyện tình Phạm Lãi – Tây Thi, xin nhớ rằng đó chỉ là một chuyện hoàn toàn hư cấu, chứ thật ra Tây Thi đã bị dìm chết ngay sau khi hoàn tất nhiệm vụ rồi, đâu còn cơ hội rong chơi với Phạm Lãi nữa!

Thi hào Lý Bạch viết về Tây Thi qua bài thơ Vịnh Trữ La Sơn, đã ngậm ngùi kết thúc bằng hai câu:

Nhất phá Phù Sai quốc
Thiên thu cánh bất hoàn!

Nghĩa là:

Một khi diệt xong vua Ngô Phù Sai
Tây Thi vĩnh viễn ra đi không trở lại!

Nước Việt của Câu Tiễn sau khi diệt nước Ngô, trở nên hùng mạnh bá chủ chư hầu. Nhưng sau khi Câu Tiễn chết, nước Việt suy yếu dần, đến năm 333 trước CN thì bị nước Sở diệt, mà Sở cũng nằm trong dòng Bách Việt. Nước Việt mất, nhiều đợt dân Việt dùng thuyền di tản xuống phía nam, hội nhập vào nước Văn Lang của vua Hùng, như nhiều hình ảnh còn khắc ghi trên mặt trống đồng. Những người trong đại tộc Bách Việt ở lại lãnh thổ Trung Hoa, (Quí Việt, Mân Việt, Âu Việt, và cả Lạc Việt) dần dà bị đồng hoá với Hán tộc. Đại tộc Bách Việt ngày nay chắc chỉ còn lại duy nhất nhánh Lạc Việt, tức là người Việt Nam chúng ta mà thôi.

Người Bách Việt trên đất Trung Hoa không còn nữa nhưng ngày nay sách vở vẫn quen gọi dân vùng Triết Giang, Phúc Kiến là “Việt nhân” bởi quả thực vùng này từng là cái nôi của người Việt cả ngàn năm, trước khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa năm 221 trước CN.

Nguyễn Ngọc Ngạn
2018

Monday, January 22, 2018

Nguyễn Ngọc Ngạn: Người Việt không có tự ái dân tộc, chỉ có tự ái cá nhân!


VBF-Nguyễn Ngọc Ngạn viết về quá nhiều thứ liên quan đến cả chính trị và kinh tế, lịch sử. Chỉ trong một bài viết ông lại có thể nói rất hay và có thể cho là nói thẳng, nói thật. Ông cho rằng kinh tế Cộng Sản không sụp thì Trung Cộng vẫn giữ nó thì sẽ không cường thịnh như ngày nay có lẽ tốt hơn.

Thông thường, khi thực hiện cuộc phỏng vấn với một nhân vật, chúng tôi vẫn có thói quen trích tiểu sử của họ như lời giới thiệu đến độc giả trước khi bước vào không gian những câu chuyện, có chút riêng tư, có khi cũng nhiều công khai. Riêng đối với nhà văn, kiêm MC, kiêm nhà soạn kịch Nguyễn Ngọc Ngạn, thì việc này, có lẽ, dư thừa.

Lược qua vô số những cuộc phỏng vấn với ông, trên báo chí cũng như qua video trong suốt hơn 40 năm sinh hoạt văn học & nghệ thuật của ông, chúng tôi cảm nhận rõ sự thử thách trong quá trình chuẩn bị cho lần mạn đàm này của chúng tôi với nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn.

Ông không thích dẫm trên lối mòn, và chúng tôi, lại dị ứng những lời gợi ý qua loa. Chúng tôi đắn đo về những câu hỏi có vẻ đặt ông vào thế khó xử, với địa vị xã hội cũng như những vai trò và trách nhiệm mà ông gánh vác hiện thời. Nhưng chúng tôi tin, với sự can đảm và khéo léo, ngay cả những câu chối-từ-trả-lời của ông, nếu có, hẳn cũng sẽ chứa đựng sự thâm trầm, uyên bác.

Mỗi câu chuyện ông kể dưới đây, dẫu có vẻ như vụn vặt, là sự tích lũy của một chuỗi tháng ngày sống, sáng tạo, trải nghiệm, và học hỏi từ những cái-không-ngờ.

Lưu Diệu Vân (LDV): Khác với vẻ ngoài đạo mạo và phong cách nhà giáo, ông có cái nhìn dí dỏm về xã hội trong văn phong. Phải chăng người ta hay viết qua cái nhìn của alter-ego, một cá tánh trái ngược với chính mình, hay ông cố tình muốn gởi gấm những gì qua nét hài hước đặc thù?

Nguyễn Ngọc Ngạn (NNN): Óc hài hước có thể coi là một cái gift trời cho. Cùng một sự việc có người nhìn thấy khía cạnh hài hước, có người không. Chẳng hạn sau năm 1975 ở Việt Nam, có lúc nhà nước hết tiền, chỉ thị công nhân lãnh lương bằng sản phẩm. Thí dụ: Ai làm trong công ty may mặc thì lãnh lương bằng quần áo. Người làm trong hãng sản xuất thuốc lá thì ôm thuốc lá về. Ai làm trong công ty mì sợi thì lãnh lương bằng mì sợi. Đọc được bản tin đó, tôi liền viết một truyện ngắn về hợp tác xã sản xuất quan tài (đóng hòm người chết). Đến ngày lãnh lương, hợp tác xã không biết làm cách nào để trả lương cho công nhân bằng sản phẩm! 

Cái năng khiếu khôi hài tự nhiên mà tôi có, như cô nói, tôi đã dùng được trong văn chương, trên sân khấu và khi soạn kịch. Nó đã tạo cho tôi cái phong cách riêng mà ngay từ những truyện ngắn đầu tiên cách đây 39 năm đã được độc giả tán thưởng. 

Nếu nói dài dòng thì phải kể, ngay từ nhỏ tôi đã ham đọc truyện. Qua nhiều loại tiểu thuyết khác nhau, cuối cùng tôi vẫn quay trở lại với lối văn hiện thực. Có hai truyện làm tôi xúc động nhất thời còn trẻ là “Sống Chết Mặc Bay” của Phạm Duy Tốn và “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố. Rõ ràng các tác giả ấy có dụng ý dùng lối văn hiện thực, châm biếm, để cải thiện xã hội. Đó là con đường tích cực, đúng với quan niệm “nghệ thuật vị nhân sinh” mà tôi muốn đi theo. Phảng phất trong tất cả các chuyện của tôi, độc giả đều thấy tôi chống lại sự giả dối và bất công xã hội.


LDV: “Nước Đục” được đánh giá như tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Ngạn. Ông có đồng ý với nhận xét này không? Tác phẩm nào là tác phẩm ông hối tiếc nhất? 

NNN: Tôi viết “Nước Đục” năm 1984 lúc tôi sống trên đảo Prince Rupert, chỉ có vài gia đình người Việt. Chỉ nhờ đọc báo từ các nơi gửi về, tôi mường tượng ra được sinh hoạt của người Việt ở các thành phố lớn để từ đó tôi viết.

Cô cần hình dung lại, vào thời điểm ấy, 10 năm đầu của đời tỵ nạn, xuất hiện khá nhiều người cầm bút giống như tôi, nghĩa là trước 1975 chưa hề viết văn. Đa số viết là để giãi bày tâm tư trước cuộc đổi đời chứ chẳng ai nghĩ đến chuyện sẽ thành nhà văn. Đề tài chống Cộng, hồi ký cải tạo hay vượt biển, hồi ký chiến trường, luyến nhớ dĩ vãng, là những nội dung chính. 

Trong bối cảnh ấy, “Nước Đục” có thể coi là quá mới mẻ và táo bạo nên thu hút rất đông độc giả. Một thí dụ nhỏ: Lúc ấy lòng người còn sôi sục nên nhiều tổ chức kháng chiến ra đời với những tuyên bố rất lớn lao như “quang phục quê hương”, “giải thể đảng Cộng Sản”.

Tôi ở trên đảo vắng, theo dõi báo chí mà lòng buồn vời vợi. Chẳng biết các tổ chức ấy có làm được gì hay không, nhưng trước mắt đã gây phân hóa quá trầm trọng, nảy sinh trò chụp mũ bừa bãi, làm suy yếu hẳn cộng đồng. Vì vậy trong “Nước Đục” tôi viết: 

Khi người mẹ có đứa con bình thường thì mong cho nó trở thành xuất sắc. Nhưng nếu chẳng may có đứa con hư thì chỉ mong cho nó bình thường mà thôi. Chúng ta là những đứa con hư của mẹ Việt Nam, chúng ta hãy cố gắng trở nên bình thường trước khi toan tính chuyện phi thường!” 

Lúc đó có tờ báo phỏng vấn tôi, tôi trả lời rằng: “Mấy chục năm sau, nếu có người đọc Nước Đục, thì sẽ hình dung ra được cộng đồng người Việt hải ngoại buổi mới thành hình nó như thế nào.”

Bây giờ thì tôi biết tôi lầm, “Nước Đục” viết đã 34 năm rồi mà cộng đồng mình, xét tổng quát, thì vẫn như thời ấy, chưa thay đổi bao nhiêu, nhất là trò chụp mũ!

Cô hỏi có tác phẩm nào tôi hối tiếc hay không thì tôi có thể trả lời ngay là có. Cuốn “Sau Lần Cửa Khép” tôi viết ngay sau khi nghe tin một số bác sĩ Việt Nam bên Mỹ bị bắt vì gian lận y tế. Chuyện mới đăng được một hai kỳ thì có ông bác sĩ quen gặp tôi và than phiền là tôi “tuyên chiến với giới y khoa”, làm tôi phải đổi hướng, quẹo sang thành chuyện tình! Rõ ràng là đầu voi đuôi chuột!

LDV: Có một số tác giả và nhà phê bình văn học nhận xét Nguyễn Ngọc Ngạn đã đem văn chương đến với đám đông thay vì đến những độc giả chọn lọc qua những sáng tác truyện ma (rất ăn khách) và kịch nghệ (rất hài hước). Hiện nay, khi tra Google tên “Nguyễn Ngọc Ngạn” thì có hơn 1 triệu kết quả! Ông thích là một nhà văn được đồng nghiệp đánh giá cao, hay là một người có nhiều fan hâm mộ ở mọi tầng lớp?

NNN: Theo tôi, bất cứ nhà văn nào ở hải ngoại cũng đều không nên tin vào sự đánh giá của đồng nghiệp! Thời tiền chiến, có những nhà phê bình văn học nghiêm chỉnh như Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hoài Chân. Họ làm việc có phương pháp và quan trọng nhất là có tinh thần khách quan. 

Ở hải ngoại, văn giới bị chi phối bởi phe nhóm, cho nên phê bình thường dựa trên cảm tính. Bởi vậy dù khen hay chê cũng đều không phản ánh sự thật. Tôi nhớ hồi tôi mới về Toronto, Hội Văn Hóa Việt Mỹ ở Cali do chính quyền Mỹ tài trợ, mỗi năm thường tổ chức hội thảo. Giáo sư Đỗ Đình Tuân phụ trách chương trình này, mời tôi sang làm diễn giả vì lúc ấy tôi sáng tác nhiều, in sách nhiều và nhất là vì tôi có sách tiếng Anh được nhà xuất bản Mỹ ấn hành. Một số các nhà văn bên Mỹ đã phàn nàn với giáo sư Tuân: Tại sao không mời một nhà văn ở Cali mà lại mời người từ Canada sang thuyết trình! Rõ ràng họ vẫn có cái tự hào Cali là thủ đô, Canada chỉ là ngoại biên! 

Một chuyện nhỏ khác: Thời Báo Toronto có lúc trao đổi bài vở với một tờ báo ở Cali. Thời Báo nhận một số bài của họ và để đổi lại, Thời Báo đưa truyện dài của tôi cho họ đăng. Họ cũng biết truyện của tôi mang lại nhiều độc giả. Nhưng họ từ chối vì “đăng truyện Nguyễn Ngọc Ngạn thì các nhà văn bên này sẽ không vui!”

Chuyện phe nhóm trong văn giới hải ngoại là điều có thật, có ngay từ buổi ban đầu, đến giờ này vẫn tồn tại. Mà khi đã có phe nhóm thì sự đánh giá của đồng nghiệp làm sao còn khách quan được nữa!

Nhà văn Mạc Ngôn của Trung Hoa có nhiều giải thưởng quốc tế kể cả giải Nobel. Vậy mà khi một nhà báo Việt Nam phỏng vấn, ông nói: “Bên Trung Quốc có nhiều người chống tôi. Nhờ vậy tôi mới biết mình quan trọng!”
Chúng ta có thể thấy ngay sự cay đắng trong câu trả lời của Mạc Ngôn. 

Truyện “Cao Lương Đỏ” của ông được thực hiện thành phim, cả phim ngắn (Củng Lợi đóng) lẫn phim bộ (Châu Tấn đóng). Ông nổi tiếng quá, khó tránh được sự ganh ghét của đồng nghiệp.


Ở Mỹ hay bất cứ quốc gia tân tiến nào, đều có hai phương thức đánh giá tác phẩm: Academy’s Choice và People’s Choice. Cộng đồng chúng ta nhỏ bé quá nên không thể có Academy’s Choice mà chỉ có People’s Choice. Tôi đã đạt được cái thứ hai là People’s Choice, tức là sự lựa chọn của quần chúng, điều mà ngay từ lúc mới đặt bút viết văn tôi đã mong muốn. Tôi là người có đông độc giả nhất, nếu tính cả audio books. Hơn 80 băng đọc truyện của tôi tràn ngập trên mạng dù tôi không biết ai đưa lên. 

Tôi viết khoảng 70 vở kịch, có những vở như “Con Sáo Sang Sông”, Thúy Nga bỏ lên YouTube, có đến 25 triệu lượt người xem. Nhà văn Thế Uyên nhận xét về tôi như sau: “Ngày nào chính quyền Cộng Sản bãi bỏ lệnh cấm bán sách từ hải ngoại, chắc chắn sách của Nguyễn Ngọc Ngạn sẽ bán chạy trong nước. Lý do ông là người kể chuyện có tài, dùng một bút pháp của đời thường, dễ hiểu, nên sách của ông đặc biệt thành công nơi phụ nữ.” (Hợp Lưu, tháng 10 & 11/2006).

Đọc đoạn văn này, chắc cô không vui! Vì cứ theo nhà văn Thế Uyên thì nhờ tôi viết “dễ hiểu” nên phụ nữ mới đọc được!

LDV: Vâng, chắc chắn vậy. Nếu Thế Uyên còn sống, LDV sẽ phản đối thẳng với tác giả rồi. Nhưng riêng ông có nghĩ rằng thành công của các tác phẩm Nguyễn Ngọc Ngạn đến từ độc giả nữ và lối viết dễ hiểu hay không, bởi là một phụ nữ, LDV không nghĩ rằng văn Nguyễn Ngọc Ngạn “dễ hiểu”, mà thật ra, chứa đựng nhiều ẩn dụ châm biếm xã hội.


NNN: Nhà văn viết cho độc giả, không viết cho đồng nghiệp. Đó là điều hiển nhiên. Mỗi nhà văn chọn cho mình một loại đối tượng độc giả. Phần tôi, tôi không nhắm riêng vào thành phần độc giả nào, mà nhắm vào tất cả mọi người. Tôi làm video mong có đông người coi, viết truyện mong có đông người đọc, thu audio book mong có đông người nghe. Đó là sở nguyện của tôi. Chỉ có điều, tôi vẫn tưởng chuyện của tôi đàn ông đọc nhiều, cho đến khi đọc bài của nhà văn Thế Uyên, tôi mới biết chuyện của tôi “đặc biệt thành công nơi phụ nữ”! Điều này làm tôi rất mừng! Nhân đây cô cũng cho tôi nói qua về truyện ma của tôi mà cô vừa đề cập đến. 

Có lần tôi đọc một bài báo viết về tôi: Nguyễn Ngọc Ngạn là người đùa giỡn với văn chương. Ngay cả những truyện nghiêm trang nhất, độc giả vẫn bắt gặp những nụ cười trong đó.

Tôi nảy ra ý định viết một loại truyện mà không thể chen nụ cười vào được, đó là truyện ma, hay đúng hơn là truyện kinh dị giống như Stephen King. 

Sau chuyến lưu diễn ở Âu châu về, tôi viết thử truyện ma đầu tiên, đặt tựa là “Đêm Trong Căn Nhà Hoang”. Trước đó tôi đã đọc hầu hết các truyện ma của các tác giả tiền bối như Nhất Linh, Nam Cao, Thế Lữ, Vũ Hạnh, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Tuân, Hồ Trường An, Phạm Cao Củng, Bồ Tùng Linh, v.v... Nhưng tôi thấy những truyện đó… nhẹ quá, giống như ăn ớt không đủ cay! Liêu Trai Chí Dị thì toàn ma sexy đêm đêm hiện về! Tôi tự đặt ra mục tiêu: Đọc truyện ma, người ta phải sợ. Nếu không sợ là mình thất bại!

Quả nhiên tôi đã làm được công việc đó, gây chấn động ở quốc nội, hàng loạt báo trong nước yêu cầu ngăn cấm vì học sinh nghe, sợ quá không ngủ được! Truyện ma của tôi ăn khách đến nỗi nhà xuất bản Văn Học và Tuổi Trẻ lấy đem in trộm, đổi tựa truyện và tên tác giả. Báo Người Lao Động phát giác ra và lên tiếng tố cáo, gây ồn ào cả năm trời. 

Hôm nay nói chuyện với cô về truyện ma, tôi phải… khai thật là, lúc ấy tôi hơi tham vọng, muốn thử một khúc rẽ mới xem mình có khả năng hay không! Sau này tôi lại liều thêm một lần nữa là chuyển sang viết kịch. Cô có thấy ai vừa viết truyện ma cho người ta sợ, lại viết hài kịch cho người ta cười không?

LDV: Dù là một người rất nổi tiếng, và sự nổi tiếng đó có thể đưa đến một lối sống khác hơn, nhưng ông lại chọn một cuộc sống ngoài đời khá ẩn dật, để duy trì sự cân bằng trong gia đình, và cũng để khéo léo tránh những tai tiếng không cần thiết. Giả sử chúng ta trút bỏ hết những hệ lụy, luật lệ, hậu quả…Ông sẽ thích thử sống một đời sống khác hơn không? Một ngày lý tưởng của Nguyễn Ngọc Ngạn, nếu không phải cầm bút hay cầm microphone, sẽ là một ngày như thế nào?

NNN: Tôi rất hài lòng với lối sống hiện tại. Những ngày không đi show thì về với gia đình, chở bà xã đi chợ. Ngày xưa, tôi rất thích họp mặt bạn bè. Đó là một nét văn hóa Sài Gòn trước 1975. Trịnh Công Sơn nói: “Sáng nào thức dậy không thấy có bạn trong nhà là mất vui!” Thời tôi còn hoạt động Văn Bút, tiệc tùng đình đám, đón khách về nhà liên tục, văn giới cũng như chính khách. Cô đọc cuốn “ Nhìn Lại Một Thập Niên” của tôi chắc cô sẽ phải giật mình. 

Sau vụ video “Mẹ” năm 1997, tôi mới nhận ra là bạn bè đích thực không có bao nhiêu. Từ đó tôi đổi hẳn cách suy nghĩ, quay về với vợ con và chỉ còn gặp gỡ một số rất ít những bằng hữu mà tôi coi như người thân trong gia đình.

Một ngày nếu không phải cầm bút hay cầm micro thì tôi có cái thú đánh mạt chược (play majong). Nhưng cái nhóm mạt chược 4 người của tôi không biết sẽ kéo dài được bao lâu, vì trong nhóm này, tôi thuộc thành phần trẻ, năm nay mới 73! Còn một ông 85 và một bà 95. Chả biết ngôi sao nào sẽ vụt tắt mà mạt chược thì bắt buộc phải có tối thiểu 4 người mới chơi được! 

Tôi cũng thích họp mặt bạn bè một nhóm nhỏ vài người thân, ăn uống tại nhà hay tại tiệm. Đó là thời khắc thư giãn thoải mái của tôi. Tôi không uống được rượu, bất cứ loại rượu gì kể cả bia, thành ra nếu đối ẩm thì chỉ là uống trà với bà xã!

LDV: Ông có vẻ yêu thích và say mê lịch sử cũng như có nhiều bài viết về đề tài này. Nghĩa gốc của từ lịch sử là điều tra. Nghiên cứu nhiều về lịch sử đã có giúp chúng ta thay đổi tương lai không, dựa trên những gì nhân loại đã trải qua?

NNN: Cô nói đúng: tôi thích đọc lịch sử. Đọc sử để ngậm ngùi với những cái sai của các nhân vật lịch sử trong quá khứ và hy vọng những cái sai ấy sẽ không tái diễn trong tương lai. Đọc sử đôi khi cũng để thấy sự sắp đặt của Tạo Hóa về những biến chuyển mà con người không lường được. Gần đây tôi thường nghĩ: Thế giới chịu đựng chiến tranh Quốc Cộng suốt mấy chục năm, nhất là Việt Nam là nạn nhân trực tiếp. Bất ngờ hệ thống Cộng Sản toàn cầu sụp đổ. Ai chả mừng! Nhưng chính vì Cộng Sản sụp đổ, không còn là mối đe dọa lớn nữa, Mỹ và thế giới tự do mới cho Trung Quốc hưởng tất cả những hiệp ước thương mại tự do, nghĩa là mở ra thị trường mênh mông, làm cỗ cho Trung Quốc xơi! Để bây giờ Trung Quốc trở thành mối đe dọa của toàn cầu! 

Giả như hệ thống Cộng Sản chưa sụp đổ và giả như Trung Quốc chưa từ bỏ kinh tế Cộng Sản để chạy theo kinh tế tư bản, thì giờ này họ vẫn chỉ loay hoay trong cái thị trường nhỏ hẹp và nghèo nàn của khối Cộng Sản mà thôi, chứ làm gì cường thịnh như bây giờ! 

Cũng giống như Việt Nam. Giả như Việt Nam không bỏ kinh tế Cộng Sản để chuyển sang tư bản thì giờ này cũng vẫn đói như Bắc Hàn mà thôi! Thành ra cái hướng đi của lịch sử nhiều khi người ta không đoán trước được!

LDV: Là một người đọc nhiều với gia tài tủ sách đồ sộ, tác phẩm nào là cuốn ông luôn muốn đọc đi đọc lại?

NNN: Hồi mới lớn, tôi đọc bộ “Tam Quốc Chí” khoảng 20 lần, gần như thuộc lòng. Cuốn này cho tôi một bài học khi viết văn là, trong tiểu thuyết, khi có nhiều nhân vật, thì mỗi nhân vật phải có một cá tính riêng. 

Tôi cũng đọc cả chục lần bộ “Xóm Cầu Mới” của Nhất Linh. Cuốn này minh chứng lời chỉ dẫn của Nhất Linh trong “Viết Và Đọc Tiểu Thuyết.” Ông cho tôi lời dạy quan trọng là: Viết tiểu thuyết, nội dung dĩ nhiên là quan trọng. Nhưng việc chọn chi tiết để diễn tả còn quan trọng hơn! Bởi vậy truyện của tôi lúc nào cũng nhiều chi tiết. 

Hơn 25 năm qua, đi máy bay nhiều, tôi thường cầm theo cuốn “Hoàng Lê Nhất Thống Chí”. Bà xã tôi ngạc nhiên hỏi: Sao lần nào cũng đọc cuốn này? Tại tôi thích lịch sử tiểu thuyết. Cũng có khi tôi mang theo một cuốn sử của những tác giả khả tín như Vũ Ngự Chiêu, Cao Thế Dung hoặc Trần Gia Phụng.

LDV: Giả dụ, Nguyễn Ngọc Ngạn… làm thơ, thì bài thơ đó sẽ mang phong cách nào, về đề tài nào?

NNN: Tôi không thể làm thơ được. Nếu cố gắng nó sẽ ra một bài vè, chứ không có chất thơ. Mai Thảo là một nhà văn, nhưng lối viết của ông cô đọng, chữ nghĩa chọn lọc, cho nên độc giả đã thấy phảng phất chất thơ trong từng câu văn xuôi của ông. Quả nhiên cuối đời ông cho ra tập thơ “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” thật đặc sắc. Còn tôi, văn phong hiện thực, khai thác nhiều chi tiết tỉ mỉ, đầu óc tôi thực tế, không có tí lãng mạn nào thì tự căn bản đã thiếu yếu tố để làm thơ rồi!

LDV: Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta phải thỏa hiệp do nhiều yếu tố: tài chánh, gia đình… Ông có phải làm những điều đó không, và giải quyết dằn vặt nội tâm như thế nào khi đứng trước những quyết định ấy?

NNN: Lá số Tử Vi của tôi ghi rõ là tôi không thể giàu được nhưng có cuộc sống phong lưu, nghĩa là không chắt chiu, dành dụm. Bản tính trời sinh như thế nên tôi không bận tâm lắm đến tiền dù ai cũng cần tiền cho cuộc sống. Tôi khước từ nhiều lời mời trình diễn, nhiều hợp đồng quảng cáo mà tôi nghĩ người khác sẽ không dám bỏ. Thí dụ hãng rượu Remy Martin đến tận nhà gặp tôi, offer hợp đồng hằng năm rất lớn chỉ để chụp hình tôi cầm chai XO. Nhưng tôi không nhận lời vì tôi nghĩ mình là hình ảnh ông thầy giáo, không nên xúi người ta uống rượu!

Rất may cho tôi là việc từ chối show hoặc từ chối hợp đồng quảng cáo thường do bà xã tôi đề nghị. Chẳng hạn mấy năm liền, người ta mời tôi về diễn ở các nước Á châu, hoặc đi Cruise trên tàu, bà xã tôi đều bảo không nên đi. Bởi vậy giữa nghề nghiệp và gia đình, tôi không hề bị giằng co hay bất đồng. Tôi biết có nhiều người khổ về vấn đề này. Vợ làm manager cho chồng, lúc nào cũng tìm show cho chồng để kiếm thêm tiền. Ông chồng dù không thích vẫn phải ngậm ngùi ra đi!

LDV: Ông từng đề cập đến vấn đề văn hóa Việt Nam chúng ta đề cao quá mức sự khiêm tốn, và sự khiêm tốn bị đè nén cực độ dễ đưa đến cảm giác hằn học, ẩn ức, và dẫn đến tình trạng “bằng mặt nhưng không bằng lòng.” Làm sao có thể thay đổi điều này, bởi đoàn kết là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh cộng đồng, nhất là cộng đồng tha hương như chúng ta?

NNN: Văn hóa không thể thay đổi một sớm một chiều được. Tôi sang Nhật, rồi nhìn về Việt Nam, thấy buồn hiu hắt. Tự ái dân tộc là căn tính của người Nhật. Tự ái cá nhân là căn tính của người Việt. Tự ái dân tộc mạnh thì không làm điều gì để dân tộc mình bị mang tiếng. Tự ái cá nhân mạnh thì chỉ nghĩ đến bản thân, làm bất cứ cái gì có lợi cho mình. Nghĩa là yêu mình hơn yêu nước, do đó mới nảy sinh tham nhũng, trộm cắp công khai từ trên xuống dưới. Người Việt sang lao động bên Nhật bị ghi nhận hơn 2400 vụ ăn cắp trong một năm! Bảng cảnh cáo bằng tiếng Việt treo khắp nơi! Khi tôi xưng mình là người Việt, thấy cũng ngượng! 

Ai cũng có lòng yêu nước, bởi đó là bản năng. Nhưng nếu yêu mình hơn yêu nước thì là điều bất hạnh bởi không thể đưa đất nước tiến lên được. 

Cô nói đến nhu cầu “đoàn kết” của cộng đồng là nói đến một chuyện hoang đường bởi người Việt không thể đoàn kết được. Tôi hay nói nửa đùa nửa thật rằng: Bà Âu Cơ không sinh một đứa con mà sinh ra 100 đứa. Nuôi không nổi thì chúng nó phải đánh nhau! Dòng Bách Việt ngự trị hàng ngàn năm trên lãnh thổ Trung Hoa, kiến tạo nền văn minh cho Trung Hoa suốt từ thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu). Thế mà rồi không đoàn kết để bị đánh tan tành. Sử Tàu viết: “ Nước Việt có thời làm bá chủ chư hầu, mạnh nhất Trung Hoa. Nhưng sau khi bị nước Sở đánh tan, con cháu vua Việt sống tản mác ở vùng Thiên Thai, không đoàn kết được nữa, ai cũng tự xưng là “quân trưởng” (tiểu vương), cho đến khi Tần Thủy Hoàng chiến thắng thì tất cả ra đầu hàng”.

Tôi có cái nhìn thực tế: Đừng kêu gọi đoàn kết. Cái đó là đòi hỏi quá đáng. Chỉ kêu gọi đừng hãm hại nhau là tốt rồi!

LDV: Năm 2017 đã trôi qua với nhiều biến cố trên thế giới: Trump trở thành tổng thống nước Mỹ một cách ngoạn mục, Bắc Hàn với mối đe dọa vũ khí hạt nhân, vấn đề kiểm soát vũ khí và vấn nạn sách nhiễu t d lại trở thành tâm điểm, nhiều trận khủng bố cũng như thiên tai toàn cầu đã xảy ra, v.v. Ông có thể thử dự đoán năm 2018 sẽ ra sao với thông tin và tình hình hiện tại? Ông mong muốn những gì cho mình, cho người, cho dân tộc trong năm mới?

NNN: Vấn đề thế giới hiện nay thì nóng bỏng nhất là Bắc Hàn. Theo tôi thì chiến tranh sẽ không xảy ra bởi vị trí địa lý của Triều Tiên dính liền với Nam Hàn như hai miền của Việt Nam và Đức trước đây. Giả như Triều Tiên nằm biệt lập thì có thể Liên Hiệp Quốc và Mỹ đã trừng phạt rồi. Nhưng Nam Hàn và Bắc Hàn chung biên giới, đụng đến Bắc Hàn thì chắc chắn Nam Hàn sẽ lãnh hậu quả nặng nề. Tôi qua Hàn Quốc hai lần, ra khu phi quân sự, đứng ở cầu biên giới nhìn sang Bắc Hàn và hình dung ra bao nhiêu khẩu đại bác hoặc hỏa tiễn từ Bắc Hàn vẫn đang hướng về Nam Hàn để chờ dịp tiêu huỷ Seoul! 

Chuyện Việt Nam là nỗi đau nhức nhối của bất cứ người Việt nào ở hải ngoại bởi nó hoàn toàn không có lối thoát. Cách đây khoảng 5 năm, ở Đại Hội Thánh Mẫu Missouri, đài Tiếng Nước Tôi phỏng vấn tôi về chuyện đất nước. Tôi nói: “Việt Nam hiện đang phải đương đầu với một cuộc xâm lăng mà không có chiến tranh. Xâm lăng có chiến tranh thì còn có cách giải quyết. Xâm lăng không chiến tranh thì thế giới không can thiệp được và Việt Nam sẽ mất từ từ bằng thủ đoạn kinh tế và sức ép quân sự kín đáo của kẻ mạnh.”

Tôi năm nay đã 73, không còn phải bận tâm gì về tương lai nữa. Khổng Tử nói: “Ngũ thập tri thiên mệnh. Lục thập ngôn bất nghịch nhĩ.” Năm mươi tuổi biết mệnh trời an bài cho mình thế nào rồi. Sáu mươi tuổi thì ai nói gì nghe cũng xuôi tai, không muốn tranh cãi nữa. Tôi cầu mong sự bình an trong cuộc sống và trên tất cả, cầu mong đất nước Việt Nam vươn lên theo đà tiến triển chung của các quốc gia văn minh trên thế giới. Chỉ tự hào về chiến thắng quân sự mà không chiến thắng nổi nghèo đói, lạc hậu, tham ô, thì cái chết của cả triệu người Việt Nam trong chiến tranh đều là vô nghĩa!

LDV: Suốt buổi trò chuyện, ông đã trả lời không do dự với nhiều chia sẻ rất thẳng thắn, chẳng vòng vo. Ông có ngại rằng những lời phát biểu thật lòng này sẽ có thể gây ít nhiều phiền phức cho ông không?

NNN: Cảm ơn cô đã bận tâm đến điều này. Tuy nhiên, tôi thường nói: Hồi ký bao giờ cũng nhằm truyền đạt một kinh nghiệm sống. Có thể là một kinh nghiệm thành công, cũng có thể là một kinh nghiệm thất bại. Nhưng muốn chia sẻ kinh nghiệm thì mấu chốt của hồi ký phải là nói thật! 

Tại Mỹ, hồi ký của các chính khách, của những doanh nhân thành đạt, của các diễn viên tài tử, thường là sách bestseller bởi độc giả hy vọng có thể học được một điều gì từ những nhân vật tiếng tăm đó. Như vậy thì cốt lõi của hồi ký, như tôi vừa nói, là phải viết thật! 

Trả lời phỏng vấn cũng thế, cũng là một phần của hồi ký. Tôi không nói thật những suy nghĩ của mình thì tôi chỉ làm mất thì giờ của độc giả mà thôi! 

Hai nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1960 là Trung tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Tôi đọc 2 cuốn hồi ký: Việt Nam Một Trời Tâm Sự của Nguyễn Chánh Thi và Binh Biến 11.11.60 của Vương Văn Đông, kể về cùng một biến cố đó, nhưng hoàn toàn khác nhau! Nghĩa là trong hai người, phải có một người không nói thật hoặc cả hai cùng không nói thật! 

Như vậy thì 2 cuốn hồi ký ấy giúp gì được cho thế hệ mai sau, giúp gì được cho nguồn sử liệu! 

Trong nước luôn luôn có những người thật can đảm, trước họng súng, trước những đe dọa và tù đày, vẫn dám lên tiếng nói thật. Không lẽ sống ở Canada, một quốc gia tự do mẫu mực vào bậc nhất thế giới, mình lại không dám nói ra những điều mình nghĩ! Thế thì ta về sống ở Việt Nam còn hơn!

Cảm ơn Lưu Diệu Vân đã bỏ thì giờ nói chuyện với tôi.

Blog Archive