Sunday, October 18, 2026

Chiếc hộp kỷ vật

Hôm nọ dọn dẹp nhà, tôi gặp lại nó.
Một cái hộp nhôm chữ nhật, móp một góc. Nắp hộp đã xỉn màu. Bên trong lót một lớp gạc đã ngả vàng. Tôi mở ra, vẫn còn đó: hai cái ống chích thủy tinh mờ đục vì luộc đi luộc lại cả ngàn lần, mấy cây kim sắt to nhỏ, dài ngắn khác nhau, gói gòn nhỏ tẩm cồn đã khô.

Bà xã tôi kêu lên vui mừng: "Trời, bộ đồ nghề kiếm cơm của mình ngày xưa!"

Tôi cầm nó trên tay, ngồi thụp xuống nền nhà. Hơn bốn mươi năm rồi.

Năm 1978, tôi mới ra trường. Người ta phân về Giồng Trôm Bến Tre. Phòng mạch của tôi là một túp nhà lá cất tạm dưới gốc dừa ven sông. Vách lá dừa nước, cột cau trên nền đất nện. Không bảng hiệu, vậy là thành phòng mạch.

Người ta nói "một túp lều tranh hai trái tim vàng", đúng y.
Trái tim vàng thứ nhất là tôi, bác sĩ trẻ ốm nhom, quần ống loe mang từ Sài gòn về đã vá chằng vá đụp, đi dép nhựa. Trái tim vàng thứ hai là bà xã, cô giáo mầm non mới cưới, chưa kịp có con đã phải học tiêm chích, học cách nhóm bếp nấu ống chích cho vô trùng bằng lá dừa.

Sáng ở miệt vườn hồi đó đẹp lạ lùng. Chẳng cần đồng hồ báo thức. Khoảng bốn giờ là chim đã hót. Gà gáy vang. Vịt bị đánh thức kêu cạc cạc ngoài mương. Tôi thức dậy, ra sau hè múc nước sông lóng phèn lên chuẩn bị pha trà và luộc đồ nghề.

Cái hộp nhôm này là gia tài kiếm cơm quan trọng nhất lúc đó.
Thời đó làm gì có đồ xài một lần rồi bỏ như bây giờ. Ống chích là ống thủy tinh, kim tiêm là kim sắt. Chích xong một người, phải rút ra, súc rửa, rồi bỏ hết vô cái nồi nhỏ. Đổ nước, đun sôi sùng sục mười lăm phút. Để nguội. Rồi mới chích tiếp cho người sau. Khi kim đã cùn, bác sĩ phải mài lại cho bén chích không đau.

Mà dầu hôi hồi đó quý hơn vàng. Phòng mạch tôi trong vườn dừa, muốn đun nước sôi cứ ra vườn gom lá dừa khô làm củi, cháy bạo sôi nhanh, khỏi tốn tiền.

Lá dừa cháy bùng lên, kêu tanh tách, tàn bay lả tả. Tôi ngồi chụm lửa, khói cay xè mắt. Riết rồi cái đít nồi đen thui, một lớp lọ nghẹ dày cộm. Bà xã xót, đi xin đâu được cái "chảo lủng" - tức là cái chảo khoét lỗ rộng ở giữa - kê dưới đít nồi cho đỡ bám lọ. Bà nói, có nó thì lửa chỉ liếm cái chảo, nồi đỡ đen.

Vậy mà cũng không đỡ bám lọ được bao nhiêu. Vài bữa, cái nồi lại đen kịt. Sợ bệnh nhân tới chê bác sĩ ở dơ người ta cười, tôi phải vác nồi ra mé sông. Lấy xơ dừa chà cho hết lọ. Xơ dừa ráp, chà đến rát cả tay, nước sông mát lạnh, nồi lại sáng bóng lên được vài hôm.

Buổi trưa phòng mạch vắng. Chiều xuống, bìm bịp kêu nước lớn. Con bìm bịp ở miệt vườn kêu buồn lắm, tiếng nó vang từ bờ bên này qua bờ bên kia, "bịp bịp bịp..." kéo dài, nghe như gọi nhau. Tôi với bả ngồi trên cái chõng tre trước hiên, nhìn ra vườn dừa, nhìn đám lục bình trôi ngang, nghe bìm bịp kêu mà thấy ngày dài ra. Giờ đi xa đã lâu vẫn không quên.

Tối thì không có điện. Cả xóm tối om. Nhưng ven sông thì sáng rực đom đóm. Hàng ngàn con đom đóm nhấp nháy thắp đèn, những đốm sáng bay chập chờn trên đám cây bần, trên hàng dừa nước ven sông. Như lễ hội. Hồi đó tôi hay nói với bả: "Em coi, người ta làm lễ hội đèn lồng, còn mình có lễ hội đom đóm miễn phí mỗi đêm."

Bệnh nhân của tôi hồi đó đa số là con nít. Người lớn là các cụ già, các bác nông dân. Đau bụng, ho, viêm phổi, kiết lỵ, sốt rét, đứt tay do bửa dừa, đứt chân đạp miểng chai ... Họ trả công chỉ tính bằng tiền mua thuốc, chưa có tiền thì ghi sổ thiếu chịu, mai mốt bán được dừa trả sau...

Cái hộp nhôm đồ nghề đó đã cứu không biết bao nhiêu người. Bây giờ phòng mạch tôi ở Sài gòn, máy lạnh, người ta dùng ống chích nhựa vô trùng bóc ra là dùng một lần, bỏ vô thùng rác y tế màu vàng. Đứa cháu nội tôi học lớp 5, thấy bộ đồ nghề, thấy mấy cây kim sắt nó hỏi: "Ông ơi, cái này chích đau lắm sao chịu nổi hả ông?" Tôi cười, không biết trả lời sao.

Tôi cất cái hộp như một kỷ vật, sau khi chùi sạch, để lên kệ sách quý, ngay ngắn, trang trong.

Nó không còn là bộ dụng cụ y tế nữa. Nó là một phần của đời tôi. Nó lưu giữ mùi lá dừa cháy, cái đít nồi đen lọ nghẹ, tiếng xơ dừa chà nồi sồn sột bên mé sông, tiếng bìm bịp kêu chiều, những đêm đom đóm lập lòe như sao sa xuống vườn...

Đó là kỷ vật của những ngày hàn vi mà giàu có nhất đời người, vì trong túp nhà lá dột nát đó, lúc nào cũng có hai trái tim vàng đập chung một nhịp.

Thi Anh

No comments:

Blog Archive