Monday, September 21, 2026

ĐƯỜNG 9 ĐOẠN, ĐƯỜNG 10 ĐOẠN & KÊNH ĐÀO BÌNH LỤC

21/9/2026
——
Vịnh Bắc Bộ, tên phiên âm tiếng La Tinh trên bản đồ của Trung Quốc là Beibu Gulf, tên tiếng Anh là Gulf of Tonkin, là nơi mà ngày xưa Trung Hoa đem quân đi xâm chiếm Giao Chỉ, Giao Châu hay Đại Việt ngày xưa.

Thực ra chữ ‘Tonkin’ không có dính dáng gì tới cái tên ‘Bắc Bộ’, vì nó đáng lẽ phải được dịch là Đông Kinh. Hà Nội lẽ ra được đặt tên là Đông Kinh, nhưng vì Tokyo trong tiếng Hán Việt đã là Đông Kinh.

Thời nhà Lê, Thăng Long được Trung Hoa gọi là Đông Kinh để phân biệt với Tây Kinh là Thanh Hoá. Thanh Hoá chính là đất Vua, quê hương của Lê Lợi.

Người Pháp dùng lại chữ Tonkin để ám chỉ xứ Bắc Kỳ, là xứ được Pháp bảo hộ. Chỉ có Nam Kỳ mới chính thức là thuộc địa (colony) của Pháp. Pháp gọi Nam Kỳ là Cochinchine, tiếng Anh là Cochinchina.

Riêng Trung Kỳ thì có tên An Nam dưới sự cai quản của triều đình nhà Nguyễn.

Bắc Kỳ vốn là 1 trong 3 vùng bị tách ra thời Pháp thuộc từ lãnh thổ toàn vẹn của nhà Nguyễn. Công thống nhất giang sơn và mở rộng bờ cõi của vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh và tả quân Lê Văn Duyệt rất lớn.

Công bằng mà nói. Trước khi chúa Nguyễn vào Nam khai hoang lập quốc thì từ Quảng Nam trở vào không dính dáng tới triều đình nhà Lê, tức không dính dáng với người Bắc từ Thanh Hoá trở ra Bắc. Nói cách khác, lãnh thổ ở phía Nam mà Trung Hoa từng đô hộ không liên quan tới miền Nam của Việt Nam, vì Tàu chưa bao giờ cai trị vùng đất này.

Nay những kẻ lên mạng chửi rủa vua Gia Long và tả quân Lê Văn Duyệt là bán nước, là cõng rắn gà nhà.

Xin lỗi, người Bắc Kỳ phía Bắc Thanh Hoá không hề có tư cách gì ở phương Nam, vì tổ tiên của họ chưa bao giờ làm chủ đất đai từ Quảng Nam trở về Nam. Nguyễn Ánh bán nước cho ai? Ông lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Nam Việt, nhưng bị hoàng đế Nhà Thanh đổi lại thành Việt Nam, thành ra cái tên Việt Nam là do ông mà có, sau khi đồng tình với hoàng đế nhà Thanh. Gia Long truyền ngôi lại cho nhiều nhiều đời trước khi Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858.

Vậy thì những người nói giọng Bắc tấn công Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt có động cơ gì? Phải chăng là vùng đất miền Nam mà Nguyễn Ánh khai phá và thống nhất được không hề liên quan với Trung Hoa, và không liên quan tới dân Bắc Kỳ phía Bắc Thanh Hoá, và quan trọng hơn là câu hỏi này: Phải chăng vì Nguyễn Ánh xác lập chủ quyền trên 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa khiến Trung Cộng trở thành kẻ xâm lược và chiếm đóng trên 2 quần đảo này?

Phải chăng những kẻ chửi Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt là tay sai của Tàu Cộng?

Trở lại với Vịnh Bắc Bộ. Ngày 16/9 vừa qua, Trung Cộng khai trương kênh đào nhân tạo mang tên Bình Lục (Pinglu Canal), nối sông Khâm Giang (Qinjiang) ở Quảng Tây (Guangxi) với Vịnh Bắc Bộ. Sông Khâm Giang nối các tỉnh miền Tây Nam của Trung Quốc với Quảng Tây thông qua sông Bình Đường (Pingtang) và hồ chứa nước Tây Tân (Xijin).

Trước đây hàng hoá từ các tỉnh phía Tây và Tây Nam không giáp biển của Trung Quốc như Vân Nam và Quý Châu (Guizhou) có 2 lựa chọn xuất cảng. Một là đi đường bộ xuống cảng Hải Phòng hay đường bộ cùng đường sắt tới Quảng Đông để dùng các cảng biển ở Quảng Đông mà xuất hàng đi Đông Nam Á và quốc tế. Giờ đây họ dùng kênh Bình Lục để quẹo xuống phía Nam đi ra Vịnh Bắc Bộ. Từ Vịnh Bắc Bộ, họ có thể dùng cảng Hải Phòng làm cảng trung chuyển hay tiếp liệu rồi đi thẳng xuống Biển Đông. Tới đây, đường đi của hàng xuất cảng của họ tương tự hàng hoá của Việt Nam, tức đi dọc theo Biển Đông xuống Đông Nam Á, qua eo biển Malacca đi Trung Đông và Châu Âu, hay xuôi về phía Đông đi Nhật Bản hay Bờ Tây của Hoa Kỳ.

Khoảng cách từ kênh Bình Lục tới các cảng biển của tỉnh Quảng Đông dài hơn 500 cây số, tức kênh Bình Lục này tiết kiệm được chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển cho hàng hoá xuất cảng từ các tỉnh phía Tây và Tây Nam của Trung Quốc rất nhiều.

Câu hỏi ở đây là:
- Nếu cảng biển nơi kênh Bình Lục đổ ra biển được phát triển thành cảng lưỡng dụng, tức vừa dùng cho thương mại vừa dùng cho quân sự thì ảnh hưởng thế nào đối với an ninh ở Vịnh Bắc Bộ và vùng Đông Bắc của Việt Nam?

- Điểm khác biệt giữa đường bản đồ đường 9 đoạn của Trung Cộng và đường 10 đoạn của Trung Hoa Dân Quốc chính là 1 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ. Lỡ Trung Cộng thêm 1 đoạn này vào đường ‘Lưỡi Bò’ rồi đưa tàu hải cảnh hay tàu chiến hải quân vào tuần tra thì sao? Nếu họ đóng quân tại bến cảng nơi kênh đào Bình Lục đổ ra biển thì an ninh quốc phòng của Việt Nam có bị ảnh hưởng không ?

Hoa OC
Chiếc TV Nhỏ Và Những Năm Tháng Xa Nhà

Những năm đầu mới sang Mỹ, mỗi chiều đi học về, tôi thường ngồi trước chiếc TV nhỏ trong phòng mình. Chiếc TV ấy chắc là do ai đó cho, tôi cũng chẳng còn nhớ rõ. Chỉ nhớ rằng, trong căn phòng nhỏ nơi xứ lạ, nó đã trở thành một người bạn khá thân của tôi.

Tôi coi đủ thứ chương trình: The Little House on the Prairie, Leave It to Beaver, The Andy Griffith Show, Bewitched, The Waltons… Những cái tên ấy, lúc đầu nghe còn lạ hoắc, nhưng coi riết rồi quen. Tiếng Anh cũng theo đó mà lọt vào tai từng ngày, từng chút một.

Sau này, tôi bắt đầu mê những soap opera của đài ABC. Mỗi ngày, trừ hai ngày cuối tuần, tôi lần lượt theo dõi All My Children, One Life to Live và General Hospital.

Nghe kể có một phụ nữ lúc mang thai rất thích coi One Life to Live. Sau khi sinh, nhiều khi đứa bé khóc dai lắm. Vậy mà hễ nhạc mở đầu của One Life to Live vang lên là em bé nín ngay. Có lẽ nó đã quen với chương trình từ khi còn nằm trong bụng mẹ!

All My Children chiếu lúc 12 giờ trưa, mỗi tập nửa tiếng. Ở trường college, trong phòng giải lao cũng có một cái TV. Nhiều sinh viên vừa ăn trưa vừa coi. Tôi cũng có khi xẹt vào coi ké, rồi lại chạy đi học, tùy hôm có lớp trùng giờ hay không. Đến tháng 4 năm 1977, chương trình được kéo dài thành một tiếng.

Đến năm 1981, đám cưới của Laura (Genie Francis) và Luke (Anthony Geary) trong General Hospital trở thành một đề tài to lớn trên truyền hình. Người ta quảng cáo suốt mấy tháng trời, khán giả cũng chờ đợi suốt mấy tháng trời. Nghe nói có khoảng 30 triệu người bật TV để xem, một con số kỷ lục đối với soap opera thời đó.

Riêng tôi thì lại không hiểu nổi tại sao anh chàng Luke được các bà, các cô mê đến như vậy. Tôi chẳng thấy anh ta đẹp trai ở chỗ nào! Mặt mũi và vóc dáng chẳng có vẻ gì nam tính, mái tóc lại quăn quăn trông kỳ kỳ. Cô diễn viên đóng vai Laura thì tôi thấy đẹp.

Dù sao, nhìn lại, tôi phải cảm ơn những chương trình ấy. Nhờ ngày nào cũng nghe người ta nói tiếng Anh trên TV mà khả năng nghe tiếng Mỹ của tôi khá lên lúc nào không hay. Đó cũng là một cách học tiếng Anh rất tự nhiên trong những năm đầu tôi sống ở Mỹ.

Ở Văn Khoa, tôi chỉ học về văn chương, văn hóa Mỹ – không có nhiều chữ thực dụng trong đời sống.

Rồi cuộc sống ngày càng bận rộn. Tôi vừa đi làm full-time, vừa đi học full-time, nên những buổi chiều thong thả ngồi trước TV cũng dần thưa đi. Những soap opera tôi từng theo dõi vẫn tiếp tục chiếu hết năm này qua năm khác, còn tôi thì đã bước sang một đoạn đời khác.

Tôi bắt đầu coi phim chưởng. Vào buổi tối.
Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Đại Hiệp, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Sở Lưu Hương… được chuyển âm bằng giọng người Quảng. Rồi đến một loạt phim tình cảm Đài Loan chuyển thể từ truyện Quỳnh Dao, với Tần Hán và Lưu Tuyết Hoa đóng, như Hải Âu Phi Xứ, Dòng Sông Ly Biệt, Xóm Vắng…

Những bộ phim ấy đưa tôi về một thế giới rất khác. Có võ lâm, có tình yêu, có chia ly, có những mối tình éo le đến mức coi phim mà muốn khóc cũng không khóc được. Trong nhà đã có cô em chẳng hiểu sao tôi cứ coi phim là khóc, chỉ là phim thôi mà.

Tôi vừa làm bài vừa coi phim. Học hành là chuyện phải làm, còn coi phim là chuyện không thể bỏ. Hai việc cứ thế mà đi song song.

Có lần, cuối tuần tôi không phải đi làm, hai chị em tôi coi phim suốt đêm. Hồi đó còn coi bằng băng video (VCR). Sợ cái “đầu máy” chạy nóng quá, chúng tôi còn mở quạt cho máy nguội.

Sáng hôm sau, ba tôi thức dậy, thấy hai đứa còn đang ngồi coi phim thì ngạc nhiên hỏi:
“Sao tụi bay dậy sớm vậy?”
Ba đâu có biết hai đứa đã thức trắng đêm!

Nghĩ lại, những năm tháng ấy thật đơn sơ. Một chiếc TV nhỏ, vài cuộn băng video, những bộ phim dài tập và hai chị em ngồi bên nhau hết tối này sang tối khác.

Trong những ngày đầu xa quê, khi mọi thứ chung quanh còn mới mẻ và tiếng Anh vẫn còn xa lạ, chiếc TV nhỏ ấy đã âm thầm giúp tôi làm quen với một đất nước mới. Và có lẽ, cũng nhờ nó mà những buổi chiều nơi xứ người bớt đi phần nào cảm giác nhớ nhà, nhớ quê.

Bây giờ nghĩ lại, tôi không còn nhớ hết nội dung của những bộ phim ngày ấy. Nhưng tôi vẫn nhớ chiếc TV nhỏ trong căn phòng của mình, nhớ những buổi chiều sau giờ học, và nhớ cả tiếng cười của hai chị em trước màn ảnh nhỏ.

Có những điều rất nhỏ của một đời người, đến khi ngoảnh lại, mới thấy chúng đã nằm yên trong ký ức từ bao giờ.

Linh Vang

Nước Úc – Một quốc gia chiếm trọn cả một châu lục.

Khi nói đến nước Úc, nhiều người thường nghĩ ngay đến những chú chuột túi kangaroo, những chú gấu koala hiền lành, những bãi biển trải dài dưới ánh nắng vàng hay thành phố Sydney với Nhà hát Con Sò nổi tiếng thế giới. Nhưng nước Úc không chỉ là một vùng đất xa xôi ở Nam bán cầu. Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới chiếm trọn một châu lục, một đất nước rộng lớn với lịch sử hàng chục ngàn năm của người bản địa, với nền văn minh hiện đại được xây dựng từ những làn sóng di dân khắp năm châu.

Với diện tích khoảng 7,7 triệu cây số vuông, Úc Châu đứng hàng thứ sáu trên thế giới về diện tích quốc gia, chỉ sau Nga, Canada, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Brazil. Tuy nhiên, khác với nhiều quốc gia rộng lớn khác, phần lớn lãnh thổ Úc là vùng đất khô hạn, sa mạc và bán sa mạc được gọi chung là Outback. Đây là vùng đất mênh mông với những đồng cỏ trải dài vô tận, những dãy núi cổ xưa, những tảng đá đỏ Uluru linh thiêng và những cảnh quan thiên nhiên gần như nguyên sơ.

Nước Úc nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, thuộc Nam bán cầu. Vị trí địa lý đặc biệt này tạo nên một hệ sinh thái rất riêng biệt. Vì bị cô lập với các châu lục khác trong hàng triệu năm, nhiều loài động vật ở Úc không tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Kangaroo, koala, wombat, thú mỏ vịt hay nhiều loài chim bản địa đã trở thành biểu tượng tự nhiên của quốc gia này.

Một trong những kỳ quan thiên nhiên lớn nhất của nhân loại là Rạn san hô Great Barrier Reef nằm ngoài khơi bờ biển Queensland. Hệ thống san hô này dài hơn 2.300 cây số, là nơi sinh sống của hàng ngàn loài sinh vật biển. Không chỉ có giá trị về mặt sinh thái, Great Barrier Reef còn là một biểu tượng du lịch quan trọng, thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới.

Lịch sử nước Úc bắt đầu từ hàng chục ngàn năm trước với các cộng đồng Thổ dân và dân đảo Torres Strait. Đây là một trong những nền văn hóa liên tục lâu đời nhất trên thế giới. Người bản địa Úc không chỉ có những truyền thống phong phú về nghệ thuật, âm nhạc, kể chuyện mà còn có một hệ thống kiến thức sâu sắc về đất đai, môi trường và sự cân bằng giữa con người với thiên nhiên.

Cuối thế kỷ thứ 18, người Anh bắt đầu thiết lập thuộc địa tại Úc. Ngày 26 tháng 1 năm 1788, Hạm đội thứ Nhất (First Fleet) do Thuyền trưởng Arthur Phillip chỉ huy đến Sydney Cove, đánh dấu sự hình thành thuộc địa Anh tại đây. Ban đầu Úc được sử dụng như một nơi đưa tù nhân Anh sang lưu đày, nhưng theo thời gian, đất nước này phát triển thành một xã hội định cư tự do.

Thế kỷ thứ 19 chứng kiến sự thay đổi lớn khi vàng được phát hiện tại Victoria và New South Wales. Những cuộc đào vàng đã thu hút hàng trăm ngàn di dân từ Anh, Ireland, Trung Quốc và nhiều nơi khác đến Úc. Thành phố Melbourne từng trở thành một trong những trung tâm giàu có nhất thế giới nhờ cơn sốt vàng. Nhiều công trình kiến trúc cổ kính tại Melbourne ngày nay vẫn mang dấu ấn của thời kỳ phát triển thịnh vượng đó.

Năm 1901, sáu thuộc địa của Anh tại Úc liên bang hóa thành Thịnh vượng chung Úc (Commonwealth of Australia). Từ một nhóm thuộc địa xa xôi, Úc trở thành một quốc gia tự trị với hệ thống nghị viện theo mô hình Westminster. Thủ đô Canberra được xây dựng giữa Sydney và Melbourne nhằm giải quyết sự cạnh tranh giữa hai thành phố lớn này và trở thành trung tâm chính trị của liên bang.

Ngày nay, dân số Úc khoảng hơn 27 triệu người. Phần lớn dân cư tập trung ở các thành phố ven biển như Sydney, Melbourne, Brisbane, Perth và Adelaide. Hơn 85% dân số sống trong khu vực đô thị, khiến Úc trở thành một trong những quốc gia có mức độ đô thị hóa cao trên thế giới.

Sydney là thành phố lớn nhất nước Úc, nổi tiếng với Nhà hát Con Sò (Sydney Opera House), cầu cảng Harbour Bridge và vai trò trung tâm tài chính, thương mại quốc tế. Đây cũng là cửa ngõ du lịch quan trọng của quốc gia.

Melbourne, nơi thường được xem là thủ đô văn hóa của Úc, nổi tiếng với nghệ thuật, âm nhạc, thể thao, giáo dục và đời sống cà phê. Thành phố này nhiều năm liền được đánh giá cao về chất lượng sống nhờ hệ thống giao thông, y tế, giáo dục và các hoạt động văn hóa đa dạng.

Brisbane là thành phố lớn của vùng Queensland, có khí hậu ấm áp, nền kinh tế phát triển nhanh và là cửa ngõ đến những khu du lịch nổi tiếng như Gold Coast và Great Barrier Reef. Perth ở phía Tây lại nổi bật với ngành khai khoáng và vị trí gần châu Á hơn các thành phố phía Đông.

Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống, chính phủ, giáo dục và kinh doanh tại Úc. Tuy nhiên, do chính sách di dân trong nhiều thập niên, nước Úc ngày nay là một xã hội đa văn hóa với hàng trăm cộng đồng sắc tộc khác nhau. Người Úc gốc Anh, Ireland, Ý, Hy Lạp, Trung Hoa, Việt Nam, Ấn Độ, Trung Đông và nhiều quốc gia khác cùng góp phần tạo nên diện mạo hiện đại của đất nước.

Về kinh tế, Úc là một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới. Quốc gia này có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như quặng sắt, than đá, vàng, khí đốt và nhiều loại khoáng sản khác. Ngành khai khoáng đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu. Ngoài ra, nông nghiệp Úc cũng nổi tiếng với sản phẩm len cừu, thịt bò, lúa mì và nhiều loại thực phẩm chất lượng cao.

Đồng tiền chính thức của Úc là đô la Úc (Australian Dollar – AUD), một trong những đồng tiền được giao dịch rộng rãi trên thị trường quốc tế. Nền kinh tế Úc còn dựa vào giáo dục quốc tế, du lịch, dịch vụ tài chính và khoa học kỹ thuật.

Trong đời sống xã hội, thể thao giữ một vị trí đặc biệt. Người Úc yêu thích bóng bầu dục, cricket, bóng đá Úc (AFL), tennis và nhiều môn thể thao khác. Những sự kiện như giải quần vợt Australian Open hay các trận chung kết AFL không chỉ là cuộc thi thể thao mà còn là sinh hoạt văn hóa của cả cộng đồng.

Hệ thống giáo dục Úc cũng được thế giới biết đến với nhiều trường đại học danh tiếng. Các trường như Đại học Melbourne, Đại học Sydney, Đại học Monash hay Đại học Queensland thu hút sinh viên quốc tế từ khắp nơi. Giáo dục được xem là một trong những ngành xuất khẩu quan trọng của quốc gia.

Một điều đáng chú ý khác là tinh thần bình đẳng trong xã hội Úc. Dù vẫn còn những cuộc tranh luận về lịch sử thuộc địa, quan hệ giữa người bản địa và người nhập cư, nước Úc hiện đại tiếp tục tìm cách xây dựng một xã hội dựa trên luật pháp, cơ hội và sự đóng góp của mọi thành phần dân cư.

Từ một vùng đất từng bị xem là xa xôi ở cuối bản đồ thế giới, Úc đã trở thành một quốc gia có ảnh hưởng đáng kể trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Sự thành công của Úc không chỉ đến từ tài nguyên thiên nhiên mà còn từ con người: những thế hệ di dân đã đem theo kiến thức, lao động, văn hóa và khát vọng xây dựng tương lai.

Bài học lớn nhất từ nước Úc là một quốc gia rộng lớn không chỉ được đo bằng diện tích lãnh thổ hay sự giàu có tài nguyên. Giá trị thật sự nằm ở khả năng biến khác biệt thành sức mạnh, biến vùng đất hoang sơ thành một xã hội tiến bộ, và tạo điều kiện để nhiều thế hệ cùng đóng góp xây dựng quê hương chung.

Nước Úc – một châu lục, một quốc gia và cũng là câu chuyện dài về thiên nhiên, lịch sử, di dân và ý chí con người. Đó chính là lý do vì sao đất nước này luôn giữ một vị trí đặc biệt trong lòng thế giới hiện đại.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.


Diễn biến quân sự ở Trung Đông đang tăng cao

Tình hình căng thẳng liên quan đến Iran đang leo thang mạnh mẽ. Bộ chỉ huy quân sự Iran được cho rằng họ đã nhận được tin tình báo cho thấy Mỹ quyết định nối lại các hành động quân sự chống lại Iran sau một cuộc họp tại châu Âu, đồng thời khẳng định Washington đã nhận được sự đồng thuận từ một số quốc gia trong khu vực.

Iran cảnh báo rằng bất kỳ cuộc tấn công nào mới từ phía Mỹ cũng sẽ châm ngòi cho các đợt đáp trả liên tục nhắm vào các căn cứ và lợi ích của Mỹ trên khắp khu vực.

Lời cảnh báo này được đưa ra trong bối cảnh xuất hiện nhiều diễn biến bất thường. Tổng thống Donald Trump đã rút ngắn kỳ nghỉ cuối tuần tại Trại David và trở về Toà Bạch Ốc sớm hơn một ngày so với kế hoạch mà không đưa ra lời giải thích chính thức. Thủ tướng Benjamin Netanyahu cũng đã rút ngắn đáng kể chuyến thăm Mỹ sắp tới và hủy cuộc gặp đã lên lịch với Elon Musk tại Texas, trong khi hiện chưa có cuộc gặp nào với ông Trump được sắp xếp.

Các cơ quan đại diện ngoại giao của Mỹ trên khắp Trung Đông cũng đã phát đi cảnh báo an ninh ở mức cao, viện dẫn nguy cơ leo thang căng thẳng, gián đoạn các chuyến bay và việc đóng cửa không phận đột ngột. Trong khi đó, ông Trump công khai tuyên bố rằng ông đang cân nhắc việc có thực hiện thêm một cuộc tấn công quy mô lớn nào khác nhắm vào Iran hay không.

Những diễn biến này cho thấy mức độ căng thẳng quân sự và ngoại giao đang gia tăng bất thường. Bản thân lời cảnh báo của Iran không khẳng định chắc chắn rằng Washington đã đưa ra quyết định cuối cùng về việc tấn công, nhưng các biện pháp phòng ngừa an ninh được triển khai đồng loạt cùng những thay đổi trong lịch trình của giới chức cấp cao đã làm nổi bật nguy cơ xảy ra một đợt leo thang quân sự mới.

*Hình minh hoạ
Hơn 100 sinh viên và giảng viên từ mười trường đại học của Mỹ vừa tham dự một buổi họp thông tin với một quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Sau khi hơn 100 viện Khổng Tử bị dẹp tại các đại học Mỹ thời Trump 1.0, thì bây giờ, các giáo sư và sinh viên Mỹ thuộc các đại học, kể cả Harvard, Columbia, University of Chicago đã cắp sách sang Trung Quốc để học.

Đây là một hoạt động mới, nhằm gây ảnh hưởng của Mặt trận Thống nhất thuộc ĐCSTQ. Khoá "bồi dưỡng chính trị" này được tổ chức tại Khúc Phụ, quê hương của Khổng Tử.

Có vẻ các sinh viên Mỹ sắp trở thành tuyên truyền viên đắc lực cho ĐCSTQ.

Vào ngày 3 tháng 9, Lục Khang (Lu Kang), Thứ trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã gặp nhóm người này tại Khúc Phụ (Qufu), Trung Quốc.

Chương trình nghị sự gồm Kế hoạch 5 năm của Bắc Kinh và các sáng kiến ​​chính sách đối ngoại toàn cầu của nước này.

Bản tin của Đảng cho biết Lục Khang mong muốn các vị khách sẽ phát triển: “một sự hiểu biết chân thực, đa chiều và toàn diện về Trung Quốc”.

Sau đó, bản tin dẫn lại nhận định này từ phía các sinh viên Mỹ: “Những thành tựu phát triển to lớn của Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới.”

Và cho biết họ đã bày tỏ thiện chí: “đóng góp sức trẻ của mình” …vào việc thúc đẩy quan hệ Mỹ-Trung.

Đó là những tuyên bố do Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra về hoạt động tiếp xúc của họ đối với các thành viên từ các trường đại học Mỹ.

Các đơn vị đứng ra tổ chức sự kiện này là Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Trung Quốc về Giao lưu Quốc tế và Hiệp hội Trung Quốc về Hiểu biết Quốc tế.

Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định rõ các trường đại học danh tiếng của Mỹ và nêu đích danh việc có giảng viên tham gia, nhưng lại không nêu tên bất kỳ giáo sư nào trong số đó.

Harvard, Columbia và Đại học Chicago cần công khai vai trò của những người tham gia và giải thích cách thức tổ chức chuyến đi này.

Người ta cũng có thể đặt câu hỏi liệu Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chi bao nhiêu tiền cho nhóm "trí thức" này, kể cả tiền vé khứ hồi, lưu trú và quà cáp...?

FB Uyen Vu

95 năm Sự kiện Phụng Thiên

Đại sứ quán Nhật Bản tại Bắc Kinh vừa khuyến cáo công dân Nhật tránh nói tiếng Nhật quá lớn ở nơi công cộng và không cho trẻ em mặc trang phục hoặc mang theo các vật dụng dễ nhận diện là của Nhật Bản khi ra ngoài.

Lời cảnh báo này được đưa ra vào dịp kỷ niệm 95 năm Sự kiện Phụng Thiên, một cột mốc thường khơi dậy tinh thần dân tộc chủ nghĩa tại Trung Quốc. Một số trường học Nhật Bản đã chuyển sang hình thức học trực tuyến. Động thái thận trọng này diễn ra sau hàng loạt vụ tấn công đã được ghi nhận: 

* một bé trai Nhật Bản bị đâm tử vong khi đang đi bộ đến trường ở Thâm Quyến vào 18/9/2024; 
* một người mẹ cùng con nhỏ bị thương tại Tô Châu vào tháng 6 năm 2024; 
* một phụ nữ bị tấn công trên tàu điện ngầm ở Tô Châu vào tháng 7 năm 2025; 
và hai người bị đâm tại một nhà hàng ở Thượng Hải vào tháng 5 năm 2026.

Giới chức Trung Quốc luôn coi mỗi vụ việc chỉ là cá biệt, họ thường viện dẫn lý do bệnh lý tâm thần, đồng thời phản ứng bằng cách tăng cường lực lượng cảnh sát quanh các trường học Nhật Bản. Không có ghi nhận tình trạng bạo lực nhắm vào quốc tịch tương tự xảy ra với công dân Mỹ, châu Âu hay các quốc gia khác tại Trung Quốc.

Đa số người Nhật sinh sống tại đây cho biết họ chỉ thận trọng hơn chứ không sống trong nỗi sợ hãi thường trực. Tuy nhiên, những trường hợp thực tế như bị tài xế taxi từ chối chở hay xảy ra xô xát tại nhà hàng vào những thời điểm nhạy cảm là có thật và đã được ghi nhận.

Trong cuộc họp báo ngày hôm qua 18/9, phát ngôn nhân Quách Gia Khôn nói:

"95 năm trước, chủ nghĩa quân phiệt Nhật ngang nhiên phát động chiến tranh xâm lược... Tuyệt đại đa số người dân Nhật Bản mãi đến phiên tòa Tokyo mới biết sự thật. Năm nay là 80 năm phiên tòa Tokyo mở, đáng lo ngại là khuynh hướng phủ nhận lịch sử của Nhật Bản không ngừng lan rộng..."

Quách Gia Khôn đặc biệt cảnh báo chính phủ của Thủ tướng Takaiichi Sanae đang có chính sách an ninh "trở lại trước chiến tranh" và kêu gọi các nước "tuyệt đối không cho phép chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản chết đi sống lại".

*95 năm trước, vào đêm 18/9/1931, theo sử liệu Trung Quốc, quân Quan Đông Nhật tự cho nổ một đoạn đường sắt Nam Mãn Châu ở Liễu Điều Hồ gần Thẩm Dương rồi vu cáo quân Trung Quốc làm, lấy cớ đột kích Bắc Đại Doanh. Sự kiện này được coi là khởi đầu cho việc Nhật xâm chiếm Đông Bắc và là phát súng đầu tiên cho 14 năm kháng chiến của chống Nhật của Trung Hoa gọi là Sự kiện Phụng Thiên, một trang quốc sỉ của đất nước này.

Vì thế, ngày 18/9 hàng năm là ngày để Đảng CSTQ khơi dậy chủ nghĩa dân tộc và ký ức kháng Nhật. Khi quan hệ Trung - Nhật đang xấu đi vì vấn đề Đài Loan, sách giáo khoa lịch sử, và việc Nhật tăng chi tiêu quốc phòng, thì lễ kỷ niệm 95 năm được đẩy lên như một công cụ cảnh báo: "lịch sử đang lặp lại".

FB Uyen Vu
Bản ghi nhớ nội bộ của Bộ An ninh Nội địa Mỹ (DHS), ký ngày 9/6/2026, quy định trục xuất người nước ngoài, nếu họ bỏ phiếu bất hợp pháp hoặc khai gian là công dân Mỹ.

Người gửi là ông James H. Percival II, Tổng Cố vấn Pháp lý của DHS (người đứng đầu về pháp lý của Bộ Nội An) đến ông Charles Wall, Cố vấn Pháp lý chính của ICE, và OPLA.

Nội dung bản ghi nhớ nêu rõ lời Tổng thống Trump và Sắc lệnh 14248, nhằm "Bảo tồn và Bảo vệ Tính Toàn vẹn của Bầu cử Mỹ" (28/3/2025), rằng quyền của công dân Mỹ được kiểm phiếu đúng, không bị pha loãng bởi phiếu bất hợp pháp, là biện pháp sống còn để xác định người thắng cử đúng.

Việc bỏ phiếu bất hợp pháp của người ngoại quốc làm loãng phiếu của công dân Mỹ và phá hoại dân chủ. Hành vi này phải chịu hậu quả.

Để thực thi chính sách đó, TT Trump đã chỉ đạo toàn bộ chính phủ liên bang xác minh tư cách cử tri, chia sẻ thông tin, truy tố hình sự người nước ngoài bỏ phiếu trái phép.

Mặc dù sắc lệnh không nói cụ thể, nhưng ICE và đặc biệt là đội luật sư OPLA từ lâu đã có công cụ để bảo đảm hậu quả của hành vi bỏ phiếu trái phép.

Đạo luật Di trú và Quốc tịch quy định trục xuất người nước ngoài nếu họ bỏ phiếu bất hợp pháp hoặc khai gian là công dân Mỹ, hai hành vi thường đi đôi với nhau.

Văn bản trên trích 4 điều luật hiện hành: 8 U.S.C. §§ 1182(a)(10)(D)(i), 1227(a)(6)(A), 1182(a)(6)(C)(ii), 1227(a)(3)(D).

Theo các luật trên, cho phép trục xuất ngay cả người đang ở Mỹ hợp pháp (thẻ xanh, visa) nếu họ bỏ phiếu bất hợp pháp.

Không cần chứng minh cố ý: Hội đồng Kháng cáo Di trú (BIA) đã quyết định trong vụ Matter of Fitzpatrick (2015) và Matter of Zhang (2019) rằng không cần người nước ngoài phải cố ý.

Không cần bị kết án hình sự: Chỉ cần có hành vi là đủ để đưa vào thủ tục trục xuất.

Chỉ thị nêu rõ: "Vì tầm quan trọng của những luật này và vai trò của chúng trong việc bảo đảm bầu cử công bằng, tôi kỳ vọng các luật sư OPLA sẽ viện dẫn các điều khoản này trong các thủ tục trục xuất ở mức tối đa mà pháp luật cho phép."

Như vậy, đây là lệnh từ lãnh đạo DHS yêu cầu các luật sư di trú phải tích cực nhất có thể, dùng lý do "bỏ phiếu bất hợp pháp" để trục xuất người nước ngoài, kể cả người có thẻ xanh, kể cả khi họ vô tình, không cần có ý gian lận và không cần tòa án hình sự kết tội.

FB Uyen Vu

Sunday, September 20, 2026

Sc lệnh Hành pháp mới nhất về visa H-1B, ký ngày hôm qua 18/9/2026

Sắc lệnh này có tên đầy đủ là "Tăng cường tính liêm chính của chương trình và phối hợp liên ngành trong việc quản lý chương trình visa không định cư H-1B".

Sắc lệnh nói rõ quan điểm của Toà Bạch Ốc: Chương trình H-1B vốn được thiết lập nhằm tìm lao động nước ngoài có kỹ năng độc đáo và chuyên môn cao để bổ sung cho kinh tế Mỹ. Nhưng chương trình đã bị lạm dụng rộng rãi bởi một số chủ lao động, nhóm tuyển dụng bên thứ ba và công ty thuê người ngoài để hạ giá và thay thế lao động có tay nghề của Mỹ.

“Nhiều nhà tuyển dụng đã sa thải một lượng lớn lao động Mỹ có trình độ chuyên môn cao, chỉ để ngay sau đó thuê một lượng lớn lao động diện H-1B, những người thường có trình độ thấp hơn và mức lương thấp hơn.”

“Việc lạm dụng chương trình H-1B một cách có hệ thống và có tổ chức cũng là một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.”

Sắc lệnh liệt kê 3 dạng lạm dụng lớn đang bị điều tra gồm:

Ép lương thấp: H-1B được trả thấp hơn lao động Mỹ tương đương từ $9,000 đến $20,000, dù luật yêu cầu phải trả ngang nhau

Sa thải người Mỹ rồi thuê H-1B: Các công ty công nghệ đã tuyển dụng hàng trăm ngàn người có visa H-1B nhưng cũng sa thải từ 800,000 đến 1.3 triệu nhân viên Mỹ từ 2022-2026, thậm chí bắt người Mỹ phải đào tạo người thay thế mình

Bằng cấp giả và khai gian: Sắc lệnh ghi rõ rằng các cuộc điều tra đang phát hiện gian lận tràn lan, như "...khai sai trình độ của người nước ngoài để làm nghề chuyên môn bằng cách nộp các bằng cấp nước ngoài đáng ngờ từ các nhà máy sản xuất bằng cấp để hậu thuẫn đơn xin visa H-1B"

Một điều mới trong sắc lệnh này là trước đây chỉ có cơ quan Di trú USCIS (thuộc Bộ An ninh Nội địa), cùng Bộ Lao Động và Bộ Ngoại giao xét H-1B. Sắc lệnh mới này yêu cầu phối hợp cả 6 cơ quan:

Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Lao Động, Bộ trưởng An ninh Nội địa phải phối hợp và tham vấn với Bộ trưởng Thương mại, Bộ trưởng Giáo dục và Giám đốc Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA).

Như vậy, Bộ Giáo dục sẽ vào cuộc để xác minh bằng cấp. Bộ Thương mại và SBA sẽ cung cấp dữ liệu về lương, việc làm, để xem công ty có vừa sa thải người Mỹ không.

Trong 30 ngày kể từ ngày ký, Bộ Lao Động phải kiểm soát lại toàn bộ Đơn khai báo điều kiện lao động (LCA) đã nộp trước đó để xem có cần trừng phạt chủ lao động không.

Sắc lệnh cũng yêu cầu khi xét bất kỳ hồ sơ H-1B nào, phải xem xét liệu công ty bảo lãnh có sa thải lao động Mỹ trong năm trước hoặc có kế hoạch sa thải trong tương lai hay không.

*Sắc lệnh này sẽ nhắm trực tiếp vào hàng núi hồ sơ H-1B đã/đang và sẽ cấp cho người Ấn Độ. Đặc biệt là trường hợp 100.000 bằng giả bị thu giữ ở Ấn Độ. Vào tháng 12/2025, cảnh sát Ấn Độ tuyên bố thu giữ hơn 100.000 bằng cấp, chứng chỉ giả từ 28 trường đại học, được các công ty Mỹ chấp nhận để tuyển dụng. Các bằng này thuộc ngành y, điều dưỡng, kỹ thuật và bị cho là đã được dùng để xin visa H-1B. Một trường riêng lẻ bị cáo buộc đã cấp hơn 36.000 bằng giả.

Bà Mahvash Siddiqui, cựu viên chức cấp visa tại Tổng Lãnh sự Mỹ ở Chennai từ 2005-2007, nói trong một podcast gần đây rằng 80-90% hồ sơ H-1B từ Ấn Độ mà bà xét duyệt có giấy tờ giả mạo hoặc người nộp không đủ tiêu chuẩn tay nghề cao.

Lãnh sự quán ở Chennai được gọi là "thủ phủ gian lận H-1B của thế giới". Năm 2024, nơi này giải quyết khoảng 220.000 visa H-1B và 140.000 visa H-4 phụ thuộc. Quận Ameerpet ở Hyderabad được nêu tên là một lò lớn chuyên làm hồ sơ giả, dạy cách trả lời phỏng vấn.

FB Uyen Vu

Sài Gòn, những dấu xưa còn ấm


Sáng nay tôi ra Sài Gòn sớm. Nói thiệt, những chỗ này tôi đã ghé qua không biết bao nhiêu lần, quen đến mức nhắm mắt cũng hình dung ra từng góc phố. Nhưng đã trót mang cái nghiệp viết về Sài Gòn thì thế nào cũng phải quay lại, như người ta về thăm nhà cũ, biết trước sẽ gặp lại những gì mà vẫn cứ muốn đi. Tôi chọn xe bus, cái phương tiện rẻ nhất, mà mạng lưới thì giăng như tơ nhện khắp cùng thành phố. Xe giờ sạch sẽ, có máy lạnh, soát vé đàng hoàng, không còn cái cảnh chen chúc, móc túi, rạch giỏ như hồi xưa nữa. Người có tuổi như tôi ở Sài Gòn hình như được đi miễn phí, mà có tính tiền thì cũng chỉ vài ngàn bạc, đi đâu chẳng được. Vậy là tôi tà tà xuống trạm, ghé về phía Bưu Điện.

TÒA NHÀ GIỮ THỜI GIAN

Quận Nhứt có lắm bưu cục lâu đời, bưu điện Bến Thành trên đường Lê Lai, bưu điện Tân Định nép mình bên Hai Bà Trưng. Nhưng tôi muốn nói tới một nơi cổ kính hơn hết thảy, Bưu điện Trung tâm Sài Gòn, nằm sát bên hông Nhà thờ Đức Bà, ngay Công xã Paris.

Câu chuyện của tòa nhà này bắt đầu từ cái thời Sài Gòn còn chưa ráo mực chữ ký hiệp ước nhượng địa. Năm 1860, vừa giành được Gia Định chưa bao lâu, người Pháp đã vội vã khởi công Sở Dây thép, cái tên mà người dân quen gọi bưu điện thuở ấy, ở ngay giữa trung tâm thành phố, cạnh bên Vương cung Thánh đường. Ba năm sau, Sở điện báo Sài Gòn chính thức khánh thành, đặt nền cho những gì sẽ trở thành biểu tượng của đô thị này. Người vẽ nên hình hài đầu tiên của công trình không ai khác chính là Gustave Eiffel, cái tên về sau gắn liền với ngọn tháp sắt lừng danh giữa lòng Paris, với tượng Nữ thần Tự do đứng sừng sững nơi cảng New York, và ở Việt Nam, còn để lại dấu tay nơi cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng.

Nhưng nhu cầu gửi thư, gửi điện của dân chúng mỗi ngày một đông, cái sở nhỏ nhắn thuở đầu chẳng kham nổi. Năm 1886, người Pháp cho xây lại, quy mô lớn hơn, vẫn giữ lại phần nào dáng vóc cũ của Eiffel, nhưng lần này người đứng mũi chịu sào là kiến trúc sư Auguste Vildieu cùng cộng sự Alfred Foulhoux. Năm năm ròng rã, đến 1891 công trình mới hoàn thành, khoác lên mình cái vẻ vừa Gothic vừa Phục hưng, lại thêm chút hơi hướm thuộc địa Pháp. Một sự pha trộn là lạ mà hóa ra lại hài hòa đến không ngờ, như thể châu Âu và Đông Dương bắt tay nhau ngay trên mảnh đất này.

Bưu điện Trung tâm Sài Gòn vào khoảng năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire.

Bưu điện TP Hồ Chí Minh ngày nay, chụp năm 2023. Photo: Báo Lao Động

Đứng trước mặt tiền vàng nhạt điểm xanh lá, tôi cứ ngó mãi cái đồng hồ lớn ở chính giữa, nó đã gõ nhịp hơn trăm năm rưỡi nay, chứng kiến bao cuộc bể dâu của thành phố mà kim vẫn chạy đều, chẳng hề sai một khắc. Phía trên vành đồng hồ, người ta khắc tên và gương mặt những bậc danh nhân của ngành điện, ngành điện báo: Benjamin Franklin, Volta, Faraday, Ampère… như một lời nhắc rằng cái vật vô tri này ra đời từ trí tuệ của biết bao con người.

Bước chân vào bên trong, tôi có cảm giác mình vừa lạc sang một nhà ga châu Âu thế kỷ trước hơn là một bưu điện xứ Á Đông. Mái vòm cao vút, đỡ bởi bốn trụ sắt lớn tỏa ra bốn phía, từng đường nét chạm khắc nơi tiếp nối trụ và kèo đều tinh xảo, cầu kỳ đến độ khiến người ta phải ngước nhìn. Hai tấm bản đồ cổ vẫn treo hai bên cổng như từ thuở nào, một tấm vẽ đường dây điện báo miền Nam Việt Nam và Campuchia năm 1892, tấm kia vẽ Sài Gòn cùng vùng phụ cận cùng năm ấy. Không đơn thuần là vật trang trí, chúng như hai nhân chứng thầm lặng, kể lại cho ai muốn nghe câu chuyện của một thời đã xa.

Quầy nhận thư vẫn hoạt động, khách nước ngoài vẫn ghé đổi tiền, mua tem, mua vài món lưu niệm mang hồn Việt. Năm 2014 tòa nhà được sơn sửa lớn, lần đầu tiên kể từ sau 1975 nhưng cái cốt cách cổ kính thì vẫn y nguyên, giống như thời gian có chảy qua cũng chẳng làm phai được vẻ tráng lệ đã ăn sâu vào từng viên gạch.

NGƯỜI VIẾT THƯ CUỐI CÙNG

Một điều lạ mà tôi còn nhớ từ gần bốn chục năm trước, ở bưu điện này, và cả ở bưu điện Quận Năm ngày xưa, có cái nghề viết thư mướn, một nét văn hóa riêng, chẳng nơi nào có. Người gắn bó lâu nhất, cũng là người cuối cùng còn sót lại, là ông Dương Văn Ngộ.

Ông Dương Văn Ngộ vào tháng 7 năm 2019 tại Bưu điện trung tâm Sài Gòn. Author: Phan Diệp.

Ông vào nghề bưu tá từ năm mười sáu tuổi, ở bưu điện Thị Nghè, rồi mười tám tuổi thi đậu chân thư ký tại Bưu điện Sài Gòn. Tiếng Pháp ông học từ thuở tiểu học, đến năm ba mươi sáu tuổi lại được cử đi học thêm tiếng Anh ở trường Việt – Mỹ. Năm 1990, về hưu mà người còn khỏe mạnh, ông xin được ngồi lại ngay sảnh bưu điện, viết và dịch thư cho ai cần. Công việc ấy ông làm ròng rã đến tận cuối đời, chưa từng nghỉ một ngày, kể cả những năm chiến tranh khốc liệt nhất.

Tôi hình dung cảnh cụ mỗi sáng đạp xe tới, đậu vào bóng mát hàng cây, cười vồn vã chào những người bán bưu thiệp rong, rồi lôi từ trong cặp ra hai cuốn từ điển Anh – Pháp đã sờn gáy, cài tấm băng đỏ lên tay áo, dựng tấm biển nhỏ: “Nơi chỉ dẫn và viết giúp”. Khách của ông đủ hạng người. Anh tài xế miền sông nước nhờ viết thư đòi tiền bảo hiểm y tế cho ông chủ, cô gái trẻ đưa điện thoại Nokia nhờ dịch mấy dòng tin nhắn tiếng Pháp lãng mạn của người tình phương xa. Ông dịch ngay không cần nghĩ ngợi, rồi lặng lẽ nhìn cô gái mỉm cười thẹn thùng.

Khách hàng nữ hay gọi ông là “người viết thư tình”, người ta còn ví ông như ông mai bà mối, “có thể là hai hay ba đám cưới gì đó”, ông từng nói vậy, giọng nhẹ tênh như kể chuyện thiên hạ chứ không phải chuyện mình làm nên. Suốt mấy chục năm, ông nghe biết bao câu chuyện, buồn có, vui có, cả những chuyện tìm con thất lạc, tìm lại người thân sau chiến tranh.

Ông không thích email, không thích điện thoại. “Từ ngữ từ máy móc không có linh hồn”, ông nói vậy, và tôi nghĩ, có lẽ chính vì tin vào cái linh hồn ấy mà nét chữ tay của cụ, dù mộc mạc, vẫn chở được biết bao tâm sự của người đời đi xa đến vậy. Ông tự đặt cho mình những nguyên tắc chẳng ai bắt buộc. Chính xác, chuẩn mực, không thêm không bớt, không viết thư than nghèo kể khổ để trục lợi, không nhận công nhiều hơn mình bỏ ra. Mỗi lá thư chỉ lấy mười, mười lăm ngàn đồng, tùy lòng hảo tâm người ta. Ông nói, nghề này tiếng Anh gọi là “public writer”, người viết thư cho công chúng, cái tên dịch sát nghĩa nhất mà ông từng nghe.

Người bạn nghề của ông, ông Huỳnh Liếng, đã mất trước đó không lâu, và ông, khi ấy đã ngoài chín mươi, trở thành người viết thư thuê cuối cùng của cả Sài Gòn. Mong ước duy nhất của ông, giản dị đến nao lòng, mong thế giới này có thêm nhiều người như ông, như ông Liếng. Những người chịu ngồi xuống, chậm rãi, lắng nghe và viết hộ người khác những điều họ không tự nói ra được.

Rồi ông cũng đã về với đất, hưởng thọ chín mươi tư tuổi, ra đi nhẹ nhàng thanh thản tại nhà riêng. Ngồi ngẫm lại, tôi thấy tiếc. Tiếc không phải vì bưu điện thiếu đi một cái bàn gỗ mộc, mà tiếc vì thành phố này mất đi một nhân chứng biết lắng nghe, biết giữ im lặng đúng lúc, biết trân trọng từng con chữ như trân trọng một phận người. Trong cái thời mà ai cũng gõ bàn phím, gửi tin nhắn trong tích tắc, lại có một ông già ngồi giữa sảnh bưu điện, cặm cụi viết tay từng dòng. Đó không chỉ là một nghề, mà là một cách sống, một cách giữ cho lòng người khỏi trôi quá nhanh theo thời đại.

CON ĐƯỜNG MANG BA CÁI TÊN

Rời bưu điện, tôi rẽ vào Đồng Khởi, đi về phía bờ sông. Con đường chẳng dài, sáu bảy trăm thước là cùng, mà biết bao nhiêu chuyện để kể.

Đường này có từ trước khi Pháp đặt chân tới Sài Gòn, thời ấy gọi nôm na là đường số 16. Năm 1865, người Pháp đặt lại tên Catinat, theo tên một vị Thống chế Pháp thời vua Louis XIV, cũng là tên chiếc tàu chiến từng tham chiến ở Sài Gòn năm 1859. Đến năm 1954 đổi thành Tự Do, và sau 1975 mang tên Đồng Khởi cho tới bây giờ. Ba cái tên, ba thời kỳ, mà con đường thì vẫn chảy từ Nhà thờ Đức Bà ra tới Bến Bạch Đằng, như một dòng sông nhỏ giữa lòng phố thị.

Đầu thế kỷ 20, đường Catinat đã tấp nập tiệm buôn của người Hoa, người Ấn. Nhà thơ Nguyễn Liên Phong, trong cuốn Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản năm 1909, tả con đường ấy bằng những câu lục bát nhẹ nhàng: 

Nhứt là đường Ca-ti-na, Hai bên lầu các, phố nhà phân minh…” 

Đọc lại những dòng ấy, tôi hình dung ra cảnh phố xá rực rỡ đèn giăng, tiệm may, tiệm sách chen vai nhau, và cái nhịp sống phong lưu của một thời đã xa lắc. Con đường ấy còn đi vào cả văn chương Pháp, qua tiểu thuyết L’Amant của Marguerite Duras, người từng sống nhiều năm nơi đây, để rồi sau này chuyển thành bộ phim cùng tên, được đề cử Oscar năm 1993.

Đường Catinat vào khoảng những năm 1930

Đường Tự Do năm 1968. Author: Pierre Nordique

Dọc con đường, từng khách sạn, quán xá lần lượt hiện ra như những trang sử sống: khách sạn Majestic đầu đường vẫn còn hoạt động tới nay; Continental khánh thành năm 1880, sang trọng bậc nhất thời bấy giờ; Nhà hát Thành phố dựng năm 1900 ngay giao lộ với đường Lê Lợi; khách sạn Caravelle từng là nơi đặt trụ sở của nhiều hãng tin quốc tế. Nhà báo Lucien Bodard từng ví con đường này là “cái cuống rốn của Sài Gòn”, kiểu nói nghe ngồ ngộ mà thấm thía, bởi đây đúng là nơi mọi mạch sống thương mại, văn hóa của thành phố quy tụ về.

Trong số quán xá ấy, có ba cái tên làm nên một “trục văn hóa không tên”: Givral, La Pagode, Brodard. Givral, khai sinh cuối năm 1950 với cái tên La Fontaine, đến 1958 mới đổi thành Givral, tọa lạc ngay tầng trệt Thương xá Eden, đối diện trụ sở Hạ nghị viện cũ, nay là Nhà hát Thành phố. Chính vì cái vị trí đắc địa ấy mà quán trở thành nơi phóng viên, chính khách tụ tập nghe ngóng tin tức nóng hổi, đến mức có biệt danh là “Radio Catinat”.

La Pagode thì lại là chốn của văn nghệ sĩ. Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, cứ tan sở chiều là kéo nhau tới, ngồi thành từng nhóm nhỏ, chuyện trò rôm rả. Còn Brodard, góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, lại đông vui về khuya, nơi tụ họp của dân chơi đêm Sài thành, những “anh hùng hảo hớn” với biệt danh nghe đã thấy giang hồ. Ba quán cà phê ấy, giờ chỉ còn trong ký ức người già, mà cái “trục văn hóa không tên” ấy vẫn cứ sống trong từng trang hồi ký, từng câu chuyện kể lại của những người từng một thời ngồi đó, nhấp ly cà phê, ngó ra đường phố mà bàn chuyện thế sự.

Givral, cùng Thương xá Eden, đã bị dỡ bỏ năm 2010 để nhường chỗ cho một tổ hợp thương mại mới. Quán có mở lại ít lâu ở vị trí cũ, rồi cũng đóng cửa chẳng bao lâu sau đó. Tôi đứng nhìn cái góc phố ấy bây giờ, kính cường lực sáng loáng, người qua lại tấp nập, mà không khỏi chạnh lòng. Nơi từng vang lên bao câu chuyện thời cuộc, giờ chỉ còn là một góc thương mại vô danh giữa muôn ngàn góc phố khác của Sài Gòn hiện đại.

Đi hết con đường ấy, ngoái lại nhìn tháp chuông nhà thờ, mái ngói đỏ bưu điện, tôi chợt nghĩ, Sài Gòn hay ở chỗ, nó không giữ ký ức bằng cách đóng khung, bảo tàng hóa, mà giữ bằng cách để những câu chuyện cũ cứ lặng lẽ sống chung với nhịp sống mới. Một ông già viết thư mướn ngồi cạnh dòng người bấm điện thoại, một góc phố xưa nằm lọt thỏm giữa cao ốc kính. Cái cách sống chung ấy, mới là thứ làm nên hồn cốt của một thành phố đã đi qua bao lớp bể dâu mà vẫn chưa từng đánh mất mình.

*****
ĐỒNG KHỞI – NƠI THỜI GIAN CÒN Ở LẠI
CONTINENTAL – KHÁCH SẠN GIỮ HỒN PHỐ CỔ

Những lần đi ngang đường Đồng Khởi, tôi cứ ngỡ chỉ cần chậm bước một chút là sẽ nghe được tiếng thì thầm của quá khứ vọng về từ những hàng cây, những mái nhà và từng viên gạch cũ. Giữa đoạn phố lúc nào cũng đông đúc, nhộn nhịp ấy, nổi bật lên một tòa nhà màu trắng mang vẻ đẹp trầm mặc mà sang trọng. Đó là khách sạn Continental, công trình được xem như điểm khởi đầu của ngành du lịch hiện đại ở Sài Gòn.

Đường Tự Do và Khách sạn Continental trước năm 1975. Nguồn: internet.
Khách sạn Continental, chụp năm 2008. Author: Franklin Heijnen

Năm 1878, khi chính quyền Pháp vừa đặt nền cai trị trên vùng đất này chưa lâu, Pierre Cazeaux, một thương nhân chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng và đồ gia dụng, đã nảy ra ý định xây dựng một khách sạn thật đàng hoàng để đón những người đồng hương từ chính quốc sang Đông Dương. Sau hai năm miệt mài thi công, đến năm 1880, Continental chính thức mở cửa, trở thành khách sạn sang trọng đầu tiên của Sài Gòn. Cũng từ giai đoạn ấy, hàng loạt công trình mang dấu ấn kiến trúc Pháp lần lượt xuất hiện như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm rồi Tòa Đô chánh, góp phần định hình khu trung tâm hành chính, văn hóa của thành phố.

Ít ai biết rằng con đường Continental tọa lạc ban đầu chỉ mang cái tên rất khô khan là Đường số 6. Đến năm 1865, con đường được đổi tên thành Catinat, nơi tập trung đông người Pháp sinh sống và buôn bán nhất Sài Gòn thời bấy giờ. Chính trên con đường ấy, năm 1911, Công tước De Montpensier đã dừng chân trong chuyến hành trình từ Sài Gòn sang Angkor. Ông cũng là người đầu tiên đưa ô tô vào Việt Nam, trong khi đường sá lúc đó còn quá sơ sài để phương tiện này có thể vận hành thuận lợi. Chuyến đi nhiều gian nan, vậy mà Continental lại khiến ông yêu thích đến mức quyết định mua lại khách sạn. Sau đó, trong một lần ghé Bình Thuận, ông tiếp tục mua một quả đồi hướng ra biển Phan Thiết để xây biệt thự, nơi người dân quen gọi bằng cái tên Lầu Ông Hoàng.

Đến năm 1930, De Montpensier chuyển nhượng Continental cho Mathieu Francini. Nghe tin ấy, có người bạn đã đùa rằng: “Mathieu, anh vừa mua được cả lịch sử của Sài Gòn.” Càng ngẫm, tôi càng thấy câu nói ấy không hề quá lời. Theo chính tư liệu của khách sạn, Francini vốn là một nhân vật có gốc gác Corse và từng nổi danh trong giới giang hồ, nhưng lại nên duyên với bà Lê Thị Trọng, con gái Đốc phủ Lê Văn Mầu ở Mỹ Tho. Cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông phương Tây và một người phụ nữ Việt Nam đã sinh ra Philippe Francini, người tiếp tục quản lý Continental trong suốt giai đoạn chiến tranh từ năm 1965 đến năm 1975.

Trải qua hơn một thế kỷ rưỡi, Continental vẫn giữ nguyên dáng vóc khiêm nhường của nó chỉ một trệt ba lầu, nhưng mái ngói, tường gạch dày, cột trụ phù điêu đều đậm chất Pháp cổ điển. Người ta sơn nó màu trắng, để chống chọi cái nắng nhiệt đới gay gắt, và để tôn lên vẻ sang trọng thanh nhã, bớt đi cái nặng nề của một khối kiến trúc đồ sộ. Các kiến trúc sư thuở ấy cũng khéo léo lắm. Họ tận dụng ánh sáng và gió trời để phòng ốc luôn thoáng mát, trần cao đến bốn mét, tường dày chống nóng, nhưng vẫn chừa riêng những căn phòng khuất nắng cho ai không muốn bị mặt trời đánh thức. Ở giữa khuôn viên hình chữ nhật là một khu vườn, nơi ba cây hoa sứ trồng từ năm 1880 đến nay vẫn xanh tốt, như ba chứng nhân lặng lẽ của bao cuộc đổi thay.

Những căn phòng nơi đây từng đón biết bao tên tuổi lớn như thi hào Ấn Độ Tagore, người đoạt Nobel Văn chương 1913; văn hào Pháp André Malraux; nhà văn Anh Graham Greene, người đã sống và viết nên “Người Mỹ trầm lặng” ngay tại đây vào năm 1951, giữa những chuyến đi về Sài Gòn – Bến Tre. Chính Marc Phillip Yablonka, một phóng viên chiến trường Mỹ từng nhiều năm bám trụ Sài Gòn, đã thốt lên một câu mà tôi cho là hay nhất về nơi này: “Nếu những bức tường của khách sạn Continental biết nói, chúng sẽ kể cho bạn rất nhiều điều.” Quả vậy, bức tường nào có biết nói, nhưng người đời sau vẫn cứ ngồi đó, dưới bóng cây sứ già, mà tưởng tượng ra bao nhiêu câu chuyện đã từng thì thầm qua đây.

Vào thập niên 1960-1970, chính quyền Sài Gòn buộc các cơ sở thương mại phải treo bảng hiệu tiếng Việt, thế là Continental mang một cái tên nghe lạ tai, “Đại Lục Lữ Quán”. Đến 1986 thì giao về cho Saigontourist quản lý, và năm 2012 được công nhận di tích cấp thành phố. Continental cũng góp mặt trong hai bộ phim từng đoạt giải quốc tế: “Đông Dương” của Régis Wargnier năm 1992, và “Người Mỹ trầm lặng” bản 2002 của Phillip Noyce, như một minh chứng rằng vẻ đẹp cổ kính của nó chưa bao giờ phai nhạt qua ống kính điện ảnh.

Ngày nay, khách sạn cung cấp sáu loại phòng, từ Superior yên tĩnh, Deluxe nhìn vườn hay nhìn phố, đến Opera Wing nhìn thẳng ra Nhà hát Thành phố, và dòng Heritage đặc biệt dành cho ai muốn sống trọn một đêm giữa quá khứ. Tầng trệt có nhà hàng Le Bourgeois, phục vụ từ sáng sớm đến khuya với đủ món Á Âu như phở đại lục, hủ tíu cá, bò kiểu Âu. Lại có sảnh vườn Continental Patio hơn 500 mét vuông, nơi ba cây sứ trăm tuổi vẫn đứng chứng giám cho bao đám cưới được tổ chức dưới bóng chúng. Khách sạn có hai phòng tiệc VIP, một phòng mang phong cách “Đế vương” sang trọng, gỗ mạ vàng, sứ trắng, nến lung linh; một phòng nhỏ hơn, ấm cúng cho những cuộc gặp riêng tư.

Ngồi mà nghĩ lại, tôi thấy Continental không chỉ là một khách sạn. Nó là cái cách mà lịch sử chọn để tồn tại, lặng lẽ đứng đó, để cho những ai đi ngang qua Đồng Khởi hối hả hôm nay, chợt dừng chân một giây, và cảm nhận được rằng thời gian, đôi khi, cũng biết giữ lời hứa với những viên gạch cũ.

GRAND VÀ MAJESTIC – HAI NGƯỜI BẠN CÙNG MỘT CON ĐƯỜNG

Nói đến khách sạn lâu đời của Sài Gòn, người ta thường nhắc tới ba cái tên, và Continental chỉ là một trong số đó. Cách nó không xa, tại số 8 Đồng Khởi, khách sạn Grand ra đời năm 1930. Ban đầu chỉ là một cửa hàng giải khát bé nhỏ, cho đến khi Henry Édouard Charigny de Lachevrotière, tổng biên tập một tờ báo Pháp, xin được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Bảy năm sau, nó đổi tên thành Saigon Palace; đến 1958 lại khoác thêm cái tên Việt, Sài Gòn Lữ Quán. Rồi năm 1978, một Saigon Palace khác mọc lên ở số 16 Ngô Đức Kế, để rồi năm 1989 cả hai hợp nhất thành khách sạn Đồng Khởi. Sau bao lần đổi tên, đổi chủ, đến 1998 nó mới thật sự “lột xác”, trở thành một trong những khách sạn năm sao có tiếng của thành phố. Vòng đời ấy, ngẫm ra, cũng lận đận chẳng kém gì một kiếp người, sinh ra khiêm nhường, trải qua bao lần thay tên đổi họ, rồi mới tìm được chỗ đứng xứng đáng.

Còn Majestic thì khác, nó mang trong mình một niềm tự hào riêng. Đây là khách sạn năm sao đầu tiên do chính người Việt bỏ vốn đầu tư, tự tay quản lý và điều hành. Người dựng nên nó là Hui Bon Hoa, người dân quen gọi thân mật là Chú Hỏa, một thương gia Việt gốc Hoa từng giàu có bậc nhất đất Sài Gòn – Gia Định thuở ấy. Tên tuổi ông gắn liền với biết bao công trình đồ sộ khác: Bảo tàng Mỹ thuật, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, chợ Bình Tây, chùa Phụng Sơn… Sự giàu có của ông, người đời kể lại, còn phủ thêm một lớp huyền thoại bí ẩn, thực hư khó tường.

Khách sạn Majestic giữa thế kỷ XIX.
Khách sạn Majestic ngày nay. Photo: Vietnam Finance

Năm 1925, ngay góc đường Catinat và Quai de Belgique, nay là Đồng Khởi giao Tôn Đức Thắng Chú Hỏa cho dựng lên Majestic, ba tầng lầu, bốn mươi bốn phòng ngủ, theo lối kiến trúc hiện đại Pháp do một kiến trúc sư Pháp vẽ kiểu. Năm 1948, khách sạn được giao cho Sở Du lịch và Triển lãm Đông Dương, dưới sự điều hành của ông Francini Mathieu. Vâng, chính là ông chủ Continental năm nào, một sự trùng hợp khiến tôi không khỏi bật cười khi nghĩ đến cái mạng lưới quan hệ chằng chịt của giới thượng lưu Sài Gòn thuở trước.

Đến năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho xây thêm hai tầng, một phòng họp quốc tế, một nhà hàng theo bản vẽ của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, và đổi tên thành Khách sạn Hoàn Mỹ. Nhưng số phận không chiều lòng người. Năm 1975, Majestic trúng pháo, hư hại nặng nề, rồi được đổi tên thành Cửu Long, dù cái tên giao dịch Majestic vẫn được giữ lại trong lòng người Sài Gòn như một thói quen khó bỏ. Năm 1994, khách sạn được sửa chữa lại theo lối kiến trúc châu Âu thời Phục Hưng; đến 1997 đạt chuẩn bốn sao, và 2007 vươn lên năm sao, ông Tào Văn Nghệ là Tổng giám đốc thời ấy. Năm 2011, Saigontourist còn công bố một dự án mở rộng trị giá gần hai tỷ đô, dự tính xây thêm hai tòa tháp hai mươi mấy tầng, nâng tổng số phòng lên hơn năm trăm.

Ngót một thế kỷ tồn tại, Majestic đã đón biết bao bậc vương giả và danh nhân: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, Thái tử Đan Mạch, công chúa Thái Lan, minh tinh Catherine Deneuve, giáo sư Trần Văn Khê… Một danh sách dài đến mức tôi tự hỏi, có bao nhiêu câu chuyện đời đã từng lặng lẽ diễn ra sau những cánh cửa phòng nơi đây, mà chẳng ai từng kể lại.

Ba khách sạn, ba số phận, nhưng cùng nằm trên một con đường, cùng chia sẻ một dòng lịch sử. Tôi cứ hình dung, nếu Continental, Grand và Majestic có thể trò chuyện với nhau vào những đêm khuya vắng khách, chắc chúng sẽ kể cho nhau nghe biết bao chuyện đời chồng chéo, biết bao ông chủ đã đến rồi đi, biết bao cuộc chiến đã qua trên chính con phố mà chúng đứng.

NHÀ HÁT THÀNH PHỐ – NỐT NHẠC GIỮA LÒNG PHỐ CỔ

Đi hết dãy khách sạn trên con đường Tự Do xưa, tôi muốn dừng chân trước một công trình khác cũng mang trong mình cả trăm năm ký ức, Nhà hát Thành phố, hay còn gọi Nhà hát Sài Gòn, tọa lạc ngay Công trường Lam Sơn, mặt tiền nhìn thẳng ra Đồng Khởi.

Câu chuyện của nó bắt đầu từ rất sớm, ngay sau khi Pháp chiếm được Nam Kỳ năm 1863, khi chính quyền Pháp mời một đoàn hát từ mẫu quốc sang để giải khuây cho đám lính viễn chinh. Ban đầu chỉ diễn tạm trong nhà gỗ của dinh Thủy sư đề đốc, rồi dời sang một nhà hát tạm ở ngay vị trí khách sạn Caravelle bây giờ. Mãi đến năm 1898, công trình chính thức mới được khởi công, và ngày đầu năm 1900 thì khánh thành, do ba kiến trúc sư người Pháp Félix Olivier, Eugène Ferret và Ernest Guichard thiết kế, theo phong cách “flamboyant” thịnh hành thời Đệ Tam Cộng hòa Pháp, lấy cảm hứng từ hai công trình lừng danh: Cung điện Garnier và Petit Palais.

Tôi đặc biệt thích cái cách người ta miêu tả sự tinh xảo của nó. Từng mảng phù điêu, từng bức tượng nổi ở mặt tiền lẫn nội thất đều được một họa sĩ danh tiếng bên Pháp vẽ mẫu, rồi gửi vượt biển sang tận đây. Nghĩ mà thấy lạ, giữa cái nắng nhiệt đới gay gắt của Sài Gòn, lại mọc lên một công trình mang trọn vẹn hồn cốt của trời Âu, tỉ mỉ đến từng đường nét đá granite, từng ngọn đèn chùm pha lê.

 
Nhà hát vào thời Pháp thuộc. Author: Haut commissariat de France pour l’Indochine.

Nhà hát vào năm 1967, lúc bấy giờ là tòa nhà Quốc hội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Author: Pierre Nordique

Nhưng không phải ai cũng ưng cái sự cầu kỳ ấy. Người ta chê mặt tiền nhà hát rườm rà quá đỗi, nên đến năm 1943, để “trẻ hóa” phong cách, một số phù điêu, tượng nữ thần nghệ thuật cùng các dây hoa trang trí đã bị gỡ bỏ. Rồi một năm sau, tai họa lớn hơn ập đến. Máy bay Đồng Minh oanh tạc, nhà hát hư hại nặng, phải đóng cửa. Năm 1954, nơi đây tạm làm chỗ trú cho dân Pháp di cư từ miền Bắc vào theo Hiệp định Genève; năm 1955 được tu sửa nhưng lại khoác lên mình một chức năng hoàn toàn khác. Trụ sở Hạ nghị viện của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Một nhà hát, bỗng chốc thành nơi tranh luận chính trị, kể cũng là một khúc quanh trớ trêu của lịch sử.

Năm 1967, trước sân nhà hát người ta còn dựng một tượng đài Thủy quân lục chiến cao chín mét, trong tư thế xung phong hướng thẳng vào tòa nhà. Dư luận thời ấy xì xào cho rằng đó là điềm gở, quân đội mà lại chĩa súng vào chính Quốc hội của mình. Sau 1975, tượng đài bị giật đổ, khu vườn trở lại vẻ bình yên vốn có, dù bệ tượng cũ vẫn còn trơ trọi mãi đến tháng 12 năm 1997, khi thành phố quyết định dựng lên đài phun nước cùng bức tượng đá hoa cương đỏ mang tên “Tình mẫu tử”, hình ảnh người mẹ ôm con, được tác giả Nguyễn Quốc Thắng mô tả là “bố cục theo hình khối tròn… người mẹ bao giờ cũng che chở cho con”. Dù sau này có tranh cãi về bản quyền với một tác phẩm cùng tên bên Trung Quốc, bức tượng ấy đến nay vẫn đứng đó, lặng lẽ như một lời nhắc về tình thân giữa bao đổi thay thời cuộc.

Sau năm 1975, nhà hát mới được trả lại đúng chức năng nguyên thủy, nơi trình diễn nghệ thuật. Năm 1998, một đợt trùng tu lớn được tiến hành với phương châm giữ nguyên phong cách kiến trúc ban đầu. Phục chế lại cả những phù điêu, tượng đã mất từ 1943. Đến tháng 11 năm 2007, một dự án tân trang khác lại được thực hiện, từ việc lợp lại mái ngói đúng khuôn mẫu năm 1900, thay ghế đệm êm ái hơn (dù số chỗ ngồi giảm từ 559 xuống còn 500), cho đến trùng tu từng bức tượng, từng đường điêu khắc trên tường. Dự án hoàn tất cuối năm 2009, và thành phố Lyon bên Pháp còn tài trợ 160.000 euro để lắp đặt hệ thống chiếu sáng nghệ thuật về đêm để nhà hát, khi lên đèn, lại khoác lên mình vẻ lộng lẫy như thuở ban đầu.

Ngày nay, với tổng diện tích 3.200 mét vuông và sức chứa 1.800 chỗ, Nhà hát Thành phố là nơi diễn ra không biết bao nhiêu chương trình đặc sắc: À Ố Show đưa khán giả về lại những miền quê miền Nam mộc mạc qua ngôn ngữ xiếc tre và múa đương đại; The Mist tái hiện đời sống người nông dân gắn bó với cây lúa từ sớm mai đến chiều tà; Teh Dar Show mở ra thế giới huyền bí của người K’ho vùng cao nguyên; rồi những đêm Opera Gala vang lên giai điệu bất hủ của Mozart, Bach, Beethoven.

Nhà hát thành phố hiện nay. Photo: Báo Người Lao Động

Mỗi lần đứng trước Nhà hát Thành phố vào buổi tối, khi ánh đèn đã phủ lên mặt tiền cổ kính một màu vàng ấm, tôi thường để lòng mình trôi theo những nghĩ suy rất đỗi vu vơ. Một công trình văn hóa nghệ thuật đi qua năm tháng, lại trở thành nơi bàn chuyện chính sự, ở ngay giữa lằn ranh của những họng súng chĩa vào nhau, vậy mà cuối cùng vẫn trở về đúng với sứ mệnh đầu tiên của mình. Thời gian có thể làm cũ đi một công trình, có thể phủ lên nó biết bao dấu vết của lịch sử, nhưng cũng chính thời gian đủ sức trả mọi thứ về đúng giá trị vốn có. Dẫu số phận từng nhiều lần rẽ sang những ngả đường khác, nơi này vẫn tìm được lối trở về với chính mình.

Rồi tôi chợt nhận ra, giữa nhịp sống tất bật của Sài Gòn hôm nay, Continental, Grand, Majestic và Nhà hát Thành phố vẫn lặng lẽ đứng đó như những chứng nhân của thời gian. Chúng không cất lời, nhưng trong từng bức tường, từng ô cửa, từng khoảng hiên cũ dường như vẫn cất giữ biết bao câu chuyện của một thành phố đã đi qua bao lần đổi thay.

Nguyễn Đông A

Blog Archive