Showing posts with label Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích. Show all posts
Showing posts with label Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích. Show all posts

Friday, February 17, 2023

TÌM CHỒNG

Căn nhà của ông bà Nội tôi để lại nằm ngay khúc quanh của con đường làng. Một con đường đất rộng, 3 chiếc xe bò có thể tránh nhau một cách dễ dàng.

Cái cổng với hai trụ tròn xây bằng gạch nâng tấm bảng gỗ có viền hoa văn với 3 chữ đại tự: NGUYỄN TỰ ĐƯỜNG màu vàng nhụ. Bên trên là mái cong lợp bằng loại ngói âm dương trông như vẩy con rồng.

Bên trái đoạn đường từ cổng vào nhà là hồ sen. Đến mùa hoa sen nở, hương thơm tỏa ngát cả một vùng.

Lối đi xung quanh bờ hồ có lan can sơn màu đỏ, nơi mà bác Cả, cha tôi và cụ Tú Mẫn thường hay dạo chơi và đàm đạo thơ văn vào những buổi chiều hè.

Khu nhà xây gồm 3 dẫy theo hình chữ U. Dẫy giữa làm nơi thờ tự. Dẫy bên trái là khu của vợ chồng bác Cả và người congái tên Hồng Lưu mà chúng tôi thường gọi là Chị Hai. Dẫy bên phải là phần của gia đình cha mẹ tôi. Tiếp giáp 3 khu nhà là cái sân lót gạch bát tràng rộng tràn ngập ánh nắng.

Năm tôi lên 3, chị Hồng Lưu, con bác Cả về nhà chồng. Chồng chị còn là một thư sinh, con cụ Bang Hoành ở miệt trong. Anh Thân chồng chị Hồng Lưu theo Tây học, đang học lấy bằng Thành Chung ở trường Khải Định ngoài Huế. Anh chị chỉ được gần nhau trong 3 tháng nghỉ Hè.

Tháng 12 năm 1946, Việt Minh tuyên cáo “Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp”. Họ phát động phong trào “Tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống”. Kêu gọi toàn dân triệt hạ tất cả nhà cửa, vườn tược, bỏ thành thị tản cư đến vùng nông thôn.

Quốc lộ 1, đoạn đường từ Quảng Ngãi ra đến phía Nam dòng sông Hội An hoàn toàn bị cắt đứt. Anh Thân chồng chị Lưu bị kẹt ngoài Huế kể từ ngày tháng đó. Chị trông ngóng tin tức mỏi mòn. 1 năm, 2 năm rồi 7 năm chị chờ đợi.

Vào đầu năm 1952, chị từ quê chồng về thăm gia đình. Chị bàn thảo với bác Cả và mẹ tôi:
- 3 ngày nữa con sẽ đi Huế tìm chồng con.

Mẹ tôi hỏi:
- Tình hình ngăn sông, cấm chợ và lạ cảnh lạ người làm sao con đi?

- Quyết tâm là đi được. Con sẽ theo chân những người đi buôn, rồi dò đường ra Huế.

Chị Hai vừa nói vừa nắm chặt tay bác tôi và mẹ tôi như để cho 2 người thân được yên lòng.

- Nhưng con ơi...

Bác tôi tiếp:
- Thân gái dặm trường, từ đây ra Huế xa hàng mấy trăm cây số làm sao con chịu đựng nổi. Thôi thì ở nhà chờ đợi vài năm nữa rồi hẵng hay.

Bác tôi vừa khuyên nhủ vừa vuốt mái tóc cháy nắng của con gái.

Chị bảo:
- Con đã quyết tâm rồi, Mẹ đừng khuyên can.

2 ngày sau, Bác tôi moi dưới chân giường lấy ra một chiếc hộp thiếc đưa cho chị tôi. Trên mặt hộp có mấy tờ giấy bạc Tín phiếu (tiền của Việt Minh phát hành tiêu dùng trong vùng Liên Khu 5) còn lại là toàn bạc Đông Dương hình người gánh dưa. Bác tôi, nước mắt lưng tròng nắm tay chị Lưu dặn dò:

- Con cố giữ mình. Mẹ khấn nguyện Phật Trời phò hộ cho con ra đi được suông sẻ. Khi gặp được chồng con rồi, có điều kiện thuận lợi thì tin cho gia đình mừng.

Chị Lưu ôm bác Cả và mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi đứa nào cũng sụt sùi trước cảnh chia tay. Chị đến ôm hôn từng đứa em một. Giọt nước mắt của chị rơi trên má tôi khiến cho tim tôi nhói đau tưởng chừng chị ra đi không còn trở lại.

Chị Lưu ra đi vào lúc trời vừa hừng sáng. Chị em tôi tiễn chân chị đến ngã ba huyện lộ mới quay về. Từ ngày đó, gia đình tôi không được tin tức gì về chị.

Mãi đến 2 tháng sau, vào một buổi chiều mùa Đông, 1 người mặc áo tơi, đội nón lá, đi vào nhà tôi dưới cơn mưa tầm tã. Người thanh niên trẻ tuổi nhưng gương mặt rắn rỏi, phong sương đi thẳng vào nhà để nguyên áo tơi ướt dầm dề nước mưa, đưa cho Bác tôi một gói giấy rồi quày quả ra đi, không nói một lời nào.

Bác tôi cầm gói giấy mà cả người run lên. Chị em chúng tôi cũng vô cùng hồi hộp. Chẳng biết bên trong gói giấy ấy có những gì. Tin vui hay tin buồn, niềm hạnh phúc hay nỗi đau thương tang tóc. Dù trong cơn nôn nóng, cả nhà cũng đành chờ đến tối mới dám mở ra.

Ngừa cảnh “tai vách mạch rừng”, mẹ tôi vội mang gói giấy giấu vào ống tre nơi chuồng heo để che mắt những kẻ tò mò.

Trời mới chập choạng tối, chúng tôi đã vội vã lên đèn. Dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu leo lét, bác Cả khui gói giấy vừa nhận lúc xế chiều. Dù người khách lạ không nói gì nhưng chúng tôi đoán biết đó là tin tức của chị Lưu. Đúng là quà của chị Lưu gởi về gồm một lá thư và xấp tiền tín phiếu.

Thư chị viết: “Kính thưa Mẹ và thím Ba, từ lúc con ra đi đến nay đã trên 1 tháng. Con theo mấy người đi buôn lậu vừa trốn tránh công an Việt Minh vừa phải đi bộ suốt mấy ngày mới tới khu giáp ranh.

Từ quê Quảng Ngãi mình đi bộ đến An Tân đợi đêm xuống mới lên chuyến đò dọc. Từ đây đi suốt đêm mới ra đến chợ Được, Quảng Nam. Từ chợ Được đi bộ men theo những con đường làng đầy đụn cát mất trên nửa ngày thì đến Tiên Đõa. Tại đây, bên bờ Nam sông Faifoo (Hội An) ban đêm Việt Minh kiểm soát ngăn chặn “Bọn Dinh Tề” (Danh từ Việt Minh gọi những người vượt tuyến trốn sang vùng Quốc Gia). Bờ Bắc trở ra do lực lượng của Pháp và Nghĩa Dũng Đoàn của chính phủ Bảo Đại đóng đồn trấn giữ.

Trong lúc chờ đợi để lấy thêm tin tức về đường đi nước bước, con tận dụng số tiền mẹ cho mua hết hàng hóa rồi theo đoàn người trở vào An Tân bán lại cho con buôn đi tuyến đường trong Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định. May mắn là những chuyến hàng của con đi trót lọt nên kiếm được một số tiền khấm khá.

Nay con gởi lại số tiền mẹ đã cho con để phòng khi đau yếu. Đồng thời con biếu các em một ít để mua giấy bút đến trường.

Tình hình ranh giới hiện nay rất căng thẳng, công an Việt Minh kiểm soát gắt gao lắm. Lý do là những ngày vừa qua có một số người từ Quảng Ngãi trốn qua vùng địch (Quốc gia) tại địa điểm nầy, như thầy Nguyễn Ngọc Ngư (1), Ông Phạm Văn Diêu (2), ông Hồng Tiêu (3) và bác sĩ Huỳnh Tấn Đối (4) người huyện Bình Sơn.

Con biên thư nầy cho mẹ và thím Ba trước khi con thực hiện chuyến đi. Hy vọng ơn trên độ trì cho con thoát được. Cuối thư, con cầu chúc Mẹ và Thím cùng mấy em luôn được khỏe mạnh. Mong một ngày nào đó chúng ta sẽ đoàn tụ. Con gái của mẹ."

Nghe chúng tôi đọc xong thư, bác Cả và mẹ tôi nước mắt chảy ròng. Đêm đó và những đêm kế tiếp, bác tôi không ngủ được cứ trằn trọc mãi, hết than vắn thở dài lại ngồi dậy nhai trầu. Bác thắp hương lên bàn thờ rồi bó gối ngồi trên giường lâm râm khấn nguyện.

*******
Suốt tuần lễ qua, một người đàn bà điên quần áo xốc xếch không biết từ đâu tới, miệng cứ nói lầm bầm không ra lời, đi nghều nghễu qua lại trên quãng đường từ làng Tiên Đõa đến chợ trời Kiến Tân nằm về tả ngạn con sông Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam.

Đêm nay dưới cơn mưa rả rích của những ngày vào Đông, người đàn bà điên lại ra đi trong bóng tối mịt mùng. Cơn mưa dần dần nặng hạt từ lúc xế chiều kéo dài đến khuya và cũng có thể đến ngày mai... Nước đã ngập trắng xóa cánh đồng dọc theo con sông trước mặt.

Người đàn bà điên đi trong đêm tối không mấy người để ý đã vượt qua đoạn đường của lực lượng canh phòng Việt Minh. Bỗng, một loạt súng nổ vang, bà điên phóng người xuống dòng sông. Đêm đen cùng với dòng nước đục ngầu đang chảy xiết đã cuốn người đàn bà điên mất dạng trong thoáng chốc.

3 ngày sau, người đàn bà điên xuất hiện trong đoàn người đi nhận cơm của trại Quy Thuận, Hội An. Bà ta hoàn toàn tươi tỉnh với bộ áo quần rộng thùng thình của trại cấp phát.

Trong danh sách tiếp nhận những thường dân bỏ vùng Việt Minh trốn sang vùng Quốc Gia, người đàn bà giả điên ấy khai tên Nguyễn Thị Hồng Lưu, sinh quán tại Quảng Ngãi.

Trời Phật ạ, đó là chị Hai con của Bác tôi. Gia đình tôi biết được tin này do người đi buôn ở chợ trời Kiến Tân thuộc địa phận phía Nam dòng sông Hội An thông báo. Cả nhà như trút được gánh nặng suốt 2 tháng liền. Bác tôi thì luôn miệng cảm ơn Trời Phật.

Chị Lưu khai với Ủy Ban Tiếp Nhận rằng, chồng chị hiện ở thành phố Huế. Anh ấy bị kẹt 7 năm không về nhà được. Nay chị xin chính phủ cho phép ra Huế thăm chồng.

*****
Gần nửa tháng trôi qua, chị Nguyễn Thị Hồng Lưu lơ ngơ, láo ngáo trên thành phố Huế như mang lạc xuống đồng. Ban đêm vào chùa xin nghỉ, ban ngày chị đi khắp hang cùng ngõ hẻm hỏi thăm tên Võ Hoàng Thân học sinh trường Khải Định nhưng chẳng một ai biết cái tên học trò xa lạ cách nay đã 6, 7 năm, không gốc gác, không địa chỉ.

Quả thật, chị Lưu như đang làm công việc mò kim đáy biển. Chị tỉnh táo lắm nhưng người ta nhìn chị như nhìn kẻ thất chí. Cuối cùng tiền hết, sức khỏe mòn mỏi, chị Lưu đành phải đi xin việc làm để nuôi sống bản thân và tiếp tục tìm chồng.

Sự may mắn đến với chị là được một gia đình ở gần cửa Đông Ba nhận vào làm việc nhà và trông coi 2 đứa bé.

Chủ nhà là một thiếu phụ còn khá trẻ sinh trưởng tại Huế nên bà luôn giữ nếp sống và cung cách của người phụ nữ chốn kinh thành. Vẻ mặt dịu dàng thuần hậu, một nét đẹp đài các nhưng bình dị, lại nói năng từ tốn, điềm đạm khiến cho người người mến phục.

Chồng bà là một sĩ quan thuộc lực lượng Việt- Binh- Đoàn của chính phủ Bảo Đại. 2 đứa bé có khuôn mặt bầu bĩnh, hồng hào trông rất khôi ngô. Đứa trai 4 tuổi, đứa gái lên 2.

Ngay từ giờ phút đầu, chị Lưu đã cảm thấy quyến luyến với cái gia đình này và đặc biệt là 2 đứa nhỏ. Chị âm thầm làm việc, giữ kín tông tích của mình. Lợi dụng những ngày lễ lạc, chị xin phép chủ nhà đến các nơi hội hè trà trộn vào đám đông may ra tìm được manh mối về anh Thân, chồng chị.

Một buổi sáng, bà chủ đi chợ, chị Lưu tắm cho 2 đứa nhỏ. Chị đang mặc áo quần cho bé trai, bất ngờ bé gái chạy lững thững mang cả mình ướt nước vào phòng ngủ của bố mẹ nó. Chị Lưu vội chạy theo vào buồng.

Thình lình, chị nhìn thấy một bức ảnh lồng trong khung đặt trên đầu tủ đối diện với cửa ra vào. Một chàng Sinh viên Sĩ quan mặc bộ lễ phục ôm vai bà chủ nhà.

“Một cặp vợ chồng đẹp như tranh vẽ, thật xứng đôi vừa lứa”, chị Lưu tấm tắc khen và nghĩ thầm trong bụng, “Ông Tơ bà Nguyệt khéo xe”.

Tấm ảnh như thu hút cả tâm hồn và tình cảm của chị. Người chồng trong bộ quân phục uy nghi cùng với nét mặt cương nghị kề bên là khuôn mặt trái soan hiền hòa của người vợ với ánh mắt sáng rực tình yêu. Chị ngắm ảnh say sưa quên cả 2 đứa nhỏ bên ngoài.

Bất chợt, chị phát giác ở khuôn mặt người đàn ông trong ảnh có nét gì rất quen thân. Chị đến sát bức hình xem kỹ hơn. Và để nhìn được rõ ràng hơn nữa, chị mở tung cánh cửa sổ cho ánh sáng ùa vào phòng.

Bỗng, tim chị nhói đau, đôi mắt mờ dần rồi đôi chân khuỵu xuống. Chị gục đầu trên chiếc giường nệm trước mặt. Không khóc, nhưng lòng chị đớn đau, tê dại. Chị kêu lên: “Sao con tạo lại trớ trêu thế này, hở trời!” Lồng ngực chị như muốn vỡ ra. Những cơn đau dồn dập như bóp nát quả tim chị. Như hàng trăm mũi dao thi nhau rạch nát ruột gan. Chị ngất lịm...

Chị Lưu đã nhận ra chồng chị trong ảnh, anh Võ Hoàng Thân! Người chồng đã xa cách 7 năm. Người mà chị có thể hy sinh mạng sống của mình để tìm đến. Người đã khiến cho chị mất bao nước mắt nhớ thương đêm ngày. Người mà chị đã dành cả tuổi đời thanh xuân dâng hiến và đợi chờ.

Ngày từ biệt vợ lần cuối cùng ra Huế tiếp tục học, anh Võ Hoàng Thân còn mang dáng nét thư sinh. Giờ đây khuôn mặt rắn rỏi, đĩnh đạc hơn nhưng làm sao chị quên được chấm nốt ruồi bên dưới đôi môi đầy đặn đó. Làm sao chị quên được chiếc mũi cao và to thể hiện tính kiên cường của đấng nam tử.

Bà chủ đi chợ về thấy người làm bị bất tỉnh liền gọi bác sĩ đến cấp cứu kịp thời. Ngày hôm đó chị Lưu cáo bệnh và xin bà chủ được nghỉ vài ngày. Chị nằm trong phòng không đoái hoài đến ăn uống. Chị để mặc cho nước mắt trào ra, để mặc cho nỗi đau đớn từng đợt đến cào xé trái tim chị. Trái tim của người đàn bà nhân hậu, nhưng không tránh được nỗi ghen tức điên cuồng.

Mặc dầu bà chủ nhà rất quan tâm đến chị nhưng chị từ chối tất cả những ân cần mà bà dành cho.

Ngày hôm sau, với đôi mắt sưng húp vì khóc, chị Lưu xin nghỉ việc. Bà chủ nhà nhìn đôi mắt chị, ngạc nhiên hỏi:
- Có chuyện gì đã xảy ra cho chị vậy?

- Tôi vừa nhận được tin chồng của tôi chết rồi.

Bà chủ nhà đến nắm tay chị, với tâm trạng của người bạn, bà chia sẻ nỗi đau mất mát của người vợ. Bà tỏ ý tiếc rẻ một người giúp việc lúc nào cũng làm tròn bổn phận như chị và một mực thương yêu con trẻ, bà tiếp:

- Rất tiếc là anh Thân chồng tôi không có nhà để giúp đỡ được phần nào cho chị.

Nghe nhắc đến tên Thân, chị Lưu òa lên khóc rồi ôm mặt chạy vào phòng tức tưởi.

Sáng ngày hôm sau chị Lưu lên đường về lại quê nhà.

*****
Ngày xưa, cái sân lót gạch bát tràng trước nhà, gia đình tôi làm nơi đập lúa, phơi bắp, đậu và phơi đường mía. Nay nhờ cái sân rộng thênh thang ấy mà bác Cả và mẹ tôi lột hết gạch lên, cuốc xới đất biến thành khoảnh vườn tự túc trồng các loại rau quả dư ăn còn mang ra chợ bán. Cái hồ sen nay trở thành hồ nuôi cá, nhờ đó mà gia đình tôi không lâm vào cảnh thiếu thốn.

Thi hành quốc sách của nhà nước Việt Minh “Tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống” căn nhà thờ 3 gian cũng được tháo gỡ xuống chỉ còn trơ lại nền nhà để rồi chúng tôi cũng tận dụng cuốc lên trồng đậu phụng...

Chiều nay, chị em tôi phụ giúp mẹ và bác Cả gánh nước tưới vườn rau vừa mới bón phân.

Thình lình chị Lưu xuất hiện ngoài ngõ. Chị ôm gói quần áo ủ rũ vào nhà. Bác tôi buông chiếc bình vòi sen chạy đến ôm chị vào lòng. Vốn có thể chất khỏe mạnh, tinh thần cứng cỏi, thế mà nay chị lại mềm nhũn, rũ xuống trong vòng tay mẹ chị. Chúng tôi đến giúp bác Cả đưa chị vào nhà.

Đoán biết là việc tìm chồng của chị bị thất bại nên chẳng ai dám hỏi han điều gì.

Chị tịnh dưỡng được vài ngày rồi kể lại những ngày tháng mà chị đã trải qua nơi kinh thành Huế. Đến ngày thứ ba, công an Việt Minh địa phương đến nhà áp giải chị đến cơ quan huyện làm việc.

Chị khai rõ ràng là chị đã ra Huế tìm chồng, nhưng khi biết được chồng đã chết thì chị quay về sống với gia đình. Giới chức an ninh của Việt Minh nghi chị làm gián điệp cho Pháp, vì vậy họ chuyển chị đến nhà giam tỉnh.

Từ ngày biết chắc anh Thân đã có vợ và 2 đứa con ở Huế, chị Lưu xem như chồng chị đã chết. Chị không muốn cảnh hạnh phúc của gia đình đó bị xáo trộn, bởi vợ con anh hoàn toàn vô tội. Ngay cả anh Thân, chị cũng không hề có một lời trách móc. Chị cho đó là hoàn cảnh tạo nên, là định mệnh an bài.

Qua mấy tháng bị giam giữ điều tra, tinh thần chị Lưu hoàn toàn bị suy sụp.

Những lần chúng tôi vào nhà giam thăm, chị cứ nói lầm bầm trong miệng. Nhiều lúc chị ngồi một mình hướng tầm mắt vô hồn về nơi cõi xa xăm. Tình trạng nầy khiến cho những người làm công tác điều tra đặt thêm nghi vấn: “Giả điên là nghề của gián điệp địch để qua mắt cán bộ an ninh của ta”.

Chị Hồng Lưu lại được chuyển đến nhà tù An Lão (Bình Định). Một thời gian sau chị lâm trọng bịnh và qua đời tại đây.

*****
Hiệp định Geneve 1954, chia đôi đất nước. Tất cả các lực lượng Việt Minh tập kết ra Bắc. Chính phủ Quốc Gia tiếp thu vùng Liên khu Năm (Q. Nam, Q. Ngãi, B. Định, P. Yên).

Khi tình hình đã ổn định, Anh Thân nghe tin vợ trước đã mất, vội vã đưa vợ sau từ Huế về Quảng Ngãi đến nhà Bác tôi để tạ lỗi.

Vợ chồng anh chị ấy đến trước bàn thờ chị Hai thắp hương khấn lễ. Bỗng chị vợ anh Thân thất thanh kêu lên: “Kìa, Chị Lưu!” Gương mặt thất thần tái mét, hai tay run lẩy bẩy như người lên đồng, chị chỉ vào khung ảnh người quá cố trên bàn thờ rồi quỵ xuống. Anh Thân vội vàng đỡ vợ đứng lên mà chẳng biết việc gì đã xảy ra.

Bà chủ nhà gần cửa Đông Ba ở Huế đã nhận ra người giúp việc cho mình 3 năm về trước là vợ trước của chồng. Bà quỳ bên bàn thờ khấn vái:

“Chị Lưu ơi, giờ đây em mới vỡ lẽ chị đã liều chết đi tìm chồng. Khi phát giác chồng mình đã yên bề gia thất, chị lại âm thầm quay về mà không hề có một lời trách móc kẻ đã giật hạnh phúc của mình. Ngày ấy chị đã khóc đến sưng húp cả đôi mắt, bỏ luôn ăn uống. Thế mà chị nói dối với em rằng: Nghe tin chồng chết nên chị phải trở về quê. Ôi, tâm hồn chị cao thượng quá, tấm lòng chị bao dung quá. Chúng em xin chịu tội trước linh hồn chị”.

Chị vợ anh Thân quỳ mọp trước bàn thờ một hồi lâu đến khi Mẹ tôi đỡ dậy thì khuôn mặt chị đã đầm đìa nước mắt. Chị ôm Bác tôi nói trong nghẹn ngào:

“Mẹ ơi, xin mẹ tha lỗi cho con. Từ nay con sẽ thay chị Lưu như là con đẻ của mẹ. Vợ chồng con sẽ lo phần phụng dưỡng mẹ già”.

Sau đó, vợ chồng anh Thân xin phép Bác tôi được để tang, xây mộ và hàng năm về lo ngày giỗ của chị. Riêng phần đề nghị đưa bác Cả về Huế sống với anh chị và các cháu thì Bác tôi từ chối bởi Bác còn phải lo mồ mả của ông bà.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Ghi Chú:
(1) Nguyễn Hữu Ngư sau vào Sài Gòn, bút hiệu Nguyễn Ngu Í.

(2) Phạm Văn Diêu tác giả “Việt Nam Văn Học Giảng Bình”.

(3) Hồng Tiêu em ruột ông Bút Trà (báo Sài Gòn Mới).

(4) Huỳnh Tấn Đối, Bác sĩ Quân y trưởng viện Quân y Liên khu Năm bỏ Việt Minh trốn ra Đà nẳng mở phòng mạch.

Thursday, September 15, 2022

Ðêm cuối cùng

Cái đêm Giao thừa ấy đã khắc sâu vào tâm khảm, cô Minh không thể nào quên được:

...Nâng nắp hầm lên, cô bưng tô cháo còn bốc hơi cho Tư Trầm ăn giải cảm. Mùi tiêu, mùi củ nén xông lên ngào ngạt. Ăn xong, cô đưa ông uống thêm ly nước chè lá vối nấu với vài lát gừng giúp cho cơ thể ông toát mồ hôi. Tuy chưa thật khỏe, Tư Trầm vẫn hối thúc cô Minh rà soát lại động tĩnh bên ngoài rồi vội vã ra đi

Hai người lặng lẽ đi trong đêm, luồn theo lũy tre phủ kín mịt mùng. Họ đến nơi đậu chiếc ghe câu của cô bên vực sông để đưa Tư Trầm qua bờ bên kia công tác. Cô đã làm cái công việc nguy hiểm nầy bao lâu cô không còn nhớ rõ. Duy cái việc cô giấu Tư Trầm dưới hầm bí mật đào trong nhà là nỗi lo âu canh cánh bên lòng. Tự nguyện hay bắt buộc, lòng cô chưa giải bày được, nhưng qua sự chung đụng lâu ngày hình như cô thấy cần có Tư Trầm.

Ðêm nay, dù sắp đến giờ đón Giao thừa, cô Minh phải thi hành công tác chèo ghe đưa Tư Trầm qua bên kia sông để gặp các đồng chí hoạt động bí mật. Vừa đến bờ sông, bỗng tiếng quát “đứng lại”, tiếng chân người chạy thình thịch rồi những loạt súng nổ vang. Ðạn bay vãi trên đầu ngọn tre rào rào. Họ vừa kịp tháo dây cột thuyền là nhào xuống nước, vừa bơi vừa đẩy thuyền trôi ra xa. Những loạt đạn bắn xối xả đuổi theo làm tung tóe nước chung quanh thuyền. Hai người vừa lặn dưới nước vừa đẩy thuyền đi. Khi im tiếng súng họ mới lên thuyền chèo đến điểm hẹn.

Sợ lực lượng tảo thanh nhìn mặt, cô Minh không trở lại nhà để cúng Giao thừa, mà giữ nguyên áo quần ướt chèo thuyền đi trong đêm xuống tận thị xã lánh mặt. Tin tức từ trên vùng quê cô Minh cho biết đêm đó lính Quốc gia đồn trú tại Núi Tròn phục kích. Ban đầu họ tưởng dân đánh cá sau mới biết đó là cán bộ Cộng sản nằm vùng. Lực lượng an ninh lục soát và xăm hầm trong xóm mới phát giác căn hầm bí mật trong nhà cô Minh.

Cũng từ những đêm sau cùng ấy, khi rời khỏi hơi ấm vòng tay Tư Trầm cô cảm thấy trong cơ thể mình hơi khang khác. Thời gian ở ẩn trong xóm lao động nơi thị xã cô mới nhận biết mình có triệu chứng cấn thai. Và bụng cô mỗi ngày mỗi lớn. Làm sao giải thích với mọi người “không chồng lấy ai có chửa” nhất là chính quyền địa phương. Họ sẽ để ý, theo dõi rồi kêu tới kêu lui điều tra thì thật là nguy hiểm. Thế nên cô âm thầm bỏ quê Quảng Ngãi vào tận vùng Cà Mau sinh sống...

* * *
Cô Minh là con út của gia đình gồm ba người con gái. Hàng xóm láng giềng thường gọi các chị cô bằng thứ bậc Cô Hai, Cô Ba. Riêng cô lại được gọi bằng cái tên cúng cơm: Út Minh.

Út Minh to con lớn xác nhất nhà và làn da cũng khác với hai bà chị ruột. Thay vì trắng như trứng gà bóc thì màu da của cô lại tối sầm, màu sạm nắng của những đứa trẻ rong chơi ngoài đồng suốt ngày. Tính tình nghịch ngợm như con trai, nên cha mẹ cô hay bảo cô được “Mụ Bà nặn lộn”.

Ðến mùa đạp mía mọi người đổ xô ra chòi. Kẻ đánh bò chạy che, người chụm mía... Còn cô thì cứ lông nhông chơi trò đánh giặc giả. Cô bắt hai thằng nhóc to con nhất trong xóm, đứa đi sau hai tay giữ vai đứa đi trước, lưng cúi xuống làm thớt voi cho cô cỡi đóng vai Tướng quân Đinh Bộ Lĩnh. Gươm giáo là những cây mía cô lấy trong chòi phân phát cho chúng nó. Cô còn bắt lũ trẻ cầm những cây cờ mía giả làm cờ lau phất cờ khởi binh ra trận.

Dựa vào dòng nước chảy dốc và lưu lượng dồi dào của sông Trà Khúc phát xuất từ thượng nguồn dãy Trường Sơn, người ta ngăn sông dựng lên những bờ xe nước. Ðây là hệ thống dẫn thủy nhập điền đặc biệt của tỉnh Quảng Ngãi. Những đoạn kè ngăn sông đều có chừa cổng dành cho thuyền bè lên xuống. Sức nước chảy dồn nơi đây khá mạnh như một cái thác đủ sức quay hàng chục bánh xe có đường kính mười mét. Ðộ dốc của nó từ một mét đến mét rưỡi khi có mưa nguồn đổ về, ghe thuyền đi ngược dòng vượt qua cổng gặp rất nhiều khó khăn và nguy hiểm.

Người thuyền trưởng phải vừa có sức mạnh vừa có kinh nghiệm. Thông thường thuyền nào cũng phải có hai đến bốn trai bạn giúp sức đẩy thuyền lên mỗi lần thuyền ngược nước.

Chú Cảnh là một thanh niên lực lưỡng, có chiều cao một mét tám. Chiếc thuyền buôn của chú chỉ cần một người chèo phía sau lái, một người đứng trước mũi chịu sào. Khi vượt cổng xe nước chỉ mình chú đứng trên be thuyền đặt vai vào trụ đập rồi đẩy thuyền vượt qua dòng nước ngược đổ dốc ào ào.

Gần chục năm thuyền buôn chú Cảnh lênh đênh trên sóng nước ngược xuôi từ sông ra biển luôn được Thủy Thần phò trợ. Nhưng cuộc đời đâu có suôn sẻ mãi, vận rủi bất ngờ ập đến. Trong một lần vượt cổng bờ xe, thuyền lên nửa chừng chú Cảnh trượt chân, nước xoáy đẩy thuyền quay tròn rồi lật úp. Hàng hóa mất sạch. Thuyền bị vỡ nát. Vốn liếng trắng tay. Thoát hiểm, chú bỏ nghề buôn trên sông nước, đầu quân vào nghề làm đường mía với gia đình cha mẹ Út Minh.

Khi Út Minh lên mười sáu tuổi, cha mẹ lần lượt lìa đời. Từ đó tính tình Út Minh hoàn toàn thay đổi. Cô sống thầm lặng, ủ rũ. Năm hai mươi, cô lấy chú Cảnh.

Ðám cưới chỉ tổ chức đơn sơ. Vợ chồng cô dựng một căn nhà nhỏ trên đám đất của cha mẹ để lại làm của hồi môn. Mấy năm sau cô sinh được đứa con đầu lòng. Thằng Mẫn ăn nhiều chóng lớn lại được bố tập bơi, dạy võ từ lúc mới lên bảy tuổi. Càng lớn, Mẫn càng tỏ ra có sức lực hơn người.

Thời điểm kinh tế bi đát nhất của vùng Liên khu 5 do Việt Minh chiếm giữ, chú Cảnh mua đồ đồng hư nát đúc chiêng mang lên vùng thượng du đổi lấy các sản phẩm trên rừng.

Sau ngày hiệp định Genève 1954 ký kết, Vùng Liên Khu 5 chính quyền Quốc gia tiếp thu, Cán bộ, bộ đội Việt Minh Cộng sản phải tập kết ra miền Bắc nằm ngoài vĩ tuyến 17.

Những ngày tháng hết chiến tranh chú Cảnh lại mắc một chứng bịnh lạ lùng. Bụng chú phát to như bụng bò, lớn rất nhanh. Người ta bảo chú bị dân thượng miền Sơn Hà bỏ bùa, yểm ngải. Các vị đông y cho là bệnh phát cổ trướng. Bác sĩ tây y chẩn đoán cho là bệnh gan... Khi cái bụng phát triển hết sức lớn, tròn nhẵn, căng cứng, tim chú Cảnh đập yếu dần rồi tắt thở. Ðám tang của chú phải chọn đúng mười hai lực điền vặm vỡ mới khiêng nổi cái quan tài to gấp đôi người thường.

* * *
Ngày tháng đau buồn rồi cũng qua đi. Niềm an ủi của cô Minh bây giờ là đứa con trai duy nhất. Trần Văn Mẫn lên mười sáu tuổi học lớp đệ tứ trường công lập. Nó cao lớn như bố, đẹp trai cường tráng. Cô đặt hết hy vọng vào tương lai của con mình.

Tuy lớn xác nhưng tính tình Mẫn vẫn còn ngây thơ. Các nữ sinh cùng lứa đã có kẻ yêu thầm nhớ trộm. Cô nào bạo dạn thì buông lời trêu chọc, Mẫn e thẹn bỏ đi.

Theo thường lệ, sau giờ tan học Mẫn về nhà đúng giờ ăn cơm tối. Nhưng hôm nay cô Minh chờ mãi mà chẳng thấy con về. Sáng ngày, cô lật bật đến trường hỏi thăm. Thầy giám học cho biết Mẫn không đến lớp đã hai ngày qua.

Lòng cô Minh như lửa đốt, tim cô như kim châm, vừa nhớ con vừa lo lắng. Thằng Mẫn có mệnh hệ nào thì làm sao cô sống nổi. Mấy đêm liền cô mất ngủ, nơm nớp đợi chờ tin tức của con.

* * *
Ðêm nay, trận bão rớt từ biển Ðông thổi vào. Tiếng gió gào thét trên những ngọn tre quằn quại cùng tiếng răng rắc của thân tre vặn mình cọ vào nhau tựa như tiếng rên rỉ trước cơn thịnh nộ của đất trời. Rồi cơn mưa ập đến cuồng điên như trút nước. Cô Minh bưng đèn xem lại cửa nẻo, nhìn kỹ mái nhà có bị gió làm tốc mái không. Bỗng có tiếng gõ cửa vội vàng, thúc hối. Cô đặt chiếc đèn dầu hôi trên bàn, hồi họp mở cửa.

Một người đàn ông lách mình chui nhanh vào nhà. Ban đầu cô ngỡ là thằng Mẫn, nhưng khi người ấy cởi áo đi mưa và khăn trùm đầu cô mới thật sự thất kinh vì khuôn mặt hoàn toàn xa lạ.

Người đàn ông cất tiếng hỏi:

- Út Minh có khỏe không?

Nhìn khuôn mặt ông khách, cô chẳng thấy có nét nào quen thuộc. Càng khiến cô bối rối hơn khi ông ta gọi tên cô thuở còn thơ ấu. Âm giọng có chút gì đó gợi nhớ trong ký ức, nhưng pha nhiều tiếng đàng ngoài nên cô hoài nghi. Cô nhỏ nhẹ trả lời:

- Thưa ông tôi... vẫn bình thường.

- Bình thường sao được – người đàn ông lên tiếng – chị đang lo cho thằng Mẫn lắm, phải không?

Cô Minh trố mắt nhìn ông khách lạ.

Ông ta tiếp:

- Hôm nay không thể dài dòng. Tôi báo tin mừng cho chị là cháu Trần Văn Mẫn đã tình nguyện theo quân Giải phóng. Xin chị đừng lo lắng gì. Chúng tôi sẽ đưa cháu ra Bắc để cách mạng đào tạo cháu trở thành nhân tài của đất nước. Bổn phận làm mẹ chiến sĩ, chị phải tiếp sức với chúng tôi trong phong trào gầy dựng cơ sở. Chưa kịp hỏi han gì, người đàn ông khoác chiếc áo mưa trùm đầu, đẩy cửa ra đi cùng với hai người đứng chờ bên ngoài sau khi ông hứa sẽ trở lại trong một ngày gần đây.

Cô Minh trằn trọc cả đêm, vừa lo cho con vừa nghĩ ngợi về người đàn ông xa lạ. Ông ta tỏ vẻ thân thiện và hình như biết rõ về hoàn cảnh của cô. Cặp chân mày rậm sắc như hai lưỡi mác vắt ngang vầng trán cao làm nổi bật ánh mắt không khoan nhượng lọt thỏm trong quầng mắt thâm đen. Ký ức cô chợt hiện ra hình ảnh người láng giềng bên kia hàng rào dâm bụt: - Bùi Chước. Ðứa con trai vặm vỡ lớn hơn cô hai tuổi đã từng làm voi cho cô cưỡi đóng vai Đinh Bộ Lĩnh ngày nào. Nhưng anh ta đã bỏ làng ra đi lâu lắm rồi. Nửa tin nửa ngờ, cô Minh thiếp đi trong giấc ngủ đầy ác mộng...

* * *
Sau ngày đất nước hết chiến tranh 1975, cô Minh trở về làng cũ sau bao năm lưu lạc trên miền đất Cà Mau muỗi nhiều như vãi trấu. Ngày bỏ làng ra đi, đứa con gái còn trong bụng mẹ, giờ bé Hương đã mười sáu tuổi rồi. Phần cô thì tuổi già sức yếu cũng mong được gần mộ phần của cha mẹ và hai bà chị ruột. Nhưng mối ưu tư lớn nhất của cô là tương lai của bé Hương. Cô mong tìm được người đàn ông cùng dòng máu của nó để sau nầy cô có nằm xuống thì con gái sẽ có người cha đỡ đầu. Ðồng thời cho nó hết mặc cảm là con không cha. Ðiều ước nguyện thứ hai là được gặp Mẫn, thằng con trai của cô đã bỏ nhà theo cách mạng. Hòa bình rồi, thế nào nó lại không về quê tìm mẹ.

Cái vườn nhà ngày xưa của cô bây giờ do cơ quan xã chiếm giữ. Những mẫu ruộng đất màu mỡ của gia đình cô cũng do nhà nước quản lý. Người ta cấp cho mẹ con cô miếng đất sát rìa núi Chợ đủ dựng túp lều tranh và mảnh ruộng hoang từ mười mấy năm chiến tranh không ai đụng tới. Mùa khô thì nẻ toác chân chim, mùa mưa thì nước không lối thoát. Nghĩ phận mình mẹ góa con côi, ức quá, nhiều đêm cô ôm mặt khóc thầm.

Một hôm cô Minh đến trình bày những thua thiệt của mình với ông chủ tịch xã.

Ông chủ tịch giương mắt nhìn cô Minh như nhìn một bà già lẩm cẩm, rồi gay gắt hỏi:

- Trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt, thời đen tối nhất thì bà bỏ làng ra đi, lúc này bà trở về khiếu kiện đòi công bình với những người bám trụ, bình đẳng với những người có công với cách mạng?

- Tôi không tranh phần hơn, nhưng tối thiểu, xã nhà cũng nên trích dành cho tôi một khoảnh đất hương hỏa trong hàng mười mấy mẫu của cha mẹ tôi để lại đặng có chút gì hương khói thờ tự. Cô Minh phân trần.

Sau những lời nói có tính cách trấn áp, ông chủ tịch nghĩ thầm đây là đối tượng cần phải giáo dục cho thấu triệt chính sách, bèn tiếp:

- Dân đều bỏ làng ra đi như bà thì đất đai còn đâu mà đòi phần hương với hỏa. Bà so bì sao được với thím Thuận, từng nuôi cán bộ dưới hầm. Tranh sao được với cụ Lại có con thoát ly hy sinh... Ông chủ tịch còn muốn liệt kê thêm những người được quyền lợi ưu tiên. Nhưng cô Minh chận lời:

- Tôi đâu có đòi ưu tiên. Việc bỏ làng đi cũng là hoàn cảnh bắt buộc.

- Thời chiến tranh không một ngày vắng bom đạn, bà tính coi, làng nầy nhà nào không hoàn cảnh?

- Nhưng nếu tôi báo với chú chủ tịch rằng tôi cũng có một thời kỳ dấu cán bộ trong nhà thì chính sách có ưu đãi không? Vả lại con gái tôi là...

Chợt thấy không lợi gì khi đề cập đến lai lịch của đứa con gái mình nên cô Minh kịp ngưng lại.

- Ai làm chứng cho bà? Chủ tịch xã hỏi và soi mói nhìn cô.

- Thời đó việc ai người ấy biết... - Cô Minh lúng túng đáp - sơ hở là mất mạng. Những người liên hệ với tôi ngày trước giờ không còn ai, chú là giới trẻ sau này nên đâu có biết tận tường...

- Tôi rõ chớ - chủ tịch xã ngắt lời - Nhưng làm gì cũng phải có nguyên tắc. Ðã nhiều người lên đây khai báo rằng thời “đen tối” đã từng làm việc nầy, chuyện nọ. Ðến khi điều tra thì toàn là khai dối, chứng gian. Chúng tôi làm việc nghiêm túc đúng chính sách quy định chớ không chạy theo tình cảm.

- Thế thằng con tôi, Trần Văn Mẫn đi theo cách mạng từ năm nó mười sáu tuổi do anh Tư Trầm dẫn đi. Chính quyền địa phương có nắm được danh sách những người thoát ly nầy không? cô Minh mạnh dạng cật vấn ông chủ tịch.

- Hồ sơ của địa phương trong thời khói lửa hoàn toàn bị thất lạc. Ông Tư Trầm là ông nào chúng tôi cũng không hề biết. Bà nên liên lạc với đồng chí Tư Trầm nào đó cho giấy xác nhận thì địa phương mới áp dụng theo chính sách ưu tiên. Vả lại, nếu con trai bà hy sinh thì đã có thông tư từ bộ Thương binh Xã hội gởi về.

Cô Minh nghĩ: “Chim có nhớ tổ mới tìm về cội, sao tổ lại đi tìm chim!” Xét thấy không còn lý lẽ nào để chứng minh, cô cầm nón thất thểu ra về. Ông chủ tịch xã với vẻ đắc thắng nhìn cô Minh băng qua đường trong dáng đi xiêu đổ.

Hai mẹ con cô Minh đành đánh vật với thửa ruộng Hóc Lăng cát nhiều hơn đất mùn. Người nông dân không bám vào đất, lấy gì nuôi thân. Trăm thứ phải lo cũng từ đất mà ra. Hai mẹ con phải làm thêm nghề đốt than lén lút mang về bán cho tổ hợp chạy máy nước. Ðứa con gái cũng không có điều kiện đến trường. Quanh năm suốt tháng dãi dầu mưa nắng vẫn không đủ miếng ăn. Nhiều lúc cô Minh muốn bỏ xứ trở lại vùng đất Cà Mau, tuy nhiều muỗi mòng nhưng dễ kiếm ăn. Nghĩ đến thằng Mẫn, nghĩ đến ông Tư Trầm cô lại quyết tâm bám trụ nơi đây chờ đợi.

* * *
Thời gian nặng nề trôi qua với bao mùa nắng đốt, thiêu cháy cỏ cây. Vùng đất miền Trung đưa mặt ra biển hứng trọn những cơn bão từ Thái Bính Dương đổ vào mang theo những trận mưa tối trời tối đất. Nước sông dâng lên cuốn trôi tất cả hoa màu nhà cửa. Năm nào cũng vậy, người dân xứ Quảng âm thầm chịu đựng tai họa của trời giáng xuống triền miên.

Sắp đến ngày Tết Nguyên Ðán, lệnh trên sức dân trong xã ra đường dọn vệ sinh, làm quang làng xóm để chuẩn bị đón tiếp cấp trên về chúc Tết nhân dân. Cấp trên cỡ nào dân chúng không được biết, nó thuộc phạm vi bảo vệ an toàn cho lãnh đạo.

Trong hội trường đã tập trung đầy đủ các cán bộ xã, đảng ủy, những thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công cách mạng, đại diện các hội nông dân, phụ nữ, thanh niên...Còn những dân hồi cư như mẹ con cô Minh, thành phần tham gia chế độ cũ thì đứng vòng ngoài, cách xa.

Chừng xế trưa, chiếc xe con màu đen bóng và hai chiếc xe jeep màu nhà binh từ đường cái lớn lượn vào sân hội trường xã. Những lá cờ cầm tay phất lên, những tiếng vỗ tay dậy trời làm huyên náo cả một vùng.

Ông chủ tịch huyện, ông chủ tịch xã và một số nhân vật khác đích thân ra xe đón tiếp cán bộ cấp cao, nghe đâu từ trung ương. Một người mập mạp, trắng trẻo trong xe bước ra rồi đi thẳng lên hàng ghế danh dự trên khán đài.

Sau nghi thức ban đầu, ông chủ tịch kiêm bí thư huyện đọc lời chào mừng rồi trịnh trọng giới thiệu đồng chí Phụ tá Thứ trưởng phát biểu. Ông cán bộ trung ương vận áo cộc tay màu trắng bỏ ngoài, da mặt bóng hồng bước lên bục. Cả hội trường đứng dậy vỗ tay rào rào. Bài nói chuyện khá dài có nội dung biểu dương xã tiên tiến Tịnh Sơn đã dẫn đầu tỉnh về thành tích công tác thương binh xã hội. Xã chú tâm đến những người đã hiến dâng cả cuộc đời cho cách mạng đúng tầm mức chính sách, đường lối mà trung ương đã đề ra. Ðoạn nào thấy cần phát huy là ông tự vỗ tay trước cho đồng bào vỗ theo. Cuối cùng, ông bày tỏ nỗi vui mừng khi được trở lại đây thăm đồng bào xã nhà, nơi mà ông đã hồi kết từ năm 1959 và bắt đầu hoạt động bí mật gầy dựng cơ sở cách mạng chuẩn bị cho ngày đồng khởi.

Sau khi lên khán đài nhận bằng khen của bộ Thương Binh Xã Hội, ông chủ tịch xã cảm động thưa rằng: “ Nhân dân xã nhà rất tự hào, rất vinh dự được anh Tư đặt nền móng phong trào cách mạng đầu tiên tại địa phương nầy. Thay mặt nhân dân trong xã kính gởi lời chúc Tết lên đồng chí thứ trưởng”. Tiếng vỗ tay lại nổi lên.

Diễn từ, đáp từ diễn ra trong vòng một tiếng đồng hồ rồi đồng chí Phụ tá Thứ trưởng và đoàn tùy tùng ra xe.

Hội trường không đủ chứa lượng người quá đông nên một số lớn đồng bào phải ở ngoài sân.

Ngồi đợi từ sáng sớm đến trưa dưới cơn nắng như lửa nung, cô Minh lùng bùng cả hai tai không nghe được gì bài nói chuyện của ông cán bộ trung ương. Nhưng cô chú ý đến giọng nói của người nầy nó y chang giọng nói của Tư Trầm. Giọng sang sảng đã ăn sâu trong tiềm thức của cô. Khi ông cán bộ trung ương bước ra xe, cô lấy nón khỏi đầu nhìn trực diện. Chợt cô hớt hải kêu lên:

- Anh Tư Trầm!

Cô gạt mấy người ngồi chắn ngang đường, chen chân hướng về phía chiếc xe kêu to hơn:

- Bớ anh Tư Trầm, bớ anh Bùi Chước!

Cô định nhào ra nơi chiếc xe mà đồng chí cán bộ trung ương vừa chui vào, nhưng lực lượng giữ an ninh lập tức vây quanh, họ kéo rịt cô vào góc tường.

Chiếc xe lăn bánh. Ðồng chí Phụ tá Thứ trưởng đưa tay qua cửa sổ, tươi cười vẫy tay chào nhân dân.

Giữa sân hội trường xã, cô Minh ngã xuống trên nền gạch, miệng còn thì thào: “Tư Trầm ơi, con Hương... nó là con ruột của anh! Hãy...” Một dòng máu ứa ra nơi khóe miệng làm tắt lịm những tiếng nói cuối cùng của cô Minh.

* * *
Sáng sớm ngày mồng một đầu năm mới, người con gái ngồi bên mộ mẹ vừa nhổ từng ngọn cỏ non vừa nghĩ về cuộc đời lận đận, lao đao của mẹ. Những mong ước dù nhỏ nhoi đến đâu cũng chưa bao giờ được toại nguyện. Nghĩ về mình, nàng cũng có người cha, người anh nhưng chưa hề biết mặt.

Cái ông Tư Trầm nào đó rất nhiều lần được mẹ nhắc đến nhưng cứ tưởng ông ấy đã hy sinh. Người ta khuyến khích Hương làm đơn lên trung ương xin ông Tư Trầm xác nhận lý lịch của mình và chứng nhận người anh ruột đã đi theo Quân đội Giải phóng lúc mười sáu tuổi dưới sự bảo trợ của ông ta. Ðó là điều kiện để mẹ nàng được chính thức nhận bằng khen “Gia Ðình Có Công Cách Mạng”.

Hương đốt nắm nhang cắm dưới chân mộ mẹ, nàng khấn:

- Mẹ ơi, như vậy là mẹ đã toại nguyện rồi. Cuối cuộc đời của mẹ được yên nghỉ vĩnh viễn bên mộ người thân và con cầu mong linh hồn mẹ được đoàn tụ với anh con Trần Văn Mẫn ở chốn tuyền đài.

Hôm nay, con xin phép Mẹ được rời bỏ nơi đây để trở lại nơi chôn nhau cắt rốn của con, phần tận cùng của đất nước: Mũi Cà Mau.

Nơi ấy, người con gái tên Hương được sinh ra và lớn lên vui hưởng những ngày tháng chân bám phèn nhưng tâm hồn trong sáng. Nơi ấy, nhịp đập trái tim nàng đã giao hòa cùng tiếng sóng vỗ đại dương. Và hơi thở nàng lồng trong từng cơn gió biển mát rượi tình người, ngày thêm tươi xanh cánh rừng tràm trên đất bồi phù sa.

Cúi đầu trầm ngâm trước mộ mẹ một lúc, Hương ngẩng mặt lên với đôi mắt đẫm lệ, nàng nhìn áng mây ửng hồng trên bầu trời cao, mở đầu một ngày mới.

Vừng thái dương vừa vượt khỏi đỉnh đồi, Trần Thị Hương ôm gói áo quần rời mộ mẹ bước đi trong màu nắng nhạt nhòa /.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Wednesday, December 15, 2021

Con Lu Nhà Tôi

Trong ba chú chó mới sinh, bà dì ở Ðà Lạt cho tôi một con và được chọn ưu tiên. Cả ba đều là chó đực nên chỉ cần lựa con nào có bộ lông đẹp nhất là đủ. Khi tôi ngồi sà vào ổ của ba chú chó chưa mở mắt, chợt con có màu lông xám, hai đốm vàng trên lưng ngúc ngoắc đầu đánh hơi bò về phía tôi.
Nó đưa cái mõm mũm mĩm, ươn ướt ủi vào bàn chân của tôi. Cái đuôi cũn cỡn ngoe nguẩy như loài chuột xạ…

Hai tuần lễ sau tôi ghé thăm dì. Bầy chó đã mở mắt đang ngậm vú mẹ. Khi nghe tiếng tôi trốc trốc, chú chó lông xám ấy bỏ vú mẹ bò vào lòng tôi. Dù màu lông không nổi bật như hai con kia nhưng tôi thích cái tính thân thiện của nó ngay từ giờ phút đầu.

Mang chó về nhà, con tôi chê màu lông nhớp nhem rồi tự động đặt tên là Lu. Dù mới một tháng tuổi, nhưng khi rời chó mẹ về nhà tôi, Lu ít khi kêu đêm như những chú chó con khác. Ban đầu cho Lu bú bằng bình sữa, rồi cho ăn sữa đặc đổ vào đĩa. Chỉ ba tháng sau là Lu lớn như thổi.

Lai lịch của dòng họ nhà Lu cũng ly kỳ lắm. Jolie là tên mẹ của Lu, giống chó xù Nhật Bản, nhỏ con, chân thấp, dáng đi lũn cũn. Nó hay qua nhà láng giềng đùa giỡn với anh chàng berger to con, tai vểnh, đôi chân sau vạm vỡ. Một hôm, lũ trẻ đến trước nhà Dì tôi kêu giật giọng rằng là con Jolie bị con chó berger của ông Tư Ðợi tha đi khắp khu vườn. Dượng tôi hốt hoảng chạy sang. Những tưởng con berger đã cắn chết con xù của nhà dượng.. Nào ngờ cảnh tượng lạ lùng rất khó tin đã xảy ra: Con berger lẹo với Jolie nhỏ hơn nó gấp mấy lần. Vì là phần kết thúc sau “cuộc mây mưa” của loài chó, cho nên hắn tha con cái còn mắc cứng phía sau đuôi. Hai chân sau của con Jolie bị treo hỏng trên cao chỉ còn cái mõm và đôi chân trước bị kéo lê trên đất. Nàng kêu toáng lên khiến chàng đâm hoảng na chạy khắp vườn như na cái đuôi của mình trở nên nặng chình chịch. Kết quả cuộc tình giữa hai “chủng tộc”, nàng Jolie đẻ ra ba chú chó lai. Nhờ vậy mà đời con của nàng không còn mang dáng dấp thấp lè tè của loài chó xù nữa.

Con Lu lớn lên bộ lông ngày càng đẹp. Màu xám của mẹ pha màu vàng của bố mướt mượt như nhung. Hai đốm vá màu vàng đậm nằm hai bên hông, thoạt trông như yên ngựa. Dù không to con lớn xác như bố nhưng con Lu cũng vượt trội hơn đám chó nhà. Chân cao, dáng đi oai vệ như loài hổ. Hai vai rộng, u thịt nổi vồng lên khi nó bước đi. Cặp mắt ánh lên màu lửa như có thần lực. Ðàn chó hàng xóm gặp Lu là cụp đuôi chạy dài. Sau này, những lần đi săn giải trí loanh quanh ở những khu đồi còn an ninh, tôi mới nhận biết loài chồn, loài thỏ thấy Lu là hồn xiêu phách lạc, đứng chôn chân tại chỗ. Mỗi lần con tôi đi học về là dành nhau ôm Lu vào lòng. Tình cảm giữa chó và người không hề phân biệt. Ngoài cái khứu giác bẩm sinh độc đáo của loài chó có thể đánh hơi hàng mấy dặm, thính giác con Lu còn phân biệt được tiếng xe quen thuộc của tôi từ xa. Nó nghểnh mõm, ve vẩy đuôi chạy ra trước sân. Nhìn cử chỉ đó là nhà tôi đoán biết tôi sắp về đến nhà. Lu cạ vào chân tôi từ lúc xuống xe đến khi tôi vỗ về âu yếm nó mới chịu đi nơi khác. Lu cũng cảm nhận khá nhạy bén lúc tôi buồn bực hay giận hờn. Những lúc ấy nó nằm khoanh tròn nhìn tôi với ánh mắt buồn xo. Ðến khi tôi vui vẻ trở lại là Lu chạy đến cạ lưng vào người và liếm tay tôi như để hòa đồng niềm hân hoan với chủ.

*
Sau ngày “gẫy gánh 75”, tôi lên đường trình diện ban Quân quản thị xã. Tôi mang theo mười ngày gạo cùng ít đồ dùng, từ biệt vợ con với bao âu lo trong lòng. Khi bước ra khỏi cửa, con Lu cứ luấn quấn cản bước chân, tôi trực nhớ đến nó liền cúi xuống ôm Lu vào lòng. Ánh mắt ươn ướt buồn thiu của nó nhìn tôi chẳng khác gì đôi mắt của vợ tôi rươm rướm lệ. Lu liếm vào mặt tôi như quyến luyến từ biệt chủ phải đi xa lâu ngày. Trong tù, nhớ lại ánh mắt con Lu, tôi hiểu ra rằng loài chó còn có một giác quan đặc biệt, cảm tính rất nhạy bén về thái độ và tâm trạng của người gần gũi nó. Những tưởng mười ngày nửa tháng rồi quay về, nào ngờ cách biệt gia đình với thời gian dài hun hút. Tôi nhớ con Lu cũng tương tự như nhớ các con tôi. Nỗi lo ngại của tôi là lương thực ngày một khó khăn làm sao vợ tôi chạy đủ bữa cho đàn con bốn đứa lại thêm miệng ăn con chó.

Một ngày nọ, nhà tôi lên trại tù thăm, cho biết chú Dương Thái Lân, con của bà cô Út tôi từ Bắc về Nam có ghé thăm gia đình. Chú ấy bảo con Lu có cốt tướng nòi săn, muốn xin nó về đơn vị nuôi để săn mồi cải thiện thịt tươi. Lân là vai em nhưng lớn tuổi hơn tôi nhiều. Ði bộ đội từ trước 1954, sau tập kết ra Bắc được sang Tiệp Khắc học ngành cầu đường. Hiện là thủ trưởng đơn vị Công binh sửa đường ở Cao nguyên. Vợ tôi nhất quyết không cho con chó, lấy lý do phải qua ý kiến của chồng.

Một hôm, quản giáo trại gọi tôi lên văn phòng ban giám đốc. Một anh bộ đội mặc áo quần đại cán ngồi trong phòng tiếp khách tay cầm một tờ tạp chí cuốn tròn. Anh cán bộ thấy tôi vào, liền hỏi:
– Nguyễn Tấn đấy à?

Tôi ngập ngừng:-Thưa vâng.

-Tôi là Dương Thái Lân.

Tôi à lên một tiếng để tỏ rằng mình biết hắn là ai. Thực ra, qua 21 năm ở Bắc và mấy năm đi bộ đội Vệ Quốc Ðoàn làm sao tôi nhớ nỗi cái khuôn mặt ngày xưa của thằng em con bà cô Út. Ðưa tờ báo cuốn tròn cho tôi, hắn bảo:

– Ngày trước anh cũng viết sách, làm báo dữ dằn đấy nhỉ?

Tôi mở cuộn báo thì ra là tờ Bán nguyệt san Quyết Tiến. Ðó là tạp chí do tôi trách nhiệm biên tập trước 75 do cơ quan USAID của Hoa Kỳ yểm trợ ngân khoảng để in ấn phân phát cho các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa quân.

Lân bảo:
– Tôi có đọc trong đó truyện dài “Nhật Ký Bích Phương” của anh viết đăng nhiều kỳ về Tết Mậu Thân 68. Viết bạo đấy chứ, theo đúng sách lược tuyên truyền chống cách mạng của Mỹ Ngụy.

Tôi giật mình và cảm thấy bất an.. Hắn đưa tay ra hiệu lấy lại cuốn tạp chí rồi lên tiếng:

– Tôi có ghé nhà thăm chị Tấn. Giai đoạn này mà trong nhà còn nuôi con chó kiểu tiểu tư sản. Anh không sợ cặp mắt của quần chúng hay sao?

Tôi than thở:
– Thời gạo châu củi quế, nhà tôi phải chạy gạo cho bốn miệng ăn, nhưng vì nuôi nó từ lúc mới sinh nên tình cảm gắn bó như thành viên trong gia đình.

Hắn ngắt lời:
– Tôi có đề nghị với chị cho tôi mang con chó đó về đơn vị để đỡ bớt khẩu phần ăn cho gia đình nhưng chị bảo phải qua ý kiến anh. Mới nhìn là tôi biết nó thuộc giống chó săn quý hiếm và có thể chống lại cả thú dữ.

Tôi bực mình trước cái lối điếm lỏi, nhưng cố nén giọng:
– Nếu chú thích con chó thì về hỏi nhà tôi, quyền quyết định ở bà ấy.

Tôi đứng lên chào hắn rồi đi thẳng xuống trại.

*
Ðến kỳ thăm nuôi sau, bà xã tôi báo tin chú Lân đến nhà bắt con Lu đi rồi. Bỗng dưng mắt tôi như nhòa sương, lòng xót thương con Lu vô hạn. Từ ngày vào tù, tôi nghi ngờ tất cả những gì người ta nói. Giờ đây Lân bảo đem Lu về nuôi hay ăn thịt chỉ có trời biết. Thấy mắt tôi rưng rưng ngấn lệ, vợ tôi an ủi:

– Lũ con mình cơm không đủ ăn mà phải nhường cho chó một ít, lòng em cũng xót xa lắm. Nó thiếu ăn nên cả đêm chạy rông kiếm mồi đến sáng mới về nhà. Lông nó ướt nhớp nháp, đầy bùn. Biết đâu có cơm bộ đội dư thừa thân nó sẽ mập ra. Mình có giữ lại một thời gian sau cũng bị người ta đập chết làm thịt thôi. Xã hội bây giờ thiên hạ ghiền thịt chó lắm, anh có biết không?

Hết giờ thăm nuôi, tôi đứng vào hàng. Nhìn đôi mắt nhòa lệ của vợ khiến lòng tôi xót xa vô cùng. Cả đêm hôm đó hình bóng con Lu cứ chập chờn trong giấc ngủ. Tôi mơ thấy đôi mắt buồn rười rượi của Lu nhìn tôi trong ngày ra đi như báo hiệu rằng nó không còn dịp gặp chủ nữa. Cái cảm giác man mác êm êm của lưỡi nó liếm vào mặt, vào cổ, giờ đây tôi vẫn không quên. Niềm tin gắng gượng nhỏ nhoi vào lời hứa của thằng em con bà cô là xin con Lu để canh chừng thú dữ và săn mồi. Vả lại, cái công khó của Lân đã lặn lội đường xa đến trại cải tạo để gặp tôi nên cũng an ủi phần nào.

Ba tháng sau, vợ tôi với khuôn mặt hớn hở báo với tôi con Lu không còn ở với chú Thái Lân nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi dồn. Nàng kể:- Cách đây một tuần lễ, chú ấy bất thần đột nhập vô nhà mình không giữ kẽ như những lần trước. Chú dáo dác nhìn trước nhà, nhìn sau nhà, cả cái phòng ngủ của vợ chồng mình chú cũng ghé mắt quan sát. Ðột nhiên Lân hỏi:
– Con Lu có chạy về đây không chị?

Em sững sờ hỏi:
– Nó ở với chú mà?

– Tức lắm chị ơi, Lân ngồi vào cái ghế đặt ngoài hiên, nói tiếp: “Trước khi đi công tác Hà Nội, tôi gởi Lu cho chị nuôi lo ăn hàng ngày. Không ngờ các đồng chí trong đơn vị lợi dụng lúc tôi vắng nhà, bắt con Lu làm thịt đánh chén. Chúng bỏ con chó vào bao bố dìm xuống nước. Khi mở bao ra con chó không còn thở nữa. Họ yên chí ngồi chờ nồi nước đang nấu cho thật sôi để cạo lông. Ca nước sôi đầu tiên tưới vào lưng con Lu, bất ngờ nó vùng dậy chạy đi mất dạng. Lập tức các đồng chí ấy cầm súng lùng sục các ven rừng nhưng chẳng thấy nó đâu nữa. Tôi yên chí con Lu sẽ trở lại nhà chị vì nó vừa khôn vừa có sức mạnh khác thường. Tôi đánh giá thành tích săn bắt mồi của con Lu rất cao. Nó thường xuyên bắt được chuột đồng, thỉnh thoảng chồn hoặc thỏ. Mình có chất tươi thêm vào bữa ăn nên tôi quý nó lắm. Kể xong, Lân đi ra xe xách vào một bao cát đựng đầy gạo, bảo:

– Ðây là số gạo tiêu chuẩn tôi đi công tác còn thừa, chị nhận cho các cháu bồi dưỡng và thêm phần cho con Lu. Nếu nó có trở về đây xin chị báo tin cho tôi biết.

Lân ra đi được một ngày.
Hôm sau, lúc chạng vạng tối, cả nhà đang ăn cơm, con Lu không biết từ đâu chạy xồng xộc vào nhà, mình nó ướt đẫm mồ hôi. Trên lưng một vết phỏng to bằng bàn tay lột hết lớp lông và đã bắt đầu làm mủ. Lũ con mình ôm con Lu vào lòng mừng rơi nước mắt. Cả nhà phải nhịn một phần cơm cho nó. Loáng cái là nó vét sạch đĩa cơm độn sắn. Lu ve vẩy đuôi, đưa lưỡi liếm từng người trong gia đình như để điểm lại những người thân. Mấy đứa con mang Lu ra giếng chà xát xà phòng, tắm rửa, bắt sạch ve vắt bám vào da. Em khui bình thuốc Penicilline rắc lên vết phỏng. Chờ đến tối, em mang Lu về gởi cho ông bà ngoại vì biết thế nào chú Lân cũng trở lại tìm chó. Ðêm đó, Lu cứ theo chân em đòi về, thằng Doãn phải ngủ nhà ngoại để giữ con Lu ở lại. Em vuốt ve vỗ về:

– Con phải ở lại đây với ngoại. Lu không được theo mẹ về nhà, người ta sẽ đến bắt con đi, biết hông?”. Lu vểnh tai nghe lời em dặn nên ngoan ngoãn nằm trong lòng của Doãn mà không còn hậm hực đòi về nữa.”

Từ đó, hễ thấy người nào mặc áo quần xanh lá cây vào nhà là Lu chui dưới gầm giường chìa đầu ra, nhe răng gầm gừ. Chỉ cần một cú giậm chân là đủ để nó phóng ra vồ ngay. Sau lần thoát chết, con Lu nghi ngờ hầu hết mọi người, chỉ trừ gia đình tôi và ông bà ngoại. Tính thân thiện của con Lu giờ đây không còn nữa. Loài chó rất trung thành với chủ nhưng khi bị một lần đối xử tàn nhẫn với nó là bỏ nhà đi luôn.

Gia đình ông bố vợ tôi tuy ở thị trấn nhưng vì là vùng đất đai đã tạo mãi từ trước khi trở thành thị tứ nên nhà cửa vườn tược rộng thênh thang. Tiếp giáp với vườn cây ăn trái là cánh đồng mía, nay thuộc hợp tác xã nông nghiệp. Lu không bao giờ ra trước đường phố mà chỉ lùng sục trong vườn cây, ruộng mía sau nhà tha hồ bắt chuột, chim chóc, rắn rít. Nó sống như một tử tù thoát ngục. Nó biết ngoài xã hội loài người đang nhìn nó một cách thèm thuồng. Họ chỉ chờ cơ hội là biến thân xác nó thành miếng nhừ, miếng mận.

Ngày ra tù, tôi vào thăm ông bà nhạc gia. Khi vợ chồng tôi vừa đến cổng nhà, con Lu đánh hơi được từ trong nhà phóng ra chồm lên người tôi. Với sức nặng của nó đã khiến tôi té ngồi xuống đất. Người nhà ngỡ con Lu tấn công kẻ lạ mặt nên vội la lên: “Bố đấy Lu, tránh ra!” Nhưng không. Nó xoải hai chân trước đứng trên đùi tôi rồi đưa lưỡi liếm trên khắp mặt mày, tai cổ của tôi. Qua cơn hốt hoảng vì cú ngã bất ngờ, tôi hiểu ra con Lu đang mừng chủ. Tôi liền ôm chầm lấy nó rồi người và chó lăn lộn trên nền sân xi-măng. Cha mẹ vợ tôi vui mừng thấy con rể được ra tù. Hàng xóm đứng nhìn cảnh người vật ôm nhau, họ không tránh khỏi xúc động trong lòng.

Sáu tháng sau, nhà tôi sắp xếp cho tôi và thằng con trai lớn một chuyến vượt biển. Tôi phải xin hộ khẩu ở nhà bà dì tận làng An Vĩnh gần mũi Ba-Tâng-Gâng. Tôi có tên trong tổ hợp đánh bắt cá bằng lưới mành với ông dượng và mấy người em bà con. Tôi dắt con Lu theo để tránh cặp mắt của láng giềng và tránh luôn chú Lân bất thần đến nhà bắt gặp nó. Trước một ngày tới điểm hẹn, vợ tôi dẫn thằng Doãn, con trai đầu lòng của tôi xuống nhà bà dì để chuẩn bị lên đường. Sáng hôm sau, nhà tôi mang con Lu lên xe lam trở về nhà.

Ðêm 30 tháng hai âm lịch, trời không trăng nhưng rừng sao trên trời đủ soi rõ đường đi trên bãi cát trắng lờ mờ. Hơi nước biển mát lạnh cùng với ngọn gió tây thổi lồng lộng làm cho đám người trốn trong các bờ bụi rét run cầm cập. Họ cố dõi mắt về hướng biển. Mười giờ… mười một giờ… đến mười hai giờ ba mươi khuya, ánh đèn pin từ gành đá chợt nháy sáng báo hiệu ghe con đã đến. Tốp đầu tiên gồm bốn người lần lượt tiến ra gành đá. Tiếp theo là hai cha con tôi cùng hai người ở cánh bắc cũng xuất hiện. Cuộc “ra quân” âm thầm nhưng đúng theo thứ tự ấn định. Còn mười phút nữa mới đến tốp cuối cùng. Bỗng, phía sau làng có tiếng chân người chạy rầm rập rồi tiếng súng nổ loạn xạ. Toán đầu quay trở lại chạy tản mác vào xóm. Hai người cánh bắc cũng thế. Riêng tôi chạy băng qua gành rồi luồn vào lùm cây đước. Thằng Doãn, trước khi đi tôi đã dặn dò kỹ lưỡng. Nếu họ bắt được là cứ khai đi một mình đừng để liên lụy đến Ba. Toán du kích chia nhau chạy lùng trong xóm. Một du kích đuổi theo Doãn, đến gần bìa làng hắn chộp được cổ con tôi. Thằng bé la toáng lên: “Thả tôi ra, thả tôi ra”. Anh du kích xách thằng bé lên cao. Tay chân nó không ngừng giẫy giụa. Chợt, một bóng đen từ trong hàng dừa phóng ra nhảy chồm lên bám vào cổ anh du kích. Con chó! Tôi thầm kêu lên. Nó tấn công khá bất ngờ khiến anh ta đánh rơi cây súng và buông thằng nhỏ để đánh vật với con chó. Anh ôm đầu con chó nhưng răng chó càng lúc càng lún sâu vào cổ như con quỷ Dracula đang hút máu người. Hắn kêu cứu. Một lúc sau mới có đồng đội đến tiếp sức. Con chó cũng vừa nhả ra chạy vào trong xóm. Một loạt súng của người mới đến bắn đuổi theo. Tôi nghe tiếng ăng ẳng của chó từ trong xóm vọng ra. Một nghi ngờ thoáng qua, chẳng lẽ con Lu ? Nhưng tôi yên tâm ngay bởi con Lu đã được vợ tôi dẫn về nhà trong ngày hôm trước. Núp trong đám cây đước tôi quan sát đầy đủ cảnh chó và người vật nhau. Con chó xuất hiện trong bóng đêm chớp nhoáng như loài sói vồ mồi. Hình ảnh con chó ngoạm cổ anh du kích, tôi liên tưởng đến ma cà rồng đội lốt chó để hút máu người. Nhưng dù ma hay chó tôi cũng thầm cảm ơn nó đã giải cứu cho con tôi và giải thoát được bao nhiêu người.

Tôi về đến nhà lúc tờ mờ sáng nhờ chiếc xe Honda thồ đi kiếm khách sớm. Tắm rửa thay áo quần xong, chợt nhớ đến con chó. Tôi hỏi vợ:
– Con Lu đâu?

Bà ấy bảo:
– Khi xe lam vừa đến ngả ba quốc lộ, con Lu vọt xuống xe chạy ngược theo con đường về hướng biển. Em nghĩ nó trở lại với anh và con. Nếu có điều gì không may xảy ra cho nó thì em biết làm sao bây giờ. Tôi nhìn vợ buông tiếng thở dài:

– Thôi rồi!

Tôi nghĩ ngay đến tiếng kêu đau đớn của chó vang lên sau tiếng súng. Con Lu có thể chết vì loạt đạn bắn theo. Tôi cảm thấy đau xót vô cùng.

Chờ trời tối hẳn, dì tôi mướn xe Honda thồ đưa Doãn về với chúng tôi. Vợ tôi ôm con vào lòng, khóc thút thít:

– Giờ con đã thoát được về đây với mẹ cùng các em. Từ nay trở đi, đói no, chết sống mẹ nhất quyết không để gia đình ta chịu cảnh phân ly.

Doãn nhìn tôi hỏi:
– Ba có thấy con Lu không?

Chẳng đợi tôi trả lời, Doãn quả quyết:
– Lúc ông du kích buông con ra, trước khi chạy trốn, con có quay lại nhìn thấy con Lu đang ngoạm cổ ông ấy.

– Như vậy là con Lu đã chết vì loạt đạn, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi kết luận. Các con tôi đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Tôi an ủi:

– Dù sao thì mình đã dành tình thương và chăm sóc Lu như con trong gia đình. Nó có chết cũng là cái chết có ý nghĩa, một nghĩa cử vô cùng cao quý của loài chó không khác gì con người.

*
Cả nhà đang say ngủ. Ðột nhiên, tôi nghe tiếng cào sột soạt vào cánh cửa trước. Im ắng một hồi lâu, tiếng cào lại nổi lên lần nữa. Ghé mắt nhìn ra ngoài, tôi chẳng thấy gì cả. Chỉ có bóng đêm bao trùm và sương mù dày đặc phủ đầy trời. Tôi thiếp đi một chốc. Tiếng sột soạt nổi lên lần thứ ba. Lần nầy lâu hơn và ở ngay cánh cửa hông. Tôi vội bật đèn lên, hé cửa nhìn ra. Hốt hoảng, tôi kêu lên:
– Em ơi, con Lu trở về.

Cửa mở toang, Lu đi khập khiễng vào nhà. Tôi ôm Lu vào lòng và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi khóc vì vui mừng và khóc vì thương nó quá đỗi. Bầy con tôi xúm vào quấn quýt bên Lu. Máu khô bê bết trên mông và đùi trái của nó. Một viên đạn ghim vào đùi sau, rất may là không đụng xương. Tôi rửa sạch vết thương bằng rượu cồn, xoa thuốc đỏ rồi băng kín vết thương lại.

Từ năm 1986 chính sách đổi mới, thị trấn quê tôi bắt đầu có sinh khí trở lại. Chẳng bao lâu sau, nơi đây buôn bán sầm uất. Cửa hàng tư nhân được mở ra tranh đua cùng với cửa hàng quốc doanh. Ðời sống có phần dễ thở hơn.

Sau trận chiến biên giới Việt Trung năm 1979, Dương Thái Lân và cả đơn vị công binh được điều động đến vùng thượng du Bắc Việt. Vì thế con Lu sống thoải mái với chúng tôi không còn lo lắng gì nữa.

Ðến tháng 7 năm 1991, gia đình tôi lên đường đi Mỹ theo diện tỵ nạn HO8. Con Lu cũng vừa tròn 18 tuổi. Nó đã quá già chỉ lẩn quẩn trong nhà. Nhưng khi có khách đến là nó vẫn không quên chạy vào gầm giường.

Ngày gia đình tôi vào Sài Gòn để lên máy bay, tôi cho Lu theo đến ga xe lửa cùng với bà con đưa tiễn. Khi còi tàu hụ từ xa, Lu đứng dậy sủa vang cả khu vực nhà ga. Trước khi lên tàu, mỗi người trong gia đình chúng tôi đều thay nhau ôm Lu vào lòng, rưng rưng, lưu luyến. Khi tiếng còi báo hiệu tàu chuyển bánh, con Lu nhìn đoàn tàu rồi tru lên một tràng dài. Ðây là tiếng tru lần đầu tiên trong cuộc đời 18 năm của nó. Tôi rùng mình. Tiếng tru thật áo não tưởng chừng như lời trối trăng vĩnh biệt của Lu nhắn gởi.

Khi qua Mỹ rồi, chúng tôi được thư nhà cho biết, con Lu không chịu về nhà nữa. Nó lẩn quẩn ở khu vực nhà ga cho đến một ngày vào mùa Ðông rét buốt, Lu nằm chết bên đường rầy xe lửa, nơi mà chúng tôi đã ôm hôn nó trước khi bước lên tàu.

Hay tin Lu chết, con tôi ôm nhau khóc. Nước mắt chảy ròng ròng như khóc thương một người thân đã ra đi vĩnh viễn. Riêng tôi thầm nghĩ: “Cũng may là nó đã quá già yếu, thân chỉ còn da bọc xương nên được chết toàn thây. Dù muốn dù không nhân viên nhà ga cũng phải chôn xác Lu ở một nơi nào đó trong lòng đất. Ðất mãi mãi ấp ủ thân xác nó và ngàn vạn năm sau biết đâu bộ xương của Lu sẽ hóa thạch tồn tại mãi trên mảnh đất Việt Nam.”

Tôi khóc âm thầm trong đêm như khóc cho đứa con của tôi còn để lại quê nhà nay không còn nữa. Suốt mấy đêm liền tôi nghĩ về Lu như nghĩ về một con người quả cảm và thủy chung.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Friday, October 29, 2021

VƯỜN CHIM

- Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích -

Tôi đang lui cui lau sàn nhà, bất chợt tiếng thắng xe kêu rít lên phía trước sân.

Ném nùi giẻ vào sô nước, tôi vội vàng bước ra ngoài hiên xem ai đến. Anh bạn Chu Tăng Mạnh ngồi trên yên chiếc xe Honda Nữ Hoàng đời mới bóng loáng nhìn tôi cười rạng rỡ. Mạnh khóa cổ xe rồi bệ vệ bước vào nhà.

Nhìn đôi giày da bóng lộn với những con đỉa dưới đế giày nện cộp cộp xuống nền nhà tráng xi-măng, tôi đoán chừng tay này hiện giờ được cả thần lẫn thế. Mạnh niềm nở bắt tay tôi :

– Mình được tin cậu về đã hơn một tháng rồi, mà bận quá không vào thăm được. Hôm nay, nhân tiện vào khám bệnh cho ông Chủ Tịch Huyện, mình ghé vào thăm cậu, bà xã đâu mà cậu phải lau nhà ?

– Thấy bà ấy vất vả quá, trông đau lòng. Mình mới ra tù chưa có việc gì làm nên giúp vợ được chút nào hay chút đó. À, chị Mạnh vẫn khỏe chứ ?

– Ma-đam tôi thời nào lại không khỏe, có làm gì động móng tay đâu. Mạnh tự tin trả lời.

Nhìn toàn thân tôi rồi đưa tay lật mí mắt theo thói quen nghề nghiệp của ông thầy thuốc chẩn đoán con bệnh, Mạnh than:

– Thiếu máu trầm trọng. Trông cậu có vẻ mập nhưng là mập nước đấy, triệu chứng của cơ thể thiếu chất khoáng và vi-ta-min. Hãy ăn nhiều thịt cá vào mới tránh được tình trạng cơ thể suy kiệt.

Tôi nhếch mép cười, gục gặc đầu, nghĩ thầm: “ Mới trong tù ra, thiếu dinh dưỡng là cái chắc. Giờ đây, được ăn no bụng là quý rồi, lấy đâu mà thịt với cá, ông tướng nầy như ở trên trời rơi xuống”

– Này, mình vào đây thăm cậu, nhân tiện mời ông bà đến tham dự tiệc kỷ niệm 15 năm ngày cưới của vợ chồng mình vào ngày 25 tháng 3 tới đây. Xin nhớ một điều là không được mang quà cáp gì hết. Tụi mình sẽ không nhận của ai một món nào. Nếu cậu không nghe là buộc phải mang về đấy. Ngày đó, mình sẽ biếu cậu một số thuốc bổ tổng hợp. Gởi lời thăm ma-đam của cậu, ô-rơ-voa nhé.

Mạnh đưa bàn tay trắng muốt, những ngón tay búp măng no tròn mịn màng nắm bàn tay tôi sần sùi chai cứng. Lật ngửa bàn tay tôi lên, Mạnh sững sờ nhìn vào đó như nhìn một vật lạ, kinh ngạc hỏi :

– Nầy, cậu lao động chân tay khổ nhọc đến thế sao? Những cục u trên bàn tay cậu rất khó biến đi đấy. Mạnh lắc đầu, ngậm ngùi từ biệt tôi.

Hắn vừa phóng xe ra khỏi ngõ thì vợ tôi cũng vừa đạp xe về nhà. Nàng lên tiếng hỏi:

– Ai như thầy Mạnh vừa trong nhà mình mới ra ?

Xách chiếc giỏ đựng đầy khoai lang trên boóc ba-ga xe đạp giúp vợ, tôi trả lời:

– Anh ấy đi khám bệnh cho người ta, sẵn dịp ghé thăm tôi.

Vợ tôi tiếp :

– Giàu có và đầy thế lực lắm đấy. Bác sĩ cách mạng mà. Ở thị xã, từ ông to đến dân hèn, ai mà không biết bác sĩ Mạnh.

Tôi ngạc nhiên hỏi :

– Mạnh đậu bác sĩ hồi nào vậy?

Vợ tôi xách túi rau, dựng xe vào tường, nhìn chồng trả lời cụt ngủn:

-Bác sĩ tự phong.

o O o
Năm 1968, Chu Tăng Mạnh đang là sinh viên năm thứ 3 Y khoa Huế nhưng nằm trong nhóm sinh viên hoạt động bí mật của anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan. Qua hai mươi lăm ngày đêm VC đánh chiếm thành phố Huế trong Tết Mậu Thân , những hoạt động thiên tả của họ trở thành công khai. Khi tình hình ở Huế đã trở lại bình thường, Chu Tăng Mạnh bị loại ra khỏi trường Y. Anh trở về quê cưới vợ và xin giờ dạy môn Pháp văn cùng trường trung học tư thục với tôi. Ngày đó, Mạnh gắn trước cửa nhà cái tấm bảng nhỏ “ Chích thuốc theo toa Bác sĩ”. Vừa đi dạy vừa làm nghề chích thuốc tư, cuộc sống của gia đình Mạnh tương đối thong thả.

Trước ngày kỷ niệm 15 năm kết hôn, Mạnh cho người mang thư mời vợ chồng tôi. Ngày đó, chỉ mình tôi đến tham dự còn vợ tôi từ chối.

Chiếc xe lam cũ kỹ, chạy ọp ẹp trên con đường lở lói đến thị xã hơn mười cây số. Tôi xuống xe lội bộ đến nhà Mạnh. Trước 1975 nhà chỉ một căn, bây giờ mở rộng ra hai cánh tả hữu. Đập vào mắt của khách đi đường là tấm bảng nền xanh chữ trắng: “Bác Sĩ Chu Tăng Mạnh”. Có lẽ còn sớm nên phòng tiệc chưa có một ai. Mấy dãy bàn trải khăn nhựa in hoa, những đĩa chén mỏng loại đắt tiền được đặt bên trên bàn ngay hàng thẳng lối.

Nghe tôi đến, Mạnh từ trong phòng, hai tay còn đang thắt chiếc cà-vát đã vội vàng ra bắt tay tôi :

– Cậu thấy nhà mình khác xưa nhiều phải hông? Thân thế lắm mới mua liên tiếp được hai căn nhà hai bên. Căn bên trái là của một gia đình Tàu xuất cảnh chính thức, còn căn bên phải của một gia đình vượt biên.

Mạnh nắm tay tôi dẫn ra phía sau nhà. Một cảnh trí khiến tôi ngạc nhiên phải buột miệng ồ lên thích thú. Như một khu vườn bách thảo thu gọn giữa cái thành phố nghèo nàn nầy. Cây ăn quả xanh ngát một vùng. Đặc biệt là thú chơi chim của Mạnh.

Dọc theo bức tường ngăn cách với nhà hàng xóm từ trước ra đến tận cùng khu vườn đều có mái hiên che. Vô số các loại lồng chim treo bên dưới. Lồng to, lồng nhỏ, dưới thấp, trên cao, san sát, lủng lẳng. Chợt tiếng cu gáy nổi bật trong rừng chim đang hót líu lo. Tôi trực nhìn lên cây dừa cao thấy lồng chim cu cườm đang giương bẫy. Mạnh giải thích ngay :

– Nhà mình có đến chục con cu gáy nhưng con nầy quý nhất. Tiếng gáy của nó như có ma lực. Cậu để ý tiếng gáy có thể phân biệt làm năm âm tiết : Cúc – cù – cu – cú – cu… Mình có thể nói bất cứ con cu nào, dù đang có đôi bạn mà nghe được giọng “bổ ngũ”của nó là bỏ bầy tìm đến ngay. Mạnh ngưng một khắc, hít một hơi dài như để thưởng thức bầu không khí trong lành, mát rượi đầy bóng cây xanh của vườn nhà, rồi giải thích thêm:

– Điểm đặc biệt của con “bổ ngũ” nầy là gáy cả ban đêm (1). Tiếng gáy của nó đánh thức cả vườn chim của mình. Ngay cả lòng người cũng cảm thấy nao nao.

Tôi đi dọc theo khu nuôi chim như đi duyệt hàng quân. Phía sau có Mạnh như một cận vệ với sự niềm nở chân tình. Chim chóc nhiều vô kể. Con lớn, con nhỏ, con đen, con trắng, con vàng, con nâu chen chúc tíu tít. Nào chim cu gáy, sáo nghệ, sáo ngà, sáo sậu, kia là chích chòe, bìm bịp, chào mào, chèo bẻo, chim gi… Loại sang trọng và quý hiếm có họa mi, thiên thanh, công đất, chim trĩ đỏ.

Nghe nói loại trĩ đỏ nầy chỉ có ở Cao bằng, Lạng sơn và vùng thượng du Bắc Việt. Bộ lông của nó nhiều màu sắc rất đẹp, đầu và trước cổ xanh lục, thân mình màu nâu hung đỏ, nâu vàng với các chấm đen. Đuôi dài nhỏ, mắt nâu đỏ.

Mạnh húyt huýt vài tiếng sáo miệng, đưa tay búng nhẹ vào nan lồng, con trĩ quay đầu ngước nhìn về phía chúng tôi. Đôi mắt lóng lánh màu nâu đỏ, thoạt trông như hai viên hồng ngọc lồng trong mắt chim, Mạnh lên tiếng:

– Mình tậu được con trĩ đỏ nầy là cả một công trình khó nhọc trong chuyến đi tham quan với các cụ Cựu chiến sĩ. Mình chi đứt nửa chỉ vàng cho chủ nó. Như bất kỳ dân chơi nào cũng đều kiêu hãnh với cái thú của mình, Mạnh tỷ mẩn giới thiệu từng loại chim kể cả xuất xứ của nó :

– Đây, con két của ông Bí thư Huyện tặng. Nó đã bắt đầu bập bẹ vài ba tiếng người. Cái lồng nhốt con trĩ đỏ nầy là của Giám thị trưởng trại tù cải tạo Z do bàn tay khéo léo của tù nhân làm ra. Nhìn kỹ từng nan lồng cậu mới phục cái công khó của họ. Tất cả đều bằng loại nhôm của thân máy bay trực thăng rơi trong rừng rậm được cắt ra mài dũa, uốn cong thành vòm, đánh bóng rất công phu. Còn đây là con sáo nghệ chân đỏ, mỏ vàng của một bệnh nhân đem đến tạ ơn mình đã chữa lành bệnh lao. Nó bắt chước tiếng người rất chuẩn. Vừa nói, Mạnh vừa cho sáo trổ tài ngay: “ Mạnh, có khách ”.“Trộm vào nhà”. “Rượu, rượu Mạnh ơi”.

Tôi lập tức rời khỏi con sáo đang liến thoắng.

Tôi vốn dị ứng với loại chim lồng biết nói tiếng người từ khi xảy ra một vụ thương tâm tại trại tù cải tạo. Chuyện xảy ra như sau:

Anh em tù đi chặt lồ ô trên rừng cao bắt được con chim bách khứu mới chuyền cành. Loại chim nầy rất hiếm, chỉ sống trên những khu rừng già. Nó có nhiều giọng hót khác nhau, khi nhặt, khi khoan, khi trong, khi đục, lên bổng xuống trầm rất giàu nhạc điệu.

Vì không đủ điều kiện chăm sóc nên anh em giao cho nhà bếp nuôi. Loài chim khướu bắt chước tiếng người nhanh hơn loài sáo nghệ, chim két. Chỉ hơn một năm sau là khướu nói được nhiều từ dí dỏm. Đến giờ anh em tù đi lao động về, ùa xuống bếp lấy nước là từ trong lồng đã nổi lên tiếng khướu tía lia nhắc nhở : “Trật tự, trật tự…” “nước sôi, nước sôi…” Những lúc chỉ một vài người, khướu lịch sự : “Chào bạn, mạnh giỏi…” Vì là khu công cộng nên nhiều tù nhân đến nói chuyện với khứơu và dạy cho nó nói vài từ trêu chọc.

Khu trạm xá có chị cán bộ y tá mới đến nhận việc. Lần đầu tiên đến thăm khu nhà ăn, bất ngờ chị nghe giọng nói khàn khàn phát ra từ trong góc nhà :

– “Anh yêu em”.

Chị Cán bộ tưởng tù trêu ghẹo mình liền sừng sộ:

– Anh nào vừa nói đấy ?

Không ai trả lời, chỉ có tiếng lặp lại. Lần nầy với giọng lảnh lót :

– “Anh yêu em”.

Nữ cán bộ nhìn vào chiếc lồng mới phát hiện con chim khướu trêu mình. Bị hố, chị xấu hổ bỏ đi. Mấy anh tù nhà bếp bụm miệng cười. Con khướu còn biết huýt sáo, gọi tên con Vện, chó của cán bộ lẩn quẩn ở khu nhà bếp.

Một hôm, ông cán bộ Chính uỷ Sư đoàn ghé vào nhà bếp của tù kiểm tra. Bất chợt con khướu vừa đập cánh vừa hét to : “Vi xi, Vi xi”. Ông cán bộ kinh ngạc. Nhìn con chim, nhìn đám tù nhà bếp đang đứng nhìn nhau sau dãy chảo nấu cơm, người nào cũng sững sờ. Ông ra lệnh vệ binh mang lồng chim về ban chỉ huy trại.

Liên tiếp nhiều đêm, cả toán nấu bếp viết tờ kiểm điểm. Quản giáo buộc họ phải tìm cho ra người nào đã dạy con khướu nói những từ “phạm húy” đó. Cuối cùng không tìm được thủ phạm. Toán nhà bếp bị đuổi ra ngoài đi lao động sản xuất thay thế toán người mới. Lồng chim khướu bị vất trong chòi chất tranh không cho ăn, cho uống. Ba ngày sau khướu xủ cánh chết. Nhìn xác con khướu cắn mỏ vào nan lồng không chịu nhả ra cho đến chết, khiến lòng tôi quặn thắt.

o O o
Khách khứa, bè bạn đã bắt đầu tề tựu. Mạnh vào nhà tiếp khách, còn lại mình tôi đứng vẩn vơ giữa vườn chim. Tôi rưng rưng nước mắt nhớ về hình ảnh con chim khướu năm nào gục chết trong lồng, rồi liên tưởng đến các con tôi còn trong tuổi học ăn học nói. Tôi không dám nghĩ tiếp, bèn vội vàng bước vào nhà.

Tiệc bắt đầu, tôi chọn ngồi vào chiếc bàn khuất sau cây cột cùng với mấy người bạn láng giềng của chủ nhà. Mạnh lần lượt giới thiệu từng nhân vật danh dự trước khi vào tiệc. Toàn là chức sắc có uy quyền. Tôi thầm phục tay nầy thuộc loại “bắt mánh” vào hàng “thượng thừa”.

Gần mười năm, hôm nay tôi mới được ăn một bữa cơm thịt cá ê hề, có cả loại rượu mạnh của Liên Xô, Trung Quốc và thuốc hút ngoại nhập. Tôi thật sự choáng váng trước lối sống vương giả giữa một xã hội khốn cùng.

Xong tiệc, Mạnh mời khách ra vườn thưởng thức khu nuôi chim. Vì không muốn gặp mặt mọi người nên tôi đứng chôn chân tại cuối góc vườn. Trước mặt tôi là lồng nhốt con cu cườm. Mạnh tưởng tôi thích con cu cườm nên đến vỗ vai tôi :

– Mình biết cậu “mết” chú cườm nầy rồi. Nó gù mồi độc đáo lắm, dai dẳng, lỳ đòn cho đến khi đối thủ vào bẫy. Biếu cậu đấy, nhớ mang nó về nhé.

Mạnh nào biết tôi rất ghét nuôi chim, chỉ thương hại chúng nó phải chịu thân phận chim lồng. Tôi nghĩ thầm : “Ừ thì cứu được con nào hay con nấy”. Tôi liền lên tiếng cảm ơn Mạnh .

Quan khách lớn nhỏ lần lượt ra về, người nào cũng được chủ nhà biếu một món quà kỷ niệm. Riêng tôi với chú chim cu gáy được người làm quây kín lồng bằng tấm vải đen. Ông cán bộ xã, chú vợ của Mạnh ở gần quê tôi được cháu rể tặng một đôi bìm bịp nhốt trong chiếc lồng khá lớn.

Mạnh xách lồng chim đồ sộ trao cho ông chú vợ :

– Khu chú ở có dòng sông, vườn cây và cánh đồng rất hợp phong thổ cho sự phát triển giọng hót của loại bìm bịp. Cặp chim nầy cháu nuôi từ lúc chưa mọc lông cánh. Cháu bảo đảm với chú không có cảnh nào thích thú hơn là vừa nhâm nhi ly rượu thuốc vừa nghe tiếng bìm bịp kêu khi chiều về trên dòng sông cuồn cuộn chảy trong mùa nước lên,.

Tôi mang lồng chim về đến nhà. Con tôi mở tấm vải ra, chú cu cườm sợ hãi chạy loanh quanh trong lồng, Vợ tôi lắc đầu bảo:

– Anh à, diện của mình mà chơi trò bẫy chim cu là bị ghép tội “Lười lao động, ngồi không ăn bám”. Biết đâu lại vào tù “cải tạo lao động”. Con tôi thì mừng rỡ vây quanh.

Không ai biết được thâm ý tôi là “phóng thích được con nào hay con nấy”.

Sáng sớm hôm sau, khi hừng đông chưa rựng đỏ, tôi mang lồng chim ra giữa đồng lúa đang chín tới. Tôi mở cửa lồng, chim đưa cặp mắt tròn xoe do dự. Một thoáng bất ngờ nó phóng ra khỏi lồng vỗ cánh bay bổng lên giữa khoảng trời xanh và cánh đồng lúa vàng mênh mông.

– Giã từ chim nhé, hãy vui với ngày tháng tự do.

Tôi nói vừa đủ cho chính mình nghe. Và tâm trạng của tôi chợt rộn ràng như ngày tôi cầm được giấy ra trại ung dung bước ra khỏi cổng nhà tù. Niềm hạnh phúc của nỗi vui đoàn tụ như nâng từng bước chân tôi, chẳng khác gì loài chim tung cánh bay lên giữa trời mây.

– Một tháng sau, tôi đạp xe vòng vòng tìm chòi đạp mía mua đường muỗng cho “mẹ bầy trẻ” nấu chè bán dạo. Bất ngờ, tôi gặp ông chú vợ của Mạnh trong lò đường của hợp tác xã Hiệp Phương. Nhận ra tôi hôm dự tiệc tại nhà cháu rể, ông vồn vã mời vào chòi uống nước chè hai (2). Ông tâm sư:

– Thằng cháu rể tôi, bác sĩ Mạnh theo Tây y nên dốt đặc cái món thuốc nam. Môn thuốc đã mấy mươi đời lưu truyền trong nhân gian. Cặp chim bìm bịp của nó cho tôi quý lắm. Đại loại, bìm bịp đạt đến mức mắt đỏ, tròng trắng, cổ cườm, đuôi xòe dải quạt là cực quý (3). Đâu phải dễ dàng bắt được đủ cặp trống mái. Bìm bịp mà ngâm rượu mạnh cả đôi, đúng một trăm ngày chôn dưới đất, xương sẽ tan ra trộn lẫn với thịt của nó, lọc lấy phần rượu trong uống mỗi ngày một ly là xương cốt cứng trở lại như tuổi hai mươi. Rượu bìm bịp thuộc loại trung tính chế được cả âm lẫn dương(4) Thằng Mạnh nó mê tiếng hót còn tôi thì quý cả thịt lẫn xương của giống chim bìm bịp.

Hai tháng, mười ngày nữa cậu ghé nhà tôi chơi, lúc đó hủ rượu ngâm bìm bịp đủ trăm ngày, tôi mời cậu dùng thử vài ly để chứng nghiệm món thần dược của ông bà ta để lại .

Tôi than thầm : “Thế là xong đời một đôi chim !”

Hai tháng sau đó, tôi vào đất Lâm Đồng làm công nhân gạch ngói trong tổ hợp của người anh cột chèo nên không có dịp đến nhà ông chú vợ của Mạnh để được uống rượu ngâm bìm bịp.

Những ngày tháng phải xa vợ, xa con vì sinh kế thật là ảm đạm nhưng tâm trí tôi lúc nào cũng thanh thản với cuộc sống tự do ngoài đời.

Vào cuối tháng chạp âm lịch, tôi về quê ăn Tết có mang theo một món quà đặc biệt tặng cho Chu Tăng Mạnh để gọi là tạ ơn người bạn dạy học cùng trường trước kia đã có tấm lòng hào hiệp biếu cho tôi mấy chục liều thuốc bổ và con chim cu cườm. Món quà là một pho tượng bằng đất sét nung mà tôi đã bỏ công mấy tháng trời nặn đi nặn lại theo bức hình chụp tượng trên một tấm bưu thiếp. Người lực sĩ hai tay nâng cao con chim bồ câu vươn đôi cánh chuẩn bị bay vút lên bầu trời. Bức tượng nói lên niềm khát vọng tự do và quyền sống.

Khách hàng đến mua gạch ngói nhận xét bức tượng có hồn. Xin được nói rõ ở đây, tôi chỉ là tay thợ làm gạch ngói bình thường nhưng tôi đã dành hết tâm lực và ước nguyện của mình trong khi nặn tượng. Niềm khao khát tự do tìm ẩn trong nội tâm đã truyền lực vào đôi tay tác động lên đường nét của tác phẩm. Tuy bức tượng còn nhiều chỗ ngây ngô thô kệch của người tay ngang nhưng không ngờ lại có thần như vậy.

Vừa đặt bức tượng lên bàn và nói với vợ tôi về ý định làm quà Tết cho Mạnh. Nàng lắc đầu bảo :

-Mạnh không còn ở đó nữa !

Tôi ngạc nhiên hỏi dồn :

-Chuyện gì đã xảy ra và anh ấy đi đâu ?

Vợ tôi trả lời gọn lỏn :

– Đi tù !

Tôi thật sự ngỡ ngàng. Chân tay tôi rịn ướt mồ hôi dù khí trời đang lạnh giá của tiết Đại hàn.

Rồi vợ tôi kể đầu đuôi câu chuyện mà nàng nghe được:

– Một hôm, thình lình toán công an kinh tế đến bao vây nhà Mạnh suốt đêm, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Sáng ngày, một phái đoàn thanh tra từ trung ương về lục soát nhà của Mạnh. Nghe nói một số thuốc tây ngoại nhập khổng lồ chứa bất hợp pháp trong nhà. Số thuốc giá trị nầy do Liên Hiệp quốc và các quốc gia Âu Mỹ viện trợ để phân phát cho các bệnh viện, trạm xá…Mạnh lại giả mạo bằng bác sĩ của chế độ cũ, hành nghề không giấy phép. Họ kết tội Mạnh hối lộ, móc ngoặc, âm mưu đầu độc cán bộ đảng viên bằng những cuộc chơi trác táng hầu làm mất dần phẩm chất đạo đức cách mạng. Đây là hình thức chiến tranh tâm lý của bọn làm gián điệp cho nước ngoài .

Nghe đến đây, cả người tôi nổi gai ốc. Vợ tôi tiếp:

– Ba căn nhà đều bị tịch thu. Vợ con anh ấy chỉ được ở tạm khu nhà bếp, theo lệnh tòa án.

Tôi thở dài ngao ngán :

“ Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”(5). Lời người xưa quả thật không sai. Bài học đầy nước mắt mà Mạnh đã nhận được ngày hôm nay đối với anh ta đã quá trễ, nhưng lại hữu dụng cho đời con cháu của anh sau nầy. Đó là gương trước mắt chúng cần phải tránh xa /.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

(1)(3) (4)- Theo Phạm Ngọc Tiến TNVN
(2)-Nước mía nấu lần thứ hai trước khi thành mật
(5)-“Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí” = Vận may, phúc lành họa hoằn lắm mới có, không lặp lại nhiều lần, còn tai họa không chỉ đến một lần mà hay đến dồn dập,

Blog Archive