Chỉ trong chớp mắt đầu đã bạc
Lời phi lộ: tháng 6 này đánh dấu 40 năm tôi đặt chân tới Mỹ. Tóc xanh đã bạc chỉ sau một cái chớp mắt 40 năm. Bài viết dưới là trích đoạn trong bút ký dài của cuộc hành trình “Nắng hạ nung người và mùa hè rực rỡ”. Trong trại tị nạn, tôi luôn nghe câu: “Vượt biên có phước, định cư có phần”. Đi định cư ở một nước thứ ba thì không ai giành phần của ai. Thượng đế đã sắp xếp cho từng người. Có người ở trại tị nạn 5-10 năm dài, chờ ngày định cư. Còn tôi, may mắn ở đó chưa tới 11 tháng. Và đây, là những tháng ngày cuối ở trại tị nạn và ngày đầu tới Mỹ.
+++++
Tháng sáu, Bataan nắng khét lẹt thịt da. Những buổi trưa đi học, nắng phủ chụp, đầu nóng hừng hực, cứ tưởng tóc mình bốc cháy. Đi trên đường nhựa, hơi nắng bốc lên, đập vào mắt, ngàn con đom đóm đang bay, chói lòa. Nắng té túa. Nắng đỏ rực. Nắng dội ngược trên những chiếc nón nhấp nhô. Nắng như thiêu rụi những đọt chồi non vừa nhú. Có những lúc Bataan thiếu gió, nắng càng hung hãn hơn, xốc tới, lấn ép, đẩy những người tị nạn cu rú trong nhà, cho đến lúc chiều tối, trừ khi đi học, đi làm thiện nguyện.
Tôi chuẩn bị giã từ nắng hạ Bataan để đến Mỹ. Khóa học đã xong, tôi chuẩn bi lên đường đi về phía thiên đường. Chưa tới một năm, chúng tôi đã bỏ thiên đường (mù) CNXH để về phía thiên đường khác, nơi phần lớn những người tị nạn đều mong muốn đến. Sau khi mãn khóa, mấy thằng bạn học và tôi, cứ khoảng xế chiều, cuốc bộ lên dãy văn phòng Cao Ủy Tị Nạn, nơi thường thông báo ai sẽ đi chuyến nào, và đi về đâu. Nhìn danh sách, không thấy tên mình, mừng. Lúc đó chúng tôi biết trước sau gì cũng đi, nên ở lại thêm vài ngày, hay vài tuần cũng không có hề gì. Mà thực ra, nhiều thằng muốn từ từ đi cũng được. Dẫu gì, cái đất nắng gió này cũng có nhiều cái dễ thương, có nhiều điều đáng nhớ. Và ai cũng biết rằng, xa nó là sẽ khó có cơ hội trở lại trong đời.
Ai có bà con, người quen bảo trợ, họ đã biết sẽ về đâu, ai sẽ đón mình, còn những người không có ai bảo trợ, sẽ được những ân nhân mở lòng hào hiệp, hay các tổ chức, hội đoàn như chùa hoặc nhà thờ bảo trợ. Và họ sẽ không biết cho tới lúc gần lúc lên đường. Nhưng không sao, miễn tới Mỹ là được. Sau này mới biết, có những trường hợp tréo ngoe. Người có nghề nghiệp đánh cá ở Việt Nam, được bảo trợ về vùng Trung Mỹ, sống với những đồng bắp tít tắp chân trời để làm nghề nông. Có người được đưa về những vùng giá lạnh Nebraska vào mùa tuyết đổ, mà sức chịu đựng không thể chịu thấu cái lạnh ở đây. Dần dần, rồi cũng tìm nhau qua những cánh thư, rồi cũng cũng từ bỏ những vùng đó mà về Cali nắng ấm, để được gặp đồng hương, mà xa hơn là được nói tiếng Việt.
Trong lớp tôi, tôi là một trong những đứa có tên đi khá sớm, chỉ sau bốn ngày mãn khóa. Ngày thứ năm tôi lên đường. Sau này được biết, có đứa đến hai, ba tuần sau mới có danh sách rời khỏi Bataan. Đêm trước ngày đi, tôi túi rỗng cùng bốn đứa đi bộ một vòng từ vùng 10, qua vùng 9, vùng 8, lên vùng 7, trong một buổi tối trăng sáng vằng vặc. Tôi không có xu nào để đãi bạn tôi một chầu cà phê hay nước ngọt trước khi chia tay. Chúng tôi hiểu nhau, cứ thong dong đi, vì biết rồi sẽ không bao giờ trở lại nơi này. Đi, như một lời chia tay với những con đường cũ, con đường xuống chỗ phát thư, đường đến nơi lấy lương thực, đường lên chùa, đường qua nhà thờ, v.v. Mấy đứa kia đi sau, nên tôi cho số điện thoại và địa chỉ của người bảo trợ mình, để sau này liên lạc.
Đêm đó tôi không ngủ, mãi cho đến khoảng gần hai giờ sáng mới chợp mắt. Rồi mới năm giờ, nghe tiếng bơm nước vào bồn chứa ở đầu building, tôi trở dậy. Tuy vậy, hôm nay không dậy lấy nước nữa rồi. Sáu giờ, tôi rục rịch chuẩn bị, đi ra, đi vô, lòng bồi hồi. Tôi sẽ không còn leo lên leo xuống căn gác này hằng ngày nữa rồi. Con đường kia sẽ thèm những đôi chân vui. Góc ngồi nọ sẽ vắng bóng tôi và bằng hữu. Tôi lại ra ngoài, đi một mình. Tôi sẽ không còn thấy những chiếc xe chở ba người, có cả mái che, của những chiếc xe ôm trong trại Bataan. Tôi sẽ lìa xa căn nhà 1004-D thân yêu với những trái tim rộng mở. Tôi sẽ không còn xếp hàng chờ lấy nước, sẽ xa sân banh đầy sỏi đá, bụi tung mịt mù ở những chiều thứ bảy…
Mười giờ mới là giờ hẹn để làm thủ tục trước khi rời trại, nhưng hơn tám giờ là chúng tôi đã rời nhà. Đón chiếc xe ôm, lên vùng Một. Mỗi phút giây lúc này sao mà quí giá quá chừng. Chúng tôi lần lượt làm thủ tục. Ký giấy cam kết trả nợ tiền máy bay vào Mỹ. Tôi còn nhớ, số tiền máy bay chỉ khoảng hơn $600. Và sau sáu tháng sau ngày tới Mỹ, chúng tôi nhận hóa đơn hằng tháng. Cũng nhớ: lúc đó lương tối thiểu ở Cali là $3.25 một giờ. Tôi đã trả mỗi tháng $20, và trả dứt trong ba năm, dù lúc đó cần tiền như cần hơi thở.
Giữa không khí ồn ào, nghẹt hơi người, ký giấy cam kết trả nợ xong, chúng tôi kéo ra bên ngoài, chụp vài tấm hình cùng bằng hữu. Tôi lại đến cây mít mà ngày đầu tiên tôi đã phát hiện tấm bảng mang hàng chữ “Hãy dành một phút suy gẫm về Việt Nam trước khi lên đường định cư”. Vâng, chúng tôi đi mang theo quê hương. Chúng tôi làm một lưu dân nhưng lòng lúc nào cũng hướng về bên kia biển lớn, có mẹ, có cha, có anh chị em. Rồi từng hàng xe buýt chở người tị nạn từ trại chuyển tiếp Manila tới. Họ xuống xe làm thủ tục nhập trại. Chúng tôi lên xe để đi về phía mặt trời. Xe rời vùng Một, chạy qua vùng Năm, cuối cùng vượt qua vùng Mười. Tôi nhìn lại căn nhà trong thoáng chốc. Nước mắt chảy ngược vào trong. Tôi về trại chuyển tiếp Manila, ở một đêm. Lấy những bộ quần áo cũ của mình cho những người tị nạn mới tới đất Phi. Đó là những vòng tròn tiếp nối của cuộc đời.
Có đến đất Phi, mới thấy con người Phi hào hiệp. Suốt chiều dài mười lăm năm đón nhận người tị nạn ở trạm dừng chân đầu tiên, có lẽ chưa có một ghe nào lâm vào nạn hải tặc như những thuyền nhân trên đường đến Thái, Mã, v.v.
Ở trong trại tị nạn, mới thấy người Phi họ nhân đạo thế nào. Họ hiền, họ hiếu khách. Họ có nghèo, nhưng không mất nhân cách. Họ có kỹ cương, nhưng không đàn áp người tị nạn một cách vô cớ. Sau khi thế giới ngoảnh mặt làm ngơ với tị nạn Đông Nam Á, những năm 90’s, ở các trại tị nạn khác, chính quyền sở tại đã cưỡng bách hồi hương, như: Hồng Kông, Thái, Mã, v.v. Bao nhiêu người đã tự rạch bụng mình, đã tự tử để chống lại nạn cưỡng bách. Máu đã đổ, xác người đã ngã xuống. Lương tâm nhân loại đã bị bào mòn. Nạn cưỡng bách vẫn tiếp tục. Máu vẫn tiếp tục đổ để chống đối. Ở Phi cũng có chương trình hồi hương vì đó là chính sách của Cao Ủy Tị Nạn, nhằm chấm dứt chương trình tị nạn của Việt-Miên-Lào. Hằng nghìn đồng bạo nhất định không quay về Việt Nam, quyết ở lại Phi. Chính quyền Phi sau đó đã mở ra con đường sống cho bao ngàn người Việt Nam ở cuối mùa tị nạn. Vì thế mới có làng Việt Nam xây bên ngoài Việt Nam. Cũng vì thế, mới có nhạc phẩm để đời: “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng” hoặc “Bên Em Đang Có Ta” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng.
Với tôi, đất Phi Luật Tân là vùng đất hồi sinh, không chỉ cho tôi, mà còn cho nhiều chục ngàn, trăm ngàn người Việt khác. Chúng tôi đã đi tìm đường sinh trong đất tử. Phi Luật Tân đã mở ra con đường sống, và hơn nữa, là khởi đầu cho bao sự thành công của rất nhiều người dân Việt sau này trên khắp mọi ngóc ngách của quả địa cầu. Một lời cám ơn, trăm lời cám ơn, ngàn lời cám ơn đến đất Phi đều không bao giờ đủ.
***
Hôm sau, tôi bay từ Manila, đến Seoul, Hàn quốc. Sau đó, bay thẳng về Seatle. Sau khi thủ tục hải quan xong, chúng tôi ra cửa, theo chỉ dẫn của người thông dịch làm việc cho IOM. Anh thông dịch viên đưa chúng tôi đến tận cổng chuyển tiếp. Chúng tôi về Los Angeles. Nắng tháng sáu ở Los Angeles không nóng như Bataan. Nắng tháng sáu vàng ngậy. Chúng tôi chờ đợi. Và cuối cùng cũng bay về San Diego. Chưa đầy một năm, chúng tôi đi từ cái nắng nung người của đảo Mindoro, Palawan, Manila, Bataan để rồi chào đón một mùa hè rực rỡ tại Mỹ, mở đầu cho những cơ cực khác, nhưng chân trời đang rộng mở.
Lê Tạo (Đoàn Nhã Văn)
No comments:
Post a Comment