TUẦN LỄ TỴ NẠN 2026
Tuần Lễ Tỵ Nạn năm nay đánh dấu 40 năm Tuần Lễ Tỵ Nạn đầu tiên được tổ chức tại Sydney. Tuần lễ này cũng đánh dấu 46 năm đại gia đình chúng tôi được tái định cư tại Nam Úc trong dịp sinh nhật của Nữ Hoàng Elizabeth II. Những năm tháng bình yên được lớn lên trong tình thương yêu của ba mẹ và gia đình, nhưng tôi chưa bao giờ quên ngày 12 và 13 tháng Sáu, ngày rời trại tỵ nạn Hồng Kông và ngày đến Úc. Hai ngày này cũng là sinh nhật của anh ruột và anh rễ của tôi nên dường như năm nào cả đại gia đình đều nhắc nhau và kể lại chuyện vượt biên.
Năm 1979, khi anh trai tôi được ra khỏi trại tù, hai chị gái cũng đã bị đẩy ra nơi đèo heo hút gió để day học, công an khu vực vẫn không ngừng khủng bố tinh thần Ba tôi, nên Mẹ tôi quyết định đưa cả nhà trốn đi, mặc dù nơi đến là vô định hay dù phải chết trên biển.
Nỗi sợ hãi khi trốn dưới chiếc thuyền mong manh nước ngập nửa người để chờ đưa ra chiếc thuyền lớn hơn một chút, không bằng một chút sợ hãi khi bị chiếc thuyền công an đuổi bắt và Mẹ tôi đã nói với một giọng cương quyết “cả nhà cùng chết chứ không để công an bắt lại”.
Có lẽ ơn trên che chở nên chiếc thuyền của gia đình chúng tôi thoát qua được hải phận, không bị bắt lại, chiếc thuyền tiếp tục theo kế hoạch qua Philippines. Nhưng ngay sau đó, thuyền chúng tôi gặp những cơn sóng lớn phủ ập xuống thuyền, đôi lúc như cuốn xoáy, nhận chìm chiếc thuyền vào lòng biển cả.
Sau cả ngày chống chọi với cơn bão, mưa và gió xoáy, những người đàn ông trên thuyền đều quá mệt vì tát nước và cố gắng giữ con thuyền đừng bị lật. Anh tôi kể lại, Ba và anh lúc đó trùm chiếc poncho vừa che mưa tạt vừa như muốn che mắt lại để không nhìn thấy những cơn sóng phủ trùm lên như muốn nuốt chửng chiếc thuyền. Ba bảo hai anh lớn ráng giữ cho con thuyền nương theo sóng, chứ đừng cố gắng băng qua theo hướng mình muốn đi nữa, rồi tới đâu hay tới đó. Tôi lúc đó say sóng như chết nhưng vẫn còn nghe tiếng Mẹ bảo cả thuyền cầu nguyện.
Nhớ lúc đó tiếng sóng gào, tiếng mưa tạt vào tấm bạt át đi lời cầu nguyện, chỉ còn văng vẳng tiếng nấc nghẹn giữa tiếng cầu kinh.
Khoảnh khắc tối đen đến lặng người. Giữa sự sống và cái chết trong cơn giông tố điên cuồng.
Trời sáng, chiếc thuyền bị vướng vào san hô và mắc kẹt. Ai nấy đều vui mừng vì còn sống sót sau cơn bão, không biết nghĩ đến cái nguy hiểm đang gần kề.
Mưa tạnh, có chút nắng ấm nhưng trời vẫn lạnh buốt. Mạn thuyền vẫn còn đẫm nước, trơn trượt. Tôi cố bám để leo lên phơi nắng. Ở cái tuổi chưa biết lo nhiều và qua nhiều ngày say sóng, không thấy nắng, tôi thèm thấy bầu trời và thèm những hạt nắng soi lên làn da đã sạm khô nước, bám đầy muối.
Sau cơn bão, trên thuyền nước, gạo, thực phẩm, dầu cho máy ghe, tất cả mọi thứ bị trộn lẫn vào nhau và một số bị cuốn đi. Mẹ gom được một ít mật ong, sửa đặc cho mọi người cầm sức. Chân các anh tôi và anh rễ bị san hô cắt đứt vì xuống đẩy chiếc thuyền ra chỗ mắc cạn, máu tuôn lai láng. Chỉ có nước biển dùng làm sát trùng và mảnh áo xé vội buộc vết thương.
Sau nhiều ngày chạy dọc theo ven biển vì sợ còn bão, xa xa thấy nước biển hồng như nước sông, có lúc thấp thoáng thấy nhà ven núi, anh tôi nói có thể thuyền đã bị bão đẩy vào hướng Trung Quốc. Lúc này nỗi lo bị Trung cộng bắt giữ càng khủng khiếp hơn là hết nước, hết lương thực và hết dầu.
May thay, thấy một chiếc thuyền đánh cá lớn của ngư dân Trung Quốc, trên thuyền có người biết tiếng Hoa và Ba tôi đọc được chữ Hán nên ngoắc cầu cứu. Họ đòi trao đổi dầu với những nữ trang họ thích trên tay chị Hai tôi, rồi họ chỉ chúng tôi đi về hướng Hồng Kông.
Cuối cùng sau 10 ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi nhìn thấy một khu đèn sáng rực, cứ tưởng là Hồng Kông nên mừng quá đâm thẳng vào. Nào ngờ đó là chiếc tàu của nước Anh. Được thuyền trưởng cho trẻ em và phụ nữ lên tàu tắm và ăn uống trước khi chỉ chúng tôi chạy tiếp thêm 1 ngày nữa mới đến Hồng Kông.
Dù ở trong trại cấm của Hồng Kông cực khổ, thiếu thốn nhưng gia đình chúng tôi thấy được một cánh cửa mở ra cho miền đất mới.
Tuần Lễ Tỵ Nạn không chỉ nhớ lại hành trình tỵ nạn của riêng gia đình tôi.
Đó là Tuần Lễ để nhắc lại câu chuyện thê lương hơn của hơn một trăm ngàn người Việt khác, những người đã bỏ lại tất cả, không màng sự sống chết để tìm lại quyền được làm người.
Tuần Lễ Tỵ Nạn cũng luôn nhắc lời Mẹ tôi thường nói, “nước Úc đã cưu mang chúng ta, cho chúng ta xây dựng lại cuộc đời, con phải trả ơn cho nước Úc”.
Không những chúng tôi biết ơn Ba Mẹ tôi đã hy sinh tất cả cho tương lai chúng tôi, biết ơn nước Úc cho chúng tôi quyền được sống, được thở và được nói, mà chúng tôi còn biết ơn những niên trưởng đi trước đã biến nỗi đau, nỗi mất mát thành sức mạnh để tạo dựng lại di sản văn hóa Việt Nam để truyền lại cho thế hệ sau, đó là Cộng Đồng Người Việt Tự Do, trong 50 năm qua đã luôn giữ được linh hồn, bản sắc người Việt tại Úc.
Vì vậy tôi luôn nhắc nhở bản thân sống cho xứng đáng với hành trình Ba Mẹ đã hy sinh, không được phản bội lại hai chữ Tự Do đã đánh đổi bằng mạng sống. Phải gìn giữ bản sắc Việt và biểu tượng căn cước tỵ nạn cho thế hệ mai sau và truyền tải cho thế hệ sau biết rằng tự do là nước mắt, là máu của bao nhiêu người ngã xuống.
Tuần Lễ Tỵ Nạn cũng không chỉ là ký ức đau thương mà là sức mạnh, sự kiên cường, dũng cảm, lòng nhân ái và là bản sắc của người Viêt Tự Do.
* Hình ảnh từ trên mạng. Cám ơn những người đã chia sẻ hình ảnh.
* Ban múa là những học sinh Việt tại trường Trung học Woodville, Nam Úc đóng góp cho chương trình của CĐNVTD SA vào thập niên 80. Áo tứ thân do chị Thi Dang mua vải và may cho.
No comments:
Post a Comment