Sunday, October 4, 2026

Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 4
Đến Thốt Nốt xuống ghe thì đứa em trai tôi đã có mặt từ trước. Tôi bước lên nói lời cảm ơn và thanh toán tiền sửa chữa máy. Người anh em họ kéo tôi ra một góc riêng, nói nhỏ: "Ghe nhỏ quá, mấy anh đi như vầy có nguy hiểm không?". Tôi nhìn xuống đất, trả lời rất khẽ: "Không còn đường lựa chọn đâu chú Sáu"

Tôi xuống ghe, ba cậu cháu lui ghe xuôi dòng sông Hậu về Cần Thơ để kịp gặp mấy đứa bạn vào chiều tối nay. Chúng tôi cần sắp xếp một số việc như hẹn địa điểm, giờ giấc và phân phối khách cho mấy anh chị "taxi" (người đưa khách ra tàu), để hôm sau ráp nối ở bờ sông Cái Lớn rồi ra khơi. Khoảng 7 giờ tối, tôi đến điểm hẹn tại mấy tiệm bán bánh cống bên trong nhà lồng chợ Cần Thơ. Vừa ăn bánh cống, uống vài chai bia nội địa, chúng tôi vừa phân chia công việc và làm quen với những người "taxi" mới.

Tính đi tính lại, vẫn còn dư ra 4 người gồm 2 người lớn và 2 trẻ em không có "taxi" đưa đón. Tôi đành bảo mấy người bạn sáng sớm ngày mai dẫn 4 người này vô ngay cầu tàu chợ Cái Răng, tôi sẽ bốc thẳng lên ghe lớn luôn. Việc làm này là điều đại kỵ, rất nguy hiểm, nhưng biết sao bây giờ, người ta đã thiết tha muốn ra đi, bỏ lại thì tội nghiệp quá. Anh bạn và cũng là chủ của tôi cảm ơn tôi không xiết. Khoảng 9 giờ tối, mọi việc xong xuôi, tôi về ghe đậu dưới bờ sông Cần Thơ, len lỏi trong những ghe mua bán của nông dân đang đậu qua đêm ở đó.

Sáng sớm hôm sau, tôi chạy ghe vô chợ Cái Răng bốc hai người lớn và hai cháu nhỏ. Khi mọi người xuống ghe xong, tôi nhìn mà thấy phát sợ. Anh bạn mới này trạc tuổi tôi, người Đà Lạt, và một cháu tên Mỹ. Nhìn vẻ ngoài là biết ngay họ không phải dân quê sông nước. Anh bạn người Đà Lạt mặt mày trắng trẻo như con gái, đeo cặp kiếng cận dày cộm, trông đúng chất trí thức thành thị. Còn cháu Mỹ thì da trắng như hột gà bóc vỏ, mái tóc dài cắt tém thời trang rất đẹp. Lỡ chẳng may gặp trạm công an, họ chỉ cần chặn ghe kiểm tra sơ qua, nhìn thấy hai người này là bị bắt ngay lập tức.

Thôi thì giờ chẳng còn cách nào thay đổi, đành phó mặc cho số mệnh. Nhưng tôi cũng bắt anh bạn mới phải đội cái nón rơm cũ, kéo sụp xuống để che bớt làn da trắng trẻo. Còn cháu Mỹ thì tôi cho đội chiếc nón lá rách dính đầy dầu nhớt mà tôi có sẵn trên ghe. Tội nghiệp, anh bạn và cháu luôn làm theo mọi yêu cầu của tôi, cố gắng ít ra ngoài mui ghe để tránh bị phát hiện.

Khoảng 2 giờ chiều hôm đó, tôi đến chợ Gò Quao. Vì trên ghe có hai vị "khách quý" như đã kể nên tôi không dám cặp bến, cũng không dám đậu gần ghe nào. Tôi thả neo cách chợ chừng 1km để chờ đợi. Gần 3 giờ chiều, tôi cho ghe chạy ra gần chợ Xẻo Rô, từ đó bắt đầu quay đầu chạy vào trong để vớt khách. Mấy ông bạn "taxi" của tôi đã núp sẵn trong những đám dừa nước; khi thấy ghe tôi chạy ngang, họ liền chèo ra để tôi bốc khách lên ghe lớn. Chỉ trong hơn một tiếng, tôi đã đón xong tất cả mọi người.

Tôi quay đầu ghe lại, hướng ra biển và về phía bên Tắc Cậu để xuôi dòng ra cửa biển. Thật may mắn, nhờ con nước xuôi đang đổ ra biển nên chiếc ghe chạy rất nhanh. Theo sự hướng dẫn của anh Năm – một dân địa phương ở đây – tôi phải chạy cặp bờ bên Tắc Cậu. Nếu chạy gần phía Xẻ Rô thì dễ mắc cạn vì bên đó đất bãi bồi ra xa lắm. Hơn thế nữa, đầu kinh bên đó có trạm biên phòng. Lúc ghe tôi chạy ngang, có mấy tiếng súng nổ vang lên. Tôi cũng không biết họ bắn ghe tôi hay bắn ai, nhưng cứ nhắm mắt chạy đại. Tôi cũng tin lời anh Năm trấn an rằng cửa biển này rộng tới gần 2km, súng bắn từ bờ khó mà trúng được, đừng sợ. Đó có lẽ cũng là lời trấn an để tôi vững tinh thần thôi, lúc đó tôi chỉ biết lao tới, không còn đường thối lui.

Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn 7 giờ tối, trời tối hẳn. Nhìn về phía tay phải, thành phố Rạch Giá đã lên đèn. Theo chỉ dẫn, tôi phải chạy hướng về phía ánh đèn Rạch Giá thêm khoảng một tiếng nữa rồi mới thực sự ra khơi, nếu ra sớm quá dễ bị mắc cạn. Đến 8 giờ tối, tôi vẫy tay chào từ biệt ánh đèn Rạch Giá, cũng là từ biệt quê hương lần cuối, rồi lái con tàu hướng thẳng ra biển khơi.

Từ lúc đó, chúng tôi bắt đầu lấy lại tọa độ theo sự hướng dẫn của anh Lợi – một cựu Đại úy VNCH đi cùng. Ngoài ra còn có các bạn Duẫn, Hải, Tân, Giàu, Phát và đứa em trai tôi năm đó mới 20 tuổi nhưng giúp được rất nhiều. Tất cả chia nhau lái tàu. Ra đến biển rồi, cứ theo tọa độ trên hải bàn và hải đồ mà chạy, không sợ đụng chạm ai, cảm giác rất thoải mái. Mấy anh bạn tôi như Hải, Tân, Lợi dù chưa một lần lái tàu cũng cầm lái như ai.

Sau khi tàu ra biển khơi được hơn một tiếng, tôi giao tay lái cho Duẫn. Tôi và một vài anh khác cùng phủ miếng bạt che lại khoảng trống phía trước ghe, đóng đinh nẹp kỹ để sóng biển không tạt nước vào trong. Đến khoảng 12 giờ đêm, mọi việc tạm ổn. Chúng tôi chia ca hai người lái 1-2 tiếng, những người còn lại nghỉ ngơi lấy sức.

Riêng tôi, nguyên một ngày căng thẳng từ việc bốc "khách" đến lúc vượt cửa biển qua trạm biên phòng, mấy đứa bạn khuyên tôi nên đi ngủ trước. Tôi ra phía sau ghe, nơi có sàn nước nằm nghỉ. Tôi không quên lấy sợi dây buộc ngang thắt lưng vào thành ghe, sợ ngủ quên lỡ rơi xuống biển là coi như xong. Nhưng nằm đó chứ tôi không sao ngủ được. Tính tôi hễ có việc lo lắng là cứ chập chờn.

Chẳng mấy chốc, tôi đã thấy ánh rạng hồng phía Đông. Mặt trời lên rất nhanh trên biển. Chúng tôi đã chạy được một đêm bình yên, trời êm biển lặng nên đi được khá xa bờ. Nhìn bốn bề giờ chỉ thấy mênh mông sóng nước. Chiều hôm đó, chúng tôi phát hiện phía sau có một chiếc tàu đánh cá khá lớn đang tiến gần. Lúc đầu còn xa, nhưng sau thấy nó ngày càng gần hơn. Lấy ống nhòm xem kỹ thì hình như là tàu đánh cá quốc doanh. Chúng tôi vô cùng lo lắng. Trên ghe có sẵn một cái máy đuôi tôm phụ nhưng mấy hôm nay không khởi động được. Thấy tình hình nguy ngập, tôi ra kiểm tra lại rồi cho nổ máy, đặt xuống chạy phụ thêm. Chiếc ghe tăng tốc rõ rệt, bỏ xa chiếc tàu đánh cá kia cho đến khi khuất bóng lúc chiều tối.

Nguyên ngày hôm đó trời tương đối tốt, không có sóng lớn, nhưng cái nắng biển thì rát cả da. Trên đường đi, có những đàn cá heo bơi đuổi theo ghe, nhảy lên đua cùng, nhìn rất lạ mắt. Mấy anh bạn bảo đi biển mà gặp cá heo là điềm lành, như thế này là rất tốt và may mắn...

Còn tiếp phần 5.
Chi Le



No comments:

Blog Archive