Showing posts with label Đỗ Dung. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Dung. Show all posts

Sunday, September 10, 2023

Tuổi Hoàng Hôn

Bà Phiên kéo rèm, mở tung hết các cửa sổ cho nắng sớm ùa vào phòng. Nắng Tháng Ba vàng tươi, trong trẻo. Đúng là Nàng Xuân đã tới, đã xua đi những u ám, xám ngắt của những ngày tháng mùa đông lạnh lẽo. Bước ra vườn sau, bà vươn vai, hít thật sâu cho không khí trong lành của buổi ban mai tràn vào đầy buồng phổi. Trời đẹp quá, mấy cây cải Nhật như đang say sưa tắm nắng, cây cối đã hồi sinh. Những hột kinh giới, tiá tô, húng quế, húng lủi, dấp cá... rơi xuống từ mùa trước nay đã nẩy mầm cho ra những cây con bé li ti. Những chùm nụ hồng bé tí đã ra đầy trên giàn, mấy cành Quỳnh điểm những nụ hoa xinh xinh bằng đốt ngón tay út. Nhìn qua hàng rào, rặng cây Dogwood sau nhà đơm đầy nụ trắng thanh khiết, gió nhè nhẹ, không gian thoang thoảng thơm như hương hoa Lài, hoa Ngọc Lan.

Bà Phiên đứng xoay lưng về phiá mặt trời cho mắt khỏi chói và nắng không rát mặt, bắt đầu vẫy tay tập Dịch Cân Kinh. Bà thủng thỉnh đếm, hết một ngàn cái vẫy, bà ngồi xuống chiếc ghế bành, xoa bóp chân tay. Tiếng ông Phiên vọng ra từ sân trước: “Bà đâu? Bà đâu?”, ông chạy ra sân sau nhìn thấy bà thì hạ giọng thì thào: “Wisteria đã có hoa!”. Thế là như lò xo bật dậy, bà liú riú theo ông ra ngắm cây Tử Đằng.

Những chồi hoa bằng ngón tay, như những chiếc đuôi chồn nhỏ chi chít bám cành, đong đưa trong nắng như đang cười trêu ghẹo bà Phiên. Niềm vui thích êm ả, len nhẹ trong lòng khiến bà lâng lâng sung sướng. Dạo bà mới bịnh, Quy, cô con gái, thương mẹ mua tặng bà một cái computer để bà tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho đỡ buồn. Những vườn hoa Tử Đằng bát ngát hiện ra trên máy khiến bà say sưa. Bà yêu màu tím từ nhỏ, màu tím của mộng mơ. Những giải hoa tím ngát cả bầu trời đã khiến bà tương tư, bà ước ao sao trong vườn nhà có một giàn phủ đầy hoa đẹp như thế.

Năm ngoái, khi mới dọn về ngôi nhà này, một hôm khi đi Home Depot để mua thêm vài món đồ lặt vặt, hai cây Wisteria to, cao đứng ở góc vườn khiến bà ngẩn ngơ. Xe của ông chở không vừa mà ngày thường các con phải đi làm, sao mua được đây! Cả đêm bà nhớ cây mà ngủ không được, không biết đợi đến cuối tuần thì nó có còn ở đó hay không.

May quá, hôm sau, Khoa, anh con trai lớn đi làm về sớm ghé thăm xem mẹ mới dọn nhà có cần gì thì giúp. Bà kể chuyện bà sợ có người mua mất cái cây yêu quý của bà thì Khoa bật cười nói ngay: “Mẹ thay quần áo đi, con về nhà lấy xe truck rồi con đến đón mẹ đi mua liền”. Thế là bà toại nguyện.

Thằng “Củ Khoai” của bà nay đã chững chạc, trưởng thành, đã cho bà ba đứa cháu nội thật xinh và ngoan. Nhớ lại những ngày sau Ba Mươi Tháng Tư năm ấy, cô Phiên còn là một thiếu phụ trẻ, chưa đến ba mươi, gia đình cô kẹt lại, chồng cô phải đi tù cải tạo, bé Quy, con chị “Củ Mì” hơn ba tuổi, thằng em “Củ Khoai”chưa đầy một năm, hai đứa phải lủn tủn theo mẹ đi bán chợ trời. Buổi trưa dắt con vào hành lang thương xá Tax, trải miếng vải nhựa cho con nằm, xoa lưng cho con ngủ mà cô tức tưởi, nghẹn ngào. Ngày trước chỉ có ăn mày mới nằm thế này, vậy mà bây giờ ba mẹ con cô có khác chi họ, cũng lây lất nằm đây. Hết giờ nghỉ trưa, thương xá mở cửa, cô lại thu vén dắt con ra lề đường trải tấm nilon để mua bán tiếp. Bà nội ốm đau, bà ngoại cũng phải bương chải kiếm sống, các dì, cậu còn phải đi học, cô chẳng thể nhờ ai, đành phải tha con theo mình. Thằng bé ngồi ghế nhỏ đằng trước, con chị ôm lưng mẹ đằng sau và hai bên ghi đông chiếc xe đạp treo hai cái giỏ cói chất hàng hóa mua bán hàng ngày. Cuối tuần cô mới dám để con ở nhà bà ngoại chơi vì các dì, các cậu nhỏ được nghỉ học.

Những nhọc nhằn, khốn khó rồi cũng qua đi, cũng đến ngày ông Phiên được thả về, hai vợ chồng bà qua những gian truân cũng đưa được hai con đến vùng đất hứa bình an. Sang đây bà lại có thêm cu Lam, thằng con út Trời cho. Cu Lam năm nay đã ba mươi, cu cậu chí thú làm ăn, mua căn duplex xinh xắn này cho cha mẹ ở một bên còn cậu ở một bên với một chàng room-mate cho đỡ tốn tiền nhà.

Tiếng ông Phiên đưa bà về thực tại:
- Này bà ơi, cây hồng vàng cũng đầy nụ rồi này.

Bà săm soi, quả thật mấy chùm nụ hoa vàng đã tượng hình, mỗi nụ hoa chỉ to bằng đầu chiếc đinh ghim. Bà trêu:

- Mắt nhỏ mà tinh quá ta. Ông giỏi!

Ông nhún vai, nguýt bà một cái thật dài.

Bà đi thu hoạch, nguyên hái hai cây quất chưng Tết cũng được đầy một rổ, cũng phải vài trăm trái. Ông xách vòi nước đi tưới cây. Bà vào sửa soạn món điểm tâm và làm đồ ăn để ông đem “đi làm”. Mỗi ngày ông Phiên sang nhà Khoa chơi với các cháu. Quy cũng ở gần đấy nên sau giờ học nhờ ông đón thằng cu út về ở chơi với đám con cậu Khoa. Thằng cháu ngoại lớn nhất chỉ còn hơn một năm nữa là vào đại học, thằng em kế học dưới anh hai lớp nên hai đứa có thể tự túc đi bộ về nhà. Sau bữa ăn sáng bà sửa soạn bữa ăn trưa cho các cháu rồi bà tiễn ông đi.

Nằm đu đưa trên chiếc võng trong bóng rợp của vườn sau bà thả hồn về dĩ vãng, nhớ đến nhóm bạn Trưng Vương thời áo trắng. Những cô nữ sinh chuyên môn bát phố vào buổi trưa. Năm Đệ Nhất học buổi sáng nhưng đôi khi phải học thêm buổi chiều nên cả lũ ở lại trường, rủ nhau đi bộ, vào hẻm Casino ăn bún chả, bánh cuốn rồi tà tà bước sang góc đường Lê Lợi – Pasteur, nơi có nước miá Viễn Đông, đu đủ bò khô, bò biá, lại còn khay phá lấu của ông Tầu, những miếng phá lấu thái miếng nhỏ vừa ăn, cắm sẵn vào những que tăm, mấy đứa đứng xúm xít vòng quanh, hào hứng lấy từng que, chấm tương ớt, bỏ vào miệng mà hít hà, sau đó cứ đếm tăm trả tiền. Vòng trở lại mé chợ Bến Thành, các cô làm thêm một ly đậu đỏ bánh lọt hay sâm bổ lượng. Thật là ngon rên mé đìu hiu. Bụng no căng các cô đi bộ trở lại Lê Thánh Tôn, khúc khích, rúc rích đùa giỡn với nhau trên con đường rợp mát bóng me xanh để trở về trường. Sau Tú Tài mỗi người một phương, đứa học môn này, đứa theo môn nọ, lại có cô lấy chồng, theo chồng đi xa. Rồi tiếp đến ngày đổi đời năm bảy lăm, thêm một lần tan tác.

Cứ thế liên tiếp bà nhớ lại chuyện này, chuyện nọ, chuyện những vất vả gian nan khi vượt biển rồi những khó khăn chật vật lúc đầu nơi xứ người.

Thấm thoắt mấy chục năm trôi qua, biết bao thăng trầm, bão tố. Bây giờ bà đã gần bẩy mươi, ngồi đây trong khoảng không gian tĩnh lặng tuyệt vời cuả một buổi sáng muà Xuân. Không gian là của bà, thời gian là của bà. Thỉnh thoảng tiếng kêu chíp chíp của những con chim nhỏ hay tiếng quàng quạc của những cánh chim đen bay chuyền cành trên cây cổ thụ bên nhà hàng xóm.

Bà đang ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, nắng đang từ từ tắt. Đến một lúc bà hiểu ra lẽ vô thường của vạn vật, không có gì là trường tồn, vĩnh cửu. Bà đã buông bỏ tất cả để vui những ngày ngắn ngủi còn lại trên cõi đời này. Với bà bây giờ còn mảnh vườn nhỏ cho bà chăm bón, vài tháng nữa cây cối sẽ vươn lên, bà sẽ vuốt ve, chuyện trò với chúng, hạnh phúc nhìn chúng từ từ lớn lên. Những buổi sáng bà sẽ đi bộ quanh vùng, thảnh thơi ngắm nhìn hoa thơm, cỏ dại, tận hưởng những phút giây êm đềm của hiện tại. Ba đứa con của bà đã có cơ ngơi vững vàng, cuộc sống gia đình hạnh phúc, bà không phải quan tâm đến chúng nữa. Những ngày cuối tuần thỉnh thoảng bà nấu bữa ăn ngon gọi con cháu về quây quần cho bà nghe tiếng cười ríu rít trẻ thơ. Những ngày nghỉ hè ông bà theo con cháu ra biển hay vào rừng ở những nơi hoang dã, xa lánh trần thế, sống gần thiên nhiên. Bà sẽ cùng ông ngắm trăng trên biển, nhìn ánh trăng lao xao trên mặt nước hay thanh thản đi bộ bên nhau dọc theo bờ cát.

Hai con khỉ già hơn bốn chục năm sống có nhau, đúng là chia ngọt sẻ bùi. Những lúc nhìn ông lụ khụ, nhìn bà già yếu bà cũng bùi ngùi nghĩ đến lúc chia tay. Ai đi trước, ai còn ở lại với vai trò chiếc đũa lẻ. Nhưng rồi bà lại nghĩ sinh tử là chuyện đương nhiên, có ai sống hoài, ai cũng phải một lần ra đi. Lo nghĩ trước làm chi, cứ vui với những gì đang có trong tầm tay, ở đây, bây giờ, hôm nay.

Cứ nghĩ rồi bà lại tìm cách trút bỏ những bợn nhơ, vướng bận của cuộc đời, buông hết đi những bi lụy để chỉ còn cái tâm trong sáng. Những vạt nắng chiều không trong trẻo, tinh khôi như nắng sáng nhưng ngọt như mật và rồi nắng cũng sẽ tàn, sẽ tắt khi mặt trời xuống dần, khuất hẳn sau rặng đồi phía xa. Nhìn lên trời xanh thăm thẳm, bà Phiên yêu quá cuộc đời này.

Đỗ Dung

Tuesday, July 12, 2022

Hạnh Phúc Tuổi Già

Tác giả Đỗ Dung nhận Giải Danh Dự 2021 từ cựu quán quân Phương Dung.

Những đêm trăng, bà có thú nhìn lên bầu trời cao để hồn mình chơi vơi theo ánh trăng, và những đêm trăng sáng vằng vặc trên nền trời nhung thẫm như thế này, bà lại nhớ ông thật nhiều. Bà nhớ những buổi tối ngồi bên chồng ngoài hiên sau nhà, nhấm nháp phong bánh đậu xanh với tách trà sen trong không gian huyền hoặc, ngát hương đêm, hương Ngọc Lan lẫn với hương hoa Nhài, hoa Hồng thoang thoảng.

Hôm nay ngày rằm, bà đã mua trái cây và hoa. Sau bữa cơm chiều bà nấu thêm một nồi chè sen để cúng Phật và cúng tổ tiên. Trước khi múc chè ra chén để lên bàn thờ, bà bỏ vào nồi vài bông hoa nhài tươi mới hái, khói bốc lên thơm nhè nhẹ, mùi hoa nhài quyện với mùi hạt sen. Thắp nhang đứng trước bàn thờ chồng trong không gian yên tĩnh của căn nhà vắng lặng, bà thật sự cô đơn. Sang năm nay bà cảm thấy yếu đi nhiều, buổi sáng ngủ dậy người nhức mỏi, uể oải. Tuổi già thật khổ, dù bà đã cố giữ gìn sức khoẻ, tập thể thao đều đặn và ăn uống thật lành mạnh. Một hôm, đang lúi húi làm vườn bà choáng váng rồi ngất đi, khi tỉnh dậy bà tự gọi 911 rồi gọi báo cho các con. An, cô con gái sợ quá, tha thiết mời mẹ về ở chung:

- Mẹ ơi, hai cháu lớn rồi, thằng Cu Tý đã lên bảy, bé Cún đã lên năm, sắp đi học Mẫu giáo, mẹ không phải bận rộn với các cháu nhiều, mẹ dọn về ở với chúng con, mẹ nhé. Mẹ ở một mình con không yên tâm đâu, như bữa nay nè, mẹ thấy nguy hiểm không?

Bà không biết thời gian còn lại của mình là bao lâu, một tháng, một năm, năm năm, hay mười năm, hoặc lâu hơn thế nữa. Con gái thương mẹ nhưng còn anh chồng, liệu chúng nó có thể hy sinh những sự riêng tư của gia đình nhỏ để đón bà về. Còn gia đình nhà chồng nó nữa, hai ông bà bên đó cũng già. Chúng không mời cha mẹ chồng mà lại đón mẹ vợ về ở chung thì liệu họ có suy nghĩ, có buồn không.

Đêm thật khuya bà vẫn thao thức, trằn trọc. Ngày ông mới mất bà cũng dự tính thu xếp về ở với các con. Không biết là vô tình hay cố ý, trong lúc trò chuyện tại nhà bà, cô con dâu đã tuyên bố là ở bên này sống chung với cha mẹ già là chuyện khôi hài, gia đình chỉ gồm có cha mẹ và các con, ông bà là khách, đến chơi ít ngày rồi về hay là chỗ để thỉnh thoảng cho chúng gửi con. Chúng nó thản nhiên nói chuyện, cười đùa với nhau, diễu cợt những cảnh chung đụng trong nhà, phê bình hoàn cảnh nhà này, nhà kia khóc dở, mếu dở vì có cha mẹ già ở chung.

Biết ý tuổi trẻ như vậy bà đành lủi thủi trong căn nhà vắng, một mình bà nên nhà càng rộng mênh mông. Hàng ngày bà đi dạo quanh vùng, về nhà đọc sách, xem TV, may vá lặt vặt, soạn lại hình ảnh của gia đình, sắp xếp thứ tự dán vào album. Rảnh rỗi bà ra chăm chút mảnh vườn mà ông bà đã bỏ bao công sức trồng trọt, tưới bón. Thỉnh thoảng nhớ các cháu thì bà sang nhà chúng nó chơi hay điện thoại nhắn bố mẹ nó đưa cháu sang cho bà. Cuộc sống của bà tương đối thảnh thơi nhưng bước sang năm nay bà thấy yếu đi nhiều và khi đi ngủ hay có những cơn ác mộng, giật mình thảng thốt trong đêm.

Bà gác tay lên trán nghĩ về lời đề nghị của cô con gái, hay là bà thu xếp bán nhà, chia tiền đều cho các con rồi về ở với gia đình nó. Bà nghĩ đến nhà của vợ chồng An, căn nhà có ba phòng vừa vặn cho gia đình hai vợ chồng với hai đứa con. Nếu bà về chiếm hữu một phòng, hai anh em phải dồn vào một phòng, các cháu mỗi ngày mỗi lớn nên cũng bất tiện. Sân sau bố mẹ nó tráng xi măng hết cho các con chơi và cho dễ quét dọn, chỗ nào cho bà trồng cây... Không ổn rồi, bà lại trăn trở... Hay nói chúng nó bán nhà đi, về ở với bà. Căn nhà này ông bà mua đã hơn hai chục năm, không còn nợ nần gì cả. Hai đứa con của bà đã sống và lớn lên ở đây. Trên lầu có ba phòng ngủ và một phòng đọc sách với dãy kệ lớn bao quanh. Dưới nhà có một phòng ngủ rộng với nhà tắm riêng bên trong dành cho khách. Bà sẽ dọn xuống dưới nhà, để phòng ngủ chính và hai phòng trên lầu cho gia đình nó. Ờ nhỉ, như thế có đẹp đẽ và tiện lợi hơn không. Bà suy nghĩ rồi sắp xếp, sắp xếp... mong trời mau sáng để gọi điện thoại bàn với con gái. Cu Tý và bé Cún sẽ ở phòng của Hoà, An ngày xưa, bà sẽ được ôm con bé Cún cả ngày, kèm cu Tý học như đã kèm bác Hòa của nó, bà sẽ dạy Cún may vá, nấu nướng, bà sẽ rủ nó ra vườn hái hoa và hai bà cháu cùng trưng bày phòng khách, phòng ăn. Bà có thì giờ chơi với cháu mà không phải lo đi làm như ngày xưa, có những lúc vì bận rộn công việc bà bỏ bê mẹ nó. Cứ như thế bà chìm dần vào giấc ngủ êm ả, phơi phới mộng đẹp.

o0o
Đúng theo như sự mong ước của bà, gia đình An đã dọn về ở chung với mẹ gần một năm rồi, Huy chồng của An lại khéo tay và chịu khó, chàng đã bắc cho mẹ giàn cây bọc hai bên hông nhà, một bên bà trồng hoa, bông giấy tím đã trèo lên đến nóc, tiếp nối là giàn Tigon với những chùm hoa chúm chím những nụ tim hồng. Phía bên kia là vườn rau, bầu, bí, dưa leo, khổ qua chen chúc leo trên giàn và trái thòng xuống trông thật vui mắt. Dưới đất sát hàng rào, Huy đóng những thùng hình chữ nhật làm bồn cho mẹ trồng rau thơm; mỗi ô một loại, kinh giới, tía tô, húng quế, ngò gai, rau răm, rau dấp, xả, ớt... chả thiếu thứ rau thơm, gia vị nào. Vườn sau bà vẫn giữ nguyên, những cây Hồng, Đào, Mơ, Mận đã thành những cây lão, hàng năm ra biết bao nhiêu trái.

Căn nhà vợ chồng An để cho thuê, mỗi tháng thu nhập thêm gần ba ngàn. Ngày mới dọn về An đề nghị đưa mẹ tiền nhà, bà nhẹ nhàng nói:

- Vì thương mẹ các con về đây, mẹ rất vui. Nhà mẹ cũng như nhà con, mẹ không còn nợ nhà, các con để dành tiền đó lo cho các cháu.

- Vậy mẹ cho chúng con gửi mẹ tiền chợ.

- Mẹ không nhận trách nhiệm chợ búa cơm nước hàng ngày. Các con có thể mua thêm tủ lạnh để ngoài nhà xe, cất những đồ ăn riêng, khi tiện thì mẹ nấu cả nhà cùng ăn, khi mẹ bận thì các con tự lo lấy.

Tuy nói thế nhưng gần như ngày nào bà cũng nấu sẵn bữa cơm chiều ngon lành, cả nhà quây quần ăn uống vui vẻ.

Hơn năm năm sống thui thủi một mình, nhà có tiếng trẻ thơ như ấm áp hẳn lên.

Buổi sáng hai đứa bé ríu rít:
- Thưa bà ngoại con đi học!

Buổi chiều:
- Bà ngoại ơi, con đói bụng!

Bà vui vẻ hầu cháu.

Và cuối tuần thì:
- Bà ngoại ơi, cho con “ngủ bà”, bà kể chuyện con nghe.

Hai đứa rúc hai bên nghe bà kể chuyện Phạm Công-Cúc Hoa, chuyện Thạch Sanh-Lý Thông, chuyện Thánh Gióng...

Hạnh phúc sao khi nhà có già, có trẻ, có ông bà, cha mẹ, con cái quây quần bên nhau như hình ảnh tuổi thơ của bà ngày xưa... Bà nhớ bà nội, cha mẹ, anh chị em và ông chồng yêu quý của bà thật nhiều. Bà thầm cảm tạ Trời Phật đưa đến cho bà một giải pháp tốt đẹp. Bà được ở lại căn nhà cũ với bao kỷ niệm, được ôm cháu hít hà. Vợ chồng Huy đỡ tốn kém lại yên tâm đi làm vì các con đi học về có bà săn sóc. Buổi chiều có sẵn bữa cơm ngon lành, bổ dưỡng. Buổi tối vợ chồng con cái có nhiều thì giờ với nhau hơn. Nếu bà dọn về ở với con thì chưa chắc được tốt đẹp như thế vì nhà cha mẹ là nhà của con, nhà của con không phải là nhà của cha mẹ. Tiền bạc dành dụm của bà, bà tiêu xài cho con cháu vì trước sau gì khi bà nhắm mắt xuôi tay cũng của chúng nó mà thôi.

Trăng tròn xoe treo trên tấm thảm nhung trên cao. Như thói quen, bà ngồi bên cửa sổ nhìn ra mảnh vườn sau, cây cối êm ả, loang loáng dưới ánh trăng thanh. Hôm nay Rằm Tháng Chạp, chỉ còn hai tuần nữa là Tết, bà sẽ sửa soạn một cái Tết truyền thống cho các cháu của bà, bà sẽ gói bánh chưng, gói vài cặp cỡ trung đủ để nhà thơm mùi bánh khi nồi bánh sôi sùng sục trên bếp; bà sên vài món mứt như mứt dừa, mứt sen; kho một nồi thịt ăn với dưa giá. Hai đứa bé lụng thụng trong áo dài khăn đóng, đón Giao Thừa với bà và cha mẹ. Không gian đượm mùi Tết trong ngôi nhà đầy hoa với những bàn thờ nhang thơm ngát, đèn nến lung linh và mâm ngũ quả tốt tươi.

Đỗ Dung 

Monday, December 13, 2021

Muà Lễ Tạ Ơn

Đỗ Dung
Thanksgiving. (nguồn: www.pixabay.com)

Bước sang Tháng Mười Một, trời miền bắc Cali bắt đầu trở lạnh. Gần 10 giờ sáng mà ông mặt trời vẫn còn như ngủ muộn, chưa chịu chui ra khỏi những tảng mây xám và màn sương như trải tấm lụa mỏng che phủ cảnh vật. Không gian ủ ê, xám buồn. Cali mới chớm thu, lá còn xanh. Qua internet gần như khắp nơi, đặc biệt ở Canada và bên miền đông Hoa Kỳ lá đã đổi mầu. Thiên nhiên đẹp như tranh vẽ với màu sắc tươi sáng hài hòa, những rặng cây đỏ thắm, vàng tươi, vàng mơ đua nhau khoe sắc. Lá vàng, lá đỏ rụng xuống dệt thành những tấm thảm dầy bao phủ mặt đất, thỉnh thoảng những chiếc lá khô cũng xào xạc bay theo gió hay vỡ vụn dưới chân. Sắc Thu rực rỡ nên mùa Thu quyến rũ khiến người ta ngất ngây.

Sang Tháng 11 cũng bắt đầu mùa Lễ Tạ Ơn - Thanksgiving. Theo truyền thống của đại gia đình họ Đỗ chúng tôi, Thanksgiving là ngày “Family Reunion”, tất cả con cháu sẽ tụ tập tại Đỗ Gia Trang từ Thứ Năm đến Chủ Nhật mới chia tay. Năm ngoái, năm 2020, vì bị nạn dịch Covid-19 ngăn trở, Đỗ Family Reunion đã được tiến hành qua Zoom. Tuy không được cận kề bên nhau, nhưng chúng tôi vẫn rất vui vì cả đại gia đình vẫn “gặp mặt”, vẫn nhắc nhở công đức của ông bà, vẫn ca hát, chuyện trò, vẫn rúc rích tiếng cười...

Nạn dịch kéo dài không biết đến bao giờ mới dứt, thêm những rắc rối, hỗn loạn của mùa bầu cử, ngồi ngoài vườn, ngước lên trời tìm mây, dõi theo những cụm mây xám lờ lững bay mà tôi thở dài. Tôi mong thời gian mau qua để nhìn thấy quê hương thứ hai của tôi trở lại thanh bình, vĩ đại, tốt đẹp như cũ. Hoa Kỳ sẽ lấy lại được sự kính trọng, mơ ước của mọi người trên thế giới. Một “promised land”cho những người đã phải bỏ quê hương mà đi.



Vì nạn dịch, mọi người phải giới hạn những cuộc gặp gỡ, hội họp, nhưng chị em chúng tôi vẫn “zoom meeting” hàng tháng và “face time” với con cháu thường xuyên. Vì ảnh hưởng của TT Trump, dân Mỹ chia rẽ thành hai phe rõ rệt, bên bênh, bên chống, gây ảnh hưởng rất tai hại vào sinh hoạt của các hội đoàn, và ngay cả trong rất nhiều gia đình. Ngày trước bạn bè gặp nhau mừng rỡ, đồng đội xa cách thì thấy nhớ, thấy thương. Bây giờ tự dưng vì bất đồng chính kiến mà sự chia rẽ trầm trọng, ghét bỏ nhau, chửi bới nhau nặng nề hơn cả đối với cựu thù! Vì đâu nên nỗi!?

May mắn thay, gia đình chúng tôi không vướng mắc phải cái nạn đau thương đó. Từ thế hệ chúng tôi đến hàng con, hàng cháu đều vì nhớ lời dạy dỗ của cha mẹ tôi là các con phải đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau và bao giờ cũng phải giữ một cuộc sống có ĐẠO ĐỨC, LƯƠNG TÂM và TRÁCH NHỊÊM nên nếp suy nghĩ tương đối cũng gần giống nhau và không đưa đến bất đồng trong sự lựa chọn Tổng Thống của kỳ bầu cử vừa qua.

Từ trước 1975, với bầy con 12 đứa, cha mẹ tôi đã ấp ủ có một Đỗ Gia Trang, một dẫy nhà hình chữ U gồm 13 phòng lớn. Ông bà một phòng và mỗi gia đình con một giang sơn nhỏ để khi ông bà về hưu thì gia trang này sẽ là nơi con cháu tụ họp vào những ngày Tết Nguyên Đán, ngày giỗ hay dịp nghỉ hè. Ông sẽ cầm cây gậy chỉ huy của Ông để chỉ huy lũ cháu chắt. Cả một gia trang sẽ rộn rã tiếng cười... Cha mẹ chúng tôi đã mua sẵn mấy mẫu đất trên sườn đồi khu Mê Linh, Đà Lạt, trông ngay ra mặt hồ, phong cảnh thật hữu tình, nên thơ để thực hiện giấc mơ đó. Nhưng ai ngờ, ngày 30 Tháng Tư 1975 oan nghiệt đã đến! Tất cả các mộng ước của ông bà đều vỡ tan. Nhà đã vẽ nhưng chưa kịp xây thì cha tôi, một sĩ quan cấp tá của Quân Đội VNCH đã phải khăn gói đi tù cải tạo. Hơn mười năm cha tôi đã nhục nhằn trong vòng khổ ải từ trại Long Giao trong Nam đến Hà Sơn Bình ngoài Bắc, đến khi được ra tù thì đã sức tàn, lực kiệt.

Mẹ tôi rất giỏi dang, chịu thương chịu khó, cả đời buôn bán chắt chiu, cùng với cha tôi gây dựng cơ nghiệp và nuôi dậy cho anh chị em chúng tôi được nên người. Sau năm 1975, trong khi cha tôi phải đi tù, mẹ tôi đã phải chịu đựng lam lũ để kiếm sống và chăm lo cho các con. Đến năm 1978 nhà mẹ tôi bị đánh tư sản, đồ đạc trong nhà bị kiểm kê, tài sản mất hết! Biết là không sống được với chế độ này, lần lượt mẹ tung các con, từng đứa, từng đứa tìm đường vượt biển, chỉ còn giữ cô út ở nhà với mẹ để chờ bố. Cuối cùng, 11 anh em chúng tôi cũng đoàn tụ trên đất Mỹ, lần lượt lập gia đình và sống rải rác tại hai tiểu bang Texas và Cali.

Mãi đến ngày 20 Tháng Tư năm 1990, một bầy con cháu ra phi trường San Francisco để đón ông bà và dì Út từ Việt Nam sang đoàn tụ. Sau bao nhiêu năm chờ đợi, đến tuổi bẩy mươi ông bà mới được gặp đầy đủ các con, thêm dâu rể và mười hai đứa cháu. Tổng cộng nhân số đại gia đình lúc bấy giờ đã lên gần bốn mươi người. Cha mẹ tôi vẫn luôn mong muốn mỗi năm con cháu phải có một ngày họp mặt đông đủ, cả nhà quây quần với nhau như mộng ước của ông bà ngày trước. Từ khi chúng tôi còn nhỏ, anh con trưởng được cha tôi đặc biệt dạy dỗ và khi anh đi du học thì tôi là con gái lớn được ông coi như cái đầu tầu của đoàn xe lửa nhiều toa của ông. Quan niệm của cha tôi là anh em, con cháu phải giữ sợi dây liên lạc chặt chẽ và phải sống đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau.

Chúng tôi quyết định chọn ngày Thanksgiving, dịp mà mọi người đều được nghỉ và có một “long weekend” làm ngày họp mặt hàng năm của đại gia đình. Những năm đầu, chúng tôi đã mướn một ngôi nhà thật lớn ở Lake Tahoe để cùng nhau đoàn tụ, chung sống dưới cùng một mái nhà. Cứ thế, như một truyền thống, không cần nhắc nhở mà cứ sau ngày Halloween là từ già đến trẻ, từ lớn đến bé đều kêu gọi nhau và ríu rít bàn về chương trình ngày “reunion”. Cô em thứ mười quen sinh hoạt Hướng Đạo, được giao vai trò trưởng ban tổ chức. Lịch trình sinh hoạt, thực đơn ăn uống và bảng phân công nhiệm vụ được niêm yết rõ ràng. Ngoại trừ các vị “bô lão”, tất cả mấy chục thành viên từ lớn đến nhỏ đều được giao việc hẳn hoi. Cô em Út rất chu đáo trong việc sắp xếp nơi ăn, chốn ở cho tất cả mọi người.

Những năm đầu tiên các cháu còn nhỏ nên dù đông nhưng cả đại gia đình vẫn có thể ở chung trong một căn nhà rộng bẩy hoặc tám phòng. Đám cháu choai choai mỗi đứa một cái “sleeping bag”, nằm ngổn ngang ngoài phòng khách, cười đùa rúc rích với nhau. Cha mẹ tôi rất vui sướng trong những ngày có con cháu sum họp đông đủ.

Tôi vẫn nhớ hình ảnh ông cụ mặc bộ pyjama trắng, đầu tóc bạc phơ ngồi bệ vệ trong chiếc ghế bành bên lò sưởi ngắm ba thế hệ con - cháu-chắt chơi đùa, bà ngồi trên thảm chơi với những đứa bé bò lổm ngổm xung quanh. Ông bà ngắm nhìn con cháu với nụ cười mãn nguyện và hạnh phúc. Ông luôn nhắc nhở con cháu phải nhớ đến cội nguồn và phải nói tiếng Việt với nhau, đứa nào nói tiếng Anh ông vờ như không hiểu để cháu phải nói lại bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi nhớ có lần cả đám trẻ đang ngồi chơi, líu lo tiếng Mỹ, ông bác cả ra nhắc to: “Speak Vietnamese only!” thì thằng cháu con của một cô em tôi khi đó mới khoảng mười tuổi đứng ngay lên, tay chỉ vào đám “cousins”: “Người Vịt phải nói tiếng Vịt!” làm cả nhà cười bò, ông cụ quay qua nói với ông anh tôi: “Đúng là ông bác gà tồ!” và phì cười vì bác nhắc cháu mà chính bác lại nói tiếng Anh. “Gà Tồ” là bí danh của ông anh cả khi còn nhỏ.

Cha tôi rất quan tâm về học vấn và luôn nhắc nhở chúng tôi “tiên học lễ, hậu học văn”. Nhà đông con, lại là một bầy nhiều con gái, cha tôi muốn các con của ông phải tốt nghiệp đại học để có thể tự lập về tài chánh, sau này khi lập gia đình không phải quá lệ thuộc vào nhà chồng. Về nghề nghiệp ông cũng cho các con tự do lựa chọn theo ý thích để trong tương lai anh em sẽ họp thành một xã hội nhỏ với đủ ngành nghề hầu có thể hỗ trợ cho nhau. Ông luôn nhắc nhở con cháu là con người phải sống có đạo đức, lương tâm và trách nhiệm. Những lời giảng dậy của ông như in vào tâm trí chúng tôi.

Cứ thế, mỗi năm chúng tôi sống với nhau dưới một mái nhà ba ngày liền tại Lake Tahoe. Ngoài bữa “Thanksgiving Dinner” chính với đầy đủ những món ăn đặc biệt cho ngày lễ: gà tây, thịt nguội, roast beef, khoai nghiền, đậu ve, cranberry sauce, salad, pumkin pie...nhà lúc nào cũng có một nồi phở thật lớn trên bếp và đồ ăn, bánh trái ê hề.

Sau mỗi bữa ăn, anh chị em quây quần quanh chiếc bàn dài chuyện trò, tán dóc như ngày xưa còn bé. Có những năm tuyết trắng xóa, cả nhà ngồi bên lò sưởi bập bùng, ngắm tuyết rơi... không ngờ có ngày mình đã được sống trong cảnh thần tiên như thế.

Đến năm 2014, vì duyên may, cô em Út của chúng tôi thấy một toà nhà lớn ở Colfax, miền bắc Cali quảng cáo “for sale”, nhà hai tầng rộng 9,000 square feet, có 15 phòng ngủ với nhà vệ sinh tiện nghi, nhà bếp và phòng ăn rộng rãi thoáng mát chứa được năm đến sáu chục người, toạ lạc trên một khu đất rộng hơn mười mẫu mà ngày trước từng là một “senior home”. Nghĩ tới Đỗ Gia Trang, nhớ đến nguyện ước của bố, cô Út đã mua và đem hết “saving” ra tân trang thành một căn “vacation home” có một không hai và hãnh diện vẽ bảng “Đỗ Gia Trang” treo ngay lên cổng vào tòa nhà. Thế là từ đó, Đỗ gia Trang- Colfax đã trở thành nơi tụ họp cố định coi như nhà tổ để cứ mỗi muà Thanksgiving là con cháu Đỗ Gia từ khắp mọi nơi lại “tung cánh chim tìm về tổ ấm”.

Theo thời gian cha mẹ tôi lần lượt quy tiên, ông anh cả và một cô em gái cũng đã ra người thiên cổ. Thế nhưng, tre già thì măng mọc, lá vàng rơi thì cây non lại đâm chồi. Mỗi năm lại thêm mấy đứa bé ra đời, Đỗ Family ngày càng thêm đông. Đến nay tổng cộng đã hơn 60 thành viên. Mấy cô em tôi phải vẽ ra một “Family Tree” để mỗi khi gặp nhau lại đem ra làm màn đố vui cho bọn trẻ biết đến liên hệ họ hàng.

Ngày họp mặt Thanksgiving mỗi năm chúng tôi lại nhắc nhở và tri ân ông bà. Ông Bà như tổ tiên của dòng họ Đỗ trên miền đất mới. Nhờ ông bà khuyến khích mà con cháu giữ được ngày truyền thống đáng quý này. Cám ơn đất nước Hoa Kỳ, quê hương thứ hai đã cưu mang chúng tôi và cho chúng tôi cơ hội vươn lên, thành đạt, có một cuộc sống an bình, một tương lai phơi phới. Chúng tôi nhắc đến những người đã khuất, thêm tên thành viên mới. Xem lại những kỷ niệm cũ qua những hình ảnh, video để các người mới gia nhập vào đại gia đình như các cháu dâu, cháu rể và các chắt của ông bà biết về nguồn cội. Ban ngày thì từng nhóm có những sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi. Tối đến có màn văn nghệ cho mọi người thi thố tài năng và sau đó lập sòng tại chỗ cho mấy người lớn sát phạt nhau, dù ăn thua chỉ vài chục bạc nhưng lọt sàng xuống nia, ở nhà vui cười, đùa giỡn với nhau chứ không đi cúng cho casino bên ngoài!

Thấm thoắt thế là một năm đã trôi qua, bây giờ đã bước sang Tháng Mười Một của năm 2021 chị em chúng tôi lại bàn nhau cho Thanksgiving năm nay. Chúng mình có rủ nhau về tụ họp ở Đỗ Gia Trang không? Tình hình dịch bệnh Covid-19 đã được ổn định chưa?

Sự đe dọa của Covid khiến mọi người vẫn ngơm ngớp lo lắng, lại thêm những biến thể nguy hiểm của con vi khuẩn khiến còn những ngại ngùng.

Bạn tôi có một ông bác năm nay sinh nhật 110 tuổi vào Tháng Sáu, lúc cơn dịch đã giảm và mọi người đã được chích ngừa đủ hai mũi vaccine, sự đi lại cũng được nới lỏng nên con cháu từ khắp các tiểu bang quyết định cùng về thăm cụ để chúc mừng Đại Thọ. Nào ngờ sau cuộc họp mặt hơn bốn mươi người đó khi về lại nhà thì 12 người bị dương tính với Coronavirus kể cả cụ ông. May mắn là cụ ông bị nhẹ nhất nên chỉ bị cách ly tại nhà còn những người kia phải uống thuốc và sau hai tuần cũng mạnh khỏe và bình phục hoàn toàn. Nghe chuyện cũng ớn quá!

Sau vài buổi hội họp, cân nhắc, bàn tán qua “Zoom meeting”, chúng tôi quyết định sẽ tổ chức “Đỗ Family Reunion” năm nay. Trừ những tiểu gia đình có con nhỏ chưa được chích ngừa, đại gia đình họ Đỗ sẽ lại hội ngộ, chung sống với nhau dưới cùng một mái ấm của Đỗ Gia Trang, Colfax- California suốt bốn ngày lễ Thanksgiving.

Suốt mấy tuần lễ qua, chị em chúng tôi đều háo hức, nôn nóng được gặp lại nhau “in real life”.

Tôi nhớ, thật nhớ đến những ngày Thanksgiving tụ họp đại gia đình. Ước mong sao năm nay chúng tôi có thể tụ về đông vui được như những năm trước. Từng khuôn mặt các em, các con, các cháu hiện lên rõ nét. Cô em thứ mười của tôi với chương trình “Ước Mơ Việt” nếu gặp được các cháu, học trò của bà trẻ bằng xương bằng thịt mà khảo bài thay vì qua zoom thì vui biết mấy. Cô em thứ tám đang vui với buổi văn nghệ “Muà Thu Cho Em” thành công rực rỡ dù nạn dịch chưa hết có thể gặp chị em mà kể những kỷ niệm đằng sau hậu trường. Chồng của cô em kế tiếp tôi, chủ tịch Hội Chu Văn An miền bắc Cali cũng đang vui với sự thành công của Đại Hội Chu Văn An toàn cầu năm nay được tổ chức tại San Jose có dịp chia sẻ niềm vui trực tiếp với cả đại gia đình...

Hơn 4 giờ chiều trời vẫn xám buồn, những vạt nắng vàng hanh còn đi trốn. Tôi ngồi đây bâng khuâng thả hồn về ngày tháng cũ. Nhớ lại những ngày đầu mùa dịch. Khi có lệnh giới nghiêm mọi người phải ở yên trong nhà, không khí thê lương, hoảng sợ bao trùm. Nhìn đâu cũng như thấy những con vi khuẩn lơ lửng bay. Ở trong nhà mà ngày nào tôi cũng lấy Clorox lau chùi cẩn thận từ cái chốt nắm tay cửa đến mặt bàn và hễ cứ ra vào là phải rửa tay thật kỹ bằng thuốc sát trùng.

Sau vài tháng không ra tới cửa nên gần như ai cũng biếng để ý tới dung nhan, tóc tai lởm chởm nửa trắng nửa đen, quần áo lôi thôi, lếch thếch. May là còn phone, còn internet nên bạn bè vẫn còn liên lạc tán dóc với nhau. Một ngày tôi còn cuộn mình trong chăn, giường gối còn bừa bộn ngổn ngang thì một bà bạn bên Texas gọi phone, chả biết sao đụng nhầm nút facetime, cả hai đứa cùng rú lên rồi cười khanh khách khi thấy hai mụ già đối diện nhau... hahaha...”tao nhìn mày tao mới thấy tao! Sao mình già thế!”

Cô con gái phone hẹn sang đưa mẹ mấy cái khẩu trang đẹp mà một người bạn mới tặng, vài món thịt cá và rau tươi mới đi chợ về, vừa mở cửa ra cô đã thốt lên:

“Sao tóc mẹ bạc phơ thế, mẹ ăn mặc bê bối quá trông mẹ già sộc hẳn đi. Mẹ chịu khó nhuộm tóc, ăn mặc đàng hoàng như mọi khi đi.”

Vào tự nhìn mình trong gương cũng thấy dung nhan sầu thảm thật. Mình tự nghĩ cả ngày ở nhà có đi đâu mà phải sửa soạn, quanh qua nhìn lại cũng chỉ có hai ông bà già nhìn nhau.

Thằng con Út mới khôi hài, cháu mới ra trường đang tìm việc làm, text cho cả nhà khoe hôm nay interview online, nửa trên bảnh chọe còn khi đứng lên thì nửa dưới chàng vẫn để nguyên cái quần xà lỏn!

Ngoài những điều không vui về muà dịch cũng có những khía cạnh lạc quan. Gia đình gần gũi nhau hơn, có nhiều thì giờ với nhau hơn, có những bữa cơm gia đình cả nhà quây quần và mấy bà mẹ trẻ chịu khó nấu nướng hơn. Bọn già chúng tôi thì bầy nhau ủ giá, tráng bánh cuốn, đổ bánh xèo, làm bánh dầy, bánh rợm... Con cháu không dám sang nhà ông bà thì bà chỉ gọi cho biết rồi nói sang nhà bà lấy, bà để sẵn trước cửa.

+++
Hai ngày vừa qua mưa gió lê thê. Hôm nay bầu trời sáng, những vạt nắng vàng hanh bao phủ cảnh vật đem tươi vui đến muôn loài, tôi khoác chiếc áo len mỏng ra sân sau hưởng chút nắng ấm. Dạo này buổi sáng tôi thường nghe một buổi nói chuyện của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hoặc một buổi pháp thoại của Thầy Pháp Hòa, tôi thấy tâm thật thanh thản an bình. Tôi nhớ nhiều đến những lời dặn dò của cha tôi khi chúng tôi mới lớn “ Hãy là một viên gạch tốt. Mỗi đơn vị gia đình của các con hãy cố gắng là một viên gạch tốt, tất cả đều là gạch tốt thì xã hội, quốc gia sẽ là một ngôi nhà vững bền, đẹp đẽ, hoàn hảo.”

Thanksgiving là mở đầu cho mùa lễ hội, mùa của tình yêu thương và sự chia sẻ. Xin mọi người hãy dừng lại, hãy nhìn vào bản thiện và lòng nhân trong mỗi chúng ta để khép lại những hỉ nộ ái ố của năm, tháng vừa qua. Hãy hàn gắn những rạn nứt trong tình cảm gia đình, bạn bè... nếu đã lỡ xảy ra, trước khi quá muộn. Hãy cùng người thân hưởng thụ một mùa lễ Tạ Ơn thật đúng nghĩa dù vẫn còn trong hoàn cảnh khó khăn vì đại dịch. Happy Thanksgiving đến tất cả mọi người, mọi nhà!

Đỗ Dung

Wednesday, April 14, 2021

April Flower

Đỗ Dung
Tác giả đứng giữa hàng giữa

31/3/1980 nhằm ngày rằm tháng hai âm lịch năm Canh Thân, ngày giỗ mãn tang của bà nội các cháu. Chúng tôi làm cỗ cúng xả tang. Sáng hôm sau, bác Phú, một khách hàng rất quen thuộc sang nhà tôi để lấy hàng đặt thêu may, khi nhìn lên bàn thờ của cụ, bác đã kêu lên:

- Hoá bát nhang! Điềm lành lắm đây!

Tôi nhìn lên bàn thờ thấy các chân nhang trong bát nhang xoè tròn ra như một bông cúc lớn, thật lạ!

Bác hạ giọng:-Cô có tính gì không? Nếu định việc gì thì tính đi. Cụ hoá bát nhang là điềm tốt lắm.

Đúng dịp đó nhờ sự giới thiệu của Bác Thanh, cũng là một khách quý cuả tôi, chúng tôi đã quyết định nộp vàng để xuống tầu vượt biên theo tổ chức của ông HD, nơi người quen và các con của bác đã đi trót lọt mấy chuyến, một số đã định cư ở Tây Đức, Úc, Mỹ, Canada. Bác cho biết đường dây này rất chắc chắn và đây là chuyến chót mà chính vợ chồng chủ tầu sẽ cùng đi.

Trước ngày ra đi khoảng một tuần lễ, chủ tầu hẹn chúng tôi đến gặp vợ chồng ông tại lầu hai của một cửa tiệm ở đường Tự Do để đóng nốt số vàng còn lại và giới thiệu một người dẫn đường cho chúng tôi biết mặt, hẹn hôm sau sẽ đi cùng với tôi và vài người nữa xuống chợ Vĩnh Long để hướng dẫn chúng tôi đường ra bến đò, nơi ghe taxi sẽ đón chúng tôi để đưa ra tầu lớn ở cửa biển Trà Vinh. Đến ngày đi thì cũng chính người này sẽ đón tại bến đò đó để đưa chúng tôi xuống ghe Taxi. Ông HD còn dặn là trên tầu có củi lửa, gạo nước, mắm muối, lương thực đầy đủ cho khách, ngoài ra nếu có hành lý đem theo thì nên sắp xếp cho gọn đưa ông ta đem xuống tầu trước để khi đi đường khỏi phải đem theo đồ đạc cồng kềnh dễ bị lộ.

Hôm đi dò đường tôi đi với em gái TH, nhà tôi đi học tập về mới được dậy học lại nên không dám xin nghỉ. Hai chị em tôi mặc quần áo bà ba đen cũ, đầu đội nón lá, tay xách chiếc giỏ cói đem theo một chiếc khăn tay nhỏ và vài món đồ ăn vặt. Theo lời dặn dò của người tổ chức chúng tôi đến bến xa cảng miền tây, trạm xe đi Vĩnh Long. Đảo mắt tìm người dẫn đường, sau khi đã nhận diện nhau, hai chị em lẳng lặng lên xe. Ngồi trên xe đò lòng tôi nặng trĩu lo âu. Ba cô em tôi đã vượt biên năm trước, đứa nào khi đi cũng được mẹ đưa xuống Rạch Giá, đưa đến tận bến, xuống tầu chắc chắn rồi mẹ mới về. Mấy cô em tôi đi theo đường bán chính thức nên bảo đảm an ninh hơn còn lần này chúng tôi đi chui hoàn toàn, không biết có gặp những tai ương, sóng gió nguy hiểm gì không. Tôi chỉ biết niệm Phật và cầu xin tổ tiên, ông bà hai bên nội ngoại phù hộ. Nghĩ đến mẹ chồng tôi, cụ mới quy tiên và bát nhang nở tròn như hoa cúc! Mấy đêm cuối cùng trước khi cụ mất tôi và con bé Quyên đã sang nhà bà, kê cái giường vải nằm cạnh giường bà. Ban đêm khi dìu cụ đi nhà vệ sinh cụ đã cầm tay tôi mà nói “Mẹ sẽ phù hộ cho các con, mẹ sẽ phù hộ cho các cháu!” Mẹ ơi... Xin Mẹ linh thiêng phù hộ cho chúng con tai qua nạn khỏi, mẹ ơi! Tôi khấn thầm trong đầu và bỗng dưng muốn khóc.

Đến chợ Vĩnh Long, khi xuống xe tôi thấy có mấy người cùng lặng lẽ theo sau người dẫn đường ra đến bờ sông, nơi những chiếc thuyền con cập bến đưa hàng hoá và hành khách lên, xuống.

Sau khi ghi nhận địa điểm, chị em tôi vội vã quay lại bến xe để về Sài gòn ngay cho kịp chuyến cuối. Tôi không muốn ở trễ để phải ngủ lại qua đêm ở nơi xa lạ.

Khi về đến nhà tôi lo sắp xếp thu dọn đồ đạc, mấy cuốn nhật ký thời con gái tôi đem ra đốt hết, mấy cuốn lưu bút ngày xanh và hình ảnh tôi đem sang gửi nhà bà ngoại. Hai chiếc giỏ đệm nhẹ tênh, chỉ đem theo vài bộ quần áo vải, mỗi người một cái áo lạnh, một ít thuốc men, dầu gió, một số lương khô và một ít kẹo bánh. Cũng may khi bác Phú biết chúng tôi quyết định vượt biên bác có gửi một thằng cháu đi cùng nhờ trông nom hộ và bác mua giùm một gói cao cắt ra thành những viên vuông nhỏ và một túi sâm cắt lát mỏng sẵn để đem theo. Hành lý tương đối gọn vì tất cả quần áo tốt, đồ ăn và đồ dùng cần thiết đã gói ghém chặt chẽ trong một giỏ, thêm hai giỏ chất đầy vải thêu và quần áo thêu cùng mấy bộ khăn bàn thêu thật đẹp tôi đã gửi trước cho chủ tầu để đem theo làm vốn.

Mấy ngày trước khi lên đường tôi như bị kiệt sức, nằm ngủ mê man, ngủ li bì, thức dậy ăn uống qua loa rồi lại ngủ vùi. Đúng ngày trước khi đi thì tôi khỏe hẳn như Phù Đổng mới vươn vai, ăn uống đàng hoàng, tắm rửa sạch sẽ để hôm sau sẵn sàng ra đi.

Nhóm chúng tôi gồm tám người, hai vợ chồng tôi, hai đứa con, hai đứa em, Thiên Hương, Minh Duy và hai đứa cháu, cháu Tuấn nhà bác Phú và cháu Quân nhà bác Quốc Thái. Hai đứa con tôi, Hạnh Quyên mới lên bẩy, Thiên Khôi mới lên năm, chúng tôi không dám cho các cháu biết là đi vượt biên, chỉ nói là cả nhà đi thăm dì Hạnh, nhà dì Hạnh có cây táo thật to, trĩu trịt trái trong hình ở nhà bà ngoại.

Hôm ấy, ngày 10/4/1980, sáng sớm tinh mơ chúng tôi lên đường, ăn mặc xuềnh xoàng, quần áo cũ kỹ trộn lẫn với dân bán buôn xuôi ngược trên xe đò. Qua hai lần xuống phà, qua bắc bình yên. Đến chợ Vĩnh Long còn sớm, để mọi người vào một tiệm hủ tíu ngồi ăn, hai chị em tôi vào chợ mua một giỏ đầy củ sắn, một giỏ quít và một xâu bánh tét để đem theo.

Thoáng thấy bóng người dẫn đường chúng tôi vội vã đi theo ra bờ sông, giờ đó bến đò đông người lên xuống, kẻ đến người đi nên chẳng ai để ý đến ai. Ông ta đưa toàn bộ nhóm chúng tôi xuống một chiếc xuồng máy đuôi tôm nhỏ có mui. Một chú thanh niên cỡ mười sáu, mười bẩy tuổi điều khiển con thuyền. Tôi thở phào, đã thoát được một chặng đường!

Ra sông... biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông, biết đời viển vông, biết ta hãi hùng...” (Viễn Du – Phạm Duy)

Lênh đênh trên chiếc thuyền con trôi giữa dòng sông Cửu Long lồng lộng gió, trời nước mênh mông, bao la, bát ngát. Quê hương tôi đẹp thế này đây nhưng trong lòng ngổn ngang trăm mối. Bất trắc nào cũng có thể xẩy ra, tai ương nào cũng có thể ập đến. Sẵn có hai giỏ trái cây và ít quà bánh thế là cứ việc chia nhau ăn, tám miệng ăn nên hết vèo mỗi thứ nửa giỏ. Buổi chiều chạng vạng hai đứa trẻ mệt nên nằm ngủ say sưa. Chú lái thuyền nói phải đánh thức hai đứa dậy, chiều tà con nít ngủ không tốt, bà Thủy quở ngủ dậy sẽ mệt lắm. Thế là phải lay hai đứa dậy. Hoàng hôn trên sông đẹp tuyệt vời nhưng không có tâm trạng nào mà thưởng thức. Mặt trời lặn thật nhanh và màn đêm cũng đổ ập xuống bao phủ cảnh vật. Đêm không trăng. Từ lúc ấy cứ khoảng một quãng đường trong bờ xa lại có ám hiệu bằng những điệu múa của mấy cây đuốc, chú lái tầu cho biết đó là dấu hiệu bình yên. Đi một khúc lại có người trên bờ đứng quơ đuốc. Chúng tôi mệt ngất ngư chỉ mong mau lên tầu lớn cho yên tâm.

Cuối cùng chiếc thuyền con cũng gặp “cá lớn”. Ông HD đã đứng sẵn ở đó trên một chiếc ghe nhỏ ở sát mạn thuyền. Con cá lớn mà nhỏ xíu, một chiếc thuyền gỗ mong manh như những chiếc ghe bầu thương hồ xuôi ngược trên sông. Mũi tầu bầu tròn chứ không nhọn như những chiếc tầu đi biển. Đêm tối âm u, trên tay ông chủ tầu chỉ có một cây đèn bão. Bước vào cá lớn cũng chỉ một ngọn đèn tù mù rọi xuống chiếc hầm tầu lúc nhúc người đã đến trước đang nằm ngồi ngổn ngang. Trong đầu tôi lóe lên: “Phải chăng đây là chốn âm ti!”. Ông chủ tầu là người cuối cùng bước vào cá lớn. Đứng trong gian buồng lái hình vuông mỗi chiều chỉ khoảng chừng hai mét ông thò đầu xuống phân trần với những người trong khoang: Ghe tài công đi lạc, ghe vợ ông không thấy tới nên ông không đi được, ai biết chạy Honda lên ông chỉ cho lái tầu! Có mấy chú thanh niên dân chài lưới ở Trà Vinh bước lên, ông lấy chiếc la bàn, đặt cái kịck lên mặt bàn trước chiếc cần lái, cần lái cũng chỉ là một chiếc gậy dài kéo qua phải, qua trái chứ không phải là bánh lái tròn. Ông tỉnh bơ nói“Ngày đầu đi hướng này, ngày thứ nhì đi hướng này, ngày thứ ba tới!”

Trời đất! Vượt đại dương trên một chiếc ghe bầu mong manh mà không chủ tầu, không tài công, không thợ máy! Đi theo hướng này, hướng này...!!!! Làm sao bây giờ đây! Ông nói tiếp: “Đến giờ phải đi rồi, không đợi mấy ghe đi lạc được nữa, ai muốn về thì đi theo tôi, nhưng nếu về mà bị bắt thì ráng chịu!” Tôi không tin ở tai tôi, tôi không tin ở mắt tôi. Tính sao đây?! Ông đã nói vậy thì chắc chắn là về sẽ bị bắt. Người ta nói khi đi chui khó nhất là đoạn đường ra bãi, tới bến và lên được tầu lớn mà bây giờ chúng tôi đã lênh đênh trên sông một ngày bình an. Đi tiếp hay bỏ cuộc?!

Tôi hỏi ý kiến nhà tôi, hỏi các em, các cháu.

- Sống chết có số, đi vượt biên là chấp nhận!

- Đến nước này thì liều đi!Cứ đi!Tới đâu thì tới!

Bây giờ cả con tầu phó mặc vào tay nhóm thanh niên Trà Vinh, họ biết lái tầu đánh cá nhưng chưa bao giờ ra tới đại dương để đi tới nước ngoài.

Dưới hầm tầu đã có người bắt đầu nôn oẹ vì chiếc tầu đã dập dình, đã có tiếng sóng vỗ vào thành tầu. Những người ở gần hay đến tỉnh từ hôm trước đã xuống tầu sớm. Có lẽ thuyền chúng tôi đi là chiếc ghe taxi cuối cùng.

Một số người sợ hãi đã theo ông HD trở về. Tôi đành chấp nhận chui xuống hầm tầu đi vào cõi âm u. Đóng nắp hầm, tầu ra khơi! Cả tầu vang lên những tiếng nôn thốc tháo, gần như ai cũng ói. Không khí như đặc quánh, ngộp thở. Ngạc nhiên thay tôi không bị say sóng mà tỉnh như con sáo sậu. Lăng xăng thu dọn, lau chùi, lo cho cả nhà nôn oẹ. Sau một lúc ói mửa thì mọi người mệt lả nằm im. Chiếc tầu nhỏ sau một hồi bị sóng nhồi cũng như đã mệt mỏi chỉ còn tiếng phạch phạch của máy tầu.

Trong đêm đen tôi ngồi yên lặng bên ô cửa sổ độc nhất hình vuông mỗi bề chỉ khoảng hơn hai gang tay nhìn ra màn đêm tối đen mong trời mau sáng. Khi mặt trời chưa lên nhưng mầu đen đã loãng ra, đã nhìn thấy mặt người tôi mới thấy rõ khoang tầu chật hẹp, bề ngang chắc chỉ khoảng hơn 3 mét vì hai hàng người nằm đầu dựa vào vách, chân đâu vào nhau mà cũng không đủ chỗ để duỗi thẳng chân cho thoải mái. Đúng là như những con cá xếp chặt chẽ trong hộp cá mòi. Bề dài lòng tầu chắc cũng chưa đến mười mét. Hôm đi họp ông chủ tầu nói chuyến đi khoảng trên bẩy chục người mà hai ghe đi lạc và mấy người đi về thì không biết rõ số người còn lại là bao nhiêu mà tôi thấy chật cứng.

Con tầu lại vật vã một hồi, lại những tiếng nôn mửa, lòng tầu xông lên mùi khủng khiếp. Mọi người như mệt lả, thiêm thiếp tiềm sinh. Tôi mở gói sâm ra nhét vào miệng cho mỗi người một miếng, cả những người nằm quanh tôi.

Hừng đông, trời sáng rõ hơn nghe mấy chú trên buồng lái nói tầu đã ra tới biển, nắp hầm mở ra để vài người thức dậy sớm lên trên thành tầu chỗ sàn nước để làm vệ sinh cá nhân. Một chút gió lùa từ khoảng trống bên trên và xuyên qua cửa sổ nên không khí thoáng mát một chút. Nhà tôi nhận ra người bạn học cùng Đại Học Sư Phạm là anh LTV đi cùng tầu. Gia đình anh đi đầy đủ hai vợ chồng, bốn đứa con cùng ông chú là cụ Mỹ và cô Hiền, con gái của cụ.

Hai anh họp bàn nhau, không có chủ tầu, không có tài công thì cũng phải chọn ra ban chỉ huy cho có trật tự. Sau một hồi bàn tất cả đồng ý bầu chú Khánh, một người chững chạc nhất trong đám thanh niên làm thuyền trưởng và chú Diện làm tài công, mấy cô thiếu nữ đi theo lo về việc ăn uống.

Trời nắng lên, biển êm như mặt hồ, chiếc tầu giữa biển khơi nhỏ bé như chiếc lá tre cứ bình thản trôi. Chợt có tiếng từ buồng lái vọng xuống “Tới hải phận quốc tế rồi bà con ơi!” Niềm vui như vỡ oà, may quá tầu đi thoát, không gặp tầu quốc doanh, không gặp tầu kiểm soát biên phòng. Tôi lại lâm râm niệm Phật. Ngày đầu ai cũng có đồ ăn và nước uống đem theo nên ăn uống tự túc. Tôi thay quần áo sạch cho các con, lau dọn chỗ nằm, cho hết đồ dơ vào một chiếc giỏ cói. Mới qua một ngày trên sông và một đêm ói mửa thằng bé trông gầy dộc hẳn đi, cặp mắt sâu hoắm, lờ đờ mệt mỏi. Ôm con vào lòng mà thương xót quá, mong cho mọi sự bình an. Con chị cũng gầy đi nhưng trông khỏe hơn nên tôi cũng đỡ lo. Nhà tôi và hai đứa em, hai đứa cháu bị say sóng nên nhìn thấy mệt đừ.

Tôi trèo lên boong tầu thở hít không khí trong lành và xem xét tình thế.

Một số người khỏe mạnh cũng trèo lên boong. Xa xa mấy chiếc tầu trông như những chiếc bao diêm. Tầu tăng vận tốc đuổi theo, khi đến gần hơn, nhìn rõ hơn mọi người lấy quần áo ra vẫy gọi. Gần hơn nữa, khi thấy rõ hơn thì tầu lớn quay đầu đi hướng khác. Nhìn thấy chiếc tầu khác, lại đuổi theo, họ lại chạy. Chạy đuổi một hồi và khi biết rằng dù có kêu gào, la hét cũng không mong có sự cứu giúp của họ nên đành bỏ cuộc. Tôi thầm nghĩ cứ chạy lung tung thế này rồi có còn giữ được phương hướng không. Ông HD nói cứ đi hướng này, hướng này là tới!

Chiếc lá tre lại lạch phạch trôi, tôi bất giác rùng mình. Chiếc thuyền con mong manh chứa mấy chục con người giữa đại dương mênh mông, trên trời dưới nước, chẳng thấy đâu là bến là bờ. Chỉ cần một con sóng dữ, thuyền sẽ chao đi và... biến mất. Không dám nghĩ tiếp, tôi chắp tay niệm Phật “ Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” và “Bà Nội ơi, Mẹ ơi, xin bà, xin mẹ phù hộ cho chúng con, phù hộ cho những người trên tầu được tai qua nạn khỏi”. Boong tầu như một tấm phản phẳng không lan can, ngay gần mép tầu một người đàn ông ngồi kiết già cũng đang chắp tay cầu nguyện. Mặt trời như quả cầu lửa chìm xuống nước thật nhanh để lại một đường chân trời rực sáng và phía bên kia biêng biếc tím, mầu tím của chân trời!

Sáng hôm sau mặt biển vẫn êm lặng hiền hoà, con tầu trôi nhẹ nhàng như bơi trên mặt hồ. Bây giờ mới biết thế nào là “Tháng Ba bà già đi biển”. Tôi lấy hai bộ quần áo vải đưa cho TH, hai chị em cùng xuống chỗ sàn nước canh cho nhau thay bộ bà ba đen đi đường cứng ngắc, hôi hám vì những chất ói mửa. Một chiếc thùng phuy rỉ sét đựng nước ngọt đã vơi gần một nửa, một hàng can nhựa đựng nước ngọt xếp sát vách. Tôi hoảng quá nói với nhà tôi và anh V. Hai anh nói chú Khánh phải lo kiểm soát và phân phát nước uống chứ để tự do rồi mọi người xài phung phí và không biết bao giờ mới tới nơi. Thế là bắt đầu mỗi ngày phát nước ngọt hai lần và mỗi người chỉ được một nắp nhỏ nước mà thôi. Các cô cũng nấu cháo để phát cho mỗi người một chén nhỏ.

Sang đến ngày thứ ba thùng phuy gần cạn mới khám phá ra những can nhựa đựng nước ngọt là những thùng đựng dầu hôi không rửa kỹ, nước sực mùi dầu và lờ lợ không uống được. Đáy thùng phuy thì đọng những phù sa, cặn bẩn. Gạo còn cả bao nhưng nước không có làm sao mà nấu cháo, nấu cơm. Thật kinh hoàng, thảm khốc!!

Nắng lên chói loà, nóng hừng hực. Một nắp nước nhỏ không thể nào chống được cơn khát. Môi của em trai tôi đã phồng lên trắng xoá. Lục trong giỏ xách, gói sâm và cao đã hết, kẹo ngọt cũng không còn, chỉ còn mấy bánh lương khô thật khô không khốc! Hỏi đến giỏ xách đã gửi ông chủ tầu đem đi thì không ai thấy có gì cả. Chủ tầu đã bỏ chúng lại không đưa xuống tầu. Bao nhiêu đồ ăn thức uống của tôi đã gói ghém trong đó! Thằng con đã mê sảng “Mẹ ơi, nhà dì Hạnh đâu, nhà dì Hạnh đâu, con muốn ăn táo!” Ôm thằng bé vào lòng mà thầm trách mình. Đi vì tương lai của các con nhưng đi lấy sống hay đi để chết. Người lớn đói khát vài ngày chưa đến nỗi nào nhưng trẻ con, tội nghiệp quá! Có những người trong giỏ còn quả quít, quả cam nhưng khi đó ai cũng thủ phận mình. Chỉ có tôi, có gói sâm, gói cao mà không biết giữ cho mình. Ngay ngày đầu thấy mọi người mệt lả tôi đã tự phân phát cho những người xung quanh tôi và chỉ hai ngày sau là hết. Lúc đó tôi thật giận tôi! Tôi niệm Phật và cầu cứu mẹ chồng tôi, cụ có linh thiêng thì xin cụ phù hộ, xin cụ cố cứu lấy hai đứa cháu nội bé bỏng của cụ.

Không biết con tầu đang đi về đâu. Thời gian chầm chậm trôi... Thỉnh thoảng có tiếng trẻ gào khóc vì đói, vì khát. Khóc mệt quá một lúc cũng chỉ còn rên rỉ như những tiếng mèo kêu. Đây đó tiếng rì rầm đọc kinh cầu nguyện. Cuối cùng cả tầu chìm trong sự im lìm, tuyệt vọng. Con thuyền cứ từ từ trôi. Bất chợt qua ô cửa sổ nhỏ tôi nhìn thấy đám mây đen từ đâu bay tới kín bầu trời rồi mưa đổ ào xuống, những giọt mưa như những giọt nước cam lồ từ những đấng linh thiêng đổ xuống cứu vớt những con người khốn khổ. Cơn mưa rào mịt mù giữa trời đất bao la như một phép lạ. Mưa to nhưng không có sấm chớp, không có sóng lớn. Mọi người nhắc nhở nhau phải giữ thăng bằng, đừng chạy nhốn nháo kẻo tầu bị nghiêng, bị lật. Con thuyền nhỏ bé bình yên không chao đảo. Mưa bóng mây chỉ ào xuống thật nhanh rồi chấm dứt thật lẹ cũng đủ cho những thanh niên được một trận tắm mát, thùng phuy thêm chút nước và tôi đã hứng được một ít nước mưa mát rợi để uống, thấm ướt chiếc khăn lông để lau mặt, lau mình cho hai đứa trẻ. Cảm tạ Trời Phật, cảm tạ các đấng linh thiêng, cảm tạ tổ tiên, ông bà đã che chở, giúp đỡ chúng tôi đúng lúc. Trời quang mưa tạnh, thò đầu nhìn lên boong tôi lại thấy người đàn ông ngồi kiết già đang chắp tay cầu nguyện. Sau này tới đảo tôi mới biết đó là một vị sư. Ngày nào Thầy cũng ngồi nơi mép tầu tụng kinh niệm Phật.

Sáng tinh mơ ngày thứ tư, trên buồng lái xôn xao “Thấy đảo, thấy đất liền rồi”. Tôi căng mắt nhìn ra xa chỉ thấy một vệt mờ mờ mầu đen xa tít tận chân trời. Con tầu cố chạy thẳng về hướng đó thì đột nhiên tiếng máy tầu nghe lạ và có người hô nước đã vào đáy tầu. Mấy chú thanh niên lặn xuống xem thì ra máy bơm bị hư và họ phải thay nhau múc nước đổ ra ngoài, trong khi đó chú Diện vẫn lo lái tầu vào hướng đi tới hòn đảo. Đến gần hơn đã thấy mầu đảo xanh xanh nhưng vẫn còn xa tít. Loay hoay một lúc, tầu vẫn chạy được và khoảng cách vào đất liền ngắn dần, ngắn dần. Khoảng trưa tôi đã nhìn thấy hình dáng của những rặng cây. Chạy thêm một lúc lâu nữa bỗng tầu như vướng phải vật gì nên dừng lại, nhóm thanh niên lại lặn xuống tìm hiểu thì chân vịt đã gẫy vì tầu bị mắc cạn. Không hiểu từ đâu một chiếc tầu máy phóng tới thật nhanh, trên tầu có hai người cởi trần, râu tóc rậm rạp. Tưởng gặp hải tặc mấy cô gái sợ qúa lấy lọ nghẹ trét đầy mặt, vò đầu cho tóc rối bù và kiếm chỗ đi trốn. Nhà tôi trông thấy lá cờ hai mầu đỏ, trắng trên nóc tầu cuả họ nên lên tiếng trấn an mấy cô gái:“Tầu có treo cờ Nam Dương, đừng lo”. Hai anh giáo đứng ra tiếp xúc với hai người từ bên tầu nhẩy qua. Nói chuyện một lúc họ biết chúng tôi là tầu tị nạn và xin tiếp tế nước uống. Thấy họ ngần ngừ và cả tầu đều ngồi lặng yên. Tôi tháo chiếc nhẫn năm phân vàng đang đeo trên tay đưa cho họ và ngỏ ý xin họ mua giùm nước uống. Họ nhận lấy và nhẩy trở về tầu của họ đem sang ngay mấy thùng nước. Chúng tôi hỏi làm sao lên đảo thì họ nói cứ chờ tại đây, họ phải liên lạc với chính quyền và sẽ cho biết quyết định của những người có thẩm quyền. Nhìn vào đảo đã thấy rõ những rặng dừa, những rặng dừa xanh ngát cho chúng tôi niềm hy vọng, cho chúng tôi sự sống. Trong khi neo tầu chờ đợi và các thanh niên lo sửa chân vịt, nhiều người đã nhẩy xuống nước bơi lội thoải mái sau mấy ngày tù túng. Công nhận nhóm thanh niên nam nữ Trà Vinh thật dễ thương. Họ làm việc với nhau rất ăn ý, có vẻ đoàn kết, gắn bó và đối đãi rất chân tình. Tài công là anh chàng Diện mới 15 tuổi lái tầu rất giỏi mà ai cũng quý mến. Chú Khánh rất nhanh nhẹn nhưng điềm đạm có bản lãnh chỉ huy và tôi vẫn còn nhớ ba cô Nga, hai cô Nga lớn hiền lành, tươi vui, rất thân nhau và cô Nga nhỏ là cô Ngó thiệt ngộ, khuôn mặt thiệt là xinh, ngoài ra còn mấy cô cậu khác mà tôi không nhớ tên. Nhớ lại thời gian sống chung trên tầu, trên đảo và trong trại tị nạn, tôi thật quý mến và cám ơn nhóm các em.

Đến đất liền tầu phải có tên mà chiếc tầu chúng tôi đi không có số tầu, không có chủ tầu đi cùng và chẳng ai biết tên tầu là gì. Hai anh giáo hội ý đặt tên. Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó.

Khoảng vài giờ sau chiếc tầu máy trở lại với mấy nhân viên cuả chính quyền Indonesia, sau vài thủ tục hành chánh, trời đã chập choạng tối, họ đưa chúng tôi vào ở tạm tại đảo này có tên là Pulau Laut để chờ họ liên lạc với Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc xem chúng tôi sẽ được đưa đến trại tị nạn nào.

Mấy ngày sống trên tàu, bập bềnh trên nước, khi bước chân trên đất liền chúng tôi lảo đảo, liêu xiêu chỉ chực ngã. Một số dân làng ra đón chúng tôi đưa vào một gian phòng dài thông thống như quán chợ. Họ phát cho chúng tôi mỗi người một mảnh lá chuối gói khoảng chừng một bát cơm nóng với một khúc cá luộc, không đũa không muỗng. Cơm nóng thật dẻo với khúc cá ngừ nóng hổi, lấy tay bốc ăn mới ngon làm sao!

Ăn uống xong chúng tôi được đưa vào một dẫy chòi lá như những sạp hàng trong chợ, mỗi nhóm được chiếm ngụ một cái chòi. Tám người chúng tôi nằm chen chúc trên nền nhà như một tấm phản. Mọi người ngủ ngon lành vì không gian thoáng mát và tương đối yên chí đã hết hiểm nguy.

Mình tôi còn thức nhìn lên trời cao, hồi tưởng lại mấy ngày qua... Con tầu nhỏ bé mỏng manh như vậy đã thật may mắn không gặp phong ba bão táp, không gặp hải tặc hung ác, bạo tàn. Đúng lúc cạn kiệt nước uống, mọi người như tuyệt vọng thì trời đổ cơn mưa rào và run rủi làm sao lại đến được hòn đảo nhỏ này. Nếu không ai nhận ra hòn đảo từ xa mà đi quá thêm vài ngày nữa vào chốn mênh mông không bờ không bến, không nước uống, hết đồ ăn, chúng tôi sẽ ra sao. Đúng như có một sự huyền bí, một sự nhiệm mầu, một sự che chở từ các đấng linh thiêng mà không sao giải thích nổi!

Sáng hôm sau dân làng túa ra đứng xúm quanh những chiếc chòi lá, có những người mẹ trẻ cắp nách đứa con thơ, những đứa trẻ con đứng tò mò nhìn. Có vài người bập bẹ nói được tiếng Anh ngỏ ý muốn mua đồ, cái gì họ cũng muốn mua, đồng hồ, nhẫn vàng, vòng đeo tay, ngay cả những cái cặp tóc, cái trâm cài đầu, cái khăn quàng cổ... Một người đàn ông nói khá tiếng Anh hỏi mua chiếc đồng hồ quả quít mà nhà tôi để ở túi nhỏ ngay thắt lưng quần. Chiếc đồng hồ anh thấy xinh xinh mua ở chợ trời đem theo để xem giờ. Thấy ông ta thích quá nên anh đã bán để lấy ít tiền địa phương, vào quán tạp hoá nhỏ tại đó mua ít đồ lặt vặt. Ông ta nói Pulau Laut là một đảo nhỏ nên theo đơn vị hành chánh chỉ được tính như một làng còn những đảo lớn mới được coi như quận, huyện. Xã trưởng Laut là một ông Trung Úy. Toàn đảo là một rừng dừa bát ngát. Ông ta đưa chúng tôi đi xem vài sinh hoạt trong làng. Nơi này chất cả núi dừa tươi mới hái, chỗ kia cả mấy chục người ngồi nạo dưà. Nguồn lợi chính của đảo là dừa và sản phẩm của họ là dầu dừa và những phó sản của dừa. Đặc biệt là cả đàn ông, đàn bà đều quấn xà rông và họ ăn bốc, họ chỉ dùng một bàn tay vét cơm và đồ ăn thật khéo. Hèn gì khi họ phát cơm cho chúng tôi không có muỗng niã gì hết. Chúng tôi cũng phải bốc mà ăn.

Chúng tôi ở đó hai đêm, sáng sớm hôm sau họ đưa một chiếc tầu máy đến để kéo tầu chúng tôi qua đảo Sedanau. Mới đầu họ nói chúng tôi xuống hết tầu của mình để họ kéo đi, chúng tôi hơi e ngại nếu họ cho ra ngoài biển rồi cắt dây bỏ chúng tôi bơ vơ mà tầu đã hư, nước đã hết thì không biết tính sao nên hai anh giáo đã nói khéo với họ là chia đôi số người sang bên tầu của họ một nửa, ngồi bên này một nửa cho nhẹ để dễ kéo hơn. Cuối cùng hai gia đình của hai anh giáo hy sinh xuống tầu của mình, để tất cả sang tầu của họ vì cái tầu nhỏ bé của chúng tôi lúc đó đã bốc mùi rất nặng.

Chỉ mất có hơn nửa ngày trên biển chúng tôi đã ghé tới cầu tầu của đảo Sedanau. Đảo này lớn hơn Pulau Laut và có văn phòng hành chánh địa phương. Nhân viên chính quyền và đại diện cao uỷ cho biết chúng tôi phải ở tạm đó mấy ngày để đợi tầu Na Uy sẽ đến đón chúng tôi đưa vào trại tị nạn Galang. Khu phố nơi chúng tôi ở hoàn toàn là nhà sàn, đường đi trong phố cũng là những sàn gỗ đóng trên những chiếc cọc gỗ nhô lên từ biển. Quanh khu nhà sàn đó có những cửa hàng vải của người Ấn, những tiệm tạp hoá của người Hoa, những cửa hàng nhỏ bán quần áo, đồ đạc linh tinh và những cửa hàng ăn uống của dân bản xứ. Chúng tôi ở đó khoảng bốn, năm ngày thì tầu Na Uy đến đón cả nhóm chúng tôi đi.

Ngày cuối cùng ở Sedanau mắt cháu Quyên bị nhiễm trùng, đỏ au như hai cục tiết. May quá tầu Na Uy đến kịp thời. Chiếc tầu sắt sừng sững như một cao ốc với hàng chữ to, đậm trên thành tầu “Norway Rescue Ship”. Bước lên chiếc tầu to lớn, vững chãi, sàn tầu sạch bóng, gặp những chàng thuỷ thủ trẻ trung, cao lớn niềm nở tiếp đón, chúng tôi cảm thấy tâm hồn phơi phới như bước vào một thế giới văn minh, được hít thở không khí tự do, an bình. Cô em tôi đã tìm cách nhờ thuỷ thủ trên tầu gửi điện tín về nhà cho mẹ và thư báo tin cho mấy anh em tôi bên Mỹ. Chắc mẹ tôi và cô em út mừng lắm khi nhận được điện tín vỏn vẹn mấy chữ “ Bác Dương khỏe mạnh – Khuê Lan”. Ám hiệu cho biết là đã tới Nam Dương bình yên.

Trên tầu có phòng y tế với bác sĩ và thuốc men đầy đủ nên khi yên nơi yên chỗ nhà tôi cõng cháu Hạnh Quyên đi khám mắt ngay. Bác sĩ đã rửa mắt và nhỏ thuốc trụ sinh để sát trùng. Nếu chậm thêm vài ngày nữa với điều kiện thiếu thốn trên đảo không biết mắt con bé sẽ ra sao.

Ngày hôm sau, sau khi xuống phòng ăn quà sáng, mấy đứa trẻ tung tăng chạy chơi trên tầu. Tầu chạy êm ru, êm như trên đất liền, chẳng thấy ai bị say sóng hay ói mửa. Chúng tôi đi dạo quanh tầu để quan sát thì chẳng biết sao thằng bé con năm tuổi của tôi chạy nhẩy thế nào mà rớt từ tầng trên xuống tầng dưới, bề cao hơn hai mét. Tôi chỉ biết hoảng hốt la lên cầu cứu. Cũng may là cháu Tuấn ở gần phóng vội xuống bế em lên đưa thẳng vào phòng y tế. Tôi chạy theo mà hồn viá lên mây. Nhìn thẳng bé thiêm thiếp trên chiếc giường trong phòng bệnh để bác sĩ vạch mắt khám rồi nghe tim nghe phổi, nắn bóp xương cốt, chân tay. Bác sĩ quay sang trấn an tôi: 

“Tim phổi cháu bình thường, xương cốt không sao. Từ giờ đến chiều nếu cháu không ói thì bà yên chí, cháu ngủ dậy là khỏe lại thôi. Nếu cháu ói thì mới lo sợ vì có thể bị ảnh hưởng tới óc.” 

Bác sĩ cho mấy viên thuốc bảo khi cháu thức dậy thì cho uống. Bồng thằng bé về chỗ nằm của gia đình mình, tôi chỉ biết nằm ôm con mà cầu nguyện. Một lúc sau thằng bé nôn thốc nôn tháo. Trời ơi! Tôi điếng người khóc nấc lên. Nếu thằng bé có mệnh hệ nào thì làm sao tôi sống nổi đây! Nhà tôi ôm con, tôi chạy theo lên phòng y tế. Bác sĩ khám lại, cho biết là cháu ói mửa do thức ăn sáng chưa tiêu mà thôi, óc của cháu không sao và ông chích cho cháu một mũi thuốc. Bồng con về lại chỗ nằm, thằng bé mở mắt ra và thật ngạc nhiên, cháu nói:

“Khôi thấy bà nội, bà nội ôm Khôi, bà nội phù hộ Khôi!”rồi cu cậu còn nhoẻn miệng cười “ Khôi có võ... Khôi biết té!” 

Tôi thở phào nhưng từ lúc ấy tôi chỉ nằm cạnh con, xoa vuốt, ôm ấp con mà chẳng dám đi đâu. Mọi người nói tầu đẹp lắm, sạch sẽ lắm, phòng khách, phòng tập, phòng chơi... rất đẹp. Bình minh, hoàng hôn trên biển cả đẹp ra sao tôi cũng chẳng thiết ngắm. Văn nghệ bỏ túi trên tầu vui thế nào tôi cũng chẳng thiết tham dự. Tầu ghé vào đảo Kuku để đón thêm dân tị nạn tôi cũng chẳng màng. Cũng may chỉ ở trên tầu Na Uy vài ngày là tới trại tị nạn Galang. Thằng bé khỏe hẳn, mắt con chị đã bớt nhưng vẫn còn đỏ nên sau khi làm thủ tục nhập trại và yên ổn chỗ ở thì hàng ngày nhà tôi phải cõng con bé đến nhà thương để tiếp tục chữa trị. Hơn một tuần sau cháu mới khỏi hẳn.

Trại tị nạn Galang thật khang trang, sạch sẽ. Những chiếc barrack cùng cỡ, cùng kiểu dựng san sát bên nhau. Mỗi barrack như một căn nhà gỗ dài, một tầng, mái tôn, hai đầu có cửa và ngay giữa có cửa. Hai dẫy phản gỗ đóng liền nhau sát hai bên vách, giữa là một lối đi ngăn đôi. Như vậy coi như mỗi barrack có bốn tấm phản dài ngăn cách bởi lối đi ở giữa và lối đi thông qua hai cửa chia đôi barrack. Đằng sau barrack là dãy nhà bếp và một đầu barrack trông sang dẫy nhà tắm. Mấy barrack chung một dẫy nhà vệ sinh ở trên sườn đồi phía xa.

Nguyên tầu April Flower của chúng tôi gồm 59 người, kể cả người lớn và trẻ em, được xếp ở chung trong Barrack 91, căn nhà cuối cùng trên đường ra bãi biển. Anh giáo LTV tháo vát, nhanh nhẹn nên đảm đương chức Trung Tâm Trưởng Trung Tân Văn Hóa của trại. Mỗi sáng loa của Cao Uỷ gọi tên NKT của tầu April Flower là anh giáo nhà tôi lên văn phòng cao uỷ làm thông dịch viên cho phái đoàn các nước đến phỏng vấn dân tị nạn. Cả tầu ghi danh đi học Anh Văn tại trung tâm văn hóa nhưng riêng chị em chúng tôi không có tên trong danh sách học viên vì hết chỗ. 

Lang thang lên TT văn hoá chơi tôi gặp cô Helene, một giảng viên tại đó, tôi xin ghi danh học thì cô lại mời tôi làm giáo viên dạy lớp beginner và đưa tôi đi một vòng thăm Trung Tâm. Khi đến khu huấn nghệ, nhìn thấy mấy cái máy may mắt tôi sáng lên, thích quá. Tôi đề nghị với cô thay vì dạy Anh Văn tôi xin dạy may(để được dùng máy!) Cô đồng ý liền, thế là cô đưa tôi đến gặp chị Hòa, đang phụ trách lớp may ở đó, hai chị em chia nhau, chị dạy áo dài, áo bà ba và quần xéo còn tôi dạy may chemise và quần tây. Sau giờ dạy may ở TT tôi được phép sử dụng máy may nên đã ra tiệm của người Indo trên đảo mua vải và những vật dụng cần thiết để may vài bộ quần áo vì những quần áo tốt đẹp đã gửi cả cho chủ tầu nay đã bị mất hết. Tôi cũng sáng tạo ra những chiếc bikini cho các cô gái để bãi biển nên thơ hơn, các cô không phải mặc quần đen, áo thun xuống tắm biển.

Khi ở trên đảo nghe kể về những chuyện đau lòng như có một gia đình cha mẹ đi cùng ba cô con gái, tầu của họ gặp hải tặc và cô út bị hãm hiếp ngay trước mặt cả gia đình, đau đớn nào hơn! Có tầu bị lạc cả tháng trời vì mất phương hướng, đói khát. Trẻ con, người già chịu không nổi đành phải thuỷ táng. Có tầu phải xẻ cả thịt người mới chết để ăn và bây giờ có người như ngây như dại. Còn cả ngàn chuyện thương tâm... Ôi những nỗi đau thương không bút mực nào tả siết! 

Chuyến đi của chúng tôi cũng hãi hùng nhưng so với họ vẫn là thật may mắn. Hằng đêm tôi cảm tạ Trời Phật và các đấng linh thiêng đã phù hộ chúng tôi. Tôi có cảm giác mẹ chồng tôi vẫn quanh quẩn bên con cháu để che chở, nhất là che chở cho thằng cháu đích tôn của cụ. Có đêm tôi nằm mơ gặp mẹ tôi, ôm mẹ mà khóc, tỉnh dậy thấy mắt còn ướt. Xa mới thấy nhớ và những gì tưởng mất đi mới thấy quý vô cùng. Biết bao giờ mới gặp lại bố mẹ, gặp lại em út đây!

Cuộc sống trên đảo êm đềm trôi, hai em tôi, Thiên Hương, Minh Duy với cô Hiền con cụ Mỹ cùng đi sinh hoạt với nhóm thanh niên trên trung tâm văn hoá. Sau đó thật vui khi gia đình của em Thanh, con gái trưởng cuả bác DQS cùng cậu út Hiển và mấy người bạn trong xóm tôi cũng được Cao Ủy đưa từ trại Kuku sang Galang và thật là tình cờ vợ chồng của T cùng em H lại ở cùng ngay barrack 91, mấy bạn kia ở barrack bên cạnh. Thế là cứ chiều tối gian nhà bếp lại có Hội Ca Cầm, có những màn văn nghệ bỏ túi rất vui. Sau Thiên Hương cũng làm phụ giáo cho cô Helene ở TTVH.

Tuấn và Quân gần gũi tôi hơn, hay luẩn quẩn, loanh quanh dưới bếp. Tôi cũng thương hai cháu, mới mười mấy tuổi mà vượt biên không có người thân. Dưới bếp có giăng hai cái võng, Tuấn thường nằm võng một mình hát nghêu ngao. Tôi hay đùa trêu gọi Tuấn là chàng Giang Tử vì Tuấn có giọng hát giống Giang Tử. Đôi khi thấy Tuấn cứ ngẩn ngơ vì nhớ cha, nhớ mẹ, thật tội nghiệp. Quân là con trưởng, mới có 15 tuổi, rất ngoan nhưng ít nói. Ông ngoại của Quân với ông cụ tôi là hai người bạn từ trẻ đến già nên hai gia đình rất thân nhau, tôi đi phù dâu cả mẹ và dì của Quân.Tình cờ làm sao khi bố mẹ của Q đến chơi biết là gia đình tôi tính chuyện vượt biên anh chị đã sang gửi gấm Q vì Q đã đi mấy lần rồi mà không lọt.

Sau khi được tin tức và có địa chỉ chính thức, các em tôi bên Mỹ gửi tiếp tế chúng tôi mỗi tháng $100 USD nên ngoài đồ hộp của trại phát chúng tôi có tiền mua thêm thịt, cá, rau tươi ở chợ để bữa ăn tươm tất, ngon miệng hơn. Đi cùng tầu có hai thanh niên độc thân ăn uống lẻ loi nên tôi rủ vào ăn chung với gia đình chúng tôi cho ấm cúng. Thế là bữa ăn nhà chúng tôi có thêm hai thành viên là chú Cường và chú Phụng. Thêm một điều thật may mắn là tôi vừa nhập trại Galang thì gặp Phương Trà, bạn học cùng TV và trường Dược đang sưả soạn đi định cư, thế là bạn bè tíu tít mừng rỡ và PT kéo tôi sang barrack của PT giao cho tôi hết gia tài, dao thớt, nồi niêu, bát đũa, rổ giá, mắm muối... thật là khỏe re, tôi không phải sắm đồ làm bếp.

Thời kỳ đó người tị nạn quá đông, các trại tị nạn mọc lên như nấm. Nhiều người phải sống trên đảo cả năm trời mới được đi định cư. Gia đình chúng tôi vừa được ưu tiên vì có bố là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, vừa có anh em đang sống ở Mỹ, cộng thêm một điều may mắn hơn nữa là chúng tôi đến trại đúng thời điểm “hốt rác” của phái đoàn các nước. Trại Galang đang thời kỳ tiếp nhận dân tị nạn từ các đảo Kuku, Bidong và các đảo nhỏ chuyển sang. Có những người ở trại từ rất lâu nay cũng được cứu xét. Vì thế chúng tôi chỉ ở trại mới khoảng ba tháng đã được gọi lên phỏng vấn. Gia đình anh LTV được đi khám sức khỏe và dời đảo đầu tiên. Cụ Mỹ và cô Hiền cùng gia đình tôi được khám sức khỏe và ký giấy nợ với Cao Uỷ sau gia đình anh LTV một tuần.

Trước hôm gia đình chúng tôi dời đảo có một buổi văn nghệ ca hát, chúc tụng, bắt tay nhau từ giã.

Sáng hôm sau hầu hết mọi người ra cầu tầu tiễn chúng tôi xuống chiếc ferry của Cao Ủy đưa chúng tôi sang Singapore đợi máy bay đi Mỹ. Cuộc chia ly nào cũng buồn. Kẻ đi người ở cũng rưng rưng. Có những người bạn một đời nhưng cũng có những người bạn chỉ một thời vì duyên gặp nhau một giai đoạn rồi lại chia tay. Quân và Tuấn ở lại đảo. Quân chờ người nhà ở Mỹ bảo lãnh, Tuấn đợi giấy tờ của bác Phú bên Canada.

Gia đình tôi, hai vợ chồng, hai đứa con, hai đứa em cùng cụ Mỹ và cô Hiền tay cầm túi xách giấy tờ cuả ICM từ phi trường Singapore lên chiếc Boeing 747 của Cao Uỷ Tị Nạn LHQ chở toàn dân tị nạn trực chỉ Oakland, California. Đi đến vùng đất hưá!

Đỗ Dung 

Saturday, December 5, 2020

Tìm Mây

Đỗ Dung
Hình minh họa.(www.pixabay.com)

***
Trời cuối thu, những chiếc lá vàng bay lượn trên không rồi từ từ thả mình xuống mặt đất. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt qua, đám lá trên cành lao xao và khi trời lộng gió từng đám lá lià cành tung mình khắp không trung. Cảnh đẹp như tranh vẽ. Chỉ vài ngày nữa thôi, chiếc lá cuối cùng rụng xuống, cây sẽ chỉ còn những cành trơ trụi, khẳng khiu.

Bà bước ra khu vườn nhỏ, lững thững đặt chân trên thảm lá vàng, những chiếc lá khô như vỡ vụn dưới từng bước chân. Không gian tĩnh lặng, êm đềm. Bà hít thật sâu, thở ra thật nhẹ. Bà đếm từng hơi thở, chú tâm đến từng bước chân đi, đầu óc nhẹ nhàng, tâm hồn thanh thản. Cứ lẳng lặng như thế cho đến lúc thấm mệt bà ngả người trên chiếc võng ngước nhìn lên trời cao tìm mây. Trời xám buồn, chỉ có vài quầng mây mỏng, ửng nắng.

Như vòng xoay của tạo hoá, một năm có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Một ngày có bốn buổi: Sáng, trưa, chiều, tối. Bà đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời: Buổi tàn thu hay lúc chiều tà chạng vạng.

Bà ơi, tôi đi đây!

Tiếng ông từ trong nhà vọng ra. Bà nhỏm dậy định bước vào. Ông như biết ý nói thêm:

Tôi thấy giỏ đồ ăn bà sắp sẵn đây rồi. Cứ ở ngoài đó đi, tôi tự đóng cửa được mà.

Ờ, trời lạnh, khi cho chúng nó ăn ông nhớ bỏ vào “microwave” hâm nóng. Mỗi hộp chỉ cần bốn mươi giây là đủ ấm, vừa ăn đó nha!

Nhớ rồi, cứ ở đó đi, khi thấy lạnh bà phải nhớ vào nhà. Tôi đi!

Chả là mỗi ngày, cỡ hai giờ chiều ông sang nhà con trai cũng ở gần, cách khoảng mười phút lái xe. Đợi các cháu đi học về, ông trông cho chúng nó làm bài vở, cho chúng ăn uống rồi ông ngồi chơi cho có người lớn trong nhà. Đợi đến khi bố mẹ chúng nó về thì ông từ giã. Hôm nào có giờ bơi lội hay học đàn, tập võ, ông chở luôn cả đám trẻ đi. Và lúc ông sửa soạn ra đi thì bà luôn lăng xăng bên ông, tiễn ông ra tới ngoài đường mới quay vào đóng cửa nhà xe.

Hồi còn ở nhà cũ bên tiểu bang Texas, khi đã về hưu ông vẫn có thói quen mỗi ngày phải lái xe ra khu chợ Việt Nam gặp mấy ông bạn già, chỉ để ngồi bên tách cà phê chuyện gẫu, hết chuyện nước non nhà lại đến chuyện nhân tình thế thái. Hình như các ông không thể ngồi nhà cả ngày. Hễ hôm nào biếng đi là y như rằng không nhức đầu cũng cảm mạo, ho hắng. Bà chỉ thích quanh quẩn trong nhà, thu xếp dọn dẹp rồi ra cắt tiả ngoài vườn. Bà chơi với vườn rau, vườn hoa của bà cả ngày không biết chán. Thêm nữa bà có nhiều thú vui khác như sơn phết, trang hoàng nhà cửa, may vá, viết văn, đọc sách, nghe nhạc... Đôi khi bà thấy một ngày có hai mươi tư tiếng với bà không đủ. Mặc dù vậy bà vẫn dành những phút thả hồn theo những cụm mây trắng lang thang, bềnh bồng phiêu lãng.

Ông bà có hai người con, một gái một trai, xong trung học cả hai đều được nhận vào trường đại học Berkeley, California. Khi ra trường cả hai đều gặp được người ý hợp tâm đầu, lại được công việc tốt nên lập nghiệp bên ấy. Khi ông bà về hưu đã có hai thằng cháu ngoại, cậu con trai cũng lập gia đình rồi. Cả hai đều có nhà riêng.

Cuộc sống hưu trí của hai vợ chồng già êm ả trôi cho đến ngày nghe tin con trai sắp có con đầu lòng, bà bàn với ông:

Mình dọn nhà về ở gần các con được không ông?

Ông còn ngần ngừ:

Chúng nó có cần không mà về? Nhà Cali đắt đỏ, sao mình mua nổi? Đang ở bên này nhà cửa rộng rãi, thoải mái!

Như có thần giao cách cảm, cô con gái điện thoại sang thủ thỉ với mẹ:

Mẹ ơi, bố mẹ sắp có cháu nội. Bố mẹ thu xếp sang ở gần chúng con. Bố mẹ ngày một già, có chuyện gì chúng con ở gần vẫn dễ hơn. Bây giờ đứa nào gia đình cũng đùm đề. Bố mẹ ở xa chúng con cũng khó thăm viếng. Vả lại các cháu cũng cần nhờ ông bà trông nom, dậy dỗ.

Khi các bà bạn nghe nói ông bà có ý định dọn về Cali, ở gần con để trông cháu, có bà đã nói:

Cẩn thận nghe bà, đừng mắc bẫy chúng nó. Khi cần thì nói ngon nói ngọt. Khi hết cần thì chúng sẽ có cả ngàn lý do để quét mình đi thẳng cánh. Già rồi, hãy lo cho thân mình đi.

Bà bạn già khác cũng nhắn nhủ:

Cô đừng tưởng không có mình trái đất sẽ ngừng quay. Không có cô mọi việc cũng sẽ đâu vào đấy. Hồi chúng mình mới sang đây, có nội ngoại nào ở gần đâu, vậy mà chúng nó cũng nên người đó thôi. Việc chính là hai vợ chồng già phải lo cho nhau. Khi rảnh rỗi thì đi chơi chứ vướng cháu thì chả còn đi đâu được nữa.

Mẹ chồng nàng dâu là truyện truyền kiếp, từ xưa đến nay, từ Âu sang Á. Bà hãy nghĩ cho kỹ trước khi quyết định. Đừng để mắc vào cảnh dở khóc dở cười. Nhất là đừng ở chung, phức tạp lắm.
...........

Những lời dặn dò cũng khiến bà nao núng. Những kinh nghiệm và hoàn cảnh đau thương cuả những người quen mà bà chứng kiến cũng khiến bà ngại ngùng. Bà nhớ ngày xưa ấy, buổi tối trước ngày bà lên xe hoa, mẹ bà đã dặn dò con gái về nhà chồng phải nhớ chữ nhẫn nhịn và trong đời cứ đối xử tốt sẽ gặp hay. Cứ ăn ở cho đầy đượm, hết lòng, cho phải đạo làm người. Gieo nhân lành sẽ gặp quả tốt... Bà đã về nhà chồng với niềm tin phơi phới, với hành trang là trái tim đầy ắp yêu thương. Tình thương bà sẵn sàng cho đi trước để mong được nhận lại. Nhưng thực tế đã khiến bà ngỡ ngàng, những đối xử khó khăn của mẹ chồng làm bà không hiểu nổi, chỉ biết im lặng chịu đựng. Cuối cùng nhân lành của bà gieo cũng nhận được quả ngọt. Những năm tháng về sau hai mẹ con đã thông cảm nhau hơn, thương yêu nhau hơn, nhất là những ngày sau biến cố Tháng Tư năm bẩy lăm. Trong phút lâm chung cụ đã nắm tay bà mà nói: “ Bỏ qua nhé, bỏ qua hết nhé... Mẹ sẽ phù hộ cho các con, mẹ sẽ phù hộ cho các cháu...”. 

Khi đi vượt biên, lúc nào bà cũng cảm thấy như có cụ ở kế bên. Nguy hiểm nào cũng như được cụ phù hộ để vượt qua. Bây giờ bà là mẹ chồng và có nàng dâu. Bà tâm niệm rằng sẽ yêu thương dâu, rể hết lòng để lịch sử không hay về mẹ chồng nàng dâu không tái diễn. Lịch sử phải sang trang!

Cô con dâu phải sinh mổ nên đã chọn ngày. Bà sắp sẵn công việc để sang Cali trước ngày sanh cháu. Bà muốn là người đầu tiên ôm cháu nội vào lòng như trước kia bà đã vào phòng sanh với con gái và là người thân đầu tiên bế thằng cháu ngoại. Con bé thật xinh, đôi mắt tròn to, vầng trán cao thông minh. Ôm con bé vào lòng mà bà sung sướng ngất ngây, niềm yêu thương dào dạt. Bà gửi hình cho ông và báo cho ông biết là bà sẽ ở lại chơi với cháu, trông nom mẹ con nó cho đến khi đầy tháng bà mới về. Ông biết là ông lại bị bà bỏ rơi như khi bà sang chăm lo cho thằng cháu ngoại.

Một tháng nuôi gái đẻ bà đã lo lắng chu toàn như mẹ đẻ lo cho chính con gái ruột. Cô con dâu theo kiểu xưa nên kiêng rất kỹ. Cô ở trên lầu, bếp ở nhà dưới, hàng ngày bà phải ba bữa sửa soạn cơm nước sắp vào khay bưng lên tận phòng. Bà nấu cơm nghệ, hầm chân giò với hạt sen, rim thịt thăn với nước mắm, hạt tiêu, thật khô cho bà đẻ. Mỗi ngày bà lại nấu một nồi nước xông bỏ thêm vỏ bưởi, vỏ quít để cô hơ mặt, lau mình. Bà đã làm tất cả bằng sự thương yêu, tự nguyện. Con bé cháu thì bà vuốt ve, nắn bóp chân tay. Ầu ơ ví dầu hát ru cháu, cả ngày bà thủ thỉ chuyện trò với con bé. Mỗi sáng bà bế nó sang giường bà phơi nắng. Những vạt nắng vàng tươi, trong trẻo, xuyên qua cửa sổ ngay cạnh giường bà. Nắng vuốt ve, ôm ấp cái lưng xinh xinh, bé xíu.

Sau ngày đầy tháng con bé bà trở về Texas. Bà nhớ quắt quay ba đứa cháu nội, ngoại bên Cali. Bà nài nỉ:

Ông ơi, mình dọn về Cali nhá!

Mình đang sống yên ổn bên này. Chúng mình mỗi ngày một già, bà liệu còn sức mà chạy theo mấy đứa nhỏ không? Cố gắng rồi gục xuống, đau ốm lại khổ.

Đến đâu hay đến đó ông à. Mình ở đây rảnh rang, chúng nó thì bận rộn. Giúp cho chúng nó được lúc nào hay lúc ấy. Ông lo gì xa quá.

Bà hạ giọng thuyết phục thêm:

Ông này, nhìn con bé tôi thương lắm. Hay là mình về trông cháu vài năm. Khi con bé biết nói thì thôi. Nghĩ đến việc mướn người hay gửi người ta trông tôi ngại lắm ông ạ. Nhỡ nó bị hành hạ... Nó đã biết nói đâu mà mách. Ông xem trên truyền hình hay trên mạng đi. Bây giờ có nhiều kẻ bịnh hoạn, nhiều người độc ác lắm đó ông ơi... Về nhá...!

Ông nghe cũng hơi xiêu lòng:

Để tôi nói chuyện với chúng nó xem sao. Bà sửa soạn đặt vé máy bay đi. Bà với tôi cùng về Cali một chuyến. Tôi cũng muốn sang thăm mấy đứa cháu. Đi về rồi mới tính được.

Nghe nói bố mẹ sang chơi thăm thú tình hình để xem có thể dọn về không, hai người con đều dọn dẹp một phòng riêng tươm tất ở mỗi nhà để tuỳ bố mẹ thích ở nhà nào cũng được vì hai nhà cũng gần nhau.

Gặp mặt ba đứa trẻ ông như bị hớp hồn. Thằng cu Bi, cháu ngoại lớn, mới ngày nào đến thăm ông, nó mới biết đi lẫm chẫm mà mỗi buổi chiều khi nghe chuông cửa đã biết ông đi làm về để lủn tủn như con chó con vẫy đuôi chào rồi cất mũ, cất giầy cho ông, bây giờ đã học lớp hai tiểu học. Thằng cu Tý, em nó, khi mới đẻ nằm trong nôi cứ toét miệng cười đã sắp vào mẫu giáo. Con mé MiMi trắng trẻo, bụ bẫm, đôi mắt tròn xoe đã biết nhìn ông hóng chuyện. Ông bà ở chơi một tuần với con cháu, đi thăm khắp vùng xung quanh. Hai thằng cháu ngoại đưa ông bà đến thăm ngôi trường chỉ cách nhà hơn một block. Khung cảnh quanh đó cũng êm ả, thanh bình. 

Nhà hai con ông chỉ cách nhau vài khúc rẽ. Đi bộ thì mất độ nưả giờ mà lên xe thì không đến mười phút. Cả hai nhà đều tươm tất, sạch sẽ; vườn trước, vườn sau rộng rãi, khang trang. Đi xem giá nhà thì quá đắt so với bên chỗ ông. Bằng căn nhà ông đang ở thì bên này giá gấp bốn hoặc năm lần. Nếu dọn về thì đó thật là vấn đề nan giải.

Những cặp mắt đen láy của các cháu ngước nhìn ông, những câu nói ngây thơ hồn nhiên, những tràng cười khanh khách, giòn tan của hai thằng nhỏ quyến rũ ông, khiến ông bà quyết định về gần chúng nó.

Những năm đầu thật hạnh phúc, đúng như ao ước của bà, nhà có già có trẻ, vui vẻ, ấm cúng. Thoạt đầu ông bà ở nhà con trai vì bé Mimi nhỏ nhất. Bà trông nom con bé, nấu ăn cho cả hai nhà. Mỗi buổi sáng ông xách giỏ đồ ăn bà nấu sẵn sang nhà con gái, trông nom dậy dỗ hai thằng cháu ngoại. Được một năm cô con thèm một đứa con gái nên ráng sanh thêm, nhưng lại ra thằng con trai nữa. Thằng bé tuổi chó nên ông gọi là con chó Lu. Ông bà lại dọn sang nhà bé Lu vì bé nhỏ nhất. Bé Mimi lớn hơn nên mỗi buổi sáng bố nó phải đưa sang nhà bác trước khi đi làm. Buổi chiều mẹ nó đến đón, tiện xách cơm về luôn. Ông bà quên hết các thú vui khác, suốt ngày chạy theo các cháu mà không bao giờ biết chán.

Ông bà như trái banh bị đá qua đá lại giữa hai nhà vì năm sau cô con dâu cũng lại sanh thêm đứa nữa, khổ nhưng mà “tự nguyện khổ” trong hạnh phúc tràn trề.

Những khoảng thời gian hai ông bà chăm cháu, nuôi cháu, lo lắng từ phải sang trái đó, ông bà có một niềm hạnh phúc to lớn hơn tất cả các niềm vui khác. Đó là được nói tiếng Việt thỏa thuê với các cháu bé và dạy tụi nhóc học tiếng Việt. Khi còn nhỏ, ông bà nói và dạy thì chúng đều nghe, đều hiểu, bập bẹ ngôn ngữ của ông cha thật dễ thương. Ông bà cũng thầm mừng, thường nói với nhau, chắc bọn cháu tụi mình sẽ không bị mất gốc tiếng mẹ đẻ…..

Thấm thoắt ông bà về Cali đã hơn mười năm, cu Bi sắp vào đại học. Nếu ở Việt Nam thì Mimi sắp là nữ sinh Trưng Vương. Thời gian qua thật nhanh, ông bà cũng già yếu đi nhiều. Các cháu đã lớn không cần sự săn sóc nhiều nữa, cu út cũng lên bẩy, đã đến trường. May mắn gặp được căn nhà nhỏ vừa túi tiền, vừa với nhu cầu nên ông bà đã ra ở riêng. Sống với con cái cũng có những đụng chạm, bà coi như đó chỉ là những chuyện nhỏ, những suy nghĩ khác nhau cuả hai thế hệ, cung cách sống, quan niệm về đời sống khác nhau giữa già và trẻ để giữ cho mình được cái tâm thanh thản. Mình không biết trước được những gì xẩy ra nhưng được an lạc hay không là do tâm mình.

Bây giờ bà đã chính thức về hưu chỉ còn ông vẫn “đi làm” ngày vài tiếng, để ông khuây khoả, khỏi phải lái xe đi tìm bạn già chuyện gẫu. Bà cũng có một khoảng thời gian riêng, không gian riêng của mình bà. Bà lại ngước mắt tìm mây, những cụm mây trắng nhẹ như bông lang thang trong bầu trời, ở đó bà đã gửi gấm những mộng mơ, lãng mạn của thời niên thiếu. Bà cũng đi tìm mây để hỏi khi vướng phải những trắc trở, chông gai. Bà đã biết chấp nhận những đau khổ, đã tìm ra những khiá cạnh lạc quan của sự việc và cho rằng đó chỉ là những thử thách nên mọi chuyện cũng thoáng qua, nhẹ bay đi như những làn mây trắng.

Thu tàn trời sẽ sang đông. Mỗi muà đều có những vẻ đẹp riêng. Hết muà đông cây cối sẽ đâm chồi nẩy lộc. Xuân về với những chùm Wisteria tím rung rinh trong nắng. Muôn hoa sẽ khoe sắc, toả hương. Buổi sáng ông bà sẽ cùng đi bộ trên những con đường có hai rặng anh đào hồng thắm, những rặng Dogwood trắng muốt tinh khôi.

Mây trắng trên cao vẫn lờ lững theo ánh nhìn của bà. Chim chóc ríu ríu hát ca. Bỗng dưng bà nhận ra, cảnh sắc thiên nhiên xinh đẹp ở xứ sở thứ hai này cũng có thể khiến cho tâm hồn bà ngất ngây. Bà muốn ôm lấy hết vũ trụ này, lòng bà ngập tràn hạnh phúc, cái cảm giác hạnh phúc như khi bà ôm mấy đứa cháu và nghe chúng bập bẹ câu tiếng Việt ngọng nghịu pha tiếng Mỹ, “Con love bà noai lám lám.”

Blog Archive