Showing posts with label Biển Cát. Show all posts
Showing posts with label Biển Cát. Show all posts

Friday, August 21, 2026

Màu Vàng Của Gió














LTS: Sau khi bài viết này được đăng vào hôm qua, ngày 14 tháng 8, tòa soạn và giải thưởng VVNM nhận được tin tác giả Biển Cát đã giã biệt chúng ta vào một ngày tháng Sáu. Đây là bài cuối cùng tòa soạn nhận được từ tác giả, chỉ vài ngày trước khi bà đột ngột ra đi. Ban tuyển chọn VVNM và tòa soạn Việt Báo xin trân trọng thắp nén hương tưởng nhớ tác giả và gửi lời cầu nguyện, phân ưu đến các cháu và tang quyến.

Tác giả tên thật là Trần Hương Thủy, từng sống tại South Carolina. Bà bắt đầu tham giải thưởng VVNM vào tháng bảy năm 2022, nhanh chóng trở thành một trong những cây bút được yêu mến và đọc nhiều nhất trong giải thưởng VVNM. Bà đã nhận giải Vinh Danh Tác Phẩm 2023 và mới đây tiếp tục nhận giải Vinh Danh Tác Giả 2025. Bài viết mới nhất (và cuối cùng) của bà gửi cho tòa soạn là câu chuyện buồn về một người mẹ lần theo màu vàng của hoa dã quỳ để tìm mộ đứa con trai yêu dấu, một người lính trẻ VNCH đã ngã xuống trong những ngày cuối tháng 4 -1975 trên chiến trường Pleiku-Việt Nam.

***

“Ở lại nhé anh
Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió
Tan vào hư không
Tuổi mười tám rạng ngời “ (BC)

Mùa đông ở vùng ngoại ô Virginia không có khái niệm về sự dịu dàng. Nó là một khối xám xịt của bầu trời mọng nước, chuẩn bị đổ xuống những cơn mưa tuyết mù mịt. Trong căn bếp nhỏ của gia đình, bà Liên ngồi bên bậu cửa sổ, nhìn ra hàng rào sắt đang đóng một lớp băng mỏng.

Bà đã sống ở đây gần năm mươi năm, nhưng dường như tâm hồn bà chưa bao giờ thực sự đi qua khỏi cửa sân bay. Bà sống trong một “ốc đảo” của riêng mình. Trong căn bếp đó, mùi nước mắm kho cá luôn đánh vật với mùi lavender từ chiếc máy xịt phòng tự động mà chị Hai gắn trên tường. Trên tivi, những bản tin tiếng Anh của đài CNN trôi qua tai bà như tiếng gió hú ngoài khe cửa.

Chị Hai thường gọi thói quen của bà là “hội chứng tích trữ của người di dân”. Trong tủ bếp, bà xếp ngay ngắn hàng chục chiếc hộp thiếc cũ: hộp bánh quy gỉ sét, hộp đựng trà, hay những chiếc lọ thủy tinh rỗng. “Mẹ giữ mấy thứ này làm gì cho chật nhà?” – Chị Hai vừa hỏi vừa vứt một xấp quảng cáo vào thùng rác.

Bà Liên chỉ im lặng, bàn tay nhăn nheo vuốt ve cạnh sắc của một nắp hộp. Bà không biết giải thích sao cho con hiểu. Bà giữ chúng vì bà luôn có cảm giác mình đang chờ đợi một thứ gì đó để đựng. Một nhúm đất quê nhà? Một kỷ vật từ quá khứ? Hay chỉ đơn giản là bà sợ nếu không có những chiếc hộp này, những ký ức mong manh của bà sẽ tan biến hết vào cái không gian lạ lẫm, thơm mùi xà phòng và lạnh lẽo này của nước Mỹ.

Nhưng có một thứ không chiếc hộp nào đựng nổi: Màu vàng. Dạo gần đây, bà bắt đầu mơ thấy màu vàng thường xuyên hơn. Không phải màu vàng của nắng Virginia – thứ nắng yếu ớt và nhợt nhạt – mà là một màu vàng đặc quánh, rực rỡ đến đau đớn. Đó là màu hoa Dã quỳ trong lá thư cuối cùng của Bình.

Bà nhớ về buổi sáng cuối năm 1974 ấy, khi lệnh tổng động viên ập đến nhà như một cơn lũ dữ. Bình khi đó mới mười tám tuổi, cái tuổi mà người ta nên mơ về những giảng đường đại học hay những cái nắm tay thẹn thùng.

Bà nhớ bức hình duy nhất Bình chụp gửi về trong bộ quân phục. Nó quá rộng. Bình gầy quá. Đôi cầu vai như xệ xuống, trông anh không giống một người lính đi bảo vệ đất nước, mà giống một đứa trẻ đang mặc trộm đồ của người lớn để đi chơi hội.

“Con đi rồi con về. Mẹ nhớ giữ chiếc radio cho con nhé, con mới thay cái tụ điện nửa chừng,” Bình nói, nụ cười có chiếc răng khểnh hiện ra dưới làn bụi mịt mù khi chiếc xe Honda của chị Hai nổ máy chở anh đi.

Chiếc radio đó vẫn nằm trong hộc tủ ở Virginia, hỏng hóc và im lìm. Bình đã không bao giờ trở về để hoàn thành nốt mối hàn còn dở. Cuộc di tản cuối tháng Tư năm đó đã cuốn bà đi, để lại Bình ở phía bên kia đại dương, trong một vùng sương mù mang tên Pleiku. Tin báo tử đến với bà trên một trại tị nạn ở đảo, khô khốc và ngắn ngủi đến mức bà không tin đó là sự thật. Làm sao một chàng trai mười tám tuổi, người vẫn còn hay quên tắt đèn trước khi đi ngủ, lại có thể tan biến vào đất đá nhanh đến thế?

“Hai à,” bà Liên gọi, giọng bà khàn đặc nhưng kiên định. “Mẹ phải về. Mẹ phải tìm nó.” Chị Hai dừng tay trên bàn phím laptop, thở dài: “Mẹ lại nói chuyện đó. Đã gần năm mươi năm rồi, bây giờ về đó biết tìm ở đâu? Pleiku đâu có nhỏ, rừng núi không chứ có phải cái sân sau nhà mình đâu mẹ?”

“Mẹ không tìm rừng núi,” bà Mỹ nhìn vào chiếc hộp thiếc rỗng trên tay, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên một tia sáng lạ lùng. “Mẹ tìm màu vàng. Bình nó nói hoa Dã quỳ ở đó đẹp lắm. Nó đang đợi mẹ ở đó.”

Chị Hai nhìn mẹ, rồi nhìn ra cơn mưa tuyết đang bắt đầu nặng hạt bên ngoài. Chị nhận ra rằng, nếu không đưa mẹ về, thì mùa đông trong trái tim bà sẽ không bao giờ kết thúc.

Trong lòng người mẹ, sự chờ đợi âm ỉ dấu kín từ bao năm đã trở thành nỗi nôn nóng, thúc giục. Bà bảo chị Hai đặt vé về Việt Nam ngay trong tháng. Một mặt, bà chuẩn bị hành lý. Hành lý của bà không cần nhiều quần áo, nhưng có những thứ Bình thích ngày nào: một hộp kẹo chocolate, một hộp bánh đậu xanh, cái quần jean xanh lúc đó bà hứa mà chưa kịp mua cho con, một chiếc áo len bà đan dở định gửi cho con – nhưng không kịp. Và còn nữa. Một chiếc khăn tay trắng để Bình lau nước mũi, vì anh hay bị dị ứng.

Cả ngày, bà cứ săm soi chiếc vali, thỉnh thoảng lại hỏi chị Hai:

– Con coi còn thiếu món nào cho nó không?

Mấy lần chị Hai định buột miệng nói – má đem lỉnh kỉnh làm gì cho nặng. Nó đâu còn mà dùng những thứ đó. Nhưng nhìn ánh mắt bà, chị lại nuốt tiếng thở dài vào trong.

Những ngày ở Pleiku trôi qua trong một thứ thời gian lỏng, không đầu không cuối. Bà Liên và chị Hai đi từ nơi này sang nơi khác, từ văn phòng cũ kỹ sang những ngôi nhà mới xây, nơi người ta lắc đầu nhiều hơn là trả lời. Thành phố đã thay da đổi thịt. Những con đường đất đỏ ngày xưa Bình nhắc trong thư nay đã tráng nhựa, phẳng lì và xa lạ. Rừng bị đẩy lùi. Đồi trọc lởm chởm những móng nhà.

Tin tức về những ngày tàn cuộc chiến chỉ còn là những mảnh rời rạc, truyền miệng, mờ như sương sớm. Người nhớ người quên. Tên Bình không ai nhận ra. Có người bảo có, rồi lại lắc đầu. Có người chỉ tay về một hướng mơ hồ, như thể chỉ về một giấc mơ đã cũ.

Mỗi buổi tối, bà Liên ngồi lặng bên cửa sổ nhà trọ, nhìn ra những dải đèn vàng kéo dài trên phố. Màu vàng ấy không phải thứ bà tìm. Nó lạnh và xa lạ, không có mùi gió thơm nồng quyện lao xao tiếng lá. Trong lòng bà, một nỗi trống trải lan ra chậm rãi, như nước thấm vào đất khô.

Hết tuần thứ hai, chị Hai nói nhỏ:
– Mẹ… mình về thôi.

Bà Liên không trả lời. Bà biết. Bà đã biết từ lâu. Nhưng vẫn có điều gì đó trong bà chưa chịu buông.

Sáng hôm ấy, trên đường đi bộ ra đường cái để đón xe về, gió từ đâu thổi tới, mang theo một mùi ngai ngái quen thuộc. Bà Liên chậm lại. Rồi dừng hẳn. Bên con đường đất nhỏ, khuất sau một hàng rào gỗ cũ, là một khu vườn dã quỳ rực rỡ. Những bông hoa vàng đặc quánh, chen chúc, nghiêng mình trong gió. Màu vàng không nhợt nhạt. Không lẫn lộn. Nó sáng đến nhức mắt – đúng thứ màu bà đã mang theo suốt nửa thế kỷ trong ký ức. Đôi chân bà như không còn nghe lời. Bà bước vào, bươn bả, lặng lẽ, như người mộng du. Chị Hai gọi với theo.

Nhưng bà Liên không nghe thấy. Bà như người mất hồn. Gió từ thung lũng thổi ngược lên, mang theo một thứ mùi ngai ngái của đất ẩm và một mùi hương thanh khiết, hăng hắc mà bà đã không ngửi thấy suốt mấy mươi năm. Bà bắt đầu bước đi. Bước chân của người đàn bà gần tám mươi tuổi bỗng trở nên hối hả, như thể có một sợi dây vô hình đang kéo bà đi về phía một khu vườn nhỏ nằm khuất sau rặng thông.

Đó là một biển hoa Dã quỳ. Chúng không mọc lố nhố vài bông như bên đường, mà dầy đặc, kết thành một bức tường vàng rực rỡ dưới nắng chiều. Màu vàng đó mạnh đến nỗi nó làm bà lóa mắt. Bà bước vào giữa những tán hoa cao quá đầu người. Chị Hai chạy theo sau, miệng không ngừng gọi mẹ, nhưng rồi cũng phải im bặt khi nhìn thấy ngôi nhà nhỏ nằm im lìm giữa lòng hoa.

Một người phụ nữ trung niên bước ra khỏi hiên nhà, trên tay là một rổ đầy những đài hoa khô. Cô nhìn bà Liên, nhìn bộ quần áo quá lịch sự so với vùng đất này, rồi nhìn vào đôi mắt đỏ hoe của bà. Bà Liên lắp bắp khen hoa đẹp, đẹp lạ lùng, không giống bất cứ vườn hoa nào bà từng thấy. Người phụ nữ mỉm cười, rồi kể, như thể đã kể câu chuyện ấy rất nhiều lần.

Ngày xưa, mấy chục năm trước, những ngày cuối cùng của cuộc chiến, có một thanh niên trẻ gục xuống trước cửa nhà. Cha cô thương tình, đem chôn phía sau vườn. Từ đó, dã quỳ mọc lên, lan ra, phủ kín mảnh đất ấy. Hoa năm nào cũng nở rộ, bất chấp nắng mưa.

Bà lặng người, quay nhìn ra cổng, tưởng như nhìn thấy con đang nằm đó, máu chảy từ lồng ngực loang đỏ áo, thấm từng giọt vào lòng đất. Người phụ nữ dẫn họ ra sau nhà. Ở đó, có một khoảng đất trống nhỏ được bao quanh bởi những gốc Dã quỳ cổ thụ, thân to như cánh tay người lớn. Giữa những gốc hoa là một nấm mồ đất thấp, không ốp gạch, không có những vòng hoa sặc sỡ, chỉ có một tấm bia xi măng nhỏ đã mọc rêu xanh. Trên đó, dòng chữ khắc bằng tay đã mờ đi nhưng vẫn đủ để đọc được: 25.04.1975.

“Cha tôi kể lại,” người phụ nữ vừa thắp nén nhang vừa nói, “vào cái ngày cuối tháng Tư đó, khi đoàn quân tan rã chạy qua đây, chợt một người lính trẻ gục xuống ngay cổng. Anh ấy không có giấy tờ tùy thân, chỉ có một lá thư viết dở gửi về cho mẹ ở Sài Gòn. Cha tôi thương tình, đưa vào đây chôn cất. Cha nói: Người sống có cái nhà, người chết có nấm mồ. Đừng để chú ấy nằm lạnh lẽo bên đường.”

Bà Liên quỵ xuống. Bà không khóc thành tiếng, mà là một tiếng nấc nghẹn từ sâu trong lồng ngực. Bà chạm tay vào nấm đất. Đây rồi. Đứa con trai mười tám tuổi của bà, người đã hứa sẽ về sửa nốt chiếc radio, người đã bị chiến tranh vặn vẩy và ném sang một bên chỉ vài ngày trước khi tiếng súng ngưng hẳn. Lúc này, bà mới thấy cuộc chiến vô lý đến mức nào.

Bình nằm đây, dưới gốc hoa này, trong khi bà ở bên kia đại dương, ngày ngày nhìn ra tuyết trắng. Anh đã ở đây năm mươi năm, cô độc dưới một nắm mồ không tên tuổi. Máu anh đã đổ xuống thấm sâu vào đất, để nuôi dưỡng cho cái màu vàng rực rỡ đến nhói lòng.

Một cơn gió từ thung lũng thổi qua, làm những cánh hoa Dã quỳ rung rinh. Từ trong nấm mộ, một hạt bụi nhỏ li ti – có lẽ là tro nhang, có lẽ là phấn hoa, hay có lẽ là một mảnh linh hồn – bay lên. Nó xoay vòng trong không trung một lát rồi nhẹ nhàng đậu xuống, bám vào một sợi tóc bạc sát vành tai của bà Liên. Bình thì thầm trong tiếng gió : “Con về đây với mẹ rồi. Mẹ đừng tìm con trong những chiếc hộp thiếc nữa…”

Chị Hai nghẹn ngào cúi xuống cắm nén nhang trên mộ Bình. Ánh mắt chị dừng lại trên tấm bia không tên trơ trọi.

Chị thì thầm trong nước mắt:
– Bình ơi, chị sẽ khắc thêm dòng chữ Nguyễn Thanh Bình vào đây nhé. Từ nay em không còn vô danh nữa. Em đã tìm lại tên mình rồi.

Trên chuyến bay rời Việt Nam, khi máy bay bắt đầu lăn bánh, bà Liên nhắm mắt. Trong tiếng động cơ trầm đục, bà mơ hồ nghe một tiếng thì thầm quen thuộc. Gió lướt ngang mặt bà, ấm và nhẹ, như một nụ hôn vội.

– Mẹ về bình an nhé. Con phải ở lại đây… cùng bạn bè. Mảnh đất này đã thấm máu của chúng con.

Khi máy bay cất cánh, hạt bụi nhỏ rời khỏi mái tóc bà, trôi ngược vào không trung, theo gió quay về khu vườn dã quỳ. Ở đó, màu vàng tiếp tục nở, tiếp tục lay động – không để giữ, mà để nhớ.

Bà Liên ngồi yên cho đến khi tiếp viên nhắc cài dây an toàn. Bà không quay đầu nhìn lại. Có những cuộc chia tay, nếu ngoảnh lại, sẽ không thể đi tiếp được nữa. Chiếc vali nhỏ nằm dưới chân bà. Những món đồ bà mang theo cho Bình vẫn còn nguyên, nhưng bỗng dưng không cần trao nữa. Chúng đã hoàn thành chuyến đi của mình. Và xếp cạnh bức thư cuối cùng của anh như những kỷ vật không thể nào thất lạc.

Bên ngoài cửa sổ, mặt đất thu nhỏ dần, màu xanh chồng lên màu nâu, rồi tan vào mây trắng. Bà Liên đặt bàn tay lên ngực, nơi có một khoảng trống vừa đủ để thở.

Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, bà hiểu rằng: con bà không lạc mất. Con đã làm tròn bổn phận của một người chiến sĩ – nằm xuống và ở lại cùng mảnh đất quê hương.

Biển Cát

Friday, June 27, 2025

Bữa Cơm Nhà


TG Biển Cát (thứ 2 từ phải) đoạt giải Vinh Danh Tác Phẩm VVNM 2023

***
Đây không chỉ là câu chuyện nhà họ. Mà đâu đó, chúng ta sẽ thấy bóng mình trong đó. Trong những nhọc nhằn gian khổ bước đầu. Trong giọt nước mắt tủi thân, bất lực. Trong mơ ước nhỏ nhoi, bình dị của một con người - có một việc để làm, một mái nhà để trú, một cuộc đời hạnh phúc, an yên bên gia đình. Chúng ta sẽ dễ dàng có được sự gần gũi và đồng cảm với họ. Vì tất cả cùng một phận đời di dân.

*
Chiều muộn, màu nắng vàng nhường chỗ cho bóng tối nhẹ nhàng buông xuống. Từ trạm xe buýt về nhà, mẹ Hoa đã vội vã chuẩn bị nấu ăn. Nồi cơm đã được Khoa cắm từ lúc đi học về. Mẹ cẩn thận nhấc nắp nồi xem lại, sợ cu cậu quên bấm nút nấu, thì cả nhà không có cơm ăn.

Mẹ loay hoay lấy mọi thứ trong tủ lạnh ra. Cuối tuần, nhà sẽ đi chợ một lần rồi sắp sẵn cho những bữa ăn mỗi ngày. Mẹ nhớ lắm những buổi chợ quê nhà, có thịt cá tươi roi rói, rau cải vừa hái còn thơm nồng mùi đất ẩm, người mua kẻ bán gọi nhau ơi ới. Mỗi sáng là xách giỏ ra chợ, chứ không như ở đây, công việc tất bật, làm gì có thời gian thong thả như thế.

Tay mẹ Hoa thoăn thoắt cắt từng miếng cà chua, bạc hà, rau om. Nước vừa sôi là bỏ cá vào. Đợi cá chín, mẹ nêm nếm cho vừa miệng, rồi thả rau rác vào. Có canh chua thì không thể thiếu nồi cá kho. Đó là món mà hai cha con rất thích.

Cha Long cũng vừa về. Vừa nghe tiếng xe cha ngoài sân, Khoa đã chạy ra mở cửa đón. Tiếng hai cha con rộn rã nói cười làm mẹ cũng vui lây .

Khoa phụ mẹ dọn thức ăn ra bàn và xới cơm cho mọi người. Cha ngồi xuống, nhìn mâm cơm, hít hà :

- Nhìn canh chua, cá kho là thấy đói bụng rồi.

Khoa bưng chén lên:
- Con mời ba mẹ ăn cơm.

Mẹ rướn người giẻ miếng cá cho Khoa và cho ba. Khi nhìn lại chén cơm mình, mẹ ngơ ngác thấy khứa cá kho nằm sẵn lúc nào. Ba và Khoa cùng nháy mắt cười.

Suốt ngày, ai cũng bận rộn với công việc riêng, chỉ có bữa cơm tối, là lúc mọi người được ngồi quây quần sum họp bên nhau. Như chim trời, dù có rong ruổi đâu đó, thì cuối ngày cũng theo đàn về tổ. Dưới ánh đèn vàng ấm cúng, bao mệt mỏi dần tan biến, nhường chỗ cho tình yêu thương và nung đúc những cố gắng, niềm tin vào cuộc sống, dù còn rất gian nan.

Những lúc Khoa được hạng A trong kỳ kiểm tra, ba mẹ không thưởng những món quà đắt tiền, mà chỉ là nấu món ăn ngon con thích. Có khi là tô phở gà thơm ngon, béo ngậy, hay dĩa chả giò giòn rụm. Khoa biết, nhà mình không có điều kiện, nhưng với Khoa, đó đã là những món quà quý giá nhất không có gì so bì được.

Gia đình nhỏ ấy, dù xa quê hương, nhưng vẫn duy trì được nếp nhà, tình thân, sự cố gắng và khát vọng bền bỉ.

Mẹ Hoa khẽ mỉm cười nhìn Khoa hí húi rửa chén sau bữa cơm. Trong mắt mẹ là cả một chặng đường - không phải là quãng thời gian được đo bằng năm tháng, mà bằng từng ngày, từng bước con đi lên giữa bao lạ lẫm.

Ngày đến trường đầu tiên ở Mỹ, Khoa nhỏ xíu, mang ba lô to trên lưng, lo lắng lẫn sợ hãi nép vào mẹ. Mẹ nhớ cái nắm tay run run của con hôm đó và ánh mắt ngước lên như dò hỏi: “ Con có ổn không mẹ?”

Khoa không hiểu bài giảng, không biết chơi với ai, không thể hòa đồng cùng các bạn vì không biết tiếng Anh. Về nhà, con im lặng suốt giờ cơm. Khi ba hỏi:

- Có chuyện gì vậy con?

Lúc đó, con mới thút thít tuôn hết mọi ấm ức:
- Các bạn không ai chơi với con hết.

Thương con đến xót lòng, mẹ cùng làm bạn đồng hành với con từng ngày. Thời gian đầu, ba làm overtime rất nhiều. Buổi tối, mẹ vừa làm việc nhà, vừa giúp con luyện tiếng Anh. Cũng may là mẹ đã tốt nghiệp lớp 12, nên cũng có chút vốn liếng ngoại ngữ. Và Khoa cũng đã cố gắng rất nhiều. Mỗi từ vựng mới là một chiếc cầu con tự bắc. Mỗi lần giơ tay trả lời câu hỏi của thầy cô là một chiến thắng nho nhỏ. Thầy cô khen Khoa thông minh, chịu khó. Bạn bè bắt đầu cười với con, rủ con chơi cùng.

Ba Long từng đứng im, lặng lẽ nhìn con cắm cúi làm bài. Nhà nghèo, lại sớm mồ côi cha, nên ba chỉ mới học đến lớp 7; kiến thức không đầy một bàn tay, làm sao ba giúp con được gì. Ba thường áy náy trách bản thân:

- Mình chỉ biết đổ bê tông, vác gạch. Làm sao dạy cho con vượt qua được rào cản ngôn ngữ để hòa nhập với trường lớp đây?

Nhưng rồi ba tự nhủ, chỉ cần ba cố gắng mỗi ngày, con sẽ thấy được và cũng sẽ cố gắng theo ba.

Tối đó, sau khi dọn dẹp, ba cùng mẹ ngồi trên băng ghế trước hiên nhà nghỉ ngơi. Ba ngước mắt nhìn những vì sao lấp lánh trên bầu trời cao, thứ duy nhất không thay đổi kể từ ngày họ rời quê hương đến đây. Mẹ khoác thêm chiếc áo khoác cũ. Thời tiết vừa chuyển mùa, thoảng chút lạnh của cơn gió se se.

Khoa mang tập vở ngồi vào bàn bên cửa sổ. Em muốn ngồi làm bài gần bên ba mẹ. Tiếng bút chì lướt nhẹ trên trang giấy. Ánh đèn hắt xuống mái tóc non tơ, vàng óng như màu mật ong ngọt dịu.

Mẹ đưa mắt nhìn con. Dù không thốt ra, nhưng trong lòng mẹ là bao điều chất chứa. Những tháng năm chật vật mưu sinh, đồng lương công nhật ít ỏi, những ngày bệnh không dám nghỉ vì sợ bị mất giờ. Tất cả những điều đó mẹ chưa hề than vãn. Vì mẹ nghĩ, chỉ cần con học giỏi, thành tài, là những nhọc nhằn ấy đều đáng để đánh đổi. Chợt nhớ chuyện ban sáng, mẹ kể lại cho ba nghe:

- Hôm nay khi mẹ đang lau sàn ở Mall, có một gia đình Mỹ vẫn thản nhiên dẫm qua, dấu chân in từng vệt trên sàn còn ẩm ướt. Mẹ khựng lại một thoáng. Nhiều lần xảy ra như vậy, nhưng lần nào mẹ cũng buồn vì sự vô tâm của mọi người. Nhưng chợt đứa con gái nhỏ la lên: “ Dad, Mom! Mình đi hướng khác đi. Cô đang lau nhà mà.”

Câu nói của cô bé ấy khiến mẹ vui lại, vì cảm thấy công sức mình được trân trọng.

Ba xiết tay mẹ như sự chia sẻ ấm áp. Bằng giọng trầm trầm, ba nói:

- Ở công trường hôm nay có căn nhà vừa hoàn tất. Nhìn nó, ba nghĩ đến một ngày nào gia đình mình sẽ sở hữu một căn nhà riêng. Nhà sẽ có mảnh vườn nhỏ cho mẹ trồng rau trái, có phòng học cho con.

Mẹ rưng rưng:
- Rồi mình sẽ có được một căn nhà như thế, phải không ba? Chúng ta đã đi được một phần đường rồi…

Ba gật đầu, mỉm cười với mẹ. Thành phố ngoài kia vẫn rộn ràng với dòng xe xuôi ngược như mắc cửi, những tòa nhà cao tầng lấp lóa sáng ánh đèn. Đêm nơi căn apartment cũ kỹ này không tràn ngập sắc màu, chỉ có ánh sao lung linh như niềm tin ngời ngời trong mắt họ. Niềm tin rất giản dị mà thiêng liêng vô cùng - là được sống, được học tập, được làm việc và được yêu thương, dù phải trải qua bao gian khó và bất trắc trên một vùng đất mới, nơi họ đã đến và ở lại như một bến đỗ bình yên.

Khoa dừng bút, góp lời:
- Con hứa sẽ học thật giỏi, làm việc kiếm tiền lo cho ba mẹ. Ba không phải làm việc ở công trường. Mẹ không phải lau dọn trong Mall. Con cũng sẽ mua nhà cho gia đình mình nữa. Con hứa con làm được mà!

Cả ba người cùng cười. Không ai nói thêm lời nào cả. Nhưng trong lòng họ, một mơ ước đã thành hình.

Khuôn viên Georgia Tech sáng hôm nay rực rỡ ánh nắng đầu thu, cờ phướn tung bay khắp nơi, chào đón hằng ngàn tân sinh viên từ các tiểu bang trên đất nước đổ về. Sân trường đông nghịt, tiếng nói cười xen lẫn tiếng nhạc, tiếng thông báo vang lên từ hệ thống loa, tạo nên không khí long trọng, nhưng không kém phần ấm áp.

Khoa đứng giữa dòng người đông đúc ấy, gương mặt căng thẳng, tim đập thình thịch. Trong lòng anh đang lên một cảm xúc rất lạ - vừa tự hào, hồi hộp, lại vừa thương ba mẹ vô hạn.

Cách đó không xa, ba mẹ Khoa đang cố tìm chỗ đứng vừa đủ nhìn thấy con mình rõ hơn. Ba mặc bộ vest xám mới mua, có vẻ hơi chật vai, vẻ ngượng nghịu, nhưng ánh mắt thì không rời Khoa một giây. Mẹ mặc váy nâu, tóc búi cao. Mẹ cũng hơi ngượng nghịu vì không quen với không khí đông người. Dù không hiểu hết những lời giới thiệu vang lên trên sân khấu, nhưng nụ cười tự hào và hạnh phúc vẫn nở mãi trên môi mẹ.

Khoa ngoái nhìn lại, bắt gặp ánh nhìn của mẹ đang dõi theo mình. Tim Khoa nhói lên một chút. Khoa hít sâu một hơi “Con đã đến đây rồi ba mẹ à.” Giữa hàng ngàn tân sinh viên, Khoa không hề thấy lạc lõng. Vì đã có tình yêu thương của hai con người gần đó tiếp sức cho anh.

Buổi lễ kết thúc. Ba lái xe đến khu ký túc xá sinh viên. Chiếc xe chạy vòng qua những con đường đông như mắc cửi của thành phố, rồi dừng lại ở bãi đậu. Mẹ giữ tay áo của ba, như để giữ lại một điều gì đó đang dần xa. Ba nhìn chung quanh, không giấu nỗi xúc động. Đây là lần đầu tiên ba đưa con đến một thế giới mà ba không hiểu hết, nhưng lại đặt vào đó tất cả niềm tin.

- Ba mẹ. đừng buồn nha… Khoa nói, giọng nghèn nghẹn. - Con đi xa, rồi con sẽ thành đạt trở về. Con hứa …

Mẹ gật đầu, cố nén nước mắt. Mẹ không muốn khóc khiến con chùng lòng trước hành trình mới. Mẹ nắm chặt tay Khoa, như sợ chỉ cần buông ra là con sẽ biến mất khỏi thế giới gần gũi này.

Ba chỉ gật đầu nhẹ, bàn tay đặt lên vai con trai. Cái siết tay ấy không cần lời nào, nhưng chứa đầy tình thương và dặn dò. Ba không quen nói nhiều, nhưng trong mắt ba, Khoa đọc thấy cả một trời yêu thương.

Khoa bước vào ký túc xá. Không ngoái đầu lại. Khoa sợ mình sẽ không cầm lòng được nếu nhìn thấy mẹ khóc. Nhưng Khoa biết, phía sau lưng, có hai người vẫn đứng đó - dõi theo, chờ đợi, và luôn ở đó, bất kể mai đây anh thành công hay thất bại.

Chiều muộn ở thành phố Atlanta, trời hơi lành lạnh, từng chiếc lá vàng chao nghiêng trong làn gió đầu thu.Trong căn phòng ký túc xá đơn sơ của trường, Khoa ngồi lặng nhìn qua cửa sổ. Ngoài kia, ánh đèn dường lờ mờ, mùi đồ ăn từ nhà hàng người Hoa gần đó bay thoang thoảng, làm anh chợt nhớ quay quắt đến những bữa cơm nhà.

Căn bếp nhỏ trong khu apartment cũ kỹ, nơi gia đình anh sống, giờ chắc vang lên tiếng xèo xèo của chảo dầu, tiếng dao thớt gõ đều tay của mẹ. Giờ này chắc ba cũng về rồi. Ba đang lúi húi lau bàn ăn, thỉnh thoảng dừng tay lắng nghe bản tin tiếng Việt của đài CNN. Buổi cơm thiếu mất Khoa, không biết ba mẹ đã quen chưa, hay vẫn còn buồn lắm. Khoa nhớ vô cùng miếng cá kho tiêu thơm lừng, gắp cùng một chút rau muống luộc, và theo miếng cơm trắng dẻo… Những bữa cơm không có gì đặc biệt, nhưng luôn ấm cúng, chan đầy tình thương.

Ba làm công nhân xây dựng. Nắng gió công trường làm da ba đen sạm. Xi măng, sỏi cát làm bàn tay ba sần lên những vết chai. Mẹ dọn dẹp ở Mall. Mỗi ngày, mẹ lau quét bao nhiêu dãy hành lang, bao nhiêu cửa tiệm. Khoa biết từng đồng học phí, từng phần ăn của anh ở trường, điều là mồ hôi của ba mẹ. Mỗi lần gọi điện thoại, mẹ hay hỏi:

- Con có ăn đủ không? Áo quần có đủ ấm không con?

Ba thì chỉ lặp lại mãi một câu:
- Con ráng lo học đi nghe. Đừng có lo gì ở nhà hết.

Thương ba mẹ, Khoa nhủ lòng phải cố gắng thật nhiều. Ngoài giờ học, anh xin làm thêm ở thư viện, để có thêm chút thu nhập. Buổi tối, sau khi hoàn tất bài vở ở trường, Khoa lại học thêm code đến nửa đêm.

Có những hôm Khoa từ trường về, mưa rơi trắng xóa, gió thổi lồng lộng lạnh thấu xương. Chuyến xe buýt cuối ngày vắng hoe, một Khoa ngồi lẻ loi bên cửa, bụng đói meo, người run lên như muốn sốt. Nhưng mỗi lần mệt mỏi muốn buông xuôi, Khoa lại nghĩ đến ba - với cái lưng còng xuống vì bao xi măng nặng; và mẹ - đôi bàn tay nứt nẻ vì nước lau sàn mùa đông.

Trời không phụ lòng người. Sự cố gắng của Khoa đã được đền bù xứng đáng sau bốn năm. Với thành tích học tập xuất sắc, lại tốt nghiệp từ một trường đại học danh tiếng, Khoa đã nhận được thư mời phỏng vấn của Google.

Vòng phỏng vấn kéo dài hai tuần. Khoa ôn bài đến hai, ba giờ sáng, luyện coding với bạn bè qua zoom, nghiên cứu những câu hỏi kỹ thuật. Mỗi khi mệt mỏi, anh mở video cả nhà đang ngồi bên bàn ăn, ba mẹ cùng cười khi thấy anh húp ngon lành chén chè đậu - và tự nhủ: “Mình không được bỏ cuộc”.

Cuối cùng, Khoa nhận được tin vui từ Google. Không một lời nào có thể diễn tả được niềm hạnh phúc đó. Khoa gọi điện thoại về ngay cho ba mẹ:

- Con làm được rồi. Ba ơi… Mẹ ơi… Google nhận con rồi.

Ba năm sau…

Chiếc xe SUV màu xám trườn nhẹ vào khu dân cư yên tĩnh ở ngoại ô. Khoa bước xuống, mở cửa xe cho ba mẹ. Cả hai ngỡ ngàng nhìn ngôi nhà màu kem hai tầng, có sân cỏ xanh mướt phía trước và những chậu hồng nhung đỏ thắm mà mẹ thích.

Khoa mỉm cười nói với ba mẹ:
- Nhà mình đó, ba mẹ. Con đã hứa rồi mà - Con đi xa rồi sẽ thành đạt trở về.

Mẹ nghẹn ngào, nước mắt rơi lăn dài theo vết nhăn nơi khóe mắt. Ba chỉ lặng lẽ vỗ vai con trai, không nói gì, nhưng đôi mắt đỏ hoe. Khoa đưa ba mẹ vào nhà, căn bếp ấm cúng đã sẵn bữa ăn chiều anh nấu - canh cải bẹ xanh, cá kho tộ và chén nước mắm có vài lát ớt.

- Con thử kho theo cách mẹ vẫn làm. Chắc cũng …không dở lắm đâu. Khoa vừa nói, vừa giẻ cá vào chén cho ba mẹ.

Mẹ cười, lau nước mắt:
- Chỉ cần con nghĩ tới, là ba mẹ đã vui rồi.

Cả nhà ngồi quây quần quanh bàn ăn. Ngoài trời nắng chiều dịu dàng đổ bóng sau khung cửa. Giấc mơ của ba mẹ, niềm hy vọng của Khoa, sau bao năm đã thành sự thật.

Sau bữa ăn, cả nhà cùng ra phòng khách. Khoa châm trà mời ba mẹ, và đặt vào tay mẹ một cuốn sổ đã sờn theo thời gian. Mẹ mở ra, tim như thắt lại. Bên trong là những hóa đơn Khoa đã đóng tiền học, tiền ăn ở, mua sắm… cùng dòng chữ Khoa ghi lại những lời nhắn nhủ của ba mẹ. Anh giữ tất cả.

Giọng Khoa run run, cố nén xúc động để nói cho hết lời:
- Con đã từng nguyện với lòng, mỗi đồng mẹ chiu chắt gửi, mỗi phần ăn ba chắt bóp cho con, con sẽ trả lại - không bằng tiền, mà bằng hết cuộc đời mình.

Mẹ bật khóc. Tiếng khóc không còn nghẹn ngào, mà vỡ òa nhẹ nhõm, đầy ắp niềm tự hào. Ba siết chặt Khoa, không nói một lời nào, mà chỉ lặng lẽ rơi nước mắt - những giọt nước mắt đàn ông đã giữ lại bao nhiêu năm khổ nhọc, bây giờ đã được phép rơi.

Tối đó, lần đầu tiên sau một thời gian lâu, rất lâu, họ ngủ dưới mái nhà mà gió không rít qua khe cửa, không có mùi ẩm mốc và bước chân chạy rầm rập ở tầng trên. Mẹ ngủ say, miệng mỉm cười như đang chìm trong giấc mơ thật đẹp.

Ba vẫn còn thức, lặng lẽ bên chiếc đèn ngủ đang hắt những tia sáng ấm áp cho căn phòng. Ký ức như một mớ ngổn ngang trong lòng - có giọt mồ hôi nhọc nhằn, có những giọt lệ nuốt ngược vào lòng vì xót xa, bất lực không đỡ đần hết khó khăn cho vợ con, có những lúc tưởng chừng cùng đường, bế tắc. Cuộc đời di dân là những giấc mơ tiếp nối. Cứ đi đi, rồi sẽ đến.

Khoa đẩy nhẹ cửa bước vào phòng nhắc ba đi ngủ, và chúc ba ngủ ngon. Ba mỉm cười với con. Ngày xưa, mỗi đêm ba vẫn vào phòng đắp chăn và chúc con ngủ ngon với cái hôn lên trán. Bây giờ con ba đã lớn và là người chăm sóc lại ba.

Khoa đứng một mình trong căn phòng vắng, nhưng không hề có cảm giác lẻ loi. Ngôi nhà này, từ đây, sẽ ghi những dấu ấn hạnh phúc cho một sự mở đầu hoàn hảo.

Khoa nhìn qua khung kính cửa sổ. Xa xa ngoài kia những ngọn đèn đang hắt từng quầng sáng xuống , soi con đường dài hun hút. Con đường này sẽ nối tiếp những con đường khác, nối vào những high way, đi khắp nơi trên đất nước này, không bao giờ cùng tận. Như cuộc sống luôn mở ra thênh thang trước mắt, chỉ cần ta bước tới. Tương lai lúc nào cũng rộng mở cho mỗi người. Khoa nhủ lòng, anh sẽ mãi cố gắng vì những bữa cơm đầm ấm của gia dình.

Anh nhớ về những ngày đầu tiên bỡ ngỡ đến trường, với chiếc ba lô to trên đôi vai run rẩy. Giờ đây, điều quý giá nhất với anh không là căn nhà mới, không là công việc ở Google, mà là giữ trọn vẹn được lời hứa với ba mẹ ngày nào “Con đi xa…và con đã trở về”.

Biển Cát
(SC)

Thursday, February 27, 2025

Valentine’s Day – Ngày Tình Yêu

Hình minh họa istockphoto

Những năm 1970, quan niệm xã hội chưa thông thoáng như bây giờ. Chuyện yêu đương với người nước ngoài là điều không tưởng, chứ đừng nói tới việc lấy chồng ngoại quốc. Vậy mà con bé xấp xỉ đôi mươi, vừa rời ghế nhà trường, tập tễnh ra ngoài đi làm phụ giúp gia đình, cái con bé hiền như con mèo đó, lại dám lấy thằng chồng Mỹ.

Ngày đám cưới, chòm xóm tụ tập đầy sân nhìn cho đã con mắt, xì xào cho đã cái miệng:

- Con nhỏ này gan bằng trời.

- Nhu nhu vác cái lu mà chạy.

Cô nghe mà mắc cười quá. Người ta thương nhau, lấy nhau, mà cũng cần được bà con lối xóm ưng bụng thì mới phải đạo sao?

Rồi cuộc chiến xoay chiều, Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.”

John về nước, cô cũng theo anh về miền đất xa xôi cách quê hương cô nửa vòng trái đất. Sau này nghĩ lại, cô cũng thấy mình gan thiệt. John nheo mắt cười:

- Không phải gan cùng mình, mà là mê trai thôi.

Khi nói đùa, anh không biết người “gan cùng mình” ấy mới chính là anh. Hậu quả là anh phải lẽo đẽo theo cô năn nỉ cả ngày trời. Khi hết dỗi, cô thủ thỉ với anh:

- Bởi vì em thương anh đó, biết hông?

Rồi cô hắng giọng đọc cho anh nghe câu ca dao ngọt ngào bằng giọng Nam bộ chơn chất:

Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Dù không hiểu hết ý nghĩa thâm thúy lời ca dao cô đọc, nhưng anh nghe lòng mát rượi như có dòng sông chảy qua.

*
Tính tình hai người thật trái ngược. Cô lãng mạn bao nhiêu thì anh thực tế bấy nhiêu. Giống như hai cực Bắc, Nam của thỏi nam châm. Vậy mà họ lại thương nhau mới lạ.

Một buổi chiều, sau giờ làm, anh trở về nhà, trên tay cầm đóa Hồng và gói đồ nặng trĩu. Anh nở nụ cười thật tươi, hồi hộp đưa cho cô đóa hoa:

- Tặng vợ yêu của anh.

Cô mắt tròn mắt dẹt nhìn anh, ngạc nhiên không thể nào tin được hình ảnh ông chồng to cao với bông hoa nhỏ xíu trên tay, trước mặt mình. Phải để anh lúng túng lập lại câu nói “tặng vợ yêu” ba bốn lần, cô mới hoàn hồn.

- Cảm ơn chồng. Mà sao tự nhiên lại tặng hoa cho em?

Đôi mắt cô mở to, tròn xoe như hai viên bi lóng lánh. Anh như bị hớp hồn, cúi xuống hôn vào đôi mắt vợ, rồi kéo cô ngồi lên sô pha.

Anh lấy trong túi ra những ngọn nến, một chai vang đỏ, hai cái ly và một hộp sô cô la bày ra bàn. Bằng cử chỉ thật cẩn trọng như đang cử hành nghi lễ, anh thắp sáng những ngọn nến, rót rượu ra ly và dịu dàng đút cho cô viên kẹo ngọt. Cô ngã đầu lên bờ vai vững chãi của anh, nghe anh kể về Valentine’s Day. Lần đầu tiên cô biết hằng năm trên thế giới, vào 14 tháng Hai, có một ngày gọi là Lễ hội Tình yêu.

Trong ánh sáng lung linh, anh hát cho cô nghe những bài tình ca bất hủ - những bài tình ca vượt không gian và thời gian để trường tồn mãi khi trái tim còn gõ nhịp yêu thương. Căn phòng huyền ảo thoang thoảng hương hoa quyện với mùi rượu nồng nàn. Cô nhắm mắt lại, nghe lòng ngập tràn hạnh phúc - thứ hạnh phúc thật đơn giản mà cô mong ước được cùng anh có được cả đời.

*
Anh chàng khô khan như sỏi đá đó bỗng dưng thay đổi. Anh tìm kiếm khắp nơi để mua được giống hồng hung màu đỏ mang về trồng ngoài cửa sổ. Nhìn anh hì hục đào đào bới bới đất, cho cây vào, rồi ngắm ngắm nghía nghía, cô bật cười khanh khách:

- Trời ơi, cũng lãng mạn dữ a.

Anh bối rối gãi gãi đầu:

- Tại vì anh thương em. Anh biết em thích mà.

Câu nói của anh làm cô cảm động chực khóc. Anh vội vàng ôm cô vào lòng dỗ dành, mà quên rằng hai bàn tay mình đang dính đầy bùn đất.

Nhờ anh dày công chăm sóc, bụi hồng lớn nhanh, lên chồi lên búp. Lần đầu tiên phát hiện ra nụ hồng mới nở lóng lánh sương trên những cánh hoa mịn mướt như nhung, cô đã reo to, phấn khích như trẻ thơ.

Anh ngây người ngắm nhìn cô, muốn nói bao điều yêu thương nhưng không tìm được lời nào để diễn tả tâm trạng. Mãi rồi anh mới buột miệng nói được một câu, chẳng biết là có lãng mạn hay không, nhưng chắc là cô sẽ vui.

- Để anh trồng thêm mấy chục cây hồng nữa nghe vợ.

*
Nhưng anh không có thời gian để “trồng thêm mấy chục cây hồng” như lời anh đã hứa. Căn bệnh ung thư đã tàn nhẫn cướp mất anh, như cơn giông bão bất ngờ cuốn trôi đi tất cả.

Buổi tối trước khi về, Cô còn nắm lấy tay anh, chúc anh ngủ ngon giấc. Bàn tay anh vẫn còn ấm áp, xiết chặt tay cô đầy ắp yêu thương. Vậy mà buổi sớm khi cô trở vào bệnh viện, anh chỉ còn là cái xác không hồn. Những ngón tay anh lạnh và cứng ngắc, duỗi dài ra, mặc cô có nắm có lay trong vô vọng.

Cô đau đớn gào thét tên anh :
- John ơi, dậy đi. Dậy nói với em rằng anh thương em mà. Dậy kể cho em nghe về Valentine’s Day với sô cô la và rượu vang đỏ. Dậy đi , John. Sao anh nỡ bỏ em mà đi.

Khi nhìn người ta lấp mộ anh lại, cô đã ngất lịm đi. Làm sao cô có thể chấp nhận được, là mãi mãi từ đây, anh không còn hiện diện giữa cuộc đời này.

Cô ra vào lặng lẽ như chiếc bóng trong căn nhà đã từng rộn rã tiếng nói cười. Bụi hồng bên cửa sổ không ai chăm sóc khô héo như nụ cười cô. Với cô, anh là những gì quý giá nhất, là cả thế giới bao là rộng lớn, là mặt trời rạng ngời ánh nắng. Thế giới của cô đã khép lại rồi, ngày của cô chỉ đầy mây xám. Không còn gì… Không còn gì hết , John ơi !

*
Bạn bè ai cũng hiểu sự ra đi của John là nỗi đau tận cùng với cô, nhất là ngày Valentine’s Day đầu tiên sau cái chết của anh. Vì thế họ mở một party và nhất quyết lôi cô ra khỏi nhà để không phải dằng dặc trong cô đơn.

Buổi tiệc thật vui vẻ, ồn ào tiếng nói cười. Nhưng cô cảm thấy lạc lỏng như đang ở một thế giới nào khác, lặng lẽ nhìn mọi người trong màn sương mù mờ mịt vây quanh.

Cô rời tiệc với nỗi buồn mênh mang như bóng tối phủ tràn đêm. Cô lái xe vòng qua những con đường vắng có hai hàng cây chao chác ngã dài. Bỗng dưng lòng cô chợt dâng lên một niềm tin rất đỗi mơ hồ. Hình như anh đang chờ cô ở nhà. Bao nhiêu năm rồi, Valentine’s Day nào hai vợ chồng cũng bên nhau mà, làm sao năm nay anh thiếu vắng .

Cô vội vòng xe lại, nhấn ga lao vun vút bất chấp hiểm nguy. Cô mong chóng được trở về nhà, nơi tràn ngập sự ấm áp của anh, được nghe giọng nói dịu dàng của anh và nhìn thấy sự hiện diện của anh.

Ngôi nhà tối om khi cô mở cửa. Không gian im ắng chỉ có tiếng gót giày cô gõ xuống nền nhà. Cô đóng cửa lại, đứng yên chờ vòng tay anh ôm choàng lấy cô như mọi lần. Chững lại một chút, cô hối hả bật đèn sáng lên và gọi :

- John, John ơi !

Tiếng gọi lúc đầu nhẹ nhàng như chờ đợi, rồi thảng thốt lớn dần lên. Không có tiếng trả lời nào cả. Sẽ mãi mãi không còn tiếng anh trả lời cô. Cho dù có phũ phàng, thì sự thật vẫn mãi là sự thật.

Cô thẫn thờ lê bước vào bếp. Mắt cô chạm vào chiếc lọ nhỏ trên kệ tủ. Trong chiếc lọ là đóa hồng John đã tặng cô vào Valentine’s Day năm ngoái. Đóa hồng rực rỡ ngày nào giờ chỉ còn là những cánh hoa khô mong manh úa tàn. Cô vuốt ve thân cây, cảm nhận được sự lạnh lẽo lan dần trên những ngón tay. Trong khoảnh khắc, trái tim cô quặn lên, ký ức tuôn chảy theo dòng nước mắt.

John luôn biết cách cho cô cảm giác được yêu thương. Ngay cả lúc này, anh vẫn như muốn nhắc nhở với cô rằng, anh đã yêu và vẫn luôn mãi yêu cô. Đặt hoa hồng lên bàn, cô lặng lẽ ngồi xuống rót ra hai ly vang đỏ - một cho mình, một cho anh.

- Cạn ly cùng em, nhé mình.

Cô uống một hơi dài, nghe hơi ấm của rượu và nỗi trống vắng lắng vào lồng ngực. Đau thương cơ hồ nhấn chìm cô xuống tận đáy vực sâu thăm thẳm. Thời gian chầm chậm trôi qua theo tiếng tic tắc của chiếc đồng hồ treo tường. Cô mệt mỏi gối đầu trên tay, rơi vào giấc ngủ khi nước mắt còn ngân ngấn bờ mi.

Trong giấc mơ cô thấy mình không còn cô đơn nữa. Vòng tay ấm áp của anh ôm chặt lấy cô như anh đã từng. Cảm giác thật tuyệt vời khi sức nặng của đôi tay anh ghì lấy thân thể nhỏ bé của cô, hơi thở quen thuộc của anh phả trên mặt cô nồng nàn.

Cô thổn thức trên ngực anh :
- Em nhớ anh lắm, John ơi!

Dịu dàng như tiếng gió ru trên vòm lá , anh thì thầm bên tai cô :

- Anh cũng nhớ em rất nhiều. Anh thương em nhiều, nhiều lắm.

Lời nói thật đơn giản, nhưng như một lời hẹn thề sâu sắc, cho cô cảm giác bình yên đến vô cùng. Thoắt trong phút giây, cô đã quên thực tại và ngỡ rằng mọi điều không có gì thay đổi. Nhưng John đã đứng lên, lấy áo khoác từ lưng ghế choàng lên người cô.

- Anh vẫn ở bên em mà. Đừng buồn nghe vợ.

Khẽ khàng, anh cúi xuống hôn lên trán cô. Bóng anh nhẹ nhàng khuất dần trong tiếng cô chới với :

- John ơi!

*
Cô choàng tỉnh. Buổi sáng không có chút ánh nắng, chỉ la đà những đám mây xám bay ngang trời. Cả người cô đau nhức và đôi mắt cô vẫn còn đẫm lệ. Khi đứng lên, cô vô tình làm rơi chiếc áo choàng khoác hờ ngang vai. Cô bối rối một chút và nhìn sang hai ly rượu cạn trên bàn. Có cái gì đó rất lạ. Tất cả là giấc mơ hay ảo tưởng?

Cô bước đến bên cửa sổ. Hình như trong không khí thoang thoảng hương hoa. Đôi mắt cô chạm vào bụi hồng khô héo. Trời hôm nay rất lạnh, tuyết đổ từng lớp dày trắng xóa, gió thổi từng cơn buốt giá. Nhưng ngay giữa bụi cây khô héo, một đóa hoa duy nhất đang nở rộ. Đóa hoa đỏ thắm, xòe từng cánh nhỏ óng mượt như nhung, vươn lên rực rỡ bất chấp sự khắc nghiệt của thời tiết , như một món quà cho cô, cho Valentine’s Day.

Cô vươn tay nâng niu đóa hoa, nghe niềm vui len vào hồn rất nhẹ . Khẽ khàng, cô thủ thỉ lời cảm ơn bằng tất cả chân tình. Hơi thở cô tỏa thành làn khói mỏng, bay lên cao, quyện vào sương vào mây lãng đãng. Nếu đóa hoa có thể nở trong tiết trời lạnh giá , thì tình yêu cũng sẽ không bao giờ kết thúc khi tâm hồn con người có sự đồng cảm và gần gũi.

Cô lặng lẽ lau nước mắt , mỉm cười. Trái tim cô không còn trĩu nặng nỗi đau. Cô vuốt nhẹ bờ vai còn vương hơi ấm của chiếc áo choàng và thì thầm như đang nói cùng anh. Có thể, Valentine’s Day này không nhất thiết chỉ là ngày mất mát; mà theo một cách nào đó, nó còn là một ngày lễ kỷ niệm của tình yêu. John ơi, em tin rằng tình yêu sẽ kết nối giữa sự sống và cái chết. Chúng ta sẽ mãi có nhau vì lòng mình vẫn đầy ắp những yêu thương.

Biển Cát
( SC )

Friday, October 4, 2024

Ngày Tốt

Ông bà có cả thảy 9 người con. Không may, anh Tư và anh Tám mất sớm. Chị Bảy lúc nhỏ, hay bị giật kinh phong. Càng ngày, biến chứng càng trầm trọng, trở thành thần kinh, phải cho vào bệnh viện tâm thần.

Cũng may, những người con còn lại đều thành đạt, nên ông bà cũng được an ủi, và đỡ cảm thấy bứt rứt khi nghe miệng đời dèm pha: “Nhà đó chắc thất đức lắm, nên con cái mới bị vậy".

Ông thường hay cằn nhằn mỗi khi thấy bà buồn vì những lời đàm tiếu:
- Bà nghĩ ngợi làm gì cho mệt. Mình sống sao thì có trời biết, đất biết.

Lúc ông bà đến đây lập nghiệp, nhà đất còn rẻ lắm. Ông có nghề mộc, lại chịu thương chịu khó, nên cũng tích lũy được chút vốn liếng để mua đất xây nhà. Khi con cái lớn lên, lần lượt ra riêng. Ngôi nhà trở nên thênh thang quá cho hai vợ chồng già. Chỉ có lễ tết chúng về chơi, nhà mới ấm tiếng người.

Nhưng rồi một ngày ông cũng bỏ bà ra đi, về nơi rất xa xôi, để lại bà lẻ loi ra vào một bóng. Họa đơn vô chí. Bà bị trượt ngã và bán thân bất toại. Mọi chuyện bắt đầu nháo nhào lên.

Anh Út nhận đem bà về nuôi, với điều kiện mỗi người sẽ đóng góp một ngàn đô một tháng. Anh Ba phản đối liền:

- Nhiều quá, mậy.

Anh Năm cũng đồng tình:
- Vị chi là mày thu năm ngàn đô một tháng. Gia đình mày khỏi cần đi làm cũng dư tiền rồi đó.

Anh Út cười khẩy:
- Vậy mấy ông đem má về nuôi đi.

Hai chị dâu lớn giãy nãy:
- Má thương em nhất thì em nuôi má là đúng rồi.

Hai ông anh nín thinh. Nuôi một người già bệnh tật đâu có dễ. Thôi thì đành bấm bụng chịu , rồi từ từ tính sau.

- Vậy là mấy anh chị đồng ý rồi nghe. Nhớ thực hiện đúng nghĩa vụ đó.

Anh Út nhấn mạnh hai từ “nghĩa vụ “để mọi người ý thức.

Buổi họp gia đình chấm dứt. Bà về ở với anh út.

Nhưng hai ông anh đâu có dễ dàng để thằng em út khống chế như vậy. Thay vì đưa tiền cho nó vào đầu tháng, hai ông kéo dài đến cuối tháng. Rồi tháng này kéo sang tháng kia, thành ra tháng có tháng không.

Bây giờ đi làm về, thay vì coi ti vi, anh Út cứ cầm điện thoại lên mà réo lần lượt ông Ba đến ông Năm. Họa hoằn lắm hai ông anh mới bắt máy. Mà, bắt máy rồi là lời qua tiếng lại um sùm.

Bà nằm trong phòng, không khóc mà sao nước mắt cứ chảy ra hoài. Con nào cũng là con. Bà biết xử sao bây giờ. Hai thằng anh thì tính toán, chi li. Còn thằng Út thì hỗn xược. Chúng cứ chửi nhau chí choé bằng những từ ngữ thật chướng tai và đau lòng bà. Nhiều lúc bà nghĩ, ông thật sung sướng vì đã chết đi, không phải chứng kiến cảnh đoạn trường này.

Thấy người ta trúng chứng khoán, chị hai rủ chồng góp tiền dành dụm đổ vào, thì chứng khoán rớt giá thê thảm. Việc đầu tư của anh Ba bị thua lỗ liên tục. Anh năm bị công ty sa thải . Thật khó tin được, một CEO mà cũng bị mất việc như những công nhân khác.

Các công ty lớn nhỏ lần lượt đóng cửa. Chị Sáu, chị Chín cũng đồng cảnh ngộ thất nghiệp. Cái business nhỏ xíu của anh Út cũng đang hồi hấp hối. Không biết vì ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trên toàn cầu hay vì gia đình gặp đại nạn, mà sự xui rủi cứ ùn ùn kéo đến.

Trong tình hình đó, bà lại bị nhiễm Covid. Sau hơn nửa tháng nằm trong phòng cách ly, bà được đưa ra phòng ngoài, nhưng sức khỏe còn yếu lắm. Bà vẫn phải mang ống thở và thường thiếp đi rất lâu. Những giấc ngủ dài đầy mộng mị, u u, minh minh. Không hẳn là cơn mơ, cũng không hẳn là hôn mê. Không ai biết được bà sẽ thiếp đi bao lâu và lúc nào bà tỉnh lại.

Hình như trời đang mưa lớn. Không, là bão mới đúng. Bão mạnh lắm. Gió ầm ào quăng quật từng cơn. Những cành khô gẫy lắc rắc, rớt trên mái nhà, va vào những khung cửa sổ tưởng chừng làm bể nát mặt kiếng. Bà hốt hoảng gọi ông:

- Ông coi tụi nhỏ đã vô nhà hết chưa. Còn đứa nào ngoài sân không, gọi nó vô đi.

Ú ớ, bà choàng tỉnh dậy.

- Nước, nước…

Bà thều thào qua hơi thở mệt nhọc. Phải khó khăn lắm, chị Hai mới hiểu được ý bà. Chị rót ly nước, bón từng muỗng vào cái miệng khô khốc.

Anh Ba ngập ngừng hỏi:
- Má tôi thế nào rồi ạ?

Bác sĩ chăm chú theo dõi nhịp thở bà qua ống nghe:
- Tạm thời bà đã qua thời kỳ nguy hiểm. Vấn đề bây giờ là bà vẫn còn yếu.

Một ý nghĩ thoáng qua đầu, chị Chín quay sang hỏi anh út:
- Mày có cho má làm giấy Uỷ quyền y tế chưa?

- Chưa.

Tất cả nhìn nhau, ngớ người ra. Trời ơi, sao không ai nhớ điều này vậy. Mọi người cố nén tiếng thở dài não nuột. Mà ghìm nó lại, cứ nghe tưng tức trong ngực thế nào đó.

Bác sĩ trấn an:
- Hiện bà vẫn ổn. Gia đình không phải lo.

Không hổ danh là kế toán viên, chị Chín làm nhanh một phép tính chi phí trong đầu, rồi đưa ra đề nghị:

- Để má tôi nằm đây hoài cũng bất tiện. Có thể đem bà về nhà chăm sóc được không bác sĩ?

Vậy là bà được đưa về nhà chị Sáu. Vì, nhà chị Sáu rộng rãi, lại gần bệnh viện. Mấy ngày đầu, mọi người còn lui tới hỏi han. Nhưng qua tuần rồi thì ai cũng mệt.

Tình trạng sức khỏe bà thì cứ như thế. Lúc thì mê lúc thì tỉnh. Có đến thăm bà cũng không khá hơn được. Mà không đến bà cũng không nguy kịch hơn. Thôi thì ai ở yên nhà nấy, để bà có thời gian tịnh dưỡng.

Sang tới tuần thứ ba, chị Sáu triệu tập buổi họp gia đình.

- Mấy ông bà tính sao thì tính, chứ tui thấy không ổn rồi.

- Không ổn là sao? Tiền mọi người đã đưa cho mày rồi mà.

Anh Ba hỏi vặn lại.
- Ông lúc nào cũng tiền tiền hết.

Chị Ba ngọt nhạt:
- Vậy chứ không có tiền mọi người đóng góp, chắc em chịu nuôi má hả?

Chị Sáu định sừng sộ lại, thì chị hai đã chen vào:
- Thôi, mỗi người bớt một tiếng đi, nghe chị nói nè.

Chị Hai hạ giọng ra vẻ nghiêm trọng:
- Chị với con Sáu vừa đi coi bói về. Ông thầy này nói như thần vậy.

Anh Năm phẩy tay:
- Tưởng gì, ba cái nhảm nhí đó mà cũng tin được. Tui nể mấy bà luôn.

Chị Sáu gân cổ:
- Ông chưa nghe đầu đuôi gì mà đã cãi. Ông thầy nói ba chết nhằm ngày xấu nên anh chị em lục đục, công việc trắc trở, bệnh hoạn, tai nạn tùm lum…

Chị Ba gật gù, xích lại gần bên chị sáu:
- Ừ, để từ từ nghe coi. Ổng còn nói gì nữa không em?

Lần đầu tiên trong lịch sử gia đình, chị dâu em chồng lại thuận thảo như vậy.

- Có, nhiều lắm. Nhưng đại loại là, nếu lần này má chết nhằm ngày xấu nữa là nhà mình cùng đường, bít lối luôn. Còn nếu má chết đúng ngày tốt, giờ tốt thì không những hóa giải mọi cái xấu, mà còn mang đến đại cát. Con cái phất lên như diều căng gió.

- Rồi sao nữa?

- Làm sao mà tránh được ngày xấu đây trời?

- Mà nghiệt một đỗi, năm nay chỉ có ngày 4 tháng Hai âm lịch là ngày tốt thôi. Chị Hai thở dài.

Không khí lúc này thật căng thẳng. Vẻ lo lắng hằn trên gương mặt mọi người. Anh Năm cũng đăm chiêu, không còn bài bác nữa. Nhẩm tính lại, thì ai cũng thấy ông thầy nói đúng. Cái xui này chưa dứt, lại ập cái xui khác. Đó là chỉ mới có ba chết nhằm ngày xấu. Còn rủi má cũng chết nhằm ngày xấu, thì không biết còn thêm chuyện gì nữa.

- Cả năm mà chỉ có một ngày tốt thôi sao? Lần này chắc tụi mình đi ăn mày luôn.

Anh Út rên rỉ. Chị Sáu gật đầu thở dài.

- Vậy tui mới lo. Má mà đột nhiên lăn đùng ra thì lành ít dữ nhiều đó.

Anh Ba nhấp nhổm:
- Mấy cái chứng khoán của tao vừa đầu tư vào…

Chị Ba gạt đi:
- Phỉ phui cái miệng ông.

Anh Út cũng xoắn lên:
- Cái business của tui mà có gì chắc chết.

Chị Chín bẻ đốt ngón tay, hét lớn:
- Có im hết đi không. Làm người ta rối cả đầu.

Anh Năm trừng mắt:
- Cái miệng mày mới làm nhức đầu đó.

Chị Hai lúc nào cũng tròn vai chị cả:
- Thôi, mấy đứa có thôi không. Chết là chết chùm cả lũ, không lo, mà lo cãi nhau.

Chị với con Sáu đã tính hết nước rồi. Chỉ có cách này …

Chị hạ giọng xuống, thì thào…

- Uý trời…

- Ghê quá.

- Ôi cha má ơi…

Anh Ba sáng suốt nhất:
- Gì mà ghê gớm. Thì đằng nào má cũng chết. Chỉ là trước hay sau, hay lúc nào thôi.

- Có khi vậy còn khỏe thân má hơn là bệnh rề rề vầy. Anh út gật gù phán đúng chuẩn dân business.

Chị Hai chốt lại:
- Vậy là mọi người đồng ý hết rồi nghe. Mình chuẩn bị thủ tục mai táng là vừa.

Bữa kia là mồng bốn tháng Hai rồi đó.

Bà chợt tỉnh giấc, cố nhướng đôi mắt mệt mỏi nhìn lên. Hình như có mùi hương trầm thoang thoảng đâu đây.

Hơi thở bà khò khè mệt nhọc. Giá mà có ai ở đây đỡ bà ngồidậy, rồi vuốt vuốt nhè nhẹ vào lưng bà, chắc sẽ dễ chịu hơn nhiều. Nhưng chung quanh không có bóng ai.

Bà muốn lên tiếng gọi, mà cổ họng vương vướng đờm, nghẽn lại.

Căn phòng mờ mờ tối. Chút ánh sáng le lói ánh qua rèm cửa sổ he hé không giúp bà xác định được giờ giấc, để bà biết bây giờ là sáng hay chiều, mà sao không gian im ắng quá.

Bỗng dưng bà nghe thèm tiếng người, tiếng cười nói, tiếng của sự sống. Bà nhớ ngôi nhà cũ kỹ với mảnh vườn đầy hoa cỏ, những loài hoa đồng nội dung dị. Bà muốn đi về đó thắp hương cho ông. Lâu lắm rồi, từ ngày bà bệnh, không biết tụi nhỏ có nhớ về đó hương khói cho ông đỡ quạnh quẽ không.

Tim bà chợt nhói lên một cái. Ngôi nhà thân yêu của bà, không biết nó còn đó hay đã bán đi chia năm sẻ bẩy cho lũ con rồi. Như vậy, hồn ông biết vất vưởng về đâu.

Hình như có người bước vào. Bà cảm nhận có hai người ngồi hai bên giường. Bà nhận ra tiếng con Hai khi nó nắm lấy tay bà.

- Má đi nhẹ nhàng thanh thản nghe má.

Bên này, con Sáu cũng ghé sát tai bà, thì thầm:
- Má sống khôn chết thiêng về phù hộ cho tụi con nghe má.

Cùng lúc hơi thở bà gấp rút, đứt từng quãng vì ống thở rút ra. Hai tay bà chới với. Chới với quơ vào khoảng không.

Anh Ba, với cương vị trưởng nam, thay mặt gia đình báo tin buồn cho thân quyến. Khâu tẩn liệm và tiếp khách do những người còn lại đảm nhiệm.

Một bia mộ bằng đá hoa cương được khắc hàng chữ:

“ Bà Trần Thị Liên

Hưởng thọ 80 tuổi.

Hiếu tử đồng lập mộ ngày 04 tháng 02 năm… “

Biển Cát




Blog Archive