Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn Nam Bộ mắm tôm
- Đoàn Xuân Thu, 30/9/26
*
(NT: một góc nhìn riêng. Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam thuộc về một thời đã xa... Vụ này cần nghe thêm các nhà văn nhà báo miền tây: Võ Đắc Danh, Nguyễn Quốc Việt, Trần Chí Kông, ...)
Văn chương miền Nam, nhứt là văn chương Nam Kỳ trước 1975, vốn có một cái duyên rất riêng. Nó chân chất mà không quê mùa, bình dân mà không thấp kém, phóng khoáng mà vẫn có chiều sâu.
Đọc Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Hồ Biểu Chánh… người ta nghe được tiếng nói của một miền đất đã sống, đã khai phá, đã chịu biết bao cuộc dâu bể. Chữ nghĩa của họ có mùi đất, mùi bùn, mùi khói bếp, mùi cá khô, mùi mắm cá linh. Nó là cái mùi rất riêng của miền Nam.
Nhưng tới Nguyễn Ngọc Tư thì tôi lại có cảm giác khác.
Đọc văn Nguyễn Ngọc Tư, nhiều khi tôi cứ thấy có cái gì đó… không được Miền Tây cho lắm. Nó vẫn nói chuyện Cà Mau, Đầm Dơi, Đầm Thị Tường, vẫn có ruộng lúa, con xuồng, con cá, nhưng cái hồn của tiếng nói miền Tây thì đôi lúc cứ như bị ai đó lấy khăn bịt lại.
Có chỗ nghe lạ tai, có chỗ gượng gạo, có chỗ khiến người đọc miền Nam phải ngừng lại: “Ủa, dân Cà Mau mình có nói vậy hông?”
Nói cho vui, nếu Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam là mắm cá linh, thì Nguyễn Ngọc Tư đôi khi làm tôi liên tưởng tới… mắm tôm. Cũng là mắm, cũng nồng, nhưng cái mùi khác nhau quá!
▪︎ Bình Nguyên Lộc – người mở đường.
Bình Nguyên Lộc (1914–1987) là một trong những cây bút lớn của văn chương miền Nam trước 1975. Ông viết về đất và người Nam Kỳ bằng một thứ chữ vừa bình dị vừa uyên bác. Đọc ông, người ta gặp cả lịch sử di dân, khẩn hoang, lập ấp và hình thành tính cách người miền Nam.
Rừng mắm, Nước mặn, Ký thác… không chỉ là những câu chuyện văn chương. Đằng sau đó là một thế giới văn hóa. Người đọc thấy rừng tràm, rừng đước, thấy phù sa, thấy những con người từ nhiều nơi tới khai phá đất mới rồi dần dần biến vùng đất hoang thành quê hương.
Cái tài của Bình Nguyên Lộc là ông có thể dùng tiếng nói đời thường mà vẫn tạo được văn chương. Ông không cần làm cho tiếng Nam Phần trở nên “văn vẻ”. Chính tiếng nói tự nhiên của dân chúng đã là văn chương rồi.
Đó là điều quan trọng.
Muốn viết về một vùng đất, trước hết phải nghe được tiếng nói của vùng đất đó.
▪︎ Sơn Nam – người kể chuyện U Minh
Nếu Bình Nguyên Lộc là người khảo sát chiều sâu văn hóa của miền Nam thì Sơn Nam lại giống như ông già ngồi ngoài hiên, uống ly trà, rồi thong thả kể cho con cháu nghe chuyện xưa. Hương rừng Cà Mau, Người Sài Gòn, Lịch sử khẩn hoang miền Nam… là cả một kho chuyện về đất phương Nam.
Văn Sơn Nam không làm dáng. Ông không cần phải chứng minh mình là nhà văn bằng những chữ cầu kỳ. Một chuyện nhỏ về con người, một địa danh, một món ăn, một tập tục, một chuyện khẩn hoang… qua tay ông cũng có thể trở thành một mảnh ký ức của cả miền đất.
Đọc Sơn Nam, người miền Nam nhận ra mình trong đó. Đó mới là cái khó của văn chương địa phương: viết về địa phương mà người địa phương đọc lên không thấy xa lạ.
▪︎ Nguyễn Ngọc Tư – chữ nghĩa có lúc làm người Miền Tây ngơ ngác.
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, tức thuộc một thế hệ hoàn toàn khác với Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam. Cô trưởng thành trong một môi trường xã hội và văn hóa khác, nên dĩ nhiên không thể đòi hỏi cô phải viết giống các bậc tiền bối.
Nhưng chính vì viết về Cà Mau, Đầm Dơi, Đầm Thị Tường và con người miền Tây, nên người đọc có quyền đặt câu hỏi về tiếng nói địa phương trong tác phẩm.
Chẳng hạn, trong "Xa Đầm Thị Tường", có câu:
“Mình ngờ ngợ là mình đã quên cái gì nơi ấy. Lục lạo lại thì đúng là mình có bỏ lại cây bàn chải đánh răng…
Một người miền Nam có thể dừng lại ở chữ “lục lạo” mà thắc mắc. Lục lạo = tìm kiếm, mò mẫm, xem xét/bới tìm..
Người Miền Tây họ nói lục lọi. Lục lọi = bới tìm, lục tung ra để tìm.
Tôi không nói một chữ khác với thói quen của tôi thì lập tức trở thành “sai”. Ngôn ngữ luôn biến đổi, vùng miền cũng có những cách dùng từ khác nhau. Nhưng nếu nhà văn lấy tiếng địa phương làm chất liệu chính, thì cách dùng chữ càng đáng được soi kỹ.
Vấn đề không phải một chữ “lục lạo” có thể quyết định giá trị của cả một nhà văn.
Vấn đề là: nhà văn có thật sự làm chủ thứ tiếng mình đang dùng để dựng nên một thế giới địa phương hay không?
“Suốt năm” hay “quanh năm”?
Cũng trong câu chuyện về Đầm Thị Tường, Nguyễn Ngọc Tư viết “người Đầm Thị Tường làm lúa suốt năm”.
Một người miền Tây đọc câu đó có thể thấy hơi cấn.
“Quanh năm” là cách nói rất quen thuộc trong tiếng Việt miền Nam: quanh năm làm ruộng, quanh năm sông nước, quanh năm đầu tắt mặt tối.
Còn “suốt năm” không phải là một chữ mà người miền Nam hoàn toàn không hiểu hay không thể dùng. Nhưng đặt vào một câu văn muốn tạo ra không khí rất địa phương, sự lựa chọn chữ nghĩa ấy có thể làm người đọc cảm thấy cái giọng địa phương không còn tự nhiên như văn Sơn Nam.
Một chữ đôi khi chẳng đáng bao nhiêu. Nhưng văn chương được làm bằng những chữ nhỏ xíu như vậy. Khi sáng tạo ngôn ngữ trở thành một cuộc thử sức.
Trong văn Nguyễn Ngọc Tư còn có những cách dùng chữ khiến một số độc giả miền Nam phải ngạc nhiên, chẳng hạn những chữ như “mặt nước minh mông”, “soãi chân”, “le đé”, “hấp hé be xuồng”, hay cách dùng “tẳn mẳn” trong những ngữ cảnh mà người đọc quen tiếng Nam Bộ có thể thấy không tự nhiên.
Tôi không muốn biến chuyện khẩu ngữ thành một cuộc xử án từ điển.
Nhà văn có quyền sáng tạo. Nhưng độc giả cũng có quyền hỏi: sáng tạo tới đâu thì còn là sáng tạo, và tới đâu thì bắt đầu trở thành một thứ ngôn ngữ được chế biến?
Đặc biệt, khi nhà văn viết về một vùng đất có tiếng nói rất đặc thù như Cà Mau, thì mỗi chữ đều có thể làm nên không khí của câu chuyện.
Cá linh thì phải ra cá linh.
Mắm cá sặc thì phải ra mắm cá sặc.
Còn nếu đem mắm cá linh pha với mắm tôm rồi bảo đó là “hương vị mới”, người ăn có quyền bịt mũi mà hỏi: “Ủa, món nầy là món gì vậy?”
Điều đáng bàn hơn một chữ.
Tuy nhiên, điều tôi quan tâm hơn chuyện “lục lọi” hay “lục lạo” là cách Nguyễn Ngọc Tư nhìn lại lịch sử chiến tranh.
Có những đoạn viết về Đầm Thị Tường như một vùng căn cứ trong thời chiến, trong đó có hình ảnh máy bay “chiều về quẹo lại Đầm xả bom đạn chơi”.
Đọc tới đây, người đọc có quyền đặt câu hỏi về tính chính xác của chi tiết.
Chiến tranh Việt Nam là một đề tài lịch sử phức tạp. Máy bay Mỹ và đồng minh có những hoạt động quân sự cụ thể, với mục tiêu, kế hoạch và quy trình tác chiến; không nên biến những vấn đề như vậy thành một thứ giai thoại đơn giản kiểu “chiều về còn bom thì ghé ngang thả cho hết”.
Nếu một chi tiết lịch sử chưa được kiểm chứng mà được đưa vào văn chương như một sự thật, thì dù đó là tiểu thuyết, ký sự hay tản văn, người đọc vẫn có quyền yêu cầu nhà văn chịu trách nhiệm với tư liệu của mình.
Bởi văn chương có thể hư cấu. Nhưng lịch sử thì không nên bị hư cấu rồi đem kể như sự thật.
▪︎ Cái bóng của thời đại
Với tư cách một người Việt quốc gia, tôi nhìn văn chương sau 1975 bằng một con mắt khác với những người xem văn học chủ yếu qua hệ thống chính thống trong nước.
Tôi không chấp nhận quan niệm rằng mọi thứ xuất hiện trong văn học dưới chế độ cộng sản đương nhiên là tiếng nói trung thực của lịch sử.
Một nhà văn sống trong một chế độ kiểm soát văn hóa có thể viết hay, có tài, có cá tính; nhưng tác phẩm của họ vẫn tồn tại trong một môi trường chính trị cụ thể. Đó là điều người đọc có quyền đặt lên bàn cân khi đọc.
Điều này không có nghĩa là cứ nhà văn nào sống trong nước thì văn chương của họ đều là tuyên truyền.
Nói như vậy thì quá dễ dãi. Nhưng ngược lại, cũng không nên vì một nhà văn được giới chính thống trong nước ca ngợi mà mặc nhiên xem mọi cách nhìn lịch sử trong tác phẩm của họ là chân lý.
Đọc văn phải biết đọc cả cái văn bản lẫn cái thời đại đã sinh ra văn bản ấy.
▪︎ Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư
Đặt ba nhà văn cạnh nhau không phải để tuyên bố ai “hay” hơn ai. Văn chương không phải cuộc thi đua xe.
Nhưng có thể nhìn thấy ba cách tiếp cận rất khác nhau.
Bình Nguyên Lộc đào sâu vào văn hóa, nguồn gốc và tính cách của người miền Nam.
Sơn Nam ghi chép, kể chuyện và bảo tồn ký ức về vùng đất phương Nam bằng một giọng kể gần gũi như lời ăn tiếng nói ngoài đời.
Nguyễn Ngọc Tư đem đến một thứ văn chương đương đại, giàu cảm giác, nhiều nỗi buồn, nhiều thân phận và có cách sử dụng ngôn ngữ riêng.
Người thích Nguyễn Ngọc Tư có quyền thích. Người không thích cũng có quyền không thích.
Nhưng riêng tôi, khi đọc một tác phẩm tự nhận mình mang hơi thở miền Tây, tôi vẫn muốn nghe được tiếng miền Tây trong đó.
Không phải cái tiếng được pha chế cho lạ tai.
Mà là cái tiếng của người thiệt sự sống với đất.
▪︎ Mắm cá linh hay mắm tôm?
Tôi không có ý nói Nguyễn Ngọc Tư không phải là nhà văn. Càng không thể chỉ vì vài chữ gây tranh luận mà phủ nhận toàn bộ sự nghiệp của cô Tư.
Nhưng tôi muốn đặt ra một câu hỏi khác: văn chương Nam Bộ có phải chỉ cần lấy bối cảnh Nam Bộ là đủ hay không?
Theo tôi, chưa đủ.
Nam Bộ không chỉ là một địa danh.
Nam Bộ là tiếng nói, là ký ức, là phong tục, là cách ăn, cách mặc, cách gọi tên sự vật, cách cười, cách chửi thề, cách thương nhau và cả cách người ta kể chuyện đời.
Bình Nguyên Lộc hiểu điều đó.
Sơn Nam hiểu điều đó.
Còn Nguyễn Ngọc Tư thì có những chỗ khiến tôi vẫn muốn hỏi lại.
Bởi vậy, xin phép được cà khịa một chút:
Bình Nguyên Lộc là mắm cá linh. Sơn Nam là mắm cá sặc. Còn Nguyễn Ngọc Tư, với những chữ nghĩa đôi khi làm người Nam Bộ ngơ ngác, đối với tôi có lúc nghe giống… mắm tôm.
Mắm tôm không phải không có người ăn.
Trái lại, có người mê mắm tôm tới mức thiếu một chén là ăn cơm không vô.
Nhưng người miền Tây quen mùi mắm cá linh mà bất thần gặp mắm tôm thì thế nào cũng phải… đưa tay lên bịt mũi trước khi biết mình có ăn hay không!
Văn chương cũng vậy.
Hay dở còn tùy người đọc.
Nhưng hồn của một vùng đất thì không thể chỉ dựng bằng vài cái tên địa danh. Nó phải được dựng bằng tiếng nói của chính con người đã sống trên vùng đất ấy.
Và đó mới là điều tôi muốn bàn khi đọc Nguyễn Ngọc Tư.
Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.
------
NT ghi thêm
Đoàn Xuân Thu là một cây bút người Việt tại hải ngoại, hiện sống ở Melbourne, Úc.
Sinh năm 1951 tại Mỹ Tho.
Thuở nhỏ học Petrus Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn) và Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho).
Sau đó học Đại học Sư phạm Cần Thơ, rồi làm nghề giáo viên trung học và từng phục vụ quân ngũ.
Sau năm 1975 sang Úc định cư; về sau viết nhiều tạp bút, phiếm luận, thơ và bình luận xã hội cho báo chí tiếng Việt ở Úc và Hoa Kỳ.

No comments:
Post a Comment