Wednesday, October 21, 2026

DALAT – ĐƯỜNG HAI BÀ TRƯNG, MỘT MIỀN KÝ ỨC CỦA NHỮNG MÁI NHÀ CÔNG CHỨC XƯA

Dalat tháng Mười, những ngày cuối thu, trời bắt đầu trở lạnh khi chiều vừa nghiêng bóng. Nắng vàng như mật ong trải nhẹ trên những mái nhà cũ, trên những con dốc quanh co và những hàng cây đã đứng đó từ hơn nửa thế kỷ. Gió cao nguyên thổi qua những khu vườn nhỏ, mang theo mùi đất ẩm sau mưa, mùi lá thông và cả một thứ hương rất khó gọi tên. Có lẽ đó là hương của thời gian.

Sáng nay, trong một thoáng lặng lòng, tôi chợt nhớ đến một con đường xưa của Dalat.

Con đường Hai Bà Trưng.
Một con đường không quá dài, khoảng ba cây số, chạy gần như song song với đường Phan Đình Phùng, một trong những con đường lâu đời của thành phố.

Nếu đường Phan Đình Phùng ngày xưa mang dáng dấp của một con phố thị với những cửa hiệu, những ngôi trường, những rạp chiếu bóng và những mái nhà buôn bán, thì đường Hai Bà Trưng lại có một vẻ đẹp khác.
Đó là vẻ đẹp của những khu cư xá công chức.
Một Dalat bình dị, nền nếp và thanh lịch.
Một Dalat của những gia đình viên chức, của những người cha sáng đi làm, chiều trở về bên mâm cơm gia đình; của những bà mẹ chăm sóc vườn rau, khóm hoa; của những đứa trẻ lớn lên trong tiếng chuông trường và những buổi chiều chơi đùa trên con dốc nhỏ.
Có lẽ ít ai nghĩ rằng, lịch sử của một thành phố không chỉ nằm trong những công trình đồ sộ, những dinh thự nguy nga hay những trang sách được lưu giữ trong thư viện.
Lịch sử còn nằm trong những căn nhà gỗ.
Trong chiếc cầu nhỏ.
Trong một sân trường tiểu học.
Và trong ký ức của những người đã từng sống, từng lớn lên, từng đi qua con đường ấy.

NHỮNG KHU CƯ XÁ – MỘT NẾP SỐNG DALAT NGÀY XƯA

Nhắc đến đường Hai Bà Trưng của những thập niên 1950, 1960, tôi nhớ trước tiên đến khu cư xá Nha Địa dư.
Đó là một khu nhà ở dành cho những gia đình công chức làm việc trong ngành địa dư ngày trước.
Khu cư xá có ba dãy nhà bằng gỗ, với kiến trúc rất đặc trưng của một thời. Những căn nhà dài nhiều gian được xây dựng , có tầng hầm và một tầng ngang mặt đường, tầng ngang mặt đường có nhiều chiếc cầu gổ bắt ra đường tạo nên một dáng vẻ riêng mà ai đã từng đi qua hẳn khó quên.
Những mái nhà gỗ ấy không sang trọng như những biệt thự Pháp trên đường Trần Hưng Đạo, cũng chẳng cầu kỳ như những ngôi nhà lớn giữa trung tâm thành phố.
Nhưng chúng có một vẻ đẹp khác.
Vẻ đẹp của sự ấm cúng.
Tôi hình dung những buổi sáng mùa đông Dalat, khi sương mù còn phủ kín các mái nhà, những người cha mặc áo ấm, cắp chiếc túi da nhỏ, bước xuống con dốc để đến nhiệm sở.
Phía sau là tiếng người vợ nhắc chồng mang thêm chiếc áo len vì trời lạnh.
Những đứa trẻ trong nhà đang sửa soạn sách vở đến trường.
Từ căn bếp nhỏ, khói bếp bay lên, hòa vào sương sớm.
Một ngày mới bắt đầu giản dị như thế.
Không có những tiếng động cơ ồn ào.
Không có sự tất bật của nhịp sống hiện đại.
Chỉ có tiếng guốc trên bậc thềm, tiếng cửa gỗ mở ra khép lại và tiếng chào nhau thân tình giữa những người hàng xóm.
Ngày ấy, người ta sống gần nhau không chỉ bởi khoảng cách giữa hai căn nhà.
Mà còn bởi tình nghĩa.
Nhà bên này có chuyện vui, nhà bên kia sang chúc mừng.
Một gia đình có người đau ốm, cả xóm hỏi han.
Những đứa trẻ không cần hẹn trước vẫn có thể chạy sang nhà nhau chơi đùa.
Một khu cư xá nhỏ, nhưng có khi chứa đựng cả một thế giới tuổi thơ.
Và rồi, năm tháng trôi đi.
Những đứa trẻ ngày ấy đã trở thành những người tóc bạc.
Có người còn ở lại Dalat.
Có người đã rời quê hương từ rất lâu.
Nhưng tôi tin, chỉ cần nhắc đến ba dãy nhà gỗ của khu cư xá Nha Địa dư, trong lòng họ sẽ có một cánh cửa ký ức bỗng nhiên mở ra.
Đi tiếp trên con đường ấy là khu cư xá Bưu điện.
Khu cư xá nằm phía trên đồi, với những ngôi nhà song lập mang dáng dấp những biệt thự nho nhỏ.
Tôi rất thích kiểu kiến trúc ấy.
Không quá lớn, không phô trương, nhưng hài hòa với thiên nhiên và địa hình của Dalat.
Những mái nhà nằm bên nhau, những khoảng sân nhỏ, những lối đi lên xuống theo triền dốc.
Ở đó, mỗi căn nhà như có một câu chuyện riêng.
Ngày xưa, ngành Bưu điện có một vị trí rất đặc biệt trong đời sống xã hội.
Khi chưa có điện thoại di động, chưa có những dòng tin nhắn gửi đi trong khoảnh khắc, một lá thư từ phương xa có thể khiến cả gia đình chờ đợi.
Một người con đi học xa nhà gửi thư về.
Một người lính viết vài dòng thăm cha mẹ.
Một người thiếu nữ nhận được lá thư của người thương.
Có những lá thư chỉ vài trang giấy mỏng, nhưng mang theo biết bao nhớ nhung.
Tôi nghĩ đến những gia đình công chức Bưu điện sống trong khu cư xá ấy.
Ban ngày, họ làm công việc chuyển tải tin tức, nối liền những khoảng cách địa lý.
Chiều về, họ lại trở thành những người cha,
người mẹ bình thường, quây quần bên gia đình dưới mái nhà nhỏ.
Thật thú vị biết bao!
Những con người làm công việc đưa tin tức đi khắp nơi, cuối cùng vẫn tìm thấy hạnh phúc trong một mái ấm bình yên.
Láng giềng với khu cư xá Bưu điện là khu cư xá Công chánh.
Lại thêm một khu nhà công chức nữa.
Những người làm việc trong ngành Công chánh, gắn bó với đường sá, cầu cống và những công trình phục vụ đời sống đô thị.
Tôi vẫn thường nghĩ, để có một thành phố Dalat đẹp đẽ như ngày xưa, ngoài những kiến trúc sư, những nhà quy hoạch, còn có biết bao con người âm thầm đóng góp công sức.
Những người làm đường.
Những người xây cầu.
Những người đo đạc địa hình.
Những người chuyển thư, giữ cho mạch liên lạc của thành phố được thông suốt.
Họ không phải là những nhân vật thường được nhắc tên trong lịch sử.
Nhưng chính họ đã góp phần tạo nên diện mạo và nếp sống của Dalat một thời.
Và những khu cư xá trên đường Hai Bà Trưng là một phần dấu tích của lớp người ấy.
Tôi muốn gọi đó là những mái nhà của một thời tận tụy.

TRƯỜNG ĐA NGHĨA – TIẾNG TRỐNG CÒN VANG TRONG KÝ ỨC

Đi thêm một đoạn trên con đường Hai Bà Trưng, cách ngã tư Số 4 chừng năm trăm mét, là ngôi trường tiểu học Đa Nghĩa ngày xưa.
Chỉ cần nhắc đến hai chữ Đa Nghĩa, tôi tin sẽ có biết bao người Dalat thuộc thế hệ trước bỗng thấy lòng mình xao xuyến.
Bởi nơi ấy từng là một phần tuổi thơ của họ.
Một ngôi trường tiểu học không chỉ là nơi dạy trẻ biết đọc, biết viết, biết làm những phép tính đầu đời.
Đó còn là nơi gieo vào tâm hồn trẻ thơ những hạt giống đầu tiên của nhân cách.
Ngày xưa, những đứa trẻ đến trường với chiếc cặp nhỏ, quyển vở học trò và cây bút mực.
Có em đi bộ từ những khu cư xá gần đó.
Có em từ những con hẻm nhỏ, những ngôi nhà trên triền đồi.
Buổi sáng trời lạnh, hai bàn tay co ro trong túi áo. Hơi thở như có khói khi bước qua những đoạn đường còn đẫm sương.
Nhưng vừa đến cổng trường, tất cả lại trở nên rộn ràng.
Tiếng gọi nhau.
Tiếng cười.
Tiếng chân chạy trên sân.
Và tiếng chuông báo giờ vào lớp.
Ngày ấy, trường học không có những phương tiện hiện đại như hôm nay.
Nhưng có một điều vô cùng quý giá.
Đó là tình nghĩa thầy trò.
Nhắc đến trường Đa Nghĩa, tôi muốn nhắc đến một người thầy đáng kính.
Thầy hiệu trưởng Châu.
Một nhà mô phạm của thế hệ giáo dục ngày xưa.
Tôi nghĩ, trong cuộc đời mỗi người, có những vị thầy mà sau năm mươi, sáu mươi năm, học trò vẫn nhớ đến bằng tất cả lòng kính trọng.
Không phải vì thầy đã dạy những bài học quá cao siêu.
Mà bởi thầy đã dạy học trò biết sống cho tử tế.
Biết kính trên nhường dưới.
Biết yêu thương bạn bè.
Biết giữ lòng tự trọng.
Và biết rằng học hành không chỉ để có một nghề nghiệp, mà còn để trở thành một con người hữu ích cho gia đình và xã hội.
Biết bao học sinh đã trưởng thành từ mái trường Đa Nghĩa.
Người trở thành thầy giáo.
Người trở thành bác sĩ, kỹ sư.
Người làm công chức.
Người đi vào thương trường.
Và cũng có những người sống một cuộc đời bình dị, nhưng lương thiện và đầy trách nhiệm.
Tất cả đều từng có chung một điểm khởi đầu.
Một sân trường.
Một lớp học.
Một người thầy.
Một tuổi thơ.
Bây giờ, nếu có một người học trò cũ trở lại, đứng trước nơi từng là ngôi trường Đa Nghĩa của mình, chắc hẳn lòng sẽ không khỏi bồi hồi.
Bởi thời gian có thể làm thay đổi cảnh vật, nhưng không dễ xóa đi hình ảnh của một người thầy đã từng cầm tay ta nắn nót những chữ đầu tiên.
Có những bài học kết thúc khi tiếng chuông tan trường vang lên.
Nhưng cũng có những bài học theo ta suốt cả cuộc đời.

CẦU CẨM ĐÔ – CHIẾC CẦU NHỎ CỦA NHỮNG BƯỚC CHÂN QUEN

Trở về phía cầu Cẩm Đô.
Một chiếc cầu nhỏ trên đường Hai Bà Trưng.
Nhỏ đến mức người qua đường đôi khi chẳng để ý mình vừa đi qua một chiếc cầu.
Nhưng với người Dalat ngày xưa, cầu Cẩm Đô lại là một địa điểm rất quen thuộc.
Bởi đây là lối đi tắt để lên Nhà thương Dalat.
Ngày ấy, mỗi khi nhắc đến nhà thương, người ta thường nghĩ đến những chuyến đi đầy lo âu.
Một người mẹ đưa con nhỏ đi khám bệnh.
Một người chồng dìu vợ đang đau yếu.
Một người cha vội vàng đạp xe đưa người thân đến bệnh viện.
Có những bước chân qua cầu trong nỗi lo lắng.
Cũng có những bước chân trở về với niềm vui vì người thân đã qua cơn bệnh.
Tôi nghĩ, nếu những chiếc cầu có thể kể chuyện, hẳn cầu Cẩm Đô sẽ có biết bao điều để nói.
Nó đã chứng kiến những cuộc đời đi qua.
Những ngày vui.
Những ngày buồn.
Những cuộc gặp gỡ.
Những lần chia ly.
Một chiếc cầu không lớn, nhưng lại nối liền biết bao số phận.
Gần khu vực ấy, vào khoảng những năm 1955, còn có một ngôi trường tư thục bậc tiểu học mang tên Lê Thánh Tôn.
Đó cũng là một ngôi trường từng được nhiều gia đình gửi gắm con em đến học.
Tôi rất thích hai chữ gửi gắm.
Bởi ngày xưa, cha mẹ đưa con đến trường không chỉ đơn thuần là tìm một nơi học chữ.
Họ gửi vào đó cả niềm tin.
Niềm hy vọng rằng con mình sẽ được dạy dỗ nên người.
Những người thầy, người cô vì thế không chỉ có trách nhiệm truyền đạt kiến thức, mà còn được gia đình và xã hội trao cho một niềm tin lớn lao.
Ngày ấy, nghề giáo được kính trọng bằng một thứ tình cảm rất chân thành.
Học trò gặp thầy ngoài đường thường khoanh tay cúi đầu chào.
Cha mẹ nhắc đến thầy cô với lòng biết ơn.
Và nhiều năm sau, khi đã trưởng thành, có người vẫn tự hào nói:
"Tôi là học trò trường Lê Thánh Tôn ngày xưa."
Chỉ một câu nói thôi, nhưng phía sau là cả một thời tuổi nhỏ.

TRƯỜNG VIỆT ANH – MỘT NGƯỜI THẦY, MỘT TẤM GƯƠNG

Gần đầu đường Hai Bà Trưng, nơi có cây cầu Hải Thượng, ký ức tôi lại trở về với một ngôi trường tư thục nổi tiếng của Dalat ngày trước.
Trường Việt Anh.
Một ngôi trường gắn liền với tên tuổi của thầy Lê Phỉ.
Với tôi, nhắc đến thầy Lê Phỉ không chỉ là nhắc đến một vị hiệu trưởng đáng kính, một nhà giáo đã dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục.
Mà còn là nhắc đến một người anh trong phong trào Hướng đạo Lâm Viên.
Đó là một mối liên hệ rất đẹp giữa giáo dục học đường và giáo dục nhân cách ngoài thiên nhiên.
Bởi tinh thần Hướng đạo không chỉ dạy những người trẻ biết dựng lều, nhóm lửa, đi rừng hay tìm phương hướng.
Hướng đạo còn dạy con người biết sống có danh dự, biết giúp đỡ người khác, biết yêu thiên nhiên, yêu quê hương và có trách nhiệm với cộng đồng.
Những giá trị ấy cũng chính là những điều mà một nhà giáo chân chính luôn mong muốn truyền lại cho học trò.
Tôi nhớ đến hình ảnh những người huynh trưởng Hướng đạo của Dalat ngày xưa.
Những bộ đồng phục giản dị.
Chiếc khăn quàng trên vai.
Những buổi sinh hoạt ngoài trời.
Những bài hát tập thể vang lên giữa rừng thông.
Những đêm lửa trại, khi ánh lửa bập bùng soi lên những gương mặt trẻ trung đầy lý tưởng.
Một thời đẹp biết bao!
Ngày ấy, chúng tôi không có nhiều phương tiện vật chất, nhưng lại có rất nhiều niềm tin.
Tin vào tình bạn.
Tin vào lời hứa.
Tin vào những điều tốt đẹp mà con người có thể làm cho nhau.
Và những người như thầy Lê Phỉ đã góp phần nuôi dưỡng những giá trị ấy trong tâm hồn nhiều thế hệ trẻ.
Thời gian đã đi qua hơn nửa thế kỷ.
Biết bao ngôi trường đã đổi tên, biết bao mái nhà đã thay đổi hình dáng.
Nhưng những người thầy có nhân cách đẹp vẫn còn sống trong ký ức của học trò và những người từng quen biết.
Bởi một ngôi trường có thể được xây dựng bằng gạch đá.
Nhưng truyền thống của một ngôi trường được xây dựng bằng tâm huyết của những người thầy.
Tôi thử hình dung đường Hai Bà Trưng vào một buổi chiều của sáu, bảy mươi năm trước.
Nắng đã nhạt trên những mái nhà gỗ khu cư xá Nha Địa dư.
Những người công chức Bưu điện trở về sau một ngày làm việc.
Ở khu cư xá Công chánh, vài đứa trẻ đang chơi đùa bên sân nhà.
Tiếng học trò trường Đa Nghĩa ríu rít trên đường tan học.
Phía cầu Cẩm Đô, một chiếc xe đạp chầm chậm đi qua.
Bên mái trường Việt Anh, một người thầy đang thu xếp sách vở sau buổi dạy cuối ngày.
Những hình ảnh ấy, dù chỉ còn được tái hiện trong trí tưởng tượng từ ký ức xưa, vẫn khiến tôi cảm nhận được một Dalat thanh bình đến nao lòng.
Một thành phố mà người ta có thể nhận ra nhau qua dáng đi.
Biết nhau qua tên gia đình.
Và đôi khi chỉ cần nhắc đến một khu cư xá, một ngôi trường, một chiếc cầu là đã biết người ấy thuộc về một góc phố nào.
Ngày nay, đường Hai Bà Trưng đã mang nhịp sống khác.
Xe cộ nhiều hơn.
Nhà cửa đông đúc hơn.
Những khu cư xá xưa có thể đã đổi thay theo năm tháng.
Những đứa trẻ từng chơi đùa trên con đường ấy nay đã thành ông, thành bà.
Có lẽ nhiều người đã không còn.
Có người đã đi xa, sống ở một đất nước khác, dưới một bầu trời khác.
Nhưng tôi tin, mỗi khi nghe nhắc đến con đường Hai Bà Trưng, họ vẫn nhớ.
Nhớ một mái nhà.
Nhớ một người hàng xóm.
Nhớ một thầy giáo.
Nhớ chiếc cầu nhỏ.
Nhớ những buổi sáng lạnh buốt đi học.
Nhớ cả tiếng mẹ gọi về ăn cơm khi trời vừa chạng vạng.
Và có khi, giữa một đêm khuya nơi xứ người, họ bỗng mơ thấy mình trở lại con đường ấy.
Vẫn là đứa trẻ ngày xưa.
Vẫn chiếc cặp sách trên vai.
Vẫn tiếng chuông trường.
Vẫn con dốc nhỏ.
Chỉ có điều, khi thức giấc, mới chợt hiểu rằng mình đã đi xa tuổi thơ hơn nửa thế kỷ.
Ở tuổi này, tôi thường có một cảm giác rất lạ mỗi khi nhớ về những con đường Dalat xưa.
Tôi không chỉ nhớ cảnh vật.
Tôi nhớ những con người từng sống trong cảnh vật ấy.
Bởi một ngôi nhà không có người ở chỉ là một kiến trúc.
Một ngôi trường không có tiếng học trò chỉ là một công trình.
Một con đường không còn bóng người quen đôi khi trở nên xa lạ, dẫu ta đã đi qua nó hàng nghìn lần.
Điều làm nên linh hồn của một thành phố chính là con người.
Tôi thương những mái nhà gỗ khu cư xá Nha Địa dư ngày trước.
Thương những ngôi nhà song lập trên đồi của khu cư xá Bưu điện.
Thương những gia đình công chức Công chánh sống đời giản dị.
Thương những học trò trường Đa Nghĩa, Lê Thánh Tôn, Việt Anh đã lớn lên trong một thời mà mỗi quyển sách, mỗi cây bút đều được cha mẹ nâng niu.
Và tôi kính trọng những người thầy như thầy Châu, thầy Lê Phỉ, những người đã góp phần vun đắp nhân cách cho bao thế hệ.
Tôi nghĩ, một thành phố không chỉ cần gìn giữ những ngôi biệt thự đẹp.
Mà còn cần gìn giữ ký ức về những khu cư xá bình thường.
Bởi nơi ấy từng có những gia đình sống lương thiện, những người lao động tận tụy và những đứa trẻ mang trong lòng ước mơ trở thành người hữu ích.
Đó cũng là một di sản.
Một di sản không được xây bằng đá hoa cương.
Mà được xây bằng tình người.
Chiều Dalat tháng Mười, trời lại chuyển mưa.
Những đám mây xám trôi chậm qua đỉnh đồi. Gió se lạnh lùa vào khung cửa. Tôi ngồi lặng, nghĩ đến con đường Hai Bà Trưng, con đường của những khu cư xá và những mái trường xưa.
Bỗng thấy thời gian thật kỳ lạ.
Ngày còn trẻ, chúng ta chỉ mong đi thật xa, nhìn thấy những chân trời mới, gặp gỡ những điều mới lạ.
Nhưng khi đã bước vào tuổi già, tâm hồn lại thường tìm về những điều nhỏ bé nhất.
Một con đường cũ.
Một mái nhà gỗ.
Một chiếc cầu.
Một người thầy.
Một tiếng chuông trường.
Có lẽ vì khi đi gần hết một đời người, ta mới hiểu rằng hạnh phúc không phải lúc nào cũng nằm ở những điều lớn lao.
Đôi khi, hạnh phúc chỉ là được sống lại một buổi chiều bình yên của tuổi thơ, dù chỉ trong ký ức.
Tôi chợt nghĩ đến
Vạn vật đều vô thường.
Ngôi nhà rồi sẽ cũ.
Con đường rồi sẽ đổi thay.
Con người rồi cũng đến lúc phải rời xa cõi tạm.
Nhưng vô thường không có nghĩa là mọi điều đều trở nên vô nghĩa.
Trái lại, chính vì không có gì tồn tại mãi mãi nên mỗi phút giây được sống, được gặp nhau, được yêu thương mới trở nên quý giá.
Một chiếc lá vàng rơi xuống con đường Hai Bà Trưng hôm nay không phải là chiếc lá của sáu mươi năm trước.
Nhưng màu vàng ấy vẫn có thể đánh thức trong lòng một người già cả một mùa thu đã mất.
Một tiếng chuông trường hôm nay không còn là tiếng chuông trường Đa Nghĩa ngày xưa.
Nhưng trong ký ức của những người học trò cũ, âm thanh ấy có lẽ vẫn chưa bao giờ tắt.
Và một con đường, dẫu đã đổi thay đến đâu, vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim những người đã từng gửi lại nơi ấy một phần đời mình.
Ngoài trời, mưa bắt đầu rơi.
Tôi khép nhẹ trang ký ức.
Bỗng thấy thương Dalat vô cùng.
Thương những con đường xưa cũ.
Thương những người đã đi qua đời mình.
Thương cả những mái nhà bình dị mà ngày ấy ta đi ngang chẳng mấy khi để ý, để rồi hôm nay nhớ lại, lòng bỗng bâng khuâng.
Đường Hai Bà Trưng, con đường của những mái nhà công chức, những chiếc cầu nhỏ và những ngôi trường xưa.
Một con đường chỉ dài khoảng ba cây số.
Nhưng nếu đo bằng ký ức của những người từng sống nơi đây, có lẽ nó dài hơn cả một đời người.
Bởi có những con đường, ta đi hết chỉ trong một buổi sáng.
Nhưng để đi hết những thương nhớ về nó, có khi phải mất cả một đời.
Dalat vẫn còn những con đường.
Nhưng người xưa, nay đã về đâu?
Chỉ còn mưa rơi trên mái cũ.
Và một đời thương nhớ, lặng lẽ chảy qua cầu.../.

Binh PhamVan

No comments:

Blog Archive