Showing posts with label Đỗ Văn Phúc. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Văn Phúc. Show all posts

Friday, November 7, 2025

Điều lo ngại đã không tránh được

Ngày hôm qua, môt anh dân Phi Châu, Hồi giáo cực đoan, theo Cộng Sản lại được bầu làm Thị Trưởng thành phố lớn nhất Hoa Kỳ, nơi được coi là Trung tâm tài chánh lớn nhất thế giới, trụ sở của chế độ Tư Bản!

Đây là bài viết của tôi khi tên Cộng Sản râu rậm này mới xuất hiện!
Cộng với cô bồi rượu OAC, anh hề Chuck Schummer... New York sẽ về đâu?

New York Tiến Lên Xã Hội Chủ Nghĩa?

Đỗ Văn Phúc

Sau khi Cộng Sản lật đổ Nga Hoàng, lập ra Liên Bang Sô Viết; rồi sau Thế Chiến 2, tạo một khối Cộng Sản Đông Âu, hiệp cùng Trung Cộng, Bắc Hàn… Hoa Kỳ đứng ra đảm trách lãnh đạo Thế Giới Tự Do ngăn chặn sự lan tràn của Cộng Sản. Có cả tram ngàn binh sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở Triều Tiên và Việt Nam cũng để chống Cộng!

Dè đâu, ngày nay khuynh hướng Cộng Sản và thân Cộng công khai hoạt động tại nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ. Mạnh nhất là ỏ Oregon, Washington.

Cũng do các hành pháp trước đây mở toang biên giới cho hang triệu dân tứ xứ trong đó chắc cũng có nhiều tên Islam cuồng tín và gián điệp Cộng Sản. Có thể nói trên khắp thế giới, chưa bao giờ, chưa nơi nào mà một nước cho nhập cư hỗn loạn những kẻ nguy hiểm, thù địch để tạo thành một lực lượng hủy diệt; và cũng chưa có nước nào mà những chính khách sẵn sàng làm bất cứ điều gì để phá nát đất nước nơi họ thụ hưởng bao lợi quyền!

Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy có khá nhiều sự hợp tác giữa những tên Cộng sản và Islam như hiện nay; cũng như có người vừa là Islam vừa theo CS. Hồi Giáo và Cộng sản là hai ý thức hệ có thể nói đối nghịch về giáo điều. Họ chỉ có vài điểm chung là sự độc tài và tàn bạo, coi sinh mang người như loài sâu kiến. Việc Trung Cộng và Nga luôn đứng về phía Iran cho thấy sự hợp tác Cộng Sản và Hồi cực đoan. Không rõ sự kết hợp này sẽ lâu bền sau khi chúng đạt được mục tiêu chung hay lại xoay ra đánh nhau tơi bời hoa lá?

Ngoài những người Cộng sản hay thân cộng rõ rệt như Bernie Sanders, Alexandra Ortega Cortez, Elizabeth Warren, phòng trào Antifa, cả BLM; thì hiện nay có nhiều nơi đã thấy các ứng cử viên thân Cộng đưa ra các chương trình rất phù hợp với chủ nghĩa xã hội.

Tại thành phố New York, trong vòng sơ bộ cuộc bầu cử chức Thị Trưởng Thành phố New York,

Zohran Mamdani vừa đánh bại ông Andrew Cuomo (Cựu Thống Đốc New York từ 2011 đến 2021). một người nhập cư gốc Uganda (Africa) theo đạo Islam và có khuynh hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Chú Mamdani này hứa sẽ làm những điều sau nếu đắc cử chức thị trưởng:

1. Sẽ bắt giữ Thủ tướng Benjamin Netanyahu của Israel.

2. Ngăn cản không cho cơ quan ICE trục xuất bọn tội phạm nhập cư bất hợp pháp. Bất hợp tác với ICE.

3. Xoá bỏ các cửa hàng thực phẩm tư nhân, giao cho chính quyền quản lý.

4. Công hữu hóa các công ty dịch vụ như điện, nước, hơi đốt…

5. Xoá bỏ ngành cảnh sát (defund),

6. Ngăn không cho giá thuê nhà tăng.

7. Xây 200,000 đơn vị gia cư để cho thuê.

8. Đánh thuế cao các hãng xưởng.

9. Bải bỏ các nhà tù.

10. Bải bỏ công ty bảo hiểm y tế tư.

11. Cấm các loại vũ khí.

12. Hợp pháp hoá việc thủ đắc các loại ma túy.

13. Biến khu gia cư và trường học thành nơi không còn ô nhiễm khí Carbon.

Nhìn sơ qua, cũng thấy đó là những lời hứa bất khả thi. Những hứa hẹn viễn vông trên đã bị đương kim Thị trưởng Eric Adams nhận xét :" Anh Mamdani chỉ nói cho sướng miệng để được phiếu thôi." Đúng là chỉ nói lấy được cho sướng miệng như bất cứ anh chị DC nào. Nhưng dân cư ở thành phố NY cũng phức tạp lắm. có rất nhiều những kẻ ăn bám, hưởng phúc lợi sẵn sàng nghe theo lời đường mật. Đặc biệt, Zohran Mamdani được cô bồi rượu AOC và anh già Bernie Sanders ủng hộ triêt để. AOC và Sanders đều là người theo xã hội chủ nghĩa, nói trắng ra là Cộng sản và AOC cũng là một trong nhóm tứ quái luôn quậy phá đi ngược lại quyền lợi chung của Hoa Kỳ.

Thêm một điều, là những người phe Dân Chủ chỉ vì căm ghét ông Trump quá đến dộ họ có thể sẵng sàng làm điều tai hại cho dất nước, kể cả bán mình cho kẻ thù.

Nếu anh Hồi Cộng sản này thắng luôn ứng cử viên Cộng Hoà, thì NY sẽ là thành phố đầu tiên của Mỹ tiến nhanh, tiến mạnh lên cái quái thai Chủ Nghĩa Xã Hội. Hiện có tin có khá nhiều chính khách Dân Chủ phái trung dung thức tỉnh hiểm họa Cộng Sản mà đứng chung với các chính khách Cộng Hoà để ngăn chặn sự thắng cử của anh Hồi Mamdani này. Cũng xin nhắc rằng, trong khi dân biểu Al Greens và AOC to mồm đòi đàn hặc Tổng Thống Trump vụ vụ đánh bom Iran, thì có đến 128 dân biểu phe Dân Chủ đã đứng chung với Cộng Hoà để chống lại đề nghị của Green. (Có 344 phiếu vừa DC vừa CH so với 79 phiếu của DC trong vụ này).

Anh T. Phan, một người bạn của tôi có góp ý về sự mâu thuẫn giữa ý hệ Hồi và CS trong chương trình của anh Mamdani như sau:

Các dự án ông dân cử Hồi giáo đưa ra có nhiều điều mà ngay cả người Hồi giáo cũng tranh cãi hay không chấp nhận được, câu hỏi đặt ra là mục tiêu của ông này là gì tại New York? Có phải ông đang tìm cách phá nát những giá trị truyền thống tốt đẹp còn lại của Hoa Kỳ?

1. Gây tranh cãi hoặc cần điều kiện cụ thể:

- Xóa bỏ cảnh sát / nhà tù – Hồi giáo công nhận vai trò của luật pháp và hình phạt để duy trì trật tự. Tuy nhiên, cải cách hệ thống để công bằng hơn là điều được khuyến khích.

- Đánh thuế cao các hãng xưởng – Hồi giáo có hệ thống thuế riêng (Zakat, Khums), nhưng không cấm thuế nhà nước. Tuy nhiên, thuế phải công bằng và không gây áp bức.

- Cấm vũ khí – Hồi giáo cho phép tự vệ, nhưng cũng khuyến khích hòa bình. Việc cấm vũ khí có thể được chấp nhận nếu đảm bảo an toàn cộng đồng.

2. Thường bị phản đối trong giáo lý Hồi giáo:

- Xóa bỏ cửa hàng tư nhân – Hồi giáo ủng hộ quyền sở hữu tư nhân và thương mại tự do, miễn là công bằng và không gian dối.

- Bãi bỏ công ty bảo hiểm y tế tư – Hồi giáo không cấm bảo hiểm tư, miễn là không vi phạm nguyên tắc như riba (lãi suất), gharar (mơ hồ).

- Hợp pháp hóa ma túy – Hầu hết học giả Hồi giáo đều cấm chất gây nghiện vì gây hại cho thân thể và xã hội.

Đây là một chiến thuật để bằng mọi cách dành ghế dân cử và từ đó thực hiện kế hoạch của tổ chức, Mamdani không chỉ là một cá nhân một người tham chính HG, CS, thiên tả, mà cả một chiến thuật có tổ chức để thuyết phục người dân thích hưởng thụ, thiên tả, dùng chính sách thuế để lấy tài sản của người Mỹ chăm chỉ, phá những truyền thống văn hóa, tôn giáo tốt đẹp, vv. Nhiều cuộc chiến pháp lý nhắm vào cá nhân ông Trump trong những năm qua cũng từ NYC.


Tuesday, April 15, 2025

Trại Tập Trung ở Việt Nam - Vết Thương Không Bao Giờ Lành


Bài thuyết trình tại Hội Thảo 2025, Lubbock

Sau khi chiếm được miền Nam vào tháng Tư năm 1975, Cộng Sản đã lập tức tiến hành nhiều biện pháp để củng cố quyền lực. Một trong những biện pháp đó là đề ra chính sách cải tạo để lừa gạt và luà vào các trại khổ sai hàng trăm ngàn cựu quân nhân, viên chức chế độ cũ ở miền Nam cũng như những nhà trí thức, tu sĩ các tôn giáo, những người giàu có và ngay cả những đảng viên Cộng Sản mà họ không còn tin cẩn. Những thành phần nói trên chịu đựng nhiều năm dài và đã có hàng chục ngàn người bị chết do hành quyết, tra tấn, đói khát, chịu nhiều thứ bệnh hiểm nghèo, và điều kiện sinh hoạt tồi tệ. Ngay cả gia đình họ cũng bị ngược đãi, cắt đứt các nguồn sống. Nhà cầm quyền Cộng Sản tuyên bố rằng các trại này là để thay đổi những người chế độ cũ qua sự lao động và giáo dục chính trị. Trong thực tế, các trại này là những nhà tù lao động khổ sai để giam giữ những người đối kháng cũ trong một thời gian dài thay vì tàn sát họ như các dư luận quốc tế tùng dự liệu về một cuộc tắm máu vĩ đại sau chiến tranh.

Ngày nay, đã tròn 50 năm qua; nhưng vết thương do những tội ác mà người Cộng Sản gây ra vẫn chưa hề được hàn gắn trong số những nạn nhân và gia đình họ. Người Cộng Sản không chịu nhìn nhận tội ác của họ đã gây ra trong những năm dài kinh hoàng đó; họ cũng làm ngơ không tiết lộ những chi tiết về các trại khổ sai và con số người đã chết trong vòng lao lý. Trong khi vẫn hô hào kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc, họ vẫn cứ tiếp tục gieo thêm những hạt giống thù hận đối với chế độ cũ ở miền Nam bằng cách viết lại trang lịch sử chiến tranh theo cách nhìn đầy thiên vị của họ.

Với kinh nghiệm của một nạn nhân từng bị tù đày trong gần mười năm trong các trại khổ sai, tôi sẽ trình bày những điều tôi trải qua, biết được để nói lên sự thật cho nó không bị thế giới lãng quên mà còn phải cùng hợp tác để tránh nó xảy ra trong tương lai.

Sự Lừa Gạt Vĩ Đại

Từ tháng Năm cho đến tháng Bảy năm 1975, Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn, nhân danh Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, tổ chức những lớp học ba ngày dành cho các hạ sĩ quan và binh sĩ quân đội miền Nam. Sau đó, họ triệu tập các sĩ quan với chương trình hứa hẹn trong 15 ngày dành cho cấp úy, và 30 ngày dành cho cấp tá và cấp tướng. Đến tháng 8, họ bủa một mẻ lưới cuối cùng kêu gọi tất cả những cựu quân nhân đi trình diện để theo học những lớp kéo dài trong bảy ngày.

Trong các thông cáo, họ ghi như sau (xem ảnh):

(1) Sĩ quan (ngụy) cấp đại uý, thiếu tá, trung tá đã được về hưu hoặc giải ngũ; sĩ quan ngụy) cấp đại úy đến đại tá đã được hoãn học tập trong các đợt tập trung cải tạo từ trước đến nay:

Đúng bảy giờ ngày 20 tháng 8, 1975 phải có mặt tại trường Don Bosco, số 12 đường Trương Vĩnh Ký, Gò Vấp để học tập trong thời hạn bảy ngày.

(2) Nhũng người đến tập trung phải mang theo giấy bút, quần áo, chăn màn, các đồ dùng cá nhân và lương thực, thực phẩm (tiền và hiện vật) đủ dùng trong bảy ngày kể từ ngày tập trung (ngày đầu mang lương khô ăn; ngày thứ hai trở đi do nhà thầu cung cấp.

Ở tất cả các tỉnh thành khác, cũng có thông cáo tương tự.

Những người lính miền Nam hời hợt tưởng rằng chế độ mới sẽ hàn gắn và cho họ sớm trở lại đời sống mới trong một đất nước thanh bình. Họ tin rằng Cộng Sản sẽ giữ lời hứa! Than ôi, tất cả nạn nhân đã bị lừa gạt để phải trải qua nhiều năm khổ nhọc trong các trại tập trung.

Trừ môt số nhỏ những người có thân nhân là đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản, những người khác đều chịu tối thiểu là ba năm cho đến hàng chục năm tù. Câu nói thường nghe từ miệng các cán bộ trại tù là: “Các anh sẽ được cải tạo để trở thành con người mới qua giáo dục, lao động, chấp hành nội quy. Khi nào chứng tỏ sự tiến bộ, các anh sẽ được trả về với gia đình để cùng xây dựng cuộc sống mới hạnh phúc.”

Vào giữa năm 1976, Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam công bố chính sách 12 điểm trong đó ấn định thời gian cải tạo là ba năm. Đến năm 1978, khi tù nhân thắc mắc về kỳ hạn đã đến, các cán bộ tại trại cải tạo lại giải thích rằng ba năm chỉ là một cái mốc để trại viên phấn đấu; và những ai không chứng tỏ sự tiến bộ sẽ bị giữ thêm nhiều mốc nữa,

Ước lượng có hơn một triệu người miền Nam bị giam giữ trong các trại cải tạo ngắn hạn; hai trăm ngàn người bị giữ ít nhất là một năm cho đến vài chục năm. Tháng 5 năm 1976, báo Nhân Dân đăng lời dối trá của Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng khi trả lời phóng viên quốc tế rằng “hiện chỉ còn vài ngàn trong trại cải tạo; là những kẻ ăn gan uống máu theo nghĩa đen”. Trong khi vào năm 1988, Bộ Thông Tin Cộng Sản xác nhận có khoảng một trăm ngàn quân nhân và viên chức chính quyền miền Nam bị giam giữ trong các trại tập trung. Như thế, họ đã lừa gạt nạn nhân tham dự các lớp cải tạo trong vài tuần và hậu quả là giam giữ người ta trong nhiều năm dài lao động khổ sai.

Mục Đích của các Trại Tập Trung Cải Tạo

Mặc dù chính quyền miền Nam đã đầu hàng và đất nước đã thống nhất về một mối, chính quyền Cộng Sản vẫn coi người miền Nam là kẻ thù mà sẽ không dễ gì chấp nhận chế độ của họ. Hơn nữa, sau hơn hai mươi năm chiến tranh, mối thù hận đã bị cấy sâu vào tâm tư họ. Họ vẫn còn lo sợ những người miền Nam sẽ lập nên những lực lượng chống đối gây nguy hiểm cho họ.

Cộng Sản đã kết án người lính miền Nam tội danh phản bội tổ quốc và là mối nguy cho nền nội an. Họ không đưa những nạn nhân này ra toà án để xét xử mà nại lý do rằng chính sách “cải tạo” là nhân đạo, khoan dung hơn là việc xét xử ở tòa.

Đối với người Cộng Sản - từ Liên Sô, Trung Hoa cho đến Việt Nam - chính sách “cải tạo” là biện pháp thuận lợi nhất để loại bỏ kẻ thù, ít nhất là làm tê liệt sinh lực và ý chí của họ; cô lập họ khỏi dân chúng và vừa tận dụng sức lao động của họ. Đó cũng là ngón đòn trừng trị kẻ thù vừa răn đe những ai manh nha chống đối trong tương lai. Tựu trung, họ vẫn lo ngại những quân nhân miền Nam vẫn còn nhiều ảnh hưởng trong quần chúng.

Các Trại Cải Tạo

Có hàng trăm trại tập trung được dựng lên ở khắp nước, từ Nam ra Bắc. Một vài nơi dùng các doanh trại cũ của quân đội miền Nam, còn lại đa số là các trại mới dựng lên ở các vùng hoang vu bao quanh bởi rừng núi hay giữa lòng thung lũng.

Tôi đã bị giam giữ trong chín năm chín tháng qua nhiều trại khác nhau, mà cuối cùng là trại A-20 Xuân Phước ở Tỉnh Phú Yên. Đây là nơi giam giữ những tù nhân thuộc thành phần mà Cộng Sản đánh giá là cứng đầu và nguy hiểm. Những tù loại hình sự là những người bị án chung thân hay tử hình đang chờ ngày hành quyết. Trại A-20 nằm lọt giữa lòng thung lũng Kỳ Lộ, bao quanh bởi ba dãy núi; là nơi mà trong cuốn Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày, Thượng Tọa Thiện Minh mô tả là “Thung Lũng Tử Thần.” Trong suốt lịch sử của trại, chưa hề có tù nhân nào trốn trại mà không bị bắn chết hay bị bắt trở lại. Trong chiến tranh, đây là lãnh thổ Liên Khu Bốn, cái nôi của kháng chiến Cộng Sản. Vùng này phải cậy vào Quân Đội Nam Hàn để bình định nhờ các chiến thuật cứng rắn của họ.

Trong ngày đầu tiên đến trại, chúng tôi đã nghe lời đe dọa của trại trưởng Thân Như Yên: “Các anh sẽ ở đây cho đến mục xương!”

Trại A-20 có năm phân trại là A, B, C, D, và E. Hai phân trại A và E ở cạnh nhau, gần cơ quan hành chánh của trại. Các trại khác ở xa hơn, mỗi trại cách nhau vài cây số. Chung quanh khu vực trại là những xóm nhà tí hon, mái lá, vách đất của nông dân nghèo. Họ là những người tuyệt đối trung thành với Cộng Sản.

Ở phân trại E của chúng tôi, có bốn dãy nhà gạch được ngăn cách nhau bằng các hàng rào kẽm gai. Mỗi nhà chứa bốn hay năm đội; mỗi đội có 30 người. Trên cái nền bằng xi măng (ở tầng dưới) và bằng gỗ thô (tầng trên), chúng tôi chia nhau mỗi người một bề ngang chừng hơn bốn tấc; khi ngủ phải nằm nghiêng, hay quay ngược đầu với hai người bên cạnh. Chừng sáu giờ chiều, sau khi phát phần ăn, tù nhân bị lùa vào bên trong. Các căn nhà được khoá lại. Mỗi tối, tù nhân phải trải qua chừng hai giờ để tự kiểm điểm, phê bình bản thân và phê bình những người cùng đội sau một ngày làm việc để đánh giá ai làm giỏi, ai trây luời, ai có những câu nói tiêu cực hay chống đối gây ảnh hưởng xấu đến người khác…

Điều Kiện Sinh Hoạt và Lao Động

Đời sống trong trại thật khủng khiếp. Người tù đói triền miên. Hai năm đầu dưới sự quản lý của bộ đội, thức ăn tương đối khá nhưng gạo lại rất khan hiếm. Sự khan hiếm này cũng xảy ra ngoài xã hội, không riêng trong trại tù. Bắt đầu là ăn gạo mục lấy từ các kho mà Việt Cộng cất giấu trong rừng; sau đó là những năm chỉ có hạt bo bo để ăn. Từ năm 1979 về sau, trại A-20 trồng cây khoai mì làm lương thực chỉnh. Đây là loại mì H-34 có gốc ở Ấn Độ là nơi mà người ta dùng tinh bột của nó để chế tạo các sản phẩm polyethylene. Loại mì này có hàm lượng chất độc Acid Anhydric rất cao có thể gây tử vong nếu củ mì không được ngâm trong nước và loại bỏ phần lõi và vỏ lụa. Mỗi bữa ăn, mỗi người được phát vài lát khoai mì khô đã luộc; thỉnh thoảng cũng được lưng một chén cơm. Thức ăn thì luôn luôn là loại nước nấu từ xác mắm pha thêm muối. Rau xanh thì tù nhân trồng nhiều, nhưng chỉ được ăn khi rau đã già; rửa qua loa trong cái chảo lớn và thường là còn dính những vụn vãi phân người mà tù nhân dùng để bón rau. Chỉ vào ba ngày lễ lớn trong năm mà tù nhân có được chút thịt heo mà mỗi miếng chỉ bằng ngón tay cái, đa phần là da và xương. Một cựu sĩ quan tiểu đoàn trưởng Pháo Binh đã khai với nhân viên Di trú Mỹ rằng: “Chúng tôi chẳng có gì để ăn! Họ chỉ phát cơm mỗi tháng một lần. Những ngày khác, chỉ có các loại củ, bắp…”

Tại trại Hà Nam Ninh, liên tiếp trong hai năm, mỗi tuần có khoảng 15 người bị chết vì đói và các bệnh hiểm nghèo cho đến khi trại phải cho phép tù nhân được nhận lương thực và thuốc men từ gia đình gửi đến. Trong suốt những năm tù đày, chúng tôi phải săn nhặt bất cứ thứ sinh vật nào để cho vào miệng; kể cả rắn rết và côn trùng!

Tình trạng vệ sinh và y tế trong trại tù cũng rất tồi tệ! Tiêu chuẩn chữa trị cho tù nhân là ở các trạm y tế trại do một y tá hay bác sĩ cũng là tù nhân. Thuốc men thì chỉ có thuốc nam làm từ các loại lá, rễ. Không hề được cung cấp các thuốc tê, mê hay giảm đau mỗi khi cần đến nhổ răng hay mổ xẻ. Tù nhổ răng cho bạn bằng cái đinh hay miếng sắt uốn cong làm đồ nạy. Tù nhân lao động gặp tai nạn gãy tay chân cũng chỉ được trị trong trại mà không chuyển ra bệnh xá. Ở trại Đông Giang tỉnh Khánh Hòa, có chừng 100 tù nhân chết vì kiệt sức và thiếu chữa trị. Chúng ta cần nhớ, trong xã hội Cộng Sản, mỗi tầng lớp từ dân thường lên đến đảng viên, cán bộ cấp huyện, tỉnh, trung ương đảng dều có tiêu chuẩn chữa trị khác nhau.

Tại Xuân Phước, chúng tôi làm việc từ tờ mờ sáng cho đến chạng vạng tối, dưới sức nắng chói chang hay trong cơn mưa lũ. Những năm đầu, tù nhân khai hoang vùng rừng núi để làm đất trồng khoai mì hay các hoa màu khác. Công việc liên tục nhất là đào các ao nuôi cá, ngay cả giao thông hào quanh trại cũng nói là để nuôi cá! Các cán bộ đi theo đội đề ra chỉ tiêu cho mỗi người phải dào hàng chục hố rộng 0.5 x 0.5 x 0.5 mét khối để đặt các khúc rễ cây khoai mì. Có trại thì tù nhân phải đào xới hàng chục mét đất mỗi ngày cho các kênh đào; có nơi phải vào rừng đẵn các khúc gỗ lớn, tre rừng đưa về trại. Chỉ tiêu này cứ tăng dần theo ngày tháng; và nếu tù nhân không đạt được thì sẽ không được phép xuống ao tắm rửa sau một ngày nhễ nhại mồ hôi trên nông trường. Ở nhiều trại tù khác, tù nhân phải đi làm trên những khu đất trước đó là bãi mìn. Họ không được cấp phát dụng cụ thích ứng để bảo vệ. Rất nhiều người bị mìn nổ mất mạng hay mất tay, chân.

Vào cuối mỗi thàng, các đội sẽ họp chọn bầu những cá nhân lao động với năm hạng: xuất sắc, giỏi, khá, trung bình, và kém cỏi. Kết quả của sự bình chọn này sẽ tiêu chuẩn khoai mì nhiều hay ít của mỗi người trong tháng kế tiếp.

Nói chung, lao động thì cực nhọc, dụng cụ thì tự làm lấy bằng bất cứ thứ gì kiếm được; và ăn uống thì kham khổ. thuốc men thì thiếu thốn. Tỷ lệ tù nhân chết khá cao. Các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ ước tính có đến hàng chục ngàn tù nhân đã bỏ mình trong các trại cải tạo.

Tẩy Não

Trong những tháng đầu tiên và sau đó thì mỗi năm vài lần, tù nhân phải kê khai tiểu sử chi tiết từ lúc còn nhỏ cho đến tháng 4 năm 1975; bản thân và dòng họ ba đời. Công an Cộng Sản rất giỏi trong việc theo dõi, so sánh các bản khai để tìm ra những điều mà tù nhân còn che giấu hay man khai. Năm 1975, các trại tổ chức chương trình học kéo dài khoảng ba tháng trong đó những lớp học toàn trại gồm 10 bài căn bản; mỗi bài kéo dài một tuần vừa nghe cán bộ giảng trên hội trường, vừa tổ chức thảo luận từng nhóm và ngày cuối tuần là viết bài luận gọi là “bản thu hoạch.” Chương trình đầu tiên là để tẩy não tù nhân về nhận thức và quan điểm; làm cho họ phải thấy chế độ miền Nam là phản động, là tay sai của Mỹ nhằm xâm chiếm Việt Nam; người tù phải nhận thức chế độ miền Bắc là thật sự dân chủ, ái quốc và con đường tiến đến chủ nghĩa xã hội là chân lý. Bài viết “thu hoạch “ cuối cùng phải là một bản tổng kết mà tù nhân phải tự đánh giá mình sau khoá học là đã nhận ra mình có tội với tổ quốc, với đồng bào; phải tự nhận bản án là “tội đáng chết” và xin được hưởng khoan hồng. Tù nhân phải viết lên những câu ca ngợi tính nhân đạo độ lượng của nhà nước Cộng Sản và hứa sẽ học tập, lao động thật tích cực để được tiến bộ. Ai cũng phải viết những câu đại khái như thế. Ai cũng phải nhận mình gây ra tội ác, dù là lính chiến đấu ngoài chiến trường hay lính làm việc trong các văn phòng; dù là bác sĩ cứu người hay giáo viên chỉ lo việc giảng dạy. Phải nặn óc cho ra tội ác tưởng tượng nào đó để chứng minh đã thông hiểu các bài học do cán bộ truyền đạt. Các cán bộ luôn ngồi bên cạnh các nhóm thảo luận để nhắc nhở rằng có khai báo thành thật thì mới tự chứng minh tiến bộ để sớm được tha về với gia đình; không tự tìm ra tội có nghĩa là chưa thành thật, còn ngoan cố, quanh co giấu diếm; tội càng nặng thêm! Điều đau đớn nhất là qua các đợt thảo luận, với bầu không khí căng thẳng và bức bách, những người lính miền Nam không những bị cán bộ Cộng Sản bêu nhục, mà chính do bạn đồng đội, hay chính mình nói, viết ra những câu tự bôi nhọ do sự thúc ép, mớm lời của cán bộ Cộng Sản. Tuy nhiên, cũng có nhiều người khôn khéo viết và nói cách chung chung để né tránh không dùng chủ từ “tôi” hay “chúng tôi” trong những câu thú tội.

Chương trình nhồi sọ kế tiếp là vào năm sau (1976) khi chính quyền Cộng Sản đang thi hành chính sách cải tạo công thương nghiệp miền Nam theo kiểu Cộng Sản là tiến đến công hữu hoá tất cả nền kinh tế; lập các công trường, nông trường và hợp tác xã. Tù nhân trong khi học phải viết thư khuyến khích gia đình lìa bỏ thành phố đi khai hoang các vùng rừng núi để thực hiện kế hoạch “Khu Kinh Tế Mới.” Sau ngón đòn đổi tiền hai lần đã vét sách hết tài sản dân miền Nam, đây là lúc họ đuổi dân Nam ra khỏi thành thị để đưa dân miền Bắc vào chiếm ngụ.

Sau đó, các chương trình học tập giảm dần và cũng kém phần sôi nổi so với hai chương trình đầu tiên. Một điểm mỉa mai đáng nhắc đến là hàng trăm tù nhân mà trình độ thường cỡ trên trung và đại học phải ngồi xổm trên nền đất để nghe lời giảng từ các “cán bộ giáo dục” mà trình độ thì chỉ ở cấp tiểu học nói chưa tròn một câu! Những câu, những lời họ nói ra đều rập khuôn từ sách của đảng từ Nam ra Bắc, trại nào cũng một kiểu nói, một cách lý luận.

Các Hình Phạt trong Tù

Cuộc tắm máu mà dư luận quốc tế dự đoán đã không xảy ra sau chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên vẫn xảy ra những vụ giết người vô tội vạ trong các trại tập trung; nhất là các trại vùng đồng bằng Cửu Long, trại Katum, trại Suối Máu. Tù nhân thường bị bắn tại chỗ vì trốn trại; có người bị bắn tung toé óc vì khai bệnh không chịu lên hội trường nghe giảng bài. Tù nhân bị trừng trị nếu có thái độ hay lời nói biểu lộ không tin tưởng vào chế độ, vì né tránh lao động, vì vi phạm các điều trong nội qui trại. Hình phạt là bị nhốt trong các xà lim hàng tháng dài. Người tù bị cùm chặt hai gót chân vào một thanh sắt 12 li có khía ở sát vách tường. Anh ta chỉ có hai vị thế: một là nằm dài ra, hai là nửa ngồi nửa nằm. Khi vào xà lim, tù nhân chỉ có trên người bộ áo quần mỏng manh, không dép, không vớ, không nón hay khăn trùm, chăn đắp. Do đó, vào mùa đông, nhất là ở những vùng núi rừng khi cơn lạnh xuống đến gần độ âm, người tù chỉ còn cách cuốn mình lại mà run rẩy chịu đựng. Đã thế, mỗi ngày, anh ta chỉ được phát một lần thức ăn vào lúc xế trưa gồm hai muỗng cơm chan ngập thứ nước mắm mặn chát và hai muỗng nước uống. Việc giam giữ có thể kéo dài hàng tháng cho đến khi người tù chỉ còn là một bộ xương biết cử động. Bản thân tôi bị ba lần nhốt, tổng cộng gần năm tháng.

Khi còn ở trại Suối Máu, vào mùa hè năm 1977, chúng tôi đã bị nhốt vào một cái conex của Quân Đội Mỹ. Cùng chịu chung với tôi là hai anh bạn nữa. Ba người trong một cái thùng sắt dày bề ngang 1.5 mét, dài 2 mét kín bưng phơi giữa trời khi nhiệt độ bên ngoài lên tới 40 độ C.

Trường hợp tù nhân bị tra tấn hay đánh đập đến chết xảy ra không hiếm. Vào tháng 10 năm 1979, ở trại Vườn Đào vùng Tiền Giang, tù nhân Quách Dược Thanh đã bị tên trưởng trại Ba Minh nửa đêm dùng khăn siết cổ đến chết. Lý do: tên Minh đã không đủ lý luận tranh cãi về vấn đề chính trị với anh Thanh. Cũng ở trại này, Trung tá Nguyễn Đức Xích, cựu Tỉnh trưởng Gia Định đã bị gạt đến hàng rào kẽm gai để tên lính gác vu tội mưu trốn trại và bắn chết.

Chấm Dứt Cải Tạo

Năm 1977, chính phủ bắt đầu thả lai rai một số nhỏ những sĩ quan cấp nhỏ có liên hệ gia đình với các cán bộ Cộng Sản. Qua sau năm 1978, họ tiếp tục thả thêm nhiều đợt những người có chuyên môn mà họ cần dùng như các bác sĩ, nha sĩ. Vào đầu thập niên 1980, mỗi năm ba lần vào các dịp lễ lớn, nhiều đợt tù nhân được tha về. Tù nhân khi về đến địa phương phải chịu sự quản chế của công an khu vực thêm một năm nữa; mỗi tuần họ phải đến văn phòng công an để khai báo những hoạt động như đi đâu, làm gì, và gặp gỡ ai. Dĩ nhiên họ không được phép ra khỏi thành phố nơi cư ngụ. Đa số được khuyến cáo phải đưa gia đình đi vùng kinh tế mới. Người công an phụ trách khu vực có quyền lùng xục vào nhà bất cứ lúc nào và tra vấn cả thành viên trong gia đình.

Nhiều người tù khi ra về gặp nhiều hoàn cảnh trái ngang gia đình tan vỡ, con cái bơ vơ thất học. Có những người vợ đã vì cuộc sống mà bỏ đi lấy chồng, thậm chí lấy những cán bộ Cộng Sản. Người cựu tù bị coi là thành phần thấp nhất trong xã hội, không thể tìm được một công việc theo khả năng mà phải chấp nhận những việc làm tay chân như đạp xe xích lô, khuân vác, phụ hồ, làm ruộng…

Con cái của nhân viên chế độ cũ dù có khả năng, cũng không bao giờ vào đại học được. Cộng sản áp dụng gắt gao chế độ truy cứu lý lịch tận ba đời.

Hậu Quả về Tâm Lý

Sức chịu đựng về sinh lý và tâm lý của con người có một giới hạn; vượt trên giới hạn đó, con người có thể quị gục hay qui hàng! Họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thoát khỏi cực hình này. Rất may, đa số anh em cựu quân nhân miền Nam đã nghiến răng chịu đựng các cuộc tra tấn, vượt qua nỗi sợ hãi do ở một niềm tin và lòng trung thành với lý tưởng họ theo đuổi dù trong cơn vô vọng.

Đáng sợ nhất là cơn đói thêm triền miên mà Cộng Sản dùng như một phương tiện để trấn áp, mua chuộc. Có người dễ trở thành xấu xa chỉ vì được thêm một chén khoai hay chè ngọt. Tù nhân bị cơn đói hành hạ, ám ảnh; lúc nào họ cũng nói về các món ăn tưởng tượng; cả đến trong giấc mơ cũng thấy ăn.

Anh em chúng tôi thà bị phê loại kém với khẩu phần bị cắt xén hơn là đầu hàng nghịch cảnh!

Ngày nay, ở bến bờ tự do hàng chục năm sau, nhiều người vẫn trải qua những cơn ác mộng. Có người thấy mình vẫn còn ngắc ngoải trong các nhà tù chật ních, hôi hám trong khi vẫn ý thức được mình đang có nhà, có xe ở một thành phố văn minh ở Hoa Kỳ! Có người lại thường mơ thấy đang bị bủa vây giữa những thi thể đã sình thúi của bạn đồng tù.

Bài Sử Không Chịu Học

Có lẽ đây là sự khác biệt giữa văn minh Tây Phương và Đông Phương, giữa chế độ Tư Bản và chế độ Cộng Sản.

Nước Mỹ chấm dứt cuộc nội chiến trong trật tự và hoà hợp hoà giải. Ngày 6 tháng 11 năm 1865, Nam quân đầu hàng Bắc quân. Tướng miền Nam là Robert Lee được tướng Ulysses Grant đối xử rất tử tế; Tướng Grant ra lệnh cung cấp 25,000 khẩu phần cho phe bại trận; quân lính miền Nam sau khi giao nộp vũ khí được tự do trở về nhà mình, đem theo con ngựa (mà trong chiến tranh cũng được coi là vũ khí).

Sau Thế Chiến thứ Hai, Hoa Kỳ giam giữ 175,000 tù binh Đức ở New York và Virginia. Họ được cho ăn ở tươm tất. Một năm sau chiến tranh kết thúc, số tù binh này được thả về; có một số phải chịu thêm hai năm giam giữ ở Pháp và Anh là hai nước mà Đức Quốc Xã tàn phá nặng nề. Các quốc gia đồng minh tập trung vào việc tái thiết hơn là trả thù.

Xã hội văn minh người ta cư xử với nhau như thế đó!

Cuối năm 2004, đánh dấu ba mươi năm sau chiến tranh, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt của Cộng Sản Việt Nam đã nói: “… một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu.” Đây có lẽ là một câu nói hiếm hoi từ cửa miệng một lãnh tụ cao cấp tỏ sự cảm thông với phe cựu thù.

Một cựu Đại tá Cộng Sản ở Hà Nội cũng thú nhận khi được phóng viên Trà My phỏng vấn trên đài RFA ngày 7 tháng 5, 2006: “Tôi thấy có rất nhiều chính sách mà bây giờ mình mới nhận ra sai lầm. Sau khi thống nhất đất nước, thay vì phải tập trung vào mặt hoà bình, kiến thiết xây dựng thì lúc đó lại xảy ra những chính sách không thích hợp… đáng lẽ phải tập trung xây dựng thì lại tập trung vào chuyện đấu tranh không những đối với phía đối phương mà ngay cả trong nội bộ những người kháng chiến như chúng tôi cũng bị những sai lầm đó thao túng…”

Người Việt Nam, đặc biệt là người miền Nam chúng tôi vẫn còn chờ đợi nhà cầm quyền Cộng Sản bày tỏ sự ân hận của họ về những tội ác đã gây ra trong chiến tranh để chúng ta có thể bỏ quá khứ sang bên mà cùng chung tay xây dựng một nước Việt Nam phú cường.

Đỗ Văn Phúc


Monday, February 17, 2025

Hiện Tượng “Luộc Ếch” Trong lãnh Vực Điện Ảnh

Trong cuộc chiến tranh mang màu sắc ý thức hệ, những người Cộng Sản chiến đấu bao trùm trên khắp các mặt trận mà mặt trận tư tưởng được xem là quan trọng nhất. Mặt trận tư tưởng bao gồm tất cả các lãnh vực từ triết học, văn hoá, văn học, văn nghệ cho đến những việc tưởng là nhỏ nhặt vô thưởng vô phạt. Nhiều người Việt Quốc Gia lại có cách nhìn hời hợt khi đối diện với những vấn đề văn hoá, văn nghệ mà quên cảnh giác nên dễ sa vào bẫy “luộc ếch” của Cộng Sản.!

Mấy chục năm trước, cộng đồng người Việt tị nạn gần 3 triệu người như một khối đoàn kết, vững mạnh, rất khó xâm nhập. Năm 2004, Cộng Sản Việt Nam cho ra đời Nghị quyết 36 trong đó ghi nhiều hướng dẫn nhằm xâm nhập từ từ vào sinh hoạt hải ngoại để tiến đến chiếm lĩnh địa bàn. Mục 5 và 6 trong phần 3 “Nhiệm vụ Chủ yếu” của bản Nghị Quyết nhấn mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục.

Trích:

5- Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. …

Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn.

6- Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của đài phát thanh, truyền hình và Internet; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và kỹ thuật của các chương trình này. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ cho người Việt Nam sống xa Tổ quốc. Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng.

Ngưng trích

Trong tuyên truyền có nhiều phương sách, trong đó loại tuyên truyền xám mang tính cách khá mơ hồ, không ranh giới giữa đen trắng, đúng sai. Nó là kiểu đi hàng hai dể luồn lách, lừa bịp được những người còn bán tín bán nghi. Loại này kiểu như nói lên một nửa sự thật để gây lòng tin rồi dùng một nửa dối trá kia để thuyết phục. Cộng Sản bây giờ đánh vào tâm lý yêu mến quê hương, tình tự dân tộc qua những phim ảnh, sách báo chỉ nói về các địa danh, thắng cảnh nhằm mời gọi người Việt về du lịch, tìm lại lưu dấu kỷ niệm xưa hay hưởng thụ những thứ mà không thể tìm thấy tại nước ngoài.

Câu hát “Quê hương là chum khế ngọt”… đâu có câu nào mang màu sắc chính trị, ca tụng chế độ? Đó là bài hát với âm điệu và lời ca mà con tim của bất cứ người Việt Nam nào cũng dễ rung động hoà nhịp. Việt Nam bây giờ chú trọng vào các khu du lịch với cảnh trí nên thơ và các cô gái xinh đẹp đê quyến rũ người Việt hải ngoại. Cảnh đi Chùa Hương, viếng linh địa La Vang, lách thuyền qua những hòn đảo nhỏ ở Hạ Long… tất cả là những gì tha thiết mời gọi người Việt hải ngoại trở về trước là đem ngoại tệ nuôi sống chế độ, sau là dần dà quên đi ý thức chính trị đối kháng quốc cộng!

Về văn hoá, nhiều bài báo vô thưởng vô phạt từ Việt Nam đã xâm nhập tràn đầy trên các trang báo, video, audio hải ngoại. Nhiều tờ báo bê luôn cả bản tin lấy từ báo trong nước với đủ từ ngữ và cách văn phong kỳ quái của Viêt Cộng; làm cho người Việt tị nạn dần dà làm quen mà không cảm thấy khó chịu. Tiến đến một ngày không xa, sẽ đồng hoá với văn hoá, văn học Việt Cộng. Xem như Việt Cộng toàn thắng mà không cần phải nổ một phát súng!

Chúng tôi thỉnh thoảng ngẫu nhiên xem vài đoạn video có tính cách gia đình. Đó là những đoạn phim du lịch vô hại. Nhưng lác đác thấy trên màn ảnh những lá cờ đỏ sao vàng phất phới. Dĩ nhiên người quay phim không có ý thức tuyên truyền gì cho Cộng Sản. Nhưng nếu cứ nhìn riết rồi sẽ quen mắt và nhập tâm hình ảnh lá cờ như biểu tượng chính thức của mình!

Có phải đó chính là hiện tượng “luộc ếch” mà chúng ta từng nghe báo động rất nhiều lần?

Người viết là muốn nhắc đến vài sự kiện từng xảy ra đã gây tranh cãi trong cộng đồng. Đó là việc một số người, không thiếu những vị có học thức, có quá khứ chiến đấu, có kinh nghiệm đau thương trong tù đày; đã hớn hở giới thiệu hoặc lên tiếng bào chữa cho những phim ảnh, sách báo từ trong nước đưa ra. Họ chỉ nhìn một cách hời hợt và kết luận sách báo, phim ảnh chỉ nói lên chuyện xã hội mà không mang màu sắc chính trị. Họ còn lên án những người chống đối phim ảnh Việt Cộng là “có não trạng kỳ quặc” (sic), hoặc chê “kết luận quá vội vã,” hoặc trách “chống Cộng cực đoan”…

1. Cách đây chừng 10 năm, khi cuốn phim Cánh Đồng Bất Tận của Việt Nam được chiếu trên các trang YouTube, đã có vài người trong cộng đồng tị nạn hải ngoại hí hởn gửi email giới thiệu với bạn bè coi như đó là phim phản ánh hiện trạng xấu xa của xã hội Cộng Sản!

Cuốn phim quay dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên Cánh Đồng Bất Tận của nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư (Cà Mau). Cô này có chân trong Hội Nhà Văn Việt Nam. Cuốn truyện đã nhận được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006 tuy có gặp vài rắc rối từ chính quyền Cộng Sản.

Đó là truyện về một đàn ông ở nông thôn miền Nam có hai con (một trai chừng 12, và gái chừng 14 tuổi). Người đàn ông trước đây sống chung với vợ trong một căn nhà lá ọp ẹp ven sông. Sau đó người vợ bỏ chồng con chạy theo một tên lái buôn. Người chồng hận đời, đốt căn nhà và đem hai con sống lang bạt trên một chiếc thuyền, làm nghề chăn vịt rong ruổi trên các kênh rạch. Một hôm, có một cô gái điếm bị đánh ghen, lưu lạc đến chia sẻ cuộc sống nghèo khổ nhưng đầy sóng gió với ba cha con này. Truyện kể về thời gian bên VN bị cúm gà, nên bọn cường hào lợi dụng lùa tịch thu hết vịt của họ. Rồi cô gái 15 tuổi xinh xắn mới trổ mã cũng bị côn đồ nông thôn hiếp dâm tơi tả..

Kết thúc của truyện dừng ở đó. Nó quả tình có phơi bày tình hình đen tối ảm đạm của miền nông thôn hẻo lánh miền Nam. Trong thực tế, đó không chỉ là đặc trưng của chế độ Cộng Sản; nạn cường hào ác bá và hành vi côn đồ man rợ đã có từ thời quân chủ xa xưa cho đến thời Pháp thuộc, thời Cộng Hoà… vì những nơi đó quá xa ánh sáng văn minh.

Trong khi đó thì cuốn phim lại dẫn đến cái hậu rất tốt đẹp nói lên sự cải thiện nhờ nhà cầm quyền Cộng Sản: anh đàn ông trở nên hoà dịu, hiền lành; ngày ngày vui vẻ chèo đó đưa các em bé quàng khăn đỏ tung tăng sang sông đi học, trong đó có đứa cháu ngoại là con của cô gái bị hiếp.

Như thế, rõ ràng cuốn phim đã vẽ nên một cuộc sống êm đềm tốt đẹp của chế độ Cộng Sản khi họ dẹp được nạn cường hào, mang lại hạnh phúc tuơi sáng cho gia đình người đàn ông nghèo.

2. Sau đó, Cộng Sản cho ra mắt cuốn phim mang tên Vợ Ba nói về chuyện một bé gái 13 tuổi bị ép gả về làm vợ thứ ba của một tên nhà giàu. Trong phim có nhiều đoạn quay cảnh làm tình của người đàn ông và cô vợ nhỏ tuổi. Cảnh làm tình còn trắng trợn hơn cả trong phim ảnh Tây phương vốn coi chuyện này là tự nhiên, khác với văn hoá Á Đông coi là điều cấm kỵ. Ở Tây Phương, người ta áp dụng xảo thuật trong những cảnh làm tình; hay thuê người khác đóng thay tài tử chính, hay khi vai chính là trẻ em vị thành niên. Luật pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và phạt rất nặng nều dùng trẻ em đóng cái màn cụp lạc
 
Khi phim này được chiếu tại thành phố A., một vị nữ lưu đang là chủ tịch Cộng Đồng địa phương đã lên facebook quảng bá, mời gọi đồng hương đi xem. Cô giải thích là phim chỉ nói về tình trạng tảo hôn ở VN, có dính líu gì đến tuyên truyền đâu! Cô còn nêu thiện chí mình là người Việt Nam, phải cổ vũ cho văn hoá Việt Nam! Cô còn lý luận rằng nhà cầm quyền Mỹ không cấm cản, tại sao mình lại chống đối. Thật ra, nhà cầm quyền Mỹ chẳng có mấy thì giờ ngồi xem xét, truy vấn một cuốn phim từ một nước nhỏ. Và nếu có, thì họ cũng tưởng phía Việt Nam dùng xảo thuật chứ không nghi ngờ rằng thực tế là một cô bé 13 tuổi trực tiếp đóng cảnh làm tình!

3. Năm năm trước đây, ông thị trưòng thành phố Westminster, đã trao bằng vinh danh cho cô Ngô Thanh Vân là tài tử chính và cũng là nhà sản xuất phim Hai Phượng quay và phát hành tại Việt Nam. Phim này được nhà cầm quyền Việt Cộng chọn đại diện điện ảnh trong nước đi dự giải Oscar! Phim Hai Phượng được trình chiếu tại hệ thống rạp Regal, thuộc thành phố Garden Grove, trong mấy ngày đầu Tháng Ba, 2019.

Việc ông Tạ Đức Trí trao bằng vinh danh cho phim Việt Cộng đã bị nhiều người phê phán khá nặng. Người ta phát giác ra vợ ông này và tài tử Kiều Chinh đã có hợp tác với Ngô Thanh Vân để làm ăn trong lãnh vực điện ảnh!

Ngô Thanh Vân là một người Việt tị nạn, sống tại Hoà Lan và có quốc tịch nước này. Nhưng cô từng mặc chiếc áo thun cờ đỏ sao vàng khi tham dự các sinh hoạt thể thao trong nước Việt Nam

Phim Hai Phượng chỉ là loại phim mang nội dung bạo lực trong đó có đoạn về sự bất lực của công an VC, nhưng kết thúc vẫn là thắng lợi khi công an hoàn tất mỹ mãn nhiệm vụ bảo vệ trị an.

Một người khá có tiếng tăm trong làng báo hải ngoại là bà B, cho rằng xét về lý lịch, Ngô Thanh Vân là người tị nạn, nên ai chụp mũ cô ta là cán bộ CS thì là một kết luận vội vã! Thực tế, chẳng có ai “chụp mũ” cô ta là cán bộ CS cả nhưng chắc cô ta từng được chế độ CS đãi ngộ nên mới về làm phim (công tác văn hoá!) và được báo chí trong nước tán dương. Bà còn bào chữa rằng cô “không có chỗ cho họ thi thố tài năng nên đành trở về quê hương, chấp nhận sống trong lòng kẻ thù để có những thể hiện thuần túy lịch sử, nhân sinh hay nghệ thuật với giá trị phổ cập cao.”

Bà còn khen Ngô Thanh Vân đưa được hình ảnh xã hội Việt Nam bệ rạc, đói rách lên phim nhưng biết khôn khéo luồn lách để qua mặt nhà cầm quyền CS! Sau cùng, bà tung hô Ngô Thanh Vân như một nhà chính trị ngang tầm Joshua Wong của Hồng Kông, khi đã gửi ra được hai thông điệp cho người dân: “Đừng sợ, đừng bao giờ bỏ cuộc.” (sic)

Phần biện minh, bào chữa của bà B được quay thành video phát tán trên Youtube. Sau đó đã có nhiều dư luận nhiều chống đối.

Chúng tôi vẫn quan niệm rằng giữa bạn bè, chiến hữu thì nên chín bỏ làm muời; sẵn sàng thừa nhận điều tốt mà tha thứ điều xấu của nhau. Nhưng đối với kẻ thù Cộng Sản, việc gì cũng phải rất cẩn thận, truy cứu tận cùng để không bỏ sót một yếu tố nào. Ai chê rằng đó là hành vi “vạch lá tìm sâu,” chúng tôi xin chịu nhận vậy. Nhưng chúng tôi không chấp nhận việc biện minh một cách nông cạn bào chữa cho các văn hoá phẩm xuất xứ từ VNCS.

Phải chăng người Việt càng ngày càng quên hết những gì cay đắng từ những năm đấu tranh một mất một còn với Cộng Sản mà nay chỉ nhìn sự việc một cách hời hợt bên ngoài?

Đỗ Văn Phúc
Texas


Friday, February 14, 2025

Chính Trị Gia Chuyên Nghiệp!

Nói đến chữ ‘nghề’ là nói đến một công việc nhất định nào đó mà mỗi người khi bước vào cuộc đời đã tự chọn (có khi không chọn mà do cơ hội đưa đẩy) để kiếm sống. Muốn làm nghề, phải được huấn luyện, chỉ dẫn. Nghề có thể là trọn đời, có thể thay đổi do hoàn cảnh.

Làm công việc nhà nước cũng là một nghề. Người thì chọn làm thư ký văn phòng, người là nhân viên thuế vụ, cảnh sát, an ninh, y tá…Họ là những viên chức hành chánh, có thể làm cho đến tuổi về hưu.

Nhưng các vị dân cử, từ tổng thống đến dân biểu, nghị sĩ, nghị viên… thì không phải là nhân viên hành chánh, và việc của họ không phải là nghề theo đúng nghĩa. Họ là những người từ các ngành nghề khác nhau trong xã hội ra ứng cử vào các chức vụ để phục vụ người dân là mục tiêu chính. Khi hết nhiệm kỳ, họ có thể trở lại nghề cũ nếu còn ở tuổi làm việc. Những người giàu có như tỷ phú Donald Trump, triệu phú George Bush, Herbert Hoover; các nhà doanh nghiệp như Robert McNamara, Elon Musk, các tài tử nổi danh như Ronald Reagan, Arnold Schwarzenegger… rời các nghề kiếm bạc triệu để ra cáng đáng việc nước, chắc không phải vì đồng lương một vài trăm ngàn mỗi năm.

Trừ các chức vụ tổng thống, phó tổng thống mà Hiến Pháp ấn định tối đa hai nhiệm kỳ (8 năm), các chức vụ dân cử khác thì không có giới hạn. Đã có nhiều đề nghị nên ấn định một hạn kỳ cho họ ‘term limit’ để họ nhường việc lại cho thế hệ sau; nhưng đề nghị này khó thành, vì chính các dân biểu nghị sĩ mới có quyền thay đổi. Dĩ nhiên, họ sẽ cật lực bảo vệ cho chiếc ghế của họ và sẽ ở lì cho đến khi nào bị cử tri loại ra hay cho đến khi chết như TNS Diane Feinstein ngồi ở Thượng Viện 31 năm, chết ở tuổi 90. Ngoài ra còn nhiều vị tuy đã hết sinh khí, vẫn chưa chịu rời ra: ông Mitch McConnell, 82 tuổi, làm Thượng Nghị Sĩ từ năm 1985, đến nay đã 40 năm, từng bị chết đứng một lúc lâu lại trong khi đứng phát biểu trước Thượng Viện; Nancy Pelosi, 84 tuổi, ngồi ở Hạ Viện hơn 40 năm.

Có thể gọi những vị này là chính trị gia chuyên nghiệp mà cách nói Mỹ là ‘professional politicians,’ là ‘the establishment.’

Lương của Tổng Thống Hoa Kỳ thế nào?

Hiến Pháp Hoa Kỳ buộc các tổng thống phải nhận một khoản lương. Các vị sáng lập quốc gia muốn tránh cho các tổng thống thiếu thốn mà phải nhận hối lộ. Có nhiều điều khoản qui định về tiền lương của tổng thống để bảo đảm cho những vị yếu kém về tài chánh cũng có đủ điều kiện mà hoàn tất công việc của mình.

Năm 1789, Tổng Thống George Washington là vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ lãnh $25,000/năm. Năm 1873, Tổng Thống Ulysses Grant được tăng lương từ nhiệm kỳ hai là $50,000; đến 1909, Tổng Thống William Taft lãnh $75,000/năm; năm 1949, Tổng Thống Harry Truman lãnh $100,000/năm; năm 1969, Tổng Thống Richard Nixon lãnh $200,000/năm. Lương tổng thống tăng lên $400,000 mỗi năm từ thời Tổng Thống George W. Bush - gấp bảy lần so với lương một người Mỹ trung bình là $59,000 mỗi năm - cộng thêm $50,000 phụ cấp. Ngoài ra có thêm $100,000 cho các chuyến đi công du, phi cơ Air Force One, trực thăng Marine One, Limousine, các đầu bếp, hầu phòng…. Gia đình tổng thống cũng được cấp $100,000 để tái trang trí trong Bạch Cung theo sở thích của mình. Đệ nhất phu nhân tuy có nhiều trọng trách, nhưng không lãnh đồng lương nào cả.

Không như các nhân viên liên bang, các tổng thống và phó tổng thống được nhận quà cáp cho riêng họ hay thay mặt gia đình; nhưng quà cáp không mang tính cách hối lộ, để xin xỏ quyền lợi hay để trao đổi cho hành vi công vụ.

Trong lịch sử, đã có bốn vị tổng thống từ chối nhận tiền lương hay tặng lại cho các cơ quan chính quyền hay từ thiện. Đó là các Tổng Thống George Washington, Herbert Hoover, John Kennedy, và Donald Trump. Trước khi làm tổng thống, tài sản của ông Donald Trump năm 2017 có khoảng $4 tỷ; tài sản này tụt xuống còn $3.5 khi ông mãn nhiệm kỳ năm 2021. Tài sản ông hiện nay lên tới khoảng $6 tỷ do các hoạt động thương trường của tổ hợp Trump. Năm 2024, tổng cộng tiền trợ cấp cho ông là $1.1 triệu gồm: tiền hưu $236,000, $259,000 trợ cấp cá nhân, $406,000 cho văn phòng, $35,000 cho các chi phí linh tinh. Các tổng thống khác khi mãn nhiệm cũng nhận tương tự các khoản tiền này. hiện nay,

Do hoàn cảnh khó khăn kinh tế của cựu Tổng Thống Harry Truman, Quốc Hội ban hành Đạo luật The Former Presidents Act năm 1958 ấn định các tổng thống được trả lương suốt đời qua hưu liễm. Họ cũng được tiền phụ cấp cho các chi phí như di chuyển, văn phòng, nhân viên phục dịch, bưu phí… Tiền trợ cấp tương đương với lương các vị đứng đầu cơ quan cấp bộ; ví dụ một viên chức hành pháp cấp 1 lãnh $246,400 (vào năm 2024). Họ cũng nhận được các dịch vụ chuyển tiếp trong bảy tháng để chuẩn bị với cuộc sống mới. Khi tổng thống qua đời, người phối ngẫu lãnh $20,000/năm.

Lương phó tổng thống hiện nay là $284,600; lương chủ tịch Tối Cao Pháp Viện là $312,200; lương chủ tịch Hạ Viện là $223,500; lương dân biểu và nghị sĩ là $170,000. Các phó tổng thống và thành viên Quốc Hội được lãnh tiền hưu theo một tỷ lệ bách phân nào đó.

Về phần các thành viên Quốc Hội tiểu bang, có nhiều sự khác biệt.

Luơng dân biểu tiểu bang tính theo năm, cao nhất là $110,000 ở California và New York; $87,190 ở Pennsylvania; $71,685 ở Michigan; $67,836 ở Illinois; $62,604 ở Hawaii; $62,548 ở Massachussetts; $60,584 ở Ohio; $52,999 ở Wisconsin; $50,4000 ở Alaska; $50,330 ở Maryland; thấp dần xuống từ $49,000 ở New Jersey; $48,731 ở Washington; $48123 ở Alabama; $45,291 ở Delaware; $45,000 ở Minnesota; $40,242 ở Colorado; $40,188 ở Arkansas; từ 36,000 trở xuống ở Missouri, Oaklahoma; dưới $30,000 thì ở Florida, Connecticut, Indiana; dưới $25,000 thì có Iowa, Oregon, Arizona, Mississippi, Louisiana, Tennesseee; dưới $20,000 thì có West Virginia, Virginia, Idaho, Georgia, Rhode Island; dưới $15,000 thì có North Carolina, Nebraska, South Dakota, South Carolina, Maines; các tiểu bang trả luơng dân biểu dưới $10,000 mỗi năm là Texas, Vermont, Utah; Lương tính theo ngày làm việc thì có $188.22 ở Kentucky, $177 ở North Dakota, $150.71 ở Nevada, $150 ở Wyoming, $100 ở New Hampshire, $92.46 ở Montana, $88.66 ở Kansas, ở New Mexico, dân biểu chỉ lãnh $161 cho mỗi ngàyhọ đến Quốc Hội họp trong các ủy ban mà thôi. Dĩ nhiên, họ phải lãnh các trợ cấp như di chuyển, văn phòng, cư trú nếu không có nhà ở gần Quốc Hội.

Thành viên các hội đồng thành phố thì cũng chỉ lãnh trên dưới $1000 mỗi tháng mà thôi Tại Austin, thủ phủ của Texas, các nghị viên Hội Đồng Thành Phồ vừa tự tăng thêm $33,000 tức nhảy vọt 40%. Hiện nay họ lãnh $116,688/năm.


Đôi lúc, chúng tôi phân vân đặt câu hỏi, các vị từ bỏ công ăn việc làm ra tiền của mình để ứng cử vào các chức vụ mà lương chỉ có chỉ lãnh vài trăm đô la một tháng, thì họ sinh sống ra sao, lấy gì nuôi bản thâm chưa nói tới chăm sóc gia đình. Chẳng lẽ tinh thần hy sinh họ cao như thế? Thât quá sức, ngoài sự suy nghĩ của người bình thường như chúng tôi. Thật đáng ngưỡng mộ, suy tôn!

Nhưng sự đời lại không hoàn toàn như thế!

Tài Sản các vị Dân Cử Trước và Sau

Chúng tôi đã cung cấp cho quí vị những số liệu về lương bổng của các vị dân cử. Bây giờ thử vào Google xem tài sản của các vị này ra sao. Mời quí vị xem biểu đồ sau để thấy tài sản các tổng thống gia tăng thế nào trước (màu tím đậm) và sau khi mãn nhiệm kỳ (màu tìm nhạt):

Hai vị có sự gia tăng nhiều nhất là Bill Clinton (từ $1.3 triệu lên tới $120 triệu), kế là Barack Obama (từ $1.3 triệu lên $70 triệu). Lưu ý Hai cha con Tổng Thống Bush có tăng khoảng 20 triệu mỗi vị sau 8 năm; nhưng không có sự thay đổi về tài sản của cố Tổng Thống Kennedy; riêng Tổng Thống Trump thì tụt mất nửa tỷ đô la sau 4 năm ở chức vụ.


Sau đây là tài sản nổi của vài vị dân cử nổi tiếng

· Nancy Pelosi: Annual salary: $223,000, Net worth: $240 million

· Chuck Schumer: Annual salary: $210,000, Net worth: $81 million

· Elizabeth Warren: Annual salary: $285,000, Net worth: $67 million

· Mitch McConnell: Annual salary: $200,000, Net worth: $95 million

· Mitt Romney: Annual Salary: $174,000, Net Worth: $300 million

· Kevin Hern: Annual Salary: $174,000, Net Worth: $361 million

· Dan Goldman: Annual Salary: $174,000, Net Worth: $253 million

· Mark Warner: Annual Salary: $174,000, Net Worth: $215 million

· Michael McCaul: Annual Salary: $174,000, Net Worth: $200 million

· Alexandra Ocasio Cortez: Annual salary: $174,000, Net worth: $29,000,000 (chỉ mới ba nhiệm kỳ. Trước khi là dân biểu, cô là bồi tiệm rượu, thậm chí không có tiền mướn phòng)

· Barack Obama: Annual salary: $400,000, Net worth: $70,000,000

· Bill Clinton: Annual salary: $400,000, Net worth: $120,000,000



Chúng ta luôn ngưỡng mộ và biết ơn những người hy sinh cuộc sống cá nhân mà ra gánh vác việc quốc gia đại sự. Nhưng trên đời những người vị tha, có lòng với dân, với nước khá hiếm; mà chỉ thấy nhiều người tìm vào những vị trí chức quyền để mưu lợi riêng tư.

Chúng tôi, với sự dè dặt cần thiết, không dám bàn tán nhiều mà chỉ dám cung cấp các số liệu rất dễ truy tìm trên truyền thông xã hội. Rất khó và mất thì giờ nếu đi tìm tài sản các vị cấp tiểu bang và thành phố.

Chắc quí vị còn nhớ vụ cháy khủng khiếp ở Los Angeles tháng trước. Bà Thị Trưởng LA khởi nghiệp là nhân viên Sở An Sinh Xã Hội (1980s), sau đó vào quốc hội tiểu bang rồi liên bang; tài sản bà tích lũy hiện nay được khoảng 20 triệu đô la!

Dựa trên các dữ kiện trình bày, quí vị sẽ phân tích và tự rút ra kết luận. Có thể quí vị sẽ tìm ra câu trả lời cho câu hỏi mà trong mấy tuần vừa qua xôn xao việc Bộ Chính Phủ Hữu Hiệu (DOGE) của ông Elon Musk phanh phui “a bowl of worms” trong vài cơ quan chính phủ với hàng trăm tỷ bạc đóng thuế của dân chúng đi vào đâu?

Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin nhắc qua rằng những kẻ làm ăn phi pháp như buôn lậu hay nhận khoản tiền bất chính do hối lộ thường biết cách làm cho đồng tiền trở thành hợp pháp trước khi bỏ vào trương mục ngân hàng hay chi dùng mà không bị truy tố. Đó là các hình thức rửa tiền (money laudering) mà chúng ta thường thấy trên phim ảnh, qua sách báo. Chứ kiểu lộ liễu để bị phát giác rồi đi tù như Dân Biểu James Trafcant (D- Ohio), Dan Biểu Bob Ney (R- Ohio), Dân Biểu William Jefferson (D-Louisiana), Dân Biểu Duke Cunningham (R-California), Nghị Sĩ Bob Menendez (D- New Jersey) thì quá dở. Ông Menendez vừa bị kết án 11 năm tù vì nhận vàng hối lộ.


Lấy một vài thí dụ: Ông A buôn lậu ma túy. Muốn rửa tiền, chỉ cần cách mở một công ty dịch vụ, nhà hàng để làm bình phong và chuyển tiền phi pháp thành tiền lời trong buôn bán làm ăn. Ông B. có quyền giải ngân viện trợ, con ông ta liền được nước nhận viện trợ đưa vào Hội Đồng Quản Trị một công ty với số lương hàng triệu mà không cần có khả năng kinh nghiệm, cũng không cần phải làm gì cả. Bà C. làm chức vụ cao, có thẩm quyền chuẩn chi ngân sách viện trợ, chồng bà được nước thụ nhận viện trợ trả $500 ngàn cho mỗi lần nói chuyện. Bà P. có quyền trong việc thông qua các đạo luật liên quan kinh tế tài chánh, chồng bà là cai thầu về thị trường chứng khoán sẽ biết trước mọi người về những tin tức khẩn mật để mua đi bán lại các cổ phần, kiếm mỗi lần hàng chục triệu.

Do đó, thấy như vậy mà không dễ đâu. Những vị có tài sản hàng chục, hàng trăm triệu như danh sách trên có đủ cách chứng minh, chưa kể đa số có thế lực chính trị rất lớn chống đỡ đàng sau. Để coi DOGE sẽ thành công ở mức nào!

Đỗ Văn Phuc

Sunday, September 1, 2024

DEI: Thay Đổi Hẳn Bộ Mặt Chính Trị Xã Hội Hoa Kỳ?

Nguồn: Tiếng Lòng Ta 
Hoa Kỳ, năm mươi năm trước đây, là một đại cường quốc về các tất cả mọi mặt: kinh tế, công nghiệp, quân sự, văn hoá, nghệ thuật… Hàng hoá của Mỹ được xem là bền, tốt, đẹp nhất; công nghiệp Hoa Kỳ là tiên tiến nhất; giáo dục Hoa Kỳ được coi là ưu việt. Hoa Kỳ là thiên đường, là mẫu mực, là ước mơ của cả nhân loại.

Nhưng từ các thập niên sau này, Hoa Kỳ đã bị nhiều nuớc qua mặt hay mon men qua mặt; trong đó về kinh tế, có Trung Cộng, Nhật Bản; về quân sự có Trung Cộng, Iran…. Đặc biệt, xã hội Hoa Kỳ đang ở trong tình trạng phân hoá trầm trọng.

Dân chúng Mỹ không còn là một khối thống nhất có những lập trường, quan điểm chung mà càng ngày càng chia rẽ, mang tính cục bộ do nguồn gốc của mình. Cộng đồng sắc dân nào cũng vun xới cho họ mà quên căn cước chính là “công dân Hoa Kỳ.” Người ta đốt xé cờ Mỹ, không đứng dậy khi quốc thiều trổi lên; người ta đi biểu tình tranh đấu cho dân và quốc gia gốc của mình ngay trên đất Mỹ, giương hàng trăm lá cờ ngoại quốc (có khi cờ của phe thù địch như cờ búa liềm của Cộng Sản, cờ của nhóm khủng bố Hamas, ngay cả ISIS). Nhiều dân biểu gốc Hồi, Phi Châu, Ả Rập còn đại diện quyền lợi sắc dân gốc của họ mà chống lại chính sách Hoa Kỳ, thậm chí nói những lời nhục mạ đất nước Hoa Kỳ, nơi họ dung thân và thăng tiến.
Protestors burn an American flag during the second March on the DNC protest in Chicago, Illinois, on Thursday, August 22 2024. Protestors are marching toward the United Center where Vice President Kamala Harris is expected to accept the Democratic Party’s nomination for President.(Fox News Digital)

Trở về quá khú. nước Mỹ được xem là một “Melting Pot”; nôm na là cái nồi đun tan chảy hội nhập thành một khối. Những người dân dù là bản địa, hay di dân từ Âu Châu, Á Châu, Trung hay Nam Mỹ, Phi Châu… khi đến Hoa Kỳ đều có một mục đích là tìm một nơi đáng sống. Nơi mà tự do, bình đẳng, dân quyền, nhân quyền được bảo đảm trong câu mở đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 

We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.”

Vì thế, những người từ bốn phương hội tụ về đất hứa màu mỡ này, chấp nhận hội nhập để trở thành một dân tộc Mỹ (xin tạm dùng chữ dân tộc, dù không chính xác theo nguyên từ). Hơn hai trăm năm, ba trăm triệu dân Mỹ đã phát triển cường thịnh, trở thành vô địch nhờ một tinh thần Mỹ, bản sắc Mỹ và đã tạo ra một nền văn hoá Mỹ mà thế giới ngưỡng mộ.

Trong cách hội nhập đó, các tính cách riêng đặc thù của mỗi sắc dân cũng được bảo lưu chớ không để mai một. Những người gốc German, Jew, Irish, Scot, Chinese, African… vẫn có lễ hội của họ, vẫn cử hành lễ nghi tôn giáo. Nhưng họ không hề áp đặt những văn hoá của họ vào đời sống chung của xã hội Hoa Kỳ.

Mọi sự thay đổi trầm trọng từ khi khái niệm DEI ra đời!

Các nhóm quyền lợi, sắc dân, giới tính, tôn giáo càng ngày càng xa rời khuynh hướng chung của nước Hoa Kỳ, của dân Hoa Kỳ; mà chỉ lo vun xén cho quyền lợi cá biệt của nhóm mình. Do sự di dân, bố trí dân bất hợp lý, nhiều sắc dân đã sống tập trung ở thành phố, nhiều vùng; tạo nên một đa số trong thành phần cử tri và họ đã bầu vào chính quyền những người trong sắc dân của họ – xin kể ra vài tên hung hãn nổi bật nhất: Ilhan Omar từ Somalia, Tlaib từ Palestine, Alexandra Ocasio Cortez thuộc nhóm Hispanic – dù những người này không hề có tinh thần yêu nước Mỹ mà chỉ phục vụ cho mưu đồ và quyền lợi của sắc dân họ. Họ làm rùm beng đòi xã hội phải công nhận và truyền bá sắc thái của họ. Mạnh bạo hơn, họ đòi những đặc quyền vượt trên những đặc quyền chung. Chúng ta thấy những cuộc biểu tình của nhóm đồng tính LBGT, nhóm Black Lives Matter, nhóm Palestine ủng hộ Hamas chống Israel. Chính quyền đảng Dân Chủ, do bản chất mị dân cố hữu, đã nhiều lần cho treo cờ ngũ sắc của giới đồng tính hay cờ đen của BLM nơi công sở, trường học, dọc các đại lộ, thậm chí tại các Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở ngoại quốc.

Những nhóm dân “lạ” này mà theo tin tình báo là có sự xâm nhập sách động của bọn khủng bố, đã ngang ngược đòi hạ tượng các anh hùng lập quốc của Mỹ; đã xịt sơn, vẽ bậy lên tượng Tổng Thống George Washington; thậm chí còn kéo vào Quốc Hội Liên Bang đốt cờ Mỹ, la ó; nhưng không thấy sự can thiệp trừng trị của chính quyền đảng Dân Chủ.

Vậy DEI là gì mà đã làm thay đổi sâu sắc nếp sinh hoạt của xã hội và chính trị Hoa Kỳ?

DEI là chữ tắt của ba chữ Diversity, Equity, và Inclusion. Ba khái niệm này được coi là “ba giá trị liên đới chặt chẽ” mà các tổ chức, cơ quan được lệnh phải tìm mọi cách để cơ cấu hoá trong guồng máy của mình.
Diversity có thể dịch là tính đa nguyên, đa dạng. Trong phạm trù chính trị xã hội, đó là một khuynh hướng chấp nhận sự tham gia của mọi người có sự khác biệt về thành phần xã hội (social backgrounds), tuổi tác (ages), sắc dân (ethnicities), tôn giáo (religions), giới tính (genders and sexual orientations), khả năng thể lực (physical abilities), hoặc/và những nhân tố xã hội khác (social identities).

Equity là công bằng (fairness and justice). Tất cả mọi người được đối xử thế nào để cuối cùng họ được bằng nhau.

Equity (Bình Đẳng) và Equality (Công bình), nghe có vẻ giống nhau nhưng thật ra khác hẳn. Trong khi Equality là sự phân phối đồng đều cho mọi người, ai cũng nhận một phần như nhau thì Equity là sự phân phối nhiều hay ít để làm cho mọi người rốt cuộc sẽ được bằng nhau (Equality concerns the concept of sameness; Equity is concerned with the concept of fairness). Xem hình ảnh minh hoạ sẽ thấy sự khác nhau giữa hai khái niệm Equity và Equality.

Trong khi chế độ tự do cho mọi người cơ hội đồng đều để học hành, làm việc; sau đó, thành công và hưởng thụ là do nỗ lực của từng người. Thì khái niệm Equity lại chủ trương cho mọi người được hưởng đồng đều kết quả. Điều này nghe sao quen thuộc, như rút ra từ câu “làm theo năng lực, hưởng theo như cầu” trong học thuyết Marxism và Cộng Sản!
Inclusion là tôn trọng ý kiến tất cả mọi người và tạo ra nếp văn hoá mà bất cứ người nào từ các thành phần khác nhau (như đã nói ở trên) cảm thấy được khuyến khích để nói lên ý tưởng và quan điểm của mình. Từ đó. họ cảm thấy mình hội nhập và là thành viên của xã hội. Trong phạm trù DEI, Inclusion là một chính sách, chủ trương mở ra cánh cửa cơ hội và cung cấp tài nguyên cho những người mà trước đây bị quên lãng hay bị gạt ra ngoài lề (ý nói những người khuyết tật và những người thuộc các nhóm thiểu số).

Sở dĩ có chủ trương DEI là do nhiều người cho rằng có những cộng đồng thiểu số trong xã hội Hoa Kỳ không hề có những cơ hội đồng đều trong công việc, thăng tiến và tự họ có mặc cảm lệ thuộc vào sự sắp xếp của nhóm người da trắng đa số.

Trong bài này, chúng tôi xin phép giữ nguyên Anh ngữ ba chữ trên vì rất khó tìm những chữ Việt tương ứng mà đúng nghĩa. Chúng tôi cũng dùng ba chữ “nhóm thiểu số” để nói về các thành phần: người Mỹ gốc Phi Châu, người Mỹ gốc Latino, phụ nữ, giới LGBT, những người khuyết tật…

Chính sách DEI có thể nói nó phát xuất từ các phong trào đòi dân quyền và đã được áp dụng từ nhiều thập niên; và đã dẫn đến nỗ lực tạo ra môi trường làm việc đa dạng.

Ngày 2 tháng Bảy năm 1964, Tổng Thống Lyndon Baines Johnson ký Đạo luật Dân Quyến có tên Civil Rights Act nhằm chấm dứt sự phân biệt dựa trên các yếu tố chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, gốc tích (race, color, religion, sex, or national origin). Đạo luật này cũng xóa bỏ những điều kiện bất công khi ghi danh cử tri trong các cuộc bầu cử. Đạo Luật Civil Rights Acts nghiêm cấm sự phân biệt vì màu da (segregation) ở nơi công cộng như các thư viện hay trường học hay trên các phương tiện chuyên chở. Khoản VII của đạo luật cho thành lập Ủy Hội về Bình Đẳng Cơ Hội trong Công Việc (Equal Employment Opportunity Commission (EEOC), xóa bỏ sự kỳ thị trong việc tuyển dụng.

Những thập niên 1960 và 1970, có nhiều công ty bắt đầu áp dụng triệt để chính sách Diversity. Ngày 6 tháng ba, năm 1965, Tổng Thống John F. Kennedy ký Lệnh Hành Chánh số 10925 mang tên Affirmative Action (Hành động Khẳng định, rất khó dịch ra tiếng Việt tương ứng dễ hiểu), na ná như chủ trương Diversity. Nhưng lệnh này đòi hỏi các nhà thầu liên bang phải đối xử với nhân viên bình đẳng mà không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo hay giới tính.

Luật này được giải thích như là sự đền bù cho nhóm dân thiểu số đã bị thiệt thòi, bị ngược đãi hay bị bóc lột bởi nhóm đa số thống trị trong quá khứ! Chính cả ba yếu tố DEI cũng do từ cách suy nghĩ này.

Sắc lệnh này đưa đến hiện tượng gọi là “racial quotas” (chia phần theo chủng tộc) vì các sự tuyển dụng lại phải tính đến việc chia phần cho nhóm thiểu sổ dựa trên tỷ lệ dân số, thay vì dựa trên khả năng và điều kiện. Trong lãnh vực đại học, Affirmative Action đã tạo ra những ưu đãi phi lý cho các sinh viên thuộc nhóm thiểu số (da đen và gốc Hispanic). Họ được cho thêm một số điểm khi ghi danh vào đại học. Điều này dẫn đến việc các sinh viên giỏi thuộc nhóm đa số (da trắng và sinh viên gốc Á – không được coi là thiểu số!) bị loại để dành chỗ cho những sinh viên da đen yếu kém. Và hậu quả là đào tạo ra những người thiếu khả năng cho nền kinh tế, công nghiệp Hoa Kỳ. Đã có nhiều vụ kiện của sinh viên da trắng tuy học giỏi nhưng bị loại vì phải nhường chỗ cho sinh viên da đen kém cỏi. Sinh viên gốc Á bị thiệt thòi nhiều nhất vì không được liệt vào thành phần thiểu số.

Sự thực thi chủ trương DEI
Năm 2003, các đại công ty đã chi ra tám tỷ đô la mỗi năm cho chương trình Diversity này. Năm 2011, Tổng thống Barack Obama ký Sắc lệnh 13583 về Diversity và Inclusion. Sau khi phong trào Black Lives Matter nổi lên, rồi phong trào #MeToo, tuần báo Times xác nhận rằng năm 2019 có một sự bùng nổ trong cái gọi là kỹ nghệ DEI mà chi phí áp dụng chủ trương này trong lãnh vực giáo dục đại học tăng 27 phần trăm trong 5 năm. Năm 2020, thị trường của chủ trương DEI chiếm 7.5 tỷ đô la trong đó Mỹ chi ra 3.4 tỷ đô la.

Năm 2021, Tổng thống Joe Biden ký nhiều sắc lệnh liên quan đến Diversity (trong đó có Executive Orders 13958 và 14035). Sau vụ tên du côn George Floyd bị cảnh sát đè cổ ngạt thở chết, tạp chí New York cho hay “doanh nghiệp DEI phát triển vượt bậc như chưa bao giò xảy ra.” Báo The Economist thừa nhận rằng từ năm 2010, con số những nhân viên được tuyển theo chủ trương Diversity đã tăng lên gấp bốn. Nhiều tiểu bang đã chống đối, ban hành luật bác bỏ, không áp dụng việc dành ưu tiên vì lý do chủng tộc. Qua án lệnh nổi tiếng Bakke năm 1978 (Regents of the University of California v. Bakke), khái niệm Diversity trở thành một yếu tố trong Luật Hiến Pháp.

Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ coi việc chia tỷ lệ cho các thành phần chủng tộc trong việc tuyển dụng là bất hợp pháp; nhưng lại cho phép cứu xét về chủng tộc như yếu tố phụ để tạo tính đa dạng trong các lớp học.

Cũng do chủ trương DEI mà nhiều trường học các tiểu bang nhiều học sinh da đen đòi hủy bỏ các môn Toán, Văn trong học trình; viện dẫn lý do các môn này là của bọn da trắng thuợng đẳng, có tính kỳ thị da đen!!!

Cũng vì DEI mà các trường học đưa lý thuyết Phê Phán Chủng Tộc (Critical Race Theory) vào đầu độc học sinh, xuyên tạc lịch sử và đòi xóa bỏ những giá trị cổ truyền đã làm nên một Hoa Kỳ giàu mạnh.

Cũng vì DEI mà nhiều cơ quan nhà nước – kể cả quân đội – cổ vũ và áp đặt lý thuyết “Tỉnh Thức” (Woke, Wokeness) một chủ trương rất tả khuynh để hòng thay đổi cách suy nghĩ của quần chúng.

Cũng do chủ trương DEI này mà nhiều tiểu bang Dân Chủ phản đối luật buộc cử tri khi đi bầu phải trưng ra căn cước có hình; viện dẫn như thế là kỳ thị người da màu (đen và nâu) vì những người này nghèo không có tiền đi làm thẻ căn cước!!!

Cũng vì DEI này mà chính phủ bỏ ra hàng năm nhiều chục tỷ đô la để chăm sóc sứ khoẻ miễn phí cho những người da màu, mà theo họ, bị thiệt thòi trong xã hội.

Cũng vì DEI mà Anh Ngữ không còn là tiếng nói chung của người Mỹ. Trên các thông báo, văn thư của nhiều công ty, cơ sở nhà nước phải in kèm thêm cả tá ngoại ngữ khác.

Ngay khi chọn người ra tranh cử Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Tối Cao Pháp Viện hay các chức dân cử khác, phe Dân Chủ cũng công khai đưa ra tiêu chuẩn: Phụ Nữ, Da màu. Chính quyền của Biden bổ nhiệm dễ dàng những người đồng tính vào nhiều chức Bộ Trưởng, Giám Đốc. Họ bắt buộc quân đội Mỹ phải học tập các chủ trương DEI, Woke rập khuôn kiểu chỉnh huấn trong quân đội Cộng Sản!

Các phản ứng chống đối

Tổng Thống Ronald Reagan từng đe doạ sẽ hủy bỏ chủ trương Diversity này vào thập niên 1980s. Các công ty, hãng xưởng thì chỉ muốn xem các chủ trương này như một sự cạnh tranh để làm cho doanh ngiệp tốt hơn thay vì coi đó là các điểu khoản bắt buộc của luật pháp. Từ đó, các nhà nghiên cứu bắt đầu thử nghiệm để xem các doanh nghiệp có thật được lợi hơn hay kém đi vì chủ trương DEI.

Cho đến năm 2024, chủ trương DEI dần dần thay thế chủ trương Diversity. Nhưng có 9 tiểu bang ngăn cấm việc áp dụng DEI trong tuyển dụng. Trước đó, năm 2023, qua vụ sinh viên kiện trường Đại Học Havard (Students for Fair Admissions v. Harvard), Tối Cao Pháp Viện phủ nhận chính sách Affirmative Action và cấm các đại học dùng lá bài chủng tộc trong việc thu nhận sinh viên.

Từ năm 2020, những xung đột, xét lại nổ ra mạnh hơn.

DEI đã bị nhiều tổ chức, công ty phê bình. Họ dẫn ra những sự thiếu hiệu quả trong công việc, sự lạm dụng quyền tự do phát biểu và ngay chính những người trong nhóm thiểu số cũng bị mặc cảm do chữ DEI mà họ cho là xúc phạm chính họ.

Có lẽ do chính sách DEI này mà nhiều hãng xưởng sa sút, hàng hoá kém phẩm chất, năng suất sản xuất kém.

Trong mấy năm vừa qua, hãng Boeing liên tục bị tai hoạ giáng xuống do nhiều lỗi kỹ thuật trầm trọng trên các phi cơ Boeing 737 đến nỗi Bộ Tư Pháp, Bộ Giao Thông phải can thiệp, ra lệnh tạm ngưng sản xuất để điều tra. Nhiều nhà bình luận đã không còn e dè mà nói rằng đây là hậu quả của sự tuyển dụng nhân viên dựa trên chính sách DEI.

Từng làm việc trong các hãng lớn, chúng tôi nhiều lần chứng kiến những nhân viên da đen chẳng thèm làm gì cả. Suốt ngày họ tìm một góc khuất ngồi mở nhạc rap ra nghe và gác tay lên ngủ từng hồi; các bà đen hoặc đa nâu thì ngồi lê la trò chuyện từ đầu ca cho đến giữa buổi mới chịu về bàn mình uể oải chờ hết giờ. Nhưng các ông Giám Đốc, Quản Đốc không dám đá động đến họ. Chỉ một lá thư, một cú điện thoại than phiền cáo buộc kỳ thị là các ông gặp rắc rối ngay. Những người Mỹ gốc Phi Châu hay Latino đàng hoàng, có tư cách cũng không đồng ý với DEI vì họ cũng thấy bị xúc phạm. Họ cho rằng chính DEI càng làm cho thấy rõ thêm sự phân biệt thay vì xoá bỏ nó.

Theo báo cáo của The Chronicle of Higher Education, nhiều cơ sở đại học đã có những điều chỉnh để tránh sự phê phán. Có truờng loại bỏ từ ngữ Diversity trong các văn bản, văn phòng hay các công việc; có những trường thì đóng cửa những cơ sở mà trước đây họ lập ra vì nhu cầu Diversity; chấm dứt các khoá huấn luyện về Diversity; cũng như không còn yêu cầu nhân viên giảng dạy và nhân viên văn phòng đệ nạp những cam kết thi hành chủ trương diversity nữa.

Một bản nghiên cứu dựa trên tham khảo ý kiến 1500 người do tổ chức FIRE thực hiện cho thấy chủ trương DEI gây ra sự phân hóa trong hàng ngũ giảng dạy đại học. Một nửa số người cho hay chủ trương này vi phạm quyền tự do, tự trị đại học. Nhiều buổi diễn thuyết bị phá đám, hủy bỏ; diễn giả phe bảo thủ bị đe dọa đến sinh mạng. Theo Giáo Sư Randall L. Kennedy của Harvard University, có nhiều thành viên của Đại Học cảm thấy căng thằng và càng ngày càng có khuynh hướng chống lại DEI. Ông tự nhận mình cũng là người ủng hộ và tranh đấu cho công lý xã hội, nhưng không thể chấp nhận sự cưỡng bách áp dụng DEI.

Đại Học MIT nổi tiếng là cơ sở đại học đầu tiên loan báo bác bỏ chủ trương diversity. Báo The Economist xác nhận rằng các cơ sở đại học bắt đầu nhận ra rằng chủ trương “chống kỳ thị” không còn hiệu lực mà còn trái lại, bị nhận những phản ứng đả kích dữ dội.

Nhiều tiểu bang ban hành luật nghiêm cấm áp dụng chủ trương diversity. Tại Texas, Thống Đốc Greg Abbott coi sáng kiến DEI là bất hợp pháp. Phát ngôn nhân của ông nói rằng “vấn đề không phải là diversity- vấn đề ở đây là Equity không phải là Equality. Tại Texas, chúng tôi cho mọi người cơ hội đồng đều để thăng tiến dựa trên tài năng.” (The issue is not diversity – the issue is that equity is not equality. Here in Texas, we give people a chance to advance based on talent and merit).

Tạm kết
Bàn về vấn đề này có lẽ sẽ rất hao giấy mực và thời gian. Chúng tôi, qua bài này, chỉ muốn nêu ra luận cứ là chính chủ trương Equity không những tự nó là vô cùng bất công mà còn đưa đến sự sa sút, thoái hoá trong nhiều lãnh vực xã hội chính trị. Tại sao việc bổ nhiệm, tuyển dụng cần phải là phụ nữ, là người da màu; mà không phải là người có khả năng, kinh nghiệm? Tại sao việc thu nhận vào đại học phải có tỷ lệ da đen, da nâu mà không phải là dựa trên trình độ, trí tuệ của sinh viên? Tại sao khi cần bớt nhân viên thì không dám đụng tới những người trong các nhóm thiểu số dù họ lười biếng, kém cỏi?

Diversity, Inclusion thì có thể hiểu và chấp nhận được. Nhưng do nhu cầu kiếm phiếu, nhà cầm quyền đảng Dân Chủ đã thúc đẩy nó đi quá đà, tạo ra những bất công mới, dành quá nhiều ưu đãi cho nhóm thiểu số và đã dẫn đến sự lạm dụng, gây nhiều hao tốn ngân sách và rối ren xã hội. Tính cách thống nhất của người Mỹ, xã hội Mỹ đã bị tinh thân cục bộ lấn át. Biết đâu có ngày các sắc dân này sẽ cắt đất, đòi tự trị ở khu vực mà họ chiếm đa số!

Tình hình nước Mỹ, thời gian qua đã cho chúng ta thấy sự phân hoá trầm trọng. Giữa hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ, sự xung đột không chỉ dựa trên khác biệt về chính sách mà cả quyền lợi, quyền lực. Trong dân thì thấy chia hai phe rõ rệt. Họ bênh hay chống không vì đường lối chính sách mà vì cảm tính và tinh thần phe đảng. Các tiểu bang có khi tưởng sẽ muốn tách ra khỏi liên bang. Thật tâm đảng Dân Chủ cũng không vì lòng thương đối với những nhóm thiểu số, da màu… nhưng họ biết bỏ ra chút mồi lợi quyền mua chuộc thành phần này để tranh phiếu với đảng Cộng Hoà. Vì thế, họ là những người cực lực cổ động cho chủ trương DEI.

Do sự phân hoá mà chúng tôi đã nêu ở trên, tinh thần yêu nước cũng bị giảm đi nhiều. Với hơn mười ba triệu dân xâm nhập bất hợp pháp đến Mỹ trong ba năm qua, góp thêm vào với những người di dân kinh tế có sẵn; con số người này không hề là nguồn nhân lực quí giá, đáng tin của Hoa Kỳ. Có một tỷ lệ khá cao những người không hề thấy xúc động và hãnh diện “chúng ta là công dân Mỹ” khi nghe bản quốc thiều trỗi lên hay khi nhìn lá cờ sao sọc phất phới tung bay! Nếu có chiến tranh xảy ra, liệu thanh niên Mỹ có sốt sắng gia nhập quân đội và chiến đấu anh dũng như cha ông của mình từng biểu lộ trong hai cuộc Thế chiến I và II?

Chúng ta cầu mong dân chúng, sau nhiều biến cố hiểm nghèo, sẽ có sự tính toán, so sánh để trong cuộc bầu cử tới đây, chọn những lãnh đạo quốc gia thực tâm yêu nước. Người lãnh đạo sẽ cân nhắc để thấy ở tầm mức nào, DEI có lợi hay hại cho tương lai Hoa Kỳ. Có thế mới mong cứu vãn Hoa Kỳ trở lại vị trí hùng mạnh như xưa.

Đỗ Văn Phúc
Aug 29, 2024

Blog Archive