Friday, October 2, 2026

“DÂN CỦ MÌ ”

Hôm ấy về Sài gòn có việc, tôi bước sang bên đường vô tình đứng bên chiếc xe đẩy bán xôi dạo tần ngần nghe rõ tiếng rao:

Có Xôi-nóng-xiêm-bún” đây ! Người đi đường nhìn chị hơi ngỡ ngàng có lẽ vì tiếng rao lạ lẩm vì ít người biết món “xiêm bún” là món gì! Với tôi củ xiêm được chế biến thành “Xôi-nóng-xiêm-bún” món ăn đúng cái “gu” của tôi còn nguyên vẹn. Nghe chừng lưng bụng lại sôi, tôi chìa tay nhận gói xôi “xiêm bún” còn nóng thơm nguyên mùi lá .

“Ăn cơm mới, nói chuyện cũ” thói đời xưa nay vẫn vậy. Cơ duyên ngày ấy tôi có mặt lao động XHCN trên Đại công trường Thủy nông Phú Ninh cả tháng nên biết rất rõ món “xiêm bún” là món ăn chế biến từ khoai xiêm của người dân quê Phú Ninh, có lẽ khoai xiêm cái tên gọi riêng của người Tam Kỳ - Hà Đông- Tiên Phước không lẫn vào đâu được !

“Quê em ở đất Tam Kỳ
Sắn không lột vỏ gọi là khoai xiêm”?

Chẳng có “sử liệu” nào ghi lại nguồn gốc khoai xiêm nhưng xem ra cái lý của các vị bô lão với tương truyền rằng: Dưới thời nhà Tây Sơn, người dân xứ Quảng theo tướng công Nguyễn Huệ vào tận phương Nam chinh phạt quân Xiêm và thắng lớn ở các trận Rạch Gầm, Xoài Mút. Đô đốc Kiều Phụng bắt được rất nhiều tù binh của quân đội Xiêm-la. Trong số tù binh ấy ông đưa về Quảng Nam còn “gánh” theo những choái khoai (thân khoai) của người Xiêm để về trồng trên vùng đất ven sông Tam Kỳ. Người dân thấy giống khoai “lạ hoắc” này rất dẻo và thơm ngon.Thấy lạ người dân đem choái cây về trồng ở nhiều nơi đặt tên là “cây khoai Xiêm” một giống cây từ nước Xiêm-la đã lưu lạc về đây.

Ở Tam Kỳ thuở xưa phân biệt rõ hai loại: Loại khoai xiêm gòn, có đặc điểm bở tơi và vị đậm; loại khoai xiêm bùi mà dẻo như sợi bún làm món “xiêm bún” thì nhất. Ngày xưa chỉ biết luộc khoai chín, khoai nguội rút lấy tim rồi cuộn tròn trong lớp lá chuối đập dập để khoai vỡ ra và trộn chung với muối mè hoặc muối đậu thêm tí hành phí mỡ lợn là có một món hấp dẫn vô cùng dân dã gần gũi. Ngày nay món xôi được biến tấu; khoai mì nấu chung với gạo nếp xôi đượm vị hơn thơm bùi mùi mỡ hành, lạp xưởng, dừa nạo sợi và kết hợp với muối mè mặn ngọt mang lại cảm giác rất tuyệt vời. Ở xứ khác người ta gọi củ mì là củ sắn, khoai mì… còn quê tôi người Bình Định xưa nay gọi củ mì vẫn là… củ mì.

Trên thế giới từng có những “Viện Lúa” chứ chưa có “Viện Củ Mì” thành lập. Nếu có chắc dân ở quê tôi vui lắm, có lẽ vì thế mà những kiến thức về củ mì chưa được hệ thống hóa một cách bài bản về: Cây giống, thổ nhưỡng, điều kiện đất đai để ươm trồng… ngày nay loài người đã biết nhiều đến cách sử dụng “Củ mì” làm thực phẩm là nguyên liệu chủ lực để chế biến thức ăn công nghiệp làm mì chính và … .

Tôi biết ăn củ mì từ nhỏ, nhưng hiểu biết khoa học về củ mì không nhiều. Ngày xưa tôi có thể ăn củ mì thay cơm vì khoái khẩu đã đành, nhưng cũng vì củ mì không “gây phản ứng phụ” như nóng cổ, nóng ruột như củ lang. Củ mì còn chế biến thành món ăn hằng ngày canh khoai nấu cá đồng, hầm xương, xôi bún….

Tôi chỉ nhớ khi còn bé chúng tôi thường hay bày trò lấy cọng lá khoai làm mũ, làm dây chuyền, hoa tai… mình trần trùng trục “đội mũ, đóng khố” còn bọn con gái thì tai đeo hoa tai, cổ quấn dây chuyền, trông cả bọn như những thần dân thời vua Hùng dựng nước như hình in ở trong sách quốc sử…

Củ khoai xiêm hay củ mì dân dã “quê mùa” đã dần lui về quá khứ. Nhắc lại để nhớ về một thời người dân quê tôi quanh năm quần thảo với khoai, với sắn với những ai đã từng ăn, từng sống nhờ củ mì, khoai xiêm chúng tôi một lũ trẻ lau nhau vì bữa no bữa đói.

Tạm quên đó là cách là một cách tự thưởng cho mình khi có được cuộc sống đủ đầy bù lại những ngày “Lát khoai bung cõng hạt cơm nghèo” vô cùng gian khổ ?

Tôi thấy vui khi thằng bạn nó lại gọi chúng mình là “Dân Củ Mì!”.

Trần Việt

No comments:

Blog Archive