Showing posts with label Nguyễn Ngọc Tư. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Ngọc Tư. Show all posts

Monday, February 16, 2026

Vườn Cũ

Hồi mới quen nhau, cô gái kể về ông ngoại, nhà ngoại mình bằng cách nhại lại một mẩu chuyện vui trên báo, theo kiểu rao vặt “Nam, bảy mươi tuổi có một nhà lá, cột cặm. Và khu vườn nhiều cây, vài cây sung, vài cây khế, đằng trước có hàng rau, chuối nhiều không đếm được, hai cây vú sữa bên hè, rau muống, rau lang bò nhóc đất. Cần rau trai, cải trời cũng có, lục bình, kèo nèo xanh rờn... Dừa dài theo bờ, theo liếp, chanh de mấy cài góc ao... Không mua, không bán. Chỉ khoe vậy thôi. Cần tìm bạn. Ưu tiên người ít nói, không nói càng tốt”.

Bởi người chủ vườn, ông ngoại cô có biệt danh là Hết Nói, một người khá lặng lẽ, khách đến, ông chỉ cười “Mới tới? Vẹt một chỗ ngồi chơi”. Nghe được mấy tiếng đó, quay đi quay lại, ông già bỏ ra vườn mất biệt. Lần đầu cô đưa anh về, anh không biết mình đã làm gì phật ý ông già, trong bụng buồn buồn, dằn dỗi.

Lúc đấy thì anh chưa biết tính ông, chưa va chạm nhiều, lòng chưa thương tích, chưa nát nhàu bởi người đời xiên vào những lời đau. Lúc đấy cô chưa ra Hà Nội học, chưa gởi lại cho anh ông già với khu vườn “Anh nhớ tơi lui bầu bạn với ngoại, hãy vì em...” Cái chữ “vì em” làm anh ngất ngư, nên tuần nào cũng chạy xe về ngoại ô. Để ngồi uống trà với ông già, ngó hoa cau rụng, lòng nhẹ bâng, lâng lâng, không biết vì ngồi với một người gần như đã từ bỏ khả năng giao tiếp bằng âm thanh, hay vì khu vườn đầy nắng.

Khu vườn cũng lạ lùng như ông già Hết Nói. Vườn không rộng, gây ấn tượng cũ kỹ vì những tàng cây lớn thâm u; vì toàn những loại cây trái vớ vẩn, hơi hoang dại, do chim chóc mang tới, chẳng sinh lợi; vì cây cối mọc lung tung, không ngay hàng thẳng lối. Chỗ này, cây rúc vào nách cây, cây chen cây, chỗ khác lại trống một khoảng, ông già xới đất tỉa ớt, cà. Đám cây này cũng lộn xộn. Anh thắc mắc, ông già lừ đừ, “Đừng bắt cây cỏ cũng xếp hàng”. Ông già hơi cổ quái, nên vườn cũng ảnh hưởng, cây cỏ mọc xênh xang, như thể chim ỉa hạt ở đâu, cây nẩy mần lên ngay chỗ đấy, ông già chẳng dời đi. Người quen nề nếp, quen khuôn phép thấy lạ. Ngoài cỏ dại bị chặt từ lúc mon men bờ, hết thảy tự nhiên được sống đời tự nhiên. Những trưa nồng, không thấy chim sâu chim sẻ nhưng tàn cây vọng xuống véo va véo vắt, như thể chính những lá cây kia hót. Mấy con ong nghệ o e mon men trên đám bông muồng. Sập tối, vài con cú mèo đậu trên cây vú sữa già kêu từng hồi, anh hỏi ông già không sợ sao, ông cười bảo, sợ gì, cú kêu thì cũng như chim sáo hót, hay cu đất nó gáy thôi.

Vườn quyến rũ chim chóc, ong bướm đã đành, mấy thằng bạn anh cũng mê mẩn, chủ nhật nào cũng men theo để... nhậu. Nhiều lúc, ông già Hết Nói mót từng cái ly mới đủ cho khách. Mồi thì không phải lo, bưng cái rổ thủng thỉnh dạo một vòng vườn là nhậu mệt nghỉ. Cá sẵn dưới ao, gà ác cả bầy đủng đỉnh bươi đống rơm mục. Một bữa ăn cá rô chiên xù, ông già hái vào một rổ lá lạ hoắc, nào là lá đậu rồng, lá cát lồi, lá chùm ruột với nắm cải xanh. Tiệc nữa chừng thì rổ rau hết sạch, thằng bạn chết nhát hay giơ mấy cái lá lên, dò xét “Cha, không biết ăn vô có chết dại không đây?” nhưng vẫn ăn liến láu, khen bùi, khen chát, khen mùi lá non sao mà thơm râu.

Ông già Hết Nói coi bộ vui. Anh có cảm giác ông già luôn lặng lẽ nói cùng đám trẻ, rằng không cần ngôn từ cũng chuyển tải được tình người, rằng trên đời vốn chẳng có rác, cây cỏ cũng vậy, cũng không hoàn toàn vô tích sự. Tệ như cỏ cức heo, cỏ mực mọc bờ ao cũng làm thuốc được. Tự nhiên sinh cây không trái, hay trái thiếu ngon, thí đã có lá, có hoa tặng người. Đất thảo thơm nên người thảo thơm, cây cỏ thảo thơm. Ăn lươn um, tụi nhỏ giật mình, nếu thiếu lá nhàu không biết cái món này lãng đến mức nào. Càng ngày, càng có cảm giác ta được nhiều hơn cả ăn ngon. Có bữa, làm món bì cuốn lá sung, ông già hái mấy cái lá có nhiều đốm trắng, nổi gù lên, một đứa thắc mắc, sao lá mướt rượt mà ngoại chê, lại lựa cái lá thấy ghê? Ông già không trả lời, đưa cuốn lá sung cho nó, ăn xong, nó vỗ đùi “Ngon quá chừng, ngọt, mà giòn”. Bữa nhậu bỗng dậy động vì “triết lý lá sung”, thô ráp, xấu xí mà ngon, bùi, cũng như con người ta, ngoại hình không đẹp, không nói hoa mỹ cũng chẳng hề gỉ, ăn thua là tấm lòng, tất nhiên, triết lý này chẳng thể ứng dụng cho những cuộc thi... hoa hậu.

Suốt mùa hạn, hết bì cuốn lá sung, hết khế chua chuối chát cặp mắm lòng, đến cá lóc nấu cháo nhúng rau đắng đất mọc theo mấy bụi chuối... Và những cô vợ, người yêu của bạn anh lơn tơn đi đào khoai chuối, khoai báng, củ lùn, rồi hớn hở thổi lửa luột nồi khoai đầy vun. Có bữa, cả bọn biến thành con nít, khi xắt những trái gòn non, cộng với mấy cái bắp chuối con con chấm muối giấm. Có đứa rưng rưng, vì nó nhớ thời thơ ấu nghèo hay vì trái ớt dầm cay xé?!

Rồi mưa sập soài, kéo theo lê thê những mây đen, sấm chớp. Con đường đến nhà ông già Hết Nói hơi khó đi, nhưng có hề gì khi khu vườn bắt đầu lên tiếng của sự nảy mầm, tiếng của những chồi xanh. Vì cái màu trắng muốt của đọt lụa hay phớt tím của đọt cóc, đọt xoài mà người phải lăn vô bếp đổ bánh xèo. Tuần kế tiếp, ai đó sáng kiến làm cái Lễ kỷ niệm ngày xưa... nghèo; bẻ những đọt rau muống, rau lang, cải trời, rau dền, nhãn lồng... xanh mởn luộc lên chấm với tương kho.

Lúc đó, vài đứa đã nghiện khu vườn có ông già trầm lặng, vài đứa khoái ngồi trầm ngâm uống trà với ông, nghe ông nói chuyện đời (bằng cái cách riêng của ông). Chuyện nhậu chẳng quan trọng nữa, đôi lúc cả bọn băm bổ chạy xe ra ngoại ô, chỉ để ngồi dưới gốc cây vú sữa, nghe chim hót, nghe dừa rụng xuống ao, nghe tay chuối khô xào xạc, nghe khu vườn nói về triết lý của đất. Lúc ấy đã hết năm, cô gái sắp về. Mọi người đùa là biết đâu cô sẽ dắt về một anh chàng Hà Nội. Biết đâu cô chẳng về nữa. Một năm khiến anh thay đổi nhiều, thì cô ấy, biết đâu... Tôi viết những dòng này như lời nhắn đến người người yêu của anh bạn tôi, nếu chị không về nữa, chắc chắn khu vườn sẽ có đến hai người Hết Nói, họ trồng lung tung những cây cỏ (tưởng như) dại, để chờ đợi, để giữ tròn lời hứa với một câu nói dở, “hãy vì em...” Đấy, có thể tôi thi vị hóa bạn tôi, cũng có thể anh quên mất chuyện đó rồi, anh gắn bó với ông già, khu vườn chỉ vì ông già, khu vườn. Vậy thôi.

(Trích trang 157, 158, 159, 160, 161 trong quyển Tạp Văn “Ngày Mai Của Những Ngày Mai” của tác giả Nguyễn Ngọc Tư do nhà xuất bản Phụ Nữ phát hành năm 2007 tại Việt Nam)








Tuesday, February 3, 2026

Một Dòng Xuôi Mải Miết 


Bữa nhậu gần tàn. Kim đã uống gần hết một lượt để từ giã ra về thì có anh thanh niên hào hển chạy lại hỏi thăm anh Kim nhà văn, còn dò đi hỏi lại có đúng là Kim viết mấy cái truyện về những người chăn vịt mới được đọc trên đài. Kim gật đầu. Anh ta cười cái phào:

- Vậy thì may quá. Tôi tính xong mùa lúa này sẽ lên trển tìm cho được anh. Vợ tôi cứ biểu hoài...

Kim ngờ ngợ, không biết mình có dây dưa chuyện gì với vợ chồng anh chàng này đây. Anh hỏi, “Tôi giúp gì được cho anh?”. Anh chàng nọ ngần ngừ nhìn quanh rồi hỏi “Tôi có thể nói chuyện này cho một mình anh nghe được không?”, Kim dại gì mà không gật đầu, ở lại, dễ gì rụp một cái có thể rời khỏi chiếu nhậu.

Vậy mà cũng xà quần cả buổi, chờ cho anh chàng nọ uống chào sân hết cả thảy chín ly rượu trắng mới đi được. Hai người xuống cái bến bùm xùm những lùm đậu cộ, Kim chờ tàu Khánh Hội lên .

- Anh viết mấy cái truyện chăn vịt hay thiệt, sành sỏi như người trong nghề, nghe bắt mê. Chắc anh đi nhiều chỗ, gặp nhiều người lắm. Tôi đang suốt lúa, nghe có nhà văn Trần Kim về Rạch Giồng để viết về vụ hè thu, tôi bỏ dãi chạy ra đây. Không biết anh nhà văn có biết người nuôi vịt chạy đồng nào tên Sáng, trạc ba sáu, ba bảy tuổi không? Dà, vợ tôi nó trông gặp anh Sáng này tới mỏi con mắt nhưng trời đất mênh mông, tôi hỏi cùng khắp rồi, mà chưa thấy tăm hơi đâu hết. Chuyện của ba người chúng tôi cũng dài lắm anh à, anh biết, hai người với nhau thì dễ, thêm người thứ ba rắc rối lắm.

Tôi không biết quê Sáng ở đâu, mấy lần nghe loáng thoáng ở An Bình, Phước Long gì đó. Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng này. Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm Lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi.

Tôi thường trông Sáng mỗi khi mùa lúa mới về. Hai mươi hai tuổi, ông già tôi đã giao cho cái máy suốt Bình Thủy, hễ lúa chín là tôi tha thủi một mình ngủ giữ máy giữa đồng khơi. Anh nhà văn không biết chớ, ngủ trên đồng buồn thê thiết lắm. Gió thì hiu hút, gió thổi rơm rạ tả tơi, trời sao vằng vặc, đất mênh mông. Đang thèm hơi người nên gặp được ai là thương, là quý ngay người ấy. Vì vậy mà tôi quý Sáng. Những lần cho vịt đi ăn xa, chạng vạng không về kịp, Sáng cũng hay cầm vịt giữa đồng, hai đứa tôi ôm rơm tụm lại nhóm lửa, đánh bài tiến lên, uống ít ly cho ấm người. Xong rồi ca khơi khơi vài câu vọng cổ. Tôi hay hỏi Sáng chuyện đồng bãi mùa màng này nọ, về những nơi mà anh đã đi qua. Sáng lớn hơn tôi chừng năm tuổi nhưng anh già dặn, chững chạc trầm lặng hơn tôi, hơn cả tuổi của anh nhiều. Ban ngày, anh hay lội lại, khi thì xoắn tay xách lúa tiếp, lúc cho máy ăn để chúng tôi lua vội bữa trưa, có khi giúp vác cái thùng suốt lội ròng rã mươi công đất gò. Tôi ngại lắm, nhưng Sáng chỉ cười, “Một mình cũng buồn, tôi phải kiếm một việc gì đó để làm để khỏi phải mơ biến thành vịt”.

Ai sống một mình cũng buồn hết, anh nhà văn à. Nhưng Sáng ngon hơn tôi nhiều, anh kể đã nuôi vịt chạy đồng bảy năm. Tính ra thì cỡ mười lăm, mười sáu tuổi anh đã dầu dãi giang hồ. Tôi ngẩn ngơ, “Sao ông hay vậy? Sống một mình? Tôi mà lúc cúc một mình trên đồng khơi thể nào cũng điên”. Sáng cười, nhiều người ở cạnh tôi lắm chớ. Ai đâu. Không có ở đây, nhưng tôi luôn nghĩ về họ. Tôi hỏi Sáng nghĩ tới ai. Sáng chỉ cười. Anh để ý coi, những người ít nói thì hay cười, không phải vì vui mà vì để khỏi trả lời. Rồi tự nhiên Sáng hỏi ngược lại rằng tôi đang nghĩ tới ai.

Tôi nói tôi nghĩ tới Xuyến, tên của vợ tôi bây giờ. Cùng xóm mà, thương lúc nào cũng không nhớ, có thể hồi mười bảy hay hai mươi hay chừng tám chín tuổi gì đó… Tôi nói thiệt, hồi thương cổ, tôi lội tới lội lui thiếu điều sạt bờ dừa nhà ông già vợ. Tới lúc chiêm bao cũng thấy Xuyến là đậm lắm rồi. Mà chiêm bao ngộ lắm, lặp đi lặp lại hoài cũng cái cảnh tôi nắm tay em Xuyến xuống bến, nhưng không có chiếc xuồng nào, chờ một hồi thấy có người bơi lại, không thấy rõ mặt (thường thì chiêm bao ít thấy rõ mặt người), chỉ thấy cái lưng hơi khom, vai bè bè… giống như Sáng vậy, tới đó rồi thôi, giấc mơ đứt đoạn. Tôi kể cho Sáng nghe, hơi hồ nghi “Sao trong câu chuyện của tôi và Xuyến lại có ông vậy ta?”. Sáng chỉ cười, cái cười làm tôi quên mau, chuyện chiêm bao mà.

Sáng cũng biết Xuyến, chỗ anh cầm vịt ngang với hậu vườn nhà Xuyến. Sáng hay qua nhà uống trà, nói chuyện mùa màng chơi với ông già vợ tôi. Có bữa anh nằm tâm sự, “Cứ mỗi lần cặp ghe vịt vô bến thấy thím Hai khum cái tay che nắng hỏi ai in thằng Sáng, thấy cô Xuyến chạy ra cửa nhoẻn cười thấy lòng vui như được trở về nhà”. Cũng nghe nhiều người thắc mắc, thằng Sáng chắc có gì với con Xuyến, chớ không sao năm nào cũng cầm vịt ngay trân chỗ đó, năm nào cũng mua cho Xuyến khi thì khúc vải, lúc là cây dù… nhưng tôi ỷ y, cũng biết bao nhiêu người lui tới nhà Xuyến rồi, thấy tôi mài miết còn chịu hổng nổi dạt ra. Sáng thì một năm ở đây chừng ba mươi bữa, tôi đâu có ngán. Với lại tôi tin Sáng lắm, chính anh biểu tôi chỗ đó được, bước tới đi. Tôi bước tới.

Bữa nay, anh nhà văn về gấp quá, nếu không thì lại nhà tôi chơi, cho biết mặt vợ tôi. Cổ đẹp, giỏi mà hiền lắm. Hiền nhưng làm toàn chuyện động trời. Tôi bị một lần, bây giờ đang ngủ nhiều lúc còn bàng hoàng thức dậy, ngồi coi có đúng người nằm cạnh mình là Xuyến không.

Có lần, Xuyến băng đồng tìm tôi, cổ khóc, đã lỡ thương người khác rồi, nên không thể làm đám cưới, không thể lấy tôi làm chồng. Không có đám cưới nào vào rằm tháng Chạp này.

Anh nhà văn không biết cảnh này đâu. Tôi ngồi chết lặng. Cay đắng, bỡ ngỡ, đau đớn, bàng hoàng không sao tả được. Có gì bằng vợ sắp cưới của mình lại hồi hôn. Tôi cứ ngồi lặng, đầu thì tăm tăm cái câu hỏi, “Vậy là sao?”

Đâu biết. Tôi hỏi Xuyến vậy chớ em đã thương ai. Xuyến trả lời, “Anh Sáng”. Tôi thuận miệng hỏi bừa “Sáng nào?”, Xuyến nhìn tôi, “Anh biết mà…”.

Sao lại là Sáng?

Sao lại là cái người mà mới hôm qua thôi tôi còn rủ anh ở lại dự đám cưới, còn nhờ anh làm chú rễ phụ cho bữa đó tôi đỡ run. Sao anh lại nhận lời, rồi bây giờ…?

Dưng không tôi mất đi hai con người mà mình thương yêu nhất, đau lòng vậy mà Xuyến còn thút thít, “Anh đừng giận anh Sáng mà hại ảnh, tại em hết, chớ ảnh có nói gì đâu”. Dường như Xuyến đọc được trong mắt tôi những tia hằn học. Nhưng mà tôi đâu có tử tế, cao thượng dữ vậy, tôi không giận Xuyến, thương quá, không thể giận, nhưng Sáng thì khác…

Mà, anh nhà văn nè, theo anh thì con vịt nó có sinh mạng không? Bà nội tôi nói cỏ cây cũng có sinh mạng vậy là đúng? Anh biết không, có lần vì nóng giận mà tôi hủy đi cả thảy một ngàn hai trăm mười bảy sinh mạng. Anh nhà văn sửng sốt hả, ghê quá phải hôn. Tôi lúc đó cũng vậy, cũng cảm giác như mình đang gây tội ác.

Tôi nhớ hoài cái cảnh mình đứng trong một buổi sáng đầy sương. Xung quanh tôi vịt nằm chết sắp lớp, không khí nồng nặc mùi thuốc trừ sâu. Tôi giở một con vịt lên, dưới đôi cánh nó là một quả trứng vỡ be bét, chắc nó đã từng giãy giụa, đau đớn lắm mới đập nát cả trứng của mình. Sáng đứng tần ngần trong quây lưới, hơi ngơ ngác, như trong lòng bị đổ vỡ cái gì đó quý giá lắm.

Nhưng không phải vì ngủ một đêm thức dậy đã trắng tay, cái cảnh người làm nghề nuôi vịt chạy đồng không lạ. Dường như Sáng xúc động, đau đớn vì những lời tôi nói, cái cây bị đốn thường không ngã về phía có ngàm búa, chắc Sáng cũng không ngờ rằng người bỏ thuốc vô mẻ lúa của bầy vịt là tôi, và vì Xuyến mà tôi làm việc đó.

- Nếu chuyện Xuyến thương tôi là thật, Sáng bảo, thì đó là chuyện buồn nhất đời tôi. Tôi không chờ đợi điều đó.

Tôi không tin. Có lẽ Sáng cũng biết tôi không tin, anh hỏi tôi có muốn nghe chuyện nhà anh không? Tôi bảo không, anh nhà văn biết, hoàn cảnh đó mà ngồi nghe chuyện gì nữa, nhưng Sáng cứ kể.

Sáng mồ côi cha từ mười tuổi, má anh cũng mất đã ba năm. Đó là người đàn bà sống hết đời không được mấy ngày vui, mấy ngày nhàn nhã. Cái xóm Rạch Giồng bé nhỏ này cũng đã giữ lại niềm vui nửa đời còn lại của má anh.

Sáng còn một người em gái (hồi trước anh hay đùa là sẽ gã em cho tôi). Nhưng hai anh em không ở chung nhà, cả một quãng dài không gặp, anh quên cả khuôn mặt của nó. Hôm cúng giáp năm má anh, bày dĩa vịt luộc phay với nải chuối chín lên bàn, lòng Sáng bất chợt cồn cào. Sáng quyết định về Rạch Giồng. Vì nhớ má và vì muốn gặp em.

Hôm gặp, em gái anh đi hái ổi cho một bầy em trai, em gái nhỏ. Nó giống má anh như tạc, giống từ vóc dáng đến cốt cách. Nhìn nó đứng chia ổi cho đám em mà thấy dịu dàng, nồng hậu biết bao.

Nhưng anh chỉ đứng xa xa nhìn. Như hồi còn mạnh giỏi, má Sáng hay xuôi ghe lại trước nhà, lén nhìn. Sáng hỏi sao không chạy lại nói cho nó biết. Má anh biểu, hồi xưa, má hứa là sẽ không trở lại. Sáng nói cần gì phải giữ lời. Má anh nghiêm mặt, “phải giữ chớ, làm người ai lại phản trắc”. Rồi má anh bảo, má nhớ em con thì buồn chút vậy, nhưng còn có thể nhìn nó lớn lên, còn không nhờ người ta, con nhỏ đâu còn.

Đó là đứa em mà Sáng mắc một món nợ lớn. Cái hồi nghèo không đồng xu cạo gió, không cục đất chọi chim, ba anh lại trốn quân dịch nên cả nhà Sáng bồng bế nhau xuống ghe trôi nổi làm mướn khắp nơi. Sáng còn bồng nèo nẹo bên nách thì má anh sinh em bé. Hoàn cảnh khó khăn, Sáng hồi đó ốm đói quặt quẹo, hay đau, mũi lúc nào cũng chảy nước chèm nhẹp. Em nhỏ lại bị sài đẹn, khóc ngằn khóc ngặt, không bú được. Không thể cứu một lúc cả hai, má anh buộc phải cho người ta đứa em gái nhỏ.

Nghe Sáng kể lờ mờ tôi nhận ra một sự thật. Là Xuyến. Không thể tin được, bàng hoàng quá phải không anh nhà văn. Giống như cải lương, ừ tuồng gì mà Vũ Linh đau khổ tới lăn ra đất vừa giãy vừa khóc đó, Hòn Vọng Phu, ờ, hơi giống Hòn Vọng Phu.

Vợ tôi hồi đó cũng khờ quá. Thương thầm Sáng mà không chịu nói thẳng, cứ nói xa nói gần. Hỏi Sáng sao không lấy vợ, anh trả lời, chờ cô Xuyến lấy chồng cái đã. Hỏi sao cứ mỗi lần về Rạch Giồng lại mua quà cho chi vậy, Sáng trả lời, tôi chẳng còn ai, cô Xuyến là người thân nhất. Thân nhất rồi mai mốt em có chồng, anh Sáng có buồn không, Sáng trả lời, Chuyện vui của cô mà, tôi nói buồn coi sao được, nhưng nói thiệt, tôi buồn, cô nhỏ đi rồi, đâu còn gặp nữa, năm tới tôi xuống buồn cho mà coi. Sáng trả lời thật lòng, nhưng cũng thật thận trọng từng chữ để khỏi phải hớ hênh, Xuyến thì cứ tưởng Sáng gửi tình vào trong ấy. Rồi một bữa Xuyến đi gom củi ngoài hậu vườn, gặp Sáng, Sáng bảo, anh cầm vịt ở đây hết mùa nầy rồi chắc lâu lắm mới quay trở lại. Hết mùa gặt nầy, anh sẽ rã bầy để mua cái gì có giá trị một chút làm quà cưới cho Xuyến, anh hứa sẽ ở lại đưa dâu qua tới nhà trai.

Những lời nói đó là Xuyến mủi lòng khủng khiếp, cô quyết định không lấy tôi. Xuyến nói tôi buồn còn nhiều người an ủi, nhưng Sáng buồn chỉ có một mình, tụi vịt tối ngày lạc cạc có biết gì đâu?

Nhưng sau cái hôm đàn vịt của Sáng lăn ra chết không còn một con, Sáng đã đi khỏi Rạch Giồng. Tôi đứng nhìn chiếc ghe khuất mất sau doi dừa nước lặng lẽ làm một cuộc tiễn đưa. Tối lại, Xuyến tuyệt vọng hỏi tôi sao Sáng đi mất tiêu mà không từ giã gì cổ hết? Tôi bảo không biết. Cứ mỗi lần có chiếc ghe bầu nào đi ngang qua, Xuyến lại chạy chấp chới theo triền sông tới khi chiếc ghe khuất dạng mới thôi. Nhớ lại cái cảnh đó, tới bây giờ tôi còn thương.

Không giống như chuyện Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sáng đã không còn con vịt nào để rứt lông để lại để tôi với Xuyến lần theo dấu. Vậy mới vất vả.

Anh nhà văn à, anh đi nhiều, nghe truyện, tôi chắc anh lăn lộn trong giới nuôi vịt chạy đồng dữ lắm. Nếu mai nầy anh còn tính đi tiếp, có gặp anh Sáng, nhắn giùm ảnh là vợ chồng tôi chờ ở Rạch Giồng. Hồi đó, Sáng đi là để cho vợ tôi nó khỏi đau đớn, bẽ bàng, để giữ lời hứa muôn năm với ông bà già vợ tôi. Nhưng bây giờ, hết thảy mọi người đều mong anh trở lại, thâm tình cũng như nước dưới sông, có chảy đi đâu, có chém vè ở đâu cũng hợp lại một dòng xuôi chảy mãi./.

Nguyễn Ngọc Tư
(7) Facebook


Sunday, October 29, 2023

 Người Của Mồ Hôi | Nguyễn Ngọc Tư

"Má đẹp nhất là không làm gì. Trời ơi, mấy lúc vậy bả đẹp kinh hồn vía".

---
Nhà kiêm luôn quán nước ngó ra đường, mảnh ruộng cũng nhỏ nằm ngay sau nhà, đủ cơm cho cả năm, nhưng cũng ngốn ngấu nhiều thời gian và tâm sức.

Gần năm năm trở lại đây, mùa nước lên, má con chị thêm dịch vụ cho mấy hội nhóm săn ảnh. Thằng con chèo xuồng đưa khách ra chỗ có chòm thốt nốt soi bóng nước đẹp nhất vạt đồng. Chị, hoặc trụng mấy tô mì cho khách dằn bụng, hoặc làm người mẫu ảnh. Công việc sau khó hơn, nhưng kiếm được nhiều tiền hơn.

Buổi đầu làm mẫu, nửa người dưới chị ngâm trong nước, nhưng nửa trên lại mướt mải mồ hôi. Tóc tai dính bết cả, nhưng mấy anh chụp ảnh nói vậy mới đẹp, càng mồ hôi càng đẹp. Họ nói - không biết thật hay giỡn - mồ hôi mà làm giả, kiểu như vẩy nước vào cũng không đẹp bằng mồ hôi thật, thiếu hơi muối nên nhìn hạt nó không trong và tròn chắc, không đọng lại lâu trên da. Nhưng thằng con chị cãi, đẹp nhất má mình là khi nằm võng nghe cải lương buổi xế trưa, hay khi má gội đầu xong, ngồi hong tóc trước quạt gió, hoặc khi má tắt đèn chuẩn bị dọn quán, chắp tay sau đít nấn ná đứng nhìn ngấn trăng rọi vói vào nhà, kiểu không nỡ nào đóng cửa.

“Trời ơi, mấy lúc vậy bả đẹp kinh hồn vía”, thằng nhỏ vừa ngậm cọng cỏ mần trầu bên mép, vừa nói với mấy tay máy, gạ gẫm họ ghi lại hình ảnh má mình những lúc mà cậu cho là đẹp. Một người trong đám họ cười, mẫu ảnh phải làm gì đó, không ngồi không vậy được đâu.

Người đàn bà trong đó dẫu đang tung chài, hay hái bông điên điển, hay rửa bông súng, kiểu gì thì cũng đẫm mồ hôi, cũng khoe bàn tay tựa cành khô, cũng cái cười xếp nếp nhăn lên mặt nhưng mắt rạng rỡ vô cùng.

Chị không có tên thật trong những bức ảnh đó, họ gọi chị bằng “nét đẹp lao động”, hay “tung chài”, hay “hoa của nước”. Nhưng không hề gì, chị biết kẻ trong ảnh là mình, dù đang làm gì. Cả thằng con chị cũng nhận đó là má mình, “nhưng xấu”. “Má đẹp nhất là không làm gì”, thằng nhỏ nói.

Lâu lâu ai đó gọi khoe ảnh chụp chị được trao giải cao, rồi ai đó khoe chân dung chị được bảo tàng phụ nữ mua lại. “Vậy là ảnh chị được treo ở đó cả trăm năm nữa, cho cháu chắt chị coi”, nghệ sĩ nọ hồ hởi nói qua điện thoại. Đứa con nghe tin tự dưng trong lòng bức bối. Nó cũng không biết mình buồn bực vì lẽ gì. Nhưng một bữa trên đường đi làm hồ, ngang qua bảo tàng nọ, thằng con chị nhận ra, chừng nào cái bảo tàng còn, cái ảnh kia còn treo trên vách phòng trưng bày thì má mình còn dầm trong nước lũ, rửa bùn sình cho bông súng.

(Trích từ một câu chuyện mới của Tư _ Ảnh sưu tầm)

Thursday, June 1, 2023

EMAIL THỨ BẢY

(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Phương thích nghe vọng cổ không? Trong nhà có cất giữ bài ca vọng cổ nào không? Tôi hỏi vậy, vì tôi đang nghe một bài vọng cổ, rất buồn, về thân phận của cô gái đi ở mướn. Buổi trưa khi ngủ dậy, sợ cái nắng vàng ngoài sân bóp nghẹt mình, tôi thường giả vờ bận rộn, ít nhất là làm cho ý nghĩ mình bận rộn. Tôi nghĩ về bài vọng cổ, về chữ “nàng” mà một tác giả tôi chưa biết tên đã dùng, để gọi cô osin, cô ở mướn.

“Nàng” là một chữ mà với tôi dội lại rất nhiều hình ảnh. Nó gợi lên trong tôi vẻ đẹp, sự sang trọng, thanh thoát, nhã nhặn, hơi cầu kỳ và xa vời. “Nàng” thuộc về tầng khác, lớp khác. Tôi thường mắc cỡ chết giấc khi có ai đó đùa gọi, nàng ơi! Chữ “nàng” không thuộc về tôi, như không thuộc về người quét rác, người buôn gánh bán bưng, người gặt lúa trên đồng… Tôi từng nghĩ vậy, nhưng người nghệ sĩ viết bài “người ở mướn” làm tôi ngơ ngác, khi viết rằng, “vì nỗi khó khăn nàng lìa xứ xa nhà…”. Nghe đầy vẻ trân trọng, nhiều thương cảm, không có gì nghịch lý, mỉa mai. Tôi bỗng dưng nghĩ, người viết lời ca này hẳn là người nhân hậu, dịu dàng.

Tôi nhớ nhà thơ già mà tôi gặp ở Quy Nhơn, trong một sáng lấm tấm mưa. Ông đi xe đạp lại chỗ tôi, uống cafe bên biển. Gặp ông chỉ một lần, năm năm trước, trong buổi buffet chiêu đãi của một tờ báo mà ra về tôi và ông đều đói, tội, quê mùa quá nên lóng ngóng. Năm năm, hai ngón tay kẹp điếu thuốc đã khô queo quắt, mỗi làn khói bay ra từ miệng ông, có cảm giác như xương thịt ông cũng đang bốc hơi đi. Giữa những lời thăm hỏi, ông ngó tôi, chậm rãi, “văn chương và người làm văn chương đều rất đẹp, cháu à, chỉ là một số người khiến nó không đẹp nữa…”.

Tôi nghe điều đó đã nhiều lần, người ta còn viết những bài dài xưng tụng cái đẹp cao quý của thi nhân. Vẻ đẹp được chảy tràn trên giấy, còn họ giấu bia chiêu đãi trong túi áo, họ đánh nhau, họ nhục mạ nhau, sao chép tác phẩm nhau… Tôi tin rất ít, giờ tôi đã tin nhiều, vì ông. Người viết ra những bài thơ tôi ghi chi chít trong sổ tay, “Trong hoa/tôi nhìn thấy những bàn tay người trồng hoa lấm bùn đất/nhìn thấy những người bình thường đã tạo ra những vẻ đẹp khác thường…”(*). 

Câu từ giản dị và trong lành, ông mang vẻ đẹp của người phụ nữ bán bánh mì, chị công nhân quét đường, người trồng hoa, bà mẹ tảo tần quang gánh… đến cho tôi. Như cái sáng mưa ấy, ông khăng khăng bảo tôi cứ ở khách sạn và chờ ông đạp xe tới. Xe không chống chân, ông dựa nó sát hàng rào. Ông đẹp hơn cái đẹp mà tôi lưu giữ trong lần gặp đầu. Ông đứng về phía những bài thơ của mình, ông đẹp như chính những câu thơ về thân phận những người bình thường, thương khó.

Hôm đó, ông kể về người bạn quá cố của ông, Trần Quang Long, người viết bài thơ Tố Chân, “Maria Tố Chân/ Anh yêu em vô cùng…”, rồi đọc mấy câu từ “Bài thơ của một người yêu nước mình” của người bạn cũ Trần Vàng Sao 

Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ/Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu/Một vết bùn khô trên mặt đá/Không có ai chia tay/Cũng nhớ một tiếng còi tầu…”. 

Ông nói về sự quyến rũ đến từ những điều giản dị, thơ bạn bè ông thô mộc nhưng đọc tới đâu thấy run rẩy tới đó. Người ta ngây ngất trước sự hào nhoáng, mê mẩn trước sự bóng bẩy, nhưng chỉ rơi nước mắt trước sự giản dị tự đáy lòng. Buổi sáng biển mù, ông kể chuyện quê nhà, Huế và mẹ già, về cô em họ mỗi lần ra thành phố rực rỡ áo pull quần bò, một bữa ông về làng, cô chở rơm trên xe bò, áo rách và nón rách che lấy mặt. Ông dừng lại bảo, nghèo nên mặc xấu, việc gì phải ngượng. Ông kể cái làng Niêm Phò nghèo đến nỗi, cho người dì đau yếu hai mươi ngàn, dì thảng thốt, cho chi mà nhiều rứa, con.

Ông ngước ra biển, như tránh nhìn vào ly cafe đắt tiền mà ông đang uống. Và cho tới khi ông cọc cạch đạp xe ra về, ông không nói bằng lời, mà sao tôi nghe rõ từng tiếng một, người nghệ sĩ, người viết đẹp luôn nhớ và ở lại người nghèo, dù cho đám đông đã thực sự rời xa và quên lãng họ.

Lời dặn dò này ông đã gửi đến tôi, trong từng bài thơ ông thủ thỉ với cuộc đời. Và đôi lúc, tôi nhớ tới điều đó khi mở ra những trang báo, nhìn bức ảnh những đứa trẻ đi nhặt rác, ngắm bức tranh tường rêu phố cổ với người bán hàng rong ngồi xa vắng, hay trong bài vọng cổ trưa nay.

Bài ca hay quá, Phương ơi.

(*) Thơ Lê Văn Ngăn

(Ảnh sưu tầm)

Saturday, January 21, 2023

KHÚC BA MƯƠI

(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Năm nào cũng vậy, do thức dậy sớm đi chợ sớm, nên má là người đầu tiên mở ngày ba mươi Tết ra. Không biết có phải số má cực, vía má cực không mà hôm đó cả nhà đều phải làm công chuyện tối mắt tối mũi. Đến nỗi, nhắc tới Tết là thấy chữ “Ba Mươi” chình ình, choán chật cả ký ức.

Đó là cái ngày duy nhất trong năm cả nhà sum họp mà không sum họp. Ai nấy túi bụi với chuyện của mình. Cánh đàn ông con trai (nói cánh cho ham vậy, chỉ hai người thôi, chứ mấy), cánh này quan trọng, lãnh phần dọn dẹp, lau chùi, làm đẹp nhà. Nào là quét mạng nhện trên trần, lau cửa kính, tủ bàn, kỳ cọ mấy cái lư đồng, đem phơi nắng. Mệt phờ. Lúc dọn dẹp, bày biện bàn thờ thì mùi chiên xào dưới bếp bay lên, trời, lại phải bỏ ngang công việc đang làm dở, chuẩn bị mâm bàn cúng rước ông bà. Xế chiều rồi, chớ giỡn…

Cúng kiếng xong, cánh đàn ông tiếp tục chuyển sang đánh trận… ngoài sân, còn má vẫn hì hụi trong bếp, vừa trông chừng nồi thịt kho, vừa làm thịt nguội, sau lưng má, củ cải với dưa leo đang chờ tới phiên mình trở thành món… dưa chua. 

Tết của má dài thăm thẳm, phải kể từ hôm tát đìa bắt cá làm mắm, xẻ khô. Cá còn phơi trên mấy hàng bông bụp má bắt tay vào làm củ kiệu. Hồi chị còn nhỏ, má lãnh luôn phần làm mứt, nướng bánh kẹp, bánh bông lan. Chị lớn, chị giành lấy, nói để chị làm, nên cả ngày ba mươi tụi nhỏ không thấy chị liếc, chị rầy, bởi chị cũng cắm đầu làm mứt, nào là mứt chùm ruột, mứt gừng, không biết ai ăn cho hết mà ôm đồm, vừa ngào chảo mứt dừa vừa chạy ra coi mớ mứt tắc (quất) phơi ngoài sân không biết có kiến bò lên không. Cái dáng chị khum khum, tay đấm lia lịa vào lưng, than mỏi quá nhưng vẻ mặt thì tươi rói, ngây ngất. Giống hệt cả nhà, miệng kêu cực mà hớn hở, như thể ngày cuối năm này không có việc gì làm mới là niềm đau khổ lớn.

Tụi con nít cũng bận lắm, chạy đi chạy lại, “lấy dùm ba cây bàn chải”, “chặt dùm má mấy trái dừa”, “ê, coi chừng mấy con chó chạy giỡn làm đổ mớ mứt đang phơi…”, “chạy đi mua cho má mấy bịt muối, cho đầy hũ, nhỏ ơi”. Trên đường chạy đầu này đầu nọ, tụi con nít không quên thò đầu vô tủ vuốt ve mấy bộ đồ mới, ứa nước miếng, trông mau tới chiều để mặc, nên có khi má kêu hai ba lần mới chịu đi làm, bịu xịu càu nhàu trong bụng, không biết ông trời sinh ra ba mươi Tết làm chi, công chuyện quá trời.

Mà, việc nào cũng quan trọng, quan trọng khủng khiếp, không thể để đến ngày mai. Tuyệt nhiên, chẳng ai chần chừ, “để làm sau..”. Cứ như là không còn ngày mai nữa, cả nhà làm cho bằng hết việc, đến xanh mặt, mướt mồ hôi, như ai đó đuổi đằng sau, như làm bây giờ để mai mốt không động tay vào bất cứ việc gì nữa.

Tụi con nít buồn cười, vì cữ kiêng lắm thì chỉ thảnh thơi được ngày mùng Một, bữa sau ba má cũng ra vườn tưới rau, chị nhất định phải rửa chén, giặt đồ, anh đến cơ quan, mọi người trở lại với công việc thường ngày của mình, Ba Mươi cũng đâu có thay đổi được gì mà làm muốn nín thở?

Tụi nhỏ không biết, thật sự của Tết là bữa ba mươi này. Khi tụi nhỏ mặc bộ đồ mới đi khoe dài dài xóm, khi ba và anh tắm táp xong ra hàng ba ngơ ngẩn ngắm hoa sao nhái đốt lửa vàng run rẫy trước sân, khi má nhốt than trong những bếp lửa tàn, khi chị đứng chải tóc trước gương, thì Tết đã chớm hết, Mùng Một, Mùng Hai là Tết phai; Mùng Ba Mùng Bốn Tết tàn.

Tụi nhỏ không biết, mãi về sau, khi lớn lên, trong ký ức Tết ấu thơ, những ngày mùng rất nhạt, đơn điệu, chỉ chơi và chơi. Nhưng bữa ba mươi luôn sống động, lung linh những mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, những ngọt ngào…

(Ảnh sưu tầm)

Friday, January 6, 2023

MƯA THÁNG MƯỜI HAI

(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Những hàng quán phố xá mọc lên bên kia đường đã che lấp mất cánh đồng nằm chèo queo trong khu quy hoạch treo, làm tôi gần như quên tiêu chục công ruộng của ba má. Cuối năm, người mướn đất qua nhà để gửi món tiền nhỏ, tôi kêu thầm mèn ơi nhà mình cũng là điền chủ.

Người mướn đất ở cùng xóm, bạn hàng xáo cũ của má. Mời thím vào nhà ngồi mà thím đòi nấn ná ngoài hàng ba, để tiện coi chừng mấy cục mây đen lởn vởn. Ông trời thiệt kỳ cục, tháng này mà vẫn còn mưa, rầu hết sức, thím chép miệng than. Thím lo cái rẫy dưa của mình sẽ thất bát nếu trời vẫn mưa lắt dắt, dai dẳng kiểu này. Dưa chín mà chưa kịp cắt dây, gặp mưa nứt trái hết.

Cái cách ngó trời dè chừng của thím làm dậy nhớ trong tôi, một thứ ảo ảnh trong vắt, như thể chúng tôi đang ngồi trong một buổi trưa của nhiều năm trước. Thuở tôi còn là con nít và thím chưa già, bọn tôi vẫn hay lảng vảng ngoài sân ngó trời nháo nhác bởi những đệm lúa đang phơi sắp lên mầm, nhưng vừa mới nắng ráo tí tẹo đã thấy phía chân trời mây mưa lấp ló. Bọn tôi như mấy con nai nhỏ và cọp beo thì rình rập quanh đây. Những trận mưa cuối năm thường làm cỏ tươi mà lòng nhà nông héo: hoa tết trổ sớm, mai trở chứng ra bông lênh láng, đìa tát giữa chừng thì bị chìm, dưa hấu nổ tét lét…

Hồi ấy tôi cũng như những đứa trẻ quê mùa khác, được dạy nhìn trời, nhưng không phải để chiêm ngưỡng suông. Nhìn trời để canh chừng đống củi đang phơi, sào quần áo, hay chiếc chiếu vắt trên rào. Nhìn trời để kịp đậy mấy tàu lá che giàn cải non, cho mưa khỏi làm giập lá. Nhìn trời để cụ bị máy móc tát nước cứu khát cho đám mạ non. Nhìn trời để biết lúa chín vào quãng nào mà kêu công gặt. Con nhà nông mà không biết nhìn mây, đoán hướng gió… thì đói, ngoại tôi vẫn thường nói vậy, khi khum khum tay che mắt ngó xa xôi, giọng như là đang nói chuyện sống còn.

Nên có đêm đầy sao ba má tôi khoan khoái ngủ ngon, cũng có đêm đầy sao in hệt, người này buộc thở dài nối vào thở dài của người kia. Trăng tròn thì nhìn coi quầng hay tán. Màu trời xanh hay tái, trong hay đục. Luộc con gà thì săm soi cái chân gà, mưa nắng cũng được đoán định bằng cách ấy, đừng có giỡn.

Cạo phèn trên móng chân cũng lâu rồi, tôi vẫn không biết hưởng thụ vẻ đẹp của những cơn mưa, màu của nắng và hương của gió. Có lần đi chơi, bạn chỉ đám mây vẩy cá trên đầu, kêu đẹp chưa kìa, tôi ngó theo cũng ờ ờ đẹp thiệt, nhưng nhìn xuống đồi cát có đàn cừu ốm đói đang thở khói, nghĩ kiểu này còn lâu mới mưa, những ngày sắp tới vẫn là những ngày nắng cháy, không biết tụi cừu kia có chịu nổi không. Lúc hình dung những xác cừu chết khô, tôi bỗng thấy mình và bạn đúng là đến từ hai thế giới khác. Bạn yêu những đám mây đến mức đem mây rải đầy trong truyện, trổ một cửa sổ chỉ để lúc đang viết ngẩng lên sẽ thấy được mây bay. Tôi thì đánh mất khả năng tận hưởng thuần khiết ấy rồi, nghĩ cũng hơi thương.

Nhưng người đàn bà ngồi mân mê vành nón lá rách kia, đã sắp dùng hết quỹ đời của mình, mà đã được ung dung thưởng thức nhan sắc bầu trời đâu, nhất là trong những cái tháng mười hai kỳ cục kiểu vầy.

Trời đùng đục, mụ mị. Gió chướng thổi mà không hong khô được những đám mây trĩu nước. Mùa màng càng ngày càng vô chừng, như chẳng còn ranh giới nào giữa mùa này với mùa kia, chúng cứ chông chênh. Hồi sáng có mấy chị gánh ve chai ghé uống cà phê, tranh thủ mượn cái sân phơi giấy vụn đã bị ướt lúc mắc mưa trên cầu, không thể chạy trốn đâu cho kịp. Họ bị gió chướng đánh lừa, hồi nào giờ nó luôn là dấu hiệu của một mùa khô hanh. Và một đám rước dâu bằng xe mui trần chạy ngang qua nhà cũng bị lãnh đủ. Tôi đã xếp áo mưa cất vào hộc tủ từ tháng trước, để sáng nay từ chợ về ướt như chuột lột. Nhưng từ khi bỏ đồng ruộng sau lưng, mưa chỉ làm tôi ướt, chứ không buồn.

Người ở lại thì buồn. Thím đang nhấp nhổm ngồi đây buồn. Vui buồn đời thím đã phải đặt cược vào ông trời, mà ông trời thì cao, thất thường. Thím kể năm ngoái sạ vụ hai, ruộng bị nắng cháy quéo hết. Nay day qua trồng dưa hấu, lại bị mưa. Cái kinh nghiệm nhìn trời tích lũy đời này sang đời khác để đoán định mùa màng giờ hụt hơi với sự đỏng đảnh của thời tiết. Chuyện giữa chừng thì thím cắp nón đi nói chắc là mưa, thôi về để coi đám dưa. Tôi nói không đâu thím, ở chơi thêm chút nữa, trời trong veo mà.

Nhưng cơn mưa rào hôm ấy nhanh đến nỗi đuổi kịp thím khi vừa ra khỏi thềm nhà má. Tôi nhận ra cả khả năng nhìn trời đoán nắng mưa của mình cũng bị mai một rồi. Bầu trời giờ có mà như không có.

(Ảnh sưu tầm)

Monday, December 5, 2022

SỔ GHI ĐI ĐƯỜNG

(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Không nhất thiết phải đem nhiều quần áo, với chút tiền dành ra ấy, quảy ba lô lên vai, là mình có thể tới bất cứ đâu bất cứ lúc nào. Không biết đường đi, thì hỏi. Sợ gì. Không ra khỏi biên giới, loanh quanh trên dãi đất này.

Ngồi một chỗ thì không biết được, người đi đường luôn bị mê dụ bởi bao thứ lạ lùng, không bao giờ hiểu được bạn phải đi xa bao nhiêu mới gặp cái cảm giác thanh bình.

Bởi có nói đến Tết thì chẳng ai hiểu được, một mình trên đường là nỗi cô đơn tuyệt vời nhất. Bồng bềnh. Phiêu diêu. Cảm giác không ai theo kịp mình, thấy mình như con bướm cứ chập chờn, chập chờn, không ai nắm bắt được. Vậy là không cần diễn, không cần đối phó, vậy là gương mặt cứ mềm ra, ngây ngây, vậy là ý nghĩ mông mênh, vu vơ không ra đầu cuối, đang nhớ người này, sực nhớ người kia, đang nghĩ tới màu tím của những bông dừa cạn bên đường thì cái vệt xanh của vạt cỏ ống phớt qua, kéo theo những bông lau già bạc phơ phất.

Bây giờ, chỉ một mình trôi đi, thấy mọi thứ cùng mông lung với mình, đẹp mà lạ, như mới gặp lần đầu, ngọt lành, mộng mị.

Sông dường như vẫn thường trôi như vậy. Và nước thì đâu thèm quan tâm mình chảy về đâu…

Nên bạn nhớ, nhớ lần buông bỏ, ngẫu hứng, túc tắc la cà như mây. Nhớ cú rẽ trái khỏi một cuộc đi đã được sắp xếp hoạch định từng chi tiết. Nửa đời bạn đã bị vây bởi một kế hoạch lớn với muôn vàn kế hoạch con, đôi khi bạn thay đổi hành trình.

Có quá nhiều khoảng trống để những ý nghĩ nhẩn nha lúc đi đường, khi mà bạn không phải bận tâm ngờ vực trước những ngã bảy ngã năm rặt một vẻ hứa hẹn và mời gọi, càng chẳng cần dọ hỏi bản đồ, bởi bạn chỉ làm mỗi việc là rẽ phải.

Không đắn đo. Tuôn chảy vào những con đường xa lạ.

Ở những nơi chốn ấy, bạn là một kẻ vô danh, chẳng nguồn cội, không tên họ. Bạn vô hình, phải, và luôn là chính mình trong những cuộc đi.

Và trong những ngày lang thang, biết đâu bạn may mắn nhận được một nụ cười làm thắt cả tim bạn, trong khoảnh khắc đó, bạn nghĩ cả đời này không bao giờ gặp lại nụ cười ấy ở bất cứ nơi nào nữa.

Bao lần đi qua một vùng đất, bao lần nghe một cái tên hay ngửi lại mùi quen thuộc, là bao lần day diết nhớ một người (với nụ cười từng làm con tim chết điếng). Thì ra, một chốn nào đó được người ta nhớ không hẳn vì nó đẹp.

Đó là kinh nghiệm của riêng tôi, không có nơi chốn nào trên đời này là vô duyên vô vị. Chỉ cần ai đó đừng vội vã...

Tôi đứng đó, ngây dại trước một bình minh trong vắt. Bởi cái vị nồng của biển, cái rộn rã ban mai, cái không khí trong lẻo này, hay sự buốt lạnh truyền lên từ gan bàn chân không ai kể cho ai được.

Cả những vẻ đẹp bình thường quen thuộc đó, cũng phải biết khao khát, tìm kiếm và trải nghiệm mới có.

Đi đến đâu lăng xăng chụp ảnh đến đó, về tuôn vào máy tính. Làm biếng cảm thụ cuộc sống, làm biếng thương, thậm chí làm biếng nhớ. Nên cứ bắt máy móc nhắc nhớ giùm. Nên máy móc một hôm trăn trối, sẽ không giữ được gì nếu bạn không tha thiết.

Tình yêu cũng vậy. Cuộc sống cũng vậy.

Tôi chỉ biết mình đang đứng ngây ra trước vẻ đẹp chưa từng có trong đời, một vẻ đẹp bình dị của vùng đất nào đó.

Nhưng không phải lúc nào cũng có sương, có hoa, có nắng, có những cái đẹp rạng ngời. Cũng chẳng nhằm nhò gì với những kiểu sự cố dọc đường mà dân ưa dịch chuyển không còn lạ, có điều lỗi trì hoãn do thiên nhiên thì vẫn dễ chịu hơn nhiều so với bất tiện do con người; như mắc kẹt lại trên đảo vì bão thì bạn nằm ườn trong phòng đọc sách mang theo, mặc cho mưa giông vây trùng điệp bên ngoài nhà trọ khiến tàu bè không thể rời bến...

Những bất tiện cứ phơi ra trên con đường mình đi tìm cái gọi là vẻ đẹp tiềm ẩn. Xứ Việt khét tiếng chịu chơi đồ giả, kiểu như núi thật phá đi để làm núi giả, đốn trụi rừng để đắp mấy con rồng con hươu cao cổ xi măng, đánh sập cái chùa cổ hàng trăm năm để xây chùa mới sơn phết long lanh. Cảnh sắc giả trơ thiên địa kiểu vậy mình gặp hoài, bất chấp có đi đến một hay hai ngàn cây số.

Con người hạ nhục, hủy hoại thiên nhiên. Còn thiên nhiên trả thù bằng cách nào bạn biết không? Nó biến mất. Chớp mắt mịt mù.

Mình chưa bao giờ nguôi hy vọng, chen lẫn giữa mớ bất tiện mang tên con - người sẽ nhận được an ủi của cỏ cây, sương đỉnh núi và mưa lưng đèo. Và xa, rất xa trong rừng thẳm hay xó núi, vẫn còn những người thuần phác, chỉ nhìn thôi mà chữa lành được bao vết thương.

Nỗi tò mò ngọ nguậy mỗi khi mình đi ngang qua mấy con đường mòn nhỏ chạy mút tì tè về đâu đó. Đường thẳng băng nhỏ dần như sợi chỉ ở cuối tầm mắt, hay nhiều khúc quanh cùi chỏ. Đường vắng tanh hay có một bầy trẻ con vừa tan học chấp chới nô đùa.

Khi những điểm đến gây thất vọng với ngôi chùa ngập trong tiền lẻ và hàng quán bán thịt thú rừng, bãi biển đầy rác, núi non trơ trụi không có bóng cây, mình dành nhiều thời gian hơn cho dọc đường, cho con lộ quê chẳng bao giờ thề thốt kiểu ta đây mang “nét đẹp tiềm ẩn” hay “vẻ đẹp bất tận”.

Con người còn dễ bị đánh mất hơn cả thiên nhiên, vì người có khả năng tự mình đánh mất mình.

Có khi phẩy tay, ờ thì chắc cũng như mấy ngã xóm mình đã từng đi cho biết, cũng vườn ruộng nằm chèo queo dưới nắng trưa, cũng cây cầu ván tạm bợ bắc qua mương rạch, cũng những bóng người ẩn nhẩn ngồi hoặc đứng trước nhà. Những người mà lần nào ngang qua mình cũng thương họ đã sống một đời buồn tẻ (trong lúc đó họ thì nghĩ “con nhà ai mà giữa trưa chạy khơi phơi nắng, tội nghiệp chưa”).

Nhưng mình biết rằng đường xóm này không bao giờ y hệt đường xóm khác, chưa đi hết thì chưa thể nói ta đã biết rồi.

Nhưng tại sao ta phải trông ngóng những cột cây số, toan tính cho cuộc hành trình, hoạch định một đích đến, tại sao ta không ngủ một giấc, rồi thức dậy rong ruỗi với cảnh vật hai bên đường, tại sao ta lại bị những cột cây số che khuất để không còn thấy những dòng suối nhỏ, những vạt hoa rừng, những đàn bướm vàng vào mùa di cư bay rợp cả thung lũng, như lá khô chao lơ lửng mãi giữa trời, những vách đá óng lên dưới nắng, mây vắt vào mặt trời chiều… Tại sao ta phải để tâm trí vào hoạch định cuộc đời mình, phải hối hả tới nơi nào đó mà bỏ qua, quên lãng bao nhiêu điều tuyệt đẹp bên đời.

Gọi tên những miền đất đã đi qua, tôi cũng hay nhớ người ở đó, trước tiên. Họ mới là kỳ quan. Những con người sống động trên cái nền phong cảnh đã mờ nhoè. Có những nơi trên dãi đất này, nó đẹp không phải vì cảnh đẹp.

Khi vẫy tay chào: hành trang của tôi không có cục đất, bài thơ, hay tấm hình. Tôi đến với mảnh đất đó không phải vì muốn ghi thành tích. Đến để hiểu biết, và yêu.

Lâu lắm tôi đã không đi, mất cảm giác. Bởi đi không phải là nhu cầu tối thiểu, như ăn, ngủ. Hôm nay đi không được, thì mai, thì mốt. Mà, lần khân tới khi già khú đế, không đi được cũng chết vì bệnh tật chứ không phải chết vì không đi. Vậy nên, tôi luôn bỏ lỡ những chuyến đi của cuộc đời mình.

Tôi buông tay hoài, buông những ý tưởng hay, buông những chuyến đi dài. Cứ mỗi lần buông tay, tôi thấy mình đã chết.

Dường như cái nghề viết ngớ ngẩn đã sinh ra ý thích ngớ ngẩn, cũng từng có những tia nhìn hơi khó chịu, hơi mỉa mai, “người ta nhà văn, nên phải ngạo mạn, lập dị...”

Ngày tôi ở tuổi năm mươi, sẽ nối lại tình bạn bè xưa (vốn đã dứt lìa từ khi bận bịu văn chương, rối bù với công việc gia đình), sẽ rủ bạn cùng đi du lịch, thăm thú đầu núi cuối sông, mỗi cặp chở nhau bằng Honda xuyên Việt (dường như cái máu khoái mạo hiểm hồi trẻ vẫn dào dạt), tưởng tới cảnh một sớm mai nào, dựng xe trên một đỉnh đèo lộng gió nhìn xuống biển xanh ngằn ngặt, mà thèm. Ngót nửa đời lủi thủi một mình với thế giới văn chương, nên muốn làm bà già vui vẻ với bạn bè.

(Ảnh: Nguyễn Thanh Tuấn)

Friday, October 7, 2022

BÀI HÁT NÀO CHO BẠC...

(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Bạc là tên của thằng nhỏ sẽ trở thành thợ mộc. Tôi thích một cái tủ sách lớn đặt ở trên gác nhưng sợ cầu thang hẹp, di chuyển khó nên rước thợ về nhà. Tốp thợ có bốn người, thằng Bạc đang học việc, lủn tủn chạy đi lấy cái bào này, cây thước kia cho mấy anh. Nó hay lục lọi đống sách của tôi nằm ngổn ngang trên sàn nhà, gặp cuốn dày, nó xoay đi xoay lại, chắc lưỡi, “trời ơi, cầm cuốn sách này là thấy buồn ngủ rồi. Toàn là chữ, không có hình gì hết vậy chị Hai?”. Cũng may, không có hình mà nó không chỏng ngược sách xuống, chứng tỏ nó cũng biết chữ, chút ít.

Lúc đó tôi đang đọc Rừng Na-Uy, chính xác là đọc lại lần thứ hai, hít thở lần nữa cái không khí u sầu, buồn bã của một mối tình. Thằng Bạc thấy tôi dán vào cuốn sách, nó hỏi sách viết gì vậy chị Hai. Tôi đáp ơ hờ, ờ thì tình yêu và cái chết. Thằng Bạc trề cái môi thâm sì của nó dài thượt, “ai mà rảnh quá vậy, viết mấy chuyện tầm phào không. Chị Hai có truyện vụ án, hay truyện ma không?” Tôi lắc đầu, thằng Bạc ỉu xìu. Tôi mắc cười quá, nói, sách nói về cái chết cũng hay mà, sao không thích. Thằng Bạc nguýt ngoáy, “hay gì, chết là hết trơn…”.

Chết là hết trơn. Đó là quan điểm của thằng Bạc-thợ-mộc, nó chỉ cần gọn lỏn bốn từ. Còn triết gia, văn sỹ, đạo giáo thì nói về chuyện này hàng ngàn năm nay, vẫn chưa muốn dừng lại ở bờ bến nào. Thằng Bạc kể, hồi má nó chết rồi thì chị Hai là má nó, chăm sóc mấy đứa em, nấu cơm, giặt giũ, đi làm kiếm tiền… Má nó trở thành ma rồi, đâu còn nhúng tay vô mấy chuyện đó. Nghĩa là hết rồi. Chấm dứt rồi. Những người sống mắc đi làm để có cơm ăn.

Thế còn nỗi nhớ? Sự tuyệt vọng? Sự tồn tại ở một thế giới khác? Sự ám ảnh miên viễn của nỗi mất mát? Nhưng tôi đi cãi nhau với thằng nhóc này thì tôi uổng công. Có lẽ tất cả điều đó vô nghĩa trước việc “đi làm để có cơm ăn…”. Tôi đành cười trừ.

Tủ sách đóng xong, thợ chính không tới nữa, phần đánh bóng, sơn, lau chùi kính… tóm lại, phần “hậu kỳ” giao cho thằng Bạc. Tôi nhịn nghe nhạc mấy bữa, cũng thèm. Ai ngờ thằng Bạc rất lấy làm phiền, nghe “Đố ai” của Phạm Duy, nó cằn nhằn, “Cái ông này quỡn thiệt quỡn, biểu người ta đếm lá, đếm sao trên trời, sống kiểu vậy không đói chết mới lạ…”. 

Thái Thanh hát "Tìm nhau" thằng Bạc không mấy hài lòng, "khó hiểu quá, tìm nhau mà tìm trong hoa nở, tìm trong gió... sao mà có, trời? Sao không đăng tin trên đài cho gọn?". 

Cho tới “Giết người trong mộng” nhạc si phổ theo thơ của Hàn Mạc Tử thì thằng Bạc bực bội thật sự, “Có giỏi thì đi giết mấy người ác đang sống sờ sờ, nhởn nhơ kìa. Thương người này không được thì thôi, đi thương người khác, hơi sức đâu hăm he lãng nhách …”. 

Tôi tức anh ách, nhưng cố nhịn, cãi với thằng nhỏ này thì tôi cũng giống như con nít.

Cố nuốt cục tức, hỏi, vậy chứ nhạc gì hay? Nó cười, chị Hai có Đám cưới nghèo? Có Hoa sứ nhà nàng hông? Có Chuyến xe lam chiều hông? Thói đời? Sao gì cũng hông có vậy trời? Mấy bài đó nghe hay lắm, vầy nghe, “đường thương đau đày ải nhân gian ai chưa qua chưa phải là người, trông thói đời, cười ra nước mắt…”, vầy nghe, “phố buồn mình tôi bước chân lẻ loi. Ray rứt trời mưa bỗng nghe mặn môi…”, vầy nghe “đừng nói xa nhau, cho tâm hồn đau khổ, đừng nói xa nhau, cho mắt lệ hoen mờ…”, vầy nghe, “Em qua sông gió thổi bên lòng, gió lạnh lùng đưa hoa tím long đong, nước lạnh lùng trôi…”.

Thằng Bạc nhắc tới bài nào là hồn nhiên hát luôn bài đó. Giọng nó không tệ, ngọt và nhừa nhựa, tưởng nó đã uống vài ly rượu rồi. Những bài hát nửa lạ nửa quen, tôi nghe suốt từ thời thơ ấu, giờ vẫn gặp lại trong quán cafe, quán nhậu, trên đường phố… Tôi không mang về nhà thì thằng Bạc đem về, như thể nó biết tôi đã để quên, đã đánh rơi bên đường, như thể tất cả chúng là của tôi. Chỉ có bài hát “mèo hoang” nào đó mà thằng nhỏ nhắc, tôi thấy hơi xa lạ. Bạc tỏ ra thất vọng ghê gớm, bài đó hay lắm. Hát cho mấy người làm nghề bán bia ôm, mà hay, “có phải em về trong đêm nay, bước thấp bước cao ngã nghiêng trên đời này…”.

Bỗng dưng thằng Bạc rưng rưng, chị Hai tui nghe lần nào cũng khóc hết. Rồi bỗng dưng nó sợ tôi đoán ra điều gì đó, nó đột ngột gượng cười, “hỏng biết chừng nào người ta mới viết bài hát về thợ mộc như tui hen?”.

Tôi không biết. Tôi cũng chưa biết bài hát làm rơi nước mắt những chị cave, những người đàn bà sương gió. Nhưng giờ trở đi, tôi sẽ lắng nghe…

“…đời còn nhiều bể dâu, người hỡi có thương nhau, thì xin chớ buồn...”, tạm thời chưa tìm ra bài nhạc nào viết về anh thợ mộc, tôi gửi mấy câu hát này đến Bạc, một người từng gặp…

(Ảnh: Ngo Vinh)

Wednesday, August 24, 2022

MỘT DÒNG XUÔI MẢI MIẾT

(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Bữa nhậu gần tàn. Kim đã uống gần hết một lượt để từ giã ra về thì có anh thanh niên hào hển chạy lại hỏi thăm anh Kim nhà văn, còn dò đi hỏi lại có đúng là Kim viết mấy cái truyện về về những người chăn vịt mới được đọc trên đài. Kim gật đầu. Anh ta cười cái phào:

- Vậy thì may quá. Tôi tính xong mùa lúa này sẽ lên trển tìm cho được anh. Vợ tôi cứ biểu hoài...

Kim ngờ ngợ, không biết mình có dây dưa chuyện gì với vợ chồng anh chàng này đây. Anh hỏi, "Tôi giúp gì được cho anh...". Anh chàng nọ ngần ngừ nhìn quanh rồi hỏi "Tôi có thể nói chuyện này cho một mình anh nghe được không...", Kim dại gì mà không gật đầu, ở lại, dễ gì rụp một cái có thể rời khỏi chiếu nhậu.

Vậy mà cũng xà quần cả buổi, chờ cho anh chàng nọ uống chào sân hết cả thảy chín ly rượu trắng mới đi được. Hai người xuống cái bến bùm xùm những lùm đậu cộ, Kim chờ tàu Khánh Hội lên.

- Anh viết mấy cái truyện chăn vịt hay thiệt, sành sỏi như người trong nghề, nghe bắt mê. Chắc anh đi nhiều chỗ, gặp nhiều người lắm. Tôi đang suốt lúa, nghe có nhà văn Trần Kim về Rạch Giồng để viết về vụ hè thu, tôi bỏ dãi chạy ra đây. Không biết anh nhà văn có biết người nuôi vịt chạy đồng nào tên Sáng, trạc ba sáu, ba bảy tuổi không... Dà, vợ tôi nó trông gặp anh Sáng này tới mỏi con mắt nhưng trời đất mênh mông, tôi hỏi cùng khắp rồi, mà chưa thấy tăm hơi đâu hết. Chuyện của ba người chúng tôi cũng dài lắm anh à, anh biết, hai người với nhau thì dễ, thêm người thứ ba rắc rối lắm.

Tôi không biết quê Sáng ở đâu, mấy lần nghe loáng thoáng ở An Bình, Phước Long gì đó. Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng này. Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm Lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi.

Tôi thường trông Sáng mỗi khi mùa lúa mới về. Hai mươi hai tuổi, ông già tôi đã giao cho cái máy suốt Bình Thủy, hễ lúa chín là tôi tha thủi một mình ngủ giữ máy giữa đồng khơi. Anh nhà văn không biết chớ, ngủ trên đồng buồn thê thiết lắm. Gió thì hiu hút, gió thổi rơm rạ tả tơi, trời sao vằng vặc, đất mênh mông. Đang thèm hơi người nên gặp được ai là thương, là quý ngay người ấy. Vì vậy mà tôi quý Sáng. Những lúc cho vịt đi ăn xa, chạng vạng không về kịp, Sáng cũng hay cầm vịt giữa đồng, hai đứa tôi ôm rơm tụm lại nhóm lửa, đánh bài tiến lên, uống ít ly cho ấm người. Xong rồi ca khơi khơi vài câu vọng cổ. Tôi hay hỏi Sáng chuyện đồng bãi mùa màng này nọ, về những nơi mà anh đã đi qua. Sáng lớn hơn tôi chừng năm tuổi nhưng anh già dặn, chững chạc trầm lặng hơn tôi, hơn cả tuổi của anh nhiều. Ban ngày, anh hay lội lại, khi thì xoắn tay xách lúa tiếp, lúc cho máy ăn để chúng tôi lua vội bữa trưa, có khi giúp vác cái thùng suốt lội ròng rã mươi công đất gò. Tôi ngại lắm, nhưng Sáng chỉ cười, "Một mình cũng buồn, tôi phải kiếm một việc gì đó để làm để khỏi phải mơ biến thành vịt".

Ai sống một mình cũng buồn hết, anh nhà văn à. Nhưng Sáng ngon hơn tôi nhiều, anh kể đã nuôi vịt chạy đồng bảy năm. Tính ra thì cỡ mười lăm, mười sáu tuổi anh đã dầu dãi giang hồ. Tôi ngẩn ngơ, "Sao ông hay vậy... Sống một mình... Tôi mà lúc cúc một mình trên đồng khơi thể nào cũng điên". Sáng cười, nhiều người ở cạnh tôi lắm chớ. Ai đâu. Không có ở đây, nhưng tôi luôn nghĩ về họ. Tôi hỏi Sáng nghĩ tới ai. Sáng chỉ cười. Anh để ý coi, những người ít nói thì hay cười, không phải vì vui mà vì để khỏi trả lời. Rồi tự nhiên Sáng hỏi ngược lại rằng tôi đang nghĩ tới ai.

Tôi nói tôi nghĩ tới Xuyến, tên của vợ tôi bây giờ. Cùng xóm mà, thương lúc nào cũng không nhớ, có thể hồi mười bảy hay hai mươi hay chừng tám chín tuổi gì đó… Tôi nói thiệt, hồi thương cổ, tôi lội tới lội lui thiếu điều sạt bờ dừa nhà ông già vợ. Tới lúc chiêm bao cũng thấy Xuyến là đậm lắm rồi. Mà chiêm bao ngộ lắm, lặp đi lặp lại hoài cũng cái cảnh tôi nắm tay em Xuyến xuống bến, nhưng không có chiếc xuồng nào, chờ một hồi thấy có người bơi lại, không thấy rõ mặt (thường thì chiêm bao ít thấy rõ mặt người), chỉ thấy cái lưng hơi khom, vai bè bè… giống như Sáng vậy, tới đó rồi thôi, giấc mơ đứt đoạn. Tôi kể cho Sáng nghe, hơi hồ nghi "Sao trong câu chuyện của tôi và Xuyến lại có ông vậy ta...". Sáng chỉ cười, cái cười làm tôi quên mau, chuyện chiêm bao mà.

Sáng cũng biết Xuyến, chỗ anh cầm vịt ngang với hậu vườn nhà Xuyến. Sáng hay qua nhà uống trà, nói chuyện mùa màng chơi với ông già vợ tôi. Có bữa anh nằm tâm sự, "Cứ mỗi lần cặp ghe vịt vô bến thấy thím Hai khum cái tay che nắng hỏi ai in thằng Sáng, thấy cô Xuyến chạy ra cửa nhoẻn cười thấy lòng vui như được trở về nhà". Cũng nghe nhiều người thắc mắc, thằng Sáng chắc có gì với con Xuyến, chớ không sao năm nào cũng cầm vịt ngay trân chỗ đó, năm nào cũng mua cho Xuyến khi thì khúc vải, lúc là cây dù… nhưng tôi ỷ y, cũng biết bao nhiêu người lui tới nhà Xuyến rồi, thấy tôi mài miết còn chịu hổng nổi dạt ra. Sáng thì một năm ở đây chừng ba mươi bữa, tôi đâu có ngán. Với lại tôi tin Sáng lắm, chính anh biểu tôi chỗ đó được, bước tới đi. Tôi bước tới.

Bữa nay, anh nhà văn về gấp quá, nếu không thì lại nhà tôi chơi, cho biết mặt vợ tôi. Cổ đẹp, giỏi mà hiền lắm. Hiền nhưng làm toàn chuyện động trời. Tôi bị một lần, bây giờ đang ngủ nhiều lúc còn bàng hoàng thức dậy, ngồi coi có đúng người nằm cạnh mình là Xuyến không.

Có lần, Xuyến băng đồng tìm tôi, cổ khóc, đã lỡ thương người khác rồi, nên không thể làm đám cưới, không thể lấy tôi làm chồng. Không có đám cưới nào vào rằm tháng Chạp này.

Anh nhà văn không biết cảnh này đâu. Tôi ngồi chết lặng. Cay đắng, bỡ ngỡ, đau đớn, bàng hoàng không sao tả được. Có gì bằng vợ sắp cưới của mình lại hồi hôn. Tôi cứ ngồi lặng, đầu thì tăm tăm cái câu hỏi, "Vậy là sao..."

Đâu biết. Tôi hỏi Xuyến vậy chớ em đã thương ai. Xuyến trả lời, "Anh Sáng". Tôi thuận miệng hỏi bừa "Sáng nào...", Xuyến nhìn tôi, "Anh biết mà…".

Sao lại là Sáng...

Sao lại là cái người mà mới hôm qua thôi tôi còn rủ anh ở lại dự đám cưới, còn nhờ anh làm chú rể phụ cho bữa đó tôi đỡ run. Sao anh lại nhận lời, rồi bây giờ…
Dưng không tôi mất đi hai con người mà mình thương yêu nhất, đau lòng vậy mà Xuyến còn thút thít, "Anh đừng giận anh Sáng mà hại ảnh, tại em hết, chớ ảnh có nói gì đâu". Dường như Xuyến đọc được trong mắt tôi những tia hằn học. Nhưng mà tôi đâu có tử tế, cao thượng dữ vậy, tôi không giận Xuyến, thương quá, không thể giận, nhưng Sáng thì khác…

Mà, anh nhà văn nè, theo anh thì con vịt nó có sinh mạng không... Bà nội tôi nói cỏ cây cũng có sinh mạng vậy là đúng... Anh biết không, có lần vì nóng giận mà tôi hủy đi cả thảy một ngàn hai trăm mười bảy sinh mạng. Anh nhà văn sửng sốt hả, ghê quá phải hôn. Tôi lúc đó cũng vậy, cũng cảm giác như mình đang gây tội ác.

Tôi nhớ hoài cái cảnh mình đứng trong một buổi sáng đầy sương. Xung quanh tôi vịt nằm chết sắp lớp, không khí nồng nặc mùi thuốc trừ sâu. Tôi giở một con vịt lên, dưới đôi cánh nó là một quả trứng vỡ be bét, chắc nó đã từng giãy giụa, đau đớn lắm mới đập nát cả trứng của mình. Sáng đứng tần ngần trong quây lưới, hơi ngơ ngác, như trong lòng bị đổ vỡ cái gì đó quý giá lắm.

Nhưng không phải vì ngủ một đêm thức dậy đã trắng tay, cái cảnh người làm nghề nuôi vịt chạy đồng không lạ. Dường như Sáng xúc động, đau đớn vì những lời tôi nói, cái cây bị đốn thường không ngã về phía có ngàm búa, chắc Sáng cũng không ngờ rằng người bỏ thuốc vô mẻ lúa của bầy vịt là tôi, và vì Xuyến mà tôi làm việc đó.

- Nếu chuyện Xuyến thương tôi là thật, Sáng bảo, thì đó là chuyện buồn nhất đời tôi. Tôi không chờ đợi điều đó.

Tôi không tin. Có lẽ Sáng cũng biết tôi không tin, anh hỏi tôi có muốn nghe chuyện nhà anh không... Tôi bảo không, anh nhà văn biết, hoàn cảnh đó mà ngồi nghe chuyện gì nữa, nhưng Sáng cứ kể.

Sáng mồ côi cha từ mười tuổi, má anh cũng mất đã ba năm. Đó là người đàn bà sống hết đời không được mấy ngày vui, mấy ngày nhàn nhã. Cái xóm Rạch Giồng bé nhỏ này cũng đã giữ lại niềm vui nửa đời còn lại của má anh.

Sáng còn một người em gái (hồi trước anh hay đùa là sẽ gả em cho tôi). Nhưng hai anh em không ở chung nhà, cả một quãng dài không gặp, anh quên cả khuôn mặt của nó. Hôm cúng giáp năm má anh, bày dĩa vịt luộc phay với nải chuối chín lên bàn, lòng Sáng bất chợt cồn cào. Sáng quyết định về Rạch Giồng. Vì nhớ má và vì muốn gặp em. Hôm gặp, em gái anh đi hái ổi cho một bầy em trai, em gái nhỏ. Nó giống má anh như tạc, giống từ vóc dáng đến cốt cách. Nhìn nó đứng chia ổi cho đám em mà thấy dịu dàng, nồng hậu biết bao.

Nhưng anh chỉ đứng xa xa nhìn. Như hồi còn mạnh giỏi, má Sáng hay xuôi ghe lại trước nhà, lén nhìn. Sáng hỏi sao không chạy lại nói cho nó biết. Má anh biểu, hồi xưa, má hứa là sẽ không trở lại. Sáng nói cần gì phải giữ lời. Má anh nghiêm mặt, "phải giữ chớ, làm người ai lại phản trắc". Rồi má anh bảo, má nhớ em con thì buồn chút vậy, nhưng còn có thể nhìn nó lớn lên, còn không nhờ người ta, con nhỏ đâu còn.

Đó là đứa em mà Sáng mắc một món nợ lớn. Cái hồi nghèo không đồng xu cạo gió, không cục đất chọi chim, ba anh lại trốn quân dịch nên cả nhà Sáng bồng bế nhau xuống ghe trôi nổi làm mướn khắp nơi. Sáng còn bồng nèo nẹo bên nách thì má anh sinh em bé. Hoàn cảnh khó khăn, Sáng hồi đó ốm đói quặt quẹo, hay đau, mũi lúc nào cũng chảy nước chèm nhẹp. Em nhỏ lại bị sài đẹn, khóc ngằn khóc ngặt, không bú được. Không thể cứu một lúc cả hai, má anh buộc phải cho người ta đứa em gái nhỏ.

Nghe Sáng kể lờ mờ tôi nhận ra một sự thật. Là Xuyến. Không thể tin được, bàng hoàng quá phải không anh nhà văn. Giống như cải lương, ừ tuồng gì mà Vũ Linh đau khổ tới lăn ra đất vừa giãy vừa khóc đó, Hòn Vọng Phu, ờ, hơi giống Hòn Vọng Phu.

Vợ tôi hồi đó cũng khờ quá. Thương thầm Sáng mà không chịu nói thẳng, cứ nói xa nói gần. Hỏi Sáng sao không lấy vợ, anh trả lời, chờ cô Xuyến lấy chồng cái đã. Hỏi sao cứ mỗi lần về Rạch Giồng lại mua quà cho chi vậy, Sáng trả lời, tôi chẳng còn ai, cô Xuyến là người thân nhất. Thân nhất rồi mai mốt em có chồng, anh Sáng có buồn không, Sáng trả lời, chuyện vui của cô mà, tôi nói buồn coi sao được, nhưng nói thiệt, tôi buồn, cô nhỏ đi rồi, đâu còn gặp nữa, năm tới tôi xuống buồn cho mà coi. Sáng trả lời thật lòng, nhưng cũng thật thận trọng từng chữ để khỏi phải hớ hênh, Xuyến thì cứ tưởng Sáng gửi tình vào trong ấy. Rồi một bữa Xuyến đi gom củi ngoài hậu vườn, gặp Sáng, Sáng bảo, anh cầm vịt ở đây hết mùa nầy rồi chắc lâu lắm mới quay trở lại. Hết mùa gặt nầy, anh sẽ rã bầy để mua cái gì có giá trị một chút làm quà cưới cho Xuyến, anh hứa sẽ ở lại đưa dâu qua tới nhà trai.
Những lời nói đó là Xuyến mủi lòng khủng khiếp, cô quyết định không lấy tôi. Xuyến nói tôi buồn còn nhiều người an ủi, nhưng Sáng buồn chỉ có một mình, tụi vịt tối ngày lạc cạc có biết gì đâu...

Nhưng sau cái hôm đàn vịt của Sáng lăn ra chết không còn một con, Sáng đã đi khỏi Rạch Giồng. Tôi đứng nhìn chiếc ghe khuất mất sau doi dừa nước lặng lẽ làm một cuộc tiễn đưa. Tối lại, Xuyến tuyệt vọng hỏi tôi sao Sáng đi mất tiêu mà không từ giã gì cổ hết... Tôi bảo không biết. Cứ mỗi lần có chiếc ghe bầu nào đi ngang qua, Xuyến lại chạy chấp chới theo triền sông tới khi chiếc ghe khuất dạng mới thôi. Nhớ lại cái cảnh đó, tới bây giờ tôi còn thương.

Không giống như chuyện Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sáng đã không còn con vịt nào để rứt lông để lại để tôi với Xuyến lần theo dấu. Vậy mới vất vả.

Anh nhà văn à, anh đi nhiều, nghe truyện, tôi chắc anh lăn lộn trong giới nuôi vịt chạy đồng dữ lắm. Nếu mai nầy anh còn tính đi tiếp, có gặp anh Sáng, nhắn dùm ảnh là vợ chồng tôi chờ ở Rạch Giồng. Hồi đó, Sáng đi là để cho vợ tôi nó khỏi đau đớn, bẽ bàng, để giữ lời hứa muôn năm với ông bà già vợ tôi. Nhưng bây giờ, hết thảy mọi người đều mong anh trở lại, thâm tình cũng như nước dưới sông, có chảy đi đâu, có chém vè ở đâu cũng hợp lại một dòng xuôi chảy mãi.

(Ảnh sưu tầm)

Blog Archive