Wednesday, October 28, 2026

NGƯỜI THIẾU PHỤ

(Trích hồi ức Kinh tế mới)

Tg: Hoàng Kao -

Cạnh rẫy nhà tôi còn 1 vạt rừng hoang lâu nay vẫn chưa có người lên ở. Cây cối um tùm, lâu lâu sau những con mưa nhỏ, tôi hay vào trong vạt rừng đó để tìm nấm mối hay bẻ ít măng rừng về ăn. 

- Khoảng giữa năm 1977. Vào một buổi trưa, có người phụ nữ còn khá trẻ khoảng 26, 27 tuổi dáng vẻ mệt mỏi gồng gánh hành lý cùng một đứa con nhỏ chừng mới hơn 1 tuổi tới ở trên vạt đất rừng bỏ hoang cạnh nhà tôi. Gia tài của chị vỏn vẹn trong đôi quang gánh mà đứa con chị đã chiếm gần hết một đầu gánh. Còn lại là ít quần áo, vài cái xoong nồi, 1 cái chiếu gấp đôi, 1 túi gạo cùng ít chai lọ đựng gia vị. Sau này tôi biết tên chị là Ánh. Thân gái dặm ngàn, ngày mới lên chị phát tạm một vạt đất nhỏ giữa đám cây rừng rồi trải tạm cái chiếu làm chỗ ngủ cho 2 mẹ con. Còn bếp nấu ăn thì cũng giống như mọi người trên kinh tế mới thời bấy giờ là chỉ có 3 cục đá chụm lại làm ông Táo mà thôi. Vài hôm sau, vài người đàn ông trong xóm qua chặt cây giúp chị dựng một cái chòi tạm cho 2 mẹ con có chỗ che mưa, nắng. Ba tôi cũng qua giúp, còn tôi thì hăng hái phụ phát quang quanh nơi chị ở cho trống trải, phòng ngừa rắn rết bò vô nhà chị. Chỉ trong vài hôm là đã xong cái chòi tạm cho hai mẹ, cũng vách đan bằng mớ cây rừng, mái lợp vài chục tấm tranh lên là xong. Vậy là, chị đã có chỗ chui ra, chui vào và cháu bé cũng ấm áp hơn mỗi đêm về trong cái lạnh buốt của núi rừng cô quạnh. 

Thời đó, tuy nghèo mạt rệp và vô sản như nhau, nhưng cái tình người miền Nam cùng chung cảnh ngộ lại rất đáng quý biết nhường nào. Không đàn ông nào lợi dụng hoàn cảnh của chị để sàm sỡ hay quấy rối. Trong khi chị còn trẻ và khá xinh xắn với nước da bánh mật cùng đôi mắt đẹp đen láy nhưng luôn thường trực một nỗi buồn nào đó mà có lẽ chỉ mình chị biết. 

Tôi hồi đó, đã dần quen với khổ ải vì lên trước chị hơn nửa năm, tôi quen đi rừng, quen chặt cây, gánh củi... nên thường ban ngày tôi cùng vài đứa bạn lầm lũi trong rừng xanh, núi đỏ để chặt phá cây rừng đổi gạo qua ngày. Còn chị là phụ nữ, lại có con nhỏ nên chị ở nhà phát loanh quanh gần chỗ ở trồng vài cây cà dĩa, vài mớ rau thơm, ít cây đậu bắp hay vài bụi xả... Có lẽ chị có ít tiền dành dụm, nên thỉnh thoảng chị gửi tiền nhờ tôi ra quán tạp hóa ở đầu đường mua giùm chị ít nhu yếu phẩm. Hay khi tôi gánh củi xuống thị trấn bán thì chị cũng nhờ mua thứ này, thứ kia giùm chị. Cứ thế, cuộc sống buồn tẻ của chị trôi qua. 

Ngày ngày, chị lủi thủi một mình với đứa con mới biết đi chập chững. Cháu bé còn quá nhỏ để hiểu những gì người lớn đang phải đối mặt nơi chốn rừng núi thâm u, nơi ánh sáng văn minh không tài nào rọi tới được(nhưng sau 75 thì làm gì còn văn minh đâu mà chiếu với rọi). Ban ngày còn đỡ, ban đêm thì chỉ ánh đèn dầu leo lét, cách vài ba chục mét mới có một cái nhà. Nhiều nhà tiết kiệm dầu, nên chỉ lấy ánh sáng bằng mớ củi đốt giữa nhà. Thời đó, hình như ai cũng đi nhẹ, nói khẽ...Nếu đi ngang qua những những căn nhà vào ban đêm chỉ nghe tiếng thì thầm chuyện trò của họ. Hệt tiếng ma rừng than thở với nhau. Khi củi cháy hết, bóng đêm bao trùm núi rừng và trong những nếp nhà, thì cũng là lúc tất cả chìm vào giấc ngủ. Chờ sáng mai lại vùi đầu vào những cánh rừng, nương rẫy để mưu sinh. 

Người có gia đình đầy đủ khổ một, chị một thân càng khổ gấp bội, nhưng không khi nào tôi nghe một tiếng thở than nào từ chị. Những hôm không đi chặt củi trên rừng và rảnh rỗi thì tôi qua chẻ giùm chị mớ củi cho chị nấu ăn, hay hái cho chị ít rau tàu bay. Một hôm, ba tôi về thành phố có công việc, chỉ còn lại mình tôi. Trong khạp còn ít gạo nên tôi để dành hôm sau nấu ăn đi rừng, còn hôm đó, tôi luộc tạm vài củ khoai mì ăn đỡ. 

Buổi xế chiều tôi qua nhà chị chơi, coi chị có nhờ gì thì tôi làm giùm. Chị chỉ nhờ tôi chẻ giùm ít củi cho chị nấu ăn. Chị hỏi: Ba em đâu mà sáng giờ chị không thấy ông? Tôi nói ba về thành phố có công việc ít hôm sẽ lên lại. Chị nói tiếp: Chiều nay em ở ăn cơm với chị, khỏi nấu làm gì vì có mình em nấu nướng mất công. Mai mốt nếu ba chưa lên, em đi rừng về cứ qua chị ăn. Không sao hết, nhà chị còn gạo, mỗi bữa chỉ độn thêm ít khoai là đủ chị em mình ăn rồi! Tôi chỉ dạ rồi im lặng. 

Rồi chị lấy nồi đi đãi gạo, tôi nhóm lửa trên 3 cục đá kê trong cái bếp nhỏ. Chị nói: Em chạy ra suối hái mớ cải tàu bay vô chị nấu canh với mấy con cá khô, chứ ăn cá khô nướng hoài mặn quá rồi uống nước muốn chết, nửa đêm chị không dám ra ngoài... tại chị sợ ma! Tối nào cũng nghe mấy con Cú kêu trên tàn cây bên hông nhà muốn bủn rủn tay chân. Tôi chạy vù đi, lát sau ôm về cho chị mớ cải tàu bay xanh mướt có mùi vừa thơm vừa hăng nhẹ. Đứa con chị ngồi chơi trên cái sạp cây cũng là chỗ ngủ của 2 mẹ con. Hồi đó, trên kinh tế mới nhà ai cũng vậy, chỗ ngủ chỉ là những cây rừng ghép lại, trên trải cái chiếu. Thậm chí có nhà còn không có nổi chiếc chiếu. Tôi vào nhà chơi với cháu bé, chị loay hoay nấu ăn. Mặt trời nghiêng dần xuống những tàn cây rừng, tiếng những con chim gọi nhau về tổ, tiếng gió đuổi nhau xạc xào trên những tàn cây. Khói nấu ăn tỏa lên rồi vướng víu vào những tàn lá trên cao như không muốn tan đi. Không gian trên rừng núi vào lúc hoàng hôn luôn tĩnh lặng, hiu quạnh và rất buồn. Lát sau có tiếng chị ngoài sân: Cơm nước xong rồi, em ra ăn luôn chứ để lát tối không thấy đường! Tôi bồng cháu bé ra cho chị. Thấy chị đã bày sẵn dưới đất vài con cá nướng, xoong canh cải tàu bay nghi ngút khói, hai cái chén cùng 2 đôi đũa tre. Chị bới cơm rồi dúi chén cơm vào tay tôi: Em ăn đi cho nóng, tối nếu không ngủ ở nhà thì qua bên chị ngủ cho vui! Bữa cơm độn như mọi ngày tôi ăn, nhưng hình như ăn bên nhà chị có cảm giác nó bỗng ngon hơn. 

Tôi hỏi chị: Sao không thấy chồng chị đi cùng chị lên đây? Chị vừa mớm cơm cho đứa con và khẽ thở dài: Chồng chị mất tích năm 75, ảnh đóng quân trên Pleiku. Chị chờ không thấy ảnh về, khi đó chiến cuộc lộn xộn không một tin tức gì cả. Vài người bạn rủ chị cùng di tản vô Nam, nhưng nếu chị đi và chồng chị về thì ảnh không biết tìm chị ở đâu. Thành ra, chị ở lại và chờ, chờ hoài... Rồi cho đến sau 75 ảnh vẫn biệt tin. Một mình chị xoay sở sinh con ở thành phố, vì quê chị tít miền Tây lận. Tiền bạc cạn kiệt dần, may là chị còn dành dụm ít vàng nên bán ăn lần hồi. Một hôm, mấy ông khóm trưởng đến biểu chị đi kinh tế mới, chứ ở thành phố không sống nổi đâu. Vậy là chị có mặt ở đây. 

Chị nhai nhỏ miếng cá khô rồi đút cho cháu bé. Nó giương đôi mắt thơ ngây tròn xoe nhìn má nó rồi vừa chỉ tôi vừa bập bẹ: Chú...chú..! Tôi cười với nó, cu cậu nhoẻn miệng cười theo. Rồi chị nói tiếp: Đời chị coi như bỏ đi, nhưng còn con chị, nó không thể lớn lên ở trên vùng rừng thiêng tăm tối này, rồi ngày ngày phải bươn chải trong chốn rừng sâu để đốn củi, làm than và mãi không biết chữ. Trên này, ngoài những cánh rừng xanh và những ngọn núi cao, ngoài ra trường lớp không có, bịnh viện, nhà thương cũng không... Tương lai nó rồi sẽ ra sao? Chị đã hứa với chồng chị dù không biết ảnh còn sống hay đã chết rằng chị sẽ nuôi con ăn học và lớn khôn. Trước khi lên đây, họ nói trên này có đầy đủ hết nên đừng lo gì. Đến khi đặt chân lên trên này thì chị mới vỡ lẽ những gì họ nói là hão huyền, chỉ có dốt nát, đói nghèo là thật! Rồi chị lại thở dài, đôi mắt nhìn xa xăm đâu đó ngoài cánh rừng xa đang chìm dần vào bóng hoàng hôn. 

Cơm nước xong, là lúc trời nhá nhem tối, tôi giúp chị thu dọn chén bát, còn chị bồng đứa nhỏ đang buồn ngủ vô đặt lên sạp. Bỏ mùng xong chị ngồi ngay mép giường khe khẽ hát: 

"Ba năm qua em trở thành thiếu phụ Ngồi ru con như ru tình sầu Xin một đời thôi tiếc thương nhau Xin một đời ngủ yên dĩ vãng Ba năm qua em trở thành thiếu phụ Ngồi ru con ru quên phận buồn Kỷ niệm nào ghi dấu trên tay Cho lòng này dài những cơn đau..." 

Giọng chị thật buồn, hình như có những giọt sương đọng quanh mắt chị. Đứa con đã ngủ say, chị bỏ mùng rồi bước ra sân. Tôi đang ngồi bó gối dưới mái hiên ngó mấy con dơi bay qua, bay lại trước nhà. Tiếng cánh vỗ nghe phần phật. Tiếng giun dế trỗi lên bài ca bất tận nghe thật thảm sầu. Rồi chị tới ngồi cạnh tôi. Giọng chị khẽ khàng: Có lẽ chị không thể ở trên này lâu dài, nó quá cực khổ với chị, mà đi liền thì sợ bị bắt lại rồi bị làm khó dễ, nên có lẽ một ngày nào đó chị thấy thuận tiện rồi mới trốn đi. Còn bây giờ, trước mắt cứ tạm qua ngày ở đây thêm ít thời gian rồi tính! Chị đằng hắng rồi hỏi: Còn má em đâu sao không thấy lên này? Tôi cười cười đáp: Nhà em hệt câu thơ của nhà thơ Du Tử Lê" Không chiến chinh mà cũng lẻ đôi..."- Má em không chịu lên đây, má nói có chết, hay sống thì bà cũng ở thành phố chứ không đi đâu hết... Chị cười buồn: Thôi, vậy cũng được em, má em đúng đó. Ở lại thành phố may ra còn giữ được cái nhà, chứ đi là mất hết. Như chị bây giờ nếu có về thì cũng về quê thôi. Quê chị tận miền Tây, rồi theo chồng ra Nha Trang. Nhà cửa khi lên đây thì bỏ lại, giờ về chắc nó không còn của mình. Chị lại thở ra một tiếng thật dài. 

Bóng đêm bao trùm núi rừng, tiếng côn trùng kêu não ruột khắp nơi. Cây đèn dầu nhỏ xíu tù mù không đủ soi sáng mặt người. Không gian vắng lặng nghe được cả tiếng lũ muỗi vo ve bên tai. Vài tháng sau, chị bỏ vùng đi thật. Có lẽ chị về lại quê của mình chứ nhà cửa ở thành phố còn đâu mà về. Lâu ngày mối mọt đùn lên quanh căn nhà nhỏ. Và nó đổ sập sau một đêm mưa rừng tầm tã. Rồi cây cỏ lại mọc lên như trước kia khi chị chưa có mặt ở nơi khổ ải này.




No comments:

Blog Archive