Showing posts with label Bùi Bảo Trúc. Show all posts
Showing posts with label Bùi Bảo Trúc. Show all posts

Monday, November 21, 2022

Đổi đời

Nhìn thấy những bức hình của cô một lần là không ai có thể quên được cô. Đó là những bức ảnh chụp năm 2008 khi cô được đưa sang Mỹ để các y sĩ cắt bỏ cái bướu nặng khoảng 7 kg chiếm hết 2/3 khuôn mặt của cô.

Đào Thị Lài sinh năm 1993 , là con thứ 6 trong số 7 anh chị em thuộc một gia đình nông dân nghèo ở Huế. Năm 3 tuổi, lưỡi cô xuất hiện một cục u nhỏ, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, cục u đó lớn rất nhanh và đến năm 15 tuổi thì cục u đó đã lấn gần hết khuôn mặt của cô làm cho việc ăn uống, nói năng cô đều gần như không làm được. Gia đình cô đã cố gắng rất nhiều nhưng mọi nỗ lực đều không giúp được gì. Tài chính kiệt quệ và các bệnh viện trong nước đều bó tay. Nếu để nguyên, Lài chắc chắn sẽ không sống được bao nhiêu lâu nữa.

Tình trạng sức khỏe của cô được một tổ chức ở Mỹ, tổ chức International Kids Fund chuyên giúp các trẻ em bất hạnh ở các quốc gia nghèo biết đến và đưa sang bệnh viện Jackson Memorial ở Miami để được các y sĩ ở đây giải phẫu.

Trước đó, mẹ cô kể Lài không còn muốn sống nữa, chỉ muốn chết cho khỏe thân. Lời nói đó từ một thiếu nữ 15 tuổi nghe thật vô cùng bi thảm. Tuổi thơ của Lài gần như không có. Lài không dám đi ra ngoài, không đi học, không có một ngày vui.

Thượng đế nhiều khi cũng có lúc quá độc ác là vậy.

Ngày 29 tháng 4 năm 2008, các y sĩ thuộc bệnh viện Jackson Memorial, sau một ca mổ kéo dài 14 tiếng đồng hồ, đã cắt bỏ được hết khối u đó, và khi tỉnh dậy, Lài đã nói được câu cám ơn bằng tiếng Anh với các y sĩ và y tá thực hiện cuộc giải phẫu.

Lài sau đó đã trở về Việt Nam với gia đình.
Từ đó, tôi không nghe thêm được tin tức gì về cô. Bây giờ Lài phải 20 tuổi. Tôi không biết cô đã lành lặn trở lại chưa? Khuôn mặt cô như thế nào? Cô còn đau đớn, khốn khổ vì khuôn mặt biến dạng dị hình đó nữa không?

Tôi không biết trước khi khối u đó xuất hiện trên mặt cô, thì Lài trông như thế nào? Năm 3 tuổi, trước khi cục u xuất hiện, chắc cô phải là một đứa bé "cute" lắm. Đôi mắt của cô làm tôi nghĩ như thế. Bức ảnh chụp khi mới tới Mỹ, cô đưa tay chào những người ra đón cô làm tôi tin vậy mặc dù khối u quá lớn như đã làm hỏng hoàn tòan khuôn mặt của cô. Cô về nhà ở thôn An Lưu, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, Thừa Thiên từ đó. Đời sống của cô sau đó ra sao?
Tuần qua, tôi được xem hai bức ảnh mới của cô. Không còn thấy dấu tích của khối u từng làm khổ cô nữa. Trông cô trẻ hơn tuổi 20 của cô. Đôi lông mày không cần phải xâm. Cái mũi thanh tú không cần phải sửa. Đôi môi quả tim không cần phải bơm. Phải nói những bức ảnh mới cho thấy cô là một thiếu nữ xinh xắn. Cô đã đi học được mấy năm, và nay đã có nghề may và làm nón lá. Cô định sang năm sẽ mở một tiệm may để giúp đỡ gia đình. Và cô đã có một người bạn trai .

Những bức ảnh chụp năm 2008 làm người xem buồn cho cô bao nhiêu thì những bức ảnh mới nhất đã làm cho người ta mừng cho cô bấy nhiêu.

Và nếu có một người nào xứng đáng để cảm thấy mình hạnh phúc trên đời này sau những bất hạnh tai ương đổ xuống đầu thì tôi nghĩ người ấy phải là Đào Thị Lài.

Hội IKF và các y sĩ ở Miami là những người xứng đáng để nhận những lời cám ơn chân thành nhất. Và không ai là không mừng cho Lài, người thiếu nữ đã qua 12 năm khốn khổ, đau đớn nhất của đời sống.

Đời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời.

Mừng có thể khóc được. Lâu lắm mới có được một cái tin vui như thế.

Bùi Bảo Trúc


Wednesday, January 15, 2020

Một lời xin lỗi chân thành

Bùi Bảo Trúc 
Nói theo một lối nói của người Mỹ mà nay nhiều người chúng ta đã rất quen, là tôi nợ những bản nhạc mà chúng ta thường gọi là “nhạc lính” một lời xin lỗi. Một lời xin lỗi thật lớn, thật chân tình nhất và thành thật nhất.

Xin lỗi những bản nhạc lính, những người trình diễn chúng, những người yêu chúng, không chỉ một, mà một ngàn lời xin lỗi. Một vạn lời xin lỗi. Mà vẫn thấy chưa đủ.

Một buổi tối tuần trước, ngồi với Phan Nhật Nam, chúng tôi nhận ra một điều là cuộc chiến Việt Nam bi thảm và vô cùng tàn bạo lại để lại cho chúng ta, những người ở miền Nam, một kho tàng hết sức quí báu, đó là những bản nhạc viết về những người lính trong chiến tranh, và tuy ngày nay, cuộc chiến đã kết thúc, những bài hát ấy vẫn còn ở lại với chúng ta và chúng vẫn còn tạo ra biết bao nhiêu là cảm động, biết bao nhiêu xao xuyến, và vẫn còn được hát lên để nhớ lại nguyên một thời binh đao tưởng như cung kiếm đã xếp lại, bụi dầy đã phủ kín. Bức tượng người lính dáng điệu mệt mỏi ở lối vào nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị kéo sập không biết nay ở đâu nhưng những bài hát viết cho những người lính này vẫn còn ở mãi với chúng ta.

Những bài hát đầu tiên về những người lính ấy mơ hồ tôi nghe từ chiếc radio trên căn gác ở Hà Nội của người chú…bài Chiến Sĩ Của Lòng Em với những câu: …khi nước nhà phút ngả nghiêng em mơ người trai anh dũng mang thân thế hiến giang sơn chí quật cường hiên ngang … chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em trong khi vang ca say theo chiến thắng…

Vài tháng sau chú tôi tử trận.

Vào Sài Gòn, khoảng năm 1957, tôi nghe bài Em Gắng Chờ của Huỳnh Anh và yêu ngay những câu này: …vai súng hiên ngang hẹn cùng người cũ…trong bóng vinh quang rộn ràng anh bước hiên ngang về làng trời Nam hân hoan reo vang thanh bình ca… tôi yêu bài hát ấy vì một cô bạn hàng xóm, tưởng tượng cô là người đứng trên bến sông…

Nhưng đó mới chỉ là những bài hát về lính còn quá hiền lành, khi cuộc chiến chỉ mới bắt đầu…Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới gốc dừa nắng chiều lên ái tóc, tình quê hương đơn sơ… anh chiến binh tiền tuyến ơi về giải phóng quê hương… Một thời gian sau, vài ba người bạn trong lớp bỏ học lên đường nhập ngũ… bạn ơi, mai này ai hỏi đến tên tôi, thì xin hãy đáp khoác chiến y rồi… người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền… Lời ca lãng mạn, hơi bầy đặt, rẻ tiền nhưng tội nghiệp vô cùng. Tôi nhớ một tối lén đi uống bia với người bạn tiễn chàng đi lính. Bài hát ấy được hát lên bởi một người bạn bên những chai bia đầu tiên. Nội trong năm ấy, cả hai đều chết trận.

Hai năm sau, tôi đi học xa, mấy năm sau mới về. Tôi không nghe những bài hát ấy nữa. Tôi nghe Beatles, Rock, nhạc cổ điển Tây phương, nhạc đồng quê, nhạc dân ca Mỹ, nhạc phản chiến… Ở Việt Nam, cuộc chiến đang trở nên khốc liệt hơn. Những bản nhạc tôi nghe trong những năm xa nhà là thứ nhạc hoàn toàn khác. Bob Dylan, Joan Baez, Peter Paul & Mary, Pete Seeger… cũng nói về chiến tranh đấy, nhưng trở lại Sài Gòn tôi mới lại được nghe những bản nhạc lính mà tôi đã bỏ quên đi trong suốt những năm xa nhà. Thư nhà cho biết dăm ba người bạn cùng lớp đã vinh thăng thiếu uý…

Sáng nay vừa thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường… trong vườn tôi vô tình hoa tường vi vẫn nở thêm một đoá…Nếu em không là người yêu của lính… tên thật la em các bin, họ hàng em có trăm nghìn… từ ngay tôi lên cai việc làm tôi rất nhiều, binh ngoan cho nốt tốt, lười cho coóc vê…đi quân dịch là thương nòi giống…hãy nhớ tới anh luôn luôn, yêu em vì lòng chờ mong…anh đi chiến dịch… lòng súng nhân đạo cứu người lầm than…anh là lính đa tình…phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên…

Trở lại Sài Gòn, những buổi chiều trong quán nước mở trang báo ra đọc thấy tên bạn bè mấy người trên trang cáo phó chết trận cao nguyên.

viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu… đừng trước ngõ cũ nghe giặc tràn qua thôn xóm… thăm em dăm ba ngày rồi anh đi… xuyên lá cành trăng lên lều vải… chiều mưa biên giới anh đi về đâu…anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương…quì hôn đất thân yêu, Quảng Trị ơi mừng quê hương giải phóng

Nhạc Việt đã đổi khác…em ngại ngùng dạo phố … bên người yêu tật nguyền … anh trở về trên đôi nạng gỗ… bại tướng cụt chân…

Những bài hát như thế phải có cả trăm bài cho đến nay vẫn còn được hát lên. Hát để nhớ lại những bất hạnh của một thời tuổi trẻ. Những chuyện đáng lẽ phải quên đi. Nhưng những chuyện đó cũng lại là một phần của đời sống chúng ta.

Chúng ta phải cám ơn những bài hát ấy mặc dù chúng bi thảm, đau đớn. Chúng vẫn nhắc chúng ta về những thương tích không bao giờ lành trên cơ thể của mỗi người.

Trong khi những người lính miền Bắc không có được những bài ca như thế. Chỉ là những bài ca đặt hàng, ngợi ca lãnh tụ hay những tiếng chầy trên sóc Bom Bo cum cụp cum …tìm diệt Mỹ giải phòng cho dân mình…bóng cây kơnia, tiếng đàn ta lư…

Họ không có được những ca khúc nên hồn để còn hát lên được cho mãi tận này hôm nay. Trong khi những mất mát của họ không hề nhỏ. Nhưng ngày nay, còn đươc mấy người hát những bài hát ấy. Và nếu hát chúng lên thì có được bao nhiêu người xúc động?

Cám ơn những bài nhạc lính. Xin lỗi những bài nhạc lính, những bài nhạc có một thời mà không ít người trong chúng ta đã coi thường nó, cũng có thể đã khinh bỉ nó, coi nó là quê mùa, sến…trong khi chúng hay biết là chừng nào. Nửa trên vĩ tuyến 17 không có được một nền nhạc như thế.

Tôi thành thật xin lỗi những bài nhạc lính, xin lỗi các tác gỉả, những người hát chúng một trăm ngàn lần.

Mà vẫn thấy chưa đủ. 

Bùi Bảo Trúc 

Wednesday, September 5, 2018

Một lời xin lỗi chân thành

Bùi Bảo Trúc 

Nói theo một lối nói của người Mỹ mà nay nhiều người chúng ta đã rất quen, là tôi nợ những bản nhạc mà chúng ta thường gọi là "nhạc lính" một lời xin lỗi. Một lời xin lỗi thật lớn, thật chân tình nhất và thành thật nhất.

Xin lỗi những bản nhạc lính, những người trình diễn chúng, những người yêu chúng, không chỉ một, mà một ngàn lời xin lỗi. Một vạn lời xin lỗi. Mà vẫn thấy chưa đủ.

Một buổi tối tuần trước, ngồi với Phan Nhật Nam, chúng tôi nhận ra một điều là cuộc chiến Việt Nam bi thảm và vô cùng tàn bạo nhưng đã để lại cho chúng ta, những người ở miền Nam, một kho tàng hết sức quí báu, đó là những bản nhạc viết về những người lính trong chiến tranh, và tuy ngày nay, cuộc chiến đã kết thúc, những bài hát ấy vẫn còn ở lại với chúng ta và chúng vẫn còn tạo ra biết bao nhiêu là cảm động, biết bao nhiêu xao xuyến, và vẫn còn được hát lên để nhớ lại nguyên một thời binh đao tưởng như cung kiếm đã xếp lại, bụi dầy đã phủ kín. Bức tượng người lính dáng điệu mệt mỏi ở lối vào Nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị kéo sập không biết nay ở đâu nhưng những bài hát viết cho những người lính này vẫn còn ở mãi với chúng ta.

Những bài hát đầu tiên về những người lính ấy mơ hồ tôi nghe từ chiếc radio trên căn gác ở Hà Nội của người chú... Bài Chiến sĩ của lòng em với những câu "... khi nước nhà phút ngã nghiêng em mơ người trai anh dũng mang thân thế hiến giang sơn chí quật cường hiên ngang... chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em trong khi vang ca say theo chiến thắng..."

Vài tháng sau chú tôi tử trận.

Vào Sài Gòn, khoảng năm 1957, tôi nghe bài Em gắng chờ của Huỳnh Anh và yêu ngay những câu này: "... vai súng hiên ngang hẹn cùng người cũ... trong bóng vinh quang rộn ràng anh bước hiên ngang về làng trời Nam hân hoan reo vang thanh bình ca..." Tôi yêu bài hát ấy vì một cô bạn hàng xóm, tưởng tượng cô là người đứng trên bến sông...

Nhưng đó mới chỉ là những bài hát về lính còn quá hiền lành, khi cuộc chiến chỉ mới bắt đầu... Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới gốc dừa nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ... anh chiến binh tiền tuyến ơi về giải phóng quê hương...
 
Một thời gian sau, vài ba người bạn trong lớp bỏ học lên đường nhập ngũ... bạn ơi, mai này ai hỏi đến tên tôi, thì xin hãy đáp khoác chiến y rồi... người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền... Lời ca lãng mạn, hơi bầy đặt, rẻ tiền nhưng tội nghiệp vô cùng. Tôi nhớ một tối lén đi uống bia với người bạn tiễn chàng đi lính. Bài hát ấy được hát lên bởi một người bạn bên những chai bia đầu tiên. Nội trong năm ấy, cả hai đều chết trận.

Hai năm sau, tôi đi học xa, mấy năm sau mới về. Tôi không nghe những bài hát ấy nữa. Tôi nghe Beatles, rock, nhạc cổ điển Tây phương, nhạc đồng quê, nhạc dân ca Mỹ, nhạc phản chiến... Ở Việt Nam, cuộc chiến đang trở nên khốc liệt hơn. Những bản nhạc tôi nghe trong những năm xa nhà là thứ nhạc hoàn toàn khác. Bob Dylan, Joan Baez, Peter Paul & Mary, Pete Seeger... cũng nói về chiến tranh đấy, nhưng trở lại Sài Gòn tôi mới lại được nghe những bản nhạc lính mà tôi đã bỏ quên đi trong suốt những năm xa nhà. Thư nhà cho biết dăm ba người bạn cùng lớp đã truy thăng thiếu úy...

Sáng nay vừa thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường... trong vườn tôi vô tình hoa tường vi vẫn nở thêm một đóa... Nếu em không là người yêu của lính... tên thật là em các bin, họ hàng em có trăm nghìn... từ ngày tôi lên cai việc làm tôi rất nhiều, binh ngoan cho nốt tốt, lười cho coóc vê... đi quân dịch là thương nòi giống... hãy nhớ tới anh luôn luôn, yêu em vì lòng chờ mong... anh đi chiến dịch... lòng súng nhân đạo cứu người lầm than... anh là lính đa tình... phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên...

Trở lại Sài Gòn, những buổi chiều trong quán nước mở trang báo ra đọc thấy tên bạn bè mấy người trên trang cáo phó chết trận cao nguyên.

... viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu... đừng trước ngõ cũ nghe giặc tràn qua thôn xóm... thăm em dăm ba ngày rồi anh đi... xuyên lá cành trăng lên lều vải... chiều mưa biên giới anh đi về đâu... anh không chết đâu anh, người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương... quỳ hôn đất thân yêu, Quảng Trị ơi mừng quê hương giải phóng... 
 
Nhạc Việt đã đổi khác... em ngại ngùng dạo phố... bên người yêu tật nguyền... anh trở về trên đôi nạng gỗ... bại tướng cụt chân...

Những bài hát như thế phải có cả trăm bài cho đến nay vẫn còn được hát lên. Hát để nhớ lại những bất hạnh của một thời tuổi trẻ. Những chuyện đáng lẽ phải quên đi. Nhưng những chuyện đó cũng lại là một phần của đời sống chúng ta.

Chúng ta phải cám ơn những bài hát ấy mặc dù chúng bi thảm, đau đớn. Chúng vẫn nhắc chúng ta về những thương tích không bao giờ lành trên cơ thể của mỗi người.
 
Trong khi những người lính miền Bắc không có được những bài ca như thế. Chỉ là những bài ca đặt hàng, ngợi ca lãnh tụ hay những tiếng chầy trên sóc Bom Bo cum cụp cum... tìm diệt Mỹ giải phòng cho dân mình... bóng cây kơ nia, tiếng đàn ta lư...

Họ không có được những ca khúc nên hồn để còn hát lên được cho mãi tận này hôm nay. Trong khi những mất mát của họ không hề nhỏ. Nhưng ngày nay, còn đươc mấy người hát những bài hát ấy. Và nếu hát chúng lên thì có được bao nhiêu người xúc động?

Cám ơn những bài nhạc lính. Xin lỗi những bài nhạc lính, những bài nhạc có một thời mà không ít người trong chúng ta đã coi thường nó, cũng có thể đã khinh bỉ nó, coi nó là quê mùa, sến... trong khi chúng hay biết là chừng nào. Nửa trên vĩ tuyến 17 không có được một nền nhạc như thế.

Tôi thành thật xin lỗi những bài nhạc lính, xin lỗi các tác gỉả, những người hát chúng, một trăm ngàn lần. 

Mà vẫn thấy chưa đủ. 

Bùi Bảo Trúc

Thursday, January 12, 2017

Mẹ kiếp : Đứa nào bán nước?

Bùi Bảo Trúc

Thư gởi bạn ta,

Đứa nào bán nước? Đoạn video xem được trong internet về chuyến đi mới đây của một nhóm người đến đảo Song Tử Tây, một hải đảo thuộc quần đảo Trường Sa, cho thấy cảnh một sĩ quan hải quân Cộng Sản Việt Nam đứng giải thích cho những người trong chuyến đi về một cột mốc bằng xi măng dựng trên đảo.

Bằng giọng Bắc đặc sệt, người quân nhân này vừa chỉ vào tấm bia xi măng vừa nói rằng cột mốc là một bằng cớ quan trọng có thể dùng để trưng ra làm bằng cớ về chủ quyền của Việt Nam trên đảo. Anh ta chỉ vào tấm bia có từ ngày 22 tháng 8 năm 1956 do hải quân Việt Nam Cộng Hòa dựng lên nhân một chuyến đi thị sát nghiên cứu và thăm đảo. Tấm bia ghi rõ quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Hòa. Anh ta nói rằng tấm bia rất quan trọng vì nó chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên đảo. Anh ta nói thêm đó là bằng chứng lịch sử xác thực do hải quân của “chế độ cũ”, tức là chế độ Ngô Đ́nh Diệm dựng lên. Kế đó, anh nói thêm đó là tấm bia ghi rõ Việt Nam Cộng Ḥòa chứ không phải Cộng Ḥòa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Rồi anh chỉ vào một chi tiết khác của tấm bia và nói đó là biểu tượng của “ngụy quân Sài G̣òn và chính phủ Ngô Đình Diệm.”

Mẹ kiếp, các con muốn dùng những thứ ấy trong những tranh chấp về lãnh thổ với Bắc Kinh thì trước hết, các con phải thay đổi ngay cái lối ăn nói mất dạy, vô giáo dục của các con. Tiếp tục gọi chính phủ ở miền nam vĩ tuyến thứ 17 là “ngụy quyền” thì các tài liệu, lập luận của các con liên quan đến Trường Sa và Hoàng Sa sẽ không có giá trị gì hết.

Các con coi Việt Nam Cộng Hòa là “ngụy quyền”, là “chính quyền lập ra để chống lại chính quyền hợp pháp của nhân dân chống xâm lược”. Các con coi chỉ có các con mới là chính quyền hợp pháp (tức là chính phủ Việt Nam Cộng Ḥòa của cả hai nền cộng hòa ở nam vĩ tuyến 17 là bất hợp pháp) thì tại sao các con lại lôi các tài liệu bằng chứng lịch sử của chính quyền “ngụy” ra để chống lại lập luận xâm lược của Tầu Đỏ bây giờ?

Các con phải bỏ ngay cái lối ăn nói mất dạy, vô giáo dục của cả nhà các con mỗi khi nói về các chính phủ ở nam vĩ tuyến 17 trước năm 1975, thì mới có thể trưng ra những bằng cớ hợp pháp về chủ quyền của Việt Nam tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Làm như thế mới có được sức mạnh đoàn kết của toàn dân mà các con rất cần vào lúc này. Phải công khai nhìn nhận các nỗ lực và hy sinh của người dân và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đối với toàn vùng lảnh thổ của đất nước.

Ngày nào mà các con không chịu công nhận và ghi ơn những hy sinh của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa ở Hoàng Sa trong trận hải chiến kéo dài từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, và tiếp tục cái lối ăn nói mất dạy gọi Việt Nam Cộng Hòa là “ngụy”, thì ngày đó các con sẽ vẫn chỉ là một bọn phản quốc, sẵn sàng cắt đất, dâng đảo ngoài khơi và sẵn sàng ăn cứt cho bọn Tầu Cộng.

Nên nhớ tấm bia của quân đội Việt Nam Cộng Hòa dựng lên ngày 22 tháng 8 năm 1965 không có nghĩa là chỉ từ ngày đó trở đi, chủ quyền của Việt Nam mới có trên đảo, mà còn cả trước đó nữa. Bắc Kinh không hề có bất cứ một chứng cớ nào có thể đưa ra về chủ quyền của chúng trên các đảo này.

Nhưng cái này khó hơn cho các con trong những tranh cãi về lãnh thổ với Bắc kinh. Tấm bia của Việt Nam Cộng Hòa dựng lên ngày 22 tháng 8 năm 1956, thì ngày 14 tháng 9 năm 1958, tức là sau ngày dựng tấm bia hai năm, thì thủ tướng của các con gửi cha nó một công hàm cho Chu Ân Lai nói rằng nhà nước của các con “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 58 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc”.

Cũng trong bức công hàm ô nhục đó, Phạm Văn Đồng còn viết thêm là sẽ “chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng quyết định của Bắc Kinh trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể”.

Rành rành ra như thế rồi thì làm thế nào các con vô hiệu hóa được cái công hàm khốn nạn đó. Chính thủ tướng của các con đã ngu xuẩn và nhanh nhảu viết bức công hàm đó chỉ 10 ngày sau khi Bắc kinh tuyên bố láo lếu về chủ quyền của bọn chúng, và tình nguyện nhìn nhận, tôn trọng quyết định ngang ngược xâm lăng của bọn Tầu.

Đến nay, các con mới quýnh quáng không biết ăn làm sao, nói làm sao vì cái miệng mắc bố nó cái quai công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng. Trong khi đó, sau 38 năm các con vẫn chưa dám nói về trận hải chiến ở Hoàng Sa và các hy sinh của hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Các con vẫn không dám gọi thẳng bọn Tầu khốn nạn là bọn xâm lược thì các con chống Tầu thế chó nào được, và các con vẫn tiếp tục đàn áp những tiếng nói yêu nước khi người dân Việt lên tiếng về việc lãnh thổ của cha ông bị bọn chó Bắc kinh xâm chiếm thì các con sẽ không bao giờ có được hậu thuẫn và ủng hộ rất cần của toàn dân để chống lại Trung quốc.

Mẹ kiếp bây giờ đã thấy rõ đứa khốn nạn chó dại nào bán nước cầu vinh chưa?

Tuesday, January 3, 2017


Biết tôi là ai không?

Bùi Bảo Trúc
(Thư gửi Bạn ta)

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.

Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sàigon, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”

Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.

Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.

Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ. Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.

Mấy tháng trước, trong chuyến về lại Los Angeles, California , tôi phải ghé lại Newark, New Jersey để đổi máy bay. Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra.

Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy.

Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông.

Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần : “Cô biết tôi là ai không ?” (Do you know who I am ?).

Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.

Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa. Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười.

Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu : “Đ.M. mày” (F..k you) .

Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này : “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”. (Thưa ông, chuyện đó, chuyện ông đòi giao hợp với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.)

Chao ôi, hay biết là chừng nào ! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.

Bây giờ, nếu người đàn ông ngày xưa ở Saigon hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.

Friday, December 23, 2016

TÔI GHÉT TÔI


Một người bạn Mỹ cuả tôi vưà có đại tang. Ông cụ thân sinh bạn tôi đã ngoài 80 tuổi, sống một mình ở Charleston, tính tình rất độc lập như những nhân vật miền Nam trong các tiểu thuyết cuả William Faulkner,

John Steinbeck ....Người bạn Mỹ là một chuyên viên tài chính cho một công ty thương mại lớn ở Hoa Thịnh Đốn. Công việc làm anh ta bù đầu, mỗi tuần chỉ ở Hoa Thịnh Đốn có hai ngày. Những ngày còn lại, anh ta ở Nữu Ước, nơi có actions, như bạn tôi vẫn nói. Đại lộ số 5, đại lộ Madison thị trường chứng khoán.....Những thứ đó làm bạn tôi không lúc nào ngơi tay, rảnh trí để nhớ đến ông bố sống một mình ở Charleston.

Bạn tôi thực ra, vẫn hay nói đến ông cụ, trên bàn giấy làm việc có cả một bức hình cuả ông cụ, điều rất hiếm thấy nơi những người Mỹ, hình ảnh thường chỉ là vợ, con hay bạn gái....Cụ đội mũ Panama, hút xì gà, sơ mi sọc, quần mở gà, nơ đỏ, hai sợi dây đeo rất đỏm dáng. Trong hình, cụ cười hể hả như Theodore Roosevelt vưà hạ được một con sư tử ở Phi Châu. Cụ bà qua đời hơn hai chục năm trước. Cụ ông sống một mình vì bạn tôi đã lớn và công việc đưa anh càng ngày càng xa Charleston.

Thình lình, cụ bị đột qụy, lúc đang làm vườn và ra đi nhanh chóng. Bạn tôi cuống cuồng bay từ Nữu Ước xuống Charleston, nhưng không kịp. Tang lễ xong, bạn tôi trở về Hoa Thịnh Đốn, rủ tôi đi ăn. Buổi tối hôm ấy bạn tôi buồn bã kinh khủng. 

Ở Mỹ, những chuyện ra đi như vậy không làm người ta xúc động quá nhiều. Ông Baker trong lúc đang ở Trung Đông trong chuyến đi vận động hoà bình thì cụ bà mất. Ông bỏ ngang chuyến đi để trở về Mỹ, Ngoại Trưởng Mỹ lại bình thường xuất hiện ở cuộc họp báo. Nhiều người xúc động, đau đớn khi con chó, con mèo trong nhà chết còn hơn là khi những người thân như ông bố, bà mẹ qua đời. Nhiều ngươi tiêu rất nhiều tiền cho tang lễ (?) cuả những con chó, con mèo và căn dặn khi chết, xin đem cải táng những con vật nầy và đem chôn bên cạnh cho cuộc đời sắp tới đỡ cô đơn.

Lúc ăn xong, ngồi uống cà phê, bạn tôi mới cho biết tại sao cái chết cuả ông
cụ lại làm anh đau đớn quá đáng như vậy. Anh đưa cho xem một trang sách, có lẽ được xé từ một cuốn thơ nào đó, với một bài thơ như thế nầy:

Nếu người có bao giờ yêu ta
Hãy yêu ta vào lúc nầy, lúc ta còn
biết được những tình cảm dịu dàng, đầm thấm
chảy tuôn từ trái tim tình cảm đích thực

Hãy yêu ta vào lúc này
Khi ta còn đang sống
Đừng đợi đến lúc ta đã ra đi
rồi mới khắc những lời âu yếm đó lên bia đá
những lời nói ngọt ngào trên bia đá lạnh băng

Nếu người định nói những điều trìu mến
Hãy nói cho ta nghe ngay bây giờ
Nếu đợi đến khi ta yên ngủ
Không bao giờ thức dậy
Thì lúc đó giưã chúng ta đã có cái chết len vào giưã và
Ta sẽ không còn nghe được tiếng cuả người.

Vì thế nên, nếu người có yêu ta, cho dù là một chút thôi
Hãy cho ta biết trong lúc ta còn sống
Để ta có thể trân quý những tình cảm ấy 

THE TIME IS NOW

If you are going to love me
Love me now, while i can know
The sweet and tender feelings
Which from true affection flow
Love me now
While i am living
Do not wait until i' m gone
And then have it chiseled in marble
Sweet words on ice -cold stone
If you have tender thoughts of me
Please tell me now,
If you wait until i am sleeping,
Never to awaken,
There will be death between us
And i won' t hear you then,
So if you love me even a little bit
Let me know it while i am living
So i can treasure it

Author Unknown
1991 Crestors Syndicare


Tờ giấy có in bài thơ ấy, bạn tôi nói được tìm thấy trong một cuốn thánh kinh ở đầu giường cuả ông cụ và kẹp cùng với trang sách đó, là bức hình cuả bạn tôi khi anh tốt nghiệp đại học.

Không phải là bạn tôi, tôi có thể tưởng tượng ra được những điều chạy qua đầu ông cụ. Người đàn ông đầy tự ái, độc lập đó vẫn không giấu được những tình cảm cuả ông. Ông vẫn thèm có được tình cảm cuả đưá con trai duy nhất. Nhưng ông lại rất là một người đàn ông. Ông cụ có thể chỉ cần nhấc cái điện thoại lên, bấm vài con số là nghe được tiếng con trai đâu đó ở Hoa Thịnh Đốn. Nhưng ông cụ đã không làm thế. Ông ngồi chờ....... 

Và bạn tôi, lúc đó có thể anh đang còn ở bàn ăn tối với một khách hàng, có thể anh đang đưa cô bạn gái về nhà, có thể anh đang loay hoay trong bếp với bưã tối..........

Và chuyến về Charleston thăm ông cụ đã bị trì hoãn đi, hoãn lại mấy lần. Chuyến về Charleston đã quá muộn ! Bạn tôi nói anh sẵn sàng đổi bất cứ gì anh có trên đời chỉ để được câu nói anh đã quá bận, quá vô tình, quá lười biếng nên đã không nói kịp.

Tôi mà là anh bạn Mỹ nầy, tôi cũng sẽ ghét tôi y hệt như vậy.

BÙI BẢO TRÚC

Tuesday, October 25, 2016

Hôm nay tao đi học

September 10, 2016
Bùi Bảo Trúc

Hôm nay là hết những ngày lang thang bẻ me trèo sấu của bọn chúng tao, thế là lại phải quần áo để trở lại trường. Tao ghét nhất là cái khăn đỏ lúc nào cũng phải đeo trên cổ đã suốt mấy năm nay mà không đeo thì không được. Không đeo là bị kiểm điểm ngay. Mà tao biết ngay cả cái đứa đem tao ra kiểm điểm chính nó cũng chẳng ưa gì cái trò tròng cái khăn ấy vào cổ.

Tao biết điều đó vì chính thằng con của nó nói với bọn tao chứ đâu. Nó là con mụ chủ nhiệm một lớp trong cái trường này. Thôi thì quàng vào cổ cho đủ lệ bộ. Nhưng lần trở lại trường năm nay tao cũng vui hơn một chút: tao có đồ chơi mới trong túi. Không phải là mấy món đồ chơi Trung Quốc rẻ tiền đâu nhá, như những lần trước, mấy cái ghêm vớ vẩn chơi dăm ba ngày là hỏng mẹ nó đâu. Trong túi tao có con dế rất xịn. Mẹ tao gửi tiền từ Đài Loan về cho tao mua nó. Tao chắc mẹ tao muốn tao im mồm về chuyện mẹ tao gì gì với thằng đàn ông mẹ tao ấm ớ với nó ở Cao Hùng từ mấy năm nay. Ối giời ơi, làm gì thì làm chứ dính dáng gì với tao nữa. Tao lo được thân tao. Ông bà nội ngoại tao tháng tháng có ít tiền gửi về là vui rồi, con chị tao hát karaoke trong cái quán khu Cửa Nam son phấn kiểu sao Hàn Quốc thì kệ nó. Hai năm nay nó không còn làm phiền tao nữa. Con dế mới của tao là con Samsung 7.

Tao cũng chẳng cần dấu giếm gì bố tao như trước nữa. Hồi đó, có cái gì cũng phải nói dối cái này ai cho, lấy ở đâu về… bây giờ thì khỏi. Ông ấy ngày nào cũng mang về một đống đồ mà tao thừa biết là ông ấy lấy từ Nội Bài, nơi ông ấy làm việc bốc rỡ hành lý ở phi trường. Bố tao kiếm được khá lắm: bao nhiêu là quần áo, đồ điện tử, máy móc xịn cho con nhân tình của ông ấy bán ra ngoài chợ nên tiền bạc lúc nào cũng đầy túi có tiền đi ăn uống bia rượu, gái gú ngày nào cũng như ngày nào nên mẹ tao muốn làm gì với thằng ở Cao Hùng, Đài Loan cũng được. Tao chẳng cần phải dấu giếm gì cho mẹ tao nữa. Ông bà tao nói nhiều lần với bố tao là đừng ăn cắp nữa nhưng có ăn thua gì đâu. Thế là gia đình chúng tao sống toàn bằng nghề ăn cắp hết. 

Mẹ tao thì ngoại tình ở Đài Loan, bố tao thì ăn cắp ở sân bay Nội Bài. Tao đâu có thua đứa nào trong trường.

Bây giờ có dế Samsung Galaxy vào phây búc vui hơn nhiều. Hồi trước tao chỉ đi coi mấy con lớn trong trường đánh nhau, xé áo của nhau nhưng nay có dế Samsung tao có thể làm cờ líp rồi úp lên phây búc cho mọi người xem, chúng nó sẽ nể tao hơn. Mấy con như con Thảo, con Hương… sẽ hết làm bộ với tao như năm ngoái, phải chiều tao ngay. Tao sẽ rủ chúng nó đi Quảng Ninh chơi rồi tìm mối bán sang Tầu là có tiền tiêu như mấy thằng trong trường đã làm từ mấy năm nay, lại có tiền đầy túi đi ăn chơi ngay.

Năm nay tao không phải lưu ban, được lên lớp mới. Ở nhà, ông bà tao cùng với bố tao, mẹ tao cũng chẳng biết gì mà cũng… éo cần gì về chuyện ấy, mà tao thì lại hoàn toàn cóc cần về chuyện lên lớp hay ở lại hay lưu ban nữa. Tao năm nay 15 tuổi rồi. Xong năm nay tao tìm mối đi lao động xuất khẩu: Hàn Quốc, Nhật, Thái, Singapore… đi đâu cũng được, cứ ra khỏi cái nước này, kiếm ít tiền ăn chơi vài năm cho đỡ đỡ sầu đời là đủ rồi. Bởi thế đừng có hỏi tao về chuyện học hành trong cái năm học này.

Tao đang đứng trước cổng trường. Năm nay chúng nó treo thêm hai tấm bảng có hàng chữ “học tốt, dậy tốt” mà tao nghĩ là chẳng đứa chó nào tin vào những lời kêu gọi đó, hệt như lời kêu gọi học tốt, dậy tốt theo gương đạo đức chủ tịch Hồ Chí Minh treo trên các lớp học trong trường.

Còn nhớ trong cái cờ líp có cảnh một thằng thầy bị một thằng học sinh đánh tơi tả, lên gối ngay trong lớp dưới cái biểu ngữ thê thảm tao coi mà cười gần chết. Đạo đức bác dậy mà thế thì học theo bác làm con mẹ gì. Tao thấy bây giờ chỉ cần tiền như bố tao nói. Có tiền là muốn cái éo gì cũng có. Muốn có tiến sĩ, thạc sĩ cũng có ngay. Việc éo gì phải học. Có thằng chẳng bao giờ ra khỏi nước, mà vẫn có bằng ở Mỹ, có đứa trong rừng ra vẫn xưng có bằng cử nhân luật thì tại sao tao phải mài nát cái đũng quần ở cái trường khốn nạn này.

Nhưng hôm nay tao vẫn đi học.


Sunday, August 21, 2016

Những mẩu nhắn tin

Bùi Bảo Trúc


Chúng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những trang báo Việt ngữ, có khi chúng bị đẩy vào những chỗ khuất lấp, nép cạnh những quảng cáo không liên quan gì tới những nội dung của chúng.

Những quảng cáo rao bán mắm muối, thịt cá, địa ốc, tiệm ăn, nhà hàng… thì dính gì tới những mẩu nhắn tin tìm người quen ấy, như một ông thiếu úy ở một tiểu khu nào đó thuộc quân đoàn I, một người hàng xóm cũ, một người di tản từ năm 1975 tìm hai ba người thất lạc trong chuyến vượt biên bằng thuyền hồi những năm 80, muốn tìm lại một người gặp lần cuối tại đảo Galang, một người bạn tù nằm chung một góc phòng giam…

Ngoài việc chúng xuất hiện trên những trang báo, chúng còn được nghe thấy trong mục nhắn tin hàng tuần của một chương trình phát thanh nọ. Mỗi lần thấy chúng, tôi cũng tò mò đọc xem có còn ai kiếm mình không. Một người bạn cũ ở Sài Gòn, thời học trung học, một quen biết thời tuổi trẻ, trong một tiệm nước bên một ly cà phê… những gặp gỡ vài ba chục năm, có khi hơn nửa đời người…

Những đoạn nhắn tin, tìm người ấy vẫn còn tuy, theo tôi nghĩ, có phần tuyệt vọng. Không biết có bao nhiêu người còn để mắt đọc những dòng nhắn tin trên những trang báo, hay đón nghe chương trình nhắn tin với thời lượng không bao nhiêu trên làn sóng phát thanh. Những lời nhắn ấy bay trong không gian không bao giờ nghe lại được nữa.

Nhưng chúng vẫn được đọc thấy, nghe thấy. Những người nhắn vẫn nuôi những hy vọng sẽ tìm được những người cũ, không biết đã trôi giạt về những chân trời góc biển nào, trong khi Kiều thì cũng chỉ luân lạc có 15 năm. Những thất lạc của chúng ta thì dài hơn nhiều. Mười năm, hai chục, ba chục năm, hơn nữa cũng có. Những chi tiết có khi rất rõ như địa chỉ của căn nhà cuối cùng, người ấy có mấy anh em, con cái tên là gì, cha mẹ làm gì, cả những cái tên gọi thân mật ở nhà, xuống thuyền vượt biên tháng mấy, năm nào hay di tản ngay trong những chuyến đầu của cuối tháng 4. Cũng có khi nghe được tin tần chót từ Mỹ ở tiểu bang thành phố nào rồi dọn đi một địa chỉ khác và bặt tin luôn…

Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Những địa chỉ đầu tiên hay cuối cùng ấy không mấy người con nhớ. Cuộc sống hối hả và thay đổi, di chuyển quá nhiều làm sao còn lúc nào ngồi xuống moi móc trí nhớ ra những tháng ngày cũ. Nhưng ngần ấy thứ thỉnh thoảng vẫn trở lại. Người em bặt tin trong một trận đánh hồi tháng 3, gia đình vẫn hy vọng chỉ mất tích, đứa con vượt biển đã thoát, người đàn ông đi tù về cũng vượt biển từ năm 85 rồi sau một hai lá thư là bặt tin từ đó…

Nhưng cũng từ đó đã bao nhiêu chuyện xẩy ra, bao nhiêu đổi thay cho cả hai phía, người nhắn cũng như người được nhắn.

Người được nhắn có khi chỉ để lại tấm thẻ bài trong một góc rừng nào đó, hay một ngôi mộ không tên ở một hòn đảo xa vắng của Indonesia, Malaysia, Thái không chừng. Đứa con có thể đang sống đâu đó ở nước Mỹ và đã lâu không còn nhớ về gia đình cũ của nó, mà đời sống của nó cũng chẳng có bao nhiêu chuyện đáng để kể cho cha mẹ, anh em ở nhà. Người đàn ông vượt biển có thể đã có những liên hệ mới, ràng buộc mới nên không thể liên lạc lại với người vợ và những người con của đời sống cũ. Cũng có thể có những lúc quả tim lỡ một nhịp đập, và ý tưởng nhắn một mẩu tin tìm người nhen nhúm nhưng rồi lại thôi.

Cũng có những mẩu nhắn tin chỉ nghe qua cũng hiểu được nửa chuyện. Như lời nhắn tìm cô em của một người bạn hồi ấy hay đi qua nhà nay “duyên ghé về đâu” (như lời bài hát của Lê Trọng Nguyễn). Những năm tháng xa cách nay đã dài hơn cả thời gian hai người tình già của Phan Khôi là 24 năm rất nhiều. Hai bên chắc nay đều đã lục tuần cả. Tìm được thì làm gì đây?

…Khi tôi ngồi xuống ở bên em
Mở tập thư xưa đọc trước đèn
Vẫn ngọn đèn mờ trang giấy lạnh
Tiếng mùa Thu lạnh tiếng mưa đêm… (Đinh Hùng)

Hay là như Lý Thương Ẩn trong Dạ Vũ Ký Bắc, đêm mưa gửi về Bắc:

Quân vấn qui kỳ vị hữu kỳ
Ba sơn dạ vũ trướng thu trì
Hà dương cộng tiễn tây song chúc
Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì

Tạm dịch:

Người hỏi ngày về, chưa thể nói
Ba Sơn mưa tối ngập ao thu
Bao giờ khêu lại tim nến cũ
Kể chuyện bên song vợi nỗi sầu

Nhưng những mẩu nhắn tin vẫn thỉnh thoảng còn để nuôi tiếp những hy vọng đã từ gần nửa thế kỷ.


Bùi Bảo Trúc

Saturday, August 13, 2016

Chiếc Áo Kim Ngân


Bùi Bảo Trúc



Em thua tôi 10 tuổi, nên có gọi bằng “em” thì cũng đúng. Đọc tiểu sử của em thì em gốc gác người Bến Tre, lên Sài Gòn ghi tên học ở Đại Học Văn Khoa năm 1973 nhưng chỉ khoảng hơn một năm sau, việc học của em bị gián đoạn vì “chính quyền Cộng Hòa Miền Nam kiểm soát toàn bộ miền Nam.”.  Nói rõ hơn là khi Cộng Sản chiếm miền Nam. 

Như vậy, theo tiểu sử của em trong Wikipedia, em lớn lên và được cho học hành trong vùng kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vào rừng chích đít tầm bậy tầm bạ rồi nhận bừa là có bằng cử nhân luật như thằng Ba Ếch hay những thứ ngợm nhảm nhí khác ở Việt Nam bây giờ.

Em vào trường Văn Khoa trên đường Cường Để, khi tôi không còn thỉnh thoảng ghé ngang để… tìm một tà áo:

Ta nhớ ngày xưa cuối giảng đường
Mắt đầy sao và áo đầy hương
Em đem trời đẹp vào trong lớp
Ta thấy trong hè bỗng đã Xuân…

Ta thấy chiều rơi trên hành lang
Nắng loang vệt nhỏ dưới sân trường
Em đi chiều bỗng vàng trên mái
Tà áo bâng khuâng lá ngập đường…

Như vậy là tôi không thấy em trong những giờ của các Giáo Sư Nghiêm Thẩm, Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Khắc Kham, Vũ Khắc Khoan…

Rồi em theo Việt Cộng, không còn học Văn Khoa nữa.

Em về Bến Tre, đúng là “không có chó, bắt mèo ăn…”, em đi làm cho cách mạng, từ từ leo dần lên một số những chức vụ không lấy gì làm vẻ vang cho lắm như phó phòng, trưởng phòng… toàn những việc không dính gì tới những môn học (chưa chắc em đã ghi danh) ở trường Văn Khoa, rồi và cuối cùng là chủ tịch cuốc, không phải là QUỐC hội.

Em tên là Nguyễn Thị Kim Ngân, không biết có phải là tên thật hay không, nhưng phải nói ngoại hình, em trông khá hơn nhiều em khác, tên cũng tối tân hơn cái kiểu em Tòng Thị Phóng nhiều.

Mới đây, nói rõ hơn là sau khi em được bọn đười ươi đưa lên làm chủ tịch cuốc hội, em bỗng… “nổi cộm” hẳn lên, với cảnh em tuyên thệ nhậm chức. Em mặc một chiếc áo dài rất hoa lá cành, giơ một tay lên thề, tay kia đặt trên một tập giấy gói xôi (?), phía sau có ba đười ươi cười toe toét… Người ta chú ý ngay đến chiếc áo thêu hoa hoét em mặc. Đó là một chiếc áo dài rất kiểu cọ, không hề giống như những chiếc áo của mấy em đười ươi khác. Áo em mặc có cổ thấp, vai raglan, mầu sắc tươi tắn hoa hòe hoa sói tưng bừng, khiến phe chợ Đồng Xuân phát điên lên vì ghen tức.

Và cũng từ đó, em xuất hiện nhiều hơn, lần nào cũng áo dài kiểu cọ rất dã man, cứ như vừa đi vừa ưỡn ẹo “la plus belle pour aller danser…” không bằng. Những chiếc áo em mặc đều được may khá đẹp, trước ngực có thêu hay vẽ như những chiếc áo của các buổi trình diễn thời trang áo dài. Thôi thì đủ kiểu cổ cao, cổ thấp, cổ thuyền… nhưng vẫn phải là tay raglan mới được.

Thế là những kiểu áo kiểu đồi trụy mà dép râu nón cối thù ghét của thời Ngụy được cho vùng lên, sống lại sau khi bị cấm đoán, cắt nghiến cái vạt đi cho đúng nét đẹp cách mạng lại xuất hiện ở em. Người ta nghĩ có thể trong những ngày ở trường Văn Khoa đã có những lần em dõi mắt trông vời những chiếc áo tiểu thư Sài Gòn, nên bây giờ em phải mặc cho bằng được những chiếc áo đầy nét đồi trụy đó. Nhưng những chuyện như vậy thường hay đi những bước quá độ.

Em mặc áo dài kiểu cọ lia chia. Mỗi lần xuất hiện là lại phải một chiếc áo với một design mới, cho dù là để cho cá ăn cho Obama tởn hồn hay vài ba dịp khác. Nhưng gần đây, em thừa thắng xông lên khiến em lộ nguyên hình một con nhà quê bầy đặt học làm sang nhân dịp em xuất hiện cạnh mấy đười ươi đực trong buổi lễ thương binh liệt sĩ.

Trong khi mấy đười ươi đực mặc Âu phục, ca vát thì em chơi nguyên một quả áo dài đỏ loét hoàn toàn không thích hợp trong một dịp cần một (chút) không khí trang nghiêm. Em lại chơi một quả fashion show trình diễn thời trang cho bõ những ngày cơ cực. Em không hề biết trang phục cũng phải cho hợp thời và đúng lúc: Không phải lúc nào cũng có thể y phục giống như mọi lúc. Chức vụ đứng đầu cuốc hội của em không cần phải diêm dúa, lòe loẹt như thế, huống chi khi xuất hiện trong những dịp cần trang nghiêm. 

Em có thấy quần áo của tổng thống Đại Hàn chưa? Đâu phải lúc nào Tổng Thống Phác Cận Huệ cũng một chiếc hanbok lụa đầy mầu sắc đâu. Hay Indira Gandhi trong chiếc sari tha thướt, hay Margaret Thatcher, hay Hillary Clinton, Golda Meir…

Càng kiểu cọ càng hố là vậy. Bớt lại đi chứ em! Hay là hồi Xuân hơi… muộn?

BBT

Monday, July 18, 2016

Mà nói cái gì cơ chứ?

Bùi Bảo Trúc
  

Bây giờ thì cả nước đã được nghe tài nói tiếng Anh của Nguyễn Xuân Phúc khi chàng kêu gọi phát triển kỹ nghệ để đem các sản phẩm của Việt Nam đến các thị trường thế giới. Nếu cứ tiếng ta, ta … xài thì chó nó cũng không biết chàng dốt tiếng Anh một cách tàn tệ như thế. Đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại. Đọc tiểu sử thấy chàng khoe nhắng lên là có bằng cử nhân, nói thạo hai ngoại ngữ là Anh và Nga văn thì phải tin vào khả năng ngoại ngữ của chàng chứ. Chẳng gì nước ta cũng đã… lâu dài với Liên Bang Xô Viết thì việc chàng thông thạo Nga văn là thường tình. Tiếng Anh thì trong những năm gần đây cũng đã vùng lên trở lại, nên chắc chàng nói lưu loát cái thứ tiếng của đế quốc Mỹ cũng là chuyện dễ hiểu. Nhưng rồi tự nhiên, tự địa chàng khơi khơi… “MA ZÊ IN ZIỆC NAM” người ta mới thất kinh về tiếng Anh của chàng.

Mấy chữ “Made in Vietnam” thì có khó khăn lắm gì cho cam mà chàng hồn nhiên ra như thế để lòi cái dốt của chàng ra. Đến khổ! Chao ơi có mấy chữ đó nói còn không nên thân thì những câu khác còn ngọng đến đâu nữa.

Nhưng chàng không phải là đứa ngọng duy nhất ở Việt Nam bây giờ. Nhớ anh y tá chích đít bỏ học sớm theo cách mạng khoe có bằng cử nhân Luật cũng không khá gì hơn trong chuyến chàng đi Tây và gặp thủ tướng Pháp cũng biểu diễn cái dốt của chàng tại cuộc họp báo truyền hình mà một đài truyền hình ở Paris lôi ra diễu cho khán giả cười vỡ bụng. Ba Ếch không biết tiếng Tây là chuyện dễ hiểu. Chàng muốn đóng cái cửa sau lưng lại mà cứ ngọ lại nguậy, không biết nói nhỏ vào tai phụ tá để được thông dịch lại mà phăng phăng tiếng Việt, bất chấp các lễ nghi thông thường của cuộc họp báo. Nhưng thôi, quen sống trong rừng có thô lậu một chút cũng tạm tha cho chàng. Không nói được tiếng Pháp thì cứ nhận là chỉ… quen nói tiếng Anh là xong. Nhưng nói được ngoại ngữ không phải là điều tối quan trọng. Làm sao một người có thể biết được tất cả các thứ tiếng trên thế giới để đi đến đâu nói tiếng nước đó được. Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp có cần phải biết nói tiếng Pháp đâu. Những điều nói ra mới quan trọng. Cụ Phan đi đòi đất đai mà người Pháp chiếm của nước ta. Thông ngôn của cụ làm công việc chuyển những nguyện vọng của triều đình sang tiếng Pháp. Các cụ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản… không cần phải nói tiếng Tây như đầm con, Tây con học Marie Curie hay Jean Jacques Rousseau…

Ý tưởng, điều muốn nói mới là quan trọng. Nhưng đó lại là điều tệ hại tại cuộc họp báo mặc dầu điều Ba Ếch nói chỉ là một câu xã giao rất bình thường nhưng chỉ một câu ấy, cái dốt nát ngớ ngẩn của chàng cũng lộ ra hết. Thay vì chỉ nói đại khái rất vui mừng được đến Pháp và có dịp gặp gỡ các giới chức chính phủ Pháp để thào luận về một loạt các vấn đề quan trọng song phương, hy vọng chuyến đi sẽ thành công và có lợi cho cả hai bên thì chàng nói một câu ngớ ngẩn nguyên văn thế này: “Thưa ngài thủ tướng… Pháp . Trước hết thay mặt đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam, tôi bầy tỏ vui mừng trở lại thăm nước Pháp ở Châu Âu và trên thế giới…”

Thế là thủ tướng Pháp được cho nghe mấy chi tiết về địa lý nước Pháp của ông. Thiếu điều lôi cuốn atlas mở ra trang có bản đồ Pháp ra chỉ cho thủ tướng nước chủ nhà xem cho đủ. Làm cứ như không có hai chi tiết “ở Châu Âu” và “trên thế giới” là chủ nhà không biết nước mình ở đâu mà về báo cáo lại cho tổng thống Hollande không bằng.

Vớ vẩn và thập phần ngớ ngẩn. Ăn với lại chả nói. Trông cái mặt nhâng nháo và tự mãn của anh ta mà muốn phát ói. Nhưng nhờ đó mà khán giả đài Canal Plus được một trận cười đã đời.

Tôi chợt nhớ một bài thơ rất ngắn của Prévert, bài Le Jardin:
Des milliers et des milliers d’années
Ne sauraeint suffire
Pour dire
La petite seconde d’éternité
Où tu m’as embrassé
Où je t’ai embrassé
Un moment dans la lumière de l’hiver
Au Parc Montsouris à Paris
À Paris
Sur la terre
La terre qui est un astre …
Hàng nghìn năm, hàng nhiều nghìn năm
Cũng không đủ
Để nói
lên cái giây phút ngắn ngủi vĩnh cửu
Khi em hôn anh
và anh hôn em
trong ánh sáng của mùa đông
ở công viên Montsouris ở Paris
ở Paris
trên trái đất
trái đất là một hành tinh…

Prévert viết bài thơ như một chứng cớ cho cái phút giây mầu nhiệm khi đôi tình nhân hôn nhau trong một ngày đông ở công viên. Muốn ghi nhớ thêm để giữ lại cái vĩnh cửu đó, Prévert làm rõ thêm cái nơi chốn mà hai người hôn nhau ở cái hành tinh rộng lớn nhưng lại rất riêng tư của hai người…

Thi sĩ thì viết như thế. Nhưng cái nhà anh Ba Ếch nói về vị trí của nước Pháp thì lại thành ra ngớ ngẩn. Vớ vẩn và ấm ớ.

Tôi không tin là anh ta muốn dẫn một chút Prévert vì chắc chắn là anh ta thì không thể biết Prévert được.

Vì thế, biết nói một hai ngoại ngữ là một chuyện. Còn nói lên điều gì thì lại là chuyện khác. Rất khác! Đầu óc của ếch nhái, cắc ké thì vẫn chỉ toàn ếch nhái và cắc ké mà thôi vì chúng nó được “MA ZÊ IN ZIỆC NAM.”


Bùi Bảo Trúc

Tuesday, July 12, 2016

‘Ăng Lê Ăng Liếc’

Bùi Bảo Trúc


Ông Nguyễn Xuân Phúc, sau này và mãi mãi, sẽ được nhớ đến, chắc không phải vì chức vụ thủ tướng của ông, mà là mấy chữ tiếng Anh ông cao hứng xí xố trong một buổi nói chuyện nào đó ở Hà Nội. Nghe đi nghe lại, càng nghe người ta càng thấy ông phát âm một cách vô học và dốt nát chữ “MADE,” một chữ chẳng khó khăn, hiếm gặp gì, ngay cả với những người không biết tiếng Anh, thành “MA ZÊ.” Phải như những chữ dài và khó, hay ít khi gặp thì cũng có thể hiểu được. Thí dụ thay vì “Made in Vietnam,” mà là “Manufactured in Vietnam,” hay “Fabricated in Vietnam,” hay “Bottled in…,” “Boxed in…,” “Packed in…” thì phát âm sai hay không rõ thì cũng… người ta thường tình. Nhưng phát âm có chữ “MADE” mà cứ như người vô học thì không được. Bộ cả đời chưa bao giờ thấy cái chữ đó trên những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày trong đời sống hay sao?

Hồi sau Tháng Tư, 1975, từ rừng vào thành phố thì có gọi xe “Hông đa za me” (Honda dame kiểu phụ nữ) hay lấy tiền ở ngân hàng bằng “chè que” (chèque chi phiếu bằng tiếng Pháp) thì cũng tạm tha cho… Nhưng bây giờ đã hơn 40 năm, lại là người đang giữ những chức nọ, chức kia, từng mua hai ba căn nhà ở Mỹ mà có chữ “MADE” nói cũng không được thì ngu dốt quá. Trong khi tiểu sử thì ghi là biết hai ngoại ngữ là tiếng Anh và tiếng Nga ở trình độ B tức là ở mức thông thạo, trôi chảy.

Đã học tiếng Anh thì ngay trong những bài học đầu tiên cũng phải biết nó. Nó là quá khứ phân từ của động từ “to make,” một động từ bất qui tắc mà ai mới học Anh ngữ cũng phải biết.

Nhưng thôi, nhắc một chút văn phạm ra đây làm gì với cái ngữ đó. Trong khi đó, thỉnh thoảng lại có vài ba nhận xét khoe nhắng lên rằng trình độ tiếng Anh của học sinh, sinh viên Việt Nam là cao nhất Đông Nam Á! Chắc Đông Nam Á không có Philippines, Hồng Kông, Singapore, Malaysia… chăng.

Mới đây, xem cái bằng tốt nghiệp của đại học Yersin cấp cho một sinh viên học môn kiến trúc thì thấy ngay cái trình độ tiếng Anh đó. Môn học kiến trúc tiếng Anh là “Architecture.” Kiến trúc sư, người học và tốt nghiệp môn kiến trúc là “Architect.” Tấm bằng tốt nghiệp cấp cho người sinh viên này phải là “Degree of Architecture” thay vì “Degree of Architect” như đã ghi trong tấm bằng.

Một tấm bằng khác của một đại học khác (cũng bằng tiếng Anh) thì ghi sai là “Bachelor of Engineer” thay vì “Bachelor of Engineering.” Lý do vì “Engineer” là (người) kỹ sư. “Engineering” mới là môn học.

Một trường trung học ở Hạ Long cũng khoe chút tiếng Anh bằng cái bảng danh dự viết bằng tiếng Anh (mà trường gọi là “Dean’s List”). Trường dùng động từ “DONATE” để nói là cấp cho học sinh cái Dean’s List đó. Thưa không! Phải dùng “AWARDED” chứ.

Thế rồi ngay ở dòng dưới là tên của học sinh mà tấm giấy khen ghi là “KID.”
Ối giời đất ơi là giời đất ơi. Thật là khốn khổ cho cái tiếng Anh của thời đại Nguyễn Xuân Phúc.

Một tấm bảng quảng cáo mời khách cho một tiệm giặt chắc ở Hà Nội hay đâu đó ở miền Bắc có kẻ hai chữ rùng rợn này: “WASHING ARE.” Chắc nó phải ở miền Bắc. “WASHING ARE” là giặt là. Trong Nam là giặt ủi. Ủi không là… ARE là… là được.

Hay trên một bảng quảng cáo của một siêu thị ở Điện Biên Phủ dịch ô mai là “UMBRELLA TOMORROW,” “DRY FRUITS” thay vì phải là “DRIED FRUITS”… Nhưng đó là Anh ngữ đầu đường xó chợ.
Bây giờ hãy ngó qua mấy cái tiếng Anh ở nơi… không được quyền láo toét như thế nhé.

Trong một bệnh viện không biết là ở đâu người ta đọc được những tấm bảng song ngữ như thế này:
NƠI CẤP PHÁT THUỐC: ALLOCATED WHERE DRUGS.
NƠI TIẾP BỆNH NHÂN: WHERE PATIENTS RECEIVE.
LỐI ĐI NHÂN VIÊN: EMPLOYEE ENTRANCES GO.

Anh Mỹ nào hiểu được thứ tiếng Anh này hở giời! Khốn khổ cho tiếng Anh biết là chừng nào! Bộ trong một bệnh viện không có nổi một hai người biết tiếng Anh để nhìn ra những sai sót như thế hay sao. Lỡ có được vài ba y sĩ ngoại quốc tới thăm hay dậy thì những người này biết đâu mà ra vào, phát thuốc, giải phẫu cho các bệnh nhân?

Tiếng Anh “ma zê in Ziecnam” là như thế cả sao!


Bùi Bảo Trúc

Blog Archive