TIẾNG VÕNG ĐONG ĐƯA
Chuyện một người trở về sau gần nửa thế kỷ.
Tôi trở về Sa Đéc vào một buổi chiều cuối mùa mưa. Thành phố nhỏ hơn trong trí nhớ của tôi. Thành phố không những phát triển hơn mà nó như co rụm lại theo thời gian. Con đường dẫn vô xóm vẫn còn những ổ gà, hai bên là những căn nhà thấp với mái ngói bạc màu theo năm tháng.
Có những nơi người ta tưởng đã quên từ lâu, nhưng chỉ cần một lần trở lại, mọi thứ bỗng thức dậy. Từ mùi đất sau cơn mưa đến tiếng xe ồn ào ngoài đường, từ tiếng rao hàng ngoài chợ đến những tán me già im lặng bên vỉa hè, tất cả khiến tôi ngỡ như chưa từng có cuộc chia ly nào xảy ra.
Tôi đứng rất lâu trước một con đường nhỏ gần chiếc cầu sắt nơi có quán cơm của gia đình em. Gần năm mươi năm trước, tôi từng đi qua đây mỗi ngày.
Hồi đó tôi còn trẻ, tóc đen, áo sơ mi trắng đồng phục và chiếc quần tây đã bạc màu ở đầu gối. Tôi thường đạp chiếc xe đạp cà tàng đến một quán cơm bình dân ở cuối đường. Khi thì ăn một dĩa cơm, khi thì chỉ kiếm cớ ghé qua để nhìn người con gái mình thương.
Những năm tháng ấy nghèo nhưng nhẹ tênh. Chỉ cần được nhìn thấy em cười, được nghe vài câu hỏi han vu vơ là tôi đủ vui suốt cả ngày.
Tôi đi mà không biết ngày nào trở lại, cũng không đủ can đảm nói với người con gái ấy mình sẽ đi đâu, bằng cách nào, rồi cuộc đời sẽ đưa mình về phương trời nào. Tôi chỉ nghĩ mình đi một thời gian, khi có dịp sẽ trở về.
Tuổi trẻ thường vậy. Cứ tưởng những người thương mình sẽ còn đứng đó, những con đường quen sẽ còn đó, và thời gian dù có trôi cũng không thể lấy mất những điều đã thuộc về mình. Tôi đã lầm. Cuộc đời lấy đi mọi thứ nhanh hơn rất nhiều so với những gì một chàng trai trẻ có thể hình dung.
Quán cơm vẫn còn nằm đó dưới mái hiên thấp. Tấm bảng gỗ treo trước cửa đã bong gần hết lớp sơn, chỉ còn lờ mờ ba chữ "Cơm Bình Dân" và trên cửa chính có bảng "Cần sang quán" dấu mực còn mới.
Bên trong là những chiếc bàn gỗ cũ, những chiếc ghế đẩu thấp và chiếc tủ kính đựng cá kho tiêu, hột vịt kho, thịt nướng cùng vài đĩa rau luộc. Mùi nước mắm kho từ phía sau nhà thoảng ra làm tim tôi thắt lại.
Tôi bước vào và chọn chiếc bàn trong góc, nơi ngày xưa mình thường ngồi. Một cô gái chừng hơn ba mươi tuổi ra hỏi món ăn. Tôi gọi một dĩa cơm cá rô kho với chén canh chua rồi lặng lẽ quan sát mọi thứ xung quanh.
Khi cô gái mang cơm ra, tôi chợt thấy đôi mắt cô quen thuộc lạ thường. Đôi mắt hiền, hơi buồn và luôn như đang giấu trong lòng một nỗi mệt mỏi nào đó.
Tôi chưa kịp nghĩ thêm thì từ phía sau nhà vọng ra tiếng một người đàn bà gọi con gái. Chỉ một tiếng gọi rất bình thường thôi nhưng làm tay tôi khựng lại.
Tôi quay đầu nhìn về phía sau nhà. Một chiếc võng cũ giăng ngang hai cây cột nhà. Trên võng là một người đàn bà tóc bạc trắng nằm nghiêng, tay cầm chiếc quạt mo phe phẩy. Lưng bà đã còng, gương mặt gầy đi rất nhiều và đôi mắt đục mờ gần như không còn nhìn rõ người đối diện.
Nhưng tôi nhận ra bà ngay. Đó là người con gái tôi đã bỏ lại ở Sa Đéc năm 1979.
Ngày xưa em đẹp lắm. Mái tóc dài chấm lưng. Nước da trắng. Hai má có lúm đồng tiền mỗi khi cười. Những buổi chiều quán vắng, chúng tôi thường đạp xe ra bờ sông ngồi nhìn nước chảy đẩy những đám lục bình trôi về hạ nguồn. Có những hôm chẳng nói với nhau được bao nhiêu, vậy mà vẫn có thể ngồi đến khi mặt trời lặn mới chịu về.
Hồi đó tôi cứ nghĩ thương nhau là rồi sẽ cưới nhau. Mãi về sau tôi mới hiểu tình yêu đôi khi không thua vì hết thương. Nó thua vì hoàn cảnh, vì thời cuộc, vì những chuyến đi không có lời hẹn rõ ràng và vì con người không đủ sức giữ lấy điều mình muốn giữ.
Từ hôm đó, tôi bắt đầu ghé quán thường xuyên hơn. Có hôm vào buổi trưa, có hôm gần chiều tối. Tôi tự nhận mình chỉ là một người khách xa quê vô tình tìm được quán cơm hợp khẩu vị.
Tôi thường ngồi ở chiếc bàn trong góc, gọi một dĩa cơm cá kho và rau muống xào tỏi rồi lặng lẽ nhìn khách ra vào. Dần dần tôi biết cô gái phục vụ chính là con bà. Cô bị bệnh thận mạn tính, gương mặt lúc nào cũng xanh xao. Nhiều khi đang dọn bàn phải ngồi xuống nghỉ một lúc mới đứng lên được.
Hai mẹ con nương tựa vào nhau bằng quán cơm nhỏ này. Bà già yếu, mắt gần như không còn thấy rõ, còn cô con gái vừa bán hàng vừa chăm mẹ. Mỗi lần nhìn cảnh ấy, lòng tôi nặng trĩu.
Rồi trong hai tuần về thăm quê, sáng nào tôi cũng ghé quán. Dần cô gái quen mặt và bắt đầu nói chuyện với tôi thường hơn. Tôi hỏi thăm vu vơ về cuộc sống của gia đình. Ba cô mất hơn mười năm nay vì bệnh. Mẹ cô không còn giúp cô nhiều vì mắt mờ, sức yếu.
Tôi sống ở Canada mấy chục năm. Trải qua đủ những ngày tháng chật vật của người tha hương rồi cũng có được cuộc sống yên ổn. Tiền bạc với tôi không còn là chuyện quá lớn. Vì vậy, có nhiều đêm nằm trong nhà đứa em ở quê, tôi nghĩ đến một điều. Hay là mình mua lại quán cơm này.
Không phải để kinh doanh hay kiếm lời. Tôi chỉ muốn sửa lại mái nhà đã cũ, thay những bộ bàn ghế lung lay, để mẹ con bà đỡ vất vả hơn. Quan trọng hơn, tôi muốn có một lý do để được thường xuyên xuất hiện nơi đây mà không khiến ai nghi ngờ.
Thế nhưng lần nào nghĩ đến, tôi cũng gạt ý định đó đi. Tôi sẽ nói sao với họ? Một người khách mới quen bỗng nhiên muốn mua lại quán cơm của hai mẹ con nghèo khó. Dù có viện ra lý do gì, người ta rồi cũng sẽ hỏi tại sao. Mà câu trả lời thật sự đã bắt đầu từ gần nửa thế kỷ trước, một câu trả lời tôi chưa từng đủ can đảm nói ra.
Một buổi trưa, cô con gái đi mua thuốc. Trong quán chỉ còn tôi và bà. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều giữa cái nắng yên ắng của miền Tây.
Tôi đang cúi xuống ăn cơm thì nghe tiếng chiếc quạt mo rơi xuống nền. Bà quờ quạng đưa tay tìm. Tôi vội bước vào nhặt chiếc quạt lên, đặt vào tay bà rồi hỏi bà có cần gì không. Bà quay đầu về phía tôi, như cố nghe thật rõ giọng nói của người đang đứng bên cạnh.
Một lúc lâu sau bà chậm rãi nói:
“Giọng nói của ông làm tôi nhớ đến một người”
Tôi ngạc nhiên nhưng không biết phải trả lời thế nào nên chỉ ngồi yên. Bà cười rất nhẹ rồi bảo đó là một người đã bỏ bà đi gần năm mươi năm trước. Người đó rời quê mà không để lại địa chỉ, cũng không biết còn sống hay đã chết.
Bà nói có những năm bà từng nghĩ chắc tôi đã nằm lại đâu đó giữa biển khơi. Có những năm khác bà lại nghĩ biết đâu tôi vẫn còn sống ở một phương trời rất xa nhưng không nhớ đường về nữa.
Tôi ngồi lặng người. Suốt gần nửa thế kỷ qua, tôi vẫn nghĩ người mang nhiều day dứt nhất là mình. Nhưng hôm ấy tôi mới hiểu người ở lại cũng mang theo một nỗi đau dài bằng ngần ấy thời gian.
Bà kể rằng sau khi tôi đi, bà chờ tin một thời gian rất lâu. Cha mẹ thúc giục chuyện chồng con. Hoàn cảnh khó khăn. Cuộc sống không cho phép bà đứng mãi một chỗ để đợi. Cuối cùng bà lấy chồng. Không phải vì quên người cũ, mà vì cuộc đời phải tiếp tục.
Bà nói mọi chuyện bằng giọng bình thản, không trách móc, cũng không oán hờn. Chính điều đó mới làm tôi đau hơn. Nếu bà trách, có lẽ tôi còn nhẹ lòng hơn một chút. Đằng này, bà chỉ âm thầm giữ lại một góc ký ức cho người đã ra đi.
Từ hôm đó tôi càng ít nói hơn mỗi lần ghé quán. Tôi không hỏi về người chồng đã mất từ khi nào. Không hỏi bà đã sống những năm tháng ấy ra sao. Tôi cũng không cố gắng để bà nhận ra mình. Tôi chỉ ngồi đó như một người khách quen.
Dần dần tôi là khách quen với quán. Đôi khi tôi giúp cô con gái mang chồng chén vào bếp. Đôi khi nhặt chiếc quạt mo rơi bên võng. Đôi khi chỉ để nghe tiếng bà ho vài tiếng rồi trở mình nằm nghỉ.
Tôi biết mình không thể trở lại làm chàng trai năm hai mươi tuổi ngày nào. Bà cũng không còn là cô gái tóc dài bên bờ sông năm ấy. Giữa chúng tôi là gần nửa thế kỷ của những cuộc đời riêng, những mất mát và những mùa mưa nắng đã qua.
Ngày trở lại Canada đến gần, thời gian qua nhanh quá. Tôi ghé quán vào một buổi chiều. Trời mưa tháng tám rơi dài và buồn bã. Những giọt nước còn đọng dưới mái hiên thỉnh thoảng rơi xuống sân nghe lộp bộp.
Tôi ngồi ở chiếc bàn quen thuộc rất lâu. Nhìn chiếc tủ kính cũ. Nhìn căn bếp ám màu khói. Nhìn mấy bộ bàn ghế đã sờn theo năm tháng và chiếc võng vẫn đung đưa phía sau nhà.
Bữa cơm hôm ấy tôi ăn chậm hơn mọi lần, chậm đến mức chính tôi cũng biết mình đang cố kéo dài thời gian. Có cảm giác chỉ cần đứng dậy bước ra khỏi cửa, tôi sẽ lại một lần nữa rời khỏi một phần tuổi trẻ của mình.
Ăn xong, tôi bước đến gần chiếc võng. Bà nghe tiếng chân liền quay đầu về phía tôi. Đôi mắt đã mờ đục ấy hướng vào khoảng không trước mặt rồi bất ngờ hỏi: "Anh Hai đó hả?" Tôi đứng chết lặng.
Không biết đó chỉ là sự tình cờ hay trong sâu thẳm ký ức, trái tim bà đã nhận ra điều mà đôi mắt không còn đủ sức nhìn thấy. Tôi không trả lời, bà cũng không hỏi thêm.
Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà. Bàn tay ngày xưa từng nắm tay tôi bên bờ sông Sa Đéc, giờ chỉ còn những đường gân xanh nổi rõ dưới lớp da nhăn nheo của tuổi tác. Bà siết nhẹ tay tôi, nở một nụ cười rất hiền rồi bảo khi nào rảnh thì ghé ăn cơm nữa. Tôi cố gắng lắm mới đáp được một tiếng vâng.
Tôi buông tay bà và bước ra khỏi quán. Đi được vài bước, tiếng võng phía sau lại bắt đầu đưa. Kẽo kẹt. Kẽo kẹt. Âm thanh ấy theo tôi ra tận đầu hẻm. Tôi dừng lại giữa con đường còn ướt nước mưa. Lần đầu tiên sau gần năm mươi năm, tôi thật sự muốn quay đầu trở lại.
Muốn nói cho bà biết tôi là ai. Muốn xin lỗi vì đã để bà chờ trong mịt mùng suốt từng ấy năm. Muốn kể cho bà nghe những mùa đông tuyết trắng nơi xứ người, những đêm nhớ quê đến mất ngủ và rằng chưa bao giờ tôi quên bà. Nhưng rồi tôi vẫn đứng yên. Tôi chợt không biết nếu nói ra sự thật thì ai mới là người được thanh thản hơn. Bà, hay chính tôi.
Sau lưng tôi là căn nhà cũ, là chiếc võng vẫn đều đặn đung đưa, là một người đàn bà đã dành cả tuổi trẻ để thương một người ra đi không có ngày hẹn trở lại. Còn phía trước là quãng đời còn lại của cả hai. Tôi không biết con đường nào mới là đúng.
Có thể tôi sẽ quay lại. Có thể tôi sẽ tìm một cách nào đó để giúp mẹ con bà mà không cần giải thích điều gì. Cũng có thể một ngày nào đó tôi sẽ gọi tên bà và nói thật tôi là ai. Hoặc cũng có thể tôi sẽ tiếp tục im lặng.
Điều đau đớn nhất là cả hai vẫn còn đó, vẫn còn thương một phần ký ức của nhau, nhưng tuổi trẻ đã đi mất rồi và sẽ không bao giờ quay lại nữa.
Tôi bước tiếp trên con đường về làng. Gió chiều thổi qua những cánh đồng còn đọng nước sau mưa. Phía sau lưng, chiếc võng hẳn vẫn đang đưa trong căn nhà cũ ở Sa Đéc. Và lần đầu tiên trong đời, tôi không chắc mình còn đủ can đảm để rời đi thêm một lần nữa.
Bởi lần này tôi đã biết rất rõ điều mình để lại phía sau. Đó không chỉ là một quán cơm cũ hay một phần ký ức tuổi trẻ. Đó là một người con gái đã từng thương tôi bằng cả tuổi xuân của bà, và một món nợ ân tình mà có lẽ suốt phần đời còn lại, tôi vẫn không biết phải trả bằng cách nào.
(Trích từ tập truyện ngắn “Mùa Lá Đỏ”)
Tim Nguyễn
London, đầu xuân 2017

No comments:
Post a Comment