Showing posts with label Võ Hương An. Show all posts
Showing posts with label Võ Hương An. Show all posts

Friday, May 25, 2018

Chuyên Đà Nẵng chưa ai kể             

Khi bắt tay viết về lịch sử Đà Nẵng, tôi thực không ngờ rằng cái vùng đất nhỏ bé này lại có nhiều chuyện lý thú, rất đáng để bõ công tìm hiểu đến thế, và do đó, việc này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều gắn bó với đất với người của một miền đất nước đã nuôi gia đình tôi trong hơn hai mươi năm... Chẳng hạn chuyện Đảo Cô và chuyện Quan lớn Bảo hộ... 

Đảo Cô ở đâu?
Sau cuộc nổ súng thị uy của hai tàu Pháp là Gloire và Victorieuse tại vịnh Đà Nẵng vào ngày 15-4-1847, vua Thiệu Trị ra lệnh tăng cường phòng thủ Đà Nẵng bằng bảy pháo đài xây dựng ở bán đảo Sơn Trà với tên gọi là Trấn dương Thất bảo.

Trong bảy pháo đài đó, theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển Quảng Nam) thì bảo thứ hai được đặt trên đảo Cô với tường cao 4 thước 3 tấc (chừng hơn 2m) và chu vi 41 trượng (164m). Khi đọc được những dòng này, tôi tự nhủ: Ủa, trong vịnh Đà Nẵng mà cũng có một hòn đảo tên là đảo Cô sao?? Sao mình không thấy mà cũng không nghe ai nói tới? Bèn vội vã đi tìm bản đồ để xác định vị trí, nhưng thất vọng vì chả thấy gì cả. Lại đoán già đoán non rằng hẳn bản đồ mình sử dụng có tỷ lệ nhỏ (1/100, 000) mà hòn đảo cũng không lấy gì làm lớn nên chẳng có dấu vết nào, bèn đi kiếm bản đồ có tỷ lệ lớn hơn (1/25, 000) với hy vọng sẽ tìm ra cái hòn đảo lần đầu tiên mới được nghe tên đó. Lại thất vọng. Từ đó tôi bắt đầu một cuộc truy tầm bằng mọi phương cách, vừa tìm tài liệu và bản đồ để đọc thêm, vừa phỏng vấn những người lớn tuổi ở địa phương khi có dịp, với hy vọng nắm bắt được một manh mối nào đó.

Hơn một năm trời trôi qua trong vô ích. Một hôm, vì nhiệm vụ, tôi phải tiếp xúc với hai nhân chứng, cụ Nguyễn văn Trách và cụ Đỗ Trọng Khai tự Bút, vốn là hào lão của làngAn Hải, đều thuộc dòng dõi đã lập nghiệp ở địa phương từ trước đời Gia Long (1802-1820). Xong việc giấy tờ, tôi cầm hai ông cụ nán lại một chút và mở cuộc mạn đàm bỏ túi:

-Hai cụ ở đây lâu, vậy có biết trong vịnh Đà Nẵng có hòn đảo nào tên là đảo Cô không?

-Biết chớ. Đảo Cô là cái hòn đảo nho nhỏ nằm ở Sơn Trà chớ đâu.

Nói làm sao cho xiết nỗi ngạc nhiên và sung sướng của tôi lúc đó. Tôi thầm đùa với chính mình: sao mà hên thế, đào đất cầu âu mà lại trúng ngay mạch vàng. Tôi vội vã mang bản đồ Đà Nẵng trãi ra bàn, tay chỉ miệng nói:

-Đây là Đà Nẵng của mình đây. Làng An Hải của hai cụ đây nè.... Vịnh Đà Nẵng là đây... Sơn Trà là đây... Vậy chớ cái đảo Cô mà hai cụ nói nằm ở mô?

Cụ Khai lần ngón tay trên bản đồ rồi dừng lại ở vị trí Bộ chỉ huy Hải khu I ( Trại Chương Dương, trước 1975) và nói: "Nó đây nè" và đưa mắt nhìn cụ Trách như tham khảo ý kiến. Ông này gật đầu: “Đúng rồi đó” Tôi buộc miệng hỏi:

-Đảo đâu mà đảo, chỗ này nối với đất liền mà.

-Thì nó nguyên là hòn đảo nhưng theo ông tôi kể lại thì vua Gia Long cho đắp một con đường nhỏ bằng đá để tiện đi lại canh phòng, sau Tây đắp rộng thêm, rồi Mỹ lấp vịnh thành đất liền, làm sao thấy ra hòn đảo nữa.

À ra thế! Từ đầu mối đó, kết hợp với những tài liệu của Tây, ta, tôi có thể vẽ ra lý lịch của đảo Cô như sau: Ở phía Tây chân núi Sơn Trà có một mõm đất nhô ra khá lớn, dân địa phương gọi là núi Mõ Diều, Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là đảo Mõ Diều. Phía Nam của Mỏ Diều, cách một vịnh nhỏ, có một hòn đảo con nằm trơ trọi một mình, đó là đảo Cô.

Từ đời Gia Long, vua cho đắp một con đường đá nối đảo Cô với chân bán đảo Sơn Trà để tiện đi lại canh phòng. Đời Thiệu Trị đã xây một pháo đài trên đó, thuộc hệ thống Trấn dương Thất bảo.

Trong cuộc xâm lăng Đà Nẵng vào các năm 1858-1860, Pháp đã chiếm đảo này, đặt tên là l’Îlot de l’ Observatoire (đảo Quan sát), thường gọi tắt là l’Îlot (xem hình). Công binh Pháp đã cho phá hũy pháo đài của vua Thiệu Trị và xây một pháo đài khác, đặt tên là Fort de l’Observatoire (Pháo đài quan sát), đồng thời họ cũng đắp rộng thêm con đường đá cũ để tiện đi lại. Vị trí này, trước 1975, là Bộ Tư lệnh Hải khu I (Trại Chương Dương). Năm 1965, công binh Hoa Kỳ đã lấp cái vịnh nhỏ, nối liền đảo Cô và núi Mỏ Diều, thành ra không còn dấu vết gì để nhận ra đó là một hòn đảo nữa.

Quả thật là chuyện vật đổi sao dời, đời nào cũng có.

Chuyện Quan lớn Bảo hộ
Vụ giúp xác định đảo Cô là bước mở đầu mối giao tình giữa tôi và các cụ Trách cụ Bút nói riêng và làng An Hải nói chung, từ đó dẫn đến những khám phá lý thú khác.

Sau lần tiếp xúc với các cụ tại chỗ làm việc, thời gian sau, cho đến ngày tan hàng rã đám năm 1975, những lúc rảnh rỗi, từ cư xá nằm ở ngã tư Độc lập-Thống nhất, tôi thường thả bộ xuống bến phà máy Sông Hàn để qua làng An Hải thăm hỏi, chuyện trò cùng các cụ, nhất là cụ Bút, vì tôi đoán rằng còn có thể học hỏi nhiều ở các cụ nữa. Ngay lần viếng thăm đầu tiên, tôi hỏi cụ Bút:

-Làng An Hải có di tích gì cổ xưa không cụ?

-Có chớ. Có lăng Quan lớn Bảo hộ mà làng thờ làm hậu hiền, hàng năm cúng tế đàng hoàng vì ngài rất có công với làng..

Tôi ngạc nhiên:
-Ủa, Quan lớn Bảo hộ là ai? Cụ có biết ngài húy là chi không? Nếu biết được thì nói để tôi tra cứu trong sử sách coi sự nghiệp của ngài ra sao..

-Ờ, tôi vô tâm quá, cứ theo ông bà đời trước mà gọi, chưa bao giờ hỏi cha tôi hay ông tôi ngài húy là chi, nhưng theo đời trước truyền lại thì ngài làm quan lớn lắm... À, thầy có đọc được chữ Nho (Hán) không? Trong giấy tờ do ông tôi để lại, có tờ trát của quan lớn Bảo hộ gởi cho làng, rồi làng giao cho ông tôi giữ, có chức tước của ngài nhưng không có húy. Để tôi lục cho thầy coi, may ra biết ngài là ai.

Tôi đáp:
-Vâng, thế thì tốt quá. Chữ Nho tôi chỉ đọc được lõm bõm nhưng tôi có ông bác thông Nho lắm, thành ra cụ khỏi lo.

Sau một hồi lục lọi trong chiếc rương gỗ mộc, cụ Bút lôi ra một tờ giấy bản sờn rách nhiều chỗ ngoài mép và đưa cho tôi. Đọc lõm bõm, tôi tạm hiểu rằng tờ giấy này là một tài liệu hiếm, có liên quan đến Thoại Ngọc Hầu. Tôi ngỏ ý xin mượn, cụ đồng ý ngay.

Về nhà, tôi vội lấy xe đi đến nhà cụ Nguyễn Văn Luân, Đốc sự thượng hạng hưu trí, bạn của nhạc gia tôi, mang theo tài liệu chữ Hán vừa mượn được. May mắn, ông cụ không đi chơi tài bàn, đang nằm nhà đọc sách. Chìa tờ giấy ra, tôi nói:
-Nhờ bác đọc và dịch cho con tài liệu này. Con cần lắm. Bác đọc từ từ thì con ghi chép được.

Cụ Luân cầm tờ giấy liếc qua, đoạn nhìn tôi rồi hỏi:
-Tài liệu này hiếm lắm đây, anh moi đâu ra vậy?

Sau khi nghe tôi thuật sơ về xuất xứ, ông già hắng giọng:
-Nghe đây này:

“Khâm sai Thống chế án thủ Châu Đốc Đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên Trấn biên vụ, gia nhất cấp, kỷ lục tứ thứ, quan...
“Vì trát tri sự... “

Thì ra đó là tờ trát của Khâm sai Thống chế Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, bấy giờ đang trấn thủ Đồn Châu Đốc, lãnh nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên (thuộc địa của Việt Nam dưới triều Minh Mạng) và kiêm luôn chức Trấn thủ Hà Tiên, gởi cho xã trưởng và hào mục xã An Hải, bày tỏ sự ủng hộ nguyện vọng của bảy xã thuộc tả ngạn sông Hàn ( An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An, Nam An) muốn đoàn kết lập chợ để chống lại sự cạnh tranh của xã Hải Châu. Tờ trát đề ngày 20 tháng Tư năm Minh Mạng thứ 8, nhằm 15-5-1827 (xin xem hình).

Ảnh chụp tờ trát của Thoại Ngọc Hầu gởi cho hào mục làng An Hải, Đà Nẵng(Ảnh của tác giả)

Phát giác này làm tôi ngạc nhiên muốn bật ngữa. Tôi cảm ơn cụ Luân và chỉ nói “Thật con không ngờ Thoại Ngọc Hầu lại là người quê ở An Hải, Đà Nẵng”. 

Thật sự thì tôi rất xúc động điều vừa khám phá, vì Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là một khuôn mặt lớn trong lịch sử. Ông là một khai quốc công thần của vua Gia Long, tầm cỡ với Tả quân Lê Văn Duyệt và Trung quân Nguyễn Văn Thành, được phong tước Thoại Ngọc Hầu, là người có công khai phá miền Hậu giang, là người đã chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Hà Tiên và Châu Đốc, một công trình vĩ đại khiến vua Minh Mạng rất đẹp ý, nên đã lấy tên vợ Bảo hộ Thoại (Châu Thị Vĩnh Tế) để đặt tên cho con kinh, lại cho khắc hình kỷ niệm vào Cao đỉnh, là đỉnh số 1 trong Cửu đỉnh của Thế miếu. Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, đâu đâu cũng có dấu vết của ông. Người ta tôn thờ và biết ơn ông. Nếu có dịp đến những nơi này, nhất là Châu Đốc, bạn sẽ thấy được Quan lớn Bảo hộ hay Bảo hộ Thoại đã để lại dấu ấn tại những địa phương đó như thế nào.

Chính vì ông đã để lại một huân nghiệp như thế nên giáo sư Nguyễn Văn Hầu đã bỏ công trong hai mươi năm sưu tập tài liệu để viết cuốn "Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang", một tác phẩm biên khảo công phu, có giá trị về mặt nhân văn và lịch sử. Tôi còn nhớ (hiện giờ tôi không có sách đó trong tay) trong chương viết về dòng dõi Thoại Ngọc Hầu, khi nói đến quê quán, tác giả chỉ ghi Nguyễn Văn Thoại là người tổng An Lưu, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, với lời chú thích, đại khái là mặc dầu đã bỏ công trong hai mươi năm để sưu tầm tài liệu (sử sách, gia phả, bi ký, bằng sắc...) nhưng ông cũng không thể xác định được Nguyễn Văn Thoại là người thuộc làng nào xã nào của tỉnh Quảng Nam. Cái điều giáo sư Nguyễn Văn Hầu săn tìm trong hai mươi năm mà không gặp, nay bỗng nhiên lại tình cờ ở trong tay tôi.

Vài hôm sau, được lúc rảnh rỗi, tôi lại thả bộ qua An Hải gặp lại cụ Bút. Tôi nhập đề ngay:
-Cụ ơi, tôi biết được húy của ngài rồi. Quan lớn Bảo hộ của làng An Hải thật ra lớn lắm, tầm cỡ quốc gia chứ không phải riêng chi làng An Hải đâu.....

-Đâu? Đâu? Chuyện ra răng, thầy làm ơn kể cho tui nghe coi.

Tôi trả lại tờ trát và kể lại sự tích Thoại Ngọc Hầu. Có thể từ bao lâu nay làng An Hải cảm thấy hãnh diện về Thoại Ngọc Hầu như là một thân nhân làm lớn chứ chưa biết hết cái huân nghiệp của ông đối với một miền hoang dã nhưng trù phú của đất nước. Do đó, trong câu chuyện, tôi nhấn mạnh về điểm này và ghi nhận ông cụ rất xúc động. Ông dẫn tôi đi coi đình thờ (thờ chung các hậu hiền của làng) đang được tu sửa và than phiền rằng ngân khoản eo hẹp quá, chỉ làm sơ sơ thôi chứ chưa đúng mức như ý muốn.. Tôi góp ý:

-Cụ à, Quan lớn Bảo hộ không phải là một danh nhân của riêng chi làng An Hải mà còn chung cho cả Quảng Nam–Đà Nẵng nữa. Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng phải hãnh diện có một danh nhân như vậy, nên việc tu sửa này chính quyền cũng phải góp phần giúp đỡ. Cụ và các cụ hương lão cùng ban hội tề nên có kế hoạch quyên góp mở rộng để có được ngân khoản dồi dào hơn hầu việc trùng tu được tới nơi tới chốn. Nếu các cụ làm thì tôi xin giúp một tay, chẳng giàu có chi để giúp tiền giúp bạc, nhưng sẽ giới thiệu các cụ đến những nơi hằng tâm hằng sản, những nơi mình có thể gõ cửa được.

Đề nghị này về sau đã được các cụ thực hiện và Chương Trình Khuếch Trương Đà Nẵng và Vùng Phụ Cận, do anh Nguyễn Hà Hải làm Tổng Giám đốc, là thành phần chủ lực đã giúp đỡ hoàn thành ngôi đình khá bề thế.

Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên các cụ có đề cập đến lăng Quan lớn Bảo hộ. Nhờ đọc tác phẩm biên khảo của học giả Nguyễn Văn Hầu mà tôi biết rằng không thể có lăng của Thoại Ngọc Hầu ở An Hải, nhưng để kiểm chứng đó là lăng của ai thì mãi về sau mới có dịp..

Có dính một chút vào việc biên khảo nên tôi rất thông cảm với học giả Nguyễn Văn Hầu về nỗi buồn khi không tìm được tài liệu như ý và niềm vui, có khi còn sướng hơn bắt được vàng, khi tìm được cái muốn tìm hoặc phát hiện ra những tài liệu chưa hề được công bố. Do đó, khi nắm trong tay thông tin và tài liệu mới mẻ về Thoại Ngọc Hầu tôi đã viết một bài (lâu ngày quên mất nhan đề) định gởi cho bán nguyệt san Bách Khoa, nhưng rồi cứ phân vân mãi: nên chăng, đăng báo "lấy tiếng", hay là cung cấp tài liệu cho giáo sư Nguyễn Văn Hầu để ông có thể bổ sung tác phẩm được đầy đủ hơn, như vậy mới là thực sự cảm thông nghiệp cầm bút, dù chưa hề quen biết. Một hôm, nhân công tác ở Huế, nghe nói giáo sư bảo trợ của tôi lúc đó là giáo sư Nghiêm Thẩm đang có giảng khóa ở Đại học Văn Khoa Huế, tôi đến cư xá thăm và hỏi ông:
-Em biết thầy quen ông Nguyễn Văn Hầu. Vậy thầy có thể vui lòng cho em xin địa chỉ của ông ta được không?

-Anh xin địa chỉ của ông Hầu để làm gì?

Tôi lược thật câu chuyện và nói muốn liên lạc để cung cấp cho ông những thông tin và tài liệu vừa khám phá vì thấy ông đã đầu tư quá nhiều công sức vào tác phẩm mà vẫn chưa vừa ý, nên rất thông cảm. Giáo sư Thẩm ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:
-Theo tôi, anh nên gởi bài cho Bách Khoa.

Trở lại Đà Nẵng, tôi gởi bài.. Tôi còn nhớ trong phần kết thúc có để lời nhắn đại khái rằng nếu đọc bài này mà tác giảThoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang muốn biết thêm chi tiết thì xin liên lạc với tôi theo địa chỉ…, tôi sẵn sàng trả lời.

Bài gởi đi chừng mươi ngày thì tôi nhận được thư, không phải của Bách Khoa mà là của giáo sư Hầu. Ông cho biết Bách Khoa đã báo cho ông biết về bài báo và để cho ông được đọc trước khi đăng. Nhân câu nhắn tin của tôi, ông yêu cầu Bách Khoa tạm hoãn để ông liên lạc với tôi xem sao đã. Ông xin lỗi về việc đó và ngỏ ý mong muốn được tôi hợp tác, giúp đỡ, bằng cách cung cấp những tài liệu và hình ảnh đã và sẽ sưu tập, đồng thời trả lời những câu hỏi liên quan đến quê hương và thân quyến Thoại Ngọc Hầu mà ông thấy chưa được sáng tỏ. Tôi biết ông rất nóng lòng trông hồi âm nên vội trả lời vắn tắt là chấp nhận hết thảy mọi điều ông yêu cầu trong niềm thông cảm của kẻ cầm bút; riêng về hình ảnh và tài liệu, cùng là trả lời những câu hỏi do ông nêu ra thì phải chờ lâu hơn vì tôi cần thời gian để thu thập thêm những chứng dẫn cần thiết, đặc biệt có một số lăng mộ nằm trong khu quân sự thuộc loại mật, không dễ chi chụp hình ngay được.

Thật vậy, ngoài hai sở lăng nằm trên một nỗng đất cao cách nhà cụ Bút không xa mà tôi đã từng được dẫn đi thăm và biết là lăng của ông bà nội Thoại Ngọc Hầu, còn cái lăng mà các cụ nói là lăng của Bảo hộ Thoại lại nằm trong khu vực Tổng kho Đà Nẵng, được canh phòng cẩn mật và dĩ nhiên bảng cấm chụp hình yết la liệt. Tôi không quen sĩ quan Chỉ huy trưởng nên chưa biết làm thế nào để có thể xâm nhập vùng cấm địa mà khảo sát đây. Một hôm, nhân đi uống cà-phê với nhà văn Duy Lam (trung tá Nguyễn Kim Tuấn, Quân đoàn I) tôi than thở về cái “kẹt” của mình, và hỏi anh có quen với trung tá X. Chỉ huy trưởng Tổng kho Đà Nẵng không? Anh cười thoải mái:

-Tay đó tôi quen thân lắm. Để trong tuần này hễ ngày nào thư thả, tôi sẽ điện thoại cho anh biết, chuẩn bị, rồi tôi chở vào đó, gặp anh ta nói chuyện. Không có gì trở ngại đâu.

Quả như anh Duy Lam dự liệu, tôi đã vào được khu vực Tổng kho Đà Nẵng, khảo sát ngôi lăng cổ, ghi chép và chụp hình thoải mái nhờ sự thông cảm bạn bè. Và đúng như tôi nghĩ, đó không phải là lăng Quan lớn Bảo hộ mà chính là lăng thân phụ ông ta.

Mấy chục năm đã trôi qua, thật khó mà nhớ hết những gì tôi đã gởi vào Long Xuyên cho giáo sư Hầu. Dĩ nhiên, ông rất sung sướng và cảm động về những gì tôi đã làm cho ông và cho biết với những tài liệu đó ông có thể viết thêm một chương mới để bổ sung cho tác phẩm khi tái bản. Ngược lại, tôi cũng cảm thấy hoan hỷ vì trên đường đời lại nảy ra một mối giao tình mới. Tôi muốn đứng giữa làm gạch nối Châu Đốc và Đà Nẵng để hai bên, những người còn mang nặng lòng tri ân và tưởng nhớ tới Thoại Ngọc Hầu, có thể gặp gỡ nhau, mở rộng tình tương thân tương ái giữa hai quê hương của cùng một danh nhân. Bây giờ thì không còn nhớ đã đem việc này ra bàn với các cụ ở An Hải và giáo sư Hầu chưa, nhưng dù rồi hay chưa thì mọi tính toán cũng đều tan theo mây khói trong cơn lốc mùa Xuân 75..
.
Sinh Nguyễn Tử Trần
Một buổi chiều, khoảng hai giờ, đang ngồi làm việc thì người trực an ninh vào báo có phái đoàn làng An Hải muốn vào gặp. Tôi nói xin mời vào, và thoáng một chút ngạc nhiên: sao không nghe cụ Bút nói gì cả?

Phái đoàn gồm có năm vị, trong đó tôi chỉ còn nhớ có hai người là cụ Bút và ông Trần Văn Mẹo, nghị viên Thành phố Đà Nẵng. Mục đích của phái đoàn là chính thức cảm ơn tôi và trao tặng bảng “Công Đức Vô Lượng” vì tôi đã có công trong việc giúp trùng tu đền thờ Thoại Ngọc Hầu. Thôi thì không biết nói làm sao, đành “cung kính bất như tuân mệnh”, xin nhận lãnh và cảm ơn làng vậy. Trong câu chuyện, tôi lại nhấn mạnh về tầm vóc của Thoại Ngọc hầu đối với đất nước và nhân đó xin tặng làng cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Hầu viết về Bảo hộ Thoại để làm kỷ niệm. Họ đòi phải có con dấu chức vụ và chữ ký của tôi mới chịu nhận, thôi thì cũng chiều lòng. Không biết cuốn sách đó nay làng có còn giữ không.

Chúng tôi chuyện trò khá lâu và bỗng một vị trong phái đoàn vừa cười vừa nói rằng:
-Thực ra, làng chúng tôi có đến hai danh nhân, mà hai danh nhân này lại đối nghịch nhau. Quan lớn Bảo hộ là danh nhân thuộc phe chiến thắng, tiếng tăm lừng lẫy, sử sách ghi chép nên ai cũng biết; còn ông kia là danh tướng thuộc phe chiến bại, không ai dám nhắc tới, lâu ngày rồi quên luôn.

Tôi ngạc nhiên quá đỗi:
-Xin cho biết là ai vậy?

-Là tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đó. Ông Trần Quang Diệu cũng là người làng An Hải chớ đâu, nay con cháu vẫn còn. Như ông nghị viên Trần Văn Mẹo đây là thuộc dòng dõi tướng Trần Quang Diệu đó.

Tôi ngạc nhiên thiếu điều bật ngửa.. Lòng tự nhủ: sao mảnh đất An Hải nhỏ bé hiền hòa vậy mà lắm chuyện ly kỳ đến thế! Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, danh tướng khai quốc công thần của Nhà Nguyễn người làng An Hải, mà viên dũng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cũng người làng An Hải! Tướng Trần Quang Diệu cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã từng nhiều phen làm vất vả điêu đứng quân của Nguyễn Vương (vua Gia Long sau này), gây cản trở lớn trên bước đường tiêu diệt Tây Sơn. Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, nhà vua không những hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc. 

Theo lời kể của ông nghị viên Trần Văn Mẹo, khi nghe tin dữ ở kinh đô Huế, có người đã vội vã về ngay làng An Hải báo tin cho họ Trần biết để tìm cách lánh nạn trước khi lệnh truy nã đến. Nhờ hương lý và dân làng đều có cảm tình với họ Trần nên đã giúp một số gia đình đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, đi lánh nạn phương xa. Số còn lại, gồm những người không đi được hay không muốn đi, đều cải sang họ Nguyễn. Do đó, khi lệnh truy nã tới thì không còn ai họ Trần để bị bắt giết. Vì sự sống mà phải bất đắc dĩ mang họ Nguyễn, nên đến khi chết thì con cháu đều trở lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo, gọi là “Sinh Nguyễn tử Trần”. Sau khi triều đình Huế nhường đất Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa (1888), quyền lực địa phương không còn ở trong tay Nhà Nguyễn nữa, không có lý do gì để phải sợ hãi đề phòng nữa, nên một số đã trở lại họ Trần (chẳng hạn chi của ông Trần Văn Mẹo), phục hồi dòng tộc cũ của ông cha, số còn lại vẫn giữ tục “Sinh Nguyễn tử Trần”.

Khi nắm được thông tin lý thú này, tôi dự tính sẽ làm một cuộc sưu khảo về dòng dõi Trần Quang Diệu ở An Hải, vừa để xác minh những điều vừa mới ghi nhận, vừa hy vọng biết đâu lại tìm ra được những điều mới mẻ lý thú khác nữa ở cái vùng đất có bề ngoài nhỏ bé khiêm tốn nhưng lại mang nhiều chuyện xưa tích cũ bất ngờ này. Nhưng rồi tháng Ba gãy bút./-

VÕ HƯƠNG-AN

Thursday, September 29, 2016

A- Lăng Nghịch

Võ Hương An



Hơn hai mươi năm rồi, còn gì. Giá như trời cho còn sống thì A- Lăng Nghịch nay chắc cũng đã bạc râu trắng tóc và trở thành già làng rồi chứ chẳng chơi.

Đâu chừng như bấy giờ là giữa năm 1978. Trong bữa cơm chiều anh Tuyên nói với tôi:

- Đội mình có thêm người mới. Như vậy từ nay Đinh Xinh có thêm dưới tay một tên lính nữa, tha hồ mà sai.

Tôi hỏi:
- Ai vậy? Sao lại làm lính của Đinh Xinh?

- A-Lăng Nghịch. Nghe nói người dân tộc Kà- tu ở huyện Giằng, can tội hình sự.

Bấy giờ tại Trại Tiên Lãnh thuộc tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng hễ có bao nhiêu anh tù thuộc thành phần dân thiểu số thì đều đưa hết vào đội Sản xuất, bất kể can tội chính trị hay hình sư, lập thành một tổ độc lập, do Đinh Xinh làm tổ trưởng. Cho đến lúc đó, dưới tay của Xinh chỉ còn lại 2 người là Đinh Don và Đinh Xiêm. Tuy cùng là sắc tộc Kà- tu và mang họ Đinh, nhưng theo tôi biết họ chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Cái “tổ dân tộc” này chuyên đặc trách đi lấy mật ong, được hưởng rất nhiều tự do và được “bồi dưỡng” (cho ăn thêm) thường xuyên, khi thì gạo, nếp, khi thì sắn, bọn tù chúng tôi thấy cũng thèm. 

Xinh nguyên là Trưởng chi Cảnh sát của một xã thuộc quận miền núi Trà My cũ, văn minh Kinh, Thượng gì cũng rành hết, đã nhiều phen về Tam Kỳ, Đà Nẵng chơi gái, đánh bạc, nên việc cai quản hai tay dân tộc kia là chuyện quá dễ. Nay thêm một anh Kà- tu nữa thì có sao đâu. Và dĩ nhiên anh Kà- tu mới này quanh năm sống với núi rừng thì làm gì có được những tin tức hữu ích từ cuộc sống bên ngoài mà mình mong đợi, vậy thì quan tâm làm chi. Tôi nghĩ thế, nên không có ý định làm quen với Nghịch. Cho đến một ngày nọ, có dịp làm việc chung với anh ta, gần gũi, chuyện trò thì cái nhìn của tôi đối với Nghịch thay đổi hẳn.

Là tù cải tạo, anh nào đi lao động khổ sai cũng có mang theo một “cái túi càn khôn” để “cải thiện”. Thực ra đó chỉ là cái túi nylon giắt ở lưng quần hay cái túi vải may bằng bao cát mang nơi vai, nhưng được gọi lớn lối như thế vì dùng để đựng bất cứ thứ gì ăn được mà tù nhặt được, hái được, bắt được, lượm được – nghĩa là “cải thiện” -  trên đường đi hay trong lúc lao động. Cóc, nhái, rắn mối, hổ mang, rắn nước, chẫu chuộc, ếch (ối dà, trúng số) rau má, rau lang, rau dền hoang, rau sam v.v. và v.v. đều có thể cho vào túi được hết.

Buổi sáng hôm đó dường như cả Nghịch và tôi đều được tổ đãi. Trong khi phát bờ khu ruộng mà tay tổ trưởng phân công cho hai đứa, chúng tôi đã bắt được rất nhiều nhái, cái túi nylon của đứa nào cũng căng kè, hứa hẹn một bữa ăn trưa dồi dào chất đạm.

Giờ nghỉ trưa. Trong khi anh Tuyên luộc rau thì tôi lui cui xuống suối làm nhái. Ngắt đầu, lột da, móc ruột vứt đi, chao xuống suối một cái, rảy vài cái cho ráo nước, ném tọt vào cái chén nhôm, thế là xong một con. Tôi làm rất lẹ nhưng số nhái nhiều nên cũng lâu xong. Anh Tuyên luộc rau xong, đi xuống suối thấy tôi vẫn còn đó, liền ngồi xuống phụ một tay. Vừa làm anh vừa nói:

- Có lẽ mình nên bắt chước thằng Nghịch, vừa nhanh vừa lợi.

- Là sao?

- Nó đâu có ngắt đầu lột da. Nó chỉ móc ruột vứt đi, là xong. Với chuột, nó cũng không lột da. Nó thui rồi nhổ lông, mổ bụng vứt bộ lòng, là nấu.

- Ẹ quá. Làm kiểu đó chỉ có nó ăn thôi chứ ai mà ăn được.

Buổi chiều, trong khi giải lao dưới bóng mát của cây vối bên bờ ruộng, tôi hỏi Nghịch:
- Ê Nghịch, nghe nói cậu làm nhái không lột da hả? Mất vệ sinh lắm nghe, nhái ở dưới ruộng, da dính bùn đất, dơ lắm.

Nghịch nhướng mắt hỏi lại:
- Anh nói con nhái mà dơ hả? Anh dơ thì có.

Tôi cười:
- Ê, nói tầm bậy nghe. Ngày nào lao động xong, chiều về mình cũng tắm suối cả, sao nói rằng dơ?

Nghịch nói chăm bẳm:
- Mình nói anh dơ hơn con nhái. Mỗi ngày anh chỉ tắm có một lần, còn con nhái một ngày tắm bốn năm lần. Hắn cứ trên bờ nhảy xuống ruộng, tắm, lội, rồi lại nhảy lên. Một ngày nó cứ nhảy lên nhảy xuống như vậy không biết mấy lần, như vậy không phải là nó tắm nhiều lần hơn anh hay răng? Tắm nhiều lần thì phải sạch hơn chớ!

Nếu ai đã có lần sống với ruộng đồng thì sẽ hiểu ngay cái lối lý luận của Nghịch. Số là ếch, nhái, chẫu chuộc v.v. thường hay làm hang ở bờ ruộng. Khi ta bước đi, con nhái đang ở trong hang nghe tiếng động liền hoảng hốt nhảy tòm ngay xuống ruộng nước. Dưới cái nhìn của Nghịch, đó là một lần tắm. Khi tiếng chân đi xa, thấy vắng, con nhái lại nhảy lên bờ, tìm về hang cũ, để rồi khi có tiếng động, lại nhảy xuống lẩn tránh.

Tôi thực sự ngạc nhiên trước lối lý luận đó. Ngây thơ nhưng không hẳn là vô lý. Tôi cười xòa, công nhận là Nghịch nói đúng, cho xong chuyện. Điều buồn cười nhất là về sau, khi thâm niên núi rừng gia tăng, thì tất cả chúng tôi, tù chính trị 75 của trại Tiên Lãnh, đều không ai bảo ai mà cùng theo cái kiểu ăn không lột da của A- Lăng Nghịch, vừa nhanh vừa tiết kiệm thời gian và chất đạm!!.

Từ sau cuộc đối thoại đó, tôi nhận ra rằng Nghịch là một anh Kà- tu khác với ba anh kia, nên thường lân la trò chuyện khi có dịp.

Mỗi tối, khoảng 8 giờ rưỡi, sau khi đi nhận công tác từ trại trưởng, đội trưởng thường họp cả đội để phân công tác ngày mai, ai sẽ làm gì, và làm ở đâu. Hôm đó, tôi cùng 14 người nữa, trong đó có A- Lăng Nghịch được cắt đi lấy mây chống bão ở Rừng Đồng 12, nghĩa là phải vào sâu trong rừng mới có. Mặc dầu đã đi rừng nhiều lần, khi thì đốn giang, khi thì lấy mây, đốn cây, đốn tre, cắt lá nón v.v. nhưng tôi vẫn là một tay đi rừng tay mơ, nhiều lần suýt lạc đường, nếu bạn tù không sớm hú gọi và tìm ra kịp. Anh em trong đội đều biết chỗ nhược đó của tôi, thương tình nên thường rủ đi chung, không cho đi một mình. Hôm đó, nghe trong danh sách phân công có tên của Nghịch, tôi liền gạ ngay “Ê Nghịch, mai cho mình đi chung với nghe”. Nghịch nhận lời ngay.

Gọi là Rừng Đồng 12 vì Đồng 12 là cửa rừng. Tôi đã vào rừng này nhiều lần, khá quen thuộc với đoạn đường ở bìa rừng nên cứ đi phom phom như trên đường nhựa. Một lát ngoảnh lại, không thấy Nghịch đâu cả, tôi đứng chờ và hỏi người bạn vừa đi tới:

- Anh có thấy A- Lăng Nghịch đâu không?

- Nó đang đi tà tà đàng sau.

Đi tà tà? Tôi đang tự hỏi ngó bộ mấy tay dân tộc có kiểu đi rừng lạ lùng vậy hay sao? Tôi thấy Nghịch đang đi tới, đúng là tà tà. Cây rựa vác trên vai phải, cái túi càn khôn mang trên vai trái, Nghịch bước nhàn nhã, ung dung như đi dạo mát, khi thì ngước mắt nhìn lên tán cây rừng dày đặc ở trên cao, khi thì đưa mắt nhìn phải nhìn trái như thăm chừng, dò hỏi. Tôi la lên:

- Trời đất ơi! Đi rừng là ngón nghề của người dân tộc, mà sao cậu đi chậm vậy? Ngó tà tà như mấy người đi dẫn lễ vô đình không bằng. Đi như vậy thì trưa mới tới nơi, làm sao đạt chỉ tiêu?

- Mình đi nhanh như mấy anh cũng được chớ. Nhưng mình phải tỏ ra lễ độ.

Tôi ngạc nhiên:

- Cậu nói lễ độ là lễ độ với ai? Sao lại phải lễ độ?

- Lễ độ với ông bà xứ xang ở đây. Rừng ở bên xứ mình là nhà của mình rồi. Ông bà bên đó biết mình rồi, nên mình không sợ. Còn ở đây, rừng này là rừng của xứ xang khác, thuộc ông bà khác. Lần đầu tiên đi rừng này cũng như vô một nhà lạ vậy. Hễ mình tới nhà ai lần đầu, mình cũng phải tỏ ra lễ độ thì chủ nhà mới không ghét mình. Có vậy ông bà xứ xang ở đây mới có cảm tình với mình mà không trách phạt mình.

- Vậy ra lần đầu tiên cậu mới vào rừng này à?

- Phải. Hễ khi nào vô một rừng mới mình cũng phải tỏ ra lễ độ như thế.

- Hay quá hè. Người Kinh tụi mình không biết chuyện đó.

Lại một lần nữa tôi trả lời cho qua chuyện, nhưng trong thâm tâm lại vấn vương câu hỏi: trong trường hợp này, liệu mình có dám nói là mình có trình độ văn hóa cao hơn A- Lăng Nghịch chăng??

o0o

Bấy giờ, trại mới chỉ “hiện đại hóa” có một nửa. Nghĩa là một nửa nhà tù đã được xây gạch, lợp ngói (tù đốn cây, xẽ gỗ, làm gạch ngói, nung vôi, và tự tay xây nhà giam chính mình chứ chẳng là tiền của ai cả) còn một nửa thì vẫn còn ở nhà tranh. Ở nhà tranh có cái thú là tối lại, khi chưa tới giờ giới nghiêm thì có thể thơ thẩn đi lại chuyện trò trong sân, nếu không phải là mùa lạnh. Vào đêm trăng ngày hè, ngồi ở bờ đá dưới gốc cây mà ngắm trăng và hưởng gió mát rừng xanh thì cũng có thể tạm quên đi trong chốc lát nỗi nhọc nhằn của một ngày khổ sai.

Cũng trong một đêm trăng như thế, tôi đang chuyện trò trên trời dưới đất với Trị thì anh Tuyên đến nói nhỏ:

- Này, anh tới mà coi thằng Nghịch đang nhớ nhà, ngồi khóc kia kìa. Ba đêm nay, đêm nào tôi cũng thấy nó ngồi đó một mình, tới nói chuyện thì thấy nó khóc, nói là nhớ nhà, nhớ vợ.

Theo tay anh chỉ, tôi thấy một bóng người ngồi cô độc trên tảng đá lớn dưới gốc cây cốc. Cả ba chúng tôi cùng tiến lại phía đó. Tôi lên tiếng:

- Sao ngồi một mình buồn bã vậy Nghịch?

- Mình nhớ nhà.

Anh Tuyên phì cười:
- Vậy là chưa thành khẩn khai báo. Nhớ vợ mày, nhớ “cái xẽng” của vợ mày thì nói thiệt cho rồi, còn bày đặt nói nhớ nhà.

- Anh nói tầm bậy. Mình nhớ nhà thiệt mà. Mình nhớ con trâu, mình nhớ bầy gà, cái gùi, cái nõ, mình nhớ bụi chuối, con heo, mình nhớ đủ thứ hết. Mấy anh không hiểu mình đâu.

Tôi nói:
- Nhớ nhà, nhớ vợ, là chuyện thường tình, ai đi xa mà lại không nhớ, phải không Nghịch? Mình cũng rứa. Thôi, anh Tuyên đừng chọc Nghịch nữa.

- Phải đó. Đừng chọc mình, tội nghiệp. Mình buồn, mình nhớ vợ mình. Mấy anh thấy không, ở đây mình thấy trăng, ở nhà vợ mình cũng thấy trăng, cả hai đứa mình thấy trăng mà không thấy nhau.

Trời đất quỷ thần ơi! Tôi suýt kêu lên như thế khi nghe câu nói thốt ra từ miệng A- Lăng Nghịch. Ơi cụ Nguyễn Du ơi, ơi ông Tình sử ơi, cái anh chàng Kà- tu lù đù này đang mon men làm thơ với các cụ đó. Vừa đi vào “chuồng”, Trị cười cười bình luận “Nếu có chữ, anh chàng A- Lăng Nghịch này có thể là một thi sĩ. Chỉ phải cái tội sinh trưởng ở trên rừng.”/-

Võ Hương An

Saturday, September 17, 2016

Nhớ cây tre
 
Võ Hương An  

Image result for bamboo photos

Nhà tôi ở trong Thành Nội, còn quê nội tôi là làng An-Ninh nằm bên bờ sông Bạch Yến, hai bên bờ bóng tre xanh mát suốt dòng sông. Hồi còn bé, xe đạp đang còn hiếm -- nói chi tới xe gắn máy hay hệ thống xe bus từ trung tâm thành phố tỏa ra vùng phụ cận như từ 1955 trở đi -- mỗi lần có giỗ lớn, tôi theo thầy tôi hay mạ tôi cuốc bộ về quê dự đám giỗ. Chúng tôi ra cửa Hữu, qua đò Kẻ Vạn, qua chợ Kẻ Vạn, rồi từ đó băng qua các làng Phú Xuân, Phú Mộng để về làng. Những rặng tre hai bên đường giao ngọn, tạo thành một tàn lá che nắng tuyệt hảo. Ngày hè, sau khi phải đội nắng hanh hao qua những con đường sỏi đá không bóng cây, rồi được đi trong những con đường làng rợp bóng tre như thế, tự nhiên thấy tươi tỉnh ra. Những lúc đó mà được mạ ghé vào một cái quán bên đường để tạm nghỉ chân, lại cho thêm cái kẹo gừng hay miếng kẹo đậu phụng kèm đọi nước chè xanh thì cuộc đời thấy đáng yêu ngay và hành trình lội bộ mất non nửa ngày thấy không còn đáng ghét nữa.

Một người bạn thủy chung

Cây tre của Việt Nam có mặt khắp nơi, không chỉ tạo nên cảnh quang điển hình của làng quê Việt Nam mà còn gắn chặt vào mọi mặt sinh hoạt của người dân từ lúc mới oa oa chào đời cho tới khi trăm tuổi giã từ trần thế.

Cũng như nhiều dân tộc khác ở vùng Đông Nam Á, người Việt sống nhờ hột gạo. Vì vậy việc vinh danh cây lúa qua những lễ hội liên quan đến nghề nông – chẳng hạn lễ Tịch điền của triều đình, lễ xuống đồng, lễ cúng cơm mới của nông dân – là việc đương nhiên phải có. Điều đáng nói là sau cây lúa, cây tre đã gắn liền với đời sống người dân trong từng hơi thở, vậy mà chưa thấy một hành động hay một lời biết ơn. Này nhé, nào mái nhà tre lợp tranh che mưa che nắng, tấm phên tre che gió che sương, rồi nôi tre, giường tre, chõng tre, gối tre, guốc tre, và biết bao thứ đồ dùng khác trong nhà cũng từ tre mà ra. Nào rổ, rá, giần, sàng, nong, nia, thúng, mủng. Nào bầu, trạc, giỏ, lồng, bồ, sề, nơm, rọ. Thiệt không thiếu thứ chi. Trong nhà đã vậy, bước ra sân ra vườn, cây tre cũng có mặt trên từng bước đi. Luống cải kia không bị gà bới là nhờ có mành tre vây quanh; bụi cúc vàng nọ trước sân đứng vững trước gió mạnh lắt lay để khoe màu với khách là nhờ tựa vào cái chói tre cứng cáp. Nói chi đến dàn hoa thiên lý hay dàn bầu dàn bí tốt tươi trước hiên nhà, không có tre bắt chói làm dàn thì lấy chi cho mày bò lan để đơm hoa kết trái?

Ngày xưa, khi ánh sáng khoa học của Tây phương chưa soi tới, nào ai biết nhiễm trùng là chi. Lắm bà mụ vườn không ngần ngại dùng con dao làm bằng cật tre hay cật nứa để cắt nhau rốn cho trẻ sơ sinh. Thôi thì đứa nào trời cho sống cứ sống, còn nếu lỡ nhiễm trùng mà chết thì đổ cho con ranh con lộn, có sao đâu. Chiếc nôi tre tuy không đẹp nhưng cũng đủ êm để cho bé ngon giấc trong năm tuổi đầu tiên. Rồi bé lớn lên thành người, bôn ba, bươn chải với đời. Khi người nằm xuống, lại ngọn tre phơ phất lá triệu dẫn đầu đám tang, đưa tiễn người lần cuối. Hỏi có ai chung thủy bằng tre?

Ngày trước, người Việt mình quan niệm rằng những vật bằng kim loại (thiết khí) để gần thi hài sẽ ảnh hưởng tới sự siêu thoát của người chết. Vì vậy chiếc quan tài cổ truyền của Việt Nam hoàn toàn không có một cái đinh nào. Sáu tấm ván được cố kết bằng khe, mộng, chốt và nêm. Quan tài có khi quàn đến cả tuần hay cả tháng để chờ thân nhân ở xa về, để chờ thầy chọn cho được cuộc đất tốt, để chờ ngày tốt giờ tốt v.v. Làm sao giữ cho cái nắp quan tài khỏi bung ra dưới sức nén của khí phân hủy thoát ra từ thây ma mà không cần dùng đến đinh sắt hay dây thép? Ấy, lại nhờ đến tre. Nắp được giữ chặt bằng một bộ néo làm bằng tre gốc và buộc bằng lạt tre sợi lớn, dẻo và dai. Hồi còn niên thiếu, có lần tôi được chứng kiến những người lớn tuổi trong xóm chôn một người ăn xin chết vô thừa nhận bằng một manh chiếu bó lại với sáu cái nẹp tre bọc chung quanh. Tò mò, tôi hỏi làm thế để làm gì? Một ông già trả lời: bó lại bằng nẹp tre thì dễ khiên đi, với lại cũng như mình mai táng họ đầy đủ nghi thức với quan tài đóng bằng sáu tấm ván vậy, để cho họ khỏi tủi thân.

Cây tre vũ khí

Cây tre không phải chỉ cho bóng mát hiền hòa, cây tre còn là một vũ khí, một vật liệu quân sự. Trong huyền sử Việt Nam, có truyện Phù Đổng Thiên Vương giúp vua đánh đuổi giặc Ân để cứu nước và giữ nước. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm dũng mãnh và hăng say cho tới nổi roi sắt cũng gãy. Thế là chàng thanh niên làng Gióng ném luôn khúc roi sắt còn lại, nhổ tre hai bên đường làm vũ khí để đánh đuổi giặc tới cùng. Hễ bụi này tan thì chàng lại ném đi và nhổ bụi khác. Cứ thế cho dến khi giặc tan tác, đầu hàng, thì chàng cỡi luôn ngựa sắt bay lên núi Sóc để về trời. Tôi chưa được tới thăm quê Thánh Gióng để chiêm ngưỡng dấu tích huyền sử, nhưng theo một anh bạn người Bắc Ninh đã từng qua đó thì hai bên đường lên núi Sóc người ta còn thấy những ao lớn, tục truyền là dấu chân của ngựa sắt, và những bụi tre nghiêng ngã tự bao đời, tục truyền là cháu chắt của những bụi tre thánh ném ngày xưa.

Chuyện Thánh Gióng dùng tre làm vũ khí đánh giặc chưa biết hư thực ra sao, nhưng điều hiển nhiên qua huyền thoại đó cây tre đã đi vào quân sử. Khi cung tên và gươm giáo còn là vũ khí căn bản của quân đội thì họ nhà tre là vật liệu quân dụng cũng như sắt thép vậy. Nào tên tre, chông tre, rồi cán gươm, cán giáo đa số cũng bằng tre cả. Có một loại tre không có gai, đặc ruột, cao chừng bốn, năm thước, thẳng, lớn vừa vặn tay cầm, làm cán thương cán giáo rất tốt, không cần phải tốn công trau chuốt gì cả. Bởi vậy, giống tre này có tên là tre cán giáo. Ở nông thôn, để làm cán cào cán cuốc, cán mỏ khảy, người ta dùng phần ngọn của cây tre già, vì tre cán giáo không phải ở đâu cũng có. Ở Huế, tôi thấy một nhà nọ gần cống Vĩnh Lợi có trồng hai bụi trước ngõ.

Ai đã từng ở miền núi đều biết đến cái nguy hiểm của các loại chông, bẫy và thò của đồng bào thiểu số. Lơị dụng tính mềm dẻo của họ nhà tre để tạo thành một sức bật mạnh như lò xo thép, người miền núi đã có trong tay những vũ khí thô sơ nhưng không kém nguy hiểm, có thể gây chết chóc hay thương tích cho những ai xâm nhập trộm cắp hay phá phách nương rẫy của họ.

Ở thôn quê, tre thường được trồng ở cuối vườn để làm ranh giới giữa các nhà. Rễ tre mọc rất bạo, nên người ta phải đào mương sâu - có khi rộng đến cả hai thước tây, nếu vườn rộng cả mẫu đất - để ngăn chận không cho rễ tre xâm nhập sâu vào vườn, tác hại đến các cây trồng khác. Tre thường được trồng dọc theo các bờ sông, vừa để tiết kiệm đất vừa ngăn chận sự xói mòn của dòng chảy vào mùa lũ lụt. Hai chữ lũy tre thường dễ gợi cho người nghe hình ảnh tươi mát thân yêu của một làng quê bên nội hay bên ngoại nào đó. Đâu biết rằng khi tre được trồng dày đặc và kiên cố như một cái lũy thì nó trở thành một hệ thống phòng vệ rất có hiệu quả về mặt quân sự. Tại những vùng quê hay bị cướp phá, chẳng hạn làng mạc ở đồng bằng miền Bắc vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những lũy tre như thế với chiếc cổng làng kiên cố đã giúp người dân được yên ổn phần nào qua những mùa bạo loạn vì cơm thua gạo kém. Đối với thiên nhiên, những lũy tre làng cũng đã giúp nông thôn giảm thiểu được phần nào sức tàn phá của gió bão.

Món ngon từ tre

Măng là mầm tre non vừa lên khỏi mặt đất. Chỉ có loài gấu trúc Panda mới ăn lá tre chứ người thì chỉ xơi măng thôi. Chuyện đời xưa kể rằng vào một mùa Đông năm nọ, khi băng tuyết phủ khắp sơn khê thì bà mẹ Mạnh Tông trở chứng thèm măng. Mùa Đông làm gì bói ra măng, nhưng thấy mẹ thèm măng quay quắt, Mạnh Tông thương mẹ quá, đành đội tuyết ra ôm gốc tre khóc lóc năn nỉ xin một búp măng để vui lòng mẹ. Lòng hiếu của Mạnh Tông đã làm cảm động gốc tre già và một mầm măng nhú lên như phép lạ. Nếu Mạnh Tông sinh ra vào thời buổi này thì ông không đến nỗi vất vả như thế, chỉ cần lái xe đến siêu thị thì tha hồ chọn lựa để làm vui mẹ già.

Lần đầu tiên khi bước chân vào một siêu thị thực phẩm Á Đông ở San Jose, tôi đã không khỏi ngạc nhiên thích thú khi thấy bày bán đủ các loại măng, từ tươi cho đến khô và đóng hộp, dưới cái tên nghe chẳng thân mật chút nào, bamboo root. Măng đã là một thực phẩm từ bao đời nay của dân ta. Kinh nghiệm của các bà nội trợ là măng tươi sau khi xắt ra, phải luộc chín, xả nước lạnh rồi mới nấu, nếu không măng sẽ đắng. Các bà không cần biết trong măng có chất cyanogens, độc, chỉ biết luộc đi thì ăn ngon và các bà đã làm đúng. Món bình dân thì có canh măng chua, măng kho. Cao cấp hơn một chút thì có vịt, gà hầm măng hay xáo măng, giò heo hầm măng. Nói chung, thịt của các loại gia cầm và các loại chim trời rất hợp ý với măng, cũng như cầy đi với riềng, heo đi với hành tiêu và bò đi với sả, lốt vậy. Có những ngày mưa lạnh ở San Jose trông ra chẳng khác gì mùa Đông xứ Huế. Nhớ ngày còn ở quê nhà, vào những ngày như thế này ở các chợ thường bày bán chim mỏ nhát và le le do nông dân đánh bẫy được. Nếu không tính chuyện làm món rô-ti cho chồng nhậu rượu thì các bà một khi đã mua chim thường không quên mua măng. Ở chợ, người ta không những bán măng tươi mà còn bán cả măng luộc sẵn nữa. Đó là loại măng le, lấy từ những rừng le ở cao nguyên, người ta buôn về với số lượng lớn chứa trong những cần xé rồi phân phối lại cho các người bán lẻ.

Những thứ bánh đặc sản của Huế như bánh phất, bánh ít trắng mà nhưn nhị không có măng xắt hột lựu trộn vô thì sẽ vô duyên mất một nửa. Về loại bánh ngọt, Huế có hai thứ bánh dẻo đều làm bằng bột nếp, nhỏ bằng cái bánh in, gọi là bánh măng và bánh mận. Bánh mận có mè trắng rang chín bao bọc ở ngoài, còn bánh măng lại có những sợi măng xắt nhỏ rí lẫn bên trong, ăn nghe sần sật.

Có bao giờ bạn nghe câu vè Măng tháng Ba cấm cắt cấm bẻ. Măng tháng Mười vừa cười vừa hái chưa? Sự tình là thế này: có nhiều làng xã đã xem cây tre là một tài sản thiên nhiên rất có ích cho dân làng, cần phải được bảo vệ, nên việc này được đưa vào hương ước như là một lệ làng. Mà đã là lệ làng thì ai vi phạm sẽ bị bắt vạ (phạt) ngay. Vậy để cho dễ nhớ, dân đặt thành vè.

Mỗi năm măng mọc hai lần vào tháng Ba và tháng Mười. Tháng Ba là tháng Xuân, mùa sinh sôi nảy nở, thời tiết tốt, nên măng cần được bảo vệ phát triển cho dài dòng lớn họ. Làng cấm bẻ măng vào tháng Ba là thế, đừng có vì thèm quá, bẻ măng, rồi gân cổ lên mà cãi rằng : “măng của vườn tui thì tui cứ bẻ”, phải biết phép vua thua lệ làng chứ! Đến tháng Mười là tháng của mưa bão, măng có mọc lên cũng ít cơ may sống sót vì gió bão trước sau gì cũng đánh cho gãy gục, vậy bẻ đi mà ăn nghe có ích hơn. Ngày nay, nếu mấy tổ chức bảo vệ môi sinh trên thế giới biết rằng ngày xưa ở những làng quê Việt Nam đã có luật lệ tiến bộ như thế để bảo vệ thiên nhiên thì hẳn họ phải hết lời ca ngợi!

Trăm thứ từ tre

Nói đến công dụng của tre thì thiệt vô cùng. Hồi chưa có kỹ nghệ chất dẻo, lắm lúc tôi nghĩ rằng nếu không có cây tre thì đời sống người dân Việt Nam sẽ thiếu thốn chật vật biết mấy vì có biết bao vật dụng cần thiết hàng ngày được làm ra từ cây tre.

Với sự có mặt khắp nơi của cây tre và nhu cầu vật dụng đã kích thích óc sáng tạo của người dânViệt, tạo nên cả một ngành thủ công phong phú. Hầu như người nông dân nào ít nhiều cũng biết đan đát hay biết chế tạo những dụng cụ cần thiết dễ dùng trong nhà. Nếu không biết đan rổ đan rá cho vợ cho con thì cũng biết bện cái nơm để bắt cá, đan cái giỏ để đi câu hay bắt rạm ngoài đồng hoặc ít nữa thì cũng làm được bộ cóng rớ nho nhỏ để đi cất cá vào mùa mưa lụt.

Thừa Thiên-Huế, xứ sở của mưa lụt và gió bão. Bão năm Thìn và Lụt năm Tỵ với câu ngạn ngữ Thìn Tỵ là kỵ Long Vương đã trở thành những kinh nghiệm lịch sử thời tiết địa phương khó quên. Trong trận lụt năm Tỵ, 1953, nhà tôi ở trong Thành Nội, nước ngập mái. Nếu không có chú Sau đóng bè chuối tới cứu thì chắc anh em tôi khó sống tới giờ. Sau trận lụt đó, thầy tôi thuê chú Sau đan một chiếc xuồng, loại xuồng câu, nhưng lớn hơn một chút, có sức chở ba người, dùng làm phương tiện cứu hộ khi lụt lớn. Xuồng đan bằng tre, trét dầu rái, nhẹ mà vững. Cũng với kỹ thuật đan đó, người ta đã đan thành những chiếc ghe lớn có sức chở cả tấn để đi buôn dọc duyên hải Việt Nam. Đó là loại ghe bầu thường xuất hiện hàng năm ở bến Bao Vinh vào mùa gió Nồm thổi.

Ở nông thôn ngày xưa, chỉ có hạng khá giả mới mua nổi cây, gỗ để cất nhà, vì giá cả đã cao, mà việc vận chuyển cũng không phải dễ dàng, nghĩa là rất tốn kém. Riêng với đại chúng thì họ nhà tre từ bao đời nay đã giúp dân ta có được một mái nhà ấm cúng để an cư, dù hình thức thì khiêm tốn và nhìn không mấy mát mắt. Nói như vậy chứ không phải nhà tre nào cũng đồ xoàng cả đâu. Có những nhà tre tồn tại hàng chục năm, vì người ta dùng toàn loại tre già, được tuyển lựa kỹ, lại đem ngâm dưới ao bùn cả năm trời nên có sức chịu đựng rất cao đối với thời tiết và mối mọt.

Tôi có bà dì, nhà tranh phên tre nhưng được làm rất khéo, vì dượng tôi là một thợ tre. Ngoại trừ hai cây cột cái làm bằng gỗ thầu đâu (sầu đông), còn toàn bộ giàn trò hoàn toàn bằng tre ngâm. Phên đan bằng tre cật, trét kín bằng hỗn hợp đất sét trộn với phân trâu và rơm giả nhỏ. Nhà làm chỗ thấp, cứ vài năm lại bị nước lụt vô nhà ngâm một hai hôm. Vây mà ba chục năm sau, khi ông giở nhà tranh để xây lại nhà ngói, có người trong xóm thấy bộ sườn nhà bằng tre còn quá tốt, thấy tiếc của đời đã xin để làm nhà bếp.

Cùng với cái bùng binh, cái cột nhà bằng tre cũng là nơi để giữ tiền tiết kiệm. Chỉ việc lấy cái cưa cưa ngang một đường bên dưới cái mắt tre sâu vào chừng ba phân, tạo thành cái miệng để nhét bạc giấy và tiền kên vào, thế là xong. Khi nào muốn lấy thì dùng cưa và đục để tạo thành cái lỗ bên dưới mà moi tiền ra. Người ta gọi đây là tiền bỏ ống.

Khi người Pháp du nhập kỹ thuật xây dựng của Tây phương vào Việt Nam, cây tre cũng được trọng dụng. Để chống lún, tre gốc già, dài chừng 2m, có khi được dùng để đóng dày ở đáy hố móng. Tre tươi tồn tại rất lâu trong đất bùn mà không bị thối mục. Ở trong Nam, cây tràm nước được dùng thay cho tre trong trường hợp tương tự. Khi chưa có giàn giáo bằng ống thép, họ nhà tre được giới xây dựng dùng làm giàn để đưa người thợ hồ và vật liệu lên cao, dựng nên lâu đài thành quách.

Con đường Huỳnh Thúc Kháng ngày nay ở Huế, trước 1945 có tên là đường Hàng Bè. Con đường này chạy dọc bờ sông Đông Ba, là nơi tập trung bán các loại tre, nứa, mây, cho dân thành phố. Những thứ này được khai thác ở thượng nguồn sông Hương rồi đóng bè thả xuôi theo dòng sông. Tới bến, chủ vựa thuê người vớt lên, dựng đứng trong những cái giàn đặt dựa bờ sông, khách mua đứng bên lề đường, tha hồ lựa chọn, vừa ý cây nào rút cây đó.

Nhất đốn tre, nhì ve gái

Cái vụ làm quen và tán tỉnh đàn bà con gái người Huế gọi là ve gái . Nếu trời không cho cái khiếu bẻm mép thì chuyện ve gái quả là khó thiệt, nhưng theo kinh nghiệm của các cụ xưa thì cái khó này còn đứng sau việc đốn tre. Sao kỳ vậy?

Ve gái, nếu nói năng vô duyên, thái độ sàm sỡ thì có thể bị mắng cho mất mặt, thậm chí, có thể ăn tát tai hay đế guốc cao gót vào đầu. Như vậy còn khá, vì có thể nhanh chân thoát được, còn đốn tre mà không khéo, không có kinh nghiệm thì có thể vào bệnh viện hay mất mạng. Họ nhà tre, dù tre có gai hay không gai, đặc ruột hay rỗng ruột, đều có cái nguy hiểm ngầm của nó mà người không kinh nghiệm không biết được. Đặc điểm của loài tre là mềm dẽo dễ uốn. Vì vậy khi cong mình hay đan vào nhau , chúng trở thành một cái bẫy ngầm với sức bật chết người.

Nhớ một lần nọ, khi còn ở trên núi, một tổ mười người được cắt đi đốn giang. Khi anh bạn tù vừa chặt đứt cây giang thì cũng là lúc anh kêu trời, buông rựa để ôm lấy cánh tay đầy máu, vì ngọn giang vừa chặt bén như lưỡi mác đã phóng ngược trở lại vào anh. Thấy bạn bị thương, máu chảy dầm dề thì lòng xót xa nhưng cũng mừng vì vết thương không phạm vào chỗ hiểm. Cứ tưởng tượng ngọn giang ấy mà phóng vào ngực hay bụng thì giữa cảnh rừng núi thâm u lúc đó, biết lấy chi mà cứu. Bụi giang gồm những khúc suông sẻ, ngắn chừng năm hay sáu tấc, đan vào nhau, ngó rất ngon mắt, dễ đốn, vì vậy anh bạn đã chặt thoải mái, đâu ngờ đã vô tình đụng nhằm cái chốt bẫy của nó, thế là tai nạn xảy ra.

Đối với tre mọc thành bụi, dù là tre rừng hay tre nhà, rất ít khi người ta đốn sát gốc vì có hàng chục gốc đan chằng chịt vào nhau, không lách lưỡi rựa vào được, nên thường phải đốn cách gốc ít nhất là một thước trở lên. Bạn phải lựa thế mà đứng ở cái thế chênh vênh đó cho vững vàng, rồi phải xem cây tre mình muốn đốn đang ngã ngọn về hướng nào, gió đang thổi hướng nào, ước lượng hướng gió thổi sẽ ảnh hưởng tới cách rơi của cây tre ra sao. Khi chặt, phải chặt phía bụng trước, khi cây gần bị đứt thì mới hạ một nhát tối hậu ở lưng cho nó rơi dứt khoát. Nếu bạn thấy cây tre cong lưng một cách ngon lành như mời gọi và bạn hạ ngay nhát rựa thì cây tre sẽ bị tướt đôi do chính sức bật của nó và có thể bạn sẽ bị thương. Phải tính toán, ước lượng mọi yếu tố thế nào để khi cây tre ngã xuống nó không phóng ngược cái gốc nhọn hoắt hay đập cái thân nó vào mình. Rõ ràng là khó hơn ve gái, phải không?

Họ nhà tre bao lớn?

Không mựợn đến sách vở, chỉ bằng vào kinh nghiệm của một tay ngang như tôi cũng thấy rằng họ nhà tre thật là đông đúc. Do đó tên gọi cũng nhiều, có khi cùng một giống nhưng mỗi nơi gọi một cách khác. Nào là tre la-ngà, tre cán giáo, tre vàng, tre đen, nứa (lồ-ô), bương, mai, vầu, le v.v. Đó là chưa kể đến các giống tre nhỏ con khác, không có gai, tùy loại mà người Huế gọi là trúc hay hóp. Trúc vì có dáng đẹp nên thường được trồng làm cây cảnh, còn hóp thì thân thẳng và lớn hơn nên thường được trồng làm hàng rào. Trong bài Thu vịnh, cụ Nguyễn Khuyến khi nói đến Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo, là chính loại tre nhỏ con này.

Trong ký ức tuổi thơ của tôi, bụi hóp sau nhà là nguồn vật liệu để làm cần câu cá và làm đồ chơi. Cây hóp lớn cỡ ngón tay cái thì dùng làm cần câu cá rô cá diếc; cây hóp nhỏ cỡ ngón tay trỏ thì làm cần câu cá cấn cá mại. Người dạy cho tôi chế tạo đồ chơi từ cây hóp là mệ ngoại tôi. Từ cây hóp, bọn trẻ con nhà nghèo chế ra súng bắn bằng đạn trái cây, nổ nghe lốp bốp cũng vui tai. Mùa hè, những cây muối dọc đường Đoàn Thị Điểm ra trái chi chít. Đó là nguồn “đạn “ của chúng tôi. Nhưng bắn bằng hột cây muối, tiếng nổ không dòn bằng hột cây bời lời. Cũng từ cây hóp, chúng tôi làm thành cây kèn lá để giả làm tiếng gà gáy, gắn thêm cái ống đu đủ thì thành cái kèn bầu đám ma!

Lại nhớ bài ca dao Lính thú đời xưa hồi còn đi học:

Ba năm trần thủ lưu đồn,
Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan.
Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai?
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những giang cùng nứa, lấy ai bạn cùng?
Nước giếng trong, con cá nó vẫy vùng!

Ở cái tuổi đệ Thất (lớp 6) đệ Lục (lớp 7), tôi tự nhủ : ờ, cây trúc, cây mai thì mình biết rồi, nhưng cây mai làm chi có măng mà ông lính này ăn măng mai? Thắc mắc như thế nhưng vì nhút nhát và sợ bạn bè chê mình dốt (!) nên không dám hỏi thầy. Mãi sau mới biết ở ngoài Bắc có một thành viên họ nhà tre được gọi là mai. Quả là dốt thiệt!

Đã là người Việt Nam thì ai cũng biết cây tre, nhưng thấy được hoa tre và trái tre tôi nghĩ không mấy người. Tre già cũng ra hoa và kết trái nhưng theo sách vở thì phải mất năm mươi năm tre mới ra hoa một lần và khi ra hoa thì tre thu hút nhiều sinh lực của cây nên sau đó cây sẽ tàn tụi mà chết. Từ dưới đất nhìn lên ngọn tre cao chót vót, những trái tre dài hơn hai gang tay, có hình con thoi, đong đưa trong gió gợi cho tôi nhớ đến những tổ chim “rột rột” trên những ngọn tre miền quê nội của những ngày thơ ấu. Cũng nhờ mấy năm tu tiên trên núi sau 1975 mà tôi mới có dịp thấy cái hoa tre và trái tre nó ra làm sao chứ với chu kỳ năm mươi năm mới ra hoa một lần thì chỉ có tre rừng không ai đốn mới sống lâu mà ra hoa chứ còn tre nhà, không ai hoài công để dành như vậy.

Người ta trồng tre bằng gốc chứ không phải bằng ngọn hay hột , Người ta xắn gốc tre, chặt cụt ngọn đi, chừa lại cái thân chừng ba thước và đem trồng. Phải mất ba năm tre mới nhú lên cái mầm măng đầu tiên, còn hai năm đầu chỉ mới bén rể.

Lần đầu tiên được thấy hoa tre và trái tre, tôi có ngạc nhiên nhưng không ngạc nhiên cho bằng khi thấy cây giang. Gói bánh chưng, bánh tét, bánh ú, nem, tré, chả giò, chả lụa, chả thủ, mà buộc bằng lạt giang thì tuyệt, Buộc bằng sợi lạt có cái tiện là chỉ cần một tay làm cũng được, cứ chặp hai đầu dây lại và ngoáy vài cái là xong một mối buộc. Lạt giang quen thuộc quá và vì cây giang thuộc họ nhà tre nên tôi cứ in trong trí rằng cây giang hẳn cũng thẳng đuột như cây tre. Nào hay nó thuộc loại thân leo. Đoạn thẳng nhất của nó dài không quá ba lóng (chừng trên dưới một thước rưỡi). Sau khi bò quanh bò quất dưới đất, giang ta tìm được một thân cây lớn tựa vào để từ đó leo lên, rồi cứ thế mà thênh thang đây đó. Có cây giang vắt từ cây rừng này qua cây rừng khác, dài cả trăm thước.

Cây tre văn hóa

Cây tre gắn liền với cuộc sống dân ta từ hàng ngàn năm nay nên đã trở thành một thành tố văn hóa, một nguồn cảm hứng để tư duy, để sáng tạo nghệ thuật. Về mặt này, tôi nghĩ cây nêu ngày Tết là biểu tượng văn hóa đẹp nhất của cây tre Việt Nam. Cũng như nhiều nước Á Đông khác chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, Tết Nguyên Đán của Việt Nam cũng bắt nguồn từ phương Bắc nhưng cây nêu làm bằng cây tre cùng với bánh chưng bánh tét đã làm cho Tết trở thành Tết Việt Nam.

Cây tre có mặt trong truyện cổ tích , trong thi văn, trong hội họa, trong âm nhạc. Trong các loại nhạc khí cổ truyền của Việt Nam tôi chịu nhất là cây sáo trúc và cây đàn bầu. Cả hai giống nhau ở chỗ được chế tạo từ họ nhà tre, rẻ tiền, dễ kiếm , cấu trúc đơn giản nhưng âm thanh lại cực kỳ phong phú. Cái khèn của dân miền núi, cái đàn t’rưng cũng từ tre mà ra. Cái mõ ở chùa làm bằng gỗ, thường là gỗ mít, nhưng cái mõ của làng lại làm bằng tre. Công phu thì làm bằng gốc tre khoét rỗng ruột. Còn đơn giản thì chỉ việc lấy một lóng tre, lựa thứ già thuộc loại rỗng ruột mà làm. Chỉ cần tạo ra một cái khe nhỏ trên lóng tre cho âm thanh thoát ra và thêm cái tay cầm là xong. Tiếng mõ vang xa cả làng đều nghe, khỏi cần loa hay bộ phận khuyếch âm. Ở làng quê, thường nhà nào cũng có mõ. Khi nghe tiếng mõ đánh nhịp ba, cốc cốc...cốc, một cách gấp rút thì biết ngay là tín hiệu báo động, kêu cứu, không nhà cháy thì cũng là bị ăn cướp.

Làm bạn hàng ngày với tre, sống nhờ tre nên tre đã đi vào ngôn ngữ bình dân qua ca dao tục ngữ một cách tự nhiên như hơi thở. Ông Tây quen nghề máy móc thì xì xồ rằng Hãy rèn sắt khi đang còn nóng, nhưng ông cha ta giản dị hơn, nhìn bụi tre thì biết ngay rằng Măng không uốn, uốn tre sao lại. Ai bảo Đông, Tây chẳng bao giờ gặp nhau?

Năm 1947, người em trai út của tôi chết khi mới một tuổi do sự thiếu thốn thuốc men trên bước đường chạy giặc. Mạ tôi vừa ôm xác em tôi vừa khóc Tưởng măng khóc tre, ai ngờ tre khóc măng. Nghe vậy nhưng mãi tới khi khôn lớn, tôi mới hiểu được cái cảm xúc đau xót của mạ tôi trong câu than khóc giản dị nhưng thấm thía đó.

Cứ nghĩ rằng ở cái xứ Mỹ đầy máy móc cơ khí và điện tử này thì làm chi mà biết cây tre. Ai dè chỉ cách cái thành phố tôi ở chừng một giờ freeway về hướng Bắc lại có một vườn tre rất đẹp và rất phong phú, rộng đến 2 acres với một bộ sưu tập sống gồm 70 chủng loại tre trên thế giới, từ giống nhiệt đới cho tới loài xứ lạnh. Ấy là khu Vườn Tre (Bamboo Garden) của trường Foot Hill College thuộc thành phố Los Altos, Bắc California. Đi dạo trong đó, bạn sẽ không nghĩ rằng mình đang sống trên đất Mỹ. Cây tre gắn bó với dân ta là thế từ bao đời nay, nhưng có lẽ nó quen thuộc quá đến độ hóa nhàm nên chẳng ai buồn quan tâm làm chi, trong khi Mỹ lại có một hiệp hội có tầm vóc quốc gia, qui tụ những người yêu tre muốn hiểu biết về tre, American Bamboo Society, Hội Tre Hoa Kỳ. Chắc tôi phải vô hội này để nhớ về cây tre một cách tích cực hơn!


Võ Hương An
San Jose, 6/03

Tuesday, August 23, 2016

Mệ Ngoại

Võ Hương-An


Tôi không hiểu tại sao toàn thể anh chị em trong nhà đều gọi bà nội là bà nội mà lại gọi bà ngoại là mệ ngoại. Tôi cũng chưa hỏi ai trong nhà về việc này, và tôi tin rằng ngoài thầy mạ tôi, không anh chị nào trả lời được câu hỏi đó. Khi thầy mạ tôi còn sống, không chịu hỏi, nay ông bà đều đã xa chơi từ lâu, biết hỏi ai giờ, đành đoán là theo truyền thống của bên nội và bên ngoại mà gọi như thế.

Hồi còn bé, nhất là khi bắt đầu đi học, tôi không thích chữ mệ, vì khi nghe mấy đứa bạn cùng lớp gọi bà của chúng bằng bà trong khi tôi lại gọi bằng mệ, nghe “nhà quê” quá. Khi lớn lên, được gọi mệ, thấy thích hơn, gần gũi hơn, nhưng khi đó thì không còn mệ để mà gọi nữa, vì mệ đã mất từ năm tôi học Đệ Ngũ.

Mệ húy là Hồ Thị Thìn. Vào thế hệ của tôi, việc kiêng cữ tên của các bậc trưởng thượng trong gia đình là một tập tục phổ biến ở Huế, vậy mà tôi nhớ dường như trong nhà không ai kiêng tên của Mệ cả, thiệt bậy quá, mà mệ cũng chẳng trách móc chi. Bây giờ mà đi tìm “lý lịch” của mệ nghe cũng khó. Chỉ biết rằng mệ vốn người làng Thanh Thủy ở An Cựu, đầu tiên về làm dâu nhà họ Đỗ ở làng Triều Sơn Đông, sinh được một con trai là cậu Đỗ Xuân Khôi, rồi ông ngoại họ Đỗ mất sớm. Hẳn là thời thanh xuân mệ cũng có chút nhan sắc, có nết hạnh, đảm đang, nghĩa là có tiếng tốt trong làng, nên sau khi góa chồng thì ông ngoại họ Lê đi cưới làm vợ thứ, sau sinh ra mạ tôi và cậu Út.

Mệ mất ngày 16 tháng 6 năm Ất Mùi (3-8-1955), đó là điều chúng tôi biết chắc chắn, nhưng ngày sinh thì chịu. Hồi còn nhỏ, nghe nói mệ sinh mạ tôi vào năm 28 tuổi, là năm Mậu Thân (1908), mệ lại thường kể chuyện bão năm Thìn ở Huế (11-9-1904, Giáp Thìn) làm bay cầu Trường Tiền và thổi người bay lên thấu đọt tre, tóc quấn vào ngọn tre vắt vẻo như ma treo cổ, thì đoán là mệ sinh đâu khoảng 1880, Canh Thìn. Điều này có lẽ đúng vì mệ húy là Thìn, lấy năm sinh làm tên là chuyện thông thường ở Việt Nam. 

Cho tới khi mệ mất, tôi biết mệ có ba người em trai nhưng không nghe nói tới người em gái nào cả. Người em kế mệ là ông Thừa Nẫm, nhà ở Vạn Vạn, sau đó vì chiến tranh, phải dời nhà lên đình Dương Phẩm gần cung An Định. Khi ông Thừa còn ở Vạn Vạn thì tôi còn quá nhỏ, chưa có dịp đến đó nên chưa biết cái nhà ấy to lớn bề thế hay tầm thường, chứ cái nhà tạm ở đình Dương Phẩm thì tôi tới lui thường xuyên.


Đó là một ngôi nhà tranh nhỏ ba gian, nền đất nhưng không mang vẻ lụp xụp nghèo nàn như mọi nhà tranh khác thường thấy ở Việt Nam. Trái lại, mỗi khi bước vào ngôi nhà tranh đó, ngồi uống nước nói chuyện thăm hỏi với ôn mụ Thừa tôi đều có cái cảm giác thoải mái êm ả dễ chịu. Nhà luôn luôn có vẻ sáng sủa, sạch sẽ và ngăn nắp, có lẽ nhờ có nhiều cửa sổ và không có trẻ con. Ngoài sân có bể cạn với hòn non bộ cùng vài chậu hoa kiểng, đủ cho ông Thừa đi ra đi vào săm soi, ngắt cái lá này, tỉa cái cành kia, tưới vài gáo nước, cho hết thì giờ, nếu không có bạn rủ đi đánh tài bàn hay đánh kiệu. Bên trên bể cạn là một giàn hoa thiên lý, mỗi bề chừng ba thước, bên dưới treo lủng lẳng mấy giò phong lan. Trong nhà ông chưng một hai món đồ cổ, vài bức tranh xưa và cây xanh, theo cung cách của mấy nhà nho, trông rất trang nhã. 

Tôi vẫn chịu nhất là cái gốc dành dành rất đẹp thả trong chiếc bát cổ vẽ men xanh, thường để trên cái kỷ đựng sách của ông. Gốc cây sù sì, có dáng đẹp, đâm lên những cành non lớn bé cao thấp khác nhau, trông mạnh mẽ và hài hòa. Tôi hỏi ông mua gốc cây dành dành đó ở đâu thì ông cười cười đáp: chán chi con, nó thường mọc bậy dọc bờ rào, chỉ có tốn công đi tìm, và đào năm bảy gốc mới được một gốc vừa ý.

Ông Thừa đẹp lão, râu ba chòm trắng như cước, lúc nào cũng thấy áo qụa trắng, quần dài trắng, quạt giấy phe phẩy, dáng dấp phong lưu, thật là trái ngược với mụ Thừa, xấu và thô kệch. Thiệt khó mà nghĩ đó là một cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa. Khi biết khôn, nghĩa là tới tuổi biết ve gái , tôi thường thắc mắc không biết cái gì đã gắn chặt ông Thừa và mụ Thừa. Chắc hồi trẻ mụ cũng có một cái duyên và nét đẹp nào đó nên mới quyến rũ được ông chứ. Cũng có thể cuộc hôn nhân ấy là do ông bà cố tôi đạo diễn và ép buộc, và về sau, khi ông bà cố đã qui tiên, ông Thừa có thể thấy vợ mình xấu và thô, cũng có mưu toan lẹo tẹo với bà khác đẹp hơn, nhưng vì mụ Thừa dữ như Bà Chằn lửa nên ông phải chịu phép. Tất cả chỉ là những giả thiết lảng vảng trong trí tôi mà không có gì thực chứng cả. Điều rõ ràng nhất là hai ông bà sống với nhau tới răng long đầu bạc, có ba trai một gái và tôi chưa hề nghe mệ ngoại tôi hay mạ tôi kể một tật xấu nào của hai ôn mụ cả. 

Mỗi lần ông đến chơi, tới bữa cơm, tôi thường được mệ hay mạ sai đi mua rượu về cho ông uống để ngon cơm. Về sau này, khi quen biết nhiều bạn nhậu thuộc loại tửu nhập ngôn xuất và thường cho chó ăn chè, hoặc quên đường về, tôi lại phục cái nết uống rượu của ông Thừa. Ông uống một cách từ tốn và thưởng thức và khi xỉn thì lặng lẽ đi ngủ, luôn luôn êm ái nhẹ nhàng như chính con người của ông. 

Người em trai thứ hai của mệ là một ông Tây lai mà mạ tôi gọi là “cậu Thị Răng”. Tôi đoán tên Tây của ông là Jean. Dường như ông Răng là con nuôi của ông Cố họ Hồ. Ông cao to như Tây và nét mặt giống Tây hơn Việt Nam, làm y tá ở Bệnh viện Huế, ngạch Tây, được đối hàm Nam triều là Thị giảng học sĩ nên bà con chòm xóm gọi là ông Thị. Lần đó, mệ tôi bị té từ cây ổi xuống đất, bể xương bánh chè và ông Thị từ bên cầu Kho Rèn đạp xe đến thăm chị. Đó là lần đầu tiên tôi được biết mệ tôi có một người em trai đặc biệt như thế.

Người em thứ ba của mệ là ông Đội Liêm. Ờ mà lạ thật, ông này là nhân viên của Công quản Đường Sắt Đông Dương - Sơ-manh đờ phe (Chemin de Fer), như ông thường nói một cách hãnh diện -chứ có đi lính đi tráng gì đâu mà gọi là ông Đội? Hay là ông làm đội trưởng của một toán gồm vài chục công nhân làm đường sắt? Nếu có ai nói ông Đội Liêm là em ruột của mụ Thừa thì tôi tin ngay. Ông người thô kệch, da ngăm ngăm đen, ít nói, có vẻ cục cằn chứ không phong lưu nho nhã như ông Thừa hoặc hoạt bát oai vệ như ông Thị. Thiệt ba người em của mệ không ai giống ai. Ông Đội Liêm khi nói chuyện về xe lửa thì trở thành một con người khác, trông linh hoạt hẳn lên. Theo ông thì không chi sướng hơn làm nhân viên Xe lửa. “Bộ tụi bây không nghe mấy bà mấy o nói Mã táng hàm rồng không bằng lấy chồng xe lửa à ?” Tôi hỏi tại sao thì ông say sưa giải thích:

-Nhân viên xe lửa và gia đình đi tàu không phải trả tiền. Vì rứa mà tau hay đưa mệ bây đi Phan Thiết thăm cậu bây trong đó, không tốn xu mô. Ông mô làm xe lửa mà có mụ vợ siêng năng thì tha hồ mà đi đây đi đó buôn bán, làm giàu. Biết tau làm xe lửa, mấy mụ đi buôn cứ theo ve tau hoài, mà tại mụ bây dữ quá chứ không thì tau cũng có bà hai rồi.

Cậu Bát Khôi là người con trai độc nhất của mệ vì cậu Út mất từ khi còn bé. Cậu làm việc ở Phan Thiết nên nhà tôi không thiếu sản phẩm miền biển của Phan Thiết, thuộc loại hảo hạng, do cậu gởi về cho. Hồi đó, nước mắm Phan Thiết thường chứa trong những hủ bằng sành, có dáng như hai cái bánh ú úp lại với nhau, có quai xách bện bằng lá buông, có nắp đậy khằn lại bằng hồ vôi. Chung quanh hè nhà tôi hồi đó thấy lăn lóc những chiếc hủ không, thỉnh thoảng chúng tôi lại giả bộ lỡ tay làm vỡ một cái, nhưng thật sự là rủ nhau lấy đá chọi vào như kiểu đánh bi. Cho đến ngày tôi lấy vợ, trong nhà vẫn còn hai món đặc biệt, đó là một chai muối sống với loại hột to nhất và một chai đựng nước mắm nhỉ thứ thiệt. Cả hai được mệ và mạ tôi giữ gìn cẩn thận để trở thành sản phẩm “lâu năm” dùng làm thuốc. Theo tin tưởng của mấy bà, muối sống và nước mắm nhỉ lâu năm là những vị thuốc hay. Nước muối lâu năm dùng để trị bịnh đỏ mắt và làm cho sáng mắt, còn nước mắm lâu năm thì trị bịnh nấc cụt và phỏng lửa. Những người bịnh nặng mà thêm chứng nấc cụt thì rất dễ chết. Lúc đó, chỉ cho uống nước mắm nhỉ lâu năm mới trị được thôi.

Tôi không hiểu tại sao mệ không ở với cậu mà lại ở với mạ tôi. Thỉnh thoảng mệ lại vào Phan Thiết ở thăm cậu tôi chừng nửa năm hay vài tháng rồi lại về Huế, mang theo nào khô cá, khô mực, nước mắm, rong mứt phơi khô v.v. cùng vô số chuyện Phan Thiết làm chúng tôi mê mẩn. 


Mệ kể về sông Lòng Sông, nước trong và cạn, cá lội từng bầy, muốn bắt không khó nhưng không ai thèm bắt vì tôm cá thiếu chi. Nghe có một dòng sông với nước trong và cạn thì tôi khoái vô cùng, tưởng tượng có thể bơi lội đùa chơi thoải mái mà khỏi phải sợ chết nước. Lại còn nhiều cá thì tha hồ mà câu mà bắt. Ôi, xứ sở chi mà thần tiên, có đâu như cái xứ Huế ni, đụng tới sông hồ là đã nghe nói chuyện coi chừng bị ma rà (ma gia) kéo cẳng xuống sông cho chết trôi, chết nước, còn cá thì câu cả ngày không được một con. 

Mệ kể về giống cây có gai dùng trồng làm hàng rào mà cũng là loại cây trị ma Hời. Ma Hời thuộc loại ma lai, ban ngày thì sinh hoạt bình thường như mọi người, nhưng khi đêm về, ma để cho cái mình nằm ngủ trên giường, rút cái đầu và bộ ruột lòng thòng ra khỏi mình rồi bay đi kiếm ăn. Biết ma lai thích ăn đồ dơ, vì vậy hễ phóng uế ngoài bãi cát xong, sau khi lấy chân lùa cát lấp đi, người ta còn phải bẻ một nhánh gai cắm xuống. Ma lai đánh hơi biết mục tiêu, khoái lắm, nhưng thấy cây gai thì rút lui ngay vì sợ vướng bộ đồ lòng, gở không ra, sẽ không về nhập xác được. Ai không biết cách đề phòng, chẳng may bị nó ăn phân thì sẽ ốm o gầy mòn, ba tháng mười ngày sau sẽ đứt ruột mà chết. Bọn nhỏ chúng tôi nghe vậy sợ co đầu rụt cổ, mừng xứ mình không có ma lai. Và những chuyện hoang đường như thế, không hiểu sao cứ ăn mãi vào đầu.

Tôi còn nhớ cái ngày mệ và mạ tôi nhận được điện tín cậu Bát Khôi qua đời, quả là một ngày tận thế. Hồi đó, người ta không gọi là điện tín, mà gọi là dây thép, nói theo tiếng Tây là tê-lê-gờ-ram (télégramme). Khi nghe tiếng khóc ré lên của mệ và mạ, tôi ở ngoài vườn, bỏ chơi chạy vào xem thử việc gì xảy ra. Thấy chị tôi đứng đó, tôi hỏi: chuyện chi rứa? Chị chỉ tờ giấy màu xanh mạ tôi đang cầm nơi tay và nói: có dây thép nói cậu Bát Khôi mất rồi. Cái hình ảnh kêu khóc đau khổ của mệ và mạ tôi do tờ giấy màu xanh kia đem lại đã gây cho tôi một ấn tượng xấu với hai chữ “dây thép”. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy thương mệ vô cùng bởi niềm đau đó hẳn phải mênh mông và sâu xa lắm. Rõ ràng là đời mệ không mấy lúc được vui, chỉ gặp toàn chuyện dở dang, chuyện nửa đường gãy gánh. . . 


Rồi chiến tranh xảy ra, mọi liên lạc gián đoạn trong nhiều năm. Khi anh tôi sực nhớ ra, về Phan Thiết để tìm lại gia đình cậu thì không còn một manh mối nào cả. Có lẽ tại chúng tôi biết rất ít về cậu, và đến khi biết khôn để có thể thu thập tin tức thì không còn biết hỏi ai nữa, tất cả đều đi vào quá khứ không dấu vết. Bể dâu đâu phải là chữ nghĩa của văn chương thi phú. Bể dâu hiển hiện ngay trong chính cuộc đời mình và thân thích mình.

Khi tôi bắt đầu biết nhận thức chung quanh thì mệ tôi đã già, mặt mày tay chân đều đã nhăn nheo. Khi mệ ngồi yên ăn trầu, tôi thường sà vào lòng mệ, đưa tay nắm lấy những nếp nhăn ở dưới cổ, vừa rung rung vừa nói “Mệ hát Tây đi”. Nếu không được vui mệ sẽ bảo thôi đừng chơi nghịch, để mệ yên. Còn gặp lúc vui, mệ sẽ há miệng ra phát thành tiếng a.. a... ô...ô. Với nhịp rung của tay tôi, những âm thanh đó sẽ rung theo, như mấy ông Tây bà đầm hát rung giọng mà tôi được nghe trộm qua máy hát của một ông nhà giàu trong xóm.

Tuổi thơ của anh em chúng tôi gắn bó với mệ hơn mạ, nhất là riêng đối với tôi. Ăn cũng mệ, ngủ cũng mệ, chơi cũng mệ, đứt tay chảy máu cũng mệ, ỉa không ra cũng mệ. Ngó bộ như cả ngày kêu “mệ ơi” nhiều hơn “mạ ơi”. Tôi thấy mệ chỉ thua mạ có một chuyện, ấy là không hát ru em ( ru con ) được. Tôi chưa nghe mệ hát ru em bao giờ, chỉ nghe mạ tôi hát, và phải công nhận giọng mạ tôi hát rất hay. Những câu ca dao mà tôi thuộc lòng từ hồi chưa bước chân tới trường là do tôi hát theo mạ tôi khi nghe bà ru mấy đứa em. Có lẽ mệ già rồi, không còn hơi nghỉn đâu nữa để hò với hát. Mệ không hát nhưng mệ kể chuyện đời xưa thì mê lắm.

Mùa Đông xứ Huế, có những ngày mưa dầm kèm theo gió bấc lạnh cóng. Bọn nhỏ chúng tôi không ra ngoài chơi đùa được thì bày trò để chơi trong nhà hoặc quanh quẩn bên mệ nghe kể chuyện đời xưa. Mệ ngồi xếp bằng, đầu trùm khăn, hai tay đặt trên lồng ấp rỉ rả kể đủ thứ chuyện, nào chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh Lý Thông, chuyện Thất thủ kinh đô v.v. Bên cạnh những chuyện thuộc loại cổ tích đó, mệ còn kể những chuyện khác nữa, có tính cách thời sự hơn, chẳng hạn chuyện Cô Thông Tằm, chuyện Đức Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) khi còn hàn vi, là chị Út ở cung An Định, chuyện bão năm Thìn, chuyện vua Khải Định khi đang còn là ông Hoàng đã sợ vua Thành Thái như thế nào, chuyện người bị ma thu , chuyện thầy phù thủy cao tay ấn có tài biến những con môi thành âm binh để sai đi làm việc v.v. Bây giờ nghĩ lại, cũng nhờ những chuyện không có tính cách sàng lọc như thế mà ngày nay tôi có được những chuyện là lạ để kể lại cho bà con nghe chơi. 

Mệ thường gọi anh chị em chúng tôi là “bầy quân”. Bấy quân ăn như cọp đói, như ăn cướp; bầy quân phá như giặc; bầy quân làm biếng v.v. Tất cả áo quần mặc ở nhà của bầy quân chúng tôi đều do một tay mệ may cả, dĩ nhiên là may tay. Phải đến năm học lớp Nhất tôi mới được cái sung sướng lần đầu tiên được mặc quần soọc (short) và áo sơ-mi cổ bẻ do thợ may may bằng máy đàng hoàng, chứ còn trước đó thì toàn là quần đùi (quần cụt) với áo cổ kiềng do mệ tôi sản xuất! Sở dĩ tôi sớm biết những dụng cụ và những từ ngữ chuyên môn về nghề may cũng là do quanh quẩn bên mệ. Nào thước, nào vạch, nào kéo, nào đê. Rồi tà, vạt, bâu, lai, vạt hò, cổ kiềng, cổ đứng, cẳng què, đáy giữa v.v. Nhờ thế mà vào năm lớp Nhì, khi tả người thợ may, thầy giáo đã cho bài luận của tôi tám điểm rưỡi với lời khen. Có lẽ thầy nghĩ là tôi con nhà thợ may nên mới rành những từ nghề nghiệp như thế. Khi mệ may, chúng tôi thường phải có đứa chơi quanh quẩn gần đó để xỏ kim cho mệ. Tội nghiệp, cái thuở đó kiếng lão còn hiếm, làm chi có kiếng cho mệ thấy đường xâu kim! Bây giờ thì con có thể sắm cho mệ mấy cái kiếng lão cũng được nhưng mệ đâu có cần kiếng nữa.

Mệ đúng là thầy thuốc gia đình, là trưởng phòng cấp cứu. Mỗi lần chúng tôi dùng dao để cắt gọt một cái gì đó mà lỡ bị đứt tay chảy máu thì la lên là có mệ tới cấp cứu ngay. Thuốc cầm máu của mệ là bồ hóng trong bếp trộn với vôi ăn trầu và thuốc lá, đắp vào vết cắt, rát ơi là rát, xong lấy giẻ băng lại, hai ba hôm thì vết thương lành. Bác sĩ và y tá ngày nay nghe nói thế thì le lưỡi nhưng tôi thấy chưa bị nhiễm trùng lần nào, thậm chí, sau khi biết toa thuốc đó của mệ, chúng tôi có thể tự làm lấy khi cần! Ngón tay giữa trên bàn tay phải của tôi có cái móng tay chẳng giống ai, vì đó là một cái móng tay có tật. Lúc đó tôi chừng tám, chín tưổi. Vào một đêm trăng sáng ngày hè, anh em trong nhà và lũ bạn hàng xóm cùng trang lứa rủ nhau chơi đuổi bắt và trốn tìm, đang khi chạy trốn, tôi vấp té, và một hòn gạch đập vào ngón tay, làm bay mất móng, máu chảy như cổ vịt bị cắt tiết. Mệ tôi đã cấp cứu theo kiểu của mệ và hậu quả là cái móng tay dị dạng ra đời! 

Trong vườn nhà tôi có trồng rất nhiều ổi. Nhiều khi thấy ổi chín ngon quá, ăn quên thôi. Hậu quả là ị không ra, ngó như đang bị một cái nút chai to lắm đóng chặt lổ đít. Mỗi lần như thế, lại vừa khóc vừa kêu: mệ ơi! Mệ lên tiếng: ờ để đó, mệ chữa cho. Ai biểu dộng ổi vô cho lắm rồi chừ ĩa không ra, cho mi chết. Mắng thì mắng vậy nhưng mệ vội vã bỏ công việc đang làm, lấy con dao cau cắt một bẹ môn ngọt, dứt ra một đoạn ngắn bằng gang tay. Rồi mệ lại lấy xà phòng hòa thành nước, xong kêu: lại đây, chổng khu lên cho mệ làm thuốc. Mệ lấy bẹ môn chấm nước xà phòng ngoáy ngoáy vào hậu môn, rồi bảo rặn đi, làm vài lần như thế thì cái nút chai bật ra, và tôi thoát nạn. Ngày nay mới có những tọa dược glycerine giúp cho việc lưu thông được trơn tru dễ dàng, vậy mà hồi đó mệ tôi đã nghĩ được phương pháp bẹ môn với xà phòng, kể cũng thông minh thiệt.

Sau 1975, khi ở trên rừng trên núi, nhiều phen tôi được no cũng nhờ mệ. Ở tù CS thì ăn đói là chuyện thường ngày, nên anh nào cũng lo “cải thiện” nghĩa là kiếm cái gì đó để tộng vào mồm, để an ủi cái thao thức bào bọt của bao tử. Cây gì ăn được là ăn (ngoại trừ cây súng) con gì xực được là xực (ngoại trừ con ốc con vít và con bù-lon), và các bạn tù rất ngạc nhiên khi thấy tôi rất thiện nghệ trong việc nhận ra những loại rau hoang mọc đâu đó trên đường đi, bên hè nhà, hay trên đám rẫy hoang. Nào rau rìu, rau éo, rau trai, rau sam. rau má. Nào rau bát bát, rau bù ngót, rau bạc đầu, rau mặt trăng, rau dền đất, rau dền gai, rau chân vịt v.v và v.v. Đó là nhờ những lần thơ thẩn đi theo mệ khi mệ rảo trong vườn hái rau để nấu thành nồi canh tập tàng rất ngọt nước. Cây chi ri mệ? -À, cây rau sam. Rau sam ăn mát lắm con. Cây chi ri mệ? - À, cây bạc đầu. Cây bạc đầu có ăn được không mệ? -Được chớ, nhưng vì cái mùi nó có người không ưa nên có người kêu là cây cỏ hôi, và vì rứa ít người ăn. Cả mệ và tôi đâu có biết rằng những bài học đơn sơ trong vườn ngày ấy mấy chục năm sau lại giúp cho tôi có những ngày được no bụng nhờ kiếm thêm mớ rau trời.

Thầy tôi rất thương mệ. Tôi nghe ông gọi mệ bằng mợ. Thỉnh thoảng ông lại cho mệ một số tiền nhỏ để tiêu vặt. Tôi biết được là nhờ một hôm chỉ có một mình mệ và tôi ở nhà, mệ cho tôi mấy cái kẹo bạc hà nhỏ như chiếc đũa và dài bằng ngón tay út, gói trong giấy bóng, là thứ kẹo tôi rất mê. Ngạc nhiên, tôi hỏi: kẹo ni mệ kiếm mô ra? Mệ nói nho nhỏ: thầy mi mới cho mệ tiền, mệ biết con thèm kẹo bạc hà nên mệ mua cho. Đừng có mét với mạ nghe không. Tôi nghe thế, tự nhiên cao hứng trả lời: để ít bữa con lớn, đi làm có tiền, cho mệ mỗi tháng năm chục đồng để mệ tiêu cho sướng. Mệ cười hiền: tổ cha mi, nói nghe giỏi dữ. Sợ e mười voi không có chén nước xáo


Vài tháng sau, cậu tôi từ quê lên thăm. Trong khi nói chuyện, thấy tôi đứng xớ rớ gần đó, mệ chỉ tôi và khoe với cậu rằng: thằng ni có tình với mệ lắm. Mới chừng đó mà hắn hứa khi mô đi làm sẽ cho mệ mỗi tháng năm chục bạc để tiêu. Không biết có sống tới đó để hưởng lộc của cháu hay không chứ nghe hắn nói rứa mình cũng mát ruột. Tôi thấy tôi xạo quá, và đúng như mệ nói, mười voi không có chén nước xáo, mệ tin chi được ba thằng cháu ngoại, cái thứ cháu bà nuôi cho uổng công bà, về sau mày lớn tìm cha mày về.

Mệ là người khéo tay. Với con dao và bụi hóp sau nhà, bà chế nào kèn lá nón để giả làm tiếng gà gáy hay kèn bầu đám ma, nào súng bắn bằng hột cây bời lời, nào quạt nước, nào chong chóng, cho anh em chúng tôi chơi. Bằng một con rựa cùn gãy đôi và mấy cục gạch vỡ, bà ngồi tỉ mỉ đẽo gọt thành những hòn bi để cho lũ cháu chơi đánh bi. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy tôi đã học được rất nhiều điều từ mệ, do cái tật tò mò và hay bắt chước. Chẳng hạn, ngoài mấy thứ đồ chơi đó, tôi có thể bắt chước mệ để làm quạt kè, chổi cau v.v. Chặt một tàu lá kè, kiếm chỗ đất bằng phẳng trải xuống, lấy hai viên gạch đè lên, phơi khô. Khi lá đã khô, dùng kéo vanh tròn rồi dùng dao chẽ đôi, sẽ có hai cái quạt, vừa nhẹ, vừa mát. Mệ còn dùng vải viền quanh dể quạt được bền hơn và tránh được cái cạnh sắc của lá khô có thể làm sướt da chảy máu. 

Một tàu cau trong vườn rụng xuống là một nguồn vật liệu để mệ chế biến đồ dùng. Cái mo cau được cắt riêng ra, phơi khô, để dành. Từ mo cau, mệ có thể bới cơm, chằm làm cái gàu múc nước giếng, làm cái mo đài cho chó ăn cơm, hay cắt ra làm cái nắp cài kín mấy hũ dưa hũ mắm, chèn mái nhà để tạm thời tránh dột, làm thành cái quạt v.v. Với cái tàu cau, mệ dùng con dao nhíp tước bỏ phần lá (để dành nhen lửa), chỉ chừa lại cái sống lá. Mệ bó năm cái tàu cau như thế thành một cái chổi, quét sân quét vườn rất sạch, khỏi tốn tiền mua chổi rành. 

Tôi biết trồng cây, làm vườn cũng là nhờ đi theo để mệ sai vặt khi mệ làm vườn. Tháng Chạp, khi hết mưa lớn, mệ thuê người cuốc đất, đánh vồng cho mệ vãi cải cay, cải tàng ô. Cải lớn, mệ đem ra cấy, rồi trồng cà trồng ớt. Nơi này là luống mồng tơi, nơi kia là đám môn ngọt và môn bạc hà. Trong vườn, có một mảnh đất vuông, mỗi cạnh chừng ba thước, là vườn thuốc Nam của mệ. Nào tía tô, rau tờn, sả, ích mẫu, kinh giới, gừng v.v. Trong vườn, mẹ tôi lại có thuê người ta trồng mấy cây chanh và mấy cây bưởi đỏ, thanh trà. Nhờ vậy, khi nào cần một nồi nước xông để giải cảm hay cần các thứ lá thơm để luộc một nồi ốc bưu hay ốc hút, mệ chỉ cần bước chân ra vườn một loáng là có đủ thứ trong tay, khỏi cần chạy xin hàng xóm. 

Trong ngôi vườn của thầy mạ tôi lúc bấy giờ có trồng chừng hai chục cây cau và bốn năm bụi trầu không leo quanh mấy cây mứt. Khi mệ và mạ mất đi, những cây này cũng theo gót vĩnh viễn giã từ. Cả mệ và mạ đều nhuộm răng đen và ăn cau trầu suốt ngày. Cau trầu trồng trong vườn, trước hết là để cho các bà dùng, thừa ra thì mới đem bán, nếu gặp mùa cau trúng, giá cau rẻ, các bà đem phơi khô, để dùng trong mùa mưa. Tôi biết róc cau, bửa cau, phơi cau , têm trầu, ăn cau trầu, cũng là do cái tật tò mò và hay bắt chước như khỉ. Bạn ăn cau trầu thân thiết của mệ là bà Chưởng hàng xóm. Bà này người Quảng Ngãi, thuộc loại cao thủ cau trầu. Bà không biết hút thuốc lá nhưng trong túi bà luôn luôn có hai món, một cái hộp dẹp bằng thiếc đựng thuốc lá cẩm lệ, dùng để ăn ghém với cau trầu, và một cái hộp nhỏ bằng bạc, hình thuẫn, đựng vôi, để ăn chêm khi gặp miếng trầu nhạt. Mệ tôi thì đơn giản hơn, bà không ăn ghém thuốc lá, chỉ ăn ghém bằng hột mây hay vỏ cây chay. Có một lần theo mệ qua nhà bà Chưởng chơi, tôi thấy bà ta mời trầu, mệ đón lấy miếng cau bỏ vào miệng trước, nhưng miếng trầu thì mệ mở ra, liếc một cái, rồi mới cuộn lại, ăn tiếp. Khi về nhà, không nén được tò mò, tôi hỏi:
- Tại răng bác Chưởng mời trầu mà mệ lại mở miếng trầu ra rồi mới ăn?
 
- Cái đó là do ông bà mình đã dặn rồi:

Ăn trầu thì phải mở ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi. 

Nếu là người lạ, chưa biết bụng dạ người ta ra răng, thì mình cũng phải mở miếng trầu ra coi thử trong đó có chi độc hại hay không. Mà dù quen hay lạ thì cũng phải mở trầu ra coi vôi nhiều hay ít. Có nhiều người têm trầu mặn (nhiều) vôi quá, mình ăn không quen sẽ bị phỏng miệng. Mệ dặn thì con phải nhớ, nghe không?

Chừng mười một mười hai tuổi thì tôi đã trèo cây như khỉ. Lúc đó thì mệ khỏi tốn tiền thuê người lột cau. Với con dao nhíp ngậm ngang miệng và cái nài bằng bẹ chuối khô tròng ở hai bàn chân, tôi leo lên ngọn cau trong nháy mắt. Rứt một trái cau ném xuống cho mệ bửa ra thử xem dầy hay non. Nếu thấy được thì mệ sẽ ra lệnh “cau dầy rồi, lột đi con”, thế là tôi lấy con dao nhíp ra, cắt hai bên mép của buồng cau để giật nó ra, xong choàng buồng cau qua bắp vế và tụt xuống. Về sau, khi đã biết nhận định thế nào là cau dầy, cau non, cau tra (già), tôi thử cau ngay trên cây và quyết định lột hay không, khỏi cần chờ lệnh của mệ nữa. Đến lúc đó thì đã đạt đến trình độ đi lột cau thuê và hái ổi hái xoài thuê cho nhà bà Chưởng hàng xóm rồi.

Khi còn ở quê nhà, mỗi lần Tết đến, thấy vợ tôi ngồi rim mứt, tôi lại nhớ đến thau mứt thập cẩm của mệ vào những ngày thơ ấu. Vì bầy quân ăn như ăn cướp, không có mứt bánh nào chịu cho thấu, nên bên cạnh những món mứt cao cấp dành đãi khách, thế nào mệ tôi cũng làm một thau mứt thập cẩm, nặng về lượng hơn phẩm. Thành phần của thau mứt cho bầy quân gồm có khoai lang cắt thành thỏi (như French Fried), sắn dây Quảng Trị xắt lát vuông, gừng non và dừa già xắt lát mỏng, và đậu phụng rang. Tất cả được cho vào một cái thau lớn rim với đường cát vàng. Khi chín tới, hổn hợp này tạo thành một hương vị rất hấp dẫn. Trong khi các loại mứt đãi khách được cho vào tìm vào thẩu thủy tinh có nắp đậy đẹp đẽ thì loại mứt thập cẩm của bầy quân được cho vào thùng thiếc vốn là thùng đựng trà, nhưng không sao, miễn số lượng cho nhiều là bầy quân hoan nghênh. 

Tôi không biết mệ mất vì bịnh gì. Khi mệ nằm bịnh chừng nửa tháng thì cậu tôi (anh của mạ, con của mệ ngoại đích) từ quê lên thăm. Ông bàn với mạ tôi sao đó rồi thuê xe kéo chở mệ ra Bến Tượng ở chân cầu Đông Ba, từ đó, lại thuê đò dọc đưa mệ về nhà cậu để mợ và chị Hiền săn sóc. Tôi hỏi thì mạ tôi nói: cậu nói mệ gần tới ngày rồi, đem mệ về làng để mệ trăm tuổi thì tiện làm đám, mà ý mệ cũng thích rứa. Tôi không thấy cái buồn vì sắp sửa vĩnh viễn xa mệ, chỉ thấy cái vui cuối tuần được theo chị tôi về làng thăm mệ để được ăn bắp luộc và đậu phụng luộc của mợ. Rồi mệ ra đi êm ái như đi vào giấc ngủ. Khi đó thì tôi đang leo lên cây ổi trước sân nhà cậu để hái mấy trái chín ngon mắt không chịu được. Nghe tiếng khóc của mạ và mợ, tôi tụt xuống chạy vào thì nghe mợ nói: mệ đi rồi


Mạ tôi dốc toàn lực ra làm cho mệ một cái đám được làng xóm khen là to. Về sau, tôi mới biết ở thôn quê, tiêu chuẩn để đánh giá một cái đám ma to hay nhỏ là ở số lượng heo bò hy sinh. Hình như để đãi khách, mạ tôi phải làm đến hai heo. Về sau, qua những câu chuyện mà tôi nghe lóm được của bà con chòm xóm, thì cái đám của mệ đã đem lại tiếng tốt cho mạ tôi và cậu mợ tôi. Người ta khen mạ tôi là con gái lo cho mẹ giỏi có thua chi trai. Còn họ khen cậu mợ tôi đã săn sóc lo lắng cho mệ tôi chẳng khác chi mẹ ruột. Tôi tin những lời khen đó tới tai mệ tôi và hẳn bà cũng vui lòng nơi chín suối.

Đã già nửa thế kỷ trôi qua, nấm mồ của mệ nằm ngoài đồng Triều Sơn đã bao lần ngâm nước lụt và cỏ trên mộ đã thay bao lứa. Lũ cháu ngoại của mệ bây giờ cũng đã tới cái tuổi sắp hàng để chờ Thiên Tào gọi tên về gặp mệ. Dầu sao thì trước khi được điểm danh, cả mấy anh chị em đều vui vì đã lo được cho mệ một nơi an nghỉ tốt đẹp khang trang, và riêng tôi, chuộc được cái tội nói xạo cho mệ năm chục đồng mỗi tháng để tiêu vặt.


Võ Hương-An

Blog Archive